📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lịch sử Sài Gòn 🔒

126 trả lời, 21.375 lượt xem — Trang 3 / 5
CÁI GỌI LÀ "ƯU ĐIỂM" CỦA MỘT "LỐI SỐNG" MỸ
Cái "phồn vinh" do Mỹ đến và một số tên bồi bút chai sạn đã trơ
trẽn đề nghị cần phả i "tri ân" thật sự chỉ là sự "phồn vinh" tạo ra
trong nô lệ, mất nướ c. Để kiếm được những món hàng dư thừa từ Mỹ
đưa sang, bao nhiêu máu người đã đổ ra vì bom đạn Mỹ, bao nhiêu
nhân phẩm đã bị chà đạp, khinh miệt.
Bóng dáng cao lớn của bọn viễn chinh đổ dài xuống khắp nơi,
không phải chỉ ở mặt biển, ở nông thôn, rừng núi để giết hại tàn phá,
mà còn tràn ngập các đường phố, len lỏi cả vào những xóm lao động
chen chúc nữa. Ở đâu chúng cũng có những hành vi thô bạo, kỳ quái.
ở các căn cứ quân sự của chúng, chú ng hay giở trò sàm sỡ với những
phụ nữ đi làm thuê cho chúng, và khi không được thỏa mãn, chúng
đã sẵn sàng đuổi họ để trả thù . "Trong căn cứ Tân Sơn Nhất, những
đàn bà có chồng, con, kể lại mỗ i buổi sáng, trưa, họ vào làm việc tại
các phòng tắm rửa, giặt giũ của binh sĩ Mỹ, họ phải cúi gằm mặt
xuống chậu quần áo, liền tay vò sát, vì binh sĩ Mỹ mỗi khi tắm là cứ
trần truồng đi đi lại lại trước mặt họ, hoặc chúng gọi nhau đùa rỡn.
Đôi khi đùa dai (chúng còn) gọi người đàn bà nào đó đang ngồi làm
việc để nhìn lên trong khi chúng cười nhăn nhở". Ở những xóm lao
động, nơi chúng thuê nhà ở, chú ng vẫn thường để ngỏ cửa tồng ngồng
mặc quần lót đú đởn với các "me Mỹ" của chú ng, bất chấp chung
quanh. Có thể nói nói rằng hễ ở đây có lính Mỹ là có những cảnh
tượng dâm dật, bẩn thỉu. Chúng nham nhở bất cứ lúc nào có thể
nham nhở, ban ngày, ban đêm, trong giờ làm việc, ngoài giờ làm việc,
trong sở làm, ngoài phố, bất cứ với hạng người nào, dù xấu hay đẹp,
dù với những đứa con gái đáng tuổi con chúng hay với những người
đáng tuổi chị, tuổi mẹ chúng.
Trên các đường phố, từng đoàn xe cam nhông của chúng phóng
như gió, chèn các xe nhỏ vào lề, xuống ruộng, còn hễ cán người rồi,
chúng bỏ chạy luôn. Ngồi trên xe thì chúng với tay giật nón, nắn bóp

vào da thịt những phụ nữ đi xe đạp, đi xe gắn máy hoặc ném rác, ném
lon bia vào đầu cổ những kẻ đi đường rồi hí hố cười trơ trẽn. Ngay
trên đườ ng phố Sài Gòn, chúng say rượu ngả nghiêng, gặp bất cứ phụ
nữ nào cũng đưa tay trả giá, hoặc giở những trò tồi tệ khác: năm
1966, một phụ nữ ở Khánh Hội đã bị binh lính Mỹ bắt cóc giữa ban
ngày bằng xe Jeep. Còn khi đi hành quân lục soá t, chúng cũ ng không
quên, những trò khả ố với phụ nữ: xét các ghe máy từ Cam Ranh
sang Ba Ngòi, chúng đã "công khai rờ rẫm những nữ hành khách" cởi
áo lót các thiếu nữ trẻ tuổi rồi "vừa hò hét vừa cười với nhau hô hố".
Chú ng cũng đột nhập chùa chiền, xông vào nhà dân chúng như
trường hợp cuộc càn bố củ a lính Mỹ ở Cam Ranh năm 1968.
Giàu có và dâm dật, dâm dật lại gắn liền với tàn bạo, những
điều thường ngày diễn ra trên những phim Mỹ lại biểu hiện đầy đủ
trong thực tế đời sống của đội quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt
Nam. Sự thô lỗ về những thói quen xử sự của quân đội Mỹ trong
chiế n tranh Việt Nam đã hoàn toàn xác nhận điều đó: không một
hành vi tàn tệ, man rợ nào mà chúng không làm, từ việc bắn giết, đốt
phá, cướp bóc đến xẻo tai người để đếm xác, hãm hiếp tập thể, đặt
chất nổ vào âm hộ đàn bà rồi cho nổ banh xác. Tính chất phi thân
trong những hành động như thế không phải xảy ra một cách tùy tiện:
trong nhiều trường hợp, chúng đã trở thành một thứ thú vui. Một tên
Đại tá Mỹ tên là George S.Petton III, con trai của một tướng Mỹ lừng
danh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, thường có thói quen gửi
kèm theo những tấm thiếp chúc mừng sinh nhật những bức ảnh màu
chụp các binh sĩ "Bình an dưới thế" của "ông, bà Đại tá" v.v... Trong
một bữa tiệc từ giã một đơn vị ở phía Nam Quảng Ngãi, hắn đã nhận
được một huy chương hòa bình và cũng trong bữa tiệc ấ y, hắn đã
hoan hỉ đeo một cái sọ người gọi là của "Việt cộng" có một lỗ đạn từ
phía trên hốc mắt trái. Tháng 9 năm 1969, hắn đã được Thượng viện
Mỹ chấ p nhận cho thăng chứ c Thiếu tướng.
"Giết người lúc đầu là một bài học, nhưng dần dần là một nhu
cầu sinh lý. Giết để bảo vệ tính mạng. Nhưng giết cũng chỉ để giết".
Duncan, một lính mũ nồi xanh thuộc binh chủ ng mà Kennedy đã
chỉnh đốn để đi hoàn thành những chương trình gọi là "biên cương
mới" của Mỹ, sau khi nhận ra những tội lỗi của mình đã nói về cái "lý
tưởng" của mình như vậy đấy. Người ta hiểu được tại sao ở Việt Nam
lại xảy ra sự kiện Calley ở Sơn Mỹ. Tên trung ú y này đã chỉ huy một

đại đội lính Mỹ trong Sư đoàn Bộ binh 20, từ trực thăng nhảy xuống
một địa điểm gọi là Mỹ lai 4, tại là ng Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi, ngày
16.3.1968. Sau khi đã chia thành ba nhóm, chúng đã mở màn một
cuộc giết người cực kỳ tàn nhẫn. Chúng đâm người bằng lưỡi lê, ném
xuống giếng, tập hợp những đám đông rồi bắn súng máy, ném lựu
đạn cho đến khi thấy không còn một ai sống sót nữa mới thôi (những
người còn sống là những người may mắn bị các thây ma vùi lấp). Kết
cuộc sau ba giờ tàn sát, đại đội của Calley đã giết chết 567 người Việt
Nam: tất cả đều là những người không vũ trang, là những người đàn
bà những trẻ con, những ông già trong đó có cả nhà sư nữa.
Cái "ưu điểm" của một "lối sống" mà Thomas Dooley đã hứa hẹn
chứng minh cho những người Việ t Nam nghèo khổ là như thế đấy.
(Theo sách Cuộc xâm lăng về Văn hóa - Thông tin.
NXB Văn Hóa - 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
KẾ HOẠCH TALEY - TAYLO
Chiến lược toàn cầu của Mỹ với kế hoạch quân sự "Phản ứng
linh hoạt" đã có một sự thay đổi lớn về quan niệm và biện pháp thự c
hiện. Lấy hòa hoãn thay cho chiến tranh lạnh trong đối sách với Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; lấ y sức mạnh hạt nhân kiềm chế các
nước lớn khác; dùng chiến tranh dưới mức thông thường đối phó với
phong trào giải phóng dân tộ c.
Mối quan tâm lớn và nổi bật nhất của Mỹ là nguy cơ bị đe dọa
của các chế độ tay sai trước sự nổ i dậy của lực lượng cách mạng cá c
nước, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam. Tại đây bước vào năm 1960
thời kỳ tạm thời ổn định của chế độ Mỹ - Diệm hoàn toàn chấm dứt,
thời kỳ phát triển thế và lực củ a cách mạng miền Nam đã bắt đầu.
Do vậy Nam Việt Nam sớm trở thành 1 trong 10 khu vực thử thách
và là khu vực thử thách đầu tiên của chiến lược toàn cầu mới của
nước Mỹ.
Đế quốc Mỹ thấy rằng cần phải tăng cường chiến tranh để
chống lại phong trào cách mạ ng đã và đang bùng lên. Ngày 29/4/1961
Hội đồng an ninh quố c gia Mỹ đã phê duyệt "Kế hoạch chống nổi
dậy", theo đó Mỹ sẽ tăng lực lượng cố vấn và các đơn vị đặc biệt Mỹ,
tăng thêm viện trợ cho ngụy để đẩy nhanh việc xây dựng quân ngụy,
tăng cường phong tỏa miền Nam Việt Nam kể cả biên giới và vùng
biển, xúc tiến các hoạt động phá hoại bí mật ở miền Bắc Việt Nam.
Mặc dù ngay sau đó "Kế hoạch chống nổ i dậy" - phương án tạm
thời của các thế lực hiếu chiế n ở miền Nam không đem lại hiệu quả,
nhưng có một quan niệm mới đang hình thành ở Mỹ lú c ấy là phải
nhìn nhận Nam Việt Nam như là một trọng điểm của toàn bộ quyền
lợi của Mỹ ở Đông nam Á. Chính vì thế trong năm 1961 các phái đoàn
nghiên cứu của Mỹ tới tấp bay sang Nam Việt Nam: Phái đoàn của
Johnson phó tổ ng thống Mỹ đã đến Sài Gòn tháng 5/1961, phái đoàn
của Staley tiến sỹ viện nghiên cứu Stanford đến Sài Gòn tháng

6/1961, phái đoàn của Taylor va Rosow trong bộ quốc phòng Mỹ đến
Nam Việt Nam tháng 10/1961..... Kết quả là Nam Việt Nam sẽ là nơi
thí điểm điển hình loại chiến tranh của chiến lược toàn cầu "Phản
ứng linh hoạt" vừa ra đời.
Kế hoạch chiến tranh đặc biệt của Mỹ áp dụ ng lầ n đầu tiên tại
miền Nam đã tập trung vào việc tăng cường và mở rộng vai trò của
lực lượng cố vấn, đưa lực lượ ng đặc nhiệm Mỹ vào tham chiến, xây
dựng nhanh lực lượng của Diệm thành đội quân mạnh có vũ khí
trang bị hiện đại, khẩn trương bình định và phát triển miền Nam,
đẩy mạnh các hoạt độ ng phá hoại miền Bắc... Kế hoạch Staley -
Taylor là kế hoạch cụ thể để thực hiện chiến lược mới gồm ba giai
đoạn:
• Giai đoạn 1 thực hiện từ giữa năm 1961, nội dung chủ yếu
là bình định miền Nam bằng biện pháp Ấp chiến lược.
• Giai đoạn 2 thực hiệ n từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế,
tăng cường lực lượng quân đội, hoà n thành công cuộc bình
định.
• Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh
tế, ổ n định miền Nam và kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch được mở đầu và có ý nghĩa quyết định là ở giai đoạn 1
với hai biện pháp chiến lược là:
1. Tăng nhanh lực lượng và khả năng chiến đấu của quân
ngụy. Ngụy quân là xương sống của cuộc chiến tranh theo công
thức: Quân ngụy + vũ khí trang bị của Mỹ + cố vấn Mỹ.
2. Thực hiện cho được quốc sách Ấp chiến lượ c. Đó vừa là mụ c
tiêu cơ bản, biện pháp chiến lược, vừa là kế sách trước mắt và
lâu dài để giành thắng lợi trong chiến tranh ở Việ t Nam.
Trong thực tế Mỹ - Diệm chuẩn bị cho việc triển khai kế hoạch
mở rộng chiến tranh từ đầu năm 1961, khi kế hoạch Staley - Taylor
ra đời thì nó đã được thực hiện nhanh chóng.
Đầu tháng 4/1961 hệ thống chiến trường miền Nam được cải tổ,
giải tán các quân khu lập các vùng chiến thuật. Tháng 5 năm 1961

Mỹ đưa lực lượng đặc nhiệm và đưa thêm cố vấn Mỹ vào miền Nam.
Quân ngụy được tăng nhanh về số lượng, tổ chứ c các sắc lính đượ c
củng cố lại, trang bị thêm nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh hiện
đại. Trong vòng 18 tháng của kế hoạch chiế n tranh mới, đến năm
1962 ngụy đã có lực lượng 354.000 quân, trong đó có gần 200.000 chủ
lực được trang bị hiện đại và tác chiến theo "chiến thuật tân kỳ". Lự c
lượng nòng cốt này còn có sự hỗ trợ trực tiếp của 2.630 cố vấn Mỹ,
8.280 quân thuộc lực lượng đặc nhiệm Mỹ, 257 máy bay chiến đấu,
346 xe thiết giáp..... Quân ngụy sẽ có khả năng lớn để chiến đấu và
chúng đang được đặt trong tình thế chiến tranh chống du kích với rất
nhiều hy vọng sẽ dập tắt cuộc đấu tranh của nhân dân miề n Nam
vừa mới bù ng lên.
Đầu năm 1962 bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV) đượ c
thành lập do Paul Harkin đứng đầu, thay thế cho cơ quan viện trợ
quân sự (MAAG) của Macgarr. Như vậy Mỹ sẽ trực tiếp nắm lấy
quân ngụy và điều hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, thông qua hai
bộ phận chủ yếu là lực lượng yểm trợ và lực lượng cố vấn trong cơ
quan MACV. Viện trợ Mỹ cho Nam Việt Nam trong tài khóa năm
1962 - 1963 tăng nhanh để phục vụ kịp thời cho việc mở rộng chiến
tranh.
Tháng 4/1962, quố c hội của Diệm tuyên bố chương trình Âởp
chiế n lược là một "quốc sách chống cộng", trọng điểm là vùng đồng
bằng khu 5, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ là các vùng ưu tiên quốc gia
khác ở mỗi tỉnh. Chuyên gia quân sự về chống du kích là Thompson
được mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn bình định.
Hành quân càn quét lập ấp chiến lược trở thành hoạt động chủ
yếu nhất, sôi nổi nhất của Mỹ Diệm ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1962 - 1963. Từ đó hàng vạn cuộc hành quân cà n quét
được mở ra, nhiều ấ p chiến lượ c được xây dựng thí điểm. Đến cuối
năm 1962 đã có gần 4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho
chương trình ấp chiến lược, trong đó có nhiều cuộc càn quét quy mô
lớn như " chiến dịch mặt trời mọc", "chiến dịch Bình Tây", "chiến dịch
Sao mai", "chiến dịch Thu Đông"... Mục tiêu 17.000 ấp chiến lượ c với
10.000.000 dân được thực hiện với ưu tiên số 1 và là quốc sách xây
dựng quốc gia, năm 1962 đã có 4.248 ấ p hình thành, đến cuối năm

1962 đầu năm 1963 đã có 9.095 ấp được xây dựng gom giữ khoảng
8.000.000 dân.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - Tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
NỘI DUNG VÀ KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
"VIỆT NAM HOÁ"
Phong trào giải phóng dân tộc được sự ủng hộ tích cực của phe
xã hội chủ nghĩa đã phát triển các cuộc chiến tranh cách mạ ng ở
khắp nơi. Đặc biệt là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống
Mỹ và tay sai đang trở thành ngọn cờ tiêu biểu của cả thế giới tiến bộ
và cá ch mạng.
Tình hình ấy khiến cho chính giới Mỹ cảm thấy nền an ninh Mỹ
bị đe dọa khi sức mạnh của nước Mỹ đang bị suy yếu đi bởi sa lầy vào
chiế n tranh Việt Nam. Mỹ thấy cần phải thay đổi lại chiến lược toàn
cầu cho phù hợp, chủ trương của Mỹ lúc này là : Hòa hoãn với cá c
nước lớn Liên Xô, Trung Quốc, khai thá c tối đa mâu thuẫ n và chủ
nghĩa dân tộc trong phong trào cộng sản; khôi phục sức mạnh răn đe
của Mỹ làm bửu bối của chính sách đối ngoại; lôi kéo các nước đồng
minh cùng thực hiện chiến lược "ngăn đe thực tế". Biện pháp chiến
lược của đường lối mới, đồng thời là những nguyên tắc cơ bản của
"Học thuyết Nixon", đó là :
Ưu tiên tối đa cho việ c đề cao sứ c mạnh của Mỹ,
Các đồng minh san sẻ trách nhiệm với Mỹ,
Mỹ sẵn sàng thương lượng hòa bình bất cứ ở đâu.
Những biện pháp này nhằm mục tiêu tiếp tục duy trì vai trò sen
đầm của Mỹ, duy trì các cam kết của Mỹ cũng như quyền lợi củ a Mỹ
ở các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên khu vực mà Mỹ quan tâm hơn
cả là châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 2/1969 tại Guam tổng thống
R. Nixon đã lần đầu tiên trình bày những ý tưởng về học thuyết toàn
cầu mới của mình. Việ c áp dụng "Học thuyết Nixon" vào thực tế đượ c
bắt đầu từ đó với việc triển khai hàng loạt kế hoạch hành động; từ
trong thực tế hành động lại có nhiều nội dung mới bổ sung, trong đó

miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm đầu tiên của chiến lược toàn cầu
mới, là điểm khởi củ a "Học thuyết Nixon" trong hành động.
Ở miền Nam Việt Nam sau Tết Mậu Thân 1968 diễn ra sự đảo
thế về quân sự giữa hai bên chiến tranh. Kẻ thù đã lợi dụng những
sai lầm sơ hở của ta trong và sau tổng tấn công Mậu Thân để phản
kích điên cuồng, chiếm đóng nhiều vị trí của ta ở vùng nông thôn. Cá c
chiế n dịch bình định cấp tốc được triển khai ồ ạt, địch nhanh chóng có
trong tay một hệ thống đồn chốt dày đặc khắp miền Nam làm cơ sở
ban đầu cho việc thực hiện những âm mưu bình định sắ p tới.
Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lượ c cho cá ch mạng ở miền
Nam đến cuối năm 1968 và đầu năm 1969 được triển khai chậm
chạp. Trong khi ấy lực lượng của tân tổng thống Nixon đã chuẩn bị
xong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Lúc đầu thành công lớn
nhất của tổ ng thố ng Nixon và ê-kíp của ông là điều chỉnh kịp thời
chủ trương của tổ ng thống Johnson "phi Mỹ hóa chiến tranh", thành
đường lối chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Việc rút quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng tự tiến hành chiến tranh
của ngụy Nam Việt Nam. Việt Nam hóa chiến tranh là một kế hoạch
tiếp tục chiến tranh gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy
quân, rút quân chiế n đấu trên bộ của Mỹ, làm suy yếu lực lượng cách
mạng Việt Nam.
Giai đoạn 2 : Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho ngụ y, làm
cho quân ngụy đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng miền Nam,
giữ vững được Việt Nam và Đông Dương.
Giai đoạn 3 : Hoàn thành và củng cố "Việt Nam hóa chiến
tranh", lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu đi và chiến tranh sẽ
tàn lụi.
Giai đoạn 1 là giai đoạn khó khăn nhất, cơ bản nhất và có ý
nghĩa quyết định. Bởi vì như Nixon đã trù liệu : "Nếu việc rút quân
Mỹ là phản ánh kết quả của Việ t Nam hóa chiến tranh thì bình định
là mục đích chính của Việt Nam hóa chiến tranh". Để thực hiện mục
tiêu đó, Mỹ ngụy dự tính cần có 3 bước trong vòng 3 năm rưỡi (từ đầu
năm 1969 đến giữa năm 1972).

1. Bước 1 : (thực hiện trong vòng 1 năm rưỡi) Bình định vùng
đông dân quan trọng, đẩy chủ lực cách mạng ra xa các đô thị, làm
giảm sự tập trung của quân giải phóng, cơ sở cách mạng bị tê liệt,
quân ngụy đượ c tăng cường và đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang
cách mạng, Mỹ bắt đầu rút quân.
2. Bước 2 : (thực hiện trong khoảng 1 năm) Bình định tất cả
vùng nông thôn, giảm tối đa hoạ t động của lực lượng vũ trang cách
mạng, ngụy đượ c hiện đại hóa và mạnh lên đủ sức đối phó với tình
hình, Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu.
3. Bước 3 : (thực hiện trong vòng 1 năm) hoàn thành bình định
toà n miề n Nam, lực lượng cách mạng hoạt động không đáng kể ở nội
địa, ngụy đảm đương đượ c vai trò của mình, Mỹ rút hết lực lượng
chiế n đấu ra khỏi miền Nam.
Những biện pháp chiến lược để thực hiện Việt Nam hóa chiến
tranh bao gồm hàng loạt các chương trình kế hoạch, nhằm làm cho
Việt Nam hóa phải có bốn yếu tố đảm bảo là : ngụy quân mạnh, ngụy
quyền mạnh, bộ máy cả nh sát (bình định) mạnh và nền kinh tế
mạnh. Biện pháp cụ thể là :
"Nỗ lự c bành trướng, cải tiến và tối tân hóa quân đội ngụy",
củng cố ngụy quyền, từng bước giảm dần sự dính líu của quân đội Mỹ
trên chiến trường miền Nam và bàn giao chiến trường cho ngụy.
Đẩy mạnh phản kích ở miền Nam, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đảm bảo "an ninh lãnh thổ".
Mở rộng phản kích ra bên ngoài, tăng cường chiến tranh đặ c
biệt ở Lào, xóa bỏ nền trung lập ở Campuchia, xây dựng lực lượng
thân Mỹ và liên minh khu vực.
Tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn để ngăn chặn sự viện
trợ của Trung Quốc, Liên Xô cho Việt Nam, tiến tới cô lập Việt Nam
và cá ch mạng Đông Dương, đẩy chiến tranh đến tình trạng tự tàn lụ i.
Ra sức phục hồi và phát triển kinh tế cho ngụy ở miền Nam.
Như vậ y, với Việt Nam hóa chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn vai
trò quan trọng ở chiến trường, là chỗ dựa chủ yếu của quân ngụy,

nhưng quân ngụy sẽ phải thay thế và dầ n dần trở thành lực lượng
chủ yếu của chiến tranh. Bình định là một biện pháp chiế n lược, là
nội dung hoạt động cụ thể của chiến tranh Việt Nam hóa. Mỹ tập
trung xây dựng cho Ngụy có : ngụy quân mạnh -ngụy quyền mạnh -
bộ máy cảnh sát mạnh - nền kinh tế mạnh, đó là những cái đảm bảo
thành công của Việt Nam hóa chiến tranh; việc mở rộng chương trình
bình định là "chìa khóa thắng lợi", là con đường dẫn đến nhữ ng kết
quả ấy. Chiến tranh tiếp tục cho đến khi nó "tự tàn lụi".
Trong thực tế việc rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi Việt Nam là
xu thế không thể cưỡng lại được nữa và chính quyền Mỹ buộc phải
thực hiện từ tháng 7/1969 (sớm hơn dự kiến trong bước 1 đến tháng
6/1970). Để không gây nên ảnh hưởng độ t ngột cho ngụy, đồng thời
thực hiện được Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ dùng lối rút quân nhỏ
giọt kết hợp với việc xây dựng nhanh cho quân ngụy đủ mạnh thay
thế vào các vị trí của Mỹ trên chiến trường miền Nam.
Sau hội đàm ở Midway đầu năm 1969, Mỹ ngụy đã thố ng nhất
đưa tổ ng quân số ngụy lên 953.673 người vào năm 1970 và 992.336
người vào năm 1971, đến năm 1972 sẽ có 1.100.000 quân gồm chủ
lực, bảo an, nghĩa quân, ngoài ra còn phải có 500.000 - 600.000 phòng
vệ dân sự có vũ trang. Biện pháp đôn quân đã nhanh chóng đưa các
đơn vị quân ngụy trở nên có vai trò thay thế quân đội viễn chinh Mỹ :
các sư đoàn bộ binh đôn lên thành lực lượng cơ động, bảo an đôn lên
thành lực lượng chủ lực của các vùng chiến thuật, nghĩa quân đôn lên
thành bảo an và phòng vệ dân sự có vũ trang thay thế cho lực lượng
nghĩa quân chốt giữ ở xã ấp. Khối chủ lự c cơ động ngụy từ năm 1970
bắt đầu được trang bị hiện đại và có đủ hải, lục, không quân, các binh
chủng pháo, xe tăng khá mạnh.
Chỉ trong vòng mấy năm đầu của chương trình Việt Nam hóa
chiế n tranh, quân ngụ y đã được đầu tư lớn nhất và trở nên hiện đại
nhất, mạnh nhất so với cả quá trình phát triển cho đến lúc đó, trên cơ
sở này Mỹ sẽ triệt thoái dần lực lượng viễn chinh về nướ c.
Từ tháng 7/1969 đến tháng 4/1972 đã có 11 đợt rút quân với gần
480.000 quân, chỉ còn 69.000 quân chờ đợi giải phá p chính trị. Gần 3
năm Mỹ mới đưa được gần nửa triệu quân ra khỏi chiến trường để
chặn đứng việc gia tăng quân số thương vong và góp phần làm dịu
cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Trong thời gian ấy quân ngụy

Nam Việt Nam không những trở thành quân đội có vũ khí trang bị
vào loại mạnh và hiện đại nhất ở Đông Nam Á với hơn 1.100 máy bay
chiến đấu các loại, gần 2.000 xe tăng xe thiết giáp..., mà còn trở
thành lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh mở rộng của Mỹ ở bán
đảo Đông Dương, là xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh và
Đông Dương hóa chiến tranh.
Tiếp tục chiến tranh bằng đội quân hùng hậu ấy, Mỹ - Ngụy ở
Miền Nam vẫn cần có hai yếu tố căn bản tối cần thiết, nền kinh tế ổn
định và sự ủng hộ củ a dân chúng. Viện trợ của Myọ do đó vẫn giữ vị
trí quan trọng số 1, năm 1969 là 498.000.000 dollar, năm 1970 tăng
lên 669.000.000 dollar, năm 1971 là 750.000.000 dollar. Nhưng quá
trình nà y còn được kết hợp với viện trợ đầu tư của một số nước khá c
(năm 1964 - 1969 là 125.000.000 dollar, năm 1970 là 33.000.000
dollar, năm 1971 là 75.000.000 dollar). Từ năm 1970 mặc dù chiến
tranh vẫn tiếp diễn, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn trở thành địa
chỉ đầu tư mới của giới tư bản Mỹ và các nước, gánh nặng viện trợ
của Mỹ vì thế có thể giảm bớt dần.
Phương châm của Mỹ ngụy trong Việt Nam hóa chiến tranh là
nhanh chóng phát triển nhanh kinh tế miền Nam để miền Nam có
thể tự túc, tự cườ ng và tự phát triển. Từ năm 1970 trở đi nhiều biện
pháp thúc đẩy kinh tế phát triển được thực hiện như khôi phục phát
triển công nghiệp, xây dựng thêm 30 dự án công nghiệp mới về sửa
chữa lắp ráp. Ở nông thôn việc tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp, xây
dựng hệ thống thủy nông và đưa các biện pháp kỹ thuật vào đồng
ruộng đượ c triển khai, mục đích là làm tăng nhanh sản lượng nông
nghiệp, nhất là lúa gạo. Từ cuối năm 1969 (sau tuyên bố của Thiệu
tháng 10/1969) địch tiếp tục đẩy mạnh chính sách "cả i cách điền địa".
Tháng 3/1970 tại Cầ n Thơ, Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành "Luật
Người cày có ruộng". Từ 1970 - 1972 trong chương trình "hữu sản hóa
nông dân" chính quyền ngụy đã cấp phát 1.332.500 ha ruộng có liên
quan tớ i 858.821 hộ nông dân, bồi thường 714.131 ha liên quan tới
84.901 hộ điền chủ.
Để có sự ủng hộ của dân chúng phải tiếp tục chính sách bình
định, nhưng phả i đặt chính sách này trong khuôn khổ của cuộ c
"chiến tranh giành dân", phải coi bình định là biệ n pháp then chốt
của Việt Nam hóa chiến tranh. Cơ quan chỉ đạo bình định của Mỹ

MACCORDS (Military Assistance Command Civil Operation and
Revolutionary Development Support) ra đời do tướng Abram tư lệnh
MACV chỉ huy, Colby phân cục trưởng CIA làm phụ tá đặc trách bình
định. Các cơ quan MACV, phân cục tình báo CIA, tòa đại sứ Mỹ đã có
sự thống nhất tư tưởng, phối hợp hành động với nhau một cách chặt
chẽ. Cố vấn Mỹ xuống tận cấp quận từ 6 - 12 người trực tiếp chỉ đạo
bình định.
Ngụy thành lập Trung tâm an ninh điều hợp bên cạnh Hội đồng
bình định các cấp. Các cơ quan đặc trách bình định này có hệ thống
từ trung ương xuống đến các địa phương và do các nhân vật đầu sỏ
(tổng thống ngụy, thủ tướng ngụy, tỉnh trưởng, đô trưởng, quận
trưởng ngụy) trực tiếp phụ trách. Lực lượng trực tiếp bình định là
quân đội, cảnh sát, nhân dân tự vệ, cán bộ bình định, phụng hoàng,
tề ấp xã. Tại vùng trọng điểm bình định như tỉnh Định Tường năm
1970, địch sử dụng 21.000 quân các loại phục vụ cho hoạt động bình
định; vùng ven Sài Gòn - Gia Định năm 1972 có tới 113.000 quân các
loại để tiến hành bình định. Chính vì vậy địch vẫn sử dụng hình thứ c
hành quân càn qué t làm hoạt động chủ yếu để thực hiện bình định. Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều chiến dịch bình định lớn đượ c
tổ chức như "Đồng Khởi", "Tổng tấn công đồ ng loạt", "nhổ cỏ U Minh".
Năm 1969 toàn miền Nam địch tổ chức 11.945 cuộc hành quân càn
quét bình định, trong đó riêng Nam Bộ có 9.648 cuộc.
(Lịch sử Việt Nam tập 3 NXB Giáo dục)

Chán đời đi lang thang !
0
TỪ THÁNG 11/1963 ĐẾN 1965:
CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN 10 LẦN ĐẢO CHÍNH
Chính quyền Sài Gòn - chỗ dựa chủ yếu về chính trị của "chiến
tranh đặc biệt", ngày càng tan rã, rối loạn. Phong trào đấu tranh
chính trị, vũ trang sôi sục ở các vùng nông thôn đã dội vào các thành
thị miền Nam, làm cho chính quyền Sài Gòn ngày càng chao đảo, nội
bộ mâu thuẫớ n, lục đục. Chỉ tính từ tháng 11-1963 đến giữa năm
1965, chúng đã 10 lần làm đảo chính để thanh toán lẫn nhau:
1.11.1963, đảo chính lật đổ Diệm - Nhu, do Hội đồng tướng lĩnh
thực hiện, đứng đầu là Dương Văn Minh. 30.1.1964, đảo chính lật đổ
Dương Văn Minh, do "Hội đồng quân lực" thực hiện, đứng đầu là
Nguyễn Khánh. Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh.
27.8.1964, "Hội đồng quân lực" lạ i "chỉnh lí", lập "tam đầu chế": Minh
- Khánh -Khiêm. 13.9.1964, đảo chính hụt do Lâm Văn Phát và
Dương Văn Đức cầm đầu. 1964, Nguyễn Khánh lật đổ Minh - Khiêm.
20.10.1964, do sức ép của Mỹ, Khánh phải ra khỏi chính quyền, đưa
Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ
tướng. 25.1.1965, "Hội đồ ng quân lực" do Nguyễn Văn Thiệu cầm
đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội. 1965, "Hội đồng quân lực" lật đổ
chính quyền dân sự của Phan Khắ c Sửu, Phan Huy Quá t, lập Ủy ban
quốc gia do Thiệu làm Chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy
ban hành pháp (Thủ tướng) v.v... Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ -
Mácnamara từ miền Nam Việt Nam về đã báo cáo trước Nhà Trắng
và Quốc hội Mỹ: "Quân lực Việt Nam cộng hòa (ngụy quân) đã không
còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại". Thế là "chiến
tranh đặc biệt" của Mỹ được đẩy đến mức cao nhất và đã đứng trướ c
nguy cơ phá sản hoàn toàn. Trước tình thế khốn quẫn đó, đế quốc Mỹ
phải ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam, chuyển sang chiến
lược mới - "chiến tranh cục bộ". Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nướ c
của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.

Sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt" là một thất bại
nặng nề của Mỹ trong âm mưu dùng miền Nam Việt Nam làm nơi thí
điểm một loại hình chiến tranh mới - dùng người địa phương cộng với
vũ khí, đô la và các phương tiện kỹ thuật của Mỹ, do cố vấn Mỹ trự c
tiếp chỉ huy hòng dập tắt phong trào nổi dậy của nhân dân và "cuộ c
chiế n tranh đặc biệt mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt
Nam đã thất bại thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác".
(Lịch sử Việt Nam - Tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
CHI PHÍ CỦA MỸ VIỆN TRỢ CHO NGUỴ QUYỀN
DƯỚI THỜI MỸ - NGUỴ
Chú ng ta cần điểm qua vài nét về tài chính ngụy quyền Nam
Việt Nam dưới thờ i Mỹ ngụy để thấy rõ bộ mặt "thực dân mới", trong
đó đặc biệt là lĩnh vực thuế khóa, tiền tệ, tín dụng ngân hàng nói
riêng.
Sau hiệp định Giơnevơ, vào tháng 12/1954, thực dân Pháp theo
lệnh của đế quốc Mỹ ký kết một loạt hiệp định với cá c ngụy quyền
miền Nam Việt Nam, Cămpuchia, Lào, chính thức công bố phá vỡ sự
thống nhất của hệ tài chính - ngân sách tiền tệ, quan thuế, ngân
hàng chung trong cả Đông Dương, dọn đường cho đế quốc Mỹ trự c
tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam.
Những hiệp định này khẳng định rằ ng trên nguyên tắc từ nay
mỗi quốc gia được quyền tự do phát hành và kiểm soát tiền tệ, tự ấn
định các chế độ tài chính, ngân sách, thuế khóa, tiền tệ, ngoại hối,
thương mại... Đây là cơ sở pháp lý để Mỹ lần lượt trực tiếp nắm lĩnh
vực tài chính ở 3 nước Đông Dương. Mỹ tuyên bố ngay một chương
trình viện trợ trực tiếp cho 3 quốc gia nói trên bắt đầu từ 1/1955 thay
vì viện trợ qua trung gian Pháp. Như vậy, thực chất tài chính của
ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 là thực hiện một
quá trình viện trợ của Mỹ và việc sử dụng viện trợ ấy của ngụy
quyền.
Với âm mưu xâm lược hòng biến nước ta thành thuộ c địa kiểu
mới của chúng, đế quốc Mỹ trong hơn 21 năm từ 1954 đến 1975 đã
không ngừng tăng cường viện trợ cho ngụy quyền tay sai. Tổng số
viện trợ này qua các thời kỳ như sau: 1955-1964: 2.497 triệu đô la,
1965-1968: 2.945 triệu đô la, 1969-1972: 2.408 triệu đô la, 1973-1974:
1.119 triệu đô la.

Ở đây chưa kể số viện trợ riêng về quân sự bình quân mỗi năm
khoảng 1.600 triệu đô la. Theo tập tài liệu miền Nam của Việt Nam
thông tấn xã tháng 2/1973, thì trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam,
Mỹ đã chi tiêu hàng trăm tỷ đô la. Chi phí trực tiếp từ 141-144 tỷ đô
la, chi phí gián tiếp 350 tỷ đô la. Riêng số tiền để nuôi số lính Mỹ tiến
hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việ t Nam năm 1966 là 25
tỷ đô la, năm 1967 gần 30 tỷ đô la, năm 1968 hơn 30 tỷ đô la, năm
1969 là 36 tỷ... Số viện trợ về quân sự và chi tiêu để nuôi lính Mỹ này
không nằm trong ngân sách của ngụy quyền. Vớ i quy mô và hình
thức viện trợ như vậy nên ngân sách hàng năm của ngụy quyền Sài
Gòn dựa chủ yếu vào nguồn thu viện trợ của Mỹ. Hầu hết các khoản
chi tiêu của ngân sách ngụy quyền cũng trực tiếp hoặc gián tiếp phụ c
vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy số viện trợ của
Mỹ to lớn như vậy nhưng cuối cùng chúng vẫn thấ t bại thảm hại
trước cuộc chiến đấu vô cùng ngoan cường dũng mãnh của quân dân
ta.
(Theo Lê Quốc Sử - Một số vấn đề về lịch sử Kinh tế VN)

Chán đời đi lang thang !
0
SÀI GÒN - GIA ĐỊNH,
VÙNG ĐẤT MỚI PHƯƠNG NAM
Từ những năm đầu Công nguyên, vùng đất ngày nay tương ứng
với các cửa sông Cửu Long và Đồng Nai, có lẽ đã được chi phối về mặt
chính trị bởi các nhà nước cổ đại, và ta có thể chấp nhận rằng, đất Sài
Gòn -Chợ Lớn, từ một thời kỳ rất xa xưa, mà niên đại sớm nhất có
thể định vào khoảng giữa thế kỷ thứ VII hay thứ VIII, đã là một điểm
cư trú của quần thể con người. Hai thị trấn nhỏ Prei Nokor (Sài Gòn,
về sau là Chợ Lớn) và Kas Krobey (Kompong Krabei, Bến Nghé, về
sau là Sài Gòn) đã có từ trước thế kỷ XVII. Năm 1623, chúa Sãi
(Nguyễn Phúc Nguyên, 1613-1635) cho sứ giả thương lượng tìm cách
để đặt các phòng sở thuế quan tại đấy.
"Bấy giờ vua An Nam mớ i cử các viên chức thuế quan đến đóng
tạ i Prei Nokor và Kas Krobey, và, từ lúc đó, bắt đầu tiến hà nh thu
các loại thuế quan".
Năm 1860, nhóm cận thần nhà Minh: Dương Ngạn Địch,
Huỳnh Tấn, Trần Thắng Tài, Trần An Bình đem khoảng 3.000 binh
lính và gia quyến đến xin lưu trú ở Đàng Trong. Chúa Hiền (Nguyễn
Phúc Tần, 1648-1687) cho phép họ vào khai khẩn vùng Mỹ Tho và
Biên Hòa, thuộc đất Đông Phố (tên gọi vùng Gia Định thời bấy giờ).
Hậu bán thế kỷ thứ XVII và suốt thế kỷ XVIII, đất Gia Định đã
chứng kiến những cuộc chiến tranh và sự tranh chấp nội bộ của cá c
thế lực phong kiến và võ biền Xiêm, Chân Lạp, Chiêm Thành (Côn
Man), nhóm cự u thần nhà Minh, lực lượng các chúa Nguyễn và phong
trào nông dân Tây Sơn. Vùng Sài Gòn - Gia Định là mục tiêu kiểm
soát nhằm chiếm ưu thế kinh tế, chính trị và quân sự trong toàn
vùng Nam Bộ.

