📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hiệp Cốt Đan Tâm- Lương Vũ Sinh

105 trả lời, 21.981 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 21:52:18Hoàng Dung>
tựa: Hiệp Cốt Đan Tâm (phần tiếp của Vân haỉ ngọc cung duyên)
truyện: kiếm hiệp
tác giả: Lương Vũ Sinh
dịch giả: Cổ Nguyệt

 
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Nhất
[/align]
Ẩn sĩ rừng sâu đón khách quý
Lời ngon rượu ngọt dụ thiếu niên
[/align]

Thơ Đào Tiềm thích nhắcKinh Kha.
Tóc dựng dừng mây hát tráng ca
Ngâm đến ân cừu bừng cảm khái
Giang hồ hiệp cốt mấy ai qua
Cung Định Am Kỷ Mùi tạp thi
[/align]
Núi rừng đang lúc vắng lặng, chỉ có chim ca ríu rít, vượn hú thê lương, chợt nghe tiếng bước chân dẫm lên lá khô xào xạc. Đó là một chàng trai người đầy bụi đường. Chàng ta là Tần Nguyên Hạo, đệ tử của chường môn phái Võ Đang Lôi Chấn Tử. Lúc này chàng đang đi giữa núi Tồ Lai.
Tuy đi một mình giữa chốn núi rừng tĩnh lặng nhưng lòng dạ Tần Nguyên Hạo xao xuyến lạ thường. Chàng nghe tiếng chim rừng hót líu lo, như tiếng con họa, lòng thầm nhủ: “Thơ cổ viết “Anh kì minh hĩ, cầu kì hữu thanh” (tiếng chim ấy hót như tiếng bạn mình) từ xưa đến nay người ta thường xem tiếng chim rừng là tiếng gọi bạn. Lần này mình đến huyện Đông Bình cũng chính là cơ hội tốt để biết thêm anh hào trong thiên hạ”.
Giữa chốn núi rừng tịch mịch, Tần Nguyên Hạo đã tưởng tượng ra cảnh náo nhiệt của năm ngày sau”. Hôm nay là mùng mười tháng tám, ra khỏi núi Tồ Lai, trong vòng hai ngày nữa mình có thể đến nhà họ Giang. Ngày mười lăm tháng tám mới khai hội, mình đến sớm ba ngày, không biết những người khác đã đến chưa? Nếu mình đến trước tiên, cũng có hơi ngại ngùng, song Giang đại hiệp rất mến khách, chắc ông ta chẳng trách mình đến sớm”.
Số là ngày mười lăm tháng tám là ngày con gái của Giang Hải Thiên, một vị đại hiệp nổi tiếng trong thiên hạ, xuất giá. Con gái của Giang Hải Thiên là Giang Hiểu Phù sánh duyên cùng đệ tử của ông ta là Vũ Văn Hùng dự định tổ chức vào tiết mùa thu. Giang Hải Thiên kết giao khắp thiên hạ, các môn phái lớn biết tin này, đương nhiên sai người đến nhà họ Giang chúc mừng. Tần Nguyên Hạo là do phái Võ Đang cử đến.
Thật ra phái Võ Đang nhân tài đông đúc, mà với thân phận của Giang Hải Thiên, nhân con gái ông ta xuất giá, lẽ ra phái Võ Đang cần sai người có vai vế cao hơn đến tham dự hôn lễ mới phải. Nhưng vì Tần Nguyên Hạo tuy chỉ là đệ tử của Lôi Chấn Tử, mà vốn người thông minh, võ công cao hơn các đồng môn, Lôi Chấn Tử thương yêu chàng nhất, có ý vun bồi, cho nên sau khi chàng học nghệ xong, đã bảo chàng đại diện phái Võ Đang đến nhà họ Giang, coi như đây là lần đầu tiên xuất đạo.
Lôi Chấn Tử biết Giang Hải Thiên rất mến những thiếu niên anh hùng, ông sai đệ tử giỏi nhất trong phái đến nhà họ Giang, Giang Hải Thiên chắc chắn sẽ rất vui, không trách ông ta thất lễ. Nhưng vì Tần Nguyên Hạo mới xuất đạo lần đầu tiên, người nhà họ Giang không biết chàng, cho nên Lôi Chấn Tử bảo chàng đem theo một bức thư giới thiệu của mình cùng với thiệp mời của nhà họ Giang.
Lúc này Tần Nguyên Hạo cũng đang muốn kết giao anh hào trong thiên hạ. Chàng đang suy nghĩ vu vơ, một làn gió thổi nhẹ qua, trong gió thoang thoảng mùi hương hoa quế. Tần Nguyên Hạo ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy trên núi có nhà cửa phòng ốc, căn nhà xây dựng theo thế núi, ngói xanh tượng đỏ. trông rất hùng vĩ. Vừa nhìn thì biết đây chẳng phải là nhà thợ săn bình thường, bên trong sân có trồng rất nhiều cây quế, hương bay thoang thoảng.
Lúc này mặt trời đã ngả về tây, ráng chiều đỏ như máu, dưới ánh nắng còn sót lại, hoa dại trên sườn đồi càng thêm đẹp đẽ. Lại thêm hoa quế đưa hương, nóc nhà ẩn hiện trên sườn đồi khiến chàng chẳng nỡ dời chân đi.
Tần Nguyên Hạo thầm nhủ: “Trời đã tối, ra khỏi núi Tồ Lai cũng chưa chắc tìm được nơi ở, chi bằng mình cứ xin tá túc ở ngôi nhà ấy”. Nhưng chàng lại nghĩ: “Không biết đó là nhà ai, sư phụ có dặn, đi lại trên giang hồ mỗi bước đều phải cẩn thận, giữa chốn rừng sâu có một căn nhà như thế chẳng phải chuyện thường, làm sao có thể tùy tiện tá túc? Mình dầm sương dãi nắng cũng đã quen, tìm không ra chỗ tá túc có gì đáng lo?”
Nhưng Tần Nguyên Hạo vì nhiều ngày lặn lội đường xa, lúc này đã mệt mỏi rã rời. Chàng hít sâu một hơi, hương hoa khiến chàng cảm thấy ngất ngây. Tần Nguyên Hạo ngồi xuống, nghĩ bụng: “Mình nghỉ một lát rồi hẵng đi. Dù sao cũng không vội lên đường”.
Chợt nghe bên trong vườn hoa có tiếng một thiếu niên nói: “Đại mạc cô yên trực” (Trên đại mạc khói lên) tiếp theo là tiếng thiếu nữ vang lên: “Trường hà lạc nhật viên” (Dưới sông mặt trời tròn). Tần Nguyên Hạo ở núi Võ Đang, ban ngày thì học võ, tối thì học văn, thơ Đường hay từ Tống đều xem qua. Nhưng nghe đôi nam nữ trong vườn mỗi người đọc một câu thơ, không khỏi ngạc nhiên nghĩ thầm: “Bọn họ không đọc trong thư phòng, nhưng lại đọc ở trong vườn hoa, lại không phải đọc cả bài, không biết là tại sao?”
Tòa trang viện ấy nằm dưới sườn núi, còn Tần Nguyên Hạo thì đang ngồi bên trên, hoa viên tuy có tường vây quanh nhưng không che được tầm mắt chàng. Chàng không có ý nhìn lên, nhưng lòng tò mò đã nổi lên, bất giác phóng tầm mắt về phía ấy.
Lúc này đôi thiếu niên nam nữ đang đứng trên bãi đất trống giữa vườn hoa. Chỉ thấy mỗi người cầm một thanh trường kiếm.
Thiếu niên nói: “Muội đã sử dụng Đại mạc cô yên trực đúng rồi đấy, nhưng kình đạo vẫn chưa đủ. Trường hà lạc nhật viên lại không đúng, còn phải luyện nữa, muội xem đây”. Nói xong bèn vung thanh trường kiếm vẽ thành một đường tròn. Chỉ thấy một màn kiếm ảnh xoay tròn, cả thân người của thiếu niên tựa như lẩn vào vòng kiếm ảnh.
Nàng thiếu nữ cũng vung kiếm vạch thành một vòng nhưng không tròn. Nàng ta vùng vằng nói: “Khó luyện quá. muội không học nữa”. Thiếu niên cười rằng: “Huynhđã học chiêu này cả tháng trời mới vận dụng thông thuộc được, muội mới học ba ngày mà đã nhụt chí rồi sao?” Thiếu nữ nói: “Được, chiêu này ngày mai hãy luyện tiếp, huynh hãy đánh thử Đại mạc cô yên trực cho muội xem, muội muốn biết tại sao kình đạo của muội vẫn chưa đủ”.
Thiếu niên ấy vung kiếm thẳng tới nhanh như tên bay, chỉ thấy hoa quế trên cây rơi lả tả.
Tần Nguyên Hạo tuy không ở trong vườn, nhưng thấy hoa quế rơi xuống cũng cảm nhận được kiếm phong của chàng ta. Tần Nguyên Hạo bất giác cả kinh, lòng thầm nhủ: “Thiếu niên này quả thực đã sử dụng kiếm pháp thượng thừa, công lực cũng rất bất phàm, không biết là ở phái nào?” lúc này, Tần Nguyên Hạo biết họ đang luyện kiếm, những câu thơ Đường lúc nãy là tên của chiêu số.
Thiếu niên nói: “Khi xuất kiếm, cẳng tay hơi cong, khí trầm xuống đan điền, tụ kình đợi phát ra, khi xuất chiêu phải đưa thẳng tới. Như thế kình tự nhiên đầy đủ”. Nàng thiếu nữ luyện vài lần, khi xuất kiếm quả nhiên cũng có hoa quế rơi xuống.
Thiếu niên cười nói: “Tốt lắm, thiên tư của muội cao hơn huynh. chiêu này coi như là được”.
Thiếu nữ nói: “Chúng ta đã luyện với nhau mười hai chiêu. Này, Tinh thùy bình dã khoát” (Ngoài cánh đồng sao rụng) dứt lời đâm liền ra một kiếm, mũi kiếm rung lên, kiếm quang tỏa rộng. Tần Nguyên Hạo tuy không biết sự ảo diệu trong bộ kiếm pháp này, nhưng biết chiêu lúc nãy mà nàng thiếu nữ đã sử dụng phù hợp với ý của câu thơ. Chợt nghe chàng thiếu niên hô một tiếng “hay”, rồi bảo: “Cẩn thận tiếp chiêu, huynh sẽ trả lại bằng Nguyệt thông đại giang lưu”(Sông lớn ánh trăng đầy).
Lời vừa buông chiêu đã phát, lập tức một mảng hàn quang dồn ra, kiếm thế liên miên không ngớt, tựa như có một vầng trăng tròn tuôn xuống giữa dòng sông, còn sóng nước sóng sánh khiến vầng trăng ấy vỡ tan ra rồi hợp lại.
Hai người đánh mười hai chiêu, mỗi chiêu đều phù hợp với ý cảnh một câu thơ Đường, Tần Nguyên Hạo ngẩn người ra nhìn, lòng thầm nhủ: “Chả trách nào sư phụ bảo trên giang hồ là nơi ngoa hổ tàng long, đâu đâu cũng có người tài giỏi. Kiếm pháp của thiếu niên này không biết là của phái nào, nhưng chẳng kém gì bảy mươi hai đường Liên hoàn đoạt mệnh kiếm của bản môn”. Nghĩ đến đây, chàng bất giác trỗidậy ý tường muốn kết giao với hai người kia.
Chàng chưa nghĩ xong, thiếu niên đã đọc: “Phong cấp phiên sương lãnh”(gió gấp thổi sương lạnh), ánh hàn quang quét ra, kiếm ảnh bừng bừng, quả thật y xuất thủ rất nhanh. Nàng thiếu nữ đánh thêm một chiêu Vân khai kiến nguyệt minh, đẩy ngang thanh kiếm về phía trước, chiêu này vốn đùng để phá giải chiêu lúc nãy của thiếu niên, nhưng nàng ta lại hơi đánh chậm hơn, kình lực không đủ, chỉ nghe keng một tiếng, hai kiếm chạm nhau, thanh kiếm của thiếu nữ rơi xuống đất.
Tần Nguyên Hạo thấy kiếm thuật của thiếu niên này tinh diệu như thế, suýt tí nữa đã kêu lên, may mà còn ngừng lại được. Thiếu niên nhặt kiếm lên, cười rằng: “Xin lỗi, huynh thu thế không kịp đã đánh rơi kiếm của muội. Tiếp nào”.
Thiếu nữ giận dỗi nói: “Muội không đánh lại huynh, muội không đánh nữa”.
Thiếu niên nói: “Chúng ta chỉ là tiếp chiêu đùa vui, sao muội lại cho là thật?” thiếu nữ nói: “Bảo tiếp chiêu đùa vui, sao huynh còn cố ý đánh rơi kiếm của muội? Dù huynh là sư phụ, muội là đồ đệ, huynh cũng không nên đánh rơi kiếm của muội chứ. Kiếm thuật của huynh giỏi như thế, muội không học nữa đâu”.
Thiếu niên vội vàng thi lễ: “Nếu huynh có ý như thế, huynh chết cũng chẳng yên. May mà không có ai thấy, muội cũng không sợ người ta cười chê”.
Thiếu nữ nói: “Sao huynh biết không có ai?” Thiếu niên nói: “Huynh mắt có thể xem bốn hướng, tai có thể nghe tám phương, huynh bảo không có người thì là không có. Nếu có huynh sẽ lôi hắn ra đây!”
Tần Nguyên Hạo nghe họ nói như thế tựa như là chỉ mình, bất giác vội vàng thu người ẩn mình sau tảng đá.
Tần Nguyên Hạo vốn có ý muốn kết giao với họ, nhưng họ nói như thế thì chợt nghĩ lại nếu mình bước ra lúc này thì thật không ổn. Khi người trong võ lâm luyện tập võ công của bổn môn thì không cho người ngoài đứng xem. Do đó nhìn lén người khác luyện võ là một trong những điều cấm kị của võ lâm. Tần Nguyên Hạo thầm nhủ: “May mà bọn họ không phát hiện ra mình, nếu không sẽ phiền to. Mình lại không biết lai lịch của người ta, chi bằng cứ đến nhà họ Giang, dò hỏi các bậc trưởng bối đồng đạo sẽ biết rõ ngay, sau đó kết giao cũng không muộn”.
Tần Nguy.ên Hạo vốn muốn bỏ đi, nhưng đôi thiếu niên nam nữ vẫn còn trong vườn, nếu chàng đứng dậy bước đi chắc chắn sẽ bị họ phát hiện. Bởi vì Tần Nguyên Hạo tuy không có ý nhìn lén người ta luyện võ nhưng cũng đành phải nhìn xuống.
Chỉ nghe thiếu niên kia nói: “Thường muội, chúng ta chỉ trau dồi luyện tập với nhau, sao lại bảo là truyền thụ? Huynh đã luyện bộ kiếm pháp này nhiều năm, đương nhiên huynh dạy cho muội, nhưng nếu bảo công phu ám khí thì huynh cũng phải học hỏi ở muội. Đúng rồi, chúng ta không học kiếm thuật nữa, tiếp tục luyện ám khí được không? Nghe nói Mai hoa châm của muội đã đến mức xuất thần nhập hóa, trổ tài cho huynh xem thử”.
Thiếu niên vừa nói mấy lời khen ngợi, nàng ta đã chuyển giận làm vui, đáp: “Huynh đừng khen bừa muội, cha muội nói, tổ phụ của huynh là đệ nhất cao thủ, công phu ám khí của huynh sao không bằng muội được? Có phải muốn chê cười muội chăng?”
Tần Nguyên Hạo nghe xong thì bất giác ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Cao thủ đệ nhất trong thiên hạ ai mà chẳng biết là Giang đại hiệp? Còn đâu ra cao thủ đệ nhất nữa? Nếu bảo tổ phụ của thiếu niên này là Giang đại hiệp, mà Giang đại hiệp năm nay chỉ hơn bốn mươi tuổi, làm sao có cháu nội? Huống chi cũng chẳng nghe nói Giang đại hiệp có người thân gì khác?”
Thiếu niên cười rằng: “Đạo võ công mỗi người đều có sở trường. Tổ phụ của huynh cũng rất khâm phục công phu điểm huyệt và ám khí của nhà muội. Muội đừng khách sáo, muội cũng phải dạy ta mới được”.
Lúc đầu Tần Nguyên Hạo còn tưởng họ là đồng môn sư huynh muội tiếp chiêu với nhau, lúc này mới biết không phải. Nàng thiếu nữ nói: “Thôi được, nếu huynh nhất định muốn cười chê muội, muội xin đành phải bày trò vậy”. Nói xong bèn rút ra một nắm mai hoa châm, lẩm bẩm: “Luyện cái nào? Ồ, đây rồi, những con ong này cứ vo ve nghe thật bực mình, để muội sẽ đánh rơi chúng”.
Trên cây quế gần đó có một bầy ong đang hút mật hoa. Thiếu nữ vừa nói xong liền vung tay lên, chỉ thấy ánh vàng lấp lánh, một bầy ong mật rơi lả tả.
Thiếu niên nọ bật tiếng khen: “Hay, hay lắm, trên mỗi con ong đều cắm một cây mai hoa châm, không nhiều không ít, công phu này còn cao minh hơn cả Thiên nữ tán hoa”.
Thiếu nữ cười nói: “Huynh đúng là có con mắt tinh đời, bây giờ đến lượt huynh”.
Tần Nguyên Hạo thầm thất kinh trước công phu ném ám khí của nàng thiếu nữ, nhưng lòng chợt nhủ: “Thủ pháp phóng ám khí của nàng ta quả thật cao minh, nhưng cũng hơi tàn nhẫn, không biết công phu ám khí của thiếu niên thì như thế nào?”
Thiếu niên nọ không hề khách sáo, đáp liền: “Thôi được, muội muốn huynh làm trò, huynh cũng đành tuân theo”. Nói xong thì ngoảnh mặt ra ngoài, đột nhiên vung tay lên.
Thiếu nữ nói: “Huynh đánh cái gì thế?” khi nàng ta lên tiếng, Tần Nguyên Hạo chỉ cảm thấy gió lướt tới, ám khí của đối phương đã phóng tới, té ra chàng thiếu niên đã lấy Tần Nguyên Hạo làm mục tiêu. 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 22:10:14Hoàng Dung>
Tần Nguyên Hạo không kịp đề phòng, suýt tí nữa đã bị chàng ta ném trúng. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, chàng thi triển công phu thượng thừa Đàn chỉ thần công, ba liếng keng keng keng vang lên, ba mảnh thấu cốt đinh đã bị chàng đánh rơi ra đến hơn mấy trượng mới rơi xuống. Nhưng đầu ngón tay của Tần Nguyên Hạo cũng hơi nhói đau, chàng cách thiếu niên nọ hơn hai mươi trượng, còn thiếu niên nọ thì ở dưới sườn đồi phóng ám khí lên, Tần Nguyên Hạo không khỏi kinh hãi.
Thiếu niên vừa phóng xong thấu cốt đinh thì quát lớn: “Tiểu tử phương nào dám nhìn lén bọn ta luyện võ, ngươi tưởng bọn ta không biết ư? Hãy mau bước ra đây!” Thiếu nữ cười: “Công phu của tiểu tử ấy cũng không tệ!”
Tần Nguyên Hạo vốn có ý kết giao với họ, chỉ vì phạm phải điều cấm kị trên giang hồ cho nên mới không dám bước ra. Nay bị bọn họ phát hiện đành phải xuất hiện.
Thế rồi Tần Nguyên Hạo chạy xuống núi, vượt qua bức tường vào trong vườn, cung tay nói với thiếu niên: “Tiểu đệ là đệ tử Tần Nguyên Hạo của phái Võ Đang, đi ngang qua đây không có ý nhìn lén, mong huynh đài thứ lỗi”.
Tần Nguyên Hạo tự báo lai lịch của sư môn, một là theo quy củ giang hồ, tỏ ý tôn trọng đối với đối phương; hai là mong có thể giành được thiện cảm của đối phương, không đến nỗi bị họ hiểu lầm. Phải biết Thiếu Lâm, Võ Đang là hai phái lớn nhất trên võ lâm. Người trong giang hồ nghe đến phái Võ Đang thì đều tôn trọng vài phần. Không ngờ thiếu niên ấy nhận một vái của Tần Nguyên Hạo thì vẫn không trả lễ, chỉ lạnh lùng đáp: “Mặc kệ người là đệ tử của phái Võ Đang, ngươi học lén kiếm thuật của ta thì cũng không nên?”
Tần Nguyên Hạo là người ngoài mềm trong cứng, mặc dù chàng có ý muốn kết giao với đối phương, nhưng nghe thiếu niên nói những lời không khách sáo như thế, cũng không khỏi nổi giận, tự nhủ: “Kiếm thuật của huynh đài quả thật cao minh, nhưng đệ tử Võ Đang chúng tôi chẳng phải là kẻ học lén võ nghệ của người khác!” Thiếu niên hừ một tiếng, nói: “Hừ, đệ tử của phái Võ Đang thì thế nào? Được, ta sẽ lãnh giáo kiếm thuật của ngươi!” Thế rồi vung kiếm lên nhanh như điện chớp, vài đóa kiếm hoa phóng về phía Tần Nguyên Hạo, chỉ trong một chiêu đã đâm vào ba đại huyệt của chàng.
Tần Nguyên Hạo nghĩ thầm: “Mình không thể làm nhơ tiếng của bổn phái”.
Nhưng đối phương cứ ép tới, Tần Nguyên Hạo cũng chỉ đành rút kiếm ra chống đỡ. Thiếu niên nói lớn: “Thường muội, muội hãy nhìn cho kỹ!” rồi đâm xoạc một chiêu Đại mạc cô yên trực, thanh kiếm phóng thẳng tới nhanh như tên bay, mũi kiếm đâm thẳng vào mặt Tần Nguyên Hạo, tựa như muốn đâm mù mắt chàng.
Tần Nguyên Hạo vừa kinh vừa giận, nghĩ thầm: “Dù ta học lén võ nghệ của ngươi, ngươi cũng không nên ra tay độc ác đến thế!” lập tức thi triển tuyệt học của bổn môn, đánh ra một chiêu Hoành vân đoạn phong (mây mù chặn núi), kiếm thế chặn lại, đột nhiên cuộn ra, chỉ nghe keng một tiếng, thanh trường kiếm của thiếu niên ấy đã bị dạt ra, người thối lui ba bước. Thiếu nữ họ Thường cười khanh khách: “Muội đã nhìn kỹ. Té ra có thể phá chiêu Đại mạc cô yên trực của huynh như thế”.
Thiếu niên này vốn có ý phô bày kiếm pháp của mình trước mặt ý trung nhân, không ngờ chẳng làm gì được người ta mà còn bị đánh lùi ba bước, không khỏi thẹn quá hóa giận, quát lớn: “Được, tên tiểu tử nhà ngươi lợi hại lắm!” rồi thanh kiếmvung tròn, đánh ra một chiêu Trường hà lạc nhật viên, kiếm quang bay bổng đột nhiên hợp thành một vòng ánh sáng, nhốt Tần Nguyên Hạo vào giữa, nếu y đắc thủ, Tần Nguyên Hạo chắc chắn sẽ bị chém thành hai đoạn.
Tần Nguyên Hạo thấy y càng đánh càng dữ, lửa giận bốc lên, nghĩ thầm: “Không cho gã biết tay, gã chỉ tưởng mình dễ bức hiếp”. Thế rồi mũi kiếm hất lên, đâm thẳng ra khỏi vòng kiếm quang ấy, đó chính là một chiêu Hoành tảo lục hợp (quét ngang sáu hướng), chỉ nghe keng keng vang lên không ngớt tai, trong khoảnh khắc kiếm quang đã tán loạn. Chiêu Trường hà lạc nhật của thiếu niên đã bị chàng phá giải.
Tần Nguyên Hạo nói: “Có thể dừng tay được chưa?” thiếu niên quát: “Thắng thua vẫn chưa phân, sao có thể ngừng tay?” đang nói thì đánh nhanh ra ba chiêu,chiêu sau hiểm hóc hơn chiêu trước. Bộ kiếm pháp của y quả thật rất độc đáo, mỗi chiêu đều có mấy biến hóa, ba chiêu liên hoàn đánh liền nhau một mạch. May mà Tần Nguyên Hạo đã thấy y tiếp chiêu với thiếu nữ cho nên không đến nỗi luống cuống tay chân.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Tiểu tử này không chịu thua, nếu mình chỉ thủ không công thì e rằng sẽ thiệt thòi”. Bảy mươi hai đường liên hoàn đoạt mệnh kiếm của phái Võ Đang lấy công làm chủ, nếu phòng thủ thì không thể phát huy được sở trường.
Tần Nguyên Hạo hú dài một tiếng, quát: “Đến mà không đi chẳng phải lễ! Xin lỗi, ta phải trả chiêu đây!” thế rồi vung kiếm lên, bên trái đâm ra hai kiếm, bên phải đâm ra hai kiếm, ở giữa lại đâm ra ba kiếm. Bảy chiêu kiếm đâm ra nhanh như điện chớp, mỗi chiêu đều khác nhau. Thiếu nữ đứng một bên thấy thế thì tròn mắt lạc giọng kêu: “Ôi, Văn đại ca, kiếm pháp của y hình như nhanh hơn huynh!”
Thiếu niên mặt vẫn lạnh như sương, y đang chăm chú đối phó với đoạt mệnh kiếm của Tần Nguyên Hạo, không nghe được lời của thiếu nữ. Chỉ thấy y đột nhiên phóng vọt lên mấy thước, thanh trường kiếm từ trên không quét ngang ra. Mũi kiếm từ bên trái đánh sang phải, đột nhiên ở nửa đường lại xoay ngược lại. Y có thể xoay chuyển kiếm thế theo ý, quả thật kiếm thuật cũng rất cao cường.
Thiếu niên ấy một trồi một hụp, kiếm quang quét ngang ra, chỉ trong khoảnh khắc đã đánh ra năm chiêu số khác nhau. Chỉ nghe tiếng kim khí giao nhau, bảy chiêu kiếm liên hoàn của Tần Nguyên Hạo đã bị y phá giải. Tần Nguyên Hạo thấy y phá giải rất tinh diệu, trong lòng thầm bội phục.
Tần Nguyên Hạo khen một tiếng “hay” ý muốn thâu thế lại. Không ngờ thiếu niên ấy lại đánh tới, lạnh lùng nói: “Kiếm pháp của ta hay hay dở, không cần ngươi bình luận. Hừ, Liên hoàn đoạt mệnh kiếm của phái Võ Đang cũng chỉ có thế, xem ra không thể lấy được mạng ta”. Rồi đánh gấp tới, người tiến theo kiếm, bên trái đánh ra một chiêu Tinh thùy bình dã khoát, bên phải đánh ra một chiêu Nguyệt thông đại giang lưu, kiếm quang triển khai loang loáng, quả thực như sông đài biển rộng cuồn cuộn đổ tới.
Tần Nguyên Hạo nghĩ thầm: “Kẻ này quả thật vô lý, có lẽ mình phải liều với y một trận”. Tần Nguyên Hạo có điều không biết, thiếu niên này không phải ngang ngược vô lý mà là khí lượng hẹp hòi. Y đang bực mình vì ý trung nhân của mình khen ngợi kiếm pháp của Tần Nguyên Hạo cho nên quyết phải hạ cho bằng được Tần Nguyên Hạo.
Thiếu niên ấy lướt người theo kiếm, kiếm pháp triển khai, uy mãnh tựa như sấm vang chớp giật, nhẹ nhàng tựa như nước chảy mây bay, quả thật không thể nào coi thường. Tần Nguyên Hạo đột nhiên gặp phải kình địch, tinh thần phấn chấn cho nên thi triển Liên hoàn đoạt mệnh kiếm nhanh chóng vô cùng, trong chốc lát đã thấy toàn trường đều là kiếm quang, chợt đông chợt tây, lúc tụ lúc tán tựa như mưa gió! Trong trường chỉ có hai người tỉ kiếm nhưng như có thiên quân vạn mã đang rượt đuổi nhau.
Trong chốc lát, hai bên càng đấu càng gấp. Chỉ thấy ánh kiếm chứ chẳng thấy bóng người.
Lúc đầu thiếu nữ vẫn còn bình thản đứng nhìn, tiếp theo họ đấu càng lúc càng gấp, tâm trạng của nàng cũng không khỏi càng lúc càng căng thẳng. Đến khi chỉ thấy kiếm quang chứ chẳng thấy bóng người, nàng bất đồ đâm ra lo lắng. Thiếu nữ đang sợ “hai cọp đấu nhau chắc chắn sẽ có một bị thương”. Lòng nhủ thầm: “Văn đại ca đương nhiên bị thương không tốt, nhưng nếu thiếu niên họ Tần này cũng bị thương thì cũng chẳng hay. Y nhìn lén bọn mình luyện võ chẳng qua chỉ là chuyện nhỏ, nếu làm y trọng thương chẳng phải tàn nhẫn hay sao? Vả lại y là đệ tử của phái Võ Đang, làm y bị thương chỉ e sẽ để lại hậu họa. Nhưng mình không thể nào tách họ ra, làm thế nào đây?” Thiếu nữ chưa kịp nghĩ xong, chợt nghe keng một tiếng, màn kiếm quang vụt tắt.
Té ra cả hai bên đều đùng thế công nhanh như chớp, đã chạm nhau một chiêu. Hai kiếm chạm nhau, mỗi bên đều dồn nội lực ra.
Thiếu niên họ Văn đã đánh ra hơn trăm chiêu, biết chẳng thể xem thường Liên hoàn đoạt mệnh kiếm của phái Võ Đang, nếu cứ đánh tiếp chỉ e mình sẽ thua thiệt, cho nên hai kiếm vừa chạm nhau y đã lập tức dùng tự quyết chữ “áp” đè Tần Nguyên Hạo, không cho chàng rút kiếm ra, ý đồ là muốn dùng nội lực của mình để chế phục chàng.
Tần Nguyên Hạo đang muốn rút kiếm ra, chợt thấy một nguồn đại lực dồn tới đánh vào hổ khẩu của chàng. Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Té ra tiểu tử này biết cách vật truyền công”. Thực ra với công lực của Tần Nguyên Hạo, chàng có thể rút kiếm ra, nhưng chàng là người ngoài mềm trong cứng, người trẻ tuổi cũng khó tránh có mấy phần kiêu ngạo, đối phương cứ dồn ép, chàng không khỏi nổi lòng háo thắng, nghĩ thầm: “Nếu mình rút kiếm ra, y nghĩ mình sợ y. Được, mình sẽ tỉ thí nội công với y”. Thế rồi cũng vận nội công đánh ngược lại. Khi nội lực của hai bên dồn vào nhau, chẳng ai muốn thâu chiêu lại nữa.
Trong chớp mắt hai người đều toát mồ hôi, nhưng thần sắc của Tần Nguyên Hạo thì ung dung hơn, người họ Văn thì mặt đã nổi gân xanh, trông mệt nhọc hơn chàng nhiều. Số là Tần Nguyên Hạo đã học nội công chính tông, tương đối thuần hậu, còn thiếu niên họ Văn học loại nội công của tà phái, lúc mới giao thủ thì rất bá đạo.
Nhưng thời gian kéo dài, không khắc chế được đối phương thì dần dần đuối thế hơn. Tỉ thí nội công chẳng phải chuyện tầm thường, nếu không hạ được kẻ địch thì bản thân sẽ gặp nguy, lúc này thiếu niên họ Văn vừa lo lắng vừa hối hận, lòng thầm nhủ:
“Sớm biết tên tiểu tử này có công lực như thế, chi bằng mình cứ tỉ kiếm với y, nếu không địch lại nhiều lắm chẳng qua chỉ là bị thương. Nay muốn chuyển bại thành thắng thì trừ phi có Thường muội giúp mình một tay”.
Tần Nguyên Hạo lúc này đã chiếm được thượng phong, nhưng thắng thua vẫn chưa quyết, chàng phải dồn hết tâm trí đối phó với thiếu niên họ Văn, cho nên nếu lúc này có một người võ công tầm thường đánh lén từ sau lưng chàng cũng khó phân thần ứng phó.
Thường ngày thiếu niên họ Văn đã quen huênh hoang trước mặt thiếu nữ ấy, nàng ta cũng rất khâm phục võ công của y. Lúc này y muốn nhờ nàng giúp đỡ nhưng không thể nào thốt ra lời, trong lòng vừa lo vừa giận: “Sao Thường muội lại như thế, chả lẽ nàng không nhận ra hay sao mà vẫn đứng yên nhìn?” y bất đắc dĩ chỉ đành nháy mắt với nàng.
Thiếu nữ ấy tuy không phải là người võ công cao cường, nhưng nàng có thể nhận ra tình thế giữa hai người. Lúc này, nếu nàng bước lên đánh lén Tần Nguyên Hạo, chàng chắc chắn sẽ bị Văn đại ca của nàng giết chết, nhưng chỉ vì một chuyện nhỏ mà giết một đệ tử của phái Võ Đang, dẫu cho nàng không nghĩ đến hậu quả nhưng cũng cảm thấy bất nhẫn. Song nếu nàng không bước lên giúp “Văn đại ca”, nàng chỉ e y không chết cũng bị trọng thương. Cho nên sau khi thấy thiếu niên ấy nháy mắt với nàng, nàng vẫn không rút kiếm ra mà đang còn nấn ná.
Thiếu nữ đứng sau lưng Tần Nguyên Hạo, nếu nàng rút kiếm ra Tần Nguyên Hạo chắc chắn sẽ không biết. Nhưng chàng ta đã thấy ánh mắt của thiếu niên. Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Mình vốn chẳng thù chẳng oán gì với y, cần gì phải làm y bị thương? Trông vẻ lo lắng của y, chắc là đã sắp không chống chọi nổi, đang muốn nhờ thiếu nữ giúp đỡ. Chi bằng mình đánh liều ngừng tay, đôi bên đều được lợi”.
Thật ra lúc này chàng ngừng tay là điều rất nguy hiểm. Bởi vì hai bên đang dốc toàn lực ra tỉ thí, chàng đột nhiên ngừng tay, nếu đối phương đánh tới thì chàng phải gặp họa sát thân. Nhưng Tần Nguyên Hạo đã lấy lòng quân tử đo bụng kẻ tiểu nhân, chàng tưởng rằng với võ công của y, chàng ngừng tay thì y sẽ nhận ra mình đã nương tay, nếu biết chàng đã nương tay thì chả lẽ y còn thừa cơ đánh tới?
Không ngờ động tác của thiếu niên ấy hoàn toàn gây bất ngờ cho Tần Nguyên Hạo.
Thiếu niên họ Văn một là căm hận Tần Nguyên Hạo đã làm mình mất mặt trước thiếu nữ ấy; hai là thấy thiếu nữ đã rút kiếm nhưng vẫn nấn ná vẫn chưa tiến lên, lòng càng tức giận hơn. Tần Nguyên Hạo đột nhiên ngừng tay, y đã đâm thẳng tới một kiếm.
Tần Nguyên Hạo cả kinh, nhưng may mà võ công cao cường, trong lúc nguy ngập đã lập tức thi triển bộ pháp Di hình hoán vị, trả lại một chiêu Loan cung xạ điêu (kéo cung bắn chim điêu).
Chiêu Loan cung xạ điêu này buộc kẻ địch thối lui để tự cứu mình, theo lẽ thường, thiếu niên buộc phải né tránh, đồng thời biến chiêu chống đỡ mới đúng.
Nhưng nào ngờ khi ra tay thì tưởng rằng có thể đắc thủ, cho nên đã dùng một chiêu số cực kỳ bá có tên Thác vũ phá thiên kiêu, trong chiêu này bao gồm ba thức, cần phải đánh một mạch mới có thể dồn địch vào chỗ chết. Thiếu niên ấy sợ kiếm thế không đủ lợi hại cho nên dốc ra toàn lực, trong nhất thời làm sao có thể thâu thế lại được!
Khi thấy hai bên sắp lưỡng bại câu thương, thiếu nữ lạc giọng kêu lên: “Cha, đến đây mau!” chỉ nghe keng keng hai tiếng, khi hai mũi kiếm đều sắp đâm vào đối phương thì chợt thấy một bóng người lướt tới như điện xẹt, đôi tay búng ra, hai thanh kiếm tuột ra rơi xuống đất.
Tần Nguyên Hạo cả kinh, phải biết kiếm thế của chàng và thiếu niên họ Văn đều dồn sức phát ra, kình đạo rất mạnh mẽ, nhưng người này chỉ trong mắt đã búng kiếm của họ bay ra, bản lĩnh ấy quả thực cao cường! Tần Nguyên Hạn nghĩ thầm: “Trong môn phái mình chỉ e sư phụ mới làm được điều này Tùng Thạch sư thúc có lẽ chưa chắc bì kịp. Nếu y có xấu với mình thì không thể tưởng tượng nổi hậu quả”.
Nhưng chàng thấy thanh kiếm của thiếu niên họ Văn cũng bay ra, thì biết người ấy chỉ có ý phá giải chứ không có ý xấu với mình.
Đó là một hán tử trung niên ăn mặc theo kiểu thư sinh cử chỉ rất nho nhã, Tần Nguyên Hạo đang ngạc nhiên thì y đã bước tới vái Tần Nguyên Hạo một cái rồi nói: “Tiểu ca đã giật mình, xin thứ cho khuyển tử vô tri, cho phép Văn mỗ xin lỗi cho khuyển tử”.
Thiếu niên họ Văn đỏ gay mặt, ấp úng: “Cha... người...” Thư sinh trung niên ấy quát: “Bình thường ta dạy con như thế nào, sao lại vô lễ với khách như thế? Sao chưa mau xin lỗi khách!”
Tần Nguyên Hạo vội vàng trả lễ, hoảng hốt đỡ lời: “Xin đừng trách lệnh lang, đấy là lỗi của tại hạ”. Thiếu niên họ Văn xen vào: “Đúng thế, y đã nhìn lén chúng con luyện võ, cho nên con mới động thủ với y”.
Trung niên thư sinh lắc đầu, cười nhạt: “Buồn cười, buồn cười, người ta là đệ tử của phái Võ Đang, mấy đường công phu nhảm nhí của con, người ta coi vào đâu nào!”
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-27 23:10:15Hoàng Dung>
Tần Nguyên Hạo thấy người này trách mắng con mình, lửa giận đã tắt ngấm, trái lại lúc này thấy không yên. Vội vàng nói: “Kiếm pháp của lệnh lang rất cao minh, tại hạ rất khâm phục. Lần này tuy tại hạ chỉ vô tình, nhưng tự tiện xông vào quý phủ cũng là điều không nên. Xin thứ lỗi”. Thư sinh trung niên ấy nghe thì đột nhiên cười ha hả.

[/align]Tần Nguyên Hạo không biết tại sao y lại bật cười đang rất ngạc nhiên, chợt nghe thư sinh trung niên chỉ tay ra phía sau, nói: “Phong đại ca mới đúng là chủ nhân của nơi này, ta chỉ là khách mà thôi”. Tần Nguyên Hạo nhìn theo hướng tay y, chỉ thấy một hán tử tuổi khoảng ngũ tuần, râu dài ba chòm bước ra. Thiếu nữ kêu lên một tiếng “cha”, lập tức chạy đến, vừa chạy vừa nói: “Cha, sao đến lúc này cha mới ra, cha không nghe con nói ư? Ôi, lúc nãy, lúc nãy thật nguy hiểm...”
Người họ Phong cười nói: “Thường nhi, ta đã biết cả rồi. Hiếm có dịp cao đồ của phái Võ Đang đến đây, xin thứ cho tôi đã đón tiếp chậm trễ”. Tần Nguyên Hạo vội vàng trả lễ, báo danh tính với họ. Lúc này mới biết chủ nhân họ Phong tên là Tử Siêu. Con gái của ông là Phong Điệu Thường. Thư sinh trung niên tên gọi Văn Đạo Trang, con trai của y là Văn Thắng Trung.
Tần Nguyên Hạo tỏ ý tạ lỗi vì mình đã đường đột xông vào, Phong Tử Siêu cười nói: “Tần thiếu hiệp đến đây, bọn chúng tôi phải mời vào mới phải. Phải chăng Tần thiếu hiệp là đệ tử của Lôi lão tiền bối?”
Tần Nguyên Hạo mới biết họ đã thấy trận tỷ kiếm giữa mình với Văn Thắng Trung.
Bậc bề trên nhìn lén công phu của bậc tiểu bối, có thể là vì muốn đoán lai lịch môn phái của chàng, cũng có thể là vì có ý muốn kiểm điểm. Dù ý của họ như thế nào, bậc trưởng bối xem lén kẻ tiểu bối đối chiêu, cũng không phải là chuyện thất lễ. Tần Nguyên Hạo vốn là người thuần hậu, lại là lần đầu tiên xuất đạo, không hề có tâm cơ, chàng không thể nào đoán được dụng ý của đối phương, chỉ đành cung kính nói: “Đúng là gia sư”.
Phong Tử Siêu cười ha hả, nói: “Thật hiếm có. Tôn sư là bậc thái sơn bắc đẩu trong võ lâm, tôi ngưỡng mộ đã lâu, hiếm có dịp nào Tần thiếu hiệp đến đây, hãy cho phép tôi mời chén rượu để tỏ lòng mến khách”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Vãn bối nào dám nhận”. Phong Tử Siêu lại nói: “Trời đã tối, dưới núi Tồ Lai chẳng có thôn làng, Tần thiếu hiệp cũng cần phải nghỉ ngơi, sao không cho phép tôi dốc lòng tiếp đãi?”
Văn Đạo Trang cười rằng: “Phải chăng Tần thiếu hiệp vẫn còn trách tiểu nhi vô lễ? Trung nhi hãy mau đến tạ lỗi với Tần thiếu hiệp!” nói xong thì nháy mắt với con trai. Văn Thắng Trung vốn cứng cỏi, lúc này như chợt hiểu ra, vội vàng bước tới thi lễ với Tần Nguyên Hạo: “Tần huynh xin thứ lỗi mạo phạm của tiểu đệ, dù thế nào, Tần huynh cũng ở lại đây vài ngày, tiểu đệ mong được học hỏi ở Tần huynh”.
Tần Nguyên Hạo vốn có ý kết giao với họ, vả lại đêm nay chàng cũng cần có một nơi tá túc, nếu cứ từ chối thì khó tránh mất lòng người ta. Hơn nữa Văn Thắng Trung đã nói như thế, nếu chàng cứ kiên quyết thì chẳng phải đã thừa nhận rằng mình vẫn còn cố chấp với y hay sao?”
Cha con họ Văn cứ vờ vịt như thế, Tần Nguyên Hạo rất ngại ngùng, vội vàng trả lễ: “Văn huynh không truy cứu lỗi tiểu đệ, tiểu đệ đã cảm kích không nguôi. Lại được chủ nhân giữ lại, tiểu đệ chỉ đành cung kính tuân theo. Kiếm pháp của Văn huynh rất cao minh, tiểu đệ không dám nhận hai chữ học hỏi”.
Phong Tử Siêu cười ha hả, nói: “Hay lắm, hay lắm! Hai người các con có thể nói không đánh không quen, Tần thiếu hiệp hãy ở đây vài ngày để cho tiểu nữ cũng có dịp học hỏi”.
Tần Nguyên Hạo nóng ran mặt, nói: “Bản lĩnh của hai vị lão tiền bối, cao cường hơn vãn bối cả trăm lần, vãn bối làm sao dám nhận những lời khách sáo ấy? Lần này vãn bối có chút chuyện phải đến huyện Đông Bình, đêm nay đã quấy nhiễu, ngày mai phải ra đi, khi nào trở về sẽ đến quý phủ chào hỏi hai vị lão tiền bối”.
Phong Tử Siêu nói: “Được, đã như thế ta cũng không tiện giữ. Đêm nay Tần thiếu hiệp hãy tạm nghỉ ở hàn xá. Thời gian không còn sớm nữa, xin mời hãy vào dùng cơm. Rượu thịt đã chuẩn bị xong. Chỉ là giữa chốn núi rừng không có rượu thơm thức ngon, xin đừng chê cười”.
Họ vừa đi vừa nói, vào đến bên trong Tần Nguyên Hạo thấy đã bày sẵn một bàn tiệc, Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang khách sáo như thế, Tần Nguyên Hạo cũng hơi bất an, nghĩ bụng: “Mình chẳng qua chỉ là một đệ tử của phái Võ Đang, họ đối xử với mình trịnh trọng như thế, có thực đã coi mình là khách quý hay không?”
Tần Nguyên Hạo thấy trong lòng nghi ngờ, nhưng lại tự trả lời: “Ngốc thật, họ không phải coi mình là khách quý mà chỉ tôn kính sư phụ của mình. Võ Đang và Thiếu Lâm xưa nay đứng ngang hàng nhau trong võ lâm. Bất cứ một đệ tử nào trong phái đi lại trên giang hồ cũng được người ta nể mặt. Huống chi sư phụ của mình là chưởng môn nhân”. Chàng tự hỏi tự đáp, cho nên cũng đã yên lòng.
Sau khi ngồi vào chỗ, Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang đều ân cần mời rượu Tần Nguyệt Hạo, Tần Nguyên Hạo uống mấy chén thì chợt nhớ đến lời dạy của sư phụ: “Khi đi lại trên giang hồ lúc nào cũng phải cẩn thận, đừng vì tham ăn uống mà hỏng chuyện. Gặp phải những người lạ không biết lai lịch càng phải cẩn thận hơn”.
Chàng nhớ lại lời dạy, thế rồi mới nói: “Tiểu diệt tửu lượng rất kém, sáng mai còn phải lên đường, điều này...”
Phong Tử Siêu không đợi chàng nói xong, cười rằng: “Rượu này chẳng phải rượu mạnh, có uống nhiều cũng chẳng say nổi. Được, ta cạn chén trước, mong Tần thiếu hiệp nể mặt”. Nói xong liền uống cạn chén rượu.
Tần Nguyên Hạo tuy không hiểu quy củ giang hồ lắm nhưng cũng biết chủ nhân đã cạn chén trước là để cho mình khỏi hoài nghi. Thực ra thì Tần Nguyên Hạo cũng không hề có ý nghi ngờ Phong Tử Siêu.
Tần Nguyên Hạo nghĩ thầm: “Nếu bọn họ có ý ám toán mình, cần gì phải bỏ độc trong rượu?” chàng chưa biết bản lĩnh của Phong Tử Siêu ra sao, nhưng cũng đã thấy Văn Đạo Trang ra tay, nếu y muốn lấy mạng mình thì chàng chẳng thể nào chống đã nổi.
Tần Nguyên Hạo cho rằng bọn họ không bỏ độc trong rượu, hai là Phong Tử Siêu quá nhiệt tình, nếu chàng không uống thì cho thấy mình hoài nghi họ, như thế thật là bất kính đối với y. Vì thế Tần Nguyên Hạo chỉ đành đáp tạ rồi nâng chén uống cạn.
Rượu này quả nhiên không hề có vị cay, Tần Nguyên Hạo uống xong chỉ cảm thấy một luồng khí mát lan tỏa trong gan ruột. Chàng không khỏi buột miệng khen: “Rượu ngon, rượu ngon!” Phong Tử Siêu nói: “Đây cũng chỉ là loại rượu nhạt ở chốn núi rừng!” Tần Nguyên Hạo nói: “Nếu bảo đây là rượu nhạt, trong thiên hạ chẳng còn loại rượu nào có thể gọi là mỹ tửu nữa”.
Văn Đạo Trang nói: “Tần thiếu hiệp còn nói không biết uống rượu, té ra lại là một người biết thưởng thức rượu. Được, tại hạ cũng kính thiếu hiệp một chén”. Tần Nguyên Hạo đã uống với Phong Tử Siêu, đương nhiên cũng phải uống cùng Văn Đạo Trang một chén. Tiếp theo Văn Thắng Trung cũng mời rượu, cười rằng: “Phong lão bá nói phải, chúng ta không đánh không quen nhau, chén rượu này coi như chúc mừng chúng ta đã kết giao với nhau”. Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Loại rượu này mình uống ba chén nữa cũng chẳng say nổi”. Vì thế cũng cạn chén với Văn Thắng Trung, thế là bất giác đã uống ba chén rượu lớn.
Phong Diệu Thường nói: “Cha, rượu gì, hình như con chưa thấy cha uống bao giờ? Thật là thơm, con cũng muốn uống một chén”. Phong Tử Siêu nghiêm mặt nói:
“Con gái không được uống rượu!” Phong Diệu Thường chưa bao giờ bị cha mắng, không ngờ hôm nay ông ta lại trách nàng trước mặt khách, lập tức mặt đỏ ửng, bất giác ngẩn người ra. Văn Đạo Trang cười nói: “Phong đại ca, huynh đã quá nghiêm khắc với điệt nữ. Thôi được, cha không cho con uống, nhưng con hãy kính Tần thiếu hiệp một chén”. Phong Diệu Thường giận dỗi: “Không uống thì không uống, có gì ghê gớm đâu!” nàng không uống, cũng chẳng mời Tần Nguyên Hạo.
Tần Nguyên Hạo cũng cảm thấy hơi ngượng ngùng, nói: “Tửu lượng của vãn bối kém cỏi, đã uống ba chén, cũng không thể uống được nữa. Tại hạ xin lãnh nhận tấm thịnh tình của Phong cô nương”. Chàng chỉ nói mây câu nhưng đã giải vây cho Phong Diệu Thường.
Phong Tử Siêu nói: “Con gái của lão phu từ nhỏ đã mất mẹ, lão phu thường hay nuông chiều nó. Tần thiếu hiệp đừng cười chê”.
Văn Đạo Trang nói: “Thôi được, chúng ta hãy nói chuyện khác. Tần thiếu hiệp, thiếu hiệp bảo đến huyện Đông Bình có phải không?” Tần Nguyên Hạo nói: “Đúng thế”. Văn Đạo Trang nói: “Giang đại hiệp Giang Hải Thiên sống ở Dương gia trang tại huyện Đông Bình, nghe nói ngày mười lăm tháng tám ông ta gả con gái, Tần thiếu hiệp có biết chuyện này không?”
Tần Nguyên Hạo nói: “Vãn bối chính là vâng lệnh gia sư đến chúc mừng nhà họ Giang”. Phong Tử Siêu nói: “Quả nhiên tôi đã đoán không sai. Với giao tình của quý phái với Giang đại hiệp, Lôi chưởng môn không đi, đương nhiên sẽ sai đệ tử đắc ý nhất của ông ta đi thay”.
Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, nói: “Gia sư bảo vãn bối đi thay để kết giao bằng hữu trên giang hồ, thực ra vãn bối cũng chẳng phải là đệ tử giỏi nhất trong môn phái”. Phong Tử Siêu nói: “Tần thiếu hiệp đã quá khiêm nhường. Người trẻ tuổi có võ công giỏi quý nhất là ở chỗ khiêm nhường, lão phu mời thiếu hiệp một chén”.
Tần Nguyên Hạo đáp: “Vãn bối thực sự không thể uống được nữa”. Tần Nguyên Hạo vì lúc nãy vừa mới giải vây cho Phong Diệu Thường, đã nói những lời như thế cho nên chỉ đành từ chối khéo léo, thực ra chàng cũng đang rất muốn uống.
Nhưng cũng thật lạ lùng, Tần Nguyên Hạo tưởng rằng mình không thể say, mà lúc này chợt có cảm giác lâng lâng, người đã ngà ngà say.
Tần Nguyên Hạo đã ngà ngà, chợt nhớ lại một chuyện, hỏi: “Hai vị lão bá có nhận được thiệp mời của nhà họ Giang không?” Núi Tồ Lai cách huyện Đông Bình chỉ có mấy trăm dặm, họ là võ lâm cao thủ, lại ở gần nhau, Tần Nguyên Hạo nghĩ lẽ ra là hai bên đã biết nhau từ lâu, cho nên mới hỏi như thế, thực ra cách hỏi cũng có hơi thất lễ, nhưng Tần Nguyên Hạo vì đã ngà ngà say nên không giữ được điều đó. Phong Tử Siêu cười ha hả nói: “Lão phu ẩn cư ở đây rất ít qua lại với người ngoài. Giang đại hiệp tuy nổi tiếng thiên hạ, nhưng lão phu vẫn chưa gặp ông ta. Chắc Giang đại hiệp cũng không biết kẻ nhà quê này, làm sao ông ta có thể gởi thiệp mời”. Văn Đạo Trang cười rằng: “Tôi cũng chỉ là kẻ vô danh tiểu tốt, làm sao có được thiệp mời của nhà họ Giang”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Hai vị là cao nhân ngoài trời, đáng kính, đáng kính! Được, vãn bối kính hai vị một chén”. Chàng đã bảo không thể uống nữa, nhưng nay lại cạn chén với người ta. Phong Diệu Thường thấy sắc mặt chàng khác lạ, bèn xen vào nói: “Xem ra Tần thiếu hiệp đã say thật rồi, không thể uống được nữa!” Phong Tử Siêu trừng mắt, nói: “Thường nhi. sao con lại vô phép thế, chỉ có mời khách uống rượu chứ ai lại ngăn khách?”
Tần Nguyên Hao cười ha hả nói: “Ai bảo ta say? Ta không say, ta còn uống được nữa, Phong cô nương, xin cạn chén với cô nương!” chàng lảo đảo bưng lấy chén rượu đứng dậy, nói chưa dứt lời thì đổ sầm xuống đất. Miệng vẫn lè nhè hai chữ “cạn chén”.
Phong Điệu Thường nói: “Cha, cha còn mời rượu y nữa. Mọi người cứ bỡn cợt y”.
Phong Tử Siêu cười ha hả, nói: “Thường nhi, bây giờ chắc con biết tại sao cha không cho con uống rồi? Đây là rượu thiên nhật túy! Với công lực của con, dù cho có ngậm thuốc giải trong miệng, uống vào một chén cũng sẽ say tức thì!”
Văn Đạo Trang tiếp lời Phong Tử Siêu: “Nói thiên nhật túy thì hơi quá. Nhưng tiểu tử này đã uống ba chén, ít nhất cũng say đến bảy ngày bảy đêm mới tỉnh dậy, xử trí y như thế nào? Tôi xin nghe theo ý huynh!”
Phong Diệu Thường nói: “Văn thúc thúc, cha, sao mọi người lại chuối say y?”
Phong Tử Siêu bực bội nói: “Người lớn nói chuyện, con không được xen vào!” Văn Đạo Trang nói: “Chuyện này rốt cuộc cũng không thể giấu được điệt nữ, có lẽ điệt nữ phải cùng đi với chúng ta, có nói cũng chẳng hề gì?”
Phong Tử Siêu đáp: “Thôi được, ta sẽ cho con biết. Văn thúc thúc và Giang Hải Thiên có mối thù hai đời rồi, định nhân dịp nhà họ Giang gả con gái định đến đấy gây náo loạn một trận. Tên tiểu tử này đến thật đúng lúc, trên người lại có thiếp mời của nhà họ Giang, có lẽ phải ép y một chút”.
Phong Diệu Thường nói: “Giang Hải Thiên được người ta gọi là đại hiệp, có lẽ là một người tốt! Văn thúc thúc, sao thúc thúc lại có oán thù với y?” câu hỏi này khiến cho Văn Đạo Trang lúng túng.
Chính là: Đáng thương cho thiêu nữ, chẳng hiểu gì tâm cơ.
Muốn biết chuyện tiếp theo như thế nào, mời xem hồi 2 sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-28 00:03:32Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh







Hồi Thứ Hai 
[/align]
Khấp khểnh đường đời khôn than thở
Rầu rĩ tâm tình biết nói sao
[/align]
Số là Văn Đạo Trang là cháu của đảo chủ đảo Vô Danh miền Đông Hải tên gọi Văn Đình Bích, Văn Đình Bích là một tôn sư võ học một môn phái, vì không có con cho nên nhận cháu làm con, truyền hết võ công cho y. Hai mươi năm trước, hai chú cháu họ đã đến Trung Nguyên.

[/align]Văn Đình Bích đã luyện Tam tượng thần công, tưởng rằng có thể xưng hùng trên đời, cho nên không cam chịu vùi lấp tiếng tăm ở đảo hoang. Vốn là muốn đến Trung Nguyên xưng bá, sau Đó khai tông lập phái. Không ngờ lại gặp phải Kim Thế Di, đã vài lần bị Kim Thế Di đánh bại. Văn Đình Bích vốn chẳng phải kẻ quân tử, lòng chỉ nghĩ đến chuyện lợi danh, sau mấy lần thất bại đã nôn nóng báo thù, cuối cùng làm nanh vuốt cho triều đình nhà Thanh. Trong trận chiến cuối cùng ở Mang Sơn, đã bị Kim Thế Di phế võ công. Đó là vì Kim Thế Di tiếc y khó khăn lắm mới luyện được võ công cho nên đã nương tay, không lấy mạng y, để y có thể truyền võ công của mình cho đời sau.
Văn Đạo Trang ở Trung Nguyên vài năm, cũng làm nanh vuốt cho triều đình nhà Thanh, chú của y kết thù với Kim Thế Di, y cũng coi Giang Hải Thiên, học trò của Kim Thế Di là kẻ thù. Sự việc cũng do con gái của đại ma đầu Âu Dương Trọng là Âu Dương Uyển mà ra, y muốn cưới Âu Dương Uyển mà Âu Dương Uyển lại thương yêu Giang Hải Thiên, không chịu lấy Văn Đạo Trang, cho nên đã bỏ trốn trong ngày bái đường. Mà lúc đó Giang Hải Thiên cũng vừa khéo đến nhà họ Âu Dương, cùng một sư huynh của Âu Dương Uyển đánh trọng thương Văn Đạo Trang. Té ra Âu Dương Uyển thương thầm Giang Hải Thiên, còn người sư huynh ấy thì thương thầm nàng. Kẻ đã đánh trọng thương Văn Đạo Trang là y, Giang Hải Thiên chỉ là tòng phạm mà thôi. Song, sư huynh của Âu Dương Uyển đã tự sát ngay tại trận, Văn Đạo Trang đẩy hết món nợ ấy cho Giang Hải Thiên. Hơn hai mươi năm trôi qua, Giang Hải Thiên, Âu Dương Uyển cũng đã có gia đình riêng, Văn Đạo Trang cũng trở về đảo Vô Danh cưới vợ sinh con. Nhưng y không lúc nào quên mối hận cũ hơn hai mươi năm trước. Trải qua hơn hai mươi năm ở đảo Vô Danh, Văn Đạo Trang cũng luyện được Tam tượng thần công. Chú cháu họ tuy sống ở ngoài biển nhưng cũng biết được tin tức của Trung Nguyên. Vợ chồng Kim Thế Di cũng đã sớm rời khỏi Trung Nguyên ra biển, nhưng không biết đi về đâu; chưởng môn Đường Hiểu Lan của phái Thiên Sơn, trưởng lão của phái Thiếu Lâm Thống Thiền Thượng Nhân, bậc cao nhân của phái Nga Mi Kim Quan Thượng Nhân, những cao thủ thuộc hàng nhất lưu của hai ba mươi năm trước đều lần lượt qua đời. Văn Đạo Trang biết những người này thì dã tâm trỗi dậy bừng bừng, cho rằng kẻ địch lớn nhất đối với mình hiện nay chỉ có một mình Giang Hải Thiên, vì thế lão cùng con trai trở về Trung Nguyên.
Còn Phong Tử Siêu vốn là một vệ vĩ đại nội của triều đình nhà Thanh đã may mắn thoát chết trong trận Mang Sơn vào hai mươi năm trước. Y được Văn Đình Bích chỉ điểm, kết giao cùng Văn Đạo Trang.
Sau khi Phong Tử Siêu may mắn thoát chết, sợ những người hiệp nghĩa tìm y trả thù, cho nên không dám bán mạng cho triều đình nhà Thanh nữa mà mai danh ẩn tích sống trong núi Tồ Lai. Văn Đạo Trang quay trở lại Trung Nguyên thì đến nhà y. Bản thân Phong Tử Siêu cũng không dám đối đầu với Giang Hải Thiên, nhưng có Văn Đạo Trang chống lưng, cho nên y cũng bạo dạn hơn. Hai người suốt ngày đều suy tính báo thù bằng cách nào.
Văn Đạo Trang đã luyện xong Tam tượng thần công, lần này trở lại Trung Nguyên cũng đầy dã tâm như chú của y năm xưa. Nhưng y cũng e ngại truyền nhân của Kim Thế Di là Giang Hải Thiên vài phần, tự thấy rằng chưa chắc có thể thắng được Giang Hải Thiên. Cho nên bọn họ tuy ngày đêm tính toán, lập chí báo thù nhưng vẫn đắn đo chưa dám ra tay.
Bọn họ đang đợi thời cơ tốt nhất. Nay dịp may đã tới, ba ngày sau con gái của Giang Hải Thiên sẽ xuất giá, Tần Nguyên Hạo lại lọt vào nhà họ Phong, Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu bày ra cạm bẫy, lừa Tần Nguyên Hạo nói ra sự thực, vì thế dùng rượu thiên nhật túy chuốc say chàng. Khi uống rượu Phong Tử Siêu, Văn Đạo Trang và Văn Thắng Trung đều đã ngậm trước thuốc giải.
Nhưng Phong Diệu Thường không hề biết âm mưu của họ, cho nên mới hỏi một câu khiến Văn Dạo Trang phải lúng túng.
Phong Tử Siêu nhíu mày, nói: ‘Thường nhi, con không nên hỏi nhiều đến chuyện người lớn, ta và Văn thúc thúc không làm chuyện sai gì cả”.
Phong Diệu Thường phụng phịu hỏi: “Con không biết mới hỏi. Trên giang hồ chẳng phải Giang Hải Thiên được người ta gọi là đại hiệp sao? Sao Văn thúc thúc lại đối đầu với y?”
Văn Đạo Trang mỉm cười: “Đúng thế, Giang Hải Thiên được người ta gọi là đại hiệp. Nhưng đó chỉ là danh hão, chỉ lừa được những kẻ phàm phu tục tử mà thôi. Thực ra...” Phong Diệu Thường hỏi chặn: “Thực ra thế nào?” Văn Đạo Trang nhìn Phong Tử Siêu rồi nói nhỏ: “Có nói con nghe cũng chẳng sao. Thực ra Giang Hải Thiên là kẻ phản tặc chống lại triều đình”.
Phong Diệu Thường hỏi: “Chống lại triều đình có gì không tốt? Mấy ngày trước con có nghe thợ săn đi ngang qua đây bảo quan triều đình toàn là hạng khốn kiếp, thu thuế hà khắc, ép dân đi phu, khiến bọn họ phải trốn vào rừng làm thợ săn! Săn thú trên núi tuy khó khăn nhưng còn hơn bị bọn quan phủ bức hiếp”.
Té ra sau khi Phong Tử Siêu ẩn cư ở núi Tồ Lai mới sinh ra Phong Điệu Thường, Phong Tử Siêu e sợ những người hiệp nghĩa trong thiên hạ không tha cho mình cho nên chẳng hề cho con gái biết lai lịch của mình.
Phong Diệu Thường năm nay đã mười chín tuổi, chưa bao giờ đi xa. Song nàng rất ham chơi, thường dạo khắp chốn núi rừng. Trên núi Tồ Lai rất ít người, nhưng cũng có vài nhà thợ săn, dưới núi thì có nhiều nhà nông hơn. Núi Tồ Lai cách Dương gia trang ở huyện Đông Bình chỉ có vài ngày đường, Phong Diệu Thường biết được mọi chuyện là nhờ những người dân ở đây. Nhưng nàng không biết cha của mình từng là vệ sĩ đại nội trong hoàng cung.
Văn Đạo Trang cười ha hả rồi nói: “Cháu gái, cháu làm sao có thể nghe lời của bọn ngu dân, song có những quan lại rất xấu, nhưng không phải tất cả quan lại đều xấu xa cả. Con chẳng phải đã từng đọc sách rồi sao? Trong sách có câu ‘Dân không thể có một ngày không vua’. Như thế phải có hoàng đế, có triều đình. Làm dân sao có thể phản lại triều đình”.
Phong Diệu Thường tuổi còn quá trẻ, suy nghĩ vẫn chưa chính chắn. Lý sự cùn của Văn Đạo Trang khiến cho nàng lúng túng. Nàng nghĩ ngợi rồi nói: ‘Đúng thế, con cũng từng nghe câu này trong sách. Nhưng sách lại nói khác với dân!”
Văn Đạo Trang nói: “Con đọc là sách thánh hiền, con nghe lại là lời của bọn phàm phu tục tử. Con hãy nghĩ xem, bọn thợ săn nhà nông đi chân đất, mình khoác da thú thì làm sao có thể bì được bậc hiền thánh thời xưa? Những điều con nghe so với những đạo lý trong sách thánh hiền đều là ‘dị đoan tà thuyết’. Mà đã là dị đoan tà thuyết thì không thể tin được!”
Phong Diệu Thường rất ít khi suy ngẫm chuyện gì, nay nghe Văn Đạo Trang “Nói có sách mách có chứng”, cảm thấy hình như rất có lý, nhưng nàng cũng không tin những điều mình đã nghe là bịa đặt. Vậy rốt cuộc ai đúng ai sai? Phong Diệu Thường rất bối rối. Nàng không đám nghi ngờ những lời trong sách vở, nghĩ bụng: “Nếu Văn thúc thúc nói đúng, triều đình cũng có bọn quan xấu, nếu như thế Giang đại hiệp phản triều đình thì đâu có sai”.
Văn Đạo Trang lại mỉm cười nói: ‘Phong đại ca, té ra đại ca không cho cháu gái biết thân phận của mình, nếu lần chúng ta đại công cáo thành thì không cần giấu giếm nữa”. Phong Tử Siêu gật đầu.
Phong Điệu Thường nói: “Cha, hai người nói gì thế? Xưa nay cha bảo cha là người trong võ lâm, vậy cha còn có thân phận gì nữa?”
Phong Tử Siêu cười rằng: “Nha đầu ngốc, đừng nôn nóng, ba ngày sau cha sẽ cho con biết. Từ bây giờ trở đi con đừng quấy rối người lớn nữa. Văn hiền đệ, chúng ta nên nói chuyện chính. Xử trí tên tiểu tử ấy như thế nào đây?” vừa nói vừa chỉ Tần Nguyên Hạo.  
Văn Thắng Trung nói: “Để tên tiểu tử này lại sẽ gieo mầm họa, chi bằng cứ giết chết y cho xong”. Văn Đạo Trang nói: “Ồ, giết cũng được, nhưng phải sạch sẽ gọn gàng”.
Phong Diệu Thường nghe như thế thì buột miệng hỏi: “Lúc nãy các người còn coi thiếu niên này là khách quý, y chẳng có tội gì, sao lại giết chết y?” Phong Tử Siêu nói: “Con hiểu được gì, con đừng xen vào chuyện này nữa.
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, Văn hiền đệ, tên tiểu tử này là đệ tử phái Võ Đang, giết y chỉ e sẽ làm lớn chuyện. Nếu chuyện này bại lộ thì chúng ta chẳng phải sẽ kết thù với phái Võ Đang hay sao?” Phong Tử Siêu sống ở đây, chỉ e làm lớn chuyện thì hậu quả chỉ một mình y gánh vác còn Văn Đạo Trang thì đã bỏ đi.
Văn Đạo Trang có ý không vui, vì y còn phải nhờ đến Phong Tử Siêu, nhưng mặt thì vẫn không hề biểu lộ gì. Miệng nói: “Thôi được, cứ tạm thời giữ lại mạng y, đợi chúng ta làm xong việc rồi tính tiếp. Dù sao y cũng chẳng thoát được”. Phong Tử Siêu hơi yên lòng, nói: “Đúng thế, y đã uống thiên nhật túy, ít nhất cũng mê man bảy ngày bảy đêm. Đợi chúng ta làm xong việc rồi giết y cũng chẳng muộn”.
Văn Đạo Trang nói: “Trung nhi, con hãy kéo tên tiểu tử này vào phòng, làm theo lời ta dặn”.
Văn Thắng Trung kêu “Vâng” một tiếng, kéo Tần Nguyên Hạo vào trong phòng mình.
Phong Điệu Thường nói: “Cha, con hơi nhức đầu. Con cũng về phòng nghỉ ngơi đây”.
Văn Đạo Trang hỏi lại: “Con không uống giọt rượu nào, sao lại nhức đầu?”
Phong Diệu Thường đáp: “Đúng thế, nhưng con cũng không biết vì sao”. Thật ra nàng nhức đầu là vì suy ngẫm chuyện lúc nãy nhưng không muốn nói cho Văn Đạo Trang biết.
Phong Tử Siêu nói: “Vậy con hãy mau vào phòng”.
Văn Thắng Trung và Phong Diệu Thường vào phòng, Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu cười ha hả rồi nói: “Thật không ngờ ngay lúc chúng ta đang lo không cócách, tên tiểu tử này lại dẫn xác tới. Đúng là cơ hội trời ban”.
Phong Tử Siêu nói: “Bây giờ phải làm thế nào?” Phong Tử Siêu là kẻ già dặn, y đương nhiên biết Văn Đạo Trang chắc chắn sẽ mượn cơ hội này trà trộn vào trong nhà họ Giang, nhưng Văn Đạo Trang vẫn chưa cho y biết cách làm cụ thể, cho nên y mới hỏi cho rõ. Y chỉ nghĩ bụng: “Nếu quá nguy hiểm thì mình không xen vào làm gì”.
Văn Đạo Trang nói: “Ý của tôi là muốn để cho Trung nhi cải trang thành tên tiểu tử này, chúng ta theo hắn vào nhà họ Giang. Sau đó...”
Phong Tử Siêu nói: “Khoan đã, khoan đã. ở đây có một sơ hở, chúng ta chỉ có một tấm thiệp mời”.
Văn Đạo Trang cười đáp: ‘Thiệp mời này gởi cho chưởng môn của phái Võ Đang, nhưng không quy định một tấm thiệp mời có bao nhiêu người đi. Phái Võ Đang có hàng ngàn đệ tử, chúng ta có thể mạo nhận là người của phái Võ Đang, cũng có thể giả thành bằng hữu của Tần Nguyên Hạo, bảo rằng mến tiếng mà đến chúc mừng cũng được. Giang Hải Thiên xưa nay nổi tiếng mến khách, thiên hạ đều biết. Chả lẽ người của y sẽ chặn chúng ta lại? Đương nhiên, nếu là người hoàn toàn không biết lai lịch, sẽ không dễ dàng tiến vào. Nhưng giờ đây có đệ tử của phái Võ Đang dẫn đường, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn”.
Phong Tử Siêu nói: “Vẫn còn sơ hở. Giả sử trong số khách khứa có người nhận ra tên tiểu tử Tần Nguyên Hạo này thì sao?”
Văn Đạo Trang đáp: “Tôi đã suy nghĩ điều này. Thứ nhất, Tần Nguyên Hạo lần đầu tiên ra giang hồ, chắc chắn có rất ít nhân vật nổi tiếng trên giang hồ nhận ra y, khách khứa nhà họ Giang lại đông, làm sao có thể gặp người quen của y? Thứ hai, thúc thúc của tôi đã chế được một loại thuốc dịch dung, Trung nhi cũng cao lớn như tên tiểu tử này, sau khi hóa trang, ngoại trừ sư phụ, người thân của y hoặc đồng môn sớm tối kề cận y mới phân biệt được thật giả, người bình thường có gặp mặt vài lần chắc chắn không nhận ra. Mà chúng ta chỉ cần lẻn vào nhà họ Giang là được, không cần phải ở lại lâu”.
Phong Tử Siêu đắn đo: “Tôi vẫn còn lo lắng, chưa bao giờ có chuyện như thế này xảy ra, chỉ e. Giang Hải Thiên chắc chắn sẽ đề phòng”.
Văn Đạo Trang nói: “Có phải huynh bảo chuyện ngày trước con trai của Diệp Đồ Hộ mạo nhận là cháu của Giang Hải Thiên không?” hai mươi năm qua Văn Đạo Trang sống ở ngoài đảo, nhưng vừa đến Trung Nguyên thì đã thăm dò chuyện trong nhà họ Giang. Cho nên y biết câu chuyện thật giả Diệp Lăng Phong.
Phong Tử Siêu đáp: “Đúng thế, thử nghĩ Giang Hải Thiên đã từng có bài học lớn đến thế, sao y không cảnh giác? Vả chăng còn có Giang phu nhân là người rất tinh tế tài giỏi”.
Văn Đạo Trang bảo: “Huynh biết một mà không biết hai. Hai chuyện này xem ra giống nhau nhưng thực sự khác nhau lắm. Năm xưa Diệp Lăng Phong ở nhà Giang Hải Thiên lâu đến vài năm, còn chúng ta chỉ cần lẻn và nhà họ Giang vài canh giờ. Thứ hai, Tần Nguyên Hạo là lớp hậu sinh, chúng ta sẽ vào nhà họ Giang trước lễ bái đường một canh giờ. Đương nhiên chủ nhân sẽ không ra tiếp đón vãn bối, sau khi vào nhà họ Giang, chúng ta hãy ngồi cùng với những khách bình thường, chắc là Giang Hải Thiên không thể mời một tên tiểu tử của phái Võ Đang ngồi lên ghế đầu đúng không? Cũng có nghĩa là, vợ chồng Giang Hải Thiên chắc chắn không có cơ hội gặp Tần Nguyên Hạo, tình huống này khác hẳn chuyện của Điệp Lăng Phong!”.
Phong Tử Siêu nghe Văn Đạo Trang nói có lý, nghĩ bụng: “Nói như thế, chuyện này không quá mạo hiểm, cứ thử xem sao”. Vì thế y hỏi: “Sau khi chúng ta vào nhà họ Giang thì làm thế nào?”
Văn Dạo Trang đáp: “Đó là chuyện của tôi. Có lẽ tôi không chắc thắng được Giang Hải Thiên, nhưng dư sức đối phó với đệ tử của y. Tôi có thể ra tay cướp con gái và con rể của y làm con tin. Huynh chỉ cần tiếp ứng cho Trung nhi, nhân lúc hỗn loạn thoát ra là được”.
Phong Tử Siêu nghe không cần phải ra tay, nghĩ bụng: “Nếu chuyện không thành, Giang Hải Thiên giết chết Văn Đạo Trang ngay tại chỗ, mình cũng có thể chạy thoát. Nếu chuyện thành công, có con tin trong tay thì càng không sợ gì nữa”.
Văn Đạo Trang nói tiếp: “Đương nhiên, sau khi xong việc, chúng tôi còn phải nhờ đến cha con của huynh. Theo tôi biết, triều đình căm ghét Giang Hải Thiên đến thấu xương, chỉ là y không công khai phản loạn, mà võ công lại quá cao, vẫn chưa làm gì y được thôi”. Phong Tử Siêu cười nói: “Đương nhiên, triều đình rất muốn giết Giang Hải Thiên. Nhưng nếu dấy binh chỉ vì một mình y thì sẽ bị thiên hạ cười chê. Nếu phái vài cao thủ đến hành thích y, chẳng ai dám làm chuyện này vì võ công của y thuộc hàng đệ nhất! Đó cũng chính là nguyên nhân Giang Hải Thiên dám mời nhiều khách như thế”. Nói đến đây, y phát giác Văn Đạo Trang hơi do dự, rồi lại nói tiếp: “Võ công của Giang Hải Thiên thuộc hàng đệ nhất là chuyện trước kia, có huynh đến Trung Nguyên thì người đệ nhất không phải là y nữa”.
Văn Đạo Trang mỉm cười, nói: “Chúng ta là huynh đệ, huynh không cần nâng cao tôi quá như thế. Nói thực, tôi đương nhiên không sợ Giang Hải Thiên, nhưng nếu đơn đả độc đấu thì chưa biết ai thắng ai thua. Song lần này tôi lại dám mạo hiểm”.
Phong Tử Siêu gật gù: “Đương nhiên, đương nhiên. Hiền đệ trí dũng đều có, lần này đến nhà họ Giang chắc chắn mã đáo thành công”.
Văn Đạo Trang nói: “Lần này tôi tuy chỉ muốn bắt sống con gái và con rể của y, không phải giết chết Giang Hải Thiên, nhưng nếu có hai người đó trong tay, giải về kinh sư, triều đình chắc chắn sẽ dùng để chiêu hàng Giang Hải Thiên. Dù cho Giang Hải Thiên không chịu đầu hàng, con gái và con rể của y lọt vào tay quan phủ y cũng phải e sợ mấy phần, không dám đối chọi với triều đình nữa”.
Phong Tử Siêu nghe thế thì hớn hở, nói: “Đúng thế, bắt con gái và con rể của Giang Hải Thiên thì chắc chắn công lao này không nhỏ”.
Văn Đạo Trang kết luận: “Sau khi xong chuyện, tôi còn phải nhờ đến huynh.
Huynh đã từng làm đại nội thị vệ mười năm, chắc là vẫn còn có những đồng liêu trong triều. Sau khi xong việc, phải nhờ huynh đi báo công. Có những chuyện tôi không tiện nói, cũng nhờ huynh bẩm tấu”.
Phong Tử Siêu đương nhiên hiểu ý của y, cười rằng: “Lão đệ không cần phải nói thế. Đương nhiên chúng ta không thể trao con gái và con rể của Giang Hải Thiên cho họ mà không có điều kiện. Hai chức Thống lĩnh ngự lâm quân và Tổng quản đại nội e rằng không thể thay được, nhưng nếu đệ muốn làm phó thống lĩnh ngự lâm quân, ta thấy có thể được đấy”.
Văn Đạo Trang cười ha hả: “Tạm thời cứ làm một phó thống lĩnh ngự lâm quân cũng không tệ. Huynh hãy yên tâm, nếu tôi có quan cao lộc hậu, chắc chắn sẽ không quên huynh. Chúng ta có phước cùng hưởng, có họa cùng gánh”.
Phong Tử Siêu cười: “Ta chỉ muốn trở về chức cũ thì đã thỏa mãn. Đệ không biết đấy thôi, năm xưa sau khi ta bại trong trận Mang Sơn, không còn mặt mũi nào về gặp hoàng thượng, cũng là sợ hoàng thượng giáng tội cho nên mới bất đắc dĩ ẩn cư ở chốn rừng sâu. Hai mươi năm qua, ta không rời khỏi núi này, suốt ngày làm bạn với chim muông, lòng không biết có bao nhiêu nỗi uất ức!”.
Văn Đạo Trang nói: “Đúng thế, đây là cơ hội cho chúng ta, chúng ta phải làm cho tốt. Ồ, còn có một chuyện phải nhờ điệt nữ giúp đỡ, những lúc nãy đệ nghe nó nói, nên không yên tâm lắm, không biết chuyện này nó có thể làm được hay không?”
Phong Tử Siêu hỏi: “Chuyện gì?” Văn Đạo Trang đáp: “Ngày mười lăm tháng tám chúng ta sẽ đến nhà họ Giang, Diệu Thường phải canh giữ tên tiểu tử Tần Nguyên Hạo. Chuyện này rất dễ, nhưng đệ sợ nó thả tên tiểu tử này đi thì sẽ hỏng việc của chúng ta”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-28 00:16:44Hoàng Dung>
Phong Tử Siêu gật đầu: “Ta sẽ nói với nó. Đệ hãy yên tâm, nó nghe lời của bọn dân quê, đôi khi cũng cãi lại ta, nhưng vẫn phải nghe lời của ta”.

