📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lịch sử Sài Gòn 🔒

126 trả lời, 21.376 lượt xem — Trang 4 / 5
d) Đấu tranh chống Việt Nam hóa chiến tranh
Sau chủ trương "Phi Mỹ hóa chiến tranh" của Johnson (từ giữa
năm 1968), ngày 7 tháng 4 năm 1968, Nixon (Tổng thống Mỹ tiếp sau
Johnson) chính thức tuyên bố bắt đầu Việt Nam hóa chiến tranh theo
kế hoạch 3 giai đoạn, trong đó quyết đâm của giai đoạn 3 là hoàn
thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, củng cố thành quả đã
đạt đượ c, đối phương suy yếu và chiến tranh tà n lụi dần.. Báo cáo
trước ủy ban quân lực thượng nghị viện Mỹ, Melvin Laird, bộ trưởng
quốc phòng Mỹ tuyên bố: "Chính sách Việt Nam hóa có nghĩa vừa kết
thúc vừa mở đầu... kết thúc sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam, mở đầu
một chính sách mới của chúng ta về việc họ phải tự lực, tự dựa vào
bản thân họ...". Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 1 năm 1969, địch
"bình định cấp tốc", tháng 1 năm 1969 bắt đầu bình định "xây dựng".
Từ tháng 1 năm 1969 (trước cả tuyên bố của Nixon) đến tháng 2
năm 1972 là thời kỳ mà 3 vấn đề trung tâm được triển khai thự c
hiện.
Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, ngoài 3 tuyến phòng thủ
(tập trung 47% quân chiến đấu Mỹ, 37% quân chủ lực ngụy so với
toà n Miền), đã hình thành từ giữa năm 1968, ở nội thành Sài Gòn,
địch tổ chức 9 quận thành 11 đặc khu, bổ nhiệm sĩ quan cấp trung tá
là đặc khu trưởng, tăng cường cho mỗi đặc khu một đại đội đặc vụ
(công an đặc biệt), hai đại đội cảnh sát dã chiến và từ 1 đến 2 đại đội
tuần cảnh. Để kiểm soát chặt chẽ nội thành hơn, các phường, khóm
lại được chia nhỏ, nâng số phường từ 56 lên 72, số khóm từ 861 lên
1100. Địch lại bắt đầu đổi thẻ căn cước, người tập kết, gia đình theo
Việt cộng, chỉ cần có một người tố cáo là có thể bắt ngay không cần
chứng cứ.
Sau các sắc lệnh tổng động viên, địch quân sự hóa học đường,
quân sự hóa phường, liên gia, công tư sở, công tư chức, ra sắc lệnh
cấm hội họp, biểu tình, đình công. Thực hiện tuyên bố: "Bắn bỏ ngay
tức khắc bất cứ ai đòi hỏi hòa bình".

Lực lượng nhân dân tự vệ được đặc biệt coi trọng phát triển
không chỉ để đôn quân, bắt lính mà còn để mỗi người dân thành một
người lính địch. Chúng thà nh lập ở mỗi phường một ban và ở mỗi
khóm một tiểu ban quân sự.
Nhân dân tự vệ được trang bị súng, phải làm nhiệm vụ canh
gác, lùng sục, gây không khí căng thẳng triền miên ở trong dân
chúng. Chỉ riêng quận 7 đến cuối năm 1969, địch đã tổ chức trên
6000 nhân dân tự vệ thuộc lứa tuổi từ 14 đến 50, trang bị 2433 súng.
Công an, cảnh sát, nhân dân tự vệ... kết hợp liên tụ c lùng sục, vây
ráp trong nộ i thành gây cho ta rất nhiề u khó khăn. Tại Sài Gòn năm
1969 có trên 7000 cuộc hành quân cả nh sát và có đêm như đêm 20
tháng 1 năm 1969 trên 9.700 người bị khám xét, bị bắt giam. Nhiều
cơ sở Đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Các căn cứ Rạch
Bà Tàng, Hố Bần, Bến Đá, Cầu Sập, Phú Định, Hàng Thái, Chánh
Hưng, Rạch Ông, Rạ ch Cát... bị đánh phá chà đi xát lại liên miên. Đời
sống nhân dân lao động điêu đứng, đi lại, làm ăn khó khăn. Trong lú c
đó phim ảnh, sách báo Mỹ, văn hóa đồi trụy, dâm dật, tràn ngập
đang đầu độc tầ ng lớp thanh niên, họ c sinh, gieo rắc tâm lý hưởng
thụ, sống gấp, không cần biết lý tưởng, không cần biết tương lai.
Ởã ngoại thành, quân Mỹ vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ lá chắn, đẩy
lùi chủ lực ta ra xa hơn, đại bộ phận quân ngụy làm nhiệ m vụ càn
quét với mật độ lớn hơn các năm trước nhằm triệt phá các nhóm căn
cứ, các bàn đạp, làm bật gốc các lực lượng ta ra khỏi ven đô.
Tiếp sau phong trào chống lệnh động viên, quân sự hóa họ c
đường, đòi hòa bình, tháng 4 năm 1969, đội vũ trang tuyên truyền
học sinh đột nhập trường Huỳnh Khương Ninh kêu gọi học sinh vùng
lên lật đổ Thiệu, Kỳ, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng.
Vào dịp lễ Phậ t Đản năm 1969, "Ủy ban thanh niên học sinh,
sinh viên tranh thủ dân chủ và hòa bình" được thành lập, phối hợp
cùng các giới khác lên án Mỹ ngụy tiến hành chiến tranh hủy diệt,
đòi vãn hồi hòa bình.
Nguyễn Văn Thiệu cấm tổ chức lễ Quốc tế Lao động ngày 1
tháng 5 năm 1969, nhưng hơn 500 đại biểu của 118 nghiệp đoàn Sài
Gòn - Chợ Lớn bất tuân lệnh, cứ tổ chức ngày hội lớn của giai cấp

công nhân, vạch mặt Thiệ u và tay sai, đò i tự do nghiệp đoàn, đòi hòa
bình, lập lại quan hệ bình thường Nam - Bắc.
Tháng 5 năm 1969, Đại hội đại biể u các lực lượng thành phố
bầu ra Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố do giáo sư Nguyễn
Văn Chì làm chủ tịch.
Sau đợt tiến công tháng 5 trên chiến trường, Đại hội Đại biểu
Quốc dân miền Nam họp trong các ngà y 6, 7, 8 tháng 6 năm 1969
quyết định thành lập chế độ cộng hòa, bầ u ra Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn Chính
phủ. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch
Chính phủ Cách mạng lâm thời. Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật
sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch và luật
sư Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Ủ y ban Liên minh các lực lượng Dân
tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam làm Phó Chủ tịch. Đại hội ra đời
hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến
đấu đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Vào lúc này ở Sài Gòn, Gia Định xuất hiệ n hai phong trào mới:
phong trào các nghiệp đoàn nông dân, tá điền và phong trào lực lượng
quốc gia tiến bộ. Các nghiệp đoàn nông dân và tá điền ở các tỉnh lân
cận Sài Gòn, từ trước năm 1968 đã đấu tranh chống dự luật của Hạ
nghị viện ngụy về nông dân, nay lại kéo về thành phố tiến hành đại
hội. Lực lượng quốc gia tiến bộ do luật sư Trần Ngọc Liễng làm chủ
tịch, với nội dung đấu tranh từ cứu giúp nạn nhân chiế n cuộc, tiến
lên đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh: tờ nội san Hòa Giải của lực
lượng không chỉ phát hành nội bộ mà còn phát hành công khai, đòi
hòa bình, lên án chiến tranh.
Tháng 7 năm 1969, công nhân ngành xe buýt đấu tranh chống
chủ trương của Mỹ -ngụy, giải tán việc công quản xe buýt để cho tư
nhân tham gia đấu thầu, thực chấ t là chú ng âm mưu sa thải những
công nhân tích cực đấu tranh, chuyển việc quản lý xe buýt cho những
tên tay chân của ngụ y quyền, ngụy quyền để dễ bề nắm giữ, thao
túng. Toàn thể công nhân xe buýt kiên quyết giữ vững vị trí, dũng
cảm chống lại lực lượng cả nh sát dã chiến ngụy đến đàn áp, kiên trì

giữ vững yêu sách đò i chính quyền phải hủy bỏ chính sách đấu thầu
xe buýt.
Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng, được đại biểu của
118 nghiệ p đoàn ra tuyên bố ủng hộ. Công nhân các ngành dầu hỏa,
bến cảng, hóa phẩm, các hãng ESSO, Silico, Mic, xưởng Caric, bệnh
viện Đồn Đất, các hãng pin Quang Minh, Con Ó, cơ quan USAID...
đồng tình hưởng ứng. Một số đồng bào ở các chợ mang cơm gạo, bánh
mì, thực phẩm đến tiếp tế cho công nhân xe buýt. Các lực lượng vũ
trang nội thành đẩy mạnh hoạt động trừ gian, trừ ng trị nhiều tên tay
sai quan trọng như Lê Minh Trứ, tổng trưởng văn hóa giáo dục và
thanh niên (ngày 6 tháng 1 năm 1969), Lê Diệu Luận, phó chủ tịch
nhân dân tự vệ khóm 24 phường Chợ Quán, Trưởng văn phòng đặc
vụ Đài Loan (ngà y 6 tháng 4 năm 1969) Văn Diễn Quang, nghị viện
đô thành (ngày 19 tháng 6 năm 1969), Hà Thành Tín phụ trách Phân
cục cảnh sát quận 6 (tháng 7 năm 1969)... Biệt động đã tấn công
Phân cục cảnh sát ngụy trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10,
Phân cục cảnh sát quận 5. Các xe quân sự Mỹ liên tục bị tấn công,
chúng buộc phải tổ chức yểm trợ các cuộc di chuyển quân sự trong
thành phố. Một lực lượng đáng kể binh lính địch bị trói chân vào công
việc canh gác ở đường phố. Nhân dân Củ Chi có câu "giết một thằng
bình định bằng giết ba thằng Mỹ", bọn tâm lý chiến được xếp vào
hàng đầu trong số này. Du kích Tân Thạnh Tây, một lần đột nhập ấp
chiế n lượ c Tân Quy diệt một đội bình định 7 tên. Vào khoảng tháng 8
năm 1969, trước tình thế khó khăn, huyện chủ trương cử một trung
đội nữ du kích Củ Chi về hoạt động bên trong các ấp chiến lược, vào
các tổ du kích mật và bổ sung một số chỉ em cho biệt động thành. Lực
lượng này thật sự trở thành lự c lượng biệt động tại chỗ, tấn công địch
bất kỳ nơi nào: quán nước, nhà ăn, trụ sở... Các khẩu cối 82 ly phân
tán cho du kích giấu dưới địa đạo, khi cần lấy lên sử dụng ngay. Các
công trườ ng xã tiếp tục duy trì, phát triển, du kích nghĩ ra nhiều loại
mìn gạc, mìn hóa học, "mìn chĩn mắm", mìn nylon... chống được máy
dò của địch. Những bãi mìn, trái lớn hình thành, có những bãi dài
đến hàng nghìn mét như ở Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Thái Mỹ. Bãi ở
An Nhơn Tây gài đến 900 trái các loại. Có nhiều người rấ t thành thạo
trong sản xuất vũ khí như: Tô Văn Đực, Phạ m Văn Cộ i, Nguyễn Văn
An, Lê Văn Đạm...

Ở Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn, lực lượng võ trang tập trung chia
nhỏ ra thành từng phân đội cùng du kích bám địa bàn, bám địch,
đánh tiêu hao ở các khu vực Bình Trung, Phước Long, Long Trường,
Tăng Nhơn Phú, Long Thạnh Mỹ, An Phú Đông, Thạnh Lộc, Quới
Xuân, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Đông Thạnh...
Ởã Rừng Sác, đại hộ i Đảng Đoàn 10 lần thứ ba cuối mùa xuân
1969, diễn ra trong tình thế hết sức căng thẳng: Rừng Sác đang bị
bao vây, đội 5 vào sinh ra tử quân cảng Nhà Bè trung bình tấn công
hơn chục trận mà chỉ hy sinh 1 chiến sĩ, nhưng sau một trận đánh
càn số quân còn một nửa, đánh đi đánh lại chỉ còn 9 tay súng. Các đội
khác (cấp đạ i đội) còn 15, hai ba chục tay súng đượ c coi là sung sức.
Các chiến sĩ dùi đường về chiến khu Đ lần lượt hy sinh. Hàng loạt
DK75, B40, B41 hết đạn. Lần lượt từ đại đội 2 trên sông Ông Kèo,
đến các đơn vị khác bắt đầu ăn cháo rau kềm, có nơi luộc trái sú, vẹt
ăn thay cơm. Đảng ủy lúc này gồm các đồng chí Bảy Ước (chính ủy),
Cao Thanh Tao và đồng chí Hải lã nh đạo, chỉ huy đơn vị vượt thời kỳ
khó khăn nhất.
Hàng loạt câu hỏi đặt ra: lấy gì đánh, lấy gì ăn, đánh rồi lui về
đâu, hay tạm lui hết về đất liền?
Trong tình thế đó, Nghị quyết Đại hội Đả ng lần thứ III của
Đoàn 10 nêu rõ: "bấ t cứ giá nào cũng phải đứng tại Rừng Sác", bằng
biện pháp và quyết tâm "Rừng Sác là nhà". Nghị quyết nêu thành
khẩu hiệu lịch sử:
Rừng Sác là nhà.
Sông Lòng Tà u là trận địa.
Bến cảng, kho tàng, tàu địch là quyết chiến điểm.
Có lệnh là đi, hoàn cảnh nào cũng đánh thắng, đánh phải
thắng.
Nghị quyết xuống các đơn vị kèm theo chỉ thị:
Bắt cá, mò cua.
Tại chỗ tùy cơ ứng biến - Nghe xã luận đài mà đánh...

Chỉ huy Đoàn nhận được những lá thư quyết tử bám trụ từ phía
Tây sông Lòng Tàu. Lá thư viết bằng máu của đội 6: "Chúng tôi một
tấ c không đi, một ly không rời khi chưa có lệnh"; "còn ngườ i còn chiến
đấu, còn người còn trận địa". Có biết bao tấm gương về những chiến
sĩ Rừng Sác chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, về
trận địa một người chống chọi hàng đại đội giặc. Trên một cù lao
không tên, đồng chí Kiệt, một cán bộ đại đội là ngườ i còn lại cuối
cùng, bị địch bắn gãy lìa một khúc chân, còn bò đi gom súng đạn của
đồng đội hy sinh để lại, đánh gãy đợt xung phong tiếp của địch. Lịch
sử Đoàn 10 đang trải qua những tháng năm gian khổ nhất gọi là thời
kỳ "bắt cá - mò cua - mua gạo - cháo rau kềm". Gần 200 cơ sở quần
chúng gắn bó với Đoàn tập trung lo tiếp tế gạ o, thực phẩm thuố c
men. Cán bộ chiến sĩ đội quân giới của Đoàn vào "chiến dịch"truy tìm
bom pháo lép (tính đến năm 1971 lấy được 4275 kg thuốc nổ từ trái
bom lép). Đội quân giới của đồng chí Tư Tiên và kỹ sư Mười Thiện đã
sáng chế, cải tiến ra nhiều loại mìn trong đó có "bom bay" chế từ DKB
đánh được tàu 10.000 tấn, mìn ngòi phè n chua thay mìn hẹn giờ Liên
Xô...
Ngày 18 tháng 5 năm 1969, quyết lập công mừng sinh nhật Bác,
trong vòng 30 phút trên sông Lòng Tàu, chiến sĩ Đoàn 10 bắn cháy 2
tà u dầu của giặc, một chiếc 7.000 tấn và một chiếc 12.000 tấn.
Thấy hiện tượng hoạt động của đặc công ta tăng lên, ngày 24
tháng 6 năm 1969, địch tổ chức trận càn Mỹ - Ngụy hỗn hợp quy mô
lớn do lữ đoàn 199 Mỹ chủ công, lữ trưởng David chỉ huy, đánh vào
khu vực sông Ông Kèo, nơi mà chúng đinh ninh có cơ quan chỉ huy
của Đoàn 10.
Qua cơ sở quân báo, ta nắm đượ c ý định của địch nên đã bố trí
trận địa đánh địch từ Vàm Ông Kèo vào gồm các chốt: B40, B41,
DKZ, mìn củ a đội 1, đội 2, các trận địa bộ binh đại đội 1, đại hội 2.
Chiến sự ác liệt diễn ra từ sáng sớm đến 15 giờ, phía sông Ông
Kèo, ta loại đoàn tàu 10 chiếc của Mỹ, nhưng phía sau tiểu đoàn ngụy
tràn qua được, gây thiệt hại cho đại đội 2. Ta giế t, làm bị thương 200
tên Mỹ - Ngụy, bắn chìm cháy 10 tàu. Đặc biệt tại Vàm sông Ông
Kèo, ta bắn rơi chiếc máy bay chỉ huy của tướng David lữ trưởng lữ
199, tên này bị thương.

Cũng tháng 6 năm 1969, đặc công Rừng Sác đã tổ chức vượt lên
đất liền, liên tiếp pháo kích Bộ tư lệnh Hải quân ngụy và kho xăng
Nhà Bè.
Giữa những ngày chiến tranh ác liệt, đêm 3 tháng 9 năm 1969,
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyề n đi một tin đau thương,
mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
trần. Không ai tưởng tượng một sự thật đau buồn như vậy có thể đến,
dù đó là điều không thể tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người xây dựng nền Cộ ng hòa
Dân chủ và Mặt trận thống nhất, là Bác Hồ, Người Cha thân yêu của
dân tộc. Bác ra đi để lại cho toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta bản di
chúc lịch sử. Người khẳng định: "Cuộc chống Mỹ cứu nước củ a nhân
dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất
định thắ ng lợi hoàn toàn".
Sài Gòn - Gia Định đang trong nhữ ng ngày khó khăn gian khổ
nhất. Quân dân Sài Gò n -Gia Định nén đau thương, anh hùng phấn
đấu, quyết tâm vượt lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai để đánh
thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam.
Với lòng tiếc thương vô hạn, nhiều đồng bào thành phố bất chấp
sự theo dõi của địch đã tổ chức truy điệu Bác bằng nhiều hình thứ c
công khai hoặc bí mật.
Công nhân xe buýt giành cả ngày và đêm 9 tháng 9 làm lễ truy
điệu Hồ Chủ Tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộc đoàn văn
nghệ học sinh, sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệ m Bác trong tiếng
hát trang nghiêm củ a bài "Hồn tử sĩ".
Tại nhà lao Chí Hòa, anh chị em tù chính trị để tang Bác 7
ngày. Suốt tuần lễ tang, sáng nà o 600 anh chị em tù chính trị cũng
hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.
Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác.
Tại vùng Hòa Hưng 200 Phật tử, nhân sĩ trí thức, sinh viên học
sinh tập trung về chù a Khánh Hưng. Đúng 2 giờ chiều ngày 9 tháng
9 năm 1969, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau lễ tang truy điệu Bác Hồ ở

quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu tại đây bắt đầu. Thượng
tọa Thích Pháp Lan đọc điếu văn ca ngợi công lao và đức độ Bác Hồ.
Nhiều người không cầm được nước mắt. Bốn ngày sau, tổng nha cảnh
sát gửi giấy mời thượng tọa Thích Pháp Lan đến thẩm vấn suốt từ 8
giờ đến 5 giờ chiều. Trước lý lẽ sắc bén của thượng tọa và khí thế của
phong trào đấu tranh của thành phố, địch buộc phải thả thượng tọa.
Trong khi đó, đồng bào ở hẻm 258/5/21A phường Phan Thanh Giản,
quận 10 làm lễ truy điệu Bác và nghe đọc tiểu sử bác dưới hình thứ c
một đám giỗ tạ i nhà chị Biểu. Ở quận 8, chi bộ phường Hưng Phú,
sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập trung đồng bào tại xóm Đầm
để truy điệu Bác. Cảnh sát ngụ y biết, nhưng không dám xúc phạm
đến tình cảm của nhân dân. Nhiều gia đình trong thành phố đốt
nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác, đón nghe các buổi phá t thanh về
Bác trên đài Hà Nội, Giải phóng. Quân dân ngoại thành làm lễ truy
điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo. Có nơi cán bộ làm lễ truy
điệu Bác dưới hầm bí mật.
Toàn Đả ng, toàn quân và toàn dân nguyện biến đau thương
thành hành động cách mạ ng, thự c hiện di chúc Bác để lại: "... Dù sao
chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đế n thắng lợ i hoàn toàn...".
Thực hiện chủ trương của Thành ủy, các đội biệt độ ng tổ chức
lại thành 3 cụm, mỗi cụm có nhiều độ i, khẩn trương vừa củng cố vừa
xây dự ng và hoạt động theo phương châm kết hợp chặt chẽ chính trị
với vũ trang, thực hiện "3 mũi giáp công" ở cơ sở.
Trong thời kỳ khó khăn này, tức mồng 3 Tết âm lịch, Đoàn Thị
Ánh Tuyết cùng nữ biệt động Sáu Hạnh thực hiện cuộc tấn công
Trung tâm Quốc gia báo chí, loại một số cố vấn tình báo Mỹ và 28 tên
mật vụ, cán bộ bình định và sĩ quan tình bá o Sài Gòn.
Cũng vào những ngày này, ta đánh chất nổ trong Tổng nha
cảnh sát ngụy, do một nữ chiến sĩ an ninh thực hiện, nhiều tên chết
và bị thương, phầ n lớn là thẩm viên cảnh sát, làm cháy trên 100 xe
gắn máy. Địch huy động đến máy bay lên thẳng để chữa cháy, đem xe
GMC đến lấy xác và đưa số bị thương đi cứu chữa. Trận này làm cho
địch nghi ngờ lẫn nhau.
Với ý thức đánh địch để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, cuối
tháng 1 năm 1970, nữ chiến sĩ Tư Kiên thuộc Lực lượng vũ trang

Thành Đoàn, đang bụng mang dạ chửa tự nguyện xin "đi đánh trận
nữa để cổ vũ phong trà o rồi đi đẻ". Ngày 30 tháng 4 chị đã cùng cá c
chiến sĩ Lê Phi Hùng, Phạm Văn Triệu thực hiệ n cuộc tiến công táo
bạo vào cư xá Thái Lan thuộc sư đoàn Báo Đen ở phường Phan
Thanh Giản (nay là công trình bưu điện II ở phường 14 quận 10) gây
thiệt hại cho địch không đáng kể nhưng có ảnh hưởng ngay đến khí
thế tiến công chính trị củ a sinh viên đang diễn ra tại khu vực Bàn
Cơõ. Cũng chính nơi này địch phát hiện chỗ đặt cối 60 li của biệt động
Sài Gòn đích thân chỉ huy cuộc lùng sục. Đồ ng chí Thanh một mình
chống chọi một đại đội địch từ 10 giờ tối đến 4 giờ sáng, hy sinh tại
trận.
Tại đường Nguyễn Văn Thoại, chị Tám A và nữ đồng chí Ngoạn
hy sinh trong trận dùng thuốc nổ đánh nơi tập trung binh lính Đại
Hàn.
Theo phương hướng Nghị quyết Bình Giã IV, khẩu hiệu đấu
tranh chính trị tập trung lúc này là đòi Mỹ rút hết quân, chống chính
quyền phản động Nguyễn Văn Thiệ u, đòi thành lập chính quyền tiến
bộ, chấm dứt chiế n tranh, vãn hồi hòa bình, tận dụng các hình thứ c
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp của học sinh, sinh viên, của công
nhân và lao động, của mọi ngành, mọi giới và các tầng lớp trung gian.
Nội dung và hình thức đề ra nói trên rất sát hợp yêu cầu và tình
hình nhân dân Sài Gòn trong tình thế hiệ n tại.
Học sinh, sinh viên là lực lượng nắm bắt và khơi dậy ngay
thành phong trào tiến đến cao trào theo phương hướng khẩu hiệu
được phát động, đồng thời tạo được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các ngành
các giới, có liên kết các phong trào khá c tạo thành sức mạnh tổng hợp
của mặt trận chính trị thành phố.
Tháng 6 năm 1970, trong một cuộc biểu tình đòi trả tự do cho
tất cả sinh viên, học sinh còn bị giam giữ tại nhà lao Chí Hòa, sinh
viên, học sinh xung đột dữ dội với cảnh sát ngụy đến đàn áp, đốt cháy
1 xe, sau đó lại tấn công đốt cháy 1 xe cảnh sát và 1 xe quân cảnh
Mỹ, đánh bị thương 2 tên Mỹ đi trên xe, thu cả súng đại liên, dùi cui
và mũ sắt. Phong trào học sinh, sinh viên từ Sài Gòn lan xuống Mỹ
Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Giờ , Châu Đốc, Rạch Giá, ra Đà Lạt,
Bình Định, Quảng Ngã i, Đà Nẵng, Huế... trở thành cao trào học sinh,

sinh viên toàn miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, đòi hòa
bình, chấm dứt chiến tranh, tự do, độc lập và ngay người nước ngoài
cũng đấu tranh kêu gọi hòa bình cho Việt Nam.
Cuối tháng 6 năm 1970, sinh viên liên viện đại học Sài Gòn,
Huế , Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, tổ chức đại hội nhằm thống nhất
khẩu hiệu và hành động của sinh viên trên toàn miền Nam. Một
trong những khẩu hiệu hà nh động chung đó là: chống huấn luyện
quân sự học đường với nội dung: không học, không thi, không đi quân
trường.
Kết quả suốt các tháng 7, 8, 9 năm 1970, trong các trường đại
học, phong trào chống quân sự học đường phát triển rất mạnh mẽ. Có
đến 30.000 sinh viên không đi học quân sự, không thi môn quân sự
học đường, 450 sinh viên đang học ở quân trưởng bỏ về. Sinh viên cá c
trường đại học Y, Văn, Vạn Hạnh, Kỹ thuậ t Phú Thọ, đốt cháy các
phòng huấn luyện quân sự học đường.
Đêm 17 tháng 7 năm 1970, học sinh, sinh viên tổ chức đêm văn
nghệ "Năm châu đấu tranh cho hòa bình" tại số 240 đường Công Lý,
đại diện sinh viên Việt Nam tặng cho phái đoàn sinh viên quốc tế 1 lá
cờ có vẽ hình chim bồ câu trắng tượ ng trưng cho khát vọng hòa bình
của nhân dân ta. Đáp lại, các sinh viên Mỹ rút thẻ quân dịch châm
lửa đốt và dẫ m nát dưới gót giày để biểu hiện tinh thần phản đối
chiế n tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiếp theo, đêm văn nghệ "Năm
châu đấu tranh cho hòa bình" là những đêm "Văn nghệ xung kích",
những đêm "Đốt lửa căm thù", nhằm "đốt lửa lên để nhận mặt kẻ
thù, đốt lửa lên để nung nấu ý chí căm hờn, đốt lửa lên soi sáng niềm
tin hy vọng", để cùng nhau sát cánh đấu tranh.
Bài hát "Dậy mà đi" thôi thúc, giục giã lớp lớp người vùng dậy
đấu tranh. Từ tháng 5 đến tháng 10 có đến 24 đêm biểu diễn văn
nghệ tập trung, 27 buổi văn nghệ xung kích, 49 tổ báo sinh viên, 66
tập san học sinh, và 26 cuộc đi cắm trại. Hàng trăm đội xung kích
thanh niên học sinh, sinh viên tỏa về cá c xí nghiệp, các chợ, các xóm
lao động và các vùng nông thôn ngoại thành để nói "cho đồng bào tôi
nghe và nghe đồng bào tôi nói" để "hát cho đồng bào tôi nghe và nghe
đồng bào tôi cù ng hát" nhằm tuyên truyền vận động nhân dân đấu
tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi lật
đổ Thiệ u, đòi Mỹ phải rút hết...

