NỘI DUNG VÀ KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
"VIỆT NAM HOÁ"
Phong trào giải phóng dân tộc được sự ủng hộ tích cực của phe
xã hội chủ nghĩa đã phát triển các cuộc chiến tranh cách mạ ng ở
khắp nơi. Đặc biệt là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống
Mỹ và tay sai đang trở thành ngọn cờ tiêu biểu của cả thế giới tiến bộ
và cá ch mạng.
Tình hình ấy khiến cho chính giới Mỹ cảm thấy nền an ninh Mỹ
bị đe dọa khi sức mạnh của nước Mỹ đang bị suy yếu đi bởi sa lầy vào
chiế n tranh Việt Nam. Mỹ thấy cần phải thay đổi lại chiến lược toàn
cầu cho phù hợp, chủ trương của Mỹ lúc này là : Hòa hoãn với cá c
nước lớn Liên Xô, Trung Quốc, khai thá c tối đa mâu thuẫ n và chủ
nghĩa dân tộc trong phong trào cộng sản; khôi phục sức mạnh răn đe
của Mỹ làm bửu bối của chính sách đối ngoại; lôi kéo các nước đồng
minh cùng thực hiện chiến lược "ngăn đe thực tế". Biện pháp chiến
lược của đường lối mới, đồng thời là những nguyên tắc cơ bản của
"Học thuyết Nixon", đó là :
Ưu tiên tối đa cho việ c đề cao sứ c mạnh của Mỹ,
Các đồng minh san sẻ trách nhiệm với Mỹ,
Mỹ sẵn sàng thương lượng hòa bình bất cứ ở đâu.
Những biện pháp này nhằm mục tiêu tiếp tục duy trì vai trò sen
đầm của Mỹ, duy trì các cam kết của Mỹ cũng như quyền lợi củ a Mỹ
ở các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên khu vực mà Mỹ quan tâm hơn
cả là châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 2/1969 tại Guam tổng thống
R. Nixon đã lần đầu tiên trình bày những ý tưởng về học thuyết toàn
cầu mới của mình. Việ c áp dụng "Học thuyết Nixon" vào thực tế đượ c
bắt đầu từ đó với việc triển khai hàng loạt kế hoạch hành động; từ
trong thực tế hành động lại có nhiều nội dung mới bổ sung, trong đó
miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm đầu tiên của chiến lược toàn cầu
mới, là điểm khởi củ a "Học thuyết Nixon" trong hành động.
Ở miền Nam Việt Nam sau Tết Mậu Thân 1968 diễn ra sự đảo
thế về quân sự giữa hai bên chiến tranh. Kẻ thù đã lợi dụng những
sai lầm sơ hở của ta trong và sau tổng tấn công Mậu Thân để phản
kích điên cuồng, chiếm đóng nhiều vị trí của ta ở vùng nông thôn. Cá c
chiế n dịch bình định cấp tốc được triển khai ồ ạt, địch nhanh chóng có
trong tay một hệ thống đồn chốt dày đặc khắp miền Nam làm cơ sở
ban đầu cho việc thực hiện những âm mưu bình định sắ p tới.
Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lượ c cho cá ch mạng ở miền
Nam đến cuối năm 1968 và đầu năm 1969 được triển khai chậm
chạp. Trong khi ấy lực lượng của tân tổng thống Nixon đã chuẩn bị
xong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Lúc đầu thành công lớn
nhất của tổ ng thố ng Nixon và ê-kíp của ông là điều chỉnh kịp thời
chủ trương của tổ ng thống Johnson "phi Mỹ hóa chiến tranh", thành
đường lối chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Việc rút quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng tự tiến hành chiến tranh
của ngụy Nam Việt Nam. Việt Nam hóa chiến tranh là một kế hoạch
tiếp tục chiến tranh gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy
quân, rút quân chiế n đấu trên bộ của Mỹ, làm suy yếu lực lượng cách
mạng Việt Nam.
