ĐÔLA MỸ VÀ LỐI SỐNG MỸ
Sức nặng của đồng đôla và giá cả điên đảo
Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève, từ 1955 đến
1960, Mỹ viện trợ cho Diệm gần 2 tỷ USD. Dưới tác động của viện trợ
Mỹ, kinh tế của Sài Gòn phát triển khá nhanh theo chiều hướng kinh
tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Nhà máy mọc lên khá nhiều: 70%
trong tổng số 12.000 cơ sở công nghiệp của toàn miề n Nam tập trung
tạ i vùng Sài Gòn - Gia Định - Biên Hòa. Công cuộc sản xuất ở thành
phố sớm bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng, như phụ thuộc quá
lớn vào nước ngoài (Mỹ, Nhật...) về nguyên liệu, phụ tùng, thiết bị và
cả về Kỹ thuật; phát triển một cách què quặt (vì thiếu những ngành
then chốt như cơ khí chế tạo máy, hóa chất cơ bản, sản xuất nguyên
liệu kỹ thuật) và mất cân đối, không những không chú trọng toàn bộ
nền kinh tế mà ngày cả trong từng ngành, từng xí nghiệp (như thiếu
sợi cho công nghiệp dệt, thiếu bột giấy cho công nghiệp giấy...). Từ
khi chiến tranh lan rộng, những ngành nghề trực tiếp hay gián tiếp
phục vụ chiến tranh có điều kiện phát triển mạnh, còn nhiều ngành
nghề khá c bị chựng lại hay suy sụp. Mặt khác, do viện trợ, Mỹ cũng
buộc ngụy quyền Sài Gòn phải mua hàng của Mỹ rồi bán hàng đó mà
lấy tiền trả lương cho công chứ c, binh lính... khiến hàng sản xuất
trong nước không cân sức với hàng ngoại nhậ p.
Mười mấ y năm sau, các tác giả của Tài liệu mật Lầu Năm Góc
kể công: "Không có sự giúp đỡ của Mỹ, gần như chắc chắn là Diệm
không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở miền Nam trong thời
gian 1955 và 1956 (...) Không có việ n trợ của Mỹ trong những năm
sau đó, chắc chắn là chế độ Diệm (...) không thể sống sót được". Họ
kết luận một cách không úp mở : "Về cơ bản, miền Nam Việt Nam là
sản phẩm do Mỹ tạo ra".
Được Mỹ cố vấ n và tài trợ, chính quyền Diệm đáp lại những
nguyện vọng của nhân dân bằng đàn áp, khủng bố. Diệm đề ra "quốc
sách tố Cộng" (11-4-1955), dụ số 6 (11-1-1956) thành lậ p cá c trại tập
trung để an trí nhữ ng người bị xem là "nguy hại cho quốc phòng và
an ninh", luật 10/59 (6-5-1959) lập các tòa án quân sự đặc biệt chỉ xử
hai mức án: tử hình và khổ sai chung thân. Tài liệu mật của Lầu
Năm Góc ghi: "Trong cái gọi là chiến dịch tố Cộng bắt đầu từ mùa hè
1955, có từ 5 đến 10 vạn ngườ i bị bắt vào các trại giam". Đó là những
người yêu nướ c, trước đây đã kháng chiến giành độc lập tự do, nay
tiếp tục đấu tranh cho hòa bình thống nhất. Đặc biệt, nhiều cán bộ
lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định lần lượt bị Mỹ - Diệm
bắt giết như Trần Quốc Thảo, Nguyễn Trọng Tuyển, Đoàn Văn Bơ...
Để nắ m rõ tình hình và âm mưu của địch, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ
Lê Duẩn quyết định vào Sài Gòn. Từ tháng 6 đến tháng 12-1956,
đồng chí sống và làm việc tại nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh
(Đakao, quận 1) giữa sự bao bọc của đồng bào, đồng chí. Chính trong
lòng địch, đồng chí đã viết bản Dự thảo đề cương Đường lối cách
mạng miền Nam, khẳng định: "Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một
con đườ ng là vùng lên chống Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình.
Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó , không có con đường
nào khác". Và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chiến
quyền độc tài phát xít của Mỹ - Diệm" để "cùng toàn quốc thực hiện
hòa bình, thống nhấ t".
Để thực hiện ý đồ xâm lược Mỹ không tìm đâu ra đất trống giữa
đô thành đông dân để lập doanh trại, một mặt Mỹ thuê một số khách
sạn ở những khu vực "an ninh" (thường là ở các quận trung tâm của
Sài Gòn), mặt khác chi tiền cho các nhà thầu xây dựng mới một số
cao ốc. Sau khi ký hợp đồng với Mỹ và nhận trước tiền cho thuê trong
hai năm, các chủ thầu tiến hành xây dựng cấp tốc. Vì vậy, hầu hết
cao ốc này là những tòa nhà hình hộp với đường nét kiến trú c cực kỳ
đơn giản, hoàn toàn không có hoa văn cầu kỳ như các công trình xây
dựng dưới thờ i thuộc Pháp.
Quân Mỹ đổ vào Sài Gòn càng đông thì các cao ốc xây cho Mỹ
thuê mọc lên càng nhiều. Chỉ riêng đường Trần Hưng Đạo đã có
khoảng mười cao ốc từ 5 đến 10 tần mọc lên bên cạ nh những ngôi nhà
trệt hay hai, ba tầng xây dựng từ trước.
Luôn luôn sống trong nỗi lo sợ bị tấn công, Mỹ cho canh gác cá c
cư xá này một cách cẩn mật ngày đêm. Bất chấp vẻ thẩm mỹ của
cảnh quan đô thị, các cư xá này thường được che chắn bằng hàng rào
kẽm gai, tấm lưới chống B.40 và thùng phuy chứa đầy cát và xi-măng
để làm ụ chiến đấu khi cần!
Sau vụ Tòa đại sứ Mỹ bị quân giả i phóng tấn công hư hại nặng,
Mỹ treo bả ng cấm người đi bộ và người đi xe dừng lại trước cư xá Mỹ;
nếu không, lính gác Mỹ sẽ nổ súng. Đọc bảng cấm đó, người Sài Gòn
ai ai cũng phẫn nộ. Có tờ báo viết: "Thành phố này là của người Việt
Nam. Lính Mỹ là khách không mời mà đến, có quyền gì mà ra lệnh
cấm chủ nhà?". Một hôm, một chiếc xe lam chạy ngang một cư xá Mỹ
trên đường Hai Bà Trưng thì hỏng má y. Tài xế vừa bước xuống đất
định đẩy xe đi nơi khác thì lính gác Mỹ xả súng vào xe, khiến tài xế
và nhiề u hành khách chết tại chỗ. Những sự cố tương tự như thế xảy
ra như cơm bữa, không tháng nào không có.
Thực hiện chiến lược "hai gọng kìm: tìm - diệt và bình định", Mỹ
- Thiệu liên tục mở các cuộc hành quân càn quét ở nông thôn, ném
bom bắn phá xóm làng, xua đuổi hàng chục vạ n nông dân lìa bỏ
ruộng đồng, chạy lên Sài Gòn. Trên tạp chí Xây dựng mới số 5 xuất
bản ở Sài Gòn thá ng 9 - 1967, tác giải Phạm Hoàng Thanh viết: "Mỗi
ngày dân chúng ở quê lũ lượt kéo lên thành phố khiến dân số nơi đây
gia tăng một cách kinh khủng, có nơi mật độ lên tới 28.000 người một
cây số vuông. Người ta chen lấn giành giựt nhau từng tấc đất để xây
cất. Hiện giờ ở Sài Gòn, sau những cao ốc đẹp đẽ, có ai ngờ có hàng
ngàn hàng vạn ngôi nhà ván lợp tôn chèn ép nhau, tối tăm bẩn thỉu,
bên cạnh những ao tù nước đọng, những đống rác thối tha ghê tởm".