Ngày 18/3/1970 Mỹ cho tiến hành cuộc đảo chính lật đổ nền
trung lập của Campuchia. Sau đảo chính, Mỹ tập trung dựng lên chế
độ Lon Non làm tay sai và tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lượ c
sang Campuchia. Ngày 29/4/1970 Mỹ ngụy Sài Gòn sử dụng 10.000
quân phiêu lưu đánh sng khu vực phía Đông - Bắc Campuchia, giáp
với miền Đông Nam Bộ của Việt Nam.
Từ giữa tháng 6/1970 quân dân miền Nam và liên quân Việt
Nam - Campuchia đã phối hợp để đánh Mỹ ngụy Sài Gòn, ngụy
Phnôm-pênh. Sau hai tháng phối hợp chiến đấu ta và bạn đã giải
phóng hoàn toàn 5 tỉnh và giải phóng phần lớn 6 tỉnh khá c của
Campuchia sát với vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam. Tình
hình khó khăn ở Campuchia đượ c cải thiệ n rõ rệt, trong khi ấy ở Lào
và ở miền Nam Việt Nam ta cũng tranh thủ đẩy mạnh hoạt động. Ở
Lào, liên quân cách mạng Việt - Lào đã tấn công và giải phóng thị xã
Xaravan (hạ Lào). Ở miền Nam ta mở đợt hoạt động Xuân - Hè trên
toà n miền chố ng phá bình định của địch. Các đô thị miền Nam từ
tháng 4/1970 đến tháng 6/1970 bùng lên nhiều cuộc đấu tanh của
hàng vạn người chống Mỹ - Ngụy, đòi tự do, dân chủ, hòa bình, chấm
dứt chiến tranh. Đến giữa năm 1971 đã làm xuất hiện nhiều hình
thức tổ chức công khai hợp pháp chuẩn bị đưa đấu tranh chính trị ở
miền Nam lên một cao trào mới. Sinh viên học sinh chống quân sự
hóa họa được, những cuộc xuống đường của "Phong trào phụ nữ đòi
quyền số ng", "Ủy ban nhân dân tranh thủ hòa bình", "Ủy ban nhân
dân đòi quyền sống", "Nghiệp đoà n 36 chợ đô thành", những cuộc
tổng bãi công của 21 nghiệp đoàn chống thế lương bổng, phong trào
chống bắt thanh niên miền Nam Việt Nam đi làm bia đỡ đạn ở Lào và
Campuchia... Đó là những trận đấu tranh rung chuyển phố phường
và từ đó một "Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình" đã ra đời từ Sài
Gòn lan nhanh khắp các thành thị miền Nam.
Đón trước thời điểm chính trị của nước Mỹ năm 1972, từ tháng
5/1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương "Kịp
thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu
dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển
thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả
trên chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọ ng kế
hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi
quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến

tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị,
kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trườ ng hợp chiến tranh còn
kéo dài". Điều bất ngờ là hành động điên cuồng của Mỹ chỉ càng làm
cho loài người tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ công phẫn, lên án
và đòi chính quyền Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Ngày 27/7/1972
tạ i hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân châu Âu đoà n kết với
nhân dân Việt Nam, 27 đoàn đại biểu các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắ c
Âu đã ra "Tuyên bố Paris" kêu gọi "chính phủ Mỹ chấ m dứt tức khắc
các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa... chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việ c
nội bộ của Việt Nam, Lào và Campuchia".
Mỹ không muốn chấp nhận việc ký kết hiệp định bất lợi cho Mỹ
và Ngụy nên chủ trương đánh đò n quân sự để ép ta phải nhượng bộ
chúng. Chúng cho rằng "đe dọa phải... kết hợp với hành động thực thì
mới có hiệu quả thuyết phục đối phương". Johnson năm 1965 đã dùng
biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến
lược ở miền Nam; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để
gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán "được ăn cã, ngã về
không". Ngay sau ngày thắng cử , Nixon cho đánh phá mạnh hơn nữa
ở vĩ tuyế n 20, ồ ạt tuôn đổ vũ khí và viện trợ cho ngụy, đốc thúc ngụy
phản kích mạnh ở miền Nam, đòi ta sửa đổi 120 chỗ trong dự thảo
hiệp định. Bộ Chính trị Đảng ta đã nhắc nhở "phải đề phòng Mỹ tăng
cường hành động quân sự. Tuyệt đối ta không được lơ là mất cảnh
giác". Trậ n chiến đấu của quân dân miền Bắc chống tập kích của
không quân Mỹ bắt đầu từ 19 giờ 40 phút ngày 18/12/1972 và kéo dài
suốt 12 ngày đêm sau đó. Chưa bao giờ và ở đâu có 1 chiến dịch
phòng không như 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở miền Bắc; cũng chưa
từng có trong lịch sử cảnh tượng B.52 của Mỹ cháy rụng đỏ mặt Hồ
Gươm. Quân dân miền Bắc đã dám đánh và đã đánh thắng chúng.
Phó tham mưu trưởng không quân Mỹ thú nhận "Bắ c Việt Nam đã
phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn nhất thế giới .
Bảy (7) giờ sáng ngày 30/12/1972 chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng nén
bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. Mỹ
muốn giáng cho đối phương một đòn quân sự mạnh thì lại gặp một
trận "Điện Biên Phủ trên không"; muốn tỏ rõ sức mạnh không thể
tưởng tượng nổi của không quân chiến lược Hoa Kỳ thì những biểu
tượng của sức mạnh răn đe bị mất uy thế. Tổng thống Nixon vừa tái
đắc cử đã bị một trận "phản đòn", muốn đàm phá n trên thế mạnh đã

phải trở lại Paris khẩn cấp và "cần đạt được một giải pháp dù đối
phương đưa ra những điều kiện khắt khe", chấ p thuận tất cả những
gì đã chối từ và chấp nhận cả kết quả đàm phán ngoài mong muốn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
Chán đời đi lang thang !
0
e) Đấ u tranh đòi thi hành Hiệp định Paris
Sau gần một năm phá hoại Hiệ p định Paris, ngụy quyền đứng
trước những khó khăn mới, quân số tụt giảm, việ n trợ quân sự của
Mỹ bị cắt bớt, kinh tế đình đốn, ngân sách ngụy quyền 1973 - 1974
hao hụt 266 tỉ (tiền Sài Gòn), lạm phát tới 200 tỉ, số người thất
nghiệp lên tới 1 triệu 32 vạn. Trong thông điệp tháng 6 năm 1974,
Thiệu đã phải kêu gọi binh lính "đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo".
Trong khi đó cuộc thanh lọc và sa thải công nhân viên chức của Thiệu
làm cho nội bộ ngụy quân, ngụy quyền càng lục đục gay gắt.
Nhưng tậ p đoàn tay sai Thiệu vẫn còn rất ngoan cố. Ngày 6
tháng 1 năm 1974, Thiệu trắng trợn tuyên bố"... không có hòa bình,
không có tổng tuyển cử... "Y gào thét "phải đẩy mạnh tấn công ngay
tạ i vù ng cộng sản kiểm soát", "phải đánh trước"... và tiếp tục ráo riết
thực hiện kế hoạch 2 năm 1973 - 1974, lần lượt tung xuống xã, ấp
40% công chức và 2400 sĩ quan để tăng cườ ng bộ máy kềm kẹp tại cơ
sở.
Đầu năm 1974, địch huy động lực lượng sư đoàn 25 mở cuộ c
hành quân đánh sâu vào các vù ng căn cứ giải phó ng Bắc Củ Chi,
đồng thời sử dụng một bộ phận chủ lực còn lại kết hợp vào bảo an,
dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát và các đoàn bình định mở các cuộ c
hành quân bình định lấn chiếm vùng ven chung quanh Sài Gòn.
Trong tình hình trên, Hội nghị Thành ủy tháng 1 năm 1974 chủ
trương: dưới khẩu hiệu trung tâm là hòa bình, độc lập, dân chủ cải
thiện dân sinh, ở nội thành đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi thi
hành Hiệp định Paris, ra sức xây dựng lực lượng cơ sở, tạo điều kiện
và thời cơ đi tới cao trào, phối hợp chặt chẽ với phong trà o nông thôn
và mũi tiến công của quân sự, tiến lên đánh đổ tập đoàn quân phiệt,
phát xít tay sai phản động của đế quốc Mỹ ở miề n Nam, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ.

Phối hợp chặt chẽ với phong trào ở nội thành, ở nông thôn, phải
tậ p trung chống phá bình định của địch, chố ng phá địa hình, chống
phá càn quét, lấn chiếm, chống cướp lúa, gom dân, chống đôn quân
bắt lính...
Hội nghị đề ra yêu cầu: phát triển các loại lực lượng lên từ 2 đến
3 lần ở cả thành phố lẫn nông thôn; tăng cường số lượng và chất
lượng của lực lượng vũ trang đảm bảo tiêu diệt lực lượng ác ôn, kềm
kẹp, lực lượng sùng lục, đánh bại lực lượng càn quét, lấn chiếm; đẩy
mạnh đấu tranh phá lỏng kềm và giành quyền làm chủ của nhân
dân; công tác xây dựng Đảng, xây dựng thự c lực cách mạng đô thị
phải đi sâu hơn nữa vào xí nghiệ p, xóm lao động và các ngành trọng
điểm.
Sinh khí mới về chính trị của các tầng lớp quần chúng sau Hiệp
định Paris gặp sự khủng hoảng kinh tế củ a ngụy và thái độ hiếu
chiế n của Thiệu hợp thành một phát khở i mới trong phong trào đấu
tranh chính trị ở đô thị. Kinh nghiệm ngày một dày dạn, trong lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức của Thành ủy với phong trà o ngày một chặt chẽ,
sắc sảo hơn.
Ngày 14 tháng 2 năm 1974, Tổ chức nhân dân đòi thi hành
Hiệp định Paris mà tiền thân của nó là Lực lượng quốc gia tiến bộ, do
ông Trần Ngọc Liễng làm chủ tịch ra mắt. Hà ng loạt tổ chức khác của
các giới cũng được thành lập: Ủy ban chống sa thải, Ủy ban chống
đàn áp, bất công, Mặt trận nhân dân cứu đói, Ủy ban bảo vệ các bạn
hàng chợ, Ủy ban bảo vệ quyền lợi sinh viên, Ủy ban bảo vệ tự do báo
chí...
Theo sự chỉ đạo của ta, một lực lượng chính trị mới, "lực lượng
thứ ba" đang hình thành sau Hiệp định Paris bao gồm các nhân sĩ trí
thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng tá
ngụy... có khuynh hướng chống Thiệu, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ;
nổi bật là các nhân vật như: bà luật sư Ngô Bá Thành, ông Trần Ngọc
Liễng, kỹ sư Dương Văn Đại, dân biểu Hồ Ngọc Nhận, dân biểu Lý
Quý Chung, giáo sư Lý Chánh Trung, linh mục Phan Khắc Từ,
thượng tọa Thích Pháp Lan, dân biểu Kiều Mộng Thu, ni sư Huỳnh
Liên, nhà báo Nam Đình... Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định
Paris đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động của lực lượng thứ ba.
Cũng trong thời gian này Ủy ban Liên minh các Lực lượng Dân tộc,

Dân chủ và hòa bình khu Sài Gòn - Gia Định ra mắt bao gồm nhiều
nhân sĩ, trí thức đã ra vùng giải phóng, do giáo sư Nguyễn Văn Chì
làm Chủ tịch. Lực lượng thứ ba tiêu biểu cho xu hướng chính trị của
giai cấ p tư sản dân tộc, tuy còn những mặt hạn chế, nhưng hoạt động
của lự c lượng này làm cho đế quốc Mỹ và tập đoàn quan liêu quân
phiệt, đại biểu cho giai cấp tư sản mại bản và phong kiến phản động,
bị phân hóa, cô lập, tạo ra một thế rất tốt cho phong trào đô thị.
Tháng 4 năm 1974 tất cả các nghiệp đoàn ở Thành phố đã phát
động một chiến dịch đấu tranh chống sa thải. Tiêu biểu là những cuộ c
đấu tranh của 1000 công nhân hãng MIC, của 1500 công nhân cá c
hãng bột mì Sakibomi, Viphumico của 1000 công nhân bốc vác Khánh
Hội và cuộc đấu tranh của 3000 công nhân Hàng không Việt Nam.
Ngày 30 tháng 4 năm 1974, đại diện 200 nghiệp đoàn họp Hội nghị
chống sa thải, kêu gọi công nhân đòi Thiệu phải ban hành về lương
tối thiểu, vãn hồi hòa bình.
Cùng với phong trào dân sinh dân chủ củ a công nhân và lao
động, phong trào đấu tranh đòi trả tù chính trị cũng liên tục tiếp diễn
đến cuối năm 1974. Tháng 10, tháng 11 có hai cuộc biểu tình hàng
ngàn người ở Gia Định và ở Sài Gòn đòi thả tù chính trị, có đông đảo
ni sư và phật tử tham gia.
Giới báo chí đã nhập cuộc và trở thành một mũi xung kích công
khai chống chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 20 tháng 9 năm
1974 các chủ báo và ký giả họp mít tinh, diễu hành trước tòa soạn báo
Điện Tín, một trong những tờ báo đối lập chế độ Sài Gòn và do ta chi
phối, mở đầu cuộc đấu tranh chống sắc luậ t 007, sắc luật kềm kẹp
báo chí của Thiệu.
Ngày 25 tháng 9 năm 1974 Ủy ban Liên minh các Lực lượng
Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Khu Sài Gòn - Gia Định ra lời kêu gọi
chống Thiệu, đòi hòa bình, tự do, dân chủ. Đối phó với phong trào đấu
tranh của nhân dân đô thị, ngày 22 tháng 9 năm 1974, Mỹ Thiệu
vạch ra "Kế hoạch Sao chổi" nhằm "đàn áp cho kỳ được các phong
trào này", "thanh toán toàn bộ phản động (cộng sản, thân cộng...)",
"cô lập, chia rẽ nội bộ các phong trào".

Ngày 1 tháng 10 năm 1974, báo chí lột trần "Kế hoạch Sao chổi"
này trước dư luận, gây nên làn sóng căm phẫn lan tràn. Tập đoàn
Thiệu hết sức bối rối.
Thừa thắng, ngày 10 tháng 10 năm 1974 lực lượng báo chí đượ c
sự hỗ trợ củ a các lực lượng sinh viên, UYy ban bảo vệ quyền lợi lao
động và Mặt trận nhân dân cứu đói... tổ chức một cuộ c xuống đường
gọi là "ngày ký giả ăn mày" do nhà báo lão thành Tô Nguyệt Đình
đứng đầu. Hàng trăm ký giả mang bị, gậy xuống đường đã thu hút
nhiều dân biểu, nghị sĩ đối lập và một "biển đồng bào" trên đoạn
đường công trường Lam Sơn đến chợ Bến Thà nh với khẩu hiệu: "Còn
Thiệu, còn chiến tranh". Một "rừng cảnh sát" đã không làm gì được.
Các hãng thông tin UPI (Mỹ ), AFP (Pháp), Reuter (Anh) đều cho đây
là cuộc biểu tình lớn nhất trong 9 năm cầm quyền của Thiệu. Tiếp
sau đó là 3 cuộc biểu tình lớn nữa vào các ngày 31 tháng 10, ngày 28
tháng 11 và ngày 22 tháng 12 năm 1974 gọi là những "ngày báo chí
và công lý thọ nạn", gây tiếng vang lớn trong ngoài nước. Thiệu phản
ứng quyết liệt, nhưng lực lượng quần chúng và giới báo chí vẫn xốc
tới. Cho đến cuối năm 1974, Sài Gòn có đến 30 tổ chức chính trị xã
hội chống Thiệu, đòi tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện
đời sống. Đáng chú ý là trong phong trào đô thị có cả lực lượng
thương phế binh, mà về quan điểm, ta coi là một bộ phận quần chúng
đau khổ vì bị ngụy quyền hắt hủi và có thể đấu tranh với chế độ độc
tài, phản dân. Ngày 4 tháng 12 năm 1974 Ủy ban hành động cho công
bằng xã hội ra đời tập hợp trên 10.000 sinh viên Thiên chúa giáo là
một nét mới củ a phong trào Công giáo chống Thiệu. Đêm Noel ngày
24 tháng 12 năm 1974, tại nhà thờ dòng Chúa cứu thế và nhà thờ
Vườn Xoài, hàng trăm thanh niên học sinh và sinh viên Thiên Chúa
tổ chức mít tinh phản đối ngụ y quyền bắt lính. Tổ chức rất rộng rãi
Mặt trận nhân dân cứu đói ra mắt từ tháng 9 năm 1974 do đại đức
Thích Hiến Pháp làm Chủ tịch và dân biểu Nguyễn Văn Hàn làm
tổng thư ký, thu hút nhiều thành phần có thế lực: tổng vụ trưởng vụ
cư sĩ giá o hội Phật giáo thống nhất Thích Quảng Long, ni sư Huỳnh
Liên, linh mục Phan Khắc Từ, chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao
động, các dân biểu đối lậ p Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư
Lý Chánh Trung, luật sư Ngô Bá Thành, các nghệ sĩ Kim Cương,
Thanh Nga... Ta đưa một số cán bộ tham gia đứng tên vào Mặt trận:
Ngọc Trảng, Ba Thép, Xuân Thượng. Với khẩu hiệu "lá lành đùm lá
rách", ẩn giấu nội dung tố cáo chế độ. Hình thức hoạt động của mặt

trận thật sáng tao: biểu tình có ca hát "dậy mà đi", biểu tình "xa luân
chiế n" (biểu tình không lớn mà liên miên ngày này qua ngày khác,
đêm này qua đêm nọ như bánh xe quay làm cho cảnh sát mất ăn mất
ngủ). Phong trào công khai, nhưng ra báo bí mật "Cứu đói" với 10.000
bản được báo công khai cổ vũ (Điện Tín của Lý Chánh Trung, Đại
Dân tộc của Kiều Mộng Thu). Mặt trận còn lậ p "Khối dân tộc xã hội"
đấu tranh nghị trường, tổ chức "báo nói", "văn nghệ chạy", "biểu tình
ngồi", "phát chẩn", có cả dân biểu, ni sư tham gia. Chưa lúc nào tập
đoàn phản dân Thiệu bị cô lập hơn lúc này. Ngày 25 tháng 1 năm
1975, 18 đoàn thể thuộc nhiều khuynh hướng chính trị cùng ký
chung một bản kiến nghị đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho Thiệu, đòi
Thiệu từ chứ c. Một tuần sau, ngày 1 tháng 2 năm 1975, 23 tổ chứ c
tiến bộ công bố chung một bản cáo trạ ng tố cáo Thiệu là sản phẩm
của chiến tranh, còn Thiệu là còn chiến tranh. Thiệu "chữa cháy"
bằng con đường phát xít hóa ngày càng trắ ng trợn. Nhữ ng trận xô xát
của nhân dân với mật vụ, cảnh sát xảy ra hàng ngà y trên đường phố.
Ngày 4 tháng 2 năm 1975, các ký giả tổ chức mít tinh mừng xuân Ất
Mão tại rạp Khải Hoàn. Đêm trước đó, mặc dù bị công an, mật vụ
đồng loạt khám xét nhà, bắt giữ một số ký giả và đóng cửa một loạt
các báo đối lập, nhưng cuộc mít tinh vẫn được tiến hành. Lễ đài mừng
xuân trở thành diễn đàn tố cáo chế độ phát xít độc tài của Thiệu, lên
án việc khủng bố, bắt ký giả, sinh viên và đóng cửa các báo. Tính ra
từ tháng 5 năm 1972 đến đầ u năm 1975, Thiệu ban hàng 60 sắc lệnh
phát xít, thủ tiêu mọi quyền dân chủ sơ đẳng nhấ t, đặc biệt là sắc
lệnh ngày 12 tháng 5 năm 1973 (ký hiệu 009-SLNV) khủng bố tất cả
những ai không đồng tình với Thiệu. Trong 2 năm 1973 - 1974 chúng
đã giam cầ m 93.340 người... Trong tình thế đó, sự lãnh đạo phong
trào đô thị của Thành ủy ngày càng sắc bén, biết tìm ra khẩu hiệu
cho từng giới, từng ngành, biết căn cứ và o khả năng và điều kiện cụ
thể từng thời điểm mà chuyển các khẩu hiệu cho từng giới, từng
ngành và từng thờ i điểm chuyển các khẩu hiệu từ thấp lên cao,
chuyển hình thức và quy mô đấu tranh một cách linh hoạt, sát hợp...
Nhờ vậy phong trào đô thị không chỉ thu hút quần chúng cơ bản mà
còn lôi kéo được nhiều thành phần trung gian, thậm chí tranh thủ
được sự đồng tình của một bộ phận sĩ quan, binh lính, nhân viên
ngụy quyền giúp phong trào đấu tranh vừa có hiệu quả vừa bảo tồn
được lực lượng. Gần 2 năm sau Hiệp định Paris, phong trào đô thị
vươn lên mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy nhanh sự khủng hoả ng toàn

diện của ngụy quyền Sài Gòn, đồng thời tập dượt quần chúng đô thị
tiến lên phối hợp ngày càng chặt chẽ với đòn tấn công quân sự trong
cuộc chiến mùa khô 1974 - 1975.
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45-75 - NXB TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
SỰ KIỆN CẦU CÔNG LÝ
Ngày 2-5-1964, một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ
là kế hoạch gài bom dưới chân cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn
Trỗi) hòng giết chết Bộ trưở ng Quốc phòng Mỹ Mac Namara. Người
thực hiện kế hoạch này là chiến sĩ biệt động nội thành Nguyễn Văn
Trỗi.
Anh Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Genève anh theo
gia đình vào Sài Gòn làm nghề thợ điện ở nhà máy đèn Chợ Quán.
Tại đây anh giá c ngộ cách mạng, tham gia vào tổ chức vũ trang biệt
động thuộc Đại đội Quyết tử 65, cánh tây nam Sài Gòn. Năm 1964
nhân dịp Tết Nguyên đán, anh ra căn cứ Rừng Thơm (thuộc huyện
Đức Hòa, tỉnh Long An) học chính trị và nghệ thuật đánh biệt động
tạ i nội thành.
Tháng 5-1964 chính phủ Mỹ cử một phái đoàn chính trị quân sự
cao cấp sang Sà i Gòn nghiên cứu tình hình miền Nam. Với lò ng căm
thù giặc, anh xin Ban chỉ huy quân sự biệt động cho anh thự c hiện
nhiệm vụ tiêu diệt phái đoàn này. Do bị lộ, trước giờ xe Mac Namara
chạy qua anh bị bắt. Trận đánh không thành, nhưng là một đòn cảnh
cáo đối với những hoạt động chuẩn bị leo thang chiến tranh của đế
quốc Mỹ . Mac Namara không dám ngồi ô tô vào Sài Gòn mà phải đi
bằng trực thăng.
Trong nhà lao, dụ dỗ không được, địch dùng nhiều cực hình
nhưng anh cương quyết không khai báo. Trước kẻ thù, câu trả lời duy
nhất của anh là : "Tôi nói với mấy người, tôi làm việc phải, tôi giết
bọn cướp nước thì dù nguy hiểm, thương tật hay hy sinh, tôi cũng vui
lòng. Tôi không thể sống như bọ n tay sai mong được an thân để làm
hại đồng bào!". Chính quyền Nguyễn Khánh đưa anh ra tòa án quân
sự kết án tử hình nhằm uy hiếp tinh thần chống Mỹ trong nhân dân
thời bấy giờ. Được tin nà y, phong trào cách mạng Vénézuéla tuyên

bố, nếu tử hình anh họ sẽ trừng trị ngay tên trung tá Mỹ mà họ đang
bắt giữ. Mỹ buộc phải cam kế t không tử hình anh. Nhưng khi tên
trung tá Mỹ vừ a được thả ra thì chúng trở mặt. Ngày 15-10-1964, bọn
đao phủ Mỹ ngụ y đưa anh ra pháp trường tại bãi bắn sau nhà lao Chí
Hòa. Trong phút cuối cùng của đời mình, anh giật phắt mảnh băng
đen mà kẻ thù bịt mắt và dõng dạc nói : "Không, phải để tôi nhìn
mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!". Và anh hô to : "Hãy nhớ
lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ!" "Hồ Chí Minh muôn năm!" "Việ t Nam
muôn năm!"
Anh hy sinh lúc 9 giờ 45 phút ngày 15-10-1964 hưởng dương 24
tuổi. Sau khi hy sinh, anh được Đảng nhân dân cách mạng miền Nam
truy nhận là Đảng viên và truy tặng Huân chương thành đồng hạng
nhất.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TPHCM)

Chán đời đi lang thang !
0
TRẬN TIẾN CÔNG PHỦ TỔNG THỐ NG
Tết Mậu Thân 68 - Trận tiế n công "Phủ tổng thống" (giờ G,
ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ ngày
31/1/1968 (đêm mùng 1 sáng mùng 2 Tết) lực lượng tiến công "Phủ
tổng thống" (Dinh Độc Lập) gồm 15 chiến sĩ đội 5 (có 1 nữ) do Trương
Hoàng Thanh chỉ huy. Lúc 1 giờ 30 phút sáng, từ số nhà 280/70 Trần
Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), lự c lượng xuất phát với 3 xe hơi nhỏ và
một honda (có 1 xe hơi chứa chất nổ để phá hủy mục tiêu). Gầ n đến
Dinh Độc Lập ở phía đường Nguyễn Du, lính gác địch phá t hiện bắt
dừng lại. Đoàn xe cứ tiến, chúng la lên báo động. Các chiến sĩ đi trên
xe đầu tiên nổ súng diệt mấy tên này và dùng bộc phá để phá cổng
cho xe chứa chất nổ lao vào, tiếc rằng bộc phá không nổ do trục trặ c
kỹ thuật. Tuy vậy, tổ đột phá đã lọt vào được bên trong. Địch bắn xối
xả, 2 chiến sĩ hy sinh, số còn lại phải tạm lui, hai bị thương. Địch từ
các phía bên trong ập tới bịt kín các cổng. Cá c tổ xung kích buộc phải
triển khai đội hình chiến đấu trên đường Nguyễn Du. Từ phía Đông
xuất hiện 1 toán 7 tên Mỹ, theo sau có 7 xe Jeep chở đầy lính đang
lao tới. Các chiến sĩ dùng B40 bắn cháy cả hai xe và dùng AK quét
sạch đám chạy bộ. Ngay sau đó trên đường Thủ Khoa Huân lại xuất
hiện 1 xe Jeep chở lính cũng đang lao tới. Đợi chúng đến thật gần,
chiế n sĩ ta liên tiếp đánh 5 lựu đạn, diệt tất cả địch trên xe. Như vậy,
sau 30 phút, đội 5 diệt 3 xe Jeep và khoả ng 20 tên địch. Địch kéo đến
mỗi lúc một đông, có cả xe bọc thép. Thêm một số chiến sĩ hy sinh. Đã
3 giờ sáng, không thấy tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn và thanh niên,
sinh viên kéo đến tiếp sức như kế hoạch. Đến 4 giờ sáng thêm đội
trưởng Trương Hoàng Thanh hy sinh. Gần sáng điểm lại còn 8 người,
anh em rút vào số nhà 56 Thủ Khoa Huân và tổ chức cố thủ trên lầu
3. Đói, mệt, giữa vòng vây giặc, 8 chiến sĩ ngoan cường, chiến đấu
suốt cả ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức mồng 2 Tết (trong đó có nữ y tá
Chín Nghĩa). Quân ngụy dùng thang cứu hỏa leo lên lầu. Anh em
chiế n đấu đến viên đạn cuối cùng, tháo súng, vứt bỏ, lại dùng gạch
đá, gỗ chặn địch. Đồng chí Lê Tấn Quốc (Bả y Rau muố ng), với khẩu

AK làm nhiệm vụ chốt chặ n ở cầu thang đã anh dũng hy sinh. Mờ
sáng hôm sau, 7 chiến sĩ còn lại lên sân thượng chuyển qua ngôi nhà
kế tiếp và tiếp tục di chuyển. Đến ngôi nhà 108 đường Gia Long
(đường Lý Tự Trọng bây giờ), tất cả rơi vào tay giặc. (Liệt sĩ Lê Tấn
Quốc được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang).
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45 - 75 - NXB TPHCM 1994)