Giai đoạn 2 : Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho ngụ y, làm
cho quân ngụy đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng miền Nam,
giữ vững được Việt Nam và Đông Dương.
Giai đoạn 3 : Hoàn thành và củng cố "Việt Nam hóa chiến
tranh", lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu đi và chiến tranh sẽ
tàn lụi.
Giai đoạn 1 là giai đoạn khó khăn nhất, cơ bản nhất và có ý
nghĩa quyết định. Bởi vì như Nixon đã trù liệu : "Nếu việc rút quân
Mỹ là phản ánh kết quả của Việ t Nam hóa chiến tranh thì bình định
là mục đích chính của Việt Nam hóa chiến tranh". Để thực hiện mục
tiêu đó, Mỹ ngụy dự tính cần có 3 bước trong vòng 3 năm rưỡi (từ đầu
năm 1969 đến giữa năm 1972).
1. Bước 1 : (thực hiện trong vòng 1 năm rưỡi) Bình định vùng
đông dân quan trọng, đẩy chủ lực cách mạng ra xa các đô thị, làm
giảm sự tập trung của quân giải phóng, cơ sở cách mạng bị tê liệt,
quân ngụy đượ c tăng cường và đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang
cách mạng, Mỹ bắt đầu rút quân.
2. Bước 2 : (thực hiện trong khoảng 1 năm) Bình định tất cả
vùng nông thôn, giảm tối đa hoạ t động của lực lượng vũ trang cách
mạng, ngụy đượ c hiện đại hóa và mạnh lên đủ sức đối phó với tình
hình, Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu.
3. Bước 3 : (thực hiện trong vòng 1 năm) hoàn thành bình định
toà n miề n Nam, lực lượng cách mạng hoạt động không đáng kể ở nội
địa, ngụy đảm đương đượ c vai trò của mình, Mỹ rút hết lực lượng
chiế n đấu ra khỏi miền Nam.
Những biện pháp chiến lược để thực hiện Việt Nam hóa chiến
tranh bao gồm hàng loạt các chương trình kế hoạch, nhằm làm cho
Việt Nam hóa phải có bốn yếu tố đảm bảo là : ngụy quân mạnh, ngụy
quyền mạnh, bộ máy cả nh sát (bình định) mạnh và nền kinh tế
mạnh. Biện pháp cụ thể là :
"Nỗ lự c bành trướng, cải tiến và tối tân hóa quân đội ngụy",
củng cố ngụy quyền, từng bước giảm dần sự dính líu của quân đội Mỹ
trên chiến trường miền Nam và bàn giao chiến trường cho ngụy.
Đẩy mạnh phản kích ở miền Nam, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đảm bảo "an ninh lãnh thổ".
Mở rộng phản kích ra bên ngoài, tăng cường chiến tranh đặ c
biệt ở Lào, xóa bỏ nền trung lập ở Campuchia, xây dựng lực lượng
thân Mỹ và liên minh khu vực.
Tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn để ngăn chặn sự viện
trợ của Trung Quốc, Liên Xô cho Việt Nam, tiến tới cô lập Việt Nam
và cá ch mạng Đông Dương, đẩy chiến tranh đến tình trạng tự tàn lụ i.
Ra sức phục hồi và phát triển kinh tế cho ngụy ở miền Nam.
Như vậ y, với Việt Nam hóa chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn vai
trò quan trọng ở chiến trường, là chỗ dựa chủ yếu của quân ngụy,
nhưng quân ngụy sẽ phải thay thế và dầ n dần trở thành lực lượng
chủ yếu của chiến tranh. Bình định là một biện pháp chiế n lược, là
nội dung hoạt động cụ thể của chiến tranh Việt Nam hóa. Mỹ tập
trung xây dựng cho Ngụy có : ngụy quân mạnh -ngụy quyền mạnh -
bộ máy cảnh sát mạnh - nền kinh tế mạnh, đó là những cái đảm bảo
thành công của Việt Nam hóa chiến tranh; việc mở rộng chương trình
bình định là "chìa khóa thắng lợi", là con đường dẫn đến nhữ ng kết
quả ấy. Chiến tranh tiếp tục cho đến khi nó "tự tàn lụi".
