📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lịch sử Sài Gòn 🔒

126 trả lời, 21.377 lượt xem — Trang 5 / 5
NỘI DUNG VÀ KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
"VIỆT NAM HOÁ"
Phong trào giải phóng dân tộc được sự ủng hộ tích cực của phe
xã hội chủ nghĩa đã phát triển các cuộc chiến tranh cách mạ ng ở
khắp nơi. Đặc biệt là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống
Mỹ và tay sai đang trở thành ngọn cờ tiêu biểu của cả thế giới tiến bộ
và cá ch mạng.
Tình hình ấy khiến cho chính giới Mỹ cảm thấy nền an ninh Mỹ
bị đe dọa khi sức mạnh của nước Mỹ đang bị suy yếu đi bởi sa lầy vào
chiế n tranh Việt Nam. Mỹ thấy cần phải thay đổi lại chiến lược toàn
cầu cho phù hợp, chủ trương của Mỹ lúc này là : Hòa hoãn với cá c
nước lớn Liên Xô, Trung Quốc, khai thá c tối đa mâu thuẫ n và chủ
nghĩa dân tộc trong phong trào cộng sản; khôi phục sức mạnh răn đe
của Mỹ làm bửu bối của chính sách đối ngoại; lôi kéo các nước đồng
minh cùng thực hiện chiến lược "ngăn đe thực tế". Biện pháp chiến
lược của đường lối mới, đồng thời là những nguyên tắc cơ bản của
"Học thuyết Nixon", đó là :
Ưu tiên tối đa cho việ c đề cao sứ c mạnh của Mỹ,
Các đồng minh san sẻ trách nhiệm với Mỹ,
Mỹ sẵn sàng thương lượng hòa bình bất cứ ở đâu.
Những biện pháp này nhằm mục tiêu tiếp tục duy trì vai trò sen
đầm của Mỹ, duy trì các cam kết của Mỹ cũng như quyền lợi củ a Mỹ
ở các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên khu vực mà Mỹ quan tâm hơn
cả là châu Á - Thái Bình Dương. Tháng 2/1969 tại Guam tổng thống
R. Nixon đã lần đầu tiên trình bày những ý tưởng về học thuyết toàn
cầu mới của mình. Việ c áp dụng "Học thuyết Nixon" vào thực tế đượ c
bắt đầu từ đó với việc triển khai hàng loạt kế hoạch hành động; từ
trong thực tế hành động lại có nhiều nội dung mới bổ sung, trong đó

miền Nam Việt Nam là nơi thí điểm đầu tiên của chiến lược toàn cầu
mới, là điểm khởi củ a "Học thuyết Nixon" trong hành động.
Ở miền Nam Việt Nam sau Tết Mậu Thân 1968 diễn ra sự đảo
thế về quân sự giữa hai bên chiến tranh. Kẻ thù đã lợi dụng những
sai lầm sơ hở của ta trong và sau tổng tấn công Mậu Thân để phản
kích điên cuồng, chiếm đóng nhiều vị trí của ta ở vùng nông thôn. Cá c
chiế n dịch bình định cấp tốc được triển khai ồ ạt, địch nhanh chóng có
trong tay một hệ thống đồn chốt dày đặc khắp miền Nam làm cơ sở
ban đầu cho việc thực hiện những âm mưu bình định sắ p tới.
Việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lượ c cho cá ch mạng ở miền
Nam đến cuối năm 1968 và đầu năm 1969 được triển khai chậm
chạp. Trong khi ấy lực lượng của tân tổng thống Nixon đã chuẩn bị
xong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Lúc đầu thành công lớn
nhất của tổ ng thố ng Nixon và ê-kíp của ông là điều chỉnh kịp thời
chủ trương của tổ ng thống Johnson "phi Mỹ hóa chiến tranh", thành
đường lối chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Việc rút quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng tự tiến hành chiến tranh
của ngụy Nam Việt Nam. Việt Nam hóa chiến tranh là một kế hoạch
tiếp tục chiến tranh gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy
quân, rút quân chiế n đấu trên bộ của Mỹ, làm suy yếu lực lượng cách
mạng Việt Nam.
Giai đoạn 2 : Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho ngụ y, làm
cho quân ngụy đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng miền Nam,
giữ vững được Việt Nam và Đông Dương.
Giai đoạn 3 : Hoàn thành và củng cố "Việt Nam hóa chiến
tranh", lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu đi và chiến tranh sẽ
tàn lụi.
Giai đoạn 1 là giai đoạn khó khăn nhất, cơ bản nhất và có ý
nghĩa quyết định. Bởi vì như Nixon đã trù liệu : "Nếu việc rút quân
Mỹ là phản ánh kết quả của Việ t Nam hóa chiến tranh thì bình định
là mục đích chính của Việt Nam hóa chiến tranh". Để thực hiện mục
tiêu đó, Mỹ ngụy dự tính cần có 3 bước trong vòng 3 năm rưỡi (từ đầu
năm 1969 đến giữa năm 1972).

1. Bước 1 : (thực hiện trong vòng 1 năm rưỡi) Bình định vùng
đông dân quan trọng, đẩy chủ lực cách mạng ra xa các đô thị, làm
giảm sự tập trung của quân giải phóng, cơ sở cách mạng bị tê liệt,
quân ngụy đượ c tăng cường và đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang
cách mạng, Mỹ bắt đầu rút quân.
2. Bước 2 : (thực hiện trong khoảng 1 năm) Bình định tất cả
vùng nông thôn, giảm tối đa hoạ t động của lực lượng vũ trang cách
mạng, ngụy đượ c hiện đại hóa và mạnh lên đủ sức đối phó với tình
hình, Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu.
3. Bước 3 : (thực hiện trong vòng 1 năm) hoàn thành bình định
toà n miề n Nam, lực lượng cách mạng hoạt động không đáng kể ở nội
địa, ngụy đảm đương đượ c vai trò của mình, Mỹ rút hết lực lượng
chiế n đấu ra khỏi miền Nam.
Những biện pháp chiến lược để thực hiện Việt Nam hóa chiến
tranh bao gồm hàng loạt các chương trình kế hoạch, nhằm làm cho
Việt Nam hóa phải có bốn yếu tố đảm bảo là : ngụy quân mạnh, ngụy
quyền mạnh, bộ máy cả nh sát (bình định) mạnh và nền kinh tế
mạnh. Biện pháp cụ thể là :
"Nỗ lự c bành trướng, cải tiến và tối tân hóa quân đội ngụy",
củng cố ngụy quyền, từng bước giảm dần sự dính líu của quân đội Mỹ
trên chiến trường miền Nam và bàn giao chiến trường cho ngụy.
Đẩy mạnh phản kích ở miền Nam, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đảm bảo "an ninh lãnh thổ".
Mở rộng phản kích ra bên ngoài, tăng cường chiến tranh đặ c
biệt ở Lào, xóa bỏ nền trung lập ở Campuchia, xây dựng lực lượng
thân Mỹ và liên minh khu vực.
Tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn để ngăn chặn sự viện
trợ của Trung Quốc, Liên Xô cho Việt Nam, tiến tới cô lập Việt Nam
và cá ch mạng Đông Dương, đẩy chiến tranh đến tình trạng tự tàn lụ i.
Ra sức phục hồi và phát triển kinh tế cho ngụy ở miền Nam.
Như vậ y, với Việt Nam hóa chiến tranh, quân Mỹ vẫn còn vai
trò quan trọng ở chiến trường, là chỗ dựa chủ yếu của quân ngụy,