Chán đời đi lang thang !
0
CHI BỘ HỒ CHÍ MINH
VÀ TRẬN ĐÁNH TOÀ ĐẠI SỨ MỸ
Khoả ng hơn 12 giờ đêm mồng Mộ t Tết một thanh niên đi
mobylette xanh đến quán Phở Bình (số 7 đường Yên Đổ). Đó là đồng
chí Ngô Văn Vân tứ c Ba Đen người chỉ huy tổ biệt động đánh vào tòa
đại sứ Mỹ. Chủ quán phở Bình là ông Ngô Toại một cơ sở cách mạng
đã bố trí nhà mình thành trung tâm liên lạc bí mậ t của một bộ tư
lệnh tiền phương bao gồm : biệt động võ trang Thành Đoàn, tham
mưu, chính trị, binh vận và hậu cần. Nơi đây trướ c mặt đại tá
Nguyễn Đức Hùng, Ba Tam (tức Tư Chu) tham mưu trưởng khu Sài
Gòn - Gia Định năm 68 - đồng chí Ngô Văn Vân thay mặt toàn đội
cảm tứ củ a đoàn biệt động F.100 hạ quyết tâm hoàn thà nh nhiệm vụ
trong trận đánh chiếm tòa đại sứ Mỹ. Đội cảm tử này được đặt phiên
hiệu là D5 gồm 17 đồng chí đặt dưới sự lãnh đạo của một chi bộ mang
cái tên vinh dự là Chi bộ Hồ Chí Minh, do đồng chí Ngô Văn Vân là
chỉ huy trưở ng kiêm bí thư, đồng chí Uút Nhỏ phó bí thư, hai đồng
chí Bảy Tiến và Sơn là chính trị viên. Giờ nổ sú ng được quy định :
chậm nhất là 3 giờ sáng phải đánh chiếm và giữ cho đến rạng đông sẽ
có các đơn vị mũi nhọn đến tăng viện.
2 giờ 45 phút : Toàn đội biệt động D5 ngồi trên ba chiếc du lịch
từ phía đường Mạc Đĩnh Chi quẹo qua đường Thống Nhất, rà sát
trước tòa đại sứ Mỹ. Xe chưa ngừng hẳn mấy loạt AK đã lia vào cổng
chính. Hai tên lính Mỹ gác cổng vội thụt vào bên trong và nhanh tay
đóng sập cánh cửa thép khóa lại. Bên ta hai chiến sĩ biệt động khác
nhanh nhẹn nhảy xuống xe ôm bộc phá đến đánh sập một lỗ hổng
trên vách tường tòa đại sứ chỗ gần bót gá c ở góc đường Mạc Đĩnh Chi
- Thống Nhất. Theo đột phá khẩu, toàn đội tràn và o chiếm lĩnh trận
địa bên trong. Mũi thứ nhất khống chế cổng chính. Mũi thứ hai kiểm
soát cổng phụ bên đường Mạc Đĩnh Chi. Mũi thứ ba do đồng chí Ba
Đen chỉ huy đánh thẳng vào trung tâm "Tòa Nhà Trắ ng" này. Nói thì
lâu nhưng diễn biến đó chỉ xảy ra trong vòng chưa đầy hai phút hầu

hết các đòn tiến công của biệt động thành đều mở đầu như vậy - bất
ngờ và thần tốc từ chiến lượ c đến chiến thuật.
2 giờ 47 phú t : Hai quân cảnh Mỹ một là Charles Daniel, một là
William Sebast ban nãy thoát chết trong đường tơ kẽ tóc vừa lọt vào
bên trong đã gọi điệ n thoại báo động. Chúng phát "Tín hiệu số 300" -
mật hiệu ngắn nhất của quân cảnh Mỹ có nghĩa là "Bị Địch Tấn
Công". Nhưng Daniel chỉ kịp gào lên hai lầ n trong máy : "Chúng
đang tràn vào tràn vào. Cứu với! Cứu vớ i!" - Rồi im tiếng. Liên lạ c
điện thoạ i đã mất. Một băng đạn AK đã quạt vào đầu hắn phá hủy
luôn máy điện thoại. Sebast cũ ng chết gục tại chỗ vì một băng đạn trổ
qua ngực.
3 giờ 5 : Một xe Jeep của quân cảnh Mỹ đi tuần bắt được "Tín
hiệu 300" vội từ hướng Dinh Độc Lập chạy tới. Hai quân cả nh Mỹ -
một là Jonnie Thomas, một là Owen Mebust - vừa từ trên xe nhả
xuống đã bị bắn gục ngay tại chỗ. Bên trong các chiến sĩ biệt động
chiế m lĩnh tầng dưới một cách dễ dàng bắt được một số từ binh gồm
quân cảnh và lính thủy đánh bộ Mỹ lại đánh lên lầu ba lầu bốn bắt
thêm một số tù binh nhốt cả vào phòng. Số tù nhân này cả quân sự
lẫn dân sự, Mỹ có Việt có. Khi đã đầu hàng chúng đều được tha chết.
(Ngay cả những phút ngặt nghèo nhất sau đó các chiến sĩ biệt động
vẫn chấp hành đú ng chính sách, không thèm sát hại một mạng nào).
3 giờ 30 đến 4 giờ : Xe hú còi vang ngoài đường. Địch đã điều
động các lự c lượng hỗn hợp Mỹ ngụy đến phản kích tái chiếm Tòa Đại
sứ. Chú ng không dám đột phá vào cổng chính mà bố trí hỏa lực mạnh
từ một cao ốc đối diện bắn sang. Bên trong ta vẫn làm chủ trận địa.
Ba Đen dẫn một tổ sục sạo khắp các phòng ốc trên lầu ba để tìm bắt
sống đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker. Anh có biết đâu rằng lão già "tủ
lạnh" này đã được nhân viên bảo vệ đưa ra khỏi Tòa Đại sứ theo một
lối đi bí mậ t để sau đó trốn vào phòng ngủ của Leo Crampsay, một
tên trùm mật vụ, nhà ở đường Pasteur. Gặp một căn phòng kiên cố
cửa đóng im ỉm, tổ Ba Đen bắn vào đấy một quả B.40. Bên trong
không có người mà chỉ toàn hồ sơ mật bị bốc cháy.
5 giờ sáng : Giặc vây bốn phía. Quân cảnh Mỹ học theo cách của
biệt động phá một lỗ hổng khá c ở tường tràn vào bố trí hỏa lực ở các
bồn cỏ cao trong sân. Quân ta di động trong sân đánh trả Ba Đen
nhìn đồng hồ; đã qua hơn hai giờ chiếm giữ. Chi bộ Hồ Chí Minh đã

hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn trên giao. Trời đã hừng đông
nhưng viện binh đâu? Ba Đen than thầm : "Các anh ơi! Hãy đến
nhanh. Nếu chậm thì đơn vị cảm tử của chúng tôi sẽ không còn mấy
người".
5 giờ 30 : Trực thăng củ a sư đoàn Kỵ binh không vậ n 101 ầm
ầm quần đảo trên nóc Tòa Đại sứ. Súng ở dưới bắn lên dữ dội. Máy
bay chuồn mất. Nhưng bên cổng Mạc Đĩnh Chi đã không còn nghe
tiếng súng củ a các chiến sĩ ta. Trong tổ của Ba Đen lại thêm đồng chí
Vinh, hy sinh vì bắn quả B.40 cuối cùng trong góc phòng chật hẹp vì
nghi trong phòng có lão già Bunker.
6 giờ : Nguyễn Văn Luận, Trung tá giám đốc Cảnh sát Đô thành
điều động bộ hạ đến tiếp tay cho Mỹ. Từ trên lầu nhìn xuống cá c
chiế n sĩ ta thấy cả một rừng phóng viên báo chí nhiếp ảnh, quay
phim...
7 giờ : Trời sáng rõ. Lính Mỹ mang mặt nạ đầu heo xuất hiện
tấ n công các chiến sĩ biệt động bằng lựu đạn cay.
7 giờ 20 : Hãng tin Mỹ AP bắt đầu loan tin do ký giả danh tiếng
Peter Arnett từ Sài Gòn điện về New York : Việt cộ ng đã chiế m lĩnh
bên trong Tòa Đại sứ". Các hãng thông tấn khác cũng tới tấ p đưa tin.
Cả thế giới đã biết và đang hồi hộp theo dõi trận đánh của biệ t động
Sài Gòn.
8 giờ : Trực thăng quay trở lại đổ quân lính Mỹ từ sân thượng
dồn hỏa lực đánh xuống. Uút Nhỏ, Sơn, Văn bị thương vẫn chiến đấu
quyết liệt. Bên ta đã gần hết đạn. Phía Mỹ thêm một tên bị hạ. Đó là
James Marehall, hạ sĩ quân cảnh. Tên này chết gục trên sân thượng.
Lính Mỹ tiếp tục tràn xuống.
8 giờ 30 : Đồng chí Mang bắn phát B.40 cuối cùng của đời mình
cam chịu hy sinh vì sức ép của đạn lõm để tạm thời đẩ y lui thêm một
đợt phản kích của giặc.
9 giờ : Địch tràn ngập. Bên ta, toàn đội cảm tử đã chiến đấu đến
viên đạn cuố i cùng. Tất cả mười bảy người đều thương vong. Sau này
chỉ còn mộ t người may mắn sống sót và bị bắt làm tù binh. Đó là đồng
chí Ba Đen.

Những chi tiết trong trận đánh này về phía ta do đồng chí Ba
Đen kể lại. Thờ i điểm, giờ giấc và các tình tiết phía bên địch do nhà
báo Mỹ Don Oberdorfer tường thuật trong quyển sách nhan đề là
"TET" nói về Mậu Thân - sách bán chạy nhất năm 1972 ở Mỹ.
Sau ngày giải phóng; đồng chí Ba Đen có lần tâm sự :
"Cho đến nay tôi vẫn không quên những hình ả nh má u lửa của
trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ. Suốt đời nhớ từng gương mặt, từng lời nói.
Tôi thường nghĩ : các tướng lãnh chỉ huy hàng chục vạn quân khi
phải hy sinh mười mấy chiến sĩ không biết có vấn đề gì đọng lại trong
trái tim của các đồng chí ấy không? Còn tôi chỉ huy có 16 người và đã
hy sinh cả 16. Toàn đội đã làm tròn nhiệm vụ nhưng con số 17 - 16
mà hỡi ôi! Một người còn sống sót đó lại là tôi"...
Đấy là lời cuối cùng để kết thúc trận đánh. Đánh Tòa Nhà
Trắng ở phương Đông mà chấn động cả Tòa Nhà Trắng ở phương
Tây.
(Nguyễn Lê Thu An - trong sách Mậu Thân Sài Gòn NXB Trẻ - 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
TRẬN ĐÁNH ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN
Lực lượng tấn công Đài phát thanh Sài Gòn gồm 12 chiến sĩ đội
4 biệt độ ng do Nguyễn Văn Tăng, cụ m trưởng cụm 3-4-5, phụ trách
chung, Năm Lộ c trực tiếp chỉ huy. Vũ khí được ém tại nhà vợ chồng
đồng chí Trần Phú Cương (Năm Mộc), Trần Thị Út số 65 đường
Nguyễn Bỉnh Khiêm quận I (tiệm may Quốc Anh), xuất phát tại đấy
là một tổ đi bộ, 2 tổ đi xe (1 xe Toyota và 1 honda) lúc 2 giờ 59 phút.
Vừa tiếp cận mục tiêu, mới bước xuống xe, địch đã nổ súng, đồng chí
Trần Phú Cương bị thương nặng, trước khi tắt thở, đồng chí động
viên đồng đội tiến lên. Sau 3 phút chiến đấu, ta đã làm chủ Đài phát
thanh. Yý định của ta là dập tiếng nói của địch, đồng thời dùng
phương tiện của địch vừa chiếm đượ c phát đi tiếng nói của cách mạng
động viên tinh thần, sĩ khí của quân dân thành phố và toà n miền
Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định. Thế nhưng sau khi chiếm,
kỹ thuật viên của ta đã bị địch ngăn chặn không đến được, kỹ thuật
viên của địch thì đã bỏ chạy, nên kế hoạch không thực hiện được.
Trong khi đó, trực thăng của địch đã xuất hiện và kêu gọi đầu hàng
(!), 15 phút sau từ hướng Đa Kao, một đoàn xe thiế t giáp địch lao tới.
Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến sáng. Đội 4 đánh thiệt hại 1 đại đội
lính dù, 1 trung đội an ninh thủ đô ngụy. Nhưng nhiều cán bộ chiến
sĩ lần lượt hy sinh. Không có lực lượng mũi nhọn Phân khu 5 và lực
lượng thiết giáp địch làm binh biến đến tiếp cứu như hiệp đồng. Các
chiế n sĩ biệt động trước lúc hy sinh dùng 20 kg thuốc nổ phá hủy hệ
thống má y móc của đài. Tậ p thể 4 đồng chí đã hy sinh ở Đài phát
thanh : Năm Lộc, Bảy Thân, Nhẹ, Hồng. Sáng hôm ấy, trong dòng
người tiến về Đài phát thanh, chị Trần Thị Út, vợ đồng chí Năm Mộc,
hết sức bàng hoàng, tận mắt thấy địch khiêng xác chồng mình quăng
lên xe, chị cố nén đau thương để không cất lên tiếng khóc. Quay trở
lại nhà, chị bình tĩnh và thông minh trước tình huống địch đang bao
vây, khám nhà, đặt máy nghe trộm... trong lúc 2 cán bộ ta về được
còn trong hầm bí mậ t. Mãi đến sáng ngà y 3 tháng 2 tức mùng 5 Tết,
chị mới tổ chức được cho các anh Tư Tăng và Ba Tẻo thoát ra được

khỏi nhà về căn cứ an toàn. Đêm hôm đó, chị Uút độn bụng giả làm
người đi nhà thương sinh đẻ để thoát khỏi ngôi nhà, đến tạm trú nhà
chú ruột là Trần Văn Trổ ở đường Trần Quý Cáp. Ngày 10 tháng 2
năm 1968, địch khám xét, lục lọi nhà chị một lần nữa, phát hiện được
hầm bí mật, nhưng mọi việc đã rồi.
Cuối năm 1969, với tấm căn cước thật mà địch đã cấp mang tên
Trần Thị Liên, chị Út hợp pháp trở lại Sài Gòn với cương vị đội
trưởng một đội trinh sát gồm 20 chiến sĩ hoạt động trong thành phố,
cho đến ngày Sài Gòn giải phóng.
Trận đánh Đài phát thanh Sài Gò n đã làm câm tiế ng nói gọi là
"Tiế ng nói Việt Nam Cộng hòa" từ những giờ phút đầu ta đồng loạt
tấ n công Tết Mậu Thân vào Sài Gòn. Đồng chí Trần Phú Cương sau
được tuyên dương anh hùng.
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45 - 75 - NXB TPHCM 1994)

Chán đời đi lang thang !
0
QUẦN CHÚNG THAM GIA
ĐỢT TẤN CÔNG NỔI DẬY VÙNG CẦU THO
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)
quần chúng công nhân và lao động, dưới sự chỉ đạo chung đã phối
hợp chặt chẽ với Quân Giả i phóng chiến đấu dũng cảm và làm chủ
nhiều khu xóm lao động trong cả các đợt một và hai.
Riêng trong đợt hai (5-1968). Trước giờ hành động, công tác
chuẩn bị của quận ủy và các chi bộ được tiến hành khẩn trương, có
kiểm tra nhiều lần khá chu đáo. Lự c lượng nòng cốt tại chỗ gồm 30
đảng viên và đoàn viên thanh niên, 40 quần chúng tích cực kể cả
những người bị lộ trong đợt một nay trở về hoạt động.
Công tác tuyên truyền, vận động được tiến hành khá tốt : treo,
dán cờ Mặt trận, rải truyề n đơn nơi công cộng, phát truyền đơn vào
tậ n nhà dân, gửi thư cảnh cáo bọn thám báo ác ôn, v.v...
Trong mộ t thờ i gian ngắn, đã vận động thêm được 10 gia đình
nhận chứa người, 10 gia đình khác nhận chứa người và vũ khí. Vũ
khí đượ c đưa từ ngoài vào gồm 80 súng các loại AK, K54, B40 có đủ
cơ số đạn, 200 ký thuốc nổ TNT. Ngoài ra còn chuẩn bị được 40 lá cờ
lớn, hàng trăm lá cờ nhỏ, 30.000 truyền đơn, 4 micro pin, 15 xà beng,
15 cuốc và cúp để đào công sự. Trong lú c chuẩn bị có 12 ngườ i bị mất
liên lạc hoặc bị bắt lính nhưng không lộ kế hoạch. Lực lượng nòng cốt
còn 58 người gồm 18 người từ ngoài vào và hai phầ n ba là nữ thanh
niên. 21 giờ của đêm nổi dậy, ta mở kho súng phân phát cho lực lượng
vũ trang và bao vây sẵn nhà bọn ác ôn. Địch vẫn canh phòng nghiêm
ngặt ngoài đườ ng lớn nhưng không sục sạo vào xóm. Đến giờ G, pháo
của Quân Giải phóng nổ rất ít nhưng ở đây vẫn hành động theo kế
hoạch.
Việc đầu tiên là diệt ác ôn, chiếm lĩnh trận địa, phát loa kêu gọi
đồng bào nổi dậy lật đổ chính quyền, giành quyền làm chủ. Cả một

vùng rộng lớn bao gồm nhiều xóm lao động đã thức dậy bật đèn, mở
cửa. Một số rất đông các gia đình tự phá bảng liên gia, xé các áp
phích chống cộng của địch, cùng lực lượ ng vũ trang bắt cảnh cáo bọn
liên gia trưởng, khóm trưởng, đồng thờ i tham gia dựng chướng ngại
vật và đào công sự chiến đấu trên đường Đề Thám. Thanh, thiếu niên
nhận truyền đơn và cờ đi tán phát trên các đường phố lớn.
Khoả ng 300 gia đình vùng Bến Chương Dương, Cầu Kho chuẩn
bị để sáng đi biểu tình, nhưng do phải chiến đấu vũ trang nên không
thực hiện được. Đến 3 giờ sáng, ta đánh vào Chi khu cảnh sát Cầu
Kho trong lúc tiếng loa hô vang làm chúng hoảng sợ. Cho đến 8 giờ
sáng, địch mới điều được hai đại đội cảnh sát dã chiến, mộ t đại đội
biệt độ ng quân và ba xe bọc thép đến đàn áp cuộc nổi dậy. Lực lượng
địch gấp hàng chục lần lự c lượng ta, nhưng ta vẫn cố thủ và đánh trả
nhiều đợt tiến công của địch. Dựa vào công sự chiến đấu và nhờ
chiế m được điểm cao, ta đã dũng cảm chố ng trả cuộc phản kích của
địch. Đến gần trưa, địch phải dùng xe bọc thép ủi sập nhà đồng bào
và phá được phòng tuyến của ta. Quân ta xông ra đánh xáp lá cà với
chúng, trong lúc đó đồng bào tràn ra là m công tá c binh vận, kêu gọi
chúng đừng bắn vào đồng bào và cản địch để ta rút quân vì chênh
lệch lực lượng quá lớn.
Cuộc nổi dậy tuy mới ở mức đó nhưng thể hiện khả năng và
tinh thần quần chúng khu xóm lao động rất cao, có thể nổi dậy ngay
giữa trung tâm thành phố và ngay lúc nổi dậy, đồng bào vẫn có khả
năng duy trì thế hợp pháp để bảo toàn lực lượng. Đó là những cuộc
tập dượt cho cuộc Tổng tiế n công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
WESTMORELAND VIẾT VỀ MẬU THÂN
William C. Westmoreland, gọi tắt là Wesly - tướng bốn sao, giữ
chức tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam. Trong thời gian ở Việt Nam,
Wesly có nhà riêng tại số 60 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ
Văn Tần quận 3, TP. Hồ Chí Minh). Sau những thất bại chiến lượ c
chiế n thuật trên chiến trường miền Nam, nhất là sau "sự thất bại bất
ngờ" của đợt I Mậu Thân, Westmoreland bị cách chức ngày 23-3-
1968.
Sau đây là những giòng tâm sự của Westmoreland trích từ tập
bút ký nhan đề "Tường trình của một quân nhân" - một tài liệu tham
khảo thú vị.
Người Mỹ không có cái lễ nào giống với cái Tết của Việt Nam
bắt đầu từ ngày đầu năm âm lịch - dù là lễ Noel, lễ tạ ơn hoặc ngày 4-
7 cũng không đủ nói lên tầm quan trọng mà người Việt Nam gắn cho
những ngày Tế t của họ...
Tết bắt đầu vào hôm trước ngày đầu năm Âm lịch : năm 1968,
năm con Khỉ. Mồng Một Tết tương ứng ngày thứ hai 29 tháng 1
Dương Lịch. Hôm đó năm mới bắt đầu và sau đó là một chuỗi ngày
nghỉ quan trọng nhất kéo dài cả tuần lễ. Có thể vì cuộc chiến tranh
đang tiến triển tốt và một chính phủ dân chủ muốn chứng minh sự
thông cảm với nhân dân nên chính phủ Sài Gòn đã hủy bỏ lệnh cấm
đốt pháo được thực hiện từ nhiều năm nay. Đối với người Việt Nam,
pháo đồng nghĩa với Tết...
Sợ rằng việc mở đầu cuộc tấn công sẽ làm cho máy bay Mỹ trở
lại quấy rối lễ Tết ở Hà Nội, chính phủ Bắc Việt Nam đã đề ra chỉ thị
thay đổi ngà y Tết. Đáng lẽ ngày Mồng Một Tết là vào thứ ba 30-1 thì
nó lại được lùi lại vào tháng thứ hai 29-1 như vậy có nghĩa là đêm
giao thừa ở Hà Nội sẽ bắt đầu từ chủ nhật 28-1 : Làm như vậy là đã
cho người Việt Nam ở miền Bắc có ba ngày Tết quan trọng trướ c khi

binh lính của họ ở miền Nam đi vào cuộc tấn công thực sự bắt đầu
vào ngày 31-1...
Lúc những tháng mùa thu đã trôi qua, ngà y càng có những dấu
hiệu chứng minh là đang hình thà nh một hình thức thay đổi nào đó,
có lẽ là thay đổi lớn. Sự dẻo dai được thể hiện ở Lộc Ninh trong tháng
10 và Dakto trong tháng 11 có tính chấ t khác thường. Số lượng cá c
trận tấn công gia tăng trong cả nước. Số người đầu hàng theo chương
trình chiêu hồi giảm xuống rõ rệt. Lực lượng địch ở khu phi quân sự
tăng lên. Số xe vận tải phát hiện dọc đường mò n Hồ Chí Minh tăng
200 phần trăm.
Theo tôi, trong giai đoạn này, cách là m lô gích nhất đối với địch
là nỗ lực đánh tràn vào hai tỉnh phía Bắc kết hợp các cuộc tấn công
nhỏ khắp nơi để tìm cách giam chân các lực lượng Mỹ không cho tăng
viện ra phía Bắc...
Rất dễ hiểu là hầu hết báo chí, bộ chỉ huy của tôi và các quan
chức Washington đều chăm chú vào Khe Sanh. Đó là một mục tiêu
đương nhiên nếu họ muốn luồn qua các đồn bót vùng phi quân sự để
tiến sâu vào Quảng Trị. Khe Sanh là một vị trí cô lập và có nhiều đặc
điểm giố ng như Điện Biên Phủ để kích thích các chiế n lược gia bàn
giấy. Sau đó tôi được biết tổng thống Johnson đã bắt đầu chăm chú
đến nó. Tướng Taylor đã thành lập một phòng tình hình đặc biệt ở
Nhà Trắng để theo dõi và phân tích cá c độ i hình của Mỹ và của địch
kết hợp với một bức ảnh lớn chụp bằng máy bay và một sa bàn vùng
Khe Sanh. Tổng thống yêu cầu tướng Wheeler nộp một bản báo cáo
về cách thức bảo vệ Khe Sanh, dẫn tới một chuyện giả tạo là tổng
thống yêu cầu hội đồng tham mưu trưởng liên quân "ký tên bằng
máy" cam kết bảo vệ Khe Sanh...
Tết càng đến gần, tôi càng lo lắng trước việc địch tăng cường
binh lực ở phía Bắ c Khu phi quân sự và ở Lào và tranh thủ lệnh
ngừng bắn để chuyển quân ví dụ mới nhất là địch dù ng máy ủi đất để
xây dựng một con đường ở thung lũng A Sao hướng về Huế.
Theo yêu cầu của tôi, đại sứ Bunker đã yêu cầu Washington cho
hủy bỏ hoàn toàn việc ngừng bắn ở hai tỉnh phía Bắ c và nếu
Washington ngừng ném bom ở đâu thì ngừng nhưng vẫn cứ tiếp tục ở
hai tỉnh ấy. Cả Washington và tổng thống Thiệu đều tán thà nh. Để

địch có ít thời gian thích ứng với việc hủy bỏ lệnh ngừng bắn này,
chính phủ Nam Việt Nam đã hoãn thông báo cho tới sáng thứ hai 29-
1, tức 24 giờ trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Nhưng buổi sáng
đã trôi qua mà không có lệnh hủy bỏ. Tôi gọi điện thoại cho sứ quán
để yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam bảo văn phòng báo chí của họ ra
thông báo. Nhưng văn phòng này đã đóng cửa nghỉ Tết. Tổng Thống
Thiệu đã đi Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ.
Một thái độ như vậy của phía chính phủ thật là đáng kinh ngạ c
và thất vọng nhưng đó là dấu hiệu cho thấy một trạng thái tinh thần
gần như hể hả, hí hửng đang bao trùm lên ngườ i Việt Nam vào ngày
Tết...
Làm thế nào mà báo động cho mọi người biết khi mà báo chí,
quốc hội và Nhà Trắng đang lo chuyện Khe Sanh và tác động có thể
của việc ngừng ném bom để thúc đẩy cuộc thương lượng? Bắc Việt
Nam đã vạch ra một bài bản khôn khéo trong đó có việc đe dọa Khe
Sanh rồi đánh tiếng khôn ngoan về vấn đề thương lượng? Thế rồi...
Lúc 12 giờ 35 phút sáng 30-1, hơn nửa giờ sau khi năm con Khỉ
bắt đầu, các pháo thủ cộng sản đã bắn 6 phát súng cối vào Trung tâm
huấn luyện Hải quân ở Nha Trang. Một giờ sau, lúc những người ăn
Tết đang dạo chơi trên đường phố Buôn Mê Thuột thì mộ t loạt súng
và rốc kết nã vào thành phố, sau đó là cuộc tấn công của 2 tiể u đoàn.
Đồng thờ i một tiể u đoàn địch đánh vào quận lỵ Tân Cảnh, gần Dakto.
Nửa giờ sau, 3 tiể u đoàn tấn công vào Nha Trang. Chưa đầy một giờ
sau đó, cuộ c tấn công diễn ra ở Hội An. Và tại Đà Nẵng, một đại đội
đánh vào Sở chỉ huy quân đoàn I của Việt Nam. Đến 4 giờ 10 phút
sáng, 2 tiểu đoàn Việt Cộng tấn công ngoại ô Quy Nhơn rồi nhanh
chóng thâm nhập chiếm đài phát thanh của chính phủ . Đến 4 giờ 30
phút cuộc tấn công mà người ta chờ đợi từ lâu đã diễn ra khiế n tướng
Vĩnh Lộc vội vã từ Sài Gò n trở về, hình như lo cho biệt thự của ông
hơn là lo cho trận đánh...
Mà lời cảnh cáo của các cuộc tấn công quá sớm đó đưa ra không
kéo dài, nhưng là một lời cảnh cáo đầy đủ Philippe Davidson nói với
tôi : "Nó sẽ xảy ra khắp cả nướ c đêm nay hoặc sáng mai".

Vào giữa buổi sáng 30-1, tổ ng thống Thiệu thông báo hủy bỏ
việc ngừng bắn khắp cả nước, mặc dầu đài phát thanh suốt ngày hôm
đó ra lệnh cho tất cả quân nhân Việt Nam trở về các đơn vị của họ
nhưng ít ai thi hành. Các cuộc tấ n công mà chúng tôi đã dự kiến và
một số cuộ c mà chúng tôi không dự kiến đã diễn ra, kể cả cuộc tấn
công của đặc công vào tòa đại sứ Mỹ.
Tôi mặc quần áo và đứng cạnh máy điện thoại ở nhà tôi. Cuộc
tấ n công vào sứ quán là đáng tiếc. Nhưng dù địch đã kiểm soát từng
tấ c đất trong sứ quán, điều đó vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động
quân sự của Mỹ và nhân viên sứ quán đã có địa điểm thay thế ở nơi
khác trong thành phố. Đáng lo ngại nhất về mặt quân sự là các cuộ c
tấ n công vào Tân Sơn Nhất. Khu vực Bộ Tổng Tham mưu và những
cuộc tấn công khác đã diễn ra trong các thành phố trong cả nước...
Lúc đó là 8 giờ 30 phút sáng, tôi lái xe đến sứ quán. Cũ ng giống
như bất cứ chiến trường nào, khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người
Mỹ và người Việt ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết chiến
trường, ở đây các nhà báo và nhà quay phim vô tuyến truyền hình
Mỹ hình như có mặt khắp nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và
tuyệt vọng như thể đã đến ngày tận thế...
(Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
MẬU THÂN TRÊN MẶT BÁO
Vào thời điểm bình thường, Sài Gòn có 39 tờ báo, mỗi ngày phát
hành 800.000 số. Điểm lại những tờ báo cũ Tết Mậu Thân 1968
chúng ta thấy :
• Báo Chính Luận (số Tất niên 27-01-1968). Về chiến sự
Thiệu có phần lạc quan hơn : "Từ những chiến dịch lớn
chuẩn bị chuyển sang tổng phản công năm 1965, địch đã
bị đẩy dần vào thế giằng co cầm cự vào năm 1966 và đến
nay dần dần rơi vào thế phò ng ngự... Các đơn vị cộng sản
đã bị đánh bật rễ khỏi các chiến khu kiên cố. 95% vùng
sản xuất lúa gạo và đông dân cư đã được kiểm soát trở
lại".
• Báo Sống Mới số Tất niên. Trang một dành trọn cho tranh
hí họa nhiều cả nh, nhiều nhân vật. Nào cảnh 15.000 quân
nhân được thăng cấp, còn sinh viên lại bị gọi lính. Cảnh
học sinh đâm thầy và cảnh "Quốc hội" họp hành bát nháo.
Cảnh binh lính Mỹ nghênh ngang đi đứng vì có luật pháp
riêng và cảnh bọn tham nhũng hoành hành...
Các trang báo cũ ng đã không cho biết được gì về những dấu
hiệu của một cuộc tập kích lớn sẽ bùng nổ ngay trong Têtở! Trong khi
ấy công nhân các cơ quan quân vận Mỹ, công nhân điện nước, công
nhân thương cảng đã bãi công từ cuối tháng 12. Trong khi ấy ở một
số trường đại học, sinh viên vẫn tiếp tục hội thảo chống sắc lệnh tổng
động viên họ, và tên Ngô Vương Toại, một sinh viên phản động, bị
biệt động Thành Đoàn bắn bị thương ngay ở diễn đàn Văn khoa trong
một cuộc tuyên truyền xung phong ở đây và o ngày 16-12.
Và trong khi ấy, Tết 1968 đã đến!