Trong thực tế việc rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi Việt Nam là
xu thế không thể cưỡng lại được nữa và chính quyền Mỹ buộc phải
thực hiện từ tháng 7/1969 (sớm hơn dự kiến trong bước 1 đến tháng
6/1970). Để không gây nên ảnh hưởng độ t ngột cho ngụy, đồng thời
thực hiện được Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ dùng lối rút quân nhỏ
giọt kết hợp với việc xây dựng nhanh cho quân ngụy đủ mạnh thay
thế vào các vị trí của Mỹ trên chiến trường miền Nam.
Sau hội đàm ở Midway đầu năm 1969, Mỹ ngụy đã thố ng nhất
đưa tổ ng quân số ngụy lên 953.673 người vào năm 1970 và 992.336
người vào năm 1971, đến năm 1972 sẽ có 1.100.000 quân gồm chủ
lực, bảo an, nghĩa quân, ngoài ra còn phải có 500.000 - 600.000 phòng
vệ dân sự có vũ trang. Biện pháp đôn quân đã nhanh chóng đưa các
đơn vị quân ngụy trở nên có vai trò thay thế quân đội viễn chinh Mỹ :
các sư đoàn bộ binh đôn lên thành lực lượng cơ động, bảo an đôn lên
thành lực lượng chủ lực của các vùng chiến thuật, nghĩa quân đôn lên
thành bảo an và phòng vệ dân sự có vũ trang thay thế cho lực lượng
nghĩa quân chốt giữ ở xã ấp. Khối chủ lự c cơ động ngụy từ năm 1970
bắt đầu được trang bị hiện đại và có đủ hải, lục, không quân, các binh
chủng pháo, xe tăng khá mạnh.
Chỉ trong vòng mấy năm đầu của chương trình Việt Nam hóa
chiế n tranh, quân ngụ y đã được đầu tư lớn nhất và trở nên hiện đại
nhất, mạnh nhất so với cả quá trình phát triển cho đến lúc đó, trên cơ
sở này Mỹ sẽ triệt thoái dần lực lượng viễn chinh về nướ c.
Từ tháng 7/1969 đến tháng 4/1972 đã có 11 đợt rút quân với gần
480.000 quân, chỉ còn 69.000 quân chờ đợi giải phá p chính trị. Gần 3
năm Mỹ mới đưa được gần nửa triệu quân ra khỏi chiến trường để
chặn đứng việc gia tăng quân số thương vong và góp phần làm dịu
cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Trong thời gian ấy quân ngụy
Nam Việt Nam không những trở thành quân đội có vũ khí trang bị
vào loại mạnh và hiện đại nhất ở Đông Nam Á với hơn 1.100 máy bay
chiến đấu các loại, gần 2.000 xe tăng xe thiết giáp..., mà còn trở
thành lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh mở rộng của Mỹ ở bán
đảo Đông Dương, là xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh và
Đông Dương hóa chiến tranh.
Tiếp tục chiến tranh bằng đội quân hùng hậu ấy, Mỹ - Ngụy ở
Miền Nam vẫn cần có hai yếu tố căn bản tối cần thiết, nền kinh tế ổn
định và sự ủng hộ củ a dân chúng. Viện trợ của Myọ do đó vẫn giữ vị
trí quan trọng số 1, năm 1969 là 498.000.000 dollar, năm 1970 tăng
lên 669.000.000 dollar, năm 1971 là 750.000.000 dollar. Nhưng quá
trình nà y còn được kết hợp với viện trợ đầu tư của một số nước khá c
(năm 1964 - 1969 là 125.000.000 dollar, năm 1970 là 33.000.000
dollar, năm 1971 là 75.000.000 dollar). Từ năm 1970 mặc dù chiến
tranh vẫn tiếp diễn, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn trở thành địa
chỉ đầu tư mới của giới tư bản Mỹ và các nước, gánh nặng viện trợ
của Mỹ vì thế có thể giảm bớt dần.