[/align]Khi họ đang nói chuyện, Phong Điệu Thường không trở về phòng nghỉ ngơi mà lén xem Văn Thắng Trung làm chuyện gì. Nàng và Văn Thắng Trung đã ở bên nhau mấy tháng, nàng rất khâm phục võ công của Văn Thắng Trung, nhưng giữa hai người tựa như có một khoảng cách, nàng không biết tại sao lại có khoảng cách ấy. Cho đến hôm nay, sau khi so sánh y với Tần Nguyên Hạo, nàng mới lờ mờ nhận ra rằng Văn Thắng Trung hình như thiếu một chữ “hiệp”, khác xa với một hiệp sĩ mà nàng tưởng tượng!
Nói ra cũng lạ, Tần Nguyên Hạo tuy chỉ mới gặp mặt nàng một lần, nhưng nàng lại có thiện cảm với chàng. Tần Nguyên Hạo có xứng với hai chữ hiệp sĩ hay không, nàng không biết, nhưng lời nới và cử chỉ của chàng hôm nay khiến cho nàng cảm thấy chàng là một nam tử quang minh lỗi lạc, khí độ hơn người. Còn Văn Thắng Trung thì thiếu những thứ đó.
Phong Diệu Thường lặng lẽ nhìn Văn Thắng Trung, thật ra nàng không phải là vì nhìn Văn Thắng Trung mà sợ Văn Thắng Trung giết chết Tần Nguyên Hạo. Nàng lo lắng cho Tần Nguyên Hạo. Văn Thắng Trung sau khi thay đồ của Tần Nguyên Hạo, nhớ lại chuyện tỉ kiếm trong vườn, cũng nhớ lại những lời Phong Diệu Thường khen ngợi kiếm pháp của Tần Nguyên Hạo, y càng nghĩ càng tức, y rút kiếm chĩa vào cổ họng của Tần Nguyên Hạo, nghĩ bụng: “Đáng tiếc Phong bá bá không nghe lời mình, nếu không mình đã giết chết y cho xong! Hừm, nhưng hôm nay y đã rơi vào tay mình, mình không giết y cũng phải nghĩ cách trừng trị y. Mình sẽ đâm kiếm này vào xương tỳ bà của y, phế võ công của y. Dù sao cũng đã gây thù chuốc oán với phái Võ Đang, Phong bá bá chỉ lo lắng kết thù quá sâu mà thôi, giờ đây mình không giết y, chỉ phế võ công của y, phái Võ Đang đương nhiên sẽ hỏi tội, có cha của mình chống đỡ. Chắc là Phong bá bá cũng không trách mình. Mình chẳng phải giữ lại mạng tên tiểu tử này theo lời ông ta hay sao?”
Văn Thắng Trung cầm kiếm chỉ vào Tần Nguyên Hạo ngẫm nghĩ, nhưng trong nhất thời vẫn chưa dám ra tay. Đến khi y đánh liều toan đâm vào xương tỳ bà của Tần Nguyên Hạo thì chợt nghe có người kêu lên: “Thắng Trung, huynh làm gì thế?”
Phong Diệu Thường đến rất đúng lúc, đã la lên cản y lại. Văn Thắng Trung quay đầu lại, lúng túng cười: “Té ra là muội. Muội làm ta giật mình”.
Văn Thắng Trung quay đầu lại, Phong Diệu Thường không khỏi cả kinh. Té ra Văn Thắng Trung đã mặc đồ của Tần Nguyên Hạo, lúc này y trông chẳng khác gì Tần Nguyên Hạo, khuôn mặt cũng giống bảy tám phần. Phong Diệu Thường vừa nhìn thì suýt nữa tướng rằng Tần Nguyên Hạo đang trêu chọc mình. Nhưng nhìn lại, Tần Nguyên Hạo rõ ràng đang nằm trên giương. Còn Văn Thắng Trung cũng nói rõ rằng mình không phải là Tần Nguyên Hạo.
Phong Diệu Thường nói: “Lúc nãy huynh cũng làm muội giật mình! Tại sao huynh phải giết y, tại sao lại cải trang giống như y?”
Văn Thắng Trung cười đáp: “Huynh đâu có giết y thật? Song vì lúc nãy muội khen y, huynh khó chịu, biết muội đã đến nên có ý dọa muội. Hì hì, có phải muội đã thích y hay không? Nếu là thực, huynh sẽ giết y cho xong!”
Phong Diệu Thường đỏ mặt, nói: “Nói bậy, muội có thích ai đâu? Muội chẳng thích ai cả!” rồi nàng hỏi lại: “Huynh thật không muốn giết y? Sao huynh biết muội tới. Chả lẽ sau lưng của huynh có mắt?” Phong Diệu Thường nhẹ nhẹ bước tới, lúc Đó Văn Thắng Trung đang cầm kiếm chĩa vào Tần Nguyên Hạo. Phong Diệu Thường không tin Văn Thắng Trung đã phát giác ra nàng.
Văn Thắng Trung thản nhiên nói: “Huynh có khả năng thính phong biện khí, cần gì phải quay đầu lại?” thính phong biện khí là công phu thượng thừa đón ám khí, chỉ cần nghe tiếng ám khí xé gió thì có thể phát hiện kẻ địch đã phóng loại ám khí nào, phóng về phía nào, bộ phận nào của mình. Có những ám khí rất nhỏ như mai hoa châm chẳng hạn, khi phát ra hầu như không có tiếng gió, nhưng người có võ công cao cường có thể phân biệt được.
Người có bản lĩnh thính phong biện khí có thể phát giác sau lưng có người bước tới, đó không phải là chuyện lạ, tuy rằng Phong Diệu Thường rón rén bước tới. Phong Diệu Thường nghĩ bụng: “Có lẽ y thực sự có bản lĩnh này, nghe được tiếng bước chân của mình”. Cho nên nàng không nghĩ ngợi về chuyện này nữa mà đáp: “Thôi được, cứ coi như là huynh muốn dọa muội, chứ không phải muốn giết y. Nhưng tại sao huynh lại cải trang giống y như thế?”
Văn Thắng Trung hỏi ngược lại: “Vậy có giống không, muội nói thử xem?”
Phong Diệu Thường đáp: “Ngoại trừ giọng nói, huynh trông giống như anh em sinh
đôi của y. Có phải huynh muốn cải trang thành y không? Tại sao? Tại sao?”
Văn Thắng Trung cười khanh khách, đột nhiên vái dài Phong Điệu Thường rồi bóp cổ họng nói: “Phong cô nương, chén rượu này tôi xin lãnh nhận”. Rồi nói ra một tràng chẳng khác gì Tần Nguyên Hạo. Văn Thắng Trung cười nói: “Khẩu kỹ của huynh có giỏi không?” Phong Diệu Thường nói: ‘Đúng là miệng bôi mỡ, huynh vẫn chưa trả lời câu hỏi của muội”.
Văn Thắng Trung nói: “Muội đoán không sai, huynh đang giả mạo thành y. Nếu muội muốn biết nguyên nhân thì hỏi cha của muội”. Phong Diệu Thường ngạc nhiên nói: “Là cha của muội bảo huynh làm thế, muội không tin”.
Văn Thắng Trung nói: “Chuyện khác có thể gạt muội, nhưng chuyện này làm sao gạt muội dược? Muội không tin thì cứ hỏi cha muội. Thôi được, chúng ta ra ngoài thôi. Muội sẽ không còn lo ta sẽ hại y!”
Phong Diệu Thường lại thất kinh, vừa lo lắng, nghĩ bụng: “Làm người phải quang minh lỗi lạc, cải trang thành người khác là tại sao? Cha của mình tại sao lại bảo y làm chuyện lén lút như thế?” Chính vì lo lắng không yên, cho nên nàng cũng không hề để ý lời nói lúc nãy của Văn Thắng Trung. Phong Điệu Thường ngẫm nghĩ rồi đáp: “Muội nhức đầu lắm, muội sẽ về phòng nghỉ trước. Ngày mai sẽ hỏi cha. Được, muội tin lời huynh”.
Văn Thắng Trung nghĩ bụng: “Có cho ả cũng không dám làm bậy”.
Vì thế cùng nàng bước ra khỏi phòng, khóa cửa lại rồi nói: “Cũng được, muội đi nghỉ trước, sau này ta sẽ nói với muội”.
Phong Tử Siêu thấy Văn Thắng Trung cải trang xong thì luôn miệng khen giống. Văn Đạo Trang chỉ ra mấy chỗ sơ hở rồi dặn: “Tốt lắm. Ngày mai chúng ta sẽ lên đường”. Thế rồi nói cho con trai nghe kế hoạch của mình.
Văn Thắng Trung nghe bảo Phong Diệu Thường sẽ ở lại canh giữ Tần Nguyên Hao, lòng không khỏi băn khoăn, trầm ngâm không nói năng gì.
Phong Tử Siêu nhíu mày hỏi: “Sao, con không yên tâm ư?” té ra y đã có ý muốn kết thông gia với Văn Đạo Trang. Vì thấy “hai đứa trẻ” không rời nhau, ngày ngày bên nhau, trong lòng thích thú lắm, chỉ tưởng rằng bọn họ đã tình đầu ý hợp, nói không chừng chưa đợi cha mẹ lên tiếng thì bọn họ đã tự quyết định chuyện cả đời. Chỉ vì như thế, y mới nghĩ Văn Thắng Trung lo lắng cho con gái của mình.
Văn Thắng Trung chần chừ một lát mới nói: ‘Đương nhiên tiểu điệt không lo chuyện Thường muội, nhưng đến nay Thường muội vẫn chưa biết sự thực, tựa như có ý tiếc thương cho tên tiểu tử họ Tần, nghĩ y là kẻ vô tội. Tiểu điệt cứ tưởng không cần phải giấu nàng. Nàng biết chuyện này có liên quan đến việc Phong lão bá báo thù, nàng sẽ dốc hết lòng giúp cho chúng ta”. Đương nhiên đó chỉ là suy nghĩ của Văn Thắng Trung, y cho rằng Phong Diệu Thường là người có hiếu.
Phong Tử Siêu nói: “Đúng thế, ta sẽ nói với nó”. Phòng của Phong Diệu Thường nằm ở sau cùng, đến phòng của nàng đương nhiên phải đi ngang qua phòng Văn Thắng Trung. Ba người họ cùng đi, khi đi ngang qua phòng Văn Thắng Trung, Văn Đạo Trang chợt nghi ngờ, té ra người say rượu đã thở rất nặng nhọc, nhưng khi đi ngang qua, Văn Đạo Trang lại thấy lạnh như tờ, không hề có tiếng thở nhẹ.
Văn Đạo Trang nói: “Không biết tên tiểu tử này như thế nào, chúng ta vào xem thử”. Phong Tử Siêu nói: “Chắc là vẫn còn say mèm? Văn hiền đệ nếu ngại mùi rượu của y có thể đổi qua phòng của ta”.
Phong Tử Siêu cứ tưởng Tần Nguyên Hạo đã say mềm, không ngờ vừa mở cửa thì thấy cửa sổ đã bật ra, trong phòng vẫn còn mùi rượu nhưng Tần Nguyên Hạo thì đã biến mất. Trong khoảnh khắc cả ba người đều ngẩn người ra.
Văn Đạo Trang lập tức nhảy ra khỏi phòng, chạy ra ngoài vườn nhìn quanh quất nhưng cũng chẳng thấy ai! Văn Đạo Trang quay trở lại phòng, hạ giọng nói: “Đệ thấy hãy thử đi hỏi lệnh ái?”
Phong Tử Siêu vừa lo vừa giận, gằn giọng: “Nếu ả nha đầu đã thả y, ta sẽ giết chết nó”. Văn Đạo Trang nói: “Đại ca không cần nổi giận, trước tiên phải hỏi cho rõ ràng”. Phong Tử Siêu gõ cửa phòng: “Thường nhi, con đang làm gì đấy, ra đây mau!”. Tiếng Phong Điệu Thường vọng ra: “Con đang nhức đầu lắm, đã ngủ rồi?” Phong Tử Siêu quát: “Ra đây!”
Chỉ nghe tiếng Phong Diệu Thường bước xuống giường, tiếng mặc quần áo sột soạt, một lát sau Phong Điệu Thường mới bước ra mở cửa, giọng ngái ngủ: “Cha, đã nửa đêm còn có chuyện gì nữa?”
Ba người ngó quanh một lúc, trong phòng chỉ có một mình Phong Diệu Thường, Phong Tử Siêu đẳng giọng hỏi: “Tên tiểu tử họ Tần đâu?”
Phong Điệu Thường ngẩn ra, nàng lập tức biến sắc, giọng run run: “Cha, sao cha lại nói thế? Chẳng phải Tần Nguyên Hạo đã bị cha chuốc say rồi ư? Nếu cha muốn tìm y, phải đến phòng Văn đại ca mới đúng”.
Phong Tử Siêu giận dữ nói: “Trước mặt cha con đừng vờ vịt nữa, hãy nói thực cho ta! Có phải con đã thả tên tiểu tử họ Tần ấy không?”
Phong Điệu Thường vừa lo vừa giận, nhưng nghe Tần Nguyên Hạo đã chạy thoát, trong lòng dâng lên nỗi sung sướng kỳ lạ, rồi mới đáp: “Cha, sao cha không nghĩ lại, Tần thiếu hiệp đã bị cha chuốc say, dù con có thả y, y cũng không thể chạy. Chả lẽ con có thể cõng y đi, giấu y chỗ nào? Dù con làm như thế cũng không thể trở về mau như thế. Cha, té ra thường ngày cha tỏ vẻ thương yêu con chỉ là giả vờ”. Nàng vừa nói vừa bật khóc.
Phong Tử Siêu nghe con gái nói như thế thì cũng cảm thấy có lý, nghĩ bụng: “Đúng thế, nếu Thường nhi cõng y bỏ trốn, chắc chắn sẽ không trở về mau như thế, vả lại với khinh công của nó, mình cũng sẽ nghe được tiếng bước chân”. Vì thế mới nói: “Thôi được, thôi được. Coi như là cha không đúng, con đừng khóc nữa, may mà Văn thúc thúc và Văn đại ca của con không phải là người ngoài, con không cần lo lắng bị người khác cười chê”. Văn Thắng Trung muốn lấy lòng nàng, y cũng phụ họa theo: “Toàn là do huynh canh giữ không cẩn thận khiến cho Thường muội chịu oan”. Phong Diệu Thường vẫn chỉ khóc thút thít chứ không thèm để ý đến y.
Phong Tử Siêu nói: “Được, lát nữa ta sẽ kiểm tra kỹ càng”. Văn Thắng Trung chỉ cảm thấy ái ngại, vì thế cả hai cha con đi theo sau Phong Tử Siêu bước ra khỏi phòng Phong Diệu Thường.
Phong Tử Siêu vào mật thất xem thuốc giải của thiên nhật túy, chỉ thấy thuốc giải vẫn còn nguyên, không hề thiếu viên nào. Phong Tử Siêu trút được gánh nặng trong lòng, nói: “Ta cũng đoán Thường nhi không lớn gan đến nỗi dám đánh cắp thuốc giải. Được, chỉ cần thuốc giải vẫn còn nguyên, tên tiểu tử này ít nhất phải say đến bảy ngày bảy đêm. Chúng ta tuy không giết y diệt khẩu, nhưng cũng coi như đã diệt khẩu. Đến lúc đó, chúng ta đã quay về”. Sau khi chứng thực không phải Phong Diệu Thường đã thả Tần Nguyên Hạo, Văn Đạo Trang càng lo lắng hơn, thật kỳ lạ, tên tiểu tử ấy không có thuốc giải, y không thể chạy nhanh được như thế. Văn Thắng Trung nói: “Có lẽ là do người khác cứu y”. Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu nhìnnhau, một lát sau Văn Đạo Trang mới nói: “Đệ đang lo lắng chuyện này”. Nếu có người cứu Tần Nguyên Hạo đi, người đó chắc chắn là cao thủ thuộc hàng đệ nhất. Nếu không tại sao y vào bên trong mà cả Văn Đạo Trang cũng không phát giác? Văn Thắng Trung nói: “Kẻ ấy cõng thêm một người, có lẽ chạy vẫn chưa xa”.
Thế rồi cha con nhà họ Văn cùng Phong Tử Siêu chạy ra tra xét, tìm kiếm cả hơn mười dặm cũng không thấy bóng người. Núi Tồ Lai kéo dài đến trăm dặm, cây rừng rậm rạp, đương nhiên không thể lật cả trái núi lên. Văn Đạo Trang thở dài: “Phong đại ca, e rằng công phu của kẻ này chẳng kém chúng ta, lúc này y đã ra khỏi núi Tồ Lai”.
Phong Tử Siêu hỏi: “Vậy chúng ta có đến huyện Đông Bình không?” Văn Đạo Trang nghiến rằng ‘Cơ hội hiếm có, chúng ta cứ hành sự theo kế cũ”. Phong Tử Siêu vẫn lo lắng không yên, mặt lộ vẻ chần chừ.
Văn Đạo Trang an ủi: “Huynh chẳng phải đã nói tên tiểu tử ít nhất cũng phải say đến bảy ngày bảy đêm hay sao? Dù cho có người cứu y được cũng không thể biết được chuyện gì”.
Phong Tử Siêu nói: “Nếu là người của Giang Hải Thiên cứu y, chúng ta phải làm thế nào?” Văn Đạo Trang gắt: “Giang Hải Thiên làm sao biết được tên tiểu tử này lọt vào tay chúng ta?” Phong Tử Siêu hỏi: “Vậy lão đệ nghĩ người ấy là ai?” 
Văn Đạo Trang đáp: “Đệ làm sao biết? Song dù cho người ấy có đến nhà họ Giang, chúng ta cũng không cần phải lo. Một là y không biết kế hoạch của chúng ta, hai là y phải mau chóng chữa trị cho tên tiểu tử họ Tần, làm sao có thời gian đến nhà họ Giang? Phong đại ca, làm chuyện lớn cũng phải mạo hiểm. Dù cho có vài phần rủi ro, nhưng đây là thời cơ để chúng ta làm nên chuyện lớn, vinh hoa phú quý nửa đời sau đều trông chờ vào lần này. Huynh định bỏ lo cơ hội này hay sao?”
Phong Tử Siêu vốn hơi lo lắng, nhưng y lại ham muốn công danh lợi lộc, nghe Văn Đạo Trang thuyết phục một hồi thì mạnh dạn hơn: “Được, chúng ta cứ cược một ván, ngày mai chúng ta sẽ lên đường đến huyện Đông Bình, nhưng bây giờ đã không cần Thường nhi ở nhà nữa, có cần đắt nó đi theo không?”
Văn Đạo Trang đáp: “Cứ để Thường nhi ở nhà cũng được”. Văn Đạo Trang sợ Phong Điệu Thường không biết mọi chuyện, nếu nói hớ một câu ở nhà họ Giang thì sẽ hỏng chuyện lớn của bọn họ.
Phong Tử Siêu trầm ngâm một lát, nói: “Để Thường nhi ở nhà một mình, ta cũng không yên tâm”. Văn Đạo Trang hiểu ý của y, trấn an: “Đại ca sợ kẻ ấy đến quấy rối hay sao? Hãy yên tâm, nếu y muốn thì đêm qua đã làm. Vả lại những cao thủ võ lâm như thế làm sao không nghĩ đến thân phận của mình? Dù cho y đến nhà của huynh, chắc là cũng không làm khó Thường nhi”.
Phong Tử Siêu nghĩ bụng dù sao đến nhà họ Giang cũng rất nguy hiểm, chi bằng cứ để Phong Điệu Thường ở nhà. Nhưng sau khi Phong Tử Siêu quyết định lại sợ con gái không đồng ý. Phong Diệu Thường là người trẻ tuổi, thích những chỗ đông vui, thường ngày vẫn đòi xuống núi dạo chơi, lần này có cơ hội như thế lại không dẫn nàng đi, nàng chắc chắn sẽ không vui.
Phong Tử Siêu về đến nhà, tưởng rằng Phong Diệu Thường sẽ làm ầm lên, nào ngờ vừa nói xong thì nàng đã thản nhiên bảo: “Con không muốn đi cùng mọi người đến nhà họ Giang, con ở nhà cũng được”. Giọng nói của nàng nghe có mấy phần vui mừng.
Thái độ kỳ lạ ấy của Phong Diệu Thường khiến cho Phong Tử Siêu nghi ngờ. Y thầm nhủ: “Tên tiểu tử Tần Nguyên Hao bỗng nhiên mất tích, chả lẽ nó biết nguyên nhân thật sự?” Y nghi ngờ con gái chịu ở nhà nói không chừng là có liên quan đến Tần Nguyên Hạo. Nhưng một là y không có bằng chứng, hai là muốn con gái ở nhà là ý của y, dù y có nghi ngờ cũng không thể đổi ý.
Thật ra Phong Tử Siêu chỉ đoán trúng một nửa. Tần Nguyên Hạo thật sự không phải do Phong Diệu Thường thả đi, nhưng ai đã cứu chàng thì nàng cũng không biết. Song nàng muốn ở nhà chỉ có một nửa là vì Tần Nguyên Hạo, nàng hy vọng có thể có cơ hội gặp riêng Tần Nguyên Hạo. Còn một nửa là vì nàng chán ghét Văn Thắng Trung, nàng không muốn đi cùng y.
“Ai đã cứu Tần Nguyện Hạo? Y không có thuốc giải, Tần Nguyên Hạo mê man bảy ngày bảy đêm, y phải làm sao?” Phong Diệu Thường hy vọng có thể gặp lại Tần Nguyên Hạo, không phải là vì nàng đã nảy nở tình yêu, tuy nàng rất có thiện cảm với Tần Nguyên Hạo, vì chỉ là mới gặp mặt một lần, chưa có thể nói đến chuyện yêu đương được. Song nàng rất ngưỡng mộ Tần Nguyên Hạo, hy vọng có dịp giúp cho chàng.
Nàng nghĩ bụng: “Kẻ này không cứu được Tần Nguyên Hạo, có lẽ sẽ quay lại tìm thuốc giải, chỉ có cha và mình biết chỗ cất thuốc giải. Y tìm không thấy, mình có thể lấy đưa cho y”. Nàng vẫn chưa biết, cha nàng dại đến như thế, ông ta không những đã kiểm tra thuốc giải mà còn đã mang theo.
Phong Diệu Thường mong muốn gặp lại Tần Nguyên Hạo, một nguyên nhân khác nữa là vì nàng rất tò mò, nàng muốn biết tung tích của Tần Nguyên Hạo, muốn biết người đã cứu Tần Nguyên Hạo là ai.
Rốt cuộc ai đã cứu Tần Nguyên Hạo? Tạm thời không nhắc đến chuyện cha con nhà họ Phong nữa, trước tiên sẽ kể lại cảnh ngộ ly kỳ của Tần Nguyên Hạo.
Lại nói Tần Nguyên Hạo cũng không biết mình đã say bao lâu, đến khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm ở một nơi vừa lạnh vừa ướt, chàng giật mình ngồi dậy, dụi mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy xung quanh đều là cây rừng, té ra mình đang nằm trong rừng cây. Ở dưới đất toàn là rêu, xem ra nơi này rất ít người tới. Mặt trời vừa mới ló dạng, sương đêm vẫn chưa khô, chả trách nào chàng cảm thấy thân mình vừa lạnh vừa ướt. Tần Nguyên Hạo rất ngạc nhiên, cứ tưởng rằng mình đang nằm mộng. “Sao mình lại ngủ ở nơi này?” chàng hứng sương đêm xoa lên mặt, dần dần nhớ lại chuyện trong nhà họ Phong.
“Mình chỉ uống ba chén làm sao lại say đến thế? Dù có say cũng phải ngủ trong nhà họ Phong, sao lại ra đến nơi này? Chả lẽ mình đang nằm mơ?” chàng thử cắn ngón tay của mình thì thấy rất đau. Có cảm giác đau đương nhiên là không phải nằm mơ.
Tần Nguyên Hạo đang ngạc nhiên, chợt có tiếng người cười ha hả. Một tên ăn mày bước về phía chàng, vừa đi vừa búng hai đầu ngón tay vào nhau kêu tanh tách, miệng thì hát.
Chính là: Cứ ngỡ đang nằm mộng, chợt gặp kẻ ăn mày.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 3 sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-28 21:40:34Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trức tiên sinh

Hồi Thứ Ba
[/align]
 Ngỡ mộng ngỡ thật gặp dị cái
Nửa mừng nửa lo cứu giai nhân
[/align] Tên ăn mày ấy đang hát một bài Liên hoa lạc tự biên: “Một đóa hoa sen, có tên tiểu tử là kẻ ngốc. Y lấy cọp làm vợ, uống rượu độc như trà thơm, thấy con gái nhà người cứ mơ mòng xông vào! Là lá la! Rượu không say người tự say, tên tiểu tử đã say mèm. Một đóa hoa sen, có tên tiểu tử thật là ngốc, là lá la ha ha ha!”.
Tần Nguyên Hạo nhìn lại, tên ăn mày mặc bộ đồ tuy vá chằng vá đụp nhưng rất sạch sẽ, trông trạc tuổi chàng. Tần Nguyên Hạo nghe lời hát của y tựa như đang mỉa mai mình, không khỏi giật mình, quát lớn: “Ngươi là ai? Ngươi hát bài hát ấy có nghĩa là gì?”. 
 Tên ăn mày nhe răng cười: “Nghĩa là gì thì ngươi tự biết. Sao ngươi đến đây, ngươi đừng nằm mơ nữa! Ngươi cắn ngón tay làm gì?”. 
 Tần Nguyên Hạo cứ nghĩ mình nằm chiêm bao, nghe tên ăn mày nói thế thì mặt đỏ ửng, nói: “Ta cũng không hiểu tại sao lại đến đây? Nếu ngươi biết thì hãy nói cho ta”.
Tên ăn mày đáp: “Ta đương nhiên biết, ta đã đưa ngươi đến đây. Sao thế, ngủ có ngon không?” Tần Nguyên Hạo cả giận nói: “Té ra là ngươi đã giở trò?”.
Tên ăn mày kêu hừ một tiếng, cười lạnh lùng: “Giở trò? Nếu không phải nhờ ta đem ngươi ra đây, chỉ e ngươi đã chết vì say! Đúng thế, ở đây tuy không thoải mái như ở nhà họ Phong, nếu ngươi thích thì hãy cứ quay về, uống thiên nhật túy, rồi lại ngủ cho đã!”.
Tần Nguyên Hạo cố nén giận: “Ta... ta không quen biết với ngươi, ngươi mắng ta cũng chẳng sao, nhưng ngươi có thể cho ta biết thiên nhật túy là gì không? Chả lẽ nhà họ Phong cho ta uống rượu độc?” chàng thử vận khí, cảm thấy chân khí vẫn vận chuyển tự nhiên, không hề có vẻ bị trúng độc.
Tên ăn mày gật đầu: “Ta nói là rượu độc, có lẽ ngươi vẫn không tin. Ngươi hãy nhìn xuống đầm nước thử”. Té ra lúc này Tần Nguyên Hạo đang nằm bên cạnh một đầm nước.
Tần Nguyên Hạo nhìn xuống nước, chỉ thấy khấp người mình đầy bùn đất, điều đó không lạ, chàng ngủ ở dưới đất, đương nhiên bị dính bùn. Điều kỳ lạ là, chàng chỉ mặc bộ đồ lót mỏng manh, áo ngoài đã biến mất.
Tần Nguyên Hạo nổi giận quát: “Lại là ngươi đã giở trò? Có phải ngươi đã lấy quần áo của ta không?” Tên ăn mày cười nhạt: “Sao? Có phải ngươi đã nói ta đánh cắp của ngươi hay không?”.
Tần Nguyên Hạo tức giận đến nỗi suýt nữa chạy đến đánh y, nhưng chàng là đệ tử của chốn danh môn, cho nên cố nén lại, nghĩ thầm: “Tên ăn mày này gầy trơ xương, làm sao có thể chịu nổi một quyền của mình? Người học võ không nên tùy tiện ra tay. Mình làm sao có thể quên lời thầy dạy?”.
Tên ăn mày nọ buông giọng cười: “Ngươi không biết ơn ta, ta cũng mặc, ngươi lại còn muốn đánh nhau với ta ư”.
Tần Nguyên Hạo cố nén giận, hỏi lại: “Vậy ai đã đánh cắp áo quần của ta?”.
Tên ăn mày nghiêm mặt: “Ngươi vô lễ với ta, song ta thấy ngươi là hạng tiểu bối, ta cũng không thèm trách phạt ngươi. Nhưng nếu ngươi muốn ta nói, ngươi hãy xin lỗi ta trước”.
Tần Nguyên Hạo chỉ đành vái dài y: “Bây giờ có thể nói được chưa?”.
Tên ăn mày đáp: “Được, nhưng chỉ sợ dù ta nói thật ngươi cũng không tin. Quần áo của ngươi đã bị tên tiểu tử Văn Thắng Trung lột sạch”.
Tần Nguyên Hạo quả nhiên không dám tin, hỏi lại rằng: “Y lột áo quần ta làm gì?”.
Tên ăn mày đáp: “Ta làm sao biết được ý của y, ta chỉ biết y đã lột sạch áo quần của ngươi”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Thôi được, ta tạm tin lời ngươi. Nhà họ Phong cho ta uống rượu độc, Văn công tử lột áo quần ta, sao bọn họ đều biến thành kẻ cường đạo? Không phải đã quá hoang đường hay sao? Nếu họ muốn họ muốn giết người cướp của, tại sao lại còn dùng rượu độc?”.
Tên ăn mày hờ hững: “Ta đã nói, còn tin hay không là do ngươi!” Tần Nguyên Hạo nói: “Ngươi muốn ta tin cũng phải có lý do chứ!”.
Tê n ăn mày nói: “Ta nói toàn là sự thực, ta xưa nay không bao giờ nói bậy. Ngươi bảo phải tìm một lý do, hừ, hừ, làm sao ta biết bọn chúng tại sao lại đối xử với ngươi như thế? Ta không thể tìm ra được lý do nào cả? Ta thấy, chi bằng ngươi hãy nói thử xem ngươi đi đâu, định làm chuyện gì, nhà họ Phong đã nói những lời gì. Không chừng ta có thể giúp ngươi suy đoán lý do của bọn họ”.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Đến nhà Giang đại hiệp uống rượu mừng, đó chẳng phải là bí mật gì cả, nhưng tên ăn mày này làm sao hiểu chuyện lớn trong võ lâm, mình đâu cần phải nói nhiều với y”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Khoan hãy nói chuyện của ta, ta muốn hỏi ngươi trước”.
Tên ăn mày nói: “Cũng được, hỏi đi! Nhưng phải thêm một chữ ‘xin’ đấy nhé” rồi y khệnh khạng ngồi xuống tảng đá, đợi Tần Nguyên Hạo lên tiếng hỏi. 
 Tần Nguyên Hạo nói: “Được, xin hỏi ngươi, ngươi đã bảo là đã cứu ta ra. Vậy ngươi cứu ta ra bằng cách nào?”. 
 Tên ăn mày nói: “Điều đó thì quá dễ, ta chạy vào nhà họ Phong cõng ngươi ra đây”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu chịu để cho ngươi muốn đến là đến muốn đi là đi ư?”.
Tên ăn mày cười: “Ta muốn đến là đến muốn đi là đi cần gì phải để bọn chúng cho phép. Cho ngươi biết, giờ đây bọn chúng cũng đang giống như ngươi, cứ tựa như đang nằm chiêm bao”. Tần Nguyên Hạo bất đồ cười lạnh: “Khẩu khí thật lớn, dám hỏi tôn giá năm nay bao nhiêu tuổi?” rồi nghĩ bụng: “Võ công của Phong Tử Siêu như thế nào thì mình vẫn chưa biết, bản lĩnh của Văn Đạo Trang chẳng thua sư phụ của mình, làm sao để cho một tên ăn mày muốn đến là đến muốn đi là đi?”.
Tên ăn mày liếc mắt rồi kêu ồ một tiếng: “Ý của người là muốn nói chỉ có các bậc tiền bối trong võ lâm mới có bản lĩnh cứu ngươi ra?”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Chính là thế”.
Tên ăn mày lạnh lùng: “Ngươi có phải là đệ tử của Lôi Chấn Tử của phái Võ Đang hay không?”.
Tần Nguyên Hạo nghe tên ăn mày gọi thẳng tên sư phụ của mình ra, trong lòng rất bực bội, nhưng y đã nói đúng lai lịch của mình thì cũng đáng ngạc nhiên. vì thế đáp: “Đúng thế, chưởng môn phái Võ Đang Lôi Chấn Tử là gia sư”.
Tên ăn mày đột nhiên cười ha hả: “Trên giang hồ coi trọng bối phận, luận về tôn ti cao thấp, chuyện này ta vốn không quen, cũng không bao giờ để ý tới. Nhưng nếu ngươi đã nói thế thì phải đập đầu trước ta ba cái!”.
Tần Nguyên Hạo nổi giận: “Vì sao vậy? Ngươi là lão tiền bối ư?”.
Tên ăn mày đáp: “Đúng thế, tuổi tác không lớn, nhưng bối phận lại cao. Sư phụ của ngươi thấp hơn ta một bậc. Ngươi dập đầu trước ta ba cái là coi như đã có lời xin lỗi ta!”.
Tần Nguyên Hạo không nén được nữa, quát: “Ngươi làm nhục ta cũng không sao, ngươi còn dám làm nhục sư phụ ta”.
Tên ăn mày nói: “Ta đã làm nhục y thế nào?” Tần Nguyên Hạo tức giận nói: “Ngươi... ngươi dám bảo sư phụ của ta là hạng vãn bối của ngươi!” Tên ăn mày lộ vẻ thắc mắc: “Vậy có gì mà nhục? Ta chỉ nói sự thực. Sư phụ của ngươi là hạng tiểu bối của ta. Nếu ta có con, sư phụ của ngươi có thể bằng vai phải lứa với con của ta”.
Tần Nguyên Hạo quát: “Hay lắm, ngươi toàn nói những lời nhơ bẩn, hãy nếm một chưởng của ta!” rồi chàng phát chưởng ra liền, thấy tên ăn mày ấy không né cũng không chống đỡ, Tần Nguyên Hạo sợ y bị thương cho nên dìm chưởng lại cách đỉnh đầu y ba tấc chứ không dám đánh xuống nữa.
Tên ăn mày nói: “Ta rất thích đánh nhau. Nhưng ngươi là hạng con cháu của ta, ta không thể động thủ đối chiêu với ngươi. Ta sẽ để cho ngươi đánh. Nhưng ta phải nói trước, nếu không sợ thiệt thòi thì ngươi cứ đánh tới!”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Ta cho ngươi biết, chưởng lực của ta có thể đánh nát đá và bia, ngươi không sợ ta đánh chết ngươi sao?”.
Tên ăn mày tỉnh bơ: “Ta cũng phải cho ngươi biết, ngươi đánh ta chỉ thiệt thân mà thôi. Ta không sợ gì cả, không tin ngươi cứ thử xem sao?”.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Không cho y biết một chút lợi hại, y sẽ nghĩ phái Võ Đang của mình dễ bắt nạt. Vì đanh dự của sư môn, mình phải ra tay mới được”.
Thế rồi đánh vụt một chưởng về phía tên ăn mày. Nhưng chàng sợ tên ăn mày bị thương nặng cho nên chỉ dùng có ba thành công lực.
Tên ăn mày đang ngồi trên tảng đá, Tần Nguyên Hạo đứng trước mặt y, hai người cách nhau rất gần, theo lý thì chưởng đó chắc chắn sẽ trúng. Nhưng không ngờ Tần Nguyên Hạo đánh tới thì bị hụt. Chàng nhìn lại chỉ cảm thấy mắt hoa lên, còn tên ăn mày thì biến mất.
Tần Nguyên Hạo cả kinh, lúc này mới biết tên ăn mày ấy là dị nhân giữa đời.
Chỉ nghe giọng nói của y vang lên ở sau lưng chàng: “Đừng khách sáo, ta đã bảo ngươi chỉ là hạng con cháu của ta, ngươi cứ mặc sức mà đánh, ta không trả đòn!”.
Tần Nguyên Hạo tuy đã biết kẻ ăn mày này là dị nhân, nhưng cũng không chịu để cho y bức hiếp, thế rồi trở tay đánh lại một chưởng. Chưởng này đã gia tăng thêm mấy phần lực đạo, tốc độ cũng nhanh hơn trước, nhưng vẫn đánh hụt. Tên ăn mày cười hô: “Này, ta ở đây!” Tần Nguyên Hạo lướt tới phía trước, nghĩ bụng lần này ngươi làm sao thoát được. Chỉ nghe tên ăn mày ấy lại kêu lên: “Ối chao, không xong rồi!” vù một tiếng, đột nhiên y lướt qua đầu chàng, cười chọc: “Đáng tiếc, lần này lại không trúng!”.
Tần Nguyên Hạo cố nén giận, sử dụng một trong ba tuyệt kỹ của phái Võ Đang là Cửu cung liên hoàn chưởng pháp, chân bước vào phương vị ngũ môn bát quái, một khi triển khai chưởng pháp thì dù kẻ địch đứng ở phương vị nào cũng không thể thoát được.
Tên ăn mày khen: “Hay lắm, ngươi đã đạt đến hỏa hầu như thế này cũng coi như rất khá!” bộ dạng của y trông rất nghênh ngang, hai tay vẫn chắp sau lưng, cứ luồn lách trong chưởng thế của Tần Nguyên Hạo. Kể ra cũng lạ, mặc dù tên ăn mày này chỉ nhẹ nhàng di chuyển bước, nhưng Tần Nguyên Hạo không thể nào chạm được vào áo y được.
Tần Nguyên Hạo cả giận hỏi to: “Ngươi có dám chạm chưởng với ta không?” nghĩ bụng: “Không biết tên ăn mày này học đâu bộ thân pháp kỳ quái như thế, nhưng chắc bản lĩnh thực sự không bằng mình”. Lúc này chàng có ý muốn khiêu khích tên ăn mày trả đòn.
Tên mà mày nói: “Ta chỉ biết tránh đòn, không biết trả đòn. Cháu ngoan, ta sẽ tiếp một chưởng của ngươi, người đánh đi!” Tần Nguyên Hạo đánh ra một chiêu Loan cung xạ điêu, quyền trái chưởng phải đều đánh về phía tên ăn mày. Chàng tưởng rằng tên ăn mày vẫn né tránh, không ngờ y đứng yên trước mặt chàng. Tần Nguyên Hạo đã đùng đủ mười thành công lực, chàng vốn chỉ có ý muốn cho tên ăn mày biết lợi hại, nếu không né tránh thì phải chống đỡ, vì Tần Nguyên Hạo không hề muốn đánh một người không chịu trả đòn.
Tên ăn mày đột nhiên ngừng bước, hai tay vẫn chắp sau lưng, dừng lại trước mặt chàng, điều đó khiến Tần Nguyên Hạo bất ngờ. Nhưng chàng đã phát chiêu, mà võ công của chàng thì chưa đến mức thu phát tự nhiên, trong lúc gấp gáp chàng chỉ đành giảm lực, quyền trái vẫn đấm thẳng về phía trước.
Quyền trái đấm thẳng vào bụng của tên ăn mày, trong khoảnh khắc ấy, Tần Nguyên Hạo lo sợ tên ăn mày sẽ bị trọng thương, lòng thầm kêu lên: “Hỏng bét, hỏng bét?” nào ngờ quyền của chàng như chạm vào một khối bông, mềm mại không hề có lực. Tần Nguyên Hạo muốn thu lại quyền nhưng đột nhiên bụng của đối phương tựa như có một lực hút, Tần Nguyên Hạo không thể rút quyền ra được, bất giác đỏ mặt, hết sức lúng túng.
Tên ăn mày nọ cười ha hả, ưỡn bụng ra, Tần Nguyên Hạo chỉ cảm thấy một nguồn lực đẩy chàng bật ra, cả thân người bay lên cao rồi rơi xuống cách đó bảy tám trượng.
Tên ăn mày nói: “Thế nào? Ta đã nói ngươi đánh ta chỉ thiệt thân mà thôi. May mà ngươi đã kịp thời thu lại vài phần lực, nếu không sẽ càng thê thảm hơn”. Tần Nguyên Hạo bò dậy, chỉ thấy mình té bên cạnh một tảng đá lớn, nếu lúc nãy dồn hết sức đánh ra, lực phản chấn sẽ càng lớn hơn, mình chắc chắn sẽ rơi trúng tảng đá.
Tần Nguyên Hạo đỏ ửng mặt, chẳng nói nên lời. Tên ăn mày cười nói: “Chắc ngươi đã tin lời ta rồi chứ? Ta có bản lĩnh cứu ngươi ra khỏi nhà họ Phong không?”.
Tần Nguyên Hạo bại dưới tay tên ăn mày, đã biết võ công của đối phương cao thâm, bất đồ rất khâm phục. Nhưng chàng cũng là người kiêu ngạo, hậm hực nói: “Ta rất khâm phục bản lĩnh của ngươi, nhưng ngươi muốn bức hiếp phái Võ Đang ta,...”.
Tên ăn mày nói: “Té ra ngươi không chịu làm tiểu bối của ta, đúng không? Được, nếu ngươi cho rằng đó là bức hiếp, chúng ta cứ bằng vai phải lứa với nhau. Ta vốn không thích so đo tính toán vai vế với người khác. Nhưng nếu tính ra, sư phụ của ngươi, nhiều nhân vật nổi tiếng trên giang hồ đều thuộc hàng vãn bối của ta! Được, Tần huynh, bây giờ người đã tin ta chưa?”.
Tần Nguyên Hạo vẫn không tin vai vế của tên ăn mày này cao hơn sư phụ của mình, nhưng đối phương đã xin lỗi mình, lại còn coi mình là kẻ ngang hàng, Tần Nguyên Hạo cũng bớt giận được một nửa. Nghĩ bụng: “Kẻ dị nhân trên giang hồ thường thích rong chơi giữa đời, nếu tên ăn mày này có lòng tốt cứu mình, y chỉ đùa với mình một lúc, mình cần gì phải tính toán?” Thế rồi mới đáp: “Được, ta tin ngươi đủ sức cứu ta ra khỏi nhà họ Phong, nhưng tại sao ngươi làm như thế, chả lẽ họ muốn hại ta?”.
Tên ăn mày nói: “Như thế chẳng qua ngươi chỉ tin ta được một nửa. Ta không biết vì sao bọn chúng muốn hại ngươi. Nhưng phải biết bọn chúng đã cho ngươi uống thiên nhật túy. Ta cũng chính mắt thấy tên tiểu tử Văn Thắng Trung lột quần áo của ngươi”.
Tần Nguyên Hạo lẩm bẩm: “Thiên nhật túy? Ta đã say mấy ngày rồi?” chàng nhớ lại đêm đó mình đã uống ba chén, quả nhiên đã say mềm cho nên cũng tin thêm được mấy phần. Lúc này chàng lại sợ mình say chẳng biết ngày đêm, sẽ lỡ buổi tiệc ở nhà họ Giang.
Tên ăn mày nói: “Vốn là ít nhất người phải say bảy ngày bảy đêm, nhưng nay chỉ mê man một ngày một đêm mà thôi, đó là vì ta đã cho ngươi uống một viên bích linh đơn. Bích linh đơn được làm chủ yếu từ thiên sơn tuyết liên, có công năng hóa giải tà độc. Nhưng đây không phải là thuốc chuyên trị thiên nhật túy, cho nên ngươi vẫn phải nằm một ngày một đêm”.
Tần Nguyên Hạo kêu lên: “Ồ, nói như thế, hôm nay là ngày mười hai tháng tám?”.
Tên ăn mày nói: “Đúng thế. Ngươi có chuyện gì gấp?”.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Còn may lắm, ra khỏi núi Tồ Lai, đến ngày mườilăm mình có thể đến kịp huyện Đông Bình”. Chàng vẫn chưa biết lai lịch tên ăn mày, thế rồi mới đáp bừa: “Chỉ có chuyện nhỏ, nhưng không thể chậm trễ được, ồ ta vẫn chưa biết tôn tính đại danh của lão ca? Bản lãnh của lão ca ghê gớm đến thế, không biết sư tôn là cao nhân phái nào?”.
Tần Nguyên Hạo lúc đầu còn nghĩ y là đệ tử của phái Cái bang, nhưng bang chủ Trọng Trường Thống của phái Cái Bang là bạn thân của sư phụ chàng, chàng đã thấy Trọng Trường Thống và sư phụ trau dồi võ công vài lần, thân pháp, thủ pháp của Trọng Trường Thống khác hẳn tên ăn mày này. Vả chăng tuyệt kỹ của Cái Bang là “Hỗn nguyên nhất khí công”, đó là một loại nội công cực kỳ cương mãnh.
Tên ăn mày dùng bụng hút nắm đấm của chàng sau đó đẩy bật chàng ra, tuy Tần Nguyên Hạo không biết đó là môn công phu gì nhưng biết đó là một loại nội công thượng thừa lấy nhu khắc cương, trái ngược với Hỗn nguyên nhất khí của Cái Bang.
Xem ra tên ăn mày này hình như không phải là đệ tử của phái Cái Bang cho nên Tần Nguyên Hạo mới hỏi như thế.
Tên ăn mày cười ha hả rồi nói: “Ta không có duyên với hai chữ cao nhân, còn họ tên của ta rất tầm thường. Ngươi có tiền không?”.
Tên ăn mày hỏi đột ngột như thế khiến Tần Nguyên Hạo ngạc nhiên. Chàng ngẩn người: “Lão ca thiếu tiền ư? Tôi mang theo không nhiều, chỉ có vài lượng bạc”.
Tên ăn mày cười: “Ta không phải xin ngươi, ngươi còn có thứ gì quý hơn bạc không?”.
Tần Nguyên Hạo: “Thứ quý hơn bạc là vàng. Nhưng tôi lại không có”.
Tên ăn mày cười nói: “Ngươi không có nhưng ta lại có ta họ Kim. Ngươi thấy họ của ta có phàm tục không? Còn tên của ta đấy ư, nghe càng tầm thường hơn. Ta tên Trục Lưu”. Tần Nguyên Hạo nghĩ thầm: “Kim Trục Lưu? Mình chưa bao giờ nghe ai nói cái tên này, thật kỳ lạ, y có bản lĩnh cao cường đến thế, tuổi lại trẻ, các bậc lão tiền bối trong võ lâm đương nhiên sẽ để ý, tại sao mình chưa bao giờ nghe trường bối nhắc đến người này. Chả lẽ y cũng lần đầu tiên xuất đạo giống như mình?”.
Tên ăn mày nói: “Ta không thuộc phái nào cả, ta cũng không có sư phụ. Chưởng môn các phái hiện nay đa số đều ngang hàng với ta, họ không xứng là sư phụ của ta”.
Tần Nguyên Hạo chỉ nghĩ y khoác lác, nhủ thầm: “Trên giang hồ có rất nhiều điều kiêng kị, nếu y đã không chịu nói lai lịch của sư môn, mình cũng không cần hỏi tới nữa. Song với bản lĩnh của y, quả thật có thể ngang tài ngang sức với cao thủ ở các phái”.
Tần Nguyên Hạo mỉm cười: “Tiểu đệ hỏi thật mạo muội, song tôi chỉ muốn hỏi Kim huynh một chuyện”.
Kim Trục Lưu nói: “Ngươi và ta đã bằng vai phải lứa, không cần khách sáo nữa. Cứ nói”.
Tần Nguyên Hạo hỏi: “Kim huynh, huynh bảo đã cứu tôi ra khỏi nhà họ Phong, tôi đã tin, nhưng tại sao huynh cứu tôi, chắc là huynh nghi ngờ người nhà họ Phong cho nên mới đến dò thám, đúng không?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Đúng thế, ngươi và tên tiểu tử họ Văn tỉ kiếm trong vườn hoa nhà họ Phong, sau đó Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu bước ra mời ngươi vào, ta đã biết cả. Chính vì ta không yên tâm cho nên mới lén vào thử xem. Quả nhiên không sai, ngươi đã trúng kế của bọn chúng”.
Tần Nguyên Hạo lại hỏi: “Vậy họ là ai, tại sao ngươi lại nghi ngờ?”.
Kim.Trục Lưu nói: “Ồ, té ra lúc này ngươi vẫn chưa biết thân phận của họ. Cũng khó trách, nếu ngươi biết thì đã không uống rượu độc của chúng”. Tần Nguyên Hạo ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang tiếp đãi mình ân cần như thể chả lẽ họ là người xấu, bày mưu hãm hại mình, với bản lĩnh của họ cần gì phải tốn nhiều công sức như thế?” rồi mới hỏi: “Tiểu đệ thật sự không biết họ là ai!”.
Kim Trục Lưu toan hỏi tiếp, nhưng chợt phát giác ra điều gì, y nghiêng tai lắng nghe một lát rồi nói: “Có nói ra ngươi cũng không tin, ta sẽ để cho người khác nói cho ngươi nghe. Ngươi theo ta”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 08:22:02Hoàng Dung>
Tần Nguyên Hạo muốn biết Kim Trục Lưu dắt mình đi đâu, nên cũng chỉ đành chạy theo y, chạy được mười mấy bước, Tần Nguyên Hạo mới nghe tiếng bước chân trong rừng. Kim Trục Lưu thì thầm: “Chúng ta nghe lén bọn chúng nói chuyện, đừng để bọn chúng nghe tiếng”. Rồi kéo Tần Nguyên Hạo chạy một đoạn nữa, đột nhiên kéo chàng phóng người vọt lên một cành cây cao, rồi đáp xuống nhẹ như chiếc lá. Từ trên cao, Tần Nguyên Hao đã có thể thấy hai hán tử đang đi về phía mình.
Hai người một cao một thấp, tuổi đều khoảng năm mươi. Chỉ nghe người đi đầu nói: “Tiêu đại ca, huynh thấy con ả đó có nói dối không?” tên lùn ở phía sau nói”.Ta nghĩ ả không dám. Nếu bọn chúng ở nhà sao lại không gặp chúng ta?” người cao nói: “Đúng thế, lẽ ra bọn chúng phải gặp chúng ta. Tuy tôi không quen tên họ Văn, nhưng dẫu sao Phong Tử Siêu cũng là đồng sự của chúng ta, ta đã báo tên cầu kiến, nếu y ở nhà thì theo lý phải ra tiếp đón mới đúng. Nhưng có lẽ còn một nguyên nhân khác, y cố ý tránh mặt chúng ta”.
Tên lùn hỏi: “Nguyên nhân gì?” người kia đáp:. ‘Y sợ chúng ta đến hỏi tội.
Trong cuộc chiến Mang Sơn năm xưa, mười bảy cao thủ đại nội đã chết, chỉ có y và Tô Mông là thoát được, Tô Mông trở về thì bị tống giam ba năm. Còn y thì bỏ chạy, tội danh còn lớn hơn cả Tô Mông. Có lẽ y sợ Tát tổng quản nhớ chuyện năm xưa phái chúng ta đến bắt y trở về chịu tội”.
Tên lùn nói: “Đáng ghét nhất là ả nha đầu không chịu nghe chúng ta, chúng ta chỉ mới bảo tìm cha của ả thì ả đã nói một câu không có ở nhà rồi đóng sầm cửa lại. Nếu không vì sợ đắc tội với Phong đại ca, ta đã phá cửa xông vào đánh cho ả nha đầu một trận”. 
Người kia nói: “Chi bằng chúng ta quay trở lại nói cho rõ ràng”. Tên lùn nói: “Phong Tử Siêu không chịu lộ mặt, có quay trở lại cũng vô ích. Ta thấy y không phải sợ chúng ta hỏi tội mà là sợ Giang Hải Thiên. Chúng ta tuy là bạn cũ, nhưng y cũng sợ chúng ta để lộ tung tích của y”. Người kia cười rằng: “Văn Đạo Trang ở đây, y còn sợ Giang Hải Thiên? Tát tổng quản bảo chúng ta dùng lễ mời Văn Đạo Trang, cũng là vì muốn nhờ Văn Đạo Trang đối phó Giang Hải Thiên. Nếu Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang đều sợ Giang Hải Thiên, e rằng lễ vật này đã uổng phí”.
Tên lùn đáp: “Nhớ năm xưa Văn Đình Bích tự phụ, khoe khoang võ công của mình thuộc hàng thiên hạ đệ nhất, không ngờ trong trận Mang Sơn đã bị Kim Thế Di phế võ công. Văn Đạo Trang không thể hơn được thúc thúc của y, mà Giang Hải Thiên đã được Kim Thế Di chân truyền. Theo ta thấy, có lẽ Văn Đạo Trang không phải là đối thủ của Giang Hải Thiên”.
Người cao nói: “Mặc kệ y thắng cũng được, không thắng cũng được, chúng ta chỉ vâng lệnh Tát tổng quản. Chúng ta sẽ quay lại, chỉ cần Văn Đạo Trang nhận lễ vật, cả Phong Tử Siêu cũng được phục chức. Y chắc chắn sẽ vui mừng!”.
Tên lùn hỏi: “Nếu Phong Tử Siêu vẫn cứ tránh mặt thì làm thế nào?”.
Người kia đáp: “Thì chúng ta cứ nói với con gái của y”.
Tên lùn nói: “Nếu ả nha đầu ấy không chịu mở cửa thì sao?”.
Người kia đáp: “Chúng ta chỉ đành dùng tuyệt chiêu cuối cùng. Bắt giữ con gái của y, Phong Tử Siêu còn có thể tránh mặt được hay sao?”.
Tên lùn hỏi: “Giả sử Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang thực sự không có ở nhà thì sao?”.
Người kia nói: “Chúng ta cũng buộc ả nha đầu chỉ ra chỗ củ a bọn họ!”.
Tên lùn ngẫm nghĩ rồi nói: “Được, huynh đã không sợ đắc tội Phong đại ca, chúng ta sẽ quay lại!”. Người cao cười rằng: “Phong Tử Siêu biết tin nay có thể phục chức, mừng còn không kịp tại sao lại trách chúng ta?” thế rồi hai hán tử quay đầu đi về hướng nhà họ Phong.
Hai người đi xong, Kim Trục Lưu cười hỏi: “Ngươi có nghe rõ chưa, bây giờ đã hiểu chưa?” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, nói: “Té ra Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang là ưng khuyển của triều đình, ồ, ta đã hiểu, ta đã hiểu rồi!” lúc này chàng không chỉ biết được thân phận của hai người Văn, Phong mà còn biết tại sao họ lại dùng rượu độc chuốc say chàng, lột hết quần áo của chàng.
Kim Trục Lưu cười nói: “Theo ta biết, bọn ba người cha con Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu sáng sớm hôm qua đã ra đi, trong nhà chỉ còn lại ả tiểu nha đầu ấy. Này, ngươi làm sao thế?”.
Tần Nguyên Hạo ngẩn người ra, mặt đỏ ửng, ấp úng: “Tôi... tôi nghĩ...” Kim Trục Lưu hỏi: “Có phải huynh nhớ đến ả nha đầu ấy không?” Tần Nguyên Hạo vẫn ú ớ: “Không, không phải. Là...” Kim Trục Lưu gằn: “Là gì?” Tần Nguyên Hạo càng ấp úng: “Tôi... tôi nghĩ họ chỉ đi xem náo nhiệt mà thôi!” Kim Trục Lưu nói: “Ta biết ngươi chỉ sợ ả nha đầu chịu thiệt thòi. Thôi được, nếu ngươi đã có lòng cứu mỹ nhân, ta sẽ đi cùng ngươi!”.
Tần Nguyên Hạo nghe y nói thế thì mặt càng đỏ hơn, trả lời rằng: “Kim huynh đừng hiểu lầm, tiểu đệ chỉ tiếc thương cho Phong cô nương. Phong cô nương là người tốt nhưng Phong Tử Siêu thì không phải”. Kim Trục Lưu cười nói: “Đừng giải thích nữa, chúng ta đi thôi”.
Hai người nhảy xuống tán cây, Tần Nguyên Hạo lập tức thi triển khinh công, Kim Trục Lưu thì thầm: “Nếu ngươi muốn coi tuồng hay, đừng để bọn chúng phát giác”. Thế rồi một tay nắm Tần Nguyên Hạo, chạy như bay về phía trước, Tần Nguyên Hạo chỉ cảm thấy người nhẹ như chim én, chân lướt nhanh như bôi mỡ.
Trong số các đệ tử ở phái Võ Dang, Tần Nguyên Hạo là người có khinh công cao nhất, sư phụ vẫn thường khen chàng, nhưng nay mới biết ngoài trời có trời, ngoài người có người, chàng nghĩ bụng: “Tên ăn mày này kéo mình chạy mà cũng nhanh như thế, nếu một mình y chạy chỉ e sư phụ cũng không đuổi theo kịp. Chả trách nào đêm trước y lẻn vào nhà họ Phong, cứu mình ra mà Văn Dạo Trang và Phong Tử Siêu đều không hề phát giác”.
Một lát sau, hai người Kim, Tần đã có thể thấy bóng dáng hai hán tử ở phía trước mắt, Kim Trục Lưu chậm bước lại, nhờ cây rừng che chắn, chỉ đi cách hai người ở phía trước khoảng hơn mười trượng. Hai hán tử ấy dừng bước trước nhà họ Phong, hai người Kim, Tần thì nằm phục dưới trảng cỏ trên sườn đồi.
Hai hán tử gõ cửa, bọn họ cũng lo Phong Diệu Thường không chịu mở, nhưng lần này thì nàng đã đẩy cửa bước ra.
Phong Diệu Thường đang chờ Tần Nguyên Hạo đến, cho nên hễ có ai gõ cửa nàng đều mở. Không ngờ mở cửa ra nhìn thì lại là hai kẻ đã đến lúc nãy.
Phong Diệu Thường bực dọc: “Cha tôi không có nhà, Văn thúc thúc cũng đã ra đi, tôi đã nói rồi, các người còn đến làm gì nữa?”.
Dứt lời nàng lập tức đóng cửa lại, người dáng dấp cao gầy nói: “Phong cô nương, cô hãy nghe tôi nói đã!” thế rồi co chân đạp mạnh, hai cánh cửa bật ra, Phong Diệu Thường đang chốt cửa, suýt nữa đã ngã xuống.
Phong Diệu Thường cả giận quát: “Các người tưởng ta dễ bức hiếp hay sao?” rồi rút soạt thanh kiếm chĩa về phía người cao gầy.
Người ấy cười rằng: “Cháu gái, đừng múa đao lòng thương như thế!”.
Phong Diệu Thường nói: “Ai là cháu gái của ngươi?”.
Kẻ có dáng người thấp bé cười rằng: “Ồ, có lẽ cháu vẫn chưa biết bọn ta là ai!
Ta họ Chu, tên gọi Hổ Thần. Y họ Xa, tên là Nhuệ, cha con có nhắc tên của bọn ta không?” Phong Diệu Thường sầm mặt: “Chưa nghe nói bao giờ”.
Xa Nhuệ ngạc nhiên: “Chả lẽ cha con không cho con biết lai lịch của ông ta ư?
Ta cho con biết, hai mươi năm trước cha của con cũng là đại nội thị vệ như ta, sau này vì gặp chuyện nên mới đến ẩn của núi Tồ Lai. Khi trước cha của con và bọn ta tình như huynh đệ, cho nên ta mới đám gọi cháu bằng tiếng cháu gái”.
Phong Diệu Thường lạnh lùng: “Cha của tôi có giao tình gì với các người, tôi không hề biết. Cha tôi không có ở nhà, các người nói thật hay giả cũng mặc kệ, xin thứ ta không thể tiếp đãi. Các người có giao tình gì hãy tìm cha ta mà nói”.
Xa Nhuệ không ngờ sau khi mình nói rõ thân phận mà Phong Diệu Thường vẫn không hề khách sáo. Y sững người: “Được, hãy cho ta biết cha con và Văn thúc thúc đã đi đâu?” Phong Diệu Thường đáp sẵng: “Không biết, có biết cũng không nói”.
Chu Hổ Thần cười ha hả: “Phong cô nương, cô nương có biết bọn ta muốn mời cha cô nương đi làm quan hay không?”.
Phong Diệu Thường hừ một tiếng lạnh lùng: “Ta thèm vào”.
Chu Hổ Thần cười: “Cô nương không thèm nhưng cha của cô nương thì khác”.
Nào ngờ Phong Diệu Thường đang bực bội vì đã biết được thân phận của cha mình, cho nên trút giận về phía hai người này, thế rồi rút thanh kiếm ra: “Các người hãy tìm cha tôi mà nói. Nếu cứ lôi thôi nữa tôi không khách sáo! Các người có cút đi hay không?”. 
Xa Nhuệ cười ha hả: “Có phải cháu gái muốn thử võ công của thúc thúc hay không?” đột nhiên quát lớn một tiếng: “Xin lỗi, ta cũng không khách sáo nữa!” nói xong thì phát ra một chiêu Hoành tỏa Thương giang (chặn ngang dòng Thương), tay trái chụp vào cổ tay toan đoạt lay thanh kiếm của nàng.
Không ngờ bản lĩnh của Phong Diệu Thường tuy không bằng họ nhưng cũng chẳng phải là hạng vừa. Xa Nhuệ đã quá khinh địch, Phong Diệu Thường trở mũi kiếm lại, chém soạt ra một chiêu Hoành vân đoạn phong chặt tay của y. Nếu chẳng phải Xa Nhuệ rút tay thật nhanh thì suýt nữa đã bị nàng chém trúng.
Chu Hổ Thần quát: “Bọn ta không có thời gian đùa với ngươi. Buông kiếm!” Rồi đánh ra một chiêu Thủ huy tỳ bà, năm ngón khép lại phất ngược ra. Phong Diệu Thường làm sao có thể chống nổi hai cao thủ, nàng chỉ cảm thấy hổ khẩu đau nhói, té ra, đã bị năm ngón tay của y quét trúng, thanh kiếm vụt khỏi tay.
Kim Trục Lưu đẩy Tần Nguyên Hạo dục: “Sao còn chưa mau cứu mỹ nhân!”
Tần Nguyên Hạo chạy về phía trước, thấy mình đã lộ, chỉ đành rút kiếm ra. Nhưng Kim Trục Lưu vẫn không chịu xuất hiện.
Tần Nguyên Hạo quát lớn: “Hai lên ưng khuyển dám bức hiếp một thiếu nữ, có biết nhục nhã hay không?” rồi đâm ra soạt soạt hai kiếm, đồng thời tấn công hai người Chu, Xa, đẩy họ thối lùi mấy bước. May mà chàng đến kịp thời nên đã cứu được Phong Diệu Thường.
Chu Hổ Thần cười lạnh: “Ồ, té ra ả nha đầu nhà ngươi thương thầm kiếm khách của phái Võ Đang, chả trách nào cả cha mình mà cũng phản bội”. Phong Diệu Thường tức giận đến đỏ mặt, mắng: “Nói bậy, Tần đại ca hãy mau ra tay!” Phong Diệu Thường thấy Tần Nguyên Hạo đột nhiên xuất hiện, vừa lo vừa mừng. Tuy nổi giận nhưng trong lòng thì thấy ngọt ngào, bất giác buột miệng kêu lên ba tiếng “Tần đại ca”.
Hai người Chu, Xa vừa nhìn đã biết Tần Nguyên Hạo là đệ tử của phái Võ Đang cho nên không dám khinh địch, đều rút ra binh khí đối phó với chàng.
Chu Hổ Thần sử dụng một đôi hổ đầu câu, chuyên dùng để khắc chế đao kiếm. Xa Nhuệ sử dụng một thanh đao sóng dày với đường ngũ hổ đoạn môn đao.
Kiếm pháp của Tần Nguyên Hạo rất tinh diệu, nhưng đây là lần đầu tiên xuất đạo, vả lại công lực vẫn chưa đủ, một mình đấu với hai người sau ba mươi chiêu thì dần dần đuối sức.
Phong Diệu Thường thấy Tần Nguyên Hạo không xong, thế rồi nhặt thanh kiếm lên sánh vai cùng chàng chống địch. Xa Nhuệ đang vung đao chém về phía Tần Nguyên Hạo, be sườn trái hở ra một khoảng trống lớn, Phong Diệu Thường đâm soạt một kiếm vào huyệt du khí ở dưới be sườn của y. Chu Hổ Thần rút đôi câu về xỉa qua một bên, giải nguy cho Xa Nhuệ.
Nhưng một mình Xa Nhuệ thì chống không nổi kiếm chiêu tinh nhuệ của Tần Nguyên Hạo, trong khoảnh khắc ấy, Tần Nguyên Hạo đánh liền ra ba chiêu nhanh như điện chớp. Xa Nhuệ né tránh hai chiêu đầu, chiêu sau thì né không được, bị mũi kiếm của Tần Nguyên Hạo vạch một đường dài khoảng năm tấc trên tay trái, may mà vết thương không sâu.
Phong Diệu Thường cũng không chặn được cặp câu của Chu Hổ Thần, bị đôi song câu của y cuộn nhẹ, suýt nữa đánh rơi kiếm. Tần Nguyên Hạo vội vàng trở mũi kiếm giải nguy cho Phong Diệu Thường. Chu Hổ Thần trở cây câu lại, hóa giải chiêu số của Tần Nguyên Hạo. Phong Diệu Thường rút kiếm ra chống lại Xa Nhuệ. Xa Nhuệ sau khi bị thương thì lửa giận bốc cao, xông về phía Phong Diệu Thường chém ra ba đao liên tục. Phong Diệu Thường nhờ thân pháp nhẹ nhàng, nhưng khó khăn lắm mới tránh được ba đao của y. Chu Hổ Thần nói: “Xa lão nhị, nể mặt Phong đại ca, tha cho con gái của y một mạng.”.
Xa Nhuệ hừ một tiếng: “Ả nha đầu ăn cơm nhà lo chuyện người khác, vì tên tiểu tử họ lần mà đã không nể mặt bằng hữu của cha mình. Nếu Phong đại ca biết chuyện này chắc chắn sẽ tức đến chết đi được. Tôi sẽ dạy ả một bài học thay cho Phong đại ca. Tội chết có thể miễn, nhưng tội sống khó tha. Tên tiểu tử này đã vạch đứt cánh tay của tôi, tôi phải chém một cánh tay của ả?”.
Phong Diệu Thường không đủ sức, chỉ nhờ thân pháp nhẹ nhàng luồn qua lách lại dưới đao của Xa Nhuệ, đừng nói là không thể trả đòn, dù chống đỡ cũng không kịp. Tần Nguyên Hạo kêu lên: “Phong cô nương, chạy mau!” nhưng Phong Diệu Thường lại không chịu chạy, nàng nghĩ bụng: “Tuy mình đánh không lại gã cao này, nhưng có thể giúp Tần thiếu hiệp kìm chân một tên địch cũng tốt”.
Tần Nguyên Hạo thâu nhiếp tinh thần, dồn Chu Hổ Thần lùi mấy bước, sau đó lại tiến lên hợp sức với Phong Diệu Thường. Trong cuộc hỗn chiến, Tần Nguyên Hạo đều lo lắng cho Phong Diệu Thường, giúp nàng chặn thế công của kẻ địch, tình thế lúc này mới thay đổi chút ít.
Nhưng vì Tần Nguyên Hạo lo cho Phong Diệu Thường, Phong Diệu Thường bớt nguy hiểm, nhưng bản thân chàng lại lâm vào nguy hiểm. Phong Diệu Thường không quản thân mình giải nguy cho chàng, nhưng vì hai bên chưa thể phối hợp tốt, lại tranh nhau đánh địch, chiêu số rối loạn, cho nên bị kẻ địch thừa cơ đánh tới.
Tần Nguyên Hạo kịch chiến nửa canh giờ, mồ hôi đã ra đầm đìa. Lòng nghĩ thầm: “Sao Kim Trục Lưu vẫn chưa chịu ra tay?” nhưng chàng và Kim Trục Lưu chỉ mới quen biết nhau, cho nên không tiện lên tiếng nhờ Kim Trục Lưu giúp đỡ.
Cây hộ thủ câu của Chu Hổ Thần có khả năng khắc chế đao kiếm, chỉ vì Liên hoàn đoạt mệnh kiếm của Tần Nguyên Hạo là loại kiếm pháp thượng thừa, kiếm thế liên miên không ngớt, công lực lại chẳng kém y bao xa, cho nên cây hộ thủ câu của y vẫn chưa thể khắc chế được Tần Nguyên Hạo. Nhưng y dư sức đối phó với Phong Diệu Thường, Phong Diệu Thường có thể tránh được cây đao nặng nề của Xa Nhuệ nhưng không thể né được đôi câu của y. Trong lúc kịch chiến, Chu Hổ Thần đã vung đôi câu kẹp thanh kiếm của Phong Diệu Thường, Tần Nguyên Hạo vội vàng lướt lên phía trước, chặn trước mặt Phong Diệu Thường, đánh ra một chiêu Thiết tỏa hoành giang, chém kiếm vào cổ tay của Chu Hổ Thần. Chu Hổ Thần quát lên một tiếng “Đi!” hai tay vung lên, thanh kiếm của Phong Diệu Thường bay bổng lên không trung.
Tần Nguyên Hạo dồn lực vào mũi kiếm, đâm mạnh qua, công lực của cả hai bên đều tương đương nhau, Chu Hổ Thần không thoát nổi nhát kiếm của Tần Nguyên Hạo, nhưng Xa Nhuệ mở rộng vòng đao, chém xuống người Tần Nguyên Hạo.
Tần Nguyên Hạo vừa rút thanh kiếm ra, không kịp chống đỡ, chỉ thấy ánh đao lấp lánh, lưỡi đao đã chém xuống đỉnh đầu chàng. Tần Nguyên Hạo bất giác lạnh mình, thầm kêu lên: “Mạng mình đã xong!” Phong Diệu Thường lúc này vừa mới đứng vững chân, nhặt thanh kiếm lên, cách đó khoảng bảy bước, đừng nói là nàng không thể cứu, dù cho muốn cứu cũng không kịp.
Nói ra cũng thật kỳ lạ, thanh đao của Xa Nhuệ chỉ còn cách đầu chàng ba tấc, đột nhiên ngừng lại. Trong khoảnh khắc Tần Nguyên Hạo đã đâm kiếm tới, Xa Nhuệ không chém trúng Tần Nguyên Hạo, trái lại bị chàng ta đâm soạt một kiếm từ trước ngực ra thấu sau lưng, mạng đã ô hô.
Tần Nguyên Hạo rút kiếm ra thì mới cảm thấy ngạc nhiên, Phong Diệu Thường vui mừng ra mặt, vội vàng chạy tới. Chu Hổ Thần thấy đồng bọn của mình bị giết chết, càng cả kinh, hai người Phong, Tần, một trước một sau dồn y vào ở giữa, Chu Hổ Thần có thể đỡ được kiếm chiêu của Tần Nguyên Hạo nhưng không tránh được Phong Diệu Thường, bê sườn trái trúng liền hai kiếm, máu tuôn ra như suối.
May mà Phong Diệu Thường khí lực còn yếu, hai kiếm này chỉ khiến y bị thương chứ không đến nỗi mất mạng. Chu Hổ Thần quát lớn một tiếng, phóng cây hộ thủ câu ra, Phong Diệu Thường tránh qua một bên, Chu Hổ Thần lập tức vọt ra, bỏ chạy thục mạng. Tần Nguyên Hạo vừa mới thoát chết, vẫn còn chưa hết sợ, cho nên không đuổi theo Chu Hổ Thần.
Phong Diệu Thường mỉm cười bước tới, khen ngợi: “Tần đại ca, kiếm pháp hay lắm!” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt: “Kim đại ca, Kim đại ca! Mời bước ra đây! Tiểu đệ phải tạ huynh mới phải”. Chàng đã hiểu, lúc nãy chắc chắn là Kim Trục Lưu giúp mình. Nhưng chàng gọi hai tiếng mà chẳng thấy Kim Trục Lưu trả lời. Tần Nguyên Hạo chạy tới chỗ vừa mới ẩn mình, nhưng chẳng thấy bóng dáng Kim Trục Lưu đâu, té ra Kim Trục Lưu đã bỏ đi từ lâu.
Tần Nguyên Hạo thở dài, nói: “Kim đại ca quả nhiên xuất thần nhập hóa!”
Phong Diệu Thường bước tới, ngạc nhiên hỏi: “Huynh cùng đi với bằng hữu ư?”.
Tần Nguyên Hạo đáp: “Đúng thế, đêm hôm đó y đã cứu tôi, đáng tiếc y đã bỏ đi”. Phong Diệu Thường nghe chàng nhắc lại chuyện hôm đó, bất đồ mặt đỏ ửng.
Chính là: Lúc ấy là thượng khách, hôm nay lại gặp nhau.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hội 4 sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 19:07:01Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Tư
[/align]
Thần công khó đoán gặp cao đệ
Tưởng là tai họa hóa tiệc vui
Phong Diệu Thường đỏ ửng mặt nói: “Cha tôi đã lừa huynh uống thiên nhật túy, lúc đó tôi chỉ tưởng là rượu hoa quế bình thường. Tôi... tôi thực sự không đồng mưu với cha tôi”. Tần Nguyên Hạo nói: “Tôi biết chuyện này không liên quan đến cô nương. Nếu không tôi đã không trở lại”. Phong Diệu Thường lúng túng: “Lúc đầu tôi còn tưởng huynh đến đây hỏi tội”. Tần Nguyên Hạo đáp: “Tôi và Kim đại ca nghe hai tên ưng khuyển này nói chuyện, lo cô nương lỡ lầm cho nên mới theo dõi đến đây”.
[/align]Phong Diệu Thường vừa hổ thẹn, vừa vui mừng, lòng nhủ thầm: “Té ra là huynh không trách tôi, lại còn quan tâm đến tôi”. Lúc này sắc mặt nàng đỏ ửng, nàng nói tiếp: “Tôi tuy không đồng mưu, nhưng cha tôi đã lừa huynh, tôi... tôi cũng rất hổ thẹn!”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Chuyện này đã xảy ra, tôi cũng không bị thương, đừng nhắc đến nữa”. Phong Diệu Thường cúi mặt: “Cha tôi nói, uống thiên nhật túy ít nhất cũng phải mê man bảy ngày bảy đêm, sao huynh lại có thuốc giải?” Hôm qua Phong Diệu Thường đã tìm thuốc giải, phát giác thuốc giải đã mất, suất đêm cứ lo lắng không yên, không biết cha nàng đem theo hay là bị người ta đánh cắp.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Té ra Kim Trục Lưu không hề nói dối”. Liền đáp: “Kim đại ca đã cho tôi uống một viên bích linh đơn”. Phong Diệu Thường thấy Tần Nguyên Hạo vẫn bình thường, như trút tảng đá lớn trong lòng, nhưng một nỗi lo lắng khác lại dâng lên. Phong Diệu Thường cúi đầu, vân vê tà áo một lúc rồi thì thầm: “Tôi muốn nhờ huynh một chuyện, không... không biết huynh có chịu không?” Tần Nguyên Hạo dục: “Cô nương cứ cho tôi biết”.
Phong Diệu Thường nói: “Huynh tuy không trách tôi, nhưng chắc chắn căm ghét cha tôi. Vâng, cha tôi thực sự không nên đối xử với huynh như vậy”.
Tần Nguyên Hạo hỏi: “Tôi đang muốn hỏi cô nương, lệnh tôn tại sao lừa tôi uống thiên nhật túy?”.
Phong Diệu Thường hỏi lại: “Tôi muốn hỏi thiếu hiệp, Giang Hải Thiến là người tốt hay kẻ xấu?”.
Tần Nguyên Hạo ngẩn người ra rồi đáp: “Giang đại hiệp xưa nay nổi tiếng hiệp nghĩa, thiên hạ đều mến mộ, làm sao là người xấu được?’
Phong Diệu Thường ngập ngừng: “Có người bảo ông ta là kẻ phản nghịch chống lại triều đình, không ai được chống lại hoàng đế, có đúng không?”.
Tần Nguyên Hạo nhíu mày: “Chắc là lệnh tôn đã nói những lời này phải không? Ông ta từng là võ quan của triều đình. Chả trách nào ông ta nói những lời như thế. Nhưng hễ ai không chịu cam lòng làm tôi tớ cho bọn người Thát Đát đều cho rằng điều ấy rất là sai trái. Bọn Thát Đát Mông Cổ chiếm đoạt đất đai của chúng ta, bức hiếp người Hán chúng ta. Có hoàng đế Thát Đát như thế, tại sao không thể phản?”.
Phong Diệu Thường nhớ lại những lời nàng đã nghe từ miệng của những thợ săn mà nàng quen biết, lòng nhủ thầm: “Đúng thế, sách tuy có nói ‘Nước không thể một ngày không vua’, nhưng phải xem là hoàng đế như thế nào, hoàng đế xấu thì đương nhiên có thể phản đối”. Nàng chỉ có thể hiểu đến thế, nhưng coi như đã bắt đầu biết được chuyện đúng sai.
Tần Nguyên Hạo hỏi: “Cô nương thấy thế nào, tôi nói có đúng không?”.
Phong Diệu Thường đáp: “Vâng, rất đúng. Nhưng người đầu tiên bảo Giang đại hiệp là người xấu lại là Văn thúc thúc, cha tôi chỉ phụ họa theo ông ta”. Phong Diệu Thường tuy không đồng ý với cha mình, nhưng rốt cuộc vẫn muốn biện hộ, cho nên mới bênh vực cho ông.
Tần Nguyên Hạo không biết lai lịch của Văn Đạo Trang, cười rằng: “Cha của cô nương và gã họ Văn ấy kết bái huynh đệ, đương nhiên họ phải nói giống nhau. Nhưng cô nương nhắc lại chuyện này là có ý gì?”.
Phong Diệu Thường nói: “Văn thúc thúc bảo Giang đại hiệp là người xấu, lại nói ông ta có thù với Giang đại hiệp, cho nên muốn tìm Giang đại hiệp tỉ võ để rửa hận. Ông ta sợ không vào nhà họ Giang được cho nên mới thuyết phục cha tôi, nhờ cha tôi giúp đỡ, lừa huynh uống ba chén thiên nhật túy. Ông ta bảo Văn Thắng Trung cải trang thành huynh, lấy thiệp mời của huynh rồi trà trộn vào nhà họ Giang”.
Phong Diệu Thường không biết kế hoạch cụ thể của họ, chỉ nói theo những điều đã nghe, Tần Nguyên Hạo chợt hiểu ra: “Té ra là thế! Văn Đạo Trang muốn tìm Giang đại hiệp trả thù, nhưng ta đoán ông ta sẽ chẳng được như ý”.
Phong Diệu Thường nói: “Nhưng cha tôi bảo võ công của ông ta thuộc hàng đệ nhất”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Người trong võ lâm đều bảo võ công của Giang đại hiệp là thiên hạ đệ nhất, tôi tuy chưa thấy võ công của Giang đại hiệp, nhưng đã gặp võ công của người họ Văn, đúng thế, tôi không bì kịp y, nhưng so với Kim đại ca thì y còn kém xa. Theo tôi thấy, y tìm Giang đại hiệp tỉ võ chỉ là tự chuốc lấy đau khổ”. Tần Nguyên Hạo mới ra giang hồ nên chưa hiểu biết nhiều, không biết lòng người hiểm ác, chỉ nghĩ Văn Đạo Trang tìm Giang Hải Thiên tỉ thí, báo thù theo quy củ giang hồ. Cho nên nghe Phong Diệu Thường nói xong thì không hề lo lắng. Phong Diệu Thường nhíu mày: “Cha con họ Văn tự chuối lấy nhục, tôi mặc kệ họ, nhưng... cha của tôi...”.
Nói đến đây, Tần Nguyên Hạo đã hiểu được vài phần, chợt nghĩ bụng: “Cha của nàng năm xưa là đại nội thị vệ, nếu vì chuyện này mà bị liên lụy cũng đáng kiếp. Đừng nói ta không muốn giúp, dù muốn giúp cũng không được”. Nhưng chàng lại không tiện nói ra những lời này trước mặt Phong Diệu Thường. Thế rồi mới miễn cưỡng an ủi Phong Diệu Thường: “Nếu Văn Đạo Trang chỉ tìm Giang đại hiệp tỉ võ, cha cô nương chỉ cần không lộ diện, chắc chắn Giang đại hiệp sẽ không làm khó ông ta”.
Phong Diệu Thường nói: “Chỉ mong như thế. Nhưng tôi muốn nhờ huynh giúp một chuyện”.
Tần Nguyên Hạo hỏi: “Có chuyện gì? Nếu không trái với lời giáo huấn của sư môn, tôi có thể hứa”.
Phong Diệu Thường rất áy náy, vẻ mặt càng lúng túng hơn. Nếu lúc khác Tần Nguyên Hạo nói như thế, nàng đã không chịu mở miệng cầu xin. Nhưng lúc này, nàng vì cứu cha cho nên đành phải nói ra.
Phong Diệu Thường lúng túng: “Nếu đến nhà họ Giang, tôi... tôi mong huynh đừng dùng tên thật”. Tần Nguyên Hạo hỏi: “Tại sao?” chàng là người trung hậu thật thà, trong nhất thời không hiểu được lời của Phong Diệu Thường.
Phong Diệu Thường nói: “Cha tôi cùng họ đến nhà họ Giang, chắc chắn sẽ đến trước huynh”. Tần Nguyên Hạo bật cười: “Ồ, tôi đã hiểu. Nếu tôi nói ra tên thật, âm mưu giả mạo của Văn Thắng Trung sẽ bị tôi vạch trần. Cha con họ đương nhiên sẽ bị bắt ngay tại chỗ, chỉ e lệnh tôn...” Phong Diệu Thường đáp: “Đúng thế, cha của tôi cũng bị liên lụy. Không bị bắt cũng bị đuổi ra khỏi nhà họ Giang”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Văn Thắng Trung giả mạo tôi, tôi phải giả mạo ai? Tôi lại không có thiệp mời, làm sao có thể vào nhà họ Giang?”.
Phong Diệu Thường nói: “Huynh không cần phải giả mạo ai cả, chỉ dùng tên khác có được không? Chỉ cần huynh sử dụng võ công của bổn môn, lo gì người nhà họ Giang không biết huynh là đệ tử của phái Võ Đang? Với mối giao tình giữa Giang đại hiệp và phái Võ Đang, sao lại không cho huynh vào?”.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Nói thế chẳng khác gì bảo ta lừa nhà họ Giang. Nhưng vì một kẻ đã từng làm ưng khuyển cho triều đình, mình có đáng làm thế hay không?”.
Phong Diệu Thường tiếp lời: “Huynh đến nhà họ Giang, hãy âm thầm tìm cha của tôi, không cần huynh phải nói một câu, người thấy huynh chắc chắn đã biết sự việc bại lộ, người sẽ âm thầm bỏ đi. Huynh không cần tốn công mà cũng cứu được cha tôi. Có bài học này, người sẽ biết tự thay đổi. Tôi... tôi cũng sẽ cố khuyên lơn người”.
Phong Diệu Thường nhìn Tần Nguyên Hạo rồi nói tiếp: “Tôi không biết như thế có trái với lời dạy của bổn môn hay không, nếu huynh cho rằng trái, tôi cũng không dám ép”.
Tần Nguyên Hạo ngẫm nghĩ: “Phong Tử Siêu đã rửa tay hai mươi năm, lời giáo huấn trong sư môn cũng bảo phải làm điều tốt. Nếu có thể khiến ông ta hướng thiện, coi như cũng là một chuyện hay”. Chàng liền gật đầu: “Tần mỗ sẽ ra sức cho cô nương”.
Phong Diệu Thường vui mừng: “Đa tạ Tần thiếu hiệp đã lấy đức trả oán. Ồ, Tần thiếu hiệp, huynh cũng phải thay quần áo. Tôi sẽ đưa quần áo của Văn Thắng Trung cho huynh”. Lớp quần áo ngoài của Tần Nguyên Hạo đã bị Văn Thắng Trung lột sạch, chỉ còn bộ đồ trong, sau một hồi đánh nhau kịch liệt, đã có mấy chỗ bị rách, Tần Nguyên Hạo nghe nàng nói thế thì vội vàng trả lời: “Được, tôi đang muốn tìm quần áo đây. Cô nương cứ nói cho tôi biết phòng của Văn Thắng Trung, tôi sẽ tự đi lấy”. Tần Nguyên Hạo cũng có dáng dấp như Văn Thắng Trung, chàng cứ chọn bừa một bộ cũng rất hợp, Tần Nguyên Hạo bước ra thì thấy Phong Diệu Thường đang cúi đầu suy nghĩ khi chàng bước ra, nàng mới ngẩng đầu lên hỏi nhỏ: “Huynh... huynh phải đi sao?”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Còn hai ngày nữa là đến hôn lễ ở nhà Giang đại hiệp, xin thứ lỗi cho tôi không thể ở lâu được”. Rồi chợt như nhớ ra điều gì, chàng nói tiếp: “Phong cô nương, e rằng cô nương cũng không nên ở lại trong nhà”.
Phong Diệu Thường gật đầu, chỉ cái xác của Xa Nhuệ nói: “Đúng thế, tôi đang suy nghĩ chuyện này, hai kẻ tự xưng là bạn cũ của cha tôi, đều là đại nội thị vệ, nay một người bị giết, người kia bỏ chạy, chỉ e sau này chúng tôi sẽ gặp rắc rối to”. Tần Nguyên Hạo nói: “Cho nên tôi muốn khuyên cô nương nên trốn đi. Cô nương có nơi nào để đi không?”.
Phong Diệu Thường liếc nhìn chàng, im lặng lắc đầu.
Tần Nguyên Hạo khuyên: “Nếu không còn nơi nào, vậy cô nương hãy đến huyện bên ở vài ngày cũng được. Năm ngày sau, có lẽ cha cô nương sẽ trở lại nhà. Lúc đó cô hãy quay về”.
Phong Diệu Thường rất thất vọng, nàng vốn muốn Tần Nguyên Hạo dắt nàng đi cùng, dù cho không thể cùng chàng đến nhà họ Giang cũng có thể đợi chàng ở trấn Đông Bình. Nhưng nàng lại ngại không muốn nói ra, nhất là lúc nãy nàng đã nhờ Tần Nguyên Hạo giúp cha mình, Tần Nguyên Hạo chấp nhận nhưng cũng rất gượng gạo, cho nên nàng cũng không biết mở miệng thế nào. Rồi mới lạnh nhạt nói: “Không cần Tần công tử nhọc lòng, tôi sẽ tự tìm cách”. Lúc đầu nàng gọi là Tần đại ca, sau đó lại nói Tần thiếu hiệp, lúc này lại gọi là Tần công tử, rõ ràng lối xưng hô ngày càng xa cách.
Tần Nguyên Hạo nghĩ bụng: “Phong Diệu Thường là người biết võ công, một mình đi lại trên giang hồ cũng chẳng hề gì, huống chi là chỉ đến huyện bên tạm lánh vài ngày!” hơn nữa chàng cũng không muốn đi cùng một thiếu nữ. Chàng làm sao biết được tâm trạng rối bời của Phong Diệu Thường lúc này! Phong Diệu Thường chỉ nghĩ Tần Nguyên Hạo coi thường nàng, lòng thầm nhủ: “Người ta là đệ tử của danh môn chánh phái, làm sao để ý đến một người có xuất thân như mình? Mình không biết tự lượng sức, cứ mong người ta coi mình là bằng hữu, thật là đáng buồn cười!” nàng cảm thấy rất khó chịu trong lòng, thần sắc cũng không khỏi trở nên lạnh lùng.
Tần Nguyên Hạo nói: “Được, vậy cô nương phải tự bảo trọng”. Chàng bước ra khỏi nhà họ Phong, trong lòng cũng cảm thấy hơi áy náy, nghĩ bụng: “Mong nàng ta có thể bình an. Ôi, mình lần này cứu người mà không cứu đến cùng, cũng là vì bất đắc dĩ”. Chàng thấy đã gần đến trưa, cho nên mới vội vàng chạy về hướng Đông Bình, đành cố xua đi hình bóng của Phòng Diệu Thường.
Đi xuống núi, chợt thấy Kim Trục Lưu nằm trên bãi cỏ. Tần Nguyên Hạo cả mừng: “Kim đại ca, huynh vẫn chưa đi sao?” Kim Trục Lưu nói: “Ồ, ta đã ngủ một giấc dài. Ngươi đến sớm thật, không ngờ người đành lòng chia tay cô ta sớm đến thế!”.
Tần Nguyên Hạo cười nhẹ: “Kim đại ca nói đùa, tôi chỉ thay quần áo nên chỉ trễ một lúc”.
Kim Trục Lưu nói: “Sao, ngươi đã hiểu chưa?”.
Tần Nguyên Hạo đáp gọn: “Đã hiểu. Đa tạ Kim đại ca”. Nói xong rồi cung kính dập đầu về phía Kim Trục Lưu ba cái. Chàng nhớ lại lúc đầu mình còn tưởng Kim Trục Lưu chỉ khoác lác, nay mới biết Kim Trục Lưu đúng là người đã cứu mình, trong lòng rất hổ thẹn.
Kim Trục Lưu đưa tay ra, tựa như kéo chàng đứng dậy, nhưng lại cười rằng: “Cũng được, ta sẽ nhận ba cái dập đầu của ngươi”.
Tần Nguyên Hạo hỏi: “Kim đại ca đi đâu?” Kim Trục Lưu nói: “Ngươi đi đâu?” Tần Nguyên Hạo đáp: “Tôi đến nhà Giang đại hiệp uống rượu mừng con gái ông ta xuất giá”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Giang đại hiệp nào? Có phải là Giang Hải Thiên không?”
Tần Nguyên Hạo đáp: “Đúng thế”. Trong lòng chàng rất ngạc nhiên, trên giang hồ nhắc đến ba chữ “Giang đại hiệp” thì mọi người đều biết đó là Giang Hải Thiên, tên ăn mày này lại hỏi thừa một câu như thế, vả lại còn dám gọi thẳng tên của Giang Hải Thiên ra nữa.
Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Ồ, Giang Hải Thiên có con gái lớn như thế rồi ư?”. Tần Nguyên Hạo cười thầm: “Con gái của Giang đại hiệp e rằng còn lớn hơn ngươi hai tuổi”. Lúc này chàng tuy biết Kim Trục Lưu đúng là đã cứu mình, nhưng không tin y là bậc tiền bối. Tần Nguyên Hạo nén không được nên hỏi với vẻ mỉa mai: “Kim đại ca, huynh bảo như thế có nghĩa là Giang đại hiệp cũng là hậu bối của huynh?”.
Kìm Trục Lưu đáp: “Y không phải là hậu bối của ta, ta cũng không phải là hậu bối của y, cứ coi như bằng vai phải lứa”.
Tần Nguyên Hạo lắc đầu, thầm nhủ: “Chưởng môn các phái ít nhất cũng chỉ có thể ngang hàng với Giang đại hiệp, y lại bảo ngang hàng với ông ta. Nhưng như thế cũng tốt, dù sao y cũng không dám khoác lác đến nỗi tự cho mình là bậc trưởng bối”.
Kim Trục Lưu vẫn giữ bộ mặt vênh váo, cứ để mặc cho chàng suy nghĩ rồi nói: “Được, ngươi đến nhà Giang Hải Thiên uống rượu mừng, hay lắm, hay lắm!” Tần Nguyên Hạo hỏi: “Sao lại hay?” Kim Trục Lưu đáp: “Đã mấy ngày nay ta không ăn no, ta sẽ đến nhà Giang Hải Thiên cùng với ngươi ăn một trận cho thỏa thích. Ta và ngươi cùng đi, ngươi chuẩn bị một phần lễ vật, hai người ăn cũng được phải không? Ta nghĩ y không đến nỗi ngăn cản ta”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Kim huynh và Giang đại hiệp có quen biết nhau không?”.
Kim Trục Lưu nói: “Ta biết người này nhưng chưa bao giờ gặp qua”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Tiểu đệ cũng mong có Kim huynh đi cùng. Nhưng bộ dạng của Kim huynh như thế này, e rằng...” chàng chưa nói xong, Kim Trục Lưu đã ngắt lời: “Sao? Chê ta rách rưới, dơ bẩn ư? Hay là chê mùi hôi trên người ta? Chẳng lẽ Giang Hải Thiên là kẻ ham giàu chê nghèo hay sao?”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Không, không phải ý này. Giang đại hiệp rất mến khách, thiên hạ đều biết, Kim huynh có bản lĩnh như thế, lẽ nào không xứng làm khách của Giang đại hiệp? Song ăn mặc tử tế một chút sẽ được chủ nhân coi trọng. Kim huynh, phía trước có một trấn nhỏ, tiểu đệ sẽ mua cho huynh một bộ quần áo mới. Huynh chải lại tóc, sáng nay chúng ta sẽ lên đường, sáng mai có thể đến nơi”.
Kim Trục Lưu hừ một tiếng: “Ta cứ thích giữ bộ mặt thật này, cần gì phải sửa sang cho đẹp?” nói xong bốc một nắm bùn bôi lên mặt, rồi để nguyên bàn tay đầy bùn cào tóc mình cho thêm rối, cười lạnh lùng: “Ta cứ thích để bộ dạng như thế này, nếu ngươi sợ mất mặt thì cứ đi riêng”.
Tần Nguyên Hạo cười thầm: “Ngươi lấy bùn bôi lên mặt, chẳng phải đã che mặt thật rồi ư?” Nhưng chàng sợ Kim Trục Lưu nổi giận nên chỉ đành nói: ‘Vâng, vâng, Kim huynh là phong trần dị sĩ, cần gì để ý đến bề ngoài? Tiểu đệ chỉ là hạng phàm phu tục tử, đã nói sai, mong Kim huynh thử lỗi”. Kim Trục Lưu trợn mắt: “Ta mặc kệ ngươi tục cũng được, nhã cũng được, ta chỉ cần ăn một bữa cho no. Hừ... hừ ta đã ngửi thấy mùi thịt thơm ở nhà họ Giang. Đi, đi mau!”.
Trên suốt quãng đường Tần Nguyên Hạo lo hai chuyện, thứ nhất là sợ không đến kịp lúc, nếu bọn Văn Đạo Trang đến trước họ thì đã khiêu chiến với Giang Hải Thiên, như thế Phong Tử Siêu có lẽ khó tránh bị liên lụy. Chàng đã nhận lời Phong Diệu Thường đến cứu cha nàng, nếu không thể ngăn cản kịp thời thì trong lòng khó tránh bất an. Thứ hai là sợ người họ Giang không chịu cho Kim Trục Lưu vào, y chắc chắn sẽ làm lớn chuyện.
Vốn là họ có thể đến đúng ngày, nhưng vì Tần Nguyên Hạo đã ở nhà họ Phong nửa ngày, trên đường đi Kim Trục Lưu lại đánh cắp rượu thịt của người khác, Tần Nguyên Hạo định bỏ tiền ra mua nhưng y lại không chịu, bảo kẻ ăn mày mà bỏ tiền ra mua rượu thịt họ chẳng phải sẽ bị người ta cười chê hay sao, cho nên xin không được thì chỉ có đánh cắp.
Tần Nguyên Hạo gặp phải một người quái dị như thế chỉ biết giở khóc giở cười, không thể nào cản được y, chỉ đành ngồi nghỉ ngơi đợi y ăn cắp rượu thịt về. Cứ như thế mặc dù Tần Nguyên Hạo đã cố gắng đi nhanh, nhưng khi đến nhà họ Giang thì trời đã quá ngọ.
Người nhà họ Giang thấy Tần Nguyên Hạo đi. cùng một kẻ ăn mày dơ bẩn thì rất ngạc nhiên. Kim Trục Lưu xông vào trước, người giữ cửa chặn lại cười gượng gạo: “Xin thứ cho tiểu nhân không nhận ra quý khách. Không biết có thể đưa thiệp mời của chủ nhân chúng tôi hay không?” 
Kim Trục Lưu trợn mắt gắt: “Thiệp mời gì? Ta không phải là quý khách, ta chỉ biết kẻ ăn mày xin cơm chưa bao giờ dùng đến thiệp mời cả!” người giữ cửa cố nén giận: “Tiểu ca nói đùa. Nhưng đã không có thiệp mời. Vậy...” Đó là bởi vì y biết bình thường Giang Hải Thiên rất mến khách, cho nên đã không tống cổ “tên ăn mày” này ra.
Người này cũng là đệ tử của phái Mang Sơn, tuy hiểu ít chuyện giang hồ, nhưng cũng không biết Kim Trục Lưu giả ăn mày hay là ăn mày thật. Kim Trục Lưu hỏi: “Vậy thế nào?” người kia nói: “Không sao cả nhưng...” Kim Trục Lưu gắt: “Nhưng cái gì?”.
Người này vừa lúng túng vừa bực bội, nghĩ bụng: “Không biết ở đâu lại có một tên ăn mày chẳng hiểu việc đời thế này”. Ý của y là muốn Kim Trục Lưu phải tự biết thân biết phận của mình là một kẻ ăn mày, nên ở lại ngoài cửa thì hơn, đợi lát nữa sẽ có người đem rượu thịt ra; nếu có lai lịch thì phải nói rõ. Y không tiện nói những điều này ra, chỉ đành ấp úng. Còn Kim Trục Lưu thì cứ giả mù sa mưa.
Tần Nguyên Hạo vội vàng bước tới, thi lễ: “Tôi là đệ tử của phái Võ Đang. Kim huynh là bạn của tôi Người này nghe nói chàng là đệ tử của phái Võ Dang, mà không khỏi lộ vẻ ngạc nhiên.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 08:59:18Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu xen vào: “Này, ngươi sao thế. Nếu không mời bọn ta vào thì cứ đuổi thẳng cổ, sao lại cứ hỏi lằng nhằng mãi thế?”.

