d) Đấu tranh chống Việt Nam hóa chiến tranh
Sau chủ trương "Phi Mỹ hóa chiến tranh" của Johnson (từ giữa
năm 1968), ngày 7 tháng 4 năm 1968, Nixon (Tổng thống Mỹ tiếp sau
Johnson) chính thức tuyên bố bắt đầu Việt Nam hóa chiến tranh theo
kế hoạch 3 giai đoạn, trong đó quyết đâm của giai đoạn 3 là hoàn
thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, củng cố thành quả đã
đạt đượ c, đối phương suy yếu và chiến tranh tà n lụi dần.. Báo cáo
trước ủy ban quân lực thượng nghị viện Mỹ, Melvin Laird, bộ trưởng
quốc phòng Mỹ tuyên bố: "Chính sách Việt Nam hóa có nghĩa vừa kết
thúc vừa mở đầu... kết thúc sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam, mở đầu
một chính sách mới của chúng ta về việc họ phải tự lực, tự dựa vào
bản thân họ...". Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 1 năm 1969, địch
"bình định cấp tốc", tháng 1 năm 1969 bắt đầu bình định "xây dựng".
Từ tháng 1 năm 1969 (trước cả tuyên bố của Nixon) đến tháng 2
năm 1972 là thời kỳ mà 3 vấn đề trung tâm được triển khai thự c
hiện.
Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, ngoài 3 tuyến phòng thủ
(tập trung 47% quân chiến đấu Mỹ, 37% quân chủ lực ngụy so với
toà n Miền), đã hình thành từ giữa năm 1968, ở nội thành Sài Gòn,
địch tổ chức 9 quận thành 11 đặc khu, bổ nhiệm sĩ quan cấp trung tá
là đặc khu trưởng, tăng cường cho mỗi đặc khu một đại đội đặc vụ
(công an đặc biệt), hai đại đội cảnh sát dã chiến và từ 1 đến 2 đại đội
tuần cảnh. Để kiểm soát chặt chẽ nội thành hơn, các phường, khóm
lại được chia nhỏ, nâng số phường từ 56 lên 72, số khóm từ 861 lên
1100. Địch lại bắt đầu đổi thẻ căn cước, người tập kết, gia đình theo
Việt cộng, chỉ cần có một người tố cáo là có thể bắt ngay không cần
chứng cứ.
Sau các sắc lệnh tổng động viên, địch quân sự hóa học đường,
quân sự hóa phường, liên gia, công tư sở, công tư chức, ra sắc lệnh
cấm hội họp, biểu tình, đình công. Thực hiện tuyên bố: "Bắn bỏ ngay
tức khắc bất cứ ai đòi hỏi hòa bình".
Lực lượng nhân dân tự vệ được đặc biệt coi trọng phát triển
không chỉ để đôn quân, bắt lính mà còn để mỗi người dân thành một
người lính địch. Chúng thà nh lập ở mỗi phường một ban và ở mỗi
khóm một tiểu ban quân sự.
Nhân dân tự vệ được trang bị súng, phải làm nhiệm vụ canh
gác, lùng sục, gây không khí căng thẳng triền miên ở trong dân
chúng. Chỉ riêng quận 7 đến cuối năm 1969, địch đã tổ chức trên
6000 nhân dân tự vệ thuộc lứa tuổi từ 14 đến 50, trang bị 2433 súng.
Công an, cảnh sát, nhân dân tự vệ... kết hợp liên tụ c lùng sục, vây
ráp trong nộ i thành gây cho ta rất nhiề u khó khăn. Tại Sài Gòn năm
1969 có trên 7000 cuộc hành quân cả nh sát và có đêm như đêm 20
tháng 1 năm 1969 trên 9.700 người bị khám xét, bị bắt giam. Nhiều
cơ sở Đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Các căn cứ Rạch
Bà Tàng, Hố Bần, Bến Đá, Cầu Sập, Phú Định, Hàng Thái, Chánh
Hưng, Rạch Ông, Rạ ch Cát... bị đánh phá chà đi xát lại liên miên. Đời
sống nhân dân lao động điêu đứng, đi lại, làm ăn khó khăn. Trong lú c
đó phim ảnh, sách báo Mỹ, văn hóa đồi trụy, dâm dật, tràn ngập
đang đầu độc tầ ng lớp thanh niên, họ c sinh, gieo rắc tâm lý hưởng
thụ, sống gấp, không cần biết lý tưởng, không cần biết tương lai.
Ởã ngoại thành, quân Mỹ vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ lá chắn, đẩy
lùi chủ lực ta ra xa hơn, đại bộ phận quân ngụy làm nhiệ m vụ càn
quét với mật độ lớn hơn các năm trước nhằm triệt phá các nhóm căn
cứ, các bàn đạp, làm bật gốc các lực lượng ta ra khỏi ven đô.
Tiếp sau phong trào chống lệnh động viên, quân sự hóa họ c
đường, đòi hòa bình, tháng 4 năm 1969, đội vũ trang tuyên truyền
học sinh đột nhập trường Huỳnh Khương Ninh kêu gọi học sinh vùng
lên lật đổ Thiệu, Kỳ, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng.
Vào dịp lễ Phậ t Đản năm 1969, "Ủy ban thanh niên học sinh,
sinh viên tranh thủ dân chủ và hòa bình" được thành lập, phối hợp
cùng các giới khác lên án Mỹ ngụy tiến hành chiến tranh hủy diệt,
đòi vãn hồi hòa bình.
Nguyễn Văn Thiệu cấm tổ chức lễ Quốc tế Lao động ngày 1
tháng 5 năm 1969, nhưng hơn 500 đại biểu của 118 nghiệp đoàn Sài
Gòn - Chợ Lớn bất tuân lệnh, cứ tổ chức ngày hội lớn của giai cấp
công nhân, vạch mặt Thiệ u và tay sai, đò i tự do nghiệp đoàn, đòi hòa
bình, lập lại quan hệ bình thường Nam - Bắc.
Tháng 5 năm 1969, Đại hội đại biể u các lực lượng thành phố
bầu ra Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố do giáo sư Nguyễn
Văn Chì làm chủ tịch.
Sau đợt tiến công tháng 5 trên chiến trường, Đại hội Đại biểu
Quốc dân miền Nam họp trong các ngà y 6, 7, 8 tháng 6 năm 1969
quyết định thành lập chế độ cộng hòa, bầ u ra Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn Chính
phủ. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch
Chính phủ Cách mạng lâm thời. Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật
sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch và luật
sư Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Ủ y ban Liên minh các lực lượng Dân
tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam làm Phó Chủ tịch. Đại hội ra đời
hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến
đấu đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Vào lúc này ở Sài Gòn, Gia Định xuất hiệ n hai phong trào mới:
phong trào các nghiệp đoàn nông dân, tá điền và phong trào lực lượng
quốc gia tiến bộ. Các nghiệp đoàn nông dân và tá điền ở các tỉnh lân
cận Sài Gòn, từ trước năm 1968 đã đấu tranh chống dự luật của Hạ
nghị viện ngụy về nông dân, nay lại kéo về thành phố tiến hành đại
hội. Lực lượng quốc gia tiến bộ do luật sư Trần Ngọc Liễng làm chủ
tịch, với nội dung đấu tranh từ cứu giúp nạn nhân chiế n cuộc, tiến
lên đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh: tờ nội san Hòa Giải của lực
lượng không chỉ phát hành nội bộ mà còn phát hành công khai, đòi
hòa bình, lên án chiến tranh.
Tháng 7 năm 1969, công nhân ngành xe buýt đấu tranh chống
chủ trương của Mỹ -ngụy, giải tán việc công quản xe buýt để cho tư
nhân tham gia đấu thầu, thực chấ t là chú ng âm mưu sa thải những
công nhân tích cực đấu tranh, chuyển việc quản lý xe buýt cho những
tên tay chân của ngụ y quyền, ngụy quyền để dễ bề nắm giữ, thao
túng. Toàn thể công nhân xe buýt kiên quyết giữ vững vị trí, dũng
cảm chống lại lực lượng cả nh sát dã chiến ngụy đến đàn áp, kiên trì
giữ vững yêu sách đò i chính quyền phải hủy bỏ chính sách đấu thầu
xe buýt.
Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng, được đại biểu của
118 nghiệ p đoàn ra tuyên bố ủng hộ. Công nhân các ngành dầu hỏa,
bến cảng, hóa phẩm, các hãng ESSO, Silico, Mic, xưởng Caric, bệnh
viện Đồn Đất, các hãng pin Quang Minh, Con Ó, cơ quan USAID...