Báo cáo của Tổng cục gia cư ngụy quyền cũng thừa nhận: trong
những xóm nhà ổ chuột đó, người dân "sống trong cảnh thiếu thốn,
không thể tưởng tượng được, chen chúc bên cạnh những ao vũng, rắn
rết, thiếu từ không khí, vệ sinh, ánh sáng... thậm chí đến cả lối đi.
Mùa mưa thì bị ngập nước, sình lầ y nhơ nhớp, mùa nắng thì lo sợ hỏa
hoạn".
Những khu ổ chuộ t đó không chỉ làm mất vẻ mỹ quan của "thủ
đô" mà còn khó kiể m soá t về an ninh chính trị và trật tự xã hội. Vì
vậy, một số chung cư bắt đầu được xây dựng. Tuy có điện nước, đường
sá, cống rãnh... song cuộc sống không lấy gì làm thoải mái lắm trong
những căn hộ khá chật hẹp (nhất là đối với những gia đình đông
người) chồng chất lên nhau trên những diện tích không rộng lắm
(chung cư Ấn Quang gồm 850 căn hộ trên khu đất rộng 2,39ha; chúng
cư Bàn Cờ, 1.260 hộ/ 3,62ha; chung cư Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn
Kim: 2.445 hộ/5,06 ha; chung cư Minh Mạng: 3.150 hộ/10,82 ha). Khu
cư xá Thanh Đa được xây dựng trên diện tích khá rộng (36ha) ven bờ
sông Sài Gòn, cảnh trí nên thơ, bốn bề gió lộng, nên khắc phục đượ c
cảm giác tù túng của những chung cư trong nội thà nh. Khu cư xá này
gồm 31 tòa nhà 5 tầ ng, chứa được 4.074 hộ, thuộ c nhiều loại khá c
nhau (và giá bán cao, thấp khác nhau): có loại chỉ rộng 53m2, có loại
rộng tới 80m2, có loại cầu thang chung cho cả một tầng lầu, có loại
cầu thang riêng cho từng hai hộ...
Để giải quyết nạn khan hiếm nhà hết sức trầm trọng ở Sài Gòn
lúc đó, theo tính toán củ a ngụy quyền, thành phố cần xây mới 50.000
căn hộ và giả i tỏa 110.000 nhà ổ chuột. Thế nhưng, trong suốt 10
năm trời, chỉ có vẻn vẹn 15.700 căn hộ được xây.
Hai công trình kiến trúc lớn được xây trong những năm 1960 là
dinh Độc Lập (mới) và Tòa đại sứ Mỹ (mới).
Ngày 27-2-1962, hai trung úy phi công ngụy Nguyễn Văn Cử và
Phạm Phú Quốc (thuộc một tổ chức chống Diệm) đã ném bom dinh
Độc Lậ p trong 10 phút. Cánh bên trái của dinh bị hư hại nặng. Ngô
Đình Diệm cho san bằng dinh để xây lại mớ i hoàn toàn theo bản thiết
kế của kiến trúc sư tài ba Ngô Viết Thụ. Nhưng Diệm không được ở
dinh mới: ông ta bị nhóm tướng tá đảo chính giết chết ba năm trướ c
khi dinh mới khánh thành (31-10-1966). Dinh mớ i cao 4 tầng, gồm
100 phòng, được trang trí lộng lẫy, kinh phí xây dựng lên tới 2,7 triệu
đôla Mỹ.
Công trình thứ hai là Tòa đại sứ Mỹ ở góc hai đường Thống
Nhất (nay là Lê Duẩn - Mạc Đĩnh Chi), xây xong tháng 9-1967, để
thay cho Tòa đại sứ Mỹ cũ (ở số 39 đường Hàm Nghi) bị các chiến sĩ
biệt động thuộc đơn vị F.21 tấn công ngày 30-3-1965 làm hư hại
nặng.