Năm 1674, những mâu thuẫn giữa vua Chân Lạp Nặc Ông Nộn
và Nặc Ông Đài liên minh với quân Xiêm đưa đến sự can thiệp quân
sự của chúa Hiền, mở rộng tầm kiểm soát đến tận Sài Côn (Sài Gòn).
Năm 1688, sự tranh chấp giữa hai lực lượng võ biền ngườ i Hoa:
Dương Ngạn Địch (ở Mỹ Tho) và Huỳnh Tấn (ở Cù lao Phố, Biên
Hòa), rồi giữa Huỳnh Tấn và Nặc Ông Thụ là những lý do đưa đến sự
kiểm soát trực tiếp của chúa Nguyễ n trên vùng Mỹ Tho và Đồng Nai
- Gia Định.
Để ổn định vùng tranh chấp, chúa Nguyễn cho tổ chức những
cuộc hành quân lớn trên vùng đất mới kiểm soát: Năm 1689-1690,
Nguyễn Hữu Hào đem quân bắt vua Chân Lạp Nặc Ông Thụ rồi lui
quân trú đóng ở Sài Gòn. Năm 1698, Nguyễn Hữ u Cảnh, được bổ
nhiệm Kinh lược sứ Chân Lạp, lấy vùng đất kiểm soát đượ c ở Đông
Phố lập ra Gia Định phủ, gồm 2 huyện Phước Long (đất Đồng Nai) và
Tân Bình (đất Sài Gòn - Bến Nghé), tổ chức guồng máy chính quyền
và quân sự ở đây.
Năm 1705, vua Chân Lạp Nặc Ông Thâm liên minh với quân
Xiêm để triệt hạ thế lực tranh chấp Nặc Ông Yêm. Nặc Ông Yêm
phải chạy qua Gia Định cầu viện. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Cửu Vân
đem quân đánh tan quân Xiêm, đưa Nặc Ông Yêm về thành La Bích
rồi rút quân về.
Năm 1714, Nặc Ông Thâm đem quân từ Xiêm về đánh lấy
thành La Bích. Nặc Ông Yêm lại cho người sang Gia Định cầu viện.
Đô đốc Phiên Trấn (Gia Định) Trần Thượng Xuyên phát quân sang
đánh, Nặc Ông Thâm bỏ thành chạy sang Xiêm.
Năm 1729 đất Gia Định bị đe dọa trước sự động binh của Chân
Lạp, chúa Nguyễn cho đặt sở Điều khiển để lo việc quân sự trong
vùng.
Năm 1743 xảy ra cuộc tranh chấp ở triều đình Chân Lạ p, giữa
Nặc Nộn, Nặc Hiên và Nặc Nguyên. Nguyễn Hữu Doãn được cử đem
quân từ Gia Định (thuộc sở Điều khiển) lập lại trật tự trong vùng.

Nhân việ c Nặc Nguyên khi làm vua Chân Lạp đã áp dụng chính
sách đàn áp nhóm người thiểu số Chiêm Thành (Côn Man) sinh sống
trong vùng và có ý định liên minh với chúa Trịnh ở phía Bắc để chống
lại chúa Nguyễn. Năm 1753, Nguyễn Cư Trinh được cử làm Kinh lượ c
sứ Chân Lạp, đem quân từ 5 dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn
Biên, Phiên Trấn, Long Hồ) về đồn trú ở Bến Nghé; lập doanh trại gọi
là Đồn Dinh, huấn luyện quân ngũ, trù tính lương thực và kế hoạch
điều binh. Cuộc hành quân kéo dài đến 1755, giải phóng được nhóm
Chiêm Thành thiểu số, lập lại an ninh ở toàn vùng Gia Định.
Năm 1772, nhân việc Trịnh Quốc Anh, một người Hoa cơ hội
chủ nghĩa xưng vương ở Xiêm La đem quân đánh vào Hà Tiên, Rạch
Giá (1771), Nguyễn Cửu Đàm được cử đem quân đi đánh dẹ p. Lực
lượng chúa Nguyễn vào thời kỳ này đã chiếm được ưu thế chính trị và
quân sự trên toàn vùng Nam Bộ.
Phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ năm 1771 đã nhanh
chóng chiế m được thế chủ động ở Đàng Trong. Năm 1775, dưới áp lự c
của quân chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Thuần (1767-1777) phải rời
Phú Xuân trốn vào Gia Định. Sau khi điều đình với quân Trịnh để
tạm yên mặt Bắc, quân Tây Sơn bắt đầu mở những cuộc tấn công
đánh vào lực lượng của chúa Nguyễn ở phía Nam. Từ năm 1776 đến
1783, quân Tây Sơn năm lần tiến và o Gia Định. Cả 5 lần, quân
Nguyễn đều bị đánh bật ra khỏi đất liền. Số quân sống sót phải trốn
tránh trên các hải đả o.
Năm 1776, Nguyễn Lữ đánh cửa Lạp (Soài Rạp) rồi cho thuyền
vào cửa Cần Giờ tấn công lấy được ba dinh: Phiên Trấn (đất Sài Gòn -
Bến Nghé), Trấn Biên và Long Hồ rồi rút quân về.
Năm 1777, Nguyễn Huệ đánh chiếm Gia Định, bắt được cả hai
chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đem xử tử tại
chùa Kim Chương (góc Nguyễn Trãi và Cống Quỳnh ngày nay) vào
tháng Chín và tháng Mười năm ấy.
Năm 1778, Nguyễn ánh cho đắp lũy đất từ bờ sông Sài Gòn đến
kinh Tàu Hủ ngày nay, các vàm rạch lớn nhỏ đều cắm chông, nọc, các
đường thủy, bộ đều bị phong tỏa. Trịnh Hoài Đức mô tả cảnh sống
của nhân dân Gia Định vào thời kỳ này như sau:

"Từ lúc câu binh vào tháng 10 năm trước, đến tháng 6 năm này
(1778) đường thủy lục bị trở ngại, đồ thực dụng trong dân gian đều
kiệt ráo, không tiếp tế nhau được. Trong chợ chỉ bán mắm ếch (hay
mắm nhái), bánh đậu bà tương dùng lá dâu, lá khế làm trà uống, rễ
cây bồ quỳ, cây trà la (hay chà là) để thế cho cau... Ngoài ra, những
việc nhũng lạm, giả trá, di dịch, không kể xiết được. Khi ấy một chén
nhỏ muối xấu nặng ướ c 3 lượng, bán giá năm tiền, nhưng cũng không
có được nhiều, vậy nên người ta đều giấ u muối ở trong lưng như bọ c
vật quý vậy. Còn một vuông gạo giá tiền đến 2 quan, quan và dân đều
khổ cả".
Vào thời kỳ này, nhóm người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hòa), để
tránh những cuộc giao tranh, đã ngược sông Tân Bình (sông Sài Gò n)
kéo về tụ tập ở Sài Gòn lập ra khu Đề Ngạn (Chợ Lớn).
Năm 1782 Nguyễn Huệ đem quân vào cửa Cần Giờ đến Ngã
Bảy tấn công các tàu chiến của Nguyễ n Ánh. Viên thuyền trưởng
người Pháp là Mạn Hòe (Manuel) chỉ huy mộ t tàu chiến có 10 đại bác
bị tử trận, thuyền bốc cháy. Nguyễn ánh lui về Ba Giồ ng (Tam Phụ ở
Định Tường) chỉnh đốn đội ngũ rồi trở lên với ý đồ tái chiếm Bến
Nghé. Nguyễn Huệ chận đánh tại ngã tư sông, gần cầ u Bình Điền
ngày nay, lại thắng thêm một trận nữa. Nguyễn ánh phải chạy ra đảo
Phú Quốc.
Sau khi quân Tây Sơn rút về Qui Nhơn; tướng nhà Nguyễn là
Châu Văn Tiếp chiếm lại thành Gia Định, cho người ra đón Nguyễn
Ánh từ Phú Quốc về.
Năm 1783, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ đem quân trở lại Gia
Định. Nguyễn ánh bố trí trận địa thật kỹ, dùng hỏ a công đón đánh,
nhưng quân Tây Sơn lại toàn thắng sau khi hạ hai đồn Cá Trê và
Rạch Bàng (vùng cầu Tân Thuận ngày nay) án ngữ Bến Nghé.
Nguyễn ánh phải chạy qua Xiêm xin cầu viện.
Tháng 7 năm 1784, thủy quân Xiêm đổ bộ và đến cuối năm,
chiế m đóng quá nửa miền đất phía Tây Gia Định. Nguyễn Huệ đem
thủy quân vào Mỹ Tho bố trí ở vùng Rạch Gầm - Xoài Mú t, khiêu
chiế n đưa quân địch vào trận địa và đến ngày 18-1-1875 tiêu diệt
toà n bộ chiến thuyền của quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh.
Nguyễn ánh cùng nhóm tàn quân chạy chốn qua Xiêm.

Năm 1788, nhân lúc Nguyễn Huệ bận lo đánh dẹp ở phía Bắc,
Nguyễn ánh trở lại chiếm Bến Nghé và củng cố lự c lượng của mình
trong vùng Gia Định. Ngày 24-6-1789, đạo quân viễn chinh Pháp (do
giám mục Bá Đa Lộ c (Pigneau de Béhaine Eévêque d'Adran) và
Hoàng tử Cảnh - được Nguyễn ánh cử đi cầu viện ở triều đình Louis
XVI từ năm 1784 - dẫ n đường) đổ bộ lên Bãi Dừa ở Vũng Tàu. Năm
1790, Nguyễn ánh cho xây thành Gia Định theo kiểu Vauban, do sĩ
quan người Pháp Olivier de Puymanuel thực hiện.
Các chúa Nguyễn đóng đô ở Gia Định từ 1775 đến 1801
(Nguyễn Phúc Thuần từ 1775 đến 1777; Nguyễn á nh từ 1778-1801).
Năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long dời đô về
thành Phú Xuân (Huế). Trung tâm chính trị của triều Nguyễn được
chuyển về Huế, đất Sài Gòn - Gia Định trở lại địa vị của một trấn
biên thành. Gia Định phủ do Nguyễn Hữu Cảnh lập năm 1689 đến
năm 1774, dưới thời Vũ Vương (Nguyễn Phúc Khoát, 1738-1765) lập
thành 3 dinh từ 1802 đến 1807 được đổi thành Gia Định trấn rồi Gia
Định thành (1807-1837) gồm 5 trấn. Từ năm 1834, đất Gia Định
thành được gọ i là Nam kỳ gồm 6 tỉnh và dưới thời Pháp thộc đượ c
chia thành 21 tỉnh.
(Xưa và Nay số 50B - Tháng 4-1998)

Chán đời đi lang thang !
0
MỘT SỐ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
THỜI CHỐNG PHÁP
1. Chiến khu Láng Le - Bàu Cò
Gọi là chiến khu Lá ng Le vì đây là một vùng đầm lầy có nhiều
chim lele tụ tập.
Láng Le - Bàu Cò nằm trên bờ rạch Lá ng Le và rạch Cái Tăm
cách Sài Gòn khoảng 20km về phía Tây Nam, giáp ranh xã Tân Nhựt
và khu kinh tế mới Lê Minh Xuân chạy đến Gò Xoài, Vườ n Thơm.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Phá p và chống Mỹ đây là
vùng căn cứ cách mạng nổ i tiếng, nhân dân ở đây sớm có truyền
thống đấu tranh yêu nước nồng nàn.
Cuối tháng 9.1930 nhân dân đã tích cực tham gia nhiều cuộ c
biểu tình, phá cầu, chặn xe của thực dân Pháp. Trong cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ 1940 và cách mạ ng Tháng Tám 1945, nhân dân Láng Le
cùng nhân dân Chợ Lớn, Bình Chánh vù ng lên mạnh mẽ cướp chính
quyền, Láng Le là căn cứ của cơ quan lãnh đạ o Thành đoàn.
18.4.1948, Láng Le đã đi vào lịch sử với "cây súng Nguyễn Hữu
Mai" khi các chiến sĩ trung đoàn Phạm Hồng Thái, đơn vị chủ lực đầu
tiên của Sài Gòn lúc bấy giờ chọc thủng vòng vây của địch. Trên 300
tên Âu Phi bị tiêu diệt và bị bắt sống, thu nhiều vũ khí.
26.2.1966 lực lượng vũ trang ta đánh tan 1 tiểu đoàn lính Mỹ
càn quét vùng Láng Le, cầu An Hạ, Bình Chánh tiêu diệ t và làm bị
thương hơn 200 tên bắn rơi 3 máy bay lên thẳ ng.
Đế quốc Mỹ điên cuồng ném bom, rải chất độc hóa học hòng tiêu
diệt mọi sinh vật trong vùng, biến Láng Le thành một vùng trắng,
nhưng cán bộ Đảng viên và du kích vẫn ngoan cường bám trụ, không
để quân thù vào vùng đất độc lập - tự do.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 quân và
dân Láng Le lập nhiều chiến công xuất sắc. Đặc biệt ngày 13.5.1968
đã đánh bại cuộ c hành quân giải tỏa của Mỹ ngụy.
(Theo sách Hỏi đáp 300 năm TP - NXB Trẻ 1997)
2. Căn cứ Vườn Thơm
Căn cứ Vườm Thơm: Ở phía Tây thành phố, cách trung tâm Sài
Gòn 10km, án ngữ trên hành lang nối Sài Gòn với chiến khu Đồng
Tháp Mười, thuộc đất Trung Quận và một phần quận Đức Hòa của
các xã Hậu Thạnh, Đức Hòa Hạ. Toàn bộ căn cứ gồm 6 xã trung tâm
(Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Bửu, Lương Hòa, Hậu Thạnh Hạ, Đức Hòa
Hạ với điểm trung tâm là Trụ Năm Thôn) và 9 xã ngoại vi (Bình Trị
Đông, Tân Kiên, An Lạc, Tân Túc, Mỹ Yên, Thanh Hà, Long Hiệp,
Long Phú, An Thạnh) với diện tích khoảng gần 200km2. Đất Vườm
Thơm là chiếc gạch nối giữa vùng giồng cao của miền Đông Nam Bộ
với vùng trũng thấp của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là đất bưng biền,
kinh rạch, hố trấp, sình lầy, lại có đất vườn với những vườn mía,
vườm thơm (vườn thơm nhiều thành tên vùng đất), rừng cây mù u,
cây tràm, dừa nước đan ken dày đặc. Bưng Bà Lác, Vinh Lộ c, Bình
Thủy (về phía Bắc), sông Vàm Cỏ Đông (về phía Tây) đường số 10
(Chợ Lớn đi Đức Hòa), kinh Xáng, kinh Bà Hom, kinh cầu An Hạ,
kinh Bà Vụ rồ i Bàu Cò , Láng Le... là những địa danh của căn cứ
Vườn Thơm trở thành quen thuộc trong lịch sử chống ngoạ i xâm của
quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ đầu năm 1946, bộ đội chiế n đấu ở mặ t trận phía Tây, Ban
chấp hành Mặt trận Việt Minh và các cơ quan kháng chiến củ a Sài
Gòn, Chợ Lớn, của Trung Quận và vùng phụ cận rút về đây, trụ bám,
xây dựng căn cứ, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến.
Dựa vào địa thế nhiều bưng trấp kinh rạch và cỏ lác phức tạp,
rậm rạp, khuất khúc bất ngờ, quân và dân tại Vườn Thơm, dưới sự
chỉ đạo của trưở ng ban căn cứ địa Nguyễn Văn Thơm, tiến hành đào
vét kinh mương ngò i lạch, mở đường đi ngang dọc ở trong căn cứ,
đồng thời dựng kè cản, đắp đập trên các kinh lớn, đào hầm hào khắp
nơi, vừa để trú giấu lực lượng vừa để chống địch cơ động càn quét.

Căn cứ Vườn Thơm đứng vững cho đến năm 1949, được coi là một địa
bàn cơ động nhất vào nội thành.
Ngoài những căn cứ kể trên, còn hàng loạt căn cứ nhỏ khác nằm
rải rác bao quanh thành phố. Đó là các điểm trú đóng quân, ém giấu
lực lượng, nơi cất giữ hoặc chuyển tiếp cơ sở vật chất, kho tà ng công
xưởng của các địa phương từ xã đến huyện, tỉnh, thành phố , đồng
thời là điểm xuất phát đánh địch trong nội thành và các khu vự c
ngoại vi thành phố. Đáng ghi lại là khu vự c các xã Phú Thọ Hòa,
Bình Hưng Hòa, Tân Hòa, Vĩnh lộc, Bưng Sáu xã . Sự hình thành hệ
thống căn cứ bao quanh thành phố biểu thị quyết tâm kháng chiến
lâu dài củ a quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định; nó tạ o điều
kiện cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng mọi mặt để tiến hành cuộ c
kháng chiến đang ngày càng mở rộ ng quy mô trên các chiến trường.
(Theo sách lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 1945-1975. NXB TPHCM 1994)
3. Chiến khu rừng Sác
Chiến khu rừng Sác ở phía Đông Nam thành phố , là một vùng
rừng đước, chà là ngập mặn rộng đến 600 hecta, phía Bắc là khu lòng
chảo Nhơn Trạch, phía Đông là quốc lộ 15, phía Tây là sông Soà i Rạp,
phía Nam kéo dài sát biển Đông. Rừng Sác là nơi tập hợp của hàng
trăm sông rạch lớn nhỏ, chằng chịt ngang dọc ngoằn ngoèo như mạng
nhện, tạo nên những đảo triều xúp nổi giữa mênh mông nước (diện
tích mặt sông rạch chiếm 1/4 diện tích toàn Rừng Sác). Quan trọng
nhất trong toàn bộ hệ thống sông rạch ở Rừng Sác là sông Lòng Tàu -
tên gọi gộp nhiều đoạn sông dài 45km nối biể n Đông ở cửa biển Gành
Rái lên ngã ba sông Đồng Tranh, sông Nhà Bè vào Cảng Sài Gòn, một
cửa biển quốc tế, cái "cuống họng" của Sài Gòn và Nam Bộ. Phủ lên
Rừng Sác là cả một rừng cây ngập mặn như mắm, bần, đước, dà, chà
là, dừa nước... đan níu nhau từng từng, lớp lớp, tạo nên những "đám
lá tối trời", những "mái nhà", hang động. Sông rạch, đảo triều, rừng
cây làm cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, một
"trận đồ bát quái". "Trận đồ bát quái" này lại nằm kế cận thành phố
Sài Gòn, bao bọc xung quanh con đường thủ y chiến lược - Lòng Tàu -
nối liền Sài Gòn với quốc tế.

Rừng Sác vì thế , từ những thế kỷ trước đã được Nguyễn Huệ,
rồi Trương Định chọn làm căn cứ địa. Trước Cánh mạng Tháng Tám,
nơi đây là địa bàn trú ẩn của những người có chí khí khai sơn phá
thạch, khuấy nước chọc trời, cát cứ một cõi, những người trốn lính,
phu, thuế, cờ bạc, hút chích bị chính quyền thực dân truy nã; những
người là hảo hớn gian hồ, đảng cướp lưu manh, bị xã hội dồn đến
chân tường, sống ngoài vòng pháp luật.
Cuối tháng 11 năm 1945, sau khi trận Rạch Đỉa - Cây Khô (Nhà
Bè) bị vỡ, bộ chỉ huy mặt trận số 4 rút xuống Rừng Sác. Bộ đội Dương
Văn Dương (gồm cả lực lượng Nhà Bè, Thủ Thiêm, Tân Thuận...) về
Phước An - một xã thuộc quận Long Thành, phân nử a nằm trên đất
liền phía Nam lòng chảo Nhơn Trạch, phân nửa là Rừng Sác ngập
nước. Sở chỉ huy và các đơn vị chiến đấu đóng rải rác trong các ấ p Bà
Trường, Bàu Bông, Vũng Gấm... Bộ đội Nguyễn Văn Mạnh về đứng
chân ở khu vực Bà Trao - Nú i Nứa. Bộ đội Tư Hoạch cũng rút về
Rừng Sá c.
Chấp hành chỉ thị của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, 22 giờ đêm
ngày 5 tháng 2 năm 1946 (tức mồng 3 tết Bính Tuất), hai phần ba lực
lượng liên chi đội 2-3 vượt sông Soài Rạp, hành quân xuống chi viện
cho Bến Tre. Cùng lúc, lực lượng ở lại đồng loạ t tập kích tàu thuyền
trên sông Soài Rạp và các cứ điểm đ ồn bót tại Vàm Sát, Rạch Rào,
Đồng Tròn, Rạch Cốc để thu hút địch. Cùng thời gian này, bộ đội Tám
Mạnh và Tư Hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang Cần Đước, Cần
Giuộc đồng loạt tập kích 12 vị trí của giặc ở vùng phía Nam thành
phố Sài Gòn - Chợ Lớn, gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Số quân còn lại của liên chi đội 2-3 chia lam hai bộ phận trụ lại
Rừng Sác xây dựng căn cứ. Bộ phận thứ nhất gồm bộ đội Mười Đen
và lực lượng còn lại của 6 đơn vị chiến đấu chia quân đứ ng chân trên
khu vự c Rừng Giồng giữa lòng chảo Nhơn Trạch, do Đinh Văn Nhị
chỉ huy. Bộ phận thứ hai đóng quân dưới Rừng Sá c vùng ngập nước
gồm cá c bộ phận binh công xưởng, tàu kéo, ghe thuyền, trọng pháp,
quân y viện, kho tàng đặt tại Rạch Xu, Rạch Vàm Tượng, do Dương
Văn Hà (em Dương Văn Dương) chỉ huy. Công tác xây dựng căn cứ
địa được xúc tiến khẩn trương, có kế hoạch chu đáo.
Sau khi Bến Tre thất thủ, Dương Văn Dương hy sinh. Bộ đội
liên quân chi đội 2- do Trần Văn Đối giữ quyền chỉ huy quay trở về

Rừng Sác. Đêm 24 rạ ng ngày 25 tháng 2 năm 1946, đoàn quân về đến
Rừng Sác. Cuối tháng 2, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) đưa bộ đội Phú Thọ
từ căn cứ Vườn Thơm xuống Rừng Sác. Từ đây Rừng Sác trở thành
căn cứ chủ yếu của bộ đội Bình Xuyên.
Cùng với bộ đội Bình Xuyên, tại Rừng Sác, cò n có hàng chục tổ
chức kháng chiến về đứng chân hoạt động như các bộ phận cứ cơ
quan kháng chiến Sài Gòn (liên hiệp công đoàn, công tác Thành, công
an xung phong...), các cơ quan quân dân chính đảng cá c quận Nhà Bè
(Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (Chợ Lớn), Hòa Tân (Gò Công) và
cơ quan kháng chiến các xã đất liền ven phía Tây sông Soài Rạp...
Đến cuối tháng 2 năm 1946, Rứng Sác trở thành một căn cứ sôi
động ở ngoại vi Đông Nam thành phố. Tại đây, bộ đội tỏa ra hoạt
động đánh địch khắp nơi: tập kích huyện lỵ Nhà Bè, huyện lỵ Cần
Giuộc, đánh đồn bót dọc sông Lòng Tàu, dọc liên tỉnh lộ 19, phục kích
diệt tàu ghe củ a địch trên các sông rạch...
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định 1945-1975.
NXB TPHCM 1994)
4. Căn cứ Bình Mỹ
Căn cứ Bình Mỹ ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lý, Tân
Mỹ, Mỹ Bình thuộc quận Hóc Môn nằm cặp theo sông Sài Gòn bên tả
ngạn (liền ranh bên hữ u ngạn sông Sài Gòn với căn cứ An Sơn, An
Thạnh, Phú Cường thuộc Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một). Phía Bắc có
tỉnh lộ 8 từ Đức Hòa chạy qua quốc lộ 1 đến bến sông Sài Gòn sang
thị xã Thủ Dầu Một. Phía Tây có đường 15 từ Sài Gòn qua Hóc Môn
lên Bế n Cỏ đến bến đò Bến Súc, đường số 5 chạ y xéo qua từ cầu Xáng
đến Bình Mỹ giáp tỉnh lộ 8. Phía Tây Nam là sông Rạch Tra chảy qua
cầu Xáng, cầu Bông (nay là ranh giới thiên nhiên giữa hai huyện Củ
Chi và Hóc Môn). Theo phía Bắc có thể phá t triển nối với Tân Thạnh
Đông, Tân Thạnh Tây, Hòa Phú, An Phú xã, Khu 5, xa hơn nữa là
Bến Cát, Trảng Bàng; từ phía Tây, căn cứ nối qua Tân Phú Trung,
Phước Vĩnh An, Tân An Hội, đến Giồng Ông Hòa, Bàu Công (Đứ c
Hòa).

Đứng chân tại căn cứ Bình Mỹ, ngoài các cơ quan kháng chiến
và các lực lượng vũ trang huyện Hóc Môn, có Giải phóng quân liên
quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Nhân dân Bình Lý, Tân Mỹ, Mỹ
Bình tích cực phá hoại cắt đứt các đường bộ, đào hầm hào, rào làng
chiế n đấu, tuần gác chống càn bảo vệ căn cứ. Trong tháng 2 năm
1946, cầu Rạch Tra trên sông Sài Gòn - cửa ngõ đi vào Bình Mỹ - bị
ta phá sập. Dọc các ngã đi vào căn cứ đều được cắm chông, đắp ô ụ.
Trên lộ 22, nhân dân và du kích đào hố, chặt đổ cây cao su dọc ven
đường làm ngăn trở giao thông địch
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định 1945-1975.
NXB TPHCM 1994)
5. Đoạn địa đạo qui mô đầu tiên ở Củ Chi
Đoạn địa đạo có qui mô đầu tiên ở Củ Chi đượ c đào ở liên xã
Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An vào đầu năm 1947, đây là khu vực có
nhiều hầm bí mật của anh em du kích. Hầm bí mật có nhiều kiểu, lú c
đầu được bố trí thuận tiện và ngụy trang tinh vi để ẩn tránh. Sau đó
xuất phát từ nhu cầu phải bám trụ tại chỗ để bảo tồn lực lượng và tạo
điều kiện đánh đượ c địch, anh em du kích đã móc dính các hầm bí
mật với nhau trong lòng đất, nối một số gia đình với nhau trong khu
vực nhỏ. Dần dần, các chi nhánh địa đạo nối dài ra nhiều khu vực, cả
những hướng bố trí chặn đánh địch. Từ đây, các chi nhánh được thiết
bị thêm các ụ và hào chiến đấu từ xa kéo đến miệng hầm, xung
quanh bố trí cạm bẫy, hầm chông, lựu đạn gài. Khi phải rú t xuống
hầm, bộ đội du kích có kế hoạch chặn đá nh địch chui theo bằng cách
rút cầ u, bên dưới là hầm chông, cạm bẫy, xung quanh có tên nỏ từ các
ống tre bay ra, gươm, lự u đạn rút chốt, cây từ trên đập xuống. Cá c
khe ngách gần miệng hầ m được móc "hàm ếch" ẩn được từng người,
tránh đạn bắn thẳng của địch, đồng thời phụ c kích bất ngờ , dùng dao,
súng diệ t địch khi chúng bước vào. Trong một đoạn địa đạo dài vài
trăm mét, một tiểu đội du kích có thể thoải mái chiến đấu liên tụ c
nhiều ngày chống lực lượng địch đông gấp bội.
Giặc Pháp tìm mọi cách hủy diệt. Chúng dùng mọi cách để dồn
đuổi nhân dân ta ra các ấp xã chiến đấu, nhưng căn cứ khu 5 Hó c
Môn vẫn đứng vững, trở thành "Bất khả xâm phạm" trong suốt cuộ c
kháng chiến chống thự c dân Pháp. Kinh nghiệm xây dựng ấp chiến

đấu kết hợ p hầm bí mật và địa đạo được phổ biến ra nhiều nơi trên
chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống địa đạo ở khu 5 Hóc Môn
đã đặt bước khở i đầu quan trọng làm nên "Đất thép Củ Chi" nổi tiếng
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ .
Ở sát phía Tây ven thành phố, cũng sớm có một số đoạn địa đạo
ở xã Phú Thọ Hòa. Giữa năm 1947, Chi bộ Phú Thọ Hòa chỉ đạo chọn
ấp Lộc Hòa, nơi có khu đất cao, cây cối rậm rạp và nhân dân có
truyền thống đấu tranh cách mạng cao, làm địa điểm xây dựng địa
đạo. 16 người được chọn làm nòng cốt đào địa đạo, trong đó có các cán
bộ Lê Thanh, Nguyễn Văn Thược, Trần Văn Bốn, Nguyễn Văn Lự...
tự nguyện đứng tên trong dòng họ mới - họ Cù . Họ Cù mang ý nghĩa
như con Cù Long đào hang dưới đất, để bảo toàn lực lượng và đánh
địch. Phương pháp là đào địa đạo từng khúc giống như đào hầm từng
toa xe lửa đứt đoạn. Từ hai điểm, hai tổ (mỗi tổ hai người) đào dần,
gặp nhau ở điểm giữa. Đất đào lên được mang đổ xuống ruộng thấp,
vun thành vồõng khoai, vồõng sắn hoặc đổ lên bờ hào giao thông đào
công khai hoặc rãi đều trên mặt đất. Một đườ ng địa đạo ở Phú Thọ
Hòa có chiều dài gần 600 mét, từ Lộc Hòa nối đến ấp Phú Thạnh và
Bình Đông, trở thành nơi ém quân hoặc đứng chân của nhiều cán bộ
quân dân chính Đảng hoạt động nội thành.
(Theo sách lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định
kháng chiến 1945 - 1975 - NXB TPHCM 1994)

Chán đời đi lang thang !
0
TỪ CẢM TỬ QUÂN ĐẾN QUYẾT TỬ QUÂN
Khi đại bộ phận nhân dân và các lự c lượng vũ trang Sài Gòn,
hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân Nam Bộ bất hợp tác với
địch, rút ra khỏi thành phố tạo thành một thế bao vây địch, thì dưới
sự lãnh đạo của Thành ủy, công nhân, học sinh, thanh niên nam nữ,
lớp nghè o thành thị và một số trí thức với lòng căm thù cao độ quân
giặc cướp nướ c, đã nhanh chóng tổ chức lại thành những đội "Cảm tử
quân", những "Ban trinh sá t", những "Ban công tác", với một lời thề
sắt son, "diệt địch ngay trong tim gan chúng".
Tháng 12 năm 1945, đòn phủ đầu địch choáng vá ng nhất là
trận em Lê Văn Tám, một mình phá tan tành bom đạn Thị Nghè.
Đây là kho đạn cũ của Pháp ở sát ngay vườn Bách thú Sài Gò n, sau
lưng là kinh Thị Nghè, trước mặt là Đài Phát thanh, xung quanh có
hào sâu, tường cao trên 2 mét, mặt tường chăng dây kẽm gai chạy
điện và một hệ thống tháp canh. Một đại đội Âu phi ngà y đêm canh
gác cẩn mậ t. Em Tám được đội Cảm tử giao nhiệm vụ điều tra nghiên
cứu những nơi chứa bom đạn bên trong kho. Sau một thời gian dài,
khi giả câu cá bên sông, khi cắt cỏ quanh kho quan sát, Tám đã nắm
được những nơi xung yếu chứ a bom đạn. Nhưng việc dắt đội cảm tử
của ta lọt được vào bên trong là một vấn đề nan giải. Tám quyết định
làm một mình. Với một chai ét xăng, một bao diêm, em Tám đã lừa
lính gá c lọt đượ c vào kho. Và vừa chạy vừa tưới xăng vào quần áo
châm lửa đốt mình, em Tám đã tự biến mình thành cây đuốc sống.
Em lao mình vào nơi xung yếu nhất. Một tiếng nổ long trời lở đất,
tiếp theo là những tiếng nổ liên tiế p. Em Tá m đã hy sinh nhưng kho
bom đạn địch đã tan tành. Cả đại đội Âu phi bị diệt. Đài phát thanh
bên kia đường bị sập một phần lớn. Gương hy sinh củ a em Tám đã
khích lệ nhân dân Sài Gòn siết chặt hàng ngũ đứng lên giết giặc cứu
nước.

Đầu năm 1945, chị Nguyễn Thị Lan tức Lan Mê Linh, lúc ấy
mới chỉ là một học sinh 16 tuổi, đã nổ phát súng trừ gian đầu tiên hạ
tên Việt gian bồi bút Hiền Sĩ giữa ban ngày tại chợ Bến Thành đông
đúc. Hiền Sĩ là chủ nhiệm tờ báo phản động "Phục Hưng" vừ a làm
gián điệp, vừa làm cái loa chống cách mạng chia rẽ Bắc Nam theo
lệnh Pháp. Chính ta lên án tử hình hắn. Lan Mê Linh được giao
nhiệm vụ thi hành bản án ấy. Sau một thời gian theo dõi hoạt động
của hắn, Lan quyết định phải bắn gục hắn ngay chỗ đông người để
trấn áp bọn Việt gian bán nước khác. Hôm ấy chị thủ một cây súng
lục 6 ly 35, theo bén gót hắn từ tòa báo đi ra. Đến góc đưởng Bô-na
đối diện chợ Bến Thành, Lan bình tĩnh rút súng, nổ liên tiếp 4 phát
vào Hiễn Sĩ. Hắn ôm ngực lảo đảm gục ngã thoi thóp. Lan định kết
liễu đời hắn bằng viên đạn cuối cùng. Nhưng đạn bị kẹt. Lan trở tay
lấy báng súng đập vào thái dương hắn. Bọn lính mũ đỏ đậu xe ở bên
kia đường ập đến. Lan không kịp lẩn vào đám đông. Chị bình tĩnh bỏ
súng vào túi xách, trước sự khâm phục của nhữ ng người chứng kiến
hôm ấy.
Vụ án Hiền Sĩ chưa mấ y người quên thì giữa năm 1946 anh
Nguyễn Đình Chính - mà anh em thường gọi là Chính Heo - đã giết
tên Hiền giữa ban ngày tại nhà hắn ở đường La-gơ-răng-đi-e gần chợ
Bến Thành. Đây là một tên phản bội cách mạng đã dẫn giặc đi lùng
sục các cơ sở của ta ở nội thành, chỉ cho giặc bắt cán bộ. Hắn được
bọn địch bảo vệ chu đáo, đi đâu cũng có mấy tên hộ vệ có vũ trang kè
kè bên cạnh và nhà hắn thì thường xuyên có bọ n chó săn canh gác.
Hắn bị Chánh quyề n cách mạ ng kết án tử hình, bản án được giao cho
Ban trinh sát thi hành. Giế t tên Hiền mà không gây tiếng nổ không
phải là một việc dễ làm trong tình hình hắn được bảo vệ chu đáo. Anh
Chính đã nhận làm việc khó khăn ấy. Anh cùng hai đồng đội ăn mặc
sang trọng, thủ dao găm trong người giả làm bạn thân đến chơi với
hắn. Chính cùng đồng đội đã đột nhập được vào nhà tên Hiền, dùng
dao găm hạ thủ hắn mà hắn không kêu đượ c một tiếng. Xong việc
Chính và đồng đội lại ung dung đi ra, bọn hộ vệ của tên Hiền tuyệt
nhiên không hay biết gì cả.
1946 trong tình hình ta và Pháp ký Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3,
hội nghị trù bị Đà Lạt và hội nghị Phông-ten-bơ-lô ở Pháp đã tác
động vào tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam, bọn Việt Gian lại
càng hoang mang, dao động. Đảng chủ trương tận dụng tình thế

thuận lợi này mà tấn công mạnh vào kẻ thù, ra sức củng cố và phát
triển lực lượng của ta. Riêng đối với Sài Gòn, vào mùa thu năm ấy,
một hội nghị trên 60 cán bộ trường Quân chinh được phái từ chiến
khu về hoạ t động xây dựng lực lượng vũ trang ở nội thành đã nhóm
họp tại một khách sạn lớn ở Chợ Lớn. 13 đội tự vệ đã được thành lập
ở các quận, hộ, các xí nghiệp và các sở của địch ở Sài Gòn. Các đội tự
vệ này đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy Thành đội tự
vệ Sài Gòn Chợ Lớn. Bên cạnh các Đội Cảm tử, các Ban công tác thì
đây là một đơn vị có tổ chức thống nhất đầu tiên của Sài Gòn. Các đội
tự vệ lập chiến công đầu để chào mừng ngày 20 tháng 12 năm 1946.
Cả 13 đội Tự vệ, được phân chia khu vực hoạt động rõ ràng, đã cùng
một giờ tấn công bằng lựu đạn vào tất cả các đồn cảnh sát, các trại
lính của định trong thành phố. Đây là một lời cảnh cáo đanh thép của
Sài Gòn đối với giặc Pháp phản bội Thỏ a Hiệp án 14-9 năm ấy còn
chưa ráo mực.
1947, anh Võ Hồng Tâm trong đội tự vệ "Hóc môn" đã táo bạo
giết chết tên đại tá Anh - phen ngay tại "khách sạn các Quốc gia" trên
đại lộ Sác-ne. "Anh-phen" là tên Ủy viên cộng hòa Phá p ở Lào. Hắn
thường về Sài Gòn bàn bạc kế hoạch đánh chiếm Lào. Mỗi lần về Sài
Gòn hắn đều ăn ở tại khách sạn trên. Hắn ít ra đườ ng, thậm chí hớt
tóc cạo mặt hắn cũng cho gọi thợ cạo vào khách sạn. Võ Hồng Tâm,
chiế n sĩ Tự vệ Thành của ta, là m nghề hớt tóc dạo để theo dõi địch.
Thấy thời cơ hiếm có để giết một tên địch lợi hại, anh đề nghị ban chỉ
huy cho anh đi trừ khử tên giặc xâm lược. Sau khi bàn bạc kế hoạch,
ban chỉ huy giao cho anh một súng lục. Anh chờ ngày đến giết tên đại
tá, nhưng do có công tác đột xuất khác, ban chỉ huy tạm rút cây súng
đã giao cho Tâm. Chính lúc không có súng trong tay lại là lúc người
của khách sạn gọi anh đế n. Thông qua đường dây bí mật để lấy súng
không kịp rồi. Tâm đành thu xếp đồ nghề đến khách sạn, lòng nặng
trĩu mối thất vọng để xỏng mất tên sĩ quan cao cấp ấy. Trong phòng
tên Anh-phen, Tâm vừa hành nghề vừa đăm chiêu suy nghĩ. Nhưng
cái khó lại ló cái khôn. Trong khi anh cạo mặt cho tên Anh-phen hắn
ngửa cổ đôi mắt lim dim. Võ Hồng Tâm vụt nẩy ra một ý định vô cùng
táo bạo. Nhanh như chớp anh đã dùng ngay con dao cạo đang cầm ở
tay hạ sát tên thực dân. Thằng tây không kịp kêu được mộ t tiếng.
Tên Anh - phen đền tội trên vũng máu lênh láng. Anh-phen bị xử tội
không những làm bọn xâm lược ở Việt Nam kinh hoàng mà dư luận
báo chí ở Pháp cũ ng mô tả một sách rùng rợn.