đồng tình hưởng ứng. Một số đồng bào ở các chợ mang cơm gạo, bánh
mì, thực phẩm đến tiếp tế cho công nhân xe buýt. Các lực lượng vũ
trang nội thành đẩy mạnh hoạt động trừ gian, trừ ng trị nhiều tên tay
sai quan trọng như Lê Minh Trứ, tổng trưởng văn hóa giáo dục và
thanh niên (ngày 6 tháng 1 năm 1969), Lê Diệu Luận, phó chủ tịch
nhân dân tự vệ khóm 24 phường Chợ Quán, Trưởng văn phòng đặc
vụ Đài Loan (ngà y 6 tháng 4 năm 1969) Văn Diễn Quang, nghị viện
đô thành (ngày 19 tháng 6 năm 1969), Hà Thành Tín phụ trách Phân
cục cảnh sát quận 6 (tháng 7 năm 1969)... Biệt động đã tấn công
Phân cục cảnh sát ngụy trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10,
Phân cục cảnh sát quận 5. Các xe quân sự Mỹ liên tục bị tấn công,
chúng buộc phải tổ chức yểm trợ các cuộc di chuyển quân sự trong
thành phố. Một lực lượng đáng kể binh lính địch bị trói chân vào công
việc canh gác ở đường phố. Nhân dân Củ Chi có câu "giết một thằng
bình định bằng giết ba thằng Mỹ", bọn tâm lý chiến được xếp vào
hàng đầu trong số này. Du kích Tân Thạnh Tây, một lần đột nhập ấp
chiế n lượ c Tân Quy diệt một đội bình định 7 tên. Vào khoảng tháng 8
năm 1969, trước tình thế khó khăn, huyện chủ trương cử một trung
đội nữ du kích Củ Chi về hoạt động bên trong các ấp chiến lược, vào
các tổ du kích mật và bổ sung một số chỉ em cho biệt động thành. Lực
lượng này thật sự trở thành lự c lượng biệt động tại chỗ, tấn công địch
bất kỳ nơi nào: quán nước, nhà ăn, trụ sở... Các khẩu cối 82 ly phân
tán cho du kích giấu dưới địa đạo, khi cần lấy lên sử dụng ngay. Các
công trườ ng xã tiếp tục duy trì, phát triển, du kích nghĩ ra nhiều loại
mìn gạc, mìn hóa học, "mìn chĩn mắm", mìn nylon... chống được máy
dò của địch. Những bãi mìn, trái lớn hình thành, có những bãi dài
đến hàng nghìn mét như ở Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Thái Mỹ. Bãi ở
An Nhơn Tây gài đến 900 trái các loại. Có nhiều người rấ t thành thạo
trong sản xuất vũ khí như: Tô Văn Đực, Phạ m Văn Cộ i, Nguyễn Văn
An, Lê Văn Đạm...
Ở Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn, lực lượng võ trang tập trung chia
nhỏ ra thành từng phân đội cùng du kích bám địa bàn, bám địch,
đánh tiêu hao ở các khu vực Bình Trung, Phước Long, Long Trường,
Tăng Nhơn Phú, Long Thạnh Mỹ, An Phú Đông, Thạnh Lộc, Quới
Xuân, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Đông Thạnh...
Ởã Rừng Sác, đại hộ i Đảng Đoàn 10 lần thứ ba cuối mùa xuân
1969, diễn ra trong tình thế hết sức căng thẳng: Rừng Sác đang bị
bao vây, đội 5 vào sinh ra tử quân cảng Nhà Bè trung bình tấn công
hơn chục trận mà chỉ hy sinh 1 chiến sĩ, nhưng sau một trận đánh
càn số quân còn một nửa, đánh đi đánh lại chỉ còn 9 tay súng. Các đội
khác (cấp đạ i đội) còn 15, hai ba chục tay súng đượ c coi là sung sức.
Các chiến sĩ dùi đường về chiến khu Đ lần lượt hy sinh. Hàng loạt
DK75, B40, B41 hết đạn. Lần lượt từ đại đội 2 trên sông Ông Kèo,
đến các đơn vị khác bắt đầu ăn cháo rau kềm, có nơi luộc trái sú, vẹt
ăn thay cơm. Đảng ủy lúc này gồm các đồng chí Bảy Ước (chính ủy),
Cao Thanh Tao và đồng chí Hải lã nh đạo, chỉ huy đơn vị vượt thời kỳ
khó khăn nhất.
Hàng loạt câu hỏi đặt ra: lấy gì đánh, lấy gì ăn, đánh rồi lui về
đâu, hay tạm lui hết về đất liền?
Trong tình thế đó, Nghị quyết Đại hội Đả ng lần thứ III của
Đoàn 10 nêu rõ: "bấ t cứ giá nào cũng phải đứng tại Rừng Sác", bằng
biện pháp và quyết tâm "Rừng Sác là nhà". Nghị quyết nêu thành
khẩu hiệu lịch sử:
Rừng Sác là nhà.
Sông Lòng Tà u là trận địa.
Bến cảng, kho tàng, tàu địch là quyết chiến điểm.
Có lệnh là đi, hoàn cảnh nào cũng đánh thắng, đánh phải
thắng.
Nghị quyết xuống các đơn vị kèm theo chỉ thị:
Bắt cá, mò cua.
Tại chỗ tùy cơ ứng biến - Nghe xã luận đài mà đánh...
Chỉ huy Đoàn nhận được những lá thư quyết tử bám trụ từ phía
Tây sông Lòng Tàu. Lá thư viết bằng máu của đội 6: "Chúng tôi một
tấ c không đi, một ly không rời khi chưa có lệnh"; "còn ngườ i còn chiến
đấu, còn người còn trận địa". Có biết bao tấm gương về những chiến
sĩ Rừng Sác chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, về
trận địa một người chống chọi hàng đại đội giặc. Trên một cù lao
không tên, đồng chí Kiệt, một cán bộ đại đội là ngườ i còn lại cuối
cùng, bị địch bắn gãy lìa một khúc chân, còn bò đi gom súng đạn của
đồng đội hy sinh để lại, đánh gãy đợt xung phong tiếp của địch. Lịch
sử Đoàn 10 đang trải qua những tháng năm gian khổ nhất gọi là thời
kỳ "bắt cá - mò cua - mua gạo - cháo rau kềm". Gần 200 cơ sở quần
chúng gắn bó với Đoàn tập trung lo tiếp tế gạ o, thực phẩm thuố c
men. Cán bộ chiến sĩ đội quân giới của Đoàn vào "chiến dịch"truy tìm
bom pháo lép (tính đến năm 1971 lấy được 4275 kg thuốc nổ từ trái
bom lép). Đội quân giới của đồng chí Tư Tiên và kỹ sư Mười Thiện đã
sáng chế, cải tiến ra nhiều loại mìn trong đó có "bom bay" chế từ DKB
đánh được tàu 10.000 tấn, mìn ngòi phè n chua thay mìn hẹn giờ Liên
Xô...
Ngày 18 tháng 5 năm 1969, quyết lập công mừng sinh nhật Bác,
trong vòng 30 phút trên sông Lòng Tàu, chiến sĩ Đoàn 10 bắn cháy 2
tà u dầu của giặc, một chiếc 7.000 tấn và một chiếc 12.000 tấn.
Thấy hiện tượng hoạt động của đặc công ta tăng lên, ngày 24
tháng 6 năm 1969, địch tổ chức trận càn Mỹ - Ngụy hỗn hợp quy mô
lớn do lữ đoàn 199 Mỹ chủ công, lữ trưởng David chỉ huy, đánh vào
khu vực sông Ông Kèo, nơi mà chúng đinh ninh có cơ quan chỉ huy
của Đoàn 10.
Qua cơ sở quân báo, ta nắm đượ c ý định của địch nên đã bố trí
trận địa đánh địch từ Vàm Ông Kèo vào gồm các chốt: B40, B41,
DKZ, mìn củ a đội 1, đội 2, các trận địa bộ binh đại đội 1, đại hội 2.
Chiến sự ác liệt diễn ra từ sáng sớm đến 15 giờ, phía sông Ông
Kèo, ta loại đoàn tàu 10 chiếc của Mỹ, nhưng phía sau tiểu đoàn ngụy
tràn qua được, gây thiệt hại cho đại đội 2. Ta giế t, làm bị thương 200
tên Mỹ - Ngụy, bắn chìm cháy 10 tàu. Đặc biệt tại Vàm sông Ông
Kèo, ta bắn rơi chiếc máy bay chỉ huy của tướng David lữ trưởng lữ
199, tên này bị thương.