[/align]Kẻ ấy cố nén giận, không thèm để ý đến Kim Trục Lưu mà quay sang Tần Nguyên Hạo: “Xin lỗi, chúng tôi còn phải hỏi rõ. Xin hỏi tôn tính đại danh của quý khách, lệnh sư là ai?” Tần Nguyên Hạo chỉ báo họ Tần, nhưng lại bịa ra một cái tên.
Người này nói: “Xin mời Tần thiếu hiệp đợi một lát”. Rồi bước vào thông báo, một lát sau mới thấy một thiếu hiệp cao lớn bước ra, cung tay nói: “Té ra là Tần thiếu hiệp của phái Võ Đang, xin thứ đã đón chậm trễ. Lúc nãy quý phái cũng có một sư huynh họ Tần, tên là Nguyên Hạo, không biết có quan hệ gì với Tần thiếu hiệp?”.
Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, chỉ đành đáp bừa: “Y là ca ca của tôi, hai anh em của tôi đều là đệ tử của chưởng môn nhân”. Lôi Chấn Tử có rất nhiều đệ tử, thiếu hiệp này cũng không biết, song trong lòng lại hoài nghi, thế rồi mới hỏi: “Sao hai người lại không cùng đến một lúc?”.
Tần Nguyên Hạo bình thường không quen nói dối, lúc này chưa kịp nghe ra cách trả lời. Kim Trục Lưu đã đáp thay cho chàng: “Các người có điều không biết, Tần thiếu hiệp này rất sợ ca ca của mình, ca ca của y vâng lệnh sư phụ đem thiệp mời đến, nhưng y lại trốn ca ca đến đây. Y làm sao dám đi cùng ca ca của y? Đến sau nếu bị ca ca y phát giác thì không sao. Chỉ cần các người chịu tiếp đãi, ca ca của y sẽ không đuổi y đi. Ngươi bảo có đúng không?”.
Thiếu hiệp ấy cười rằng: ‘Té ra là thế. Gia sư và quý phái đã có mối giao tình hai đời, nếu đệ tử của quý phái đến, chúng tôi lẽ nào không nghênh đón? Tần thiếu hiệp, xin mời. Tiểu đệ đã đến muộn, xin thứ lỗi”. Nói rồi đưa tay ra nắm lấy tay Tần Nguyên Hạo.
Té ra thiếu hiệp này là đại đệ tử của Giang Hải Thiên tên gọi Diệp Mộ Hoa.
Diệp Mộ Hoa nhập môn sau Vũ Văn Hùng, nhưng tuổi hơi lớn hơn Vũ Văn Hùng, cũng nổi tiếng hơn Vũ Văn Hùng, Vũ Văn Hùng đã nhường cho y làm đại sư huynh chưởng môn. Nhưng Diệp Mộ Hoa không chịu. Sau đó Giang Hải Thiên đã đưa ra cách bắt thăm, vì thế Diệp Mộ Hoa mới làm đại sư huynh, nhưng đệ tử chưởng môn vẫn do Vũ Văn Hùng đảm nhiệm.
Đó là do Diệp Mộ Hoa có võ công gia truyền, bản lĩnh cao cường nhất, nhưng võ công của bổn môn thì không bằng Vũ Văn Hùng, đệ tử chưởng môn phải là người có võ công bổn môn cao nhất. Vả lại sau khi Vũ Văn Hùng được lập thành đệ tử chưởng môn thì Diệp Mộ Hoa mới bái Giang Hải Thiên làm thầy, Giang Hải Thiên cũng không muốn thay đổi nhiều nữa.
Lúc đó đã là ba năm sau trận chiến của Tiểu Kim Xuyên, Diệp Mộ Hoa năm xưa đã làm thống soái nghĩa quân thiên hạ đều biết tên. Đa số nhân vật võ lâm đều quen biết y. Cho nên lần này sư muội thành hôn, y đảm nhiệm tổng tri khách của Giang phủ. Những nhân vật có thân phận đến đều do y đón tiếp. Số là một người như Tần Nguyên Hạo thì không cần phải ra đón tiếp, nhưng vì người ban nãy nghi ngờ thân phận của hai người Tần, Kim cho nên mới mời Diệp Mộ Hoa ra.
Diệp Mộ Hoa cũng không hề tin lời nói dối của Kim Trục Lưu, cho nên nói: “Chỉ cần đệ tử của phái Võ Đang, lẽ nào chúng tôi không cung nghênh?” tỏ ra có ý hoài nghi Tần Nguyên Hạo không phải là đệ tử của phái Võ Đang. Tần Nguyên Hạo là người thật thà, nhưng chẳng phải là hạng ngu ngốc, vừa nghe đã hiểu. Vì thế khi Diệp Mộ Hoa nắm lấy tay chàng, chàng đã vận nội công của bổn môn.
Diệp Mộ Hoa muốn mượn cái nắm tay này để xem thử võ công của Tần Nguyên Hạo. Vừa thử thì thấy chưởng lực của Tần Nguyên Hạo trong cương có nhu, đó chính là nội công chính tông của phái Võ Đang. Diệp Mộ Hoa dần dần gia tăng chưởng lực thêm năm sáu phần, lúc này mới thấy Tần Nguyên Hạo nhíu mày.
Diệp Mộ Hoa nghĩ bụng: “Y chỉ khoảng hai mươi tuổi mà có thể tiếp được năm thành công lực của mình chắc chấn là đệ tử đắc ý của Lôi Chấn Tử”. Diệp Mộ Hoa biết hai loại võ công thượng thừa, tuổi tuy chưa đến ba mươi nhưng có thể xếp vào hạng cao thủ nhất lưu, hiếm có người nào có thể tiếp được năm thành công lực của y.
Diệp Mộ Hoa buông tay, mời: “Xin mời Tần thiếu hiệp vào. Xin hỏi Kim huynh ở phái nào, lệnh sư là ai?”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Sao, ngươi gọi ta là Kim huynh, có lẽ không đúng lắm”.
Diệp Mộ Hoa hỏi lại: “Không đúng chỗ nào?”. Tần Nguyên Hạo sợ Kim Trục Lưu không đáp được, vội vàng nháy mắt với y, Kim Trục Lưu nghiêm mặt: “Ta là một tên ăn mày, sao ngươi có thể xưng huynh gọi đệ với ta. Ta không dám giấu, ta đến đây chỉ vì muốn ăn một bữa rượu thịt không mất tiền mà thôi, ta là con nhà ăn mày, làm gì có môn phái? Vì trên đường ta đã giúp Tần huynh đuổi hai con chó dữ, cho nên y cũng có lòng dắt ta đến ăn cơm của các người, vậy thì y chẳng tốn cắc nào còn ta thì lại có lợi, hì hì, y bảo ta là bằng hữu tốt là giả, y chỉ muốn báo đáp ơn của ta mà thôi, cho nên cũng có thể tính là bằng hữu bình thường mà thôi, được, ta đã nói thực cả, có tiếp đãi tên ăn mày như ta hay không là chuyện của các người”.
Những lời giở điên giở dại của Kim Trục Lưu khiến cho Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, chỉ đành cười gượng ấp úng: “Bằng hữu họ Kim này rất thích nói đùa. Y... y...”
Tần Nguyên Hạo muốn giới thiệu Kim Trục Lưu nhưng lại không biết lai lịch của y, cũng không tiện nhắc lại chuyện Kim Trục Lưu đã từng cứu chàng ở nhà họ Phong, cho nên nói được hai chữ “y” thì im bặt.
Diệp Mộ Hoa: “Kim huynh, đã nói đùa”. Rồi đưa tay ra mời. Kim Trục Lưu nói: “Ồ, ngươi cũng chịu làm thân với ta ư?” nói rồi xoa hai tay vào nhau, bùn đất dây ra cả lòng bàn tay, đệ tử tri khách đứng bên cạnh cũng không khỏi nhíu mày. Diệp Mộ Hoa xưa nay sạch sẽ, nhưng vì muốn thử hư thực của đối phương, cho nên không dám nhíu mày, vẫn nắm tay Kim Trục Lưu, lòng thầm nhủ: ‘Ngươi muốn bỡn cợt ta, ta sẽ cho ngươi biết tay”.
Diệp Mộ Hoa dần dần tăng chưởng lực, chỉ cảm thấy đối phương không hề vận kình chống lại, y lại tăng lên đến tám chín thành công lực mà đối phương vẫn thản nhiên, mặt vẫn cười nhăn nhở, tựa như không hề biết Diệp Mộ Hoa có ý thử bản lĩnh của mình. Diệp Mộ Hoa cả kinh, lòng nhủ thầm: “Chưởng lực của mình lúc này có thể đánh nát bia vỡ đá, sao tên ăn mày này lại vẫn thản nhiên như không?” liền dồn Đại thừa Bát nhã chưởng lực ra.
Loại chưởng lực này cương mãnh vô cùng, nhưng thật kỳ lạ, luồng chưởng lực phát ra tựa như ném hòn đá vào biển, mặt biển chẳng hề nổi sóng còn hòn đá thì mất tăm. Diệp Mộ Hoa cả kinh, nhủ thầm: “E rằng sư phụ của mình mới có thể biết được hư thực của y”. Nghĩ chưa xong, chợt cảm thấy choáng váng. Đó không phải là do Kim Trục Lưu vận kình chống lại mà do sử dụng Đại thừa Bát nhã chưởng lực rất mất sức, Diệp Mộ Hoa đã dồn hết khí lực của toàn thân ra, đương nhiên có cảm giác người yếu đuối hư nhược.
Diệp Mộ Hoa vội vàng buông tay: “Võ công của Kim bằng hữu quả nhiên thâm sâu khó lường, bội phục, bội phục?” lúc nãy gọi Kim Trục Lưu được gọi là Kim huynh nhưng Kim Trục Lưu không chịu, trong nhất thời không biết gọi thế nào cho hợp, cho nên cứ gọi theo cách trên giang hồ là Kim bằng hữu.
Nào ngờ Kim Trục Lưu lại trợn mắt, tựa như nổi giận, nhưng chỉ trong chớp mắt y lại cười hì hì: “Ngươi chịu kết bằng hữu với một tên ăn mày dơ bẩn như ta, hiếm có, hiếm có! Được, nếu ngươi chịu coi ta là bằng hữu, ta cũng sẽ coi ngươi là bằng hữu. Diệp bằng hữu, đừng khách sáo, võ công của ngươi cũng không tệ”. Diệp Mộ Hoa nói: “Mong được Kim bằng hữu chỉ điểm thêm”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ta vốn có thể chỉ điểm cho ngươi, nhưng ngươi đãtheo Giang Hải Thiên, vậy không cần đến ta nữa”. Y vừa nói ra câu ấy thì Tần Nguyên Hạo cả kinh thất sắc. Khách khứa nghe y nói như thế thì cũng lộ vẻ giận dữ. Nhưng Diệp Mộ Hoa vẫn không hề nổi giận, lòng nhủ thầm: “Tên ăn mày này chắc chắn có lai lịch khác thường, sau khi y bước vào, mình sẽ bẩm cáo sư phụ, chắc chắn sẽ biết nguồn gốc của y”.
Kim Trục Lưu cười xong thì nói tiếp: “Ta bảo võ công của ngươi không tệ, điều đó không phải là khách sáo. Có phải ngươi đã có võ công rồi mới nhập môn hay không?” Diệp Mộ Hoa nói: “Đúng thế”. Kim Trục Lưu nói: “Đại thừa Bát nhã chưởng lực của ngươi ban đầu luyện không đúng, loại công phu này không đơn thuần là lấy bá đạo làm chủ. Có lẽ ngươi theo Giang Hải Thiên được vài năm mới dần dần sửa đổi. Nhưng hỏa hầu vẫn chưa đủ cho nên vẫn còn hỗn tạp. Sau này ngươi còn thổ luyện nữa! Song ngươi chỉ theo Giang Hải Thiên mấy năm mà đã luyện được như thế cũng coi như là hiếm có!”.
Những câu này càng trái tai hơn, tựa như bậc trưởng bối đang dạy kẻ hậu bối.
Nhưng Diệp Mộ Hoa thì vừa thất kinh vừa khâm phục. Kim Trục Lưu đã nói rất đúng. Cách đây không lâu Giang Hải Thiên đã từng dạy Diệp Mộ Hoa như thế.
Diệp Mộ Hoa kinh hãi, lòng thầm nhủ: “Sau khi mình trừ tên tặc tử Diệp Đăng Phong mới theo sư phụ, rất ít người biết chuyện này. Tên ăn mày lại có thể nói mình biết võ công rồi mới theo sư phụ, thật là kỳ lạ. Nhưng không hiểu sao y cũng biết bí mật luyện công của mình, y cũng có thể biết điều mà mình vừa mới phát giác gần đây? Nếu không phải biết tâm pháp nội công của bổn môn thì làm sao có thể hiểu rõ như thế? Chuyện này đúng là quái dị”.
Kim Trục Lưu nói: “Ngươi chịu làm bằng hữu với ta chắc là chịu cho ta ăn một bữa chứ? ăn no ta sẽ lại bàn chuyện võ công với ngươi!” Diệp Mộ Hoa nói: “Kim bằng hữu quang lâm, chúng tôi muốn cũng không được. Mời vào! Mời vào!”.
Lúc này nhà họ Giang đã đông khách khứa. Tần Nguyên Hạo chỉ là một đệ tửphái Võ Đang lần đầu tiên ra giang hồ, không ai chú ý đến chàng. Nhưng Kim Trục Lưu thì khác, tuy không ai quen biết y, nhưng mọi người đều cảm thấy ngạc nhiên khi gặp một tên ăn mày có bộ dạng quái dị như thế.
Diệp Mộ Hoa nói: “Tần thiếu hiệp, thiếu hiệp có muốn gặp lệnh huynh không?” Tần Nguyên Hạo vội nói: “Diệp huynh đừng lo, tiểu đệ sẽ tự tìm y”. Kim Trục Lưu nói: “Y rất sợ ca ca của y, sau khi tan tiệc mới đám gặp. Nhưng tôi muốn gặp trước hai người đi cùng với ca ca của y”. Diệp Mộ Hoa gật đầu: “Được, tôi sẽ tìm giúp”. Nhưng trong bụng thì rất ngạc nhiên. “Sao tên ăn mày này lại biết có hai người đi cùng Tần Nguyên Hạo? Theo Tần Nguyên Hạo nói, hình như y không biết em trai của mình cũng đến. Ồ, lần này đệ tử phái Võ Đang thật đặc biệt, hai anh em mỗi người đi mỗi đường, nhưng mỗi người đều dắt một người võ công cực cao, lai lịch bất minh! Tên ăn mày này còn kì quái hơn hán tử đi cùng Tần Nguyên Hạo lúc nãy!”.
Té ra khi Văn Thắng Trung, Văn Đạo Trang và Phong Tử Siêu đến, cũng do Diệp Mộ Hoa tiếp đãi. Văn Thắng Trung có mang theo thiệp mời, giả mạo thân phận của Tần Nguyên Hạo; còn Văn Đạo Trang, Phong Tử Siêu thì giả mạo thành bạn bè của y. Văn Thắng Trung có thiệp mời, đương nhiên Diệp Mộ Hoa không nghi ngờ gì, cũng không thử võ công của y. Còn hai người Văn Đạo Trang, Phong Tử Siêu, Diệp Mộ Hoa cũng thử nắm tay. Phong Tử Siêu thì bình thường, còn Văn Đạo Trang thì võ công cao đến khó lường, y vừa nắm tay Văn Đạo Trang thì cảm thấy hổ khẩu đau nhói, nhưng lại không biết lai lịch của Văn Đạo Trang.
Diệp Mộ Hoa vội đi tìm Phong Tử Siêu và Văn Đạo Trang, Lý Quang Hạ bước tới nói: “Đại sư ca, sư phụ tìm huynh. Nhị sư ca và sư tỷ sắp ra mời rượu”. Diệp Mộ Hoa nói: “Được, lát nữa ta sẽ đến. Hạ đệ, đệ hãy thay ta tiếp hai khách quý”. Tần Nguyên Hạo can thiệp: “Diệp huynh cứ tự nhiên. Tôi cũng không nôn nóng muốn gặp họ”. Tần Nguyên Hạo chỉ muốn Phong Tử Siêu gặp riêng mình, không muốn làm kinh động mọi người.
Khách khứa đến nhà họ Giang rất đông cho nên ngồi bàn tiệc theo từng tốp. Tần Nguyên Hạo đến muộn, lúc này Vũ Văn Hùng và Giang Hiểu Phù đã bái đường, tiệc cũng đã mở màn.
Diệp Mộ Hoa nói: “Hai vị hãy dùng trà trước, đợi lát nữa vào tiệc”. Kim Trục Lưu cười rằng: “Được, ăn trước điểm tâm rồi dùng tiệc, ăn một bữa coi như hai bữa, đối với tên ăn mày như ta đã quá lời. Diệp bằng hữu, ngươi cứ tự nhiên, khi ta ăn không cần ai tiếp đãi cả”.
Tiệc rượu bày trong vườn hoa, hai bên vườn hoa là trường lang, những khách khứa chưa vào tiệc đều uống trà ở trường lang, vừa có thể ngắm hoa vừa xem náo nhiệt. Tần Nguyên Hạo đưa mắt nhìn xung quanh, chỉ thấy khắp khu vườn ồn ào, trong nhất thời chẳng thấy bọn Văn Thắng Trung đâu.
Lúc này khách khứa đã ngồi vào chỗ, chỉ có bàn tiệc của chủ nhà là vẫn chưa bày ghế. Bàn tiệc này theo thói quen là bàn của trường bối hai nhà và bằng hữu thân thiết cùng với những khách quý. Phía Vũ Văn Hùng vì cha mẹ mất sớm, không có thân thích, phía Giang Hải Thiên thì chỉ còn có vợ chồng Giang Hải Thiên, cha của Giang Hải Thiên là Giang Nam, đã mất từ lâu. Diệp Mộ Hoa và Cẩn Tú Phượng thành hôn từ lâu, hai người họ ngồi ở bàn gia chủ với thân phận là sư huynh với sư tẩu. Sáu chỗ ngồi còn lại chỉ sắp xếp cho có. Giang Hải Thiên kết giao khắp thiên hạ, số nhân vật thành danh trong khách khứa không thể tính xuể, mời người này mà lại bỏ người kia thì khó tránh lời ra tiếng vào.
Giang Hải Thiên trước tiên mời bang chủ của phái Cái Bang là Trọng Trường Thống và Nhất Dương Tử của phái Nga Mi ngồi vào chỗ. Vai vế của Trọng Trường Thống cao nhất trong khách khứa, mối quan hệ giữa Cái Bang và nhà họ Giang rất sâu xa, Giang Hải Thiên mời ông ta ngồi cùng bàn đương nhiên không có người lên tiếng, Nhất Dương Tử là đệ tử tục gia của trưởng lão phái Nga Mi là Kim Quang đại sư, là sư đệ của chưởng môn phái Nga Mi. Ngoại trừ Trọng Trường Thống, có thể nói ông ta có vai vế cao nhất, cho nên Giang Hải Thiên coi ông là khách quý. Nhưng mời hai người ấy xong còn có bốn chỗ, còn có bốn chỗ thì không biết mời ai ngồi mới phải.
Cốc Trung Liên cười rằng: “Muội xưa nay rất thích thiếu hiệp anh hùng, sao không mời vài người vào tiệc để cho họ kết giao bằng hữu với nhau”. Giang Hải Thiên nghe vợ nhắc như thế, cười rằng: “Đúng thế, hay là mời Đường thiếu hiệp tới”.
Thế là Giang Hải Thiên cho mời Đường Gia Nguyên, vốn là con trai của chưởng môn phái Thiên Sơn Đường Kinh Thiên. Vai vế của Đường Gia Nguyên rất cao, ngang hàng với Giang Hải Thiên, song chỉ hơn ba mươi tuổi. Trong rất nhiều nhân vật thành danh trong võ lâm, y cũng được coi là bậc thiếu hiệp anh hùng.
Đường Gia Nguyên ngồi vào bàn tiệc của gia chủ, vẫn còn ba chỗ trống. Giang Hải Thiên nghĩ một hồi rồi nói: “Chưởng môn Lôi Chấn Tử của phái Võ Đang có viết thư cho ta, giới thiệu đệ tử đắc ý của ông ta là Tần Nguyên Hạo cho ta quen biết, nghe nói y cũng đến, lại còn có hai bằng hữu đi cùng y, chúng ta cứ mời ba người bọn họ ngồi vào”.
Giang Hải Thiên đột nhiên muốn sắp xếp như thế, ngoài việc ông ta coi trọng mối giao tình với Lôi Chấn Tử và có lòng thương mến kẻ hậu bối, còn có một nguyên nhân khác. Bởi vì ông ta nghe Diệp Mộ Hoa nói rằng, có một người đi theo “Tần Nguyên Hạo” võ công rất cao, nhưng không biết kẻ ấy là ai. Văn Đạo Trang đã cải trang, vả lại hai mươi năm qua y không tới Trung Nguyên cho nên dù trong số khách khứa có quen biết y, cũng không nhận ra. Do Đó Giang Hải Thiên muốn gặp mặt người này. Còn Phong Tử Siêu đi cùng “Tần Nguyên Hạo”, cũng không thể không mời y.
Văn Đạo Trang nghe Giang Hải Thiên muốn mời mình ngồi cùng bàn thì cảm thấy bất ngờ, không khỏi cả kinh. Nhưng nghĩ lại, không đến cũng đã đến, lúc này muốn chạy cũng không được, vả lại ngồi cùng bàn với gia chủ có thể dễ dàng đánh lén hơn, vì thế đánh liều đứng dậy, thản nhiên cười: “Giang đại hiệp đã quá khách sáo”.
Diệp Mộ Hoa cười nói: “Vân tiên sinh, Tần thiếu hiệp, hai vị lần đầu tiên đến đây, tôi vâng lệnh gia sư mời hai vị lên kia ngồi. Còn Phong tiên sinh đâu?”. Văn Đạo Trang, Phong Tử Siêu đều dùng tên giả, Vân Đạo Trang tự nhận mình họ Vân, Phong Tử Siêu thì nhận mình họ Phong.
Vân Đạo Trang rất xảo quyệt, trong bụng thất kinh nhưng mặt vẫn thản nhiên. Văn Thắng Trung thì lộ vẻ lúng túng, nhất là khi thấy Phong Tử Siêu đã lẩn mất thì càng lo hơn.
Văn Đạo Trang cũng không biết Phong Tử Siêu đã đi đâu, trong lúc lúng túng chợt nói: “Phong tiên sinh không khỏe ở trong bụng, bảo chúng tôi đừng đợi y, hình như y...” rồi nhíu mày mỉm cười, tự như sợ nói ra hai chữ “nhà xí” thì quá bất nhã.
Diệp Mộ Hoa nói: “Thôi được, mời hai vị lên ngồi trước”. Văn Thắng Trung khiêm nhượng: “Tôi cũng chỉ là hạng tiểu bối, Giang đại hiệp khách sáo như thế tôi nào dám nhận. Tôi... tôi đi tìm Phong tiên sinh đây”. Diệp Mộ Hoa can: “Chính vì gia sư muốn mời những thiếu hiệp anh hùng đến làm quen với thiêu hiệp anh hùng, đây là ý tốt của gia sư, mong Tần thiêu hiệp đừng từ chối, tôi sẽ bảo người đi tìm Phong tiên sinh, chắc Phong tiên sinh cũng không hề có vấn đề gì, Tần thiếu hiệp đừng lo lắng”.
Văn Đạo Trang ngầm đá chân con trai, tỏ ý bảo y bình tĩnh, nối dối: “Nếu đó là ý tốt của gia chủ, chúng tôi đành phải tuân theo”. Vì thế hai cha con cùng đến gặp Giang Hải Thiên.
Giang Hải Thiên nói: “Tần thế huynh, lệnh sư có một giao tình hai ba mươi năm nay với chúng tôi, chúng tôi biết thế huynh là đệ tử đắc ý nhất của ông ta, nay thế huynh đã đến đây, tôi sẽ coi thế huynh là con cháu trong nhà, thế huynh cứ tự nhiên gặp Đường thiếu hiệp, cả hai người đều là thiếu hiệp anh kiệt, hai người cứ ngồi cùng nhau”. Rồi sắp xếp cho Văn Thắng Trung ngồi bên cạnh của Đường Gia Nguyên.
Văn Đạo Trang cải trang rất khéo léo, Giang Hải Thiên không gặp y hai mươi năm, quả nhiên không nhận ra y, nên bảo: “Vân tiên sinh từ xa đến đây, Giang mỗ đón tiếp chậm trễ. Không biết Vân tiên sinh có mối quan hệ gì với Vân trang chủ của Thủy Vân trang?” Văn Đạo Trang đáp bừa rằng: “Không. Tôi chỉ ngưỡng mộ đại danh của Giang đại hiệp, hiếm có được cơ hội như thế này, cho nên tôi theo Tần thế [font="times new roman"]huynh đến đây”.
Giang Hải Thiên đã nghe Diệp Mộ Hoa báo người này võ công cực cao, nhưng ngặt nỗi ông ta là chủ nhân, lại là một bậc đại tôn sư võ học cho nên không tùy tiện ra tay thử được. Song Giang Hải Thiên nghe ông ta nói như thế thì cũng không khỏi nghi ngờ.
Chính là: Chỉ tưởng quý khách đến dự tiệc, nào ngờ đó là kẻ đối đầu.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 5 phân giải. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 09:31:15Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Năm
[/align][/align]
Tung tích gặp rồi làm sao kiếm
Ân cừu xử sự hãy xét cho
[/align][/align]
Giang Hải Thiên thầm nhủ: “Y gọi Tần Nguyên Hạo là thế huynh, Tần Nguyên Hạo chỉ là đệ tử của phái Võ Dang, dám tự tiện mời y đến, chắc là có mối giao tình sâu sắc với phái Võ Đang, nếu không Tần Nguyên Hạo đã không làm thế. Nhưng mình và Lôi Chấn Tử quen biết nhau hai mươi năm, chưa bao giờ nghe Lôi Chấn Tử nhắc đến tên người này, không biết là vì cớ gì?”.
Giang Hải Thiên tuy nghi ngờ nhưng không tiện hỏi lai lịch của đối phương.
Bang chủ Cái Bang Trọng Trường Thống và trưởng lão Nhất Dương Tử của phái Nga Mi cứ nhường nhau, không chịu ngồi vào chỗ. Lúc này Giang Hải Thiên đang mời Văn Đạo Trang ngồi, Trọng Trường Thống giật mình, thầm nhủ: “Giang Hải Thiên không tiện thử y, sao mình không thay chủ nhân thử xem y là ai”. Vì thế cười ha hả giơ tay nắm lấy tay Văn Đạo Trang: “Vân tiên sinh là quý khách phương xa, chi bằng mời Vân tiên sinh ngồi vào ghế đầu”.
Văn Đạo Trang vội vàng đẩy chưởng ra, đáp trả: “Tôi nào dám qua mặt hai vị lão tiền bối?” Hỗn nguyên nhất khí công của Trọng Trường Thống rất lợi hại, vừa đẩy tới thì ống tay áo của Văn Đạo Trang đã phồng lên. Nhưng bộ râu dài của Trọng Trường Thống cũng đang rung lên, rõ ràng hai người đang vận nội lực chống đỡ nhau.
Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang hoàn toàn khác hẳn các loại nội công của các môn các phái ở Trung Nguyên, Trọng Trường Thống không biết lai lịch của y, rất kinh ngạc, Văn Đạo Trang ngồi xuống. buông lời: “Xin mời Trọng bang chủ”.
Đệ tử thứ ba của Giang Hải Thiên là Lý Quang Hạ đang đứng ở ngoài tiếp đãi khách khứa, lúc nãy Diệp Mộ Hoa nhờ y tìm Phong Tử Siêu, cho nên quay lại báo với sư huynh. Y kéo Diệp Mộ Hoa sang một bên rồi thì thầm: “Đệ đã tìm trong nhà xí nhưng không có ai. Không biết y đã trốn ở đâu?”.
Té ra Phong Tử Siêu đã phát giác Tần Nguyên Hạo đang uống trà trong trường lang, y hoảng hồn vội vàng trốn mất. Y vốn đi cùng Văn Đạo Trang, lúc đó Giang Hải Thiên đã đến mời họ, Văn Đạo Trang đang tìm cách đối phó nên không biết y đã lẳng lặng bỏ trốn. Còn Phong Tử Siêu vì muốn tránh họa cho nên không dám gặp lại Văn Đạo Trang. Bởi vì một người thì để trốn hơn, ba người cùng đi chắc chắn sẽ bị người ta để ý. Phong Tử Siêu chỉ mong thoát thân cho sớm, không cần vinh hoa phú quý gì nữa.
Lúc đó đang có một nhóm khách ra về, đệ tử tiễn khách cũng phái Mang Sơn là Bạch Hùng lại không quen y, do đó y dễ dàng bỏ chạy.
Diệp Mộ Hoa nói: “Đệ hãy đi tìm tiếp xem sao”. Rồi quay lại bẩm cáo với Giang Hải Thiên: “Vẫn chưa tìm ra Phong tiên sinh”. Văn Đạo Trang đỡ lời: “Bằng hữu của tôi hơi mệt, tôi thấy không cần chờ nữa”. Giang Hải Thiên nói: “Được, cứ để phong tiên sinh nghỉ ngơi một lát, Mộ Hoa, con hãy mời Diệp đại phu hay Hàn đại phu chăm sóc cho quý khách”. Diệp Mộ Hoa vâng dạ.
Lúc này Nhất Dương Tử và Trọng Trường Thống vẫn còn đang nhường nhau. Phong Tử Siêu không tới cho nên vẫn còn một chỗ trống. Diệp Mộ Hoa đứng một bên đợi sư phụ căn dặn, xem thử là sẽ mời ai.
Giang Hải Thiên cười nói: “Hai vị tạo tiền bối không cần nhường nhau nữa. Tôi thấy thế này: “Hình như Nhất Đương đạo trường lớn tuổi hơn bang chủ, không biết tôi đoán có đúng không?”. Trọng Trường Thống đáp: “Ông ta lớn hơn tôi năm tuổi, chắc lão đạo nhà ông không nói được gì nữa rồi chứ, xin mời ngồi xuống, rượu đã sắp lạnh cả rồi”. Nhất Dương Tử nói: “Làm sao mà được? Cái Bang là đệ nhất đại bang trong thiên hạ, quy củ trong võ lâm trước tiên phải luận đức và danh vọng. Trụ trì của chùa Thiếu Lâm Đại Bi thiền sư chưa tới, chỗ này ông không dám ngồi thì ai dám?”.
Trọng Trường Thống cười ha hả: “Sao lại có quy củ như thế? Nếu luận quy củ, ăn mày già hay ăn mày trẻ trong Cái Bang đều có thể xin cơm, có mấy khi thay ăn mày ngồi chỗ đầu chưa?” Đó đương nhiên chỉ là Trọng Trường Thống nói bừa, không phải là trong Cái Bang thật sự có quy củ không thể ngồi ở ghế đầu.
Không ngờ ông ta nói như thế khiến cho mọi người cười ầm lên, Kim Trục Lưu nhảy vọt ra, nghênh ngang bước tới, cũng cười ha hả: “Tôi đang tìm không ra chỗ, té ra ở đây còn có một chỗ trống, ăn mày trẻ hiếm có dịp ăn uống no say, các người cứ nhường nhịn mãi, tôi không khách sáo”. Thế rồi ngồi phịch xuống.
Khi Kim Trục Lưu bước tới, Diệp Mộ Hoa đã nói với sư phụ: “Tên ăn mày này hơi khác lạ, con đã thử võ công của y, quả thật cao thâm khó lường, con không biết được lai lịch của y”.
Kim Trục Lưu ngồi xuống, mọi người đều ngạc nhiên, cả bọn Nhất Dương Tử cũng thế. Trọng Trường Thống tức giận, quát: “Tên ăn mày nhỏ nhà ngươi ở đâu ra thế? Ngươi có biết ta là ai không?”. Kim Trục Lưu cười hì hì: “Ngươi là ai? Bọn họ gọi ngươi là bang chủ, ta không biết ngươi là bang chủ bang nào?” Trọng Trường Thống trầm giọng: “Ta là bang chủ của Cái Bang, ăn mày trong thiên hạ đều dưới quyền ta!”.
Kim Trục Lưu cười lớn: “Ô, vậy thì ngươi không thể quản ta được. Ta ăn mày chỉ là chuyện phụ, không giấu gì ngươi, ta là một tên ăn trộm, khi trộm không được thì mới đi xin. Chừng nào ta quyết tâm làm một tên ăn mày, lúc đó ta sẽ xin lão ăn mày nhà ngươi cho ta nhập bang. Giang đại hiệp, các người không chê tên ăn mày kiêm kẻ trộm như ta ngồi cùng bàn chứ? Hì hì, nếu gia chủ không đuổi ta, thì không ai có thể đuổi được ta. Ta không khách sáo uống rượu trước đấy nhé!”.
Giang Hải Thiên cũng cảm thấy tên ăn mày này hơi khác lạ, song ông ta là người mến tài, nghe Diệp Mộ Hoa khen võ công của tên ăn mày cao thâm khó lường”, ông ta nghĩ thầm: “Tên ăn mày này lớn gan như thế, có lẽ trong thiên hạ không tìm được người thứ hai. Khoan hãy nói về võ công, chỉ luận về đởm lược của y, mình cũng không nên coi thường y”. Ông là người phóng khoáng rộng rãi, người khác đều lấy làm bực tức vì tên ăn mày không biết tự lượng sức mình, Giang Hải Thiên vẫn giữ vẻ mặt bình thường, gật đầu nói: “Được, xin mời Kim huynh uống rượu”.
Kim Trục Lưu nâng chén rượu lên: “Đúng thế, phải uống rượu lúc còn nóng. Mời, mời!” Trọng Trường Thống chợt cười ha hả, vỗ vai Kim Trục Lưu: “Tên ăn mày nhỏ nhà ngươi rất mau mắn, ăn mày già này không dám ngồi vào chỗ này nhưng người lại dám, được, ngươi hãy ngồi cho vững đấy nhé!” Ông ta muốn làm cho Kim Trục Lưu bẽ mặt cho nên đã dồn năm thành công lực Hỗn nguyên nhất khí công phát ra.
Trọng Trường Thống chợt vỗ vào vai Kim Trục Lưu, Giang Hải Thiên không khỏi cả kinh. Thử nghĩ Hỗn nguyên nhất khí công của Trọng Trường Thống lợi hại đến mức nào, dù cao thủ thuộc hàng nhất lưu cũng không thể chống nổi một chiêu của ông ta. Giang Hải Thiên cũng vội vàng vỗ vào vai trái của Kim Trục Lưu, cười rằng: “Ta thích nhất hạng thiếu niên hào kiệt mau mắn. Lão đệ, lão đệ thật hợp ý ta”.
Trọng Trường Thống vỗ vào người Kim Trục Lưu là muốn đánh vỡ chiếc ghế của y, khiến cho y ngã chỏng gọng. Hỗn nguyên nhất khí công của Trọng Trường Thống gần đây đã tiến bộ rất nhiều, đã đạt đến cảnh giới lô hỏa thuần thanh. Đặt một miếng đậu hũ lên tảng đá, ông ta vỗ chưởng vào miếng đậu hũ, miếng đậu hũ không hề hấn gì nhưng tảng đá thì vở nát.
Nhưng Giang Hải Thiên không biết Trọng Trường Thống có ý đó, ông ta sợ Trọng Trường Thống nổi giận, không biết nặng nhẹ đánh trọng thương Kinh Trục Lưu. Cho nên ông ta đã dùng loại công phu cách vật truyền công vỗ vào người Kim Trục Lưu, giúp y hóa giải chưởng lực của Trọng Trường Thống. Nhưng ông ta ra tay sau Trọng Trường Thống, cú vỗ này chỉ là ăn may mà thôi.
Giang Hải Thiên nghĩ bụng tên ăn mày này dù có bản lĩnh cao đến đâu cũng không thể vượt qua Trọng Trường Thống, bởi vậy ông ta chỉ mong Kim Trục Lưu bị thương nhẹ, cho nên ông ta mau chóng hóa giải chưởng lực của Trọng Trường Thống để y khỏi tàn phế.
Lại nói Trọng Trường Thống vỗ chưởng xuống chỉ cảm thấy vai của đối phương mềm nhũn như vỗ vào một khối bông. Tên ăn mày vẫn ngồi yên, chiếc ghế cũng chẳng vở gãy gì cả. Trọng Trường Thống thất kinh, khi định gia tăng chưởng lực thì Giang Hải Thiên cũng vỗ chưởng xuống. Trọng Trường Thống kêu ối chao một tiếng, bất giác chồm người tới phía trước ngồi xuống, tựa như bị người ta đẩy ngồi vào ghế, chiếc ghế lắc lư nhưng may mà không ngã. Kim Trục Lưu nói: “Ăn mày già cũng ngồi vững đấy nhé”.
[/align]Giang Hải Thiên đương nhiên biết tên ăn mày đã lợi dụng chưởng lực của ông ta để đánh lùi Trọng Trường Thống. Ông vốn muốn hóa giải chưởng lực của Trọng Trường Thống, nhưng không ngờ bản lĩnh của tên ăn mày lại đủ đối phó với Trọng Trường Thống, cộng thêm nguồn lực đạo của ông cho nên y đã hơn hẳn Trọng Trường Thống.

[/align]Nhưng điều này vẫn chưa đủ khiến Giang Hải Thiên ngạc nhiên, điều khiến ông ta cảm thấy kinh hãi hơn là, khi ông ta vỗ chưởng xuống, ông ta đoán thế nào tên ăn mày cũng vận công chống lại, bởi vì người có nội công thượng thừa một khi bị đột kích thì chắc chắn sẽ có phản ứng như thế, Giang Hải Thiên vì nghĩ tên ăn mày sẽ vận công chống lại cho nên ông ta vẫn thi triển công phu Cách vật truyền công, đồng thời hóa giải lực phản công của tên ăn mày và chưởng lực của Trọng Trường Thống đánh lên người y. Không ngờ ông ta vừa vỗ chưởng xuống thì phát giác nội lực của tên ăn mày hòa vào nội lực của ông, không tương kháng mà tương hợp.
Tên ăn mày có thể khiến cả nội lực của Giang Hải Thiên hòa cùng nội lực của y, chắc chắn phải có hai điều kiện, một là y biết Giang Hải Thiên có ý giúp mình; hai là nội công của y cùng một phương pháp với Giang Hải Thiên. Giang Hải Thiên học nội công từ Kim Thế Di, cho nên là cùng một nhà. Lúc này Giang Hải Thiên bất đồ cả kinh. Ông ta nghĩ bụng: “Chả lẽ trong thiên hạ này có một người có thể luyện được loại nội công chính tà hợp nhất giống như sư phụ của mình?”.
Kim Trục Lưu thầm kêu một tiếng “may mắn”, rồi nhủ thầm: “Hỗn nguyên nhất khí công của lão ăn mày này quả nhiên lợi hại, nếu y dùng toàn lực, mình tuy không bị thương, nhưng e cũng chẳng hay ho gì. May mà Giang sư huynh giúp mình một tay”.
Trọng Trường Thống càng khâm phục tên ăn mày hơn, nghĩ bụng: “Tuy y đã mượn lực Giang Hải Thiên đánh bật mình ra, nhưng bản thân y có thể chịu nổi một chưởng của mình, công lực cũng đã rất ghê gớm”. Thế rồi cười tươi: “Luận về vai vế ngươi không nên ngồi vào chỗ này, nhưng người trẻ tuổi như ngươi mà có được nội công như thế, e rằng trên đời này chẳng kiếm được người thứ hai. Có ngồi ở ghế đầu cũng không sao. Được, ăn mày già này nhường ngươi. Tiểu ca, ngươi họ gì?”.
Kim Trục Lưu cười thầm: “Vai vế của ta sao có thể thấp hơn ngươi?” nhưng y vẫn khâm phục Trọng Trường Thống mấy phần, thế rồi cũng thay đổi thái độ, nghiêm túc đáp: “Tôi họ Kim, tên là Trục Lưu”.
Trọng Trường Thống cười: “Tên của ngươi nghe cũng rất lạ. Kim Thế Đi tiền bối, sư phụ của Giang đại hiệp khi mới xuất đạo cũng là một kẻ ăn mày. Nay ngươi cũng họ Kim, cũng xuất hiện như một kẻ ăn mày. Ta từng nghe Kim đại hiệp nói, y lấy tên Thế Đi có nghĩa là lấy làm tiếc cho đời, không thể nào a dua với đời. Còn ngươi lại lấy tên là Trục Lưu, có nghĩa là trôi theo dòng nước, hình như hoàn toàn ngược lại với hai chữ “Thế Di” của Kim đại hiệp, chẳng phải nghe rất lạ hay sao? Đáng tiếc giờ đây không biết Kim đại hiệp đã đi đâu, nếu biết được có một người cùng họ như ngươi, ông ta chắc chắn sẽ rất thích thú, không chừng sẽ thu nhận ngươi làm nghĩa tử”.
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Tôi chẳng mong làm nghĩa tử của Kim đại hiệp”. Y vừa nói ra câu ấy, khách khứa đều không khỏi thất sắc, cảm thấy tên ăn mày này quá kiêu ngạo. Chỉ có Giang Hải Thiên thì giật mình, thầm nhủ: “Ân sư đã dong thuyền ra biển, hai mươi năm nay không hề có tin tức gì. Nếu người có con, chắc chắn cũng không kém tên ăn mày con này là bao nhiêu”. Hai thầy trò Kim Thế Di, Giang Hải Thiên cùng thành hôn trong một ngày, cho nên nếu Kim Thế Di có con trai thì chắc chắn sẽ tương đương với con gái của Giang Hải Thiên.
Diệp Mộ Hoa cười xen vào: “Để tôi giới thiệu đây là Vân tiên sinh, còn đây là Tần thiếu hiệp của phái Võ Đang. Tần thiếu hiệp, e rằng thiếu hiệp vẫn chưa biết, Kim huynh này đã đến cùng lệnh đệ”. Văn Thắng Trung giật mình, nghĩ thầm: “Sao mình lại có ở đâu ra một đứa em?” Văn Đạo Trang biết đã không xong, nghĩ thầm: “Không biết tên ăn mày này đang giở trò gì? Nhưng chắc là y không biết lai lịch của mình”.
Nhất Dương Tử thường qua lại với Lôi Chấn Tử, nghe như thế thì ngạc nhiên: “Mình chỉ biết Lôi Chấn Tử có một đệ tử họ Tần, nhưng mình chưa nghe Tần Nguyên Hạo có một đứa em. Chả lẽ gần đây mới bái sư?” Văn Thắng Trung cải trang rất khéo léo, tuy Nhất Đương Tử đã gặp Tần Nguyên Hạo vài lần, nên vẫn hoài nghi trong lòng, lúc nãy nhận ra có chút gì giả mạo. Nên nghe như thế thì không khỏi nhìn lại Văn Thắng Trung, do đó cảm giác có điều gì không ổn.
Tính tình của Nhất Dương Tử thì ngược lại với Trọng Trường Thống. Trọng Trường Thống rất thích lo chuyện bao đồng, còn ông ta thì không. Tuy đã nghi ngờ nhưng vẫn muốn gặp em trai của “Tần Nguyên Hạo”.
Nhất Dương Tử định mở miệng thì chợt nghe có tiếng hoàn bội reo leng keng, té ra tân nương đã bước ra mời rượu. Nhất Dương Tử nghĩ bụng: “Đợi khi mời rượu xong mình sẽ lại hỏi ‘Tần Nguyên Hạo’”.
Giang Hiểu Phù và Vũ Văn Hùng trải qua nhiều sóng gió mới có thể đến được với nhau. Hôm nay nàng trở thành tân nương, tân lang cùng nàng ra mời rượu khách khứa, nàng không khỏi vui mừng, trong nét e thẹn có thêm mấy phần thùy mị. Khi nhẹ nhàng bước qua các bàn khách, nàng không khỏi ngẩn người ra.
Theo lẽ nàng phải mời rượu người ngồi ở ghế đầu nhưng nàng không ngờ rằng khách ngồi ở ghế đầu lại là một tên ăn mày! Cùng ngồi với y có hai vị lão tiền bối là Trọng Trường Thống và Nhất Dương Tử. Nàng phải mời rượu ai trước đây?”.
Giang Hiểu Phù đành thỏ thẻ nói: “Xin mời các vị khách quý uống chén rượu nhạt”. Nàng nói như thế có thể tỏ ra tôn trọng khách ngồi trong bàn, để cho họ tự bưng chén rượu của mình. Khách khứa đều đứng dậy, chỉ có vợ chồng Giang Hải Thiên vẫn ngồi yên.
Văn Đạo Trang chợt nói: “Không dám!” rồi y đẩy nhẹ chiếc khay. Bề ngoài trông ra rất nhẹ nhàng, nhưng thực sự y đã vận Tam tượng thần công toan đánh chấn thương Giang Hiểu Phù, rồi sau đó ra tay bắt nàng làm con tin.
Giang Hải Thiên không ngờ chuyện như thế này lại xảy ra, nhưng Kim Trục Lưu đã chuẩn bị trước. Trong khoảnh khắc ấy, Kim Trục Lưu cũng bất ngờ đẩy chiếc khay, chén rượu trong khay nảy lên, rượu bắn tung tóe, cả Giang Hải Thiên cũng bị rượu bắn vào đầy mặt. Nhưng Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang đã bị Kim Trục Lưu hóa giải.
Kim Trục Lưu cười lạnh lẽo: “Người ta đâu có mời rượu ngươi, sao ngươi lại bảo không dám? Ta ngồi ở ghế đầu, vẫn còn chưa uống kia mà!”.
Giang Hiểu Phù sợ đến nỗi đứng ngẩn người, nhưng nàng vẫn chưa biết mình vừa mới thoát chết. Không những Giang Hiểu Phù ngẩn người, mà khách khứa cũng không hiểu chuyện gì đã xảy ra, không ai dám nghĩ Văn Đạo Trang có ý đồ xấu, dám ám hại con gái của đệ nhất cao thủ Giang Hải Thiên.
Giang Hải Trên thì hiểu rõ, nhưng không phải ông ta đã ra tay hóa giải Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang, bởi vì lúc này ông ta vẫn còn chưa biết Văn Đạo Trang là ai. Thế rồi ông ta im lặng để xem Văn Đạo Trang nói gì. Trọng Trường Thống và Nhất Dương Tử đều không lên tiếng, cũng tạm thời ngôi yên. Văn Đạo Trang vừa lo vừa giận, quát lớn: “Tên ăn mày kia, ngươi thật vô phép! Chủ nhân để cho ngươi ngồi ghế đầu ngươi tưởng rằng có thể cồng vọng tự đại ư?” Y biết mình không thể ra tay được nữa, muốn chạy cũng không thoát, cho nên giả vờ làm dữ để lấp liếm cho qua.
Kim Trục Lưu cười gằn: “Được, nếu ngươi không phục ta, chúng ta cứ tỉ thí thử. Nếu ta thua ngươi thì ngươi cứ ngồi ghế đầu”.
Nếu khách mời mà đánh nhau, đương nhiên chẳng phải chuyện hay ho gì. Cốc Trung Liên còn tưởng họ chỉ tranh cãi bình thường, thì thầm: “Hải Thiên, ông hãy khuyên họ một tiếng. Mọi người đều là khách, đâu cần phải tổn thương hòa khí như thế?”. Giang Hải Thiên cười can thiệp: “Lấy võ kết bạn là chuyện bình thường. Hiếm có dịp hai quý khách đều cao hứng, chúng ta sẽ được mở rộng tầm mắt. Phù nhi, con không cần mời rượu nữa”.
Giang Hiểu Phù đặt khay rượu xuống, ngồi xuống bên cạnh mẹ. Cốc Trung Liên còn chưa biết con gái của mình vừa mới thoát hiểm, nhưng thấy nàng ta mặt mũi tái xanh còn chồng thì nói những lời như lúc nãy, cũng đã biết chuyện này có gút mắc gì đây. Bà ta bắt mạch cho con gái biết nàng không bị thương nên mới yên tâm. Giang Hải Thiên thì biết Kim Trục Lưu đã cứu con gái mình, đương nhiên ông ta cũng biết ý xấu của Văn Đạo Trang. Nhưng ông ta không lên tiếng mà có ý xem võ công của hai người, trong lòng thầm tính toán: “Chỉ cần họ động thủ, mình sẽ biết được lại lịch của họ. Nếu tên ăn mày này đánh không lại, mình cũng có cách giúp y”.
Giang Hải Thiên đã không ngăn cản, khách khứa trong buổi tiệc càng mong muốn được xem náo nhiệt. Vì thế mọi người đều tản ra xem họ tỷ võ.
Văn Đạo Trang hận không đánh chết ngay tên ăn mày, nhưng cũng giả vờ giả lả: “Để xem tên ăn mày nhà ngươi có bản lĩnh đến mức nào, ngươi muốn tỉ thí thế nào đây?” Kim Trục Lưu cười hì hì: “Tùy ngươi. Ngươi muốn thế nào thì ta chiều thế ấy!”
Văn Đạo Trang trừng mắt quát: “Được, xuất chiêu đi!”. Kim Trục Lưu cười: “Ta đã ngồi ở ghế đầu, theo lý phải nhường ngươi ba chiêu”.
Văn Đạo Trang cả giận, không nói tiếng nào, đánh liền một chưởng. Kim Trục Lưu dùng thân pháp Phong quát lạc hoa né tránh, cười đùa: “Không trúng!” y nói chưa dứt lời, Văn Đạo Trang đã đánh ra tiếp chiêu thứ hai, đây là một đòn cầm nã thủ rất lợi hại, chỉ nghe soạt một tiếng, một ống tay áo của Kim Trục Lưu đã bị y xé rách nhưng Kim Trục Lưu vẫn né được.
Một người đánh rất hiểm hóc, một người né tránh rất lanh lẹ. Khách khứa đều không khỏi reo ầm lên, nhưng cũng thầm lo cho tên ăn mày, Văn Đạo Trang chỉ mới đánh chiêu thứ hai mà đã xé rách ống tay áo tên ăn mày, chỉ e rằng tên ăn mày không thể ứng phó được với chiêu thứ ba. Trọng Trường Thống nói với Giang Hải Thiên: “Tôi thấy bản lĩnh của hai người này tương đương nhau, tên ăn mày nhường đối phương ba chiêu e rằng đã quá mạo hiểm”. Lúc này ông ta đã thầm phục Kim Trục Lưu. Giang Hải Thiên nghe như thế thì mỉm cười không đáp.
Kim Trục Lưu cười đùa: “Ăn mày phải mặc áo rách, đa tạ ngươi đã giúp ta”. Y suýt tý nữa đã thua to nhưng miệng thì vẫn nói đùa.
Văn Đạo Trang đánh ra hai chiêu mà không trúng, trong lòng cũng đã thất kinh. Cho nên chiêu thứ ba thì sử dụng một đòn sát thủ độc môn.
Chiêu này vừa đánh ra, trong nhất thời chỉ thấy chưởng ảnh trùng trùng, bốn phía của Kim Trục Lưu đều bị y chặn lại. Trong vòng vài trượng gió cuộn lên, bụi bay mù mịt, Văn Đạo Trang đã sử dụng Tam tượng thần công.
Những người đứng gần vội vàng thối lui, sợ bị cát bụi bay vào mắt, nhưng vẫn cố nhướng mắt nhìn, xem thử Kim Trục Lưu lần này có né tránh được hay không.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 19:20:29Hoàng Dung>
Những người có võ công kém cỏi đều không biết Kim Trục Lưu đã dùng thân pháp gì mà có thể thoát ra khỏi vòng chưởng ảnh của đối phương. Nhưng những cao thủ trong tiệc thì đều kêu lên: “Đó là Thiên la bộ pháp!”, “Ồ, tên ăn mày này cũng biết Thiên la bộ pháp, chả lẽ là đệ tử của phái Thanh Thành?”. “Đúng thế, trông giống như Thiên la bộ pháp nhưng lại không phải, y không phải là người của phái Thanh Thành”. Người vừa nói câu này chính là cao thủ của phái Thanh Thành Tiêu Trí Viễn. Tổ phụ của y, Tiêu Thanh Phong là người tinh thông Thiên la bộ pháp.
Số là Thiên la bộ pháp do phái Thanh Thành sáng chế, Kim Thế Di đã rút tỉa những tinh túy của Thiên la bộ pháp kết hợp với võ công trong bí kíp của Kiều Bắc Minh rồi cải tiến Thiên la bộ pháp, do đó Thiên la bộ pháp của Kim Thế Di càng tinh diệu hơn Thiên la bộ pháp của phái Thanh Thành. Giang Hải Thiên vừa thấy Kim Trục Lưu sử dụng bộ pháp của bổn môn thì mừng mừng tủi tủi, té ra ông ta đã biết thân phận của y.
Kim Trục Lưu hít một hơi dài: “Có đi mà không có lại chẳng phải lễ, trả chiêu!” thế rồi chưởng phải vạch ra một vòng cung, tay trái từ dưới nách xỉa ra, điểm vào huyệt trên ngực của Văn Đạo Trang. Văn Đạo Trang giơ ngang chưởng chặn lại, hai bên chạm nhau một chưởng, mỗi bên thối lùi ba bước.
Kim Trục Lưu xỉa hai chỉ rách áo đối phương, cười rằng: “Ngươi xé áo của ta, sao ta có thể để yên cho ngươi được. Hay lắm, hai bên đều không bị thiệt, đến nào, đến nào!” té ra Kim Trục Lưu dùng cả chưởng lẫn chỉ, y không điểm được cho nên thuận tay móc rách áo Văn Đạo Trang.
Diệp Mộ Hoa thấy Kim Trục Lưu sử dụng Đại thừa Bát nhã chưởng pháp, nghĩ bụng: “Chả trách nào lúc nãy y huênh hoang như thế, quả nhiên cao minh hơn mình nhiều”. Rồi trong lòng trỗi dậy mối nghi ngờ, thì thầm với Giang Hải Thiên: “Có phải y sử dụng Đại thừa Bát nhã chưởng pháp không? Lộ số hình như rất giống bổn môn. Những con chưa thấy sư phụ dùng qua loại chỉ pháp kia”.
Giang Hải Thiên nói: “Đó là Kinh thần chỉ pháp, con chưa được học. Ồ Kinh thần chỉ pháp của người này cao minh hơn ta, đáng tiết thiếu một chút hỏa hầu, nếu không có thể cách y điểm huyệt, tên họ Vân chắc chắn sẽ bị thương”. Diệp Mộ Hoa nghe sư phụ nói chỉ pháp của tên ăn mày hơn hẳn ông ta, trong lòng càng kinh hãi hơn! Y định hỏi tiếp thì Kim Trục Lưu và Văn Đạo Trang đã giao thủ thêm lần nữa, Diệp Mộ Hoa chỉ lo nhìn chứ không dám hỏi nữa.
Hai bên giao nhau một chưởng, cả hai đều không dám khinh địch. Đại thừa Bát nhã chưởng pháp có thể đả thương kỳ kinh bát mạch, Văn Đạo Trang tuy chống đỡ nổi, nhưng sau khi đối chưởng thì kinh mạch tựa như không điều hòa. Kinh thần chỉ pháp của Kim Trục Lưu càng tinh diệu hơn, khiến cho y kinh hãi. Y là người hiểu biết cho nên nghe thầm: “Võ công của tên ăn mày này thật phức tạp, không biết y có những chiêu số cổ quái nào, mình phải cẩn thận mới được”.
Sau khi Kim Trục Lưu chạm chưởng ấy, gã cũng cảm thấy khó chịu trong người, nghĩ thầm: “Chả trách nào cha nói Tam tượng thần công của chú cháu nhà họ Văn cũng là một môn tuyệt học trong võ lâm, xem ra công lực của kẻ này hình như hơn mình một bậc”.