Hoạt động vũ trang của ta ở Sài Gòn ngày càng mạnh thì định
bố phòng thành phố càng chặt. Mặt khác chúng ra sức càn quét các
vùng ngoại ô tiêu diệt các lõm căn cứ của các đơn vị Sài Gòn. Việc giữ
vững đường liên lạc giữa nội và ngoại thành và bảo vệ các lõm căn cứ
của mình trong tình hình này đã trở thành một vấn đề cấp bách. Mỗi
đơn vị đã buộc phải thành lập những lực lượng tập trung của mình, 1
tiểu đội, 2 tiểu đội, thậm chí 1 trung đội trang bị bằng súng của địch
địch chuyển từ Sài Gòn ra: tiểu liên, súng trường, trung liên và cả
súng cối nhẹ. Những đơn vị tập trung này đã có nhiều thành tích
chống càn bảo vệ căn cứ, đảm bảo đường dây thông suốt. Nhưng cũng
như nhữ ng hoạt động của các đơn vị nội thành, hoạt động của các đơn
vị trên còn rời rạc lẻ tẻ. Đảng chủ trương tập trung các lực lượng lại
mới tăng thêm sức mạnh diệt định. Cuối 1947, các Ban công tác và
các đội Tự vệ thành đã được thống nhất lại thành 10 Ban công tá c
Thành, đặt dưới sự chỉ huy chung. Trong khi đó các đơn vị vũ trang
tậ p trung được gom lại thành 3 tiểu đoàn (các tiểu đoàn Hoàng Văn
Thụ, Ngô Gia Tự và Ký Con). Và trung đoàn Phạm Hồng Thái được
thành lập.
Việc thống nhấ t 10 Ban công tá c và Độ i tự vệ, việc thành lập
Trung đoàn Phạm Hồng Thái là một bướ c phá t triển có tầm quan
trọng chiến lược đối với Sài Gòn. Các chiến sĩ Sài Gòn rất tin tưởng
và phấn khởi. Nó được đồng bào Sài Gòn nhiệt liệt hoan nghênh và ra
sức nuôi dưỡng. Đây là bước phát triển tất yếu, vì bên cạnh các lực
lượng dân quân thì bộ đội địa phương (các Ban công tác và các đội Tự
vệ thành) phả i chuyển lên chủ lực. Trung đoàn Phạm Hồng Thái là
đơn vị chủ lục đầu tiên của Sài Gòn làm nhiệm vụ bảo vệ cứ của các
cơ quan lãnh đạo Sài Gòn đóng ở ngoại thành chủ độ ng hỗ trợ và phối
hợp đắc lực cho các hoạt động chiến đấu ở nội thành.
Việc thống nhất 10 Ban công tác Thành và việc thành lập Trung
đoàn Phạm Hồng Thái còn mở ra một khả năng phát triển to lớn của
các lực lượng vũ trang Sà i Gòn. Khả năng trang bị hậu cần cũ ng khá
dồi dào, phần lớn từ nội thành chuyển ra. Một số xưởng cơ khí của
địch ở nội thành được sử dụng làm cơ sở tạo vũ khí (mìn đặt trong bút
máy, lựu đạn bằng bật lửa, súng lục bắn một phát, súng phóng tên
sắt tẩm thuộc độc...).

Ở ngoại ô, từ nhữ ng tổ xưởng sửa chữa vũ khí riêng lẻ của từng
Ban công tác, đã xây dựng được một công binh xưởng vừa sử a chữa
vũ khí, vừa sản xuất đạn dược, đúc lấy lựu đạn thích hợp phụ c vụ cho
hoạt động trong nội thành. Trường Quân chính của 10 Ban công tá c
cũng được thành lập. Những lớp ngắn hạn 30 ngày nối tiếp nhau đã
bổ túc, đào tạo và tung về nộ i thành hàng trăm cán bộ và chiến sĩ, tạo
một khả năng to lớn cho sự phát triển các lự c lượng vũ trang về lượng
và cả về chất.
Việc thống nhất 10 Ban công tác và thành lập Trung đoàn
Phạm Hồng Thái đã làm tiền đề cho việc thành lập Bộ Tư lệnh khu
Sài Gòn Chợ Lớn vào cuối năm 1948 với việc biên chế 10 Ban công tác
thành Tiểu đoàn Quyết tử 950 và thành lập Đặc khu Sài Gòn Chợ
Lớn năm 1950 với Quân đoàn Thành Hồ Chí Minh làm lực lượng
xung kích.
Ngay sau khi thành lập, trung đoàn Phạm Hồng Thái đã phát
huy đầy đủ vai trò chủ lực của mình. Ngoài trận đánh thống nhất
trong đêm cả hệ thống phòng vệ của địch quanh Sài Gòn Chợ Lớn -
Tân Sơn Nhất, Tham Lương, Phú Thọ, Rạch Rít, Hộ 17 trận chống
càn bảo vệ căn cứ các cơ quan Sài Gòn ở Kinh Bà Dụ và trận đánh
chống càn ở Láng Le ngày 18 tháng 4 năm 1948 là vô cùng dũng cảm.
Láng Le là căn cứ của các cơ quan lãnh đạo thành Sài Gòn của
ta lúc bấy giờ. Đấy là một vùng ngoại ô Sài Gòn Chợ Lớn, một vùng
đồng vuộng có kinh rạch xen kẽ. Sau đêm ta đánh ở nội thành, địch tổ
chức càn quét Láng le trả đũa hòng phá tan căn cứ lãnh đạo Sài Gòn
của ta. Mặc dù vừ a phải chiến đấu đêm trước, các đơn vị của Trung
đoàn Phạm Hồng Thái vẫn tỉnh táo đề phòng địch tấn công. Thật vậy,
từ mờ sáng quân địch đại bộ phận là âu phi đã từ nhiều phía, có tàu
chiế n, xe lội nước, pháo binh và phi cơ yểm trợ, tiến vô bao vây khu
vực Láng Le. Địch vô tới đâu cá c đơn vị của ta nhanh chóng vận động
chặn địch đến đó, bước đầu gây cho chúng một số thiệt hại. Địch vẫn
cố thắt chặt vòng vây. Quân ta phản công quyết liệt. Nhằm các cánh
quân yếu nhất của địch, các đơn vị của Trung đoàn Phạm Hồng Thái
đã tập trung hỏa lực chọc thủng vòng vây. Bọn địch hốt hoảng, lớp
buông súng đầu hàng, ló p bỏ vũ khí chạy thục mạng, xác giặc ngổn
ngang khắ p chiến địa. Ta đã tiêu diệt trên 300 lính Âu phi, bắt sống
nhiều tù binh và thu nhiều vũ khí bổ sung thêm cho đơn vị. Trong

trận chiến đấu vô cùng á c liệt nổi lên một ngôi sao sáng, đó là cây
súng Nguyễn Hữu Mai. Mai phụ trách một cây trung liên "Bơ-ren".
Họng súng của Mai không ngớt khạc đạn rất chính xác, quạt hết phía
này sang phía khác, quay đến đâu quân giặc đổ rạp đến đó. Mai đã hy
sinh anh dũng. Để nhớ đến anh, sau trận ấy trung đoàn đã đặt tên
cho cây súng của anh là "Cây sú ng Nguyễ n Hữu Mai".
Cuộc chiến đấu đầy nguy hiểm của Sài Gòn không chỉ có nam
giới gánh vác mà phần đóng góp của phụ nữ Sài Gòn cũng không nhỏ.
Họ là thợ thủ công, họ là những học sinh lứa tuổi 15 - 16. Họ là
những giao liên đắc lực nhất. Họ là những cán bộ vận động binh sĩ
địch. Hay còn là những trinh sát viên xuất sắc. Tất cả đã noi gương
anh dũng của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, của những tiếng súng
đầu tiên của Lan Mê Linh đi trước, đầu năm 1946. Một trung đội gái,
trung đội "Minh Khai" được thành lập. Ngay sau khi ra đời, Trung
đội đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Đó là các trận đánh lựu
đạn trong các rạp chiếu bóng Cà Thày và A-xam diệt một số binh sĩ
Pháp. Nhưng chiến công vang dội nhất là trận đánh lựu đạn trong
các rạp chiếu bóng Ma-giét-xtích trên đường Ca-ti-na. Đấy là một rạp
chiế u bóng sang trọng của Sài Gòn. Địch bảo vệ rạp này khá cẩn mật.
Cửa ra vào được bao thêm một lần lưới mắt cáo chắc chắn. Trong giờ
chiế u có một tiểu đội hiến binh người Pháp canh gác. Bên ngoài, một
bầy mật vụ ngụ y thường xuyên lảng vảng dò xét từng người đi đường
và người đến xem bằng những con mắt cú vọ chuyên nghiệp. Khán
giả trước khi vô rạp bị khám xét kỹ lưỡng. Trung độ i Minh Khai đã
nhiều lần cử đội trinh sát của mình vô rạ p nghiên cứu để đặt kế
hoạch chiế n đấu.
Tổ trinh sát báo tin ngày 10 tháng 6 năm 1948, khoảng 30 sĩ
quan tham mưu Pháp sẽ đến dự tiệc tại nhà một tên đại tá và sau đó
sẽ cùng nhau đến rạ p Ma-giét-xtích xem chiếu bóng. Bộ phim hôm ấy
nhan đề "Giã từ ngườ i yêu". Tổ trinh sát có báo cáo rõ vị trí bọn này
sẽ ngồi trong rạp. Thời cơ lập công to đã đến. Trung đội cấp tốc kế
hoạch chiến đấu. Bốn chị Huệ, Thanh, Dung và Huê xung phong ra
trận. Họ là những nữ thanh, họ c sinh sàn sàn lứa tuổi. Huệ thợ may,
lớn nhất, chưa đầy 20 tuổi. Đúng theo kế hoạch, 4 chị ăn bận thật
sang, thủ lựu đạn, vừ a nhai kẹo vừa cười nói ngả nghiêng với mấy tên
sĩ quan địch. Thật bất ngờ đối với bọn mật vụ và bọn hiến binh: lựu
đạn đã lọt được vô trong rạp. Mỗi chị ngồi ở một vị trí đã định. Đúng

giờ nổ, trong lúc khán giả đang mê say theo dõi trên màn bạc, bốn chị
làm ám hiệu cho nhau, cùng rút chốt lựu đạn, hất ngược vũ khí về
phía các hà ng ghế thượng hạng đằng sau mình. Mấy tiếng nổ long
trời lở đất. Xác bọn sĩ quan Pháp nằm la liệt, máu chảy thành vũng.
Hai chục tên chết, 50 tên bị thương. Địch đã phải đem xe đến chở xác
cả mấy tiếng đồng hồ. Kết quả trận đánh đã làm bọn địch ở Sài Gòn
kinh hãi và dư luận báo chí bên Pháp xôn xao bàn tán rất nhiều.
Nếu trận đánh lựu đạn rạp Ma-giét-xtích là một trận đánh bố
trí chu đáo chì năm 1950 vụ ám sát tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e trên đường
phố lại là một trận kiểu mẫu tên thực dân cáo già sống ở Việt Nam
khá lâu, một gián điệp cao cấp lợi hại của bọn thực dân thời ấy. Giết
hắn là một yêu cầu trước mắt của ta. Đối với một tên cáo già đầy
cảnh giác, việc hạ thủ hắn không giản đơn. Các chiến sĩ Quyết tử
quân Sài Gòn của ta đã có lần giết hụt hắn. Từ sau lần đó hắn càng
đề phòng chu đáo hơn. Các quyết tử quân của ta vẫn bám sát hắn,
quyết tâm diệt cho được tên cáo già. Sau một thờ i gian theo dõi
nghiên cứu, nắm được nhữ ng quy luật đi lại mới của Đơ-la Sơ-vrôchie,
nhất là những lần hắn từ "khá ch sạn Công-ti-năng-tan" ra xe
hơi về nhà. Một kế hoạch chiến đấu được vạch ra thật tỉ mỉ. Rút kinh
nghiệm lần trước, lựu đạn các quyết tử quân ta sử dụng lần này được
cắt ngắn ngòi để có thể nổ ngay trong 2-3 giây đồng hồ. Đúng theo kế
hoạch, khi tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e xuất hiện ở cửa khách sạn lên xe ra
về, các chiến sĩ quyết tử của ta đoạt một xe hơi của sứ quán Mỹ đậu
gần đó đuổi theo.
Trên xe của sứ quán Mỹ, ngoài chiến sĩ lái xe còn có một quyết
tử quân làm nhiệm vụ liệng lựu đạn sang xe tên cáo già và một người
nữa thủ một tiểu liên để bắn khống chế bọn cảnh sát trên đường.
Trong khi đó ở góc đường Et-xpa-nhơ và Pôn-lăng-si một tổ quyết tử
quân của ta, trang bị lựu đạn ở lề đường, nổ máy thường trực để yểm
trợ và chờ đón các chiến sĩ chủ công của ta. Khi xe tên Đơ-la Sơ-vrôchi-
e đến ngang trụ sở Tòa Đô chính Sài Gòn thì xe của quân ta vượt
ngang xe hắn. Một việc mà tên cáo già không ngờ đến là một trái lựu
đạn đã từ chiế c xe mang biển sứ quán Mỹ ấy tung qua xe hắn. Một
tiếng nổ long trời. Xe quân ta đã vượt khỏi xe hắn và rút lui theo kế
hoạch đã định. Chiếc xe của tên thực dân bị mấ t đà loạng choạng rồi
gục bên lề đường. Tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e lần này đã đền tội, kết thúc

cuộc đời mấy chục năm tội ác của hắn ở Đông Dương. Bọn cả nh sát
trên đường phố nghe tiếng nổ đã hết hồn tán loạn chạy trốn.
Chiến công nối tiếp chiến công, những chiến sĩ cảm tử của Sài
Gòn đã tung hoành trong sào huyệt địch để tiêu diệt chúng, góp phần
vào thắng lợi hiển hách của cả dân tộc ta, đánh bại bọn thực dân xâm
lược Pháp.
(Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh - NXB SGGP - 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC XUỐNG ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH
SINH VIÊN NGÀY 9/1/1950
Vừa bước vào những ngày đầu năm 1950 không khí đấ u tranh
đã bắt đầu sôi sục. Công nhân bãi công. Người buôn bán bãi thị. Họ c
sinh một số trường bãi khóa đòi bọn cầm quyền phải giải quyết
những yêu sách thiết thân. Hoảng sợ, bọn xâm lược Pháp và ngụy
quyền tay sai đã phải đóng cửa các trường học. Chúng sợ học sinh tập
trung. Học sinh đã nhiều lần đưa kiến nghị đò i chúng mở lại cửa
trường, nhưng chúng chỉ hứa suông. Phải xuống đường, dùng bạo lực
chính trị buộc quân thù nhượng bộ. Và sáng ngày 9-1-1950 hàng
ngàn học sinh các trường trung họ c Sài Gòn đã tập trung trướ c cửa
Nha học chinh đòi tên Nguyễn Thành Giung, giám đốc Nha phải mở
lại cửa trường. Giung lẩn tránh và sau đó hứa sẽ báo cáo lên "cấp
trên" của hắn. Thế là đội ngũ chỉnh tề, học sinh kéo nhau lên dinh
Thủ Hiến Nam phần. Đoàn biểu tình đi đến đâu thì phụ huynh họ c
sinh, công tư chức, người buôn bán bỏ việc đi theo hỗ trợ cho con em
mình đến đó.
Đoàn biểu tình đã vượt qua nhiều hàng rào cảnh sát nhiều
chướng ngại vật để đến dinh Thủ Hiến. Đến ngang tòa Đô chính đã 8
giờ. Cảnh sát được tăng cường hùng hổ chặn đoàn người lại. Học sinh
liền tổ chức thành các đội xung kích chọc thủng hàng rào cảnh sát để
tiến lên. Một cuộc xô xát dữ dội. Sẵn đống đá sửa đường anh em học
sinh dùng là m võ khí. Công nhân, công chức trong tòa Đô chính đổ ra
đường chuyển đá cho anh em, cuộc chiến đấu rất ác liệt. Đã có một số
học sinh bị bắt và một số khác bị thương đoàn người vẫn quyết tâm
vượt lên phía trước.
Tại dinh Thủ Hiến anh em buộc chúng phải cứu chữa số bị
thương, mở lại cửa trường cho học sinh đi học, chấm dứt khủng bố
học sinh và trả tự do cho những người bị bắt. Bọn cầm quyền cho
đóng cổng dinh và chuẩn bị đối phó. Lực lượng cảnh sát của chúng

được lệnh tăng cường. Học sinh quyết siết chặt hàng ngũ tụ lại trướ c
dinh. Các biểu ngữ nêu yêu sách của học sinh được giương lên. Từng
chập, từng chập các khẩu hiệ u được hô lên vang dội, làm áp lực đòi
tên Thủ hiến phải tiếp đại biểu học sinh. Người ta đổ đến càng lúc
càng đông, vừa tiếp sức đấu tranh, vừa gồng gánh món ăn, thức uống
đến phân phát cho anh em. Không khí thật náo nhiệt. Thế của quần
chúng dâng lên cao.
Cuối buổi, tên chánh Văn phòng Thủ hiến ra tiếp xúc với họ c
sinh, mời một số đại biểu học sinh vô dinh thương lượng. Để hỗ trợ
cho đoàn đại biểu và uy hiếp tinh thần bọ n ngụy quyền, học sinh bên
ngoài không ngớ t hô khẩu hiệu vang cả một góc trời. Nửa giờ sau
đoàn đại biểu trở ra thông báo kết quả thương lượng. Cá c yêu sách đã
được chấp nhận: trường học sẽ mở cửa lại, các trường hợp anh em bị
bắt sẽ được xem xét. Anh em đòi phải có văn bản, phải thả ngay số
học sinh bị bắt, anh em mới giải tán. Bọn địch ngoan cố không chịu
cam kết. Học sinh quyết lại tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi. Lều
vải được dựng lên trên bãi cỏ ngoài cửa dinh để anh em nghỉ trưa lấy
sức.
Sự việc đã được báo lên tên tướng Săng-xông, lúc đó là ủy viên
Cộng hòa Pháp tại Nam phầ n. Hắn chỉ thị không nhượng bộ. Chiều
hướng cuộc thương lượng thay đổi đột ngột. Khoảng 3 giờ chiều, binh
lính và cảnh sát võ trang được tăng cường thêm. Hàng ngũ học sinh
vững chãi hơn, đúng 3 giờ 47 phút địch từ trong dinh bất thần nổ
súng vào đoàn học sinh và hàng trăm binh lính cảnh sá t tung cửa
xông ra. Dù i cui giáng xuống như mưa. Những cuộc vật lộn, những
cuộc đuổi bắt diễn ra, nhiều em học sinh ngã xuống và được đồng bào
dìu về nhà băng bó. Một số khác bị bắn chết và mất xác. Trần Văn Ơn
bị thương nặng kịp thời được đưa vào nhà thương Chợ Rẫy. Số còn lại
nhanh chóng tập họp thành đội ngũ kéo về khu chợ Bến Thành hô
vang khẩu hiệu "Đả đảo bọn khủng bố giết người!" "Đả đảo thực dân
Pháp" "Đả đảo bọn Việt gian bán nước" "Tinh thần đấu tranh của học
sinh bất diệt".
Máu của học sinh đã đổ, uất hận dâng cao. Cuộc đấ u tranh đã
chuyển sang một thể mới, quyế t liệt hơn, rộng rãi hơn của những
ngày tiếp đó.
(Theo sách - SG-TPHCM NXB SGGP tái bản 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG MỸ 19/3/1950
Những cơn bão táp đầu năm 1950 báo hiệu sự sụp đổ của giặc
Pháp ở toà n cõi Đông Dương. Trước thế yếu đó của giặc Pháp, đế quốc
Mỹ thừa dịp nhảy vào. Chú ng đã cho hai chiếc chiến hạm vào cập bến
cảng Sài Gòn. Rõ ràng là một hành động khiêu khích láo xược của đế
quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Nhân dân Sài Gòn tức thì tỏ thái độ.
Một kế hoạch đấu tranh chu đáo đã được vạch ra.
Đêm 18 rạng 19-3-1950, bọn Mỹ - Pháp hí hửng mở tiệc chiêu
đãi nhau trên tàu. Bất đồ một loạt đạn súng cối từ vùng Thủ Thiêm
đối diện với quân cảng rót xuống đúng chỗ hai chiến hạm Mỹ. Một số
thiết bị trên tàu bị hư hại. Đấy là lời cảnh cáo đanh thép đầu tiên của
nhân dân Sài Gòn. Ai cũng nức lòng phấn khởi.
Sáng sớm ngày 19-3-1950 quần chúng đủ các giới từ khắp nơi
tấ p nập kéo đến trường Tôn Thọ Tường cạnh chợ Bến Thành để nghe
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó là trưởng phái đoàn các giới, nói
chuyện và sau đó sẽ diễn hành chống Mỹ.
Địch chuẩn bị đối phó, tên cảnh sát trưởng Trần Văn Tư đứng
ra chỉ huy. Hà ng mấy trăm tên nai nịt gọn gàng, lập thành một vòng
đai ngăn không cho đồng bào đổ vào sân trường. Nhưng đồng bào đã
tổ chức từng mũi xung kích phá đứt từng đoạn cảnh sát tràn vào.
Địch tăng viện. Hàng chục xe lính viễn chinh và cảnh sát Pháp
đeo mặt nạ kéo đến cổng trường ồ ạt đổ quân xuống. Tình hình trở
nên cực kỳ căng thẳng, nhưng cũng chỉ một loáng, bốn tầng gác của
trường Tôn Thọ Tường đã đầy ắp người. Biểu ngữ đã nhanh chóng
xuất hiện ở khắp các tầng. Người ta thấy khẩu hiệu của công nhân
các hãng Brốt-xa Mô-panh, BGI. Mi-tắc, Luy-xi-a, Ba-xtô, nhà đèn
Chợ Quán, Hỏa xa Sài Gòn, biểu ngữ của công chức Bưu điện, Tòa Đô
chính, sở Công chính, sở Địa chính, Đông Dương ngân hàng. Người ta

còn thấy biểu ngữ các khu phố, các chợ... Dường như không xí nghiệp
nào, không cơ quan nào thiếu mặt.
Rồi một khẩu hiệu lớn nhứt, nổi nhứt, chữ vàng trên nền đỏ "Đả
đảo bọn can thiệp Mỹ!" xuất hiện. Một việc nữ a mà không ai ngờ: trên
tầ ng gác cao của nhà trường xuất hiện một lá cờ đỏ sao vàng chói lọi,
phần phật tung tay trướ c gió. Quần chúng hoan hô dậy trờ i. Những
lồng ngực như muốn vỡ ra. Cả sân trường như muốn bung rộng.
Hàng loạt khẩu hiệu được hô lên:
Đả đảo bọn can thiệp Mỹ! Đế quốc Mỹ cút đi! Đả đảo bọn thực
dân Pháp cướp nước! Đả đảo bọn Việt gian bán nước! Tinh thần đấu
tranh bất khuất của nhân dân Việt Nam bất diệt!
Một người hô, cả vạn, cả chụ c vạn ngườ i đáp lại như sấm động
cả một góc trời. Thế rồ i từ trên các tầng gác, cả ngàn, cả vạn cờ bươm
bước đỏ chói óng ánh sao vàng được tung xuống. Bọn cảnh sát ngụy
hoảng sợ dãn ra, bọn lính và cảnh sát Pháp đeo mặt nạ ào tới ném
hàng trăm lựu đạn cay vào giữa đám đông. Khói tỏa mịt trời. Như
một làn sóng, quần chúng tràn ra cửa. Và chỉ cũng trong có mấ y phút
đoàn ngườ i đông đảo cũng đã thoát ra hết cổng sau tập trung trên
đường Cô-lô-nen Gri-mô. Đa số là thanh niên quần xanh sơ mi trắng,
lập tức ba cây cờ đỏ sao vàng lớn, lớn lắm, được giương lên dẫn đầu
đoàn biểu tình chống Mỹ. Đoàn tiến về phía chợ Bến Thành chia
thành nhiều cánh kéo qua các đường Bô-na, E-spa-nhơ, La-grăng-đie,
Véc-đoong v.v... Mỗi cánh có hàng vạn người, đi đến đâu quần
chúng trên đường trên phố lại nhập thêm vào đến đấy. Riêng ở chợ
Bến Thành quần chúng các ngả tới tấp đổ vào Bồn binh chận xe Pháp
lại. Một xe nhà binh có dăm bảy tên lính Pháp đi chợ lấy thực phẩm
bị quần chúng cản lạ i. Tên Pháp lái xe hoảng hốt, lạ c tay lái leo lên
cả lề đường, xe nghiêng hẳn mộ t bên. Bọn lính Pháp hết hồn nhảy ào
xuống co giò chạy biệ t. Xe bị đốt cháy rụi.
Trong phú t chốc hàng trăm chướng ngại được dựng lên bằng
ghế đá, bàn ghế, cánh cử a, bằng xác xe hơi. Quần chúng chặn cả một
đoàn xe lửa chở củi từ cảng về ga, quăng củi xuống đường, võ trang
cho đoàn người tự vệ.

Bọn lính Pháp đeo mặt nạ đã lại từ trường Tôn Thọ Tường kéo
đến Bồn binh liên tiếp ném lựu đạn cay vào quần chúng, có cả tiếng
súng nổ. Đồng bào khiêng chum, vại, thùng ra đường đổ đầy nước lã,
đem hàng chồng khăn mặt cho anh chị em thấm nước lau mắt chống
khói lựu đạn. Ai cũng bỏ cả việc nhà tham gia chiến đấu và phục vụ
chiế n đấu.
Quầ n chúng làm chủ tình hình ở Bồn binh từ sáng đến gần
trưa. Các đoàn ở các cánh khác vẫn rầm rập kéo đi trên mấy đường
phố lớn Bô-na, E-xpa-nhơ, Ca-ti-na. Qua mấy công sở có treo cờ Pháp
và Mỹ, quần chúng leo lên giựt cờ xuống xé nát.
Trước tòa Đô chính có chiếc xe gíp chạy ngang đoàn biểu tình,
trong xe tên sĩ quan Pháp - sau này mới biết hắn là tên thiếu tá Peri-
ơ - dám láo xược thò tay giựt cây cờ của ta xuống. Lập tức quần
chúng chặ n xe hắn lại. Anh em vọt lên xe lôi cổ hắn xuống. Mấ y nhát
dao găm đã kết liễu đời hắn. Chiếc xe của hắn bị lật ngược và đốt
cháy tại chỗ. Trên đường Sác-ne, một số thủy thủ Mỹ dưới tàu lên bờ
chơi nghênh ngang trên hè phố liền bị quần chúng rượt đánh cho
chúng một trận tơi bời. Chúng co giò tháo chạy xuống tàu, đóng cửa
và rút thang trốn biệt. Ngay chiều hôm ấy - 19-3-1950 - hai chiến
hạm Mỹ đã nhục nhã kéo neo cút thẳng, hủ y bỏ cả chương trình thăm
viếng tiệc tùng đã dự định.
Ngày 19-3 đã được chọn làm Ngày toàn quốc chống Mỹ. Vớ i khí
thế của những ngày 9-1, 12-1, 19-3 nhân dân Sài Gòn tiếp tục đấu
tranh chống khủng bố đàn áp chống bắt bớ giam cầ m những người
yêu nước. Hà ng loạt các cuộc đình công, đòi tăng lượng, giảm giờ làm,
chống phạt vạ, chống cúp lương diễn ra liên tục nổi bật nhất là cuộ c
bãi công ngày 18-1950 của công chức các sở Ngân khố, Công chính,
Bưu điện, Ngân hàng, Đô chánh.
Nhân dân Sài Gòn đã từng sống những ngày sôi động nhất và có
quyền tự hào chính đáng với những thành tích của mình.
(Theo sách SG TP. HCM - NXB SGGP tái bản 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC ĐÀN ÁP CỦA THỰ C DÂN PHÁP
TRONG NAM KỲ KHỞI NGHĨA
Đế quốc Pháp mong muốn dập tắt cuộc nổi dậy của nhân dân
Nam Kỳ từ trong trứng nước. Nhưng không xong, cuộc khởi nghĩa
vẫn cứ bùng nổ khắp các tỉnh! Chúng đã thẳng tay trấn áp, dìm cuộc
khở i nghĩa của nhân dân Nam Kỳ trong biển máu. Ngày 23-11, toàn
quyền Đông Dương đã gửi điện khẩn mật, ưu tiên tuyệt đối, cố 5306
cho các cấp dưới:
"Tôi yêu cầu kiên quyết thi hà nh ngay tức khắc bằng tất cả
những biện pháp nghiêm ngặt, để tránh lặp lại những sự cố như đã
xảy ra ở Nam Kỳ".
Kinh nghiệm những sự kiện cộng sản năm 1930 - 1931 mà một
số cuộc biểu tình mang dáng dấp như đã nổ ra ngày 23-11.
"Các ngài hãy dùng quyền lực và an ninh thi hành ngay tứ c
khắc những biện pháp có hiệu lực. Cần phải đuổi những tên cầm đầu
quân phiến loạn Nam Kỳ và bắ t chú ng không thương tiếc và những
tên đã bị giam giữ tuyệt đối không cho liên lạc với bên ngoài..."
Hai ngày sau y điện (số 5323) tiếp:
"... Việc đàn áp phải tiến hành hết mức. Yêu cầu sử dụng rộng
rãi quân đội và hải quân... cho đến khi nào làm chủ hoàn toàn tình
thế".
Ngày 1-12, y lại điện (số 5489) nhắc Thống đốc Nam Ky õ"...
Cần dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn
phiến loạn".
Từ ngày 10 tháng 12 năm 1940, đích thân Toàn quyền đi "kinh
lý" các tỉnh có quần chúng nổi dậy, trong đó có Gia Định, Chợ Lớn, để
chỉ huy trực tiếp việc đàn áp.

Tuyên bố công khai trên báo chí, Decoux nói như sau: "Cuộc bạo
động ấy (Nam Kỳ khởi nghĩa) cá c ngươi vẫn biết là của cộng sản gây
ra, nó đã bị đàn áp thẳng tay tức thì, vì cần phải như vậy.
Bổn chức đã chẳng dung thứ và cũng chẳng hề dung thứ trong
tương lai cho một nhóm người phản nghịch nào cả gan quấy rối Xứ
này là Xứ đã giao cho bổn chức giữ cuộc trị an".
Thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh thiết quân luật, huy động hải,
lục, không quân, toàn bộ mật thám, cảnh sát, khố xanh, lính làng...,
dùng vũ khí hiện đại, kể cả xe tăng, tàu chiế n, máy bay, đàn áp cuộ c
nổi dậy của quần chúng hầu như chỉ bằng tay hoặc với vũ khí thô sơ.
Đế quốc Pháp cho đốt làng, đốt rừng, thả sức bắn giết, hãm
hiếp, bắt bớ ném vào các nhà tù, các trại tập trung, không đủ chỗ thì
trưng thu kho, cá c xà lan ở Cảng Sài Gòn để giam giữ...
Tên cò E. Bétaille Trưởng đồn Bà Điểm như điên như dại gặp ai
bắn nấy, giết người xong, cắt tai xỏ xâu mang đến tỉnh lỵ Gia Định để
khoe "chiến tích" không thua gì bọn phát xít Hítle đang gây tội ác
trên đất Pháp và châu Âu.
Riêng khu vực bao gồm các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa,
Tây Ninh, Thủ Dầu Một, nhưng chủ yếu là ở Gia Định, Chợ Lớn từ
ngày 23-11 đến 31-12-1940 theo báo cáo chính thức của Thống đố c
Nam Kỳ thì chúng đã bắn 903 người chưa kể số chúng đã bắn giết, bị
thương tại chỗ và số còn càn quét bắt sau ngày 31-12-1940. Đây là
căn cứ báo cáo chính thức củ a Thống đốc Nam Kỳ, thậ t ra số này còn
xa sự thật.
Chú ng đã đánh chết đồng chí Tạ Uyên trong tù. Chú ng đã xử tử
cả những đồng chí bị bắt trước khi có chủ trương về khởi nghĩa như
các đồng chí Nguyễ n Văn Cừ, Hà Huy Tập...
Chú ng đã xử tử:
Ở Ngã Ba Giồ ng (Hóc Môn): Đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí
thư Đả ng; Đồng chí Phan Đăng Lưu - Ủy viên Thường vụ Trung
ương. Ở Giế ng nước (nay là bệnh viện Hóc Môn): Đồng chí Hà Huy
Tập nguyên Tổng Bí thư; Đồng chí Võ Văn Tần - Ủy viên Trung ương;
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến - Ủy viên Trung ương; Đồng chí Nguyễn

Thị Minh Khai - Xứ ủy viên kiêm Bí thư Thành ủy. Ở thị trấn (rạp
hát Hóc Môn): Đồng chí Phạ m Văn Xứng - Bí thư Huyện ủy; Đồng chí
Đặng Công Bỉnh - Chỉ huy khởi nghĩa huyện Hóc Môn. Ở tại chợ Hóc
Môn: Phạm Văn Thêm, ngườ i Tân Phú Trung (Gia Định); Trần Văn
Đức, người Tân Phú Trung (Gia Định); Võ Văn Kiết, ngườ i Mỹ Thạnh
Chợ Lớn, nhưng ở Tân Phú (Gia Định); Nguyễn Văn Luân, Tân
Thông (Gia Định). Ở tại Đức Hòa: 29 người. Ở tại sân banh Cần
Giuộc: Đồng chí Nguyễn Thị Bảy...
Ngoài ra, hàng mấy nghìn người giam tại Khám Lớn; kho
Rondon (Rông đông), Cảng Khánh Hội, nhà thương Chợ Quán,
Lazaret Nhà Bè (tù có bệnh truyền nhiễm); Phú Mỹ (giam phụ nữ)...
trung bình một ngày chết 20 người, ròng rã mấy tháng, do bị đánh
đập tra tấn, do thiếu ăn, mắc các bệnh truyền nhiễm ác tính như hoại
thư, ho lao... và chết lần mòn.
Trong khi bọn đế quốc và phản động thuộc địa Pháp chồng chất
bao nhiêu tội ác, thì Đảng Cộng sản Pháp và nhân dân tiến bộ Pháp
luôn luôn sát cánh với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, nhất là
trong những thời điểm nguy nan, đen tối. Nếu bức thư của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp gửi cho nhân dân 3 nướ c
Đông Dương hồi 28-1-1941 có sức động viên cổ vũ to lớn đối với Đảng
và nhân dân đi và o thời kỳ khốc liệt của chiến tranh, sau khi Pháp
đầu hàng phát xít Đức, thì bức thư của Đảng Cộng sản Pháp gửi cho
Đảng ta sau khi cuộ c khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong biển máu đã
tiếp thêm sức mạnh kỳ diệu cho Đảng và dân tộc ta.
Cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (ngày 27-9-1940) và cuộc
khở i nghĩa Đô Lương (tháng 1-1941), cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày
23-11-1940 "là những tiếng sú ng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn
quốc là bước đầu đấ u tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương".
Mặc dù Đảng bộ Nam Kỳ trong đó có Đảng bộ Thành phố bị tổn thất
nặng nề về tổ chức và nhân sự, nhưng qua Nam Kỳ khởi nghĩa, đảng
viên và quần chúng cách mạng được thử thách, tôi luyện và trưởng
thành. Từ Nam Kỳ khởi nghĩa đã rút ra được những kinh nghiệm quý
báu về đấu tranh bằng bạo lực rất cần cho giai đoạn tiến tới tổng khởi
nghĩa giành chính quyền tại thành phố.
(Theo sách Lịch sử Đảng bộ TP. HCM - NXB TP. HCM 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
CẦU KHO
Cầu Kho là tên cây cầu bắc ngang qua con rạch ăn vào kho Giản
Thảo, còn gọi là kho Cẩm Đệm do chúa Nguyễn đặt ra từ 1741, một
trong chín kho ở rải rác vùng Đồng Nai - Cửu Long. Nhưng kho Giản
Thảo củ a Bến Nghé lần hồi trở thành quan trọng, đến năm 1788 mở
rộng để chứa lúa thâu từ bốn trấn của đất Gia Định, kể luôn đồng
bằng Cử u Long (Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên nạp vào kho Vĩnh Long).
Năm 1805, kho này tu bổ và mở thêm sáu dãy lợp ngói, thờ thần
Tư Thương, hằng năm khi thâu thuế hoàn tất có lệ bày tế lễ.
Trên bản đồ Trần Văn Học năm 1815, kho Cẩm Thảo được vẽ rõ
rệt, hình vuông, sông rạch bao bọc như một cù lao. Một phía, rạch
Vàm Bến Nghé, ba phía kia là rạch Bến Chiếu ăn qua rạch Bần rồi
chảy trở lên rạch Bến Chùa. Gọi Bến Chiếu vì có nhà vựa chiếu lát.
Bến Chùa đổ lên vùng cao Tân Triêm của chùa Kim Chương. Rạch
Bần với bãi bùn, "Nơi Chợ Lớn trải tới Cầu Thương, quân mọi rợ lẫy
lừng nên quá lắm" (Cầu Thương là Cầu Kho, thương lẫm. Bài phú
Gia Định thất thủ). Thoạt tiên, bọn cầm quyền đặt tên vù ng Cầu Kho
là Nhơn Hòa ấp, Nhơn Hòa phố, đến cuối năm 1865 gọi Nhơn Hòa xã.
Phía Bắ c của Nhơn Hòa giáp làng Thái Bình (tên mới, gồm một phần
làng Tân Triêm cũ). Ăn vào Chợ Lớn là làng Tân Hòa rồi đến vùng
Chợ Quán (làng Nhơn Giang do tên cũ Giang trạ m Tân Lộc phường).
Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn ngoài đường thủy, từ xưa sẵn có đường
bộ, thực dân chỉnh đốn lại, rộng hơn. Đồng bào gọi đường trên (Võ
Tánh cũ, nay là Nguyễn Trãi chạy tới Cây Mai) và đường dưới (theo
sát bờ sông).
Năm 1879, để nghiên cứu thành lập đoạn đường xe lửa ngắn
(sau là xe điện) chở hành khách từ Sài Gòn đến Chợ Lớn. Nhân viên
công chánh đếm thử các lượt xe qua lại trong một ngày từ 6 giờ sáng