Sứ quán mới là một tò a nhà lớn hình khố i chữ nhật, sơn màu
trắng, cao 6 tầng, gồm 140 phòng, được xây dựng hết sức kiên cố như
một pháo đào. Báo chí gọi là "Tòa nhà trắng ở phương Đông" vì tại
đây các kế hoạch chính trị và quân sự được bàn bạc và quyết định.
Để thu hút thanh niên Mỹ tham gia vào cuộc hiến tranh xâm
lược Việt Nam, Chính phủ Mỹ dành cho họ nhiều ưu đãi về vật chất.
Lương tháng của mộ t binh nhấ t Mỹ là 90 đôla (sau tăng lên 95đôla),
nghĩa là bằ ng thu nhập bình quân của một người Sài Gòn trong một
năm. Chưa hết, nhờ mua đi bán lạ i hàng PX (hàng được Chính phủ
Mỹ trợ giá), thu nhập của lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam tăng lên
gấp nhiều lần lương chính thức. Do đó, họ mặc sức tiêu pha gây đảo
lộn trong sinh hoạt kinh tế - xã hội của thành phố.
Trước hết là tình trạng phân hó a ngày càng sâu sắc trong xã
hội. Giữa lúc đại đa số nhân dân lao động, trí thức... vật lộn hết sứ c
khó khăn với đời sống hằ ng ngà y do vậ t giá không ngừng leo thang,
thì một bộ phận trong dân cư thành phố trở nên giàu có nhanh chóng.
Đó là những người sống bằng những nghề phục vụ cho các nhu cầu ăn
ở, đi lại, chơi bời... của lính viễn chinh, từ những chủ thầu cung cấp
hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ... đến bọn
ma cô, gái điếm, gái nhảy, gái tắm hơi, gái bán "bar"... Sự phân hóa
về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các bậc thang giá trị truyề n thống
trong xã hội: "thứ nhất là sở Mỹ, thứ nhì là gái đĩ, thứ ba bọn ma cô,
thứ tư tướng tá ngụy".
Hàng Mỹ và hàng các nước và lãnh thổ trong phe Mỹ (Nhật,
Nam Triều Tiên, Đài Loan...) được nhập trà n lan hoặc được tuồn từ
các cử a hàng PX của quân viễn chinh vừ a sang, vừa rẻ, đã bóp chết
nhiều ngành sản xuất thủ công và nửa cơ giới truyền thống của
thành phố. Nhiều nhà sản xuất hàng nội hóa muốn tồn tại phải chấp
nhận hạ giá hàng (như 1kg xà bông giá 66,6đ (1965) hạ còn 44,7đ
(1966), 1 tạ đường cát giá 2.745đ (1965) hạ còn 2.580,6đ (1966)... Đặc
biệt nghề dệt - vốn là một thế mạnh của thành phố với những xóm
dệt nổi tiếng ở Tân Bình, Gò Vấp... bị giáng một đòn trí mạ ng: "Hàng
vạn khung cửi phải ngừng hoạt động, hàng tỉ bạc đầu tư trong máy
móc bỗng nhiên trở thành vô dụng và hàng chục ngàn thợ phải từ bỏ
lãnh vực sản xuấ t bước sang lãnh vực khác". "Bướ c sang lãnh vực
khác" chẳng qua là một lối nói "tế nhị" nhằm tránh bị kiểm duyệt,
trong thực tế, đông đảo những người thợ dệt này đã gia nhập vào đạo
quân thất nghiệp của thành phố (đông đến 30 vạn người vào tháng 2-
1966).
Chiến tranh càng leo thang, nạn lạm phát càng nghiêm trọng
(bá o chí gọi là "lạm phát phi mã"): 140 tỷ (1969), 162 tỷ (1970), 187,4
tỷ (1971), tỷ lệ gia tăng bình quân hằng năm là 15%.