nhưng quân ngụy sẽ phải thay thế và dầ n dần trở thành lực lượng
chủ yếu của chiến tranh. Bình định là một biện pháp chiế n lược, là
nội dung hoạt động cụ thể của chiến tranh Việt Nam hóa. Mỹ tập
trung xây dựng cho Ngụy có : ngụy quân mạnh -ngụy quyền mạnh -
bộ máy cảnh sát mạnh - nền kinh tế mạnh, đó là những cái đảm bảo
thành công của Việt Nam hóa chiến tranh; việc mở rộng chương trình
bình định là "chìa khóa thắng lợi", là con đường dẫn đến nhữ ng kết
quả ấy. Chiến tranh tiếp tục cho đến khi nó "tự tàn lụi".
Trong thực tế việc rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi Việt Nam là
xu thế không thể cưỡng lại được nữa và chính quyền Mỹ buộc phải
thực hiện từ tháng 7/1969 (sớm hơn dự kiến trong bước 1 đến tháng
6/1970). Để không gây nên ảnh hưởng độ t ngột cho ngụy, đồng thời
thực hiện được Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ dùng lối rút quân nhỏ
giọt kết hợp với việc xây dựng nhanh cho quân ngụy đủ mạnh thay
thế vào các vị trí của Mỹ trên chiến trường miền Nam.
Sau hội đàm ở Midway đầu năm 1969, Mỹ ngụy đã thố ng nhất
đưa tổ ng quân số ngụy lên 953.673 người vào năm 1970 và 992.336
người vào năm 1971, đến năm 1972 sẽ có 1.100.000 quân gồm chủ
lực, bảo an, nghĩa quân, ngoài ra còn phải có 500.000 - 600.000 phòng
vệ dân sự có vũ trang. Biện pháp đôn quân đã nhanh chóng đưa các
đơn vị quân ngụy trở nên có vai trò thay thế quân đội viễn chinh Mỹ :
các sư đoàn bộ binh đôn lên thành lực lượng cơ động, bảo an đôn lên
thành lực lượng chủ lực của các vùng chiến thuật, nghĩa quân đôn lên
thành bảo an và phòng vệ dân sự có vũ trang thay thế cho lực lượng
nghĩa quân chốt giữ ở xã ấp. Khối chủ lự c cơ động ngụy từ năm 1970
bắt đầu được trang bị hiện đại và có đủ hải, lục, không quân, các binh
chủng pháo, xe tăng khá mạnh.
Chỉ trong vòng mấy năm đầu của chương trình Việt Nam hóa
chiế n tranh, quân ngụ y đã được đầu tư lớn nhất và trở nên hiện đại
nhất, mạnh nhất so với cả quá trình phát triển cho đến lúc đó, trên cơ
sở này Mỹ sẽ triệt thoái dần lực lượng viễn chinh về nướ c.
Từ tháng 7/1969 đến tháng 4/1972 đã có 11 đợt rút quân với gần
480.000 quân, chỉ còn 69.000 quân chờ đợi giải phá p chính trị. Gần 3
năm Mỹ mới đưa được gần nửa triệu quân ra khỏi chiến trường để
chặn đứng việc gia tăng quân số thương vong và góp phần làm dịu
cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ. Trong thời gian ấy quân ngụy

Nam Việt Nam không những trở thành quân đội có vũ khí trang bị
vào loại mạnh và hiện đại nhất ở Đông Nam Á với hơn 1.100 máy bay
chiến đấu các loại, gần 2.000 xe tăng xe thiết giáp..., mà còn trở
thành lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh mở rộng của Mỹ ở bán
đảo Đông Dương, là xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh và
Đông Dương hóa chiến tranh.
Tiếp tục chiến tranh bằng đội quân hùng hậu ấy, Mỹ - Ngụy ở
Miền Nam vẫn cần có hai yếu tố căn bản tối cần thiết, nền kinh tế ổn
định và sự ủng hộ củ a dân chúng. Viện trợ của Myọ do đó vẫn giữ vị
trí quan trọng số 1, năm 1969 là 498.000.000 dollar, năm 1970 tăng
lên 669.000.000 dollar, năm 1971 là 750.000.000 dollar. Nhưng quá
trình nà y còn được kết hợp với viện trợ đầu tư của một số nước khá c
(năm 1964 - 1969 là 125.000.000 dollar, năm 1970 là 33.000.000
dollar, năm 1971 là 75.000.000 dollar). Từ năm 1970 mặc dù chiến
tranh vẫn tiếp diễn, nhưng miền Nam Việt Nam vẫn trở thành địa
chỉ đầu tư mới của giới tư bản Mỹ và các nước, gánh nặng viện trợ
của Mỹ vì thế có thể giảm bớt dần.
Phương châm của Mỹ ngụy trong Việt Nam hóa chiến tranh là
nhanh chóng phát triển nhanh kinh tế miền Nam để miền Nam có
thể tự túc, tự cườ ng và tự phát triển. Từ năm 1970 trở đi nhiều biện
pháp thúc đẩy kinh tế phát triển được thực hiện như khôi phục phát
triển công nghiệp, xây dựng thêm 30 dự án công nghiệp mới về sửa
chữa lắp ráp. Ở nông thôn việc tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp, xây
dựng hệ thống thủy nông và đưa các biện pháp kỹ thuật vào đồng
ruộng đượ c triển khai, mục đích là làm tăng nhanh sản lượng nông
nghiệp, nhất là lúa gạo. Từ cuối năm 1969 (sau tuyên bố của Thiệu
tháng 10/1969) địch tiếp tục đẩy mạnh chính sách "cả i cách điền địa".
Tháng 3/1970 tại Cầ n Thơ, Nguyễn Văn Thiệu cho ban hành "Luật
Người cày có ruộng". Từ 1970 - 1972 trong chương trình "hữu sản hóa
nông dân" chính quyền ngụy đã cấp phát 1.332.500 ha ruộng có liên
quan tớ i 858.821 hộ nông dân, bồi thường 714.131 ha liên quan tới
84.901 hộ điền chủ.
Để có sự ủng hộ của dân chúng phải tiếp tục chính sách bình
định, nhưng phả i đặt chính sách này trong khuôn khổ của cuộ c
"chiến tranh giành dân", phải coi bình định là biệ n pháp then chốt
của Việt Nam hóa chiến tranh. Cơ quan chỉ đạo bình định của Mỹ

MACCORDS (Military Assistance Command Civil Operation and
Revolutionary Development Support) ra đời do tướng Abram tư lệnh
MACV chỉ huy, Colby phân cục trưởng CIA làm phụ tá đặc trách bình
định. Các cơ quan MACV, phân cục tình báo CIA, tòa đại sứ Mỹ đã có
sự thống nhất tư tưởng, phối hợp hành động với nhau một cách chặt
chẽ. Cố vấn Mỹ xuống tận cấp quận từ 6 - 12 người trực tiếp chỉ đạo
bình định.
Ngụy thành lập Trung tâm an ninh điều hợp bên cạnh Hội đồng
bình định các cấp. Các cơ quan đặc trách bình định này có hệ thống
từ trung ương xuống đến các địa phương và do các nhân vật đầu sỏ
(tổng thống ngụy, thủ tướng ngụy, tỉnh trưởng, đô trưởng, quận
trưởng ngụy) trực tiếp phụ trách. Lực lượng trực tiếp bình định là
quân đội, cảnh sát, nhân dân tự vệ, cán bộ bình định, phụng hoàng,
tề ấp xã. Tại vùng trọng điểm bình định như tỉnh Định Tường năm
1970, địch sử dụng 21.000 quân các loại phục vụ cho hoạt động bình
định; vùng ven Sài Gòn - Gia Định năm 1972 có tới 113.000 quân các
loại để tiến hành bình định. Chính vì vậy địch vẫn sử dụng hình thứ c
hành quân càn qué t làm hoạt động chủ yếu để thực hiện bình định. Ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều chiến dịch bình định lớn đượ c
tổ chức như "Đồng Khởi", "Tổng tấn công đồ ng loạt", "nhổ cỏ U Minh".
Năm 1969 toàn miền Nam địch tổ chức 11.945 cuộc hành quân càn
quét bình định, trong đó riêng Nam Bộ có 9.648 cuộc.
(Lịch sử Việt Nam tập 3 NXB Giáo dục)