đến 7 giờ tối để ước lượng mức độ rộn rịp, dùng những con số ấy làm
bài toán về khả năng khai thác thương mãi.
Xe kiếng ở Đường trên 325 chuyến; Đường dưới 384 chuyến Xe
xong mã ở Đường trên 108 chuyến; Đườ ng dưới 86 chuyến Xe bò ở
Đường trên 121 chuyến; Đường dưới 15 chuyến Người cỡi ngựa ở
Đường trên 25 chuyến; Đường dướ i 24 chuyến
Không phải người Việt nào cũng tìm đất, cất nhà ở Cầu Kho
được. Phải là thương gia, công chức của Tân trào, là điền chủ có
ruộng vườn ở Cần Giuộc, Gò Vấ p hoặc phía Chánh Hưng, Tân An. Họ
đến Cần Kho tìm tiện nghi, hưởng thụ, chờ cơ hội. Một số khai thá c
ngành đóng xe ngựa, cho mướn. Cơ hội gì? Còn chút lòng yêu nước, sĩ
khí, họ chờ sức mạnh của Triều đình Huế ; bấy giờ miề n Trung, miền
Bắc chưa bị Pháp chiếm.
Bầu không khí chính trị ở vùng Cầu Kho trở nên sôi động khi
hiệp ước 1874 lại ký kết giữa Pháp và Triều đình Huế. Nhượng đứ c
sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Pháp đặt tòa lãnh sự ở các cửa biển và
thành thị như Quy Nhơn, Huế, Hải Phòng. Triều đình đặt tòa lãnh sự
ở Sài Gòn và Paris. Ngoài hiệp ước nói trên còn thương ước quy định
thủ tục mua bán giữa hai nước, ký ngày 31-8-1874.
Nguyễn Văn Tường chỉ muốn đặt tòa lãnh sự ở Nam Kỳ.
Nhiệm vụ tòa lãnh sự là binh vực quyền lợi cho người dân từ
Bắc, Trung vào mua bán, khi gặp trường hợp phạm pháp, tòa lãnh sự
được quyền can dự vào để xem hình thức pháp lý có được giữ đúng
không. Người Pháp hoặc người Âu, ngườ i dân cư trú ở Nam Kỳ, tàu
thuyền ra Trung, Bắc cần được chánh quyền Sài Gòn và lãnh sự Việt
Nam ở Sài Gòn kiểm nhận trước.
Tòa lãnh sự của Triề u đình hoạt động từ cuối năm 1874 đến
giữa năm 1883, non chín năm. Suốt thời gian khá dài này, chức vụ
lãnh sự giao cho Nguyễn Thành Yý. Nguyễn Lập chỉ thay thế khi
Nguyễn Thành Yý vắng mặt sang Pháp dự cuộc đấu xảo. Chức vụ phó
lãnh sự do Phan Khiêm Iích giữ nhiều năm hơn Trần Doãn Khanh.
Nguyễn Thành Yý quê ở Quảng Nam, đậu cử nhân; từng làm quan ở
Định Tường, Pháp đánh Sài Gòn vào lúc Nguyễn Thành Yý làm Tri
phủ coi phủ Tân Bình (Sài Gòn, Chợ Lớn, Hóc Môn) nên am hiểu

nhiều tình hình và quen thuộc nhiều nhân sĩ, có người đang cộng tá c
với giặc như Tôn Thọ Tường. Tên Tổng đố c Phương, phủ Trần Tử Ca
đều là thuộc hạ nhỏ bé của Nguyễ n Thành Yý về miền Trung, giữ
chức hải phòng ở Quảng Nam. Phan Khiêm Iích quê ở Biên Hòa đang
giữ chức Chủ sự bộ binh.
Tòa lãnh sự Việt Nam hoạt động ngay sau khi ký hiệp ướ c, trụ
sở đặt tại Đường dưới (Bến Chương Dương ngày nay) vào khoảng gó c
đường Đề Thám về phía rạch Bần. Nhà trệt, khang trang, có nơi cho
quân hầu trú ngụ, có chuồng nuôi ngựa. Khi ra ngoài thì dùng xe
song mã, phương tiện sang trọng nhất bấy giờ. Về mặt nổi, vào tháng
12-1878, tòa lãnh sự mượn tàu Tây chở gạo ra giúp nạn bão lụt ở
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Năm 1883, nhiều người từ Quảng
Ngãi theo ghe buôn vào đất Gia Định để mưu sinh, sống bềnh bồng.
Bọn Pháp bắt giao trả hơn trăm người, tòa lãnh sự lo chu cấp cho họ
về quê. Từ tháng 8-1874, Nguyễn Thành Yý vội đến Sở Ba Son tìm
một số thợ có tay nghề để mộ về Huế làm việc cho Triều đình. Năm
người thợ trẻ, tay nghề khá xin với nhà cầm quyề n Pháp để đi Huế.
Trong tình hình bấy giờ, hành động rời quê nhà mà không biết rõ
lương bổng quả là tích cực yêu nước. Thực dân chỉ điều tra lý lịch hai
thợ tiện, hai thợ đúc, một thợ chuyên làm ống tuy-dô, hai thợ máy rồi
chuẩn y. Những năm sau, thỉnh thoảng có ngườ i từ Huế, Đà Nẵng
vào học nghề coi máy tàu thủy, họ c chữ Pháp, cách sử dụng máy điện
tín, ngành chích ngừa bệnh dịch. Phía người Pháp yêu cầu Triều đình
cung cấp vài thợ giỏi về nghề cẩn xà cừ, là m sơn mài.
Theo sự nhận xét của bọn mật thám Sài Gòn thì hoạt động gây
rối của tòa lãnh sự xuất phát từ địa bàn Cầu Kho, nơi thuận lợi về
nhân tâm. Rồi liên lạc lên Gò Vấp, nơi người Việt tập trung đông đảo,
đủ ăn, lại có nhiều trí thức khoa bảng, hoặc trở qua Vĩnh Hội, gần
thương cảng. Các tỉnh mà tòa lãnh sự thường liên lạc là Gò Công,
Biên Hòa nơi hiệp ướ c 1862 quy định các lăng họ Phạm (mẹ Tự Đức),
họ Hồ (mẹ Thiệu Trị) phả i được tôn trọng, những người giữ lăng do
Triều đình trực tiếp trả lương bổng, lạ i còn những dịp cúng giỗ cũng
do Triều đình đài thọ. Bà con xa gần của hai họ nói trên khá đông
đảo, gọi là thích lý, quan làng địa phương phần nào cũng nể nang.
Nho sĩ, điền chủ, hương chức làng từ hai tỉnh nói trên thường ra
vào tòa lãnh sự ở Cầu Kho. Nhiều nho sĩ, quan lại ở Quảng Ngãi,

Bình Định, Huế được tòa lãnh sự bảo đảm cho vào Nam, lưu trú vài
tháng để chịu tang cha mẹ, bán đất ruộng, thăm dòng họ . Thực dân
đồng ý nhưng bực dọc, cho đó là những tay đột nhập vào Nam để loan
tin thất thiệt, bày lạc quyên rồi phát bằng cấp; giấy chứng nhận về
chức vụ thường là đội quản - phát cho người chịu hoạt động, khi việ c
lớn thành công sẽ được ưu đãi. Văn phòng tòa lãnh sự mua báo chữ
Pháp ở Sài Gòn, nhờ dịch lại, gởi về Huế. Viên lãnh sự thường tớ i lui
tòa lã nh sự Đức ở Sài Gòn, nói chuyện kín đáo nhiều lần, bọn mật
thám phỏng đoán Triều đình Huế muốn nhờ lãnh sự Đức làm trung
gian mua súng đạn chở thẳng vừ Hương Cảng đến Huế (bấy giờ , ở Sài
Gòn bọn đại diện thương mại người Đức mở tiệm bán súng săn, súng
lục). Tên mại bản ngườ i Hoa theo quốc tịch Anh là Tan Keng Ho
thường tớ i lui gặp viên lãnh sự ở Cầu Kho, thự c dân đoán chừng hắn
bắt mối mua súng chở từ Singapore thẳng ra Huế; hai người thường
đi chung xe song mã. Cũng trong những năm 1879, 1880 viên lãnh sự
Anh và tên mại bản thân tín của tòa lãnh sự ấy đến Cầu Kho nhiều
lần. Bọn mật thám suy luận rằng họ gặp gỡ để bàn về việc thực dân
Anh đang vận động thành lập một nước Việt Nam riêng rẻ ở Bắc Kỳ,
chận đầu kế hoạch mà Pháp sắ p thực hiện cho bằng được, sau vụ
đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhấ t. Thực dân Anh không bằng lòng cho
lắm khi thấy bọn Pháp đặt nền bảo hộ ở Cam-pu-chia và khai thác
cảng Căm-pốt (Cần-vọt), gần cảng Băng-cốc mà ngườ i Anh đang kiểm
soát. Hải Phòng và Hà Nội nếu lọt vào tay Pháp thì sẽ sức mẻ thanh
thế của Hương Cảng phầ n nào. Vả lại, Bắc Kỳ già u mỏ than đá, thứ
nhiên liệ u quan trọng mà tàu bè xí nghiệp chạ y bằng máy hơi nước
đang cần đến. Từ năm 1879, tên phiêu lưu chính trị Lê Bá Đảnh đã
ngấm ngầm đóng vai con bài để cho bọn thực dân Anh đánh sau lưng
thực dân Pháp. Lê Bá Đảnh quê ở Nghệ An, vào Thủ Dầu Một làm ăn
trở thành thầy dòng Thiên Chúa, xưng dòng dõi nhà Lê, lúc đầu hắn
được Pháp tin cậy phong chức huyệ n hàm, xưng là huyện Thi hoặc
Po-lux Thi. Lợi dụng vị trí công khai, hắn lân la với bọn lính tập đang
đóng tại trại Ô-ma để mua chuộc, tin rằng số lính ấy sẽ theo chân
quân đội Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhì. Hắ n thường đi Hải Phòng,
Hương Cảng. Việc lớn bất thành, hắn đứng đơn kiện một thương gia
người Anh ở Sài Gòn về tội giựt số tiền lên đến 12.000 đồng mà công
ty Lên-xten của Đức hứa trả nhưng ngườ i Anh nọ không trao cho
hắn. Ai cũng hiểu đây là tiền thù lao mà bọn thực dân phiêu lưu hứa
trả vớ i hình thức hoa hồng thương mại.

Xóm Cầu Kho là m cơ sở cho nho sĩ từ miền Trung vào tạm trú
trước khi đi Vĩnh Long, nơi chí sĩ Nguyễn Thông từng giữ chức Đốc
học. Nguyễn Thông lập Đồng Châu xã tổ chức củ a những người quê
quán ở Nam Kỳ gom ra Bình Thuận để chuẩ n bị lực lượng đánh
Pháp. Đầu năm 1883, bọn mật thám theo dõi viên kinh lịch Mân của
Đồng Châu Xã vào bắ t liên lạc với người của đạo lành, sư sải và một
số cai tổng. Kinh lịch Mân từ Biên Hòa đến Chợ Lớn, xuố ng Cần
Giuộc rồi đi Vĩnh Long (có tài liệu nói rõ Mân làm chức thừa biện và
cũng là Án sát của dinh điền Mâng-thít ở Bình Thuận).
Bọn mật thám Sài Gòn lại thắc mắc khi các vị chánh, phó lãnh
sự thường lui tớ i nhà Trương Vĩnh Ký, Tổng đốc Phương, Huỳnh
Tịnh Của. Vài hộ trưởng của Sài Gò n và Chợ Lớn công khai bày tỏ
cảm tình. Một số thương gia, mại bản liên lạc để làm ăn vì tòa lãnh
sự mua sắm đồ đạc ở Chợ Lớn, với số lượng to mà đưa thường xuyên
ra Huế.
Nhưng thự c dân lại nắm phần chủ động. Thành Hà Nội mất lần
thứ nhì. Năm sau, đại tá Ri-vi-e bị phục kích. Pháp đem viện binh
củng cố Hà Nội, Nam Định. Tòa lãnh sự ở Cần Kho biết những gì sắp
xảy đến. Một số đông nho sĩ, hội trưởng hương chức hội tề gom lại bến
tà u ngày 2-5-1883 đón rước vài quan chức từ Huế vào, được các vị ấy
nhắn nhủ: "Sống là m tướng, thác làm thần". Tên tham biện Đờ-xămpô
gởi phúc trình trong ngày 9 và 10-6-1883 cho Cảnh sát trưởng Sài
Gòn để kết luận rằng lãnh sự Việt Nam đã lạm dụng quyền hạn, lạ c
quyên tiền bạc gởi về Triều đình, loan tin thất thiệt, ủng hộ các hội
kín có mục đích gây loạn. Ở Huế, viên lãnh sự Pháp thấy tình hình
căng thẳng nên đóng cửa, niêm phong văn phòng, rút về Sài Gòn
cùng với tất cả nhân viên.
Ngày 22-6, thống đốc Nam Kỳ ra lệnh trục xuất chánh và phó
lãnh sự Việt Nam, cấm họ trở lại Nam Kỳ, phải rời trong vòng 24
tiếng đồng hồ. Khi chánh và phó lãnh sự, nhân viên và gia đình
xuống tàu về Huế thì khá nhiều hương chức ở Phú Lạc, Đa Phước
(Chợ Lớn), vài hộ trưởng của Chợ Lớn, vài thân hào ở Gò Vấp công
khai đế n gặp, dâng những lá thư chia buồn, tạm biệt. Vài viên chức
nhỏ của tòa lãnh sự xin ở lại Sài Gò n, hoặc về lục tỉnh. Họ tiếp tục
loan tin rằng tình hình sắ p thay đổi, thuận lợi cho Triều đình vì vậy
thực dân hoảng sợ, trục xuất lãnh sự quán. Bấy giờ, tên Việt gian

Nguyễn Đứ c Hạnh từng được bọn mật thám Sài Gòn tin cậy dựng
đứng một âm mưu "khởi loạn". Hắn trưng ra nhiều giấy tờ, bằng cấp
bảo là vừa tịch thu được, chứng tỏ viên phó lãnh sự Phan Khiêm Iích
(đã xin nghỉ việc từ trước) đang cầm đầu một tổ chức bí mật với nhiều
cai tổng, hộ trưởng, thân hào vùng Chợ Lớn, Bà Rịa. Ngày 1-8, thực
dân bắt Phan Khiêm Iích đang dưỡng già tại Biên Hòa và những nhà
tai mắt bị tình nghi. Điều tra xong, thấ y chẳng có gì, chẳng qua tên
Việt gian nọ muốn lập công, tống tiền nên làm giấy tờ giả, đóng ấn
giả để phao vu. Buồn cười nhất là bọn mật thám đã cho giả o nghiệm
những dấu ấn, nét chữ rồi quả quyết là thật, trước khi bắt bớ.
Non một tháng sau khi tòa lãnh sự bị đóng cửa vua Tự Đức mất
(17-7). Thực dân đánh vào cửa Thuận An, uy hiếp kinh đô Huế với
dụng ý nắm phần chủ động, đề phòng nhà vua mới lên kế vị sẽ xin
Trung Quốc phong Vương. Ngày 25-8, hiệp ước ký kết sự bảo hộ của
Pháp lại đặt lên Trung, Bắc Kỳ.
Đáng ca ngợi trong thời kỳ này Phan Văn Trị (Cử Trị), nhà thơ
chiế n đấu từ ng lên án công khai Tôn Thọ Tường ngay lúc hắn còn
nắm chút ít quyền hạn (Tường chết năm 1877, vợ nuôi cơm cho số
người từ Huế vào học kỹ thuật do tòa lãnh sự chịu trách nhiệm). Cử
Trị từng liên lạc với hai viên chức của tòa lãnh sự Cầu Kho. Một
người là ký Toán bị thự c dân theo dõi vì nhiều lầ n tiếp xúc với lính
tậ p trú đóng tại thành Ô-ma, số này sửa soạn đi Bắc Kỳ tham chiến.
Người thứ nhì là Nho từng đi Gò Vấp nhiều lầ n để bày tiệc, tạo cơ hội
bàn chuyệ n chống Pháp (bá o cáo mật thám Sài Gòn ngày 1-7-1883).
Mặc dầu tò a lãnh sự bị giải tán, thự c dân công khai khủng bố nhưng
Cử Trị cũng lặ n lội từ Gò Vấ p (quê quán của ông) đến Sài Gòn để gặp
Nho, nhờ tìm cách liên lạ c với ký Toán, bấy giờ mớ i hay Toán đã trốn
vì thực dân đang tìm bắt khi phát hiện những cơ sở hoạt động mà ông
này tổ chức ở Bà Rịa, Mỹ Tho, Gò Công (báo cáo mật thám Sài Gòn
ngày 29-7 năm 1883). Những sự kiện trên đính chính dư luận cho Cử
Trị chỉ là nho sĩ gàn, say sưa chè chén, thích chửi bừa bãi.
Việc thiết lập tòa lãnh sự Pháp ở Huế, ở Hải Phòng đem lại cho
thực dân nhiều lợi thế hơn là tòa lãnh sự ở Sài Gòn đem lại cho Triều
đình Huế. Bọn Pháp đặt chân công khai lên miền Trung, miền Bắc,
cấu kết với bọn phong kiến đầu hàng, tổ chức dọ thám để làm nội

ứng, tạo điều kiện đánh thành Hà Nội lần thứ nhì rồi tràn ra cá c
tỉnh.
Đành rằng các viên lãnh sự củ a Triề u đình biết lợi dụng vị trí
hợp pháp để vận động giới nho sĩ, dò xét tình hình, liên lạc vớ i bọn
phiêu lưu nước ngoài nhờ mua sú ng nhưng bấy giờ ngân sách Triều
đình đã kiệt quệ, đối với bọn mại bản phiêu lưu thì mẻ làm ăn ấy
không chắc gì đem lợi to. Hơn nữa, thực dân Pháp và thực dân Tây
phương tuy có mâu thuẫn nhưng vẫn cấu kết với nhau. Triều đình
theo đường lối chủ bại, không đủ uy tín lôi cuốn đại đa số nông dân
yêu nước. Quan chức, Nho sĩ đột nhập vào Nam lúc đầu được tin cậy
nhưng lần hồi thì đưa tin quá lạc quan, thất thiệt, một số không nhỏ
lại suy thái cứ lo đi lạc quyên để bỏ túi, hưởng thụ, thậm chí làm
bằng cấp đóng ấn giả để bán cho đồng bào, chưa nói đến trường hợp
làm dọ thám hàng hai giúp thực dân.
Thái độ của thương gia, công chức ở Cần Kho cũng trở thành lộ
liễu khi hay tin quân Pháp chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ. Họ chạy
theo cái lợi trước mắt. Họ bán vàng bạc, bán mấy cổ xe ngựa (lúc
trước sắm cho mướn) để lấy tiền mua hàng hóa chở ra Huế, ra Hải
Phòng, theo chân bọn mại bản. Nhưng họ không đủ sứ c để trở thành
một tầng lớp, một giai cấp gì cả. Họ thử lập công ty thương mãi với
điều lệ hẳn hòi. Trường Hanh công ty do Huỳnh Quang Vị, thông
ngôn tòa án (của Pháp, đã nghỉ việc) đứng điều khiển, được nhà cầm
quyền Sài Gòn chuẩn y. Hoạt động dự tính là đấu thầu những dịch vụ
của Nhà nước, lập kho hàng trong bước đầu ở Sài Gòn, Qui Nhơn
nhằm tranh thương với bọ n mại bản Hoa kiều. Bản điều lệ chữ in, đề
ngày 24-4 năm 1887 chỉ là giấy tờ nó hấp hối từ trong trứng nước mặc
dầu gom được số vốn 9.000 đồng (bấy giờ vàng 40 đồng một lượng).
Xin trích lại nguyên văn vài lời lẽ trong điều lệ: "Người trong công ty
hội tính cùng nhau không cho đàn bà dự vào, không đặng chơi cờ
bạc". "Những người trong công ty ăn ở cho thuận hòa cùng nhau, như
con một nhà, có điều gì phải giúp đỡ nhau, chẳng ai đặng kiếm sự gì
xấu nói cho người trong công ty khi không có chứng cớ cho đủ, như
hay ra đặng quả là người ấy nó i xấu cho người ta, lần đầu phải phạt
cho công ty, lần thứ hai, sẽ bỏ ra, không cho hùn nữ a".

Hiểu phường hội, làm ăn nhỏ của giớ i huyện hàm, hương chứ c
phần lớn thân thuộc, bà con với nhau. Công ty Trường Hanh rốt lại
một mình Huỳnh Quang vị làm chủ, đặt cơ sở tại Bình Định chuyên
thầu công ty bán rượu, bán á phiện cho nhà nước. Ba năm sau, người
sáng lập trở về Sài Gòn, giúp việc cho trạng sư Pháp, lãnh huy
chương, lên chức đốc phủ sứ hàm.
Rạch Vàm Bến Nghé lần hồi mất vai trò quan trọng. Về đường
thủy, tàu bè, xà lan chuyên chở lúa gạo ra cảng Sài Gòn đi theo kinh
Tẻ và kinh Đôi đào song song với rạch cũ, vừa rộng rãi, vừa sâu hơn.
Từ Sài Gòn vào Chợ Lớn, con đường nay là Trần Hưng Đạo, là Ngô
Gia Tự, nối qua Điện Biên Phủ trở thành trục lộ chánh, thay cho
đường mé sông và đường trên (Nguyễ n Trãi). Rạch Cầu Kho (bà Đô),
rạch Bần lần hồi cạ nh, dân lao động cất nhà hai bên bờ mà nương
náu, nước chảy không thông, rác rến đầy dẫy, mấy nhánh nhóc lớn
nhỏ bị chận từng khúc, trở thành ao vũng. Năm 1900, sáp nhập vào
đô thành về mặt hành chánh, nhà cửa rải rác với hàng rào cây xương
rồng, với chòm tre. Trước ngày Cách Mạng Tháng Tám bùng nổ, khu
vực đường Nguyễn Cảnh Chân hãy còn hỗn độn, nhà lá, nhà lợp tôn,
nền ván kê trên vũng bùn, muốn vào phải qua cầu, quanh co. Mỗi căn
nhà nhỏ chứa chấp đôi ba gia đình, ngăn ra từng buồng, ban đêm
thắp đèn dầu. Tới những năm 1955, cả vùng bị cháy vì cuộc tranh
chấp giữa Diệm và nhóm Bình Xuyên, sau đó, chỉnh trang lần hồi.
Tòa lãnh sự bị giải tán, nhóm nho sĩ và quan lại lui vào dĩ vãng.
Cuộc đấu tranh của đồng bào tiếp tục, với nội dung tích cực ở 18 thôn
vườn trầu.
(Sơn Nam - Bến Nghé xưa)

Chán đời đi lang thang !
0
NIÊN BIỂU 300 NĂM SÀI GÒN - TP. HỒ CHÍ MINH
1623: Chúa Nguyễn mở các trạm thu thuế ở Bến Nghé và Sài
Gòn (ở quận 1 và quận 5 ngày nay).
1679: Chúa Nguyễn lập đồn dinh ở Tân Mỹ gần ngã tư Cống
Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay.
1698: Chúa Nguyễn cử Thố ng suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam
kinh lược, cho lập phủ Gia Định, gồm hai huyện Phước Long và Tân
Bình. (Sài Gòn thuộc huyện Tân Bình)
1731: Chúa Nguyễn cử Trương Phướ c Vĩnh giữ chức Điều khiển
để điều hành tất cả các dinh trấn, cho xây dinh Điều Khiển tại Sài
Gòn. Thống binh Trần Đại Định xây lũy Hoa Phong để bảo vệ Sài
Gòn.
1748: Lập chợ Tân Kiểng.
1772: Điều khiển Nguyễn Cửu Đàm đà o kinh Ruột Ngựa nối Sài
Gòn với miền Tây. Nguyễn Cử u Đàm xây lũ y Bán Bích (dài 15 dặm)
để bảo vệ Sài Gòn.
1774: Xây chùa Giác Lâm.
1776 - 1801: Nhà Tây Sơn 5 lần vào Sài Gòn. Đáng kể nhất là
tháng 6-1784, Nguyễn Huệ đem binh vào và lập nên chiến thắng
Rạch Gầm - Xoài Mút lưu truyền sử xanh, đánh tan 300 chiến thuyền
và 20.000 thủy quân xâm lược Xiêm và quân Nguyễn Ánh.
1778: Lập làng Minh Hương. Mở Chợ Lớn.
1788: Nguyễn Ánh tái chiế m Sài Gòn.
1790: Xây thành Bát Quái làm trụ sở chính quyền. Đổi Gia
Định thành thành Gia Định kinh.

1802: Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế, niên hiệu là Gia Long, chia
đất phía Nam làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh
Thanh và Hà Tiên.
1808: Đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành.
1832: Lê Văn Duyệt chết; đổi Gia Định thành và 5 trấn phía
Nam thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên.
1833 - 1835: Lê Văn Khôi khởi binh.
1835: Vua Minh Mạng phá thành Bát Quái xây thành Phụng.
1859: 15-2: Pháp tấn công thành Gia Định. 17-2: Thành Gia
Định thất thủ.
1860: Thành lập thương cảng Sài Gòn và Sở Thương chính. 2-2:
Le Page tuyên bố mở cửa Sài Gòn cho nước ngoài vào buôn bán.
Thống đốc Nguyễn Tri Phương cùng Phạm Thế Hiển trông coi việ c
quân sự ở phía Nam. Xây đại đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa) chống Pháp.
1861: 24-2: Pháp đánh đồn Chí Hòa - 2 ngày sau đồn thất thủ.
28-2: Pháp hoà n toàn chiếm Sài Gòn. 11-4: Thống đốc Charner ban
hành Nghị định quy định giới hạn Sài Gòn.
1862: 5-6 Hòa ước Nhâm Tuất. Ký giữa Phan Thanh Giản, Lâm
Duy Hiệp với Bonard. Triều đình Huế nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên
Hòa, Gia Định, Định Tường.
1864: Xây xong Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Cách
mạng). Tách Sài Gòn và Chợ Lớn.
1865: Gia Định Báo - tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời.
1867: 4-4: Tổ chức thành phố Sài Gòn. 8-7: Sửa nghị định 4-4-
1867 và tổ chức thành phố Sài Gòn.
1868: 23-2 Khởi công xây dinh Toàn quyền.
1869: 27-9 Bổ nhiệm ủy viên Hội đồng thành phố Sài Gòn (có
Pétrus Trương Vĩnh Ký).

1874: 15-3: Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập
thành phố Sài Gòn. Hòa ước Giáp Tuất: nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam
Kỳ. Ký tạ i Sài Gòn giữa Lê Tuấ n, Nguyễn Văn Tường và Thống đốc
Nam Kỳ Dupré.
1877: 7-10 Xây Nhà thờ Đứ c Bà (11-4-1880 khánh thành)
1885: 21-1: Khởi nghĩa Nguyễn Văn Bường. 4-2: Khởi nghĩa 18
Thôn Vườn Trầu do Phan Văn Hớn và Nguyễn Văn Quá lãnh đạo.
Khởi nghĩa thất bại, hai ông bị Pháp hành hình tại chợ Hóc Môn.
1886: 11-4 Xây dựng tòa Bưu chính.
1902: Xây cầu Bình Lợi.
1903: Mở đường tàu điện Sài Gò n - Gò Vấp, Sài Gòn - Chợ Lớn,
Gò Vấp - Hóc Môn.
1909: Khánh thành dinh Xã Tây (Ủy ban Nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh ngày nay)
1911: Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) rời
Sài Gòn sang Pháp đi tìm đường cứu nướ c.
1913: 24-3 Nghĩa quân Phan Xích Long ném bom và tạc đạn vào
Sài Gòn Chợ Lớn.
1916: 16-2: Vụ phá Khám lớn Sài Gòn cứu Phan Xích Long và
các đồng chí không thành. 22-2: Phan Xích Long cùng 37 đồng chí của
ông bị xử tử tại đồng Tập trận.
1920: Tôn Đức Thắng thành lập Công hội đỏ đầu tiên của Sài
Gòn.
1925: Tháng 6 Phan Châu Trinh từ Phá p về Sài Gòn. Tháng 8
Bãi công của hơn 1.000 công nhân Ba Son. Thành lập Đảng Thanh
niên - Hội kín Nguyễn An Ninh.
1926: 24-3: Phan Châu Trinh đột ngột tạ thế. 4-4: Đám tang
Phan Châu Trinh.

1940: 23-11: Khởi nghĩa Nam Kỳ. Các lãnh tụ của Đảng: Võ
Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễ n Văn Cừ , Hà Huy Tập bị
giặc Pháp bắt và xử bắn ở Hóc Môn.
1945: 15-8: Thành lập Ủy ban khởi nghĩa. Đêm 24 rạng 25 Sài
Gòn khởi nghĩa thắng lợi. 2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình Hà Nội. Cùng ngày ở Sài
Gòn, đoàn biểu tình hoan nghênh bản Tuyên ngôn Độc lập, bị lính
Pháp bắn lén. 6-9: Quân đội Anh, Ấn đến Sài Gòn để tước vũ khí
quân đội Nhật. 23-9: Pháp chiếm Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Quốc gia
tự vệ cuộc, Đài phát thanh Sài Gòn... gây hấn ở Nam Bộ. Nhân dân
Sài Gòn, nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc kháng chiến.
1948: 29-3: Phá nổ 300 quả mìn ở kho đạn Bảy Hiền. 13-9: Kho
xăng Tân Sơn Nhất bị đốt cháy (18.000 lít xăng).
1949: 13-6: Bảo Đại về đến Sài Gòn sau 3 năm lưu vong. 24-12:
Học sinh nhiề u trườ ng bãi khóa chống ngụy quyền Bảo Đại.
1950: 9-1: Hàng nghìn học sinh biểu tình đòi mở cửa trường, đòi
tự do cho những người bị bắt. 12-1: Đám tang Trần Văn Ơn. 7-2:
Chính phủ Truman công nhận ngụy quyền Bảo Đại. 19-2: Tổ ng lãnh
sự quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên cấp Công sứ quán. 16-3: Tàu chở máy
bay Bốc-xa và 2 tuần dương hạm đội thuộc hạm đội 7 Mỹ cập bến Sài
Gòn. 19-3: Nhân dân Sài Gòn biểu tình phản đối chiến hạm Mỹ vào
cảng dưới sự lãnh đạ o của luật sư Nguyễn Hữu Thọ - "Ngày toàn quốc
chống Mỹ". 24-5: Đại diện công sứ Mỹ - Ghờ ri on thông báo bắt đầu
viện trợ kinh tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia. Đặt phái đoàn kinh
tế đặc biệt ở Sài Gòn. 29-6: Tám máy bay vận tải, viện trợ quân sự
đầu tiên của Mỹ cho quân đội Pháp đến Sài Gòn. 15-7: Phái đoàn Mỹ
- Men phi (Bộ trưởng Ngoạ i giao) và tướng A kin, Tư lệnh Sư đoàn 1
lính thủy đánh bộ Mỹ đến Sài Gòn. 2-8: Mỹ thiết lập phái đoàn cố vấn
viện trợ quân sự ở Sà i Gòn (MAAG). 17-9: Tát xi nhi, Cao ủy mới,
kiêm Tư lệ nh quân viễn chinh Pháp, đến Sài Gò n.
1951: 18-11 Ngô Đình Diệm sang Mỹ được chính phủ Mỹ nuôi
dưỡng trong trường thần học tiểu bang Niu da di.
1952: Tháng 7 Công sứ quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên thành Đại
sứ quán.

1953: 24-2: Hội đàm Pháp và chính quyền Sài Gòn ở Đà Lạt,
quyết định thành lập Việt Nam quốc quân. 20-6: Phái đoàn quân sự
Mỹ đến Sài Gòn.
1954: Nhân sĩ, trí thức Sài Gòn công bố Tuyên ngôn Hò a Bình.
31-5: Độ i biệt động 205 tiến công kho bom Phú Thọ Hòa. 1 triệu lít
xăng và 9.345 tấn bom đạn cháy nổ suốt hai ngày đêm. 11-6: Phái
đoàn quân sự Mỹ ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động triển khai những âm
mưu chiế n tranh tâm lý chính trị. 25-6: Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về
Việt Nam. 6-7: Thành lập chính phủ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn. 1-8:
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Ủy ban hò a bình khu Sài Gòn -
Chợ Lớn, kêu gọi đấu tranh để thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển
cử tự do.
1955: 12-2: Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ bắt đầu huấn
luyện quân đội của chính quyền Sài Gòn. 8-5: Chính quyền Diệ m cự
tuyệt đề án tổ chức hội nghị hiệp thương bàn về tổng tuyển cử toàn
quốc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 26-10: Bảo Đại thoái vị,
Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Cộng hòa" và lên
làm Tổng thống.
1956: 28-4: Tư lệnh quân viễn chinh Pháp rút khỏi Sài Gòn. 4-6:
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "sẵn sàng dự hội
nghị hiệp thương vào ngày mà nhà đương cục miền Nam Việt Nam
đã lựa chọn nửa đầu tháng 6". Mỹ thiết lập "cơ quan huấn luyện tác
chiế n" (CATO) cho quân đội của chính quyền Diệm. 6-7: Phó Tổng
thống Mỹ Ních xơn đến Sài Gòn.
1957: 5-5: Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ và tuyên bố: "Biên giới
của Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17". 1-8: Chính quyền Sài Gòn thi hành
chế độ bắt lính. 22-10: Diệm đổi "Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn" thành
"Đô thành Sài Gòn".
1958: 7-3 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại đề nghị tổ
chức hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử thống nhất đất
nước.
1959: 29-5 Bằng việc công bố luật "ngăn chặn hoạt động phá
hoại" (luật 10/59), Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp nhân dân.

1960: 11-11: Đại tá lục quân của quân đội Sài Gòn Nguyễn
Chánh Thi làm đảo chính chống Diệm bị thất bại. 20-12: Thành lập
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
1961: 9-3: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giả i phóng khu Sài Gòn,
Chợ Lớn, Gia Định. 19-5: Kế hoạch Xtalây Taylo "lậ p 17.000 ấp chiến
lược" dùng chiến lược trực thăng vận, thiết xa vận hòng bình định
miền Nam Việt Nam trong vò ng 18 tháng. 11-8: Mỹ quyết định cho
thêm tiền để tăng quân đội của chính quyền Sài Gòn từ 17 vạn lên 20
vạn. 11-8: Mỹ đưa sang Sài Gòn một trung đội máy bay trực thăng.
14-8: Trong bức thư gửi Diệm, Tổng thống Kennơđi hứa sẽ tăng thêm
viện trợ.
1962: 27-2: Hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quố c
ném bom dinh Độc Lập. Năm 1962, viện trợ của Mỹ lên tới 600 triệu
đôla, gấp hai lần năm 1961, bốn lần năm 1960.
1963: 11-6: Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn
phản đối chính sách đàn áp tín đồ Phậ t giáo của chính quyề n Diệm.
15-8: Chính quyền Diệm tấn công vào chù a, sinh viên biểu tình ở Sài
Gòn chống lệnh giớ i nghiêm, hơn 2.000 học sinh và 6.000 dân thường
bị bắt. 20-8: Diệm tuyên bố thiết quân luật toàn miền Nam. 22-8: Đại
sứ Mỹ - Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn. 29-8: Bộ Ngoại giao Mỹ trao
quyền cho Tư lệnh Ha-kin hứa hẹn với những người chỉ huy quân đội
Sài Gòn là sẽ ủng hộ cuộc đảo chính lật Diệm, với điều kiện không
đưa quân đội Mỹ vào. 14-9: Mỹ thông báo ké o dài thời gian quyết
định cấp viện trợ của kế hoạch nhập hàng hóa cho Nam Việt Nam (18
triệu 50 vạn đôla). 24-9: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Mác Namara
đến Sài Gòn. 1-10: Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Tay-lo
đến Sài Gòn. 5-10: Đại đức Thích Quảng Hương tự thiêu. 8-10: Đại
hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định cử đoàn điều tra về việc đàn áp
Phật giáo (ngày 24 đến Sài Gòn). 27-10: Đại đức Thích Thiện Mỹ tự
thiêu. 1-11: Đảo chính quân sự lật Diệm. 2-11: Anh em Diệm, Nhu bị
giết. Thành lập chính phủ lâm thời do cựu Phó Tổng thống Nguyễn
Ngọc Thơ cầ m đầu.
1964: 8-2: Thà nh lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam do
Nguyễn Khá nh làm Thủ tướng (tướng Dương Văn Minh làm Quốc
trưởng). 2-5: Đặc công đánh chìm chiến hạm Card cùng 24 máy bay
các loại. 18-5: Tổ ng thống Mỹ Giôn-xơn gửi thông điệp đặc biệt cho

Quốc hội, yêu cầu cấp thêm 125 triệu đôla viện trợ cho Nam Việt
Nam. 16-8: Hội đồng quân lực của chính quyền Sài Gòn bầu tướng
Nguyễn Khánh làm Tổng thống, soạn thảo hiến pháp mới. 25-8: Đặ c
công đánh khách sạn Caravelle. 3-9: Đảo chính chống Nguyễn Khánh
thất bại. 20.000 công nhân đình công ở Sài Gòn. 15-10: Chính quyền
Nguyễn Khánh xử tử người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi.
31-10: Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Khánh. 19-12: Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố đã giải phóng 8
triệu ngườ i, kiểm soát 3/4 lãnh thổ. 20-12: Phái quân sự giải tán Hội
đồng quố c gia miền Nam Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ nhẩy lên nắm
quyền hành.
1965: 22-1: Tín đồ Phật giáo Sài Gòn biểu tình tấn công cơ quan
USIS Mỹ. 28-1: Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng. 21-2: Nguyễn
Khá nh bị cách chức Tổng tư lệnh ba quân chủng. Nguyễn Văn Thiệu
làm Chủ tịch Hội đồng quân lực. 30-3: Tòa Đại sứ Mỹ (39 Hàm Nghi)
bị hai chiến sĩ biệt động đánh bom làm hư hỏng nặng. 10-6: Phan
Huy Quát từ chứ c Thủ tướng. Sài Gòn chuyển sang quân quản. 11-6:
Đảo chính của Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ. 29-7: 30 máy bay
B52 cất cánh từ Ô-ki-na-oa sang né m bom phía Nam Sài Gòn. 2-8:
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố phản đối Liên Hợ p Quốc can
thiệp vào vấn đề Việt Nam. 31-10: 650 giáo sư thuộc 21 trường đại
học đăng bức thư công khai phản đối chiến tranh Việt Nam trên tờ:
Thời báo New York. Lần đầu tiên bộ đội cơ giới của quân đội nhân
dân theo đường Hồ Chí Minh tiến quân vào Nam.
1966: 17-7: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi gử i đồng bào
và chiến sĩ cả nước, nêu rõ: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10
năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố, xí nghiệ p có thể bị tàn phá, nhưng nhân dân Việt Nam quyết
không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày chiến thắng,
nhân dân sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". 3-7:
Quân Mỹ ở Nam Việt Nam tăng lên 325.000 người.
1967: 9-1967: Khánh thành Tòa Đại sứ mới của Mỹ ở Sài Gòn.
21-9: Thủ tướng Nhật Bản - Sa tô sang thăm Sài Gòn. 31-9: Khánh
thành Dinh Độc Lập mới.
1968: 29-1: Tổng thống Mỹ Giôn xơn công bố bản thông điệp về
dự toá n ngân sách (dự chi về Việt Nam 25 tỷ 800 triệu USD). 30-1:

Mở đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân (đến ngày 15-4). 31-1: Quân
Giải phóng đánh chiếm một phần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và đồng
loạt tấn công Dinh Độc Lập, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệ nh Hải quân, sân
bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh Sài Gòn... 5-5: Nhiều nơi ở Sài
Gòn thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng. 19-6: Nguyễn Văn
Thiệu công bố lệnh tổng động viên. 17-8: Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam bắt đầu cuộc tổng công kích cùng với quần chúng nổi dậy.
31-10: Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Hội nghị
Paris. 12-11: Bộ trưởng Quốc phò ng Mỹ - Cờ líp phớt tuyên bố sẵn
sàng tham gia hội đàm mở rộng Paris, dù chính quần Sài Gòn không
tham dự. 27-11: Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tham gia vào hội đàm
mở rộng Paris.
1969: 6-6: Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu nhân dân miền Nam Việt
Nam bầu ra. 21-8: Vụ thảm sát tù chính trị ở nhà lao Thủ Đứ c của
chính quyề n Sài Gòn. 2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh mất (79 tuổi). Trong
di chúc đề ngày 10-5, Người viết: "Còn non, còn nước, còn người,
thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay. Dù khó khăn gian
khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định phải cút khỏi nước ta. Đế quốc
Mỹ nhất định sẽ thống nhấ t, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum
họp một nhà". 23-9: Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu
cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước.
1970: 17-7 Đoàn Sinh viên quốc tế đến Sài Gòn tham dự "Năm
Châu đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam".
1971: 22-6 Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân
Mỹ ra khỏi Việ t Nam trong vòng 9 tháng.
1972: Sinh viên yêu nướ c Nguyễn Thái Bình từ Mỹ về, bị hạ sát
trên máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất.
1973: 27-1: Sau 4 năm 9 tháng trên bàn hội nghị, Mỹ đã phải ký
kết Hiệp định Paris, cam kết "tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam...". 2-2: Ủy ban hỗn hợp 4 bên Mỹ, Việt
Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, chính quyền Sài Gòn bắt đầu
hoạt động. 29-3: Bộ Tư lệnh quân Mỹ viễn chinh ở miền Nam Việt
Nam làm lễ cuốn cờ về nước.