Để đối phó, Thiệu - Kỳ không cò n biện pháp nào khác hơn là
phá giá đồng bạc và tăng thuế.
Ngày 17-6-1966, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban hành pháp
trung ương, Nguyễn Cao Kỳ ký hai sắc lệnh 001/66 và 002/66 quy
định 1 đôla Mỹ ăn 118 đồng (trướ c đó 1 đôla tương đương 60 đồng).
Trên chợ đen, giá 1 đôla Mỹ lên tới 270 đồng và không ngừng tăng
đến 360đ (1969), 414đ(1971), 640đ (1974), 700đ (1975).
Hậu quả tức thời của biện pháp phá giá đồng bạc là cả mọi hàng
hóa đều tăng vọt. Theo thống kê của Ngân hàng quốc gia ngụy, giá
một số thực phẩ m vào cuối năm 1965 và cuối năm 1967 như sau:
1kg thịt gà tăng từ 96 đồng lên 309 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg thịt vịt tăng từ 63 đồng lên 203 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg tôm tươi tăng từ 62 đồng lên 216 đồng (gần 3,5 lần).
Người dân lao động Sài Gòn không dám động đến các món
hàng "cao cấp" nói trên, nhưng họ không thể không ăn cơm với rau
trong bữa ăn hàng ngày. Thế nhưng giá cả các thực phẩm thiết yếu
này cũng tăng không dưới 3 lần (vẫn theo thống kê của cơ quan ngụy
quyền nói trên):
1kg gạo sóc nâu từ 9,03đ lên 27,83đ (hơn 3 lần).
1 kg rau muống từ 7đ đến 21đ (gấp 3 lầ n).
Mặt khác, như báo Điện tín ngày 5-12-1973 viết: " với nhu cầu
ngân sách gồm những cho phí cực nặ ng trên lĩnh vực quốc phòng...
người dân sẽ phải hứng đỡ gánh nặng thuê khóa bằng tất cả mọi tàn
lực của mình". Thật vậy, chính quyề n Thiệu không ngừng tăng thuế
cũ và đặt thêm thuế mới: thuế nhà hàng (31-3-1966), thuế lương bổng
(3-9-1966), thuế lợi tức (3-9-1966)... để ngày càng vơ vét tài lực của
người dân: từ 77 tỷ (1969), 97 tỷ (1970) lên 126 tỷ (1973), 240 tỷ
(1974)!
Tức nước phải vỡ bờ, công nhân và nhân dân lao động thành
phố lập các tổ chức như Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, Ủy ban
đấu tranh chống sa thải công nhân, Ủy ban cải thiện đời sống công
nhân, v.v... để đòi chính quyền Thiệu và giới chủ phải tăng lương, hạ
giá sinh hoạt, chống đuổi thợ dưới bất kỳ hình thức nào và nhất là đòi
Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân về nước vì đó là
những nguyên nhân của mọi khổ đau về vật chất và tinh thần của
dân ta.
Lối sống sa đọa và trụy lạc
Để "giúp vui" cho đạo quân viễn chinh, Mỹ - Thiệu cho phé p mở
cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và
nhất là nhà chứa, nhan nhản khắ p Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh
các cư xá Mỹ. Thị trường mại dâm - được gọi một cách nôm na là "chợ
heo" - được Mỹ - Thiệu công khai hóa và hợp phá p hóa. Năm 1966, từ
Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã
biến Sài Gòn thành một ổ điếm". Câu nói đó tuy có xúc phạm đến thể
diện và danh tiếng của thành phố, song đã phản ánh một thực tế đau
lòng. Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: "Tại chợ heo đó, hằng
ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng... cho lính
Mỹ đế n chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là
nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam".
Lối sống dâm ô trụy lạc, không chỉ là hậu quả tất nhiên của sự
có mặt của hàng ngàn, hàng vạn lính viễn chinh đú đởn và lắm tiền,
nó còn nằm trong chủ trương thâm độc của Mỹ - Thiệu muốn sa đọa
hóa thanh niên Việt Nam hòng làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh
đất nước đang bị xâm lược, quay lưng lạ i với nghĩa vụ đối với dân tộc.