Phương châm của Mỹ ngụy trong Việt Nam hóa chiến tranh là
nhanh chóng phát triển nhanh kinh tế miền Nam để miền Nam có
thể tự túc, tự cườ ng và tự phát triển. Từ năm 1970 trở đi nhiều biện
pháp thúc đẩy kinh tế phát triển được thực hiện như khôi phục phát
triển công nghiệp, xây dựng thêm 30 dự án công nghiệp mới về sửa
chữa lắp ráp. Ở nông thôn việc tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp, xây
dựng hệ thống thủy nông và đưa các biện pháp kỹ thuật vào đồng
ruộng đượ c triển khai, mục đích là làm tăng nhanh sản lượng nông
nghiệp, nhất là lúa gạo. Từ cuối năm 1969 (sau tuyên bố của Thiệu
tháng 10/1969) địch tiếp tục đẩy mạnh chính sách "cả i cách điền địa".
Tháng 3/1970 tại Cầ n Thơ, Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành "Luật
Người cày có ruộng". Từ 1970 - 1972 trong chương trình "hữu sản hóa
nông dân" chính quyền ngụy đã cấp phát 1.332.500 ha ruộng có liên
quan tớ i 858.821 hộ nông dân, bồi thường 714.131 ha liên quan tới
84.901 hộ điền chủ.
Để có sự ủng hộ của dân chúng phải tiếp tục chính sách bình
định, nhưng phả i đặt chính sách này trong khuôn khổ của cuộ c
"chiến tranh giành dân", phải coi bình định là biệ n pháp then chốt
của Việt Nam hóa chiến tranh. Cơ quan chỉ đạo bình định của Mỹ
MACCORDS (Military Assistance Command Civil Operation and
Revolutionary Development Support) ra đời do tướng Abram tư lệnh
MACV chỉ huy, Colby phân cục trưởng CIA làm phụ tá đặc trách bình
định. Các cơ quan MACV, phân cục tình báo CIA, tòa đại sứ Mỹ đã có
sự thống nhất tư tưởng, phối hợp hành động với nhau một cách chặt
chẽ. Cố vấn Mỹ xuống tận cấp quận từ 6 - 12 người trực tiếp chỉ đạo
bình định.
Ngụy thành lập Trung tâm an ninh điều hợp bên cạnh Hội đồng
bình định các cấp. Các cơ quan đặc trách bình định này có hệ thống
từ trung ương xuống đến các địa phương và do các nhân vật đầu sỏ
(tổng thống ngụy, thủ tướng ngụy, tỉnh trưởng, đô trưởng, quận
trưởng ngụy) trực tiếp phụ trách. Lực lượng trực tiếp bình định là
quân đội, cảnh sát, nhân dân tự vệ, cán bộ bình định, phụng hoàng,
tề ấp xã. Tại vùng trọng điểm bình định như tỉnh Định Tường năm
1970, địch sử dụng 21.000 quân các loại phục vụ cho hoạt động bình
định; vùng ven Sài Gòn - Gia Định năm 1972 có tới 113.000 quân các
loại để tiến hành bình định. Chính vì vậy địch vẫn sử dụng hình thứ c
hành quân càn qué t làm hoạt động chủ yếu để thực hiện bình định. Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều chiến dịch bình định lớn đượ c
tổ chức như "Đồng Khởi", "Tổng tấn công đồ ng loạt", "nhổ cỏ U Minh".
Năm 1969 toàn miền Nam địch tổ chức 11.945 cuộc hành quân càn
quét bình định, trong đó riêng Nam Bộ có 9.648 cuộc.