[/align]Hai người lại giao thủ với nhau, Kim Trục Lưu dùng lối đánh khéo léo giảm lực, tung ra toàn những kỳ chiêu. Văn Đạo Trang không biết lộ số của gã, cho nên cẩn thận ứng phó, không nôn nóng tấn công. Hai bên đánh được nửa cây nhang mà vẫn chưa phân thắng bại. Lá cây bên cạnh rơi lả tả, chỉ còn trơ cành Giang Hải Thiên một tay cầm chén rượu, một tay vuốt râu khen ngợi, lòng thầm nhủ: “Té ra hai mươi năm qua sư phụ của mình đã sáng chế ra rất nhiều chiêu số tinh kỳ. Trong đạo võ học đời sau phải hơn đời trước, nhưng hai mươi năm qua võ công tự sáng tạo của mình ít hơn sư phụ. Thật đáng hổ thẹn!”.

[/align]Cốc Trung Liên thấy phu quân không lên tiếng, tựa như đang suy nghĩ điều gì Đó thì hỏi: “Bản lĩnh của tên ăn mày này thật cao cường, đáng tiếc chỉ thiếu một chút hỏa hầu. Hải ca, lúc nãy muội còn nghe huynh khen ngợi, sao bây giờ không nói gì cả. Huynh đang nghĩ gì thế?”. Giang Hải Thiên đáp: “Huynh đang nghĩ, đã bao năm nay bằng hữu trong võ lâm chỉ nể mặt huynh, tôn huynh là thiên hạ đệ nhất cao thủ, còn huynh đã ngủ quên bởi danh hiệu này đến nỗi tự nhốt mình ở đây”.

[/align]Hai bên đánh nhau hơn trăm chiêu mà Văn Đạo Trang không thể thắng được, trong lòng rất lo lắng. Y đã thấy công lực của Kim Trục Lưu không bằng mình, vì thế cố ý để lộ ra sơ hở, dụ Kim Trục Lưu đánh vào.

[/align]Kim Trục Lưu tương kế tựu kế, lập tức bước tới đẩy ra một chưởng. Văn Đạo Trang quát lớn một tiếng rồi chém xuống một chưởng, không ngờ Kim Trục Lưu đột nhiên thâu chiêu về, cười hì hì: “Ngươi đã trúng kế của ta!” chỉ nghe có tiếng leng keng ở dưới đất, Kim Trục Lưu rải một nắm bạc vụn và tiền xuống đất, trong tay chỉ giữ lại một cái bình bạch ngọc nhỏ xíu, cười rằng: “Tục đoạn cao của đảo Vô Danh là vật hiếm có, ta phải giữ lại mới được”.
Té ra Kim Trục Lưu đánh hờ ra một chiêu, khí áp sát thì thi triển thủ pháp Diệu thủ không không lấy hết đồ trong túi của Văn Đạo Trang ra. Chàng tuy không làm gì được Văn Đạo Trang nhưng đánh cắp được đồ của y, Văn Đạo Trang vừa lo vừa giận mặt tái xanh. Khách khứa đứng nhìn đều cười ha hả.
Trọng Trường Thống thấy thế thì rất ngạc nhiên kêu ồ một tiếng rồi nói: “Giang đại hiệp, ông có thấy thủ pháp của tên ăn mày ấy không, chả lẽ y là đệ tử của Thần thâu Cơ Hiểu Phong?” hai mươi năm trước Cơ Hiểu Phong là diệu thủ thần thâu nổi tiếng thiên hạ, y rất thích chơi khăm các nhân vật võ lâm, lúc thì đánh cắp kiếm phổ quyền kinh của họ, lúc thì đánh cắp ám khí độc môn hay linh đơn của họ. Trọng Trường Thống cũng từng bị một lần cho nên biết thủ pháp đánh cắp của y.
Giang Hải Thiên nói: “Thủ pháp Diệu thủ không không này chính là của Cơ Hiểu Phong, nhưng y không phải là đệ tử của Cơ Hiểu Phong. Cơ Hiểu Phong không có võ công giỏi như y”. Trọng Trường Thống hỏi lại: “Ông nói như thế, chả lẽ đã biết lai lịch sư môn của y?” Giang Hải Thiên đáp: “Đúng thế. Nhưng bây giờ vẫn chưa tiện nói. Lát nữa tôi sẽ hỏi lại y, nếu tôi đoán đúng thì sẽ mời các người uống chén rượu mừng”. Trọng Trường Thống cười: ‘Thế hôm nay chúng tôi chẳng phải đến đây để uống rượu mừng hay sao?”.
Giang Hải Thiên nói: “Không, chuyện này thì khác, còn vui hơn cả chuyện con gái tôi xuất giá”. Trọng Trường Thống ngạc nhiên: “Vậy sao? Tôi mong cuộc tỉ võ này mau chóng kết thúc để biết đó là chuyện vui gì?” Trọng Trường Thống thấy [font="times new roman"]Giang Hải Thiên tựa như đang suy nghĩ, miệng thì nói “chuyện vui”, nhưng trên mặt thì đầy vẻ lo lắng, trong lòng càng ngạc nhiên hơn, nhưng lúc này Giang Hải Thiên không chịu nói, Trọng Trường Thống cũng không tiện hỏi.
Té ra Giang Hải Thiên vì thấy Kim Trục Lưu sử dụng Diệu thủ không không chonên nhớ đến Cơ Hiểu Phong, từ đó lại nhớ đến sư phụ của mình. Cơ Hiểu Phong và cha của ông ta là Giang Nam đã kết bái huynh đệ với nhau, cũng là bạn thân thiết của sư phụ của ông là Kim Thế Di.
Hai mươi năm trước, vợ chồng Kim Thế Di ra biển không bao lâu thì Cơ Hiểu Phong cũng mất tích, có người nói ông ta đến Thiên Trúc, cũng có người nói ông ta đi tìm Kim Thế Di. Rốt cuộc như thế nào, không ai biết, tóm lại là ông ta cũng biệt tăm như Kim Thế Di, võ lâm đã thiếu một Cơ Hiểu Phong ưa đùa cợt cho nên cũng yên ắng hơn nhiều.
Giang Hải Thiên thầm nhủ: “Xem ra tên ăn mày này chính là tiểu sư đệ của mình. Y sử dụng thủ pháp Thần thâu của Cơ bá bá, có thể Cơ bá bá cũng đang ở cùng sư phụ của mình. Không biết ông ta có còn sống trên đời hay không. Nếu Cơ bá bá vẫn còn sống, có lẽ đã là một ông già ngoài bảy mươi. Ừ, cha của mình nhỏ hơn ông ta gần mười tuổi, nhưng lại không may mất sớm. Nếu người còn sống đến hôm nay, biết được tin tức của bạn cũ chắc chắn sẽ vui mừng biết bao?”.
Giang Hải Thiên thầm nhủ: “Hôm nay là đại thọ sáu mươi tuổi của sư phụ, võ công của sư phụ trùm đời, chắc là vẫn còn khỏe mạnh. Thời gian qua thật nhanh, hai mươi năm qua mình không được nghe lời dạy của người”. Giang Hải Thiên vốn là con của một thư đồng mà trở thành một bậc đại hiệp trong chốn võ lâm, đó đương nhiên là nhờ một tay sư phụ Kim Thế Đi dạy dỗ, ơn nghĩa của thầy có thể nói nặng như núi.
Cho nên Giang Hải Thiên lúc nào cũng nhớ đến thầy, nay gặp Kim Trục Lưu thì nỗi nhớ ấy càng quắt quay hơn.
Giang Hải Thiên đang suy nghĩ, chợt nghe Trọng Trường Thống kêu lên: “Hay lắm, Giang đại hiệp có thấy chiêu kiếm pháp vừa rồi của y hay không?” Giang Hải Thiên nhướng mắt lên nhìn, chỉ thấy Văn Đạo Trang đã bị Kim Trục Lưu đẩy thối lùi ba bước, nhưng Kim Trục Lưu thì hai tay trống trơn, không có kiếm. Diệp Mộ Hoa đứng bên cạnh sư phụ, nghe Trọng Trường Thống nói như thế thì ngạc nhiên: “Trọng bang chủ bảo y sử dụng kiếm pháp ư?” Trọng Trường Thống nói: “Ta đang định hỏi sư phụ của con, hình như tên ăn mày này sử dụng kiếm pháp của phái Thiên Sơn?”.
Giang Hải Thiên gật đầu: “Đúng thế, y đã sử dụng Tu di kiếm thức của phái Thiên Sơn. Nhưng lúc nãy ta không để ý”. Té ra Kim Trục Lưu đã dùng chỉ thay kiếm, sử dụng kiếm thức của bổn môn. Kiếm pháp của Kim Thế Di truyền lại biến hóa từ nền tảng phái Thiên Sơn, song dùng chỉ thay kiếm, đưa kiếm pháp vào trong chỉ pháp hoàn toàn là sáng tạo của Kim Thế Di. Đệ tử của Giang Hải Thiên vẫn chưa học công phu cao thâm này.
Nhất Dương Tử cũng nhận ra đó là Thiên Sơn kiếm pháp, Đường Gia Nguyên của phái Thiên Sơn đang đứng sau lưng y, Nhất Dương Tử quay đầu lại hỏi: “Đường thiếu hiệp, người này có phải là đệ tử của quý phái không?” Đường Gia Nguyên ngạc nhiên, đáp: “Không phải, nhưng không biết y học ở đâu ra mấy chiêu Tu đi kiếm thức thế này, trông rất giống kiếm thức của tệ phái, nhưng lại có chỗ khác nhau!”. Nhất Dương Tử tựa như đã thấy có gì không ổn, ngạc nhiên hỏi: “Tần thiếu hiệp của phái Với Đang đâu?” Té ra lúc nãy Văn Thắng Trung được sắp xếp ngồi bên cạnh Đường Gia Nguyên, sau đó Văn Đạo Trang và Kim Trục Lưu giao thủ, Đường Gia Nguyên và y cùng đứng xem, Nhất Dương Tử đứng trước mặt họ. Nhất Dương Tử chú ý xem, lúc này quay đầu lại nhìn mới thấy Tần Nguyên Hạo đã biến mất.
Lúc này Đường Gia Nguyên cũng phát giác ra, mới buột kêu: “Lạ thật, lúc nãy tôi còn nói chuyện với y, y đi đâu mất rồi?” Nói chưa xong, chợt nghe ở trường lang đối diện có tiếng ồn ào.
Té ra Văn Thắng Trung càng nhìn càng sợ, nghĩ thầm: “Hôm nay chỉ e lành ít dữ nhiều. Cha ám toán không thành, sớm muộn gì cũng bị người ta nhận ra. Phong bá bá đã chạy mất, mình còn ở đây làm gì?”. Y chỉ mong thoát hiểm một mình, không thèm để ý đến cha nữa. Vì thế nhân lúc mọi người đang chú ý đến cuộc chiến thì lẳng lặng chuồn đi.
Khi đi ngang qua trường lang, Tần Nguyên Hạo cũng đang đứng xem, song khi Văn Thắng Trung đi đến gần thì bị chàng phát hiện.
Tần Nguyên Hạo nhảy vọt ra, chặn Văn Thắng Trung lạnh lùng nói: “Văn huynh, chúng ta nên đổi áo cho nhau!” Văn Thắng Trung cả kinh, nhưng y cũng rất lanh lẹ, thế rồi vọt chưởng đẩy tới, nói: “Lão nhị, ngươi làm trò gì thế? Ngươi giấu ta
chạy xuống núi, ta còn chưa trừng phạt ngươi!”.
Văn Thắng Trung đã vận Tam tượng thần công, y cũng chỉ mới học môn công phu này cho nên còn kém xa cha mình. Tuy thế, chưởng lực vẫn có thể đủ đánh nát đá vỡ bia. Tần Nguyên Hạo quát: “Ngươi nói bậy gì thế!” Thế rồi đẩy chưởng vào khuỷu tay của Văn Thắng Trung, đánh ra một chiêu Phất vũ phiên vân, hóa giải đòn đánh lén của y, hai chỉ điểm thẳng vào huyệt khúc trì. 
Văn Thắng Trung vội vàng đánh ra chiêu Thoát bào giải giáp, trầm vai hạ lưng, né chiêu trả chiêu, vận lực đẩy về phía trước một cái. Nhưng bản lĩnh của Tần Nguyên Hạo hơn hẳn y, Tam tượng thần công của y không đả thương được Tần Nguyên Hạo, bị Tần Nguyên Hạo đẩy ngang chưởng, hóa giải hết chưởng lực của y, Văn Thắng Trung đương nhiên cũng không xông qua được. Nhưng Tần Nguyên Hảo cũng không hơn y được bao nhiêu cho nên trong vòng mấy chiêu vẫn chưa thể chế phục được y.
Hai người giao thủ khiến cho những người xung quanh để ý, khi Diệp Mộ Hoa dắt Tần Nguyên Hạo vào, có vài người khách đã từng nghe họ nói chuyện, lúc đó Tần [font="times new roman"]Nguyên Hạo không chịu nói thực, nhận Văn Thắng Trung là anh trai của mình, những người khách này càng tưởng là thật. Thuật dịch dung của Văn Thắng Trung rất khéo léo, bọn họ đứng chung với nhau trông rất giống nhau, người bên cạnh cũng tường họ là hai anh em.
Có người cười: “Hai người làm trò gì thế? Đây là tiệc vui của Giang đại hiệp, tiểu đệ của ngươi chỉ muốn đến xem náo nhiệt, ngươi cần gì phải trách y?” Người ấy đâu biết Tần Nguyên Hạo đang vạch mặt người giả mạo mình, cứ tưởng Văn Thắng Trung đang trách mắng em trai.
Tần Nguyên Hạo định nói ra sự thực, chợt nghe có tiếng quát lớn vang lên. Té ra Kim Trục Lưu đã xé trường sam của Văn Đạo Trang, nhưng cũng bị Văn Đạo Trang đánh một chưởng. Với một bậc cao thủ, bị người ta xé áo là chuyện rất mất mặt, nhưng Kim Trục Lưu bị đánh một chưởng mới thực sự bị thiệt thòi. Lúc đầu khách khứa trong nhà họ Giang không hài lòng hành động cuồng ngạo vô phép của một tên ăn mày, nhưng thấy gã tuổi còn trẻ mà võ công cao cường như thế, dần dần khâm phục. Lúc này thấy gã bị trúng một chưởng, có nhiều người không khỏi kêu hoảng.
Tần Nguyên Hạo cũng không khỏi thất kinh, Văn Thắng Trung nhân lúc Tần Nguyên Hạo ngẩn người ra bèn đẩy chàng chạy qua trường lang.
Người trong trường lang đang chú ý đến cuộc chiến, những người khách lúc nãy định khuyên can cũng đã tập trung chú ý xem cuộc tỉ võ, mặc kệ cho “hai anh em” họ đánh nhau, lúc này Tần Nguyên Hạo vẫn còn kịp lột trần chân tướng của y, chỉ cần chàng nói một tiếng. khách khứa ở nhà họ Giang tuy không lập tức tin lời chàng, nhưng cũng chắc chắn không để Văn Thắng Trung bỏ chạy. Nhưng Tần Nguyên Hạo vẫn chưa biết lai lịch của Văn Đạo Trang, cũng hoàn toàn không biết âm mưu của cha con nhà họ Văn. Chàng chỉ tưởng Văn Đạo Trang và Giang Hải Thiên chỉ xích mích bình thường, hôm nay chỉ đến tìm Giang Hải Thiên tỉ võ, còn Kim Trục Lưu thì ra tay giúp cho Giang Hải Thiên.
Tần Nguyên Hạo là người thật thà, khi chàng định lên tiếng thì lại thầm nhủ: “Tên họ Văn tuổi vẫn còn trẻ, tuy tâm thuật bất chính nhưng không phải là hạng gian ác. Nếu mình lột trần chân tướng của y thì sẽ hủy một đời của y. Mình có thể thả Phong Tứ Siêu chạy thoát, cần gì phải làm khó y! Thôi được, cứ để cho y chạy rồi mình sẽ nói sự thực cho Giang đại hiệp biết”. Cho nên chàng cũng im lặng luôn.
Tần Nguyên Hạo quan tâm đến sự an nguy của Kim Trục Lưu, chàng nghe mọi người kêu hoảng, không biết Kim Trục Lưu đánh như thế nào, vì thế quay người lại tiếp tục xem. Chỉ thấy Kim Trục Lưu cầm tấm áo rách múa may, rồi ném về phía Văn Đạo Trang, cười hì hì: “Ăn mày làm ăn trộm, đôi khi cũng thích thú. Chịu một chưởng đổi lấy một cái áo rách thì cũng đáng”. Té ra lúc nãy Kim Trục Lưu cố ý chọc giận Văn Đạo Trang, vì thế mạo hiểm áp sát tới dùng thủ pháp sấm sét xé rách áo của y.
Tuy nói mạo hiểm nhưng Kim Trục Lưu đã đắn đo rất kỹ. Chàng đánh được nửa [font="times new roman"]canh giờ thì đã biết người biết ta. Uy tín bản lĩnh của đối phương, nếu muốn dùng Thiên la bộ pháp xé rách áo của y, chỉ cần động tác nhanh là được, nếu trúng một chưởng sẽ lập tức rút lui, cũng không đến nỗi bị thương, kết quả đúng như chàng suy tính. Tần Nguyên Hạo thấy Kim Trục Lưu không bị thương cho nên mới yên lòng. vKim Trục Lưu sở dĩ chọc giận Văn Đạo Trang không phải là chỉ vì đùa cợt mà là bởi vì khi cao thủ tỉ thí, nếu một bên nôn nóng sẽ tạo cơ hội cho đối phương đánh tới. Võ công của Kim Trục Lưu cao minh hơn Văn Đạo Trang, còn công lực thì hơi kém hơn, cho nên mặc dù gã đánh toàn kỳ chiêu diệu thức nhưng không thể thủ thắng được. Kim Trục Lưu muốn thắng thì phải chọc giận y.
Văn Đạo Trang quả nhiên trúng kế, y tự cho rằng mình là cao thủ, chỉ kém Giang Hải Thiên, nay trước mắt mọi người mà bị một tên ăn mày lột áo cho nên thẹn quá hóa giận.
Văn Đạo Trang gầm lên một tiếng như sấm, hai chưởng múa tít, đánh tấm áo rách thành từng mảnh nhỏ. Tấm áo là vật mềm mại, vốn không thể chịu lực, mà chưởng lực của Văn Đạo Trang lại có thể đánh tấm áo rách bươm quả thật cũng khiến cho mọi người kinh hãi.
Nhưng Kim Trục Lưu lại muốn thế, Văn Dạo Trang nóng nảy tấn công gấp tới, lập tức để lộ sơ hở. Kim Trục Lưu sử dụng Thiên la bộ pháp, người di chuyển như nước chảy mây bay, lúc chưởng lúc chỉ, chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, cứ tìm sơ hở của Văn Đạo Trang mà đánh vào, chỉ trong chốc lát Văn Đạo Trang đã nguy ngập.
Văn Đạo Trang giật mình, vội vàng ngừng thần định khí, nhưng lúc này đã muộn. Kim Trục Lưu đã chiếm thượng phong, cứ dồn dập ép tới, làm sao y có thể lấy lại cân bằng! Mặc dù Văn Đạo Trang giở hết tuyệt chiêu nhưng cũng chỉ có thể chống đỡ mà thôi. Tiếng ồn ào lặng hẳn, Nhất Dương Tử tìm Diệp Mộ Hoa, nói: “Lúc nãy ta đã thấy Tần Nguyên Hạo bỏ đi, em trai của y ở trường lang bên kia, hai anh em hình như tranh cãi nhau. Con hãy mời em trai của y tới, ta muốn hỏi y”. Diệp Mộ Hoa cũng đã thấy chuyện ở trường lang, song lúc nãy trận đấu đang hấp dẫn, y không thể bước tới xem. Lúc này tình thế hơi chậm lại, y nghe Nhất Dương Tử nói như thế thì đến mời Tần Nguyên Hạo.
Văn Đạo Trang đang dốc hết tâm trí đối phó với Kim Trục Lưu, chẳng biết gì chuyện xung quanh. Đến lúc này, Diệp Mộ Hoa dẫn Tần Nguyên Hạo tới, đi qua trước mặt y, y cũng đã thấy chàng. Văn Đạo Trang kinh hoảng, lòng thầm kêu lên: “Hỏng bét, hỏng bét, tên tiểu tử này đến, chắc chắn mọi việc sẽ bại lộ!” Khi cao thủ tỉ thí, không bên nào được phân tâm, Văn Đạo Trang vốn bị Kim Trục Lưu đồn ép, chỉ có thể chống đỡ, nay vì Tần Nguyên Hạo xuất hiện, y thất kinh cho nên chiêu số rối loạn, không thể nào chống đỡ được nữa.
Chỉ nghe bốp một tiếng, Văn Đạo Trang đã bị Kim Trục Lưu đánh một chưởng, y [font="times new roman"]thối lui đến bảy tám thước, lần này Kim Trục Lưu dùng Kim cương chưởng lực, dù cho y có thần công hộ thể nhưng hai mắt cũng nổ đom đóm.
Trọng Trường Thống hỏi Giang Hải Thiên: “Ông đã nhận ra lai lịch của tên ăn mày này, còn lai lịch của kẻ họ Vân thì sao?” Lúc này, Văn Đạo Trang đã bị Kim Trục Lưu đánh lùi, Trọng Trường Thống kêu ầm lên: “Tên ăn mày thắng rồi, thắng rồi!”.
Kim Trục Lưu cười hì hì: “Một chưởng trả lại một chưởng, ta cũng chưa chắc thắng. Tiếp nào, tiếp nào!” Rồi nhảy bổ tới định thêm một chưởng nữa, đánh ngã Văn Đạo Trang, chợt nghe Giang Hải Thiên nói: “Sư đệ, hãy nhường cho y!” Ông ta vừa nói ra, khách khứa đều ngạc nhiên. Trọng Trường Thống cười vang: “Ồ! Té ra y là con trai của Kim đại hiệp, ăn mày già thật là lẩm cẩm, y là Kim Trục Lưu, lẽ ra taphải đoán được khi nghe tên của y”.
Văn Đạo Trang cố nén đau, vẫn ra tư thế phòng ngự, Giang Hải Thiên mỉm cười: “Văn tiên sinh, ông cũng ngừng tay thôi. Hai mươi năm không gặp, chúc mừng ông đã luyện thành Tam tượng thần công! Lệnh thúc có khỏe không?”.
Văn Đạo Trang kinh hoảng, mặt sạm như xác chết, nói: “Tên họ Giang kia, ngươi không cần phải mỉa mai như thế, ta đánh không lại sư đệ của ngươi, đương nhiên không đánh lại ngươi, muốn giết muốn xẻ thì tùy ngươi!”.
Giang Hải Thiên nói: “Thật quý hóa ông vẫn còn nhớ đến người xưa, nay ông đã đến nhà tôi, Giang mỗ có lẽ nào lại làm khó khách khứa? Nếu ông cao hứng, chúng ta có thể uống thêm ba chén, nếu muốn đi thì tôi cũng không giữ!”.
Giang Hải Thiên xưa nay hứa một lời nặng như ngàn vàng, người trong võ lâm đều biết. Nhưng Văn Đạo Trang thì lấy bụng tiểu nhân do lòng quân tử, trong tình huống như thế y vẫn không dám tin Giang Hải Thiên nói thật, nhủ thầm: “Đâu có chuyện dễ dàng như thế?” Chính vì y không biết là thật hay giả cho nên trong nhất thời không dám bỏ đi.
Tần Nguyên Hào chỉ sợ Giang Hải Thiên vẫn chưa biết nội tình, vội nói: “Giang đại hiệp, kẻ này đến đây gây chuyện. Tên tiểu tử lúc nãy vừa mới chuồn mất là con trai của y, y đánh cắp thiệp mời của tôi cải trang thành tôi đến đây”.

Chính là: Mạo danh phá tiệc vì cớ gì? Chỉ vì thù xưa kết oán đưa.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 6 sẽ rõ.[/font][/font][/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 19:37:24Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Sáu
Hào sĩ kinh hồn bán áo đẩu
Hoang sơn động phách gặp cùng nho

[/align]

Giang Hải Thiên nói: “Dù sao chúng tôi cũng chẳng tổn thất gì, cũng nhờ y đến cho nên tôi mới gặp lại sư đệ của mình, lẽ ra tôi phải cảm tạ y mới đúng”.

[/align]Tần Nguyên Hạo nghe Giang Hải Thiên nói thế bèn không dám lên tiếng nữa. Trọng Trường Thống thì bảo: “Như thế chẳng phải có lợi cho y ư?” Câu nói nàyđã trúng tim đen của Văn Đạo Trang, y vừa mới định thở phào thì bất giác lại trở nên căng thẳng.
Giang Hải Thiên cười ha hả: “Hai mươi năm trước, gia sư đã thả Văn Đình Bích ở Mang Sơn, các bằng hữu đều biết chuyện này, Giang mỗ ngu muội nhưng được gia sư truyền thụ. Những thứ khác tôi tuy không học được, nhưng cũng bắt chước được đạo lập thân xử thế của người, năm xưa sư phụ của tôi có thể tha cho Văn Đình Bích, nay sao tôi không thử tha cho cháu của y? Huống chi Văn tiên sinh hôm nay đến uống rượu mừng, vả lại làm khó khách đâu phải là chuyện hay ho gì!”.
Giang Hải Thiên ngừng một lát rồi nghiêm mặt nói với Văn Đạo Trang: “Văn tiên sinh luyện được võ công như thế là điều không dễ, tốt nhất hãy tự xét lại mình thì có thể trở thành một bậc tôn sư. Năm xưa gia sư tha cho thúc phụ của ông, mục đích là vì muốn giữ lại võ công của các ông. Tôi vẫn còn nhớ gia sư đã từng khuyên lệnh thúc cải tà quy chính, đừng đi vào đường sai. Nay tôi cũng khuyên ông bằng câu nói năm xưa, mong ông đừng phụ lòng thầy trò chúng tôi. Được, ông hãy đi đi”.
Giang Hải Thiên nói rất chân thành, mọi người đều cảm động, ai nay đều nghĩ: “Giang đại hiệp quả nhiên là có lòng dạ phóng khoáng, lần này Văn Đạo Trang không biết tỉnh ngộ thì chẳng khác gì loài cầm thú”. Nào ngờ Văn Đạo Trang vẫn chấp mê lầm, suy nghĩ hoàn toàn khác. Trước mặt anh hùng thiên hạ, y bị bẽ mặt như thế này, trong lòng vừa thẹn vừa giận, nghĩ bụng: “Giang Hải Thiên giả vờ nhân từ, chẳng qua là muốn giữ danh đại hiệp của mình, để thiên hạ anh hùng thêm phần kính ngưỡng mình mà thôi. Y không đích thân ra tay lại để cho tiểu sư đệ của y làm nhục mình, mình không thể nào nuốt được mối giận này. Mình đánh không lại y, sau này có thể mời vài kẻ địch của y đến, thế nào cũng đánh bại được bọn chúng”.
Văn Đạo Trang vẫn còn ôm hận trong lòng, nhưng không tỏ ra mặt, vái Giang Hải Thiên một cái rồi nói: “Văn mỗ ngày sau sẽ đến đáp tạ Giang đại hiệp”. Nói xong quay người bỏ đi. Y nghe Tần Nguyên Hạo bảo con trai đã chạy mất, lòng chẳng còn gì lo lắng.
Nhưng Tần Nguyên Hạo thì lo cha con họ Văn thua to, chắc là quay về cùng với Phong Tử Siêu. Không biết họ có làm khó Phong Diệu Thường hay không?” Nhưng chàng giấu nỗi lo trong lòng, không dám nói với bất cứ ai. 
Kim Trục Lưu đang định bái kiến sư huynh, Giao Hải Thiên can: “Khoan đã, Phù nhi, vợ chồng hai con đến đây, các con phải khấu đầu tạ ơn cứu mạng của sư thúc!” Giang Hiểu Phù ngạc nhiên, trong nhất thời vẫn chưa hiểu. Giang Hải Thiên cười lớn: “Lúc nãy con mời rượu, nếu không phải sư thúc ngầm giúp con, con đã bị Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang đánh chấn thương nội tạng”. Giang Hiểu và Vũ Văn Hùng đều thất kinh, vội vàng khấu đầu trước Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu cười hì hì: “Chúng ta tuổi vẫn còn trẻ, các người dùng đại lễ như thế ta nào dám nhận”. Giang Hải Thiên cũng cười: “Bổn môn chỉ luận vai vế chứ không tính tuổi tác. Đệ cần gì phải khách sáo với bọn trẻ!”. Kim Trục Lưu vốn cúi người né tránh, bị Giang Hải Thiên đẩy nhẹ cho nên không thể động đậy. Gã đành ngồi xuống, nhận ba cái dập đầu của đôi tân nhân. Kim Trục Lưu thầm bội phục, nghĩ bụng: “Giang Hải Thiên quả nhiên không hổ là sư huynh của mình, mình muốn có thành tựu như ông ta ít nhất cũng phải mười năm nữa”.
Giang Hiểu Phù đã là tân nương nhưng vẫn còn tính trẻ con, dập đầu xong thì đứng dậy cười: “Tiểu sư thúc, cha bảo võ học bổn môn của người còn cao minh hơn cha. Người có thể chỉ điểm cho bọn cháu không?” Giang Hải Thiên cười: “Sư đệ, đệ có nghe chưa? Đại lễ này không dễ nhận tý nào! Này, Phù nhi, sao con lại vô phép như thế, sư thúc là sư thúc, sao lại thêm một chữ tiểu?” Bình thường Giang Hải Thiên rất nghiêm nghị, hiếm có khi nào ông ta cao hứng như thế này. Mọi người nghe ông ta nói đùa đều cười ầm lên. 
Tần Nguyên Hạo lúc này mới biết thân phận, lai lịch của Kim Trục Lưu, nghĩ bụng: “Chả trách nào y bảo sư phụ của mình còn kém hơn y một bậc, té ra là thật”.
Vai vế của Kim Thế Di vốn cực cao, sư phụ của ông ta là Độc Long Tôn Dã có vai vế cao hơn Lã Tứ Nương, chưởng môn hai đời trước của phái Mang Sơn. Nhưng vì sư môn của Kim Thế Di không có liên quan gì với các phái ở Trung Nguyên cho nên Kim Thế Di và các bậc cao nhân trong võ lâm không câu nệ vai vế. Hơn nữa, Cốc Chi Hoa, vợ của Kim Thế Di là học trò của Lã Tứ Nương, cho nên ông ta đã tự coi mình là bậc tiểu bối trước những người lẽ ra cùng vai phải lứa với mình như Lã Tứ Nương và Đường Hiểu Lan... Thật ra nếu tính cho kỹ, chưởng môn hiện nay của phái Thiên Sơn là Đường Kinh Thiên và Kim Trục Lưu chẳng qua là bằng vai phải lứa, vợ của Đường Kinh Thiên, Băng Xuyên Thiên Nữ là trưởng lão của phái Võ Đang, cao hơn Lôi Chấn Tử một bậc, Kim Trục Lưu đương nhiên cũng cao hơn đệ tử Nguyên Hạo hai bậc vì Tần Nguyên Hạo là đệ tử của Lôi Chấn Tử.
Mọi người đều cười nói vui vẻ, Trọng Trường Thống thì tỏ vẻ bực dọc: “Giang đại hiệp, hình như ông đã quá rộng rãi, Văn Đạo Trang muốn ám toán con gái của ông, ông lại tha cho y? Đáng tiếc đến lúc này tôi mới biết, nếu không dù ông có tha cho y, ăn mày già này cũng không chịu bỏ quá! Ít nhất cũng phải phế võ công của y!”.
Giang Hải Thiên cười rằng: “Đó chỉ là ân oán riêng tư, dù sao con gái của tôi cũng không sao”. Giang Hải Thiên nào biết, Văn Đạo Trang lúc này tái xuất giang hồ là muốn trở thành ưng khuyển cho triều đình, y đến đây không chỉ là vì ân oán cá nhân.
Giang Hải Thiên nói: “Hôm nay nhà tôi được song hỉ lâm môn, một chút sóng gió cũng không sao. Sư đệ, sư phụ có khỏe không?” Kim Trục Lưu đáp: “Khỏe! Cha bảo đệ đem một bức thư và một món tín vật đến trao cho huynh”. Đã hai mươi năm nay Giang Hải Thiên không nhìn thấy bút tích của sư phụ, thế rồi mới quỳ xuống đất,hành đại lễ sư môn “thấy vật như thấy người”, nhận thư và tín vật của sư phụ. Tín vật ấy là một chiếc nhẫn bạch ngọc trong suốt.
Đeo nhẫn vào tay thấy lạnh lẽo, Giang Hải Thiên vừa nhìn thì y đã biết đó là loại hàn ngọc dưới biển. Năm xưa khi Kim Thế Di lấy được di vật của Kiều Bắc Minh, trong đó có một bộ bạch ngọc giáp cùng một bộ cung bằng ngọc với ba mũi tên bằng ngọc, Kim Thế Di đã trao bộ ngọc giáp cho Giang Hải Thiên làm vật gia truyền, cung ngọc và tên ngọc thì giữ lại. Chất ngọc của chiếc nhẫn này giống với chất ngọc của bộ ngọc giáp. Kim Trục Lưu nói: “Cha đã đánh ba mũi tên ngọc thành ba chiếc nhẫn. Bảo đệ đưa cho huynh một chiếc làm tín vật. Đến bây giờ đệ mới đem tới”. Nói xong bèn làm lễ ra mắt sư huynh, Giang Hải Thiên chỉ vái dài chứ không quỳ.
Giang Hải Thiên rất cảm kích tấm lòng của sư phụ đối với mình, nhưng vẫn còn thắc mắc, nghĩ bụng: “Sư phụ bảo sư đệ đến gặp mình, cần gì phải mang theo tín vật? Có thư của người đã đủ. Chả lẽ mình không nhận ra võ công bổn môn của y hay sao?” Nhưng sau khi đọc được bức thư thì mới hiểu mọi việc. 
Bức thư này dặn Giang Hải Thiên làm ba việc, việc thứ nhất là nhờ ông ta chăm sóc cho sư đệ; thứ hai là dặn cậu của ông ta Diệp Trung Tiêu đã sắp trở về, hỏi ông ta đã thu nhận con trai của Diệp Trung Tiêu làm học trò hay chưa, nếu chưa gặp thì phải mau tìm kiếm. Chuyện thứ ba là dặn trong đêm tết Nguyên tiêu sang năm, Giang Hải Thiên đeo chiếc nhẫn ngọc này lên Bí Ma Nhai ở Tây Sơn Bắc Kinh tìm một người, người đó cũng đeo một chiếc nhẫn bằng ngọc y như thế. Đây là chuyện quan trọng nhất, nhưng trong thư không nói rõ gặp ai.
Giang Hải Thiên nghĩ bụng: “Có lẽ tiểu sư đệ biết, sau này mình sẽ hỏi y”.
Giang Hải Thiên biết tính tình sư phụ, ông ta thường làm những chuyện khiến người ta khó hiểu.
Cốc Trung Liên hỏi: “Sư phụ có căn dặn gì không?” Giang Hải Thiên cười: “Đại ca của muội sắp quay về. Sư phụ còn chưa biết Mộ Hoa đã nhận chúng ta”.
Cốc Trung Liên cả mừng: “Nếu đại ca quay về, biết năm nay Mộ Hoa đã làm nhiều chuyện oanh liệt, chắc chắn sẽ rất vui mừng! Kim sư đệ, đệ và sư phụ ở đâu, đại ca của tẩu có thường đến thăm hay không? Gần đây người thế nào rồi?”.
Giang Hải Thiên cười nói: “Chúng ta hãy ngồi vào bàn thôi, rượu đã lạnh hết cả rồi”. Lần này Kim Trục Lưu không ngồi ở ghế đầu nữa mà nói: “Lúc nãy đệ đã thay cha chúc mừng cho sư huynh, nay cũng đã trao thư xong, chỗ này lẽ ra là của Trọng bang chủ”. Trọng Trường Thống từ chối không được, chỉ đành ngồi xuống. Cười rằng: “Kim lão đệ, tính tình của đệ và lệnh tôn giống nhau nhưng lại cũng có chỗ khác nhau, khi lệnh tôn mới bước ra giang hồ cũng giả vờ điên cuồng, người khác đều sợ ông ta mấy phần. Khi đệ mới đến đây, cũng có khí khái nghênh ngang của ông ta, nhưng lại không điên cuồng như ông ta chỉ trong chớp mắt đã trở nên nghiêm chỉnh, điều đó thật khiến ta bất ngờ. Ta và cha của đệ là bạn cũ, đệ đừng trách ta nói thẳng”.
Kim Trục Lưu nói: “Thật vậy sao? Tôi biết rất ít chuyện xưa của cha, nhưng mẹ thường bảo tính cách của tôi giống cha”. Trọng Trường Thống gật đầu: “Theo ta thấy, đệ một nửa giống cha, một nửa giống mẹ. Đệ không biết đấy thôi, thời còn trẻ, cha của đệ còn nghịch ngợm hơn đệ cả trăm lần, sau đó gặp mẹ của đệ, tính tình mới dần dần thay đổi”.
Trọng Trường Thống nói không sai, cha mẹ của Kim Trục Lưu một người phóng khoáng, một người đoan trang nghiêm nghị, Kim Trục Lưu từ nhỏ đã được cha mẹ vun
đắp, tính tình chịu ảnh hưởng của cả hai bên.
Thế rồi mọi người nhập tiệc trở lại, Trọng Trường Thống ngồi chỗ của Kim Trục Lưu lúc nãy, Kim Trục Lưu ngồi bên cạnh Giang Hải Thiên, Kim Trục Lưu cũng kéo Tần Nguyên Hạo tới, bảo chàng ngồi bên cạnh mình, còn một bên kia là Đường Gia Nguyên, đó là chỗ ngồi của Văn Thắng Trung. Kim Trục Lưu cười đùa: “Người giả đã bỏ chạy, chỗ này là của người thật, cần gì phải khách sáo?”.
Tần Nguyên Hạo hơi lúng túng, ấp úng: “Kim... Kim thiếu hiệp, tôi không biết thân phận của thiếu hiệp, thật là thất lễ, thiếu hiệp... đừng trách. Ở đây có nhiều lão tiền bối, tôi làm sao dám lớn gan như thế!” Tần Nguyên Hạo đã biết Kim Trục Lưu lớn hơn mình hai bậc, không tiện xưng huynh gọi đệ nữa, cũng không thể gọi lão tiền bối, chỉ đành gọi là “thiếu hiệp”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Người ta gọi sư huynh của tôi là đại hiệp, chẳng có gì sai trái, tôi vừa mới xuất đạo, làm sao xứng với chữ ‘hiệp’, tôi đã bảo với huynh, chúng ta đừng câu nệ vai vế. Chúng ta cứ gọi nhau là huynh đệ, Tần đại ca, tôi không ưa người ta khách sáo, huynh hãy ngồi xuống cho tôi”.
Giang Hải Thiên cũng cười: “Đúng thế, nếu muốn nói đến bối phận, vai vế, mọi việc sẽ rối tung lên. Chỗ này vốn là giành cho thiếu hiệp, thiếu hiệp đừng khách sáo”. Tần Nguyên Hạo nghe Giang Hải Thiên nói như thế, đành ngồi xuống. Nhưng trong lòng đã có tâm sự, mặc dù người trong bàn nói chuyện ồn ào, nhưng chàng vẫn im lặng thẫn thờ.
Vai vế của chàng thấp nhất trong bàn, Giang Hải Thiên chỉ tưởng chàng e dè không dám nói chuyện. Chỉ có Kim Trục Lưu là biết tâm sự của chàng, “Huynh đừng lo lắng, vài ngày nữa tôi sẽ cùng huynh đến núi Tồ Lai dò hỏi tin tức, quyết không để Phong cô nương của huynh chịu khổ đâu”. Tần Nguyên Hạo đỏ ửng mặt, cúi đầu uống rượu.
Trọng Trường Thống hỏi: “Hai người đang thì thầm chuyện gì thế?” Kim Trục Lưu nói: “Không có gì, Tần đại ca nhớ đến một người bằng hữu. Tôi hứa đi cùng y đến thăm họ”. Trọng Trường Thống cười hỏi: “Có phải là nữ bằng hữu không? Lão ăn mày già này thích nhất là làm mai cho người ta, nếu đệ có việc gì khó khăn cứ nói cho ta nghe thử, ăn mày già này sẽ nghĩ cách cho đệ”. Té ra Trọng Trường Thống đã nghe loáng thoáng những lời của Kim Trục Lưu. Tần Nguyên Hạo đỏ mặt đáp cho qua chuyện: “Lão tiền bối đã nói đùa”.
Trọng Trường Thống là người ưa lo chuyện bao đồng, nhủ thầm: “Sao mình lại không biết ở núi Tồ Lai có nhân vật võ lâm nào họ Phong. Tên tiểu tử này không muốn nói nhưng mình lại thích dò hỏi, Trọng Trường Thống đã nhớ đến chuyện này, không hỏi nữa mà chỉ cười ha hả: “Kim lão đệ, đệ không biết đấy thôi, ăn mày già này nổi tiếng là người thích mai mối, năm xưa lệnh tôn và lệnh đường cũng là do tôi mai mối đấy!” Thật ra cha mẹ của Kim Trục Lưu là Kim Thế Di và Cốc Chi Hoa đã quen biết nhau nhiều năm trước, chỉ vì trải qua nhiều sóng gió, cho nên đến năm bốn mươi tuổi Kim Thế Di mới thành hôn, Trọng Trường Thống từng khuyên Kim Thế Di mau quyết định, nhưng cuộc hôn nhân này không phải là do ông ta mai mối. Trọng Trường Thống nói như thế là có phần khoác lác.
Trọng Trường Thống cười rồi tiếp: “Lệnh tôn và sư huynh của đệ thành thân trong cùng một ngày, chuyện này đã trở thành giai thoại trong võ lâm, nhưng chớp mắt hai mươi năm đã trôi qua, lệnh tôn và lệnh đường có khỏe không, tại sao họ không trở về Trung Nguyên? Chả lẽ đã quên hết bằng hữu cũ rồi sao?”.
Kim Trục Lưu lúc này mới có thể trả lời được câu hỏi của mọi người, gã đáp rằng: “Gia phụ hiện đang sống trên đảo Hỏa Sơn, năm xưa tổ sư Kiều Bắc Minh đã từng đến nơi này, mười lăm năm trước Cơ bá bá cũng đến ở cùng chúng tôi, lúc đó tôi vẫn chưa đầy năm tuổi, nghe nói người đã trở về từ Thiên Trúc, đánh cắp được rất nhiều thứ kỳ lạ, Giang Hải Thiên cười tiếp: “Cơ bá bá vẫn như xưa đến đâu cũng thi triển Không không diệu thủ. Nhưng ông ta ở đảo Hỏa Sơn mười lăm năm có lẽ cũng đã rửa tay gác kiếm. Không biết gần đây ông ta sống như thế nào?”.
Kim Trục Lưu cười đáp: “Trên đảo Hỏa Sơn chẳng có ai, đương nhiên người không thể nào thi triển Diệu thủ không không được nữa. Nhưng người đã giấu mẹ dạy cho đệ công phu”. Giang Hải Thiết cười: “Không giấu sư phụ à?” Kim Trục Lưu đáp: “Cha còn khuyến khích đệ học hỏi ở Cơ bá bá. Chỉ bảo để cho Cơ bá bá dạy đệ, để cho người đỡ ngứa ngáy tay chân. Thật ra mẹ cũng biết, nhưng giả vờ không biết mà thôi”. Mọi người nghe đều cười lớn, Trọng Trường Thống nói: “Hay lắm, hay lắm! Võ công của đệ không kém gì Kim đại hiệp năm xưa, nhưng lại biết thêm tuyệt kỹ thần thâu, e rằng trên giang hồ không ai dám chạm tới đệ nữa!”.
Kim Trục Lưu tiếp lời: “Diệp đại ca cũng đến núi Hỏa Sơn vài lần, nghe nói vợ chồng họ sống trên một hòn đảo ở Đông Hải. Có lúc cha cũng tới chỗ họ, nhưng đệ thì không. Lần gần đây nhất là đi từ tháng Chạp đến tháng Giêng năm sau mới về, nghe cha nói, Diệp đại ca sắp trở về Trung Nguyên”. Cốc Trung Liên và Diệp Mộ Hoa nghe thế thì đều mừng rỡ. Trọng Trường Thống hỏi tiếp: “Còn cha của đệ có quay về không?”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 19:54:50Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu đáp: “Cha bảo cũng rất muốn về xem thử, nhưng qua tết Nguyên Tiêu sang năm mới quyết định”. Lúc này là Trung Thu, còn năm tháng nữa mới đến Nguyên Tiêu, nếu Kim Thế Di trở về, nửa năm sau mọi người có thể gặp được ông ta. Bọn Trọng Trường Thống nghe thế đều cả mừng.
Giang Hải Thiên giật mình thầm nhủ. “Sư phụ bảo mình Tết Nguyên Tiêu sang năm lên Tây Sơn gặp một người, còn người thì đến hôm đó mới quyết định trở về, hai chuyện này không biết có liên quan gì với nhau hay không?”.
Sau khi tiệc tàn, Giang Hải Thiên nói: “Mộ Hoa dắt sư thúc vào hậu đường nghỉ ngơi, tìm quần áo cho sư thúc thay”. Kim Trục Lưu cười với Giang Hải Thiên: “Sư huynh có lệnh, đệ không thể làm ăn mày nữa”. Giang Hải Thiên cũng cười: “Đệ rong chơi trong giang hồ ta không phản đối, nhưng trong nhà đang có khách, nên ăn mặc sạch sẽ thì tốt hơn”. Kim Trục Lưu vâng một tiếng rồi cùng Diệp Mộ Hoa ra hậu đường thay quần áo.
Lý Quang Hạ và Lâm Đạo Hiên cũng đi theo. Giang Hải Thiên có bốn đệ tử, Diệp Mộ Hoa, Vũ Văn Hùng lớn tuổi hơn Kim Trục Lưu, còn hai người Lý, Lâm thì nhỏ hơn Kim Trục Lưu một hai tuổi. Họ thấy võ công của chàng vừa cao, lại là người vui tính, hơn nữa tuổi không lớn hơn họ bao nhiêu cho nên rất muốn làm thân.
Giang Hải Thiên vẫn còn phải tiếp khách ở ngoài, Diệp Mộ Hoa dẫn Kim Trục Lưu vào hậu đường thay áo xong thì ra giúp sư phụ tiễn khách, còn hai người Lý, Lâm thì ở lại nói chuyện với Kim Trục Lưu.
Tân lang tân nương mời xong rượu thì Cẩn Tú Phượng đưa họ ra hậu đường, định nghỉ ngơi nửa canh giờ rồi sẽ lại ra mời rượu lượt khách tiếp theo. Giang Hiểu Phù về đến hậu đường, cười nói với hai sư đệ: “Tiểu sư thúc, may mà có thúc tới, họ mới vui mừng như thế. Thúc không biết đấy thôi, hôm nay bọn họ đều rầu rĩ”. Kim Trục Lưu tỏ vẻ ngạc nhiên: “Vậy hai người thật không phải, hôm nay là ngày vui của sư huynh sư tỷ, sao các người lại rầu rĩ không vui?”. Cẩn Tú Phượng cười đáp: “Tiểu sư thúc, người không biết đấy thôi, vì sư huynh sư tỷ thành thân mà họ đều nôn nóng, không biết khi nào mới đến lượt họ”. Lý Quang Hạ và Lâm Đạo Hiên đều đỏ mặt cãi: “Tiểu sư thúc, người đừng nghe sư tẩu và sư tỷ nói bừa”.
Giang Hiểu Phù nói: “Sao lại nói bừa? Các người có dám nói là không nhớ đến ý trung nhân hay không?” Kim Trục Lưu cười: “Ô, bọn họ tuổi nhỏ như thế mà đã có ý trung nhân rồi sao?” Giang Hiểu Phù cười rằng: “Đâu còn nhỏ nữa, bọn họ một đứa mười chín tuổi, một đứa mười tám tuổi. Ý trung nhân của Lý sư đệ là con gái của đại võ học tôn sư Trúc Thượng Phụ, ý trung nhân của Lâm sư đệ là con gái của Thượng Quan Thái, sơn chủ của núi Thiên Thụ. Sư phụ vốn có ý hôm nay bàn chuyện hôn nhân cho bọn họ, nhưng đáng tiếc hai nhà này đến giờ vẫn chưa thay đến”.
Cẩn Tú Phượng giải thích tiếp: “Hai vị lão tiền bối Trúc Thượng Phụ và Thượng Quan Thái có mối giao tình rất sâu đậm với sư phụ, họ đã được phát thiệp từ tháng hai, theo lẽ cha con nhà họ hôm nay đã đến, sư phụ chuẩn bị chờ họ đến thì nói chuyện hôn nhân cho hai sư đệ Lâm, Lý. Bọn họ không nói nhưng trong lòng đang rất nôn nóng!” Lý Quang Hạ và Lâm Đạo Hiên bị nàng nói trúng tim đen cho nên đều đỏ mặt, chẳng nói chẳng rằng.
Giang Hiểu Phù nhìn sắc trời, cười ràng: “Trời đã sắp tối, hôm nay có thể họ sẽ không đến. Song các đệ cũng đừng nên lo lắng, trễ một hai ngày cũng là chuyện thường. Ngày mai họ chắc chắn sẽ tới”. Hai người, Lâm, Lý đều nghĩ bụng: “Họ đã nhận được thiệp mời từ lâu, lẽ nào lại đến muộn như thế này?”. Cẩn Tú Phượng nói: “Các đệ đừng lo, sư phụ tuy chưa nói chuyện hôn nhân của hai đệ, nhưng nhân duyên đã định từ lâu. Trúc Thanh Hoa sánh cùng Lý sư đệ, Thượng Quan Hoàn sánh cùng Lâm sư đệ, trưởng bối hai nhà cũng đã đồng ý. Chuyện định thân chẳng qua là nghi thức mà thôi. Nếu các đệ nóng lòng, để ta ra xem thử”.
Nói chưa xong thì thấy Diệp Mộ Hoa bước vào. Cẩn Tú Phượng hỏi: “Sao, khách quý đã đến chưa?”. Diệp Mộ Hoa chậm rãi nói: “Thượng Quan tiền bối đã tới” Cẩn Tú Phượng cả mừng: “Lâm sư đệ, đệ có nghe chưa? Sao còn chưa mau ra đón nhạc phụ của đệ?” Nhưng Diệp Mộ Hoa thì không hề có vẻ gì mừng rỡ, Cẩn Tú Phượng giật mình: “Sao, chỉ có một mình Thượng Quan tiền bối đến ư?” Giang Hiểu Phù cười nói: “Cha con nhà họ Trúc tới chưa? Chắc là Thượng Quan Hoàn đi theo Thượng Quan tiền bối phải không?” Diệp Mộ Hoa đáp: “Không, Thượng Quan Hoàn không tới, chỉ có Thượng Quan tiền bối tới nhưng ông ta...”. Lâm Đạo Hiên vội vàng hỏi: “Ông ta thế nào?” Diệp Mộ Hoa đột nhiên suỵt một tiếng rồi nói: “Sư phụ cùng Thượng Quan tiền bối sắp đến. Đệ không cần đi ra, đến khi gặp ông ta thì sẽ hiểu ngay”.
Chủ nhân cùng một người khách vào hậu đường là chuyện hiếm có. Tuy con gái của Thượng Quan Thái sắp đính thân với đồ đệ của Giang Hải Thiên, với mối quan hệ giữa hai nhà thì Thượng Quan Thái có thể vào hậu đường. Nhưng bên ngoài còn rất nhiều bằng hữu võ lâm, Thượng Quan Thái vừa tới, không kịp nói chuyện với bằng hữu thì đã cùng Giang Hải Thiên bước vào đây, chuyện này rất trái lẽ thường. Lâm Đạo Hiên chợt nhận ra có điều gì không hay, nhưng Thượng Quan Thái cũng đã bước vào. Mặt Thượng Quan Thái vàng võ, tựa như vừa mới bệnh một trận nhưng chưa khỏe hẳn. Lâm Đạo Hiên thất kinh, bước tới chào đón.
Giang Hải Thiên nói: “Đây là sư đệ của tôi, tên gọi Kim Trục Lưu, hai người vẫn chưa gặp nhau. Thôi được, bây giờ đã là người một nhà, Thượng Quan tiền bối, ông có thể nói được rồi. Nhưng ông có cần nghỉ trước không?” Lâm Đạo Hiên lúc này mới biết Thượng Quan Thái có chuyện gì gấp gáp muốn nói với sư phụ của mình, nhưng không muốn nói trước mắt nhiều người cho nên mới cùng đi vào hậu đường.
Thượng Quan Thái cười khổ: “Tôi không sao cả. Tôi bị thương không nặng, chẳng qua vì nhiều ngày lên đường cho nên mới hơi mệt nhọc một chút”. Lâm Đạo Hiên kinh hoảng: “Thượng Quan lão bá, ai dám đả thương người?” Thượng Quan Thái đáp: “Sau này ta sẽ nói chuyện này, bây giờ ta sẽ kể chuyện Trúc đại ca”.
Giang Hải Thiên nói: “Đúng thế, Trúc lão tiền bối có chuyện gì mà không thể đến?”
Thượng Quan Thái thở dài: “Đời có sóng gió khó lường, người có phước họa khó hay, Trúc đại ca, ông ta... ông ta đã gặp chuyện bất trắc!” Dứt lời cả Giang Hải Thiên cũng không khỏi cả kinh!
Giang Hải Thiên vội vàng hỏi: “Trúc lão tiền bối đã gặp chuyện gì bất trắc?” Thượng Quan Thái đáp: “Bị người ám toán nên đã trọng thương!” Giang Hải Thiên nghe nói Trúc Thượng Phụ vẫn còn sống, ban đầu thì cảm thấy nhẹ nhõm nhưng vẫn còn kinh hãi”.
Trúc Thượng Phụ là một bậc tôn sư võ học đương thế, cả võ lâm đều công nhận ông ta chỉ kém Giang Hải Thiên, dù ám toán cũng không để bị thương.
Giang Hải Thiên hỏi: “Người đó là ai, dùng thủ đoạn gì?”. Giang Hải Thiên còn tưởng rằng kẻ ấy là ma đầu nổi tiếng trong võ lâm, nào ngờ Thượng Quan Thái nói ra thì ông ta mới cảm thấy ngoài dự liệu của mình.
Thượng Quan Thái nói: “Sau khi Trúc đại ca chiếm Tây Xương, hào kiệt bốn phương theo ông ta rất nhiều, ngày nọ có một hán tử tự xưng là người ở Lương Châu, tên gọi Soái Mạnh Hùng, tuổi khoảng hơn bốn mươi. Giang đại hiệp, ông đã từng nghe cái tên này chưa?” Giang Hải Thiên nhíu mày, đáp: “Chưa bao giờ nghe qua. Trúc lão tiền bối bị y đánh bị thương ư?”.
Thượng Quan Thái gật đầu: “Người này và Trúc đại ca đàm luận võ công rất tương đắc. Nhưng y không tham gia nghĩa quân, chỉ qua lại với Trúc đại ca như bằng hữu, hình như cứ mỗi tháng thì đến một lần”. Giang Hải Thiên nghĩ bụng: “Trúc Thượng Phụ cũng quá sơ ý, làm sao có thể để cho một người lai lịch không rõ vào trong quân được?”.
Thượng Quan Thái nói tiếp: “Trúc đại ca và y qua lại gần hai năm, chưa bao giờ nghi ngờ y. Người này giả vờ như một ẩn sĩ ưa thích võ học, hễ đến là bàn chuyện võ học với Trúc đại ca, chưa bao giờ nói đến chuyện khác. Trúc đại ca cũng rất coi trọng y, chính vì họ qua lại hai năm mà chẳng xảy ra chuyện gì cho nên Trúc đại ca mới bị y ám toán mà chẳng hề phòng bị”. Giang Hải Thiên hỏi: “Y đã ám toán Trúc lão tiền bối như thế nào?”.
Thượng Quan Thái nói: “Ngày xảy ra chuyện, cha con chúng tôi đang ở Tây Xương. Hôm đó cũng chính là ngày nhận được thiệp mời của ông. Trúc đại ca và Soái Mạnh Hùng đang đàm luận võ công, Soái Mạnh Hùng nói: ‘Ai cũng bảo võ công của Giang đại hiệp là thiên hạ đệ nhất, ông có giao thủ với họ chưa?’ Trúc đại ca đáp: ‘Không chính thức giao thủ nhưng cũng từng đọ chiêu. Lần đó tôi và phương trượng của chùa Thiếu Lâm là Đại Bi thiền sư tỉ thí nội công ở Mang Sơn, y tách chúng tôi ra, chưởng lực của hai người chúng tôi đều đánh lên người y, mà y vẫn chịu được. Từ đó có thể thấy, võ công của y cao hơn tôi một bậc’ Soái Mạnh Hùng chép miệng: ‘Ồ, thiên hạ có cao nhân như thế, đáng tiếc tôi không có duyên gặp ông ta?’ Trúc đại ca cười rằng: ‘Giang đại hiệp thâm tàng bất lộ, dù có gặp ông ta, ông ta cũng không tỉ thí võ công’ Soái Mạnh Hùng chợt nói: ‘Chúng ta đàm luận võ công đã lâu, nhưng chưa bao giờ ấn chứng thử xem, hôm nay chúng ta thử xem được không? Tôi không có quyền ấn chứng với đệ nhất cao thủ thì cũng xin được lĩnh giáo đệ nhị cao thủ’”.
Bằng hữu trong võ lâm trau dồi võ công với nhau gọi là “ấn chứng”, điều đó khác với tỉ thí bình thường: Tỉ thí là phải phân thắng thua, ấn chứng không nhất định phải phân thắng thua. Tỉ thí có mang ý đối địch, ấn chứng thì chỉ là bằng hữu trau dồi võ công với nhau mà thôi.
Cao thủ trong võ lâm không dễ dàng tỉ thí với người khác, cho nên chuyện ấn chứng võ công cũng hiếm có. Giang Hải Thiên nghĩ bụng: “Nếu Trúc Thượng Phụ không coi y là tri kỷ, quyết không ấn chứng võ công với y. Kẻ này mất hai năm mới gạt được Trúc Thượng Phụ, có thể thấy đã có mưu tính từ lâu”.
Quả nhiên Thượng Quan Thái nói tiếp: “Trúc đại ca không hề nghi ngờ, ngày hôm đó Trúc đại ca cũng đang rất vui vẻ, vì thế chấp nhận ngay. Hai người giao thủ trong sân, chiêu số của người ấy rất kỳ quái, tôi không nhận ra y thuộc môn phái nào. Giao thủ khoảng hơn ba mươi chiêu, Trúc đại ca sử dụng một chiêu âm dương song chàng quyền chặn Tiệt thủ pháp của y, cười rằng: ‘Tôi không dám nhận là thiên hạ đệ nhị cao thủ, nhưng cũng lớn hơn ông vài tuổi, công lực chỉ hơi cao hơn mà thôi’ Soái Mạnh Hùng nói: ‘Đúng thế tôi chịu cam bái hạ phong!’ Trúc đại ca cười ha hả, từ từ thu chưởng lực về, chậm rãi nói: ‘Chiêu số của ông rất tinh diệu, nhưng đáng tiếc biến hóa không đủ, nếu không tôi đã không phá giải được’. Ngay lúc ấy, Soái Mạnh Hùng nói: ‘Vậy chiêu này của tôi vẫn còn biến hóa nữa!’ Đột nhiên vỗ tới một chưởng, đẩy Trúc đại ca té nhào”.
Lý Quang Hạ ngạc nhiên nói: “Công lực của Trúc bá bá cao hơn y, sao lại bị y đánh ngã?”. Giang Hải Thiên nói: “Khi cao thủ có công lực tương đương nhau tỉ thí, cần phải thu nội lực về từ từ, nếu không sẽ tự làm bị thương mình. Có lẽ Trúc lão tiền bối vì nghe y bảo cam bái hạ phong nên mới không phòng bị. Còn gã này thì đột nhiên phát nội lực ra, trong lúc một thu một phát cũng giống như sóng sau đẩy sóng trước, nội công của kẻ ấy cộng với nội lực của Trúc lão tiền bối, đều đánh vào người Trúc lão tiền bối làm sao không khiến ông ta bị trọng thương?”.
Thượng Quan Thái gật đầu: “Chính là như thế, Trúc đại ca gầm một tiếng, quát: ‘Ngươi... ngươi hay lắm!’ rồi đứng đậy đánh một đòn Phách không chưởng, Soái Mạnh Hùng cười lạnh nói: ‘Ta đương nhiên là hay, còn ngươi thì không hay được nữa! Nếu ngươi muốn chết mau thì hãy cứ đánh tiếp với ta’”. Giang Hải Thiên chép miệng: “Trúc lão tiền bối đã quá nóng giận, lúc đó làm sao có thể vận nội lực được nữa? Chỉ e bị thương càng nặng thêm”.
Thượng Quan Thái đáp: “Giang đại hiệp đoán không sai tý nào, Trúc đại ca đánh thêm một chưởng, người lảo đảo rồi lại té xuống. Nhưng Soái Mạnh Hùng bị trúng một chưởng của ông ta cũng không khỏi loạng choạng, ta vội vàng chạy tới định bắt y. Hơi ơi, hổ thẹn, hổ thẹn...”. Công lực của Thượng Quan Thái kém Trúc Thượng Phụ một bậc, Giang Hải Thiên không cần hỏi cũng đã biết kết quả như thế nào, nên nói: “Thắng thua là chuyện thường tình của binh gia, cao thủ trong võ lâm không ai suốt đời không bại, không cần phải buồn bã”.
Thượng Quan Thái thở dài: “Tôi hổ thẹn là vì kẻ ấy đã bị trúng một chưởng của Trúc đại ca mà tôi không đấu lại y. Nhưng cũng may có Trúc đại ca phát ra một đòn Phách không chưởng làm suy giảm vài phần nội lực của y, tôi mới đến nỗi không bị trọng thương!”.
Giang Hải Thiên hỏi lại: “Ông đã giao thủ với y, có biết võ công của y thuộc môn phái nào không?”. Thượng Quan Thái đáp: “Khi hai chưởng giao nhau, tôi cảm thấy chưởng của y đỏ như một thỏi sắt nung, hình như còn lợi hại hơn cả Lôi thần chưởng của Âu Dương Bá, nhưng lại không biết y thuộc môn phái nào”.
Giang Hải Thiên nói: “Có thể dùng chưởng lực nhiệt độc để đả thương người khác, mà lại lợi hại hơn Lôi thần chưởng thì chỉ có võ công của lão ma đầu Xích Thần Tử. Xem ra có lẽ kẻ này là đệ tử của Xích Thần Tử”. Xích Thần Tử là yêu nhân tà phái cùng thời với Kim Thế Di, lớn tuổi hơn Kim Thế Di rất nhiều. Ba mươi năm trước y đã từng đến đỉnh Chu Mục Lang Ma tìm một loại thảo dược, chịu không nổi khí lạnh cho nên đã chết trên núi Hy Mã Lạp Sơn.
Giang Hải Thiên lại hỏi: “Tạm thời hãy khoan đoán y là ai. Thương thế của Trúc lão tiền bối thế nào rồi?”.
Thượng Quan Thái đáp: “Trúc đại ca bị thương rất nặng, may mà công lực của ông ta thâm hậu cho nên không đến nỗi mất mạng, nhưng chỉ có thể nằm trên giường chứ không thể đi lại được”. Lý Quang Hạ hỏi: “Tên họ Soái ấy tại sao lại đả thương Trúc bá bá, có biết được thân phận của y hay không?”.
Thượng Quan Thái đáp: “Lúc đầu chúng tôi không biết, nhưng vài ngày sau thì đã hiểu. Tên này có âm mưa đả thương Trúc đại ca chứ không phải là thù oán riêng tư”.
Giang Hải Thiên hỏi tiếp: “Sau đó còn xảy ra chuyện gì nữa?”.
Thượng Quan Thái đáp: “Ba ngày sau đó, quân Thanh tấn công ào ạt. Trúc đại ca nằm trên giường bệnh, lòng quân bị ảnh hưởng. Kết quả là Tây Xương đã bị quân Thanh đoạt lại, nghĩa quân của Trúc đại ca bị thương vong không ít, nay đã lui vào núi Đại Lương, e rằng không thể khôi phục trong khoảng thời gian ngắn”.
Giang Hải Thiên quan tâm: “Thượng Quan tiền bối, ông tuy không bị thương nhưng nhiều ngày bôn ba, chắc trong người đã rất mệt nhọc?”.
Giang Hải Thiên coi ông ta là người nhà cho nên mới hỏi thẳng như thế. Thượng Quan Thái cười khổ: “Giang đại hiệp nói đúng lắm, chưởng lực của gã này rất lợi hại, vì tôi muốn chạy đến đây báo tin, đã cố dùng nội công đẩy nhiệt độc ra ngoài, nhưng chất độc vẫn còn ngưng tụ ở đầu gối, vì nhiều ngày đi đường cho nên đầu gối đã bị tổn thương. Tuy nhiên cũng chẳng hề gì, quá lắm cũng chỉ là tàn phế mà thôi. Dù sao phải chữa trị nội thương cho Trúc đại ca nếu không ông ta sẽ bị tàn phế. Giang đại hiệp, ông có mối giao tình sâu sắc với phái Thiếu Lâm, Trúc đại ca và phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng đã tỷ võ ở Mang Sơn, ông có thể xin Đại Bi thiền sư ban viên tiểu linh đơn cho Trúc đại ca hay không?” Tiểu linh đơn là loại thánh dược trị nội thương, nếu có tiếng linh đơn phối hợp với nội công của Trúc Thượng Phụ thì chắc chắn mạng ông ta có thể cứu được. 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 20:04:50Hoàng Dung>
Giang Hải Thiên đáp: “Điều đó rất dễ, nhưng tôi e rằng phải tốn nhiều thời gian. Còn vết thương của ông thì không trầm trọng lắm, loại bích linh đơn của chúng tôi có thể trừ độc, nhưng phải có loại thuốc nội gân tiếp xương thì mới có thể trị khỏi cho ông, ông hãy ở đây chừng mười ngày nửa tháng, tôi sẽ nghĩ cách tìm cho ông”.
Thượng Quan Thái nhíu mày: “E rằng không thể ở đây được lâu, thương thế của tôi không nguy hiểm lắm, nhưng bệnh tình của Trúc đại ca sẽ có thay đổi”.
Giang Hải Thiên vội hỏi: “Vậy phải làm thế nào đây? Tôi đến chùa Thiếu Lâm rồi quay trở lại ít nhất cũng phải mười ngày nửa tháng”.
Kim Trục Lưu chợt cười rằng: “Sư huynh đừng lo đệ có mang theo hai loại thuốc này”. Thượng Quan Thái vui mừng ra mặt: “Ồ, thiếu hiệp có mang theo ư?” Lời lẽ của ông ta tựa như nửa tin nửa ngờ. Té ra ông ta thấy Kim Trục Lưu tuổi còn quá trẻ, cho nên chưa dám tin lời chàng.
im Trục Lưu mở một cái hộp ra rồi hỏi: “Cơ bá bá đã tặng cho tôi ba viên tiểu hoàn đơn này”. Thượng Quan Thái thất kinh, kêu lên: “Có phải người đó là Diệu Thủ Thần Thâu Cơ Hiểu Phong nổi tiếng thiên hạ vào ba mươi năm trước hay không?”
Giang Hải Thiên trả lời thay: “Chính là người này. Gia sư và Cơ lão tiền bối sống ở trên đảo Hỏa Sơn của Kiều Bắc Minh. Gia sư đã sai sư đệ về đây”. Thượng Quan Thái lúc này mới biết Kim Trục Lưu là con trai của Kim Thế Di, đương nhiên phải nhìn chàng bằng con mắt khác.
Kim Trục Lưu cười rằng: “Ba mười năm trước Cơ bá bá đã đến chùa Thiếu Lâm đánh cắp, nhưng không biết có còn dùng được hay không?” Thượng Quan Thái: “Tiểu hoàn đơn không bao giờ bị hỏng, dù một trăm năm cũng dùng được. Trúc đại ca tuy bị thương nặng nhưng có hai viên cũng đã đủ. Thiếu hiệp hãy giữ lại một viên”.
Kim Trục Lưu lấy ra một cái bình bằng ngọc, rồi nói: “Tôi vừa mới đánh cắp thứ này từ người Văn Đạo Trang bên trong có chứa tục đoạn cao. Cha tôi nói tục đoạn cao của nhà họ Văn có thể nối gân tiếp xương, công hiệu có thể hơn cả thiên niên tục đoạn”.
Thượng Quan Thái cảm kích: “Kim thiếu hiệp, đa tạ ơn tặng thuốc của thiếu hiệp, tôi không biết báo đáp thế nào mới phải”. Kim Trục Lưu cười: “Có gì đâu, dù sao cũng là thứ đánh cắp”. Thượng Quan Thái nói: “Được, nếu Kim thiếu hiệp đã rộng rãi như thế, tôi cũng không khách sáo, nếu Kim thiếu hiệp có dịp đến núi Đại Lương, tôi và Trúc đại ca sẽ tiếp đãi chu đáo”. Kim Trục Lưu bảo: “Có lẽ nửa năm sau tôi sẽ đến thăm Trúc lão tiền bối”. Trúc Thượng Phụ và Thượng Quan Thái đều là những nhân vật ân oán phân minh, nhất là Trúc Thượng Phụ, với thân phận của một bậc võ học tôn sư, ông ta không bao giờ chịu nhận ân huệ của người khác, cho nên về sau Kim Trục Lưu đã được ông ta giúp đỡ rất nhiều. 
Thượng Quan Thái đáp tạ Kim Trục Lưu, rồi nói với Giang Hải Thiên: “Giang đại hiệp, còn có một chuyện tôi muốn thương lượng với ông”. Giang Hải Thiên đã đoán được vài phần trả lời: “Hạ nhi, Hiên nhi, các con đến đây”.
Thượng Quan Thái: “Lẽ ra lần này tôi muốn dắt Hoàn nhi theo nhưng Trúc đại ca gặp nạn, nó phải ở lại bầu bạn với Thanh Hoa. Tôi đành phải đi một mình”. Giang Hải Thiên gật đầu: “Dù sao bọn chúng vẫn còn trẻ, đính thân muộn cũng chẳng sao”.
Thượng Quan Thái nói: “Trúc đại ca cũng rất nhớ Quang Hạ, ý của ông ta là muốn tôi dắt Quang Hạ và Đạo Hiên đi về cùng, sau đó bọn chúng sẽ thành thân ở Tây Xương, ông thấy thế nào?”.
Giang Hải Thiên đáp: “Tôi cũng muốn bọn chúng rèn luyện thêm trong nghĩa quân, như thế thì quá tốt”. Lý Quang Hạ và Lâm Đạo Hiên, một người nhớ Trúc Thanh Hoa, một người nhớ Thượng Quan Hoàn, nghe sư phụ chấp nhận thì trong lòng khấp khởi mừng thầm.
Cốc Trung Liên bảo: “Tiền bối là nhạc phụ của Hiên nhi, Trúc lão tiền bối là nhạc phụ của Hạ nhi, bọn chúng là phận con cái lẽ ra nên theo các vị. Nhưng vợ chồng chúng tôi đã dạy hai đứa học trò này nhiều năm, bọn chúng ra đi chúng tôi cũng hơi lưu luyến”.
Thượng Quan Thái cười ha hả: “Giang phu nhân, chúng tôi e rằng phải còn mượn thêm một học trò của bà nữa”. Giang Hải Thiên hỏi: “Đúng thế, chuyện thứ hai tiền bối muốn thương lượng với chúng tôi là gì?”.
Thượng Quan Thái ngừng cười, mặt lộ vẻ nặng nề: “Chuyện này là chuyện công, giữa Tây Xương và Tiểu Kim Xuyên tuy bị quân Thanh ngăn trở, nhưng vẫn có thể tiếp ứng lẫn nhau. Trúc đại ca bị thương Tây Xương lọt vào tay kẻ địch, Trúc đại ca phải trốn vào núi sâu, vì thế Tiểu Kim Xuyên cũng gặp nguy. Trước mắt chúng tôi cần một nhân tài biết hành quân dùng binh, thay Trúc đại ca chỉ huy tác chiến. Lãnh Thiết Tiêu ở Tiểu Kim Xuyên đã từng sai người tới, hy vọng chúng tôi có thể cho mượn một cánh quân để phá cục diện nguy ngập, họ còn đưa ra một người thích hợp nhất làm thống soái, Giang đại hiệp, chắc ông đoán được người đó là ai?”.
Giang Hải Thiên nói: “Ồ, té ra là các người định mượn Mộ Hoa”. Đại đệ tử DiệpMộ Hoa của Giang Hải Thiên ba năm trước đã từng là một đầu lĩnh của nghĩa quân, đã cùng tác chiến với Lãnh Thiết Tiêu, đầu lĩnh của nghĩa quân miền Tiểu Kim Xuyên, chính y đã giúp cho Trúc Thượng Phụ và Tiểu Kim Xuyên hợp tác đánh giặc, đương nhiên là người thích hợp nhất.
Thượng Quan.Thái gật đầu: “Đúng thế, chúng tôi có thể mượn Diệp thiếu hiệp không?” Giang Hải. Thiên hỏi: “Khi nào thì ông lên đường?” Thượng Quan Thái đáp: “Ngày mai”. Giang Hải Thiên nói: “Tiền bối từ xa đến đây lẽ ra phải ở thêm vài ngày nữa. Nhưng Trúc lão tiền bối đang đợi tiền bối, tôi cũng không tiện giữ lại. Mộ Hoa, Tú Phượng, trưa nay vợ chồng con hãy thu xếp, ngày mai sẽ cùng Thượng Quan lão tiền bối lên đường. Sau này con hãy thay ta chăm sóc cho hai sư đệ của con”. Vợ chồng Diệp Mộ Hoa vâng một tiếng rồi lập tức lui.
Giang Hải Thiên nói: “Tiểu nữ lần này xuất giá, khách ở các nơi đến rất nhiều, e rằng tôi phải bận thêm vài ngày nữa, ngày mai không thể đi cùng các người”. Thượng Quan Thái cười rằng: “Giang đại hiệp đã chịu cho tôi mượn ba học trò, tôi cũng đã cảm kích không nguôi”. Giang Hải Thiên nói: “Trúc lão tiền bối đã bị thương, lẽ ra tôi phải đến thăm ông ta, cuối năm nay tôi sẽ đến núi Đại Lương”.
Kế hoạch của Giang Hải Thiên là ăn tết ở chỗ Trúc Thượng Phụ, sau đó lên thẳng Bắc Kinh, gặp nhân vật bí hiểm trong ngày lễ Nguyên Tiêu.
Giang Hải Thiên và Thượng Quan Thái hẹn ngày gặp lại rồi bảo Lâm Đạo Hiên dẫn Thương Quan Thái vào phòng nghỉ ngơi, Lý Quang Hạ cũng cáo lui. Giang Hải Thiên giữ Kim Trục Lưu lại, hỏi: “Sư đệ, đệ có tính toán gì?” Kim Trục Lưu đáp: “Đệ cũng muốn đi lại trên giang hồ, thăm hỏi vài người bằng hữu của cha”. Giang Hải Thiên nói: “Được, ta rất yên tâm bản lĩnh của đệ, nhưng đệ không được bức hiếp người khác”. Kim Trục Lưu đã kính nể ông ta mấy phần cho nên dạ liền: “Tiểu đệ sẽ nhớ lời dạy của sư huynh”. Giang Hải Thiên hỏi: “Khi nào đệ lên đường?” Kim Trục Lưu đáp: “Đệ muốn đi cùng Tần Nguyên Hạo, có lẽ ngày mai sẽ ra đi”.
Giang Hải Thiên ngạc nhiên: “Sao đệ lại gấp gáp đến thế? Ở đây có rất nhiều bằng hữu trên giang hồ, ta muốn đệ làm quen với họ”. Kim Trục Lưu không dám kể chuyện riêng của Tần Nguyên Hạo cho sư huynh nghe, lòng nhủ thầm: “Phong Tử Siêu có lẽ không đến nỗi đánh chết con gái của mình, chỉ muộn một ngày cũng không [font="times new roman"]” vì thế đáp ngay: “Được, đệ sẽ nói lại với Nguyên Hạo”.
Giang Hải Thiên hỏi thêm: “Khoan đã, còn một chuyện ta muốn hỏi đệ. Sư phụ bảo ta đêm Nguyên Tiêu sang năm đến Tây Sơn gặp một nhân vật bí hiểm, đệ có biết chuyện này không?” Kim Trục Lưu đáp: “Cha không nói chuyện này”.
Giang Hải Thiên nói: “Nguyên Tiêu sang năm nếu đệ quay trở về chúng ta có thể cùng gặp nhau ở Tây Sơn”. Ông ta cho rằng để cho sư đệ gặp người bí hiểm ấy cũng chẳng sao cho nên đã hẹn ngày gặp lại. Kim Trục Lưu lại ưa chỗ đông vui, bèn thầm nhủ: “Không biết cha bảo sư huynh đi gặp ai, cả mình mà cũng không biết”. Thế rồi chàng ta cũng gật đầu.
Đêm ấy Kim Trục Lưu và Tần Nguyên Hạo ở cùng một phòng, nói cho Tần Nguyên Hạo biết phải ở lại thêm một ngày. Tần Nguyên Hạo lần này đại diện cho sư phụ đến nhà họ Giang chúc mừng, ý của sư phụ là muốn chàng mượn cơ hội này kết giao thêm bạn bè, huống chi người ta đã giữ mình lại, cho nên tuy nhớ Phong Diệu Thường nhưng chàng cũng vâng lời.
Tục đoạn cao quả nhiên rất có hiệu quả, hôm sau thì đầu gối Thượng Quan Thái đã lành hẳn, chất độc cũng đã tan mất. Ông ta dắt vợ chồng Diệp Mộ Hoa cùng Lý Quang Hạ, Lâm Dạo Hiên lên đường. Bọn Trọng Trường Thống, Nhất Dương Tử cũng cáo từ Giang Hải Thiên.
Đến ngày thứ ba thì Kim Trục Lưu và Tần Nguyên Hạo cũng ra đi, họ gấp gáp lên đường cho nên đến tối đã đến núi Tồ Lai. Tần Nguyên Hạo dặn: “Huynh âm thầm đến nhà họ Phong xem thử, đệ chỉ muốn biết tình hình của Phong cô nương như thế nào”.
Kim Trục Lưu cười bảo: “Không được, không được, người ta đang chờ huynh, sao huynh lại không gặp người ta?” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt: “Tôi vô duyên vô cớ chạy đến đó sao được”.
Kim Trục Lưu bật cười: “Thôi được, nếu huynh không dám đi, tôi sẽ giúp huynh hẹn với Phong cô nương, nhưng nam tử hán đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, huynh sợ cái gì?” Tần Nguyên Hạo nói: ‘Tôi ăn nói thế nào với Phong Tử Siêu?”.
Kim Trục Lưu nói: “Hoàn toàn nhờ huynh Phong Tử Siêu mới không bị bẽ mặt cùng với Văn Đạo Trang. Nếu y còn có lương tâm, lẽ ra phải tạ ơn huynh mới phải, sao huynh lại sợ y? Thôi được, huynh tìm không được cớ chứ gì? Huynh cứ đi theo tôi, tôi sẽ nói hộ cho huynh!”.
Tần Nguyên Hạo do dự: “Thế này...”. Kim Trục Lưu tính tình hào sảng còn chàng thì hơi câu nệ. Đang định hỏi: “Như thế không được sao?” Kim Trục Lưu đã không để chàng nói tiếp, kéo chàng đến trước nhà họ Phong, lớn giọng: “Bằng hữu của tôi đã uống rượu hoa quế ở đây, y rất thích thú, nay tôi cũng muốn xin một chén. Chủ nhân đã tiếp Tần Nguyên Hạo, có lẽ không đến nỗi từ chối chúng tôi?”.
Kim Trục Lưu dùng công phu Truyền âm nhập mật, nếu nhà họ Phong có người, [font="times new roman"]chắc chắn sẽ nghe được. Nhưng bên trong chẳng có phản ửng gì.
Kim Trục Lưu cười ha hả, tiếp: “Các người có tiếp cũng được, không tiếp cũng được, ta đã tới đây, chắc chắn phải uống cho bằng được? Các người không mở cửa, ta không tự biết vào ư?”. Tần Nguyên Hạo định can: “Không được”. Chưa kịp nói thì đã thay người nhẹ hẫng, thì ra đã bị Kim Trục Lưu kéo nhảy vượt qua bức tường.
Kim Trục Lưu vốn nghĩ sẽ có người đánh lén mình, nhưng thật bất ngờ, vào nhà họ Phong chẳng thấy bóng người. Kim Trục Lưu lắng tai nghe nhưng chẳng có tăm hơi gì. Đến khi nhìn kỹ lại thì thấy trong sân có dấu chân loạn xạ.
Kim Trục Lưu nhíu mày, thắc mắc: “Xem tình hình này, có lẽ họ đã đi từ lâu. Song chúng ta đã đến, cũng nên vào xem thử”.
Họ đi vào trong phòng, lục lọi phòng khách của cha con họ Văn và phòng của Phong Tử Siêu, nhưng cũng không thay một ai. Kim Trục Lưu tìm được một bình rượu hoa quế, đưa lên mũi ngửi cười cười: “Đây đúng là rượu hoa quế”. Rồi chàng ta uống một hớp, sau đó lại tìm một cái hồ lô, rót đầy rồi mang theo, vẫn cười: “Cơ bá bá bảo quy củ của nghề ăn trộm là vào nhà người ta thì không thể trở ra tay không”.
Ra đến đình viện ở phía sau, Tần Nguyên Hạo kêu bật ồ một tiếng: “Mấy cây gậy tre này cắm ở đây làm gì?” Té ra ở giữa có một cây trẻ bị xẻ đôi. Mặt đất được lót đá, có thể cắm những cây tre này xuống, chắc chắn người đó phải là một nội gia. Kim Trục Lưu cười bảo: “Té ra Trọng bang chủ đã đến, người Cái Bang cắm gậy tre cũng có nghĩa là để đao cảnh cáo. Nhưng chỉ có bang chủ mới có tư cách đóngchín cây gậy tre”. Kim Trục Lưu tuy trở về Trung Nguyên không bao lâu, nhưng Cơ Hiểu Phong thường dạy cho chàng các quy củ giang hồ, cho nên hiểu biết hơn TầnNguyên Hạo nhiều.
Tần Nguyên Hạo thất kinh: “Ồ, đây có nghĩa là để đao cảnh cáo? Vậy Trọng bang chủ chắc là đã biết Phong Tử Siêu là ai? Nhưng cây gậy tre ở giữa thì bị xẻ đôiđó là ý gì?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Có người khiêu chiến ông ta”. Tần Nguyên Hạo hỏi lại: “Văn Đạo Trang chẳng phải đã bị thương rồi sao? Phong Tử Siêu làm sao có gan thế sao?” Kim Trục Lưu lưỡng lự: “E rằng có người khác, không nhất định là hai người Phong, Văn”.
Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Không biết Phong Tử Siêu sợ Trọng Trường Thống mà bỏ chạy hay không dám về nhà. Ở ngoài sân có nhiều dấu chân, chắc là không chỉ có một người đến đây”.
Tần Nguyên Hạo nói: “Bọn chúng đều đã chạy cả, chúng ta hãy ra xem”. Kim Trục Lưu mỉm cười: “Đừng vội, chúng ta vào phòng Phong cô nương xem thử”. Phòng ngủ Phong Diệu Thường là căn phòng nằm cuối cùng gần hoa viên, Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, xuống giọng: “Kim huynh nói đùa hoài”. Kim Trục Lưu nghiêm mặt: “Không phải nói đùa với huynh, không chừng nàng ta có để lại vật gì cho huynh”. Tần [font="times new roman"]Nguyên Hạo chỉ đành bước theo.