Từ chủ trương đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu
dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp kém của
người đọc, đề cao bản năng thú tính, công khai cổ vũ cho lối sống
hưởng thụ, xem việc thỏa mãn tính dục là mục đích tố i thượng của
cuộc đời. Bên cạnh những phim "con heo", báo chuyên in hình phụ nữ
khỏa thân (như Play-boy, Penthouse, Nude...) bày bán công khai trên
vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý... ở ngay trung tâm thành phố, là
những tiểu thuyết Yêu, Sống, Loạn... của Chu Tử, Cậu chó, Chú Tư
Cầu, Đêm không cùng... của Lê Xuyên và những truyện ngắn, truyện
dài khiêu dâm của các tác giả khác như Mai Thảo, Dương Nghiễm
Mậu, Thụy Vũ, Túy Hồng...
Sự có mặt của quân Mỹ cũng như chủ trương nói trên của Mỹ -
Thiệu gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa -
tinh thần của thành phố . "Sự sa đọa, sự trụy lạc trong xã hội... đã gây
ra biết bao thảm cảnh gia đình, bao nhiêu đổ vỡ hạnh phúc, bao
nhiêu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày
nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, đâm
chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp..."
Bảo vệ văn hóa dân tộc
Chống lại âm mưu đồi trụy hóa xã hội của Mỹ - Thiệu, nhân
dân Sài Gòn nhanh chóng thành lập các tổ chức quần chúng rộng rãi
như Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và
quyền lợi phụ nữ, Hội bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên..., xuất bản
các tạp chí Tin Văn, Hồn Trẻ, Tiếng Nói Trí Thức..., tổ chức nhiều
buổi diễn thuyết, hội thảo, ra tuyên ngôn, nghị quyết vạch rõ: chính
chiế n tranh xâm lược và sự hiện diệ n của quân viễn chinh là nguyên
nhân dẫn tới những đổ vỡ trong đời sống văn hóa - tinh thần của Sài
Gòn nói riêng và toàn miền Nam nói chung: "Hiện tượng văn hóa đồi
trụ y lúc này thể hiện rõ nhất, tai hại nhất ở khía cạnh khêu gợi bản
năng dục tính, khuấy động thú tính. Trong văn chương thì rõ nhất,
nhưng không phải chỉ có văn chương bao gồm báo chí, mà cả hội họa,
âm nhạc, điện ảnh, ca kịch nữa. Nguyên nhân là chiến tranh và
người ngoại quốc (ám chỉ lính Mỹ) quá đông, là sự nhập cảng những
tác phẩm văn nghệ, phim ảnh kiểu sexy, cũng là tinh thần vô trách
nhiệm của những văn nghệ sĩ vong bản".
Người tiêu biểu nhất cho đám "văn nghệ sĩ vong bản" đó là Chu
Tử. Các nhà phê bình văn học như Vũ Hạnh, Lữ Phương,... đã phê
phán Chu Tử phục vụ cho chủ trương đồi trụy hóa xã hội của Mỹ -
ngụy. Sinh viên tổ chức "phiên tòa" để "xử án" Chu tử và quyết định
thiêu hủy cá c tiểu thuyết độc hại của ông ta. Mỹ - Thiệ u ra mặt bênh
vực Chu Tử, bắt giam Vũ Hạnh và định bắt Lữ Phương, nên Lữ
Phương phải ra bưng tham gia Liên minh các lực lượng dân tộ c, dân
chủ và hòa bình.
Trong suy nghĩ của người Sà i Gòn, cách tốt nhất để chống lại
những tác hạ i của chủ trương văn hóa đồi trụy, phản động là xây
dựng một nền văn hóa dân tộc, tiến bộ và lành mạnh.