Cũng tháng 6 năm 1969, đặc công Rừng Sác đã tổ chức vượt lên
đất liền, liên tiếp pháo kích Bộ tư lệnh Hải quân ngụy và kho xăng
Nhà Bè.
Giữa những ngày chiến tranh ác liệt, đêm 3 tháng 9 năm 1969,
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyề n đi một tin đau thương,
mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
trần. Không ai tưởng tượng một sự thật đau buồn như vậy có thể đến,
dù đó là điều không thể tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người xây dựng nền Cộ ng hòa
Dân chủ và Mặt trận thống nhất, là Bác Hồ, Người Cha thân yêu của
dân tộc. Bác ra đi để lại cho toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta bản di
chúc lịch sử. Người khẳng định: "Cuộc chống Mỹ cứu nước củ a nhân
dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất
định thắ ng lợi hoàn toàn".
Sài Gòn - Gia Định đang trong nhữ ng ngày khó khăn gian khổ
nhất. Quân dân Sài Gò n -Gia Định nén đau thương, anh hùng phấn
đấu, quyết tâm vượt lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai để đánh
thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam.
Với lòng tiếc thương vô hạn, nhiều đồng bào thành phố bất chấp
sự theo dõi của địch đã tổ chức truy điệu Bác bằng nhiều hình thứ c
công khai hoặc bí mật.
Công nhân xe buýt giành cả ngày và đêm 9 tháng 9 làm lễ truy
điệu Hồ Chủ Tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộc đoàn văn
nghệ học sinh, sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệ m Bác trong tiếng
hát trang nghiêm củ a bài "Hồn tử sĩ".
Tại nhà lao Chí Hòa, anh chị em tù chính trị để tang Bác 7
ngày. Suốt tuần lễ tang, sáng nà o 600 anh chị em tù chính trị cũng
hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.
Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác.
Tại vùng Hòa Hưng 200 Phật tử, nhân sĩ trí thức, sinh viên học
sinh tập trung về chù a Khánh Hưng. Đúng 2 giờ chiều ngày 9 tháng
9 năm 1969, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau lễ tang truy điệu Bác Hồ ở
quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu tại đây bắt đầu. Thượng
tọa Thích Pháp Lan đọc điếu văn ca ngợi công lao và đức độ Bác Hồ.
Nhiều người không cầm được nước mắt. Bốn ngày sau, tổng nha cảnh
sát gửi giấy mời thượng tọa Thích Pháp Lan đến thẩm vấn suốt từ 8
giờ đến 5 giờ chiều. Trước lý lẽ sắc bén của thượng tọa và khí thế của
phong trào đấu tranh của thành phố, địch buộc phải thả thượng tọa.
Trong khi đó, đồng bào ở hẻm 258/5/21A phường Phan Thanh Giản,
quận 10 làm lễ truy điệu Bác và nghe đọc tiểu sử bác dưới hình thứ c
một đám giỗ tạ i nhà chị Biểu. Ở quận 8, chi bộ phường Hưng Phú,
sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập trung đồng bào tại xóm Đầm
để truy điệu Bác. Cảnh sát ngụ y biết, nhưng không dám xúc phạm
đến tình cảm của nhân dân. Nhiều gia đình trong thành phố đốt
nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác, đón nghe các buổi phá t thanh về
Bác trên đài Hà Nội, Giải phóng. Quân dân ngoại thành làm lễ truy
điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo. Có nơi cán bộ làm lễ truy
điệu Bác dưới hầm bí mật.
Toàn Đả ng, toàn quân và toàn dân nguyện biến đau thương
thành hành động cách mạ ng, thự c hiện di chúc Bác để lại: "... Dù sao
chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đế n thắng lợ i hoàn toàn...".
Thực hiện chủ trương của Thành ủy, các đội biệt độ ng tổ chức
lại thành 3 cụm, mỗi cụm có nhiều độ i, khẩn trương vừa củng cố vừa
xây dự ng và hoạt động theo phương châm kết hợp chặt chẽ chính trị
với vũ trang, thực hiện "3 mũi giáp công" ở cơ sở.
Trong thời kỳ khó khăn này, tức mồng 3 Tết âm lịch, Đoàn Thị
Ánh Tuyết cùng nữ biệt động Sáu Hạnh thực hiện cuộc tấn công
Trung tâm Quốc gia báo chí, loại một số cố vấn tình báo Mỹ và 28 tên
mật vụ, cán bộ bình định và sĩ quan tình bá o Sài Gòn.
Cũng vào những ngày này, ta đánh chất nổ trong Tổng nha
cảnh sát ngụy, do một nữ chiến sĩ an ninh thực hiện, nhiều tên chết
và bị thương, phầ n lớn là thẩm viên cảnh sát, làm cháy trên 100 xe
gắn máy. Địch huy động đến máy bay lên thẳng để chữa cháy, đem xe
GMC đến lấy xác và đưa số bị thương đi cứu chữa. Trận này làm cho
địch nghi ngờ lẫn nhau.
Với ý thức đánh địch để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, cuối
tháng 1 năm 1970, nữ chiến sĩ Tư Kiên thuộc Lực lượng vũ trang
Thành Đoàn, đang bụng mang dạ chửa tự nguyện xin "đi đánh trận
nữa để cổ vũ phong trà o rồi đi đẻ". Ngày 30 tháng 4 chị đã cùng cá c
chiến sĩ Lê Phi Hùng, Phạm Văn Triệu thực hiệ n cuộc tiến công táo
bạo vào cư xá Thái Lan thuộc sư đoàn Báo Đen ở phường Phan
Thanh Giản (nay là công trình bưu điện II ở phường 14 quận 10) gây
thiệt hại cho địch không đáng kể nhưng có ảnh hưởng ngay đến khí
thế tiến công chính trị củ a sinh viên đang diễn ra tại khu vực Bàn
Cơõ. Cũng chính nơi này địch phát hiện chỗ đặt cối 60 li của biệt động
Sài Gòn đích thân chỉ huy cuộc lùng sục. Đồ ng chí Thanh một mình
chống chọi một đại đội địch từ 10 giờ tối đến 4 giờ sáng, hy sinh tại
trận.
Tại đường Nguyễn Văn Thoại, chị Tám A và nữ đồng chí Ngoạn
hy sinh trong trận dùng thuốc nổ đánh nơi tập trung binh lính Đại
Hàn.
Theo phương hướng Nghị quyết Bình Giã IV, khẩu hiệu đấu
tranh chính trị tập trung lúc này là đòi Mỹ rút hết quân, chống chính
quyền phản động Nguyễn Văn Thiệ u, đòi thành lập chính quyền tiến
bộ, chấm dứt chiế n tranh, vãn hồi hòa bình, tận dụng các hình thứ c
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp của học sinh, sinh viên, của công
nhân và lao động, của mọi ngành, mọi giới và các tầng lớp trung gian.
Nội dung và hình thức đề ra nói trên rất sát hợp yêu cầu và tình
hình nhân dân Sài Gòn trong tình thế hiệ n tại.
Học sinh, sinh viên là lực lượng nắm bắt và khơi dậy ngay
thành phong trào tiến đến cao trào theo phương hướng khẩu hiệu
được phát động, đồng thời tạo được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các ngành
các giới, có liên kết các phong trào khá c tạo thành sức mạnh tổng hợp
của mặt trận chính trị thành phố.
Tháng 6 năm 1970, trong một cuộc biểu tình đòi trả tự do cho
tất cả sinh viên, học sinh còn bị giam giữ tại nhà lao Chí Hòa, sinh
viên, học sinh xung đột dữ dội với cảnh sát ngụy đến đàn áp, đốt cháy
1 xe, sau đó lại tấn công đốt cháy 1 xe cảnh sát và 1 xe quân cảnh
Mỹ, đánh bị thương 2 tên Mỹ đi trên xe, thu cả súng đại liên, dùi cui
và mũ sắt. Phong trào học sinh, sinh viên từ Sài Gòn lan xuống Mỹ
Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Giờ , Châu Đốc, Rạch Giá, ra Đà Lạt,
Bình Định, Quảng Ngã i, Đà Nẵng, Huế... trở thành cao trào học sinh,
sinh viên toàn miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, đòi hòa
bình, chấm dứt chiến tranh, tự do, độc lập và ngay người nước ngoài
cũng đấu tranh kêu gọi hòa bình cho Việt Nam.