(Lịch sử Việt Nam tập 3 NXB Giáo dục)
"VIỆT NAM HOÁ"
Phong trào giải phóng dân tộc được sự ủng hộ tích cực của phe
xã hội chủ nghĩa đã phát triển các cuộc chiến tranh cách mạ ng ở
khắp nơi. Đặc biệt là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống
Mỹ và tay sai đang trở thành ngọn cờ tiêu biểu của cả thế giới tiến bộ
và cá ch mạng.
Tình hình ấy khiến cho chính giới Mỹ cảm thấy nền an ninh Mỹ
bị đe dọa khi sức mạnh của nước Mỹ đang bị suy yếu đi bởi sa lầy vào
chiế n tranh Việt Nam. Mỹ thấy cần phải thay đổi lại chiến lược toàn
cầu cho phù hợp, chủ trương của Mỹ lúc này là : Hòa hoãn với cá c
nước lớn Liên Xô, Trung Quốc, khai thá c tối đa mâu thuẫ n và chủ
nghĩa dân tộc trong phong trào cộng sản; khôi phục sức mạnh răn đe
của Mỹ làm bửu bối của chính sách đối ngoại; lôi kéo các nước đồng
minh cùng thực hiện chiến lược "ngăn đe thực tế". Biện pháp chiến
lược của đường lối mới, đồng thời là những nguyên tắc cơ bản của
"Học thuyết Nixon", đó là :
Ưu tiên tối đa cho việ c đề cao sứ c mạnh của Mỹ,
Các đồng minh san sẻ trách nhiệm với Mỹ,
Mỹ sẵn sàng thương lượng hòa bình bất cứ ở đâu.
Những biện pháp này nhằm mục tiêu tiếp tục duy trì vai trò sen
đầm của Mỹ, duy trì các cam kết của Mỹ cũng như quyền lợi củ a Mỹ
ở các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên khu vực mà Mỹ quan tâm hơn
cả là châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 2/1969 tại Guam tổng thống
R. Nixon đã lần đầu tiên trình bày những ý tưởng về học thuyết toàn
cầu mới của mình. Việ c áp dụng "Học thuyết Nixon" vào thực tế đượ c
bắt đầu từ đó với việc triển khai hàng loạt kế hoạch hành động; từ
trong thực tế hành động lại có nhiều nội dung mới bổ sung, trong đó
miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm đầu tiên của chiến lược toàn cầu
mới, là điểm khởi củ a "Học thuyết Nixon" trong hành động.
Ở miền Nam Việt Nam sau Tết Mậu Thân 1968 diễn ra sự đảo
thế về quân sự giữa hai bên chiến tranh. Kẻ thù đã lợi dụng những
sai lầm sơ hở của ta trong và sau tổng tấn công Mậu Thân để phản
kích điên cuồng, chiếm đóng nhiều vị trí của ta ở vùng nông thôn. Cá c
chiế n dịch bình định cấp tốc được triển khai ồ ạt, địch nhanh chóng có
trong tay một hệ thống đồn chốt dày đặc khắp miền Nam làm cơ sở
ban đầu cho việc thực hiện những âm mưu bình định sắ p tới.
Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lượ c cho cá ch mạng ở miền
Nam đến cuối năm 1968 và đầu năm 1969 được triển khai chậm
chạp. Trong khi ấy lực lượng của tân tổng thống Nixon đã chuẩn bị
xong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Lúc đầu thành công lớn
nhất của tổ ng thố ng Nixon và ê-kíp của ông là điều chỉnh kịp thời
chủ trương của tổ ng thống Johnson "phi Mỹ hóa chiến tranh", thành
đường lối chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Việc rút quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng tự tiến hành chiến tranh
của ngụy Nam Việt Nam. Việt Nam hóa chiến tranh là một kế hoạch
tiếp tục chiến tranh gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy
quân, rút quân chiế n đấu trên bộ của Mỹ, làm suy yếu lực lượng cách
mạng Việt Nam.