[/align]Chính là: Hoa đào theo nước trôi đi mãi, gấp gáp về nhưng chẳng gặp người.

[/align]Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 7sẽ rõ[/font][/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 20:31:44Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
 

Hồi Thứ Bảy
Trướng gấm buông dài người chẳng thấy
Rượu quỳnh hiếm có khách trở về
[/align]Kim Trục Lưu đẩy cửa phòng, chỉ thấy màn gấm buông lơi, bàn ghế mờ bụi, Kim Trục Lưu cười bảo: “Nguyên Hạo huynh, nàng ta đã bỏ đi mấy ngày nay, cũng không để lại vật gì cho huynh, huynh có thất vọng không? Nhưng như thế cũng tốt, nàng không đi cùng Phong Tử Siêu, huynh đã yên tâm chưa?” Kim Trục Lưu thấy trên bàn ghế có bụi mờ cho nên đoán rằng Phong Diệu Thường đã bỏ đi mấy ngày. Bởi vì Phong Tử Siêu dẫu đã từng trở về nhà, nàng cũng không theo y.

[/align]Tần Nguyên Hạo hỏi: “Chúng ta còn vào làm gì nữa?” Đang hỏi, Kim Trục Lưu kéo chàng tiến vào phòng, chợt kề tai chàng nói: “Huynh hãy kéo thử bức màn” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt: “Sao lại làm thế?” Kim Trục Lưu đẩy chàng tiến đến phía trước, nói: “Ta bảo huynh mở thì cứ mở, đừng sợ!”.

[/align]Té ra Kim Trục Lưu nghe bên trong có tiếng thở nhè nhẹ, ở đây có hai khả năng, một là Phong Diệu Thường đã bị thương, nằm trên giường không thể cử động được, cũng không thể lên tiếng, hai là có một cao thủ nấp trong giường của nàng. Người có nội công thâm hậu có thể khống chế hơi thở, cho nên Tần Nguyên Hạo không thể phát giác, nhưng Kim Trục Lưu thì có thể nghe ra. Kim Trục Lưu không biết bên trong trướng có phải là Phong Diệu Thường hay không, chàng không muốn tự tiện vạch màn cho nên mới bảo Tần Nguyên Hạo ra tay.

[/align]Chàng ta không thể nào nói rõ điều này được, cho nên Tần Nguyên Hạo không hiểu ý, cứ nói lớn lên. Nói chưa dứt lời, bên trong có một người ngồi bật dậy, vạch màn tóm lấy Tần Nguyên Hạo rồi quát: “Té ra tên tiểu tử họ Tần nhà ngươi, ngươi đã giấu Phong cô nương ở đâu?”.

[/align]Tần Nguyên Hạo gặp kẻ địch đánh ra bất ngờ, tuy hoảng nhưng không loạn, quát lên: “Ngươi là ai?” Rồi đánh ra một chưởng, giật mạnh tay ra.

[/align]Không ngờ hai chưởng chạm nhau, chưởng của người ấy lạnh như băng, Tần Nguyên Hạo bất đồ rùng mình một cái. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu đã nhẹ nhàng lướt tới vỗ chưởng ra, xem ra như không dùng lực, nhưng trong đó đã chứa đựng rất nhiều biến hóa. Người ấy tuổi khoảng ba mươi, trông giống như một con bệnh, sắc mặt trắng bệch, không hề có biểu cảm, lạnh lùng nói: “Tên ăn mày nhà ngươi cũng nhiều chuyện thật, cho ngươi biết lợi hại của ta!” Y trông giống như người bệnh, nhưng nội lực thì không kém, có thể hóa giải được mấy phần kình đạo trong chưởng lực của Kim Trục Lưu.

[/align]Kim Trục Lưu lật bàn tay lại, nhả hết chưởng lực ra, người ấy trúng một chưởng, phun ra một ngụm máu, kêu lên: “Lợi hại thật!” Rồi không dám tiếp chưởng thứ hai của Kim Trục Lưu, nhảy vọt ra cửa sổ.

[/align]Nói ra thật kỳ lạ, trong khoảnh khắc người ấy phun máu, Kim Trục Lưu cũng bất đồ thối lui hai bước, chỉ đành mở to mắt nhìn người ấy bỏ chạy chức không ngăn cản kịp.

[/align]Tần Nguyên Hạo thất kinh, kêu lên: “Kim huynh huynh sao rồi?” Kim Trục Lưu cười ha hả: “Được ngươi đã biết lợi hại của ta, ta cũng để cho ngươi chạy, ngươi nên biết rằng, nếu ta đuổi theo ngươi, ngươi đừng hòng trốn thoát”.

[/align]Khi Kim Trục Lưu cười nói, trung khí rất sung mãn, đó là chàng muôn thị uy kẻ địch. Tần Nguyên Hạo nghe tiếng cười của chàng thì biết chàng không bị thương.

[/align]Kim Trục Lưu nói xong với người ấy thì quay đầu lại, mỉm cười với Tần Nguyên Hạo: “Ta không sao, ta chỉ lo lắng cho huynh. Sao thế, huynh rất lạnh phải không?”.

[/align]Tần Nguyên Hạo đáp: “Thật kỳ lạ, ta quả thật rất lạnh, nhưng đã đỡ hơn chút ít”.

[/align]Kim Trục Lưu nắm tay chàng, truyền nguồn nhiệt vào lòng bàn tay chàng rồi cười: “Người này luyện Huyền âm chỉ đã có sáu bảy phần hỏa hầu, Huyền âm chỉ là công phu của tà phái, biến hóa từ Tu la âm sát công, nhưng kém xa Âm sát công nhiều, chắc là kẻ ấy thấy Huyền âm chưởng dễ luyện cho nên mới học. Nếu y luyện thànhTu la âm sát công, có lẽ ta phải kiêng nể vài phần, nhưng Huyền âm chỉ thì làm gì được ta?”.

[/align]Tần Nguyên Hạo được Kim Trục Lưu dùng nội công thượng thừa tương trợ, trong chốc lát toàn thân đã ấm áp, chẳng còn thấy lạnh gì nữa. Kim Trục Lưu cười nói: “Huynh có thể thoát được một trảo của y mà không bị thương, công phu cũng đã không tệ”.

[/align]Tần Nguyên Hạo đáp: “Tôi đã từng nghe sư phụ nói hơn ba mươi năm trước, đại ma đầu Mạnh Thần Thông của tà phái đã từng dùng Tu la âm sát công xưng bá võ lâm, kẻ này biết Huyền âm chỉ chả lẽ là đồ tử đồ tôn của Mạnh Thần Thông?”.

[/align]Kim Trục Lưu nói: “Cũng chưa chắc. Tôi nghe cha tôi bảo, trừ ngoại tổ phụ của tôi, còn có một sư đệ họ Dương cũng luyện được Tu la âm sát công đến tầng thứ tám. Tu la âm sát công từ Thiên Trúc truyền vào, không chừng ở Thiên Trúc cũng có cao thủ truyền cho đệ tử người Hán”. Lúc này Tần Nguyên Hạo mới nhớ lại Cốc Chi Hoa, mẹ của Kim Trục Lưu là con gái của Mạnh Thần Thông, lòng nhủ thầm: “Chả trách nào y biết lai lịch của loại Huyền âm chỉ này”.

[/align]Kim Trục Lưu lại bảo: “Nhưng người này dẫu không phải là truyền nhân của ngoại tổ phụ tôi, sư phụ của y ắt hẳn là một cao thủ trong tà phái, ngoài Huyền âm chỉ, y còn biết Thiên ma giải thể đại pháp”. Loại Thiên ma giải thể đại pháp này sau khi ói máu, công lực sẽ tăng lên gấp hai lần. Thế mới biết Kim Trục Lưu lúc nãy tại sao đã đả thương kẻ địch mà trái lại bản thân thối lui mấy bước.

[/align]Kim Trục Lưu nghiêng tai lắng nghe, trong chốc lát nói nhỏ: “Trên núi có người đang đánh nhau,  chúng ta lên xem thử”.

[/align]Hai người đi về hướng có phát ra tiếng. Được một hồi chỉ nghe tiếng quát vang lên như sấm bên tai, Kim Trục Lưu cười nói: “Té ra Trọng bang chủ đang đánh nhau ở đây. Công phu của người này hơn người lúc nãy rất nhiều. Chắc là y đã chẻ cây tre của Trọng bang chủ”.

[/align]Khi đến gần, chỉ thấy người đang ác đấu với Trọng Trường Thống là một hán tử trung niên, chưởng lực của hai người cực kỳ cương mạnh, cát đá trong chu vi mấy trượng đều tung bay. Chưởng phong của người này nóng như lửa. Tần Nguyên Hạo có công lực hơi kém, bị chưởng phong táp vào thì mồ hôi chảy như mưa, vội vàng thối lui. Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Lôi thần chưởng của kẻ này không kém, nhưng Trọng bang chủ vẫn hơn y một bậc, không cần mình giúp đỡ”.

[/align]Khi hai cao thủ tỉ thí, mắt có thể thấy bốn hướng, tai có thể nghe tám phương. Hai người Kim, Tần vừa đến, Trọng Trường Thống và hán tử trung niên ấy đều phát giác. Nhưng Trọng Trường Thống vẫn không thèm để ý, vẫn quát tháo xông vào đối thủ. Hán tử trung niên thì không khỏi giật mình, nhủ thầm: “Tên ăn mày này không sợ chưởng phong của mình, có lẽ nội công cũng không kém. Nghe nói Văn Đạo Trang đã từng thua một kẻ ăn mày ở nhà họ Giang, không biết có phải là kẻ này hay không?” Hán tử ấy sợ Kim Trục Lưu đến giúp Trọng Trường Thống, cho nên liều mạng tấn công gấp tới.

[/align]Đang lúc kịch chiến chợt nghe một tiếng hú dài từ xa dần vọng tới, tiếng hú rất gần, vả lại âm đuôi rất nhỏ, người có võ công cao cường vừa nghe thì đã biết kẻ ấy đã bị nội thương.

[/align]Kim Trục Lưu thầm cười: “Ai bảo ngươi dùng Thiên ma giải thể đại pháp, không làm gì được ta, trái lại tự làm tổn thương mình”. Kim Trục Lưu đã nghe được người phát ra tiếng hú chính là kẻ lúc nãy, đoán rằng y là đồng bọn của hán tử này, cho nên sau khi bị thương thì gọi đồng bọn cùng chạy trốn.

[/align]Hán tử ấy nghe tiếng hú thì không khỏi thất kinh, nghĩ bụng: “Mâu lão tam không biết có phải bị tên ăn mày này đánh bị thương không? Ôi! Nếu biết sớm như thế, mình không nên để y ở lại nhà họ Phong. Mình tưởng có thể thắng được lão ăn mày già, nào ngờ gặp phải đối thủ, đến muốn thoát thân cũng khó”. Thế rồi liều mạng, liên tục đánh ra những chiêu tấn công hiểm hóc, ý đồ muốn tìm thắng trong bại. Trong chốc lát, hán tử ấy đã đổ mồ hôi đầm đìa. Còn Trọng Trường Thống vẫn ý định thần nhàn, ung dung đối phó. Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Công lực của hán tử này không bằng Trọng bang chủ, cứ kéo dài rốt cuộc sẽ thua to”.

[/align]Chàng nghĩ chưa dứt, chợt nghe Trọng Trường Thống quát lớn một tiếng như sấm dậy, hai tay vung lên đánh bật hán tử ấy lảo đảo thối lui đến sáu bảy bước. Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Trọng bang chủ chỉ cần đánh thêm một chưởng nữa thì kẻ này sẽ bị thương. Ồ, có hội tốt như thế, tại sao ông ta lại bỏ qua?” Té ra Trong Trường Thống [font="times new roman"]không thừa cơ đuổi theo mà thu tay lại.

[/align]Hán tử cũng cảm thấy bất ngờ, mở to mắt nhìn Trọng Trường Thống. Trọng Trường Thống lạnh lùng buông lời: “Âu Dương Kiên, Lôi thần chưởng của ngươi có thể bì kịp với cha của ngươi năm xưa, nhưng muốn đả thương ăn mày già này thì e rằng vẫn chưa thể”. Té ra kẻ này là con trai của Âu Dương Bá Hòa, ba năm trước Âu Dương Bá Hòa đã từng bại trong tay Trọng Trường Thống, đã bị Trọng Trường Thống phế võ công. Âu Dương Kiên thở phì phò, đáp: “Đúng thế, ta tưởng có thể thắng được ngươi, giờ đây đã biết không bằng ngươi, nhưng ta đang tuổi tráng niên, ngươi đã già, rốt cuộc có một ngày ta sẽ đánh bại ngươi. Lúc đó ta không giết ngươi nhưng sẽ phế võ công của ngươi, nếu ngươi sợ ta đến trả thù, chi bằng hôm nay ngươi cứ giết quách ta cho xong!”.

[/align]Trọng Trường Thống cười ha hả: “Ngươi muốn đánh bại ta ít nhất cũng phải mười năm nữa. Nhưng lúc đó không chừng lão ăn mày già này đã ‘quy vị’. Ngươi có được hào khí như thế vẫn còn khá hơn cha ngươi. Ta đã phế võ công của cha ngươi, nay không muốn phế võ công của ngươi nữa. Ta sẽ cho ngươi biết rằng, lão ăn mày già này tùy người mà đối xử, không phải đuổi tận giết tuyệt. Thôi được, ngươi hãy đi đi!”.

[/align]Âu Dương Kiên nói: “Được, hôm nay ngươi đã thả ta, ngày sau ta trả thù, ngươi đừng hối hận”. Trọng Trường Thống cười ha hả: “Ăn mày già này chưa bao giờ hối hận chuyện gì cả?” Âu Dương Kiên thầm mừng, nhưng vẫn không để lộ ra ngoài mặt, thản nhiên: “Mong mười năm sau ngươi vẫn còn sống, nếu không ta sẽ thất vọng lắm”. Thế rồi quay đầu đi.

[/align]Số là Âu Dương Kiên đã biết tính tình Trọng Trường Thống, bại trong tay ông ta nhưng không thèm cầu xin, do đó cứ tỏ ra là một người cứng cởi. Y không thèm nhận ơn của Trọng Trường Thống mà miệng cứ bô bô đòi trả thù, quả nhiên Trọng Trường Thống đã tha cho y.

[/align]Âu Dương Kiên bỏ đi, Kim Trục Lưu và Tần Nguyên Hạo bước tới gặp Trọng Trường Thống, Trọng Trường Thống hỏi: “Ăn mày con nhà ngươi muốn cùng Nguyên Hạo đến nhà họ Phong ư?”. Kim Trục Lưu đáp: “Đúng thế. Tôi còn thấy chín cây gậy tre của ngài cắm trong sân”.

[/align]Trọng Trường Thống hừ một tiếng: “Có phải các người đến tìm cô nương nhà họ Phong không? Có gặp chưa?” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, Kim Trục Lưu cười đáp: “Không gặp, nhưng đã gặp một hán tử sử dụng Huyền âm chỉ trong phòng của cô ta, không biết đó là ai?”.

[/align]Trọng Trường Thống nói: “Y là đệ tử của Dương Hạo, tên gọi Cung Bình Dã, là nhân vật thứ hai trong tà phái. Dương Hạo là con trai của Dương Xích Phù. Dương Xích Phù là đồ đệ của Mạnh Thần Thông, y còn sống đã luyện Tu la âm sát công đến tầng thứ tám. Ta cũng không biết tại sao y lại cùng Âu Dương Kiên đến nhà họ [font="times new roman"]Phong, nhưng Âu Dương Kiên coi như cũng có chút gan dạ, y thách ta quyết đấu, không cần Cung Bình Đã giúp đỡ. Nếu hai người bọn chúng vây đánh một mình ta, ta tuy không đến nỗi bại nhưng cũng khó thắng. Tuy làm nhiều chuyện ác, vả lại cũng là người cứng cỏi cho nên ta mới tha cho y”.

[/align]Kim Trục Lưu cười nói: “Té ra là thế, nếu vậy tên họ Cung cũng có chút quan hệ với tôi. Tôi chỉ cảnh cáo y mà không giết, coi như cũng đã làm đúng”. Bèn kể lại chuyện lúc nãy cho Trọng Trường Thống nghe.

[/align]Trọng Trường Thống nói: “Tính tình ăn mày con nhà ngươi cũng giống ăn mày già ta đây, cứ thích lo chuyện bao đồng. Chúng ta đều như nhau cả, ngươi có đúng cũng được không đúng cũng được, ăn mày già không quản ngươi. Nhưng Tần Nguyên Hạo đã làm không đúng, ăn mày già phải quản ngươi. Tần Nguyên Hạo, ngươi đã làm sai chuyện gì ngươi có biết không?” Tần Nguyên Hạo là người trong cứng ngoài mềm, chàng đã biết Trọng Trường Thống muốn trách mình chuyện gì, nhưng chàng vẫn không phục, trả lời cứng rằng: “Vãn bối không biết sai ở đâu cả, mong lão tiền bối chỉ dạy”.
Trọng Trường Thống nghiêm mặt: “Phong Tử Siêu là tên bại hoại võ lâm đã từng làm vệ sĩ đại nội, lão ăn mày đã điều tra tung tích của y. Hừ, thiên hạ có bao nhiêu cô gái tốt, tại sao ngươi cứ phải tìm con gái của Phong Tử Siêu?” Tần Nguyên Hạo đỏ mặt, cãi: “Đệ tử và Phong cô nương chẳng có gì cả, chỉ là lo lắng cho cảnh ngộ của cô ta, vả lại đi ngang đường thuận tiện ghé thăm mà thôi”. Trọng Trường Thống nửa tin nửa ngờ: “Ngươi thật sự không có tư tình với ả?”.

[/align]Kim Trục Lưu đáp: “Lão ăn mày, ông quản chuyện này là không đúng rồi đấy”. Trọng Trường Thống trợn mắt: “Ta không nói ngươi, ngươi lại trách ta. Được thôi, ngươi nói thử xem tại sao ta không nên quản?”.

[/align]Kim Trục Lưu hỏi: “Ông đã biết lai lịch của Phong Tử Siêu, nhưng ông đã tra xét lai lịch của con gái y chưa?”.
Trọng Trường Thống đáp: “Ngươi hỏi câu này thật vô lý”.

[/align]Kim Trục Lưu hỏi lại: “Tại sao là vô lý?” Trọng Trường Thống đáp: “Một ả nha đầu thì có gì mà điều tra?” Kim Trục Lưu nói: “Ông mới đúng là vô lý, tuổi còn trẻ thì cần gì phải điều tra? Người ta chỉ là một thiếu nữ, chuyện gì cũng phải nghe lời cha. Ông biết nàng là người tốt hay kẻ xấu? Tại sao không chịu điều tra mà đã bảo Tần Nguyên Hạo không đúng?”.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 21:02:25Hoàng Dung>
Trọng Trường Thống lúng túng: “Miệng mồm ngươi cũng sắc bén lắm, còn lợi hại hơn cha ngươi nhiều. Được, coi như ta đã nói sai. Nhưng chẳng qua ngươi mới tới Trung Nguyên, chả lẽ ngươi biết được điều gì về ả?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Tuy không biết rõ nhưng cũng biết đại khái. Thứ nhất, tôi biết nàng ta tâm địa thiện lương, khác hẳn với người cha của nàng. Cha của nàng dùng thiên nhật túy chuốc say Tần Nguyên Hạo, nàng đã biết nên rất áy náy, còn lấy thuốc giải cho Tần Nguyên Hạo. Thứ hai, nàng đã cùng Tần Nguyên Hạo đánh đuổi hai tên vệ sĩ đại nội, hai tên này là đồng sự cũ của Phong Tử Siêu, ta và Tần Nguyên Hạo vì thế mới sợ nàng bị Phong Tử Siêu trách mắng nên mới tìm đến nàng. Chính tôi đã lôi Nguyên Hạo đến nhà họ Phong, ông không nên trách y”. Trọng Trường Thống nghe Kim Trục Lưu nói như thế thì áy náy mỉm cười: “Nói như thế, ăn mày già này đã không đúng?”.
Kim Trục Lưu nói: “Vốn là ông đã sai, cha là cha, con là con, sao lại nói gộp chung với nhau?”.
Trọng Trường Thống là người phóng khoáng, lúc này đã đuối lý, cho nên mau mắn nhận sai. Cười rằng: “Ngươi nói cũng đúng, cha là cha, con là con. Ngoại tổ phụ Mạnh Thần Thông của ngươi năm xưa là thiên hạ đệ nhất ma đầu, mẹ của ngươi là nữ hiệp được mọi người kính phục. Ăn mày già thật lẩm cẩm, sao lại quên cả chuyện này. Hôn sự của cha mẹ ngươi cũng do ăn mày già này kết hợp!” Nói xong thì quay đầu lại an ủi Tần Nguyên Hạo: “Thôi được, coi như ta đã trách nhầm. Sau này ngươi và Phong cô nương có như thế nào ta cũng không quản nữa!” Nói xong thì cười ha hả. Cười xong Trọng Trường Thống lại hỏi: “Nguyên Hạo, ngươi định về Võ Đang hay tiếp tục tìm Phong cô nương của người?”.
Tần Nguyên Hạo đỏ ửng mặt, đáp: “Vãn bối và Phong cô nương chẳng có mối quan hệ gì cả, lão tiền bối đừng hiểu nhầm. Nay vãn bối biết nàng đã ra đi một mình nên cũng yên lòng hơn”.
Trọng Trường Thống gật gù: “Ờ, ngươi bảo chẳng liên quan, nhưng ngươi lại đem lòng nhớ người chẳng liên quan! Song, ngươi hãy yên tâm, ta sẽ không nói cho sư phụ của ngươi nghe đâu. Vậy ngươi sắp về Võ Đang?”.
Tần Nguyên Hạo đáp: “Vâng. Đệ tử định về Võ Đang báo lại cho sư phụ rồi sau đó lại tiếp tục hành tẩu giang hồ”.
Trọng Trường Thống nói: “Được, ta định đến chỗ sư phụ của ngươi, ngươi có thể đi cùng ta ăn mày con, còn ngươi?”.
Kim Trục Lưu nói: “Ăn mày con này sợ làm phiền ăn mày già, xin thứ tôi không thể đi cùng các người”.
Trọng Trường Thống cười ha hả: “Đúng thế, ngươi vừa trở về cũng nên một mình hành tẩu giang hồ để gây dựng tên tuổi”.
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Tôi không muốn gây dựng tên tuổi. Song nếu đi một mình ăn cắp đồ thì tiện lợi hơn nhiều, ít nhất không bị ai ngăn cản cả”.
Trọng Trường Thống cả cười: “Tính cách của ngươi hoàn toàn giống cha ngươi, cứ thích độc lai độc vãng”.
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Không, không, cha tôi không muốn tôi hoàn toàn giống người, người bảo tôi cứ trôi theo dòng nước, tôi không biết có làm được hay không, nhưng tôi cũng muốn thử kết giao với bằng hữu tam giáo cửu lưu trên giang hồ”. Nói đến đây thì quay sang Tần Nguyên Hạo mỉm cười: “Huynh đừng vờ vịt, trọng bụng nhớ người ta nhưng miệng lại không chịu thừa nhận. Hì hì, ta sẽ giúp ngươi, khi đi lại trên giang hồ ta sẽ để ý cho ngươi, dò hỏi tin tức Phong cô nương của ngươi”. Tần Nguyên Hạo nghe thế thì giở khóc giở cười đỏ gay mặt: “Kim huynh nói đùa mãi”. Kim Trục Lưu cười: “Có gì mà nói đùa, ta nói thực đấy”.
Ăn mày già và ăn mày trẻ cười hi hi ha ha một hồi, Trọng Trường Thống bảo: “Nói thực, ăn mày già đã nhiều năm chẳng gặp được một người bạn tính tình hợp như ngươi. Ăn mày già thật không nỡ xa rời ăn mày trẻ nhà người. Nhưng thiên hạ chẳng có buổi tiệc nào không tàn, chúng ta cũng nên chia tay ở đây”.
Kim Trục Lưu vội nói: “Khoan đã, khoan đã. Ăn mày trẻ còn có một chuyện muốn hỏi ăn mày già”.
Trọng Trường Thống đáp: “Chuyện gì, chỉ cần ngươi hỏi, ăn mày già nếu biết sẽ nói”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Nghe nói trên núi Tồ Lai trước đây có một Thiên ma giáo, không biết giờ đây Thiên ma giáo ở đâu?”.
Trọng Trường Thống đáp: “Đó là chuyện gần ba mươi năm trước kia, giáo chủ là một phụ nữ xinh đẹp, sau đó nàng ta đã gả cho phó giáo chủ họ Lục. Họ cũng giống cha mẹ của ngươi, cũng đã ra biến không để lại tin tức. Ngươi hỏi Thiên ma giáo, có phải là nghe cha ngươi nói hay không?”.
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Không, tôi nghe Cơ bá bá nói. Nay tôi đang ở núi Tồ Lai, nhất thời nhớ lại cho nên chỉ hỏi thử xem sao”.
Trọng Trường Thống nói: “ồ, điều này rất đúng”. Kim Trục Lưu hỏi: “Có gì mà đúng?”.
Trọng Trường Thống đáp: “Thiên ma giáo cũng có chút quan hệ với nhà họ Kim các ngươi. Đại sư huynh ngươi khi còn trẻ đã từng bị Thiên ma giáo bắt đi, sau đó Cơ Hiểu Phong đã cứu y ra. Nhưng Cơ Hiểu Phong cũng bị giáo chủ Thiên ma giáo đánh một trận tơi bời cho nên chắc ông ta vẫn còn nhớ chuyện này”. Kim Trục Lưu nói: “Nhưng Cơ bá bá không nói đến chuyện này”.
Trọng Trường Thống: “Sào huyệt của Thiên ma giáo nằm ở ngọn Bắc Phong núi Tồ Lai, nghe nói đó là một ngọn núi quanh năm mây phủ. Nhưng nhà cửa phòng ốc đã sụp đổ theo binh hỏa, chỉ còn lại một đống ngói vụn. Sau khi Thiên ma giáo sụp đổ, hai mươi năm qua không ai đến đó nữa, ta cũng thế”. Kim Trục Lưu: “Ta muốn đi xem thử”.
Trọng Trường Thống hỏi lại: “Một bãi hoang phế có gì mà đáng xem?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Người già rất thích nhắc chuyện cũ, đó là nơi Cơ bá bá đã từng tới, tôi muốn đi một chuyến, quay về còn có chuyện nói với Cơ bá bá”.
Trọng Trường Thống nói: “Lão đệ, ngươi là người nhiều tình cảm, chả trách nào Cơ Hiểu Phong lại thương mến ngươi, truyền hết bản lĩnh của y cho ngươi. Nhưng ta lại không có hứng thú trèo lên ngọn núi cao như thế để xem một bãi phế tích, xin thứ ta không thể chiều ngươi”. Rồi đó hai bên chia tay nhau.
Kim Trục Lưu đi được một đoạn, chợt nghĩ: “Trọng Trường Thống bảo Thiên ma giáo có mối quan hệ với nhà mình, nhưng ông ta chỉ nói chuyện Cơ bá bá và Giang sư huynh, đó chỉ là quan hệ gián tiếp. Hình như ông ta không muốn nói điều gì đó, không biết là cớ gì?” Chàng chợt nhớ lại khi còn ở đảo Hỏa Sơn, Cơ Hiểu Phong chưa bao giờ nhắc ba chữ Thiên ma giáo trước mặt cha mẹ mình, mà mỗi lần ông ta nhắc đến chuyện đó, hễ thấy Kim Thế Di lại im bặt. Sau đó còn bảo chàng không nên hỏi cha mẹ về chuyện Thiên ma giáo.
“Cơ bá bá và cha mình là bạn bè thân thiết, xưa nay chuyện gì họ cũng nói với nhau. Nhưng tại sao Cơ bá bá lại tránh chuyện này?” Kim Trục Lưu nghĩ bụng, do đó nỗi tò mò đối với Thiên ma giáo ngày càng nhiều.
Kim Trục Lưu có điều không biết, tổ sư của Thiên ma giáo Lệ Thắng Nam là tình nhân cũ của Kim Thế Di. Sau đó Lệ Phục Sinh, kẻ đã kết hôn với giáo chủ Thiên ma giáo lại là cháu của Lệ Thắng Nam. Kim Thế Di là người trọng tình cảm, vì Lệ Thắng Nam, cho nên hai mươi năm sau ông ta mới cưới Cốc Chi Hoa. Vì không muốn gợi lại nỗi đau thương, Cơ Hiểu Phong không bao giờ nhắc tới ba chữ Thiên ma giáo trước mặt vợ chồng họ. Kim Trục Lưu không biết nguyên cớ ẩn kín cho nên muốn đến Thiên ma giáo xem thử.
Khi Kim Trục Lưu lên đến đỉnh núi thì trời đã tối, chỉ thấy quả nhiên chỉ là một bãi phế tích. Nhưng có một căn nhà vẫn chưa sụp đổ, trên tường dầy rong rêu nhưng cũng là một tòa nhà hoàn chỉnh. Trong nhà phát ra ánh đèn, rõ ràng bên trong có người.
Kim Trục Lưu nhủ: “Thật kỳ lạ, ta phải xem bọn họ là ai?” Rồi thi triển khinh công tuyệt đỉnh, lẳng lặng ra phía sau cửa sổ lén nhìn vào.
Chỉ thấy một hán tử tuổi khoảng ba mươi đang ngồi khơi lửa. Hán tử này mặc bộ trường sam cũ kỹ, tựa như là một thư sinh nghèo, bốn bức tường xung quanh tróc từng mảng, chỉ có một cái chuông lớn úp ở dưới đất, té ra đó là Thần Đường của Thiên ma giáo, sau khi trải qua binh hỏa, tượng thần đều đã bị đập vỡ hết, bàn thờ cũng bị người ta chẻ ra làm củi.
Hán tử này không biết bên ngoài có người, lấy ra một nắm đồ đặt dưới đất. Kim Trục Lưu vừa nhìn thì bất giác thất kinh. Té ra trong đống đồ ấy có một xâu ngọc trai, ánh sáng tỏa lấp lánh, quả nhiên là báu vật có giá trị liên thành. Ngoài ra còn có mười mấy đồng tiền và một cây truy thủ.
Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Té ra là một tên ăn trộm”. Hán tử ấy giơ xâu chuỗi ngọc lên xem, lắc đầu, phát ra tiếng cười khổ. Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Hình như y chê đánh cắp không đủ, lòng tham của y thật ghê gớm”. Hán tử ấy ăn mặc nghèo khổ, trong túi chỉ có mười mấy đồng tiền, nhưng lại có một xâu chuỗi có giá trị liên thành, chả trách nào Kim Trục Lưu nghĩ rằng là kẻ cắp.
Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Cũng nên kết giao với tên ăn trộm này”. Rồi bật cười, đẩy cửa bước vào. Người ấy cả kinh, vội vàng gom đống đồ lại, mở to mắt nhìn Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ngươi đừng sợ. Chúng ta là người cùng một nghề”. Hán tử ấy hỏi lại: “Ngươi bảo gì?” Kim Trục Lưu đáp sáng: “Ngươi là kẻ cắp, ta cũng là kẻ cắp. Chúng ta làm cùng một nghề, tuy có người không nói đạo nghĩa giang hồ, nhưng ta thì không như thế, cho nên ngươi đừng đề phòng ta”.
Hán tử ấy thầm cười, trong bụng lại nghĩ: “Tên ăn mày này bước vào, mình không biết. Bản lĩnh khác thì mình không biết, nhưng khinh công rõ ràng là hơn mình. May mà y không đối địch với mình. Thôi được, y coi mình là kẻ cắp, mình cũng đành chịu”.
Hán tử vẫy tay: “Hiếm có dịp đồng đạo đến đây, xin thứ ta không có vật gì tiếp đãi, ngươi hãy ngồi xuống đây, ta mời ngươi ăn khoai núi”. Kim Trục Lưu cũng không khách sáo, khệnh khạng ngồi xuống, hít xong một hơi nói: “Ồ, thơm thật, thơm thật! Hình như khoai núi đã chín, ta đang đói bụng, ngươi hãy lấy ra đi”.
Hán tử gạt than, lấy ra một củ khoai, nói: “Còn nóng lắm, ngươi hãy cẩn thận”. Y ngồi đối điện với Kim Trục Lưu, chỉ cách một đống lửa, có thể với tay qua kịp nhưng y lại ném củ khoai qua chứ không trực tiếp đưa cho Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu biết y có ý thử mình, bèn đưa tay ra, củ khoai rơi xuống lòng bàn tay chàng, Kim Trục Lưu cắn một miếng rồi bảo: “Tuy hơi cháy nhưng mùi vị rất ngon, xin đa tạ”.
Hán tử hơi e ngại Kim Trục Lưu không chụp được củ khoai của mình, thầm kinh: “Tên ăn mày này trẻ tuổi như thế, nhưng sao có thể có bản lĩnh như vậy? Xem ra nội công của y còn hơn mình!”.
Kim Trục Lưu nói: “Hôm nay ngươi cũng may mắn lắm, đánh cắp được của ai vậy?”.
Tên ăn mày đáp: ‘Đó là một kẻ giàu có nhưng bất nhân, tôi vốn tưởng còn có thể thu hoạch được nhiều hơn nữa, nào ngờ chỉ lấy được xâu chuỗi ngọc này thì đã bị người ta phát giác, ta chỉ đành bỏ chạy”.
Kim Trục Lưu nói: “Làm người đừng quá tham, xâu chuỗi ngọc này cũng đủ cho ngươi ăn hết đời”. Hán tử đáp: “Lão đệ đã nói sai rồi, nếu chỉ vì ăn uống một mình, ta đâu cần phí công đánh cắp xâu chuỗi ngọc làm gì!”.
Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Ồ, té ra ngươi là một hiệp đạo cướp giàu giúp nghèo, thất kính, thất kính”. Hán tử ấy gạt đi: “Ta không dám nhận chữ hiệp, nhưng ta đánh cắp đồ là còn nguyên nhân khác”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Ồ, còn nguyên nhân gì nữa?”.
Hán tử ấy cười rằng: “Có phải ngươi mới vào nghề hay không? Ngươi không biết người làm nghề như chúng ta, làm lâu thì sẽ nghiện, nếu chỉ muốn ăn cho no bụng, kiếm một mớ rồi rửa tay, họ chẳng phải đã uổng phí tài nghệ hay sao?”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Nói có lý lắm! Cơ bá bá của ta cũng nói như thế”.
Hán tử ấy rất kinh kêu lên: “Cơ bá bá cũng làm nghề này ư? Không biết đó là lão tiền bối nào?”. Kim Trục Lưu: “Ông ta là đại tôn sư trong nghề chúng ta. Ngươi có nghe nói Thần Thâu Cơ Hiểu Phong hay không?”.
Hán tử đáp: “Thật đáng tiếc, tôi ngưỡng mộ ông ta đã lâu nhưng chưa từng gặp, huynh đài có phải là đệ tử của Cơ lão tiền bối hay không?”.
Kim Trục Lưu nói: “Tôi không phải là đồ đệ của ông ta, nhưng cũng đã học bản lĩnh của ông ta”. Hán tử thấy Kim Trục Lưu còn trẻ tuổi như thế cho nên nửa tin nửa ngờ.
Hán tử đang định hỏi tên Kim Trục Lưu, chàng chợt: “Hình như có người đến? Có phải là đồng bọn của huynh không?”.
Hán tử lắng nghe, mặt biến sắc: “E rằng có kẻ sắp đến bắt ta. Huynh đài, có thể giúp đỡ hay không”.
Kim Trục Lưu vội hỏi: “Giúp đỡ như thế nào?” Nghĩ bụng: “Đánh nhau thì dễ, nhưng ta vẫn chưa biết tung tích của ngươi, làm sao có thể nghe lời ngươi?”.
Hán tử đứng dậy, vừa nhấc cái chuông lên, vừa bảo: “Ta đánh không lại bọn chúng, chỉ đành tạm thời nấp một lát bọn chúng đi, ngươi hãy thả ta ra”.
Nói xong chui vào rồi ụp cái chuông xuống lại. Y biết Kim Trục Lưu có thể nhấc cái chuông lên. Cái chuông này nặng khoảng năm sáu trăm cân, Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Hán tử này cũng không tệ nhưng nội công và ngoại công của y đều có thành tựu như thế, không hiểu sao lại sợ sệt, không biết người đến bắt y lợi hại đến mức nào?” Rồi chàng lại nghĩ: “Hán tử này lần đầu tiên gặp mình mà tin tưởng mình như thế, mình không thể không coi y là bạn bè”.
Chàng ta nghĩ đến đây thì chợt có hai người bước vào. Một đạo sĩ tay cầm phất trần, còn người kia là một hán tử cầm quỷ đầu đao. Đạo sĩ mắt sáng quắc có thần, Kim Trục Lưu vừa nhìn thì biết y là cao thủ nội gia. Còn hán tử cầm quỷ đầu đao thì sắc mặt vàng võ, hai thái dương nhô lên, xem ra là một cao thủ tà phái.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 21:32:29Hoàng Dung>
Hán tử ấy hỏi: “Ngươi là ai?” Kim Trục Lưu đáp: “Chỉ là kẻ ăn mày qua đường”. Hán tử cười lạnh: “Ăn mày sao lại đến miếu hoang này?” Kim Trục Lưu cũng cười lạnh: “Còn ngươi là ai, sao lại hỏi ta như thế? Ta cứ thích qua đêm ở đây, thì sao?”.
Đạo sĩ mặc áo xanh đã thấy Kim Trục Lưu không phải là nhân vật tầm thường, cười rằng: “Tiểu ca, ngươi đừng giận. Bọn ta chỉ muốn hỏi thăm một người, hình như vừa rồi có một hán tử đã ở đây? Ngươi có biết y nấp ở đâu không?”.
Kim Trục Lưu thản nhiên hỏi ngược: “Hán tử nào? Không thấy!”.
Hán tử thấp bé dùng cây quỷ đầu đao gạt đống lửa, cười lạnh lùng: “Ngươi nói dối hay thật, nhưng đáng tiếc không gạt nổi ta. Lúc nãy người nướng khoai với ngươi là ai?”.
Kim Trục Lưu gạt phăng: “Là ai cũng mặc! Ta có biết cũng không nói!”.
Hán tử ấy cả giận muốn phát tác. Đạo sĩ áo xanh khuyên: “Có lẽ kẻ ấy nấp ở gần đây, chúng ta hãy đi tìm thử. Cần gì so đo tính toán với một tên ăn mày?”.
Hán tử nói: “Trước tiên lục soát ở đây, nói không chừng y vẫn chưa thoát khỏi nơi này!”.
Căn miếu hoang này chẳng có nhiều đồ đạc, vừa nhìn thì đã thấy hết mọi vật. Vì hán tử ấy đuối lý, không làm gì được Kim Trục Lưu, nhưng lại không muốn buông tha cho chàng, cho nên cố ý ở lại trong nhà để mượn cớ gây sự. Còn đạo sĩ áo xanh thì hình như không muốn làm lớn chuyện, nhìn quanh quất một hồi rồi buông giọng: “Cả bóng ma cũng chẳng thấy, chúng ta đi thôi”.
Kim Trục Lưu một tay chống đầu năm xuống đất, một tay cầm củ khoai, cười rằng: “Đúng thế, Các người hãy mau mau cút cho ta. Ta ăn no rồi sẽ ngủ đấy”.
Hán tử tức giận: “Hay lắm, tên ăn mày nhà ngươi dám vô lễ với ta như thế, ta chưa đuổi ngươi mà ngươi đã đuổi ta, hừ, hừ lão tử đã nổi giận...”. Kim Trục Lưu liếc y, cười lạnh: “Thì sao nào?”.
Đạo sĩ áo xanh kéo tên đồng bọn, can: “Tiêu lão tam, cần gì phải tranh cãi với một tên ăn mày! Đi thôi!” Đạo sĩ áo xanh là một kẻ già dặn trên giang hồ, y thấy Kim Trục Lưu tỉnh như không, trong lòng hơi hoài nghi, nghĩ bụng: “Tên ăn mày này lớn gan như thế chắc chắn có điều gì khác lạ. Có lẽ võ công của y không cao, nhưng sư phụ của y chắc chắn là nhân vật có tên tuổi”. Đạo sĩ áo xanh khuyên tên đồng bọn không thèm để ý đến Kim Trục Lưu, nhưng thật sự y rất e ngại chàng, không dám gây sự với chàng.
Đạo sĩ áo xanh là kẻ đứng đầu trong bọn, hán tử sử dụng cây quỷ đầu đao quyết không dám cãi lời y, chỉ đành lẳng lặng bỏ đi, nhưng khi đi ngang qua cái chuông lớn thì ngừng lại, gõ mạnh vào mấy cái.
Đạo sĩ áo xanh cười rằng: “Chắc là kẻ ấy không nấp ở đây”. Té ra đạo sĩ áo xanh ấy nghĩ, bụng: “Nếu kẻ ấy nấp trong cái chuông đồng này, tên ăn mày kia làm sao có thể giở chuông lên, không ai thả y ra, chẳng phải y sẽ chết đói hay sao? Y lại là kẻ khôn lanh, chắc chắn sẽ không làm chuyện ngốc như thế!”.
Hán tử nọ vẫn chưa hết giận, gõ mạnh cây quỷ đầu đao thêm mấy cái, quát: “Nếu y nấp ở đây, ta sẽ đánh cho y điếc tai”.
Kim Trục Lưu lăn người nằm nghiêng kêu lên: “Này, ta đã bảo ta khó ngủ, ta không thích bị quấy rầy, nếu ngươi gõ nữa ta sẽ không khách sáo!”.
Hán tử ấy nổi lửa giận, không thể nào nén được nữa, thế là nhảy bổ tới xỉa chỉ vào lưng Kim Trục Lưu.
Hán tử không muốn lấy mạng của chàng, y đã xỉa vào huyệt ma dương ở sau lưng Kim Trục Lưu, y muốn dùng thủ đoạn này để buộc Kim Trục Lưu khai ra, đồngthời cũng muốn hành hạ chàng.
Đạo sĩ ấy nhíu mày, kêu: “Lão tam!” Nhưng hán tử đã ra tay, đạo sĩ áo xanh có muốn ngăn cản cũng không kịp nữa. Hán tử quát lớn: “Cho ngươi biết sự lợi hại của ta!” Lúc này đầu ngón tay đã chạm vào lưng Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu mỉm cười: “Cũng chưa chắc lợi hại”. Nhưng chàng vẫn nằm với bộ dạng dương dương đắc ý, chẳng hề nhúc nhích, miệng vẫn nhai khoai. Nhưng khi chàng nói xong, chỉ nghe hán tử ấy kêu ối chao một tiếng, người bất thình lình đổ về phía trước, đạp vào trong đống lửa. Té ra Kim Trục Lưu tuy không phản đòn, nhưng chàng đã có thần công hộ thể, hán tử ấy chạm tay vào người chàng thì cảm thấy như bị điện giật!
Hán tử dẫm vào đống lửa kêu lên oai oái, Kim Trục Lưu đùa: “Ngươi có muốn ăn khoai nướng không? Không cần phải cướp, ta mời ngươi?” rồi nhặt một củ khoai còn nóng hổi tọng vào mồm y.
Hán tử không chịu nổi, miệng cũng sưng vêu lên, nước mắt tuôn ra. Kim Trục Lưu cười cợt: “Thế nào? Có ngon không?” Hán tử cả giận, chém mạnh thanh quỷ đầu đao, quát lớn: “Ta giết chết ngươi!” Hán tử ấy ra tay vẫn rất nhanh, miệng chỉ nói có năm chữ nhưng đã chém ra ba mươi sáu đao.
Kim Trục Lưu liến láu: “Này, này, đừng đùa đấy nhé, ngươi định chém ta thật ư?” Hán tử ấy chém liên tục ba mươi sáu đao, nhưng chẳng hề chạm được vào áo của Kim Trục Lưu, bất giác ngẩn người ra Kim Trục Lưu vẫn cười: “Hà, té ra ngươi quả nhiên đùa với ta. Được, có qua thì phải có lại, chúng ta đùa nhau nào!” Thế rồi gạt nhẹ một chưởng qua, hán tử ấy chưa kịp né tránh đã bị chàng bôi đầy một mặt tro.
Đạo sĩ áo xanh đã thấy Kim Trục Lưu sử dụng toàn võ công thượng thừa thì kinh hãi lắm, chỉ sợ chàng thi triển độc thủ vội vàng tiến đến phía trước, quét cây phất trần quát: “Tên ăn mày đừng hòng phóng túng?”.
Cây phất trần của đạo sĩ ấy quét tới, đuôi phất trần tỏa ra chụp xuống người Kim Trục Lưu, mỗi cọng phất trần vươn ra như kim nhọn, đâm vào các huyệt đạo trên toàn thân Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu cũng không khỏi giật mình, nghĩ thầm: “Lão đạo sĩ lỗ mũi trâu này quả là cao thủ!”.
Kim Trục Lưu cũng đề phòng y hạ thủ cho nên không dám khinh địch, hú dài một tiếng rồi thổi phất trần của đạo sĩ tản ra, đạo sĩ ấy quát: “Công phu hay?” Rồi vung tay, sợi phất trần tụ lại thành một bó, sử dụng như một cây phán quan bút điểm vào huyệt du khí trước ngực Kim Trục Lưu.
Phất trần vốn là thứ mềm mại, nhưng đạo sĩ ấy đã sử dụng như một cây phán quan bút, quả thật nội công của y đã đến mức bất phàm! Kim Trục Lưu cũng khen hay một tiếng, liền phất nhẹ ống tay áo, giải chiêu số đánh vào huyệt đạo của đạo sĩ áo xanh.
Hán tử cũng cầm đao xông lên, quát: “Tên ăn mày chắc là cùng một phe với gã kia, chúng ta không thể tha cho y!”.
Đạo sĩ quát theo: “Đương nhiên, ta sao có thể để cho ngươi chịu thiệt!” Y tuy kinh hãi trước võ công của Kim Trục Lưu, nhưng vì nghĩa khí cho nên đành đem hết bản lĩnh ra cùng hán tử kia tấn công Kim Trục Lưu.
Bản lĩnh của hán tử nọ tuy kém xa Kim Trục Lưu, nhưng võ công của đạo sĩ thì rất cao cường, đạo sĩ áo xanh đã tiếp phần lớn chiêu thế của Kim Trục Lưu, cho nên thanh khoái đao của hán tử ấy cũng uy hiếp được Kim Trục Lưu.
Trong lúc kịch chiến, hán tử đã nhận thấy phần lợi, một đao từ sau lưng Kim Trục Lưu chém tới, Kim Trục Lưu có thể thính thanh biện khí, không thèm quay đầu lại mà trở tay búng nhẹ, keng một tiếng, thanh quỷ đầu đao của hán tử ấy bật ra. Nói thì chậm, sự việc diễn ra lúc đó rất nhanh, cây phất trần của đạo sĩ cũng quét tới trước ngực, đó lại là một chiêu số phất huyệt lợi hại.
Kim Trục Lưu sử dụng Thiên la bộ pháp di hình hoán vị, tay trái lật thành âm chưởng, tay phải ngửa thành dương chưởng, hai chưởng tách ra tựa như hình cánh nhạn, lực đạo một cương một nhu, lôi kéo lẫn nhau khiến cho hán tử sử dụng đao loạng choạng, chém đến một đao suýt nữa trúng vào đồng bọn của mình.
Đạo sĩ áo xanh chợt kêu ồ lên một tiếng, thối lui ba bước rồi quát: “Tên ăn mày kia, ngươi có phải là đệ tử của Thiên ma giáo không?”.
Kim Trục Lưu nói: “Cái gì mà Thiên ma giáo, ta không thèm làm đệ tử của tà giáo! Ngươi đã nói vớ vẩn, nếm của ta một chưởng!” Đạo sĩ áo xanh kinh ngạc, hóa giải chiêu vừa rồi của Kim Trục Lưu, kêu lên: “Nói không phải là đệ tử của Thiên ma giáo, tại sao biết võ công của bọn chúng?”.
Kim Trục Lưu cả cười: “Buồn cười thật, ngươi không biết võ công của ta thì đừng nói bừa!” Rồi liên tục phát ra chưởng, khiến đạo sĩ áo xanh phải luống cuống tay chân.
Kim Trục Lưu không biết rằng đạo sĩ áo xanh ấy hiểu nhầm chàng là đệ tử của Thiên ma giáo thật ra là có căn cứ. Số là tổ sư của Thiên ma giáo Lệ Thắng Nam cũng luyện võ công trong bí kíp của Kiều Bắc Minh, võ công của Kim Thế Di dung hợp sở trường của các môn các phái, đặc biệt dùng võ công trong bí kíp Kiều Bắc Minh làm trụ cột, lấy tâm pháp nội công phái Thiên Sơn làm căn cơ. Chiêu lúc nãy mà Kim Trục Lưu vừa mới đánh ra chính là công phu âm dương công chàng chưởng trong bí kíp của Kiều Bắc Minh, hai mươi năm trước đạo sĩ áo xanh này đã từng thấy giáo chủ Thiên ma giáo sử dụng.
Đạo sĩ áo xanh kinh ngạc, nhủ thầm: “Nếu tên ăn mày này là đệ tử của Thiên ma giáo, chắc chắn sẽ không nhục mạ bổn giáo như thế, nhưng không hiểu tại sao võ công của y lại cùng một pháp môn với Thiên ma giáo?”.
Đạo sĩ áo xanh đã nghi ngờ trong lòng, càng muốn bắt sống Kim Trục Lưu hỏi cho rõ ràng, y biết bản lĩnh của Kim Trục Lưu hơn mình, nhưng y đã thấy Kim Trục Lưu không đủ kinh nghiệm, cho nên sử dụng chiến lược miên đấu, tiêu hao khí lực của Kim Trục Lưu, hy vọng Kim Trục Lưu có sơ hở để đánh ngã. Hán tử thấp bé kia cũng dùng khoái đao phối hợp tấn công, mỗi đao đều chém vào chỗ yếu hại của Kim Trục Lưu.
Đạo sĩ ấy tính toán như thế, nhưng Kim Trục Lưu cũng không ngốc, chàng đã thấy đối phương muốn tiêu hao khí lực của mình, cho nên lập tức thay đổi chiến thuật, sử dụng Thiên la bộ pháp đối phó với đối phương, đấu một hồi Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Võ công của đạo sĩ thối này không kém, mình lại không biết nguồn gốc của y, nếu giết chết y chỉ e sẽ hỏng chuyện”. Số là Kim Trục Lưu có thể mau chóng đánh thắng. Nhưng đạo sĩ áo xanh cũng không tệ, nếu muốn mau chóng thắng thì phải thi triển chiêu lợi hại nhất.
Kim Trục Lưu vẫn còn do dự chưa quyết, hán tử chỉ tưởng rằng chàng có ý sợ sệt, cho nên càng đánh càng gấp, Kim Trục Lưu chợt nghĩ ra một ý, nhủ thầm: “Kẻ này thật đáng ghét, mình phải trêu y một phen”. Rồi chàng giả vờ để lộ sơ hở, lắc người tựa như sắp ngã xuống, hán tử cả mừng xông tới chém ra một đao. Y và đạo sĩ áo xanh liên thủ tác chiến, vốn là phối hợp rất kín kẽ, lúc này y một mình xông tới cho nên hai bên không tiếp ứng được nhau.
Đạo sĩ áo xanh vội vàng kêu lớn: “Cẩn thận!”. Nói chưa dứt lời, Kim Trục Lưu đã lách người vòng ra sau lưng của hán tử, hán tử chém hụt một đao, chợt cảm thấy cổ ngứa ngáy khó chịu, té ra Kim Trục Lưu đã nhẹ nhàng bóp vào cổ y.
Đạo sĩ áo xanh quét cây phất trần ra, nhưng đã muộn một bước, Kim Trục Lưu đã đẩy bật cây phất trần của y, miệng la lớn: “Đánh đã lâu, cũng nên thay đổi khẩu vị, đợi lát nữa ngươi sẽ thấy trò hay”. Chỉ thấy hán tử ấy tựa như bị bọ chét bò khắp người, cả thân người cứ uốn éo vặn vẹo, miệng phát ra tiếng khèn khẹc trông rất hài hước.
Đạo sĩ áo xanh cả kinh, kêu lớn: “Tiêu lão tam, ngươi sao thế?” Đáng thương thay cho tên hán tử ấy cứ nhảy nhót liên hồi, không thể nào trả lời được. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Không có gì, ta không thèm lấy mạng của y, ngươi hãy yên tâm. Chẳng qua ta chỉ muốn mời ngươi xem trò khỉ mà thôi”.
Té ra Tiêu lão tam đã bị Kim Trục Lưu điểm vào huyệt ma dương. Lúc nãy y đã điểm vào huyệt ma dương của Kim Trục Lưu nhưng không trúng, nay Kim Trục Lưu đã dùng cách gậy ông đập lưng ông trừng trị y.
Thủ pháp điểm huyệt độc môn của Kim Trực Lưu rất lợi hại, hán tử ấy ngứa ngáy khó chịu, ném thanh quỷ đầu đao xuống, hai tay cứ cào liên hồi trên người, áo [font="times new roman"]quần rách bươm, trên người toàn những vệt cào xước.
Đạo sĩ áo xanh thở dài: “Tiêu lão tam, chúng ta đánh không lại người ta, đừng làm mất mặt nữa!”. Rồi kéo hán tử ấy chạy ra khỏi miếu, Kim Trục Lưu cười ha hả, cung tay nói: “Xin chào, xin thứ ta không thể tiễn”.
Rồi chàng quay đầu lại cười: “Bằng hữu, hãy ra đây đi!” Nói xong thì bước tới nhấc cái chuông lên. Chợt thấy ánh lửa lóe lên rồi tắt, té ra người ấy cầm trong tay một viên đá lửa, mặt lộ vẻ ngỡ ngàng, ngồi xếp bằng ở dưới đất nhưng si như đại.
Chính là: Truy binh đã lui sóng gió lặng, sao lại ngẩn ngơ chuyện quá kì.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 8 sẽ rõ. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-01 22:00:00Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Tám 
[/align][/align]
Minh châu tan hết còn ngờ vực
Má hồng nào ngỡ chính họa căn
Kim Trục Lưu ngạc nhiên hỏi giật: “Ồ, ngươi làm sao thế?” Thư sinh ấy như tỉnh cơn mơ, một lát sau mới nói: “Ngươi hãy đặt chuông xuống cho ta nấp thêm một lát”. Kim Trục Lưu càng ngạc nhiên hơn, hỏi: “Kẻ địch của ngươi đã chạy cả rồi, ngươi còn nấp làm gì nữa?” Thư sinh ấy cười cười: “Ta lại sắp nổi cơn nghiện rồi!”.
Kim Trục Lưu giật mình, thi triển thủ đoạn Diệu thủ không không, lấy hòn đá lửa trong túi của thư sinh ấy ra, xoay người đánh đá lửa, lúc này thư sinh mới biết bất giác kêu ồ một tiếng: “Ngươi làm gì thế?”. Kim Trục Lưu đáp: “Ngươi hãy yên tâm, ngọc trai của ngươi vẫn còn trong túi, ta chỉ mượn đá lửa của ngươi một lát”. Thư sinh ấy ngẩn người: “Ồ, ngươi đã hiểu. Ngươi đã đoán được bí mật rồi, đa tạ đã giúp ta, ta vốn cũng không muốn giấu bí mật này đâu”.
Kim Trục Lưu nói: “Ngươi hiểu còn ta thì không. Nhưng ngươi cũng không cần nói ra. Ta giúp ngươi chẳng qua là vì nghĩa khí đồng đạo, không phải là vì muốn biết bí mật của ngươi đâu”. Thư sinh cười rằng: “Lão đệ, ngươi hiểu nhầm ta rồi”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ngươi cũng đã hiểu nhầm. Ta không cần ngươi cho ta biết, đó là vì không muốn lãnh nhận ân tình của ngươi. Hì hì, ta không biết tự nhìn hay sao?” Dứt lời lăn cái chuông ra, dùng đá lửa chiếu vào, bất giác cười lạnh lùng: “Té ra là thế!”.
Thì ra trong cái chuông có rất nhiều chữ viết, Kim Trục Lưu xem vài hàng thì biết đó là bí quyết độc công của Thiên ma giáo. Thế là thư sinh này phát hiện những dòng chữ này cho nên mới như ngây như dại.
Thư sinh nói: “Thiên ma giáo có ba thiên Bách độc chân kinh, tất cả đều được khắc ở đây. Võ công của Thiên ma giáo bao la rộng lớn, không chỉ là độc công, võ công khác cũng chưa chắc thắng được các đại môn phái, chỉ có Bách độc chân kinh mới là độc nhất vô nhị trên võ lâm. Lão đệ, ngươi hãy chép một bản đi. Đây là do ngươi phát hiện, không thể coi là ta đã trả ơn cho ngươi”.
Bách độc chân kinh của Thiên ma giáo vốn là một phần trong bí kíp võ công của Kiều Bắc Minh, năm xưa Kim Thế Di lấy lại quyển bí kíp này từ trong tay Lệ Thắng Nam, vì ông ta muốn sáng lập ra loại võ công quang minh chính đại, cho nên đã hủy Bách độc chân kinh, chỉ rút tỉa tinh hoa của những bộ phận khác. Sau khi đã có thành tựu, ông ta đã đốt quyển bí kíp của Kiều Bắc Minh trước mộ Lệ Thắng Nam.
Bản thân Kim Thế Di chưa từng học qua Bách độc chân kinh, Kim Trục Lưu đương nhiên cũng chẳng nghe nói đến cái tên này. Trong lòng Kim Trục Lưu vẫn coi Thiên ma giáo la một tà giáo, chàng làm sao thèm học lén công phu của tà giáo, Kim Trục Lưu bèn cười lạnh: “Ta tuy là một tên ăn trộm, nhưng cũng phải chọn lựa đồ khi ăn trộm. Những đồ này ta không thèm trộm”.
Thư sinh ấy lắc đầu: “Không, ngươi vẫn còn chưa đọc xong, ở đây không phải tất cả đều là công phu bàng môn tả đạo. Chúng ta đương nhiên không dùng độc hại người, nhưng cũng không thể không biết thêm một tý. Gặp những hạng dùng độc đả thương người trên giang hồ, chúng ta có thể dùng độc công độc, có gì mà không được?”.
Kim Trục Lưu bình thản đáp: “Ngươi thích học thì cứ học, ta thì không có hứng thú”. Thư sinh nói: “Nói như thế, ngươi không chịu giúp đỡ ta?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Ta chụp cái chuông xuống thì rất dễ, nhưng ta không đợi được ngươi. Dù sao cái chuông đã bị lật ra, ngươi hãy tự chui vào xem cho đã”. Cái chuông đã lật lại, muốn xem những chữ khắc trong chuông thì phải chui vào ngược lại. Kim Trụ Lưu nghĩ bụng: “Tên trộm bất tài như ngươi còn muốn ta giúp đã hay sao?” Vì Kim Trục Lưu coi thường công phu của tà phái, cho nên cũng có ý coi thường thư sinh này.
Thư sinh nhắm mắt, miệng lẩm nhẩm đọc một hồi rồi mở mắt nói: “May quá, ta vẫn còn nhớ. Không cần xem nữa!” Xem ra, lúc nãy y sợ mình quên cho nên muốn xem lại một lượt. Giờ đây y đã đọc thuộc cho nên không cần Kim Trục Lưu giúp y nữa.
Kim Trục Lưu thất kinh, nghĩ bụng: “Không ngờ kẻ này lại có bản lĩnh xem qua không quên, nhưng y muốn học lén công phu của tà phái, mình cũng không dám đoán tâm thuật của y là tốt hay xấu, mình không biết con người của y như thế nào, loại bằng hữu như thế này không kết giao cũng được”.
Thư sinh ấy liếc nhìn Kim Trục Lưu rồi hỏi: “Ngươi hãy giúp ta một chuyện khác được không?”. Kim Trục Lưu hỏi lại: “Giúp chuyện gì?” Thư sinh đáp: “Hãy hủy cái chuông này. Ta sợ một mình không làm được”. Kim Trục Lưu hỏi: “Tại sao phải hủy nó?” Thư sinh đáp: “Để người xấu khỏi phát hiện”. Kim Trục Lưu thầm cười trong lòng: “Ngươi là tốt hay xấu ta vẫn chưa biết. E rằng chỉ là cái cớ của ngươi để một mình chiếm độc công của Thiên ma giáo!”.
Kim Trục Lưu đã nghi ngờ y cho nên càng coi thường y, thế rồi mới lắc đầu: “Ta không cần chia với ngươi thứ này, ta cũng không thèm làm chuyện hủy thi diệt tích!”.
Thư sinh ấy cười ha hả: “Hủy thi diệt tích, nghe thật mới mẻ. Nhưng đây là một cái thi thể có độc, hủy thì có gì mà không được? Nhưng ngươi đã không muốn thì ta cũng không ép, một mình ta làm cũng được”. Nói xong rồi nhấc cái chuông bước ra ngoài.
[/align]Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Xem thử y có bản lĩnh gì có thể hủy cái chuông lớn này!” Nghĩ chưa dứt, thư sinh ấy đã quay đầu lại nói: “Còn nửa canh giờ nữa là trời sáng, có phải ngươi muốn đi gấp hay không? Ta không cần ngươi hủy thi diệt tích, chỉ nhờ ngươi đưa chuông”. Kim Trục Lưu nghe y nói có vẻ thú vị, bất giác bật cười: “Được!”.