Cuối tháng 6 năm 1970, sinh viên liên viện đại học Sài Gòn,
Huế , Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, tổ chức đại hội nhằm thống nhất
khẩu hiệu và hành động của sinh viên trên toàn miền Nam. Một
trong những khẩu hiệu hà nh động chung đó là: chống huấn luyện
quân sự học đường với nội dung: không học, không thi, không đi quân
trường.
Kết quả suốt các tháng 7, 8, 9 năm 1970, trong các trường đại
học, phong trào chống quân sự học đường phát triển rất mạnh mẽ. Có
đến 30.000 sinh viên không đi học quân sự, không thi môn quân sự
học đường, 450 sinh viên đang học ở quân trưởng bỏ về. Sinh viên cá c
trường đại học Y, Văn, Vạn Hạnh, Kỹ thuậ t Phú Thọ, đốt cháy các
phòng huấn luyện quân sự học đường.
Đêm 17 tháng 7 năm 1970, học sinh, sinh viên tổ chức đêm văn
nghệ "Năm châu đấu tranh cho hòa bình" tại số 240 đường Công Lý,
đại diện sinh viên Việt Nam tặng cho phái đoàn sinh viên quốc tế 1 lá
cờ có vẽ hình chim bồ câu trắng tượ ng trưng cho khát vọng hòa bình
của nhân dân ta. Đáp lại, các sinh viên Mỹ rút thẻ quân dịch châm
lửa đốt và dẫ m nát dưới gót giày để biểu hiện tinh thần phản đối
chiế n tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiếp theo, đêm văn nghệ "Năm
châu đấu tranh cho hòa bình" là những đêm "Văn nghệ xung kích",
những đêm "Đốt lửa căm thù", nhằm "đốt lửa lên để nhận mặt kẻ
thù, đốt lửa lên để nung nấu ý chí căm hờn, đốt lửa lên soi sáng niềm
tin hy vọng", để cùng nhau sát cánh đấu tranh.
Bài hát "Dậy mà đi" thôi thúc, giục giã lớp lớp người vùng dậy
đấu tranh. Từ tháng 5 đến tháng 10 có đến 24 đêm biểu diễn văn
nghệ tập trung, 27 buổi văn nghệ xung kích, 49 tổ báo sinh viên, 66
tập san học sinh, và 26 cuộc đi cắm trại. Hàng trăm đội xung kích
thanh niên học sinh, sinh viên tỏa về cá c xí nghiệp, các chợ, các xóm
lao động và các vùng nông thôn ngoại thành để nói "cho đồng bào tôi
nghe và nghe đồng bào tôi nói" để "hát cho đồng bào tôi nghe và nghe
đồng bào tôi cù ng hát" nhằm tuyên truyền vận động nhân dân đấu
tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi lật
đổ Thiệ u, đòi Mỹ phải rút hết...
Ngày 18/3/1970 Mỹ cho tiến hành cuộc đảo chính lật đổ nền
trung lập của Campuchia. Sau đảo chính, Mỹ tập trung dựng lên chế
độ Lon Non làm tay sai và tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lượ c
sang Campuchia. Ngày 29/4/1970 Mỹ ngụy Sài Gòn sử dụng 10.000
quân phiêu lưu đánh sng khu vực phía Đông - Bắc Campuchia, giáp
với miền Đông Nam Bộ của Việt Nam.
Từ giữa tháng 6/1970 quân dân miền Nam và liên quân Việt
Nam - Campuchia đã phối hợp để đánh Mỹ ngụy Sài Gòn, ngụy
Phnôm-pênh. Sau hai tháng phối hợp chiến đấu ta và bạn đã giải
phóng hoàn toàn 5 tỉnh và giải phóng phần lớn 6 tỉnh khá c của
Campuchia sát với vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam. Tình
hình khó khăn ở Campuchia đượ c cải thiệ n rõ rệt, trong khi ấy ở Lào
và ở miền Nam Việt Nam ta cũng tranh thủ đẩy mạnh hoạt động. Ở
Lào, liên quân cách mạng Việt - Lào đã tấn công và giải phóng thị xã
Xaravan (hạ Lào). Ở miền Nam ta mở đợt hoạt động Xuân - Hè trên
toà n miền chố ng phá bình định của địch. Các đô thị miền Nam từ
tháng 4/1970 đến tháng 6/1970 bùng lên nhiều cuộc đấu tanh của
hàng vạn người chống Mỹ - Ngụy, đòi tự do, dân chủ, hòa bình, chấm
dứt chiến tranh. Đến giữa năm 1971 đã làm xuất hiện nhiều hình
thức tổ chức công khai hợp pháp chuẩn bị đưa đấu tranh chính trị ở
miền Nam lên một cao trào mới. Sinh viên học sinh chống quân sự
hóa họa được, những cuộc xuống đường của "Phong trào phụ nữ đòi
quyền số ng", "Ủy ban nhân dân tranh thủ hòa bình", "Ủy ban nhân
dân đòi quyền sống", "Nghiệp đoà n 36 chợ đô thành", những cuộc
tổng bãi công của 21 nghiệp đoàn chống thế lương bổng, phong trào
chống bắt thanh niên miền Nam Việt Nam đi làm bia đỡ đạn ở Lào và
Campuchia... Đó là những trận đấu tranh rung chuyển phố phường
và từ đó một "Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình" đã ra đời từ Sài
Gòn lan nhanh khắp các thành thị miền Nam.
Đón trước thời điểm chính trị của nước Mỹ năm 1972, từ tháng
5/1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương "Kịp
thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu
dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển
thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả
trên chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọ ng kế
hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi
quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến
tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị,
kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trườ ng hợp chiến tranh còn
kéo dài". Điều bất ngờ là hành động điên cuồng của Mỹ chỉ càng làm
cho loài người tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ công phẫn, lên án
và đòi chính quyền Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Ngày 27/7/1972
tạ i hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân châu Âu đoà n kết với
nhân dân Việt Nam, 27 đoàn đại biểu các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắ c
Âu đã ra "Tuyên bố Paris" kêu gọi "chính phủ Mỹ chấ m dứt tức khắc
các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa... chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việ c
nội bộ của Việt Nam, Lào và Campuchia".
Mỹ không muốn chấp nhận việc ký kết hiệp định bất lợi cho Mỹ
và Ngụy nên chủ trương đánh đò n quân sự để ép ta phải nhượng bộ
chúng. Chúng cho rằng "đe dọa phải... kết hợp với hành động thực thì
mới có hiệu quả thuyết phục đối phương". Johnson năm 1965 đã dùng
biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến
lược ở miền Nam; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để
gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán "được ăn cã, ngã về
không". Ngay sau ngày thắng cử , Nixon cho đánh phá mạnh hơn nữa
ở vĩ tuyế n 20, ồ ạt tuôn đổ vũ khí và viện trợ cho ngụy, đốc thúc ngụy
phản kích mạnh ở miền Nam, đòi ta sửa đổi 120 chỗ trong dự thảo
hiệp định. Bộ Chính trị Đảng ta đã nhắc nhở "phải đề phòng Mỹ tăng
cường hành động quân sự. Tuyệt đối ta không được lơ là mất cảnh
giác". Trậ n chiến đấu của quân dân miền Bắc chống tập kích của
không quân Mỹ bắt đầu từ 19 giờ 40 phút ngày 18/12/1972 và kéo dài
suốt 12 ngày đêm sau đó. Chưa bao giờ và ở đâu có 1 chiến dịch
phòng không như 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở miền Bắc; cũng chưa
từng có trong lịch sử cảnh tượng B.52 của Mỹ cháy rụng đỏ mặt Hồ
Gươm. Quân dân miền Bắc đã dám đánh và đã đánh thắng chúng.
Phó tham mưu trưởng không quân Mỹ thú nhận "Bắ c Việt Nam đã
phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn nhất thế giới .