Giai đoạn 2 : Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho ngụ y, làm
cho quân ngụy đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng miền Nam,
giữ vững được Việt Nam và Đông Dương.
Giai đoạn 3 : Hoàn thành và củng cố "Việt Nam hóa chiến
tranh", lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu đi và chiến tranh sẽ
tàn lụi.
Giai đoạn 1 là giai đoạn khó khăn nhất, cơ bản nhất và có ý
nghĩa quyết định. Bởi vì như Nixon đã trù liệu : "Nếu việc rút quân
Mỹ là phản ánh kết quả của Việ t Nam hóa chiến tranh thì bình định
là mục đích chính của Việt Nam hóa chiến tranh". Để thực hiện mục
tiêu đó, Mỹ ngụy dự tính cần có 3 bước trong vòng 3 năm rưỡi (từ đầu
năm 1969 đến giữa năm 1972).
1. Bước 1 : (thực hiện trong vòng 1 năm rưỡi) Bình định vùng
đông dân quan trọng, đẩy chủ lực cách mạng ra xa các đô thị, làm
giảm sự tập trung của quân giải phóng, cơ sở cách mạng bị tê liệt,
quân ngụy đượ c tăng cường và đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang
cách mạng, Mỹ bắt đầu rút quân.
2. Bước 2 : (thực hiện trong khoảng 1 năm) Bình định tất cả
vùng nông thôn, giảm tối đa hoạ t động của lực lượng vũ trang cách
mạng, ngụy đượ c hiện đại hóa và mạnh lên đủ sức đối phó với tình
hình, Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu.
3. Bước 3 : (thực hiện trong vòng 1 năm) hoàn thành bình định
toà n miề n Nam, lực lượng cách mạng hoạt động không đáng kể ở nội
địa, ngụy đảm đương đượ c vai trò của mình, Mỹ rút hết lực lượng
chiế n đấu ra khỏi miền Nam.
Những biện pháp chiến lược để thực hiện Việt Nam hóa chiến
tranh bao gồm hàng loạt các chương trình kế hoạch, nhằm làm cho
Việt Nam hóa phải có bốn yếu tố đảm bảo là : ngụy quân mạnh, ngụy
quyền mạnh, bộ máy cả nh sát (bình định) mạnh và nền kinh tế
mạnh. Biện pháp cụ thể là :
"Nỗ lự c bành trướng, cải tiến và tối tân hóa quân đội ngụy",
củng cố ngụy quyền, từng bước giảm dần sự dính líu của quân đội Mỹ
trên chiến trường miền Nam và bàn giao chiến trường cho ngụy.
Đẩy mạnh phản kích ở miền Nam, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đảm bảo "an ninh lãnh thổ".
Mở rộng phản kích ra bên ngoài, tăng cường chiến tranh đặ c
biệt ở Lào, xóa bỏ nền trung lập ở Campuchia, xây dựng lực lượng
thân Mỹ và liên minh khu vực.
Tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn để ngăn chặn sự viện
trợ của Trung Quốc, Liên Xô cho Việt Nam, tiến tới cô lập Việt Nam
và cá ch mạng Đông Dương, đẩy chiến tranh đến tình trạng tự tàn lụ i.
Ra sức phục hồi và phát triển kinh tế cho ngụy ở miền Nam.
Như vậ y, với Việt Nam hóa chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn vai
trò quan trọng ở chiến trường, là chỗ dựa chủ yếu của quân ngụy,
nhưng quân ngụy sẽ phải thay thế và dầ n dần trở thành lực lượng
chủ yếu của chiến tranh. Bình định là một biện pháp chiế n lược, là
nội dung hoạt động cụ thể của chiến tranh Việt Nam hóa. Mỹ tập
trung xây dựng cho Ngụy có : ngụy quân mạnh -ngụy quyền mạnh -
bộ máy cảnh sát mạnh - nền kinh tế mạnh, đó là những cái đảm bảo
thành công của Việt Nam hóa chiến tranh; việc mở rộng chương trình
bình định là "chìa khóa thắng lợi", là con đường dẫn đến nhữ ng kết
quả ấy. Chiến tranh tiếp tục cho đến khi nó "tự tàn lụi".