Chán đời đi lang thang !
0
TỪ THÁNG 11/1963 ĐẾN 1965:
CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN 10 LẦN ĐẢO CHÍNH
Chính quyền Sài Gòn - chỗ dựa chủ yếu về chính trị của "chiến
tranh đặc biệt", ngày càng tan rã, rối loạn. Phong trào đấu tranh
chính trị, vũ trang sôi sục ở các vùng nông thôn đã dội vào các thành
thị miền Nam, làm cho chính quyền Sài Gòn ngày càng chao đảo, nội
bộ mâu thuẫớ n, lục đục. Chỉ tính từ tháng 11-1963 đến giữa năm
1965, chúng đã 10 lần làm đảo chính để thanh toán lẫn nhau:
1.11.1963, đảo chính lật đổ Diệm - Nhu, do Hội đồng tướng lĩnh
thực hiện, đứng đầu là Dương Văn Minh. 30.1.1964, đảo chính lật đổ
Dương Văn Minh, do "Hội đồng quân lực" thực hiện, đứng đầu là
Nguyễn Khánh. Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh.
27.8.1964, "Hội đồng quân lực" lạ i "chỉnh lí", lập "tam đầu chế": Minh
- Khánh -Khiêm. 13.9.1964, đảo chính hụt do Lâm Văn Phát và
Dương Văn Đức cầm đầu. 1964, Nguyễn Khánh lật đổ Minh - Khiêm.
20.10.1964, do sức ép của Mỹ, Khánh phải ra khỏi chính quyền, đưa
Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ
tướng. 25.1.1965, "Hội đồ ng quân lực" do Nguyễn Văn Thiệu cầm
đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội. 1965, "Hội đồng quân lực" lật đổ
chính quyền dân sự của Phan Khắ c Sửu, Phan Huy Quá t, lập Ủy ban
quốc gia do Thiệu làm Chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy
ban hành pháp (Thủ tướng) v.v... Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ -
Mácnamara từ miền Nam Việt Nam về đã báo cáo trước Nhà Trắng
và Quốc hội Mỹ: "Quân lực Việt Nam cộng hòa (ngụy quân) đã không
còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại". Thế là "chiến
tranh đặc biệt" của Mỹ được đẩy đến mức cao nhất và đã đứng trướ c
nguy cơ phá sản hoàn toàn. Trước tình thế khốn quẫn đó, đế quốc Mỹ
phải ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam, chuyển sang chiến
lược mới - "chiến tranh cục bộ". Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nướ c
của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.

Sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt" là một thất bại
nặng nề của Mỹ trong âm mưu dùng miền Nam Việt Nam làm nơi thí
điểm một loại hình chiến tranh mới - dùng người địa phương cộng với
vũ khí, đô la và các phương tiện kỹ thuật của Mỹ, do cố vấn Mỹ trự c
tiếp chỉ huy hòng dập tắt phong trào nổi dậy của nhân dân và "cuộ c
chiế n tranh đặc biệt mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt
Nam đã thất bại thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác".
(Lịch sử Việt Nam - Tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
CHI PHÍ CỦA MỸ VIỆN TRỢ CHO NGUỴ QUYỀN
DƯỚI THỜI MỸ - NGUỴ
Chú ng ta cần điểm qua vài nét về tài chính ngụy quyền Nam
Việt Nam dưới thờ i Mỹ ngụy để thấy rõ bộ mặt "thực dân mới", trong
đó đặc biệt là lĩnh vực thuế khóa, tiền tệ, tín dụng ngân hàng nói
riêng.
Sau hiệp định Giơnevơ, vào tháng 12/1954, thực dân Pháp theo
lệnh của đế quốc Mỹ ký kết một loạt hiệp định với cá c ngụy quyền
miền Nam Việt Nam, Cămpuchia, Lào, chính thức công bố phá vỡ sự
thống nhất của hệ tài chính - ngân sách tiền tệ, quan thuế, ngân
hàng chung trong cả Đông Dương, dọn đường cho đế quốc Mỹ trự c
tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam.
Những hiệp định này khẳng định rằ ng trên nguyên tắc từ nay
mỗi quốc gia được quyền tự do phát hành và kiểm soát tiền tệ, tự ấn
định các chế độ tài chính, ngân sách, thuế khóa, tiền tệ, ngoại hối,
thương mại... Đây là cơ sở pháp lý để Mỹ lần lượt trực tiếp nắm lĩnh
vực tài chính ở 3 nước Đông Dương. Mỹ tuyên bố ngay một chương
trình viện trợ trực tiếp cho 3 quốc gia nói trên bắt đầu từ 1/1955 thay
vì viện trợ qua trung gian Pháp. Như vậy, thực chất tài chính của
ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 là thực hiện một
quá trình viện trợ của Mỹ và việc sử dụng viện trợ ấy của ngụy
quyền.
Với âm mưu xâm lược hòng biến nước ta thành thuộ c địa kiểu
mới của chúng, đế quốc Mỹ trong hơn 21 năm từ 1954 đến 1975 đã
không ngừng tăng cường viện trợ cho ngụy quyền tay sai. Tổng số
viện trợ này qua các thời kỳ như sau: 1955-1964: 2.497 triệu đô la,
1965-1968: 2.945 triệu đô la, 1969-1972: 2.408 triệu đô la, 1973-1974:
1.119 triệu đô la.

Ở đây chưa kể số viện trợ riêng về quân sự bình quân mỗi năm
khoảng 1.600 triệu đô la. Theo tập tài liệu miền Nam của Việt Nam
thông tấn xã tháng 2/1973, thì trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam,
Mỹ đã chi tiêu hàng trăm tỷ đô la. Chi phí trực tiếp từ 141-144 tỷ đô
la, chi phí gián tiếp 350 tỷ đô la. Riêng số tiền để nuôi số lính Mỹ tiến
hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việ t Nam năm 1966 là 25
tỷ đô la, năm 1967 gần 30 tỷ đô la, năm 1968 hơn 30 tỷ đô la, năm
1969 là 36 tỷ... Số viện trợ về quân sự và chi tiêu để nuôi lính Mỹ này
không nằm trong ngân sách của ngụy quyền. Vớ i quy mô và hình
thức viện trợ như vậy nên ngân sách hàng năm của ngụy quyền Sài
Gòn dựa chủ yếu vào nguồn thu viện trợ của Mỹ. Hầu hết các khoản
chi tiêu của ngân sách ngụy quyền cũng trực tiếp hoặc gián tiếp phụ c
vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy số viện trợ của
Mỹ to lớn như vậy nhưng cuối cùng chúng vẫn thấ t bại thảm hại
trước cuộc chiến đấu vô cùng ngoan cường dũng mãnh của quân dân
ta.
(Theo Lê Quốc Sử - Một số vấn đề về lịch sử Kinh tế VN)

Chán đời đi lang thang !
0
SÀI GÒN - GIA ĐỊNH,
VÙNG ĐẤT MỚI PHƯƠNG NAM
Từ những năm đầu Công nguyên, vùng đất ngày nay tương ứng
với các cửa sông Cửu Long và Đồng Nai, có lẽ đã được chi phối về mặt
chính trị bởi các nhà nước cổ đại, và ta có thể chấp nhận rằng, đất Sài
Gòn -Chợ Lớn, từ một thời kỳ rất xa xưa, mà niên đại sớm nhất có
thể định vào khoảng giữa thế kỷ thứ VII hay thứ VIII, đã là một điểm
cư trú của quần thể con người. Hai thị trấn nhỏ Prei Nokor (Sài Gòn,
về sau là Chợ Lớn) và Kas Krobey (Kompong Krabei, Bến Nghé, về
sau là Sài Gòn) đã có từ trước thế kỷ XVII. Năm 1623, chúa Sãi
(Nguyễn Phúc Nguyên, 1613-1635) cho sứ giả thương lượng tìm cách
để đặt các phòng sở thuế quan tại đấy.
"Bấy giờ vua An Nam mớ i cử các viên chức thuế quan đến đóng
tạ i Prei Nokor và Kas Krobey, và, từ lúc đó, bắt đầu tiến hà nh thu
các loại thuế quan".
Năm 1860, nhóm cận thần nhà Minh: Dương Ngạn Địch,
Huỳnh Tấn, Trần Thắng Tài, Trần An Bình đem khoảng 3.000 binh
lính và gia quyến đến xin lưu trú ở Đàng Trong. Chúa Hiền (Nguyễn
Phúc Tần, 1648-1687) cho phép họ vào khai khẩn vùng Mỹ Tho và
Biên Hòa, thuộc đất Đông Phố (tên gọi vùng Gia Định thời bấy giờ).
Hậu bán thế kỷ thứ XVII và suốt thế kỷ XVIII, đất Gia Định đã
chứng kiến những cuộc chiến tranh và sự tranh chấp nội bộ của cá c
thế lực phong kiến và võ biền Xiêm, Chân Lạp, Chiêm Thành (Côn
Man), nhóm cự u thần nhà Minh, lực lượng các chúa Nguyễn và phong
trào nông dân Tây Sơn. Vùng Sài Gòn - Gia Định là mục tiêu kiểm
soát nhằm chiếm ưu thế kinh tế, chính trị và quân sự trong toàn
vùng Nam Bộ.