Bảy (7) giờ sáng ngày 30/12/1972 chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng nén
bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. Mỹ
muốn giáng cho đối phương một đòn quân sự mạnh thì lại gặp một
trận "Điện Biên Phủ trên không"; muốn tỏ rõ sức mạnh không thể
tưởng tượng nổi của không quân chiến lược Hoa Kỳ thì những biểu
tượng của sức mạnh răn đe bị mất uy thế. Tổng thống Nixon vừa tái
đắc cử đã bị một trận "phản đòn", muốn đàm phá n trên thế mạnh đã
phải trở lại Paris khẩn cấp và "cần đạt được một giải pháp dù đối
phương đưa ra những điều kiện khắt khe", chấ p thuận tất cả những
gì đã chối từ và chấp nhận cả kết quả đàm phán ngoài mong muốn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
Sau chủ trương "Phi Mỹ hóa chiến tranh" của Johnson (từ giữa
năm 1968), ngày 7 tháng 4 năm 1968, Nixon (Tổng thống Mỹ tiếp sau
Johnson) chính thức tuyên bố bắt đầu Việt Nam hóa chiến tranh theo
kế hoạch 3 giai đoạn, trong đó quyết đâm của giai đoạn 3 là hoàn
thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, củng cố thành quả đã
đạt đượ c, đối phương suy yếu và chiến tranh tà n lụi dần.. Báo cáo
trước ủy ban quân lực thượng nghị viện Mỹ, Melvin Laird, bộ trưởng
quốc phòng Mỹ tuyên bố: "Chính sách Việt Nam hóa có nghĩa vừa kết
thúc vừa mở đầu... kết thúc sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam, mở đầu
một chính sách mới của chúng ta về việc họ phải tự lực, tự dựa vào
bản thân họ...". Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 1 năm 1969, địch
"bình định cấp tốc", tháng 1 năm 1969 bắt đầu bình định "xây dựng".
Từ tháng 1 năm 1969 (trước cả tuyên bố của Nixon) đến tháng 2
năm 1972 là thời kỳ mà 3 vấn đề trung tâm được triển khai thự c
hiện.
Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, ngoài 3 tuyến phòng thủ
(tập trung 47% quân chiến đấu Mỹ, 37% quân chủ lực ngụy so với
toà n Miền), đã hình thành từ giữa năm 1968, ở nội thành Sài Gòn,
địch tổ chức 9 quận thành 11 đặc khu, bổ nhiệm sĩ quan cấp trung tá
là đặc khu trưởng, tăng cường cho mỗi đặc khu một đại đội đặc vụ
(công an đặc biệt), hai đại đội cảnh sát dã chiến và từ 1 đến 2 đại đội
tuần cảnh. Để kiểm soát chặt chẽ nội thành hơn, các phường, khóm
lại được chia nhỏ, nâng số phường từ 56 lên 72, số khóm từ 861 lên
1100. Địch lại bắt đầu đổi thẻ căn cước, người tập kết, gia đình theo
Việt cộng, chỉ cần có một người tố cáo là có thể bắt ngay không cần
chứng cứ.
Sau các sắc lệnh tổng động viên, địch quân sự hóa học đường,
quân sự hóa phường, liên gia, công tư sở, công tư chức, ra sắc lệnh
cấm hội họp, biểu tình, đình công. Thực hiện tuyên bố: "Bắn bỏ ngay
tức khắc bất cứ ai đòi hỏi hòa bình".
Lực lượng nhân dân tự vệ được đặc biệt coi trọng phát triển
không chỉ để đôn quân, bắt lính mà còn để mỗi người dân thành một
người lính địch. Chúng thà nh lập ở mỗi phường một ban và ở mỗi
khóm một tiểu ban quân sự.
Nhân dân tự vệ được trang bị súng, phải làm nhiệm vụ canh
gác, lùng sục, gây không khí căng thẳng triền miên ở trong dân
chúng. Chỉ riêng quận 7 đến cuối năm 1969, địch đã tổ chức trên
6000 nhân dân tự vệ thuộc lứa tuổi từ 14 đến 50, trang bị 2433 súng.
Công an, cảnh sát, nhân dân tự vệ... kết hợp liên tụ c lùng sục, vây
ráp trong nộ i thành gây cho ta rất nhiề u khó khăn. Tại Sài Gòn năm
1969 có trên 7000 cuộc hành quân cả nh sát và có đêm như đêm 20
tháng 1 năm 1969 trên 9.700 người bị khám xét, bị bắt giam. Nhiều
cơ sở Đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Các căn cứ Rạch
Bà Tàng, Hố Bần, Bến Đá, Cầu Sập, Phú Định, Hàng Thái, Chánh
Hưng, Rạch Ông, Rạ ch Cát... bị đánh phá chà đi xát lại liên miên. Đời
sống nhân dân lao động điêu đứng, đi lại, làm ăn khó khăn. Trong lú c
đó phim ảnh, sách báo Mỹ, văn hóa đồi trụy, dâm dật, tràn ngập
đang đầu độc tầ ng lớp thanh niên, họ c sinh, gieo rắc tâm lý hưởng
thụ, sống gấp, không cần biết lý tưởng, không cần biết tương lai.
Ởã ngoại thành, quân Mỹ vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ lá chắn, đẩy
lùi chủ lực ta ra xa hơn, đại bộ phận quân ngụy làm nhiệ m vụ càn
quét với mật độ lớn hơn các năm trước nhằm triệt phá các nhóm căn
cứ, các bàn đạp, làm bật gốc các lực lượng ta ra khỏi ven đô.
Tiếp sau phong trào chống lệnh động viên, quân sự hóa họ c
đường, đòi hòa bình, tháng 4 năm 1969, đội vũ trang tuyên truyền
học sinh đột nhập trường Huỳnh Khương Ninh kêu gọi học sinh vùng
lên lật đổ Thiệu, Kỳ, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng.
Vào dịp lễ Phậ t Đản năm 1969, "Ủy ban thanh niên học sinh,
sinh viên tranh thủ dân chủ và hòa bình" được thành lập, phối hợp
cùng các giới khác lên án Mỹ ngụy tiến hành chiến tranh hủy diệt,
đòi vãn hồi hòa bình.
Nguyễn Văn Thiệu cấm tổ chức lễ Quốc tế Lao động ngày 1
tháng 5 năm 1969, nhưng hơn 500 đại biểu của 118 nghiệp đoàn Sài
Gòn - Chợ Lớn bất tuân lệnh, cứ tổ chức ngày hội lớn của giai cấp
công nhân, vạch mặt Thiệ u và tay sai, đò i tự do nghiệp đoàn, đòi hòa
bình, lập lại quan hệ bình thường Nam - Bắc.
Tháng 5 năm 1969, Đại hội đại biể u các lực lượng thành phố
bầu ra Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố do giáo sư Nguyễn
Văn Chì làm chủ tịch.
Sau đợt tiến công tháng 5 trên chiến trường, Đại hội Đại biểu
Quốc dân miền Nam họp trong các ngà y 6, 7, 8 tháng 6 năm 1969
quyết định thành lập chế độ cộng hòa, bầ u ra Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn Chính
phủ. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch
Chính phủ Cách mạng lâm thời. Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật
sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch và luật
sư Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Ủ y ban Liên minh các lực lượng Dân
tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam làm Phó Chủ tịch. Đại hội ra đời
hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến
đấu đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Vào lúc này ở Sài Gòn, Gia Định xuất hiệ n hai phong trào mới:
phong trào các nghiệp đoàn nông dân, tá điền và phong trào lực lượng
quốc gia tiến bộ. Các nghiệp đoàn nông dân và tá điền ở các tỉnh lân
cận Sài Gòn, từ trước năm 1968 đã đấu tranh chống dự luật của Hạ
nghị viện ngụy về nông dân, nay lại kéo về thành phố tiến hành đại
hội. Lực lượng quốc gia tiến bộ do luật sư Trần Ngọc Liễng làm chủ
tịch, với nội dung đấu tranh từ cứu giúp nạn nhân chiế n cuộc, tiến
lên đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh: tờ nội san Hòa Giải của lực
lượng không chỉ phát hành nội bộ mà còn phát hành công khai, đòi
hòa bình, lên án chiến tranh.
Tháng 7 năm 1969, công nhân ngành xe buýt đấu tranh chống
chủ trương của Mỹ -ngụy, giải tán việc công quản xe buýt để cho tư
nhân tham gia đấu thầu, thực chấ t là chú ng âm mưu sa thải những
công nhân tích cực đấu tranh, chuyển việc quản lý xe buýt cho những
tên tay chân của ngụ y quyền, ngụy quyền để dễ bề nắm giữ, thao
túng. Toàn thể công nhân xe buýt kiên quyết giữ vững vị trí, dũng
cảm chống lại lực lượng cả nh sát dã chiến ngụy đến đàn áp, kiên trì
giữ vững yêu sách đò i chính quyền phải hủy bỏ chính sách đấu thầu
xe buýt.
Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng, được đại biểu của
118 nghiệ p đoàn ra tuyên bố ủng hộ. Công nhân các ngành dầu hỏa,
bến cảng, hóa phẩm, các hãng ESSO, Silico, Mic, xưởng Caric, bệnh
viện Đồn Đất, các hãng pin Quang Minh, Con Ó, cơ quan USAID...