Chợ Tết đã mở, Báo Chính Luận vào những số cuối năm, nói
đến hội Tết của tổ chức "Thanh niên nguồn sống" ở 96 Lê Thánh Tôn,
hội Tết của "Việt võ đạo" ở sân Hoa Lư, chợ Tết của cựu chiến binh ở
đường Hiền Vương... nhưng không thấy nói đến một hội Tết có quy
mô gấp bội đang được chuẩn bị ở Học viện Quốc gia hành chánh. Đó
là Hội Tết Quang Trung do Tổng hộ i sinh viên Sài Gòn tổ chức, đó
cũng là địa điểm của Thành Đoàn "đăng cai" phát động khởi nghĩa
khi giờ G điểm.
Bí mật về cuộc tiến công trong Tết vẫn được giữ kín trước dư
luận.
Đợ t 1
Chiến sự xảy ra quá bất ngờ không chỉ làm cho các bộ phận
ngụy quân ngụy quyền lâm vào thế bị động mà các cơ quan báo chí,
nhất là báo in cũng bị lúng túng, tê liệt. Nhiều tờ bá o mãi đến giữa
năm 1968 mới gắng gượng xuất bản lại. Nội dung và hình thức in ấn
rất lôi thôi luộm thuộ m.
Tờ Chính Luận - nhật báo vẫn được tiếng "thân chính phủ", ít
đưa tin bài đố i lập, đã ra được sớm nhất, cũng sau nhiều ngày chiến
sự. Trên số ra ngày 8-2-1968 chỉ đưa những tin hiếm hoi về hoạt động
của quân giải phó ng : "Trưa 7-2 vẫn cò n đánh nhau tại khu Trần
Nhân Tôn, Sư Vạn Hạnh", "Việt cộng dùng thiết giáp từ Lào kéo về
tấn công căn cứ ở Quảng Trị".
Tin bài bị kiểm duyệt đục bỏ khá nhiều nên trên mặt báo trang
một, người đọc có cảm tưởng báo giống như một mảnh đất bị pháo
kích, chi chít những lõm trắng. Có cả một mẩu quảng cáo nước hoa
"Au printemps" đăng chình ình trên trang 1 để lấp bài! Những tin bài
nào đã bị bóc bỏ nơi những khoảng trống đó?
Một điều lý thú là ta có thể tìm thấy trên báo Chính Luận tin
và bài viết về hoạt động củ a "Ủy ban thanh niên cứu trợ đồng bào
nạn nhân chiến cuộc" với Trung tâm cứu trợ đặt ở số 4 Duy Tân!
Trưởng trung tâm này là sinh viên Lê Công Giàu. Báo cho biết Ủy
ban chỉ có 4 sinh viên Y khoa, 12 dì phướ c, một bác sĩ mà hoạt động
rất "trôi chảy". Nó đã phục vụ trực tiếp 200 người dù chỉ mới nhận

một ít gạo và dầu của Bộ Xã hội và đã tổ chức chương trình sinh hoạt
cho thiếu nhi để các em quên đi những cảnh đau lòng.
Lê Công Giàu là ai? Số 4 Duy Tân là địa điểm nào? Chỉ một thời
gian sau, người ta mới đượ c biết người cán bộ Tổng hộ i sinh viên ấy bị
tống giam vì là một "phần tử cộng sản" trong tổ chức Thà nh Đoàn. Và
đến ngày 3-8-1968 thì cảnh sát đã xông vào chiếm mất trụ sở 4 Duy
Tân một điểm hẹn tập hợp lực lượng đấu tranh của sinh viên học sinh
thành phố do những thanh niên cộ ng sản bí mật tổ chức.
Trong khi báo chí Sài Gòn hầu như không đưa tin nhiều và có
được cái nhìn khái quát về cuộc tập kích đợt I, thì các phóng viên
nước ngoài lại có vẻ "dễ ăn dễ nói" hơn.
• Báo Pháp Le Monde ngày 1-2-1968 đã đặt câu hỏi cho
người Mỹ: "Người Mỹ từng khẳng định rằng dân chúng
Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận dân tộc giải
phóng, giờ đây liệu họ có thể nêu lên những lý lẽ như thế
nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng
khâm phục về sức mạnh và lòng dũ ng cảm của Việt cộng
như vậy?".
• Báo Pháp Le Combat ra cùng ngày nói trên lại khẳng
định: "Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt
chính trị trong cuộc chiến tranh này. Những gì đã xảy ra ở
Sài Gòn đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã nắm
được các tầng lớp nhân dân trong mức độ to lớn biết chừng
nào!". Đà i B.B.C. trong buổi phát ngày 6-2-1968 cho biết :
"Trong mấy ngày này, quân đội cộng sản thâm nhập đã ăn
cơm của nhân dân như người trong nhà họ".
Hãng thông tấn A.P của Mỹ dẫn lại lời kể của một Pháp kiều,
giám đốc Công ty BGI : "Hàng trăm thanh niên số ng ở vùng nhà máy
rượu Chợ Lớn đã đi theo Việt cộng và được phát băng đỏ đeo cánh tay
và được phát súng".
Thông tấn xã Reuter nhận xét "Điều có ý nghĩa nhất là Việt
cộng được sự ủng hộ của các nhân sĩ liên minh với Việt cộng".

Báo Time đã không để lỡ cơ hội chạy trước tờ Newsweek, nó đã
dành phần lớn số báo ra ngày 9-7-1968 cho chuyên đề "The days of
death in Vietnam" (Những ngày chết chóc ở Việt Nam). Hình bìa của
số báo này là bức họa chân dung đại tướng Võ Nguyên Giáp (báo
Time vốn có nét truyền thống là sử dụng tranh họa chân dung của
các nhân vật trên bìa báo!). Còn lại hơn 10 trang kế tiếp là tin bài
hình ảnh về cuộc tập kích Sài Gòn mới xả y ra. Báo đăng những tấm
ảnh màu ghi nhận quang cả nh tang thương của Tòa Đại sứ Mỹ sau
khi bị biệt động Sài Gòn đột nhập. Aónh lính Mỹ trúng đạn trên
đường phố Huế.
Báo Time có đoạn viế t : "Double Trouble!" (Họa vô đơn chí!)
Quân cộ ng sản đã tấn công đồng loạt Nam Việt Nam làm cho chính
Washington cũng choáng váng. Bởi vì trong khi mọi cặp mắt đều đổ
dồn về Khe Sanh nơi có 5 sư đoàn địch đang vây chặt như là một trận
đánh then chốt thì thật bất ngờ địch lại tấn công cùng lúc 38 thành
phố quan trọng, kể cả việ c đánh vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và
chiế m giữ nó sáu giờ rưỡi đồng hồ liền".
Báo Newsweek tuy tỏ ra chậm chân hơn nhưng để bù lại, đến số
11-3-1968, bá o này đã kịp cho ra mắt bài tổng luận "The Tet offensive
: how they did it" (Cuộ c tiến công Tết : họ đã tiến hành nó như thế
nào). Có lẽ đây là lần đầu tiên báo chí Mỹ dùng nguyên xi chữ Tết vào
ngôn ngữ tiế ng Anh để nói đặc thù của cuộc tấn công Tết Mậu Thân.
Sau này, nhiề u sách báo Mỹ đều dùng như vậy.
Cùng tuần, tờ Time số ra ngày 8-3-1968 có bài "Saigon under
siege" (Sài Gòn trong sự phong tỏa). Bài báo điểm ra nhiều chi tiết :
Các phương tiện giao thông công cộng đình trệ. Cơ sở chính quyền chỉ
làm việc ít tiếng đồng hồ vì sợ quân khủng bố Việ t cộng. Giá cả lên
cao. Bài báo nhận xét : "Sài Gòn chỉ sống có một nửa".
Một phát hiện khác của phóng viên báo Time là những chiếc áo
dài xuất hiện nhiều hơn trên đường phố thay cho những chiếc áo
diêm dúa, lai căng. Ở một số quán rượu ngườ i ta thấy có một thức
uống mang tên "Saigon tea" (Trà Sài Gòn) đã được chuyển thành
"Saigon - Hanoi tea".

Đi vớ i bài trên là tấm ảnh những cao ốc của Sài Gòn trong đêm
mà nhìn xa xa nơi ngoại ô là ánh chớp hỏa châu hay là những vệt đạn
đại bác cũng chính là hình ảnh của tâm trạng hoảng sợ phập phồng,
lo lắng bị giáng trả sau cuộc tiến công và nổi dậy vào ngày Tết.
Thế mà đợt 2 của "Việt cộng" lại tiếp tục nổ ra.
Đợ t 2
Đợ t 2 Mậu Thân bắt đầu vào ngày 5-5-1968. Sang tháng 6, lại
thêm một đợ t tiến công khá c. Cường độ chiến tranh trong thành phố
gia tăng dữ dội.
Hãng thông tấn AFP (Pháp) ghi nhận trong những ngà y đầu
tháng 5, máy bay Mỹ phải phóng bom lửa đốt hơn 16.000 nhà để
ngăn chặn quân giải phóng ở nhiề u khu vực. Mỹ còn dùng cả phá o đài
bay B.52 để rải thảm bom ở ngoại ô Sài Gòn. Hãng AFP nhận xét
"Trong 40 ngày qua, số bom Mỹ ném xuống vùng phụ cận ở Sài Gòn
đã bằng tổng số bom Mỹ ném ở Nam Việt Nam trong năm 1962, 1963,
1964. Còn hãng AP thì đưa tin : "Tại Sài Gòn, người ta nghe tiếng nổ
ầm ầm như sấm dậy của những quả bom 500 cân Anh, 700 cân Anh,
của 20 chiếc B.52 ném một triệu cân thuốc nổ!".
Sài Gòn phải đội lửa như vậy nhưng báo chí Sài Gòn không nói
hết chuyện ấy! Báo Sà i Gòn Mới, số ra ngày 7-5, cho biết giờ giới
nghiêm mới ở Sài Gòn là 7 giờ tốt và tòa đô chính phải kêu gọi đồng
bào đừng ra đường nếu không có chuyện cần thiết.
Tờ Trắ ng Đen ra ngày 8-5, chạy hàng tít lớn : "Nhiều trận đánh
(đục bỏ) còn tiếp diễn. Đại tá Lưu Kim Cương tư lệnh Tân Sơn Nhất
tử thương (...). Việt cộng pháo kích tấn công 116 nơi. Xáp lá cà ở góc
đường Đề Thám - Cô Giang. Việt cộng đánh ở đường Trần Quý Cáp,
Phó Cơ Điều, Tòa hành chánh quận 5, truyền đơn củ a liên minh
Trịnh Đình Thảo xuất hiện. 4 phóng viên ngoại quốc bị bắt ở đường
Minh Phụng".
Tờ Tia Sáng, có tòa soạn ở trong khu vực hành quân - nên ra
báo trễ - số ra ngày 7-5 có nhiều thông tin : "Theo BBC, Bắc Việt sẽ
cứng rắn ở Ba Lê (đục bỏ). Việ t cộng điều động (đục bỏ) để kéo dài
cuộc tấn công. Chợ Lớn, Thị Nghè và gần Tân Sơn Nhất là ba nơi có
đánh nhau trong ngày vừa qua, Phi cảng Sài Gòn đóng cửa".

Tờ tuần báo hiếu chiến Văn nghệ tiền phong số ra ngày 9-5-1968
có bài bình luận thời sự tán thành tổng động viên. Số kế tiếp, ra ngày
16-5, có bài lược thuật "Trận đánh Sài Gòn lần thứ 2". Riêng số ra ngày
23-5 thì có bài "tiết lộ" về những kỹ thuật quân sự của Mỹ để bảo vệ Sà i
Gòn. Nào là những "Bụi kim khí mắt thầ n" nào là các "luồng điện rada"
phát hiện cả đoàn quân... Song cuố i cùng bài viết này phải thừa nhận :
"Nhưng dầu sao thì việc bảo vệ thủ đô cũng cần rất sớm sự có mặt của
những đoàn biệt kích chuyên đánh trong thành phố. Điều này cần hơn
là các lực lượng nhân dân tự vệ. Nhân dân tự vệ là để phòng ngừa các
đoàn biệt kích thành phố là để đánh thật, ít thiệt hại".
Đề cao quân chính quy như vậy cũng phải vì lực lượng nhân
dân tự vệ đã tan rã.
Một sự kiện lúc này mà cả thế giới đã biết đến qua truyền hình
và bá o chí là cảnh thiếu tướ ng cảnh sá t ác ôn Nguyễn Ngọc Loan bắn
chết tù binh quân giải phóng ngay trên đường phố Sài Gòn. Hình ảnh
trên đã lột trần bản chất phi nhân phi nghĩa, hung hăng của những
tên tay sai Mỹ và do đó gây ra "phản tác dụng" trong dư luận của các
nước thế giới tự do, vốn bị ngợp choá ng bởi hình ảnh đế quốc Mỹ văn
minh bấy lâu!
Chính vì vậy mà báo Time số 7-1968 khi viết về sự kiện này đã
cố gắ ng lồng vào một lời thanh minh bên tấm ảnh Loan trỏ súng Mỹ
vào màng tang tù binh : "Chuẩn tướ ng Nguyễn Ngọc Loan 37 tuổi, tư
lệnh của 75.000 cảnh sát quốc gia đã lạnh lùng bắn chết một người
cao gầy, sợ hãi nhưng bướng bỉnh, khả nghi du kích mặc áo ca rô và
quần đùi, bị bắt trên đường phố Sài Gòn. Mặt vẫn không biến sắc và
trên tay vẫn còn cầm khẩu P.38, tướ ng Loan nói với phóng viên
truyền hình : "Vừa lú c nãy có mấy người Mỹ bị giết. Nhiều người bạn
thân của tôi cũng vị vậy Đức Phật sẽ hiểu cho tôi về hành động này,
phải không?".
Chỉ ít lâu sau, trên gần khắp các tờ báo trong và ngoài nước,
hình ảnh tướng "Sáu Lèo" (tức Nguyễn Ngọc Loan) lại xuất hiện.
Trong trậ n đụng độ tại Hàng Xanh, hắn bị thương nặng đến thân tàn
ma dại. Phải chăng Đức Phật đã mượn tay quân giải phóng để trả lời
Nguyễn Ngọc Loan : "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo?"
(Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
LỄ THỌ TANG BÁC HỒ TẠI KHÁM CHÍ HOÀ
Ngày Bác Hồ qua đời, lần lượt các nhà tù ở miền Nam nơi sớm,
nơi muộn đều nhận được cái tin đau đớn đó. Một đồng chí lúc bấ y giờ
bị địch giam ở khám Chí Hòa, kể lại rằng (Theo cuốn Trui rèn trong
lửa đoó), ban đầu chúng tôi không ai tin rằng Bác đã mất. Làm sao có
thể có chuyện đó được. Rồi mọi người bảo nhau : "Coi chừng, đây lại
là đòn tâm lý của địch!". Nhưng sau đó, chính tên trưởng khu nói một
câu này thì nhiều người tù mới tin và bắt đầu xuống nước mắt : "Ông
Hồ Chí Minh đã mất, một người có một không hai trên thế giới!". Rồi
qua tin báo của những người đi thăm nuôi, ngày một nhiều và chính
xác mà họ đã nghe được qua đài Hà Nội. Sau đó thì tất cả những
người tù, tuy sống cách biệt thế giới bên ngoài, đều được thông báo
tường tận về sự qua đời của Bác.
Tổ chức Đảng trong nhà tù Chí Hòa quyết định tất cả những
khu trại giam chính trị sẽ làm lễ thọ tang Bác Hồ trong vòng mười
ngày. Nhờ sự giúp đỡ của một số tù thường phạm, nhữ ng người tù
chính trị đã có một số phương tiện cần thiết làm bàn thờ Tổ quố c
ngay tại phòng giam... Những người tù cách mạng ở Chí Hòa, trong
suốt những ngày để tang Bác, nước mắt rưng rưng. Nhiều người hát
ca về Bá c, kể chuyện về cuộc đời Bác mà ít nhiều họ biết được...
Sáng ngày 10-9-1969, hơn 1.000 tù chính trị của khu EG và 400
tù nữ của khu BC chính thứ c nêu yêu sách đòi được quyền để tang
Bác Hồ. Không chờ quyết định của bọn quản đốc nhà lao, tập thể tù
chính trị tự động để tang. Các anh chị em đeo băng trắng, đeo băng
đen ở ống tay áo và treo cờ tang ở các xà lim...
Tất nhiên bọn địch không bao giờ để yên cho những người tù
được tự do làm chuyện ấy.
Ngày 25-9-1969, một số tên "trật tự an ninh" xông và o các xà
lim vớ i đầy đủ vũ khí để đánh đập tù nhân. Có người bị thương nặng.

Tất cả những người bị giam giữ đều thét vang : "Đả đảo đàn áp!" và
treo một mảnh vải trắng vào chấn song xà lim ý để báo cho tù ở các
khu khác biết là có một đồng đội của mình đã bị lâm nguy. Một mệnh
lệnh của tổ chức Đảng lập tức được truyền đạt rộng rãi : "Nhân lễ thọ
tang Bác, chính thức phát độ ng đấu tranh chống chấp hành nội quy,
phá bỏ việc bắ t buộc chào cờ ngụy...". Khí thế đấu tranh lên cao chưa
từng thấy.
Kẻ thù lùi bước chỉ là tạm thời. Bọn chúng vẫn quyết tâm tìm
cách đánh tổ chức lã nh đạ o Đảng ở Chí Hòa. Sau đó, chúng đưa
những người mà chúng cho là cầm đầu ra chuồng cọp ở Côn Đảo để
cắt đứt mọi sự liên lạc. Nhưng đó lại là theo cách hiểu củ a chúng.
Trong lao tù vừa mới nghe Bác mất Tuy chưa tin nhưng tai tế
cả lòng Khắp không gian là cả một mùa đông Giữa ngục tối con miên
man suy nghĩ : Bác Hồ ơi, phải Bác đã ra đi Đi vĩnh viễn vào tận lòng
lịch sử Đi vẻ vang khi làm xong phận sự Với quê hương và nhân loại
năm châu ... Giữa ngục tù vang dội tiếng kêu la Khóc miền Nam chưa
thấy mặt người Cha Và khóc Bác chưa thấy được niềm ước mơ trọn
vẹn.
Đoạn thơ này chúng tôi trích trong bài thơ dài mang tựa đề
"Thương nhớ Bác" của đồng chí Hồ Vĩnh, tức là đồng chí Hồ Hiếu,
làm tại xà lim Nha cảnh sá t đô thà nh Sài Gòn ngày 4-9-1969, một
ngày sau khi Bác mất.
(Theo sách Đây các nhà tù Mỹ ngụy - NXB TPHCM - 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
GIĂNG-PIERƠ-ĐÊBRI
Tự giới thiệu :
Tôi sinh tại Ăng-danh, vùng mỏ miền Bắc nước Pháp, ngày 27
tháng 3 năm 1944. Cha tôi làm trưởng kíp tán ri-vê. Tôi có một người
anh và một người chị. Tôi học ở vùng Ăng-danh rồi đi học ở trường Sư
phạm Đu-e ba năm. Tôi học một năm ở trường trung học Sắp-tan tại
Paris để chuẩn bị thi vào trường Đại học Sư phạm, nhưng thi trượt.
Tôi trở về Lin, học một năm ở trường Sư phạm Lin rồi năm năm ở đại
học để thi lấy bằng cử nhân toán.
Năm 1968, đi làm nghĩa vụ quân sự, tôi xin làm nhiệm vụ hợp
tá c quân sự ở nước ngoài và xin sang Indonesia, Thái Lan, Lào,
Campuchia, hoặc Việt Nam. Tôi được điều sang Việt Nam.
Tôi thích đi du lịch, hồi còn rất trẻ tôi đã đi thăm châu Phi đen,
Bắc Phi. Tôi đã đượ c chứng kiến cuộc chiến tranh Angiêri chấm dứt,
thời gian tiếp theo các hiệ p nghị Ê-vi-ăng, không khí các doanh trại
Pháp, chủ nghĩa phân biệt chủ ng tộc ngấm ngầm ngay cả những
thanh niên mà xét cho cùng, khi ra đi cũng chỉ là nhữ ng thanh niên
như tôi. Tôi cũng đã nhiều lần đi tới các nước A-rập, sang châu Á, ở
Ấn Độ, ở Áp-ga-ni-xtăng.
Tôi chưa hề bao giờ làm chính trị và không có thẻ của một đảng
phái chính trị nào : đến giờ vẫn vậy. Tôi vốn ưa thích khám phá
những phong cảnh mớ i, nhữ ng con người mớ i và cố gắng có những
tiếp xúc với con người.
Tôi thích Việt Nam; tôi cảm thấ y mình có liên quan đến Việt
Nam như bất kỳ ai khác; đối vớ i một sinh viên, đó là chuyện thường
thôi.

Chán đời đi lang thang !
0
ĂNGĐƠRÊ-MĂNGRAX
Tự giới thiệu :
Tôi quê ở Bê-di-ê, tỉnh Hê-rôn, gia đình tôi làm nghề trồng rau.
Sinh ngày 25 tháng chạp năm 1945, tôi là con một. Tôi học ở Bê-di-ê
rồi học trường Sư phạm Mông-pe-li-ê bốn năm và đã làm giáo viên
một năm tại Vi-lơ-nơ-vơ-lé t-Bê-di-ê, một làng nhỏ trồng nho. Bị gọi đi
làm nghĩa vụ quân sự, tôi xin sang Việt Nam, trong khuôn khổ hợp
tá c. Trái với Găng-Pie-rơ, tôi hoàn toàn không hề xúc cảm gì cả , tôi
không thấy mình có liên quan gì đến chiến tranh Việt Nam.
Đó là một thế giới khác ở cách xa tôi hơn 10.000 cây số. Sở dĩ tôi
xin sang Việt Nam là vì tôi muốn phiêu lưu phát hiện một dân tộ c
mới, mộ t đất nước mới. Trước đó, tôi chưa đi đâu bao giờ. Bây giờ đã
biết được những gì tôi biết, tôi không quan niệm nổi tại sao mình đã
đứng ngoài cuộc đến như thế.
Giăng-Pie-rơ và tôi, quen nhau trên máy bay chở khoảng 15, 16
thanh niên đi làm nghĩa vụ "hợp tác".
Ngay sau khi đến Sài Gòn, chúng tôi đã có một ấn tượng giống
nhau về những kẻ đại diện phái bổ văn hóa Pháp mà thái độ, hành
động sau này đã gây cho chúng tôi một sự bất bình, và những phản
ứng như nhau. Tình trạng thối nát dễ dàng nhận thấy ở Sài Gòn đã
lây sang họ , mà rất có thể là ngược lại không chừng. Tậ p thể người
Pháp tách rời hẳn người Việ t Nam; ngay khi vừa tới, người ta đã cảm
thấy tinh thần đẳng cấp ấy rồi.
Một ví dụ trong rất nhiều thứ buôn gian bán lận : vấn đề đồng
"phơ-răng" và đồng "pi-a-trơ". Chúng tôi hoàn toàn bị bọn đổi tiền bắt
sao phải chịu vậy, họ chính là đồng bào của chúng tôi và họ đã nẫng
nhẹ bớt một phần số tiền mà chúng tôi có được.

Chán đời đi lang thang !
0
NHỮNG ĐÁM TANG NUNG NẤ U CĂM THÙ
Cuộc đấu tranh củ a sinh viên, học sinh chống kẻ thù tàn bạo
không tránh khỏi sự hy sinh xương máu. Mỗi lần như vậy, căm thù
lại dâng cao, không những trong học sinh, sinh viên mà trong tất cả
các tầng lớ p nhân dân thành phố. Những đám tang có hàng trăm
ngàn ngườ i dự thể hiện lòng căm thù đó.
Cuối tháng 11-1964, những cuộ c bãi học chiếm trường nổ ra
trong sự giằng co với cảnh sá t. Chống trả cảnh sát bằng mọi phương
tiện sẵn có, những cánh tay học trò lăn cả những ống cống để bịt
đường ở Viện Hóa đạo. Một chiếc xe Jeep cảnh sát bị đốt bất ngờ. Bọn
lính dù xuất hiện và xả súng. Khoảng 20 giờ 30, em Lê Văn Ngọc 16
tuổi, học sinh trường Hồng Lạc đứng ở hàng đầu bị chúng bắn trúng
tim. Cảnh sát vội vã nhào tới cướp xác nhưng sinh viên, học sinh
giằng lại được.
Sáng hôm sau, chính quyền Hương thiết quân luật khẩn cấp.
Thành phố số ng trong không khí sục sôi và đám tang Lê Văn Ngọc sẽ
là đám tang chính trị khổng lồ như đám tang trò Ơn ngày nào.
Các phe phái chính trị Sài Gòn rất muốn giành giữ xác em
Ngọc, tổ chức đám tang này để gây uy tín chính trị của mình. Ta kịp
thời thuyết phục gia đình Ngọc, kiên quyết giữ quyền tổ chức đám
tang. Ban tang lễ bao gồm nhiều thành phần. Trong ba ngày sau đó,
đồng bào nườm nượp đến Viện Hóa đạo đặc hoa và cắm những nén
nhang thương tiếc em, căm thù giặc.
Sáu giờ sáng ngày 29-11, đám tang được cử hành. Các khẩu
hiệu phát động căm thù đượ c chuẩn bị khá tốt, tránh quá khích,
nhưng cũng không ngăn được nhữntg lời phẫn uất của quần chúng.