[/align]Thư sinh ấy vừa đi vừa thở dài: “Nói thực, ta lúc nào cũng muốn chết cho xong. Lão đệ, lúc nãy nếu không nhờ ngươi giúp đỡ, ta đã mất mạng trong tay hai người ấy. Cho nên tuy ngươi chỉ giúp một lần, nhưng ta vẫn cảm kích ngươi. À, ngươi tên họ là gì?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Ta không cần ngươi đáp tạ, cần gì phải nói họ tên?” Thư sinh ấp úng: “Không, ta không phải muốn báo đáp ngươi. Ta chỉ muốn, ta chỉ muốn...”
Kim Trục Lưu trợn mắt, ngắt lời: “Ngươi muốn gì? Hãy nói ra cho mau!”.
Thư sinh cười: “Thủ pháp Diệu thủ không không của ngươi cao minh hơn ta rất nhiều, người ta bảo cùng nghề như nước địch, ta thì cam bái hạ phong. Ta đang nghĩ ngươi có thân thủ như thế này bỏ đi không dùng thật là uổng!” Kim Trục Lưu nói: “Ồ, té ra ngươi muốn hợp tác cùng ta đúng không?” Thư sinh đáp: “Đúng thế. Nhưng nếu ta không biết danh tánh và nơi ở của ngươi, sau này làm sao tìm được ngươi?”.
Kim Trục Lưu nói: “Thêm một bát nhang chỉ thêm một con ma, ta muốn đánh cắp thì tự mình động thủ, đâu cần đến ngươi?” Thư sinh đáp: “Ồ, ngươi đừng coi thường ta. Bản lĩnh đánh cắp thì ta không bằng ngươi, những nơi nào có cái gì đáng đánh cắp thì ta lại biết, ngươi hợp tác với ta chắc chắn sẽ có lợi”.
Kim Trục Lưu không biết y nói đùa thay thật, lòng thầm nhủ: “Kẻ này cũng hơi kỳ quặc, không biết là nhân vật như thế nào? Ồ, Giang sư huynh kết giao rất rộng rãi, chắc chắn sẽ biết lai lịch của y. Xem thử y có dám đến đó hay không!” Bèn nói:
“Hành tung của ta vô định, nhưng muốn tìm ta thì cũng rất dễ, ngươi hãy đến nhà Giang Hải Thiên ở huyện Đông Bình, lúc nào cũng có thể biết được tin của ta. Ta tên Kim Trục Lưu, Giang Hải Thiên là bằng hữu tốt nhất của ta”.
Thư sinh thấy Kim Trục Lưu còn trẻ tuổi, trong lòng nửa tin nửa ngờ, bật cười ha hả: “Té ra các hạ là bằng hữu tốt của Giang đại hiệp, tôi đã thất kính”. Kim Trục Lưu tỏ vẻ không vui: “Ngươi tưởng ta nói khoác?” Thư sinh cười xong liền nói: “Không không phải ý này. Ồ, ta cũng muốn nói với ngươi vài điều, nhưng phải chờ một lát nữa”.
Kim Trục Lưu thay y nhấc cái chuông lên mà vẫn chạy như bay, lúc này trái lại có ý tiếc, nghĩ thầm: “Bản lĩnh của kẻ này coi như cũng rất khá. Y có tính phóng khoáng cũng rất hợp với ý mình, nhưng đáng tiếc mình không biết lai lịch của y, cho nên không tiện kết giao”.
Chàng chưa nghĩ xong thì hai người đã lên đến đỉnh núi, bên dưới là một mặt đầm sâu, thư sinh đứng ở mép núi, lẩm bẩm: “Ta không hủy được cái chuông này, nhưng người khác cũng không lấy được nó”. Nói xong thì ném cái chuông xuống, ầm một tiếng, nước bắn tung tóe, mặt đầm xao động. Người ấy cười rằng: “Nước tù dậy sóng, thích thật, thích thật!” Kim Trục Lưu cười lạnh lùng: “Từ rày về sau, chỉ có một mình ngươi biết độc công của Thiên ma giáo, lúc đó đương nhiên là ‘thích thật’!”. Thư sinh ngừng cười: “Lão đệ tường rằng ta là người tham lam ư? Ta lấy chuỗi ngọc trai cũng chẳng ích gì, ngươi hãy giữ lấy!” Kim Trục Lưu kêu ồ một tiếng rồi gằn giọng: “Thật buồn cười, ngươi muốn chứng minh mình không phải tham lam, vậy chả lẽ ta là kẻ tham lam? Nếu ta thích xâu trân châu này thì đã lấy từ lâu. Ta đã bảo không nẫng tay trên của ngươi, ngươi đưa ta là coi như đã coi thường ta”.
Thư sinh dịu giọng: “Lão đệ, ngươi đã hiểu nhầm ý ta. Ngươi không biết rằng chuỗi ngọc trai này chính là mầm họa, chi bằng trao cho ngươi thì tốt hơn”. Kim Trục Lưu cười lạnh lẽo: “Đã là mầm họa, ngươi càng không nên hại ta”.
Thư sinh ấy nhíu mày, tựa như có điều gì khó nói, không tiện giải thích cho Kim Trục Lưu nghe, một lát sau mới thở dài: “Ngươi đã không chịu, ta cũng không ép. Thế này nhé, chỉ cần ngươi đem đi tặng cho Giang đại hiệp, chắc chắn ông ta sẽ cần đến”. Kim Trục Lưu càng không vui, cười lạnh: “Giang đại hiệp đâu phải là hạng tham của bất nghĩa!”.
Thư sinh ấy biến sắc, buông giọng cười lớn: “Hừ, của bất nghĩa! Ngươi nói cũng đúng. Nếu các ngươi đã không cần, để lại cũng chỉ gây họa, ta không đảm bảo rằng nó không lọt vào tay kẻ xấu!” Nói xong thì ném xâu ngọc trai lên, vận nội kình bứt đứt sợi dây, từng hạt ngọc trai rơi xuống đầm, chỉ trong chớp mắt đã chìm mắt tăm.
Kim Trục Lưu không ngờ thư sinh ấy lại làm như thế, buột miệng: “Đáng tiếc, đáng tiếc!” Thư sinh cười rằng: “Ngươi đã không cần thì còn tiếc điều gì? Ta hủy nó còn hơn bị kẻ xấu đoạt lấy để làm chuyện xấu”.
Kim Trục Lưu nghĩ thầm: “Kẻ này hành sự thật khó đoán. Y học lén độc công của Thiên ma giáo tựa như tâm thuật bất chính. Nhưng lúc nãy y lại hủy chuỗi ngọc vô giá, người thường chắc chắn chẳng làm được như thế”. Rồi hỏi: “Hình như huynh đài còn có ý gì khác, không biết lai lịch của chuỗi ngọc này như thế nào, tại sao lại bảo đó là mầm họa?”.
Thư sinh đáp: “Chuỗi ngọc này có liên quan đến một bí mật”. Kim Trục Lưu nhướng mày, nói: “Đã liên quan đến một bí mật, vậy không cần nói nữa”. Thư sinh thản nhiên: “Đối với người khác thì ta không chịu nói, nhưng lão đệ là bằng hữu của Giang đại hiệp, có nói cũng không sao. Đây là ta muốn nói cho ngươi biết, còn nghe hay không là tùy ngươi”. Kim Trục Lưu gật đầu: “Được, nếu huynh đài đã bảo thế, tôi chỉ đành nghe”.
Thư sinh nói: “Ngươi có biết trên giang hồ có Lục Hợp bang không?” Kim Trục Lưu lắc đầu: “Không”.
Thư sinh nói: “Bang chủ của Lục Hợp bang là Sử Bạch Đô rất có tiếng tăm trên giang hồ, chả lẽ ngươi chưa từng nghe tên ông ta?” Kim Trục Lưu đáp: ‘Ta xưa nay không thích làm quen với những người có tiếng tăm, cũng không muốn nghe sự tích của những kẻ có tiếng tăm!”
Thư sinh rất ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Tên ăn mày này đã là bằng hữu của Giang Hải Thiên, lẽ ra là nhân vật có lai lịch, tại sao lại chưa từng nghe tên của Sử Bạch Đô?” Y nào biết Kim Trục Lưu không phải là người ở Trung Nguyên.
Kim Trục Lưu chỉ biết những bằng hữu năm xưa của cha mình, còn Lục Hợp bang thì gần đây vừa mới nổi dậy, chàng đương nhiên không biết. Mặc dù thư sinh nọ hiểu lầm Kim Trục Lưu, nhưng vẫn nói tiếp: ‘ Sử Bạch Đô tốn nhiều công sức mới lấy được chuỗi ngọc trai này, y muốn dùng nó để tặng cho những nhân vật quyền quý”. Kim Trục Lưu hỏi: “Làm sao ngươi biết? Ồ, ta vẫn chưa hỏi họ tên của ngươi!”.
Thư sinh đáp: “Tại hạ họ Lý, tên Đôn, là ký thất của Sử Bạch Đô, chuyên giúp y coi giữ văn thư”. Kim Trục Lưu nói: “Ồ, té ra là thế, cho nên ngươi muốn đánh cắp chuỗi ngọc này ngăn cản không cho y kết giao với bọn quyền quý”. Lý Đôn nói: “Tôi làm thế một là vì tiếc cho Sử Bạch Đô, hai là không muốn võ lâm có thêm một kẻ địch mới. Hỡi ơi, đáng tiếc Sử Bạch Đô không hiểu ý tốt của tôi, ngược lại còn muốn giết tôi, tôi chỉ đành chạy trốn khắp nơi”.
Kim Trục Lưu bình thản: “Ồ, té ra là thế”. Trong lòng thì nửa tin nửa ngờ, thầm nhủ: “Con người của Sử Bạch Đô như thế nào mình vẫn chưa biết, không thể tin lời phiến diện của y. Nói không chừng y đánh cắp đồ vật của bang chủ bị phát giác, cho nên mới lựa ra những lời như thế là muốn mình giúp đỡ. Chi bằng mình cứ chỉ y đến chỗ Giang sư huynh, là thực hay giả Giang sư huynh sẽ biết ngay”.
Thư sinh tựa như đã hiểu tâm ý của Kim Trục Lưu, không đợi Kim Trục Lưu lên tiếng đã bảo: “Tại hạ tuy gặp nạn nhưng cũng không cần ai thương tiếc. Kim thiếu hiệp và tôi chỉ là duyên bèo nước gặp nhau, đã ra tay giúp tôi một lần, tôi cảm kích không nguôi. Tôi dù có mặt dày cũng nào dám làm phiền đến bạn hữu? Được, mong rằng sau này sẽ gặp lại xin tạm biệt từ đây”.
Kim Trục Lưu nghe y nói như thế thì có hơi ái ngại. Những người ta đã bảo không cần mình giúp, mà mình lại cứ đòi giúp, nếu y là kẻ kiêu ngạo thì chắc chắn đây sẽ là nỗi nhục nhã. Kim Trục Lưu nghĩ đến đây, cho nên dù chàng có muốn giữ y lại nhưng cũng không đuổi theo.
Chỉ nghe thư sinh ấy cao giọng ngâm rằng: “Kẻ biết ta lo lắng cho ta, kẻ không biết ta ta cần gì? Trời cao mênh mông biết đi về nơi đâu!” Tiếng ngâm vang vọng trong sơn cốc, rồi thư sinh ấy cũng dần khuất dạng. Kim Trục Lưu ngỡ ngàng, thầm nhủ: “Y có ý muốn kết thành tri kỷ với mình, đáng tiếc mình đã phụ lòng tốt của y”.
Rồi lại nghĩ: “Lục Hợp bang và Sử Bạch Đô đều rất nổi tiếng, sau này mình có thể tìm ra sự thật chuyện này”. Thế rồi xuống núi tiến thẳng về Giang Tô, tìm một số bằng hữu cũ của cha mình. 
Người đầu tiên Kim Trục Lưu đến gặp là Trần Thiên Vũ. Trần Thiên Vũ là con nhà thế gia, cha của Giang Hải Thiên là Giang Nam đã từng làm thư đồng cho ông ta, sau đó lại kết giao thành huynh đệ. Ngoài Giang Nam và Trọng Trường Thống, có thể nói ông ta là người thân với Kim Thế Di.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 01:04:15Hoàng Dung>
Trần Thiên Vũ ở trấn Mộc Độc, cách Tô Châu khoảng một trăm dặm đường, trấn này nằm gần Thái Hồ, phong cảnh rất đẹp. Hôm nay Kim Trục Lưu đã đến Mộc Độc, lúc này trời đã hoàng hôn, chàng nghĩ thầm: “Cha bảo Trần thúc thúc là người nhà quan, tuy ông ta không còn làm quan nữa, nhưng gia phong vẫn còn. Đến nhà ông ta, mình phải giữ lễ mới được”. Thế rồi bèn vào trấn mua một bộ quần áo mới, đến chỗkhông người thay vào rồi chải tóc mới đến nhà họ Trần. Lúc này đã là canh hai. Kim Trục Lưu chần chừ trước nhà họ Trần một hồi, nghĩ thầm: “Nếu mình gõ cửa cầu kiến, phải mất nhiều thời giờ mới nói rõ ràng, như thế sẽ kinh động đến hàng xóm, mình thì không sao, chỉ e Trần thúc thúc e ngại. Chi bằng vào trước rồi tính”. Kim Thế Di là khâm phạm của triều đình, tuy ông ta đã bỏ ra hải đảo hai mươi năm nay, nhưng triều đình vẫn còn nhớ chuyện này. Nếu Kim Trục Lưu muốn nói rõ thân phận của mình, hiển nhiên phải nói tên ông ta ra, do đó Kim Trục Lưu mới lo cho Trần Thiên Vũ.
Kim Trục Lưu thi triển khinh công tuyệt đỉnh nhảy vào nhà họ Trần, nhủ thầm: “Trần thúc thúc sẽ bất ngờ, những mong người không trách mình”.
Kim Trục Lưu dùng khinh công tuyệt đỉnh, người nhẹ như chiếc lá, tưởng rằng vợ chồng Trần Thiên Vũ sẽ không phát giác, nào ngờ vợ chồng Trần Thiên Vũ đã mai phục sẵn đợi chàng rồi.
Kim Trục Lưu chưa kịp hạ xuống đất, chỉ nghe tiếng ám khí phóng tới trong không trung, chàng cũng không biết đó là ám khí gì, chỉ thấy từng hạt ám khí nhỏ như hạt ngọc trai từ trên không trung rơi xuống, Kim Trục Lưu dùng Phách không chưởng đánh ra, những viên ám khí ấy vỡ tan, tỏa ra ánh hàn quang lạnh lẽo, Kim Trục Lưu bất giác rùng mình.
Người phát ám khí là vợ của Trần Thiên Vũ tên gọi U Bình, ám khí phát ra được gọi là Băng phách thần đạn, loại ám khí này là loại băng được lấy từ hố băng ngàn năm, luyện thành một loại ám khí độc nhất vô nhị. Tất cả những loại ám khí trên đời đều có thể đả thương kẻ địch, cũng có thể đánh vào huyệt của kẻ địch, muốn phát ra ám khí phải chú ý độ chính xác, kình lực hoặc mức độ lợi hại của bản thân ám khí. Băng phách thần đạn lại khác hẳn, nó chỉ nhờ vào khí lạnh đã được hun đúc ngàn năm, khí lạnh phát ra có thể xâm nhập vào xương cốt của kẻ địch, lợi hại vô cùng.
Trước kia U Bình đã từng làm thị nữ trong Băng cung, Băng Xuyên Thiên Nữ đã cho bà một bình Băng phách thần đạn, có cả thảy một trăm viên. Giờ đây vẫn còn hơn ba mươi viên, đã nhiều năm không dùng tới. 
Kim Trục Lưu cố nhiên thất kinh, U Bình càng thất kinh hơn, nghĩ thầm: “Tên tiểu tặc này có thể phá nổi Băng phách thần đạn của mình, quả thật không thể coi thường”. Kim Trục Lưu thầm vận huyền công, xua tan khí âm hàn, nhất thời vẫn chưa lên tiếng. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, U Bình đã múa kiếm đâm tới, mắng lớn: “Tên tiểu tặc Lục Hợp bang, ta không tìm bọn ngươi tính nợ, ngươi lại dẫn xác tới đây!”.
Kim Trục Lưu thấy kiếm này của bà ta quá lợi hại, đành thi triển nội công thượng thừa, búng keng một tiếng, đánh bật cây hàn bảo kiếm của bà ta ra, nội lực của U Bình không bằng Kim Trục Lưu cho nên phải thối lui liên tục ba bước.
Trần Thiên Vũ quát: “Tên tiểu tặc đừng hòng phách lối!” Rồi liên tục chém ra ba kiếm, kiếm nào cũng đâm vào chỗ yếu hại của Kim Trục Lưu, ông ta sợ Kim Trục Lưu đả thương vợ mình, cho nên ra tay rất dứt khoát. Công lực của Trần Thiên Vũ hơn hẳn U Bình, Kim Trục Lưu không dám dùng Đạn chỉ thần thông nữa, vội vàng sử dụng Thiên la bộ pháp khéo léo né tránh hai chiêu của ông ta, Trần Thiên Vũ đâm tới kiếm thứ ba, Kim Trục Lưu đã cuộn tay áo, chỉ nghe soạt một tiếng, ống tay áo cũng bị Trần Thiên Vũ chém đứt một mảnh, nhưng kiếm của Trần Thiên Vũ cũng bị chàng đánh bật ra.
Trần Thiên Vũ ngạc nhiên, dừng lại hỏi: “Ngươi là ai?” U Bình: “Cần gì phải hỏi, ngoại trừ Lục Hợp bang còn ai dám ám toán chúng ta?” Trần Thiên Vũ nói: “Hình như không phải. Này, hãy mau nói thật, ngươi có phải là người của Sử Bạch Đô phái đến hay không?’
Lúc này trên đỉnh đầu Kim Trục Lưu đã tỏa khói trắng, chàng đã dồn khí âm hàn trên người ra, vì thế cười ha hả: “Trần thúc thúc, các người nhận ra chiếc nhẫn này chứ? Tiểu điệt Kim Trục Lưu, đến đây bái phỏng thúc thúc, ở đây có món quà mọn!”.
Trần Thiên Vũ vừa thấy Kim Trục Lưu sử dụng Thiên la bộ pháp thì đã nghi ngờ, lúc này mới để ý chiếc nhẫn ngọc trên tay chàng? Lập tức hiểu ngay, không khỏi vui mừng và kinh ngạc, kêu to: “Cha của ngươi là Kim Thế Di?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Tiểu điệt vâng lệnh cha đến đây bái phỏng thúc thúc”. U Bình kêu lên một tiếng ối chao: “Sao ngươi không nói sớm? Khiến cho bọn ta hiểu lầm”.
Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Tôi vừa đến đây, người đã dùng Băng phách thần đạn đánh tôi, tôi làm sao lên tiếng?” Bèn làm lễ ra mắt rồi nói: “Tiểu điệt e có điều không tiện cho nên chưa thông báo đã tiến vào, chả trách nào hai vị hiểu nhầm. Không biết tại sao thẩm thẩm lại nghĩ tiểu điệt là người của Lục Hợp bang?”. U Bình cười: “Nói ra thì dài, chúng ta hãy vào trong rồi tính tiếp. Lệnh tôn và lệnh đường có khỏe không?” Kim Trục Lưu đáp: “Cha mẹ của tiểu điệt vẫn khỏe”. Trần Thiên Vũ thở dài buồn bã: “Chớp mắt mà đã hai mươi năm trôi qua, chúng tôi đều đã già. Không ngờ hôm nay còn gặp lại con trai của cố nhân”.
Trần Thiên Vũ dắt Kim Trục Lưu vào thư phòng, hai bên ngồi xuống rồi kể: “Lục Hợp bang là bang hội mới nổi trên giang hồ gần đây nhất, nghe nói bang chủ Sử Bạch Đô võ công rất cao, nhưng ta chưa từng gặp”. Kim Trục Lưu hỏi: “Tại sao Lục Hợp bang đến đây quấy rối?”.
Trần Thiên Vũ đáp: “Ta và bọn chúng vốn chẳng liên quan với nhau, chuyện này cũng vì tiểu nhi mà ra”.
U Bình chen vào: “Tiểu nhi Trần Quang Chiếu, mới năm trước đã xuất đạo, gần đây đã quay về nhà một chuyến vì chuyện Lục Hợp bang. Đáng tiếc con đã đến muộn một bước, hôm qua hắn đã ra đi”. Rồi nói tiếp: “Lúc nãy con chần chừ trước nhà, ta còn tưởng Lục Hợp bang biết được tin hắn quay về nhà cho nên sai người đến điều tra”.
Trần Thiên Vũ nói: “Tháng trước trên đường đến Dự Bắc, tiểu nhi đã gặp người của Lục Hợp bang đến cướp thương nhân, tiểu nhi rút kiếm tương trợ, giết hai người của Lục Hợp bang. Nhưng trong số bọn chúng có một hòa thượng võ công rất ghê gớm, y đã đâm tiểu nhi một kiếm, tiểu nhi cũng đã đánh y một mũi thấu cốt đinh, về nhà dưỡng thương mấy ngày mới khỏe”. Kim Trục Lưu hỏi tiếp: “Nói như thế Lục Hợp bang là một đảng cướp, Sử Bạch Đô cũng là một tên ma đầu?”.
Trần Thiên Vũ gật đầu: “Sử Bạch Đô rất xảo trá, trước đây có tiếng hào hiệp, nào ngờ y âm thầm làm điều ác, song chỉ một năm gần đây bằng hữu trên giang hồ mới dần dần biết chuyện ác của y, cho nên cũng chưa trừ khử bọn chúng”.
Kim Trục Lưu hỏi lại: “Sử Bạch Đô muốn kết giao bọn quyền quý, dựa dẫm triều đình, có chuyện này không?”.
Trần Thiên Vũ đáp: “Ồ, té ra con cũng đã nghe phong thanh. Mùng mười tháng tới là ngày sinh nhật sáu mươi tuổi của đại nội tổng quản Tát Phúc Đỉnh, nghe nói Sử Bạch Đô sẽ đích thân đến chúc thọ cho y, lại còn tìm kiếm kỳ trân dị bảo để làm lễ vật. Tin này do người trong Lục Hợp bang tiết lộ, chắc là không giả. Lần trước bọn chúng chặn cướp một đám thương nhân buôn bán thuốc là bởi vì trong lô hàng thuốc ấy có một cây Hà thủ ô ngàn năm, nghe nói một thân vương đã đặt loại thuốc này, nhưng Lục Hợp bang lại dám cướp để dâng cho Tát Phúc Đỉnh”.
Kim Trục Lưu hỏi tiếp: “Không biết trong số lễ vật của y có một xâu chuỗi ngọc trai giá trị liên thành hay không?”.
Trần Thiên Vũ đáp: “Điều này thì ta không biết. Sao hiền điệt lại hỏi như thế?”.
Kim Trục Lưu kể lại mọi chuyện mà chàng đã gặp trong Thiên ma giáo ở núi Tồ Lai rồi nói: “Không biết Trần thúc thúc có biết kẻ tên gọi Lý Đôn, tự xưng là ký thất của Sử Bạch Đô hay không?”.
Trần Thiên Vũ nói: “Ta không nghe ai nói. Nhưng hai kẻ theo bắt người này rất có tên tuổi, bọn chúng là những nhân vật nằm trong tứ đại cao thủ của Lục Hợp [font="times new roman"]bang”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Tử đại cao thủ gồm những ai?”.
Trần Thiên Vũ đáp: “Tứ đại cao thủ trong Lục Hợp bang là một hòa thượng, một đạo sĩ, một cường đạo, một quả phụ, hòa thượng pháp danh Viên Hải. Đạo sĩ pháp đanh Thanh Phù. Cường đạo tên Tiêu Lỗi, vốn là một đại đạo độc cước, tỉ võ thua Sử Bạch Đô cho nên tự nguyện làm thủ hạ của y. Còn quả phụ là Đồng Thập Tam nương, nghe nói trong bốn người thì võ công của mụ ta cao nhất, sau khi chồng chết thì cấu kết với Sử Bạch Đô, trở thành một nữ hương chủ trong Lục Hợp bang”.
Kim Trục Lưu nói: “Võ công của đại đạo độc cước Tiêu Lỗi chẳng ra thể thống gì cả, Thanh Phù đạo nhân thì rất ghê gớm, con tuy thắng được y nhưng không dễ dàng. Võ công của quả phụ kia còn hơn cả y nữa, nói như thế Lục Hợp bang quả thật không thiếu người tài?”.
Trần Thiên Vũ nói: “Nghe nói võ công của Sử Bạch Đô càng cao hơn, cho nên muốn tiêu diệt Lục Hợp bang cũng không phải là chuyện dễ!” U Bình hạ giọng: “Song vợ chồng chúng ta dù sao cũng phải tính sổ với Lục Hợp bang. Kim hiền điệt, Giang sư huynh của con có nói chuyện Lục Hợp bang không?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Mấy ngày hôm nay Giang sư huynh bận rộn tiếp đãi khách khứa, ông ta không nói chuyện này với con”.
Trần Thiên Vũ nói: “Sư huynh của con gả con gái, bọn ta vốn phải đến chúc mừng, nhưng chỉ vì tiểu nhi quay về nhà dưỡng bệnh cho nên không thể ra đi, quả thật cũng rất áy náy lắm. Song ta cũng muốn đến bái phỏng lệnh sư huynh”. Té ra Trần Thiên Vũ tuy không sợ Lục Hợp bang, nhưng cũng đề phòng Sử Bạch Đô và Tứ đại cao thủ kéo tới, vợ chồng bọn họ có thể ứng phó không nổi. Cho nên muốn đến thăm Giang Hải Thiên, một là tránh tai họa, hai là bàn cách đối phó thế nào với Lục Hợp bang.
Kim Trục Lưu nói: “Giang sư huynh sắp tới có lẽ sẽ đến Bắc Kinh một chuyến, chuẩn bị đi về hướng tây bắc một vòng”.
Trần Thiên Vũ hỏi: “Có việc gì vậy?”.
Kim Trục Lưu thưa: “Người muốn trước khi vào Bắc Kinh sẽ đến thăm Trúc Thượng Phụ”.
Trần Thiên Vũ hỏi: “Chừng nào ông ta đến Bắc Kinh, con có biết không?”. Kim Trục Lưu đáp: “Tết Nguyên Tiêu sang năm, Giang sư huynh chắc chắn sẽ đến Bắc Kinh”.
Vì Kim Thế Di sai Giang Hải Thiên đến Bắc Kinh, mà Kim Trục Lưu không biết tại sao như thế cho nên không nói với Trần Thiên Vũ. Chàng chỉ nghĩ Giang Hải Thiên muốn đi ngao du thiên hạ, nếu Trần Thiên Vũ đến Bắc Kinh thì chắc chắn sẽ tìm ra sư huynh của chàng.
Trần Thiên Vũ nói: “Được, vậy ta sẽ đến Bắc Kinh gặp lệnh sư huynh. Lục Hợp bang đang bận rộn chuyện Tát Phúc Đỉnh, có lẽ sẽ không đến tìm ta gậy sự”.
Kim Trục Lưu ở nhà họ Trần hai ngày, ngày thứ ba thì chia tay vợ chồng Trần Thiên Vũ, hẹn sẽ gặp nhau tại Bắc Kinh vào ngày Tết Nguyên Tiêu sang năm.
Hôm nay là ngày mười lăm tháng chín, còn bốn tháng nữa mới đến Tết Nguyên Tiêu sang năm. Kim Trục Lưu không vội lên đường, lòng nhủ thầm: “Mình nghe người ta nói, trên có thiên đường, dưới có Tô Hàng (Tô Châu và Hàng Châu). Lần này đến Tô Châu phải chơi vài ngày cho thỏa thích”. Trên đường đi chỉ gặp toàn ruộng nương cò bay thẳng cánh, phố phường chằng chịt, nước hồ trong xanh, trông như cảnh vẽ trong tranh, nơi nào cũng nồng nàn tình điệu miền sông nước Giang Nam.
Kim Trục Lưu đưa mắt nhìn xa, tâm hồn thư thái, không khỏi chép miệng khen, suýt nữa thì hoa chân múa tay trên đường. Lòng nhủ thầm: “Hoàng đình viên có bài từ viết rằng: “Nếu đến Giang Nam vào mùa xuân, ngàn vạn mùa xuân như ở lại cùng Giang Nam. Mình chưa bao giờ đến Giang Nam vào mùa xuân, nhưng chỉ thấy mùa thu Giang Nam cũng khiến người ta đã quên đường về”.
Chợt nghe tiếng vó ngựa lóc cóc, Kim Trục Lưu đang ngắm cảnh, lúc hai thớt ngựa sắp tới gần chàng, chàng mới phát hiện. Ngẩng đầu lên nhìn chỉ thấy một hòa thượng to béo và một thiếu phụ ăn mặc diêm dúa. Hài tay to béo ấy đang vung roi quát: “Tiểu tử ngốc, tránh đường!” Có lẽ hòa thượng này thấy Kim Trục Lưu đang hoa chân múa tay, một mình ngâm vịnh trên đường cho nên cứ tướng chàng là một thư sinh mọt sách.
Kim Trục Lưu lách người qua, lòng nhủ thầm: “Nếu ngươi đánh xuống một roi, ta sẽ cho ngươi biết tay!” Nghĩ chưa dứt, chợt nghe thiếu phụ ấy kêu: “Đừng thô lỗ, hình như người này là con nhà quyền quý!” Hòa thượng ấy thu roi, giật dây cương, thớt khoái mã lướt qua người Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Hay lắm, té ra ngươi là kẻ trước kính áo quần sau kính người, nếu không phải ta vừa thay bộ áo mới, có lẽ dã chịu một roi của ngươi. Hừ, hừ! Các người không trêu ta nhưng ta lại phải trêu các người!” Thế rồi thi triển khinh công Bát bộ hãn thiền đuổi theo, nhưng lại nghe thiếu phụ ấy cười lớn: “Nhị ca, huynh lúc nào cũng nóng nảy, lúc nãy khi đi ngang qua Mộc Độc, ta thật sự lo huynh sẽ gây sự!” Hòa thượng ấy đáp: “Nếu không vì chuyện của chúng ta, ta sẽ tìm cha con bọn chúng báo thù! Đành chờ khi trở về sẽ tìm bọn chúng tính sổ”.
Kim Trục Lưu sững người ra, thầm nhủ: “Chả lẽ hai kẻ này là nhà sư và quả phụ trong Lục hợp bang!” Ở Mộc Độc chỉ có một nhân vật võ lâm là Trần Thiên Vũ, con trai của Trần Thiên Vũ đã từng đâm bị thương Viên Hải, cho nên mới kết oán thù với bọn chúng. Nhưng chàng không biết bọn chúng đang đi làm chuyện gì.
Kim Trục Lưu ngẩn người, hai thớt ngựa ấy đã phóng đi rất xa, Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Trước cảnh non xanh nước biếc thế này, cần gì phải mất hứng vì bọn [font="times new roman"]chúng! Mặc kệ bọn chúng là ai, mình phải đến Tô Châu chơi cho thỏa thích”.
Mộc Độc cách Tô Châu khoảng một trăm dặm, Kim Trục Lưu tuy không vội nhưng đến hoàng hôn đã tới được Tô Châu. Tô Châu là một thành thị nhà vườn nổi tiếng, khắp nơi cây cối xanh um, ngô đồng dương liễu cao vượt tường. Kim Trục Lưu thích thú lắm, thầm nhủ: “Hay lắm, mình phái đến Khoái Hoạt Lâm hưởng phước vài ngày”.
Đó chính là: Giang Nam xuân qua vội, hãy ngắm thu Thái Hồ.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 9 sẽ rõ.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 08:40:29Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Chín
[/align]
Ai sớm ra tay đoạt huyền thiết
Nào biết lòng thơm vướng lưới tình
[/align]Khoái Hoạt Lâm nằm ở phía bắc Tô Châu, vốn là li cung của Ngô vương Trương Sĩ Thành vào cuối thời Nguyên. Trương Sĩ Thành tranh giành Trung Nguyên với Chu Nguyên Chương, trong trận Trường Giang đã đại bại nhảy xuống sông tự sát. Sau khi Trương Sĩ Thành chết, tòa li cung này bị đem ra bán đấu giá, đến đầu thời Thanh, sau nhiều lần thay đổi chủ, đến tay một phú thương sẽ trở thành một khách sạn theo kiểu nhà vườn, chuyên tiếp đãi những kẻ giàu có, công tử vương tôn. Tiền thuê cao gấp hàng trăm lần khách sạn bình thường, nhưng nếu không đặt trước thì không có chỗ ở.
Khi Kim Trục Lưu ở nhà họ Trần, đã từng bảo với Trần Thiên Vũ sẽ đến Tô Châu du ngoạn. Chính Trần Thiên Vũ đã giới thiệu Khoái Hoạt Lâm cho chàng. Kim Trục Lưu trên đường đã đánh cắp tiền bạc, có ý muốn đến Khoái Hoạt Lâm tiêu tiền.
Kim Trục Lưu vừa vào Khoái Hoạt Lâm, chàng đã gặp một dãy trường lang ngoằn ngoèo, trên tường có rất nhiều bút tích thư pháp của các nhà thư pháp các đời chỉ có điều chủ nhân nơi dây không biết giữ gìn cho nên bị bóc ra từng mảng. Ra khỏi trường lang, hai bên cây cối mát rượi, xung quanh toàn là non bộ, hồ sen, u cốc, trông chẳng giống một khách sạn tý nào, tựa như nhà của một bậc vương hầu. Kim Trực Lưu rất thích thú, lòng nhủ thầm: “Khoái Hoạt Lâm quả nhiên danh đồn không ngoa, nhưng không biết mình có phúc ở đây hay không?”.
Nơi tiếp khách nằm ở cuối trường lang, khi Kim Trục Lưu từ trường lang bước tới, tên chấp sự đã thấy chàng. Kim Trục Lưu ăn mặc sang trọng, tên chấp sự không dám coi thường, vội vàng bước ra chào đón mời: “Quan khách đến thật đúng lúc, có một vị khách vừa mới trả phòng, đó là căn phòng tốt nhất của chúng tôi, tiền thuê cũng hơi mắc hơn”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ta đang muốn thuê căn phòng tốt nhất, bao nhiêu tiền?” Chấp sự đáp: “Năm lượng bạc một ngày”. Kim Trục Lưu gật đầu: “Rẻ quá, trả đủ cho người mười lượng”. Rồi tiện tay lấy ra một nén vàng, tiếp lời: “Nén vàng này bằng khoảng năm mươi đồng bạc. Ta tạm thời ở lại đây ba ngày, số còn lại là tiền cơm”. Khoái Hoạt Lâm toàn là khách quyền quý, nhưng rất ít người rộng rãi như Kim Trục Lưu, tên chấp sự luôn miệng cảm tạ, dắt Kim Trục Lưu đến phòng của mình.
Khoái Hoạt Lâm không giống với những khách sạn bình thường, phòng khách không nằm ở một nơi mà nằm rải rác trong vườn, có phòng dành cho cả gia đình ở, có phòng dành cho khách riêng rẽ. Nơi ở của khách riêng rẽ cũng có phòng khách và phòng tắm cho nên tiền thuê mới đắt như thế.
Lúc này trời đã tối, Kim Trục Lưu tắm rửa, ăn cơm tốt xong, nằm nghỉ ngơi trong phòng, nghĩ thầm “Đêm nay ngủ sớm, ngày mai sẽ đi du ngoạn”. Đang định thay quần áo đi ngủ, chợt nghe bên ngoài tiếng lao xao, tiếng đó phát ra từ chỗ tên chấp sự làm việc.
Kim Trục Lưu lắng nghe, cảm thấy giọng nói này rất quen thuộc, cho nên chạy ra nhìn. Té ra đó là hòa thượng và thiếu phụ đã gặp trên đường.
Chỉ thấy tên chấp sự không ngừng vái dài: “Thật xin lỗi đại sư, chúng tôi không còn phòng nữa”.
Hòa thượng ở khách sạn đã là điều hiếm thấy huống chi lại còn dắt theo một thiếu phụ, tên chấp sự này sợ có rắc rối cho nên có phòng cũng không dám cho thuê. Hòa thượng ấy nổi giận đùng đùng, gắt gỏng: “Ngươi bức hiếp người xuất gia như ta quá thể. Dù ngươi có phòng hay không, ta vẫn phải ở nơi này!” Nói xong thì đặt trên quầy một cái tráp màu đỏ. Trong Khoái Hoạt Lâm có nuôi đả thủ, có một tên đả thủ bước tới bưng cái tráp của y.
Tên đả thủ này định ném cái tráp ra ngoài cửa, sau đó đuổi hòa thượng ra. Cái tráp này dài ba thước, rộng khoảng bảy tấc, tên đả thủ vốn tưởng có thể dễ dàng nhấc lên, nhưng nào ngờ y vừa mới chạm vào, cái tráp vẫn không hề nhúc nhích. Sau đó y cố sức lắm mới nâng lên. Tên đả thủ thất kinh: “Một cái tráp nhỏ bé, sao lại nặng như thế? E rằng có đến trăm cân!”.
Điều khiến cho tên đả thủ thất kinh không chỉ có thế, y vừa giở cái tráp lên chỉ thấy trên quầy đã bị lõm một lỗ, một vật nặng trăm cân chắc chắn sẽ không làm cho quầy lõm xuống, chắc chắn là hòa thượng này đã dùng nội lực ấn xuống.
Kim Trục Lưu cũng cảm thấy kỳ lạ, thầm nghĩ: “Không biết lão lừa trọc này chứa cái gì trong cái tráp? Dù là kim ngân bảo thạch cũng không nặng như thế!”
Tên đả thủ định đuổi hòa thượng ra, lúc này mặt mũi đỏ ửng, không nói thành lời. Hòa thượng ấy cười lạnh hỏi: “Sao, ngươi muốn cướp đồ của ta ư? Được, ngươi thích thì cứ lấy!” Nói chưa đứt lời, cái tráp đã rơi xuống, đè vào chân tên đả thủ khiến cho y đau đến nỗi kêu oai oái.
Thiếu phụ mỉm cười, dùng mũi chân hất nhẹ, cái tráp bay lên rơi vào trong tay mà bà ta không hề tốn chút sức nào, tựa như đứa trẻ chơi đá cầu.
Thiếu phụ ấy cười rằng: “Bọn ta định để vật này ở đây làm tin để các ngươi yên tâm, ai ngờ các ngươi không chịu lấy, ta chỉ đành thu về”.
Bàn chân của tên đả thủ lúc nãy đã nát bét, máu thịt bầy nhầy, mấy tên đồng bọn chạy tới đỡ y lui ra, y không ngừng rên rỉ nhưng không ai dám lên tiếng.
Tên chấp sự vội vàng khúm núm thưa: “Tiểu nhân nào dám coi thường quý khách! Thật sự là không còn phòng trống nữa, không phải chúng tôi sợ quý khách không trả tiền phòng”.
Hòa thượng to béo trừng mắt, trông như sắp nổi giận, thiếu phụ lại mỉm cười: “Đại ca cứ để muội nói”.
Chỉ thấy thiếu phụ ấy mở cây quạt xếp, mỉm cười rồi bảo: “Các người hãy thử nhìn xem, không chừng còn phòng trống mà các người vội quên đó!”
Trên cây quạt xếp có thêu sáu cái đầu lâu, tên đả thủ bên cạnh là người trong bang hội, thấy thế thì cả kinh, vội vàng nháy mắt với tên chấp sự.
Tên chấp sự cười khổ sở: “Trong thành Tô Châu có rất nhiều khách sạn, khách quan hãy đến đó mà ngụ!”.
Hòa thượng hừ một tiếng lớn: “Bọn ta phải ở khách sạn tốt nhất, đã hỏi rất nhiều người mới tìm được đến chỗ các ngươi, dù thế nào ta cũng phải ở lại đây!” Lúc này Kim Trục Lưu mới hiểu: “Chả trách nào bọn chúng đã vào thành trước nhưng lại đến sau mình. Hừ, người ta nghĩ hòa thượng là tứ đại giai không, nhưng lão lừa trọc này thật biết hưởng thụ!”.
Tên đả thủ bên cạnh hoảng sợ đến nỗi toát mồ hôi, vội vàng nháy mắt với tên chấp sự. Thật ra tên chấp sự cũng đang nghĩ cách, nhưng chỉ vì sĩ diện cho nên chỉ từ chối lấy lệ mà thôi.
Một lát sau, tên chấp sự mới tỏ vẻ lúng túng: “Đại sư nể mặt như thế, dù không còn phòng tôi cũng phải nghĩ cách. À, đúng rồi, tôi đã nhớ. Có một căn phòng vốn đã có khách đặt, ngày mai y mới tới. Nhưng để làm quen tôi sẽ để lại cho quý khách.Nhưng đó là phòng đơn, chỉ e hai vị ở không tiện”.
Thiếu phụ ấy đỏ gay mặt: “Ngươi hãy nghĩ thử xem có còn phòng hay không?”. Tên chấp sự khổ sở: “Thật sự là không còn nữa. Nhưng ở đây phòng riêng của chúng tôi có phòng ngủ và có phòng khách”.
Hòa thượng ấy cười ha hả: “Ta là đệ tử cửa Phật, đã phá sắc không từ lâu, không cần lo chuyện nam nữ nữa. Nếu trong phòng đã có phòng ngủ lại có phòng khách thì thật là tốt. Tứ muội, cứ như thế nhé, không cần làm khó y nữa. Bao nhiêu tiền một phòng?”.
Tên chấp sự thì mắng thầm trong bụng: “Đệ tử của Phật như ngươi phải lọt xuống mười tám tầng địa ngục mới phải!” Nhưng mặt thì vẫn mỉm cười vui vẻ: “Tiểu nhân tiếp đãi không chu toàn, nào dám lấy tiền đại sư?” Hòa thượng ấy cười rằng: “Thôi được, ngươi bảo như thế thì ta không khách sáo nữa”.
Kim Trục Lưu đứng bên ngoài thấy tuồng đã vãn, toan trở về phòng mình, nhưng hòa thượng ấy bước ra đã thấy chàng, trừng mắt nhìn chàng. Thiếu phụ ấy hạ giọng: “Nhị ca, đừng gây sự?” Bà ta nói rất nhỏ nhưng Kim Trục Lưu đã nghe thấy, chàng nghĩ bụng: “Ta chỉ sợ các người không gây sự!”.
Kim Trục Lưu quay về phòng nghỉ ngơi một hồi, đến canh ba thì chàng suy nghĩ “Cây quạt xếp lúc nãy ả yêu phụ lấy ra có sáu cái đầu lâu, chắc là dấu hiệu của Lục Hợp bang, hai kẻ này chắc chắn là lão lừa trọc Viên Hải và mụ quả phụ Đổng Thập Tam nương. Mình phải trêu bọn họ một phen”.
Kim Trục Lưu đã nhớ nơi ở của bọn họ, đó là một căn phòng nằm riêng lẻ ở góc vườn, phía sau có hòn non bộ, Kim Trục Lưu lặng lẽ mò đến đó, đứng sau hòn non bộ nghe lén.
Chỉ nghe thiếu phụ ấy kêu ối chao một tiếng rồi nói: “Huynh làm gì thế! Tôi chẳng phải Trần Thiên Vũ, huynh muốn động tay động chân thì phải đến tìm Trần Thiên Vũ chứ?”.
Hòa thượng ấy cười rằng: “Động tay động chân với Trần Thiên Vũ đâu có vui như với muội!”.
Kim Trục Lưu nhìn vào, chỉ thấy hòa thượng và thiếu phụ nằm trên giường, thiếu phụ đang cởi áo ngoài, chỉ mặc bộ đồ lót màu đỏ, bộ dạng trông rất khêu gợi. Kim Trục Lưu cười thầm: “Hay lắm, cứ để cho bọn chúng vui vẻ một hồi, lát nữa bọn chúng sẽ chịu khổ!”.
Thiếu phụ ấy hỏi: “Này, huynh sợ Trần Thiên Vũ ư?” Hòa thượng ấy đáp: “Ta mà sợ Trần Thiên Vũ. Ta chỉ sợ một người, đó là bằng hữu của muội. Hì hì, nếu để Sử Bạch Đô mà biết ta ở cùng một phòng với muội thì sẽ đối phó với ta như thế nào đây?”.
Thiếu phụ ấy nói: “Huynh biết thì tốt. Hãy đàng hoàng một chút, nếu không tôi báo với Bạch Đô thì ông ta sẽ lột da huynh!”.
Kim Trục Lưu nghe đến đây thì đã biết quả nhiên đó chính là Viên Hải và Đổng Thập Tam nương của Lục Hợp bang.
Viên Hải cười cười: “Nếu muội dám nói cho bang chủ biết, ta sẽ bảo rằng muội dụ dỗ ta”. Đổng Thập Tam nương giả vờ giận dỗi: “Huynh cứ nói vớ vẩn, muội đã bảo huynh phải nói chuyện đàng hoàng tử tế, còn huynh lại động tay động chân! Nói chuyện xong huynh phải ra ngoài khách sảnh mà ngủ”.
Viên Hải gật: “Được, được. Muội muốn nói chuyện gì, nương tử, ta đang rửa tai lắng nghe đây”.
Thập Tam nương nói: “Huynh có biết trong cái tráp màu đỏ có chứa vật gì không? Sao lại đem ra hù dọa kẻ khác, nếu có chuyện gì chúng ta không thế nào gánh vác nổi”.
Viên Hải cười nói: “Chỉ hù dọa bọn nhãi nhép thì có gì đáng lo! Muội đã thấy đấy, có tặng cho chúng chúng cũng không dám đụng tới, chả lẽ sợ chúng cướp?”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Ngoài trời có trời, ngoài người có người. Tuy chúng ta không sợ bọn nhãi nhép ấy, nhưng huynh để lộ bí mật này ra, nếu bên cạnh có cao nhân thì chắc chắn sẽ biết cái hộp này không tầm thường. Cẩn thận vẫn tốt hơn”.
Viên Hải hạ giọng: “Ta làm sao dám quên lời dặn của nương tử! Nhưng nói đến đây ta phải hỏi lại nương tử, ta chỉ biết đó là lễ vật tặng cho Tát tổng quản, nhưng bên trong đựng thứ gì thì ta lại không biết”.
Đổng Thập Tam nương hỏi lại: “Huynh thật sự không biết?” Viên Hải đáp: “Bang chủ chỉ bảo ta canh giữ cẩn thận, không cho ta biết trong đó có thứ gì, đương nhiên ta không dám hỏi”.
Đổng Thập Tam nương cười: “Bang chủ đã không cho huynh biết, vậy huynh cũng không cần biết”.
Viên Hải thở dài: “Đúng là xa gần có khác, chúng ta đều là hương chủ trong bang, có chuyện vất vả thì ta phải gánh, còn bí mật thì chỉ mình muội biết”.
Đổng Thập Tam nương giận dỗi: “Huynh lại nói vớ vẩn, thôi được, cho huynh biết cũng được. Trong tráp là một tảng huyền thiết cho nên mới nặng như thế”.
Viên Hải ngác nhiên hỏi liền: “Huyền thiết là gì?”.
Đổng Thập Tam nương đáp: “Huyền thiết là gì mà huynh cũng không biết ư, thật hổ là một cao thủ võ lâm. Đó là một loại kim loại ở Tinh Túc Hải trên đỉnh Côn Luân, rất khó tìm, nặng hơn gấp mười lần một tảng sắt cùng thể tích!”.
Viên Hải hỏi: “Dùng để làm gì thế?”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Nếu có thợ rèn kiếm cao minh, dùng tảng huyền thiết này có thể nung được một thanh bảo kiếm, đó chính là vua trong các loại kiếm!”
Viên Hải kêu: “Ôi! Vật quý như thế mà tặng cho Tát tổng quản thật là đáng tiếc?
 Đổng Thập Tam nương nói: “Số là Bạch Đô chuẩn bị một món báu vật khác tặng cho Tát tổng quản nhưng đáng tiếc đã mất. Cho nên chỉ đành phải dùng tới tảng huyền thiết này”.
Viên Hải hỏi: “Vật báu đó là gì? Mất như thế nào?”.
Đổng Thập Tam nương hỏi ngược lại: “Huynh không biết chuyện Lý Đôn đã đánh cắp báu vật rồi bỏ trốn sao?”.
Viên Hải trả lời: “Ta chỉ biết bang chủ phái Thanh Phù và Tiêu Lỗi truy đuổi tên tiểu tử ấy. Nhưng không biết y đã đánh cắp thứ gì?”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Đó chính là báu vật mà muội vừa mới nói, một xâu trân châu vừa tròn vừa lớn. Mỗi viên trân châu trị giá ba ngàn lạng bạc!” Viên Hải lè lưới: “Mẹ kiếp, như thế viên trân châu ấy trị giá ba mươi vạn lượng bạc?” Đổng Thập Tam nương nói: “Không, trị giá năm mươi vạn lượng! Bởi vì khó tìm ra được một trăm viên ngọc trai như nhau, cho nên mỗi viên chỉ trị giá ba ngàn, nếu tập hợp lại thành một chuỗi, mỗi viên sẽ thành năm ngàn. Bạch Đô đã tìm mọi cách mới nài nỉđược một tên thương nhân người Ba Tư nhường cho. Nếu người bình thường thì dù có năm mươi vạn lượng bạc cũng không mua được!”.
[/align]Viên Hải nuốt nước bọt, nói với vẻ ngưỡng mộ: “Tên tiểu tử Lý Đôn ấy, thật sự đã phát tài! Chả trách nào bang chủ nổi giận như thét”.

[/align]Đổng Thập Tam nương cười: “Chuỗi trân châu là bảo vật có giá, còn tảng huyền thiết trong cái tráp lại là bảo vật vô giá. Nói thật, huyền thiết còn quý hơn cả ngọc trai!”.

[/align]Viên Hải gật gù: “Nhưng đem đi làm lễ vật, có thể Tát tổng quản sẽ thích ngọc trai hơn”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Nhưng bang chủ nói, ông ta muốn giữ lại huyền thiết hơn. Nhưng khi sắp đem ra thì Lý Đôn đã đánh cắp xâu chuỗi ngọc trai, ông ta mới đành bất đắc dĩ đem tặng huyền thiết. Nhưng Bạch Đô tức giận còn có nguyên nhân khác”.

[/align]Viên Hải vội hỏi: “Còn có nguyên nhân gì khác?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Huynh có biết Thiên ma giáo có ba thiên Bách độc chân kinh hay không?”.

[/align]Viên Hải nói: “Nghe nói giáo chủ Thiên ma giáo đã giấu ở trong một miếu hoang trên núi Tồ Lai, truyền rằng thị nữ năm xưa của bà ta đã tiết lộ bí mật này, không biết có thật hay không? Nhưng chuyện này có liên quan gì đến Lý Đôn?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Bạch Đô cũng nghe truyền thuyết như thế, nhưng không biết miếu hoang ấy ở nơi nào. Ông ta cũng muốn có ba thiên Bách độc chân kinh, không ngờ Lý Đôn đã đánh cắp trước”. Viên Hải lại hỏi: “Làm sao biết tên tiểu tử Lý Đôn đã đánh cắp?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương đáp: “Bang chủ chẳng phải đã sai Thanh Phù và Tiêu Lỗi đi bắt y hay sao? Huynh có đoán được y chạy đến nơi nào không, đó chính là chạy đến núi hoang của Thiên ma giáo ở núi Tồ Lai”

[/align]Viên Hải hỏi nữa: “Sao tên Lý Đôn có thể thoát khỏi tay của họ mà còn đánh cắp dược Bách độc chân kinh?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Khi Lý Đôn ở trong bang, y cải trang thành một tên thư sinh không biết võ công, chúng ta đều bị y gạt. Thực ra bản lĩnh của y rất cao cường, e rằng chẳng kém gì chúng tai”.

[/align]Viên Hải hỏi tiếp: “Dẫu như thế, y làm sao thắng được Thanh Phù và Tiêu Lỗi?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương đáp: “Muội vẫn chưa nói xong kia mà. Thanh Phù và Tiêu Lỗi đuổi theo đến một tòa miếu hoang, nhưng không thấy tên tiểu tử Lý Đôn đâu cả. Không biết ở đâu lại nhảy ra một tên ăn mày, đánh bại cả hai người bọn họ!”. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ta đang ở trước mắt các người, đáng tiếc các người đều đui cả!”.

[/align]Đổng Thập Tam nương tiếp tục: “Thanh Phù và Tiêu Lỗi chạy ra khỏi miếu hoang, nhưng không chạy xa, chỉ nấp trong bụi cỏ trên núi. Không lâu sau thì thấy Lý Đôn và tên ăn mày ấy cùng bước tới. Lý Đôn cầm một cái chuông lớn trên tay, rồi ném xuống vực sâu trăm trượng! Không những như thế, y cũng ném cả sâu chuỗi ngọc! Dù có bản lĩnh to bằng trời cũng không thể tìm lại! Hai người thấy thế thì hiểu ra, không cần nói cũng biết ba thiên Bách độc chân kinh đều khắc trong cái chuông ấy! Chắc tên tiểu tử Lý Đôn đã nấp trong cái chuông lớn cho nên mới thoát được cặp mắt của họ”.

[/align]Viên Hải nói: “Như thế tên tiểu tử Lý Đôn đã xem trước ba thiên Bách độc chân kinh?”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Đáng tiếc là y coi xong thì ném cái chuông xuống vực sâu, khiến Bạch Đô mãi mãi không thể tìm được, cho nên Bạch Đô mới tức giận như thế!”.
Kim Trục Lưu nghe đến đây thì hiểu ra, lòng nhủ thầm: “Nếu như thế mình đã trách nhầm Lý Đôn. Không phải y tâm thuật bất chính mà là không muốn để cho tên ma đầu Sử Bạch Đô tìm được”.
Đổng Thập Tam nương vẫn tiếp tục: “Lý Đôn coi sóc việc văn thư cho bang chủ, y cũng biết được không ít bí mật trong bang. Vì ba nguyên nhân này, bang chủ không thể buông tha cho y! Ông ta cũng đã hứa, nếu ai bắt được tên tiểu tử này trở về sẽ được thăng chức làm phó bang chủ”.
Viên Hải nói: “Như thế ta phải để ý mới được. Tứ muội, nhân dịp này, khi lên kinh thành, chúng ta sẽ gặp nhiều bằng hữu trên giang hồ, hãy thử nhờ họ âm thầm điều tra”.
Đổng Thập Tam nương cười rằng: “Muội khuyên huynh không nên nhọc lòng chuyện này!” Viên Hải nói: “Ta không phải mong muốn chức phó bang chủ, nhưng Tứ đại cao thủ chúng ta tề danh với nhau, nếu chúng ta lập được công lớn, có lẽ sẽ áp đảo được Thanh Phù và Tiêu Lớn”.
Đổng Thập Tam nương gắt lại: “Chúng ta cần gì phải tranh nhau như thế?”.
[/align]Viên Hải nói: “Muội sợ ta đánh không lại tên tiểu tử Lý Đôn?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Không phải ý này”.

[/align]Viên Hải hỏi: “Tại sao?”.

[/align]Đổng Thập Tam nương nói: “Nói thực cho huynh biết, bang chủ hận không giết được tên tiểu tử ấy, nhưng sau lưng tên tiểu tử ấy còn có một kẻ chống lưng? Chúng ta không thể đắc tội với người này!”.

[/align]Viên Hải ngạc nhiên: “Là ai thế?”. Đổng Thập Tam nương nói: “Huynh còn chưa biết sao? Đó là đứa em gái yêu quý của bang chủ chúng ta, Sử Hồng Anh Sử đại tiểu thư!”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 09:05:49Hoàng Dung>
Viên Hải nói: “Ồ, té ra là ả! Quả thật bang chủ kiêng dè ả nha đầu này mấy phần”.

[/align]Đổng Thập Tam nương hạ giọng: “Ả nha đầu và Lý Đôn âm thầm có tư tình, giấu được người khác nhưng không giấu nổi chúng ta. Chỉ có điều muội không dám nói cho bang chủ biết mà thôi”.
Viên Hải nói: “Võ công của ả nha đầu này chẳng kém gì anh trai của ả, nhưng ả cũng không dám công khai đối kháng với anh trai mình?”.
Đổng Thập Tam nương lắc đầu: “Huynh thật lẩm cẩm, sao không chịu dùng đầu mà suy nghĩ”.
Viên Hải cười rằng: “Đi cùng với một người thông minh như muội, ta đâu cần phải dùng đến đầu óc nữa? Thôi được, ta chỉ đành xin muội hãy chỉ giám”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Ả nha đầu Sử Hồng Anh tuy không dám công khai chống lại ca ca của mình, nhưng nếu chúng ta bắt được ý trung nhân của ả, có lẽ nào ả không coi chúng ta là kẻ thù? Ả và bang chủ dầu sao cũng là huynh muội, bang chủ cũng phải nhường ả vài phần. E rằng chúng ta bắt được tên tiểu tử ấy thì vẫn bị ả thả đi, vậy chúng ta đâu cần phải gây thù chuộc oán với ả”.
Viên Hải mỉm cười: “Rốt cuộc vẫn là phụ nữ các người suy nghĩ chu đáo, được, ta nghe lời muội, về sau gặp tên tiểu tử Lý Đôn ta cũng làm ngơ”.
Đổng Thập Tam nương thúc dục: “Tất cả những chuyện muội biết đều đã cho huynh hay, huynh có thể ra ngoài rồi đấy”.
Viên Hải chần chừ: “Không, không. Ta vẫn còn muốn nói với muội vài điều”.
Đổng Thập Tam nương nói: “Huynh đừng mong ở lại đây. Muội không tin huynh còn điều gì nữa”. Viên Hải nài nỉ: “Quả thật là chuyện đàng hoàng tử tế, muội hãy nghe ta nói, tên tiểu tử ấy e rằng có chút quái dị”.
Đổng Thập Tam nương hỏi: “Tên tiểu tử nào?”.
Viên Hải: “Tên tiểu tử mà chúng ta đã gặp trên đường, lúc nãy chẳng phải đã gặp lại y hay sao?”.
Đổng Thập Tam nương đáp: “Người ta là công tử nhà giàu, đến Tô Châu không ở Khoái Hoạt Lâm thì ở đâu?”.
Viên Hải nói: “Ta cảm thấy y có điều đáng ngờ, muội không cảm thấy y đang chú ý chúng ta ư?”
Đổng Thập Tam nương nói: “Đó là do huynh nghi ngờ mà thôi. Nhưng muội vẫn muốn nghe huynh nói, huynh nghi ngờ điều gì?”.
Viên Hải: “Lúc nãy chẳng phải muội đã nói Thanh Phù và Tiêu Lỗi đã gặp mộ tên ăn mày trên núi Tồ Lai, bị tên ăn mày ấy đánh bại hay sao?”
Đổng Thập Tam nương: “Ồ, lẽ nào huynh nghi ngờ tên tiểu tử ấy là tên ăn mày kia!”.
Viên Hải: “Muội đừng cười. Làm sao biết bọn chúng không phải là một người.
Muội có chú ý ánh mắt của tên tiểu tử ấy không, ánh mắt của y sáng quắc, chắc chắn là người có luyện võ công, vả lại nếu y là công tử nhà quyền quý, khi ta xông ngựa tới, toan dùng roi đánh y, sao y lại không hề sợ sệt?”.
Kim Trục Lưu ở ngoài nghe lén, thầm thất kinh, nhủ thầm: “Mình chỉ tưởng gã này là hòa thượng lỗ mãng, té ra là một kẻ già dặn giang hồ”.
Đổng Thập Tam nương cười ha hả: “Công tử nhà quyền quý luyện võ công có điều gì đáng lạ, huynh đừng đoán bừa nữa! Một công tử nhà giàu có thể đến Khoái Hoạt Lâm, tại sao phải bỏ áo gấm mà cải trang thanh một tên ăn mày rách rưới?”.
Viên Hải: “Ta cứ muốn điều tra thử xem”.
Đổng Thập Tam nương gắt: “Huynh đừng lắm chuyện nữa, để cho muội ngủ đi. Ngày mai chúng ta còn phải lên đường!”.
Viên Hải nghe nàng ta nói thế, bèn cười hềnh hệch bảo: “Được, được, muội bảo không phải là không phải. Nương tử đã căn dặn, tiểu tăng nào dám không nghe. Chúng ta hãy ngủ đi thôi!”. Đổng Thập Tam nương làm mặt giận, mắng rằng: “Huynh nghĩ đi đâu thế, ra ngoài, ra ngoài! Huynh ngủ ở ngoài khách sảnh”. Viên Hải cười hì hì: “Huynh còn tưởng muội giữ huynh ở đây. Ối chao, muội đừng đẩy huynh!”.
Đổng Thập Tam nương giận dỗi: “Huynh đừng nói vớ vẩn nữa, muội đánh huynh đấy”. Viên Hải cười rằng: “Đánh là yêu, mắng là mến, để cho muội đánh thì có hề chi? Ối chao, muội đánh thật đấy ư?”. Viên Hải vốn đang ngồi trên giường, lúc này đã bị Đổng Thập Tam nương đẩy ra ngoài, mà chỗ Đổng Thập Tam nương đang đứng chính là nơi cửa sổ.
Kim Trục Lưu nghe bọn họ đùa cợt với nhau, trong lòng rất nôn nóng, vốn là muốn ra tay nhưng nghĩ lại: “Chi bằng cứ để bọn chúng ngủ rồi mình sẽ đánh cắp cái tráp”. Kim Trục Lưu một là muốn lấy tảng huyền thiết ấy, hai là không muốn cho bọn họ đem tảng huyền thiết đi làm lễ vật. Lòng thầm nhủ: “Đương nhiên bọn chúng đã ngủ say mình không thể ám toán bọn chúng, nhưng nếu đánh cắp tảng huyền thiết, Sử Bạch Đô sẽ giáng tội bọn chúng”.
Không ngờ Kim Trục Lưu chưa kịp ra tay, Đổng Thập Tam nương đã ra tay trước, Kim Trục Lưu trái lại suýt nữa bị nếm phải đòn của nàng ta.
Khi Kim Trục Lưu đang tính toán, đột nhiên trước mặt có ánh vàng xẹt tới, Đổng Thập Tam nương đã ném ra một nắm mai hoa châm. Té ra Đổng Thập Tam nương đã phát giác có người nghe lén ở ngoài, vả lại bà ta đã nghi ngờ Kim Trục Lưu. Bà ta cố ý giả vờ không tin lời Viên Hải, chính là muốn Kim Trục Lưu không phòng bị.
Thủ pháp ném ám khí của Đổng Thập Tam nương rất lợi hại, Kim Trục Lưu nấp sau một hòn non bộ, nếu mai hoa châm phóng tới trước mặt chàng, Kim Trục Lưu đã có hòn non bộ che lại, đương nhiên không sao, nhưng nắm mai hoa châm của bà ta lại bay vòng lên hòn non bộ rồi đột nhiên bắn ngược về, thật khéo đến nỗi không thể tường tượng!
Mai hoa châm vốn không hình không tiếng, mà Kim Trục Lưu lại không ngờ rằng mai hoa châm bắn tới từ phía sau lưng mình, đến khi chàng phát giác quay đầu lại, ánh vàng đã lóe trước mặt, muốn dùng Phách không chưởng đỡ đã không kịp nữa.
May cho Kim Trục Lưu trong lúc nguy ngập mà vẫn có thể dùng khinh công trác tuyệt phóng vọt người lên cao đến ba trượng, mai hoa châm lướt qua bàn chân chàng, không hề chạm được vào người chàng. Kim Trục Lưu hít một hơi, thoang thoảng trong gió có mùi tanh, lúc này mới biết mai hoa châm của Đổng Thập Tam nương đã bị tẩm độc.
Kim Trục Lưu mắng: “Hay cho con mụ độc ác, ta sẽ xem nhà ngươi còn có tài cán gì!” Người vừa hạ xuống đất, nói chưa dứt lời thì Viên Hải đã nhảy bổ ra, quát lớn: “Tên ăn mày kia, ngươi hãy nếm mùi vị quyền của ta!” Y bị Đổng Thập Tam nương đẩy ra khỏi cửa cho nên phóng ra trước.
Kim Trục Lưu quét ngang một chưởng, năm ngón tay như móc câu tóm lấy đầu quyền của y, Viên Hải gầm lớn một tiếng, đầu quyền đã bị Kim Trục Lưu cào rách năm vệt. Nhưng Kim Trục Lưu tiếp quyền của y cũng không khỏi thối lùi ba bước.
Chàng nhủ thầm: “Chân lực nội gia của lão lừa trọc này thật không tệ, Trần thúc thúc bảo bản lĩnh của mụ yêu phụ hơn hẳn y, đêm nay mình không thể khinh địch được”.
Viên Hải gầm lớn một tiếng, hai quyền đấm ra rồi lại nhảy bổ tới. Kim Trục Lưu thấy y phóng tới hung hăng như thế, trước tiên sử dụng Thiên la bộ pháp né tránh, định đi vòng qua sau lưng y điểm vào huyệt phong phủ, chỉ nghe soạt một tiếng, Đổng Thập Tam nương đã rút ra một cây roi mềm, người chưa đến thì roi đã quét tới.
Kim Trục Lưu chưa đứng vững chân, rất khó né tránh. Nhưng chàng cũng rất lớn gan, không hề lo lắng, khi ngọn roi sắp đánh vào người, Kim Trục Lưu đã cuộn ống tay áo rồi phất lên, cuốn lấy ngọn roi.
Kim Trục Lưu dồn kình lực ra giật vào, quát: “Buông tay!” Đổng Thập Tam nương cười khẩy: “Chưa chắc!” Chỉ nghe soạt một tiếng, nửa ống tay áo của Kim Trục Lưu đã bị ngọn roi mềm của bà ta xé rách, cộng lực dù không hơn Kim Trục Lưu nhưng chí ít cũng đủ ngang tài ngang sức với chàng.
Kim Trục Lưu đứng thành tiễn bộ, nhảy vọt ra ngoài ba trượng, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Đổng Thập Tam nương đuổi theo, ngọn roi mềm đã quét tới như hình với bóng. Kim Trục Lưu giở hết bản lĩnh nhảy nhót né tránh, lại còn dùng công phu Phách không chưởng, khó khăn lắm mới tránh được ba roi liên hoàn Hồi phong tảo liễu của bà ta.
Đổng Thập Tam nương cười: “Ta không thể hiếp đáp một tên tiểu tử hậu sinh, ngươi hãy rút kiếm ra!”. Kim Trục Lưu rất ghét những người coi thường mình, lập tức rút kiếm ra, cười nhạt: “Ta càng không thể hiếp đáp một người đàn bà, ngươi hãy bảo gian phu của ngươi sánh vai mà tiến lên!” Tuy nói như thế, nhưng rốt cuộc Kim Trục Lưu cũng không dám đoạt roi nữa.
Viên Hải biến sắc, quát lớn: “Phải giết tên tiểu tử này để bịt miệng!” Đổng Thập Tam nương cười lạnh: “Cần gì nổi giận với một tên ăn mày? Huynh...” Đổng Thập Tam nương muốn nói: “Huynh hãy lui xuống, muội đã tính toán”. Nhưng nói được một chữ huynh thì chỉ thấy ánh kiếm lóe lên, Kim Trục Lưu đã đâm kiếm tới, Đổng Thập Tam nương thấy kiếm pháp của chàng lợi hại như thế, cũng không khỏi thất kinh. Bà ta không kịp nói mà vội vàng sử dụng thân pháp Phong quát lạc hoa né chiêu.
Nào ngờ Kim Trục Lưu đã chỉ Đông đánh tây, Đổng Thập Tam nương vừa lách người, Kim Trục Lưu đã rút kiếm, đâm về phía Viên Hải. Viên Hải dùng giới đao cản lại, không ngờ đánh hụt, Kim Trục Lưu lướt người, đâm kiếm từ một phương vị mà y không ngờ tối!
May mà Đổng Thập Tam nương lanh lẹ, quét một roi tới. Chiêu này buộc Kim Trục Lưu phải vội vàng né tránh, mũi đao hớt qua đầu Viên Hải, suýt nữa gọt một miếng da trên đầu y.
Viên Hải may mắn không bị kiếm đâm trúng cổ họng, nhưng da đầu mát rượi, cho nên cũng hoảng đến nỗi toàn thân đổ mồi hôi lạnh. Đổng Thập Tam nương thấy Kim Trục Lưu lợi hại như thế, thầm nhủ: “Nếu đơn đả độc đấu thì dẫu không thua tên ăn mày này cũng không thể thắng được hắn ta”. Mụ ta vốn muốn bảo Viên Hải lui xuống, nhưng đến lúc này thì không dám nữa.
Kim Trục Lưu đắc ý lắm. Chàng thấy Viên Hải đang sờ đầu mình, bật cười ha hả: “Lừa trọc, ngươi đừng lo, ta sẽ không lấy mạng ngươi đâu. Tục ngữ nói, bắt gian phải bắt cả đôi, nếu ta giết ngươi, gian tình của các ngươi há chẳng phải chẳng còn ai đối chứng hay sao? Hì hì, chi bằng ta cứ để Sử Bạch Đô xử lý các ngươi, còn ta thì đứng một bên xem tuồng”.
Song Kim Trục Lưu cũng không đắc ý được bao lâu, trong lòng lại thầm kêu khổ. Kim Trục Lưu chỉ vì ham vui nhất thời, đã nói ra những lời phạm vào điều kị của Đổng Thập Tam nương. Đổng Thập Tam nương tuy là người tính tình lả lơi, nhưng rất coi trọng sĩ diện, làm sao có thể để cho Kim Trục Lưu ăn nói như thế! Nghe chàng nói vài câu, bất đồ nổi giận bừng bừng, lập tức động sát cơ.
Đổng Thập Tam nương đã nổi sát cơ, Kim Trục Lưu càng khổ hơn. Nếu luận về bản lĩnh thật, Đổng Thập Tam nương chưa chắc thắng Kim Trục Lưu, nhưng cây Tra Long tiên của mụ ta là một món báu vật, có thể nhu có thể cương, dẻo dai vô cùng, đao kiếm không thể chặt đứt, khi thi triển thì đánh ra đến ngoài ba trượng, cây Thanh Cương kiếm của Kim Trục Lưu chỉ dài ba thước hai tấc, roi dài mà kiếm ngắn, cho nên chàng đã thua thiệt về mặt binh khí.
Vả lại lối đánh roi của Đổng Thập Tam nương thay đổi khó lường, quỷ dị vô cùng, Kim Trục Lưu từ nhỏ đã được cha truyền võ công, Cơ Hiểu Phong thường giảng [font="times new roman"]cho chàng võ công của các môn các phái, sở học của chàng bao la rộng lớn, dù không thể bảo là hiểu hết tất cả chiêu số của các loại binh khí, nhưng cũng có thể vừa nhìn đã biết lai lịch, nhưng đã đánh hai ba mươi chiêu mà chàng vẫn chưa biết lối đánh roi của Đổng Thập Tam nương.
Còn Đổng Thập Tam nương thì càng thất kinh hơn! Cây Tra Long tiên của mụ ta không biết đã đánh bại bao nhiêu nhân vật thành danh trên giang hồ, nhưng nay lại không thể chiếm được phần hơn trước một tên tiểu tử hậu sinh, nếu không có Viên Hải giúp đỡ, một mình bà ta chỉ e rằng không thể ứng phó nổi! Đường kiếm gia truyền của Kim Trục Lưu đã tập hợp sở trường của các môn các phái, cho nên Đổng Thập Tam nương cũng chẳng biết đường lối võ công của chàng.
Viên Hải tuy kém hơn, nhưng cũng là một cao thủ, y thi triển Ngũ hổ đoạn môn đao, nhờ cây roi dài của Đổng Thập Tam nương yểm hộ, một người đánh xa, một người đánh gần, cho nên có sức uy hiếp đối với Kim Trục Lưu. Trong lúc kịch chiến Kim Trục Lưu đã tìm được một sơ hở của Viên Hải, vừa định phá chiêu số của y, nào ngờ đó là kế dụ địch của Viên Hải, y cố ý để lộ sơ hở, Kim Trục Lưu vì muốn phá chiêu số của y, không khỏi phân tâm đối phó với y, điều đó đã tạo cơ hội cho Đổng Thập Tam nương.
Trong ánh đao hình roi, hai bên đều ra tay nhanh như điện chớp, Kim Trục Lưu đâm một kiếm về phía Viên Hải, cây roi dài của Đổng Thập Tam nương đã đánh thành một vòng cuộn vào cổ của Kim Trục Roi này gọi là Tỏa hầu tiên, khi cổ họng bị khóa lại, dù có võ công giỏi đến mấy cũng đứt hơi mà chết. Trong lúc lửa xẹt điện chớp, Kim Trục Lưu đã đổi kiếm thế đâm ngang thành một chiêu Cử hỏa thiêu thiên (giơ lửa đất trời), đưa kiếm hất lên trên, vẫn lao về phía Viên Hải. Đổng Thập Tam nương quát: “Phá rất hay!” rồi cây roi dài vung lên, đột nhiên vươn thẳng ra, biến thành một cây trường thương dài, từ trên đâm xuống dưới. Võ học có câu: “Thương sợ tròn, roi sợ thẳng”. Có thể dùng cây roi mềm để đánh ra chiêu số của trường thương, nội lực tất nhiên phải dồn vào thân roi, Đổng Thập Tam nương đột nhiên biến chiêu này, cả Kim Trục Lưu cũng không ngờ được.
Chỉ nghe bốp một tiếng, trên lưng Kim Trục Lưu đã trúng một roi, nhất thời máu rướm ra. May mà từ nhỏ chàng đã luyện Đồng tử công, da thịt rất rắn chắc, dù có bị thương ngoài da cũng chẳng hề chi. Còn Viên Hải thì bị chàng thúc cho một chỏ, bất đồ thối lui ba bước, đau đến nỗi kêu lên oai oái!
Tuy Viên Hải bị trúng một đòn nhưng cũng không đến nỗi bị nội thương nghiêm trọng. Đổng Thập Tam nương đánh Kim Trục Lưu một roi, lửa giận càng bốc cao, thế công càng lợi hại hơn.
Kim Trục Lưu thầm kêu lên không xong, nhủ rằng: “Đêm nay e rằng mình khó chiếm được phần hơn, nhưng chưa lấy được tảng huyền thiết ấy mà bỏ đi, làm sao nuốt được cái giận này!” Chàng hơi chần chừ Viên Hải đã tiến lên, Kim Trục Lưu hai mặt đều gặp địch, muốn thoát khỏi ngọn roi mềm của Đổng Thập Tam nương đã khó, [font="times new roman"]muốn chạy càng khó hơn.
May mà lúc này Viên Hải đã hơi khiếp sợ, không dám tiến tới quá đáng, Kim Trục Lưu có thể gắng gượng chống chọi được.
Ngọn roi mềm của Đổng Thập Tam nương tựa như du long bay lượn. Một hồi sau, Kim Trục Lưu bắt đầu toát mồ hôi trán, lòng thầm kêu: “Hỏng bét, hỏng bét? Năm mươi chiêu nữa chỉ e mình không chống chọi nổi. Phen này trộm gà không xong lại mất nắm thóc!”.
Kim Trục Lưu đang thầm kêu khổ, chợt nghe Đổng Thập Tam nương quát: “Là bằng hữu phương nào, hãy mau mắn bước ra đây!” Kim Trục Lưu đang toàn thần ứng chiến, cho nên không nghe được âm thanh gì.
Viên Hải nói: “Chắc là bọn khách lớn gan thức dậy nhìn lén”. Vì thế quát lớn: “Người của Lục Hợp bang ở đây, kẻ hiểu biết thời thế thì hãy mau nấp vào trong chăn!” Sau khi y quát, quả nhiên có tiếng đóng cửa sổ, Đổng Thập Tam nương đưa mắt nhìn xung quanh, trong sân chẳng có bóng người, vì thế mụ ta tưởng âm thanh nghe được lúc nãy là khách trong quán trọ nhìn lén.
[/align]Thật ra khách khứa ở trong Khoái Hoạt Lâm không phải là người giàu có thì là vương tôn công tử, ai dám ra sự nhìn lén? Họ đóng cửa lại chỉ là vì nghe Viên Hải quát như thế, sợ rằng cường đạo sẽ xông vào phòng mình, còn bọn đả thủ trong Khoái Hoạt Lâm đã biết bọn họ là người của Lục Hợp bang, đương nhiên không dám bước ra can thiệp.

[/align]Lúc nãy Đổng Thập Tam nương nghe được tiếng xì xào, hoài nghi rằng Kim Trục Lưu còn có đồng đảng, không khỏi hơi phân thần, thế công hơi chậm lại. Kim Trục Lưu đã thấy ra cơ hội, đột nhiên lao tới Viên Hải, Viên Hải vội vàng né tránh.

[/align]Đổng Thập Tam nương hô: “Chạy đi đâu?” Rồi cây roi dài đột nhiên cuộn tới, Kim Trục Lưu lướt qua người Viên Hải, thừa thế đẩy y một cái, Viên Hải kêu ối một tiếng, bị cây roi dài của Đổng Thập Tam nương cuộn tới, nói thì muộn, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu đã phóng vọt người lướt ra đến mấy trượng.

[/align]Đổng Thập Tam nương buông Viên Hải xuống, cười lạnh: “Đêm nay nếu để cho tên ăn mày nhà ngươi chạy thoát, lão nương thề không làm người!” Rồi co giò đuổi theo, liên tục phóng ám khí ra. Đổng Thập Tam nương không những giỏi môn đánh roi mà công phu phóng ám khí cũng thuộc hạng nhất trên võ lâm.

[/align]Kim Trục Lưu cứ chạy theo hình chữ chi, vòng qua hai hòn non bộ, Đổng Thập Tam nương đuổi sát theo sau. Kim Trục Lưu nhíu mày, giả vờ bị trúng ám khí, chàng kêu lớn: “Không xong rồi!” Rồi té nhào xuống đất. Đổng Thập Tam nương vì muốn bắt sống để hỏi lai lịch của chàng, vừa thấy chàng té xuống thì ngừng phát ám khí. Mụ ta vung roi hộ thân, tiến lên quan sát.

[/align]Đổng Thập Tam nương là kẻ già dặn, khi mụ ta bước tới quan sát thì vung roi hộ thân để đề phòng có trá ngụy, không ngờ vẫn mắc mưu Kim Trục Lưu. Khi mụ ta [font="times new roman"]bước tới, Kim Trục Lưu nhảy vọt dậy, cười rằng: “Có qua mà không có lại thì chẳng phải lễ, ngươi hãy nếm thử Đoạt mệnh thần sa của ta!” Đổng Thập Tam nương là cao thủ quen dùng ám khí độc, nghe được bốn chữ Đoạt mệnh thần sa thì cả kinh, vội vàng thối lui lại.

[/align]Một nắm cát vàng bay tới trước mặt, dù Đổng Thập Tam nương có đánh roi nhanh đến nỗi gió mưa không lọt cũng không thể tránh được, Đổng Thập Tam nương vội vàng nhắm hai mắt, đồng thời phất tay áo che trước mặt lại, dù như thế cũng đã bị trúng vài hạt cát. Nhưng Viên Hải thì còn tệ hơn, cát bắn xuống trúng đầu y khiến y đau nhói.

[/align]Trong khoảnh khắc ấy, Kim Trục Lưu đã phóng vọt qua hai hòn non bộ, nấp vào trong bụi hoa, đến khi Đổng Thập Tam nương mở mắt ra thì chẳng thấy bóng dáng Kim Trục Lưu đâu nữa.

[/align]Viên Hải vội vàng sờ đầu, hoảng hết hỏi Đổng Thập Tam nương: “Tứ muội, Đoạt mệnh thần sa là ám khí của môn phái nào, độc tính thế nào? Muội có biết cách giải không?”.

[/align]Lúc đầu Đổng Thập Tam nương nghe bốn chữ Đoạt mệnh thần sa, cũng tưởng rằng đó là một loại độc sa, nhưng mụ ta là một kẻ chuyên dùng độc, sau khi bị trúng “thần sa” thì chẳng thấy có gì khác lạ, mới biết đã bị mắc lỡm. Té ra Kim Trục Lưu đã tiện tay bốc một nắm cát vãi về phía bọn chúng.

[/align]Đổng Thập Tam nương mắng: “Hay cho tên giặc con, dám gạt lão nương của ngươi! Hừ, Đoạt mệnh thần sa cái gì, lát nữa lão nương tóm được ngươi thì mới thật đoạt mệnh ngươi!” Viên Hải nghe mụ ta mắng như thế mới biết đó không phải là độc sa cho nên mới yên bụng, nghiến răng: “Tên tiểu tử thật đáng ghét, nếu bắt được y, ta sẽ rút gân lột da của y”. Đổng Thập Tam nương giục: “Y vẫn chưa ra khỏi khu vườn này, huynh hãy theo ta tìm hướng này”. Đồng Thập Tam nương rất thính tai, cho nên lúc nãy khi nhắm hai mắt nhưng cũng biết được Kim Trục Lưu chạy về hướng nào. Kim Trục Lưu cười thầm: “Nếu ta muốn chạy thì đã thoát khỏi khu vườn này từ lâu”. Té ra chàng vẫn muốn lấy tảng huyền thiết lúc nãy.

[/align]Kim Trục Lưu nấp trong bụi hoa, bẻ một cành cây rồi búng cành cây ra, trong đêm tối nghe như tiếng áo quần sột soạt, Đổng Thập Tam nương quát: “Chạy đi đâu?” Rồi lập tức phóng về nơi cành cây rơi xuống, không ngờ đã trúng kế dụ hổ rời núi của Kim Trục Lưu.

[/align]Kim Trục Lưu đợi cho bọn chúng chạy đến trước mặt, chàng mới âm thầm từ bụi hoa bước ra, khinh công của chàng đã đến mức xuất thần nhập hóa, cao minh hơn Đổng Thập Tam nương nhiều, sau mấy lần trồi hụp thì đã đến phòng của họ. Đổng Thập Tam nương chỉ chú ý tìm kiếm trước mặt cho nên không phát giác được gì.

[/align]Kim Trục Lưu vào phòng Đổng Thập Tam nương, nhưng lại bất đồ cả kinh, cái tráp đựng tảng huyền thiết đã không còn nữa. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Mình rõ ràng [font="times new roman"]đã thấy bọn chúng đặt trên bàn, nhưng sao chớp mắt đã biến mất? Xem ra đã có cao nhân khác!”.

[/align]Chính là: Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ phía sau.

[/align]Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 10 phân giải. [/font][/font][/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 22:39:14Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Mười 
[/align]
Bán lạ nhẹ quăng hiệp sĩ thật
Rừng hoang cười giỡn cứu giai nhân
[/align]Cái tráp không còn nữa, Kim Trục Lưu rất thất vọng. Nhưng chàng vẫn không nản lòng, thầm nhủ: “Cái tráp này nặng đến hơn trăm cân, dù người đó là cao thủ cũng không dễ dàng mang đi mà không để lộ tung tích”. Chàng hy vọng người đó vẫn còn giấu cái tráp trong phòng, vì thế đánh đá lửa lên nhìn cho rõ, quả nhiên cái tráp đã bị người ta đánh cắp.