đồng tình hưởng ứng. Một số đồng bào ở các chợ mang cơm gạo, bánh
mì, thực phẩm đến tiếp tế cho công nhân xe buýt. Các lực lượng vũ
trang nội thành đẩy mạnh hoạt động trừ gian, trừ ng trị nhiều tên tay
sai quan trọng như Lê Minh Trứ, tổng trưởng văn hóa giáo dục và
thanh niên (ngày 6 tháng 1 năm 1969), Lê Diệu Luận, phó chủ tịch
nhân dân tự vệ khóm 24 phường Chợ Quán, Trưởng văn phòng đặc
vụ Đài Loan (ngà y 6 tháng 4 năm 1969) Văn Diễn Quang, nghị viện
đô thành (ngày 19 tháng 6 năm 1969), Hà Thành Tín phụ trách Phân
cục cảnh sát quận 6 (tháng 7 năm 1969)... Biệt động đã tấn công
Phân cục cảnh sát ngụy trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10,
Phân cục cảnh sát quận 5. Các xe quân sự Mỹ liên tục bị tấn công,
chúng buộc phải tổ chức yểm trợ các cuộc di chuyển quân sự trong
thành phố. Một lực lượng đáng kể binh lính địch bị trói chân vào công
việc canh gác ở đường phố. Nhân dân Củ Chi có câu "giết một thằng
bình định bằng giết ba thằng Mỹ", bọn tâm lý chiến được xếp vào
hàng đầu trong số này. Du kích Tân Thạnh Tây, một lần đột nhập ấp
chiế n lượ c Tân Quy diệt một đội bình định 7 tên. Vào khoảng tháng 8
năm 1969, trước tình thế khó khăn, huyện chủ trương cử một trung
đội nữ du kích Củ Chi về hoạt động bên trong các ấp chiến lược, vào
các tổ du kích mật và bổ sung một số chỉ em cho biệt động thành. Lực
lượng này thật sự trở thành lự c lượng biệt động tại chỗ, tấn công địch
bất kỳ nơi nào: quán nước, nhà ăn, trụ sở... Các khẩu cối 82 ly phân
tán cho du kích giấu dưới địa đạo, khi cần lấy lên sử dụng ngay. Các
công trườ ng xã tiếp tục duy trì, phát triển, du kích nghĩ ra nhiều loại
mìn gạc, mìn hóa học, "mìn chĩn mắm", mìn nylon... chống được máy
dò của địch. Những bãi mìn, trái lớn hình thành, có những bãi dài
đến hàng nghìn mét như ở Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Thái Mỹ. Bãi ở
An Nhơn Tây gài đến 900 trái các loại. Có nhiều người rấ t thành thạo
trong sản xuất vũ khí như: Tô Văn Đực, Phạ m Văn Cộ i, Nguyễn Văn
An, Lê Văn Đạm...
Ở Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn, lực lượng võ trang tập trung chia
nhỏ ra thành từng phân đội cùng du kích bám địa bàn, bám địch,
đánh tiêu hao ở các khu vực Bình Trung, Phước Long, Long Trường,
Tăng Nhơn Phú, Long Thạnh Mỹ, An Phú Đông, Thạnh Lộc, Quới
Xuân, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Đông Thạnh...
Ởã Rừng Sác, đại hộ i Đảng Đoàn 10 lần thứ ba cuối mùa xuân
1969, diễn ra trong tình thế hết sức căng thẳng: Rừng Sác đang bị
bao vây, đội 5 vào sinh ra tử quân cảng Nhà Bè trung bình tấn công
hơn chục trận mà chỉ hy sinh 1 chiến sĩ, nhưng sau một trận đánh
càn số quân còn một nửa, đánh đi đánh lại chỉ còn 9 tay súng. Các đội
khác (cấp đạ i đội) còn 15, hai ba chục tay súng đượ c coi là sung sức.
Các chiến sĩ dùi đường về chiến khu Đ lần lượt hy sinh. Hàng loạt
DK75, B40, B41 hết đạn. Lần lượt từ đại đội 2 trên sông Ông Kèo,
đến các đơn vị khác bắt đầu ăn cháo rau kềm, có nơi luộc trái sú, vẹt
ăn thay cơm. Đảng ủy lúc này gồm các đồng chí Bảy Ước (chính ủy),
Cao Thanh Tao và đồng chí Hải lã nh đạo, chỉ huy đơn vị vượt thời kỳ
khó khăn nhất.
Hàng loạt câu hỏi đặt ra: lấy gì đánh, lấy gì ăn, đánh rồi lui về
đâu, hay tạm lui hết về đất liền?
Trong tình thế đó, Nghị quyết Đại hội Đả ng lần thứ III của
Đoàn 10 nêu rõ: "bấ t cứ giá nào cũng phải đứng tại Rừng Sác", bằng
biện pháp và quyết tâm "Rừng Sác là nhà". Nghị quyết nêu thành
khẩu hiệu lịch sử:
Rừng Sác là nhà.
Sông Lòng Tà u là trận địa.
Bến cảng, kho tàng, tàu địch là quyết chiến điểm.
Có lệnh là đi, hoàn cảnh nào cũng đánh thắng, đánh phải
thắng.
Nghị quyết xuống các đơn vị kèm theo chỉ thị:
Bắt cá, mò cua.
Tại chỗ tùy cơ ứng biến - Nghe xã luận đài mà đánh...
Chỉ huy Đoàn nhận được những lá thư quyết tử bám trụ từ phía
Tây sông Lòng Tàu. Lá thư viết bằng máu của đội 6: "Chúng tôi một
tấ c không đi, một ly không rời khi chưa có lệnh"; "còn ngườ i còn chiến
đấu, còn người còn trận địa". Có biết bao tấm gương về những chiến
sĩ Rừng Sác chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, về
trận địa một người chống chọi hàng đại đội giặc. Trên một cù lao
không tên, đồng chí Kiệt, một cán bộ đại đội là ngườ i còn lại cuối
cùng, bị địch bắn gãy lìa một khúc chân, còn bò đi gom súng đạn của
đồng đội hy sinh để lại, đánh gãy đợt xung phong tiếp của địch. Lịch
sử Đoàn 10 đang trải qua những tháng năm gian khổ nhất gọi là thời
kỳ "bắt cá - mò cua - mua gạo - cháo rau kềm". Gần 200 cơ sở quần
chúng gắn bó với Đoàn tập trung lo tiếp tế gạ o, thực phẩm thuố c
men. Cán bộ chiến sĩ đội quân giới của Đoàn vào "chiến dịch"truy tìm
bom pháo lép (tính đến năm 1971 lấy được 4275 kg thuốc nổ từ trái
bom lép). Đội quân giới của đồng chí Tư Tiên và kỹ sư Mười Thiện đã
sáng chế, cải tiến ra nhiều loại mìn trong đó có "bom bay" chế từ DKB
đánh được tàu 10.000 tấn, mìn ngòi phè n chua thay mìn hẹn giờ Liên
Xô...
Ngày 18 tháng 5 năm 1969, quyết lập công mừng sinh nhật Bác,
trong vòng 30 phút trên sông Lòng Tàu, chiến sĩ Đoàn 10 bắn cháy 2
tà u dầu của giặc, một chiếc 7.000 tấn và một chiếc 12.000 tấn.
Thấy hiện tượng hoạt động của đặc công ta tăng lên, ngày 24
tháng 6 năm 1969, địch tổ chức trận càn Mỹ - Ngụy hỗn hợp quy mô
lớn do lữ đoàn 199 Mỹ chủ công, lữ trưởng David chỉ huy, đánh vào
khu vực sông Ông Kèo, nơi mà chúng đinh ninh có cơ quan chỉ huy
của Đoàn 10.
Qua cơ sở quân báo, ta nắm đượ c ý định của địch nên đã bố trí
trận địa đánh địch từ Vàm Ông Kèo vào gồm các chốt: B40, B41,
DKZ, mìn củ a đội 1, đội 2, các trận địa bộ binh đại đội 1, đại hội 2.
Chiến sự ác liệt diễn ra từ sáng sớm đến 15 giờ, phía sông Ông
Kèo, ta loại đoàn tàu 10 chiếc của Mỹ, nhưng phía sau tiểu đoàn ngụy
tràn qua được, gây thiệt hại cho đại đội 2. Ta giế t, làm bị thương 200
tên Mỹ - Ngụy, bắn chìm cháy 10 tàu. Đặc biệt tại Vàm sông Ông
Kèo, ta bắn rơi chiếc máy bay chỉ huy của tướng David lữ trưởng lữ
199, tên này bị thương.