Đoàn xe tang đi trong vó ngựa chậm rãi, trầm hùng. Bao quanh
quan tài là đội bảo vệ của học sinh Cao Thắng. Vòng ngoài có nhiều
lực lượng khác hộ tống. Ta dự định kéo thẳng ra trung tâm. Bị công
an ngăn cản, đồng bào vẫnợ tìm mọi cách đến đưa đám. Lộ trình đám
tang là : Trầ n Quốc Toản - Hiền Vương - Cầu Bông - Bà Chiểu. Đoàn
đầu đến Cầu Bông mà đoạn cuối còn ở Viện Hóa đạo.
Địch quyết tâm phá bằng được, xua lính cắt đoàn đưa tang làm
nhiều bộ phận, xe chở hoa cũng bị chặ n lại, xúc đi. Anh em giải thích
cho binh lính và nêu câu hỏi: "Vì sao đến người chết cũng bị đàn áp?",
làm cho nhiều lính chùn bước. Địch phải điều Tiểu đoàn 7 dù từ lự c
lượng tổng trừ bị chiến lược, có cả xe tăng "tham chiến". Xô xá t xảy ra
dữ dội, cuối cùng chúng cũng cướp quan tài Lê Văn Ngọc. Điều đó bộc
trần bộ mặt dân chủ giả hiệu của chúng.
Tháng 8-1971, bị cưỡng bách đi học quân sự học đường, sinh
viên Đại học Vạ n Hạnh tổ chức đấu tranh ngay tại quân trường, từ
biểu tình chuyển sang đốt quân trang, quân dụng, phá rào trở về
nhà. Trong không khí đấu tranh đó, ngày 1-9-1971 sinh viên Phạm
Hạnh bị bệnh não chết sau những đợ t bị cưỡ ng bức huấn luyện quân
sự. Đám tang Phạm Hạnh trở thành một cuộc đấ u tranh biểu hiện sự
căm phẫ n cao độ của sinh viên và quần chúng. Hàng chục ngàn
người, hầu hết là đồng bào lao động các quận nội thành tự nguyện
đứng vào hàng ngũ những người đưa tang nối dài không dứt. Nhữồng
vành khăn trắ ng căm hờn, trùng trùng đi bên nhau, bảo vệ lấy nhau
trong vòng vây kẻ thù, trải dài từ cầ u Trương Minh Giảng đến ngã
Bảy. Những biểu ngữ trắng chữ đỏ "Đả đảo quân sự học đường", "Tiếc
thương Phạm Hạnh - nạn nhân quân sự học đường", "'Mỹ cút về
nước", "US go home" xuất hiện theo đám tang. Bọn cảnh sát lao vào
bứt xé đoàn đưa tang, bắt đi 200 sinh viên, nhưng chúng không ngăn
chặn được cuộc tuần hành.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐỒNG BÀO THÀNH PHỐ SÀI GÒN TỔ CHỨC
LỄ TRUY ĐIỆU BÁC HỒ
Giữa những ngày tháng chiế n tranh ác liệt, đêm mồng 3-9-1969
qua Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đồng bào thành phố đau đớn
trước tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời. Với lòng tiếc thương vô
hạn, bất chấp mọi sự theo dõi, bắt bớ của địch, ngay trong lòng Sài
Gòn, hang ổ của kẻ thù, nhiều đồng bào thành phố đã tổ chức lễ truy
điệu Bác bằng nhiều hình thứ c công khai hoặc bí mật. Có thể nêu ở
đây một số hoạt động tiêu biểu :
Công nhân xe buýt Sà i Gòn đã dành cả ngày và đêm 9 tháng 9
làm lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộ c
đoàn văn nghệ học sinh sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệm Bá c
trong tiếng há t trang nghiêm của bài "Hồn tử sĩ". Tại nhà lao Chí
Hòa, 600 anh chị em tù chính trị để tang Bác 7 ngày. Suốt tuần lễ
tang, sáng nào anh chị em cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm
Người. Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng Liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác. Tại vùng Hòa Hưng, 200 Phậ t tử, nhân sĩ trí
thức, học sinh sinh viên tập trung về chùa Khánh Hưng. Đúng 2 giờ
chiề u ngày 9-9-1969, chỉ mấ y tiếng đồng hồ sau lễ truy điệu Bác Hồ ở
quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu ở đây bắt đầu. Đồng bào
ở hẻm 528/5/21A đường Phan Thanh Giản quận 10 làm lễ truy điệu
Bác và nghe đọ c tiểu sử Bác dướ i hình thức mộ t đám giỗ. Ở quận 8,
Chi bộ phường Hưng Phú, sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập
trung đồng bào tại xóm Đầm để truy điệu Bác. Nhiều gia đình trong
thành phố đốt nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác đón nghe các buổi
phát thanh về Bác trên đài Hà Nội, Giải Phóng. Quân dân ngoại
thành làm lễ truy điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo, hầm bí
mật.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TPHCM)

Chán đời đi lang thang !
0
MƯỜI HAI NGÀY ĐÊM LÀM CHỦ TOÀ ĐẠI SỨ
LON NON
Tháng 4-1970, bọn cầm quyền Lon Non, tay sai Mỹ ở
Kampuchia, gây ra một tội ác tày trời: thảm sát hàng loạt Việt kiều
từ lâu sinh sống bên Kampuchia, thả xác trôi đầy sông, lay động tình
máu mủ ruột rà của mọi người dân Việt. Sự kiện đó lại diễn ra trong
lúc Mỹ - Thiệu đàn áp thẳng tay phong trào sinh viên, học sinh, báo
hiệu bão táp chính trị sẽ nổi lên.
Ngày 18-4-1970, Đại hội sinh viên, học sinh kỳ III kết thúc bằng
một cuộc xuống đường tiến thẳng ra Hạ nghị viện với các khẩu hiệu :
"Đả đảo Lon Non, chặt đầu Lon Non để trả thù cho đồng bào chúng
ta!". Đêm hôm đó, sinh viên Đại học xá Minh Mạng tổ chức đêm "uất
hận" làm lễ truy điệu Việt kiều, đốt hình nộm Lon Non, Sêrik Matak,
Cheng Heng rồi kéo đi tuần hành ở Ngã Sáu. Bọn cảnh sát dã chiến
bắn phi tiễn, đạn cay vào đoàn biểu tình, lập tức bị sinh viên, họ c
sinh chống trả bằng gạch đá, gậy gộc và nhữ ng tiếng thét phẫn nộ.
Chú ng phải rút lui, bỏ lại những chiếc mặt nạ đầu heo, dùi cui, khiên
mây...
Đêm 24-4-1970, "một đêm không ngủ" được tổ chức tại Đại học
Khoa học và cũng là nơi xuất phát của một chiến dịch mới: "chống tàn
sát Việt kiều ở Campuchia". Mặc dù bọn công an chìm cúp điện để
phá nhưng đống lửa đã được đốt lên giữa sân, các micro pin vẫn hoạt
động. Bàn thờ Tổ quốc rất uy nghi trên có các dòng chữ : "Dân tộc
Việt Nam bất khuất", "Đồng bào ơi! Máu chảy ruột mềm". Cả rừng
người vây quanh đài kỷ niệm và bàn thờ gồm thanh niên sinh viên
học sinh, công nhân và các tầng lớ p đồng bào khác đã đến dự với tấm
lòng nồng nàn yêu quê hương, dân tộc. Những khăn tang được phân
phát. Những ngọn đuốc nhỏ làm bằng lon sữa bò được tỏa ra thắp
sáng cuộc đấu tranh.

Đúng 7 giờ tố i, sau lời khai mạc của ban tổ chức, đốt nến,
nhang, mặc niệm là đến phần phát biểu của đại diện sinh viên, họ c
sinh, các dân biểu tiến bộ và các tầng lớp nhân dân cùng với những
tiếng hô "đả đảo Lon Non". Hình nộm bọn Lon Non bị đốt trong tiếng
hát hào hùng "Dậy mà đi! Dậy mà đi! Hỡi đồng bào ơi!".
Một học sinh Pétrus Ký phát biểu: "Đến bây giờ sự phẫn nộ
không thể chỉ bằng tiếng thét. Chúng ta phải hành động! Phải chiếm
Tòa đại sứ Kampuchia để đòi hỏi chính quyền Sài Gòn phải can thiệp
yêu cầu Lon Non chấm dứt tàn sát đồng bào chú ng ta". Tiếng vỗ tay
vang dội. Tổng hội sinh viên phát động cuộc xuống đường tiến chiếm
Tòa đại sứ Lon Non. Mặc cho Đoàn Kỉnh - sinh viên khoa học nằm
trong Ủy ban đấu tranh chống đàn áp học sinh, sinh viên nhưng
chống lại phong trào - tìm cách ngăn cản và lên tuyên bố không chị
trách nhiệm về cuộc xuống đường này, đoàn biểu tình vẫn tràn ra Đại
lộ Cộng Hòa tiến tới Tòa đại sứ Lon Non.
Anh Nguyễn Hoàng Trúc cùng một nhóm xung kích đi xe gắn
máy, túc trực sẵn trước cổng Đại học Sư phạm, được lệnh chạy trướ c
đến Tò a đại sứ Lon Non để hỗ trợ đoàn biểu tình, mang theo đèn pin,
kìm cắt dây kẽm gai, cưa sắt, bao ny lông, chanh để đối phó với hơi
cay.
Một cuộc hành quân nước rút của đoàn chiến sĩ biểu tình bằng
mọi phương tiện sẵn có : xe gắn máy, xe đạp, chạy bộ... Sinh viên
chạy xe hon đa cầm micro pin hướng dẫn đoàn và kêu gọi đồng bào
tham gia xuống đường. Nhiều thanh niên lao động hai bên đường,
sau khi hiểu đượ c "nội vụ", đã gia nhậ p đoàn quên.
Cảnh sát dã chiến ngăn chặn đoàn từ ngã tư Trần Quý Cáp - Lê
Văn Duyệt bằng hàng rào kẽm gai và lựu đạn cay, nhưng anh em vẫn
xông tới. Các xe gắn máy rú ga mở hết tốc lực phóng ngay vào cảnh
sát dã chiến làm chúng hoảng hồn dãn ra. Thế là vòng vây thứ nhất
bị phá.
Tuyến cảnh sát dã chiến thứ hai đã chờ sẵn đoàn ở gần cổng
Tòa đại sứ bắn phi tiễn từ xa và ném lựu đạn cay dồn dập. Đồng bào
các nơi và bà con bán quán hai bên đường đã tiếp tế cho đoàn những
bọc ny lông, nướ c đá, chanh và cả những chai bia đã đập gẫy cổ dùng
để chống đàn áp. Lực lượng xung kích học sinh, sinh viên đi xe gắn

máy vừa lạng xe, vừa giơ chân đạp mạnh là m té nhào mấy tên cảnh
sát dã chiến, dùng võ thuậ t đánh xáp lá cà với chúng. Thế là vòng vây
thứ hai cũng bị chọc thủng.
Anh em xung kích cùng đoàn biểu tình đã phá kẽm gai và phá
tung hai cánh cửa lớn của Tòa đại sứ, khóa bằng lòi tói sắt, ùa vào
chiế m trận địa và phản công trở lại cả nh sát dã chiến.
Lúc đó là 20 giờ 30 phút đêm 24-4-1970, chỉ khoảng một tiếng
đồng hồ sau khi xuất phát, 300 học sinh, sinh viên Sài Gòn đã hoàn
toà n làm chủ Tòa đại sứ Lon Non. Lực lượng học sinh, sinh viên đã cố
thủ ở Tòa đại sứ này 12 ngày trong vòng vây và sự tiến công liên tụ c
của bọn cảnh sát dã chiến. Đó là một điề u khó tưởng tượng nổi ở một
"thủ đô" mà lính tráng được "trang bị đến răng!".
Sinh viên, học sinh tuyên bố chiếm Tòa đại sứ này làm trụ sở
Tổng hội học sinh, sinh viên Sài Gòn cho đến khi được cấp trụ sở mới
và kẻ hẳn một hàng chữ đỏ to tướng dài mấy chục mét phía trước Tòa
đại sứ : Tổng hội sinh viên học sinh Sài Gòn.
Tổ chức cố thủ trên sân thượng được bố trí khá chu đáo bằng
mọi thứ vũ khí sẵn có và cướp được củ a cảnh sát dã chiến. Anh chị
em còn chế được hàng trăm bom xăng bằng các nhiên, nguyên liệu dễ
kiếm như : mốp, crếp cao su nhồi vào những chai cô ca, xá xị đầy
xăng..., một loại vũ khí đáng sợ đối với bọn cảnh sát dã chiến. Cuộ c
chiế n đấu diễn ra liên tục, khi thì để tự vệ, khi thì chủ động tiến
công, kể cả dùng bom xăng đốt cháy xe jeep của cảnh sát dã chiến.
Tuổi trẻ học đường đã chứng tỏ khả năng tổ chức và sức sáng tạo của
mình. Một hệ thống phóng thanh được thiết lập với những chiếc loa
có công suất lớn đặt trên bố n góc sân thượng phá t đi hằng ngày
những bài tố cáo chính quyền, kêu gọ i đồng bào tham gia đấu tranh,
hát những bài ca yêu nước v.v... Anh chị em còn đặt bàn thờ Việt kiều
bị tàn sát và làm lễ cầu siêu với biểu ngữ : "Lon Non vay nợ máu,
phải trả bằng máu". Cũng tại đây, trong những ngày chiếm giữ, học
sinh, sinh viên đã tổ chức những cuộc họp báo, tiếp nhiều phái đoàn
đến thăm, có cả những dân biểu đối lập với những lờ i hứa "mỗi ngày
sẽ cung cấp vài cây nước đá để mấy em uống chơi cho má t".
Bên ngoài, cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên diễn ra liên
tục, hội thảo, biểu tình, kéo đến bổ sung lực lượng cho đoàn quân cố

thủ... cùng với sự hỗ trợ của phong trào các giới đồng bà o đã gây sứ c
ép lớn đối với chính quyền.
Bên trong, do tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch hành động, chỉ huy
thống nhất nên đã giữ vững được trận địa. Gian khổ như thế nhưng
sinh hoạt văn nghệ cũng sôi nổi phong phú. Có nhiều cuộc lửa trại
thật vui vẻ. Quanh đống lửa đốt bằng vỏ xe hơi cũ, đã trình diễn vở
hoạt cảnh - Xử án Lon Non, Sêrik Matak, Cheng Heng. Có đủ các vai
: Chánh án, biện lý, luật sư, bị cáo... với những câu đối thoại khôi hài,
cười ngặt nghẽo. Kết cuộc tòa tuyên án bọn khát máu Lon Non phải
làm trâu cày ruộng để đền tội giết Việt kiều.
Đồng bà o các nơi đã gửi đến giúp hàng tấn gạo, thực phẩm.
Riêng sữa hộp có thể sử dụng cả tháng vẫn không hết, thuốc men thì
có hàng mấy tủ.
Việc vậ n chuyển hàng tiếp tế từ ngoài vào được tổ chức chu đáo,
từ một lỗ khá lớn được đục thủng sau tòa nhà với sự giúp đỡ ngầm
của đồng bào xung quanh. Nhiều bà má và chị em bên ngoài thay
phiên nhau vào nấu cơm nước, vá quần áo cho học sinh, sinh viên.
Một số thiếu nhi đã đến tình nguyện làm liên lạc, trinh sát quanh
Tòa đại sứ.
Nhiều bài thơ, bản nhạc hay đã được sáng tác ngay trong chiến
dịch này như bài Bà mẹ Bàn Cờ (nhạc củ a Trần Long Âớn, phổ thơ
của Nguyễn Kim Ngân) :
Có người mẹ Bàn Cờ Tay gầy, tóc bạc phơ Chuyền cơm qua vách
cấm Khi ngoài trời đổ mưa...
Sau khi phái đoàn cảnh sát quốc gia đến gặp học sinh, sinh viên
chiế m giữ, đề nghị đổi Tòa đại sứ lấy căn nhà 207 đại lộ Hồng Bàng
để làm trụ sở Tổng hội, nhưng không được chấp thuận, chúng đã
dùng mấy trăm cảnh sát dã chiến biệt đoàn 222 để tiến công lấy lại.
Mặc dù được mật bá o trước, trừ một số phải chuyển ra ngoài
làm nhiệm vụ khác, tất cả chiến sĩ nam nữ đã sẵn sàng chố ng trả.
Địch nổ súng lúc 2 giờ 30 phút sáng 5-5-1970. Cuộc chiến đấu ngoan
cường đã diễ n ra, trừ một số thoát ra được phía sau và trốn vào nhà
đồng bào, số còn lại gồm 72 nam nữ học sinh, sinh viên bị bắt và đánh
đập tàn nhẫn.

Có thể nói, vụ chiếm giữ Tòa đại sứ Lon Non là một đỉnh cao
đầy sáng tạo của phong trào học sinh, sinh viên chống Mỹ - Thiệu
trong thời gian đó. Trong số ngườ i trực tiếp chỉ huy chiến dịch này, có
: Nguyễn Hoàng Trúc, Nguyễn Văn Thắng, phụ trách Tiểu đoàn sinh
viên, Lê Văn Nuôi và Trương Anh Dũng, phụ trách Tiể u đoàn học
sinh và người chỉ huy hậu cần xuất sắc : Nguyễn Thị Yến.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC ĐẤU TRANH THUẾ LƯƠNG BỔNG
CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
Cuộc đấu tranh chống "thuế lương bổng" của công nhân và lao
động thành phố có qui mô khá lớn và kéo dài. "Thuế lương bổng"
đánh vào đời sống vốn đã quá khó khăn cho người lao động, chỉ 1
ngày sau khi ban hành, một Ủy ban vận động yêu sách giảm "thuế
lương bổng" đã được thành lập.
Mở đầu đợt đấu tranh nà y là cuộc đình công ngày 24 tháng 1
năm 1971 của gần 8 vạn công nhân và tư chức. Ngày hôm sau số
người tham gia đấu tranh tới gần 10 vạn.
Ngày 29 tháng 4 năm 1971, hơn 4 vạn công nhân thuộc 26
nghiệp đoàn, nắm những cơ sở chủ yếu của Sài Gòn tiếp tục bãi công.
Các bến cảng, các ngân hàng trong thành phố hoà n toàn ngưng hoạt
động. Các hãng dầu Esso, Caltex bị tê liệt đến 70%. Hãng hàng không
bị tê liệt 50%. Mỹ ngụy bị thiệt hại trên 10 tỷ đồng.
Địch vẫn ngoan cố, dây dưa, mãi đến ngày 14 tháng 1 năm 1972
chính quyền ngụy mới buộc phải tuyên bố hủy bỏ chính sách thuế
lương bổng và hứa sẽ bồ i thường một tỷ rưỡi đồng cho công nhân lao
động, tư chức đã bị thiệt hại do thứ thuế này gây ra.
Song song với những cuộc đấu tranh chống thuế lương bổng,
trong từng nhà máy, xí nghiệp nổ ra những cuộc đấu tranh qui mô
nhỏ đòi cải thiện đời sống, hầu hết thu được thắng lợi. Tiêu biểu như
cuộc đấu tranh của hãng Pin Con Ó (Vidopin) - Một hãng sản xuất
lớn về pin đèn ở miền Nam độc quyền cung cấp pin cho quân đội
ngụy. Lúc đầu cuộc đấu tranh của công nhân chủ yếu là đòi chủ giải
quyết một số quyền lợi vật chất. Nhưng chủ hãng dự a vào một số tên
tai to mặt lớn trong chính quyền ngụy, bác bỏ yêu sách của công nhân
và tuyên bố sa thải hàng loạt người tham gia đấu tranh. Song công
nhân kiên quyết giữ vững yêu sách của mình. Hãng Pin Con Ó hoàn

toà n bị tê liệt. Việc cung cấp pin cho quân đội Sài Gòn bị đình trệ.
Trước tình thế đó, chẳ ng những địch không nhượng bộ, trái lại đưa
cảnh sát đến can thiệp, đánh đập dã man nhiề u người và bắt đi 30
cán bộ nghiệp đoàn. Công nhân không chùn bước, tiếp tục đấu tranh.
Tiếng vang bắt đầu vượt khỏi hãng Vidopin. Ngày 23 tháng 10 năm
1971, các nghiệp đoàn thuộ c Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã
quyết định đình công 12 giờ để phản đối cuộc đàn áp đẫm máu tại
hãng Pin Con Ó. Các báo chí tiến bộ , các tổ chức quần chúng tiến bộ,
các tầng lớp công nhân lao động và một số linh mục, các liên đoàn
công nhân Nha Trang, Cam Ranh và thậm chí cả một số nghị viện và
dân biểu ngụy quyền ra tuyên bố ủng hộ công nhân hãng Pin Con Ó,
lên án chủ hãng và phê phán hoạt động dã man của chính quyền Sài
Gòn. Tại quốc hội ngụ y, một số dân biểu tuyên bố ngừng họp tháng,
không dự lễ đăng quang tổng thống và phó tổng thống Thiệu Kỳ.
Cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân ở một số xí nghiệp
đã trở thành cuộc đụng độ gay gắt, lâu dài giữa một bên đòi tự do dân
chủ, đòi dân sinh, dân quyền với một bên là lực lượng ngụy quyền
phản tự do dân chủ. Tình hình ấy buộc địch phải nhượng bộ : chịu
tăng lương 30% cho công nhân, nhận lại số công nhân bị sa thả i và
thả hết nhữ ng ngườ i bị bắt.
Phong trào công nhân lao động thành phố tiếp tục giữ vững
sang đầu năm 1972, trong 3 tháng đầu năm đã có tới 150 cuộc đấu
tranh lớn nhỏ.
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến 45 - 75)

Chán đời đi lang thang !
0
TỪ HỘI THẢO ĐẾN CUỘC ĐẤU TRANH
CHỐNG MỸ 1/5/1966
Cuộc biểu tình ngà y 1-5-1966 của công nhân, lao động Sài Gòn
là điểm cao của cả một đợt vận động đấu tranh hàng thá ng trước đó.
Ngay từ cuối tháng 3 đến suốt tháng 4-1966, nhiều cuộc hội thảo đã
được tổ chức ở cá c xí nghiệp, ngành nghề, xóm lao động, chợ búa,
trường học, trong các tổ chức nghiệp đoàn, v.v... Nội dung hộ i thảo
xoay quanh việc tố cáo tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, phản
đối việc dùng chất độ c hóa học, chà xác nông thôn, đòi Mỹ rút quân,
vận động trốn lính và bàn bạc các yêu sách đấ u tranh. Rõ ràng là nội
dung hội thảo không chỉ là những vấn đề dân sinh, dân chủ mà còn
mang màu sắc chính trị rõ rệt.
Có ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức tại trụ sở Tổng Liên đoàn
lao động, mỗi cuộc có hàng ngàn người đại diện các nghiệp đoàn nhà
máy, nhà xưởng, chợ, xóm. Từ những cuộc hội thảo hợp pháp đó, các
đại biểu được tỏa về các cơ sở tổ chức những cuộc hội thảo nhỏ, phát
động tư tưởng của quần chúng một cách sâu rộng và chuẩn bị tư thế
đấu tranh.
Chính quyền Sài Gòn phản ứng quyết liệt, ra lệnh cấm biểu
tình, nhưng trước khí thế đấu tranh của công nhân, lao động, họ
nhượng bộ với điều kiện không được bạo động.
Cuộc biểu tình ngày 1-5-1966 diễn ra trong vòng vây vũ trang
của cảnh sát. Có 3 tổ chứ c nghiệp đoàn chỉ đạo riêng cuộc biểu tình
của mình. Tổng Liên đoàn lao động và Lực lượng thống nhất hành
động lao động Việt Nam huy động mỗi đoàn khoảng 1 - 2 nghìn người.
Đoàn của Tổng liên đoàn lao động đông nhất, lúc xuấ t phát có khoảng
2 vạn người, được đồng bào hai bên đường nhập vào, cuối cù ng được 4
vạn người. Đoàn này tập trung trước tòa đại sứ Mỹ nêu khẩu hiệu đòi
Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút về nước, rồi đưa hà ng tập yêu sách cho

Cảnh sát trưởng Nguyễn Ngọc Loan, diễu hành về trụ sở Tổng Liên
đoàn mới giải tán.
Tuy sau đó, chính quyền Sài Gòn bắt ông Lê Văn Thốt, chủ tịch
Tổng Liên đoàn lao động cùng nhiều ủy viên chấp hành và thẳng tay
khủng bố nhiều nghiệp đoàn cơ sở , nhưng phong trào vẫn tiến bướ c
theo những hình thức khác. Đợt đấu tranh này đánh dấ u bước trưởng
thành mới và nâng cao uy thế của phong trào công nhân, lao động
thành phố Sài Gòn.
(Theo sách "Chung một bóng cờ")

Chán đời đi lang thang !
0
MỘT SỐ CUỘC ĐẤU TRANH TRONG CÁC CƠ SỞ
HẬU CHIẾN CỦA MỸ
Tiếp theo cuộc đấu tranh của gần ba vạn công nhân làm việc
trong các hãng nhà binh Pháp nổ ra ngày 7-12-1954 kéo dài gần một
tháng, ngày 16-11-1956, 500 công nhân hãng dầu SVOC của Mỹ phối
hợp với công nhân khuân vá c Sài Gòn đã tổ chức bãi công đòi tăng
lương. Quân cảng Sà i Gòn bị tê liệt ba ngày; năm chiếc tàu bốc dỡ
hàng "viện trợ" Mỹ phải ngừng lại và nhiều tàu của công ty tư bản
Nhật, Mỹ không dám cập bến.
Ngày 28-2-1958, công nhân hãng dầu Caltex của Mỹ bãi công 10
ngày chống sa thải và tăng lương. Hàng ngàn công nhân các hãng
khác như SVOC, Shell, công nhân điện nước và nhiều hãng xưởng
khác ủng hộ công nhân Caltex bằng nhiều hình thức.
Trong những ngày đó, 30 cây xăng ở Sài Gòn hết dầu, ảnh
hưởng lớn đến việc cung cấp dầu cho các đơn vị cơ giới, không quân
của địch.
Cuộc đình công chiếm xưởng của 400 công nhân hãng dầu
Stanvac trực tiếp chống chủ Mỹ bạc đãi công nhân và đòi tăng lương
đã nổ ra ngày 4-9-1961, kéo dài ba tháng mới thu được thắng lợi.
Cuộc đấu tranh nà y đã đượ c sự ủng hộ của trên một trăm nghiệp
đoàn tại Sài Gòn, của công nhân cao su, cả nông dân và một số giới
kinh doanh. Hơn 100 trạm bán xăng dầu bị tê liệt, làm ngừng trệ
từng lúc việc cung cấp xăng dầu cho máy bay Mỹ. Chủ Mỹ bị thiệt hại
khoảng 3 - 5 triệu đồng tiền Sài Gò n mỗi ngày.
Trong năm 1964 còn có cuộc bãi công của hãng Vô tuyến viễn
thông làm tê liệt việc liên lạc điện thoại giữa Sài Gòn và các tỉnh,
cũng như giữa Sài Gòn với nước ngoài trong 20 giờ.

Cuộc đình công của công nhân giao thông Gia Định kiên quyết
không đi sửa Đường số 7 đã làm cản trở kế hoạch hành quân càn quét
của địch. Công nhân xi măng Hà Tiên và nhiều xưởng gạch ngói bãi
công làm ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng đồn bót, công sự của
địch.
Đầu tháng 3-1964, 7000 công nhân bốc vác của hãng Xtích, Xôvi-
cô-tơ-ra bãi công làm ngưng trệ mọi công việc của bến tàu Sài Gòn
trong năm ngày.
Cuộc đình công kỷ niệm 10 năm ngày ký hiệ p định Genève (20-
7-1964) củ a hàng ngàn công nhân khuân vác ở cảng Sài Gòn làm tê
liệt bến cảng; chiến tàu Mỹ mang tên tổng thống Mắc Kin-li chở
nhiều xe quân sự cho Mỹ đã buộc phả i rời bến và 10 tàu khác phải
nằm chờ tại bến.
Ngày 21-6-1966 đã diễn ra cuộc bãi công của công nhân trên 10
công trường xây dựng thuộc hãng thầu RMK - BRJ, lúc đầu là 7.000
người và đến ngày 24-6 đã lên đến 15.000 người. Nội dung đấu tranh
là đòi tăng lương, chống sa thải, chống kỳ thị chủng tộc, trực tiếp
đánh vào thái độ hống hách, khinh rẻ người Việt Nam của bọn chủ
thầu Mỹ. Cuộc đấu tranh này được công nhân hãng dầu Caltex ủng
hộ và hàng ngàn công nhân Philippin, Nam Triều Tiên (cùng hãng
RMK - BRJ) hưởng ứng.
Những công trình xây dựng, công trình quân sự thuộc loại ưu
tiên nhất của Mỹ đã bị tê tiệt như:
Đường băng mớ i cho máy bay phản lực và máy bay vận tải hạng
nặng dài 3.000 mét ở sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa. Một sở thí
nghiệm phim ảnh trinh sát. Một trung tâm tình báo và một trung
tâm hành quân chiến thuật đang xây dựng ở Tân Sơn Nhất. Một công
trình khai thác trên đường Sài Gòn - Biên Hòa. Một kho lớn cung cấp
nguyên liệu và vật liệu xây dựng của công ty RMK - BRJ (Kho
Island). Một tòa nhà mới cho sứ quán Mỹ . Một bệnh viện dã chiến
Mỹ. Bến số 1 ở cảng mới Sài Gòn là nơi lục quân Mỹ đóng Bộ chỉ huy
hậu cần. Một cơ sở chính của công ty RMK - BRJ.
Cuộc bãi công đã gây trở ngại lớn đến kế hoạch quân sự và hậu
cần Mỹ và có nguy cơ lan rộng nên bản thân đại sứ Mỹ Cabot Lodge

và tướng Wesmoreland phả i can thiệp với bọn chủ thầu RMK - BRJ
giải quyết các yêu sách của công nhân.
Tiếp theo, ngày 26-12-1966, một cuộc bãi công toàn diện của
5.000 công nhân cảng chống Mỹ sa thải 600 công nhân, đã làm tê liệt
cảng mới, ảnh hưởng nặng đến hoạt động của nhiều nhà máy và hãng
xưởng. Gầ n 30 chiếc tàu Mỹ cặp bến không dỡ hàng lên được. Quân
Mỹ phải điều gần một nghìn lính đến khuân vác bốc dỡ nhưng chỉ đạt
một nửa yêu cầu cần thiết hằng ngày.
Ngày 27-12, quyền đại sứ Mỹ Porter ra lệnh cho Sư đoàn bộ
binh Mỹ số 9 tiến vào chiếm bến cảng Sài Gòn. Ngay tối hôm đó, Liên
hiệp nghiệ p đoà n Sài Gòn - Gia Định họp bàn phát động các nghiệp
đoàn bãi công ủn ghộ công nhân cảng. Công nhân cả ng Đà Nẵng,
Cam Ranh, Vũng Tàu... chuẩn bị đấu tranh hưởng ứng. Công nhân
các ngành điện, nước, sơn, dược phẩm, sản xuất vỏ ruột xe máy, công
nhân xe buýt Sài Gòn chuẩn bị bãi công, quyên tiền giúp đỡ công
nhân cảng. Công nhân các cảng ở miền Bắc gửi điện ủng hộ.
Trước sức mạnh đoàn kết của giai cấp công nhân, trưa 30-12-
1966, giám đốc nhân sự của lục quân Mỹ phải xuống nước, đến trụ sở
nghiệp đoàn để thương lượng vớ i đại biểu công nhân. Chúng hứa thu
nhận lại 300 công nhân và số còn lại sẽ giải quyết từng bước nếu chưa
có công ăn việc làm.
Qua những năm sau đó, còn có nhiều cuộc bãi công khác của
công nhân là m trong các cơ quan kinh tế, quân sự quan trọng của Mỹ
như: bãi công chiếm xưởng Eép-phen lãnh thầu cho nhà binh Mỹ hồi
đầu 1967, bãi công của 2.700 công nhân tại kho hậu cần của Mỹ ở
Long Bình và ở cơ quan "viện trợ" Mỹ, công nhân hã ng dầu ESSO
Nhà Bè, hãng sửa chữa cầu cống Paer, công nhân viên chức Việt Nam
tạ i chi nhánh hàng không Pan American Tân Sơn Nhất và Sài Gòn
v.v...
(Theo sách "Chung một bóng cờ")