Năm 1674, những mâu thuẫn giữa vua Chân Lạp Nặc Ông Nộn
và Nặc Ông Đài liên minh với quân Xiêm đưa đến sự can thiệp quân
sự của chúa Hiền, mở rộng tầm kiểm soát đến tận Sài Côn (Sài Gòn).
Năm 1688, sự tranh chấp giữa hai lực lượng võ biền ngườ i Hoa:
Dương Ngạn Địch (ở Mỹ Tho) và Huỳnh Tấn (ở Cù lao Phố, Biên
Hòa), rồi giữa Huỳnh Tấn và Nặc Ông Thụ là những lý do đưa đến sự
kiểm soát trực tiếp của chúa Nguyễ n trên vùng Mỹ Tho và Đồng Nai
- Gia Định.
Để ổn định vùng tranh chấp, chúa Nguyễn cho tổ chức những
cuộc hành quân lớn trên vùng đất mới kiểm soát: Năm 1689-1690,
Nguyễn Hữu Hào đem quân bắt vua Chân Lạp Nặc Ông Thụ rồi lui
quân trú đóng ở Sài Gòn. Năm 1698, Nguyễn Hữ u Cảnh, được bổ
nhiệm Kinh lược sứ Chân Lạp, lấy vùng đất kiểm soát đượ c ở Đông
Phố lập ra Gia Định phủ, gồm 2 huyện Phước Long (đất Đồng Nai) và
Tân Bình (đất Sài Gòn - Bến Nghé), tổ chức guồng máy chính quyền
và quân sự ở đây.
Năm 1705, vua Chân Lạp Nặc Ông Thâm liên minh với quân
Xiêm để triệt hạ thế lực tranh chấp Nặc Ông Yêm. Nặc Ông Yêm
phải chạy qua Gia Định cầu viện. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Cửu Vân
đem quân đánh tan quân Xiêm, đưa Nặc Ông Yêm về thành La Bích
rồi rút quân về.
Năm 1714, Nặc Ông Thâm đem quân từ Xiêm về đánh lấy
thành La Bích. Nặc Ông Yêm lại cho người sang Gia Định cầu viện.
Đô đốc Phiên Trấn (Gia Định) Trần Thượng Xuyên phát quân sang
đánh, Nặc Ông Thâm bỏ thành chạy sang Xiêm.
Năm 1729 đất Gia Định bị đe dọa trước sự động binh của Chân
Lạp, chúa Nguyễn cho đặt sở Điều khiển để lo việc quân sự trong
vùng.
Năm 1743 xảy ra cuộc tranh chấp ở triều đình Chân Lạ p, giữa
Nặc Nộn, Nặc Hiên và Nặc Nguyên. Nguyễn Hữu Doãn được cử đem
quân từ Gia Định (thuộc sở Điều khiển) lập lại trật tự trong vùng.

Nhân việ c Nặc Nguyên khi làm vua Chân Lạp đã áp dụng chính
sách đàn áp nhóm người thiểu số Chiêm Thành (Côn Man) sinh sống
trong vùng và có ý định liên minh với chúa Trịnh ở phía Bắc để chống
lại chúa Nguyễn. Năm 1753, Nguyễn Cư Trinh được cử làm Kinh lượ c
sứ Chân Lạp, đem quân từ 5 dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn
Biên, Phiên Trấn, Long Hồ) về đồn trú ở Bến Nghé; lập doanh trại gọi
là Đồn Dinh, huấn luyện quân ngũ, trù tính lương thực và kế hoạch
điều binh. Cuộc hành quân kéo dài đến 1755, giải phóng được nhóm
Chiêm Thành thiểu số, lập lại an ninh ở toàn vùng Gia Định.
Năm 1772, nhân việc Trịnh Quốc Anh, một người Hoa cơ hội
chủ nghĩa xưng vương ở Xiêm La đem quân đánh vào Hà Tiên, Rạch
Giá (1771), Nguyễn Cửu Đàm được cử đem quân đi đánh dẹ p. Lực
lượng chúa Nguyễn vào thời kỳ này đã chiếm được ưu thế chính trị và
quân sự trên toàn vùng Nam Bộ.
Phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ năm 1771 đã nhanh
chóng chiế m được thế chủ động ở Đàng Trong. Năm 1775, dưới áp lự c
của quân chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Thuần (1767-1777) phải rời
Phú Xuân trốn vào Gia Định. Sau khi điều đình với quân Trịnh để
tạm yên mặt Bắc, quân Tây Sơn bắt đầu mở những cuộc tấn công
đánh vào lực lượng của chúa Nguyễn ở phía Nam. Từ năm 1776 đến
1783, quân Tây Sơn năm lần tiến và o Gia Định. Cả 5 lần, quân
Nguyễn đều bị đánh bật ra khỏi đất liền. Số quân sống sót phải trốn
tránh trên các hải đả o.
Năm 1776, Nguyễn Lữ đánh cửa Lạp (Soài Rạp) rồi cho thuyền
vào cửa Cần Giờ tấn công lấy được ba dinh: Phiên Trấn (đất Sài Gòn -
Bến Nghé), Trấn Biên và Long Hồ rồi rút quân về.
Năm 1777, Nguyễn Huệ đánh chiếm Gia Định, bắt được cả hai
chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đem xử tử tại
chùa Kim Chương (góc Nguyễn Trãi và Cống Quỳnh ngày nay) vào
tháng Chín và tháng Mười năm ấy.
Năm 1778, Nguyễn ánh cho đắp lũy đất từ bờ sông Sài Gòn đến
kinh Tàu Hủ ngày nay, các vàm rạch lớn nhỏ đều cắm chông, nọc, các
đường thủy, bộ đều bị phong tỏa. Trịnh Hoài Đức mô tả cảnh sống
của nhân dân Gia Định vào thời kỳ này như sau:

"Từ lúc câu binh vào tháng 10 năm trước, đến tháng 6 năm này
(1778) đường thủy lục bị trở ngại, đồ thực dụng trong dân gian đều
kiệt ráo, không tiếp tế nhau được. Trong chợ chỉ bán mắm ếch (hay
mắm nhái), bánh đậu bà tương dùng lá dâu, lá khế làm trà uống, rễ
cây bồ quỳ, cây trà la (hay chà là) để thế cho cau... Ngoài ra, những
việc nhũng lạm, giả trá, di dịch, không kể xiết được. Khi ấy một chén
nhỏ muối xấu nặng ướ c 3 lượng, bán giá năm tiền, nhưng cũng không
có được nhiều, vậy nên người ta đều giấ u muối ở trong lưng như bọ c
vật quý vậy. Còn một vuông gạo giá tiền đến 2 quan, quan và dân đều
khổ cả".
Vào thời kỳ này, nhóm người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hòa), để
tránh những cuộc giao tranh, đã ngược sông Tân Bình (sông Sài Gò n)
kéo về tụ tập ở Sài Gòn lập ra khu Đề Ngạn (Chợ Lớn).
Năm 1782 Nguyễn Huệ đem quân vào cửa Cần Giờ đến Ngã
Bảy tấn công các tàu chiến của Nguyễ n Ánh. Viên thuyền trưởng
người Pháp là Mạn Hòe (Manuel) chỉ huy mộ t tàu chiến có 10 đại bác
bị tử trận, thuyền bốc cháy. Nguyễn ánh lui về Ba Giồ ng (Tam Phụ ở
Định Tường) chỉnh đốn đội ngũ rồi trở lên với ý đồ tái chiếm Bến
Nghé. Nguyễn Huệ chận đánh tại ngã tư sông, gần cầ u Bình Điền
ngày nay, lại thắng thêm một trận nữa. Nguyễn ánh phải chạy ra đảo
Phú Quốc.
Sau khi quân Tây Sơn rút về Qui Nhơn; tướng nhà Nguyễn là
Châu Văn Tiếp chiếm lại thành Gia Định, cho người ra đón Nguyễn
Ánh từ Phú Quốc về.
Năm 1783, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ đem quân trở lại Gia
Định. Nguyễn ánh bố trí trận địa thật kỹ, dùng hỏ a công đón đánh,
nhưng quân Tây Sơn lại toàn thắng sau khi hạ hai đồn Cá Trê và
Rạch Bàng (vùng cầu Tân Thuận ngày nay) án ngữ Bến Nghé.
Nguyễn ánh phải chạy qua Xiêm xin cầu viện.
Tháng 7 năm 1784, thủy quân Xiêm đổ bộ và đến cuối năm,
chiế m đóng quá nửa miền đất phía Tây Gia Định. Nguyễn Huệ đem
thủy quân vào Mỹ Tho bố trí ở vùng Rạch Gầm - Xoài Mú t, khiêu
chiế n đưa quân địch vào trận địa và đến ngày 18-1-1875 tiêu diệt
toà n bộ chiến thuyền của quân Xiêm và quân của Nguyễn Ánh.
Nguyễn ánh cùng nhóm tàn quân chạy chốn qua Xiêm.

Năm 1788, nhân lúc Nguyễn Huệ bận lo đánh dẹp ở phía Bắc,
Nguyễn ánh trở lại chiếm Bến Nghé và củng cố lự c lượng của mình
trong vùng Gia Định. Ngày 24-6-1789, đạo quân viễn chinh Pháp (do
giám mục Bá Đa Lộ c (Pigneau de Béhaine Eévêque d'Adran) và
Hoàng tử Cảnh - được Nguyễn ánh cử đi cầu viện ở triều đình Louis
XVI từ năm 1784 - dẫ n đường) đổ bộ lên Bãi Dừa ở Vũng Tàu. Năm
1790, Nguyễn ánh cho xây thành Gia Định theo kiểu Vauban, do sĩ
quan người Pháp Olivier de Puymanuel thực hiện.
Các chúa Nguyễn đóng đô ở Gia Định từ 1775 đến 1801
(Nguyễn Phúc Thuần từ 1775 đến 1777; Nguyễn á nh từ 1778-1801).
Năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long dời đô về
thành Phú Xuân (Huế). Trung tâm chính trị của triều Nguyễn được
chuyển về Huế, đất Sài Gòn - Gia Định trở lại địa vị của một trấn
biên thành. Gia Định phủ do Nguyễn Hữu Cảnh lập năm 1689 đến
năm 1774, dưới thời Vũ Vương (Nguyễn Phúc Khoát, 1738-1765) lập
thành 3 dinh từ 1802 đến 1807 được đổi thành Gia Định trấn rồi Gia
Định thành (1807-1837) gồm 5 trấn. Từ năm 1834, đất Gia Định
thành được gọ i là Nam kỳ gồm 6 tỉnh và dưới thời Pháp thộc đượ c
chia thành 21 tỉnh.
(Xưa và Nay số 50B - Tháng 4-1998)

Chán đời đi lang thang !
0
DANH SÁCH CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ THÀNH UỶ
TỪ NĂM 1930 - 1973
1. Nguyễn Văn Lợi (Hữ u Dũng) (3/1930)
2. Tạ Đức Tường (4/1932)
3. Trần Văn Vi (Dân Tôn Tử) (1935)
4. Nguyễn Văn Nghi (1936)
5. Nguyễn Thị Minh Khai (1937 - 1940)
6. Nguyễn Như Hạnh (1940)
7. Nguyễn Văn Kỉnh (1945)
8. Phạm Phong Lâm (1945)
9. Trần Đình Trọ ng (1945 - 1946)
10. Nguyễn Văn Linh (1947 - 1948)
11. Võ Sĩ (Lê Văn Sĩ) (1948)
12. Nguyễn Hộ (1949 - 1950)
13. Nguyễn Văn Linh (1950 - 1952)
14. Trần Quốc Thảo (1952 - 1954)
15. Nguyễn Văn Linh (1954 - 1956)
16. Trần Quốc Thảo (1957)
17. Võ Văn Kiệt (1957 - 1964)
18. Nguyễn Văn Linh (1965)

19. Võ Văn Kiệt (1965 - 1967)
20. Trần Bạch Đằng (1968 - 1972)
21. Nguyễn Văn Linh (1972 - 1973)
22. Mai Chí Thọ (1973 - 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
KHỞI NGHĨA NAM KỲ Ở GIA ĐỊNH VÀ CHỢ LỚN
1. Cuộc nổi dậy trong tỉnh Gia Định
Thực hiện lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy, Ban khởi nghĩa tỉnh Gia
Định do đồng chí Lê Văn Khương, Thường vụ Xứ ủy kiêm Bí thư Tỉnh
ủy, phụ trách, đã họp bàn đề ra kế hoạch như sau:
1. Tuyển chọn một lực lượng lên Thành phố Sài Gòn tiếp sứ c
đánh chiếm sân bay, dinh Tỉnh trưởng, phá Khám Lớn...
2. Tại địa phương, huy động quần chúng nhân dân các xã, có lự c
lượng du kích, tự vệ làm nòng cốt, trang bị vũ khí thô sơ, đánh các
đồn bót, nhà việc, giành chính quyền xã , huyện và tỉnh, cắt dây điện
thoại, chặt cây chặn đường phá cầ u... để chặn viện binh địch. Nếu có
xe địch thì chặn đánh, cướp vũ khí.
Từ chiều ngày 22, lực lượ ng tuyển chọn của các quận Hóc Môn,
Gò Vấp và cả Thủ Đức, Nhà Bè... đã chia thành toán nhỏ, dùng cá c
phương tiện xe thổ mộ, xe điện, đi bộ đến địa điểm tập kết đã qui
định. Nhưng đến 0 giờ ngày 23, vẫn chưa nghe thấy tiếng súng lệnh
của Sài Gòn. Tất cả vội rút về tham gia nổi dậy tại địa phương.
Ở quận Gò Vấp, tuy chưa thấy Sài Gòn nổ súng, nhưng theo kế
hoạch đã định. Nam khởi nghĩa quận đã chủ động ra lệnh tiến công
các đồn bót Lăng Cha Cả, Vườn Tiêu, Ngã Năm Vĩnh Lộc, Phú Lâm...
cùng với nghĩa quân Hóc Môn cắt dây điện thoại, ngả cây chặn
đường, phá một số cầu dọc đường từ Sài Gòn dẫn đi Tây Ninh.
Trong trận đánh chiếm đồn Ngã Năm Vĩnh Lộc, ta bày trò cờ
bạc nhử Cai Triều và Bếp Dũng phụ trách đồn, đến đánh bạc, 23 giờ
ta tước 2 súng và thuyết phục 2 người quay về gọi đồn mở cửa. Nghĩa
quân ập vào tước thêm 2 súng. Việc chiếm đồn diễn ra rất nhanh,
gọn, ta lấy được 4 súng và 48 viên đạn. Sau khi giáo dục, Cai Triều,
Bếp Dũng và lính được cách mạng tha ngay trong đêm.