Cũng tháng 6 năm 1969, đặc công Rừng Sác đã tổ chức vượt lên
đất liền, liên tiếp pháo kích Bộ tư lệnh Hải quân ngụy và kho xăng
Nhà Bè.
Giữa những ngày chiến tranh ác liệt, đêm 3 tháng 9 năm 1969,
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyề n đi một tin đau thương,
mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
trần. Không ai tưởng tượng một sự thật đau buồn như vậy có thể đến,
dù đó là điều không thể tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người xây dựng nền Cộ ng hòa
Dân chủ và Mặt trận thống nhất, là Bác Hồ, Người Cha thân yêu của
dân tộc. Bác ra đi để lại cho toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta bản di
chúc lịch sử. Người khẳng định: "Cuộc chống Mỹ cứu nước củ a nhân
dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất
định thắ ng lợi hoàn toàn".
Sài Gòn - Gia Định đang trong nhữ ng ngày khó khăn gian khổ
nhất. Quân dân Sài Gò n -Gia Định nén đau thương, anh hùng phấn
đấu, quyết tâm vượt lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai để đánh
thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam.
Với lòng tiếc thương vô hạn, nhiều đồng bào thành phố bất chấp
sự theo dõi của địch đã tổ chức truy điệu Bác bằng nhiều hình thứ c
công khai hoặc bí mật.
Công nhân xe buýt giành cả ngày và đêm 9 tháng 9 làm lễ truy
điệu Hồ Chủ Tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộc đoàn văn
nghệ học sinh, sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệ m Bác trong tiếng
hát trang nghiêm củ a bài "Hồn tử sĩ".
Tại nhà lao Chí Hòa, anh chị em tù chính trị để tang Bác 7
ngày. Suốt tuần lễ tang, sáng nà o 600 anh chị em tù chính trị cũng
hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.
Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác.
Tại vùng Hòa Hưng 200 Phật tử, nhân sĩ trí thức, sinh viên học
sinh tập trung về chù a Khánh Hưng. Đúng 2 giờ chiều ngày 9 tháng
9 năm 1969, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau lễ tang truy điệu Bác Hồ ở
quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu tại đây bắt đầu. Thượng
tọa Thích Pháp Lan đọc điếu văn ca ngợi công lao và đức độ Bác Hồ.
Nhiều người không cầm được nước mắt. Bốn ngày sau, tổng nha cảnh
sát gửi giấy mời thượng tọa Thích Pháp Lan đến thẩm vấn suốt từ 8
giờ đến 5 giờ chiều. Trước lý lẽ sắc bén của thượng tọa và khí thế của
phong trào đấu tranh của thành phố, địch buộc phải thả thượng tọa.
Trong khi đó, đồng bào ở hẻm 258/5/21A phường Phan Thanh Giản,
quận 10 làm lễ truy điệu Bác và nghe đọc tiểu sử bác dưới hình thứ c
một đám giỗ tạ i nhà chị Biểu. Ở quận 8, chi bộ phường Hưng Phú,
sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập trung đồng bào tại xóm Đầm
để truy điệu Bác. Cảnh sát ngụ y biết, nhưng không dám xúc phạm
đến tình cảm của nhân dân. Nhiều gia đình trong thành phố đốt
nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác, đón nghe các buổi phá t thanh về
Bác trên đài Hà Nội, Giải phóng. Quân dân ngoại thành làm lễ truy
điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo. Có nơi cán bộ làm lễ truy
điệu Bác dưới hầm bí mật.
Toàn Đả ng, toàn quân và toàn dân nguyện biến đau thương
thành hành động cách mạ ng, thự c hiện di chúc Bác để lại: "... Dù sao
chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đế n thắng lợ i hoàn toàn...".
Thực hiện chủ trương của Thành ủy, các đội biệt độ ng tổ chức
lại thành 3 cụm, mỗi cụm có nhiều độ i, khẩn trương vừa củng cố vừa
xây dự ng và hoạt động theo phương châm kết hợp chặt chẽ chính trị
với vũ trang, thực hiện "3 mũi giáp công" ở cơ sở.
Trong thời kỳ khó khăn này, tức mồng 3 Tết âm lịch, Đoàn Thị
Ánh Tuyết cùng nữ biệt động Sáu Hạnh thực hiện cuộc tấn công
Trung tâm Quốc gia báo chí, loại một số cố vấn tình báo Mỹ và 28 tên
mật vụ, cán bộ bình định và sĩ quan tình bá o Sài Gòn.
Cũng vào những ngày này, ta đánh chất nổ trong Tổng nha
cảnh sát ngụy, do một nữ chiến sĩ an ninh thực hiện, nhiều tên chết
và bị thương, phầ n lớn là thẩm viên cảnh sát, làm cháy trên 100 xe
gắn máy. Địch huy động đến máy bay lên thẳng để chữa cháy, đem xe
GMC đến lấy xác và đưa số bị thương đi cứu chữa. Trận này làm cho
địch nghi ngờ lẫn nhau.
Với ý thức đánh địch để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, cuối
tháng 1 năm 1970, nữ chiến sĩ Tư Kiên thuộc Lực lượng vũ trang
Thành Đoàn, đang bụng mang dạ chửa tự nguyện xin "đi đánh trận
nữa để cổ vũ phong trà o rồi đi đẻ". Ngày 30 tháng 4 chị đã cùng cá c
chiến sĩ Lê Phi Hùng, Phạm Văn Triệu thực hiệ n cuộc tiến công táo
bạo vào cư xá Thái Lan thuộc sư đoàn Báo Đen ở phường Phan
Thanh Giản (nay là công trình bưu điện II ở phường 14 quận 10) gây
thiệt hại cho địch không đáng kể nhưng có ảnh hưởng ngay đến khí
thế tiến công chính trị củ a sinh viên đang diễn ra tại khu vực Bàn
Cơõ. Cũng chính nơi này địch phát hiện chỗ đặt cối 60 li của biệt động
Sài Gòn đích thân chỉ huy cuộc lùng sục. Đồ ng chí Thanh một mình
chống chọi một đại đội địch từ 10 giờ tối đến 4 giờ sáng, hy sinh tại
trận.
Tại đường Nguyễn Văn Thoại, chị Tám A và nữ đồng chí Ngoạn
hy sinh trong trận dùng thuốc nổ đánh nơi tập trung binh lính Đại
Hàn.
Theo phương hướng Nghị quyết Bình Giã IV, khẩu hiệu đấu
tranh chính trị tập trung lúc này là đòi Mỹ rút hết quân, chống chính
quyền phản động Nguyễn Văn Thiệ u, đòi thành lập chính quyền tiến
bộ, chấm dứt chiế n tranh, vãn hồi hòa bình, tận dụng các hình thứ c
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp của học sinh, sinh viên, của công
nhân và lao động, của mọi ngành, mọi giới và các tầng lớp trung gian.
Nội dung và hình thức đề ra nói trên rất sát hợp yêu cầu và tình
hình nhân dân Sài Gòn trong tình thế hiệ n tại.
Học sinh, sinh viên là lực lượng nắm bắt và khơi dậy ngay
thành phong trào tiến đến cao trào theo phương hướng khẩu hiệu
được phát động, đồng thời tạo được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các ngành
các giới, có liên kết các phong trào khá c tạo thành sức mạnh tổng hợp
của mặt trận chính trị thành phố.
Tháng 6 năm 1970, trong một cuộc biểu tình đòi trả tự do cho
tất cả sinh viên, học sinh còn bị giam giữ tại nhà lao Chí Hòa, sinh
viên, học sinh xung đột dữ dội với cảnh sát ngụy đến đàn áp, đốt cháy
1 xe, sau đó lại tấn công đốt cháy 1 xe cảnh sát và 1 xe quân cảnh
Mỹ, đánh bị thương 2 tên Mỹ đi trên xe, thu cả súng đại liên, dùi cui
và mũ sắt. Phong trào học sinh, sinh viên từ Sài Gòn lan xuống Mỹ
Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Giờ , Châu Đốc, Rạch Giá, ra Đà Lạt,
Bình Định, Quảng Ngã i, Đà Nẵng, Huế... trở thành cao trào học sinh,
sinh viên toàn miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, đòi hòa
bình, chấm dứt chiến tranh, tự do, độc lập và ngay người nước ngoài
cũng đấu tranh kêu gọi hòa bình cho Việt Nam.