Chán đời đi lang thang !
0
DIỄN TIẾN CUỘC TỔNG CÔNG KÍCHVÀ NỔI DẬY
TẾT MẬU THÂN 1968 Ở SÀI GÒN
Chấp hành Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng ngày
25.10.1967, Trung ương cục miền Nam ra Nghị quyết về tiến hành
Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa lấy miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn
- Gia Định làm trọng điểm, hướng tiến công chủ yếu là Sài Gòn. Nghị
quyết này còn được gọi là Nghị quyế t Quang Trung. Chiế n dịch Xuân
Mậu Thân ở Sài Gòn - Gia Định kéo dài gần 5 tháng gồm 2 đợt tiến
công: đợt 1 từ 31.1.1968 đến 28.2.1968, đợt 2 từ 5.5.1968 đến
18.6.1968.
Trong chiến dịch này, riêng ở khu vực nội thành, ta đã sử dụng
từ 15 đến 22 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị đặc công, biệt động và
lực lượng vũ trang địa phương gồm quận huyện, ban ngành, đoàn
thể, kết hợp với các lực lượng chính trị và binh vận.
Vào đợt 1, giờ G, ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ
đến 2 giờ sáng mùng 2 Tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ
huy, các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G.
Một việc đáng tiếc là do đổi lịch nên ở miền Bắc, Khu 5 và Tây
Nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ, B2 (tức miền Đông Nam Bộ và
Sài Gòn - Gia Định) nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới.
Kế hoạch củ a ta là: biệt động bất ngờ đánh chiếm mục tiêu và
giữ trong khoảng 1 giờ chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng
thanh niên xung kích hoặc lực lượng địch binh biến đến hỗ trợ tăng
cường và giữ mục tiêu luôn. Theo hợp đồng, "giờ G" được báo hiệu
bằng những loạt pháo ĐKB bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và bộ Chỉ
huy MACV, vị trí của tướng Westmoreland, nhưng đã không thực
hiện được. Chờ mãi không thấy, 2 giờ sáng ngày 31.1.1968, bộ phận

phối thuộ c cho tiểu đoàn 268 phân khu 2 ở phía tây Tân Sơn Nhất
bắn 8 quả 82 ly vào sân bay. Cả thành phố coi đó là hiệu lệnh tấn
công.
Đội biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu dinh Độc Lập,
Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, sân bay Tân
Sơn Nhất. Riêng mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, Bộ
tư lệnh hải quân không thực hiện được. Lực lượng ta chiếm một nửa
sân bay Tân Sơn Nhấ t. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh tiền phương Nam
phụ trách cùng với các lực lượng bán vũ trang gồm cán bộ, công nhân
viên, các cơ quan khu ủy, trung ương cục lọt sâu vào nội thành, kết
hợp với lực lượng quần chúng, làm chủ một vùng rộng đến tận khu
Ngã Sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lượ ng chính qui
không vào được thành phố nên cuối cù ng phải rút lui.
Ý nghĩa lớn lao nhất của đợt 1 Tết Mậu Thân chính là đòn đánh
"trúng sọ não" và sự bất ngờ về mọi mặt đối với địch. Việc quân dân
ta đồng loạt tấn công vào hậu phương, sào huyệt của địch, "đưa chiến
tranh vào đô thị" chính là điều choáng váng nhấ t đối với đế quốc Mỹ
trong quá trình xâm lược Đông Dương. Ngày 31.1.1968 tổng thống
Mỹ Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, chấp
nhận chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, đồng ý
thương lượng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu từ
ngày 3.5.1968 tại thủ đô Paris.
Đợ t 2 được bắt đầu lúc 0 giờ 30 phút ngày 5.5.1968, các loạt hỏa
tiễn M.12, ĐKB bắn vào các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng
tham mưu, Sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tân cảng Sài Gòn, Bộ tư lệnh
Hải quân, Tổng nha cảnh sát. Trong đợt này trung đoàn 1, sư đoàn 9,
tiểu đoàn 6 Bình Tân, trung đoàn bộ binh 2 phân khu 2, các lực lượng
vũ trang các ngành, giới, các quận đã mở diện tấn công rộng rãi và
mạnh mẽ ở các khu phố quan trọng trong khắp nội thành diệt nhiều
cảnh sát, mật vụ ác ôn. Tại cửa ngõ tây nam quân ta thọc sâu vào tận
đường Tổng đốc Phương. So với đợt 1, đợt 2 quân chủ lực tiến sâu
hơn: chiếm ngã tư Hàng Xanh, phía bắc đường Chi Lăng, giữa thị xã
Gia Định.
Vào đợt 2, mặc dầu yếu tố bất ngờ về chiến lược không còn,
nhưng ta tiếp tục "đưa chiến tranh vào thủ đô địch", riêng trong
thành phố ta diệt nhiều sinh lực địch hơn đợt 1.

Với hai đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, ta đã chuyển cuộ c
chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một giai đoạn mớ i giành
thắng lợi quyết định. Đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân còn là
cuộc tổng diễn tập chiến lược, phát huy thành quả đồng khởi 1960 và
tạ o tiền đề cho trận quyết chiến dứt điểm trong chiến dịch mùa xuân
lịch sử 1975. Sau cuộc tổng công kích và nổ i dậy tết Mậu Thân ở Sài
Gòn - Westmoreland đã viết về Mậu Thân và các báo chí cũng ghi lại
cuộc tiến công mùa Xuân năm 1968.
(Hỏ i và đáp 300 năm Sà i Gòn - TP. HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
TUỔI TRẺ SÀI GÒN XUỐNG ĐƯỜNG
Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ , tên đế quốc hung bạo nhất của
thời đại hiện nay, Sài Gòn như một trái núi lửa, luôn luôn nóng rực,
luôn luôn rung chuyển bởi những cuộc biểu tình, hội thảo, những
"đêm đốt lửa căm thù", "đêm không ngủ", "hát cho đồng bào tôi nghe",
những chiến dịch quy mô chống Mỹ - ngụy đòi hòa bình, đòi áo cơm,
đòi quyền dân chủ, quyền tự quyết của tất cả cá c từng lớp, từ trẻ đến
già, từ những sinh viên sôi nổi đến những công nhân kiên định, từ
những trí thức uyên thâm đến những nhà tu hà nh trầm lặng, thậm
chí cả đến anh em phế binh trong quân đội Sài Gòn cũng có mặt trong
hàng ngũ đấu tranh.
Một vài mẩu chuyện ngắn sau đây chỉ phản ảnh được một phần
nhỏ, rất nhỏ, cuộc chiến đấu hào hùng, sôi động của Sài Gòn đánh Mỹ
vào những năm đầu của thập niên 70 này.
Tinh thần tranh đấu, dù i cui phải gờm.
Đợ t đấu tranh chống Lon-non Ma-tắc tàn sát Việt kiều ta đã
kéo dài gần 2 tháng. Hôm nay tuổi trẻ học đường lại mở trận đánh
lớn. Từng đoàn học sinh sinh viên lũ lượt kéo về quảng trường Quách
Thị Trang. Các nam nữ sinh lái xe honda chở nhau, người ngồi sau
giương cao biểu ngữ nổi bật những dòng chữ:
"Đả đảo chế độ cả nh sát trị!" "Thái thú Bâõn-cơ phải rút lại lời
tuyên bố xấc xược, phải xin lỗi học sinh!" "Mỹ đến đâu đầu lâu đến
đó!" "Mỹ cút đi! chúng tôi muốn hòa bình!"
Đoàn biểu tình tiến tới Ngã Sáu thì đụng phải "chướng ngại"
cảnh sát dã chiến. Bọn chúng đeo mặt nạ "mõm heo"; tay dùi cui tay
khiên mây, xô ra chặn đường. Chúng tung lựu đạồn cay, khói bay sặc
sụa. Người và xe dồn lại, nhốn nháo.... Nhưng chưa đầy một phút
sau, nhóm sinh viên xung kích mang mặt nạ chống hơi cay, tay cầm

thùng nước lao lên phía trước. Thêm một loạt lựu đạn cay từ phía
cảnh sát dã chiến bay tới. Lập tức anh em nhào vào dội nước, dùng
chân dập tắt. Anh em hành động khẩn trương, dứt khoát, vừa làm
vừa "hò dô":
"Lựu cay mặc kệ lựu cay. Tinh thần tranh đấu , lựu cay cũng
xìu"
Khi nhóm xung kích mở xong đường, đẩy lùi bọn "thủ vĩọ lợn"
ra xa, mọi người nhanh nhẹn ào vào quảng trườ ng. Xe honda được bổ
sung, đứng thành một hàng rào người ken đặc. Từ trong đám đông
tiếng loa phó ng thanh cất lên. Một giọng nữ trong trẻo nhưng dứt
khoát, rành rọt: "Các bạn! tình hình sức khỏe của các bạn ta hiện nay
trong khám Chí Hòa rất nguy kịch. Tổng Hội đã quyết định anh chị
em tạm ngừng tuyệt thự c, nhưng anh chị em không chịu. Chúng ta ở
đây, tìm mọi cách, kể cả biện phá p mạnh, đòi nhà cầm quyền phải
ngừng tay đàn áp, phải để cho thân nhân người bị giam được vào
thăm. Nhưng họ vẫn cố tình làm ngơ, không hề tỏ một chút thiện chí
nào. Họ chỉ trả lời bằn lự u đạn cay, dùi cui, phi tiễn và tiếp tục những
cuộc lùng ráp, bắ t cóc...."
Từ trong khối quần chúng biểu tình, một nam sinh thét lớn: "Đả
đảo chính quyền theo đuôi Mỹ!", "Phản đối chế độ cảnh sát trị!". Khối
người rù ng rùng chuyển động. Nhiề u tiếng hô "phả n đối", "đả đảo"
dậy lên. Chờ cho tiếng la thét tạm lắng, Đ, mộ t trong những sinh viên
trong Ban chấp hành Tổ ng hội, bước đến tiếp nhận chiếc loa điện từ
trong tay người nữ sinh. Anh nói: "Qua những sự việc vừa rồi, rõ ràng
chính quyền (chỉ bọn Thiệu) sợ người Mỹ hơn là sợ dân chúng Việt
Nam. Và chúng tôi cho rằng chính phủ Ních-xơn phải chịu trách
nhiệm. Tôi xin dẫn chứng vài trường hợp sau đây:
- Anh Mẫm bị bắt là do đánh điện tín cho sinh viên Hoa Kỳ. -
Anh Thắng bị bắt về Tổng Nha cũng do ký tên vào bức điện gửi Quốc
Hội Mỹ".
Giữa lúc Đ. đang hăng há i tố cáo Mỹ thì tiếng còi cảnh sát rú
lên inh ỏi như heo bị thọc huyết. Đ. nói nhanh: "Đại diện của "chánh
quyền" lại sắp đến nữa đấy! Thôi, chúng ta hãy phân tán mỏng, đánh
"du kích"như kế hoạch đã bàn".

Khối người lập tức chuyển động. Nhưng bọn "thủ vĩ lợn" đã tràn
tới. Nhiều tên hùng hổ xông vào vung dùi cui đánh tới tấp. Phi tiễn
trự c xạ, gián xạ nổ tứ tung. Nhó m sinh viên xung kích chặn chúng lại
bằng bom lửa, gạch, đá và cán biể u ngữ . Anh em vừa đánh nhau với
cảnh sát dã chiến vừa hô vang:
"Dùi cui thì mặc dùi cui. Tinh thần yêu nướ c, dùi cui phải gờm"
Sau hơn mườ i lăm phút xô xát, bọn "thủ vĩ lợn" bị đẩy lùi. Đoàn
biểu tình tràn ra như dòng thá c lũ. Truyền đơn tung ra trắng đường.
Đồng bào hai bên phố đổ ra đường hoan hô không ngớt. Các má, các
chị mang la-ve, nước cam, dưa hấu trao tận tay "Đoàn quân chiến
thắng"
(Sài Gòn TP.HCM - NXB Sài Gòn Giải Phóng tái bản 75)

Chán đời đi lang thang !
0
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ 30/4/1975
Những ngày đầu chiế n dịch
Thờ i cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ
chính trị ngày 31/3/1975 xác định "Từ giờ phút này trận quyết chiến
chiế n lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu". Các nghị sỹ Mỹ
theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ
việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam. Ngày 1/4/1975 chiến dịch
giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo
"thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" với tố c độ "một ngày bằng 20
năm". Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy
chiế n dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là "Chiến
dịch Hồ Chí Minh", phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.
Như một bức tranh hoành tráng, xe pháo và tàu thuyền đủ loại, bộ
đội và dân nhân du kích, dân công và Thanh niên xung phong, những
ngả đường tấp nập..., cả dân tộc từ Bắc chí Nam đang hành quân,
hậu phương đang dốc toàn lực ra tiề n tuyến, nửa miền Nam vừa được
giải phóng cũng góp sức vào chuẩn bị giải phóng nửa còn lại. Đầu
tháng 4/1975 Trung ương cục miền Nam ra chỉ thị cho quân dân Nam
bộ và Nam Trung bộ (B2) hãy "táo bạo đánh các điểm theo chốt... khi
có thời cơ". Bộ chỉ huy chiến dịch giải phó ng Sài Gò n quyết định mở
chiế n dịch chia cắt địch trong toàn B2 để bao vây cô lập dịch ở Sài
Gòn. Điện của Bộ chính trị và quận ủy trung ương nhắc nhở cần
chuẩn bị thêm trước khi làm ăn lớn. Chỉ thị của Bí thư thứ nhất Lê
Duẩ n căn dặn phải biết tập trung lực lượng đầy đủ vào các trận then
chốt. Ngày 8/4/1975, ta cho ném bom Dinh Độc Lập. Ngày 9/4/1975 ta
tiến đánh địch ở Xuân Lộc. Ngày 16/4/1975 ta đập tan phòng tuyến
phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang. Ngày 17/4/1975 Phnôm-pênh
giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia đã kết thú c
thắng lợi. Trong khi đó ở Lào chính phủ liên hiệp đóng cửa sứ quán
ngụy Sài Gòn và ngụy Phnôm-pênh, sau đó vua Lào ra lệnh giải tán
quốc hội, cuộc đấu tranh của quân và dân Lào bước hẳn sang thời kỳ

chính trị hiệp thương để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 18/4/1975
tổng thống Mỹ. G.Ford ra lệnh di tản người Myọ khỏi Việt Nam.
Ngày 20/4/1975 Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 23/4/1975
Mỹ tuyên bố chiến tranh kết thúc, không thể giúp chính phủ Nam
Việt Nam. Ngày 24/4/1975 Mỹ - Hương đề nghị xin ngưng bắn... Diễn
biến dồn dập ấy diễn ra cùng lú c với 5 cách quân gồm 270.000 bộ đội
chủ lực và 180.000 người khác phục vụ chiến dịch đang từng bướ c
chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công vào Sài Gòn. 17 giờ ngày
26/4/1975 cuộc tổng kích đáng chiếm Sài Gòn bắt đầu, các mục tiêu
tấ n công ngập chìm trong bão lửa. Mỹ vội vàng mở chiến dịch "người
liều mạng" để di tản. Các tướng tá quân độ i Sài Gòn từ các sư đoàn bị
đánh tơi tả, kẻ bị bắt, kẻ đầu hàng, kẻ tự sát, kẻ cở i quân phục lẩn
trốn vào đám tàn quân. Tổ ng thống ngụy muốn xin "bàn giao chính
quyền", các đại diệ n Mỹ, Pháp tìm kế hoãn binh... Nhưng tất cả đã
không thể ngăn cản được sức tiến công của lực lượng vũ trang cách
mạng trong "trận đánh cuối cùng" để kết thúc chiến tranh 30 năm.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
Chán đời đi lang thang !
0
Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn
Tại Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4, chuẩn tướng Nguyễn Hữu
Hạnh (tướng Vĩnh Lộc tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và Nguyễn
Hữ u Có, lên gặp Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự, đã thú c
đẩy Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫn (thủ tướng) đi đến quyết định
đơn phương ngừng bắn, chờ "bàn giao trong vòng trật tự". Dương Văn
Minh họp bộ hạ và đưa ra ý kiến "tuyên bố thành phố bỏ ngỏ". Sau
khi bàn luận, Vũ Văn Mẫu viết bản tuyên bố kêu gọi đơn phương
ngưng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố
được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lú 9 giờ 30 phút.
Trên tất cả các hướng vào Sài Gò n, quân ta tiếp tục tiến công
theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị "tiến quân với khí thế hùng mạnh
nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch,
giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống
đối của chúng". Địch dùng pháo từ phía Đông xa lộ Sài Gòn - Biên
Hòa bắn ra cắt đội hình lữ đoàn xe tăng 20. Mộ t phân đội của lữ đoàn
rẽ vào đánh diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây
chiế c xe 707 đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối

cùng. 9 giờ 30 phút đoàn xe tăng tiến thuận lợi qua cầu Rạch Chiế c
do Z23, lữ đoàn 316 đặ c công biệt động đang chiến giữ. Phía trướ c là
cầu Sài Gòn, ở đây tiểu đoàn 4 Thủ Đức đã chiến đấu quyết liệt,
giằng co với địch từ đêm 29 rạng 30 tháng 4, đến 7 giờ sáng ngày 30
tháng 4 mới chiếm lại được đầu cầu phía Đông. Đoàn xe tăng lữ đoàm
203 đến đầu cầ u Sài Gòn, 2 xe dẫn đầu đội hình tăng tốc vượt qua
được nửa cầu thì bị xe tăng địch ở phía Tây vò m cầu bắn chá y. Đội
hình xe tăng ta phải dừng lại ở đầu cầu phía Tây. Tiểu đoàn trưởng
tiểu đoàn xe tăng Ngô Văn Nhỡ cầm cờ hiệu và điện đài chỉ huy tốp
xe dẫn đầu vượt cầu lại bị trúng đạn địch và hy sinh trên tháp pháo.
Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên chỉ huy vượt cầu. Địch tiếp tục bắn
hỏng thêm 2 xe tăng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị
viên Vũ Đặng Toàn chỉ huy đại đội 4 vượt qua cầu. Địch lui về ngã tư
Hàng xanh, ta bám sát và bắn cháy một xe tăng của chúng tại đây.
Các lực lượng tại chỗ bao vây, vận động vô hiệu hóa một số xe khác.
Địch ở cầu Thị Nghè ngoan cố chống cự, ta bắn cháy thêm 1 xe tăng,
1 xe thiết giáp. Qua cầu Thị Nghè, nữ chiến sĩ liệt động Nga (lữ đoàn
16) lên xe tăng cùng Phạm Duy Đô làm nhiệm vụ dẫn đường. Lữ
đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ
Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bù i Quang Thận dẫn đầu.
Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước dinh Độc Lập. Trong Dinh
cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn
Cang, Vũ Ngọc Nhạm một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu
Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến
thẳng vào cửa Dinh. Ngay tứ c khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân
cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vui ở
cổng Dinh Độc lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe,
cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượ ng của tòa nhà, giật
bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh
Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng
vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo ngay với trung tá chính ủy
lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội
các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh
điều chỉnh đội hình xe tăng bao vây Dinh đề phòng địch phả n kích,
đồng thời phái một bộ phận ra đánh chiếm cảng Sài Gòn.
Đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng một
số cán bộ, chiến sĩ ta được Nguyễ n Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng
vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu.

Tiếp đó, các đồng chí Bùi Văn Tùng và Nguyễn Tấn Tài vào phòng
khánh tiết. Hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng
với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn
Minh sớm đầu hà ng: Vũ Ngọc Nhạ , Tô Văn Can. Dương Văn Minh
đứng dậy nói: "Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao". Ta tuyên bố:
"Các ông đã bị bắ t làm tù bình, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao". Dương Văn Minh chấp
nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến đài
phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi
Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh. Từ sáng
ngày 30 tháng 4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm
nổi dậ y của quần chúng và lực lượng tại chỗ. Sau 11 giờ 30 phút ở 41
điểm chủ lực ta chưa tới, quân chúng và lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi
dậy. Ở quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30 tháng
4 khi lự c lượng võ trang ta tiến công quận 3, anh Tư và anh Công,
người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316)
dùng loa hô hào nhân dân nổi dậy giành chính quyền, kêu gọi sĩ quan
và binh lính địch nộp vũ khí đầu hành. Ngay chiều 30 tháng 4 hàng
trăm đồng bào xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng
trăm người khác tự động ra đường thu gom vũ khí, quân trang, quân
dụng của địch. Đồng bà o treo đầy cờ giải phóng trước nhà riêng, công
sở và tự nguyện góp cấp thời lương thực thực phẩm cho bộ đội. Tại
phường Bàn cờ quận 3, các đồng chí cơ sở mật của ta: Chị Bảy, anh
Châu, anh Ba Đông, phát động quần chúng nổi dậy giành chính
quyền, chiếm giữ các kho tàng của địch, giữ gìn trật tự, an ninh, làm
vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được 3.000 súng các loại đem
nộp cho cách mạng. 16 giờ ngày 30 tháng 4, phường Bàn Cờ tổ chức
mít tinh, có 13.000 người dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những
người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các bạn
phụ trách phường, khóm và tổ chức chuyên việc đăng ký ngụy quân,
ngụy quyền ra trình diện. Ở hướng xa lộ Biên Hòa, Z27 sau khi hoàn
thành nhiệ m vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc cho lữ đoàn 203 đi qua,
theo lệnh trên, tiến chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy Zetcô
(nay là liên hợp công trình 4) và giữ nhà máy điện Thủ Đức. Nhờ đó,
điện ở thành phố chỉ gián đoạn có vài giờ trong ngày 30 tháng 4. Tiểu
đoàn 4 Thủ Đức, sau khi lữ đoàn 203 xe tăng qua cầu Sài Gòn tiếp
tục tổ chứ c đánh chiếm các đồn bót địch trên trục lộ 33 đoạn từ ngã
ba Bình Trưng đến ngã ba Phú Hữu, cùng cá n bộ địa phương phát

động quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn, giải phóng hai xã Bình
Trưng và Phú Hữu. Tại nhà máy nướ c Thủ Đức, từ những ngày 27 và
28 tháng 4, nòng cốt công nhân đã lập đội bảo vệ nhà máy. Hàng
trăm công nhân và kỹ sư liên tục bá m giữ máy, không cho địch phá,
bảo đảm cung cấp đầy đủ nước cho thành phố cả nước và sau khi giải
phóng.
Ngày 30 tháng 4, khi xe tăng ta tiến gầ n đến, đồng chí Muống,
đứng đầu ủy ban khởi nghĩa nhà máy, lãnh đạo công nhân tung tin
hù dọa địch và tự mình leo lên nóc nhà máy treo một lá cờ lớn. Địch ở
đây rất đông: thường xuyên có một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1
tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an và ngày 30 tháng 4, còn kéo về đây
thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp... nhưng trước thế tiến như vũ
bão của ta và khí thế công nhân tạ i chỗ, tất cả địch ở đây đã phải bỏ
chạy. Toàn bộ lự c lượng địch ở Thủ Đức tan rã . Quần chúng xông vào
chiế m giữ các căn cứ quân sự của địch, tiến chiếm trụ sở quận. Toàn
bộ ngụy quyền quận bỏ chạy. Với mọi chuẩn bị từ trước, khi đại quân
ta tiến vào Sài Gòn, cơ sở cá ch mạng và quần chúng lao động nội
thành kịp thời nổi dậy chiếm lĩnh, làm chủ và bảo vệ các cơ sở kinh
tế, chính trị văn hóa quan trong, bảo đảm mọi sinh hoạt bình thường
của một thành phố mới giải phóng.
Ở nhà máy điện Chợ Quán, ngay lúc địch đang tồn tại và thiết
quân luật, công nhân đã thay phiên nhau đi sửa chữa đường dây, ổn
định dòng điện. Anh em kêu gọi binh lính ngụy quay về với chính
nghĩa, ủng hộ hành động nổi dậy củ a công nhân. Tại xưởng Ba Son,
công nhân tháo gỡ hết chất nổ địch gài, bả o vệ nguyên vẹn nhà máy.
ở các hãng Esso, Shell, công nhân thành lập các ủy ban công nhân võ
trang bảo vệ kho xăng Nhà Bè. Công nhân các xí nghiệp Vimytes,
Sicovina, Vinatexco, Biopharma và hàng loạt hãng, xưởng khác bất
chấp công an, mật vụ, đã nổi dậy chiếm xưởng bảo vệ máy móc. Các
cơ sở cách mạng và quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh, cắm cờ trụ sở
khóm hai phường Huyện Sĩ, ngã ba Thủ Khoa Huân, đường Lê
Thánh Tôn, chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, ty cảnh sát quận 3, sở
văn hóa... Một trí thức, cơ sở của ta, đã giữ gìn và trao lại nguyên vẹn
cho cách mạ ng toàn bộ phòng báo chí Phủ tổng thống ngụy của
Hoàng Đức Nhã (đặt tạ i số 116 đường Hồng Thập Tự, nay là đường
Nguyễn Thị Minh Khai).