Trong khi đó, nhân dân các xã chung quanh nổi trống mõ phèng
la, mang theo đuốc, đổ ra mừng thắng lợ i. Còn các bót Lăng Cha Cả,
Vườn Tiêu, nghe tiếng mõ nổi khắp nơi, thấy nghĩa quân kéo đến đầy
khí thế, lính giữ bót vội rút chạy.
Ở quận Hóc Môn, gần nửa đêm, quần chúng các xã thuộc tổng
Long Tuy Hạ, Long Tuy Thượng, Bình Thanh Trung, có lực lượ ng du
kích quần đùi, áo sọc, cổ buộc khăn trắng trang bị dao găm, rìu, búa...
làm nòng cốt, nổi trống mõ, phèng la, đốt đuốc kéo đến chiếm các nhà
việc xã, tước súng của tề làng, cắt dây điện, đốn cây chặn đường, đốt
cầu Bông, gỡ ván cầu Rạch Trà...
Khoả ng 1 giờ 30 ngày 23, quần chúng từ các ngả kéo về hỗ trợ
tiến công đồn và chiếm quận lỵ Hóc Môn.
Nghĩa quân đã chiếm nhà việc xã, dinh quận, làm chủ quận lỵ
và gần như đã chiếm được đồn Hóc Môn. Quận Thọ rút lên lầu cao cố
thủ bắn xuống. Quân ta dùng súng bắn lên kéo dài hơn hai giờ, đến
sáng. Do lầu cao kiên cố, ta chỉ có vài khẩu súng trường, lại chưa có
kinh nghiệm đáng đồn, cho nên Quận họ, một tên đốc phủ rất gian ác,
đã thoát chết.
Địch cho 6 lính ở đồn gần đó đến ứng cứu, nhưng trên đường đi
bị nghĩa quân chặn đánh một tên bị giết, 4 tên bị thương tháo chạy,
một tên mất tích.
Được tin báo, quận Hóc Môn bị nghĩa quân chiếm, từ Sài Gòn
và tỉnh lỵ Gia Định, Pháp vội vàng cho 2 viên cò, 4 viên thanh tra, 3
sen dầm, 20 cảng sát, 30 khố xanh, trang bị súng ống đầy đủ kéo
xuống. Nhưng vì chúng phải đi vòng đến lúc trời sáng rõ, chúng mới
tới, thì nghĩa quân và quần chúng đã rút hết.
Trong cuộc đánh chiếm quận Hóc Môn, nghĩa quân đã thu đượ c
trên 21 khẩu súng, 6 trên 13 lưỡ i lê của địch, diệt lính và làm bị
thương 6 tên khác.
Phía ta, 2 nghĩa quân hy sinh và 17 quần chúng bị hương, để lại
hiện trường 19 dao găm, 11 dao bếp, 2 dao cầu thái thuốc, 1 dìu,
nhiều băng khẩu hiệu, truyền đơn...

Như vậy là, ngay sát nách Thà nh phố, cơ quan cai trị đầu não
của địch, nhân dân đã nổi dậy làm chủ một quận lỵ trong khoảng 4
giờ đồ ng hồ, mặc dù chúng đã được báo trước và đã có đề phòng.
Cũng vào lúc 23 giờ ngày 22, một toán nghĩa quân thuộc Long
Tuy Hạ, cắt dây điện thoại, ngả cây chặn đường Hóc Môn đi Trảng
Bàng, kéo đến chiếm nhà việc Tân Phú Trung, tước 4 súng, diệ t một
tên ngoan cố chống lạ i.
Trên đường tiến về phía cầu Bông (Pháp gọi là cầu Tân Phú
Trung cách Sài Gò n 24 km), nghĩa quân gặ p lính đồn Bà Điểm (đồn
này do cò Etienen Bétaille (Bêtai) làm đồn trưở ng) đi tuần. Thấy lự c
lượng quần chúng quá đông, chúng hốt hoảng bỏ chạy. Ta diệt đội
Tướ c vì y bắn lại nghĩa quân.
Nghĩa quân địch phá cầu Bông, nhưng vì cầu kiên cố, anh chị
em dùng mủ cao su rải trên mặt cầu, rồi đốt và cho bóc ván. Sau khi
nghĩa quân rút đi, ô tô chủ đồn điền cao su Arnaud mang tiền từ Sài
Gòn về Tây Ninh, đến cầu, xe không qua được, Arnaud vào làng gọi tề
cho dân ra sửa. Quần chúng cho là tên cò Bétaille, một tên rất ác độc,
liền hò nhau cầ m dao giết chết. Xe và tài xế cho đi, trên ô tô vẫn còn
một vạn đồng Đông Dương.
Sau vụ này, Pháp cho xây ngay một đồn bảo vệ cầu Bông.
Nghĩa quân và quần chúng còn tiến hành mấy cuộc biểu tình
biểu dương lực lượng nữa, nhưng trướ c sức khủng bôở bằ ng lực lượng
quân sự chính quy trang bị hiện đại của địch, kể cả máy bay từ Cát
Lái lên ném bom tàn sát dân làng Tân Phú Trung, nghĩa quân phải
chia nhỏ rút vào Đồng Tháp Mười và lên Truông Mít (Tây Ninh)
2. Cuộc nổi dậy trong tỉnh Chợ Lớn
Đồng chí Dương Công Nữ, Xứ ủy viên kiêm Bí thư Tỉnh ủy Chợ
Lớn, trực tiếp chỉ huy cuộc nổi dậy và giữ mối liên lạc của Chợ Lớn
với Sài Gòn và Gia Định.
Ban Khởi nghĩa Chợ Lớn đã chia hai lực lượng:
Một lực lượng được lựa chọn từ những người trung kiên của
Trung Huyện, Cần Đước, Đức Hòa nằm dọc đường chiến lược số 4. Sài

Gòn đi miền Tây, đưa lên hỗ trợ cho cuộc nổi dậy ở thành phố. Một
lực lượng nổi dậy tại chỗ.
Về lực lượng đưa lên hỗ trợ Thành phố: Du kích của Đứ c Hòa
tậ p kết ở Bàu Sen (xã Đức Hòa) rồi chia nhỏ kéo lên phối hợp với du
kích Bà Điểm, Hóc Môn. Còn du kích của Turng Huyện, Cần Đướ c
chia nhỏ 3 người một tổ bằng mọi phương tiện lên Thành phố rồi tản
ra rải rác trước rạp xi nê, quán giải khát chung quanh địa điểm tập
trung là đầu cầu Xóm Chỉ (Chợ Lớn). Mỗi người mang theo quần đùi,
áo cọc tay, một khăn tay trắng để buộc sát nách khi hành động. Một
thuyền vũ khí bí mật vượt qua hai đồn Bình Điền và Rạch Cát cũng
lên đến chân cầu Xóm Chỉ để phát cho du kích trước giờ khở i sự.
Đúng 12 giờ khuya, đèn Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn sáng, không
thấy có tiếng súng nổ. Đồng chí chỉ huy cho anh em biết là liên lạc với
các nơi đã bị đứt; lính Pháp chặn các ngả đường ra vào Thành phố,
xét giấy tờ tất cả ai quan đường. Lính đang đi chơi phố cũng bị đưa
lên xe về doanh trại, có lẽ không xong rồi, nên đồng chí ra lệnh cho
anh em rút về địa phương, kể cả thuyền vũ khí.
Tại Trung Huyện, ngay nửa đêm ngày 22, nghĩa quân nổi dậy
chiể m nhà Việc Bênở Lức (xã Tân Tiến) diệt hương hào Phước và
đánh bị thương hương quản Viên (ta tưởng nó chết, về sau nó chống
cách mạng kịch liệt hơn). Đồng thời cắt dây điện thoại. Thế là đường
liên lạc bằng điện thoại giữa Sài Gòn, pháo đài Rạch Cát và các tỉnh
miền Tây bị đứt; đánh bót Bến Lức thu được súng, hạ bó t Voi Lá thu
2 súng. Sau khi giải thích, nghĩa quân thả ngay lính gác cầ u Bến Lức.
Nhân dân các xã Long Hiệp, Tân Tiến, Thanh Hà, Mỹ Yên... nổi
trống mõ, phèng la hưởng ứng, kéo ra đường mít tinh.
Hôm sau (ngày 23), địch đưa lính về tăng cường cho bót Thanh
Hà lùng bắt hơn 30 người, giam ngay tại xã. 9 giờ tối, nghĩa quân, có
hàng trăm dân làng hỗ trợ đã bao vây bót. Bọn lính hoảng sợ bỏ chạy,
ta giải thoát đượ c số người bị giam giữ.
Tại Cần Giuộc, ta thuyết phục được Bình Xuyên theo cách
mạng, cùng nghĩa quân đố t dinh quận.
Tại Cần Đước, nghĩa quân đã huy động quần chúng các xã Lộc
Thành Hạ, Tân Lân, Mỹ Lệ, chủ trương đány chiếm quận lỵ, pha càu