1974: 18-6: 301 linh mục của Giáo hội Sài Gòn ra tuyên bố lên
án nạn tham nhũng trong chính quyền Sài Gòn. 22-9: Thành lập Mặt
trận nhân dân cứ u đói ở Sài Gòn.
1975: 14-1: Cảnh sát Sài Gòn bắn chết Pôn Lê-ăng-đờ-ri, phóng
viên Thông tấn xã Pháp AFP tại trụ sở cảnh sát ở Sà i Gòn. 25-1: Hội
nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định phát triển
hơn nữa kế hoạch hai năm, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.
Quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn. 1-4:
Máy bay vận tải khổng lồ C5A - Ghờ -rắc-xi tăng cường chở gấp vũ
khí, đạn dược từ Mỹ sang Sài Gòn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời
công bố chính sách 10 điểm về vùng mới giải phó ng. 7-4: Phi công
Nguyễn Thành Trung ném bom "Dinh Độc lậ p". 14-4: Chiến dịch giải
phóng Sài Gòn được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. 21-4: Tại
Quốc hội Mỹ, Kít-sinh-giơ, Uây-ăng tuyên bố "không còn khả năng
bảo vệ được Sài Gòn", Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Trần Văn Hương
lên thay. 26-4: Trần Văn Hương từ chức Tổng thống, Tướng Dương
Văn Minh lên thay. Nguyễn Văn Thiệu trốn sang Đài Loan. Chính
phủ Cách mạng Lâm thời đòi hỏi Mỹ ngừng can thiệp, giải tán chính
quyền Sài Gòn. Cùng ngày, 17 giờ, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.
30-4: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Tổng thống ngụy quyền
Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đến ngày 1-5,
miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. 15-5: Lễ mừng chiến
thắng. Tháng 9 Đổi tiền.
1976: Tháng 1 Đại hội Đảng toàn quố c lần IV xác định đường lối
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
lần I. 21-1: Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt
động. 28-3: Thành lập lực lượng Thanh niên xung phong thành phố
Hồ Chí Minh. Tháng 4 Bầu Quốc hội thống nhất toàn quốc đầu tiên
và Hội đồng nhân dân các cấp. 2-7: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra đời. Sài Gòn chính thức mang tên thành phố Hồ Chí
Minh.
1978: Tháng 3, cải tạo tư sản thương nghiệp toàn miền Nam.
1979: Tháng 8 Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh ra Nghị quyết
9.

1980: Nghị quyết 10 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
Nghị quyết 17 và 19 củ a Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về tăng
cường quả n lý thị trường.
1986: Tháng 10 Đại hội Đảng bộ thành phố lần IV: Xác định
mục tiêu chủ yếu trong 5 năm (1986-1990). Tháng 12 Đại hội Đảng
toà n quố c lần VI xác định đường lối đổi mới, "Nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".
1991: Tháng 6 Đại hội Đảng toàn quốc lần VII thông qua Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đại hội Đảng bộ thành
phố lần V. Cương quyết vận dụng Cương lĩnh và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VII.
1996: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Tháng 5 Đại hội
Đảng bộ thành phố lần thứ VI, tổng kết 10 năm đổi mới củ a thành
phố.
1998: Kỷ niệm 300 Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo sách 300 năm SG-TP.HCM - NXB CTQG)

Chán đời đi lang thang !
0
300 NĂM ĐỊA DANH GIA ĐỊNH
Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhưng khi là
phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành
chính to nhỏ rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét
cho thấu đáo.
1- Phủ Gia Định từ 1698 đến 1802.
Năm 1698, Thống suất Nguyễ n Hữu Cảnh vào kinh lý miền
Nam, thấy nơi đây đất đã mở mang "hàng ngàn dặm và có dân trên 4
vạn hộ". Để chấm dứt tình trạ ng lưu dân tự khẩn hoang lập ấp đó,
Cảnh bèn lập phủ Gia Định để coi hai huyện: Phước Long (Biên Hòa)
và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Diện
tích rộng khoảng 30.000 km2. Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà
Tiên thuộc quyền Chúa Nguyễn. Năm 1732, chúa Nguyễn cho lập
châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long). Năm
1756, tổ chức cai trị đạo Trường Đồn (sau là Định Tường). Rồi năm
1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc.
Từ đó toàn miền Nam thuộc về lãnh thổ và chính quyền Việt Nam.
Từ 1779, phủ Gia Định bao gồm cả:
Dinh Phiên trấn (Sài Gòn) Dinh trấn Biên (Biên Hòa) Dinh
Trường Đồn (Định Tường) Dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang).
Trấn Hà Tiên.
Như vậ y, diện tích phủ Gia Định là diện tích toàn Nam bộ rộng
khoảng 64.743 km2. Gia Định kinh từ 1790 đến 1802 Sau khi thâu
hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái rộ ng lớn theo
cách bố phòng Vauban, theo định hướng phong thổ Á Đông, theo mỹ
thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh.

2- Gia Định trấn từ 1802 đến 1808.
Năm 1802, Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân rồi
lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long. Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh
xuống làm Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm trấn Gia
Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An,
trấn Biên Hòa, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên.
3- Gia Định thành từ 1808 đến 1832
Gia Định thành thay cho Gia Định trấn. Gia Định thành là đơn
vị hành chính lớn cũng như Bắ c thành cai quản cả xứ Bắc gồm nhiều
trấn. Có lẽ phải đổi tên Gia Định trấn ra Gia Định thành để khỏi lẫn
với 5 trấn dưới quyền cai quản. Từ đó, thành cai quản trấn. Để dễ
phân biệt. Khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí là có ý
nghiên cứ u toàn hạt 5 trấ n đã kể trên.
4- Tỉnh Gia Định từ 1836 đến 1867.
Năm 1832, sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng
liền cải ngũ trấn thành lục tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường,
Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đổ i thành Gia Định - nơi trú đóng
của Tổng trấn - làm tỉnh thành Phiên An - nơi trị sở của Tổng đốc coi
riêng Phiên An thôi. Năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho
phá thành Bát Quái và xây dựng Phụng thờ nhỏ, gọi là tỉnh thành
Phiên An. Năm 1936, cải tỉnh Phiên An ra tỉnh Gia Định. Tỉnh thành
Phiên An cũng đổi ra tỉnh thành Gia Định. Tỉnh Gia Định đương thời
rộng khoảng 11.560 km2. Năm 1859, Pháp tới chiếm Sài Gòn và phá
bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn). Sau Hòa ướ c
1862 mất đi ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn chia tỉnh Gia Định làm 3
phủ như cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh.
5- Hạt Gia Định từ 1885 đến 1889.
Từ năm 1867, Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi là tỉnh Sài
Gòn. Tỉnh Sài Gò n cũng là địa bàn tỉnh Gia Định trước, song không
chia ra phủ huyện, mà chia ra 7 hạt tham biện (inspection), trong đó
có hạt Sài Gòn (không kể thành phố Sài Gò n). Hạt Sài Gòn gồm 2
huyện Bình Dương và Bình Long. Nhưng từ năm 1872, hạt Sài Gòn
gồm thêm huyện Ngãi An (Thủ Đức) nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa.

Năm 1885, đổi tên hạt Sài Gòn thành hạt Gia Định (có lẽ để phân
biệt rõ với thành phố Sài Gòn).
6- Tỉnh Gia Định từ 1889 đến 1975.
Năm 1889, bỏ danh xưng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho
thống nhấ t với toàn quốc Việt Nam. Tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh
của cả Nam Kỳ lụ c tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định (thu hẹp) này chia ra 18
tổng với 200 xã thôn, rộng khoảng 1.840 km2. Năm 1944, thiết lập
tỉnh Tân Bình trên một phần đất của tỉnh Gia Định (bắc Sài Gò n như
Phú Nhuận, Phú Thọ, Hạnh Thông, Tân Sơn Nhì..., vù ng Thủ Thiêm
và một phần Nhà Bè). Tỉnh này chỉ tồn tại đến cuộc Cách mạ ng 5-
1945 rồi giải thể. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã là căn cứ Cách
mạng kháng chiến. Năm 1956, vùng Củ Chi được trích ra để lập thêm
2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dương, Hậu Nghĩa lấy phần đất phía tây
vẫn gọi là quận Củ Chi. Bình Dương lấy phần đất phía đông gọ i là
quận Phú Hòa. Sau vụ chia cắt, Củ Chi cho 2 tỉnh Hậu Nghĩa và
Bình Dương, tỉnh Gia Định (1970) còn chia ra 8 quận với 74 xã, rộng
1.499 km2. Tình hình đó tồn tại đến ngày Giải phóng 1975. Từ năm
1975 đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để bất cứ một đơn
vị hành chính nào. Song nhân dân miền Nam vẫn nhớ tên đó với
nhiều ấn tượng sâu sắc và tốt đẹp, Sử sách Thành phố và toàn Nam
Bộ luôn nói đến Gia Định từ suốt 300 năm qua để ghi dấu bao chiến
công và thành tích phát triển vượt bậc của phần đất phía Nam của Tổ
quốc.
Chú thích: - Dựa trên tư liệu:
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sài Gòn, 1972. Quốc
Sử quán, Đại Nam Nhất Thống Chí - Tỉnh Gia Định, Sài Gòn, 1973.
Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Địa chí văn hóa
TP. HCM, 1987. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ Gia Định, TP.
HCM, 1994.

Chán đời đi lang thang !
0
TÔI ĐÃ THAM GIA CUỘC KHỞI NGHĨA
TẠI BIỂN ĐEN
Bài viết của đồng chí Tôn Đức Thắng nhân dịp kỷ niệm lần thứ
40 Cách mạng Tháng Mười, đăng trên báo "Người thủy thủ Xô Viết"
số 24, năm 1957.
Mùa hè năm 1919, chiếc tuần dương hạm của Pháp nhận đượ c
lệnh tiến về biển Đen. Nhằm mục đích gì vậy? Phải chăng là để đánh
đế quốc Đức? Không, hoàn toàn không phả i nhằm mục đích đó . Bởi vì
đế quốc Đức đã đầu hàng rồi. Bộ chủ huy hết sức giữ bí mậ t với cá c
thủy thủ về mục đích của cuộc hành quân này. Song, chúng tôi, tự
mình đã hiểu rõ mục đích cuộc hành quân. Phải chăng có thể bưng
bít được cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân lao động Pháp chống
lại cuộc can thiệp vũ trang vào nướ c Nga Xô Viế t?
Trên tuần dương hạm, kỷ luật quân sự hầu như không còn tồn
tạ i nữa. Đây đó, từng nhóm ba người, năm người tụ tập bàn tán sôi
nổi: "Chiến tranh đã kết thúc, đã đến lúc trở về với nhà cửa, với gia
đình". Những thủy thủ Pháp nói chuyện đó với nhau; họ cũng nói
chuyện đó với tôi. Nhà cửa! Gia đình! Đối vớ i tôi, là một người dân
thuộc địa, không có nhà cửa và gia đình, những từ rung động này đã
là những điều mà tôi không thể mơ ước.
Tôi hồi tưởng lại ngày tôi rời Tổ quốc thân yêu. Tôi đã bị buộc
phải cải trang và thay đổi tên, họ trốn tránh trên một chiếc tàu thủy
của Pháp đúng vào lúc mà cuộc bãi công của học sinh trường Bách
Nghệ Sài Gòn và của công nhân Ba Son giành được thắng lợ i.
Từ ngà y đó, bắt đầu cuộc sống của tôi trên biển cả, với lòng yêu
quê hương tha thiết và với nguyện vọng học tập để sau này trở về đấu
tranh mạnh mẽ hơn, nhiều lần tôi cố tìm gặp đồng chí Nguyễ n Ái
Quốc (Hồ Chí Minh) song tôi đã không gặp được đồng chí.

Cuộc Cách mạng Nga, những người Bôn Sê vích, Lê Nin, những
từ này đã đến với tôi trước tiên là qua báo chí hợp pháp, được phép
đọc trong quân đội. Qua những tờ báo này, tôi mới chỉ hiểu là cuộc
Cách mạng Nga buộc bọn đế quốc phả i run lên vì sợ hãi và phải sống
ngạt thở vì sự tàn ác. Những cuộc gặp gỡ với công nhân Pháp cho tôi
biết rằng, ở Pháp cũng đã có cách mạ ng, trong đó công xã Paris đã
được thành lập, song cuộc cách mạng đó đã thất bại.
Công nhân Pháp cũng kể cho tôi biết là để tiến hành cuộc cách
mạng ở nước Nga đế quốc chủ nghĩa, mọi dân tộc đã đoàn kết với
nhau, Lê Nin dạy rằng mọi dân tộc đều bình đẳng và phải hợp tác với
nhau.
Tất cả những điều đó đã khiến cho tôi ngày thêm yêu mến cuộ c
Cách mạng Nga, và tin rằng ở đó nhân dân lao động đã vùng lên để
quét sạch mọi áp bức, bất công, và tôi, một công nhân của dân tộ c
thuộc địa da cam, đã từng phải chịu đựng. Tôi tìn rằng, ở đó người ta
đang xây dự ng một thế giới đẹp đẽ, thật sự công bằng, trong đó không
có chỗ cho bọn tư bản.
Nhiều công nhân và thủy thủ Pháp trong khi trò chuyện với tôi,
đã tỏ ra có cảm tình với Lê Nin và công nhân Nga, và họ cũng tỏ rõ
quyết tâm không cho phép bọn đế quốc lợi dụng họ chống lại người
Nga. Tôi hoàn toà n nhất trí với họ về điểm này.
Đêm sau đó, tuần dương hạm vượt qua eo biển Đác-đa-nen. Bầu
không khí trên tàu căng thẳng hơn. Một vài đồng chí hô hào thủy thủ
họp mít - tinh để thanh toán bọn chỉ huy. Họ đã bảo tôi: "Họp mít -
tinh, cậu hãy kéo cờ đỏ lên, để cho người Nga biết rằng chúng ta là
bạn, không phải là thù". Tôi vui vẻ nhận lời. Vào lúc rạ ng đông, tuần
dương hạm tới Biển Đen. Kèn tập hợp vang lên - đó là kèn tập hợp
thông thường của thủy thủ. Song lần này, kèn đã vang lên không
phải do lệnh của Bộ chỉ huy, và giờ đây, cờ đỏ đã được giương lên. Hỡi
những người bạn Nga! Con tàu củ a chúng tôi còn cách xa bờ biển của
các bạn! Các bạn có thể còn chưa nhìn rõ lá cờ đỏ này. Song chú ng tôi
chào mừng các bạn bằng lá cờ đỏ được giương lên ở Biển Đen.

... Thế là tuần dương hạm "Pari" sau khi vào Biển Đen đã quay
trở về Địa Trung Hải. Song, giờ đây, cờ đỏ phất phới bay trên đỉnh cột
cờ. Trên đường về, chúng tôi đã gặp thủy phi cơ của Hải quân Pháp.
Bộ chỉ huy Hải quân đã ra lệnh cho phi công bắ t buộc chúng tôi phải
hạ cờ. Nếu không, sẽ ném bom và đánh chìm chiếc tuần dương hạm.
Chú ng tôi cười rộ lên, bởi vì chúng tôi tin rằ ng, không bao giờ chúng
lại quyết định đánh chìm chiếc tuần dương hạm lớn như vậy củ a hải
quân chúng. Chúng tôi càng yên tâm hơn vì thấy người hoa tiêu Pháp
thò đầu ra ngoài máy bay, hoàn toàn không phải là để ném bom mà
là để gửi lờ i chào anh em chúng tôi.
Lá cờ đỏ, tượng trưng cho cuộc khởi nghĩa của thủy thủ tuần
dương hạm "Pari" từ ngày đó, đã khắc sâu vào tâm trí tôi. 37 năm đã
trôi qua. Tôi không còn nhớ đầy đủ cá c tên họ và những chi tiế t của
cuộc khởi nghĩa đã diễn ra. Song cứ mỗi năm, vào những ngày kỷ
niệm Cách mạng Tháng Mười, trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh con
tà u khởi nghĩa, cùng vớ i lá cờ đỏ phấp phới và hàng năm, dưới ánh
sáng mới của phong trào cách mạng đang phát triển, dưới ánh sáng
mới của những hiểu biết, được tích lũy trong quá trình hoạt động
cách mạng, ý nghĩa của sự kiện đó càng trở nên sáng tỏ đối với tôi.
Phải chăng hồi đó tôi đã hiểu rằng Cách mạng Tháng Mười mở
ra thời đại mới trong lịch sử cách mạng của toàn thế giới, trong lịch
sử cách mạng của mỗi dân tộc trên quả đất này. Phải chăng là tôi đã
hiểu cuộc khởi nghĩa vũ trang của thủy thủ Pháp ở Biển Đen là một
bộ phận của phong trào vô sản thế giới, được dấy lên ở các nước khác
nhau?
Tháng 9-1945, một tàu chiến tiến về Côn Đảo, ở mũi tàu phấp
phới lá cờ đỏ sao vàng... Đất nước chúng tôi đã được giải phóng khỏi
ách đế quốc. Chúng tôi đã rời nhà tù Côn Đảo trên chiế c tàu chiến
này. Tổ quốc đã được độc lập, lá cờ đỏ do người Cộng sản Việt Nam
giương lên, từ ngày đó phấp phới bay cao trên bầu trời Việt Nam.
Chú ng tôi biết ơn Cách mạng Tháng Mười, biết ơn Liên Xô, đã
đập tan bọn phát xít và đã trực tiếp tạ o ra những điều kiệ n thuận lợi
để giải phóng đất nước chúng tôi...

Niềm vui lớn nhất đố i vớ i tôi là đã có dịp trực tiếp bày tỏ với
những người Xô Viết lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối
với Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, đối với nhữ ng hy sinh lớn lao mà
Liên Xô đã gánh chịu vì lợi ích cho toàn thể loài ngườ i trong bốn mươi
năm qua.

Chán đời đi lang thang !
0
ÂM MƯU BIẾN MIỀN NAM VIỆT NAM THÀNH
THUỘC ĐỊA KIỂU MỚI CỦA MỸ
Việt Nam là nơi ấp ủ những mưu toan củ a Mỹ từ lâu. Một
người Mỹ trong cuộc là Dave Richard Palmer đã dùng hình tượng
"Việc gieo giống năm 1945, cuối cìng đã dẫn tới chỗ ghép mầm vào
năm 1945". Thực ra từ cuối năm 1941 Mỹ đã mặc cả với Nhật để
trung lập hóa Đông Dương. Roosevelt chủ trương biến Đông Dương
thành khu ủy trị quốc tế của Liên hiệp quốc. Tháng 2/1945 tại hội
nghị Yalta Mỹ đề nghị lậ p Hội đồng quản trị Đông Dương nhưng Mỹ
hy vọng dùng cả quân Tưởng-Anh-Pháp để giữ Đông Dương trong quỹ
đạo thuộc địa và tránh một Đông Dương rơi vào tay cộng sản dù là
cộng sản Đông Dương. Năm 1949 Mỹ-Tưởng mất toàn bộ Trung Hoa
lục địa. Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ . Trong lúc đó Pháp
ở Đông Dương cũng đứng trước khả năng bại trận trong cuộc chiến
tranh lậ p lại thuộc địa này. Mỹ cảm thấy "mối lo ngại về khối cộng
sản thế giới mưu toan xâm lược toàn cầu hình như đã được xá c
nhận".
Từ cuối năm 1949 đầu năm 1950 Mỹ đã quay sang giúp Pháp
kéo dài chiến tranh Đông Dương. Tháng 8/1950 Mỹ triển khai phái
đoàn cố vấn việ n trợ quân sự (MAAG) vào Việt Nam. Từ cuối năm
1950 đến cuối năm 1951, bằng việc ký các Hiệp định tay đôi với Pháp
ở Đông Dương, như "Kế hoạch hợp tác kinh tế", "Kế hoạch An ninh
chung", Mỹ đã từng bước can thiệp vào Việt Nam. Những kế hoạch
chiế n tranh của Pháp ở Đông Dương như "Kế hoạch Rever", "Kế
hoạch Delattre de Tassingy", "Kế hoạch Salan", "Kế hoạch Navarre"
đều được Mỹ trực tiếp chi phối. Khi vừa bước vào Nhà Trắng (tháng
12/1953), Eisenhower đã tuyên bố việc giúp Pháp trong chiến tranh
Đông Dương là cách tốt nhất để "ngăn chặn một cách rẻ tiền nhất các
sự kiện có thể gây ra những hậu quả khủng khiếp đối với nước Mỹ".
Có thể nói cho đến trước khi "một mình một ngựa" ở Việt Nam, Mỹ đã
có quá trình ngà y càng sâu đậm tìm và hiểu đối tượ ng, coi Việt Nam

là nơi tập trung quyền lợi sống còn, là đất dụng võ cho các chính
khách và giới hiếu chiến Mỹ. Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã từng
bước, "diễn ra từ từ có vẻ hầu như là tình cờ, qua một quá trình leo
thang chầm chậm hầu như khó mà xác định chính xá c được điểm
xuất phát".
Mặt khác sau Hiệp định Genè ve 1954 đất nước Việt Nam bị
chia làm hai miền, dù vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời
nhưng kẻ thù của cách mạng lại coi đó là biên giới chính trị để từng
bước thực hiện những âm mưu thâm độc của chúng. Cuộc chuyển
quân tập kết đã làm thay đổi tình hình so sánh lực lượng, từ thế "cài
răng lược" ở phạm vi toàn quốc thành thế "tập trung" ở hai miền đất
nước. Lực lượng cách mạng đang phát triển đều với những thuận lợi
trên phạm vi toàn cục, nay tập trung cụ c bộ về phiá Bắc vĩ tuyến 17.
Thế và lực cách mạng ở đây được tăng cường mạnh nhất nhưng lại vô
cùng bất lợi ở miền Nam. Trong khi đó lực lượng Pháp và các phe
phái chính trị phản động trên toàn quốc dồn cả về miề n Nam, mang
theo tâm trạng thua cuộc, hận thù và muốn tìm chỗ dựa mới... Đó
chính là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam hất cẳng Pháp,
thực hiện chủ nghĩa thực dân mới.
Từ nửa cuối năm 1954, những công cụ để thực hiện chiến lược
mới của Mỹ tại miền Nam Việ t Nam đã được xây dựng và từng bước
củng cố.
Về chính trị, bộ máy ngụy quyền được dựng lên do Ngô Đình
Diệm đứng đầu, có hệ thống từ trung ương đến các địa phương, là cơ
sở để Mỹ áp đặt một chế độ thực dân dấu mặt trá hình ở miền Nam
Việt Nam.
Về quân sự, ngụy quân được xây dự ng vớ i hệ thống chỉ huy và
thiết bị chiến trường đầy đủ hiện đại, là lực lượng chủ yếu để Mỹ thi
hành những kế hoạch chiến tranh chống phá cách mạng Việt Nam.
Về kinh tế, Mỹ giúp cho miền Nam phát triển nền kinh tế-xã
hội theo con đường tư bản nhưng trước hết phải phụ thuộc vào viện
trợ của nước ngoài và trong khuôn khổ quỹ đạo của Mỹ, phục vụ cho
chiế n tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.

Về văn hóa, Mỹ cho phát triển ở miền Nam nền văn hóa thự c
dân mới trên tất cả các lĩnh vực giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa
xã hội và tư tưởng; trong đó rất chú trọng du nhập lối sống thự c
dụng, đề cao văn hóa Mỹ và ra sức tuyên truyền chống cộng.
Với những công cụ chủ nghĩa thực dân mới, tấn công đánh phá
lực lượng và phong trào cách mạng, từ 1954-1959 Mỹ-Diệm đã biến
miền Nam Việt Nam từ một chiến trường chống chủ nghĩa thự c dân,
thành một chiến trường phản kích lại các lực lượng cách mạng. Từ
1954-1975 Mỹ đã thi thố ở Việt Nam 4 chiến lược chiến tranh, ứng
dụng từ 3 lần thay đổi chiến lược toàn cầu, do 5 đời tổng thố ng kế tiếp
nhau quyết tâm thực hiện. Trong điều kiệ n mới sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai, thì đó là sự lựa chọn đúng nơi, đúng lúc, đúng đối
tượng tiến hành chiến tranh của Mỹ. Chưa bao giờ Mỹ huy độ ng được
sức mạnh của cả nước Mỹ cùng các nướ c phe Mỹ, trên các lĩnh vự c
kinh tế, chính trị, văn hóa khoa học kỹ thuật và quân sự, như là
trong thời kỳ họ tiến hành chiến tranh Việt Nam. ý chí và quyết tâm
của Mỹ khi đánh Việt Nam không phải chỉ nhằm khuất phục một dân
tộc, dập tắt một ngọn lửa đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn nhằm đe
dọa nhiều nước khác, đồng thời thể nghiệm sức mạnh của Hoa Kỳ
trong nửa cuối thế kỷ XX
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách ĐHTT 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
TRIỆT HẠ THẾ LỰC PHÁP
VÀ CÁC ĐẢNG PHÁI ĐỐI LẬP
Mặc dù chiến tranh xâm lược của Pháp đã phải kết thúc thất
bại hoàn toàn, nhưng kẻ thù mới của cách mạng Việt Nam xuất hiện
và chúng mưu toan gây lại chiến tranh. Đảng và nhân dân Việt Nam
từ giữa tháng 7/1954 đã nhận thấy "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của
nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù
chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương".
Đầu tháng 7/1954 Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài gòn làm Thủ
tướng chính phủ bù nhìn Bảo Đại, viện trợ của Mỹ cho Pháp dần dần
chuyển sang cho Diệm. ngày 17/11/1954 tướng Collins đến Sài Gòn
làm đại sứ Mỹ đầu tiên ở Nam Việt Nam, mang theo kế hoạch 6 điểm
và Collins tuyên bố: tất cả chỉ ủng hộ Diệm.
Chính quyền lập nên ở miền Nam sau hiệp định Genève không
phải là chính quyền đại diện cho các tầng lớp nhân dân, đó chỉ là
chính quyền thân Mỹ và chố ng lại nhân dân. Những công việc chủ
yếu của chính quyề n nà y tiến hành trong hai năm thi hành hiệp định
đình chiến là: cự tuyệt hiệp thương với miền Bắc, cắt đứt mọi quan hệ
của dân chúng giữa hai miền Nam-Bắc, biến giới tuyến quân sự
thành biên giới chính trị, thanh toán các lực lượng chính trị và vũ
trang đối lập, giương lên chiêu bài "đả thực, bài phong, diệt cộng"...
Đặc biệt là sau khi tự tổ chức "Trưng cầu dân ý" (tháng
10/1955) với nội dung "phế truất Bảo Đại" và "suy tôn" Ngô Đình
Diệm lên làm tổng thống, Mỹ-Diệm đã đơn phương tiến hành bầu cử
quốc hộ i (tháng 3/1956) và ban hành hiến pháp (tháng 10/1956), lập
"đảng Cần lao nhân vị", "Phong trào cách mạng quốc gia", tổ chức cho
dân chúng vào " Thanh niên cộ ng hòa" hay "Phụ nữ liên đới"....Đồng
thời Mỹ cò n vận động đưa cái gọi là "Việt Nam cộng hòa" vào Liên
hiệp quốc, tạo cho nó vị trí ngoại giao trên trường quốc tế... Như vậy

âm mưu ngày càng rõ ràng của Mỹ-Diệm là phá hoại toàn bộ hiệp
định Genève, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.
Việc gạt hẳn Phá p để Diệm nắm toàn bộ miền Nam là nhiệm vụ
cấp thiết và Mỹ-Diệm đã phối hợp hành động đem lại hiệu quả khá
nhanh. Tháng 9/1954 Pháp buộc phải tham gia khối quân sự SEATO
trong đó Nam Việt Nam đặt dưới quyền bảo trợ của khối này, không
còn là của riêng Pháp nữa. Tháng 12/1954 tướng Ely-Tổng tư lệnh
quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương buộc phải chấp nhận yêu
cầu của Collins, cho quân ngụy được "tự trị". Ngày 30/3/1955 Pháp
phải chấp nhận lịch rút quân và từ ngày 28/4/1955 đến 30/6/1955
phải rút ra khỏi Nam Việt Nam toàn bộ số còn lại của 122.000 quân
viễn chinh Pháp, Lê dương, Bắ c Phi... Đến đây Pháp ở Đông Dương
chỉ còn lại các thế lực thân Pháp, trong đó đông đảo nhất là các lự c
lượng giáo phái trong "Mặt trận thống nhất toà n lực quốc gia Cao-
Hòa-Bình".
Tháng 3/1955 Diệm mở các chiến dịch kết hợp các thủ đoạn
chính trị, quân sự cảnh sát tấn công tiêu diệt các giáo phái ở Nam Bộ
và lực lượng Đại Việt ở miền Trung. Cho đến cuối năm 1955, Đại Việt
bị tan vỡ , Bình Xuyên bị đẩy xuống rừng Sát và đi vào tiêu vong, Cao
Đài và Hòa Hảo bị tổ n thất lớn với 600 ngườ i bị chết bị thương, 1.100
người bị bắt, 7.758 người ra hàng, nội bộ bị chia rẽ sâu sắc. Đến
tháng 6/1956 tất cả những lực lượng chính trị và vũ trang thân Pháp
còn lại đề u chịu khuất phục chính quyền Diệm.
Sau các chiến dịch đó Mỹ-Diệm đã củng cố được thế lực. Quân
chủ lực ngụy giảm còn 147.462 người, không kể lực lượng bảo an, dân
vệ và cảnh sát. Cố vấn Mỹ tăng từ 200 người lên 669 người và nhiều
cơ quan cố vấn Mỹ đượ c thành lập ở miền Nam. Một kế hoạch 5 năm
xây dựng quân đội ngụy đã hình thành với mục tiêu hiện đại hóa với
470.000 quân chính quy, 250 máy bay, 600 thiết giáp, 300 đại bác...
Hệ thống thiết bị chiến trường được xây dựng với hàng loạt căn cứ
quân sự, kho tàng, sân bay, cầ u cả ng, đường sá... Hệ thống chỉ huy
được cải tổ và tăng cường. Năm 1955 có 53% số sỹ quan ngụy được đi
tu nghiệp tại Mỹ, hàng loạ t sỹ quan hạ sỹ quan ngụ y được đề bạt,
tăng lương....

Từ giữa năm 1955 phong trào đấu tranh của quần chú ng cách
mạng ban đầu nổ i lên. Ngày 6/6/1955 chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính
quyền miền Nam và Mỹ-Diệm đã khăng khăng từ chối. Lập tức khắp
nơi ở miền Nam dấy lên nhữ ng cuộc đấu tranh phản đối Mỹ-Diệm,
đòi mở hội nghị hiệp thương và nối lại quan hệ Bắc-Nam. Ngày
3/7/1955 hàng ngàn đồng bào Sài Gòn đã biểu tình đòi hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc, đòi trả lại tự do cho những người
trong "Ủy ban cứu trợ nạn nhân chiến tranh", chính quyền Diệm đã
cho quân đội và cảnh sát đến đàn áp cuộc biểu tình này. Ngày
10/701955 cuộc tổng bãi công bãi thị của gần 80% lao động và nhân
dân các giới các ngành thành phố Sài Gòn đã làm cho thành phố tê
liệt. Ngày 19/7/1955 chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gởi công
hàm cho chính quyền Diệ m đề nghị cử người tham gia hội nghị hiệp
thương; nhưng chính quyền Diệ m cho tay chân tập trung bọn lưu
manh bày trò biểu tình chống lại hiệp định Genè ve rồi đập phá trụ sở
Ủy ban giám sát quốc tế ở Sài Gòn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách Đại học tổng hợp 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
CHÍNH SÁCH TỐ CỘNG DIỆT CỘNG
Sự phản kích củ a Mỹ-Diệm ngày càng mạnh. Sau khi diệt xong
các giáo phái, chúng rảnh tay đối phó với cách mạng bằng việc triển
khai trên quy mô toàn miền Nam "quốc sách tố cộng" hết sức tàn bạo.
Cách mạng miền Nam vì thế đứng trước tình thế cấp bách phả i bảo
toà n lực lượng cò n lại, khả năng đấu tranh theo phá p lý hiệp định
không còn. Ngày càng rõ một thực tế là "Chế độ miền Nam là một chế
độ độc tài, phát-xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ
phản động nhất... miền Nam đang trở thành thuộc địa và căn cứ
quân sự của Mỹ". Trong điều kiện ấy "tính chất cuộc cách mạng của
ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng miền
Nam là phản đế và phản phong kiế n". Do đó "hình thức đấu tranh
của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải
đấu tranh vũ trang, nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không
dùng hình thức tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định", phải "tổ
chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh và giải
thoát cán bộ khi cầ n thiết", phải "củng cố các lực lượng vũ trang và
bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa đồng thờ i xây
dựng cơ sở quần chúng vững mạ nh làm điều kiện căn bản để duy trì
phát triển lự c lượng vũ trang.
Mục tiêu của "tố cộng là nhằm tận diệt cộng sản ở toàn miền
Nam cả về con người lẫn tư tưởng theo phương thức "Thà giết nhầm
chứ không bỏ sót", "tiêu diệt như trong tình trạng chiế n tranh".
Những chiến dịch tố cộng của địch từ giữa năm 1956 trở đi càng mở
rộng quy mô và vô cùng khốc liệt. Các chiến dịch "Thoại Ngọc Hầu"
(từ tháng 6/1956 đến tháng 2/1957), "chiến dịch Mùa Thu" (từ tháng
10/1957 đến tháng 12/1957) càn quét tố cộng khắp vùng đồng bằng
sông Cửu Long; "chiến dịch Trương Tấn Bửu" (từ tháng 7/1956 đến
tháng 2/1957), "chiến dịch Nguyễn Trãi" (từ tháng 4/1958 đến tháng
11/1958) đánh phá cách mạng ở miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn-Chợ
Lớn... Từ năm 1955 đến năm 1959 địch tiến hành 30 chiến dịch lớn