15 giờ ngày 30 tháng 4 tất cả cá n bộ Thành ủy cánh A (luồn vào
từ đêm 29 tháng 4) đã có mặt trong thành phố, tập kết nhận nhiệm
vụ kế tiếp tại khu trường Pétrus Ký. Cán bộ, chiến sĩ cánh B của
Thành ủy có mặt cùng nhân dân thự c hiện nổi dậy giành chính
quyền, giành quyền làm chủ từ ấp, xã đến thị trấn ngoại thành, cũng
đã hội tụ về nhận nhiệ m vụ tại dinh tỉnh trưởng Gia Định. Trong
chiế n dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn - Gia Định đã diệt
và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn
cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề... thu 12.275 súng
và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số
ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạ n và số công an cảnh sát là
10 vạn. 17 giờ ngày 30 tháng 4, tiếng súng đã thực sự chấm dứt ở
"thủ đô" ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3
triệu dân vừa qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã
chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi
người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường
ống; dòng điện chỉ tạm ngừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công
nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn
sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ... Người dân Sài Gòn - Gia
Định náo nức cắt dàn cờ hoa để xuống đường ngày 1-5 mừng cuộc
toà n thắng và chờ đêm hội pháo hoa.
Chán đời đi lang thang !
0
Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Sài gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam, nằm giữ a miền Trung và
miền Đông Nam Bộ, là trung tâm các đầu mối giao thông chiến lược
cả về đường bộ, đường thủy và đường không. Các vùng nông thôn
rừng núi, trung du đồng bằng và ven biển bao xung quanh thành phố
có mối quan hệ mật thiết về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn
hóa. Trong thành phố, nhà cửa san sát với những cao ốc nhiều tầng,
dân cư đông và tập trung ở mật độ cao. Những đặc điểm nêu trên làm
cho Sài Gòn giữ một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng. Đố i với địch,
nhất là trong chiến tranh xâm lược của Mỹ, Sài Gòn là thủ đô, trung
tâm, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả miền Nam.
Nơi đây là sào huyệt của tổ chức chính quyền trung ương ngụy và các
đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hóa, nơi tập trung cơ cấu chỉ đạo,
chỉ huy quân sự của toàn bộ cuộc chiến tranh với từng vùng chiến
trường, nơi phát ra và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chiến lược,
các kế hoạch, biện pháp và thủ đoạn chiến lược, chiến thuật trên toàn

chiến trường miền Nam và Campuchia. Chúng tập trung ở Sài Gòn
và vùng phụ cận một bộ phận quan trọng lực lượ ng, sinh lực và
phương tiện chiến tranh lớn cùng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ
xa, tập trung các cơ sở kinh tế công nghiệp, thương mại, đáp ứng
phần lớ n âm mưu cướ p vét sức người sức của "lấy chiến tranh nuôi
chiế n tranh"; đồng thời xây dựng, bố trí các cơ sở dự trữ vật chất,
phương tiện chiến tranh lớn nhất ở Đông Dương.
Đối phó vớ i phong trào cách mạng quầ n chúng, ngoài mạng lưới
kềm kẹp đồ sộ và nghiêm ngặt, địch tiến hành đánh phá thường
xuyên và ác liệt, tinh vi trên mọ i phương tiệnc hính trị, quân sự , văn
hóa, kinh tế, nơi chúng thực hiện một cách tập trung, đầy đủ nhất
chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (từ năm 1945 đến năm 1954) và kiểu mới
(từ năm 1945 đến năm 1975). Thà nh phố Sài là nơi thực dân Pháp nổ
súng tiến công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược và là nơi đế quốc
Mỹ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, là điểm mở đầu
và kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc Pháp và Mỹ
trong 30 năm qua. Đối vớ i ta, thành phố Sài Gòn là nơi tập trung số
lượng dân cư đông đảo nhất ở miền Nam, nơi có lực lượng học sinh
sinh viên, nhân sĩ trí thức, tư sản dân tộc và đặc biệt là lực lượng
công nhân công nghiệp (vốn có quan hệ huyết thống gần gũi với nông
dân vùng nông thôn Nam Bộ và vớ i công nhân các đồn điền cao su).
Nhân dân Sài Gòn có truyền thống yêu tự do, bất khuất chống ngoại
xâm rất sâu sắc và liên tục trong suốt lịch sử 300 năm của thành phố.
Mọi biến động ở thành phố Sài Gòn, do vị trí trung tâm của nó, đều có
ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, cả nước và trên thế
giới.
Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị củ a cả miền
Nam trong cả hai thời kỳ kháng chiế n chống Pháp và chống Mỹ, là
địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh cách
mạng xét về mặt mục tiêu cơ bản của công cuộc giải phóng hoàn toàn
đất nước của dân tộc ta. Những đặc điểm nêu trên tác động sâu sắc
đến toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến diễn ra trên địa bàn Sài Gòn
- Chợ Lớn - Gia Định. Tiếng sú ng gây hấn ngày 23 tháng 9 năm 1945
là hành động kết thúc quá trình chuẩ n bị trở lại xâm lượ c Đông
Dương của giới tư bản quân phiệt Pháp từ khi nước Pháp còn bị phát
xít Đức chiếm đóng. Chuẩn bị và xác định ngay từ đầu quyết tâm
kháng chiến, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã đứng dậy

tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân chống thực dân Pháp dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời nỗ lực đặt nền móng và phát triển
mọi nhân tố của một Nhà nướ c Dân chủ Cộng hòa mới được thành
lập. 15 tháng đầu kháng chiến của quân Sà i Gòn - Chợ Lớn - Gia
Định vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã giáng một đoàn phủ đầu vào dã
tâm xâm lược của thực dân Pháp, làm xáo trộn kế hoạch chiến lượ c
đánh nhanh thắng nhanh của chúng, tạo ra khoảng thời gian quý báu
để nhân dân cả nước có điều kiện xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến lâu dài diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Từ
đầu năm 1947, trong điều kiện Sài Gòn bị chiếm đóng hoàn toàn,
"được bình định, ổn định" và ngày càng trở thành trung tâm chiến
lược xây dựng Nam Bộ thành hậu phương dự trữ của chúng trong
cuộc chiến tranh xâm lượ c ở Đông Dương, quân và dân Sài Gòn - Chợ
Lớn - Gia Định đã từng tiếp tục xây dựng lực lượng mọi mặt, xây
dựng các loại lực lượng vũ trang thích hợp, mở rộng phong trào chiến
tranh du kích, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến toàn diện cả về quân
sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, đưa cuộc kháng chiến phát triển thành
cao trào vào năm 1950. Sau năm 1950, được sự chi viện của đế quốc
Mỹ, thực dân Pháp ra sức bình định Nam Bộ, trọng tâm là Sài Gòn,
Chợ Lớn - Gia Định, đẩy phong trào cách mạng vào thời kỳ khó khăn
kéo dài. Quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định năng động tổ
chức lại chiến trường, bố trí lực lượ ng, kết hợp nhiều hình thức đấu
tranh, vượt qua nhiều khó khăn nhằm khôi phục, giữ vững và phát
triển phong trào trong điều kiện bị địch bao vây và đánh phá ác liệt.
Hoạt động kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã làm suy
yếu địch từ trong hậu phương của chú ng, cầm chân địch tại chỗ, tạo
điều kiện cho quân và dân toàn miền đẩy mạnh đợt hoạt động hưởng
ứng chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ,
góp phần kết thúc thắ ng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược.
Từ sau Hiệp định Genève 1954, đế quốc Mỹ gạt Pháp và các thế
lực thân Pháp, từ ng bước nắm quyền thống trị miền Nam Việt Nam,
xây dựng ngụy quân quyền, thi hành chính sách thực dân mới. Sài
Gòn trở thành thủ đô của ngụy quyền miề n Nam. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Sài Gòn - Gia
Định đã phát động phong trào đấu tranh chính trị tiến công địch
ngay từ đầu, phát triển phong trào bảo vệ hòa bình, đòi thi hành
Hiệp định Genève, đưa Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính

trị của toàn miền Nam. Vượt qua khó khăn thử thách trong những
năm tiếp sau, đặc biệt trong các năm 1957 - 1958 - 1959, nhân dân
Sài Gòn - Gia Định vẫn bền bỉ bảo tồn, gầy dựng và duy trì phong
trào đấu tranh chính trị liên tục, nhằm bảo vệ quyền dân sinh, dân
chủ, chố ng chính sá ch tố cộng diệt cộng, từng bước xây dựng lự c
lượng tự vệ vũ trang ở vùng nông thôn Gia Định, phối hợp đấu tranh
liên kết giữa đô thị và nông thôn nội ngoại thành, đưa dần đấu tranh
chính trị phát triển lên đấu tranh chính trị có tự vệ vũ trang hỗ trợ,
tiến đến thực hiện nổi dậy từng phần, giành quyền là m chủ ở một số
vùng nông thôn ven sát sào huyệt địch (1960 - 1961).
Chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng, chống chiến lượ c
chiế n tranh đặc biệt của Mỹ ngụy, quân và dân Sài Gòn - Gia Định
bám sát đường lối chủ trương và phương châm chiến lược đấu tranh
cách mạng của trên, phát huy tính năng động cách mạng, đề ra
phương thứ c tổ chức và hình thức đấu tranh cụ thể cho các vùng hoạt
động (nội đô, ven đô, nông thôn, ngoại thành), trong xây dựng các loại
lực lượng và kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh thích hợp ở
từng vùng trong thừng thời kỳ lịch sử nhấ t định. Các tầng lớp quần
chúng nhân dân ở nội ngoại ô thành phố đều được huy động vào mặt
trận đấ u tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai (đặc biệt lực lượng
học sinh sinh viên và quần chúng lao động, phật tử) đưa phong trào
cách mạng phát triển lên thế chủ động tấn công địch, góp phần làm
khủng hoảng sâu sắc chế độ chính trị ngụy quyền và cùng với lực
lượng nhân dân ở vùng nông thôn làm phá sản quốc sách ấp chiến
lược của chúng, Giữa năm, 1965, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổ i chiến
lược chiến tranh, ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt
Nam, tiến hành cuộc chiến tranh cụ c bộ. Quân và dân Sài Gòn - Gia
Định xác định quyế t tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành mặt trận
chống Mỹ cứu nước ngày càng rộng lớn ngay tại Sài Gòn - Gia Định.
Cao trào đấu tranh chính trị chống Mỹ cùng với những trận tập kích
quân sự vang dội trong nội đô và sự phát triển tiến công của Quân
giải phóng ở các hướng xung quanh thành phố đã góp phần làm thất
bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967 của Mỹ ngụy.
Bước sang năm 1968, ngay tại sào huyệt địch, các lực lượng
cách mạng Sài Gòn - Gia Định đã tích cực chuẩn bị táo bạo cùng lực
lượng toàn miề n thực hành tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968,
đánh vào nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng bậc nhất của Mỹ

ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, góp phần cùng cả nướ c
làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống
thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phá n với ta ở Paris.
Sau đợ t 2 Tế t Mậ u Thân 1968, dù trong điều kiện bị địch phản
kích đánh phá khốc liệt, lực lượng bị tiêu hao giảm sú t, cơ sở bị bể vỡ
nhiều, nhưng quân và dân Sài Gòn - Gia Định vẫn vững tin vào sự
nghiệp cách mạng của Đả ng, kiên trì bám trụ địa bàn, chịu đựng gian
khổ hy sinh, khéo léo chuyển hướng và phương phá p đấu tranh, quay
về khôi phục xây dựng cơ sở, thực lực, giữ vững và tiến tới đẩy mạnh
cao trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức ở nội đô, kiên
cường đánh địch càn quét, liên tục chống phá chương trình bình định
nông thôn của địch, giành lại và mở nhiều lõm làm chủ, giải phóng,
phát triển hệ thống thông tin giao thông liên lạc ở vùng ven, tạo lại
thế tiến công mới cho đến Hiệp định Paris. Trong giai đoạ n cuối cùng
của cuộc chiến tranh, quân và dân Sài Gòn - Gia Định kịp thời đề
phòng và uốn nắn những biểu hiện hò a bình chủ nghĩa sau ngày ký
Hiệp định Paris, tranh thủ thời cơ, tiếp tục phát triển thực lực cách
mạng, tạo thế tạo lự c mới.
Từ cuối năm 1974, khi thời cơ cách mạng chúng bắt đầu xuất
hiện, đã tích cực xây dựng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị,
phát huy hiệu lực ở cả ba mũi chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh
tiến công địch trên khắp nội ngoại ô thành phố, góp phần thú c đẩy
tính thế cá ch mạng nhanh chính chín muồi. Toàn Đảng, toàn dân,
toà n quân Sài Gòn - Gia Định kịp thời đón nhậ n thời cơ, tham gia
tổng tiến quân và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tạo điều
kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến vào thành phố, đập tan bộ máy
ngụy quân ngụy quyền từ cơ sở tới trung ương, làm chủ mọi sinh hoạt
của thành phố ngay từ giờ phút đầu giả i phó ng. Ba mươi năm chiến
tranh ròng rã, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã hoàn
thành vẻ vang sứ mạng mà lịch sử giao phó "đi trướ c về sau", cùng
quân và dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiế n tranh của
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gó p phần xứng đáng vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc.
Trải suốt những năm chiến tranh tàn khố c, toà n Đảng, toàn
dân, toàn quân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định một lòng son sắt với sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, kiên cườ ng chịu đự ng và

vượt qua mọi gian lao thử thách, kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp
giải phóng quê hương, giả i phó ng đất nước. Cả trong những ngày cam
go nhất của buổi đầu kháng chiến, giai đoạn từ năm 1951 đến năm
1953, giai đoạn năm 1957 - 1958 -1959, nhữ ng ngày địch khủng bố ác
liệt sau Tết Mậu Thân, dân và quân Sài Gòn - Chợ Lớ n - Gia Định
vẫn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, lần hồi gầy dựng cơ sở (có khi
đi trở lại từ con số không), sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì sự nghiệp
chung, lòng không hề vướng bọn mảy may lợi ích riêng tư của bản
thân mình.
Trên mảnh đất Củ Chi, có những căn nhà được dựng đi dựng lại
không dưới mươi lần trên nền đất cũ, có những người meồ chít ngang
đầu 8 vành tang trắng. Hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ trải hết các nhà
tù, nếm đủ các đoàn tra tấn dã man và thâm hiểm nhất mà kẻ thù có
thể nghĩ ra vẫn một lòng trung trinh với sự nghiệp cách mạng. Không
thể nào ghi lại được đầy đủ chiến công và sự hy sinh của toàn thể
dân, quân, cán bộ, đảng viên Sài Gòn - Gia Định những chiến sĩ anh
hùng cách mạng. Máu của họ thấm đẫm trên mọi góc phố, cửa ô, mọi
nẻo đường, làng xó m, vườn tược. Khôn thể nào nhắc lại được đầy đủ
lịch sử các địa danh Vườn Thơm, Láng Le, Bàn Cờ, Bình Mỹ, Khu 5
Hóc Môn, Rừng Sác, Bưng Sáu Xã, Tám Giác Sắt, Củ Chi... những
mảnh đất mà tên gọi và sự tích chắc chắ n sẽ lưu lại mãi mãi trong
lịch sử cuộ c kháng chiến thần thánh của dân tộc ta.
Thắng lợi của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp
phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong cuộc
chiế n tranh 30 năm vừa qua, một cuộc chiến tranh "mãi mã i được ghi
vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một
biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ hai mươi, một sự kiện có tầm quan trọ ng quốc
tế và có tính thời sự sâu sắc" (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần IV).
Ba mươi năm, xương máu, mồ hôi của hàng vạn đồng bào, cán
bộ, chiến sĩ thành phố đổ xuống đã vun tưới thêm truyền thống chống
ngoại xâm vốn được tinh cất trong suốt chiều dài lịch sử ba trăm năm
của cư dân vùng đất Bến Nghé này. Đó là tình yêu quê hương đất
nước, yêu độc lập tự do, là lòng trung thành vô hạ n và ý nguyện dấn

thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là ý chí bất
khuyất và năng động trước mọi ngăn trở của hoàn cảnh, tinh thần
chiế n đấu dũng cảm kiên cường và trí tuệ mưu lược thấm đẫm tinh
thần thượng võ, nghĩa hiệp, là phẩm chất cần cù lao động sáng tạo
xây dựng cuộc sống mới. Đó chính là tinh thần đoàn kết gắn bó, là
tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, là lối ứng xử bặt
thiệp, hào hiệp, nhân nghĩa, có thủy có chung.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sài Gòn-Chợ Lớn
- Gia Định được vinh dự mang tên Bác Hồ -Thành phố Hồ Chí Minh.
Quân và dân thà nh phố lại tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới:
khắc phục hậu quả chiế n tranh, sử a đổi lệch lạc trong bước đi, đổi
mới sự lãnh đạo, khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất mới,
từng bước đưa thành phố tiến lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội, xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh, đấu
tranh giữ vững thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội, tăng cường và củng cố nền quốc phòng toàn
dân, xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hàng
ngàn người con của thành phố đã lên đường chiến đấu anh dũng
giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây
Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế trên đấ t nước Campuchia. Lịch sử
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ
đang lùi xa vào quá khứ. Nhưng nhữ ng giá trị quyền thống và bài họ c
lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ cư dân chủ nhân của
thành phố Hồ Chí Minh - thành phố anh hùng
(Theo sách Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 1945-1975. NXB TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
NGƯỜI NÉM BOM XUỐNG DINH ĐỘC LẬP
Đó là Nguyễn Thành Trung, người cán bộ nội tuyến binh vận
của ta được cài vào trong lự c lượng không quân quân lực Việt Nam
Cộng Hò a. Ngày 8.4.1975, anh đã lái máy bay F.5 xuất phát từ sân
bay Thành Sơn (Phan Rang) bay vào ném bom trúng dinh Độc Lập và
sau đó hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này góp
phần gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ ngụy quyền Sài Gòn.
Ngày 28.4.1975, không đầy 10 phút sau khi tướng Dương Văn
Minh thay Thiệu nhậm chức Tổng thống, Nguyễn Thành Trung đã
dẫn đường cho 4 chiếc A.37 do Mỹ chế tạo từ sân bay Thành Sơn
(Phan Rang), lượn vò ng trên bầu trời Sà i Gòn. Lú c 17 giờ 40 phút phi
đội của Nguyễn Thành Trung đã ném bom và bắ n đạn DK.28 vào sân
bay Tân Sơn Nhất khiến 3 máy bay AC.119 và nhiều chiếc C.47 bị
phá hủy. Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm
soát. Máy bay phản kích của địch bay mò vì trạm hướng dẫn đã bị
hỏng. Cuộc oanh tạc táo bạo, bất ngờ làm tiêu tan hy vọng "thương
lượng" của "tân tổng thống" lẫn Hoa Kỳ, làm tăng thêm sự hoang
mang và hỗn loạn của địch.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh)

Chán đời đi lang thang !
0
TOÁN LÍNH MỸ CUỐI CÙNG RỜI SÀI GÒN
Sau Hiệp định Paris 1973 Mỹ phải rút quân khỏ i miền Nam chỉ
còn để lại những cố vấn quân sự và số lính bảo vệ. Khi chiến dịch Hồ
Chí Minh nổ ra, mấy ngày trước 30.4.1975, Mỹ tiến hành di sản số
người Mỹ gây nên sự hỗn loạn chưa từ ng có.
3 giờ 30 sáng 30.4.1975 Tổng thống Mỹ Ford ra lệ nh cho Đại sứ
quán Mỹ ở Sài Gòn: chấm dứ t di tản. Nhưng lệ nh không thi hành
được. Đế n 4 giờ 20 một máy bay CH.53 đưa Đại sứ Mỹ Martin di tản.
Đến 5 giờ 24 trên nóc tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, chiếc trực thăng Mỹ
CH.46 vội vã cất cánh mang đi 12 lính Mỹ cuối cù ng ra khỏi Việt
Nam, trong đó có thiếu tá James Kean người có quân hà m cao nhất
trong toán lính này.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐỒNG ĐÔLA VÀ ĐỘI QUÂN DỊCH VỤ
Sự dư thừa của Mỹ về bom đạn và tiền bạc và điều mà ai cũng
phải thừa nhận. Để biến mảnh đất nhỏ bé này thành "mộ t tiền đồn
chống cộng", đế quốc Mỹ đã dốc vào đây một số tiền khổng lồ. Theo số
liệu cho Mỹ công bố thì chi phí trực tiếp của Mỹ cho toàn bộ cuộ c
chiế n tranh Việt Nam từ 1960 đến 1973 là 141 tỉ đô la, con số ấy sẽ
lên đến 700 tỉ nếu tính luôn vào đó cả những chi phí gián tiếp nữa. Tỉ
lệ của năm cao nhất - 1968 - chiếm ba phần trăm tổng sản phẩm quốc
dân, tức là 26 tỉ đô -la/864 tỉ đô - la. So với chiến tranh thế giới lần
thứ hai - mà chi phí trực tiếp của Mỹ vào cuộ c chiến tranh ấy là 341
tỉ và vừa trực tiếp vừa gián tiếp là 900 tỉ - thì con số đổ vào Việ t Nam
quả thật là ghê gớm. Với số tiền đó, Mỹ đã dùng vào những hành
động quân sự là chính, nhưng cũng đã đề ra một phần gọi là "quốc
gia". "Trong niên khóa 1966, những hàng hóa viện trợ trị giá 445
triệu Mỹ kim đã được chở tới Việt Nam thuộc chương trình nhập cảng
thương mại của cơ quan USAID, chương trình chống phiên cộng, viện
trợ phát triển và chương trình thực phẩm phụng sự hòa bình. Con số
này gấp đôi số viện trợ trong năm 1965".
Những loại người nào nằm trong cái phạ m trù "nhân dân Việt
Nam" được hưởng số tiền ấy thì mọi người đều biết. Ngoài việc dùng
số tiền ấy để trang bị và củng cố ngụy quân, ngụy quyền đồng thời
tiến hành các chương trình bình định nông thôn, đã có 5 đến 6 phần
trăm đã thất thoát, rơi vào túi riêng của bọn tay sai hoặc chạy ra thị
trường để tạo nên khu vực dịch vụ to lớn mà mục đích cuối cùng cũng
vẫn là quay trở về phục vụ cuộc chiế n tranh xâm lược của Mỹ. Cộng
thêm với sự tiêu xài của khoảng 700.000 lính viễn chinh Mỹ và chư
hầu - trung bình mỗ i người tiêu thụ một ngày một đô - la - thì khu
vực dịch vụ do đồng đô - la Mỹ tạo ra đã lên tới một mức độ không
phải là nhỏ. Theo sự ước lượng của một chuyên viên kinh tế trong chế
độ cũ, con số ấy đã lên với "vài ba trăm ngàn người", hầu hết đều
sống ở các thành thị và các vùng ngoại ô, trong số những người đó bao

gồm có những công nhân làm sở Mỹ, những nhà thầu cung cấp vật
liệu hay dịch vụ cho quân đội Mỹ, nhữ ng người sống nhờ vào sự chi
tiêu của Mỹ hoặc buôn đi bán lại nhữ ng hàng hóa thất thoát từ PX
(cơ quan Quân tiếp vụ Mỹ) ra. "Vài ba trăm ngàn" là một con số trừu
tượng, một cách nói còn co dãn, nhưng phải nhìn vào sinh hoạ t náo
nhiệt của những con người cụ thể ấy mới thấy hết tác động dữ dội của
đồng đô - la Mỹ như thế nào.
Tất nhiên số tiền ấy không phải đã được phân phối ngang đều
cho các khu vự c khác nhau có liên hệ đến những công việc làm ăn với
Mỹ. Đối với những người Việt Nam trực tiếp đi làm cho Mỹ tại cơ
quan quân sự và dân sự hoặc là qua những hãng năm 1969 là
141.868 người - số tiền thu nhập bình quân vẫn còn ở mức thấp nhất.
So với đồng lương của một người đi làm công chức cho chính quyền
ngụy thì đi làm cho Mỹ vẫn cao hơn - trong lúc lương một công chức
làm khoán cho chính quyền ngụy vào năm 1969 là 3.000 đồng (tiền
cũ) thì lương củ a một người giúp việc cho Mỹ là 3.336 đồng, lao công
làm sở Mỹ là 4.092 đồng - nhưng sự chênh lệch không phải là quá xa
cách. Tuy vậ y, do dễ tìm việc làm, lại nhờ vào những thứ có thể kiếm
chác thêm (mua bán,ăn cắp hàng, giờ phụ trội...) cho nên việc đi làm
cho Mỹ vẫn tạo ra một sự lôi cuốn khá nô nức đối với nhiều ngườ i. Họ
thường phục dịch cho Mỹ bằng nhữồng nghề đơn giả n như lái xe,
thông dịch, thư ký, sửa chữa, xây cất, những công việc lao động linh
tinh như nấu bếp, phụ bếp, giặt giũ, coi kho, gác cổng, kể cả một số
nghề mới mẻ mà lạ lù ng như nghề ướp xác chết và mổ ruột Mỹ nữa.
Bộ phận tư sản làm nghề thầu cho Mỹ mớ i là nhữ ng kẻ được
hưởng lợi nhiều và làm giàu nhanh. "Những nhà thầu hoạt động
trong rất nhiều lãnh vực : xây cất cho quân đội đồng minh cung cấp
sản phẩm dịch vụ cho họ. Người lính đồng minh thường có một nếp
sống cao và quen hưởng nhiều tiện nghi, cho nên việc cung ứng dịch
vụ cho họ đã là một món lợi rấ t lớn cho các nhà thầu người Việt. Có
thể nói không sai lầm là đại đa số những triệu phú trong hai năm gần
đây đã xây dựng cơ đồ do sự lãnh thầu nơi khu vực Hoa Kỳ. Rất khó
có thể xác định số lượng các nhà thầu này, vì ngoài một số nhỏ có
môn bài hẳn hoi, còn đại đa số không có môn bài, nhất là những gia
đình thầu rác Hoa Kỳ, thầu đồ giặt, thầu chuyên chở vận tải.... Mỗi
nhà thầu đó lại thuê mướn một số nhân công trực tiếp hoặc cho hàng
trăm gia đình tái thầ u lại công tác đã lãnh của mình. Tuy nhiên, ta có

thể có một ý niệm đại khái về mức quan trọng của họ qua các con số
về số tiền ký thác tại ngân hàng Sài Gòn - Chợ Lớn và các đô thị. Tại
Sài Gòn - Chợ Lớn, số ký thác trong hai năm qua đã vượt từ gần 8 tỉ
hồi cuối 1964 lên gần 30 tỉ bạc hồi tháng 9/1967 mà một phần không
nhỏ là của những nhà thầu triệu phú mới này. Tại các tỉnh có cơ sở
ngân hành và có căn cứ quân đội đồng minh, số ký thác cũng đã tăng
gấp bội: tại Đà Nẵng hiện nay số ký thác lên tới hơn 800 triệu so với
ngót 100 triệu cách đây hai năm. Tại Nha Trang, con số này là hơn
250 triệu trong khi đó cách đây hai năm chưa có ngân hà ng nào hoạt
động cả. Tại miền Tây, số ký thác tại các ngân hàng mới thành lập (
kể cả số kí thác tại Cần Thơ mà ngân hàng đã thành lập từ lâu), tổng
số kí thác đã vượt 300 triệu...".
Tính chất mại bản, bóc lột của những nhà thầu này rất gần gũi
với bọn tướng tá đầu cơ chiến tranh, bọn thối nát trong guồng máy
ngụy quyền: đây là một gai cấp xã hội hoàn toàn do cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ đẻ ra và hoàn toàn phục vụ cho cuộc chiến tranh ấy.
(Theo Cuộc xâm lăng về VHTT - NXB VH 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
VÀI NÉT VỀ KHÁM CHÍ HOÀ
Toàn bộ khu nhà giam rộng bảy hécta.
Khu khám lớn gồm một tầng trệt và ba tầng lầu, xây theo hình
tá m cạnh, mỗi cạnh là một ô. Gồm các ô : A, B, C, D, E, F, G, H và
chia thành sáu khu : AB, BC, ED, FG, AH, ID, (có lúc chia thành tám
khu); có chấn song sắt kiên cố. Ở mỗi khu được sơn màu sơn khá c
nhau và can phạ m nào ở khu nà o cũng đề u có mang biển số trên
người cùng màu với khu giam của mình. Sự phân biệt này nhằm tạo
thuận lợi dễ dàng cho việc kiểm soát của lực lượng canh giữ trại. Một
phạm nhân ở khu nà y tự ý đi vào khu khác đều có thể bị phát hiện
được ngay.
Ngoài ra còn có ba khu nằm nối lưng với khu bát giác, mà bọn
cai ngụ c gọ i là khu hỏa thự c, khu bệnh xá, khu kỷ luật. Tại khu kỷ
luật có phòng "điện ảnh" và phòng "truyề n hình". Tên gọi đẹp đẽ là
thế, nhưng mỉa mai thay, đây lại là nơi tra tấn ngườ i nghiệt ngã
nhất.
Năm 1972, do yêu cầu của Bộ tư lệnh cả nh sát quốc gia Sài
Gòn, mặc dù có giám thị chịu trách nhiệm phòng an ninh của nhà lao,
nhưng vẫn được tăng cường thêm một toán cảnh sát để theo dõi tình
hình phạm nhân, nhân viên giám thị và phát hiện những điều đáng
nghi qua việ c thăm nuôi. Cũng từ đó , quyền hành dần dần lọt vào tay
bọn cảnh sát chìm.
Khá m Chí Hò a tổng cộng có 238 phòng giam, gồm :
Khu AB có : 52 phòng
Khu ID có : 17 phòng
Phòng an ninh : 3 phòng (biệt giam)
Khu D có : 65 phòng (diện tích hẹp).
Số 101 phòng còn lại đều có diện tích giống nhau.

Khu trung tâm lô cốt có dựng một thanh gươm lớn với các hình
dấu âm dương, càn khôn, vũ trụ mang ý nghĩa rằng, đây là một thế
giới riêng biệt mà những kẻ trót vào đây là không thể nào lọt ra được.
Đã từ lâu, có lắm huyền thoại về khu đất "linh thiêng" này.
Nhiều người cho rằng, do sự chuyển động của âm dương ở đây như
thế nào đó đã gây ra xung khí mạ nh. Vì thế ở khu này thường bị sét
đánh. Thực tế, sét đã đánh ở khu này nhiều lần. Xây đi, xây lại mấy
lượt vẫn bị "đánh". Ngày nay, vào Chí Hòa, các mái ngói của khu bát
giác đều đều nhau, nhưng khu FG bị khuyết thấp xuống. Đó là dấu
vết còn lại của một ngàn lẻ một câu chuyện ở khám Chí Hòa ngày
trước.
Ngoài công trình chính của nhà giam, còn có ngôi nhà hai tầng
làm văn phòng ban quản đốc và một phòng tuyên úy cạnh lối vào khu
AB. Một niệm Phật đài, một ngôi chù a và một nhà thờ được xây dựng
trong khu vực khám Chí Hòa.
Ở chính giữa nhà tù , một tháp nước có trổ lỗ châu mai, với bốn
loa phóng thanh và một cột cờ trên đỉnh. Mùa mưa, sân nhà tù ngập
nước, có khi tràn cả vào xà lim ở tầng dưới.
Ở khám Chí Hòa có một chiếc máy chém. Chiếc máy chém này
có từ thời Phá p được chuyển từ khám Catina sang, do tên đội Phướ c
phụ trách. Theo tài liệu cũ để lại, người cuối cùng chết với chiếc máy
chém này là Ba Cụt, tức Nguyễn Văn Vinh, tướng Cao Đài, bị Ngô
Đình Diệm giết. Ngày trước, hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm
lịch, bọn quản đốc nhà giam tổ chức cúng chiếc máy chém này. Nhiều
tù nhân cũng đến thắp hương, lễ bái.
Theo nhiều tài liệu để lại, thời Mỹ - ngụy, số lượng tù nhân ở
nhà lao Chí Hòa trung bình là 6.000 người, có lúc lên tới 7.000 người.
Cũng có tài liệu nói, cá biệt có đợt vọt lên ngót một vạn !
Trong số những phạm nhân vào Chí Hòa có những nhân vật cao
cấp trong chính quyền Sài Gòn, như Ngô Đình Cẩn (đã bị bắn chết
ngay tại Chí Hòa), Phan Khắc Sử u, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng
Khanh, tướng Vũ Vũ Gia, tướng Lam Sơn... Nghị sĩ Trương Đình
Dzu, dân biểu Trầ n Ngọc Châu..., cũng bị vào Chí Hòa.