Chù a, bến Bắc cầu nổi... Nhưng do địch tăng thêm binh lính, cảnh sát
bảo vệ, cho nên không thực hiện đượ c kế hoạch.
Tại Đức Hòa, là nơi có truyền thống cách mạg lâu đời, Pháp
phải kiêng nể và luôn luôn đề phòng từ những năm 1930. Trước cuộc
nổi dậy, cơ sở Đảng và tổ chức quầ n chúng ở đây khá mạnh. Địch đã
đề phòng trước, trang bị cho đồn Đức Hòa một tủ gỗ sao rất chắc chắn
để cất súng, cho là m hàng rào chung quanh bảo vệ đồn và có lệnh
không cho ai được đến gần...
Ban khởi nghĩa của Đức Hòa gồm các đồng chí đã có quá trình
đấu tranh, đã được rèn luyện thử thách qua chiến đấu, có cả người đã
từng đi lính khố đỏ, hiểu biết về quân sự được giải ngũ về địa phương
và tham gia cách mạng.
Ngay đêm 22, nghĩa quân đã nổ i dậy, chiếm nhà việc, tước súng
của Hương thân Sai ở ấp Bình Thủy, Tổng cầu An Hạ. Nhà việc của
nhiều xã đều bị quần chúng xuống đường uy hiếp.
Hơn 100 nghĩa quân theo các đường hàng tỉnh như đường 9,
đường 10, kéo về định chiế m quận. Nhưng khoảng 1 giờ 30 sáng 23,
đoàn theo đường 9 còn cách quận lỵ 500 mét, thì gặp xe của quận
hậu, có phó quán Trần Văn Nên trưởng đồn Đức Hòa củng nhiều lính
đi tuần từ quận ra. Nhậ n được tin này nghĩa quân phả i tản ra ẩn nấp
trong rừng rậm sau chùa, rồi sau đó kéo về Giồng Cám.
Sáng 23, vào lúc 8 giờ, đồn Đức Hòa được báo có cộng sản ẩn
núp ở Giồng Cám. Thực ra đây là vụ bố trí cho địch rơi vào ổ phụ c
kích của nghĩa quân. Phó quản Nên vộ i mang lính theo đường 10 rồi
rẽ vào Giồng Cám. Khi phó quản Nên đi xe đạp ngang lũy tre nhà bà
Truyện, sau lũy tre nghĩa quân đã đào trước 14 "tăng xê" mỗi cái cách
nhau 1 mét, nơi đó có bù n lầy lội, thì bị khoảng 100 nghĩa quân phục
sẵn ở sau lũy tre rậm và "tăng xê" nổ hai phát súng. Một phát trúng
vai phó quản Nên và một phát trúng bếp Nguyễn Văn Nhung, cả hai
chết tại chỗ. Súng vừa nổ thì nghĩa quân xông ra chém bếp Thái Kim
Hưng và lính Trầ n Thanh hai bị thương, địch chuyển về nhà thương
Chợ Lớn. Còn nhữ ng lính khác bỏ chạy...

Trận phục kích này ta thu được 4 súng trường, 1 súng lục. Và
sau đó, chia làm hai rút về vùng đầm lầy Hậu Hòa, Nhơn Hòa (xã
Đức Hò a) và Đứ c Lập, Mỹ Hạnh.
Thấy nhân dân đã nổi dậy, vừa bị mất người và mất súng, địch
vội cho cả xe tăng, xe bọ c thép, ôtô, súng máy, mô tô, trang bị sú ng tự
động rầm rập kéo xuống Đức Hòa, tỏa ra quần thảo trên các đường
8,9,10, uy hiếp quần chúng. Nhưng nghĩa quân vẫn ở sâu trọng cá c
giồng rậm rạp.
6 giờ chiều, xe địch rút về thành phố. Đồn Đức Hòa chỉ còn 7
lính, lại ở trong tình huống bị đe dọa.
Nghĩa quân đã có chủ trương huy động quần chúng các xã
chung quanh cùng vớ i du kích đánh chiếm đồn Đức Hòa vào đêm 23.
Nhưng vì địch mới điều cho Đức Hòa thêm một Trung đội lính khố đỏ,
4 súng máy, nên nghĩa quân phải hủy bỏ cuộc đánh chiếm quận lỵ.
Ngày 24, địch cho một đơn vị lê dương, cả lính khố xanh, lính
khố đỏ về càn quét, 15 giờ máy bay của Pháp từ Cát Lái đến bắn phá
Giồng Cám, Hậu Hòa, Đức Lập, Mỹ Hạ nh... những nơi mà địch đượ c
báo là có quần chúng nổi dậy.
Ngày 25, nghĩa quân đánh đồn điền mía Roly ở Hòa Khánh, của
một người Pháp gốc Ba Lan, bá tước Seibor Rylski. Nghĩa quân bắn
mấy phát súng săn. Y bị thương nặng, phải cấp cứu đưa về bệnh viện
Sài Gòn. Ta tước được 1 súng lửa, 1 súng lục.
Địch huy động một lực lượng lớn để trả đũa cuộc nổi dậy của
nhân dân Chợ Lớn. Chúng ta điều: 1 đại đội khố đỏ do đại úy Dinahot
chỉ huy; 2 đại đội người Rađê do 1 đại úy và thiếu úy Agostini chỉ
huy; 55 lính Miên do thiếu úy Ancel chỉ huy; 80 lính khố đỏ do thiếu
úy Cazenave chỉ huy; một đơn vị thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa
thứ 11 do 1 trung úy chỉ huy, có cả xe tăng, thiết giáp, máy bay yểm
trợ để càn đi quét lại suốt tháng 12-1940 sang đầu năm 1941.
Nghĩa quân ngày càng khó khăn: gần 80 người với 15 súng
trong đó 35 người Tân Phú Trung, 12 người Mỹ Hạnh và Đức Hòa, 33
người Tân Sơn Nhất, Bà Quẹ o, Hóc Môn kéo vào Truông Mít (Tây
Ninh) với ý định theo đường Trường Sơn ra Bắc. Nhưng sau nhiều