Phong trào hát sử ca (những bài hát ca ngợi các sự kiện oanh
liệt trong lịch sử dân tộc như Hội nghị Diên Hồng, các chiến thắng
Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa...) và kháng chiến ca (những bài hát
sáng tác trong thời kỳ chống Pháp) lan nhanh trong các trường phổ
thông và đại học, làm sống lại truyền thống đấu tranh bất khuất của
dân tộc ta. Sinh viên học sinh phá t động phong trào Hát cho đồng bào
tôi nghe phổ biến những bài hát do chính sinh viên sáng tác, phản
ánh thực tiễn đấu tranh phong phú của các tầng lớp nhân dân Sài
Gòn (như Người mẹ Bàn Cờ, Tự nguyện, Dậy mà đi, Tổ quốc ơi ta đã
nghe...). Sinh viên học sinh còn trình diễ n các vở kịch (như Tiếng gọi
Lam Sơn, Tiếng trố ng Hà Hồi, Hàm Tử quan, Diêm Vương xử án Sáu
Thẹo (ám chỉ Nguyễ n Văn Thiệu)..., các nhạc cả nh (như Tiếng trống
hào hùng, thảm cảnh Mỹ Lai, Làm thân cỏ cú, Công trường chiều
nay...) rất được quần chúng tán thưởng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Tô
Vũ nhận xét: "Trong lịch sử âm nhạc cách mạng, hiển nhiên phong
trào Hát cho đồng bào tôi nghe với sự hưởng ứng rộng rãi của quần
chúng đô thị, với hàng loạt bài hát xuất sắc, đã chiếm lĩnh một vị trí
đẹp đẽ mà giới nghệ thuật nói chung, ngành âm nhạc nói riêng, có thể
tự hào".
Phát huy tác dụng của phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe,
sinh viên học sinh Sài Gòn tổ chức những đêm không ngủ bên ánh
lửa trại để ca hát và hội thảo về các chủ đề: Hát cho hòa bình Việt
Nam, Đốt lửa lên cho rõ mặt kẻ thù...
Bất chấp lưỡi kéo kiểm duyệt của Mỹ- Thiệu, khi Bác Hồ qua
đời, nhiều trí thứ c, nhà văn, nhà báo đã công khai ca ngợi công đức
của vị lãnh tụ kính yêu ( như nói chuyện với người đã khuất của Lý
Chánh Trung, chói sáng như mặt trời của Lưu Nghi...) Các bài
nghiên cứu của nhà sử học Trương Bá Cần như Từ cách mạng tháng
mười đến Cách mạng tháng tám, hai mươi lăm năm xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc...được dân Sài Gò n hoan nghênh, còn Mỹ-
Thiệu thì run sợ, đưa tác giả ra tòa, tịch thu sách báo...
Mặc cho Mỹ- Thiệu đàn áp khủng bố, những nhà bá o chân
chính vẫn anh dũng phản ánh nhữ ng suy nghĩ của người Sài Gòn
trên mặt báo công khai qua các bài như Lòng dân ( của Thanh Giang,
báo Thân Dân),Những ngày tàn của cuộc chiến (của Giang Nguyên,
báo Tin Lửa), Viễn Cảnh hòa bình mới ở Việt Nam ( củ a Phạm Hồng,
báo Tin Lửa)...
Văn hóa trở thành mặt trận
Sài Gòn là nơi tập trung nhiều tờ báo nhất nước. Ngoài những
tờ vô thưởng vô phạt nặng về kinh doanh, báo chí Sài Gòn lúc đó có
hai lập trường chính trị đối lập hẳn nhau.
Lập trường thứ nhất là chống Cộng, chống hiệp thương tổng
tuyển cử, kêu gào "lấp sông Bến Hải" để mở cuộc "Bắc tiế n". Những tờ
báo có lập trường này đều nhận tiền của Mỹ - Diệm, như các tờ: Cách
mạng quốc gia, Tự Do, Dân Tộc, Ngôn Luận, Tin Bắc, Tin Mới, v.v...
hô hào chống cộng lớn nhất là số ký giả di cư như Tô Văn, Vũ Bắc
Tiến, Hiếu Chân (Nguyễ n Hoạồt), Phạm Việt Tuyền...