Cũng như Côn Đảo, Phú Quố c và nhiều nhà tù khác ở miền
Nam, bọn địch đã huấn luyện cho nhân viên phụ trá ch các nhà lao
hết sức cẩn mật. Dưới đây là vài điều chúng đã quy định tại những
nơi giam cầm tù chính trị, và chưa phải là tài liệu cuối cùng quy định
về việc này.
Phải có một kho vũ khí, đạn dược chắc chắ n, riêng biệt. Nơi đây
cấm ngặt sự lai vãng của bất cứ nhân viên nào không phận sự giữ
kho.
Cũng như hệ thống phòng thủ đồn bót, phải có một sơ đồ hỏa
lực để cho mỗi tháp canh có thể khai thác hết khả năng của những vũ
khí tự động một cách kiến hiệu.
Nếu được, song song với sơ đồ hỏa lực, mỗi tháp canh phải có
đèn rọi mạnh để kiểm soát các rào kẽm gai.
Đặt một hệ thống liên lạc giữa các tháp canh với điểm gác cổng
chính bằng điện thoại.
Tại điểm canh, lúc nào cũng phải có mặt ít nhất hai phần ba
quân số và số tối thiểu quân số có mặt bao giờ cũng không thể dưới
một tiểu đội.
Chặn bắt mọi kẻ khả nghi.
Cho phạm nhân ăn cơm sớm, để có đủ thời giờ kiểm điểm lại
nhân số trước khi họ vào nhà giam... (Kho Lưu trữ Trung ương 2, hồ
sơ mang ký hiệu SC.02, H.184, HS.3512).
Riêng ở Chí Hòa, nhữ ng tên quản đốc vô cùng ác ôn, khét tiếng
ở Sài Gòn một thời. Những tên tộ i ác ấy nối dài, nếu tính từ khi có
nhà tù Chí Hòa đến năm 1975. Dưới đây chỉ nêu một số tên dưới thời
Mỹ - ngụy mà chúng tôi vừa sưu tầm được, chắc còn phải bổ sung.
Những tên quản đốc ở Khám Chí Hòa (1954 - 1975) :
1954 - 1956 : Tên Gia, cảnh sát trưở ng
1956 - 1960 : Thiếu tá Nguyễn Văn Vệ
1960 - 1961: Thiếu tá Lê Quang Nhơn
1961 - 1962: Đại tá Trần Văn Đắc
962 - 1963: Trung tá Luyện

1963 - 1965: Thiếu tá Sáu
1965 - 1968: Trung tá Luyện
1968 - 1970 : Trung tá Lại Nguyên Tấn
1970 - 1972 : Trung tá Đức
1972 - 1973 : Trung tá Nguyễn Văn Vệ
1973 - 1974 : Bùi Văn Tâm (dân sự, ngạch quản đốc)
1974 - 1975 : Đại tá Phạm Văn Hải.
Nhân đây, xin nói đôi chút về tên trung tá ác ôn Nguyễn Văn
Vệ. Trước 1954, Vệ là trung úy cảnh sát ngụy. Sau Hiệp định Genève,
hắn sang phục vụ cho Mỹ, chuyên trách việc cai quản và đàn áp tù
nhân ở các nhà tù miền Nam. Nhận thấy Vệ có khả năng về việc tra
tấ n giết người, chính quyền Sài Gòn giao cho hắn cai quản nhà tù
Côn Đảo từ năm 1965 đến năm 1971. Năm 1969, nhà báo Mỹ Đôn
Luxơ tố cáo vụ chuồ ng cọp ở Côn Đảo, Vệ tạm rút vào "hậu trường" để
phụ trách chương trình "phượng hoàng", nhưng thực chất vẫn là tên
chúa đảo. Năm 1972 -1973, Vệ về làm quản đốc nhà giam Chí Hòa.
Ngày 10-12-1972, hắn ra lệnh cho 100 tên cảnh sát dã chiến mang
gậy tre, mũ sắt, súng ngắn, súng phóng lựu đạn, dùi cui xông vào đàn
áp tù chính trị giam ở các xà lim. Tất nhiên, việc hành hung qui mô
lớn ấy không chỉ xảy ra một đôi ba lần. Nó đã trở thành thường
xuyên và đôi khi liên tục. Hắn còn bày việc bí mật chuyển người tù đi
nơi khác mà không ai biết...
Nguyễn Văn Vệ còn cấm người nhà đến thăm tù, nhằm mụ c
đích các gia đình không hay biết gì về chồng con, cha, anh bị giam ở
Chí Hòa. Hắn thường thông báo rằng một số tù chính trị ở Chí Hòa
đã mãn hạn tù, nay mai sẽ được tha. Nhưng kỳ thực, sau đó hắn cho
xe đến Chí Hòa để chở những người tù có "danh sách được tha" đi
sang Tân Hiệp, Thủ Đức hoặc ra Côn Đảo mà không ai hay biết gì.
Nguyễn Văn Vệ là một tên chúa ngục ác ôn ở Côn Đảo và Chí
Hòa.
(Trần Thanh Phương - trong sách "Đây các nhà tù Mỹ ngụy"
NXB TP.HCM - 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
SNACK BAR VÀ CÁC THỨ "NGHỀ NGHIỆP" KHÁC
Một số "nghề nghiệp" khác xoay quanh đồng đô-la cũng đã có
những hoạt động khá rầm rộ.
Đáng kể trước tiên trong các hình thức làm ăn này là nghề mãi
dâm cho Mỹ dưới rất nhiều hình thức khá c nhau, và trong các hình
thức ấy thì nghề làm chiêu đãi viên là khá ồn ào và được coi là hợp
pháp. Con số snack-bar đăng ký với ngụy quyền năm 1969 là 219 cái
và gái bán bar có giấy hành nghề là 4.980 người; nhưng theo những
người biết chuyện thì con số ấy hoàn toàn xa rời sự thật : sự thật là
trên toàn miền Nam năm 1969, số snack-bar có vào khoảng 1.400 cái,
còn gái bán bar là khoảng 200.000 người, rải rác khắp nhữ ng khu có
Mỹ đóng quân, quan trọng nhất là các khu Sài Gòn, Biên Hòa, Phú
Lợi (Thủ Dầu Một), Vũng Tàu, Cam Ranh, Đà Nẵng v.v... Vũng Tàu
có khoảng 50.000 dân thì đã có khoảng 3.000 chiêu đãi viên, 300
snack-bar, 50 khách sạn vào năm 1967; còn Sài Gòn cũng vào năm
1967 đã có gần 200 snack-bar, còn số chiêu đãi viên vào năm 1969 là
khoảng 20.000 người. Trung bình một chiêu đãi viên có thể kiếm đến
40.000 đồng một tháng (tiền cũ, theo giá trị năm 1967). Cõn những
chủ chứa thì số tiền kiếm được tất phải cao hơn nhiều lần : mỗi tháng
ít nhất cũng vào khoảng 200.000 đồng. Thành phần những cô gái đi
làm chiêu đãi viên cũng có nhiều loại khác nhau : có những cô gái quê
ra tỉnh không muốn làm nghề chân tay, có nhữ ng gái bụi đời lao vào
trụ y lạc, nhưng cũng có cả những phụ nữ coi nghề bán bar như một
phương tiện sinh kế nuôi gia đình, trong loạ i này không hiếm gì
những nữ sinh viên; dù khác nhau thế nào thì gốc rễ của vấn đề vẫn
là sự lôi cuốn của những tiện nghi vật chất do Mỹ mang lại.
Đây là những trung tâm du hí, phục vụ cho các nhu cầu sinh lý
và giải trí cho lính Mỹ và chư hầu, nhưng cũng là nơi hoạt động của
việc buôn bán hàng PX, đổi đô-la, là hạt nhân từ đó xoay quanh hàng
loạt những "nghề nghiệp" khác khá tấp nập như nghề lái xe, ma-cô,

rước mối, phá thai, vá bộ phận sinh dục, mỹ viện, dạy tiếng Anh v.v...
Bán thân cho Mỹ là một "nghề" khá náo động, không phải chỉ giới
hạn trong các vùng có snack-bar. Để phục vụ cho bọn lính Mỹ, bọn
thầu đã dùng cả máy bay hoặc hàng đoàn xe cam nhông chở gái điếm
đến các vùng đang đánh nhau hoặc các căn cứ quân sự nữa. Đây cũng
là mộ t khu vực hoạt động có nhiều biến thái phức tạp : có khi lén lút
kiểu lâu lâu "nhảy dù " vài lần, làm vợ hờ cho Mỹ, làm sở Mỹ hoặc
công khai như các khách sạn, các nhà tắm hơi, các vũ trường, các tổ
chức trình diễn thoát y vũ (Sexy show) v.v...
Chợ trời cũng là một trong nhữ ng hoạt động khá tấp nập ở các
đô thị miền Nam trước đây. Thực chất đây là những hoạt động chợ
đen chuyên mua bán những hàng lậu thất thoát từ các PX của Mỹ.
Việc thất thoát này có nhiều ngõ ngách, có thể là do nhân viên người
Việt làm sở Mỹ đánh cắp, do gái bán bar đưa ra, nhưng căn bản vẫn
là do bọn lính Mỹ . Chúng ăn cắp từng xe với số lượng hàng thật lớn,
móc ráp với bọn buôn lậu bên ngoài để tiêu thụ. Số hàng này phần
lớn là thực phẩm như rượu, thuốc hút, đồ hộp... nhưng cũng bao gồm
khá nhiều những mặt hàng công nghiệp tiêu dùng như bột giặt, máy
giặt, ti-vi, tủ lạnh, máy ảnh, máy chiếu phim, ra-đi-ô, máy há t, máy
ghi âm... và hàng loạt nhữ ng thứ hàng hóa linh tinh đủ loại, trong đó,
theo một tác giả Mỹ, có cả súng nữa (tất nhiên không thể bán công
khai). Đây là những hàng miễn thuế bán riêng cho những nhân viên,
binh lính Mỹ cho nên khi thẩm lậu ra ngoài, qua nhiều trung gian rồi
giá vẫn còn rất hạ. Nhữ ng người ở thành thị miền Nam trước đây có
thể mua sắm được những máy móc sử dụng trong nhà chủ yếu là do
các chợ trời cung cấ p.
Theo con số của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế Hậu chiến thiết lập
năm 1969 thì năm 1965, mỗi tháng PX bán ra khoảng 13 triệu đô-la
hàng, tức là khoảng 156 triệu đô-la một năm, còn trong 1967, thì con
số đó mỗi tháng tăng lên đến 23 triệu đô-la, tức là khoảng 276 triệu
đô-la mỗi năm. Nhiều chuyên viên trước đây đã ước lượng là có
khoảng từ 3 đến 25 phần trăm hàng PX đã thẩm lậu ra thị trường
bên ngoài, tính theo tổng số hàng PX đã nhập cảng, và như vậy thì số
hàng thẩm lậu ra vào năm 1966 đã có thể lên đế n khoảng 20 triệu đôla,
tức là vào khoảng 3 tỉ tiền miền Nam (tiền cũ). Chính là số hàng
này đã tạo nên đội quân dịch vụ, mua qua bán lại đông đảo, lôi cuốn
vào đó không phải chỉ nhữ ng người thành thị mà cả những người tị

nạn từ thôn quê đây cũng là nơi dung dưỡng những tệ đoan xã hội
như lưu manh, ăn cắp và hàng loạt những lối làm ăn tạp nham phi
sản xuất khác.
Các nghề nghiệp linh tinh phát triển xung quanh đồng đô-la và
bám vào sự hiện diện của quân đội Mỹ cũng khá phức tạp. Dọc quố c
lộ 19 gần An Khê, nơi có gần 2000 dân tị nạn, đã mọc lên san sát
những tiệm giặt ủi phục vụ cho bọn Sư đoàn I Không kị Mỹ đóng gần
đó. Tất nhiên, xung quanh những trung tâm như vậy, không phải chỉ
có giặt ủi thôi. Bất cứ nơi nào có lĩnh Mỹ đóng quân thì tất yếu nơi đó
sẽ đẻ ra đĩ điếm, buôn lậu và đi đôi với cờ bạc, lưu manh, du đãng,
tấ p nập xung quanh những nhà ngủ, phòng trà, khách sạn, quán xá...
và bao nhiêu thứ làm ăn vặt vãnh khác. Trong khi đàn ông bị đẩy đi
làm lính đánh thuê, đàn bà bị dụ dỗ đi làm điếm thì trẻ con nếu
không đi đánh giày, đi dắt mối thì cũng thất thểu ở những đống rá c
của Mỹ để kiếm sống.
Sức cuốn hút của đồng đô-la trong những năm chiến tranh xâm
lược củ a Mỹ lên cao, thật là dữ dội như mấy câu vè sau đây :
Cơn lốc đô-la xoáy tít mù Từ con đĩ lậu đến thày tu Từ anh trí
thức, thằng lao động Đều bị hôn mê, té ngã cù.
Thật thế, "cơn lốc" đô-la đó đã gây ra những xá o động ghê gớm
về mặt xã hội. Nó phá hoại đờ i sống gia đình, làm cho những phụ nữ
có 5, 6 con mà vẫn bỏ nhà đi lấy Mỹ . Nó hạ bệ cả những giá trị trướ c
đây thườ ng được coi là "thiêng liêng", quý trọng : nó đẩy những nhà
trí thức, những ông giáo đi làm nghề lái xe ôm, nó tạo ra những thày
tu hổ mang, những ông linh mục đi theo Mỹ để lấy tiề n "phát triển
đạo". Nó tạo ra những chính khá ch xôi thịt, những tên quân phiệt
mồm luôn luôn hô hào "cách mạng xã hội", "chống tham nhũng"
nhưng lại sống bằng buôn lậu, hối lộ. Nó là cái nền của mọi sự nhố
nhăng, sa đọa của một thuộc địa kiểu mới.
(Theo : Cuộc xâm lăng về VHTT NXB VH - 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
CÁI GỌI LÀ "ƯU ĐIỂM" CỦA MỘT "LỐI SỐNG" MỸ
Cái "phồn vinh" do Mỹ đến và một số tên bồi bút chai sạn đã trơ
trẽn đề nghị cần phả i "tri ân" thật sự chỉ là sự "phồn vinh" tạo ra
trong nô lệ, mất nướ c. Để kiếm được những món hàng dư thừa từ Mỹ
đưa sang, bao nhiêu máu người đã đổ ra vì bom đạn Mỹ, bao nhiêu
nhân phẩm đã bị chà đạp, khinh miệt.
Bóng dáng cao lớn của bọn viễn chinh đổ dài xuống khắp nơi,
không phải chỉ ở mặt biển, ở nông thôn, rừng núi để giết hại tàn phá,
mà còn tràn ngập các đường phố, len lỏi cả vào những xóm lao động
chen chúc nữa. Ở đâu chúng cũng có những hành vi thô bạo, kỳ quái.
ở các căn cứ quân sự của chúng, chú ng hay giở trò sàm sỡ với những
phụ nữ đi làm thuê cho chúng, và khi không được thỏa mãn, chúng
đã sẵn sàng đuổi họ để trả thù . "Trong căn cứ Tân Sơn Nhất, những
đàn bà có chồng, con, kể lại mỗ i buổi sáng, trưa, họ vào làm việc tại
các phòng tắm rửa, giặt giũ của binh sĩ Mỹ, họ phải cúi gằm mặt
xuống chậu quần áo, liền tay vò sát, vì binh sĩ Mỹ mỗi khi tắm là cứ
trần truồng đi đi lại lại trước mặt họ, hoặc chúng gọi nhau đùa rỡn.
Đôi khi đùa dai (chúng còn) gọi người đàn bà nào đó đang ngồi làm
việc để nhìn lên trong khi chúng cười nhăn nhở". Ở những xóm lao
động, nơi chúng thuê nhà ở, chú ng vẫn thường để ngỏ cửa tồng ngồng
mặc quần lót đú đởn với các "me Mỹ" của chú ng, bất chấp chung
quanh. Có thể nói nói rằng hễ ở đây có lính Mỹ là có những cảnh
tượng dâm dật, bẩn thỉu. Chúng nham nhở bất cứ lúc nào có thể
nham nhở, ban ngày, ban đêm, trong giờ làm việc, ngoài giờ làm việc,
trong sở làm, ngoài phố, bất cứ với hạng người nào, dù xấu hay đẹp,
dù với những đứa con gái đáng tuổi con chúng hay với những người
đáng tuổi chị, tuổi mẹ chúng.
Trên các đường phố, từng đoàn xe cam nhông của chúng phóng
như gió, chèn các xe nhỏ vào lề, xuống ruộng, còn hễ cán người rồi,
chúng bỏ chạy luôn. Ngồi trên xe thì chúng với tay giật nón, nắn bóp

vào da thịt những phụ nữ đi xe đạp, đi xe gắn máy hoặc ném rác, ném
lon bia vào đầu cổ những kẻ đi đường rồi hí hố cười trơ trẽn. Ngay
trên đườ ng phố Sài Gòn, chúng say rượu ngả nghiêng, gặp bất cứ phụ
nữ nào cũng đưa tay trả giá, hoặc giở những trò tồi tệ khác: năm
1966, một phụ nữ ở Khánh Hội đã bị binh lính Mỹ bắt cóc giữa ban
ngày bằng xe Jeep. Còn khi đi hành quân lục soá t, chúng cũ ng không
quên, những trò khả ố với phụ nữ: xét các ghe máy từ Cam Ranh
sang Ba Ngòi, chúng đã "công khai rờ rẫm những nữ hành khách" cởi
áo lót các thiếu nữ trẻ tuổi rồi "vừa hò hét vừa cười với nhau hô hố".
Chú ng cũng đột nhập chùa chiền, xông vào nhà dân chúng như
trường hợp cuộc càn bố củ a lính Mỹ ở Cam Ranh năm 1968.
Giàu có và dâm dật, dâm dật lại gắn liền với tàn bạo, những
điều thường ngày diễn ra trên những phim Mỹ lại biểu hiện đầy đủ
trong thực tế đời sống của đội quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt
Nam. Sự thô lỗ về những thói quen xử sự của quân đội Mỹ trong
chiế n tranh Việt Nam đã hoàn toàn xác nhận điều đó: không một
hành vi tàn tệ, man rợ nào mà chúng không làm, từ việc bắn giết, đốt
phá, cướp bóc đến xẻo tai người để đếm xác, hãm hiếp tập thể, đặt
chất nổ vào âm hộ đàn bà rồi cho nổ banh xác. Tính chất phi thân
trong những hành động như thế không phải xảy ra một cách tùy tiện:
trong nhiều trường hợp, chúng đã trở thành một thứ thú vui. Một tên
Đại tá Mỹ tên là George S.Petton III, con trai của một tướng Mỹ lừng
danh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, thường có thói quen gửi
kèm theo những tấm thiếp chúc mừng sinh nhật những bức ảnh màu
chụp các binh sĩ "Bình an dưới thế" của "ông, bà Đại tá" v.v... Trong
một bữa tiệc từ giã một đơn vị ở phía Nam Quảng Ngãi, hắn đã nhận
được một huy chương hòa bình và cũng trong bữa tiệc ấ y, hắn đã
hoan hỉ đeo một cái sọ người gọi là của "Việt cộng" có một lỗ đạn từ
phía trên hốc mắt trái. Tháng 9 năm 1969, hắn đã được Thượng viện
Mỹ chấ p nhận cho thăng chứ c Thiếu tướng.
"Giết người lúc đầu là một bài học, nhưng dần dần là một nhu
cầu sinh lý. Giết để bảo vệ tính mạng. Nhưng giết cũng chỉ để giết".
Duncan, một lính mũ nồi xanh thuộc binh chủ ng mà Kennedy đã
chỉnh đốn để đi hoàn thành những chương trình gọi là "biên cương
mới" của Mỹ, sau khi nhận ra những tội lỗi của mình đã nói về cái "lý
tưởng" của mình như vậy đấy. Người ta hiểu được tại sao ở Việt Nam
lại xảy ra sự kiện Calley ở Sơn Mỹ. Tên trung ú y này đã chỉ huy một

đại đội lính Mỹ trong Sư đoàn Bộ binh 20, từ trực thăng nhảy xuống
một địa điểm gọi là Mỹ lai 4, tại là ng Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi, ngày
16.3.1968. Sau khi đã chia thành ba nhóm, chúng đã mở màn một
cuộc giết người cực kỳ tàn nhẫn. Chúng đâm người bằng lưỡi lê, ném
xuống giếng, tập hợp những đám đông rồi bắn súng máy, ném lựu
đạn cho đến khi thấy không còn một ai sống sót nữa mới thôi (những
người còn sống là những người may mắn bị các thây ma vùi lấp). Kết
cuộc sau ba giờ tàn sát, đại đội của Calley đã giết chết 567 người Việt
Nam: tất cả đều là những người không vũ trang, là những người đàn
bà những trẻ con, những ông già trong đó có cả nhà sư nữa.
Cái "ưu điểm" của một "lối sống" mà Thomas Dooley đã hứa hẹn
chứng minh cho những người Việ t Nam nghèo khổ là như thế đấy.
(Theo sách Cuộc xâm lăng về Văn hóa - Thông tin.
NXB Văn Hóa - 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
KẾ HOẠCH TALEY - TAYLO
Chiến lược toàn cầu của Mỹ với kế hoạch quân sự "Phản ứng
linh hoạt" đã có một sự thay đổi lớn về quan niệm và biện pháp thự c
hiện. Lấy hòa hoãn thay cho chiến tranh lạnh trong đối sách với Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; lấ y sức mạnh hạt nhân kiềm chế các
nước lớn khác; dùng chiến tranh dưới mức thông thường đối phó với
phong trào giải phóng dân tộ c.
Mối quan tâm lớn và nổi bật nhất của Mỹ là nguy cơ bị đe dọa
của các chế độ tay sai trước sự nổ i dậy của lực lượng cách mạng cá c
nước, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam. Tại đây bước vào năm 1960
thời kỳ tạm thời ổn định của chế độ Mỹ - Diệm hoàn toàn chấm dứt,
thời kỳ phát triển thế và lực củ a cách mạng miền Nam đã bắt đầu.
Do vậy Nam Việt Nam sớm trở thành 1 trong 10 khu vực thử thách
và là khu vực thử thách đầu tiên của chiến lược toàn cầu mới của
nước Mỹ.
Đế quốc Mỹ thấy rằng cần phải tăng cường chiến tranh để
chống lại phong trào cách mạ ng đã và đang bùng lên. Ngày 29/4/1961
Hội đồng an ninh quố c gia Mỹ đã phê duyệt "Kế hoạch chống nổi
dậy", theo đó Mỹ sẽ tăng lực lượng cố vấn và các đơn vị đặc biệt Mỹ,
tăng thêm viện trợ cho ngụy để đẩy nhanh việc xây dựng quân ngụy,
tăng cường phong tỏa miền Nam Việt Nam kể cả biên giới và vùng
biển, xúc tiến các hoạt động phá hoại bí mật ở miền Bắc Việt Nam.
Mặc dù ngay sau đó "Kế hoạch chống nổ i dậy" - phương án tạm
thời của các thế lực hiếu chiế n ở miền Nam không đem lại hiệu quả,
nhưng có một quan niệm mới đang hình thành ở Mỹ lú c ấy là phải
nhìn nhận Nam Việt Nam như là một trọng điểm của toàn bộ quyền
lợi của Mỹ ở Đông nam Á. Chính vì thế trong năm 1961 các phái đoàn
nghiên cứu của Mỹ tới tấp bay sang Nam Việt Nam: Phái đoàn của
Johnson phó tổ ng thống Mỹ đã đến Sài Gòn tháng 5/1961, phái đoàn
của Staley tiến sỹ viện nghiên cứu Stanford đến Sài Gòn tháng

6/1961, phái đoàn của Taylor va Rosow trong bộ quốc phòng Mỹ đến
Nam Việt Nam tháng 10/1961..... Kết quả là Nam Việt Nam sẽ là nơi
thí điểm điển hình loại chiến tranh của chiến lược toàn cầu "Phản
ứng linh hoạt" vừa ra đời.
Kế hoạch chiến tranh đặc biệt của Mỹ áp dụ ng lầ n đầu tiên tại
miền Nam đã tập trung vào việc tăng cường và mở rộng vai trò của
lực lượng cố vấn, đưa lực lượ ng đặc nhiệm Mỹ vào tham chiến, xây
dựng nhanh lực lượng của Diệm thành đội quân mạnh có vũ khí
trang bị hiện đại, khẩn trương bình định và phát triển miền Nam,
đẩy mạnh các hoạt độ ng phá hoại miền Bắc... Kế hoạch Staley -
Taylor là kế hoạch cụ thể để thực hiện chiến lược mới gồm ba giai
đoạn:
• Giai đoạn 1 thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu
là bình định miền Nam bằng biện pháp Ấp chiến lược.
• Giai đoạn 2 thực hiệ n từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế,
tăng cường lực lượng quân đội, hoà n thành công cuộc bình
định.
• Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh
tế, ổ n định miền Nam và kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch được mở đầu và có ý nghĩa quyết định là ở giai đoạn 1
với hai biện pháp chiến lược là:
1. Tăng nhanh lực lượng và khả năng chiến đấu của quân
ngụy. Ngụy quân là xương sống của cuộc chiến tranh theo công
thức: Quân ngụy + vũ khí trang bị của Mỹ + cố vấn Mỹ.
2. Thực hiện cho được quốc sách Ấp chiến lượ c. Đó vừa là mụ c
tiêu cơ bản, biện pháp chiến lược, vừa là kế sách trước mắt và
lâu dài để giành thắng lợi trong chiến tranh ở Việ t Nam.
Trong thực tế Mỹ - Diệm chuẩn bị cho việc triển khai kế hoạch
mở rộng chiến tranh từ đầu năm 1961, khi kế hoạch Staley - Taylor
ra đời thì nó đã được thực hiện nhanh chóng.
Đầu tháng 4/1961 hệ thống chiến trường miền Nam được cải tổ,
giải tán các quân khu lập các vùng chiến thuật. Tháng 5 năm 1961

Mỹ đưa lực lượng đặc nhiệm và đưa thêm cố vấn Mỹ vào miền Nam.
Quân ngụy được tăng nhanh về số lượng, tổ chứ c các sắc lính đượ c
củng cố lại, trang bị thêm nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh hiện
đại. Trong vòng 18 tháng của kế hoạch chiế n tranh mới, đến năm
1962 ngụy đã có lực lượng 354.000 quân, trong đó có gần 200.000 chủ
lực được trang bị hiện đại và tác chiến theo "chiến thuật tân kỳ". Lự c
lượng nòng cốt này còn có sự hỗ trợ trực tiếp của 2.630 cố vấn Mỹ,
8.280 quân thuộc lực lượng đặc nhiệm Mỹ, 257 máy bay chiến đấu,
346 xe thiết giáp..... Quân ngụy sẽ có khả năng lớn để chiến đấu và
chúng đang được đặt trong tình thế chiến tranh chống du kích với rất
nhiều hy vọng sẽ dập tắt cuộc đấu tranh của nhân dân miề n Nam
vừa mới bù ng lên.
Đầu năm 1962 bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV) đượ c
thành lập do Paul Harkin đứng đầu, thay thế cho cơ quan viện trợ
quân sự (MAAG) của Macgarr. Như vậy Mỹ sẽ trực tiếp nắm lấy
quân ngụy và điều hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, thông qua hai
bộ phận chủ yếu là lực lượng yểm trợ và lực lượng cố vấn trong cơ
quan MACV. Viện trợ Mỹ cho Nam Việt Nam trong tài khóa năm
1962 - 1963 tăng nhanh để phục vụ kịp thời cho việc mở rộng chiến
tranh.
Tháng 4/1962, quố c hội của Diệm tuyên bố chương trình Âởp
chiế n lược là một "quốc sách chống cộng", trọng điểm là vùng đồng
bằng khu 5, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ là các vùng ưu tiên quốc gia
khác ở mỗi tỉnh. Chuyên gia quân sự về chống du kích là Thompson
được mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn bình định.
Hành quân càn quét lập ấp chiến lược trở thành hoạt động chủ
yếu nhất, sôi nổi nhất của Mỹ Diệm ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1962 - 1963. Từ đó hàng vạn cuộc hành quân cà n quét
được mở ra, nhiều ấ p chiến lượ c được xây dựng thí điểm. Đến cuối
năm 1962 đã có gần 4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho
chương trình ấp chiến lược, trong đó có nhiều cuộc càn quét quy mô
lớn như " chiến dịch mặt trời mọc", "chiến dịch Bình Tây", "chiến dịch
Sao mai", "chiến dịch Thu Đông"... Mục tiêu 17.000 ấp chiến lượ c với
10.000.000 dân được thực hiện với ưu tiên số 1 và là quốc sách xây
dựng quốc gia, năm 1962 đã có 4.248 ấ p hình thành, đến cuối năm

1962 đầu năm 1963 đã có 9.095 ấp được xây dựng gom giữ khoảng
8.000.000 dân.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - Tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»