Trong thực tế việc rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi Việt Nam là
xu thế không thể cưỡng lại được nữa và chính quyền Mỹ buộc phải
thực hiện từ tháng 7/1969 (sớm hơn dự kiến trong bước 1 đến tháng
6/1970). Để không gây nên ảnh hưởng độ t ngột cho ngụy, đồng thời
thực hiện được Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ dùng lối rút quân nhỏ
giọt kết hợp với việc xây dựng nhanh cho quân ngụy đủ mạnh thay
thế vào các vị trí của Mỹ trên chiến trường miền Nam.
Sau hội đàm ở Midway đầu năm 1969, Mỹ ngụy đã thố ng nhất
đưa tổ ng quân số ngụy lên 953.673 người vào năm 1970 và 992.336
người vào năm 1971, đến năm 1972 sẽ có 1.100.000 quân gồm chủ
lực, bảo an, nghĩa quân, ngoài ra còn phải có 500.000 - 600.000 phòng
vệ dân sự có vũ trang. Biện pháp đôn quân đã nhanh chóng đưa các
đơn vị quân ngụy trở nên có vai trò thay thế quân đội viễn chinh Mỹ :
các sư đoàn bộ binh đôn lên thành lực lượng cơ động, bảo an đôn lên
thành lực lượng chủ lực của các vùng chiến thuật, nghĩa quân đôn lên
thành bảo an và phòng vệ dân sự có vũ trang thay thế cho lực lượng
nghĩa quân chốt giữ ở xã ấp. Khối chủ lự c cơ động ngụy từ năm 1970
bắt đầu được trang bị hiện đại và có đủ hải, lục, không quân, các binh
chủng pháo, xe tăng khá mạnh.
Chỉ trong vòng mấy năm đầu của chương trình Việt Nam hóa
chiế n tranh, quân ngụ y đã được đầu tư lớn nhất và trở nên hiện đại
nhất, mạnh nhất so với cả quá trình phát triển cho đến lúc đó, trên cơ
sở này Mỹ sẽ triệt thoái dần lực lượng viễn chinh về nướ c.
Từ tháng 7/1969 đến tháng 4/1972 đã có 11 đợt rút quân với gần
480.000 quân, chỉ còn 69.000 quân chờ đợi giải phá p chính trị. Gần 3
năm Mỹ mới đưa được gần nửa triệu quân ra khỏi chiến trường để
chặn đứng việc gia tăng quân số thương vong và góp phần làm dịu
cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Trong thời gian ấy quân ngụy
Nam Việt Nam không những trở thành quân đội có vũ khí trang bị
vào loại mạnh và hiện đại nhất ở Đông Nam Á với hơn 1.100 máy bay
chiến đấu các loại, gần 2.000 xe tăng xe thiết giáp..., mà còn trở
thành lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh mở rộng của Mỹ ở bán
đảo Đông Dương, là xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh và
Đông Dương hóa chiến tranh.
Tiếp tục chiến tranh bằng đội quân hùng hậu ấy, Mỹ - Ngụy ở
Miền Nam vẫn cần có hai yếu tố căn bản tối cần thiết, nền kinh tế ổn
định và sự ủng hộ củ a dân chúng. Viện trợ của Myọ do đó vẫn giữ vị
trí quan trọng số 1, năm 1969 là 498.000.000 dollar, năm 1970 tăng
lên 669.000.000 dollar, năm 1971 là 750.000.000 dollar. Nhưng quá
trình nà y còn được kết hợp với viện trợ đầu tư của một số nước khá c
(năm 1964 - 1969 là 125.000.000 dollar, năm 1970 là 33.000.000
dollar, năm 1971 là 75.000.000 dollar). Từ năm 1970 mặc dù chiến
tranh vẫn tiếp diễn, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn trở thành địa
chỉ đầu tư mới của giới tư bản Mỹ và các nước, gánh nặng viện trợ
của Mỹ vì thế có thể giảm bớt dần.