lần chống bao vây, càn quét của địch, lực lượng bị tiêu hao, còn lại 20
người phải quay về mộ Ba Làng (Gia Định).
Một lực lượng khác của Trung Huyện, Đức Hòa thì rút về Hòa
Khá nh (Chợ Lớn), Thanh Lợi, Bình Hòa (Thủ Thừa, Tân An), dựa vào
đó để tiếp tục hoạt động thêm một thời gian nữa và phần lớn các tề ở
vùng này đều ngả theo cách mạng.
(Lịch sử Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh. NXB TP.HCM 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
TIẾN TỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Tháng 6 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và dựa
trên cá c tổ chức cơ sở của Đảng, một phong trào thanh niên công khai
ra đời -phong trào Thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh nhằm
chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Chỉ trong vòng hai tháng vận động, đội ngũ
thanh niên Tiền phong lên đến 200.000 người tại Sài Gòn và lan
nhanh xuống các tỉnh Nam bộ, thu hút hàng triệu người yêu nước.
Đến tháng 8, sau ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, phong trào Thanh
niên Tiề n phong thu nhận cả phụ lão, thiếu niên, phụ nữ, trở thành
một mặt trận nhân dân yêu nước rộng rãi.
Lúc này, Sài Gòn sống một không khí hoàn toàn mới mẻ. Phố
xá, công sở, nhà máy, trường học, đâu đâu cũ ng có tổ chứ c Thanh
niên Tiền phong, chỗ nào cũng nổi lên nhữ ng lớp ngườ i mặc đồng
phục quần soọc xanh, sơ mi cộc tay trắng, đội mũ cói rộng vành, vũ
trang bằng gậy tầm vông vạt nhọn, dao găm và một cuộn dây thừng
đeo bên thắt lưng. Bài đoàn ca "Lên đàng" của Thanh niên Tiền
phong vang lừng trên đường phố, trên các sân vận động, tại trụ sở số
14 đường Sác-ne và trụ sở Pe-lơ-ranh.
Đêm 14-8-1945, Mặt trận Việ t - Minh triệu tập một Hội nghị
hiệp thương với các đảng phái chính trị tôn giáo công khai, đa số là
thân Nhật. Các anh Nguyễn Văn Nguyễn và Phạm Ngọc Thạch chủ
tọa cuộc họp này và cuộc họp đạt được kết quả là họ hứa không chống
lại việc Việt - Minh đứng lên cướp chính quyền.
Ngày 15-8: tin Nhật đầu hàng càng làm cho bầu không khí tiền
khở i nghĩa thêm sôi động.
Ngày 16-8: Thanh niên Tiền phong tuyên bố là một bộ phận của
Việt - Minh và đổi cờ vàng sao đỏ ra là cờ đỏ sao vàng.

Ngày 19-8: Tin Hà Nội cướp chính quyền lan nhanh như một tia
chớp.
Ngày 20-8: Việt - Minh ra công khai ở rạp Nguyễn Văn Hảo.
Đúng như ta dự đoán, bọn Nhật bị choáng váng hoang mang trướ c
tình thế chiến bại, nên không dám làm gì chống lại.
Ngày 21-8: Lần đầu tiên ngọn cờ đỏ sao vàng phất phới bay trên
nóc tiệ m cao lâu (Ánh sáng) ở đại lộ Ga-li-ê-ni... và trên mui của hơn
10 ô-tô tuyên truyền xung phong của ta lần lượt đi khắp thành phố.
Một lần nữa, Nhật nằm im như chờ chết.
Ngày 23-8: Trong lúc tỉnh Tân An thí điểm khởi nghĩa thắng lợi
trước sự bất lự c của Nhật, thì ở Sài Gòn Việt - Minh kêu gọi quần
chúng tẩy chay cuộc đón tiếp tên Khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ Huế
vào, do cái gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất" tổ chức.
Cũng trong ngày này, các đảng phái, đoàn thể quần chúng cùng
Thanh niên Tiền phong tổ chức một cuộc biểu tình có hàng vạn người
tham gia dưới khẩu hiệu:
"THỐNG NHẤT LỰC LƯỢNG" "ỦNG HỘ VIỆT - MINH".
Sáng 24-8: Đảng Cộng sản Đông dương ra công khai. Đông đảo
đồng bào tụ tập trước nhà bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ở đường Sát-xơ-lu
Lô-ba. Lá cờ Búa Liềm vinh quang nhuộm máu liệt sĩ 1930-1940 giờ
đây hiên ngang bay giữa bầu trời Sài Gòn hừng hực lửa đấu tranh
cách mạng, trên nó c cao Phòng khám bệnh của anh Thạch. Tại đây,
từ nhiều năm qua, anh Thạch đã khám bệnh và cứu chữa cho nhiều
đồng chí hoạt động bí mật bị mang bệnh lao. Giờ đây nhìn lá cờ báo
hiệu cách mạng sắp bùng nổ và tất thắng, còn hạnh phú c nào to lớn
bằng ! Có người nhìn cờ, miệng cười hớn hở, nhưng có người nhìn cờ
sung sướng quá mà nước mắt ướt quanh mi.
Đêm 24-8: Kỳ bộ Việt - Minh ra đời và mở hội nghị hiệp thương,
lập danh sách Ủ y ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Đảng Dân chủ
Việt Nam và Tổng Công đoàn ra công khai. Ủy ban Tổng Khởi nghĩa
Sài Gòn bắt tay vào chỉ đạo hành động. Khắp thành phố nổi lên
những khẩu hiệu:

"Bảo đại phải thoái vị". "Nguyễn Văn Sâm phải từ chức" "Chính
quyền về tay Việt-Minh" "Việt Nam độc lập muôn năm" "Đảng Cộng
sản Đông dương muôn năm"
20 giờ 24-8: Các đội trưởng quân khởi nghĩa họp tạ i trụ sở
Hướng đạo sinh ở đường Pen-lơ-ranh nghe phổ biến chủ trương tổng
khở i nghĩa, rồi tấp nập vào trụ sở Ủy ban Tổng khởi nghĩa đó ng ở số
6 đường Cô-lôm-ba nhậ n mệnh lệnh, kế hoạch và súng đạn.
22 giờ: Các đội Tự vệ Xung phong của các công sở, đồn bốt, tự
chiếm công sở củ a mình, kéo cờ đỏ sao vàng lên điểm cao nhất.
23 giờ: Các đội thanh niên Xung phong bố trí xong ở các ngã tư,
các đầu cầu. Các đội công binh đã trang bị búa tạ, cưa để sẵn sàng hạ
cây làm chướng ngại vậ t trong trường hợp quân phát xít Nhật can
thiệp.
24 giờ: Các đội Công đoàn Xung phong lao tới chiếm các cơ sở
yết hầu như dinh Thống đốc La-gơ-răng đi-e, Kho bạc, Sở Bưu điện,
Sở chữa lửa...
0 giờ: Kế hoạch được thực hiện và hoàn thành mỹ mãn. Các cơ
lính thủ hộ nộp súng, dâng trại. Quân lính Nhật co về phòng thủ.
Toàn bộ chính quyền lọt vào tay cách mạng 1 giờ sáng 25-8.
Hàng chục vạn đồng bào ngoại thành và các tỉnh lân cận Sài
Gòn như bà Điểm, Hóc Môn, Chợ Đệm, Tân An, Lái Thiêu, v.v... Ồ ạt
kéo vào hỗ trợ đồng bào nội thành, mang theo súng, gươm, giáo, mác,
cưa, búa, thang. Thành phố Sài Gòn rung chuyển dưới bước chân đi
của trên một triệu người, trong tiếng hát, tiếng hò reo, tiếng hô "một,
hai", tiếng còi rộn rã, tiếng cười hân hoang và muôn ngàn âm thanh
khác nhau, hòa thành tiếng nói của lịch sử: Từ nay chấm dứt 100
năm nô lệ - Từ nay sống trong Độc lập, Tự do.
Tại bồn binh ngã tư Bô-na - Sạc-ne, từ chập tối, anh Huỳnh Tấn
Phát khẩn trương chỉ đạo một công trình có lẽ có ý nghĩa lớn nhất
trong đờ i kiến trúc sư của anh là dựng lên một kỳ đài cao 10 mét
mang danh sách Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ.

Sáng 25-8: Sài gòn đã thay đổi hẳn bộ mặt. Dĩ vãng một thế kỷ
nô lệ lùi về xa xăm. Cả thành phố chìm ngập trong biển cờ, và biểu
ngữ. Trong màu cờ Tổ quố c, trong nụ cười, trong ánh mắt của mọi
người, ngời ngời một niềm vui hào hùng: CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
THÀNH CÔNG
(Theo sách - SG.TPHCM - NXB SGGP tái bán 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»