để thực hiện mục tiêu "tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp lên
oán thù để thự c thị chủ nghịa nhân vị quốc gia".
Chú ng đánh trên diện rộng đồng thời có tập trung vào trọng
điểm, chà đê xá t lại, với tham vọng: người cộng sản hoặc bị tiêu diệt
hoặc phải đầu hàng, quần chúng nhân dân hoặ c chết hoặc khiếp sợ
phải từ bỏ ủng hộ cách mạng. Những vụ thảm sát ở Mỏ Cày, Phú Lợi,
Chợ Được, Duy Xuyên, Hướng Điền.... không chỉ nhằm tiêu diệt con
người về thể xác mà còn nhằm khủng bố về tinh thần và ý chí cách
mạng. Thống kê triển lãm của địch ngày 26/10/1958 đã công bố: trong
"chiến dịch Nguyễn Huệ" chúng đã giết 681 người và bắt giam 1005
người khác, trong "chiến dịch Thoại Ngọc Hầu" có 441 người bị giết
và 2117 người bị bắt, còn "chiến dịch Trương Tấn Bửu" có 102 người
bị thiệt mạng và 882 người khác bị giam cầm. Thố ng kê của ta cho
biết từ cuối năm 1954 đến đầu năm 1959 ở miền Nam địch đã bắt
giam 180.843 người, làm thương tật 10.185 người, giết 4.971 người.
Kết hợp với các biện pháp bạo lự c, Mỹ - Diệm còn dù ng các thủ
đoạn lừa mị, mua chuộc bằng các biện pháp kinh tế - xã hội. Những
đạo dụ "Cải cách điề n địa" như Dụ số 2 (ngày 8/1/1955), Dụ số 7 (ngày
5/2/1955), Dụ số 57 (ngày 22/10/1956), thực chất đã cướp đi số ruộng
đất mà nông dân được cách mạng chia cấp trong kháng chiến, để trả
lại cho địa chủ, nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong dân
chúng. Tính đến năm 1962 chính quyền Diệm đã cướp lại 560.000 ha
ruộng đất mà cách mạng đã cấp cho nhân dân trong những năm
kháng chiến. Cái gọi là "tiểu điền chủ hóa tá điền" trong thực tế chỉ
có 125.000 trong tổng số 1.500.000 tá điền được mua đất.
Việc xây dựng các "dinh điền" (từ tháng 4/1957) là biện pháp
bình định nhằm gom dân quy khu lập ấp để tập trung khống chế
quần chúng, cô lập các lực lượng cách mạng còn lại ở cơ sở. Diệm -
Nhu cho rằng đinh điền là "biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến
khu, mật khu Việt cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏ i vùng đó";
đến đầu năm 1959 đã có 84 khu đinh điền được xây dựng, gom được
128.374 người dân, chủ yếu là dân di cư từ miền Bắc.
Tháng 7/1959 Diệm lại triển khai chương trình "Khu trù mật"
xây dựng những "thị nông" ở nông thôn đồng bằng nhằm quy tụ dân,
kiểm soát dân và cô lập các lực lượng cá ch mạng. Địch tuyên truyền
rùm beng cho lý thuyết "đồng tiến xã hội" và "cách mạ ng nông thôn"

khi hàng chục khu trù mật đượ c khá nh thành, nhưng thực tế đó chỉ
là sự đảo lộn toà n bộ vùng nông thôn cách mạng để tiêu diệt các lự c
lượng cách mạng ở đây.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách Đại học tổng hợp 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
MỸ DIỆM THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ MỚI
Ngày 7-7-1954, trước khi hiệp định Genève được ký kết 13 ngày,
Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về
nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ
quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11-1954, Mỹ
cử tướng L. Colins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Colins đề ra kế hoạch 6
điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền
Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Colins gồm những
vấn đề sau :
Bảo trợ chính quyền Diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài
Gòn. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ
trang bị, huấn luyện. Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa
chính quyền Sài Gòn. Định cư cho số người công giáo miền Bắc di cư
vào Nam và vạch kế hoạch cải cá ch điền địa. Thay đổi chế độ thuế
khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam. Đào tạo cán bộ
hành chính.
Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao
trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân ngụy ở miền Nam cho Mỹ.
Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính,
chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng
miền Nam thành một "quốc gia mạnh" của "thế giới tự do", có một
"đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớ n mạnh để chống
cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập
"Đảng Cần lao nhân vị", phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh
niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm
tập hợp bọn phản động trong gia cấp tư sản, địa chủ , Thiên Chúa giáo
và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẫn cho chính
quyền Diệm. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và

ngày 26-10-1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam cộng hòa". Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thầ n Hiệp nghị
Giơnevơ nhằm biến miền Nam nước ta thà nh một "quốc gia" riêng.
Về quân sưồ, cho tới tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính
quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mỹ
gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng
thiết giáp và 54.000 quân địa phương. Số cố vấn Mỹ từ 35 người (năm
1950), tăng lên 699 ngườ i (năm 1956). Cá c cố vấn Mỹ có mặt đến tận
cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn
luyện theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra. Mỹ còn cho xây dựng
một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm
biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng
hò hét "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.
Về kinh têở, chúng đưa hàng hóa ế thừa vào miền Nam, làm cho
nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mỹ. Viện trợ Mỹ
tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đô la
(trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1-1955,
Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" vớ i những luận điệu "chia ruộng
đất cho dân", "hữu sản hóa vô sản", "bài phong, đả thự c"... Thực chất
là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ
thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại giai cấp địa
chủ ở miền Nam.
Về văn hóa, chúng đưa "lối sống Mỹ" tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.
Dựa vào các đạo dụ cũ của Bảo Đại đã ban hành từ năm 1953,
Mỹ - Diệm cho bổ sung thành những đạ o dụ mới : Dụ số 2 (ra ngày 8-
1-1955), Dụ số 7 (ra ngày 3-2-1955) và Dụ 57 (22-10-1956). Dụ số 2
quy định tá điền phải lập khế ước lĩnh canh. Dụ số 7 quy định hàng
tháng chủ ruộng đất phải khai báo về việc khai thác ruộng đất. Mục
đích của hai đạo dụ này là lấy lại ruộng đất của nông dân đã được
chia từ thờ i kháng chiến chống Pháp, khôi phục lại quyền chiếm hữu
của giai cấp địa chủ, biến nông dân đã có ruộng trở thành tá điền của
địa chủ như trước đây.
Dụ 57 quy định những ruộng đất đem phân phối cho nông dân
là những ruộng bỏ hoang và đất "truất hữu" của những địa chủ có

trên 100 mẫu. Tính đến 31-12-1959, tổng số ruộng đất khai báo để
"truất hữu" là 463.557 mẫu (trong số 454.874 mẫu đã "truất hữu" với
tổng số điền chủ bị "truất hữu" là 1980 người). Trong số ruộng đất
"truất hữu", chỉ có 252.179 mẫu được cấp bán cho 128.719 người. Nếu
cộng thêm vào số đó số ruộng "truất hữu" của Phá p kiều là 228.620
mẫu, trong đó chỉ có 52473 mẫu đem cấp bán cho nông dân thì số
người được "hữu sản hóa" quá ít ỏi so với số người cầ n ruộng. Qua đó,
ta thấy rằng đại bộ phận giai cấp địa chủ và 2/3 số ruộng đất mà họ
chiế m giữ không bị động chạm tới qua "truất hữu" ruộng đấ t.
Như vậy, thông qua cá c Dụ số 2, Dụ số 7 và Dụ 57, chính quyền
Diệm đã khôi phục và câu kế t với giai cấp địa chủ để cướp đoạt ruộng
đất của nông dân, khôi phục lại chế độ chiếm hữ u ruộng đất của địa
chủ, tăng tô lan tràn để từ đó, xóa bỏ những thành quả mà cách mạng
đã đem lại cho nông dân.
Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ
Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, cá c Bộ của chính quyền Sài Gòn đến
các đơn vị quân đội, các địa phương và dựa vào quyền lự c của vũ khí,
đôla viện trợ, Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, quyết
định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính
quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội và
ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộ c
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ
thống XHCN, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho
phong trào cách mạng trà n xuống vùng Đông Nam Á.
(Theo Lịch sử Việt Nam đại cương tập 3)

Chán đời đi lang thang !
0
CƯỠNG ÉP DI DÂN - MỘT THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ
THÂM ĐỘC CỦA MỸ
Ngày 1 tháng 8 năm 1954 là ngày ngừng chiến, theo chủ trương
của Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớ n, 50.000 người phần lớn là công
nhân các xí nghiệp quan trọng, cơ sở hạ tầng xung yếu như nhà đèn,
bến cảng... cả công nhân đang làm việc trong các đơn vị hậu cần quân
Pháp (SLOM, Intendence Militaire...) và các tầng lớp khá c, biểu tình
tạ i đường Kitchner (Nguyễn Thái Học bây giờ) hoan hô hòa bình, đòi
thi hành đú ng hiệ p định Genève.
Cùng lúc đó, Sài Gòn lại diễn ra một cảnh tượng trái ngược: hết
ngày này sang ngày khác, những chiếc tàu há mồm chật ních những
người công giáo miền Bắc bị lừa mị và cưỡng ép, di cư vào Nam gọi là
"tị nạn cộng sản", đang nối đuôi nhau cập bến cảng Sài Gòn. Hối hả
hốt từ Bắc vĩ tuyến 17 và dồn vào Nam cho được ít ra mộ t triệu dân
di cư để tính chuyện lâu dài, bọn tay sai Mỹ đang gây ra bao cảnh ly
hương, nheo nhóc. Hàng chục vạn người phút chốc rời khỏi nơi chôn
nhau cắt rốn, gia đình ly tán...bị dồn chặt ở các bãi đậu xe chờ đưa đi
các trại buộ c phải ngửa tay xin bố thí.
Trong và sau 300 ngày (thời gian mà Hiệp định Genève quy
định hoàn toàn thành việc tập kết, chuyển quân) bọn đầu cơ chính
trị, tay sai đế quốc đã lừa gạt, cưỡng ép, lôi kéo hàng chục vạn người
từ nhiề u tỉnh miền Bắc, đa số là Thiên Chúa giáo, di cư có tổ chức
hoặc vượt biên vào miền Nam, tổng số lên đến 888.505 người. Sau khi
đưa một số đi các tỉnh, số đồng bào Thiên Chúa giáo cò n lại ở Sài Gòn
đã lên trên 243.000 người trong số 2 triệu dân Sài Gòn, phân bố
thành 23 xứ, 7 hạ t, có 517 linh mục (343 mới di cư). Riêng ở Củ Chi,
số mới di cư vào là 10.000 người. Tờ báo cánh hữu Pháp Le Monde
thừa nhận: "Diệm coi giáo dân là một nguồn dự trữ cho quân đội và
những tổ chức chính trị của chế độ Sà i Gòn".

Chỉ riêng sự việc nà y đủ báo trước tính chất quyết liệt của cuộc
chiế n đấu mới.
Chiến lược ban đầu của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới, được phác họa trong bị vong lục của Hội
đồng an ninh quốc gia Mỹ số 561/1 ngày 3 tháng 9 năm 1956: "Giúp
đỡ nướ c Việt Nam tự do (Nam Việt Nam) phát triển một chính phủ
hợp hiến, ổn định và hùng mạnh, để có thể khẳng định sự tương phản
ngày càng hấp dẫn so với các điều kiện trong khu vực hiện nay của
cộng sản ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Việt Nam, để cuối cùng đi
đến thống nhất nước Việt Nam bằ ng phương pháp hòa bình, thành
lập nước Việt Nam tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của chính phủ
chống cộng sả n".
Trước ngày lý Hiệp định Genève, tháng 4 năm 1954, cơ quan
MAAG (phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự - Military Assistance
Advisory Group) do O'Daniel cầm đầu đã đến Sài Gòn. Ngày 8 tháng
6 năm 1954, Ngô Đình Diệ m, một quan lại phong kiến đã từng làm
tay sai cho Pháp, cho Nhật, được Mỹ vun đắp thành một con chủ bài
trong âm mưu mới, đã đượ c đưa về Sài Gòn. Một tháng sau Diệm lên
làm "thủ tướng" (ngày 7 tháng 7 năm 1954) với những công việc cần
làm ngay đã vạch sẵn để đi đến thành lập "nước Việt Nam Cộng hòa",
vĩnh viễn chia cắt đấ t nước, thực thi chiến lược bao trùm là "diệt
cộng". Tháng 11 năm 1954, tướng Mỹ Collins được cử sang Sài Gòn
làm đặc sứ cho Ngô Đình Diệm.
(Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 1945 - 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
NHỮNG TRÒ HỀ DÂN CHỦ
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Diệm bày trò trưng cầu dân ý gạt
hẳn Bảo Đại, lập lễ đài ở đườ ng Galliéni, tự phong thủ tướng.
Từ cuối năm 1955, Diệm cắt nốt mọi quan hệ với Pháp, trực tiếp
nhận viện trợ của Mỹ, không qua trung gian Pháp nữa. Ngày 26
tháng 10 năm 1955 Diệm tuyên bố thành lập "nướ c Việt Nam Cộng
hòa", lấy Sài Gòn làm "thủ đô". Đến đây đế quốc Mỹ không qua trung
gian thực dân Pháp trực tiếp nắm bộ má y tay sai, thực hiện mưu đồ
biến miền Nam Việt Nam thành vùng đất nằm trong quỹ đạo của Mỹ.
Sau việc đăng bài củ a Max Clos tố cáo trò gian lận của Diệm
biến 450.000 phiế u thành 605.025 phiếu, tờ báo Le Figaro ngày 26
tháng 10 năm 1955 đã đăng bài nói về việc tẩy chay của nhân dân Sài
Gòn đối với việc thành lậ p "nướ c Việt Nam Cộng hòa": "Để ăn mừng
chính thể cộng hòa được thành lập, nhà cầm quyền miền Nam động
viên công chức, người di cư và trẻ em cá c trường học làm một cuộ c
biểu tình không lấ y gì làm quan trọng. Còn dân chúng thì ai ở nhà
nấy, không buồn ra đường... không làm sao so sánh được với những
cuộc tuần hành ở Hà Nội..."
Cuối tháng 1 năm 1956, Diệm ký một đạo luật công khai khước
từ tổng tuyển cử: đạo luật bầu cử quốc hội riêng rẽ. 8 ứ ng cử viên bị
tình nghi tán thành hòa bình thống nhất buộc phải rút lui trước.
Hãng thông tấn Mỹ thừa nhận, chỉ có "người của Diệm tranh cử với
nhau". Biết địch sẽ khủng bố nếu chống bầu cử, cán bộ ta khuyên dân
cứ đi nhưng đi trễ, bỏ phiếu trắng, phiếu không hợp lệ. Mặc dù vậy,
nhiều ngườ i vẫn không đi. Diệm đặ t giải thưởng một triệu đồng cho
ai bắt đượ c người xé áp phích, nhưng chỉ trong 3 ngày, trước và sau
bầu cử (ngày 4 tháng 3 năm 1956) 80% số áp phích quảng cáo bầu cử
bị xé. Lần tháng 3 năm nay, người đi bỏ phiếu ít hơn tháng 10 năm
ngoái từ 15 đến 30 phần trăm, nhưng tất nhiên là phe Diệm "toàn
thắng".

Để nắm chặt quân đội ngụy, Mỹ liên tục tăng cố vấn quân sự và
kiện toàn tổ chứ c MAAG (tổng số cố vấn từ 200 năm 1954 lên 669 tên
năm 1956); giải tá n "phái bộ huấn luyện hỗn hợp" Pháp - Mỹ (TRIM);
tổ chứ c ra "phái bộ huấn luyện" tác chiến lục quân (CATO: Combat
Army Training Organisation) gồm toàn người Mỹ, cho triển khai
thêm "phái bộ trang bị và cung cấp "(TERM: Tempory Equipment
Recovery Mission). Cả hai tổ chức này đặt dưới quyền của MAAG.
(Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn khán chiến 1945 - 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
MỸ DIỆM THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ MỚI
Ngày 7-7-1954, trước khi hiệp định Genève được ký kết 13 ngày,
Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về
nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ
quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11-1954, Mỹ
cử tướng L. Colins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Colins đề ra kế hoạch 6
điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền
Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Colins gồm những
vấn đề sau :
Bảo trợ chính quyền Diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài
Gòn. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ
trang bị, huấn luyện. Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa
chính quyền Sài Gòn. Định cư cho số người công giáo miền Bắc di cư
vào Nam và vạch kế hoạch cải cá ch điền địa. Thay đổi chế độ thuế
khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam. Đào tạo cán bộ
hành chính.
Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao
trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân ngụy ở miền Nam cho Mỹ.
Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính,
chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng
miền Nam thành một "quốc gia mạnh" của "thế giới tự do", có một
"đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớ n mạnh để chống
cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập
"Đảng Cần lao nhân vị", phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh
niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm
tập hợp bọn phản động trong gia cấp tư sản, địa chủ , Thiên Chúa giáo
và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẫn cho chính
quyền Diệm. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và

ngày 26-10-1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam cộng hòa". Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thầ n Hiệp nghị
Giơnevơ nhằm biến miền Nam nước ta thà nh một "quốc gia" riêng.
Về quân sự, cho tớ i tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính
quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mỹ
gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng
thiết giáp và 54.000 quân địa phương. Số cố vấn Mỹ từ 35 người (năm
1950), tăng lên 699 ngườ i (năm 1956). Cá c cố vấn Mỹ có mặt đến tận
cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn
luyện theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra. Mỹ còn cho xây dựng
một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm
biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng
hò hét "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.
Về kinh tế, chúng đưa hàng hóa ế thừa vào miền Nam, làm cho
nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mỹ. Viện trợ Mỹ
tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đô la
(trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1-1955,
Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" vớ i những luận điệu "chia ruộng
đất cho dân", "hữu sản hóa vô sản", "bài phong, đả thự c"... Thực chất
là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ
thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại giai cấp địa
chủ ở miền Nam.
Về văn hóa, chúng đưa "lối sống Mỹ" tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.
Dựa vào các đạo dụ cũ của Bảo Đại đã ban hành từ năm 1953,
Mỹ - Diệm cho bổ sung thành những đạ o dụ mới : Dụ số 2 (ra ngày 8-
1-1955), Dụ số 7 (ra ngày 3-2-1955) và Dụ 57 (22-10-1956). Dụ số 2
quy định tá điền phải lập khế ước lĩnh canh. Dụ số 7 quy định hàng
tháng chủ ruộng đất phải khai báo về việc khai thác ruộng đất. Mục
đích của hai đạo dụ này là lấy lại ruộng đất của nông dân đã được
chia từ thờ i kháng chiến chống Pháp, khôi phục lại quyền chiếm hữu
của giai cấp địa chủ, biến nông dân đã có ruộng trở thành tá điền của
địa chủ như trước đây.

Dụ 57 quy định những ruộng đất đem phân phối cho nông dân
là những ruộng bỏ hoang và đất "truất hữu" của những địa chủ có
trên 100 mẫu. Tính đến 31-12-1959, tổng số ruộng đất khai báo để
"truất hữu" là 463.557 mẫu (trong số 454.874 mẫu đã "truất hữu" với
tổng số điền chủ bị "truất hữu" là 1980 người). Trong số ruộ ng đất
"truất hữu", chỉ có 252.179 mẫu được cấp bán cho 128.719 người. Nếu
cộng thêm vào số đó số ruộng "truất hữu" của Phá p kiều là 228.620
mẫu, trong đó chỉ có 52473 mẫu đem cấp bán cho nông dân thì số
người được "hữu sản hóa" quá ít ỏi so với số người cần ruộng. Qua đó,
ta thấy rằng đại bộ phận giai cấp địa chủ và 2/3 số ruộng đất mà họ
chiế m giữ không bị động chạm tới qua "truất hữu" ruộng đấ t.
Như vậy, thông qua cá c Dụ số 2, Dụ số 7 và Dụ 57, chính quyền
Diệm đã khôi phục và câu kế t với giai cấp địa chủ để cướp đoạt ruộng
đất của nông dân, khôi phục lại chế độ chiếm hữ u ruộng đất của địa
chủ, tăng tô lan tràn để từ đó, xóa bỏ những thành quả mà cách mạng
đã đem lại cho nông dân.
Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ
Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, cá c Bộ của chính quyền Sài Gòn đến
các đơn vị quân đội, các địa phương và dựa vào quyền lự c của vũ khí,
đôla viện trợ, Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, quyết
định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính
quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội và
ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộ c
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ
thống XHCN, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho
phong trào cách mạng trà n xuống vùng Đông Nam Á.
(Theo Lịch sử Việt Nam đại cương tập 3)

Chán đời đi lang thang !
0
CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA, CƯỚP ĐẤT NÔNG DÂN
Để "tranh thủ trái tim khối óc người nông dân", tách nông dân
khỏi ảnh hưởng cách mạng, chương trình "cải tiến nông thôn" của
Diệm được sớm triển khai. Lấy việc thực hiện chính sách "cải cách
điền địa" làm khẩu hiệu trung tâm, ngà y 8 tháng 1 năm 1955 Diệm
ra Dụ số 2, tiếp đến ngày 3 tháng 2 năm 1955 ra Dụ số 7 "cải cách
điền địa" về giảm tô và giao đất bỏ hoang cho tá điền canh tác. Ngày
22 tháng 10 năm 1956 lại ra Dụ số 57 về quyền truất hữu ruộng đất
của chính phủ và "tiểu điền chủ hóa tá điền". Những cái gọi là "cải
cách" trên quanh đi quẩn lại đã làm cho 650.000 ha mà cách mạng đã
cấp cho nông dân miề n Nam trong kháng chiến và trước ngày tập kết,
bị gặc cướp không rồi lại bán đấu giá ngược trở lại; nhưng người
nghèo không có tiền mua, người giàu không đủ đất mua. Thà nh quả
cách mạng bị xóa. Việc này, nông dân không thể nhịn được, do đó "cải
cách điền địa" chẳng những đã không "tranh thủ trái tim khối ó c
người nông dân" mà còn làm cho mâu thuẫn giữa nông dân và tay sai
đế quốc thêm quyết liệt. Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko thừa nhận :
"chỉ có 12% tá điền được nhậ n đất, nhưng phải mua trong khi chính
sách của Việt Minh là cho không", do đó, "trước 1955, địa chủ là đối
tượng chủ yếu của sự cay đắng của nông dân, bây giờ còn thêm những
quan chức hung hăng của Diệm".
Nông dân Gia Định vào cuộc đấu tranh về ruộng đất ngay sau
khi "Dụ 1" ra đời. Ngày 9 tháng 3 năm 1955 trong một cuộc họp tá
điền tại Sài Gòn, có hơn 100 đại biểu nông dân đòi hủy bỏ chế độ đấu
giá công điền. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, trong cuộc biểu tình lớn tại
Sài Gòn, nông dân Gia Định trương khẩu hiệ u đòi sửa đổi luật công
điền.
Địch lại bắt 96 nông dân các xã Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ
Tây, Tân Thới Hiệp rời làng để chúng lấy đất xây dựng khu căn cứ
quân sự liên hoàn Lê Lợi và Quang Trung, mở xa lộ Sài Gòn - Biên

Hòa. Nông dân hai xã Đông Hưng Thuậ n và Trung Mỹ Tây cử đại
biểu lên tận "quốc hội", phủ tổng thống Diệm, Bộ quốc phòng phản
đối dời làng. Cuộc đấ u tranh chố ng dời làng kéo dài đến hàng năm, có
người như chị Trương Ngọc Thanh bị bắt đến cả chục lần, có những
nông dân cầm dao, mác, gậy đuổi cố vấn Mỹ. 96% nông dân các huyện
xung quanh Sài Gòn đã nhập cuộc trong cuộc đấu tranh chống "cải
cách điền địa", buộc việc đấu giá công điền phải tạm ngưng. Đến cuối
1956, Diệm mới lấy lại được khoảng một phần ba đất công của nông
dân Gia Định.
(Theo sách Lịch sử Sài Gò n - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 45-75)

Chán đời đi lang thang !
0
NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENEVE
VỀ ĐÔNG DƯƠNG 1954
Tiếp theo hội nghị ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp
tạ i Béc-lin tháng 1/1954 để bàn về việc triệu tập hội nghị quốc tế tại
Genève giải quyế t vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông
Dương; ngày 26/4/1954, giữa lúc quân ta chuẩn bị mở cuộc tấn công
thứ 3 để quyết định số phận quân viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ,
thì Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc.
Ngày 8/5/1954, Hộ i nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề lập
lại hò a bình ở Đông Dương. Phái đoàn chính phủ ta do Thủ tướng
Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào hội nghị với tư thế là đại
biểu cho một dân tộc chiến thắng. Trong phiên họp ngày thứ hai
(ngày 10/5/1954) trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đã tuyên bố lập trường
căn bản của chính phủ và nhân dân ta là hòa bình, độc lập, dân chủ,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lập trường chính
nghĩa và những điểm cụ thể nêu lên làm cơ sở cho việc lập lại hòa
bình ở Đông Dương được nhân dân tiến bộ Pháp và các lực lượng yêu
chuộng hòa bình trên thế giới nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ. Ngượ c
lại các thế lự c đế quốc và hiếu chiến Pháp hết sức lúng tú ng, bị cô lập
trong âm mưu phá hoại hội nghị Genève nhằm kéo dài và mở rộng
chiế n tranh Đông Dương. Trải qua 26 phiên họp toàn thể và hạn chế,
hội nghị đã thảo luận 4 vấn đề chính :
Vấn đề ngừng bắn cùng một lúc trên toà n cõi Đảng. Vấn đề liên
quan giữa hai mặt chính trị và quân sự. Vấn đề quyết định khu vực
tập kết của quân đội hai bên. Vấn đề kiể m soát việc thi hành hiệp
định đình chiến.
Ngày 18/6/1954, chính phủ Pháp do Laniel làm Thủ tướng, một
chính phủ ngoan cố và phản động bị đổ, chính phủ mới Mendès
France lên làm thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao chủ trương

thương lượng trực tiếp với Chính phủ ta để đi đến một giải pháp hy
vọng cứu vãn được ít nhiều uy tín và danh dự của nước Pháp. Phái
đoàn chính phủ Pháp đã có những đóng góp tích cực hơn, góp phần
đưa hội nghị Genève tiến tới một bước mới.
Thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta và xu
thế chung giả i quyết các vấn đề tranh chấp của thế giớ i bằng thương
lượng, Việt Nam đã chấp thuận giải pháp mà hội nghị đã thỏa thuận.
Ngày 20/7/1954, tại Genève chính phủ Pháp phải ký kết hiệp
định đình chiến với ta. Chính phủ Pháp cù ng với các nước tham dự
hội nghị tuyên bố : "Mỗi nước tham gia hội nghị và toàn vẹn lãnh thổ
của nhữ ng nước trên (tức Việt Nam, Lào, Campuchia) và tuyệt đối
không can thiệ p vào nội trị của nhữ ng nước đó". Hai bên phải ngừng
bắn, tập kế t quân đội về hai vùng, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến
quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến.
"Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể
coi là ranh giới về chính trị và lãnh thổ".
Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí
nước ngoài vào 3 nước Đông Dương. Các nước ngoài không được đặt
căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia
nhập nhữ ng khối liên minh quân sự và không được để các nước khác
dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích
xâm lược. Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử
tự do trong cả nước. Cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7/1956
dưới sự kiểm soát của Ủy ban quốc tế (gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canada
do Ấn Độ làm chủ tịch). Trách nhiệm thi hành hiệp định Genève
thuộc về những người ký Hiệp định và những người kế tiếp nhiệm vụ
của họ. Đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của hội nghị,
mà đã ra một tuyên bố riêng cam kết tôn trọng hiệp nghị Genève về
Đông Dương.
Tuy còn những hạn chế, nhưng hiệp định Genève cùng chiến
thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứ t cuộc chiến tranh xâm lược của đế
quốc Phá p và can thiệp Mỹ ở Đông Dương. Pháp phải rút quân viễn
chinh về nước, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và chuyển sang
giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một thời kỳ mới của cách
mạng Việt Nam đã được mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc, đồng thời tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Nam.
(Lịch sử Việt Nam - tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÒI HOÀ BÌNH, ĐÒI
HIỆP THƯƠNG Ở SÀI GÒN - CHỢ LỚN
Tháng 10 năm 1954, cuộc họp Xứ ủy tại Cán Gáo - Biển Bạch
(Tây Nam rừng U Minh) chính thức thành lập lại Khu ủy Sài Gòn -
Chợ Lớn. Tỉnh Gia Định vẫn duy trì tỉnh ủy đương nhiệm do đồng chí
Phạm Khải (Ba Ka) làm bí thư. Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớ n do đồng
chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư; Nguyễ n Ngọc Thanh - phó bí thư,
Trần Quốc Thảo - ủy viên thường vụ (một năm sau làm phó bí thư)...
Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương
Đảng họp xác định nhiệm vụ cách mạng dân tộc giải phóng của ta
chưa hoàn thành, cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà
kết thúc mà đang tiếp tục, song về phương châm đấu tranh thì "phải
thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị", mọi
"hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh
du kích) cần phải thay đổi ngay" (NQ9, BCT).
Tháng 11 năm 1954 Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủ y Gia
Định đều họp, tiếp thu nghị quyết trên và đề ra nhiệm vụ hai năm tới
đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh đòi hỏi thi hành Hiệp
định Genève, bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống
nhất đất nước, đòi các quyền dân sinh, dân chủ; về sách lược, phải
khôn khéo, triệt để lợi dụng mâu thuẫn địch, đề ra khẩu hiệu sát hợp
với yêu cầu của quần chúng; về tổ chức và hành động; tận dụng cả ba
thế : hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp, với ba hình thức :
công khai, nửa công khai, bí mật. Theo phương châm đó , thành lập
các Ban vận động trong các ngành các giới : công vận, phụ vận, tư sản
vận, trí vận, riêng hoa vận do Xứ ủy nắm các Ban báo chí, Văn nghệ,
Ban học sinh, sinh viên; đưa Đả ng viên vào bám và xây dựng cơ sở ở
các trọng điểm; gấp rút đào tạo cán bộ hoạt động đô thị; tổ chức cài
cắm người và xây dựng cơ sở nội tuyết trong các cơ quan đầu não địch
như : Sở công an Nam phần, Bộ tư lệnh đệ nhất quân khu (Nam Bộ),

Phủ tổng thống, Sở Nghiên cứ u chính trị, văn hóa xã hội, Bộ tổng
tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Tỉnh ủy Gia Định chủ trương
chống khủng bố kết hợp đòi thi hành hiệ p định, giữ ruộng đất mà
cách mạng đã tạm cấp cho nông dân, vận động nông dân trở về vườn
cũ làm ăn... củng cố các căn cứ cũ, địa đạo, hầm bí mật...
Phong trào hòa bình bắt liên lạc với Ủy ban quốc tế kiểm soát
và giám sát đình chiến. Đại biể u của phong trà o đi thăm tù chính trị,
yêu cầ u Ủy ban quốc tế đòi các nhà chức trách Liên hiệp Pháp phải
thả người mà họ đang cố giữ.
Qua theo dõi, ngày 7 tháng 11 năm 1954, Diệm ra lệnh khám
xét trụ sở của Phong trào ở đường Galliéni, bắt một số cán bộ của
phong trào đưa ra tòa, nhưng không đủ lý để buộc tội. Diệm lại dựng
lên "tội lập hội không xin phép", bắt giam 8 người, trong đó có luật sư
Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Nguyễn Văn Dưỡ ng, giáo sư Phạm Huy
Thông, kỹ sư Lưu Văn Lang...
Không kết tội được những người yêu nướ c, Diệm dựng lên các
bằng chứng man trá, như tổ chức rải truyền đơn rồi vu là của phong
trào Hòa Bình, để tiếp tục khủng bố. Số người bị bắt tiếp tục tăng vọt.
Cuộc đấu tranh ở tòa án Sài Gò n ngày càng quyết liệt. Các trò gian
trá, vu khống liên tiếp bị lật tẩy, nhưng địch thua keo này bày keo
khác, cố đưa các vị ra tòa án quân sự, uy hiếp phong trào đấu tranh
chính trị đang dâng cao.
Cuộc đấu tranh phản đối hành động phát xít của ngụy quyền
trở thành phong trào lớ n, thu hú từ lớp nghèo thành thị đến giới thợ
thầy, công thương gia. Các sạp của 50 chợ, mỗi người góp một số tiền
để mướn 6 luật sư bênh vự c những người bị bắt. Suốt hai tháng 11,
12 năm 1954, Diệm mở phiên tòa xử "Phong trào Hòa Bình Sài Gòn -
Chợ Lớn", nhưng các ủy ban cơ sở của phong trào lại càng hoạ t động
mạnh.
Cuối tháng 12 năm 1954, gần 25.000 công nhân trong 28 cơ sở
quân sự của Pháp ở Sài Gòn -Chợ Lớ n đình công đòi tăng lương 20%,
đòi giảm giá sinh hoạt, đòi thi hành Hiệp định Genève. Cuộc đấu
tranh lan ra Thủ Dầu Một, Biên Hòa, kéo dài đến ngày 4 tháng 1
năm 1955 mới tạm dừng, sau khi đạt được một phần yêu sách.

Ba tháng đầu năm 1955, đã có trên 80.000 người dân Sài Gòn -
Chợ Lớn, trong đó công nhân lao động giữ vai trò nòng cốt, với 30
cuộc bãi công, đấu tranh đòi giải quyết đời sống, đòi thi hành hiệp
định.
Phong trào đấu tranh của nông dân ngoại thành đòi thi hành
hiệp định bắt đầu từ huyện Củ Chi lan nhanh đế n Gò Vấp, Thủ Đức,
Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè.
Tháng 6 năm 1955, Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn họp thường kỳ
tạ i nhà số 300A đường Ngô Tùng Châu, làng Bình Hòa (nay là quận
Bình Thạnh) để kiểm điểm, đánh giá tình hình công tác của đảng bộ
trong 3 tháng đầu năm 1955, và đề ra những nhiệm vụ trước mắt.
Cũng tại nơi đây, tháng 7 năm 1955, Khu ủy họp lần thứ hai và định
ra chế độ họp thường kỳ 3 tháng một lần trong hai năm 1955 - 1956
để chỉ đạo phong trào được liên tục.
Cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đòi thả những người
của "Phong trào Hòa Bình Sài Gòn - Chợ Lớn" và đòi hiệp thương hai
miền tiếp tục phát triển mạnh.
(Theo sách Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 45-75)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐÔLA MỸ VÀ LỐI SỐNG MỸ
Sức nặng của đồng đôla và giá cả điên đảo
Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève, từ 1955 đến
1960, Mỹ viện trợ cho Diệm gần 2 tỷ USD. Dưới tác động của viện trợ
Mỹ, kinh tế của Sài Gòn phát triển khá nhanh theo chiều hướng kinh
tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Nhà máy mọc lên khá nhiều: 70%
trong tổng số 12.000 cơ sở công nghiệp của toàn miề n Nam tập trung
tạ i vùng Sài Gòn - Gia Định - Biên Hòa. Công cuộc sản xuất ở thành
phố sớm bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng, như phụ thuộc quá
lớn vào nước ngoài (Mỹ, Nhật...) về nguyên liệu, phụ tùng, thiết bị và
cả về Kỹ thuật; phát triển một cách què quặt (vì thiếu những ngành
then chốt như cơ khí chế tạo máy, hóa chất cơ bản, sản xuất nguyên
liệu kỹ thuật) và mất cân đối, không những không chú trọng toàn bộ
nền kinh tế mà ngày cả trong từng ngành, từng xí nghiệp (như thiếu
sợi cho công nghiệp dệt, thiếu bột giấy cho công nghiệp giấy...). Từ
khi chiến tranh lan rộng, những ngành nghề trực tiếp hay gián tiếp
phục vụ chiến tranh có điều kiện phát triển mạnh, còn nhiều ngành
nghề khá c bị chựng lại hay suy sụp. Mặt khác, do viện trợ, Mỹ cũng
buộc ngụy quyền Sài Gòn phải mua hàng của Mỹ rồi bán hàng đó mà
lấy tiền trả lương cho công chứ c, binh lính... khiến hàng sản xuất
trong nước không cân sức với hàng ngoại nhậ p.
Mười mấ y năm sau, các tác giả của Tài liệu mật Lầu Năm Góc
kể công: "Không có sự giúp đỡ của Mỹ, gần như chắc chắn là Diệm
không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở miền Nam trong thời
gian 1955 và 1956 (...) Không có việ n trợ của Mỹ trong những năm
sau đó, chắc chắn là chế độ Diệm (...) không thể sống sót được". Họ
kết luận một cách không úp mở : "Về cơ bản, miền Nam Việt Nam là
sản phẩm do Mỹ tạo ra".
Được Mỹ cố vấ n và tài trợ, chính quyền Diệm đáp lại những
nguyện vọng của nhân dân bằng đàn áp, khủng bố. Diệm đề ra "quốc

sách tố Cộng" (11-4-1955), dụ số 6 (11-1-1956) thành lậ p cá c trại tập
trung để an trí nhữ ng người bị xem là "nguy hại cho quốc phòng và
an ninh", luật 10/59 (6-5-1959) lập các tòa án quân sự đặc biệt chỉ xử
hai mức án: tử hình và khổ sai chung thân. Tài liệu mật của Lầu
Năm Góc ghi: "Trong cái gọi là chiến dịch tố Cộng bắt đầu từ mùa hè
1955, có từ 5 đến 10 vạn ngườ i bị bắt vào các trại giam". Đó là những
người yêu nướ c, trước đây đã kháng chiến giành độc lập tự do, nay
tiếp tục đấu tranh cho hòa bình thống nhất. Đặc biệt, nhiều cán bộ
lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định lần lượt bị Mỹ - Diệm
bắt giết như Trần Quốc Thảo, Nguyễn Trọng Tuyển, Đoàn Văn Bơ...
Để nắ m rõ tình hình và âm mưu của địch, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ
Lê Duẩn quyết định vào Sài Gòn. Từ tháng 6 đến tháng 12-1956,
đồng chí sống và làm việc tại nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh
(Đakao, quận 1) giữa sự bao bọc của đồng bào, đồng chí. Chính trong
lòng địch, đồng chí đã viết bản Dự thảo đề cương Đường lối cách
mạng miền Nam, khẳng định: "Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một
con đườ ng là vùng lên chống Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình.
Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó , không có con đường
nào khác". Và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chiến
quyền độc tài phát xít của Mỹ - Diệm" để "cùng toàn quốc thực hiện
hòa bình, thống nhấ t".
Để thực hiện ý đồ xâm lược Mỹ không tìm đâu ra đất trống giữa
đô thành đông dân để lập doanh trại, một mặt Mỹ thuê một số khách
sạn ở những khu vực "an ninh" (thường là ở các quận trung tâm của
Sài Gòn), mặt khác chi tiền cho các nhà thầu xây dựng mới một số
cao ốc. Sau khi ký hợp đồng với Mỹ và nhận trước tiền cho thuê trong
hai năm, các chủ thầu tiến hành xây dựng cấp tốc. Vì vậy, hầu hết
cao ốc này là những tòa nhà hình hộp với đường nét kiến trú c cực kỳ
đơn giản, hoàn toàn không có hoa văn cầu kỳ như các công trình xây
dựng dưới thờ i thuộc Pháp.
Quân Mỹ đổ vào Sài Gòn càng đông thì các cao ốc xây cho Mỹ
thuê mọc lên càng nhiều. Chỉ riêng đường Trần Hưng Đạo đã có
khoảng mười cao ốc từ 5 đến 10 tần mọc lên bên cạ nh những ngôi nhà
trệt hay hai, ba tầng xây dựng từ trước.