Phương châm của Mỹ ngụy trong Việt Nam hóa chiến tranh là
nhanh chóng phát triển nhanh kinh tế miền Nam để miền Nam có
thể tự túc, tự cườ ng và tự phát triển. Từ năm 1970 trở đi nhiều biện
pháp thúc đẩy kinh tế phát triển được thực hiện như khôi phục phát
triển công nghiệp, xây dựng thêm 30 dự án công nghiệp mới về sửa
chữa lắp ráp. Ở nông thôn việc tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp, xây
dựng hệ thống thủy nông và đưa các biện pháp kỹ thuật vào đồng
ruộng đượ c triển khai, mục đích là làm tăng nhanh sản lượng nông
nghiệp, nhất là lúa gạo. Từ cuối năm 1969 (sau tuyên bố của Thiệu
tháng 10/1969) địch tiếp tục đẩy mạnh chính sách "cả i cách điền địa".
Tháng 3/1970 tại Cầ n Thơ, Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành "Luật
Người cày có ruộng". Từ 1970 - 1972 trong chương trình "hữu sản hóa
nông dân" chính quyền ngụy đã cấp phát 1.332.500 ha ruộng có liên
quan tớ i 858.821 hộ nông dân, bồi thường 714.131 ha liên quan tới
84.901 hộ điền chủ.
Để có sự ủng hộ của dân chúng phải tiếp tục chính sách bình
định, nhưng phả i đặt chính sách này trong khuôn khổ của cuộ c
"chiến tranh giành dân", phải coi bình định là biệ n pháp then chốt
của Việt Nam hóa chiến tranh. Cơ quan chỉ đạo bình định của Mỹ
MACCORDS (Military Assistance Command Civil Operation and
Revolutionary Development Support) ra đời do tướng Abram tư lệnh
MACV chỉ huy, Colby phân cục trưởng CIA làm phụ tá đặc trách bình
định. Các cơ quan MACV, phân cục tình báo CIA, tòa đại sứ Mỹ đã có
sự thống nhất tư tưởng, phối hợp hành động với nhau một cách chặt
chẽ. Cố vấn Mỹ xuống tận cấp quận từ 6 - 12 người trực tiếp chỉ đạo
bình định.
Ngụy thành lập Trung tâm an ninh điều hợp bên cạnh Hội đồng
bình định các cấp. Các cơ quan đặc trách bình định này có hệ thống
từ trung ương xuống đến các địa phương và do các nhân vật đầu sỏ
(tổng thống ngụy, thủ tướng ngụy, tỉnh trưởng, đô trưởng, quận
trưởng ngụy) trực tiếp phụ trách. Lực lượng trực tiếp bình định là
quân đội, cảnh sát, nhân dân tự vệ, cán bộ bình định, phụng hoàng,
tề ấp xã. Tại vùng trọng điểm bình định như tỉnh Định Tường năm
1970, địch sử dụng 21.000 quân các loại phục vụ cho hoạt động bình
định; vùng ven Sài Gòn - Gia Định năm 1972 có tới 113.000 quân các
loại để tiến hành bình định. Chính vì vậy địch vẫn sử dụng hình thứ c
hành quân càn qué t làm hoạt động chủ yếu để thực hiện bình định. Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều chiến dịch bình định lớn đượ c
tổ chức như "Đồng Khởi", "Tổng tấn công đồ ng loạt", "nhổ cỏ U Minh".
Năm 1969 toàn miền Nam địch tổ chức 11.945 cuộc hành quân càn
quét bình định, trong đó riêng Nam Bộ có 9.648 cuộc.
(Lịch sử Việt Nam tập 3 NXB Giáo dục)
Chán đời đi lang thang !