[/align]Đổng Thập Tam nương tìm không ra Kim Trục Lưu, đột nhiên cảnh giác, khi quay đầu lại nhìn thì thấy Kim Trục Lưu đang đánh đá lửa, Đổng Thập Tam nương thấy ánh lửa vừa lóe lên đã tắt, thì biết ngay Kiến Trục Lưu đã làm gì.
Đổng Thập Tam nương kêu lên: “Hỏng bét, chúng ta đã trúng kế điệu hổ ly sơn của tên tiểu tử ấy!”.
Không ngờ cũng trong cùng một lúc đó, Viên Hải cũng kêu lên: “Hay cho tên tiểu tử, chạy đi đâu Tứ muội, đuổi cho mau, tên tiểu tử chạy ra vườn!”.
Kim Trục Lưu phóng vọt người ra, dưới ánh trăng mờ ảo, chỉ thấy một bóng đen vừa lướt qua bức tường.
Đổng Thập Tam nương phát hiện kẻ địch chạy về hai hướng khác nhau, Đổng Thập Tam nương quay trở lại, Viên Hải thì chạy ra, Đổng Thập Tam nương kêu lên: “Mau trở lại, tên tiểu tử đang ở trong phòng chúng ta!” Viên Hải lớn tiếng: “Không, tên tiểu tử đã chạy ra ngoài!” Cả hai người không hẹn mà đều quay đầu lại, bóng đen đó đã vọt ra khỏi tường, Đổng Thập Tam nương không thấy được. Nhưng Viên Hải đã thấy Kim Trục Lưu vừa mới phóng ra khỏi phòng.
Viên Hải ngẩn người ngừng bước lại. Đổng Thập Tam nương thì vẫn chạy tới trước, vừa chạy vừa kêu: “Sao còn chưa đuổi mau, tên tiểu tử muốn đánh cắp báu vật của chúng ta!” Viên Hải chợt hiểu ra, kêu lên: “Không, y chỉ có đôi tay không, nếu huyền thiết bị đánh cắp, chắc chắn ở trên người tên tiểu tử đã chạy ra bên ngoài!”.
Đổng Thập Tam nương vẫn chưa biết huyền thiết có còn hay không, nhưng nghe Viên Hải nói cũng có lý, Kim Trục Lưu chỉ có đôi tay không, nếu huyền thiết đã bị đánh cắp thì chắc chắn ở trên người kẻ kia. Như nếu huyền thiết vẫn chưa mất, Đổng Thập Tam nương đuổi theo kẻ kia thì đã tạo cơ hội cho Kín Trục Lưu ra tay. Đổng Thập Tam nương do dự chưa quyết, không biết nên đuổi theo ai.
Viên Hải và Đổng Thập Tam nương do dự, Kim Trục Lưu đã có cơ hội. Chàng bốc một nắm đất rơi vãi tới, cười khì: “Đoạt mệnh thần sa của ta nữa đây!”.
Đổng Thập Tam nương đã bị mắc lỡm một lần, mụ ta buột miệng mắng: “Tên tiểu tử khốn kiếp, còn định gạt lão nương?” Không ngờ chợt nghe tiếng soạt soạt, té ra Kim Trục Lưu không phải ném cát mà là sỏi. Thì ra lần này Kim Trục Lưu đã nhặt một hòn đá rồi bóp vỡ ra ném tới.
Kim Trục Lưu sử dụng công phu thượng thừa Đàn chỉ thần thông, ném đá vụn ra tựa như đạn chì, tuy trong đêm tối nhưng toàn ném vào đại huyệt trên người của kẻ địch.
Đổng Thập Tam nương biết không thể nào né những viên sỏi này, chỉ đành sử dụng Bạt phong tiên pháp phòng thân. Bạt phong tiên pháp không quét được cát, nhưng có thể chặn được vài viên sỏi.
Đổng Thập Tam nương còn có thể chống chọi, nhưng Viên Hải thì lại không. Kim Trục Lưu vung hai tay lên, sỏi trong lòng bàn tay trái phóng về phía Viên Hải. Viên Hải múa thanh giới đao, chỉ nghe tiếng leng keng vang lên không ngớt bên tai, đường đao pháp này của y vốn cũng phòng thủ tương đối kín kẽ, nhưng không chịu nổi kình đạo của Kim Trục Lưu đánh tới, chỉ đánh vài viên sỏi thì cũng cảm thấy hổ khẩu đau nhói, chỉ hơi sơ suất thì huyệt khúc trì đã trúng một viên, thanh giới đao rơi xuống, Viên Hải kêu lên ối chao rồi cũng ngã xuống đất.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Tên lừa trọc nhà ngươi chẳng phải đã nói sẽ rút gân lột da ta hay sao? Hì hì, ta sẽ nhớ câu này, lần này ta sẽ tha cho ngươi”. Đổng Thập Tam nương mắng: “Tên tiểu tử kia, có giỏi thì đừng chạy!” Kim Trục Lưu cười chọc: “Có gan hãy đuổi theo, ta không rảnh chiều ngươi, tảng huyền thiết ấy có giá trị hơn ngươi nhiều, ta chỉ cần tảng huyền thiết chứ không cần ngươi, ở lại đây làm quái gì? Này, nếu không dám đuổi theo thì xin thứ ta không thể chiều được!”.
Kim Trục Lưu bỡn cợt bọn họ một phen, cười lớn rồi phóng ra khỏi bức tường. Đổng Thập Tam nương tức đến nỗi chân mày dựng ngược, nghiến răng kèn kẹt, nhưng cũng không dám đuổi theo chàng. Vả lại Viên Hải đã bị đánh vào huyệt khúc trì, cũng phải cần lập tức giải cứu, chỉ đành mở to mắt nhìn Kim Trục Lưu bỏ chạy.
Kim Trục Lưu chạy ra khỏi Khoái Hoạt Lâm, bóng đen ấy cũng biến mất. May mà phía trước chỉ có một con đường, Kim Trục Lưu cứ thế đuổi tới, đi một hồi quả nhiên thấy có một người đang chạy ở phía trước, trên tay đang ôm cái tráp đỏ.
Người ấy thân hình gầy ốm, người mặc một bộ trường sam màu xanh, trông chẳng vừa vặn tý nào, tà áo dài che cả bước chân, khi di chuyển khinh công chẳng thấy được gót chân. Kẻ ấy đội một cái mũ che cả tai trông rất quái lạ. Song khinh công của kẻ này rất ghê gớm, vì y mặc trường sam quá dài cho nên không thấy được bước chân, trên người mặc bộ đồ xanh cho nên trông tựa như cành liễu bay trong gió. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “May mà kẻ này phải ôm một tảng thiếc nặng trên trăm cân, nếu không dù có đuổi được theo y cũng phải tốn nhiều sức”.
Người ấy đã phát giác phía sau có người cho nên càng chạy nhanh hơn, rời khỏi đường lớn, định chạy vào mảnh rừng ven đường, Kim Trục Lưu cười gọi lớn: “Bằng hữu, đừng lo, chúng ta là đồng đạo”. Chàng vừa lên tiếng, người ấy càng chạy nhanh hơn.
Kim Trục Lưu sử dụng thân pháp Bát bộ cản thiền, sau mấy cái trồi hụp thì đã đuổi theo sau lưng người ấy, lên giọng: “Bằng hữu, ta đã giúp ngươi cản truy binh, ngươi cũng nên cảm tạ ta chứ? Nhưng ngươi đừng lo, ta không phải đến chia phần với ngươi”.
Người ấy biết không hơn được Kim Trục Lưu, chỉ đành ngừng bước xoay người lại. Chỉ thấy y che mặt bằng tấm khăn màu đen, dưới ánh trăng mờ ảo không thể nào thấy được mặt thật của y. Người ấy ngừng lại, lạnh lùng hỏi: “Bằng hữu đồng đạo cái gì? Ngươi là ai?”.
Người ấy cố ý nói giọng ồm ồm. Kim Trục Lưu tuy không phải là người già dặngiang hồ, nhưng cũng biết y làm thế là không muốn lộ giọng thật của mình, nhưng y tuy giả vờ nói giọng ồm ồm, nhưng không thể giấu nổi âm sắc trong trẻo vốn có của mình.
Kim Trục Lưu nhíu mày, thầm nhủ: “Sao kẻ này lại giả vờ bí hiểm như thế, không cho người ta thấy mặt thật, cả giọng cũng giả?” Vì thế cười ha hả, chỉ cái tráp trên tay y: “Chân nhân trước mặt, lại còn nói dối? Ngươi làm gì thì ta cũng làm thế ấy. Ha ha, chúng ta chẳng phải là bằng hữu đồng đạo hay sao?”.
Người ấy hình như ngẩn người ra, song vì y che mặt cho nên Kim Trục Lưu không thấy được vẻ mặt của y, một lát sau người ấy mới nói: “Ồ, té ra ngươi cũng biết đây là vật gì!”.
Kim Trục Lưu nói: “Đương nhiên! Nếu là báu vật bình thường, ta đâu cần. Hì hì, không ngờ ta liều mạng với Đồng Thập Tam nương để cho ngươi kiếm lợi!”.
Người ấy hừ một tiếng rồi nói: “Nói như thế, ngươi nhất định phải lấy tảng huyền thiết này?”. Kim Trục Lưu đáp: “Đúng thế, ta vốn muốn lấy nó. Nhưng giờ đây ngươi đã đi trước một bước, ta chỉ dành nhận thua. Chúng ta đã là bằng hữu đồng đạo, ta không bao giờ làm chuyện nẫng tay trên”.
Người ấy nghe xong thì không lên tiếng, quay đầu toan bỏ đi. Kim Trục Lưu đuổi theo, nói với theo: “Này, này! Sao ngươi lại chẳng hiểu tình lý tý nào? Ta tuy không muốn chia chác với ngươi, nhưng người cũng phải cảm tạ ta một tiếng mới đúng?”.
Người ấy nói: “Nói thực cho ngươi biết, tảng huyền thiết này vốn là...” Kim Trục Lưu vội hỏi: “Vốn là thế nào? Tại sao ngươi không nói?” Người ấy ngập ngừng rồi mời trả lời: “Vốn là, chính là ta...” Kim Trục Lưu cười lạnh: “Chính là vật của ngươi? Ha ha, may mà ta đã biết lai lịch của tảng huyền thiết này, ngươi muốn gạt ta đâu có dễ?” Người kia bảo: “Ta vẫn chưa nói xong, ý ta muốn nói tảng huyền thiết này là thứ ta đã thích, ta phải lấy cho bằng được, song đêm nay ngươi đã vô tình giúp ta, ngươi nhất định đòi ta cảm tạ, vậy ta sẽ cảm tạ ngươi một tiếng”.
Kim Trục Lưu bực bội lắm, lòng thầm nhủ: “Cảm tạ mà cũng miễn cưỡng như thế, thật là vô lý!” Thế rồi chàng đuổi theo, người ấy gắt: “Sao, ta đã cảm tạ ngươi, ngươi đã bảo không muốn chia, ngươi còn đuổi theo ta làm gì?”.
Kim Trục Lưu vốn muốn trách y, nhưng nghĩ lại cần gì phải nhỏ nhẹ như thế, nên bảo: “Ngươi vẫn chưa cho ta biết ngươi là ai, chúng ta là đồng đạo, có thể kết bằng hữu được chứ?”.
Người ấy lạnh lùng: “Ngươi thật lắm điều, ta không muốn kết giao với kẻ tò mò như ngươi!” Kim Trục Lưu nào chịu bỏ qua, cứ đuổi theo như hình với bóng.
Người ấy đột nhiên ngừng bước, giận dữ quát: “Ngươi rốt cuộc muốn gì?”.
Kim Trục Lưu nói: “Ta không hỏi lai lịch của ngươi nữa. Nhưng ngươi có biết lai lịch của tảng huyền thiết này không?”.
Người ấy hỏi ngược: “Biết thì thế nào, không thì thế nào?”.
Kim Trục Lưu mập mờ: “Nếu ngươi đã biết thì phải nên hợp tác với ta”.
Người ấy: “Ồ, có nghĩa là sao?”.
Kim Trục Lưu: “Bang chủ Lục Hợp bang Sử Bạch Đô sai người đem tảng huyền thiết này vào kinh tặng cho đại nội tổng quản Tát Phúc Đỉnh làm lễ chúc thọ”. “Thì thế nào?”.
Kim Trục Lưu: “Nay đã lọt vào tay ngươi, Sử Bạch Đô làm sao chịu để yên, đương nhiên tìm cách cướp lại. Cao thủ Lục Hợp bang nhiều như mây, ai nấy cũng đều là hạng ma đầu chẳng chuyện ác gì không làm, tảng huyền thiết sẽ là mầm họa cho ngươi đó”. “Ồ, ta đã hiểu, ngươi muốn bảo vệ cho ta, có phải ý như vậy không?”.
Kim Trục Lưu: “Không dám, nhưng có ta đi cùng ngươi, hai người ứng phó với kẻ địch dù sao cũng tốt hơn một người”.
Người kia cười lạnh: “Đa tạ lòng tốt của ngươi. Nhưng ta không thân không thích, ta lại chẳng có gì tốt cho ngươi, tại sao ngươi bảo vệ ta? Hừ, chỉ e ngươi đang nhòm ngó tảng huyền thiết này!”.
Kim Trục Lưu lại bị từ chối, bất giác nổi giận: “Ngươi quả thật là chó cắn Lã Động Tân, không biết lòng người tốt. Thôi được, ta vẫn không muốn lấy, nhưng ngươi đã bảo ta như thế, ta phải lấy cho bằng được”.
Người ấy cười lạnh: “Thế nào? Rốt cuộc đã lòi đuôi chồn! Được, có bản lãnh thì cứ giành lấy!” Thế rồi hai vung lên, ném cái tráp về phía Kim Trục Lưu.
Người che mặt thật ra chỉ nghi ngờ trong lòng, không biết Kim Trục Lưu là ai, cũng không tin Kim Trục Lưu có thể đánh bại Đổng nhập Tam nương và Viên Hải, nhủ thầm: “E rằng kẻ này là người của Đổng Thập Tam nương. Ả yêu phụ không dám đuổi theo cho nên xúi tên tiểu tử này đến gạt mình. Hừ khẩu khí của y thật lớn, mình phải cho y nếm khổ mới được”. Cho nên y ném cái tráp tới là để thử bản lĩnh của Kim Trục Lưu xem thử chàng có tiếp được hay không.
Người ấy trông gầy ốm, nhưng lực ném rất mạnh, cái tráp bay tới Kim Trục Lưu kêu vù một tiếng.
Kim Trục Lưu không động thanh sắc, cười ha hả rồi giơ tay ra đỡ cái tráp: “Các hạ đã rộng rãi như thế, lần này ta phải cảm tạ ngươi’”.
Người che mặt cả kinh, lúc này mới biết công lực của Kim Trục Lưu hơn hẳn mình, nhưng cũng không chịu ngừng lại, Kim Trục Lưu vừa xoay người đi y đã đuổi theo.
Kim Trục Lưu cười đùa: “Ngươi không chịu kết bằng hữu với ta, ta cũng không muốn kết bằng hữu với ngươi, ngươi đuổi theo ta làm gì?” Người ấy quát: “Để cái tráp lại”. Kim Trục Lưu cả cười: “Ngươi cho ta rồi đòi lại, ha ha, thật buồn cười!”.
Người che mặt quát: “Ta không đùa với ngươi, hãy mau để xuống”. Trông y rất tức giận. Kim Trục Lưu có ý chọc y, kêu hừ một tiếng rồi nghiêm mặt nói: “Ta cũng không đùa với ngươi, ngươi tưởng ta rảnh rỗi lắm ư?”
Người che mặt bằng giọng quát: “Được, ngươi đừng trách ta không khách sáo?” Kim Trục Lưu: “Có bản lĩnh thì cứ giật lại!” Nói chưa dứt, chỉ nghe soạt một tiếng, ánh ngân quang lóe lên, một ngọn roi mềm bằng tơ bạc đã quét tới Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Lại là một kẻ sử dụng roi mềm, xem thử lối đánh roi của y so với Đổng Thập Tam nương thế nào”. Nghĩ chưa dứt thì ngọn roi đã đánh tới, thế roi tựa như rồng lượn, Kim Trục Lưu vừa nhìn thì đã biết roi của y đồng thời đánh vài ba huyệt đạo của mình. Dùng roi đánh huyệt đạo là môn công phu khó học, Kim Trục Lưu cũng bất giác thất kinh. Khi ngọn roi sắp đánh vào người Kim Trục Lưu, chàng thi triển Thiên la bộ pháp nhẹ nhàng xoay chuyển né tránh, ngọn roi suýt tý nữa đã quét vào xương tỳ bà của chàng. Kim Trục Lưu tưởng rằng có thể né tránh, không ngờ lối đánh roi của người ấy rất linh hoạt, đầu roi đột nhiên xuất hiện một cây trùy thủ dài ba tấc, cắm thẳng vào huyệt toàn cơ của Kim Trục Lưu.
Đối phương đã sử dụng chiêu số quái dị này, cả Thiên la bộ pháp cũng không thể né tránh được. May cho Kim Trục Lưu, trong lúc nguy ngập chàng đã thi triển kỹ pháp trác tuyệt, chàng vung tay búng vào đầu roi, ngọn đoản kiếm lệch qua một bên, chỉ có rách áo chàng nhưng không hề chạm vào da thịt, tuy như thế Kim Trục Lưu cũng không khỏi toát mồ hôi.
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, người che mặt đánh ra một roi Hồi phong tảo liễu, quét roi tới, trên đầu roi của y có binh khí, trong lối đánh roi có cả chiêu số của đao kiếm.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Gã này thật ghê gớm, mình phải cho y biết một chút lợi hại”. Thế rồi rút kiếm ra khỏi vỏ, chém vào thanh đoản kiếm trên cây roi của y.
Kim Trục Lưu sử dụng Truy phong kiếm thức, kiếm pháp rất nhanh, không ngờ lối đánh roi của người ấy tựa như du long, Kim Trục Lưu liên tục đánh ra tám chiêu mà vẫn không chém được vào cây đoản kiếm trên roi của y.
Kim Trục Lưu cả kinh, thầm nhủ: “Công lực của người này chưa chắc hơn Đổng Thập Tam nương, nhưng lối đánh roi thì hơn hẳn mụ ta. Đêm nay mình gặp hai hảo thủ đánh roi, coi như cũng là kỳ ngộ”.
Người che mặt thấy kiếm pháp của Kim Trực Lưu cũng thất kinh, nhủ thầm: “Kiếm pháp của kẻ này kín kẽ như thế, công lực lại hơn mình, nếu y đặt cái tráp xuống, mình chẳng phải là đối thủ của y”.
Kim Trục Lưu là người cứng đầu, vì người ấy quát bảo chàng buông tảng huyền thiết ra, chàng không chịu, lúc này nếu buông ra thì sẽ thắng, nhưng chẳng còn mặt mũi gì nữa. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ta thắng được ngươi thì sẽ trả lại huyền thiết”. Kim Trục Lưu vì cái giận tức thời cho nên không khỏi thua thiệt.
Kim Trục Lưu đang ôm một tảng huyền thiết nặng hơn trăm cân, đương nhiên khinh công cũng bị ảnh hưởng, tuy vẫn còn linh hoạt nhưng cũng rất tốn sức. Kẻ dịch dùng roi dài có cột đoản kiếm tấn công, Kim Trục Lưu chỉ đành chống đỡ.
Kim Trục Lưu bị đánh khoảng mười mấy chiêu thì bực dọc quát: “Được, ta sẽ cho ngươi biết tay!” Thế rồi ngầm vận huyền công dồn vào mũi kiếm, thanh trường kiếm vung lên kêu xoèn xoẹt. Cây roi mềm của người che mặt chỉ còn cách chàng ba thước, cũng bị kiếm phong của chàng quét tạt ra. Kim Trục Lưu tuy không thể áp sát tới xuất chiêu, nhưng cây roi mềm của đối phương cũng không thể đánh vào người chàng, người ấy thầm thất kinh: “Nội lực của mình không bền như y, nếu cứ đánh nữa thì chắc rằng sẽ thua trong tay của y”. Chưa nghĩ xong thì chỉ nghe Kim Trục Lưu cười ha hả: “Chẳng qua ngươi chỉ muốn giành tảng huyền thiết, được, ta sẽ trả cho ngươi, chỉ cần ngươi đỡ được”.
Kim Trục Lưu nâng cái tráp lên cao, tựa như sắp ném ra, người che mặt không khỏi cả kinh, y biết công lực của Kim Trục Lưu hơn hẳn mình, nếu chàng ném cái tráp nặng cả trăm cân này ra, e rằng y sẽ bị đè nát bét.
Người che mặt cũng rất ghê gớm, vừa thấy Kim Trục Lưu toan ném phải thì lập tức lách qua một bên, vung roi toan đánh tới, cuộn roi vào cổ tay Kim Trục Lưu khiến cho chàng phải buông cái tráp ra.
Nào ngờ Kim Trục Lưu đã đoán được chiêu này, chàng giơ cao cái tráp lên chỉ là hư trương thanh thế, mục đích là dụ y phát ra chiêu này. Động tác của hai bên đều rất nhanh, Kim Trục Lưu rút tay, chỉ nghe soạt một tiếng, ngọn roi của người ấy đã cuộn vào cái tráp.
Người ấy giật nhẹ, cái tráp vẫn nằm yên trong tay Kim Trục Lưu, chỉ nghe tiếng răng rắc vang lên, Kim Trục Lưu từ từ thu cái tráp về. Ngọn roi bị kéo căng như sợi dây đàn, người che mặt cũng loạng choạng mấy bước, nếu y không lập tức buông roi [font="times new roman"]ra thì roi sẽ đứt, lúc này người che mặt đã lao vào lòng Kim Trục Lưu.
Người che mặt vội vàng chồm người về phía trước, ý đồ nới dài sợi roi, rồi y vung tay giật sợi roi ra khỏi cái tráp.
Kim Trục Lưu thấy thủ pháp giải roi của y rất khéo léo, trong lòng thầm bội phục.
Chàng cười ha hả: “Ta muốn trả tảng huyền thiết này lại cho ngươi nhưng ngươi lại không lấy được, đừng trách ta”. Người che mặt chẳng nói lời nào đã quay đầu bỏ đi.
Kim Trục Lưu thấy ái ngại, vội vàng đuổi theo cười nói: “Ta chỉ đùa với ngươi, nếu ngươi đã cần như thế, ta sẽ tặng cho ngươi”.
Người che mặt giá nào cũng không tin Kim Trục Lưu, cho nên vẫn chẳng nói một lời, cũng chẳng thèm quay đầu lại. Kim Trục Lưu kêu lên: “Này, này lần này ta đùa thật đấy. Không, không, ta chỉ muốn trả lại cho ngươi, không phải là đùa thật!” Một chốc chàng lại nói là đùa, một chốc lại nói là không đùa, mặc dù ý cũng như nhau, nhưng người ấy thì lại nghĩ chàng đang đùa.
Người che mặt tự thấy không đánh lại Kim Trực Lưu, lại không cam lòng bị chàng bỡn cợt, chỉ đành bước nhanh về phía trước.
Kim Trục Lưu đang ôm trong tay tảng huyền thiết nặng cả trăm cân đương nhiên khinh công cũng bị ảnh hưởng, vốn là chàng có thể thắng được người che mặt, nhưng nay chỉ đành đi phía sau y. Đuổi một hồi, khoảng cách giữa hai bên càng kéo dài. Kim Trục Lưu vẫn còn háo thắng, hừ một tiếng, nói lớn: “Được, ta sẽ tỉ thí khinh công với ngươi, để ngươi chiếm được một phần tiện nghi ta cũng chẳng sao? Hôm nay đuổi không kịp ngươi, ngày mai sẽ đuổi kịp!” Kim Trục Lưu đã biết công lực của người che mặt kém hơn chàng một bậc, nếu thời gian cứ kéo dài, người che mặt sẽ không thể nào gắng gượng được như chàng.
Người che mặt thầm kêu: “Khổ thật!” rồi nghĩ bụng: “Tiểu tử này thật quái lạ, y đã lấy được huyền thiết mà lại cứ bám lấy mình, không biết có ý gì?” Y càng nghĩ càng sợ, thế là nghiến răng dốc hết sức ra chạy, chỉ mong có thể kéo dài cự ly. Người ấy chạy vào trong rừng, Kim Trục Lưu bám theo một hồi, chỉ thấy bóng dáng của người ấy dần dần mờ ảo, hầu như đã không thấy nữa. Vì thế Kim Trục Lưu cũng gia tăng cước bộ.
Trong rừng cây cối um tùm, người che mặt lướt qua một ngã rẽ, lúc này đã thực sự biến mất dạng. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Hỏng bét, nếu y chơi trò trốn tìm với mình, mình không dễ tìm ra y”.
Nghĩ chưa dứt, chợt nghe có tiếng quát: “Tên tiểu tử, đứng lại cho ta! Ngươi làm gì thế! Hãy khai báo tên!” lúc đầu Kim Trục Lưu còn tưởng kẻ ấy quát mình, nhưng không thấy ai, âm thanh lại từ phía trước vọng tới, đôi bên cách nhau một chân núi. Kim Trục Lưu nhất thời hiểu ra, kẻ che mặt đã bị người ta chặn lại.
Chàng cười thầm: “Chắc là phía trước có cường đạo, võ công của người che mặt không kém, tên tiểu tặc này gặp phải y thì thật là xui! Nhưng mình sẽ có lợi được, phải xem y đối phó thế nào với bọn cường đạo này”.
Kim Trục Lưu chạy đến chân núi phía trước, chàng tung mình vọt lên một cây cao, từ trên nhìn xuống, lúc này bình minh vừa mới ló dạng, mọi vật hiện ra trước mắt rõ ràng. Chỉ thấy bốn hán tử đã bao vây người che mặt.
Một hán tử râu xồm có lẽ là kẻ đứng đầu, nạt: “Tên tiểu tử nhà ngươi có điếc hay không? Tại sao lại không đáp lời ta?” Một hán tử mặt vàng võ quát: “Nói! Có phải ngươi đã lấy lễ vật của Lục Hợp bang hay không?”.
Người che mặt chẳng nói lời nào, đôi mắt liếc qua liếc lại, người vẫn đứng yên, rồi chậm rãi lắc đầu.
Một hán tử trung niên mặc trường sam màu xanh, trên cằm chẳng có sợi râu nào nói: “Ta nghe nói tảng huyền thiết nặng cả trăm cân, hình như trên người kẻ này không có”.
Người thứ tư là một hán tử thân hình cao lớn, hỏi với giọng thô lỗ: “Mặc cho y có huyền thiết hay không, chúng ta phải tra xét!”.
Kim Trục Lưu nghe bốn người nói như thế thì biết bọn chúng không phải là những kẻ cướp đường tầm thường, nghĩ thầm: “Bọn tặc tử này thật lớn gan, dám cướp vật của Lục Hợp bang”.
Điều kỳ lạ là bốn người này tranh cãi ồn ào, nhưng người che mặt vẫn đứng yên chẳng hề lên tiếng.
Hán tử râu xồm là kẻ già dặn giang hồ, thầm nhủ: “Tên tiểu tử này chắc có mưu kế gì đây, nếu không sẽ không vô lễ như thế”. Thế rồi nháy mắt bảo ba tên đồng bọn khoản hãy ra tay, rồi dịu giọng nói: “Ngươi là bằng hữu phương nào, có quan hệ với Lục Hợp bang hay không, hãy nói cho bọn ta biết. Chỉ cần ngươi không giấu giếm bọn ta sẽ không làm khó ngươi”. Y đã xuống nước nhưng người che mặt vẫn không trả lời.
Hán tử râu xồm nhướng mày rồi nói: “Bằng hữu, ngươi không uống rượu mời mà lại chỉ uống rượu phạt! Người khác muốn làm thân với bọn ta mà cũng không được. Có lẽ người không biết bọn ta, nhưng dù ngươi biết chắc cũng nghe tên của bọn ta”. Y ngừng một lát rồi chỉ hán tử cao lớn nói: “Đây là bang chủ Đỗ Đại Nghiệp của Bạch Hổ bang”. Rồi chỉ hán tử trung niên mặt trắng không râu: “Đây là hương chủ của Hồng Anh hội Cung Bỉnh Phan”.[/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 23:11:21Hoàng Dung>
Hán tử mặt vàng võ như bị bệnh không đợi giới thiệu đã nói: “Lão tử ngồi không đổi tên, đi không đổi họ, cũng không phải bang chủ, cũng chẳng phải hương chủ, hì hì, ta là một cường đạo giết người không chớp mắt, Trịnh Hùng Đồ!” Người này trông có vẻ bệnh hoạn nhưng giọng nói vang rền như chuông đồng. Y tưởng rằng nói ra “đại danh” của mình thì người che mặt sẽ run sợ, không ngờ người che mặt vẫn dửng dưng, lúc này màn che mặt của y bay lên, bên mép lộ nụ cười khinh miệt.
Hán tử râu xồm nói: “Tại hạ là bang chủ của Thanh Long bang Cao Đại Thành.
Các hạ có khinh công như thế, chắc chẳng phải hạng vô danh tiểu tốt trên giang hồ, các hạ chắc đã nghe qua tên của bốn người bọn ta! Trước mặt chân nhân không nói dối, được, các hạ hãy nói thật đi!”.
Bốn người này nói ra họ tên, thân phận của mình, cả Kim Trục Lưu cũng không khỏi thất kinh. Số là Thanh Long bang, Bạch Hổ bang là hai bang lớn nổi tiếng trên giang hồ; Hồng Anh hội là bang hội đối đầu với Lục Hợp bang, đà chủ Công Tôn Hoàng có tám đại hương chủ, ai nấy đều mang tuyệt kỹ. Cung Bỉnh Phan là kẻ đứng đầu trong tám đại hương chủ. Còn Trịnh Hùng Đồ là đại đạo độc cước ở năm tỉnh phía bắc.
Mấy hôm trước Kim Trục Lưu đã nghe Trần Thiên Vũ nói về những người này. Trần Thiên Vũ sợ rằng Kim Trục Lưu không biết tình hình giang hồ cho nên đã nói tường tận về những nhân vật hắc đạo nổi tiếng trên giang hồ.
Bốn người này báo xong họ tên, người che mặt vẫn không lên tiếng, chỉ hơi gật đầu, ý tựa như muốn bảo: “Ta biết”. Tuy mọi người không thấy vẻ mặt của y, nhưng ai cũng cảm nhận được thái độ kiêu ngạo ấy.
Trịnh Hùng Đồ cả giận quát: “Tên tiểu tử thật vô lễ! Cao đại ca còn nói nhiều với y làm gì? Cứ bắt y lại tra xét là được!”.
Thật ra người che mặt không phải cố ý vô lễ, y sợ nếu mở miệng lên tiếng thì sẽ bị bốn người này phát hiện. Té ra người che mặt không những biết tên của bọn họ mà cũng đã từng gặp họ.
Người che mặt tỏ ra kiêu ngạo, nhưng trong lòng thì rất lo lắng, thầm tính cách thoát thân. Y biết rõ bốn người này chẳng phải tay vừa, nhưng phía trước không có đường đi, phía sau còn có truy binh, cho nên chỉ đành mạo hiểm tiên hạ thủ vi cường. Trịnh Hùng Đồ mới nói ra chữ tra xét, đột nhiên thấy ánh bạc lóe lên, ngọn roi mềm tơ bạc của người che mặt đã đánh về phía y! Trịnh Hùng Đồ gầm lớn một tiếng, trên vai đã trúng một roi. Nhưng y đã luyện công phu Kim chung trảo, roi này thật ra cũng không nhẹ, áo ngoài của Trịnh Hùng Đồ rách toạc, trên lưng hiện rõ dấu roi, nhưng da thịt không hề xây xát.
Trịnh Hùng Đồ quát lớn một tiếng, hai chưởng lập tức chém tới. Người che mặt mau chóng vung một roi, lại đánh về phía Cao Đại Thành bằng chiêu Tỏa hầu tiên. Nếu ngọn roi cuộn vào cổ của y, chắc chắn y sẽ đứt hơi mà chết.
Cao Đại Thành sử dụng một cây lang nha bổng dài bảy thước, đột nhiên bị đánh lén nhưng không hề kinh hoảng, chỉ thấy y dựng cây lang nha bổng lên trước người, ngọn roi của người che mặt đánh về phía y, chụp vào cây gậy. Người che mặt bị bốn đại cao thủ vây đánh thì làm sao dám liều với y! Người che mặt chợt xoay người, ngọn roi đổi hướng đánh gấp về phía Cung Bỉnh Phan. Lúc này mới nghe ầm một tiếng, té ra Trịnh Hùng Đồ đã chém gãy một cây tùng bên cạnh.
Người che mặt đánh ra càng lợi hại hơn, ngọn đoản kiếm trên đầu roi đã bật ra, găm vào yết hầu của Cung Bỉnh Phan, thân roi thì đánh theo thế Ngọc đối vi yêu, cuộn vào eo của Cung Bỉnh Phan, cây đoản kiếm trên roi vươn lên tựa như rắn ngóc đầu.
Cung Bỉnh Phan mỉm cười, gầm lên: “Hay lắm!” Ánh kiếm xẹt lên, chỉ nghe tách một tiếng, ngọn đoàn kiếm trên roi thu ngắn về. Té ra Cung Bỉnh Phan toan dùng kiếm của mình chặt vào ngọn đoản kiếm cho nên người che mặt đã mau chóng rút kiếm.
Nói thì chậm, sự việc lúc đó diễn ra rất nhanh, Cung Bỉnh Phan đánh ra một chiêu Diệu giải liên hoàn, lập tức phá giải được chiêu Ngọc đối vi yêu của người che mặt. Y lập tức lướt sát người lên, mũi kiếm chém vào thân kiếm. Y muốn buộc người che mặt không thể thay đổi lối đánh.
Kim Trục Lưu thầm kêu lên một chữ “hay”, nghĩ bụng: “Cung Bỉnh Phan tuy chỉ là một hương chủ, nhưng võ công cao hơn cả bang chủ của Thanh Long bang. Đường kiếm của y tuy không bằng Thiên Sơn kiếm pháp nhưng cũng có chỗ độc đáo, đủ sánh với bảy mươi hai đường liên hoàn đoạt mệnh kiếm của phái Võ Đang”. Nghĩ chưa dứt, chợt thấy người áo đen bước xoay người né tránh kiếm của Cung Bỉnh Phan, thân pháp và tiên pháp đều đẹp đẽ vô cùng. Kim Trục Lưu bất giác thầm khen thêm một chữ “hay” nữa, nghĩ thầm: “Bản lĩnh phá chiêu của người này có thể nói rất lanh lẹ, nếu là mình, chỉ e không thể nào hóa giải chính xác như thế”.
Lúc này người che mặt đã lại đổi hướng, đánh về phía Đỗ Đại Nghiệp, Đỗ Đại Nghiệp sử dụng một đôi hộ thủ câu, loại binh khí này chuyên khóa đao kiếm, nhưng ngọn roi mềm của người che mặt chẳng qua chỉ như ngón tay cái, người che mặt lại linh hoạt vô cùng, đôi song câu của Đỗ Đại Nghiệp cũng chẳng làm gì được y.
Đôi song câu của Đỗ Đại Nghiệp không thể nào phá được ngọn roi mềm của người che mặt, bốp một tiếng, Đỗ Đại Nghiệp đã trúng một roi. Đỗ Đại Nghiệp mặc bộ hộ thân mã giáp, tuy áo ngoài bị rách nhưng không bị thương. Đỗ Đại Nghiệp là bang chủ, hầu như chưa bao giờ lâm vào tình trạng như thế cho nên lập tức nổi giận, gầm lớn quát rằng: “Cao đại ca, chúng ta giết chết thằng giặc con này! Mặc kệ y có huyền thiết hay không, giết rồi tính sau?”.
Cao Đại Thành là sư huynh của y, sau khi xuất sư, hai sư huynh đệ chia nhau nắm giữ hai bang. Cao Đại Thành tương đối thận trọng hơn, mỉm cười: “Hiền đệ đừng lo lắng, tên tiểu tử này không chạy thoát được đâu. Chúng ta bắt y rồi hỏi cũng được!”.
Trong khoảnh khắc điện chớp lửa xẹt mà người che mặt đã tấn công bốn đại cao thủ, Trịnh Hùng Đồ và Đỗ Đại Nghiệp mỗi người trúng một roi của y, bọn Cao Đại Thành tuy bảo nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng trong lòng cũng thầm sợ. Thế rồi mới chia nhau bao vây lấy người che mặt, từng bước áp tới chứ không dám tiến nhanh.
Sở dĩ người che mặt có thể chiếm được phần thượng phong, một là nhờ thân pháp linh hoạt, lối đánh roi khéo léo; hai là vì ra tay bất ngờ, cho nên mới chiếm được phần hơn. Nhưng cũng chỉ là hơi chiếm được phần hơn mà thôi, chứ chẳng làm gì được bốn người kia. Nếu luận về bản lĩnh thật sự, y chưa chắc thắng được bốn đại cao thủ, trong đó bản lĩnh của Cung Bỉnh Phan thậm chí còn hơn y. Vừa rồi y đánh lén Cung Bỉnh Phan nhưng suýt nữa đã thua thiệt.
Bốn đại cao thủ áp dụng chiến thuật bao vây, không khinh địch, không nôn nóng, dần dần thu nhỏ vòng vây, người che mặt đã không thể phát huy được khinh công, dần dần cảm thấy đuối sức.
Cung Bỉnh Phan múa kiếm như gió chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, người che mặt phải giở hết bản lĩnh ra mới giải được bảy kiếm liên hoàn của y, trong lúc đó còn đánh bật được đôi hộ thủ câu của Đỗ Đại Nghiệp, đẩy lui Thiết sa chưởng của Trịnh Hùng Đồ, gạt cây lang nha bổng của Cao Đại Thành. Cung Bỉnh Phan khen rằng: “Hay lắm!” Nói chưa dứt lời đột nhiên áp sát tới, đâm mũi kiếm vào mặt người che mặt.
Kiếm thuật của Cung Bỉnh Phan quả thật có chỗ tinh diệu, chỉ nghe soạt một tiếng, mũi kiếm đã vạch rách mạng che mặt của y, tấm mạng che mặt mỏng như cánh ve, Cung Bỉnh Phan vạch trúng tam màn che mặt nhưng không hề làm rơi một cọng lông nào của y!
Cung Bỉnh Phan đắc ý vô cùng, y vạch rách tấm mạng che mặt, cười ha hả: “Đại trượng phu sao lại che mặt như thế?” Té ra Cung Bỉnh Phan rất tự phụ, y cảm thấy lấy nhiều đánh ít, có thắng cũng chẳng vinh quang gì cho nên chỉ cố ý vạch mạng che mặt của đối thủ ra chứ không chịu đả thương y. Nhưng sau khi vạch mạng che mặt ra, Cung Bỉnh Phan không thể nào cười được nữa.
Vừa rồi Đỗ Đại Nghiệp bị trúng một roi, khi Cung Bỉnh Phan áp sát người lên xuất chiêu, y cũng thừa thế tấn công, trong lúc Cung Bỉnh Phan vạch mạng che mặt của kẻ địch ra, hầu như cây hộ thủ câu của y cũng xé rách trường sam của người che mặt. Y cũng như Cung Bỉnh Phan, đánh ra một chiêu đắc thủ nhưng trái lại thất kinh. Đôi câu uốn liên tục xuất chiêu nhưng cũng chợt ngừng lại.
Té ra người che mặt đã lộ mặt, nhưng y không phải là một “đại trượng phu” như Cung Bỉnh Phan nói, mà là một thiếu nữ mặt đẹp như hoa!
Kim Trục Lưu ngồi trên cây thấy rất rõ ràng, lúc này mới hiểu ra, thầm nhủ: “Chả trách nào ả lại che mặt, lại mặc bộ trường sam rộng thùng thình, dài quét đất, té ra là muốn che ba tấc sen vàng”.
Người ấy đã bị vạch trần mặt thật, Cung Bỉnh Phan ngỡ ngàng rồi kêu lên: “Ngươi là Sử cô nương, xin lỗi, Cung mà đã mạo phạm!”.
Thiếu nữ ấy hừ một tiếng rồi nói: “Bốn người các ngươi bắt nạt một mình ta, có biết hổ thẹn hay không?”.
Đỗ Đại Nghiệp trầm giọng: “Đại ca, nay chúng ta đã ngồi lên lưng cọp, một là không làm, hai là phải làm tới nơi...” Nói chưa dứt lời, thiếu nữ ấy cười lạnh: “Ngươi muốn thế nào, được, có gan thì hãy giết ta. Hừ, ngươi biết ta mà vẫn bắt nạt ta, chả lẽ ca ca của ta bỏ qua cho ngươi!”. Té ra thiếu nữ ấy chẳng phải ai khác, nàng ta chính là Sử Hồng Anh, em gái của bang chủ Lục Hợp bang Sử Bạch Đô.
Bốn người này tuy có ý đồ cướp lễ vật của Lục hợp bang, nhưng không ngờ lại gặp phải em gái ruột của Sử Bạch Đô. Nếu cướp được huyền thiết, đương nhiên đã gây thù với Lục Hợp bang, nhưng điều đó vẫn chưa nghiêm trọng, bởi vì trong chốn hắc đạo thường xảy ra chuyện nẫng tay trên của nhau. Nhưng nếu đả thương Sử Hồng Anh, điều đó có nghĩa là đã gây mối thù mãi mãi không giải được với Sử Bạch Đô.
Trịnh Hùng Đồ nói: “Mối thù này không kết cũng đã kết. Ba người đều là hương chủ và bang chủ, nếu buông tha cho thiếu nữ này, e rằng hảo hán trên giang hồ sẽ không bảo các người nể tình Lục Hợp bang mà bảo Thanh Long bang, Bạch Hổ bangvà Hồng Anh hội đều sợ Sử Bạch Đô!” Trịnh Hùng Đồ là tên mã tặc ở quan ngoại, lần này về Trung Nguyên vốn là muốn gây sóng gió để kiếm lợi. Vả lại y đã trúng một roi của Sử Hồng Anh, đương nhiên là phải tìm cách trút cái giận này. Cao Đại Thành nghiến răng: “Đúng, một là không làm, hai là phải làm tới nơi.
Chúng ta đã gây sự với Lục Hợp bang thì mặc kệ ả ta là ai! Cứ bắt con ả này lại rồi cướp huyền thiết sau. Chúng ta có trong tay hai món báu vật này, Sử Bạch Đô buộc phải cầu hòa với chúng ta mà thôi!”.
Đỗ Đại Nghiệp cười ha hả: “Đúng thế, đây mới là thượng sách? Sử Bạch Đô cầu hòa chúng ta! Chúng ta không cần dễ dàng nhường y, thừa thế nuốt luôn Lục Hợp bang của y. Hay lắm, Cung hương chủ, đến lượt ông rồi đấy”. Cung Bỉnh Phan lại không muốn lấy đông hiếp ít, nhưng Hồng Anh hội của y và Lục Hợp bang của Sử Bạch Đô là hai bang hội kình chống nhau trên giang hồ, câu nói vừa rồi của Trịnh Hùng Đồ đã nhắm trúng vào tim đen của y, Cung Bỉnh Phan nhủ thầm: “Đúng thế, nếu mình buông tha cho ả, hảo hán trên giang hồ đều bảo Hồng Anh hội sợ Lục hợp bang, đó là chuyện rất mất thể diện!” Vả lại ba người kia đều tỏ ý chấp nhận gây thù chuốc oán với Lục hợp bang, một mình y cũng không thể cãi lại.
Sau khi Cung Bỉnh Phan suy xét được mất lợi hại bèn lạnh lùng bảo: “Sử cô nương, cô nương đem lệnh huynh ra dọa chúng tôi, cho nên Cung mà buộc phải ra tay với cô nương!”.
Cao Đại Thành cả mừng reo lên: “Hay lắm, bốn người chúng ta có phước cùng hưởng, có nạn cùng gánh! Hãy xông lên đi thôi! Chắc chắn Lục Hợp bang còn có hậu viện, không cần phải nói quy củ giang hồ gì với ả cả!”.
Thế là bốn người này đánh liều xông tới, thế công rất gấp, chỉ thấy gậy đánh ra như sấm giật, kiếm múa như điện xẹt, ánh câu loang loáng, bóng roi tung bay. Sử Hồng Anh giở hết bản lĩnh ra mà vẫn chống trả không nổi.
Cung Bỉnh Phan đánh ra một chiêu Lý quản xạ thạch, ánh kiếm như mũi tên đâm thẳng tới phía trước, Sử Hồng Anh đột nhiên quét ra một roi, tuy giải được chiêu sát thủ vừa rồi của Cung Bỉnh Phan, nhưng be sườn cũng lộ sơ hở. Cung Bỉnh Phan vừa xuất chiêu thì đã đoán được kết quả này, thế là mau chóng đâm vào huyệt khí du của dưới be sườn của Sử Hồng Anh.
Khi mũi kiếm sắp đâm trúng huyệt đạo Cung Bỉnh Phan chợt cảm thấy kình phong trỗi dậy, té ra cũng có một mảnh ám khí phóng vào huyệt khí du của y. Kiếm thuật của Cung Bỉnh Phan đã đến mức thu phát tùy ý, y chớp nhoáng né thân, kiếm quang vạch ngược lại “xoẹt” một tiếng chặt ám khí ra làm đôi, té ra đó là một trái tùng nhỏ. Cung Bỉnh Phan cả kinh quát: “Cao nhân phương nào, xin mời hãy bước ra!”.
Nói chưa dứt lời, Kim Trục Lưu đã hú dài một tiếng từ trên cây nhảy xuống, buông giọng: “Ta đã ở đây từ lâu mà các ngươi không thấy. Bốn người đàn ông các ngươi bức hiếp một thiếu nữ, ta thấy thật chướng mắt!”.
Cao Đại Thành quát: “Hay lắm, ngươi có phải thừa gió bẻ măng hay không? Hãy báo tên tuổi!” Đỗ Đại Nghiệp quát: “Đại ca, hãy xem trong tay y có thứ gì?”.
Kim Trục Lưu giở cái tráp lên, lạnh lùng: “Các người mặc kệ ta là ai, có phải các người muốn tảng huyền thiết này hay không. Huyền thiết đang ở đây! Có điều phải xem các ngươi có bản lãnh tới lấy hay không?”.
Chàng vừa giơ cái tráp lên, ánh mắt của bốn người đều nhìn về phía cái tráp. Cao Đại Thành gầm lớn một tiếng xông thẳng tới, Kim Trục Lưu quát: “Hay lắm, cho ngươi!”. Tảng huyền thiết nặng đến cả trăm cân, cây lang nha bổng của Cao Đại Thành vốn là loại binh khí nặng, nhưng so với tảng huyền thiết thì nhẹ hơn nhiều, cây lang nha bổng vừa chạm vào cái tráp thì đã gãy đôi. Hổ khẩu của Cao Đại Thành chảy máu, y đã mất binh khí cho nên hồn hay  phách tán, đành thốt lui mấy bước.
Đỗ Đại Nghiệp giở đôi song câu lên vội vàng nhảy bổ tới tiếp ứng cho sư huynh. Sử Hồng Anh quát to: “Nằm xuống cho ta!” Đỗ Đại Nghiệp đã chạy lướt qua nàng, ở giữa có một khoảng cách, cây roi của Sử Hồng Anh lại dài, đánh tầm xa rất có lợi. Chỉ nghe soạt một roi, quả nhiên đã đánh trúng Đỗ Đại Nghiệp. Đỗ Đại Nghiệp nhảy bật lên, thoát khỏi thế roi, chỉ cảm thấy đầu gối đau nhói, té ra xương đầu gối đã bị bể mất một mảng.
Đỗ Đại Nghiệp chỉ lảo đảo chứ chưa ngã xuống, tuy vậy chân đã bị thương cho nên không thể đánh được nữa, Cao Đài Thành đã mất binh khí, thế là hai sư huynh đệ đỡ nhau tấp tễnh bỏ đi.

[/align]Cung Bỉnh Phan thì múa kiếm cự nhau với Sử Hồng Anh, Kim Trục Lưu đã tìm Trịnh Hùng Đồ làm đối thủ. Trịnh Hùng Đồ luyện nội công phu Thiết sa chưởng, y vội vàng cúi người né tảng huyền thiết của Kim Trục Lưu, đồng thời vỗ ngang ra một chưởng.
Kim Trục Lưu thấy chưởng tâm của y đen như mực, cười rằng: “Ồ, té ra Thiết sa chưởng của ngươi còn tẩm độc, nếu ta không để ngươi đánh, ngươi tưởng rằng ta sợ ngươi!” Thế rồi thu tảng huyền thiết lại, chưởng trái phát ra, hai chưởng chạm nhau, Trình Hùng Đồ cảm thấy lòng bàn tay đau như cắt, y hét lớn một tiếng nhảy ngược ra, cúi đầu xuống nhìn thì thấy lòng bàn tay đã bị lủng một lỗ, máu đen chảy ra ròng ròng, té ra khi Kim Trục Lưu đối chưởng với y, hai chưởng giao nhau, hóa giải nội lực của y rồi lập tức chuyển chưởng thành chỉ, sử dụng Nhất chỉ thiền công đâm vào lòng bàn tay, phá giải độc chưởng của y. Trịnh Hùng Đồ tuy không đến nỗi tàn phế nhưng muốn luyện lại Thiết sa chưởng tẩm độc thì ít nhất phải mất mười năm.
Bốn đại cao thủ, ba người đã bị thương, chỉ còn lại một mình Cung Bỉnh Phan.
Kim Trục Lưu cười lớn: “Một khách không phiền hai chủ, Sử cô nương, hãy giao hắn cho tôi!”.
Sử Hồng Anh thu lại ngọn roi bạc, Cung Bỉnh Phan quát lớn một tiếng “Xem kiếm!” Rồi mũi kiếm chuyển phương hướng đâm về phía Kim Trục Lưu, thế kiếm này trong chiêu có chiêu, trong thức có thức, quả nhiên không thể xem thường. Kim Trục Lưu nói: “Không cho ngươi thấy kiếm thuật của ta, có thua ngươi cũng không phục”. Ánh kiếm lóe lên, keng một tiếng, Kim Trục Lưu đã rút kiếm ra khỏi bao, xuất chiêu giải chiêu nhanh như điện xẹt! Thanh trường kiếm của Cung Bỉnh Phan bị chàng kéo ra ngoài. Kim Trục Lưu đã sử dụng tự quyết chữ “niêm”, đây là loại kiếm thuật lấy nhu khắc cương, là loại công phu khó luyện nhất trong kiếm thuật. Cung Bỉnh Phan thất kinh, khen hay một tiếng, kiếm chiêu lập tức thay đổi, chỉ thấy trường kiếm của y vẽ thành một vòng tròn, vòng kiếm quang dồn tới phía trước như sóng biển.
Kim Trục Lưu cười khen: “Chiêu Long môn tam điệp lãng này của ngươi cũng không tệ”. Nói vừa xong kiếm đã phát, chỉ thấy một luồng bạch quang xuyên vào từng vòng kiếm quang, thế là chiêu Long môn tam điệp lãng của Cung Bỉnh Phan lập tức bị Kim Trục Lưu phá giải.
Kim Trục Lưu quát: “Có đi thì phải có lại, ngươi hãy xem ta đây!” Rồi đâm ra soạt soạt mấy kiếm, chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, Cung Bỉnh Phan dốc hết sở học bình sinh, cố gắng chống trả, nhưng mỗi chiêu đều bị Kim Trục Lưu chiếm tiên cơ, Cung Bỉnh Phan chỉ đành chống đỡ. Kim Trục Lưu tay trái cầm một vật nặng, chàng không thể dùng huyền thiết trợ công mà chỉ dựa vào chiến thuật thủ thắng, khiến cho Cung Bỉnh Phan không khỏi thầm bội phục.
Kim Trục Lưu quát: “Cẩn thận!” Cây thanh trường kiếm lóe lên trên không trung, kiếm quang lướt tới chiếc mũ trên đầu Cung Bỉnh Phan bị chém làm đôi, chàng cười rằng: “Lúc nãy ngươi đã vạch mặt người ta, bây giờ ta cắt mũ của ngươi!”.
Cung Bỉnh Phan xưa nay tự phụ kiếm thuật của mình, nhưng nay bị Kim Trục Lưu chém trúng mũ, da đầu mát rười rượi, bất đồ rùng mình, nhảy vọt ra sau mấy trượng rồi thở dài: “Ngừng thôi, ngừng thôi! Kiếm thuật của các hạ tinh diệu, Cung mỗ cam bái hạ phong. Xin các hạ hãy để lại tên!”.
Kim Trục Lưu cười rằng: “Ta chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, cần gì phải để lại họ tên, ngươi muốn báo thù, ngày sau nếu còn có duyên chúng ta sẽ còn gặp nhau!”
Cung Bỉnh Phan hậm hực: “Tốt, nếu các hạ đã không chịu để lại tên tuổi, từ hôm nay trở đi tên của Cung mà cũng coi như không còn trên giang hồ. Ba năm sau, nếu Cung mỗ có tiến bộ chắc chắn sẽ lại tìm các hạ”. Ý của Cung Bỉnh Phan là muốn mai danh ẩn tích ba năm, cố gắng luyện kiếm thuật, sau đó sẽ tái xuất giang hồ tìm Kim Trục Lưu.
Bọn Cung Bỉnh Phan vừa bỏ đi, trong rừng chỉ còn lại Kim Trục Lưu và Sử Hồng Anh. Sử Hồng Anh sau khi trải qua kịch chiến, hơi thở đã nặng nề. Muốn thi triển khinh công né tránh cũng đã không đủ sức, vả lại lúc này đã lộ mặt thật, chỉ đành lúng túng trước ánh mắt của Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu cười hỏi: “Thế nào, cô nương đã tin ta có thành ý trả lại huyền thiết rồi chứ?”. Sử Hồng Anh nói: “Đa tạ thiếu hiệp đã rút kiếm tương trợ, thiếu hiệp là ai?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Chúng ta tuy không quen nhau, nhưng lại có chung một người bằng hữu. Tôi nói ra tên của y, có lẽ cô nương sẽ không nghi ngờ”.
Sử Hồng Anh ngỡ ngàng: “Ồ, người ấy là ai?”.
Kim Trục Lưu nói: “Lý Đôn của Lục Hợp bang”.
Khi chàng nói thì ánh mắt vẫn len lén nhìn vẻ mặt của Sử Hồng Anh, chỉ thấy nàng ta tựa như vừa kinh hãi vừa vui mừng chữ không phải hổ thẹn khi nghe thấy tên của tình lang, nàng hờ hững nói: “Ồ, ta đã hiểu. Chả lẽ ngươi là tên ăn mày đã đánh lui Thanh Phù đạo nhân cứu Lý Đôn trên núi Tồ Lai?”.

[/align]Kim Trục Lưu: “Cô nương cũng biết chuyện này sao? Đúng thế, tôi chính là tên ăn mày ấy. Nhưng lần đó tôi không phải có ý muốn cứu Lý Đôn, không dám nhận công”.
Sử Hồng Anh: “Đó là chuyện giữa ngươi với Lý Đôn, ngươi nhận công hay không cũng được, chẳng liên quan gì tới ta. Nhưng hôm nay ngươi giúp ta thoát hiểm, ta sẽ đa tạ ngươi”. Lúc này nàng rất ngạc nhiên, không hiểu vì sao Kim Trục Lưu lại nhắc Lý Đôn với mình. Đã vậy, còn giải thích động cơ cứu y.
Kim Trục Lưu: “Cô nương đã đa tạ ta một lần, không cần phải đa tạ nữa. Nhưng cô nương vẫn chưa hỏi tung tích về Lý Đôn”.
Sử Hồng Anh bất giác ngạc nhiên, một lát mới nói: “Thôi được, ta sẽ hỏi ngươi, y hiện giờ thế nào, nấp ở đâu?”.
Kim Trục Lưu đáp: “Thật xin lỗi, ta chỉ biết khi chia tay với y, y không bệnh không đau. Còn tin tức của y thì ta không biết gì cả!”.


[/align]Chính là: Mày ngài thế hiếm mà gặp, mới thấy nhau tình đã vấn vương.
 Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 11 phân giải
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 23:28:28Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Mười Một
[/align][/align]
Chia lìa lạnh lẽo riêng một bóng
[/align][/align]
Trúng kế chưa cam ở trong tù

 
[/align][/align]Sử Hồng Anh nhíu mày, lòng nhủ thầm: “Kẻ này ăn nói chẳng đâu vào đâu, chẳng khác gì kẻ điên!” Bèn đáp: “Ngươi đã không biết tin tức của y, tại sao còn bảo ta hỏi ngươi?” Kim Trục Lưu cười: “Chả lẽ cô nương không quan tâm đến Lý Đôn sao? Luận theo tình lý, ta nghĩ rằng ngươi nên hỏi ta. Còn ta có biết hay không là chuyện khác. Ngươi không hỏi ta, làm sao biết ta không biết”.
Sử Hồng Anh mỉm cười: “Coi như ngươi nói cũng có lý”. Tuy là nói thế, nhưng Sử Hồng Anh cũng cảm thấy bực bội.
Kim Trục Lưu cười: “Thế nào? Ngươi cũng cho rằng ta nói có lý ư? Còn chuyện của Lý Đôn... này này, ta nói chưa hết sao ngươi lại bỏ di? Ngươi không quan tâm đến Lý Đôn ư?”.
Sử Hồng Anh gật đầu: “Đúng thế, ta quan tâm đến Lý Đôn, ngươi cho rằng ta nên hỏi ngươi, ta cũng đã hỏi, nhưng ngươi đã không biết thì xin cứ tự tiện, xin thứ ta không thể chiều theo”.
Kim Trục Lưu nói: “Không, không, ta còn có lời muốn nói. Ta tuy không biết tung tích của Lý Đôn, nhưng ta có nhiều bằng hữu trên giang hồ, ta có thể giúp cô nương dò hỏi tin tức của y”.
Sử Hồng Anh: “Không cần ngươi nhọc lòng, ta sẽ tự dò hỏi, chúng ta không đi cùng đường, nếu ngươi có tin tức gì cứ nhờ người đến báo cho ta biết”.
Sử Hồng Anh đã nghỉ ngơi xong, nàng lại tiếp tục lên đường. Kim Trục Lưu vội gọi: “Khoan đã, khoan đã!” Sử Hồng Anh nói: “Sao thế, ngươi còn muốn nói gì nữa? Đừng nói chuyện Lý Đôn nữa!”.
Kim Trục Lưu khựng lại rồi cười: “Lần này không nhắc tới Lý Đôn nữa, nhưng cô nương đã quên một chuyện”. Sử Hồng Anh nói: “Chuyện gì?” Kim Trục Lưu nói: “Cô nương đã quên tảng huyền thiết này”.
Sử Hồng Anh: “Ta không cần nữa, tặng cho ngươi”.
Kim Trục Lưu: “Kỳ lạ, cô nương tìm mọi cách lấy tảng huyền thiết này, đây lại là vật của nhà cô nương, sao lại đột nhiên không cần nữa? Cô nương không tin ta tặng lại cho cô nương hay sao?” ốử Hồng Anh nói: “Tin chứ. Nhưng ta cũng chân thành tặng lại cho ngươi”.

Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Tại sao thế?”.
Sử Hồng Anh nói: “Ôi, ngươi thật phiền toái, ngươi nhất định phải biết ư?” Kim Trục Lưu: “Vì tảng huyền thiết này, ta đã đánh hai trận. Vậy cô nương có nói cho ta biết cũng đâu có gì quá đáng?”.
Sử Hồng Anh nói: “Được, ngươi nói như thế, ta buộc phải nói cho ngươi biết. Ca ca ta muốn tặng tảng huyền thiết này cho Tát tổng quản làm quà mừng thọ, điều này thì ngươi đã biết. Ta không muốn ca ca của ta cấu kết với Tát tổng quản, có khuyên y cũng chẳng nghe, chỉ đành âm thầm giành lại lễ vật của y, ngươi đã hiểu chưa?”. Kim Trục Lưu kêu lên: “Ồ, té ra dụng tâm của ngươi cũng giống như Lý Đôn. Thật xin lỗi, ta lại nhắc đến y”.
Sử Hồng Anh chỉ đành gật đầu, hờ hững nói tiếp: “Đúng thế, chính ta đã đánh cắp xâu chuỗi ngọc trai đưa cho Lý Đôn”.
Kim Trục Lưu: “Ồ, té ra chuyện này là do cô nương chủ mưu, cô nương không sợ Sử bang chủ biết hay sao?”.
sử Hồng Anh: “Tôi biết y sẽ nổi trận lôi đình, nhưng tôi làm thế cũng là vì y, tôi nghĩ y dần dần rồi sẽ hiểu. Tôi định đánh cắp tảng huyền thiết này trốn một thời gian, đợi y nguôi giận rồi sẽ xuất hiện”. Nói đến đây, nàng chợt nhủ bụng: “Mình và người này không quen biết nhau, tại sao lại cho y biết tâm sự của mình?”.
Kim Trục Lưu: “Cô nương có tấm lòng như thế thật đáng kính. Nhưng tảng huyền thiết này là vật hiếm có trên đời, cô nương cho tôi mà không tiếc sao?”.
Sử Hồng Anh: “Tuy là báu vật hiếm có, nhưng đối với tôi cũng vô dụng. Tôi không sử dụng kiếm, giữ nó lại làm gì? Ngươi cứ đem đi, về sau hãy tìm một thợ đúc kiếm cao minh rèn cho ngươi một thanh bảo kiếm thiên hạ vô song!”.
Kim Trục Lưu: “Xin đa tạ. Cô nương không có tảng huyền thiết này, làm sao ăn nói với Sử bang chủ? Dù thế nào cô nương cũng phải quay về gặp y!”. Sử Hồng Anh: “Đó là chuyện của ta, ngươi không cần lo lắng”.
Kim Trục Lưu cũng cảm thấy mình đã hỏi quá nhiều, thế rồi ngượng ngập bưng cái tráp lên: “Được, nếu cô nương đã có lòng tặng cho tôi, tôi cũng đành nhận lấy. Này, Sử cô nương, cô nương đi đâu thế?”. Kim Trục Lưu vốn không muốn hỏi nàng nữa, nhưng khi nàng toan bước đi, chàng buột miệng hỏi thêm một câu.
Sử Hồng Anh vừa đi vừa đáp: “Chúng ta chỉ là duyên bèo nước gặp nhau, đa tạ ngươi đã rút kiếm tương trợ, ta cũng đã báo đáp. Ai đi đường nấy, ta cũng không cần cho ngươi biết, cần gì ngươi phải hỏi”.
Kim Trục Lưu lúng túng, nhất thời không biết nói gì, đành cười ha hả: “Ồ, té ra cô nương cho tôi tảng huyền thiết này thật sự là muốn trả ơn cho tôi”. Sử Hồng Anh nói với vẻ kiêu ngạo: “Đúng thế, ta không thích nhận ơn đức của ai cả”. Kim Trục Lưu nói: “Đáng tiếc cô nương đã quên một chuyện”. Sử Hồng Anh hỏi: “Chuyện gì?” Kim Trục Lưu nói: “Cô nương quên rằng tảng huyền thiết này vốn trong tay của tôi, nếu tôi muốn lấy nó thì hình như không cần cô nương phải tặng!”.
Sử Hồng Anh chợt biến sắc, nói: “Được, về sau tôi sẽ từ từ tìm cách trả ơn cho các hạ! Tôi có thể đi được chưa?”.
Kim Trục Lưu vội vàng với theo: “Tôi không phải có ý này...” Sử Hồng Anh chẳng thèm để ý đến chàng, thi triển khinh công chạy ra xa. Trong tình huống như thế này, nếu Kim Trục Lưu đuổi theo nàng thì chẳng khác gì một kẻ vô lại. Vả lại khinh công của Sử Hồng Anh cũng không kém chàng bao xa, trên tay Kim Trục Lưu lại có một tảng huyền thiết nặng trăm cân, dù cho có làm mặt dày đuổi theo chỉ e cũng không kịp cho nên đành đứng yên một chỗ. Kim Trục Lưu đứng nhìn cho đến khi nàng khuất dạng, trong lòng chợt dấy lên cảm giác như vừa đánh mất một thứ gì đó! Chàng nhủ thầm: “Không biết nàng đi về đâu? Chắc là đi tìm Lý Đôn?” Rồi chàng chợt nhớ đến mấy câu lúc nãy của Sử Hồng Anh: “Chúng ta chỉ là duyên bèo nước gặp nhau, ta không cần biết hành tung của ngươi, ngươi cũng cần gì biết ta đi về đâu?” Kim Trục Lưu chợt bừng tỉnh, cười buồn bã, lòng thầm nhủ: “Không sai tý nào”.
Nhưng hình bóng của Sử Hồng Anh vẫn quanh quẩn trong lòng chàng, chàng cố xua đi nhưng không được. Nét đẹp thoát tục của nàng, bản lĩnh trác tuyệt siêu phàm, thái độ hờ hững của nàng... Đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Kim Trục Lưu! Kim Trục Lưu bất giác cảm thấy kỳ lạ, đột nhiên chàng phát giác bí mật trong lòng mình, bất đồ lo lắng thầm nhủ: “Lúc nãy tại sao mình ba lần bốn lượt nhắc Lý Đôn với nàng? Ồ, đó chả lẽ chẳng phải mình đang tìm hiểu tình ý của nàng sao? Hừ, hừ! Kim Trục Lưu ơi Kim Trục Lưu, ngươi đang đố kị với Lý Đôn đúng không?”.
Kim Trục Lưu đã phát giác ra bí mật trong lòng mình, chàng thẫn thờ bước về phía trước, lòng thầm tự trách: “Lý Đôn và ngươi coi như đã là bằng hữu, tại sao ngươi lại muốn ý trung nhân của người ta? Kim Trục Lưu ơi Kim Trục Lưu, ngươi là một nam tử hán quang minh lỗi lạc, sao ngươi lại có ý nghĩ như thế! Ngươi có hổ thẹn hay không?”.
Nghĩ đến đây, Kim Trục Lưu đỏ mặt. Nhưng chàng đi một hồi, gió lạnh thổi tới, đầu óc tỉnh táo hơn, chàng thầm nhủ: “Nếu Sử cô nương thật sự là vợ của Lý Đôn, mình đương nhiên không nên nghĩ tới nàng nữa. Dù không phải là vợ, chỉ là tình nhân, mình cũng không nên xen vào. Nhưng nhớ lại thần thái của nàng lúc nãy, hình như nàng đối với Lý Đôn chẳng qua là tình bằng hữu?”.
Kim Trục Lưu không biết phán đoán của mình là đúng hay sai. Trong lòng lại nghĩ: “Không đúng, không đúng. Đó là Đổng Thập Tam nương nói với Viên Hải, Đổng Thập Tam nương là người tình của Sử Bạch Đô, mụ ta đương nhiên biết bí mật của họ, theo mụ ta nói, họ đã là tình nhân của nhau. Như thế chả lẽ là giả, vả lại, nàng có thể tặng xâu chuỗi ngọc cho Lý Đôn, dẫu chỉ là bạn bè thì mối giao tình này không đơn giản tý nào. Kim Trục Lưu ơi Kim Trục Lưu, ngươi đừng nên nghĩ vớ vẩn nữa”.
Kim Trục Lưu cố đè nén những suy nghĩ của mình, chàng tiếp tục tiến về phía trước. Nhưng chàng tuy không nhớ đến Sử Hồng Anh, nhưng cũng phải nghĩ đến chuyện Lục Hợp bang.
Bang chủ của Lục Hợp bang Sử Bạch Đô tặng quà chúc thọ cho tổng quản đại nội Tát Phúc Đỉnh, mà tháng sau là ngày đại thọ của Tát Phúc Đỉnh, chỉ còn hơn một tháng nữa. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Mình đoạt lễ vật của Lục Hợp bang, không biết Sử Bạch Đô có còn muốn chúc thọ cho Tát Phúc Đỉnh hay không, mình phải đến xem cho biết. Đến ngày đó sẽ có nhiều tên bại hoại trên giang hồ đến chúc thọ cho Tát Phúc Đỉnh, nhân cơ hội này, mình cũng phải đi cho biết! Được, cứ như thế!”.
Kim Trục Lưu vốn định đi khắp các danh thắng ở miền Giang Nam, sau đó mới lên Bắc Kinh. Nay chỉ còn hơn một tháng, đương nhiên không thể làm theo kế hoạch cũ. Chàng từ Tô Châu lên phía bắc, khi đi ngang qua chùa Kim Sơn ở Trấn Giang, chàng lại vòng xuống phía tây, vượt qua sông từ Thái Thạch Cơ.
Thái Thạch Cơ là nơi danh tướng thời Nam Tống Ngu Doãn Văn đại phá quân Kim, Kim Trục Lưu chọn nơi này qua sông chính là muốn xem lại sử tích anh hùng năm xưa.
Đây là lần đầu tiên Kim Trục Lưu đi qua Trường Giang, chàng đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy sông dài chảy về đông cuồn cuộn, trong lòng thầm nhớ đến câu thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha: “Sông đài chảy về đông, sóng lớn cuốn hết, nhân vật phong lưu ngàn xưa. Lũy cũ phía tây, người bảo là nơi Xích Bích Chu lang, đá loạn xuyên không, sóng gào vỗ bờ, cuốn bay ngàn khối tuyết. Non sông như tranh vẽ, một thời ít nhiều hào kiệt...”. chợt chàng cảm thấy cõi lòng phơi phới.
Kim Trục Lưu đi men theo bờ sông, đi một lúc lâu mà vẫn chẳng tìm ra thuyền. Chàng không khỏi hơi ngạc nhiên, thầm nhủ: “Đây không phải là lúc loạn lạc, sao lại không có thuyền qua sông?” Chợt nghe tiếng mái chèo khua nước, một chiếc thuyền từ trong đám lau lách lướt ra, ông lái trên thuyền hỏi: “Có phải quý khách muốn qua sông không?” Kim Trục Lưu mừng rỡ: “Đúng thế!” Rồi chàng không đợi thuyền cập bến đã nhảy vọt lên.
Kim Trục Lưu đang ôm trên mình tảng huyền thiết nặng hơn trăm cân, chàng vừa nhảy lên thuyền, chiếc thuyền chòng chành lắc lư chìm xuống. Ông lái kêu ồ một tiếng, lộ vẻ ngạc nhiên nhìn Kim Trục Lưu rồi hỏi: “Khách quan, ngài đã đem theo thứ gì mà nặng thế?” Kim Trục Lưu đáp: “Đây không phải kim ngân châu báu. Nếu ngươi chê nặng, ta sẽ trả thêm tiền”.
Ông lái cười ha hả: “Không cần, tôi cứ coi như có nhiều người, cứ mỗi lần qua sông thì một tiền, một người hay hai người cũng đều thế. Tôi chỉ sợ trong tay của khách quan có vật gì quý giá, nếu xảy ra chuyện, tôi không gánh vác nổi”. Kim Trục Lưu đáp: “Hôm nay sóng yên gió lặng, tôi thấy chắc không xảy ra chuyện gì!” Ông lái ân cần: “Khách quan có điều không biết gần đây trên Trường Giang có một đám thủy khấu, ngài có thể cho tôi biết đang mang theo thứ gì không?”.
Kim Trục Lưu chỉ sợ y không chịu đưa chàng qua sông, cười rằng: “Ông không cần lo lắng, có xảy ra chuyện ta cũng không trách. Bọn cường đạo có cướp được thứ này cũng vô ích, có nói ông cũng không biết”. Kim Trục Lưu tuy thấy ông lái này hơi nhiều chuyện, nhưng cũng chỉ nghĩ y cẩn thận cho nên không nghi ngờ. Nào ngờ ông lái này có ý muốn để cho Kim Trục Lưu yên tâm bước lên thuyền của mình.
Thuyền ra giữa dòng, Kim Trục Lưu cao hứng buông giọng ngâm rằng:


[/align]
Tuyết tẩy lỗ trần tịnh,
Phong ước sở vân lưu.
Hà nhân vị tả bi tráng?
Xuy giác cổ thành lâu.
Hồ hải bình sinh hào khí,
Quan tái như kim phong cảnh,
Tiễn chúc khán Ngô Câu.
Thừa Hỷ nhiên lê xứ,
Hãi Lãng dữ Thiên Phù,
Ức đương niên,
Châu hưng tạ,
Phú xuân thu.
Tiểu kiều sơ giá,
Hương nang vị giải,
Huân nghiệp cố ưu du.
Xích Bích cơ thạch lạc chiếu,
Phì thủy kiều biên suy thảo,
Diễn diễn hoán nhân sầu.
Ngã dục thừa phong khứ,
Kích trấp thệ trung lưu.