Luôn luôn sống trong nỗi lo sợ bị tấn công, Mỹ cho canh gác cá c
cư xá này một cách cẩn mật ngày đêm. Bất chấp vẻ thẩm mỹ của
cảnh quan đô thị, các cư xá này thường được che chắn bằng hàng rào
kẽm gai, tấm lưới chống B.40 và thùng phuy chứa đầy cát và xi-măng
để làm ụ chiến đấu khi cần!
Sau vụ Tòa đại sứ Mỹ bị quân giả i phóng tấn công hư hại nặng,
Mỹ treo bả ng cấm người đi bộ và người đi xe dừng lại trước cư xá Mỹ;
nếu không, lính gác Mỹ sẽ nổ súng. Đọc bảng cấm đó, người Sài Gòn
ai ai cũng phẫn nộ. Có tờ báo viết: "Thành phố này là của người Việt
Nam. Lính Mỹ là khách không mời mà đến, có quyền gì mà ra lệnh
cấm chủ nhà?". Một hôm, một chiếc xe lam chạy ngang một cư xá Mỹ
trên đường Hai Bà Trưng thì hỏng má y. Tài xế vừa bước xuống đất
định đẩy xe đi nơi khác thì lính gác Mỹ xả súng vào xe, khiến tài xế
và nhiề u hành khách chết tại chỗ. Những sự cố tương tự như thế xảy
ra như cơm bữa, không tháng nào không có.
Thực hiện chiến lược "hai gọng kìm: tìm - diệt và bình định", Mỹ
- Thiệu liên tục mở các cuộc hành quân càn quét ở nông thôn, ném
bom bắn phá xóm làng, xua đuổi hàng chục vạ n nông dân lìa bỏ
ruộng đồng, chạy lên Sài Gòn. Trên tạp chí Xây dựng mới số 5 xuất
bản ở Sài Gòn thá ng 9 - 1967, tác giải Phạm Hoàng Thanh viết: "Mỗi
ngày dân chúng ở quê lũ lượt kéo lên thành phố khiến dân số nơi đây
gia tăng một cách kinh khủng, có nơi mật độ lên tới 28.000 người một
cây số vuông. Người ta chen lấn giành giựt nhau từng tấc đất để xây
cất. Hiện giờ ở Sài Gòn, sau những cao ốc đẹp đẽ, có ai ngờ có hàng
ngàn hàng vạn ngôi nhà ván lợp tôn chèn ép nhau, tối tăm bẩn thỉu,
bên cạnh những ao tù nước đọng, những đống rác thối tha ghê tởm".
Báo cáo của Tổng cục gia cư ngụy quyền cũng thừa nhận: trong
những xóm nhà ổ chuột đó, người dân "sống trong cảnh thiếu thốn,
không thể tưởng tượng được, chen chúc bên cạnh những ao vũng, rắn
rết, thiếu từ không khí, vệ sinh, ánh sáng... thậm chí đến cả lối đi.
Mùa mưa thì bị ngập nước, sình lầ y nhơ nhớp, mùa nắng thì lo sợ hỏa
hoạn".
Những khu ổ chuộ t đó không chỉ làm mất vẻ mỹ quan của "thủ
đô" mà còn khó kiể m soá t về an ninh chính trị và trật tự xã hội. Vì
vậy, một số chung cư bắt đầu được xây dựng. Tuy có điện nước, đường
sá, cống rãnh... song cuộc sống không lấy gì làm thoải mái lắm trong

những căn hộ khá chật hẹp (nhất là đối với những gia đình đông
người) chồng chất lên nhau trên những diện tích không rộng lắm
(chung cư Ấn Quang gồm 850 căn hộ trên khu đất rộng 2,39ha; chúng
cư Bàn Cờ, 1.260 hộ/ 3,62ha; chung cư Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn
Kim: 2.445 hộ/5,06 ha; chung cư Minh Mạng: 3.150 hộ/10,82 ha). Khu
cư xá Thanh Đa được xây dựng trên diện tích khá rộng (36ha) ven bờ
sông Sài Gòn, cảnh trí nên thơ, bốn bề gió lộng, nên khắc phục đượ c
cảm giác tù túng của những chung cư trong nội thà nh. Khu cư xá này
gồm 31 tòa nhà 5 tầ ng, chứa được 4.074 hộ, thuộ c nhiều loại khá c
nhau (và giá bán cao, thấp khác nhau): có loại chỉ rộng 53m2, có loại
rộng tới 80m2, có loại cầu thang chung cho cả một tầng lầu, có loại
cầu thang riêng cho từng hai hộ...
Để giải quyết nạn khan hiếm nhà hết sức trầm trọng ở Sài Gòn
lúc đó, theo tính toán củ a ngụy quyền, thành phố cần xây mới 50.000
căn hộ và giả i tỏa 110.000 nhà ổ chuột. Thế nhưng, trong suốt 10
năm trời, chỉ có vẻn vẹn 15.700 căn hộ được xây.
Hai công trình kiến trúc lớn được xây trong những năm 1960 là
dinh Độc Lập (mới) và Tòa đại sứ Mỹ (mới).
Ngày 27-2-1962, hai trung úy phi công ngụy Nguyễn Văn Cử và
Phạm Phú Quốc (thuộc một tổ chức chống Diệm) đã ném bom dinh
Độc Lậ p trong 10 phút. Cánh bên trái của dinh bị hư hại nặng. Ngô
Đình Diệm cho san bằng dinh để xây lại mớ i hoàn toàn theo bản thiết
kế của kiến trúc sư tài ba Ngô Viết Thụ. Nhưng Diệm không được ở
dinh mới: ông ta bị nhóm tướng tá đảo chính giết chết ba năm trướ c
khi dinh mới khánh thành (31-10-1966). Dinh mớ i cao 4 tầng, gồm
100 phòng, được trang trí lộng lẫy, kinh phí xây dựng lên tới 2,7 triệu
đôla Mỹ.
Công trình thứ hai là Tòa đại sứ Mỹ ở góc hai đường Thống
Nhất (nay là Lê Duẩn - Mạc Đĩnh Chi), xây xong tháng 9-1967, để
thay cho Tòa đại sứ Mỹ cũ (ở số 39 đường Hàm Nghi) bị các chiến sĩ
biệt động thuộc đơn vị F.21 tấn công ngày 30-3-1965 làm hư hại
nặng.
Sứ quán mới là một tò a nhà lớn hình khố i chữ nhật, sơn màu
trắng, cao 6 tầng, gồm 140 phòng, được xây dựng hết sức kiên cố như

một pháo đào. Báo chí gọi là "Tòa nhà trắng ở phương Đông" vì tại
đây các kế hoạch chính trị và quân sự được bàn bạc và quyết định.
Để thu hút thanh niên Mỹ tham gia vào cuộc hiến tranh xâm
lược Việt Nam, Chính phủ Mỹ dành cho họ nhiều ưu đãi về vật chất.
Lương tháng của mộ t binh nhấ t Mỹ là 90 đôla (sau tăng lên 95đôla),
nghĩa là bằ ng thu nhập bình quân của một người Sài Gòn trong một
năm. Chưa hết, nhờ mua đi bán lạ i hàng PX (hàng được Chính phủ
Mỹ trợ giá), thu nhập của lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam tăng lên
gấp nhiều lần lương chính thức. Do đó, họ mặc sức tiêu pha gây đảo
lộn trong sinh hoạt kinh tế - xã hội của thành phố.
Trước hết là tình trạng phân hó a ngày càng sâu sắc trong xã
hội. Giữa lúc đại đa số nhân dân lao động, trí thức... vật lộn hết sứ c
khó khăn với đời sống hằ ng ngà y do vậ t giá không ngừng leo thang,
thì một bộ phận trong dân cư thành phố trở nên giàu có nhanh chóng.
Đó là những người sống bằng những nghề phục vụ cho các nhu cầu ăn
ở, đi lại, chơi bời... của lính viễn chinh, từ những chủ thầu cung cấp
hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ... đến bọn
ma cô, gái điếm, gái nhảy, gái tắm hơi, gái bán "bar"... Sự phân hóa
về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các bậc thang giá trị truyề n thống
trong xã hội: "thứ nhất là sở Mỹ, thứ nhì là gái đĩ, thứ ba bọn ma cô,
thứ tư tướng tá ngụy".
Hàng Mỹ và hàng các nước và lãnh thổ trong phe Mỹ (Nhật,
Nam Triều Tiên, Đài Loan...) được nhập trà n lan hoặc được tuồn từ
các cử a hàng PX của quân viễn chinh vừ a sang, vừa rẻ, đã bóp chết
nhiều ngành sản xuất thủ công và nửa cơ giới truyền thống của
thành phố. Nhiều nhà sản xuất hàng nội hóa muốn tồn tại phải chấp
nhận hạ giá hàng (như 1kg xà bông giá 66,6đ (1965) hạ còn 44,7đ
(1966), 1 tạ đường cát giá 2.745đ (1965) hạ còn 2.580,6đ (1966)... Đặc
biệt nghề dệt - vốn là một thế mạnh của thành phố với những xóm
dệt nổi tiếng ở Tân Bình, Gò Vấp... bị giáng một đòn trí mạ ng: "Hàng
vạn khung cửi phải ngừng hoạt động, hàng tỉ bạc đầu tư trong máy
móc bỗng nhiên trở thành vô dụng và hàng chục ngàn thợ phải từ bỏ
lãnh vực sản xuấ t bước sang lãnh vực khác". "Bướ c sang lãnh vực
khác" chẳng qua là một lối nói "tế nhị" nhằm tránh bị kiểm duyệt,
trong thực tế, đông đảo những người thợ dệt này đã gia nhập vào đạo

quân thất nghiệp của thành phố (đông đến 30 vạn người vào tháng 2-
1966).
Chiến tranh càng leo thang, nạn lạm phát càng nghiêm trọng
(bá o chí gọi là "lạm phát phi mã"): 140 tỷ (1969), 162 tỷ (1970), 187,4
tỷ (1971), tỷ lệ gia tăng bình quân hằng năm là 15%.
Để đối phó, Thiệu - Kỳ không cò n biện pháp nào khác hơn là
phá giá đồng bạc và tăng thuế.
Ngày 17-6-1966, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban hành pháp
trung ương, Nguyễn Cao Kỳ ký hai sắc lệnh 001/66 và 002/66 quy
định 1 đôla Mỹ ăn 118 đồng (trướ c đó 1 đôla tương đương 60 đồng).
Trên chợ đen, giá 1 đôla Mỹ lên tới 270 đồng và không ngừng tăng
đến 360đ (1969), 414đ(1971), 640đ (1974), 700đ (1975).
Hậu quả tức thời của biện pháp phá giá đồng bạc là cả mọi hàng
hóa đều tăng vọt. Theo thống kê của Ngân hàng quốc gia ngụy, giá
một số thực phẩ m vào cuối năm 1965 và cuối năm 1967 như sau:
1kg thịt gà tăng từ 96 đồng lên 309 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg thịt vịt tăng từ 63 đồng lên 203 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg tôm tươi tăng từ 62 đồng lên 216 đồng (gần 3,5 lần).
Người dân lao động Sài Gòn không dám động đến các món
hàng "cao cấp" nói trên, nhưng họ không thể không ăn cơm với rau
trong bữa ăn hàng ngày. Thế nhưng giá cả các thực phẩm thiết yếu
này cũng tăng không dưới 3 lần (vẫn theo thống kê của cơ quan ngụy
quyền nói trên):
1kg gạo sóc nâu từ 9,03đ lên 27,83đ (hơn 3 lần).
1 kg rau muống từ 7đ đến 21đ (gấp 3 lầ n).
Mặt khác, như báo Điện tín ngày 5-12-1973 viết: " với nhu cầu
ngân sách gồm những cho phí cực nặ ng trên lĩnh vực quốc phòng...
người dân sẽ phải hứng đỡ gánh nặng thuê khóa bằng tất cả mọi tàn
lực của mình". Thật vậy, chính quyề n Thiệu không ngừng tăng thuế
cũ và đặt thêm thuế mới: thuế nhà hàng (31-3-1966), thuế lương bổng
(3-9-1966), thuế lợi tức (3-9-1966)... để ngày càng vơ vét tài lực của

người dân: từ 77 tỷ (1969), 97 tỷ (1970) lên 126 tỷ (1973), 240 tỷ
(1974)!
Tức nước phải vỡ bờ, công nhân và nhân dân lao động thành
phố lập các tổ chức như Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, Ủy ban
đấu tranh chống sa thải công nhân, Ủy ban cải thiện đời sống công
nhân, v.v... để đòi chính quyền Thiệu và giới chủ phải tăng lương, hạ
giá sinh hoạt, chống đuổi thợ dưới bất kỳ hình thức nào và nhất là đòi
Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân về nước vì đó là
những nguyên nhân của mọi khổ đau về vật chất và tinh thần của
dân ta.
Lối sống sa đọa và trụy lạc
Để "giúp vui" cho đạo quân viễn chinh, Mỹ - Thiệu cho phé p mở
cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và
nhất là nhà chứa, nhan nhản khắ p Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh
các cư xá Mỹ. Thị trường mại dâm - được gọi một cách nôm na là "chợ
heo" - được Mỹ - Thiệu công khai hóa và hợp phá p hóa. Năm 1966, từ
Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã
biến Sài Gòn thành một ổ điếm". Câu nói đó tuy có xúc phạm đến thể
diện và danh tiếng của thành phố, song đã phản ánh một thực tế đau
lòng. Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: "Tại chợ heo đó, hằng
ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng... cho lính
Mỹ đế n chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là
nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam".
Lối sống dâm ô trụy lạc, không chỉ là hậu quả tất nhiên của sự
có mặt của hàng ngàn, hàng vạn lính viễn chinh đú đởn và lắm tiền,
nó còn nằm trong chủ trương thâm độc của Mỹ - Thiệu muốn sa đọa
hóa thanh niên Việt Nam hòng làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh
đất nước đang bị xâm lược, quay lưng lạ i với nghĩa vụ đối với dân tộc.
Từ chủ trương đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu
dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp kém của
người đọc, đề cao bản năng thú tính, công khai cổ vũ cho lối sống
hưởng thụ, xem việc thỏa mãn tính dục là mục đích tố i thượng của
cuộc đời. Bên cạnh những phim "con heo", báo chuyên in hình phụ nữ
khỏa thân (như Play-boy, Penthouse, Nude...) bày bán công khai trên
vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý... ở ngay trung tâm thành phố, là

những tiểu thuyết Yêu, Sống, Loạn... của Chu Tử, Cậu chó, Chú Tư
Cầu, Đêm không cùng... của Lê Xuyên và những truyện ngắn, truyện
dài khiêu dâm của các tác giả khác như Mai Thảo, Dương Nghiễm
Mậu, Thụy Vũ, Túy Hồng...
Sự có mặt của quân Mỹ cũng như chủ trương nói trên của Mỹ -
Thiệu gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa -
tinh thần của thành phố . "Sự sa đọa, sự trụy lạc trong xã hội... đã gây
ra biết bao thảm cảnh gia đình, bao nhiêu đổ vỡ hạnh phúc, bao
nhiêu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày
nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, đâm
chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp..."
Bảo vệ văn hóa dân tộc
Chống lại âm mưu đồi trụy hóa xã hội của Mỹ - Thiệu, nhân
dân Sài Gòn nhanh chóng thành lập các tổ chức quần chúng rộng rãi
như Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và
quyền lợi phụ nữ, Hội bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên..., xuất bản
các tạp chí Tin Văn, Hồn Trẻ, Tiếng Nói Trí Thức..., tổ chức nhiều
buổi diễn thuyết, hội thảo, ra tuyên ngôn, nghị quyết vạch rõ: chính
chiế n tranh xâm lược và sự hiện diệ n của quân viễn chinh là nguyên
nhân dẫn tới những đổ vỡ trong đời sống văn hóa - tinh thần của Sài
Gòn nói riêng và toàn miền Nam nói chung: "Hiện tượng văn hóa đồi
trụ y lúc này thể hiện rõ nhất, tai hại nhất ở khía cạnh khêu gợi bản
năng dục tính, khuấy động thú tính. Trong văn chương thì rõ nhất,
nhưng không phải chỉ có văn chương bao gồm báo chí, mà cả hội họa,
âm nhạc, điện ảnh, ca kịch nữa. Nguyên nhân là chiến tranh và
người ngoại quốc (ám chỉ lính Mỹ) quá đông, là sự nhập cảng những
tác phẩm văn nghệ, phim ảnh kiểu sexy, cũng là tinh thần vô trách
nhiệm của những văn nghệ sĩ vong bản".
Người tiêu biểu nhất cho đám "văn nghệ sĩ vong bản" đó là Chu
Tử. Các nhà phê bình văn học như Vũ Hạnh, Lữ Phương,... đã phê
phán Chu Tử phục vụ cho chủ trương đồi trụy hóa xã hội của Mỹ -
ngụy. Sinh viên tổ chức "phiên tòa" để "xử án" Chu tử và quyết định
thiêu hủy cá c tiểu thuyết độc hại của ông ta. Mỹ - Thiệ u ra mặt bênh
vực Chu Tử, bắt giam Vũ Hạnh và định bắt Lữ Phương, nên Lữ
Phương phải ra bưng tham gia Liên minh các lực lượng dân tộ c, dân
chủ và hòa bình.

Trong suy nghĩ của người Sà i Gòn, cách tốt nhất để chống lại
những tác hạ i của chủ trương văn hóa đồi trụy, phản động là xây
dựng một nền văn hóa dân tộc, tiến bộ và lành mạnh.
Phong trào hát sử ca (những bài hát ca ngợi các sự kiện oanh
liệt trong lịch sử dân tộc như Hội nghị Diên Hồng, các chiến thắng
Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa...) và kháng chiến ca (những bài hát
sáng tác trong thời kỳ chống Pháp) lan nhanh trong các trường phổ
thông và đại học, làm sống lại truyền thống đấu tranh bất khuất của
dân tộc ta. Sinh viên học sinh phá t động phong trào Hát cho đồng bào
tôi nghe phổ biến những bài hát do chính sinh viên sáng tác, phản
ánh thực tiễn đấu tranh phong phú của các tầng lớp nhân dân Sài
Gòn (như Người mẹ Bàn Cờ, Tự nguyện, Dậy mà đi, Tổ quốc ơi ta đã
nghe...). Sinh viên học sinh còn trình diễ n các vở kịch (như Tiếng gọi
Lam Sơn, Tiếng trố ng Hà Hồi, Hàm Tử quan, Diêm Vương xử án Sáu
Thẹo (ám chỉ Nguyễ n Văn Thiệu)..., các nhạc cả nh (như Tiếng trống
hào hùng, thảm cảnh Mỹ Lai, Làm thân cỏ cú, Công trường chiều
nay...) rất được quần chúng tán thưởng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Tô
Vũ nhận xét: "Trong lịch sử âm nhạc cách mạng, hiển nhiên phong
trào Hát cho đồng bào tôi nghe với sự hưởng ứng rộng rãi của quần
chúng đô thị, với hàng loạt bài hát xuất sắc, đã chiếm lĩnh một vị trí
đẹp đẽ mà giới nghệ thuật nói chung, ngành âm nhạc nói riêng, có thể
tự hào".
Phát huy tác dụng của phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe,
sinh viên học sinh Sài Gòn tổ chức những đêm không ngủ bên ánh
lửa trại để ca hát và hội thảo về các chủ đề: Hát cho hòa bình Việt
Nam, Đốt lửa lên cho rõ mặt kẻ thù...
Bất chấp lưỡi kéo kiểm duyệt của Mỹ- Thiệu, khi Bác Hồ qua
đời, nhiều trí thứ c, nhà văn, nhà báo đã công khai ca ngợi công đức
của vị lãnh tụ kính yêu ( như nói chuyện với người đã khuất của Lý
Chánh Trung, chói sáng như mặt trời của Lưu Nghi...) Các bài
nghiên cứu của nhà sử học Trương Bá Cần như Từ cách mạng tháng
mười đến Cách mạng tháng tám, hai mươi lăm năm xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc...được dân Sài Gò n hoan nghênh, còn Mỹ-
Thiệu thì run sợ, đưa tác giả ra tòa, tịch thu sách báo...
Mặc cho Mỹ- Thiệu đàn áp khủng bố, những nhà bá o chân
chính vẫn anh dũng phản ánh nhữ ng suy nghĩ của người Sài Gòn

trên mặt báo công khai qua các bài như Lòng dân ( của Thanh Giang,
báo Thân Dân),Những ngày tàn của cuộc chiến (của Giang Nguyên,
báo Tin Lửa), Viễn Cảnh hòa bình mới ở Việt Nam ( củ a Phạm Hồng,
báo Tin Lửa)...
Văn hóa trở thành mặt trận
Sài Gòn là nơi tập trung nhiều tờ báo nhất nước. Ngoài những
tờ vô thưởng vô phạt nặng về kinh doanh, báo chí Sài Gòn lúc đó có
hai lập trường chính trị đối lập hẳn nhau.
Lập trường thứ nhất là chống Cộng, chống hiệp thương tổng
tuyển cử, kêu gào "lấp sông Bến Hải" để mở cuộc "Bắc tiế n". Những tờ
báo có lập trường này đều nhận tiền của Mỹ - Diệm, như các tờ: Cách
mạng quốc gia, Tự Do, Dân Tộc, Ngôn Luận, Tin Bắc, Tin Mới, v.v...
hô hào chống cộng lớn nhất là số ký giả di cư như Tô Văn, Vũ Bắc
Tiến, Hiếu Chân (Nguyễ n Hoạồt), Phạm Việt Tuyền...
Sau chín năm khó i lửa, người dân Sài Gòn hiểu thế nào là giá
trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, nên họ ủng hộ những tờ báo chủ
trương thực hiện đầy đủ Hiệp định Genè ve như các báo Công Lý,
Điện Báo, Duy Tân, Nhân Loại, Gọi Đàn, Hừng Sáng, Bình Minh,
v.v... Tất cả những tờ báo này đều có sự cộng tác - tất nhiên là rất kín
đáo - của những cán bộ kháng chiến như Nguyễn Văn Hiếu, Dương
Tử Giang, Lý Văn Sâm, Lý Văn Sinh, Trường Xuân Thúc, Tô Nguyệt
Đình, Thanh Giang, Nguyễ n Khắc Công, Văn Phụng Mỹ, Trần Ngọc
Sơn, Hương Ngô, v.v...
Báo chí trở thành một mặt trận đấu tranh chính trị quyết liệt.
Các nhà báo kháng chiến càng được bạn đọc Sài Gòn mến mộ thì Mỹ
Diệm càng "để ý" đến họ. Ái Lan, Hương Nam, Trần Thanh Thế,
Nguyễn Văn Mại, Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm... bị bắt; Trần Ngọc
Sơn, Anh Hoàng... bị đày ra Côn Đảo và hy sinh ở ngoài đó.
Lúc đầu sau chiến tranh kết thúc, các đoàn cải lương hoạt động
rộn rịp hẳn lên. Bên cạ nh các đoàn của Sài Gòn, còn có các đoàn ở các
tỉnh lên thành phố trình diễn. Ngoài ra, còn mấy đoàn từ ngoài Bắc
vào như Kim Chung, Bích Hợp, Phụng Khánh... hát cải lương theo
giọng Bắc.

Nhiều đoàn cải lương tiến bộ chuyên dàn dựng các vở về đề tài
lịch sử, ca ngợi truyền thống chống xâm lược của dân tộc như Bạch
Đằng Giang nổi sóng, Hỏa hồng Nhật Tảo, Ngược sóng Phù Luông,
Tiếng sấm Phú Kinh, Cứu lấy non sông... hoặ c khoác lên sự kiện cũ
một ý nghĩa thờ i sự (chẳng hạn, vở Lấp sông Gianh không chỉ phê
phán cuộc phân tranh của hai dòng họ phong kiến Trịnh - Nguyễn
mà chủ yếu là lên án âm mưu của Mỹ - Diệm muốn kéo dài tình
trạng chia cắt đất nước, chố ng hiệp thương tổng tuyển cử tái thống
nhất Tổ quốc). Vì vậy, giữa lúc đoàn Kim Thoa đang diễn vở nà y tại
rạp Nguyễn Văn Hảo, Mỹ - Diệm cho ném lựu đạn lên sân khấu
khiế n nghệ sĩ Ba Cương và nhiếp ảnh viên Nguyễn Mai chết tại chỗ,
nghệ sĩ Duy Lân và hàng chục người khác bị thương nặng.
Sân khấu Đuốc Việt ở Phú Nhuận cũng bị đốt vì diễn vở Bứt
xiềng nô lệ.
Diệm ra lệnh cấm diễn các vở có nội dung tiế n bộ như Người
mặt cháy, Nhụy hoa lan...
Nhiều soạn giả và nghệ sĩ cải lương bị bắt như Phạm Trần (Phi
Vân), Năm Châu, Tám Cao... Soạn giả Trần Hữ u Trang bị truy lùng,
đến 1960 phải rời thành phố ra vùng giải phóng.
(300 năm Sài Gòn-TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ
Ở VIỆT NAM
Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo dài tháng 7/1954 đến
tháng 5/1975 qua năm đời tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi,
Giônxơn, Nichxơn, Pho) điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân
mới và chiến tranh xâm lược của Mỹ. ("Chiến tranh đơn phương",
"Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ", Chiến tranh "Việt Nam
hóa"). Chúng đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam tới 676
tỉ đôla (so với 341 tỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỉ trong
chiến tranh Triều Tiên), và nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới
920 tỉ. Chú ng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi
kéo 5 nước ở châu Á - Thái Bình Dương tham chiến với số quân lú c
cao nhất là hơn 7 vạn người vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và
làm nòng cốt cho hơn một triệu quân tay sai ở miền Nam. Chúng đã
giội xuống hai miền đất nước ta hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối
lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạ n mà chung đã sử dụng trong
bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó.
Chú ng tôi xin giới thiệu vài chiến lược tiêu biểu mà đế quốc Mỹ
đã thực hiện tại Việt Nam.
Chiến lược "Chiến tranh đặ c biệt" của Mỹ
Thắng lợi của phong trào "Đồng Khởi" của nhân dân ta ở miền
Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khủng hoảng triền
miên. Chiế n lược "Chiến tranh đơn phương" của Aixenhao được thự c
thi ở miền Nam đã bị phá sản.
Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang cuồn cuộn
dâng lên, làm sụp đổ từng mảng lớn của hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa thực dân.

Trước tình hình trên, G. Kennơđi lên làm Tổng thống Mỹ đã
phải điều chỉnh lại chủ nghĩa Aixenhao. Kennơđi đề ra chiến lượ c
"phản ứng linh hoạt" thay cho chiến lược "trả đũa ồ ạt" với ba loại
chiế n tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh
tổng lực. Hai kiểu chiến tranh trên được coi là "chiến tranh hạn chế".
Mục đích của "Chiến tranh đặc biệt" (còn gọi là "chiến tranh thứ ba",
"chiến tranh chống du kích", "chiến tranh lật đổ") là chống lại phong
trào giải phóng dân tộc. Công cụ để tiến hành chiến tranh là lực
lượng quân sự người bản xứ do Mỹ trang bị và chỉ huy; tiền bạc, vũ
khi trang trị của Mỹ là công cụ chủ yếu của chiến tranh đặc biệt.
Chú ng coi đó là hình thức linh hoạt, kịp thời để đối phó có hiệu quả
đối với phong trào giải phóng dân tộc. Cùng ngày nhận chức Tổng
thống Mỹ, 20-1-1961 Kennơđi chính thức công bố học thuyết mới và
chọn Việt Nam làm nơi thí điểm "chiến tranh đặc biệt". Kennơđi đã
chấp nhận viện trợ cứu nguy chế độ Diệm và đưa 19.000 quân chiến
đấu, dưới tên gọi cố vấn quân sự, sang Việt Nam. Kennơđi coi Việt
Nam là tuyến cuối cùng chống cộng sả n ở Đông Nam Á và nếu Mỹ rút
khỏi Việt Nam thì sự sụp đổ sẽ diễn ra ở cả khu vực Đông Nam Á!
Ngày 8-5-1961, chính sách đối với Việt Nam đã được chính thức phê
chuẩn và mang tên NSAM-52 với nội dung chủ yếu: Tăng cường và
mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm hộ của phái đoàn cố
vấn quân sự MAAG; đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam
Việt Nam, giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặt biên giới,
chống miề n Bắc thâm nhập; tăng cường mở rộng, cải tiế n trang bị và
huấn luyện quân đội, coi đó là công cụ chủ yếu để chống chiến tranh
du kích; khẩn trương bình định, lập "ấp chiế n lược" hòng dồn hơn 10
triệu người dân miền Nam vào các trại tập trung trá hình để thự c
hiện "Tác nướ c bắt cá", cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; ra
sức củng cố chính quyề n các cấp và đẩy mạnh các hoạt động chiến
tranh phá hoại chống lại miền Bắc. Ngày 11-5-1961, Mỹ đưa 400 tên
lính đầu tiên thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam, nâng tổng
số quân Mỹ ở miền Nam từ 1077 cố vấn quân sự (1960) lên 10640
(1962) - gồm 2360 cố vấn và 8280 tên thuộc các đơn vị kỹ thuật.
Tháng 4-1961, Mỹ tiến hà nh cải tổ hệ thố ng tổ chức chiến trường: bỏ
các quân khu, lập ba vùng chiến thuật, do các quân đoàn chủ lực đảm
nhiệm với đủ các thành phần quân địa phương, binh chủng yểm trợ,
chỉ huy; dưới là các tiểu khu (tỉnh) và các chi khu quân sự (huyện
hoặc quận). Cố vấn Mỹ có mặt ở các cấp đến tận các tiểu khu, cá c

trung tâm huấn luyện, các cơ quan tác chiến, các cấp tiểu đoàn, các
biệt khu - chi khu chủ yếu. Chúng tăng cường trang bị cho quân đội
Sài Gòn nhiều máy bay, xe bọ c thép, vũ khí hiện đại và đưa dần lự c
lượng không quân, hậu cần yểm trợ Mỹ vào miền Nam. Diệm đã cử
người học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dầ n dân lập "ấp chiến lược"
ở Malaixia, Philippin về để đàn áp cách mạng. Mỹ cho mời Tômxơn
(Thomson) - chuyên gia quân sự chống du kích của Anh tại Malaixia,
sang làm cố vấn "bình định". Năm 1961, quân củ a Diệm tăng lên 17
vạn người, 5 vạn bảo an dân vệ và 85 đại đội đặc biệt. Đồng thời, Mỹ -
ngụy tăng cường bắt lính, tăng thời hạn quân dịch từ 12 đến 18
tháng. Được Mỹ hỗ trợ, quân đội Sài Gòn đã mở 2 vạn cuộc càn quét
quy mô (từ tiểu đoàn đến trung đoàn), đánh phá ác liệt phụ c vụ cho
việc gom dân lập ấp chiến lược. Chúng cò n dự định tăng quân của
Diệm lên 27 vạn người. Tháng 6-1961, Kennơđi cử E.Xtalây sang
miền Nam Việt Nam. Xtalây đưa ra một kế hoạch chiến lược gồm ba
điểm: 1- Dự kiến trong vòng 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối
năm 1962) sẽ lập được 16.000 ấp chiến lược, đánh phá cơ sở cách
mạng, cơ bản bình định được miền Nam; 2- Dự kiến trong năm 1963
sẽ khôi phục nền kinh tế, phát triển lực lượng, tiến hành các hoạt
động gây rối, phá hoại làm mất ổn định miền Bắc; 3-Chuyể n sang
phát triển kinh tế và dự kiến đến cuối năm 1965 miền Nam sẽ trở
thành một quốc gia mạnh của "thế giới tự do".
Tháng 5-1961, Mỹ quyết định tăng gấp hai lần việ n trợ quân sự
cho Diệm. Ngày 14-11-1961, Kennơđi chuẩn y kế hoạch Xtalây và
những kiến nghị của Taylo (Taylor) (trừ 2 điể m là đưa lực lượng đặc
nhiệm Mỹ vào miền Nam và ném bom miền Bắc). Sau một năm thăm
dò thử nghiệm, kế hoạch này được hoàn chỉnh dần. Ngày 8-2-1962,
Mỹ thiết lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (gọi tắt là MACV,
thay cho phái đoàn MAAG). Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt Mỹ cũng
được thành lập. Lực lượng không quân, hậu cần cũng dần dần được
đưa vào miền Nam. Đầu năm 1962, kế hoạch Xtalây - Taylo được tiến
hành toàn diện. Cuối năm 1962, lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ đã
lên tớ i 11300 tên, lực lượng quân của Diệm cũng tăng lên 354000
người. Thá ng 7-1961, đợt thí điểm lập ấp chiến lược được triển khai ở
Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ). Đến tháng 8-1961,
chúng triển khai kế hoạch này trên toàn miền Nam. Kế hoạch này
được chúng coi là "quốc sách", dự định dồn 10 triệu ngườ i dân vào
16000 ấp chiến lược, trong tổng số 17000 ấp trên toàn miền Nam. Ở

những vùng chúng nắ m được quyền kiểm soát, chúng dùng sức mạnh
của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét dồn dân lập
"ấ p chiến lược". Ở những vù ng chúng không kiểm soát được, chúng
dùng quân đội đánh phá bao vây, cô lập, càn quét, buộc dân phải chạy
vào vùng chúng kiểm soát. Chúng còn tiến hành các cuộc hành quân
càn quét dài ngày đánh vào vùng Bến Cát, Tây Ninh, vùng giải phóng
Bình Định, Phú Yên, các căn cứ U Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Só c
Trăng, Long An, chiến khu Đ. Chúng dùng xe rải bom đạn chà xát
nhiều lần, đánh vào từng khu vực, chia thà nh từng lô để khống chế,
biến những "ấp chiến lược" thành điểm tựa phòng thủ chống cộng.
Đối với Campuchia, Mỹ xúi giục và vũ trang cho bọn phản động tiến
hành các hoạt động phá rối (kể cả ám sát nhà vua), bạo loạn nhằm
thực hiệ n âm mưu cướp chính quần, lật đổ chính phủ hòa bình trung
lập, gạt bỏ ảnh hưởng của Pháp. Ở Lào, Mỹ đưa lực lượng lính thủy
đánh bộ vào Thái Lan, sẵn sàng tham chiến ở Là o và thúc ép chính
quyền Sài Gòn đưa quân vào Đông Nam Lào để ngăn chặn đường tiếp
tế của ta từ Bắc vào Nam. Từ giữa năm 1961, quân đội phái hữu Lào
từ 3 vạn tăng lên 5 vạn với 11600 cố vấn Mỹ, chúng thúc đẩy bọn
phản động lấn chiếm vùng giải phóng Lào. Trên thực tế từ năm 1961,
cùng vớ i việc thực hiện "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, Mỹ còn
tiến hành "chiến tranh đặc biệt" cả ở Lào.
Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ
Đầu 1965, cuộc "chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ tiến hà nh chống
lại nhân dân ta ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước
nguy cơ thất bạ i hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân
viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam,
đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược "chiến tranh
cục bộ" ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
"Chiến tranh cục bộ" là loại hình chiến tranh xâm lược thực
dân mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng
lực) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng
linh hoạt". "Chiến tranh cục bộ" bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến
hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước
thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quân của chính
quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không
ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.

Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000
người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của
các nước thân Mỹ. Đó là chưa kể 70.000 lính hải quân và không quân
trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippin, Thái Lan và Hạm đội 7
luôn sẵn sàng tham chiến ở miề n Nam.
Sau khi đã đưa một đại đội máy bay F.105 và o Biên Hòa và một
tiểu đoàn tên lửa phòng không "Hố c" vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965,
Mỹ cho hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 9 lính thủy đánh bộ từ Ôkinaoa
vào Đà Nẵng, mở đầu việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam
Việt Nam.
Ngày 26-6-1965, Oétmolen được Chính phủ Mỹ cho phép đưa
quân Mỹ ra trận "khi nào thấy cần thiết".
Ngày 17-7-1965, khi Giônxơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu
đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhậ n chiến lược "tìm diệt"
của Oétmolen, một quyết định đã "vượt quan ngưỡng cửa bước vào
cuộc chiế n tranh trên bộ ở châu Á", thì cuộc chiến tranh xâm lược của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới - giai đoạn
"chiến tranh cục bộ".
Tiến hành "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, Mỹ nhằm thự c
hiện âm mưu:
Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo
được chủ lực ta bằng chiến lược quân sự mới "tìm diệt", cố giành lại
thế chủ động trên chiến trường, đẩ y lực lượng vũ trang của ta trở về
phòng ngự , buộc ta phải phân tá n đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới,
làm cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần. Mở rộng và củng cố hậu
phương của chúng, lập đội quân "bình định" kết hợp hoạt động càn
quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp; tung tiền, đổ của
nhiều hơn nữa, cố thực hiện cho kỳ được "mặt trận thứ hai" nhằm
"tranh thủ trái tim của nhân dân", thự c chất là giành lại dân (trước
hết là nông dân ở vùng đượ c giải phóng), bắt họ trở lại ách kìm kẹp
tàn bạo của Mỹ - ngụy.
Ỷ vào ưu thế quân sự vớ i đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực
mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn
chinh mở ngay cuộc hành quân "tìm diệt" tiến công đơn vị quân giải

phóng ở Vạn Tường - Quảng Ngãi (8-1965). Tiếp đó, Mỹ mở liền hai
cuộc phản công chiến lượ c trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -
1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào "đất thánh Việt cộng".
Chiến lược "Việt Nam hóa" của Mỹ
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập
kích chiến lược Tết Mậu Thân, là đòn bất ngờ góp phần quyết định
chiề u hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, làm
phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, làm chấn động dư
luận nước Mỹ và thế giới.
Sau đòn bất ngờ Tết Mậu Thân, phong trào chống chiến tranh
xâm lượ c Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước của nhân dân dấy
lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết định đòi rút tất cả
quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thờ i hạn ngắn nhất.
Lợi dụng tâm lí chống chiến tranh, mong muốn sớ m chấm dứt
cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đổi mớ i tình hình chính trị -
xã hội nước Mỹ, Níchxơn tung ra lời hứa chấm dứt chiến tranh trong
vòng 6 tháng và sẽ có những thay đổi trong chính sách đố i nội, đối
ngoại của nướ c Mỹ, để mong trúng cử tổng thống trong kỳ bầu cử cuối
năm 1968.
Sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà Trắng
(đầu năm 1969), Níchxơn đã cho ra đời học thuyết mang tên mình -
"Học thuyết Níchxơn" và tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lượ c
Đông Dương.
"Học thuyết Níchxơn" với chiến lược quân sự tương ứng "Ngăn
đe thự c tế" được thay thế cho chiến lược toàn cầu "phản ứng linh
hoạt" của Kennơđi đã bị phá sản. Đề ra học thuyết mớ i, chiến lượ c
toà n cầu mới, tập đoàn Níchxơn mưu toan khôi phục lại sức mạnh
của Mỹ, cố giữ vai trò "sen đầm quốc tế", vai trò lãnh đạo "thế giới tự
do", cố bám lấy những lợi ích đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.
"Học thuyế t Níchxơn" được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và
Đông Dương, là nơi Mỹ đã từng dùng làm điểm khởi đầu thực hiện
chiế n lược toàn cầu "Phản ứ ng linh hoạt" (1961 - 1968) và cũng đã trở
thành điểm kết thúc chiến lược đó. Học thuyết này được vận dụng cụ
thể trong những chiến lượ c chiến tranh ở từng nước. Ở Việt Nam, đó

là chiến lược "Việt Nam hóa" chiến tranh; ở Lào - "Lào hóa" chiến
tranh; ở Campuchia - "Khơme hóa" chiến tranh và trên toàn Đông
Dương là "Đông Dương hóa" chiến tranh.
Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương "phi
Mỹ hóa" chiến tranh củ a Giônxơn. Chiến lược "Việt Nam hóa" chiến
tranh của Níchxơn giống chủ trương "phi Mỹ hóa" chiến tranh của
Giônxơn ở chỗ: rú t dần quân Mỹ ra khỏi Đông Dương, tránh những
tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, trong lú c vẫn bám giữ
miền Nam Việt Nam.
"Việt Nam hóa" chiến tranh hay "phi Mỹ hóa" chiến tranh, như
tên gọi của nó, về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh giữa nhữ ng người
Việt Nam với nhau. Âm mưu cơ bản củ a Mỹ vẫn là "dùng người Việt
đánh người Việt", "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương"
với bom đạn, đôla Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi ích củ a Mỹ.
Mỹ rút quân không chỉ ở lời tuyên bố như của Giônxơn (3-1968)
mà cả trên thực tế, bắt đầu từ sau trận đòn Tết Mậu Thân (1968).
Nhưng không phải vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam và Đông Dương đã "tàn lụi" dần. Trái lại, cuộc chiến tranh của
Mỹ dưới thời Níchxơn càng được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông
Dương. Có điều khác với Giônxơn, là Níchxơn đã tận dụng triệt để
xương má u của người bản xứ vào những mục tiêu chiến lược ở Việt
Nam và Đông Dương. Với "Việt Nam hóa" chiế n tranh, xương máu
của người Mỹ có giảm, nhưng vai trò "cố vấn" của Mỹ ngày càng quan
trọng, nhữ ng điều kiện vật chất của Mỹ để thực hiện chương trình
"Việt Nam hóa" chiến tranh ngày càng lớn.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của "Việt Nam hóa" chiến tranh,
quân Mỹ vẫn còn giữ vai trò quan trọng, cùng với quân đội Sài Gòn là
hai lực lượng chiến lược: quân Mỹ là chỗ dựa của quân đội Sài Gòn và
của "Việt Nam hóa" chiến tranh còn quân đội Sài Gòn là công cụ chủ
yếu để thực hiện "Việt Nam hóa" chiến tranh.
Để đạt được mục tiêu chiến lược của "Việt Nam hóa" chiến
tranh, Níchxơn đưa ra thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là
"chiến tranh giành dân", "chiến tranh hủy diệt", "chiến tranh bóp
nghẹt", trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ,
kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt.