Sau chín năm khó i lửa, người dân Sài Gòn hiểu thế nào là giá
trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, nên họ ủng hộ những tờ báo chủ
trương thực hiện đầy đủ Hiệp định Genè ve như các báo Công Lý,
Điện Báo, Duy Tân, Nhân Loại, Gọi Đàn, Hừng Sáng, Bình Minh,
v.v... Tất cả những tờ báo này đều có sự cộng tác - tất nhiên là rất kín
đáo - của những cán bộ kháng chiến như Nguyễn Văn Hiếu, Dương
Tử Giang, Lý Văn Sâm, Lý Văn Sinh, Trường Xuân Thúc, Tô Nguyệt
Đình, Thanh Giang, Nguyễ n Khắc Công, Văn Phụng Mỹ, Trần Ngọc
Sơn, Hương Ngô, v.v...
Báo chí trở thành một mặt trận đấu tranh chính trị quyết liệt.
Các nhà báo kháng chiến càng được bạn đọc Sài Gòn mến mộ thì Mỹ
Diệm càng "để ý" đến họ. Ái Lan, Hương Nam, Trần Thanh Thế,
Nguyễn Văn Mại, Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm... bị bắt; Trần Ngọc
Sơn, Anh Hoàng... bị đày ra Côn Đảo và hy sinh ở ngoài đó.
Lúc đầu sau chiến tranh kết thúc, các đoàn cải lương hoạt động
rộn rịp hẳn lên. Bên cạ nh các đoàn của Sài Gòn, còn có các đoàn ở các
tỉnh lên thành phố trình diễn. Ngoài ra, còn mấy đoàn từ ngoài Bắc
vào như Kim Chung, Bích Hợp, Phụng Khánh... hát cải lương theo
giọng Bắc.
Nhiều đoàn cải lương tiến bộ chuyên dàn dựng các vở về đề tài
lịch sử, ca ngợi truyền thống chống xâm lược của dân tộc như Bạch
Đằng Giang nổi sóng, Hỏa hồng Nhật Tảo, Ngược sóng Phù Luông,
Tiếng sấm Phú Kinh, Cứu lấy non sông... hoặ c khoác lên sự kiện cũ
một ý nghĩa thờ i sự (chẳng hạn, vở Lấp sông Gianh không chỉ phê
phán cuộc phân tranh của hai dòng họ phong kiến Trịnh - Nguyễn
mà chủ yếu là lên án âm mưu của Mỹ - Diệm muốn kéo dài tình
trạng chia cắt đất nước, chố ng hiệp thương tổng tuyển cử tái thống
nhất Tổ quốc). Vì vậy, giữa lúc đoàn Kim Thoa đang diễn vở nà y tại
rạp Nguyễn Văn Hảo, Mỹ - Diệm cho ném lựu đạn lên sân khấu
khiế n nghệ sĩ Ba Cương và nhiếp ảnh viên Nguyễn Mai chết tại chỗ,
nghệ sĩ Duy Lân và hàng chục người khác bị thương nặng.
Sân khấu Đuốc Việt ở Phú Nhuận cũng bị đốt vì diễn vở Bứt
xiềng nô lệ.
Diệm ra lệnh cấm diễn các vở có nội dung tiế n bộ như Người
mặt cháy, Nhụy hoa lan...
Nhiều soạn giả và nghệ sĩ cải lương bị bắt như Phạm Trần (Phi
Vân), Năm Châu, Tám Cao... Soạn giả Trần Hữ u Trang bị truy lùng,
đến 1960 phải rời thành phố ra vùng giải phóng.
(300 năm Sài Gòn-TP.HCM)
Chán đời đi lang thang !
★
★
★
★
★
0