Cuối tháng 6 năm 1970, sinh viên liên viện đại học Sài Gòn,
Huế , Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, tổ chức đại hội nhằm thống nhất
khẩu hiệu và hành động của sinh viên trên toàn miền Nam. Một
trong những khẩu hiệu hà nh động chung đó là: chống huấn luyện
quân sự học đường với nội dung: không học, không thi, không đi quân
trường.
Kết quả suốt các tháng 7, 8, 9 năm 1970, trong các trường đại
học, phong trào chống quân sự học đường phát triển rất mạnh mẽ. Có
đến 30.000 sinh viên không đi học quân sự, không thi môn quân sự
học đường, 450 sinh viên đang học ở quân trưởng bỏ về. Sinh viên cá c
trường đại học Y, Văn, Vạn Hạnh, Kỹ thuậ t Phú Thọ, đốt cháy các
phòng huấn luyện quân sự học đường.
Đêm 17 tháng 7 năm 1970, học sinh, sinh viên tổ chức đêm văn
nghệ "Năm châu đấu tranh cho hòa bình" tại số 240 đường Công Lý,
đại diện sinh viên Việt Nam tặng cho phái đoàn sinh viên quốc tế 1 lá
cờ có vẽ hình chim bồ câu trắng tượ ng trưng cho khát vọng hòa bình
của nhân dân ta. Đáp lại, các sinh viên Mỹ rút thẻ quân dịch châm
lửa đốt và dẫ m nát dưới gót giày để biểu hiện tinh thần phản đối
chiế n tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiếp theo, đêm văn nghệ "Năm
châu đấu tranh cho hòa bình" là những đêm "Văn nghệ xung kích",
những đêm "Đốt lửa căm thù", nhằm "đốt lửa lên để nhận mặt kẻ
thù, đốt lửa lên để nung nấu ý chí căm hờn, đốt lửa lên soi sáng niềm
tin hy vọng", để cùng nhau sát cánh đấu tranh.
Bài hát "Dậy mà đi" thôi thúc, giục giã lớp lớp người vùng dậy
đấu tranh. Từ tháng 5 đến tháng 10 có đến 24 đêm biểu diễn văn
nghệ tập trung, 27 buổi văn nghệ xung kích, 49 tổ báo sinh viên, 66
tập san học sinh, và 26 cuộc đi cắm trại. Hàng trăm đội xung kích
thanh niên học sinh, sinh viên tỏa về cá c xí nghiệp, các chợ, các xóm
lao động và các vùng nông thôn ngoại thành để nói "cho đồng bào tôi
nghe và nghe đồng bào tôi nói" để "hát cho đồng bào tôi nghe và nghe
đồng bào tôi cù ng hát" nhằm tuyên truyền vận động nhân dân đấu
tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi lật
đổ Thiệ u, đòi Mỹ phải rút hết...
Ngày 18/3/1970 Mỹ cho tiến hành cuộc đảo chính lật đổ nền
trung lập của Campuchia. Sau đảo chính, Mỹ tập trung dựng lên chế
độ Lon Non làm tay sai và tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lượ c
sang Campuchia. Ngày 29/4/1970 Mỹ ngụy Sài Gòn sử dụng 10.000
quân phiêu lưu đánh sng khu vực phía Đông - Bắc Campuchia, giáp
với miền Đông Nam Bộ của Việt Nam.
Từ giữa tháng 6/1970 quân dân miền Nam và liên quân Việt
Nam - Campuchia đã phối hợp để đánh Mỹ ngụy Sài Gòn, ngụy
Phnôm-pênh. Sau hai tháng phối hợp chiến đấu ta và bạn đã giải
phóng hoàn toàn 5 tỉnh và giải phóng phần lớn 6 tỉnh khá c của
Campuchia sát với vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam. Tình
hình khó khăn ở Campuchia đượ c cải thiệ n rõ rệt, trong khi ấy ở Lào
và ở miền Nam Việt Nam ta cũng tranh thủ đẩy mạnh hoạt động. Ở
Lào, liên quân cách mạng Việt - Lào đã tấn công và giải phóng thị xã
Xaravan (hạ Lào). Ở miền Nam ta mở đợt hoạt động Xuân - Hè trên
toà n miền chố ng phá bình định của địch. Các đô thị miền Nam từ
tháng 4/1970 đến tháng 6/1970 bùng lên nhiều cuộc đấu tanh của
hàng vạn người chống Mỹ - Ngụy, đòi tự do, dân chủ, hòa bình, chấm
dứt chiến tranh. Đến giữa năm 1971 đã làm xuất hiện nhiều hình
thức tổ chức công khai hợp pháp chuẩn bị đưa đấu tranh chính trị ở
miền Nam lên một cao trào mới. Sinh viên học sinh chống quân sự
hóa họa được, những cuộc xuống đường của "Phong trào phụ nữ đòi
quyền số ng", "Ủy ban nhân dân tranh thủ hòa bình", "Ủy ban nhân
dân đòi quyền sống", "Nghiệp đoà n 36 chợ đô thành", những cuộc
tổng bãi công của 21 nghiệp đoàn chống thế lương bổng, phong trào
chống bắt thanh niên miền Nam Việt Nam đi làm bia đỡ đạn ở Lào và
Campuchia... Đó là những trận đấu tranh rung chuyển phố phường
và từ đó một "Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình" đã ra đời từ Sài
Gòn lan nhanh khắp các thành thị miền Nam.
Đón trước thời điểm chính trị của nước Mỹ năm 1972, từ tháng
5/1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương "Kịp
thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu
dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển
thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả
trên chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọ ng kế
hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi
quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến
tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị,
kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trườ ng hợp chiến tranh còn
kéo dài". Điều bất ngờ là hành động điên cuồng của Mỹ chỉ càng làm
cho loài người tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ công phẫn, lên án
và đòi chính quyền Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Ngày 27/7/1972
tạ i hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân châu Âu đoà n kết với
nhân dân Việt Nam, 27 đoàn đại biểu các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắ c
Âu đã ra "Tuyên bố Paris" kêu gọi "chính phủ Mỹ chấ m dứt tức khắc
các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa... chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việ c
nội bộ của Việt Nam, Lào và Campuchia".
Mỹ không muốn chấp nhận việc ký kết hiệp định bất lợi cho Mỹ
và Ngụy nên chủ trương đánh đò n quân sự để ép ta phải nhượng bộ
chúng. Chúng cho rằng "đe dọa phải... kết hợp với hành động thực thì
mới có hiệu quả thuyết phục đối phương". Johnson năm 1965 đã dùng
biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến
lược ở miền Nam; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để
gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán "được ăn cã, ngã về
không". Ngay sau ngày thắng cử , Nixon cho đánh phá mạnh hơn nữa
ở vĩ tuyế n 20, ồ ạt tuôn đổ vũ khí và viện trợ cho ngụy, đốc thúc ngụy
phản kích mạnh ở miền Nam, đòi ta sửa đổi 120 chỗ trong dự thảo
hiệp định. Bộ Chính trị Đảng ta đã nhắc nhở "phải đề phòng Mỹ tăng
cường hành động quân sự. Tuyệt đối ta không được lơ là mất cảnh
giác". Trậ n chiến đấu của quân dân miền Bắc chống tập kích của
không quân Mỹ bắt đầu từ 19 giờ 40 phút ngày 18/12/1972 và kéo dài
suốt 12 ngày đêm sau đó. Chưa bao giờ và ở đâu có 1 chiến dịch
phòng không như 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở miền Bắc; cũng chưa
từng có trong lịch sử cảnh tượng B.52 của Mỹ cháy rụng đỏ mặt Hồ
Gươm. Quân dân miền Bắc đã dám đánh và đã đánh thắng chúng.
Phó tham mưu trưởng không quân Mỹ thú nhận "Bắ c Việt Nam đã
phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn nhất thế giới .
Bảy (7) giờ sáng ngày 30/12/1972 chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng nén
bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. Mỹ
muốn giáng cho đối phương một đòn quân sự mạnh thì lại gặp một
trận "Điện Biên Phủ trên không"; muốn tỏ rõ sức mạnh không thể
tưởng tượng nổi của không quân chiến lược Hoa Kỳ thì những biểu
tượng của sức mạnh răn đe bị mất uy thế. Tổng thống Nixon vừa tái
đắc cử đã bị một trận "phản đòn", muốn đàm phá n trên thế mạnh đã
phải trở lại Paris khẩn cấp và "cần đạt được một giải pháp dù đối
phương đưa ra những điều kiện khắt khe", chấ p thuận tất cả những
gì đã chối từ và chấp nhận cả kết quả đàm phán ngoài mong muốn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
Chán đời đi lang thang !