Khi triển khai chương trình "Việt Nam hóa" chiến tranh, một
yêu cầu trọ ng tâm được các nhà chiến lược Mỹ nêu lên là bằng mọi
cách "bình định", cho được vùng nông thôn rộng lớn miền Nam, thự c
hiện cái gọi là "chiến tranh giành dân" ("tranh thủ nông dân chống
lại Việt Cộng").
Chính sách "bình định" trong tất cả cá c thờ i kì của cuộc chiến
tranh được nâng lên thành "quốc sách". Tuy nhiên, dưới thời Kennơđi
và nhất là thời Giônxơn, vẫn lấy việc tiêu diệt các lực lượng cách
mạng làm mục tiêu đầu tiên. Đến thời Níchxơn, "quốc sách bình
định" được nâng lên thành lí luận và dùng là m cơ sở cho chiến lượ c
"Việt Nam hóa".
Để thực hiện cái gọi là "quốc sách bình định", chính quyền
Níchxơn đã giúp chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ thống chính
trị và vũ trang ở cơ sở cho hoàn chỉnh, được huấn luyện theo kiểu
thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, tạo cho chính quyền Sài Gòn
một cơ sở xã hội kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ và chính quyền Sài
Gòn đã thực thi chương trình "cải cách tiền địa", ban hành "Luật
người cày có ruộng" (26-3-1970) nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột phong
kiến, chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ nghĩa, "giúp nông
dân có ruộng đất để cày cấy"(!); phát triển kinh tế nông nghiệp hàng
hóa, tạo lập chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, xóa bỏ ảnh hưởng sâu
rộng của cách mạng đối với nông dân, tăng cường bóc lộ t nông dân,
xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội mới của chế độ thực dân
mới của Mỹ.
Đi đôi với việc thực hiện chính sách "bình định", Mỹ còn giúp
chính quyền Sài Gò n xây dựng lực lượng quân chủ lực với hơn 1 triệu
người, đượ c huấn luyện đầy đủ, trang bị hiện đại để có thể "tự đứng
vững", "tự gánh vác chiến tranh" khi quân Mỹ rút hết về nước.
Quân đội Sài Gòn được tăng cườ ng và hiện đại hóa để rồi biến
thành "công cụ" của Mỹ trong chiế n lược "Việt Nam hóa". Đội quân
này đượ c sử dụng vào các cuộc hành quân càn quét chống phá cách
mạng, xó a bỏ các căn cứ của quân giải phóng, hòng đẩy chủ lực quân
giải phóng ra xa, cắt đứt con đường tiếp tế từ hậu phương lớn miền
Bắc. Quân đội Sài Gòn cùng với quân Mỹ, còn bị đẩy vào các cuộc
hành quân xâm lược Lào và Campuchia.

Cũng như ở Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt" ở
Lào. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Lào dưới hình thức "chiến
tranh đặc biệt" bắt đầu từ thời Kennơđi, qua thời Giônxơn, đến thời
Níchxơn thì được tăng cường phù hợp với "học thuyết Níchxơn", gọi là
"chiến tranh đặc biệt tăng cường" hay "Lào hóa" chiến tranh. Lự c
lượng tiến hành "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào là quân phỉ
Vàng Pao và quân ngụy Viêng Chăn, ngoài ra có sự tham gia của
quân Thái Lan và quân Sài Gòn. Còn Mỹ đóng vai trò cố vấn, trự c
tiếp chỉ huy và yểm trợ bằng hỏa lực và không quân.
Mở đầu cho hành động tăng cường "chiến tranh đặc biệt" ở Lào
là cuộc hành quân lớn mang tên "Cù kiệt" (có nghĩa là gỡ danh dự)
của lực lượng lớ n quân phỉ Vàng Pao, quân Thái Lan và quân Sài
Gòn do Mỹ trực tiếp chỉ huy, đánh chiếm vùng giải phóng Lào ở Cánh
đồng Chum-Xiêng Khoảng.
Đồng thời với những hành động đẩy mạnh chiến tranh xâm lượ c
Việt Nam và Lào, Mỹ còn mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia.
Ngày 18-3-1970, Mỹ làm cuộc đảo chính quân sự ở Campuchia,
lật đổ Chính phủ trung lập Xihanúc, thành lập Chính phủ bù nhìn
Lon Non, vớ i hi vọng bằng cách đó sẽ cô lập được cách mạng Việt
Nam. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, Mỹ đưa hơn 10 vạn - vừa quân Mỹ
vừa quân Sài Gòn, mở cuộc hành quân đánh chiếm Campuchia, nhằm
cứu bọn ngụy Lon Non đang có nguy cơ sụp đổ, triệt phá cái mà
chúng gọi là "đất thánh Việt cộng" trên đất Campuchia, biến nước
này thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, thực hiện ở
đây một chiến lược chiến tranh mới phù hợp với "học thuyết Níchxơn"
- chiến lược "Khơme hóa chiến tranh".
Đi đôi với việc sử dụng sức mạnh tối đa củ a nước Mỹ vào những
cuộc phiêu lưu quân sự mới ở Đông Dương, Níchxơn còn dùng nhiều
thủ đoạn chính trị và ngoại giao nhằm đạ t những mục tiêu của cuộc
chiế n tranh xâm lược Đông Dương và mục tiêu của chiến lược toàn
cầu phản cách mạ ng.
Lên nắm quyền, Níchxơn liền cho triển khai chiến dịch "ngoại
giao toàn cầu", đóng vai trò "sứ giải hòa bình" đi thương lượng với
nhiều nước (trước hết là với các nước lớn) với mưu đồ lôi kéo họ, nhất
là các nước đồng minh, vào hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm

lược Đông Dương, thực hiện cái gọi là "cùng chia sẻ trách nhiệm";
chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc;
chia rẽ ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù
chung; cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương với cá c
nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn gần xa trên thế giới.
(Đại cương Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)

Chán đời đi lang thang !
0
SÀI GÒN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH HOÀN
THÀNH SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓ NG DÂN TỘC
THỐNG NHẤT TỔ QUỐC
a) Từ đấu tranh chính trị đến phát động chiến tranh nhân dân
Hiệp định Genève về Đông Dương ký kế t (tháng 7/1954) lập lại
hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở công nhận nền độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Việt Nam, Campuchia
và Là o. Nhưng ngay tức khắc, đế quốc Mỹ ra sức phá hoại việc thi
hành hiệp định Genève.
Đế quốc Mỹ đặc biệt chú trọng xây dựng và củ ng cố Sài Gòn
(hiện nay bao trùm cả Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định với số dân hơn 3
triệu ngườ i) thành thủ đô của cái gọi là "Việt Nam cộng hòa". Về
chính trị, Sài Gòn là nơi tập trung bộ máy đầu não của đế quốc Mỹ và
bọn tay sai, trong đó có đại sứ quán Mỹ, các cơ quan cố vấn cao cấp
Mỹ, các cơ quan trung ương của cái chính phủ bù nhìn tay sai Mỹ . Về
quân sự, Sài Gòn trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ với một hệ
thống đồn bót dày đặc, một lực lượng quân đội rất lớn (gần 40% tổng
số quân địch). Đế quốc Mỹ đã xây dựng quân cảng Sài Gòn, các căn
cứ không quân Vũng Tàu, sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa
thành căn cứ không quân chiến lược loại lớn ở Đông Nam Á. Để bảo
vệ Sài Gòn, đế quốc Mỹ xây dựng một vài đai quân sự từ Vũng Tàu,
qua Phú Mỹ, Biên Hòa, Xuân Lộc, Tân Uyên, Bình Dương, Bến Cát,
Phước Vĩnh, Củ Chi, Đức Hòa, Bến Lức, đến Cần Giuộc, Gò Công. Về
kinh tế, Sài Gòn tràn ngập hàng hó a thừa ế của đế quốc Mỹ và của
các nước phe Mỹ. Đời sống của nhân dân rất khó khăn. Nạn thất
nghiệp thường xuyên đe dọa nhân dân lao động. Về văn hóa, lối sống
cao bồi, du đãng và sinh hoạt đồi trụy thối tha của Mỹ và phương Tây
tràn vào Sài Gòn. Cùng với nhân dân miền Nam, nhân dân Sài Gòn -
Chợ Lớn lại bắt đầu một giai đoạn đấ u tranh mới: giai đoạn đấu
tranh chống Mỹ cứu nước. Mười ngày sau khi Hiệp nghị Genève được
ký kết, phong trào hòa bình Sài Gò n, Chợ Lớn ra đời. Đây là một
phong trào do một số trí thức yêu nước sáng lập nhằm đấu tranh cho
hòa bình và thống nhất đất nước. Do đó bọn Mỹ - Diệm thẳng tay

khủng bố, bắt nhiều người cầm tù . Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, một
trong nhữ ng người lãnh đạo phong trào này đã chết trong nhà giam.
Sau phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài Gòn một phong trào đã thu hút
được hầu hết các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham gia. Đó là phong
trào cứu tế, xây cất lại nhà cửa, quyên góp quần áo chăn màn cho bà
con sau khi Ngô Đình Diệm, vì xung đột với Bình Xuyên đã đốt sạch
hằng mấy vùng liền lưng với nhau giữa Sài Gòn và Chợ Lớn.
Ngày 10 tháng 7 năm 1955, nhân dân Sài Gòn trong đó phần
đông là công nhân và lao động đình công, bãi công, bãi chợ họp mít
tinh... đò i Mỹ - Diệm phải nhậ n hiệp thương với miền Bắc để tổ chứ c
tổng tuyển cử, hòa bình thống nhất nước nhà. Mỹ - Diệm thẳng tay
đàn áp bắt bớ sá t hại nhiề u người, trong đó có nữ giáo sư Nguyễn Thị
Diệu đang có mang 4 tháng.
Gần đến ngày 20 tháng 7 năm 1956, ngày mà Hiệp nghị Genève
đã qui định có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam - Bắc,
phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn lại lên mạnh. Đi đầu là
phong trào công nhân: 5 ngàn công nhân xe lửa bãi công cả tháng; 5
ngàn rưỡ i công nhân của 20 kho, cảng Sài Gòn đình công; công nhân
Nhà máy đèn Chợ Quán bãi công 3 ngày liền... Nhữ ng cuộc đấu tranh
đó đã lôi cuốn hàng vạn quần chúng các tầng lớp khác xuống đường
tham gia đấu tranh.
Trước khí thế đấu tranh của nhân dân Sài Gòn, các đô thị khá c
và vùng nông thôn, bọn Mỹ - Diệm đã dùng mọi hình thức, thủ đoạn
đàn áp rất dã man như "quố c sách chống cộng" luật 10-59, nhưng
càng áp bức bao nhiêu thì đấu tranh lại càng có điều kiện để chuyển
lên mạnh bấy nhiêu.
Năm 1960 với cuộc đồng khởi long trời chuyể n đất của nhân
dân miề n Nam đã bước vào một thời kỳ đấu tranh mới: kết hợp đấu
tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Năm 1960, ở Sài Gòn có 1.500
cuộc đấu tranh của công nhân dưới nhiều hình thức khác nhau và rất
nhiều cuộc đấu tranh của bà con dân nghèo thành thị, trí thức học
sinh, tiểu chủ, tư sản dân tộc, văn nghệ sĩ, ký giả v.v... Ngày 20 tháng
12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và công bố

bản Tuyên ngôn và Chương trình 10 điểm. Toàn thể nhân dân miền
Nam vô cùng phấn khở i đón mừ ng sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng
đó. Trong ngày 2-1-1961 nhân dân Sài Gòn và ngoại ô đã bãi chợ,
không chạy xe, thuyền, đóng cửa tiệm vài giờ... để họp mít tinh hoan
nghênh Mặt trận.
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45-75 - NXB TP.HCM)
Chán đời đi lang thang !
0
b) Chống chiến tranh đặc biệt
Đế quốc Mỹ tiến hà nh cuộc "chiến tranh đặc biệt" vào giữa năm
1961 cũng không thể ngăn cản được phong trào đấu tranh củ a nhân
dân Sài Gò n ngày một phát triển. Trên cơ sở lực lượng chính trị, tại
các nhà máy, các xóm lao động đã phát triển các đội tự vệ vũ trang.
Năm 1962, có nhiều cuộc đấu tranh đáng chú ý: cuộc đấu tranh của 5
vạn công nhân cao su kéo vào thành phố. Cuộc đình công của một vạn
công nhân xích lô, của một ngàn công nhân ô tô buýt và tắc xi; cuộ c
biểu tình của công nhân hãng dệt Việt - Mỹ "Vi-mi-tếch"; cuộc bãi
công kéo dài 17 ngày củ a công nhân hãng cầu đường Ep-phen; công
nhân làm đồ điện Vi-đê-cô bãi công chiếm xưởng... Phong trào học
sinh cũng đặc biệt sôi nổi, đã được Chủ tịch Đoàn Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam, luật sư Nguyễ n Hữu Thọ, quyết định tuyên
dương ngày 20-12-1962.
Bên cạnh những cuộc đấu tranh chính trị, xuất hiện ngày càng
nhiều những tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ trong các khách sạn, câu
lạc bộ, trại lính, nhà cố vấn Mỹ... Từ tháng 1 đến tháng 9-1962 ở Sài
Gòn có tớ i 86 vụ "cố vấn" Mỹ bị tiêu diệt. Tháng 9-1963, quan và dân
ta thắng lớn trận Âp Bắc (Mỹ Tho) ngay sau đó nhân dân Sài Gòn,
mà ngòi phá o là sinh viên, học sinh đã tổ chức mít tinh, biểu tình
hưởng ứng. Đến đây Sài Gòn lại sôi nổi thêm phong trào đấu tranh
của đồng bào Phật giáo. Cuộc biểu tình của đồng bào Phật giáo trong
hai ngày 7 và 8 tháng 5-1963 đã bị Mỹ - Diệm thẳng tay khủng bố.
Ngày 21-5-1963, 600 nhà sư biểu tình đi từ chùa Ấn Quang đến chùa
Xá Lợi để phản đối Mỹ - Diệm. Ngày 30-6-1963 hàng ngàn sư sãi Sài
Gòn bắt đầu tuyệ t thực để ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật
giáo ở Huế. Hôm sau, các nhà sư Sài Gò n có sự hưởng ứng ủng hộ của

học sinh, sinh viên đã kéo đến biểu tình ngồi trước trụ sở quốc hội
Ngô Đình Diệm. Ngày 11-6-1963 trước hàng ngàn sư sãi và hàng vạn
nhân dân, hòa thượng Thích Quảng Đứ c đã tự thiêu. Năm ngày sau,
ngày hỏa táng cho Hòa thượng, 70 vạn nhân dân Sài Gòn đã xuống
đường biểu tình. Cả nh sát của Diệm dùng súng, lựu đạn đàn áp.
Quầ n chúng biểu tình dùng đá, gậy gộc đánh lại kịch liệt.
Tình hình Sài Gòn căng thẳng. Biểu tình luôn luôn diễn ra. Mỹ
- Diệm thẳng tay khủ ng bố bắt 2.000 sư sãi, 4.000 học sinh, sinh viên,
giết chết và làm bị thương 200 người. Ngày 7-9-1963 nữ sinh Gia
Long dù ng guốc, bàn, ghế, lọ mực đánh lại bọn cảnh sát dã chiến.
Ngày 1-11-1963, Mỹ tổ chức cho tay sai làm cuộc đảo chính, giết anh
em Diệm - Nhu và đưa Dương Văn Minh rồi đến Nguyễn Khánh lên
nắm chính quyền ở Sài Gòn. Ngày hôm sau, gần một triệu đồng bào
Sài Gòn - Gia Định tổ chức thành 20 đoàn biểu tình đi qua cá c phố
với khẩu hiệu "Đánh đổ chế độ độc tài phát xít", "Phải thực hiện tự do
dân chủ!", "Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam"... Đế quốc Mỹ
ra lệnh đàn áp. Nhưng lính ngụy không tuân lệnh. Đoàn biểu tình
tiến vào trụ sở "quốc hội", bộ công dân vụ, nha thông tin ngụy phá cá c
bót cảnh sát Lê Văn Ken, quận 2, Chương Dương, Ký Con; xé báo
phản động, lùng bắt ác ôn... Lực lượng cách mạng phát triển mạnh.
Các đội biệt động, tự vệ vũ trang hình thành ngày càng nhiều. Ngay
tạ i Sài Gòn, bên cạnh những cuộc đấ u tranh chính trị, đã xuất hiện
ngày càng nhiều những cuộc đấu tranh vũ trang. Hai hình thức đấu
tranh chính trị và vũ trang xen kẽ nhau, nương tựa vào nhau và thúc
đẩy nhau phát triển.
Năm 1964 năm Mỹ bắt đầu ném bom, bắn phá miền Bắc, Sài
Gòn có một số cuộc đấu tranh và trận đánh làm nức lòng quần chúng
cả nước.
Trận nổ bom ở sân bóng rổ trong khu vự c Tân Sơn Nhất (9-2-
1964), trận tập kích rạp chớ p bóng Kinh Đô giành riêng cho Mỹ (16-2-
1964) làm chết và bị thương 150 tên Mỹ. Ngày 2-5-1964, đánh chìm
hàng không mẫu hạm Ca-đơ trọng tải 15.000 tấn tại bế n Sài Gòn diệt
55 Mỹ và 19 máy bay.
Từ 15 đến 22-5 liên tụ c có những cuộc biểu tình với khẩu hiệu
"Đả đảo Mỹ - Khánh", "Đế quốc Mỹ cút đi!... Ngay sau đó có cuộc đập
nát tượng Ken-nơ-đy tại Quảng trường Hòa Bình (7-6-1964).

Ảnh hưởng của trận đánh mìn nhà ăn đường Nguyễn Minh
Chiếu (1-8) gần sân bay Tân Sơn Nhất diệt 10 Mỹ chưa dứt thì lại
tiếp luôn trận đánh sập tầng gác thứ 5 khách sạn Ca-ra-ven, làm chết
và bị thương gần 100 Mỹ (25-8). Cũng trong ngà y này 10 vạn học
sinh, sinh viên và đồng bào Sà i Gòn xuống đườ ng biểu tình đòi lật đổ
Nguyễn Khánh và đòi tống cổ đế quốc Mỹ.
Ngày 31-8, một quả lựu đạn nổ ở ngã tư Đồng Khánh - Chu Văn
Tiệp làm 8 Mỹ chết.
Trước phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang của Sài Gòn
lên mạnh, Nguyễn Khánh tuyên bố "tình trạng khẩn cấp" và đưa ra
sắc luật 18-64 cấm biểu tình, đình công, hội họp; bóp nhẹt báo chí hạn
chế hoạt động nghiệp đoàn. Ngay tức khắc 20 vạn công nhân cá c
ngành dệt, vận tải, điện nước, xăng dầu, xích lô, tắc xi, xe buýt,
cảng... xuống đườ ng tỏ thái độ phả n đối Nguyễn Khá nh (21-9). 6 vạn
công nhân cao su tuyên bố sẽ tiến về Sài Gòn ủng hộ yêu sách của
anh em cùng giai cấp mình. Nguyễn Khánh buộ c phải cho đại diện ra
tiếp đoàn đại biểu công nhân, hứa tôn trọng quyền tự do hội họp, hứa
thu nhận lại những công nhân củ a hãng Vi-mi-tếch bị sa thải,...
Ngày 7-10-1964, đặc công đánh 3 tàu chở xăng của Mỹ ở sông
Nhà Bè thiêu hủy 70 vạn lít. Ngày 18-11 đánh mìn câu lạc bộ hàng
không ở sân bay Tân Sơn Nhất diệt 77 Mỹ. Trong tháng 11-1964,
thanh niên học sinh liên tục đấu tranh. Mỹ - Ngụy bắ n chết em Lê
Văn Ngọc (25-11-1964). Ba ngày sau, 2 vạn học sinh xuống đường
phản đối. Mỹ -ngụy khủng bố bắn chết chị Loan, nữ sinh trường Gia
Long. Chấm hết năm 1964 là trận đánh khách sạn Bơ-rin-cơ kỳ diệu,
một tò a nhà 6 tầng ngay trung tâm thành phố, diệt 155 sĩ quan Mỹ,
trong đó có 2 đại tá, 9 trung tá, 5 thiếu tá, phá hủy 24 xe quân sự.
Cũng trong năm 1964 một sự kiện làm xúc động lòng người, và
mãi mãi còn in đậ m nét trong lòng người dân Sài Gòn là sự hy sinh
cao cả của người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Anh Trỗi là
một thanh niên quê ở Quả ng Nam, vào Sài Gò n trướ c đó vài năm để
sinh sống. Vì không chịu được cả nh sống ngột ngạt giữa một thành
phố mà người công nhân điện không có điện dùng, người thợ nề
không có nhà ở, cò n lũ giặc cướp Mỹ thì phè phỡn, nghênh ngang
hống hách, anh Trỗi đã gia nhập hàng ngũ cách mạng và nhận nhiệm
vụ trừng trị tên "hung thần chiến tranh" Mắc-na-ma-ra khi hắn đến

Sài Gòn. Nhưng nhiệm vụ chưa thành thì anh Trỗi bị bắt và ngày 15-
10, đúng 9 giờ 59 phút, chúng đã sát hại anh tại Khám Chí Hòa. Cả
Sài Gòn đều sôi sục phẫn nộ.
9 phút cuối cùng của anh Trỗi cũng là 9 phút anh tiến công
quyết liệt kẻ đã gây ra tộc ác đối với đồng bào ta. Anh nói: "Còn giặ c
Mỹ là không ai có hạnh phúc được". Bọ n ác ôn xô đến bịt mắt, nhưng
anh đã giựt phăng miếng vải đen, phóng tầm mắt ra xa như muốn ôm
trọn cả thành phố, nơi đây đồng bào, anh chị em, đồng chí và người
vợ yêu thương của anh đang sống và chiến đấu. Tiếng nói cuối cùng
của anh cũng là lời nhắn nhủ đồng bào và người thân:
"Hãy nhớ lấy lời tôi:"
"Đả đảo đế quốc Mỹ!"
"Việt Nam muôn năm!"
"Hồ Chí Minh muôn năm!"
Và, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang đi vào lịch sử! Sau đó đúng
ngày cúng anh, theo tập quán dân tộc, đồng bào Sài Gòn đã dựng lên
4 đài kỷ niệm Nguyễn Văn Trỗi ở ngay 4 gó c nhà lao Chí Hòa. Cờ Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh cao các đài ấy.
(Theo sách Sài Gòn TPHCM - NXB SGGP 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
c) Chống chiến tranh cụ c bộ
Năm 1965 đánh dấu một chuyển biến mới: "chiến tranh đặ c
biệt" của đế quốc Mỹ đã bị phá sản hoàn toàn; ngụy quân, ngụy
quyền đang đứng trước sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi. Để cứu nguy,
đế quốc Mỹ, một mặt điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại ở
miền Bắc; mặt khác, chuyển từ "chiến tranh đặ c biệt" sang một hình
thức khác "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, ồ ạt đưa quân Mỹ và chư
hầu vào miền Nam Việ t Nam. Nhưng càng vào nhiều thì chúng càng
chết nhiều. Trên đà chiến thắng, nhân dân Sài Gòn - Gia Định tiếp
tục giáng vào đầu quân Mỹ - ngụy những đòn đích đáng. Chiến tranh
du kích phát triển mạnh mẽ và rộng khắp chung quanh thành phố và
ngay cả nội thành. Nhiều cơ quan chỉ huy và căn cứ quan trọng của

Mỹ - ngụy liên tiếp bị quân và dân Sài Gòn - Gia Định đánh phá, gây
cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề như Sở chỉ huy phá i đoàn MAAG,
sứ quán Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất, khách sạn Mỹ Cảnh trên sông
Sài Gòn, tổng nha cảnh sát ngụy. Khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, đồn lính
gác cầu Tân Thuận và các đồn cảnh sát quận 6 và quận 7, cơ quan
tình báo quân sự của lục quân Mỹ, v.v... Với những thành tích xuất
sắc nói trên, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã được Ủy ban Trung
ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam "tuyên dương công
trạng" (25-12-1965) và tặng thưởng 3 huân chương quân công giải
phóng hạng nhì, 5 huân chương quân công hạng ba, 4 huân chương
chiế n công giải phóng hạng nhất, 8 huân chương chiến công giải
phóng hạng nhì.
Trên cơ sở những thành tích lớ n lao đó, Ủy ban Trung ương Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam đã quyết định tặng thưởng Huân
chương Thành đồng hạng nhất cho quân và dân Sài Gòn - Gia Định.
Cùng với những chiến công vang dội của nhân dân miền Nam
anh hùng, nhân dân Sài Gòn - Gia Định liên tiế p lập được những
thành tích xuất sắc, góp phần đánh bại hai cuộ c phản công chiế n lượ c
mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của đế quốc Mỹ.
Trong hai năm 1966 - 1967, nhiều cơ quan chỉ huy và căn cứ
quan trọng của Mỹ, ngụy tiếp tục bị đánh phá dữ dội và bị tổn thất
nặng nề. Nhiều tên sĩ quan Mỹ bị trừng trị, trong đó có cả cấp tướng
và rất nhiều cấp tá, cấp úy. Nổi bật là những trậ n đánh vào trụ sở bộ
tổng tham mưu ngụy (tháng 2-1966), tòa nhà 6 tầng Vích-tô-ri-a, nơi
ở của bọn sĩ quan cao cấp Mỹ (tháng 4-1966), đánh chìm hàng chục
tàu vận tải có cả loại trọng tải 10.000, 12.000 tấn và tà u vớt mìn trên
sông Lòng Tàu (tháng 6 và 8-1966, tháng 1, 2 và 4-1967), đốt cháy
một kho quân sự lớn của quân Mỹ ở Nhà Bè (tháng 9-1966), đánh đồn
Phú Lâm (tháng 10-1966), phá sập chiếc cầu dài 100 mét cách Sài
Gòn 7km (tháng 10-1966), đánh cuộc diễu binh trong ngày "Quốc
Khá nh Cộng hòa" (1-11-1966) bắn súng lớn vào sân bay Tân Sơn
Nhất (tháng 12-1966, tháng 4-1967), tiến công sở chỉ huy chiến tranh
tâm lý của lục quân Mỹ (tháng 12-1966), sở chỉ huy tiểu đoàn Mỹ
(thuộc lữ đoàn 199) ở tại Long Thớ i cách Sài Gòn 6km về phía Nam
(tháng 5-1967), phá hủy trung tâm thông tin quân sự Mỹ (26-10-
1967).

Song song với phong trào đấu tranh vũ trang, phong trào đấu
tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn - Gia Định trong những năm
này cũng phát triển mạnh mẽ, nhất là phong trào công nhân, phong
trào thanh niên, sinh viên, học sinh và phong trào trí thức đòi hòa
bình, đòi quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Bọn Mỹ, ngụy mở
rộng chiến tranh, hạ giá đồng bạc gây khó khăn cho đời sống của công
nhân và lao động, đa đưa đến những cuộc đấu tranh của công nhân
đòi đế quốc Mỹ cút đi, đòi lật đổ ngụy quyền bán nước Thiệu Kỳ nổ ra
liên tục. Nhiều cuộc đấu tranh lớn đã nổ ra trong các xí nghiệp thuộ c
các ngành chiến lược của địch như hãng thầu quân sự RMK - BRJ,
các hãng dầu Sen, Can-tếch, Eét-xô và bến cảng Sài Gòn. Riêng cuộ c
đấu tranh của công nhân hãng thầu quân sự RMK - BRJ kéo dài đến
4 tháng (5-9-1966). Trong cuộc biểu tình của công nhân cảng Sà i Gòn
tháng 12-1966, quần chúng đã trang bị dao, gậy gộc chiếm bến tàu,
kịch liệ t chống lại bọn cảnh sát đến đàn áp.
Phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh cũng tiến lên mạnh
mẽ. Các cuộc hội thảo của học sinh, sinh viên vạch mặt bọn phát xít,
bóp nghẹt dân chủ của Mỹ, Thiệu, Kỳ liên tiếp diễn ra. Cuộ c đấu
tranh chống bắt lính trong giáo sư và sinh viên, tố cáo chính sách bắt
lính tăng cường chiến tranh của Mỹ, Thiệu, Kỳ của sinh viên trường
Đại học Nông Lâm Súc và Kỹ thuật Phú Thọ đã lôi cuốn được nhiều
giáo sư và chuyên viên cao cấp của Mỹ, ngụy tham gia.
Nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ rầm rộ có từ hàng ngàn đến
hàng chục vạn người gồm công nhân, lao động, thanh niên, sinh viên,
học sinh và các tầng lớp khác đã nổ ra rất quyết liệt như những cuộ c
biểu tình 10.000 người đòi hành hình bọ n Thiệu, Kỳ, Có (31-3-1966);
15.000 người diễu hành đi suốt đêm 2 rạng 3-4-1966 thét vang những
khẩu hiệu "đả đảo Mỹ", "Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam" và bao
vây đài phát thanh Sài Gòn; 100.000 người bao vây "dinh thủ tướng"
của Nguyễn Cao Kỳ với khẩu hiệu "Lật đổ ngụy quyền Thiệu, Kỳ" (8-
4-1966): 300.000 người kéo đi khắp các đường phố lớ n đòi lật đổ bọn
Thiệu, Kỳ bá n nước (14-4-1966) và cuộc xuống đường của 4 vạn công
nhân lao động ngày 1-5-1966 đòi chấm dứt chiến tranh, đòi hạ giá
sinh hoạt, đòi Mỹ cút đi. Đặc biệt là cuộc đấu tranh chống trò hề bầu
cử gian lận của bọn Mỹ - Thiệu - Kỳ ngày 3-9-1967 của nhân dân Sài
Gòn - Gia Định. Nhiều cuộc mít tinh lớn tố cáo mánh khóe gian lận
của bọn Thiệu, Kỳ và tẩy chay cuộc bầu cử gian lận đó. Những cuộc

đấu tranh của các nhà báo đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Những tổ
chức như "lực lượng bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên", "hội bảo vệ
quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ", "lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc",
"Ủy ban xây dự ng kinh tế tự chủ" lần lượt được thành lập và tiến
hành đấu tranh chống bọn Thiệu, Kỳ. Phong trà o đấu tranh trên đây
đã có tiếng vang lớn và đã có ảnh hưở ng mạnh mẽ trong quần chúng,
được các tầng lớp nhân dân Sài Gòn nhiệt liệt ủng hộ. Đây là một
phong trào đậm nét dân tộc, dân chủ, kích thích tinh thần yêu nướ c
chống xâm lược Mỹ của nhân dân ta ở miền Nam. Các cuộc đấu tranh
của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã được đông đảo anh em binh sĩ
đồng tình và ủng hộ. Chính hãng thông tin Mỹ UPI đã than phiền
"binh sĩ Việt Nam (ngụy) đã cung cấp các phương tiện truyền tin,
phóng thanh cho các cuộc biểu tình". Số binh sĩ bỏ ngũ ngày càng
nhiều.
Bọn Mỹ , Thiệ u, Kỳ hết sức hoang mang, lo sợ trước phong trào
đấu tranh ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt của nhân dân thành phố
Sài Gòn - Gia Định. Chú ng điên cuồng khủng bố, dùng những biện
pháp hết sức trắng trợn, dã man: thẳng tay đàn áp và bắt bớ quần
chúng biể u tình, ra "lệnh khẩn cấp chống biểu tình và mít tinh" trên
đường phố, dựng thêm nhiều hàng rào dây thép gai, dựng cả "pháp
trường cắt" ngay giữa chợ Bến Thành, rải quân đội, cảnh sát khắp
đường phố và đe dọa sẽ dốc toàn lực ra đối phó mạnh hơn nữa.
Nhưng, bất chấp khủng bố và đe dọa, nhân dân Sài Gòn vẫn
tiếp tục đấu tranh chống Mỹ, ngụy ngày càng quyết liệt. Các cuộc đấu
tranh toàn diện và mạnh mẽ trong những năm này đã thực sự chuẩn
bị một bước nhảy vọt kỳ diệu cho phong trào Sài Gòn - Gia Định
trong Tết Mậu Thân (1968).
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đưa chiến tranh vào đô
thị của nhân dân miền Nam anh hùng trong Tết Mậu Thân là một
đòn trời giáng đánh vào đầu Mỹ, ngụy khiến cho chúng thất điên bát
đảo, không phương chống đỡ, bị tổn thất cực kỳ nghiêm trọng.
Riêng ở Sài Gòn - Gia Định bão lửa dữ dội vào đầu Mỹ, ngụy hai
đợt: đợt 1 từ đêm 30 rạng 31-1 đến giữa tháng 2; đợt 2 từ đêm 4 rạng
ngày 5-5 đến 31-5. Trong cả hai đợt, Quân giải phóng đã cù ng với các
lực lượng vũ trang của nhân dân và nhữ ng người yêu nước trong
quân đội ngụy quyền Sài Gòn nổi dậy dồn dập tiến công nhiều cơ

quan đầu não và căn cứ quan trọng củ a bè lũ Mỹ, ngụy ngay giữa
thành phố Sài Gòn - Gia Định cùng với nghĩa binh yêu nướ c đánh
phá sứ quán Mỹ, bộ tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy
đài phát thanh Sài Gòn, trại huấn luyệ n Quang Trung, "dinh độ c
lập", tổng nha cảnh sát, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, bộ chỉ huy hải
quân và nhiều căn cứ khác, tiến công tiêu diệt các trân địa pháo, các
bãi để xe tăng ở Trại Phù Đổng, Cổ Loa và nhiều kho xăng dầu, đạn
dược, trong đó có những kho lớn như Long Bình, Hạnh Thông Tây.
Nhiều giặc Mỹ, binh lính và cảnh sát ngụy kể cả lính dù, lính thủy
đánh bộ bị diệt và bị bắt. Nhiều cơ quan và căn cứ của địch bị đánh đi
đánh lại nhiều lần, đặc biệt là sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh hàng
chục lần trong hai đợ t và riêng trong đợt 1 đã bị quân giải phóng
chiế m khu vực phía Bắc và phía Tây. Cũng trong đợt 1, bộ tổng tham
mưu ngụy bị Quân giải phóng chiếm hoàn toàn.
Nhân dân nhiều nơi trong thành phố đã xuống đường phối hợp
với Quân giải phóng và các lực lượng du kích đá nh phá các đồn bốt,
quét bộ máy ngụy quyền, bắt trừng trị bọn phản cá ch mạng ác ôn,
kêu gọi binh sĩ ngụ y mang súng trở về với nhân dân, làm chủ nhiều
khu vực trong thà nh phố (quận 5, 6, 7, 8 và phần lớ n quận 3, 4) và
nhanh chóng mở rộng lực lượng. Ởã những nơi nhân dân làm chủ,
hàng ngàn thanh niên Sài Gòn đã nô nức cầm sú ng đứng vào hàng
ngũ các lực lượng vũ trang cách mạng chiến đấu chống địch; hàng
trăm đơn vị dân quân du kích và các đoàn thể chính trị, cách mạng
đã nhanh chóng thành lập và sôi nổi hoạt động, nhiều nơi đã lập tòa
án nhân dân xử tội bọn ác ôn ngoan cố. Trước khí thế đồng khởi
mãnh liệt của nhân dân, nhiều binh sĩ ngụy đã vác súng tham gia
hàng ngũ cách mạng, nhiều đơn vị quân ngụy đã giao súng cho nhân
dân và cùng nhân dân đi đánh chiếm các đồn bót.
Tất cả các đường giao thông vận tải chạy về Sài Gòn đều bị băm
nát, cắt đứt kể cả đường số 4, đường số 1, đường số 15 liên lạc giữa
bọn Mỹ, ngụy ở Sài Gòn vớ i các địa phương bị tê liệt.
Bị thua mộ t vố đau nhưng Mỹ, ngụy vẫn rất ngoan cố, liều
mạng đến cùng. Chúng cố gắng tập trung lực lượng chống lại một
cách điên cuồng, dùng cả xe tăng, đạ i bác, máy bay bắn và thả bom
bừa bãi xuống nhiều nơi trong thà nh phố, phá hủy nhiều nhà cửa và

tà i sản của nhân dân, giết và làm bị thương nhiều người kể cả những
người già cả, phụ nữ, trẻ em.
Các chiến sĩ cách mạ ng kiên cường của Sài Gòn - Gia Định vừa
chiế n đấu quyết liệt với địch, vừa tận tình giúp đỡ đồng bào thành
phố, cứu chữ a những người bị thương, dập tắt các đám cháy do bom
đạn Mỹ và Thiệu, Kỳ gây ra, hướng dẫn đồng bào đào hầm hố, công
sự, tổ chức đội ngũ chiế n đấu để bảo vệ khu phố. Đồng bào thành phố
đã hết lòng ủng hộ các chiến sĩ vũ trang cách mạng. Đông đảo thanh
niên, học sinh, sinh viên cả nam lẫn nữ đã ra tận chiến hào tiếp tế
lương thực cho các chiến sĩ và tiếp tay với quân cách mạng lùng diệt
bọn tay sai ác ôn ngoan cố. Việc ra đời của Liên minh các lực lượng
dân tộc dân chủ và hòa bình giữa thành phố Sài Gòn rực lửa là thêm
một đòn đau cho Mỹ, ngụy. Qua hai đợt củ a Liên minh tổng tiến công
và nổi dậy, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã loại khỏi vòng chiến
đấu 47.000 tên địch (có gần 20.500 tên Mỹ và chư hầu), tiêu diệt và
đánh thiệt hại nặng 21 tiểu đoàn, 97 đại đội Mỹ, ngụy và chư hầu,
bắn rơi và phá hủy gầ n 500 máy bay các loại, phá hủy 1.480 xe quân
sự (có gần 630 xe tăng và xe bọc thép), 45 kho bom đạn, xăng dầu,
đánh chìm và bắn cháy hàng chụ c tàu (có nhiều tàu trọng tải 10.000
đến 13.000 tấn), đánh sập 29 cầu, tiêu diệt, bức rút, bức hàng 150 đồn
bót. Với những chiến thắng hết sức to lớn đó, quân và dân Sài Gòn -
Gia Định đã vinh dự được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam tuyên dương công trạng và tặng thưởng 2 huân
chương Thành đồng Tổ quốc hạng nhất và hai huân chương Quân
công giải phóng hạng hai.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậ u Thân nhân dân
Sài Gòn - Gia Định lại trải qua nhiều đợt giành giật ác liệt với quân
thù. Ở vù ng nông thôn ven thành phố về phía Đông Bắc, phía Tây
Nam, đồng bào đã chịu đựng hàng chục trận ném bom tọa độ của máy
bay B. 52 và hàng trăm cuộc rải chất độ hóa học đã hủy diệt hầu hết
các vườn hoa quả nổi tiế ng củ a miền Nam như chôm chôm, măng cụt,
mãng cầu, xoài, cam, chuối... Mỹ ngụy còn rải thả m bom bi, mìn nổ
chậm hòng ngăn cản việc đi lại của du kích. Nhưng Sài Gòn vẫn vững
chãi lớn lên. Tháng 6-1969, một sự kiệ n lịch sử quan trọ ng đã làm
nức lòng nhân dân miền Nam, đó là việc thành lập Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tiếp theo đó, Ủy ban

nhân dân cách mạng Sài Gòn - Gia Định được thành lập là một trong
những đơn vị chính quyền được hình thành sớm nhất ở miền Nam.
Chán đời đi lang thang !
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»