[/align]Đây là bài từ “Thủy điệu ca đầu” do nhà làm từ thời Tống Trương Vu Hồ sáng tác, ông ta viết bài từ này để ca ngợi Ngu Doãn Văn.
Bài từ này tả cảnh quân Tống đại thắng, sau khi “Tuyết tẩy lỗ trần tịnh” (Tuyết quét bụi giặc yên), ca khúc khải hoàn, nhìn cảnh tượng và hào tình của Ngô Câu.
Trong bài từ tác giả đã so sánh Ngô Doãn Văn đánh thắng quân Kim cũng như Châu Du đại phá Tào Tháo ở Xích Bích, Tạ Huyền đánh bại quân Tần ở Phì Thủy, cũng đã dựng nên huân nghiệp ngàn năm. Dù vật đổi sao dời, đâu bể đổi thay, “Yên đầu lạc chiếu”, “Kiều biên suy thảo”, sự nghiệp anh hùng của người xưa đã phai mờ, nhưng tinh thần chống địch lấy mạnh thắng yếu của họ vẫn đáng cho người nay noi theo. Từ hùng ý thâm không hổ là một tác phẩm hay được truyền tụng đến ngàn năm.
Kim Trục Lưu ca xong mới thấy chiếc thuyền tựa như chậm lại, chàng đưa mắt nhìn thì thấy ông lái đã quay đầu lại, nhìn mình, nghiêng tai lắng nghe. Kim Trục Lưu cười hỏi: “Ông lái, ông cũng hiểu bài từ này ư?”
Ông lái cười rằng: “Tôi chỉ biết chèo thuyền kiếm sống chứ chẳng hiểu gì cả. Tướng công thật có nhã hứng, tôi chỉ e sẽ dụ kẻ địch đến”. Kim Trục Lưu nói: “Cần gì phải sợ”. Vừa nói chàng vừa cầm bình trà lên nhưng lại không thấy tách trà.
Ông lái nói: “Chén trà này vừa mới pha, chắc là vẫn còn nóng, tướng công khát thì cứ uống. Nếu không chê dơ bẩn, xin mời hãy dùng chén trà của tôi”. Té ra ông tadùng chén thay cho tách.
Kim Trục Lưu đang khát nước, thế là cầm chén trà lên. Dưới đáy chén hình như có bã trà, Kim Trục Lưu là người dễ dãi, không đổ bã trà đi mà cầm chén uống ngay.
Khi chàng đang uống trà, trời nổi gió, ông lái chép miệng: “Trời lại sắp mưa?” Kim Trục Lưu thấy ông ta cứ để ý mãi đến mình, ánh mắt khi nói chuyện càng lạ hơn, giọng nói cũng run run, tựa như vừa lo vừa mừng.
Kim Trục Lưu im lặng, chỉ nghe ông lái vỗ tay hô: “Ngã này! Ngã này!” Nhưng Kim Trục Lưu không ngã xuống mà cười lạnh: “Té ra ngươi là giặc cướp. Hừ, chén trà độc của ngươi làm sao hại được ta!” Lập tức vươn tay búng mạnh, một luồng trà nóng bắn ra. Té ra Kim Trục Lưu đã phát giác từ trước, không đợi cho thuốc độc phát tác đã dùng nội công thượng thừa búng chén trà độc tới.
Ông lái lách người, chân đã bị trà bắn trúng, may mà trà chưa kịp thấm vào người. Y đứng dậy, cầm cái dầm bổ xuống đầu Kim Trục Lưu, buông giọng cười lớn: “Đúng thế, ta là giặc cướp, ngươi biết đã muộn!”.
Kim Trục Lưu cười lớn: “Chút bản lãnh của ngươi mà muốn hại ta vẫn còn khó lắm!” Tức thì chàng vung cái tráp lên gạt ra, trong tráp có chứa tảng huyền thiết nặng cả trăm cân, ông lái làm sao có thể đỡ nổi? Chỉ nghe rắc một tiếng, cái dầm bọc sắt dày đã gãy đôi.
Nhưng bản lĩnh của ông lái không tệ như Kim Trục Lưu tưởng, tuy cây dầm bị gãy nhưng y không hề ngã xuống. Song đương nhiên y cũng biết mình không phải là đối thủ của Kim Trục Lưu.
Ông lái dậm mạnh nhảy vọt người lên, khi phóng người lên đã phát ra ba mũi phi đao. Kim Trục Lưu múa cái tráp chuẩn bị gạt phi đao, nhưng không ngờ ba mũi phi đao không phải phóng về phía chàng, chỉ nghe soạt một tiếng, cánh buồm bị đứt thành ba đoạn. Té ra ông lão biết rõ không thể đùng phi đao đả thương Kim Trục Lưu cho nên đã chém gãy cột buồm, chiếc thuyền không thể tiến về phía trước nữa. Y phóng ra ba cây phi đao, đồng thời chém vào cột buồm, cái cột buồm chặt thành ba đoạn nhưng chỉ kêu một tiếng soạt, rõ ràng bản lĩnh ném phi đao coi như cũng rất cao minh. Khi Kim Trục Lưu phát giác, định nhảy tới tóm y thì cột buồm đã gẫy, tên lái đò cũng nhảy tõm xuống sông.
Gió sông nổi lên, mặt nước dậy sóng, cột buồm đã bị chặt đứt, cánh buồm rơi xuống, con thuyền cứ xoay mồng mọng giữa dòng sông.
Kim Trục Lưu lớn lên ngoài biển, thường bơi ra biển chơi, đương nhiên biết cách lái thuyền, nhưng dầm thì đã bị gãy, chàng cũng đành bó tay.
 Kim Trục Lưu trong lúc gấp gáp đã nảy ra ý hay, chàng vừa dùng Thiên cân trụygiữ chiếc thuyền nhỏ lại, vừa dùng tay thay dầm quạt nước tiến về phía trước. Lúc này chàng chèo ngược con nước, dùng tay bạt nước tiến về phía trước rất mất sức, nhưng rốt cuộc con thuyền vẫn chầm chậm tiến về phía trước.
Chàng chợt nghe tiếng răng rắc vang lên, đó là tiếng gỗ bị nứt, Kim Trục Lưu thầm kinh nhủ rằng: “Cả lẽ tên lái đò đang giở trò!” Nghĩ chưa xong, quả nhiên chỉ thấy cái thuyền nứt ra một cái lỗ, nước tràn vào thuyền. Té ra tên lái đò tinh thông thủy tính, vốn có ngoại hiệu là thủy quỷ, quả nhiên y đã lặn xuống bên dưới đục đáy thuyền.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-02 23:54:10Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu không động thanh sắc, đột nhiên hai chân dặm mạnh, con thuyền xoay ngang, chàng quát lớn một tiếng vỗ một chưởng xuống mặt sông.
Con thuyền đột nhiên xoay ngang, người nấp bên dưới không kịp xoay người, bị Kim Trục Lưu vỗ xuống một đòn Phách không chưởng, lập tức trồi lên khỏi mặt nước, nổi lềnh bềnh trên nước tựa như con cá chép, hai mắt trợn ngược, hơi thở phì phò. May mà y ở sâu dưới nước, nếu không lục phủ ngũ tạng đã nát bét.
Tên lái đò nằm trên mặt nước bơi ngửa, lúc này y đã đầu váng mắt hoa, tứ chi bãi hoải, đương nhiên không thể đục thuyền nữa. Bơi ngửa có thể ít dùng sức, nhưng đang lúc sóng dữ vùi đập, tên lái đò xem ra không còn chống chọi được bao lâu nữa. Kim Trục Lưu cười lạnh: “Đúng là gậy ông đập lưng ông, hì hì, ngươi chuẩn bị đi gặp long vương đấy ư?”.
Nhưng nước tràn vào thuyền càng lúc càng nhiều, xem ra Kim Trục Lưu cũng không chống chọi được bao lâu nữa. Chàng vốn có thể nhảy xuống nước bơi đi, nhưng không chắc chắn có thể vượt sông, vả lại chàng cũng không đành bỏ tảng huyền thiết.
Đang lúc do dự, Kim Trục Lưu chợt thấy một con thuyền lớn xuôi dòng, chiếc thuyền lướt đi như bay, Kim Trục Lưu vội vàng nhảy lên đầu thuyền, múa may hai tay kêu lớn: “Cứu với!” Nlúc này, tên lái đò nằm ngửa trên mặt nước cũng gào lên.
Con thuyền dần dần trôi chậm lại, một hán tử to lớn dềnh dàng đứng ở trên đầu thuyền cười ha hả: “Đúng thế, ta đến cứu ngươi đây!” Rồi ném một sợi đây dài khoảng bốn năm trượng, sợi dây quét tới bên cạnh tên lái đò, y nắm lấy sợi dây, hán tử đứng trên thuyền quát: “Lên!” Rồi thu sợi dây lại kéo tên lái đò lên thuyền lớn. Kim Trục Lưu ngạc nhiên, kêu lên: “Tên này là giặc cướp, tôi đã bị y hại, hãy mau cứu tôi!” Hán tử ấy đặt tên lái đò xuống rồi cười ha hả: “Đừng nôn nóng, ta sẽ đến cứu ngươi đây. Ngươi có tảng huyền thiết làm sao ta không cứu ngươi được”.
Hán tử ấy vung tay, chợt tiếng lách tách vang lên, từng mũi hỏa tiễn bắn xuống con thuyền nhỏ của Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu cả kinh, lúc này mới biết người trên thuyền cùng một bọn với tên lái thuyền.
Kim Trục Lưu có thể đánh rơi vài ngọn hỏa tiễn xuống nước, ván thuyền và buồm đều đã bị trứng hỏa tiễn, trong chốc lát con thuyền nhỏ đã bắt lửa.
Vết nứt dưới đáy thuyền đang toác ra, Kim Trục Lưu đang vội cứu lửa, không kịp bịt vết nứt lại, trong chớp mắt nước đã lên dấn đầu gối chàng, Kim Trục Lưu chỉ đành bỏ thuyền chứ chẳng còn cách nào khác.
Chiếc thuyền lớn cách chiếc thuyền nhỏ của Kim Trục Lưu khoảng hơn mười trượng, nếu chàng bơi tới, chỉ e nửa đường đã bị loạn tiễn bắn chết.
Trong lúc nguy cấp chàng chợt nảy ra ý dựa vào khinh công của mình để phóng lên con thuyền lớn!
Kim Trục Lưu giơ cao cái tráp, lớn giọng: “Các người chẳng qua chỉ muốn tảng huyền thiết này mà thôi, ta sẽ cho ngươi!” Rồi vung tay ném mạnh, cái tráp bay vù về phía hán tử đứng trên thuyền.
Kim Trục Lưu tay trái ném tráp, tay phải bẻ một mảnh ván thuyền ném xuống nước.
Té ra Kim Trục Lưu dùng tấm ván thuyền này làm bàn đạp để phóng lên chiếc thuyền lớn. Hai chiếc thuyền cách nhau hơn mười trượng, dù Kim Trục Lưu có khinh công giỏi đến đâu cũng phải trồi hụp hai lần mới có thể phóng lên thuyền.
Hán tử đứng trên thuyền giơ tay, tiếp lấy cái tráp, cười rằng: “Hay lắm, đa tạ ngươi!” Cười chưa dứt thì đã liên tiếp thối lui mấy bước. Trong thuyền có một người phóng ra, hai tay đỡ lấy lưng y, y mới khỏi té ngã. Nhưng y có thể đỡ nổi tảng huyền thiết nặng nề mà không hề bị thương, đủ thấy công lực của y chẳng kém Kim TrụcLưu bao nhiêu.
Ngay lúc này, Kim Trục Lưu đã từ thuyền nhỏ phóng vọt lên nhanh như én biển lướt sóng. Tấm ván lúc nãy rơi ở giữa dòng sông, chàng cũng có thể hạ chân xuống. Lúc này tấm ván vẫn chưa bị sóng cuốn đi, chỉ thấy chàng điểm nhẹ mũi chân một cái, lập tức bật ngược lên như trái bóng da, lao thẳng lên thuyền lớn như một mũi tên! Người lúc nãy chạy ra đầu thuyền, quát: “Hảo tiểu tử, té ra là ngươi! Xuống!”
Người đó chẳng phải ai khác, đó chính là Văn Đạo Trang, kẻ đã từng thua trong tay Kim Trục Lưu.
Lần đó Văn Đạo Trang thất bại là bởi chiêu số không bằng người, nếu luận về công lực, y có phần nhỉnh hơn Kim Trục Lưu. Lúc này Kim Trục Lưu đang ở giữa không trung, mũi chân vẫn chưa chạm xuống đầu thuyền, Văn Đạo Trang đã đẩy hai chưởng ra, toan xô Kim Trục Lưu xuống nước!
Kim Trục Lưu lộn người trên không trung, hai tay giang rộng tựa như cánh nhạn, chưởng trái khép lại xỉa thẳng vào huyệt thái dương của Văn Đạo Trang, chưởng phải chặt xuống xương tỳ bà của y!
Chàng đánh ra hai chiêu này để Văn Đạo Trang phải rút tay về, đây cũng là lối đánh lưỡng bại câu thương. Nếu đơn đả độc đấu trên đất bằng, Văn Đạo Trang không dám liều mạng với chàng mà phải né tránh. Nhưng lúc này Kim Trục Lưu đang lơ lửng, Văn Đạo Trang có thể lấy tĩnh chế động. Chỉ cần chịu được một chiêu, y có thể xô chàng xuống nước. Vả lại y còn có một tên cường đạo giúp đỡ cho nên nắm chắc phần thắng. Vì thế y không nhường bước này.
Hán tử lúc nãy tiếp cái tráp đựng tảng huyền thiết, thối lui ra sau ba nước, y vừa mới đứng vững thì lập tức xông lên, ngay lúc đó, Kim Trục Lưu cũng đã phóng vọt lên thuyền. Hán tử ấy dùng cái tráp làm vũ khí, ném mạnh về phía Kim Trục Lưu.
Như thế Kim Trục Lưu không thể đùng hai tay đối phó với Văn Đạo Trang, trong lúc gấp gáp chỉ đành biến chiêu, hai chưởng phân ra đánh về phía hai kẻ địch. Công lực của Văn Đạo Trang vốn chỉ nhỉnh hơn Kim Trục Lưu, đương nhiên một chưởng của Kim Trục Lưu không thể chống lại hai chưởng của y, huống chi hán tử kia cũng không kém Kim Trục Lưu bao nhiêu, vả lại tảng huyền thiết lại là vật nặng nề.
Chỉ nghe hai tiếng hự vang lên, dưới đòn tấn công của hai đại cao thủ, Kim Trục Lưu từ trên không rơi xuống như con diều đứt đây.
Tuy chàng tinh thông thủy tính, nhưng vì bị hai đại cao thủ đánh tới cùng lúc, rơi xuống sông lại bị sóng lớn vùi dập, dù có nội công thâm hậu, không bị thương nhưng đầu óc cũng choáng váng.
Kim Trục Lưu lờ mờ thấy có người nhảy xuống nước, chàng cố gắng nín thở, rút kiếm múa bừa trong nước. Người trên thuyền quát: “Để tên tiểu tử uống thêm vài ngụm nước rồi bắt y!” Kim Trục Lưu đã đuối sức, tuy đã cố gắng nhưng cũng phải mở miệng hớp khí. Quả nhiên sau khi uống vài ngụm nước thì chàng dần dần bất tỉnh nhân sự.
Không biết trải qua bao lâu, Kim Trục Lưu dần dần tỉnh dậy, trước mắt tối đen, giơ tay ra chẳng thấy năm ngón, chàng đưa tay sờ soạng thì chạm phải vách đá lạnh toát, lúc này mới biết mình đã bị nhất trong một căn thạch thất.
Kim Trục Lưu định thần, lòng thầm nhủ: “Thật kỳ lạ, sao bọn chúng không cùm mình”. Chàng áp lỗ tai vào vách tường lắng nghe, bên ngoài hình như có bước chân đi qua đi lại, chắc là có người đang canh giữ”.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Để mình dưỡng sức rồi tính tiếp”. Chàng cảm thấy tứ chi bải hoài, chỉ tưởng rằng là sức khỏe vẫn chưa hồi phục, nào ngờ thử ngồi vận khíthì thấy trong bụng tựa như trống rỗng, chân khí không thể vận hành được. Kim Trục Lưu kinh hoảng, chàng vốn định sau khi vận đủ khí lực thì sẽ phá cửa xông ra. Nay công lực đã hoàn toàn biến mất, trở thành một phế nhân, dù có biết mười tám ban võ nghệ cũng chẳng thể nào vận dụng được.
Chợt nghe có tiếng bước chân dừng trước cửa, một người nói: “Bên trong hình như có tiếng động, chắc là tên tiểu tử ấy đã tỉnh dậy, chúng ta vào xem thử”. Người kia bảo: “Có lẽ y vẫn chưa tỉnh?” Người lúc nãy nói: “Ngươi không biết đó thôi, tên tiểu tử này chẳng phải người tầm thường, đà chủ đã căn dặn, khi y tỉnh đậy thì phải dắt y ra gặp ông ta”. Tên đồng bọn đáp: “Được, vào xem thử”.
Kim Trục Lưu nhắm mắt giả vờ ngủ say, hai người ấy giơ đèn soi trước mắt chàng, một kẻ không yên tâm, thử đá vào mông chàng. Kim Trục Lưu cố nén giận không lên tiếng, chỉ nhủ thầm: “Đợi võ công của ta hồi phục, hai tên tiểu tặc nhà ngươi sẽ biết lợi hại?” Nhưng chàng không biết tại sao công lực của mình đột nhiên biến mất, còn có hồi phục được võ công hay không thì chàng vẫn chưa nắm chắc.
Hai tên canh cửa bước ra, khóa cửa lại. Một người nói: “Tên tiểu tử này là ai mà đà chủ coi trọng y như thế, cứ bảo chúng ta hầu hạ y suất đêm”.
Người kia đáp: “Ồ, ngươi không biết tên tiểu tử này là ai ư?”
Người lúc nãy nói: “Nghe nói Đậu lão đại đã thua to cho y, may nhờ có đà chủ kịp thời tới, y mới khỏi chết đuối ở Trường Giang”. Đậu lão đại chính là tên lái đò đã ám toán Kim Trục Lưu.
Tên đồng bọn cười rằng: “Đậu lão đại là cái thứ gì, Đổng Thập Tam nương và Viên Hải của Lục hợp bang, bang chủ của hai bang Thanh Long, Bạch Hổ cộng thêm Cung Bỉnh Phan của Hồng Anh hội đã đều thua trong tay y!”.
Người kia thất kinh nói: “Thật lợi hại! Y là ai?”.
“Ngươi có nghe nói tới cái tên Kim Thế Di chưa?”.
Người canh cửa cười rằng: “Sao ta lại không biết? Hai mươi năm trước, Kim Thế Di đã bôn tẩu khắp thiên hạ mà không có địch thủ. Nay đồ đệ của y Giang Hải Thiên là đệ nhất cao thủ trên võ lâm. Nhưng nghe nói Kim Thế Di đã mất tích nhiều năm, y có liên hệ gì với tên tiểu tử này?”.
“Kim Thế Di là cha của tên tiểu tử này”.
Người kia thất kinh nói: “Té ra là thế, hèn gì ghê gớm đến thế! Nhưng ta vẫn không hiểu tại sao đà chủ không chịu giết y, không sợ y trả thủ hay sao?”.
Tên đồng bọn ấy đáp: “Điều này thì ngươi không cần lo, dù tên tiểu tử này có giỏi bằng trời, nay mọc cánh cũng khó thoát. Vì Lục Hợp bang nên đà chủ của chúng ta mới không giết y”.
Người kia hỏi: “Y chẳng phải là kẻ thù của Lục Hợp bang sao?”.
Tên đồng bọn nói: “Ngươi chỉ biết một mà không biết hai. Em gái của bang chủ Lục Hợp bang bỏ trốn, ngươi có biết không?”.
“Thì sao?” Nghe nói là chạy theo tên tiểu tử này, Sử Bạch Đô phải bắt tên tiểu tử này để điều tra tung tích của em gái, đà chủ rất thân thiết với Sử Bạch Đô, nay đã bắt được tên tiểu tử đương nhiên phải trao cho Lục Hợp bang, làm sao giết y?”.
Kim Trục Lửa nghe đến đây thì thầm mắng một câu: “Các ngươi chỉ nói vớ [font="times new roman"]vẩn”. Rồi chàng thầm nhủ: “Mình bị oan không sao, nếu lời đồn này đến tai Lý Đôn thì hỏng bét. Sử Bạch Đô cũng thật lẩm cẩm, em gái mình yêu ai mà cũng chẳng biết”.
Người kia nói: “Ồ, ta đã hiểu. Nhưng tại sao tên tiểu tử họ Kim mọc cánh cũng khó thoát?”.
Tên đồng bọn: “Văn đảo chủ có một loại thuốc gia truyền tên gọi Tô cốt tán, có thể làm giảm công lực của đối phương, nếu cho uống một thìa trà thì dù nội công có ghê gớm đến mức nào cũng bị hóa giải. Khi bắt tên tiểu tử này lên thuyền, Văn đảo chủ đã pha một thìa Tô cốt tán vào nước trà rồi đổ cho y uống”.
Lúc này Kim Trục Lưu mới hiểu ra, nhưng trong lòng lại nhen nhóm một tia hy vọng. Số là năm xưa Kim Thế Di mới quen Văn Đình Bích, cũng bị Văn Đình Bích lừa uống Tô cốt tán rồi hành hạ chết đi sống lại.
Tuy thế Kim Thế Di đã nghĩ ra một phương pháp hít thở hóa giải Tô cốt tán. Lập tức Kim Trục Lưu ngồi xếp bằng, giữ ý ở đan điền, chậm rãi hít thở để ngưng tụ từng hơi chân khí lại. Thời gian khoảng nửa cây nhang trôi qua, chân khí của Kim Trục Lưu đã có thể thông suốt. Nhưng vì chàng uống quá nhiều Tô cốt tán cho nên chân khí chỉ có thể ngưng tụ từng hơi, muốn gấp cũng không được. Lúc này tuy chàng có thể vận khí dễ dàng, nhưng công lực chỉ mới hồi phục được một hai phần.
Kim Trục Lưu vừa vui mừng vừa lo lắng, lòng thầm nhủ: “Hy vọng trong vòng hai canh giờ, bọn chúng không phát giác”.
Chợt nghe bên ngoài có người bước tới, nói: “Tiền Đại, đà chủ gọi ngươi. Ta sẽ thay ngươi một lát”. Giọng nói nghe rất quen thuộc, té ra đó là Văn Thắng Trung. Kim Trục Lưu thất kinh, thầm nhủ: “Y là khách ở đây, tại sao lại phải đến canh cửa?”.
Tiền Đại chính là kẻ lúc nãy kể lai lịch Kim Trục Lưu, y là tâm phúc của đà chủ, là người rất lanh lẹ. Y cũng nghĩ như Kim Trục Lưu cho nên nói: “Văn công tử, ngài là quý khách, sao có thể thay tôi canh cửa?”.
Văn Thắng Trung đáp: “Đó là do ta tự nguyện, ngươi không cần ái ngại. Ngươi nói tên tiểu tử này đã đánh bại nhiều cao thủ võ lâm, ta muốn xem có phải y có ba đầu sáu tay hay không?”.
Tiền Đại tưởng rằng y chỉ tò mò, cười rằng: “Chẳng qua chỉ là một tên tiểu tử tầm thường mà thôi”. Rồi lòng thầm nhủ: “Văn đảo chủ là khách quý của đà chủ, lần này bắt được tên tiểu tử là toàn nhờ ông ta giúp đỡ. Con trai của ông ta đến canh gác chắc là không có sơ xuất gì”. Vì thế đáp tạ Văn Thắng Trung rồi ra ngoài.
Tiền Đại chỉ lo Kim Trục Lưu chạy trốn mà thôi. Kim Trục Lưu đã uống Tô cốt tán, nếu muốn chạy thì trừ phi có người thả chàng, Văn Thắng Trung đương nhiên sẽ không làm thế, cho nên Tiền Đại mới yên tâm. Nào ngờ Văn Thắng Trung tuy không thả Kim Trục Lưu nhưng lại đến ám hại chàng.
Té ra Văn Thắng Trung đã ôm hận trong lòng từ lâu, nay khó khăn lắm mới có dịp may thì làm sao thả Kim Trục Lưu? Chỉ là vì mối quan hệ với Lục Hợp bang cho nên bang chủ của Hải Sa bang định trao Kim Trục Lưu cho Sử Bạch Đô, cho nên Văn Thắng Trung chỉ đành ám hại chàng mà thôi. Y nghĩ sau khi mọi việc xong xuôi thì bang chủ của Hải Sa bang cũng chẳng làm gì được. Tiền Đại là tâm phúc của bang chủ, lại là người lanh lẹ cho nên y đã mượn cớ dụ Tiền Đại ra ngoài. Sau khi Tiền Đại bước ra ngoài, Văn Thắng Trung nói với tên còn lại: “Mở cửa cho ta xem thử”. Kẻ này chỉ là một tên tép riu trong bang, nào dám không nghe, chỉ đành trả lời vâng một tiếng rồi mở cửa cùng Văn Thắng Trung bước vào. Văn Thắng Trung rất cẩn thận, biết rõ Kim Trục Lưu đã uống Tô cốt tán nhưng cũng không dám sơ suất, y vừa vào bên trong thì lập tức châm mồi lửa lên, đồng thời rút kiếm phòng thân.
Ánh lửa lóe lên, chỉ thấy Kim Trục Lưu nằm dựa vào vách, cúi đầu nhắm mắt, miệng thì ngáy kho kho, người kia cười nói: “Tô cốt tán của lệnh tôn thật lợi hại, y đã ngủ say mười hai canh giờ mà vẫn chưa tỉnh!”.
Văn Thắng Trung hừ một tiếng, cười lạnh lẽo: “Kim Trục Lưu, lần này coi ngươi có thoát khỏi tay ta hay không?” Rồi đâm soạt một kiếm tới, kẻ kia thất kinh, kêu lên:
“Văn công tử, đừng, đừng!” Văn Thắng Trung cười lớn: “Ngươi đừng lo, ta sẽ không lấy mạng y!” Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, nhát kiếm đã đâm vào người Kim Trục Lưu.
Chỉ nghe keng một tiếng, thật kỳ lạ, rõ ràng kiếm này đã đâm vào người Kim Trục Lưu nhưng lại tựa như trúng một tảng đá. Té ra Kim Trục Lưu đã đoán biết Văn Thắng Trung không dám lấy mạng chàng, nếu muốn ám toán thì chắc chắn sẽ đâm vào xương tỳ bà của mình, Văn Thắng Trung đâm tới, chàng rùng vai lại, chỗ áo trên vai nhô lên, nhát kiếm xuyên qua áo đâm vào vách đá. Kim Trục Lưu vẫn chưa hồi phục công lực, chỉ đành dùng kế.
Mũi kiếm của Văn Thắng Trung đâm sâu vào vách đá, thân người y chồm về phía trước. Kim Trục Lưu vọt dậy, nhanh như chớp điểm huyệt đạo của hai người.
Tên lính canh bị chàng điểm huyệt đạo thì lập tức té nhào. Còn Văn Thắng Trung thì chỉ hự một tiếng lảo đảo nhưng chưa ngã. Số là công lực của Kim Trục Lưu chỉ hồi phục được một hai phần, dư sức đối phó với kẻ kia, chưa đủ phong bế huyệtđạo của Văn Thắng Trung.
Văn Thắng Trung hự một tiếng, thanh trường kiếm vụt khỏi tay, vỗ mạnh đến một chưởng, nhưng hai chưởng vừa chạm nhau thì vẫn không địch nổi chưởng lực của Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu đánh ngất y rồi bồi thêm một chỉ, dùng thủ pháp điểm huyệt độc môn điểm vào ba đại huyệt cự quyết, ngọc chẩm và toàn cơ của y. Kim Trục Lưu cười khẩy: “Tên tiểu tử vô dụng, cả ám toán người khác mà cũng không xong. Hì hì, giờ thì ngươi làm sao thoát nổi bàn tay ta!” Đang đắc ý thì chợt cảm thấy đầu óc choáng váng, tứ chi rụng rời. Té ra Kim Trục Lưu chạm với Văn Thắng Trung một chưởng, khí lực đã dùng vượt quá giới hạn của bản thân. Sau đó lại dùng thủ pháp độc môn điểm ba đại huyệt của Văn Thắng Trung cho nên chân lực tiêu hao càng nhiều hơn. Đến khi kẻ địch ngã xuống thì chàng mới thấy hậu quả? Chàng phát giác mình đã không còn chân khí nữa!
Kim Trục Lưu thầm kêu khổ. Văn Thắng Trung xảy ra chuyện ở đây, không lâu sau chắc chắn sẽ bị phát giác, mà Kim Trục Lưu muốn hoàn toàn khôi phục công lực thì ít nhất cũng phải mất đến hai canh giờ, nay thời gian cấp bách thì làm sao có thể ngồi đả tọa vận công.
Đang lo lắng, chợt thấy có một bóng người lướt vào trong phòng, Kim Trục Lưu chưa nhìn rõ thì người ấy đã ném vào một vật.

[/align]Chính là: Hắc lao nhốt hiệp sĩ, phòng tối thấy mỹ nhân.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 12 sẽ rõ. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-03 00:19:36Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Mười Hai
[/align]
Nhờ ai hiệp sĩ thoát hắc lao
Khéo dùng bùn đất trêu ma đầu
 
Vật ấy rơi bốp xuống bên cạnh Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu nhặt lên xem, thì thấy đó là một cái hộp bằng gỗ hoàng dương dài khoảng năm tấc, chàng lật lên nhìn thì thấy dưới đáy hộp có hai chữ “thuốc giải”, hộp vẫn chưa mở mà tựa như có một luồng hương thơm thoang thoảng tỏa ra.
Kim Trục Lưu ngạc nhiên, đưa cái hộp ra chỗ sáng, mở ra nhìn thì thấy bên trong có một viên thuốc màu xanh lục, đáy hộp sơn màu đỏ. Kim Trục Lưu dùng móng tay vạch một đường, té ra là phấn. Lúc này chàng mới hiểu, đây là hộp phấn của phụ nữ, hai chữ bên ngoài hộp được viết bằng phấn trong hộp, chắc là trong lúc gấp gáp người ấy tìm không ra bút mực cho nên mới vội vàng lấy phấn ra viết.
“Chả lẽ đây là thuốc giải của Tô cốt tán? Sao thuốc giải lại đựng trong hộp phấn?” sự việc này quá ly kỳ, Kim Trục Lưu không thể nào hiểu nổi. Còn người ném hộp phấn vào là nam hay nữ chàng vẫn chưa biết rõ.
Chỉ Văn Đạo Trang mới có thuốc giải của Tô cốt tán. Văn Đạo Trang đương nhiên không thể ném thuốc giải cho chàng. Vậy người ấy đã đánh cắp? Nhưng y đã có lòng tặng thuốc giải, tại sao không chịu lộ diện?”
Trong lòng chàng có rất nhiều nỗi thắc mắc, nhưng điều quan trọng nhất là thuốc giải này là thật hay giả. Thời gian không cho phép Kim Trục Lưu suy nghĩ nhiều, chàng nhủ thầm: “Dù là thuốc độc, quá lắm chỉ là chết mà thôi, dù sao mình cũng đã mất hết công lực, đã không thể thoát khỏi nơi này. Huống chi người ấy nếu muốn ámhại mình thì không cần sử dụng thuốc độc”. Vì thế chàng quyết định mạo hiểm nuốt viên thuốc ấy vào.
Chỉ trong chốc lát, một luồng khí nóng từ đan điền dâng lên, Kim Trục Lưu mừng rỡ, biết rằng đó là thuốc giải. Chắc là Kim Trục Lưu ngồi hít thở theo phương pháp cha mình đã dạy, chàng thử vận khí ba vòng thì thấy công lực quả nhiên đã hồi phục được bảy tám phần.
Lúc này cánh cửa căn thạch thất đang mở, Kim Trục Lưu đã hồi phục công lực, vốn có thể chạy ra ngoài, nhưng chàng không muốn chạy như thế. Chàng muốn trả lại Văn Đạo Trang một chưởng, lấy lại tảng huyền thiết.
Kim Trục Lưu không phải là người lỗ mãng, chàng đã biết hiện giờ mình đang ở đâu, nhưng cũng đã nghĩ ra một ý hay.
Văn Thắng Trung đã bị chàng điểm huyệt đạo, nhưng chàng không muốn bắt y làm con tin mà đã nghĩ ra cách để chơi khăm Văn Đạo Trang một vố.
Kim Trục Lưu lật người Văn Thắng Trung nằm ngửa ra, cười rằng: “Đa tạ ngươi đã đến thăm ta, ta sẽ tiếp đãi ngươi cho tế!”. Nói xong cởi giày chà xuống dưới đất, cạy được vài viên bùn rồi chàng bóp miệng Văn Thắng Trung nhét vào.
Văn Thắng Trung bị điểm huyệt đạo không thể nào nhúc nhích được, chỉ thấy mùi thối xông vào lục phủ ngũ tạng, cổ họng kêu khèn khẹc, muốn nôn nhưng không tài nào nôn ra được.
Kim Trục Lưu cười hỏi: “Mùi vị thế nào, có ngon như rượu thịt ở nhà họ Phong không?” Chàng vừa nói vừa lột quần áo Văn Thắng Trung rồi mặc vào, lại cười rằng: “Đây là trò hay của ngươi, ta nhớ ngươi đã từng bỡn cợt Tần Nguyên Hạo như thế này. Nay ta lấy gậy ông đập lưng ông, ngươi đừng tức giận”.
Kim Trục Lưu quay sang gã kia. Lúc này y đang nằm ngửa mặt, Kim Trục Lưu lật úp y lại cười rằng: “Ngươi đừng sợ, ta sẽ đá ngươi một cước, đảm bảo ngươi thoải mái hơn nhiều!” Nói xong thì tung cước vào mông y, tên canh cửa này đã bị điểm ma huyệt và á huyệt, bị chàng đá một cước thì kêu ối chao lên một tiếng. Té ra lúc nãy y đã đá vào mông Kim Trục Lưu, song lúc này chàng đá y không phải là muốn trả thù mà chỉ là muốn giải huyệt đạo cho y.
Cú đá của Kim Trục Lưu rất mạnh, kẻ này đã được giải huyệt đạo nhưng vẫn còn ê ẩm. Kim Trục Lưu trầm giọng quát bên tai y: “Không được la, nói thực cho ta nghe, nếu không sẽ ăn đòn!”
Kẻ này kinh hoảng nghĩ bụng: “Không biết tên tiểu ma đầu này còn có trò gì ác ôn? Mình đã rơi vào tay y, chỉ đành nghe lời y mà thôi”. Thế là không dám lên tiếng, chỉ đành gật đầu.
Kim Trục Lưu nắm tay y, nói: “Đi phía trước dẫn đường?” Kẻ này hoảng hồn, hạ giọng: “Ngài muốn tôi đưa ngài chạy trốn? Ngàn vạn lần không được, bên ngoài có bảy tám lớp canh phòng! ở nơi lối ra còn có cạm bẫy, cả tôi cũng không biết”.
Kim Trục Lưu nói: “Ai bảo ta muốn bỏ chạy? Ta  muốn tìm đà chủ của ngươi tính sổ!”
Kẻ này lại thất kinh, nói: “Tiểu tử con ơi, đừng hại tôi, tôi van ngài!”
Kim Trục Lưu nói: “Đừng lo, ta chỉ nhờ ngươi dắt đến bên ngoài nơi ở của y, không cần ngươi đi vào”. Kẻ ấy vẫn còn chần chừ, Kim Trục Lưu cười lạnh lùng: “Ngươi chỉ sợ hình phạt của y chứ không sợ ta? Cho ngươi biết, quá lắm y chỉ đâm ngươi một đao, còn ta thì sẽ hành hạ ngươi khiến cho ngươi sống không được chết không xong. Ngươi có tin không?” Kẻ này thầm cân nhắc: “Mình chẳng qua chỉ cho y nơi ở của đà chủ, chưa chắc bị người khác phát giác, sau này cũng có thể chống đỡ được”.
Y chỉ đành rầu rĩ gật đầu: “Thôi được, tiểu tổ tông, ngài muốn thế nào thì tôi làm thế ấy”. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Nể mặt mấy chữ tiểu tổ tông của ngươi, ta sẽ không lấy mạng ngươi”. Vì thế cả hai cùng bước ra khỏi cửa.
Lúc này đã đến canh ba, ánh trăng không còn tỏ nữa. Hải Sa bang chuyên buôn bán muối lậu, là bang hội giàu có nhất ở hai miền nam bắc. Tổng đà được xây dựng ở một đại hoa viên, diện tích chiếm hết mấy mẫu, khắp nơi là đình đài lầu các, hồ sen non bộ. Căn thạch thất nhất Kim Trục Lưu nằm ở một góc hoa viên. Kẻ này rất quen thuộc đường lối, dẫn Kim Trục Lưu băng qua bụi hoa, vòng qua hòn non bộ, đi toàn những nơi vắng vẻ. Dưới ánh trăng mờ ảo, Kim Trục Lưu bận bộ đồ của Văn Thắng Trung, lại thêm có người đi theo chàng, cho nên dù có thể thấy bóng họ cũng không nhận ra đó là Kim Trục Lưu.
Trên đường Kim Trục Lưu hỏi ra mới biết bang chủ của Hải Sa bang tên gọi Sa Thiên Phong, là huynh đệ kết bái với Sử Bạch Đô. Cha con Văn Đạo Trang đã đến đây nhiều ngày, nghe nói đã cùng Sa Thiên Phong lên Bắc Kinh chúc thọ đại nội tổng quản Tát Phúc Đỉnh.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Té ra bọn chúng cùng một giuộc, muốn cấu kết với quan lại triều đình. Hay lắm, ta sẽ cho các ngươi không được như mong muốn”.
Kim Trục Lưu đã nghĩ sẵn trò chơi khăm Văn Đạo Trang. Nghĩ đến đây thì bật cười một tiếng. Kẻ ấy thất kinh, thì thầm nói: “Tiểu tổ tông, người đừng lên tiếng được không!”
Nói chưa dứt lời, chợt thấy ánh đèn phía trước hắt tới, có một người cầm đèn lồng bước tới, kêu lên: “Trương Tiểu Tam, té ra là ngươi, làm ta sợ chết khiếp. Các ngươi nói gì mà vui thế?”
Người này là đầu bếp trong bang, trên tay bưng một cái làn tre có nắp, mùi thơm trong làn thoang thoảng bốc ra. Té ra Sa Thiên Phong và Văn Đạo Trang muốn ăn đêm, đầu bếp làm vài món ăn, bảo kẻ này đem đến cho bọn chúng.
Tên đầu bếp này một tay xách lồng đèn, một tay xách làn tre, y nhận ra Trương Tiểu Tam trước, sau đó giơ đèn soi lên mặt Kim Trục Lưu, kêu ồ một tiếng, nói: “Có phải huynh đệ này mới tới không?” Kim Trục Lưu cười rằng: “Đúng thế, ta vẫn chưa được nếm món ăn của ngươi, để ta thử xem sao?” Thì đột nhiên điểm huyệt đạo của kẻ ấy, thổi tắt đèn, cướp lấy làn tre rồi giấu tên đầu bếp vào trong hòn non bộ.
Kim Trục Lưu ăn no nê rồi cười: “Ta làm ăn mày mấy tháng nay mới có thể ăn được món ngon như thế này”. Đã mười hai canh giờ chàng chưa bỏ thứ gì vào bụng, cho nên ăn rất ngon lành. Khi ăn uống no nê xong, tinh thần sảng khoái, khí lực đã hoàn toàn hồi phục.
Kim Trục Lưu đã ăn hết con gà trong làn, nhưng vẫn không nỡ bỏ xương, chàng vừa gặm xương vừa khen: “Thơm thật, thơm thật! Cả xương cũng thơm!” Kẻ ấy lo có người phát hiện, thấy Kim Trục Lưu háu ăn như thế chỉ dám cười thầm trong bụng.
Lúc này bọn họ đã vòng qua một hòn non bộ, trong mảnh rừng trúc ở phía trước xuất hiện một tòa lầu, bên trong đèn đuốc vẫn sáng trưng. Kẻ ấy như trút được gánh nặng, ngừng bước, thì thầm: “Sa đà chủ và Văn đảo chủ đang trong tòa lầu đó”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Tốt, đa tạ ngươi. Cái đùi gà này rất ngon, ngươi cũng nếm thử một miếng”. Rồi chàng trở tay điểm cái đùi gà vào huyệt đạo của kẻ ấy.
Tòa lầu bên ngoài được sơn màu đỏ nằm ẩn hiện trong rừng trúc xanh, cùng phấn hoa đang khoe sắc dưới ánh trăng mờ ảo, tạo thành một tiên cảnh tuyệt đẹp. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Gã Sa Thiên Phong này thật biết hưởng phước, đáng tiếc chỉ để làm nhơ bẩn chốn này. Nhưng cũng may có mảnh rừng trúc này, không cần mình phải tốn nhiều sức”. Văn Đạo Trang võ công cao cường chẳng kém gì Kim Trục Lưu, nếu phía trước tòa lầu trống trơn, chắc chắn bọn chúng sẽ phát hiện ra chàng, tuy Kim Trục Lưu vốn đã chuẩn bị giao thủ với bọn chúng, nhưng nếu bị người ta phát hiện sớm thì không hợp với kế hoạch tý nào.
Nhờ mảnh rừng trúc che chắn, Kim Trục Lưu đã âm thầm lần dò tới trước tòa lầu. Vừa lúc này chàng nghe được Sa Thiên Phong đang mắng Tiền Đại: “Ai bảo ngươi đến đây? Ngươi ở trong bang đã nhiều năm, cả quy củ này mà cũng quên sao? Ta không sai người thay ngươi, sao ngươi lại tự tiện trở về?” Tiền Đạo cả kinh, ấp úng: “Là Văn công tử truyền lệnh của ngài, bảo tôi đến đây. Văn công tử đang thay cho tôi”.
Sa Thiên Phong ngạc nhiên, gắt hỏi: “Cái gì, Văn công tử đã bảo ngươi trở về Văn Đạo Trang xen vào: “Ôi, tôi đã hiểu, chắc là Trung nhi không nghe rõ lời ngài, ngài vừa bảo hắn đi hỏi Tiền Đại, hắn lại tưởng ngài muốn gặp Tiền Đại. Thôi được, ngài không yên tâm, tôi sẽ gọi hắn về”. Văn Đạo Trang đương nhiên biết con trai của mình sẽ đi ám hại Kim Trục Lưu, nên vội vàng lấp liếm cho con mình. Khi Kim Trục Lưu bị bắt, Văn Thắng Trung không có mặt, cho nên y mới hỏi Sa Thiên Phong, Sa Thiên Phong bảo y cứ đi hỏi Tiền Đại sẽ biết.
Sa Thiên Phong cũng hơi nghi ngờ, nhưng nể mặt Văn Đạo Trang đành bảo: “Lệnh lang đã canh giữ, tôi lẽ nào không yên lòng? Nhưng chúng tôi làm sao để cho lệnh lang làm chuyện thấp hèn đó được! Tiền Đại, ngươi hãy lập tức trở về gọi Văn công tử đến đây”. Tiền Đại đáp vâng một tiếng rồi bước xuống lầu.
Văn Đạo Trang với theo: “Ta sẽ đi cùng ngươi. Trung nhi thật hồ đồ, ta sẽ phải dạy dỗ hắn lại”. Sa Thiên Phong nói: “Chỉ là chuyện nhỏ nhoi, nào dám làm phiền đảo chủ! Lệnh lang cũng không làm chuyện gì sai sót, ngài cũng đừng nên làm lớn chuyện”. Sa Thiên Phong nào biết Văn Đạo Trang có ý tốt.
Kim Trục Lưu thầm cười: “Đợi lát nữa sẽ có tuồng hay cho xem!” Thế rồi nhân lúc Tiền Đại đi xuống, chàng phóng vọt lên lầu.
Lúc này Văn Đạo Trang thầm lo trong lòng nếu Trung nhi lấy mạng tên tiểu tử ấy, e rằng sẽ khó ăn nói trước mặt Sử Bạch Đô, hơn nữa cũng khiến cho Sa bang chủ khó xử! Nhưng chắc Trung nhi cũng hiểu chuyện này!”
Sa Thiên Phong ân cần: “Văn đảo chủ đừng lo lắng, chắc sẽ không xảy chuyện gì đâu, chẳng phải tên tiểu tử đó đã uống Tô cốt tán của ngài sao?” Y chỉ nghĩ rằng Văn Đạo Trang lo cho con mình mà thôi.
Văn Đạo Trang giả vờ cười: “Tên tiểu tử ấy có mọc cánh cũng khó bay. Nhưng ta cũng hơi lo!” Lúc này Kim Trục Lưu đang nấp ở phía sau cửa sổ, nghe thế thì không khỏi thầm cười: “Ngươi bảo ta mọc cánh cũng khó bay, nhưng ta đã bay đến bên cạnh ngươi!”
Sa Thiên Phong ngạc nhiên: “Đã thế Văn đảo chủ còn lo điều gì?”
Văn Đạo Trang đáp: “Không phải tôi lo y trốn thoát, mà là tôi lo sau khi giải y đến Lục Hợp bang thì chúng ta chẳng làm gì được y”.
Sa Thiên Phong cười: “Té ra ngài lo em gái của Sử Bạch Đô lên tiếng cho y”.
Văn Đạo Trang gật đầu: “Chính là thế”.
Sa Thiên Phong cười: “Ngài không cần lo lắng. Người xưa nói hồng nhan họa thủy (phụ nữ đẹp là đầu mối gây tai họa), em gái của Sử Bạch Đô chính  là họa thủy, người đàn ông nào gặp phải ả đều xui xẻo. Chỉ trừ một người!” Văn Đạo Trang ngạc nhiên: “Tại sao? Người đó là ai?”
Sa Thiên Phong đáp: “Sử Bạch Đô cố ý muốn gả em gái của mình cho Soái Mạnh Hùng, đôi bên đã có thư qua lại, nhưng vẫn chưa bàn xong hôn sự. Như thế ngoại trừ Soái Mạnh Hùng, ai muốn ăn thịt con thiên nga này chắc chắn sẽ gặp họa sát thân!”
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Cái tên này nghe rất quen!” Đang lúc ngẫm nghĩ thì chỉ nghe Văn Đạo Trang nói: “Soái Mạnh Hùng? Có phải là kẻ đã đả thương Trúc Thượng Phụ hay không?”
Sa Thiên Phong: “Đúng thế. Soái Mạnh Hùng đả thương Trúc Thượng Phụ dành lại Tây Xương cho triều đình cho nên Sử Bạch Đô muốn kết thân với y. Trúc Thượng Phụ là thiên hạ đệ nhị cao thủ mà vẫn bị Soái Mạnh Hùng đả thương, lại thêm bang chủ Sử Bạch Đô của Lục Hợp bang, ai dám đụng tới họ? Sử Bạch Đô chỉ là muốn hỏi tung tích của em gái mình, do đó mới không cho chúng ta giết tên họ Kim kia. Đợi sau khi y hỏi xong, y sẽ đích thân giết chết tên này. Y muốn gả em gái của mình cho Soái Mạnh Hùng, làm sao có thể để cho tình nhân của ả sống trên đời?”
Kim Trục Lưu thầm than xui xẻo rồi nhủ thầm: “Sao lại có lẽ này! Đúng là chưa ăn thịt dê thì đã bị bọ chét đầy mình. Mình và Sử Hồng Anh chẳng qua chỉ mới gặp mặt một lần, bọn chúng lại coi mình là tình nhân của nàng. Sử Bạch Đô cũng thật bỉ ổi, y vì muốn câu kết với Tát Phúc Đỉnh, lại vừa muốn tặng em gái của mình cho người ta. Không hiểu Sử Hồng Anh có biết chuyện này không? Hừ, dù sao bọn chúng cũng đã hiểu lầm, mình cũng chẳng điều tiếng gì nữa, phải chơi khăm Sử Bạch Đô và Soái Mạnh Hùng một vố! Xem thử bọn chúng làm gì được mình?”
Văn Đạo Trang nghe Sa Thiên Phong nói như thế thì cười ha hả: “Nói như thế tên tiểu tử họ Kim sẽ chết chắc rồi!” Sa Thiên Phong nói: “Đương nhiên. Cho nênngày mai tôi định cho hắn qua Lục Hợp bang, chúng ta không cần phải canh giữ y nữa”.
Văn Đạo Trang tỏ vẻ hờ hững: “Ngài chỉ định đưa y đi thôi sao?” Sa Thiên Phong ngạc nhiên: “Ý của ông là muốn hỏi tảng huyền thiết?” Văn Đạo Trang đáp: “Đúng thế, có trả tảng huyền thiết cho Lục Hợp bang không?”
Sa Thiên Phong trầm ngâm một lát rồi nói: “Theo lý mà nói chúng ta phải trả cho Lục Hợp bang, nhưng nói thực tôi hơi tiếc món báu vật này”.
Văn Đạo Trang hỏi lại: “Vậy anh tính thế nào?” Sa Thiên Phong nói: “Tôi sẽ bảo rằng tên tiểu tử Kim Trục Lưu đã ném tảng huyền thiết xuống sông rồi. Thủ hạ của tôi chắc chắn sẽ không tiết lộ”.
Văn Đạo Trang cười nói: “Người đông thì lắm miệng, chỉ e không dễ giấu tin này!”
Sa Thiên Phong chợt giật mình: “Vậy phải nhờ lão ca giúp đỡ. Chúng ta hãy chia đôi tảng huyền thiết này. Tôi thấy tảng huyền thiết nặng đến hơn trăm cân, cũng có thể đúc được hai thanh bảo kiếm”.
Văn Đạo Trang xua tay: “Sa huynh đừng hiểu lầm, không phải tôi muốn chia vật báu với huynh. Tôi đang nghĩ nếu cứ như thế chỉ e vì nhỏ mà mất lớn”. Sa Thiên Phong thất kinh: “Tại sao vì nhỏ mà mất lớn, Văn đảo chủ chỉ giáo!”
Văn Đạo Trang: “Tảng huyền thiết này là lễ vật tặng cho Tát tổng quản, ngài đúc thành bảo kiếm, trừ phi giữ mãi không dùng, nếu không làm sao giữ được bí mật?
Một khi bí mật lộ ra, không những đã đắc tội với Sử Bạch Đô mà e rằng cả Tát tổng quản cũng đối phó với ngài”.
Sa Thiên Phong: “Vậy theo ý của huynh...”
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-03 00:48:26Hoàng Dung>
Văn Đạo Trang nói: “Tôi có một cách vẹn cả đôi đường. Chúng ta cứ đem tảng huyền thiết vào kinh, nhưng chúng ta sẽ đem tặng cho Tát tổng quản chứ không trả lại cho người chuẩn bị!”
Sa Thiên Phong: “Như thế chẳng khác nào nẫng tay trên, làm sao ăn nói với Sử Bạch Đô? Vả lại như thế có lợi gì cho chúng ta?”
Văn Đạo Trang nói: “Có lợi nhiều lắm! Sử Bạch Đô cũng không thể trách chúng ta”.
Văn Đạo Trang cố ý gây tò mò, chậm rãi uống một ngụm trà rồi mới nói tiếp: “Mười tám tháng tới là ngày sinh thần của Tát tổng quản, nếu chúng ta đem trả tảng huyền thiết này cho Lục Hợp bang, rồi Lục Hợp bang lại phải đem vào kinh, ít nhất cũng phải mười ngày, lúc đó đã không kịp nữa. Nay chúng ta cứ tặng thay cho y, món quà này vẫn là của Lục hợp bang, nhưng Sử Bạch Đô sẽ cảm kích chúng ta, làm sao trách được ngài?”
Sa Thiên Phong tuy không phải là một kẻ thô lỗ, nhưng tâm kế thì kém xa Văn Đạo Trang. Nghe như thế thì đã bất giác gật đầu: “Đúng thế, nhưng chúng ta còn có lợi gì nữa?’
Văn Đạo Trang cười khẩy: “Đương nhiên là có lợi lắm. Người của Hải Sa bang tặng quà thay cho Lục Hợp bang, lẽ nào Tát tổng quản không hỏi tới? Hì hì! Chỉ cần ông ta hỏi tới, chúng ta sẽ nói toàn bộ sự thật. Tát tổng quản biết cao thủ của Lục Hợp bang đã đánh mất tảng huyền thiết này, còn ngài thì cướp lại cho ông ta, hà hà, lẽ nào ông ta không nhìn ngài bằng con mắt khác? Lúc đó địa vị của ngài trong lòng Tát tổng quản ít nhất cũng cao hơn Sử Bạch Đô!”
Sa Thiên Phong hớn hở: “Có lý lắm, có lý lắm! Nhưng tôi và Tát tổng quản không quen biết nhau, cần phải có người dẫn kiến mới được”.
Văn Đạo Trang nói: “Điều này thì Sa huynh không cần lo lắng, cứ để cho tiểu đệ”. Văn Đạo Trang nhận sính lễ của Tát tống lĩnh, Sa Thiên Phong đã biết chuyện này, y đang chờ Văn Đạo Trang nói ra câu này, cho nên mới vội vàng đáp tạ. Văn Đạo Trang cười: “Chúng ta tình như tay chân, chỉ chút chuyện nhỏ này cần gì phải nhắc tới! Ngày mai chúng ta sẽ cùng lên kinh, sau khi vào kinh tôi sẽ đưa huyền thiết cho huynh khi tặng. Tôi là bằng hữu của Tát tổng quản, tôi sẽ nói hộ cho huynh. Đợi tôi sắp xếp xong xuôi, hẹn kỹ ngày giờ, tôi sẽ đưa huynh vào, huynh thấy thế nào?”
Văn Đạo Trang thầm tính toán cho Sa Thiên Phong, nhưng thật sự là tính toán cho mình. Nếu rèn tảng huyền thiết thành một thanh kiếm, có thể vô địch thiên hạ,nếu rèn thành hai thanh kiếm thì trọng lượng sẽ giảm một nửa, uy lực cũng không còn như cũ. Cho nên Văn Đạo Trang mới không muốn chia với Sa Thiên Phong mà muốn nuốt trọn một mình. Chỉ cần lấy được tảng huyền thiết, y sẽ có cách chiếm làm của riêng.
Sa Thiên Phong chẳng ngờ chuyện này cho nên gật gù: “Vậy xin nhờ Văn huynh nói tốt cho vài câu trước mặt Tát tổng quản”.
Văn Đạo Trang cười ha hả: “Đương nhiên, không cần lão huynh căn dặn, tiểu đệ cũng tự biết. Chỉ tiếc tiểu đệ chưa từng thấy tảng huyền thiết, xin lão huynh hãy lấy ra để cho tiểu đệ xem thử được không, nếu không đến lúc đó tiểu đệ đem tặng mà chẳng biết nó tốt xấu thế nào”.
Sa Thiên Phong nói: “Tôi vốn định ăn tối xong sẽ đem ra cho mọi người cùng ngắm. Không biết sao đến giờ này vẫn chưa thấy thức ăn. Thôi được, chúng ta không đợi thức ăn nữa, lão huynh hãy đợi một lát, tôi sẽ lập tức đem ra”.
Cái tráp chứa tảng huyền thiết nằm trong phòng ngủ của Sa Thiên Phong, phòng ngủ nối liền với phòng khách, Kim Trục Lưu xoay người dùng phương pháp Đảo quái kim câu, hai chân móc vào mái nhà, mắt nhìn vào cửa sổ phòng ngủ. Lúc này Sa Thiên Phong đã châm đèn, Kim Trục Lưu có thể thấy rõ ràng động tác của y. Kim Trục Lưu thầm mừng, nhủ thầm: “Hôm nay mình có thể thi triển thủ pháp Diệu thủ không không của Cơ bá bá!”
Chỉ thấy Sa Thiên Phong ấn nhẹ lên tường, mở ra một cánh cửa ngầm, lấy ra một cái rương sắt, rồi y mở rương bê cái tráp ra. Kim Trục Lưu đang định đoạt lấy cái tráp, nhưng lúc này chợt nghe Sa Thiên Phong kêu hoảng rồi ném cái tráp lên, mặt lộ vẻ ngỡ ngàng!
Kim Trục Lưu chỉ tưởng Sa Thiên Phong phát giác ra mình, thế là cười ha hả vung tay ném thuốc viên tới, miệng nói: “Đa tạ món ăn của ngươi, thịt thì ta đã ăn, cơm thì phần ngươi!”
Kim Trục Lưu vốn muốn ném thuốc viên đánh vào huyệt nghênh hương dưới mũi của Sa Thiên Phong, y chợt ngẩng đầu lên, há miệng kêu lên một tiếng chưa kịp khép lại thì thuốc viên đã chui tọt. Nếu bị điểm huyệt nghênh hương sẽ hôn mê, Sa Thiên Phong may mắn tránh được, nhưng bị thuốc viên chui tọt vào miệng cũng rất khó chịu.
Sa Thiên Phong gầm lớn một tiếng, phun thuốc viên ra, răng cửa cũng bị gãy hai cái. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu đã phóng vọt vào cửa sổ, cái tráp chưa kịp rơi xuống đất thì Kim Trục Lưu đã chụp lấy.
Kim Trục Lưu giật được cái tráp, cũng kêu ồ một tiếng! Té ra cái tráp nhẹ hẫng, rõ ràng tảng huyền thiết không còn nữa.
Sa Thiên Phong đánh vù tới một quyền. Kim Trục Lưu không lấy được huyền thiết, thất vọng vô cùng, chàng nghĩ bụng: “Không biết cao thủ nào đã nẫng mất tảng huyền thiết, mình còn ở đây làm gì!” Bèn đánh hờ ra một chiêu Phất phân thủ, đẩy quyền của Sa Thiên Phong ra rồi phóng tọt ra cửa sổ, tuy tảng huyền thiết đã mất, nhưng chàng vẫn không chịu buông cái tráp ra.
Kim Trục Lưu phóng vọt ra cửa sổ, chân chưa chạm đất thì Văn Đạo Trang đã đuổi tới. Y thấy té ra là Kim Trục Lưu thì kinh hãi, nhưng ra tay rất dữ dội, đánh ra một chiêu Bạch hồng quán nhật, năm ngón tay khép lại chia thẳng vào huyệt toàn cơ trên ngực của Kim Trục Lưu.
Nếu Kim Trục Lưu đã hạ người xuống đất, chắc chắn sẽ bị y xỉa trúng. May mà trong lúc nguy nan chàng đã đạp một chân vào vách tường, phóng vọt người nhanh như mũi tên bay vào trong vườn hoa. Văn Đạo Trang quát: “Chạy đi đâu?” Rồi đuổitheo như hình với bóng.
Kim Trục Lưu đẩy cái tráp ngược trở lại, miệng cười gằn: “Ngươi chỉ muốn tảng huyền thiết này có đúng không? Được, trả cho ngươi!” Văn Đạo Trang biết tảng huyền thiết rất nặng, không dám tiếp lấy, y xoay người phát chưởng đánh một bên.
Kim Trục Lưu đánh ra một chiêu Loan cung xạ điêu, xỉa chỉ vào mạch môn của y. Văn Đạo Trang biến thành thủ pháp Đại cầm nã thủ tóm lấy cổ tay của Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu biến chiêu càng nhanh hơn, chàng khép năm ngón lại, trở tay phất ra một chiêu Thủ nghi tỳ bà. Chỉ nghe bốp một tiếng, lòng bàn tay của Văn Đạo Trang đau nhói, Kim Trục Lưu cũng bất đồ thối lui hai bước. Luận về công lực thì Văn Đạo Trang hơi nhỉnh hơn, nhưng tuy nhiên lại kém về chiêu số, thật ra lòng bàn tay đã bị khớp ngón tay của Kim Trục Lưu gõ trúng cho nên lập tức cảm thấy khí huyết ngưng trệ.
Văn Đạo Trang cả kinh, vội vàng vận huyền công đẩy khí huyết, lạc giọng kêu lên: “Ai đã đánh cắp thuốc giải cho ngươi?” Chỉ có Văn Đạo Trang mới có thuốc giải của Tô cốt tán, nay y biết Kim Trục Lưu đã hồi phục công lực, đương nhiên nghĩ rằng có người đánh cắp thuốc giải cho chàng. Hải Sa bang canh phòng rất nghiêm ngặt, mà thuốc giải của Văn Đạo Trang lại giấu nơi rất bí mật mà vẫn bị đánh cắp, y làm sao không kinh hãi?
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Tô cốt tán của ngươi có thể làm gì được ta, hãy rèn luyện thêm đi”. Thật ra Kim Trục Lưu cũng không biết ai đã cho mình thuốc giải. Văn Đạo Trang cả giận, lại vận Tam tượng thần công, hai chưởng cùng đánh ra.
Lúc này, Sa Thiên Phong cũng chạy xuống lầu, Kim Trục Lưu đề phòng bị đánh từ hai phía cho nên tay trái vạch một vòng cung, dùng Bạt vân thủ hóa giải Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang, tay phải cầm cái tráp bổ xuống đầu y. Văn Đạo Trang không dám tiếp lấy, nhảy vọt ra sau hơn một trượng. Kim Trục Lưu cười thầm: khổng Minh dùng kế không thành dọa Tư Mã ý, mình dùng tráp không đánh lùi Văn Đạo Trang”. SỐ là Kim Trục Lưu không thể dùng một chưởng để hóa giải Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang, nhưng lại tiếc không muốn bỏ cái tráp cho nên dùng tráp không dọa y.
Sa Thiên Phong vừa thở hổn hển vừa gào lên: “Huyền thiết, huyền thiết đã bị đánh cắp?” Y bị Kim Trục Lưu đánh gãy hai cái răng cửa, cho nên giọng nói rất khàn khàn khó nghe.
Văn Đạo Trang thầm nhủ: “Ngươi thật hồ đồ, tảng huyền thiết ở trong tay của tên tiểu tử này, đâu cần ngươi phải cho ta biết?” Thế rồi thuận miệng trả lời: “Đúng thế, tên tử này không những đã đánh cắp huyền thiết mà còn lấy cả thuốc giải của ta.
Nhưng y không thể thoát được, đừng nói nhiều nữa, chúng ta hãy mau bắt sống y!” Sa Thiên Phong gào lên: “Không, không phải y đánh cắp huyền thiết”.
Văn Đạo Trang lại giật mình, kêu lên: “Sao ngươi biết?” Sa Thiên Phong không kịp lên tiếng, vỗ vụt một chưởng xuống đầu Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu bị hai cao thủ vây đánh, không thể không dùng cái tráp chống đỡ. Công lực của Sa Thiên Phong tương đối yếu hơn nhưng võ công của y có thể đánh nát đá vỡ bia, Kim Trục Lưu dùng bảy phần lực đạo đối phó Văn Đạo Trang, chỉ dùng ba phần đối phó với y, chỉ nghe bốp một tiếng, cái tráp đã bị y chụp vỡ nát. Kim Trục Lưu kêu lên: “Đáng tiếc, đáng tiếc!” Sa Thiên Phong tức giận: “Ta bị mất huyền thiết, ngươi chỉ bị vỡ cái tráp, có gì đáng tiếc!” Lập tức tung ra thêm một đòn nữa. Kim Trục Lưu thi triển Thiên la bộ pháp né tránh đòn tấn công của Văn Đạo Trang, đánh ra một chiêu Dự giải liên hoàn đẩy một chưởng và một trảo của Sa Thiên Phong ra, cười gằn: “Huyền thiết vốn chẳng phải của ngươi, sao ngươi lại cướp? Ta tốn nhiều sức mà chỉ lấy được một cái tráp không, nay chắc chắn sẽ bị ngươi đánh vỡ, đương nhiên?”
Lúc này Văn Đạo Trang mới biết huyền thiết đã bị người khác đánh cắp, vừa lo vừa giận, quát: “Sa đại ca, kẻ đó chắc chắn là vây cánh của y, chúng ta bắt sống tên tiểu tử này rồi tính tiếp!” Sa Thiên Phong nói: “Đúng thế, hễ bắt sống không được thì giết!” Hai người bọn họ đều căm hận Kim Trục Lưu cho nên dốc hết sức mình tung ra, chiêu nào cũng toàn là sát thủ.
Trong lúc kịch chiến Kim Trục Lưu một mình khó chống lại hai, bản lĩnh của Văn Đạo Trang tương đối cao, Kim Trục Lưu phải tập trung đối phó với y, nhưng Sa Thiên Phong cũng không kém, Kim Trục Lưu chỉ hơi phân tâm, thì chỉ nghe soạt một tiếng, gấu áo đã bị y cào rách một mảnh. Kim Trục Lưu cười: “Ngươi xé áo Văn Thắng Trung, ta không tiếc tý nào. Hì hì, Văn đảo chủ, áo của con trai ông bị bằng hữu của ông xé rách, ông có tiếc không?”
Dưới ánh trăng mờ ảo, Văn Đạo Trang toàn thần ứng chiến, chẳng hề để ý quần áo trên người Kim Trục Lưu, đến giờ nghe chàng nói như thế, nhìn lại mới thấy quả nhiên Kim Trục Lưu mặc quần áo của con mình.
Văn Đạo Trang kinh hãi, trách: “Ngươi... ngươi... sao lại mặc áo quần của con ta?” Kim Trục Lưu cười nói: “Đừng lo, đứa con yêu quý của ông vẫn còn sống. Y quen đánh cắp quần áo của người khác, ta chẳng qua chỉ là lấy gậy ông đập lưng ông mà thôi”.
Văn Đạo Trang kinh hoảng dốc toàn lực ra đòn, hận không bắt sống ngay Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu một mình khó tránh hai kẻ đại địch, lòng thầm kêu khổ, nhưng vẫn hí hửng nói: “Văn Đạo Trang, các người lấy đông hiếp yếu, có biết hổ thẹn hay không? Hì hì, nếu đơn đả độc đấu ngươi làm sao đánh lại ta!”
Văn Đạo Trang: “Thằng giặc con xảo trá kia, ta hận không phanh thây ngươi ra muôn đoạn, cần gì phải dùng quy củ giang hồ của ngươi?” Kim Trục Lưu cười khẩy: “Đa tạ đã khen ngợi, nếu ngươi không nói quy củ giang hồ, ta cũng đành chịu. Này con trai ngươi đến đấy, ngươi cử bảo y cùng tiến lên, ta cũng không sợ?”
Văn Đạo Trang quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Tiền Đại cùng một đầu mục khác đỡ con ông ta không ngừng bước tới. Lúc này Văn Thắng Trung tựa như ngây dại, đôi mắt cứ nhìn thẳng tới phía trước, tay chân cứng đờ, hình như không thể đi đứng được, hai người kia phải lôi y đi.
Văn Đạo Trang cả kinh, vội vàng chạy tới kêu: “Trung nhi con làm sao thế?”
Y chỉ có một đứa con này, cho nên đương nhiên không màng đến Kim Trục Lưu nữa.
Văn Thắng Trung nói không được, cổ họng cứ kêu lên khèn khẹc, tựa như có một [font="times new roman"]cục đờm chặn ngang cổ họng mà lại khạc không ra, thần sắc trên mặt càng khó coi hơn. Văn Đạo Trang thấy thế thì sử dụng Tam tượng thần công giải huyệt nhưng không được. Văn Đạo Trang lòng thầm nhủ: “Chẳng lẽ mình đoán sai, hình như Trung nhi không phải bị điểm huyệt đạo?”
Kim Trục Lưu tự nhiên đã hiểu ý của y, cười ha hả: “Ngươi không cần tốn công nữa. Hãy để giành sức mà đánh nhau với ta!”
Văn Đạo Trang quát: “Tên tiểu tử kia, ngươi đã làm gì con ta, ta lấy mạng người!”
Kim Trục Lưu xua tay, cười hì hì: “Ngươi làm sao lấy nổi mạng ta. Nhưng ngươi đừng lo, ta không lấy mạng con trai của ngươi. Hì hì, cao thủ là có qua có lại mà thôi”.
Văn Đạo Trang hỏi: “Có qua có lại là sao?”
Kim Trục Lưu nói: ‘Ngươi có Tô cốt tán, ta có thuốc độc. Tô cốt tán của ngươi không hại được ta, nhưng chất độc của ta lại hại được con trai của ngươi. Song ta cũng không muốn lấy mạng y, cho nên chúng ta phải thương lượng!”
Sa Thiên Phong nói: “Tên tiểu tử này không thể chạy thoát được, chúng ta sẽ bắt sống rồi buộc y giao ra thuốc giải”.
Kim Trục Lưu vẫn cười: ‘Thứ nhất, các người không chắc chắn bắt được ta; thứhai nếu có người bắt ta, ta chắc chắn sẽ liều mạng với các người, dù một mình ta không chống nổi các người, nhưng các người cũng khó tránh tử thương; thứ ba trên người ta có mười mấy loại thuốc, có cả thuốc độc lẫn thuốc giải. Nhưng lúc gặp tuyệt lộ, ta sẽ lập tức tự sát, hì hì, lúc đó con trai ngươi buộc phải thử tất cả các loại thuốc của ta...”
Kim Trục Lưu nói vớ vẩn một hồi, Văn Đạo Trang nghe xong bất đồ lo lắng.
Những viên đất trên mồm Văn Thắng Trung đã tan ra, nhưng vẫn còn mùi thối. Văn Đạo Trang đã biết con trai, nghĩ bụng y cứ còn mùi thối thì càng tin rằng đó là thuốc độc! Thầm nhủ: “Loại thuốc hôi thối thế này, chắc là dược tính rất mạnh”. Thế rồi vội vàng nói: “Hảo tiểu tử, coi như ta sai, ngươi muốn thế nào cứ nói!”
Kim Trục Lưu từ tốn bảo: “Ngươi cùng ta rời khỏi nơi này ba mươi dặm, ta sẽ cho thuốc giải. Lúc đó mạng của lệnh lang và ta đều có thể bảo toàn, chẳng phải rất công bằng hay sao?”
Văn Đạo Trang nói: “Tôi làm sao tin thuốc giải của ngươi là thật hay giả, ngươi cứ cho thuốc giải trước, đợi hắn khỏe lại, ta sẽ đưa ngươi ra”.
Kim Trục Lưu: “Ngươi không tin ta, ta làm sao có thể tin ngươi?”
Văn Đạo Trang còn đang chần chừ, Kim Trục Lưu nói tiếp: “Được, nếu ngươi đã không muốn thế thì thôi vậy. Hừ, tên họ Văn nhà ngươi thật coi thường người quá thể, nếu lừa gạt ngươi, ta còn có thể đi lại trên giang hồ được chăng!”
Văn Đạo Trang một là lo cho tính mạng của con trai, hai là cảm thấy Kim Trục Lưu nói có lý, thầm nhủ: “Đúng thế, cha và sư huynh của y đều là nhân vật nổi tiếng trên võ lâm, tên tiểu tử này chắc chắn sẽ không dám làm càn”. Nên vội nói: “Được, ta tạm tin lời ngươi”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Cái gì mà tạm với không tạm, chúng ta đã thỏa thuận, đi thôi!”
Sa Thiên Phong bước tới cửa, nhủ thầm: “Mất huyền thiết, tên tiểu tử này lại chạy thoát, biết ăn nói thế nào với Sử Bạch Đô”. Tuy không được công bố nhưng y vẫn phải nhờ vả Văn Đạo Trang, sau khi cân nhắc chỉ đành im lặng.
Văn tạo Trang và Kim Trục Lưu chạy được nửa canh giờ thì đã vượt qua ba mươi dặm. Lúc này bọn họ đã không còn phòng bị thế lực của Hải Sa bang nữa.
Văn Đạo Trang hỏi ngay: “Được ba mươi dặm, thuốc giải đâu?”
Kim Trục Lưu ngân nga: “Hoa đào gầm nước sâu ngàn dặm, chẳng bằng tình người đưa tiễn ta. Sai rồi, sai rồi, ý hai câu thơ này nói bạn bè thân thiết đưa tiễn nhau, chẳng hợp với tình cảnh của chúng ta, nhưng ngươi đã đưa ta hơn ba mươi dặm, ta cũng không cảm kích tấm thịnh tình của ngươi mới phải”.
Văn Đạo Trang quát: “Đừng nhảm nhí nữa, đưa thuốc giải đây?” Y nào biết, sở dĩ Kim Trục Lưu nói nhăng nói cuội là vì trong nhất thời chàng không biết lấy thuốc giải ở đâu ra.
Kim Trục Lưu chợt nảy ra một ý, thầm cười rằng: “Có rồi, có rồi! Thuốc độc là nó, thuốc giải cũng là nó”. Vì thế giả vờ lục lọi trong người, nhưng kỳ thực là thò tay vào kỳ ra một hòn đất rồi nói: “Uống thuốc giải này, lệnh lang sẽ khỏe ngay”.
Kim Trục Lưu đã một ngày không tắm, trên người vẫn còn bám bùn đất cho nên mùi đất rất khó ngửi. Văn Đạo Trang cầm lấy viên thuốc suýt nữa nôn mửa, giật mình: “Sao thuốc giải này lại hôi thối đến thế?” Kim Trục Lưu cười cười: “Thuốc đắng thì dã tật, ngươi có nghe nói câu này bao giờ?”
Chính là: Kế khéo lui cường địch, cười bỡn dọa ma đầu.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 13 phân giải.[/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-03 08:53:58Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Mười Ba
[/align]
Tặng vật báu nhi nữ nhớ nhung
Khéo đưa thuốc giả trêu ma đầu
[/align]
Văn Đạo Trang nửa tin nửa ngờ, cẩn thận cầm viên “thuốc giải”, miệng lầm bầm: “Được, nếu thuốc giải không linh nghiệm, ta sẽ tìm ngươi tính sổ”. Định quay về thì Kim Trục Lưu đã kêu: “Khoan đã!”
Văn Đạo Trang hỏi: “Cái gì? Chả lẽ ngươi đã đưa nhầm thuốc giải?” Y vừa nghi ngờ Kim Trục Lưu giở trò, nhưng cũng sợ Kim Trục Lưu không cho y đi. Lòng nhủ thầm: “Tên tiểu tử này mặc kệ tín nghĩa giang hồ, mình không chết trên tay y, e rằng cũng phải lưỡng bại câu thương. Hừ, mình thật sự đã quá hối hận đã quá tin y, cho nên không kêu Sa Thiên Phong cùng tới, nay thì một tay khó vỗ nên kêu”.
Kim Trục Lưu cười rằng: “Đừng lo, đã bảo thuốc giải này rất linh nghiệm, nhưng ta vẫn chưa nói xong. Lúc nãy ta cho con trai yêu quý của ngươi uống thuốc độc sau đó điểm huyệt đạo của y”. Văn Đạo Trang đã thử giải huyệt nhưng không có hiệu quả, nghe thế thì thất kinh, nói: “Sao tên tiểu tử nhà ngươi lại có thể ra tay ác độc đến thế?”, rồi nghĩ bụng: “Tên tiểu tử này đã rời khỏi long đàm hổ huyệt, đương nhiên chẳng thể nào quay về. Nhưng mình không biết giải huyệt, làm thế nào đây?”
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Không, không! Nói đến độc ác ta vẫn chưa bằng ngươi. ngươi không nghe nói vô độc bất trượng phu hay sao?”
Văn Đạo Trang càng kinh hoảng hơn: “Kim Trục Lưu, ngươi muốn thế nào? Có phải ngươi cố ý lừa gạt ta không?”
Kim Trục Lưu nghiêm mặt: “Không, không! Ta làm sao có thể giống như ngươi, ta rất giữ lời hứa. Ta nói không cần mạng của con trai ngươi, đương nhiên sẽ dạy ngươi cách giải huyệt. Ngươi hãy lắng tai mà nghe đây!”
Văn Đạo Trang đành phải nhét giận, dục thúc: “Thôi được, coi như ta sợ ngươi, nói đi”. Kim Trục Lưu: “Ta điểm huyệt toàn cơ của y, ngươi phải thôi cung quá huyệt ở huyệt đạo tương ứng thì sẽ giải được”. Văn Đạo Trang ấp úng: “Chả lẽ ngươi lại muốn lừa ta? Ta... ta...” Y định nói đã thử nhưng không có hiệu quả.
Kim Trục Lưu cười cười: “Ngươi đã từng thử phải không? Nhưng lần này thì khác, trước tiên ngươi cho hắn uống thuốc giải, rồi sau đó mới có hiệu quả”.
Kim Trục Lưu tính toán thời gian, Văn Đạo Trang quay về Hải Sa bang ít nhất cũng phải hơn một canh giờ, qua thời gian này thì dù y không có Tam tượng thần công thì cũng có thể dễ dàng giải huyệt đạo.
Văn Đạo Trang nghĩ bụng: “Nếu y lừa mình thì không cần cho mình biết cách giải huyệt. Hừ, không ngờ tên tiểu tử này cũng có chút nhân đạo”. Bèn đáp tạ Kim Trục Lưu rồi quay về.
Sau khi Văn Đạo Trang quay về, Kim Trục Lưu ôm bụng cười, nghĩ tới Văn Thắng Trung lại uống thêm “thuốc giải” một lần nữa, chàng càng đắc ý hơn!
Nhưng sau khi cười xong, Kim Trục Lưu nhớ lại tảng huyền thiết đã mất, chàng không khỏi thất vọng, lẩm bẩm: “Không biết kẻ nào đã ra tay? Không ngờ núi cao hơn núi, lần này cả mình cũng bị nẫng tay trên”.
Kim Trục Lưu đi theo con đường núi, đang lẩm bẩm một mình thì chợt nghe trong rừng có người bật cười, người ấy nói: “Ngươi muốn biết ai đánh cắp?” Kim Trục Lưu nghe âm thanh ấy rất quen thuộc, nhất thời ngỡ ngàng ngẩn người!
Chỉ thấy Sử Hồng Anh từ trong rừng yểu điệu bước ra, một tay bê cái tráp, một tay cầm trường kiếm, nét cười như hoa, trông rất đắc ý.
Kim Trục Lưu ngẩn người ra, kêu lên: “Té ra là cô nương!”
Sử Hồng Anh nói: “Đúng thế, nhận lấy”.
Rồi nàng ném cái tráp qua, Kim Trục Lưu chụp cái tráp, cảm thấy rất nặng nề, không cần mở ra cũng biết tảng huyền thiết bên trong.
Sử Hồng Anh nói: “Ta không phải có ý muốn nẫng tay trên của ngươi, ta thật lòng muốn tặng cho ngươi. Này, thế nào, sao ngươi còn chưa đáp tạ ta?”
Kim Trục Lưu biết Sử Hồng Anh đã nghe mình lẩm bẩm bất giác đỏ mặt, tiu nghỉu tựa như chú gà trống bại trận, bất giác nói một tiếng: “Đa tạ!” sau đó mới tiếp: “Cô nương đã đánh cắp cho ta, nhưng ta không thể lấy”.
Sử Hồng Anh nói: “Lần trước ngươi đánh cắp, ta tặng cho ngươi không thể tính là lễ vật. Lần này ta tặng cho ngươi coi như đã trừ hết món nợ ân tình của ta đối với ngươi!”
Kim Trục Lưu rất lúng túng: “Té ra cô nương vẫn còn nhớ lời tôi nói. Ngày hôm đó tôi đã không giữ mồm giữ miệng, cô nương đừng để trong lòng”.
Sử Hồng Anh: “Ngươi đừng coi thường ta, suốt đời này ta không muốn nợ ơn ai, mà có nợ thì phải trả. Vả lại ta cũng không cần dùng đến tảng huyền thiết này”. Nghe nàng nói thế, Kim Trục Lưu cảm thấy nàng đang “so đo tính toán”, cũng có thể nàng muốn trả đũa mình. Trong nhất thời Kim Trục Lưu không biết nói gì cho phải.
Sử Hồng Anh lại bảo: “Ta trả lại tảng huyền thiết chỉ mới là trả vốn, thanh kiếm này giờ đây trả lại cho chủ cũ, coi như đó là phần lời”. Kim Trục Lưu thầm nghĩ, nếu không nhận lại thì rõ ràng mình nhỏ nhen, chàng đành nhận thanh kiếm rồi lại nói thêm một tiếng “đa tạ”, hỏi: “Cô nương làm sao biết tảng huyền thiết rơi vào tay Hải Sa bang?”
Sử Hồng Anh đáp: “Ngày hôm đó ngươi bị lật thuyền ở Trường Giang, rơi xuống nước, bị Sa Thiên Phong bắt được, chuyện lớn như thế ta làm sao không biết? Ta biết ngươi bị bắt sống, đó chính là cơ hội tốt để ta đáp đền, ta làm sao không đến?” Trục Lưu rồi quay về.
Sau khi Văn Đạo Trang quay về, Kim Trục Lưu ôm bụng cười, nghĩ tới Văn Thắng Trung lại uống thêm “thuốc giải” một lần nữa, chàng càng đắc ý hơn! Nhưng sau khi cười xong, Kim Trục Lưu nhớ lại tảng huyền thiết đã mất, chàng không khỏi thất vọng, lẩm bẩm: “Không biết kẻ nào đã ra tay? Không ngờ núi cao hơn núi, lần này cả mình cũng bị nẫng tay trên”.
Kim Trục Lưu đi theo con đường núi, đang lẩm bẩm một mình thì chợt nghe trong rừng có người bật cười, người ấy nói: “Ngươi muốn biết ai đánh cắp?” Kim Trục Lưu nghe âm thanh ấy rất quen thuộc, nhất thời ngỡ ngàng ngẩn người!
Chỉ thấy Sử Hồng Anh từ trong rừng yểu điệu bước ra, một tay bê cái tráp, một tay cầm trường kiếm, nét cười như hoa, trông rất đắc ý.
Kim Trục Lưu ngẩn người ra, kêu lên: “Té ra là cô nương!”
Sử Hồng Anh nói: “Đúng thế, nhận lấy”.
Rồi nàng ném cái tráp qua, Kim Trục Lưu chụp cái tráp, cảm thấy rất nặng nề, không cần mở ra cũng biết tảng huyền thiết bên trong.
Sử Hồng Anh nói: “Ta không phải có ý muốn nẫng tay trên của ngươi, ta thật lòng muốn tặng cho ngươi. Này, thế nào, sao ngươi còn chưa đáp tạ ta?”
Kim Trục Lưu biết Sử Hồng Anh đã nghe mình lẩm bẩm bất giác đỏ mặt, tiu nghỉu tựa như chú gà trống bại trận, bất giác nói một tiếng: “Đa tạ!” sau đó mới tiếp: “Cô nương đã đánh cắp cho ta, nhưng ta không thể lấy”.
Sử Hồng Anh nói: “Lần trước ngươi đánh cắp, ta tặng cho ngươi không thể tính là lễ vật. Lần này ta tặng cho ngươi coi như đã trừ hết món nợ ân tình của ta đối với ngươi!”
Kim Trục Lưu rất lúng túng: “Té ra cô nương vẫn còn nhớ lời tôi nói. Ngày hôm đó tôi đã không giữ mồm giữ miệng, cô nương đừng để trong lòng”.
Sử Hồng Anh: “Ngươi đừng coi thường ta, suốt đời này ta không muốn nợ ơn ai, mà có nợ thì phải trả. Vả lại ta cũng không cần dùng đến tảng huyền thiết này”. Nghe nàng nói thế, Kim Trục Lưu cảm thấy nàng đang “so đo tính toán”, cũng có thể nàng muốn trả đũa mình. Trong nhất thời Kim Trục Lưu không biết nói gì cho phải.
Sử Hồng Anh lại bảo: “Ta trả lại tảng huyền thiết chỉ mới là trả vốn, thanh kiếm này giờ đây trả lại cho chủ cũ, coi như đó là phần lời”.
Kim Trục Lưu thầm nghĩ, nếu không nhận lại thì rõ ràng mình nhỏ nhen, chàng đành nhận thanh kiếm rồi lại nói thêm một tiếng “đa tạ”, hỏi: “Cô nương làm sao biết tảng huyền thiết rơi vào tay Hải Sa bang?”
Sử Hồng Anh đáp: “Ngày hôm đó ngươi bị lật thuyền ở Trường Giang, rơi xuống nước, bị Sa Thiên Phong bắt được, chuyện lớn như thế ta làm sao không biết? Ta biết ngươi bị bắt sống, đó chính là cơ hội tốt để ta đáp đền, ta làm sao không đến?”
Kim Trục Lưu cười rằng: “Họ là bằng hữu của Lý Đôn, đương nhiên là tốt với cô nương. Không ngờ Lý Đôn cũng giỏi tâm kế như thế, cả Sử bang chủ mà cũng mắc mưu y”. Trong lòng Kim Trục Lưu dâng lên cảm giác chua chát, cho nên cười rất miễn cưỡng.
Sử Hồng Anh liếc chàng rồi nói: “Sao có thể gộp chung được, người giỏi tâm kế cũng có tốt xấu, tâm kế của Lý Đôn là để làm chuyện tốt”. Sử Hồng Anh tránh nói đến anh trai của mình cho nên chỉ nhắc đến Lý Đôn. Kim Trục Lưu nhói đau trong lòng, thầm nhủ: “Trong lòng nàng chỉ có Lý Đôn, sao mình lại xen vào giữa họ!” Chàng muốn bỏ đi nhưng không nỡ rời xa Sử Hồng Anh.
Vì thế Kim Trục Lưu đành cười trừ: “Đương nhiên, đương nhiên, tôi cũng nghĩ như thế. Tôi đã nói sai, cô nương đừng chấp”.
Sử Hồng Anh bật cười: “Nếu ta chấp ngươi thì đâu có chờ ngươi ở đây!” Sử Hồng Anh nói như thế lại khiến cho Kim Trục Lưu mừng rỡ trong lòng. Sử Hồng Anh nói tiếp: “Hai người này đã biết nơi cất giấu tảng huyền thiết, ta tìm đến họ cho nên đánh cắp dễ như trở bàn tay. Nhưng thuốc giải thì họ đã lấy từ phòng của Văn Đạo Trang”.
Kim Trục Lưu nói: “Dù là nhờ ai, tôi cũng đã nợ ân tình của cô nương”.
Sử Hồng Anh: “Nói ra ta cũng rất khâm phục ngươi! Chỉ một mình ngươi mà khiến cho Hải Sa bang long trời lở đất!”
Kim Trục Lưu xưa nay không thích ai khen ngợi mình, nhưng nay nghe Sử Hồng Anh nói như thế, trong lòng cảm thấy rất nhẹ nhàng dễ chịu, hạ giọng nói: “Thôi được, chúng ta đừng khen nhau nữa. Bây giờ cô nương đi đâu?”
Sử Hồng Anh đáp: “Bây giờ vẫn chưa biết. Có lẽ ta phải tìm một nơi lẩn trốn, đợi qua ngày sinh thần của Tát Phúc Đỉnh thì sẽ về nhà”.
Kim Trục Lưu vội vàng: “Không được, cô nương ngàn vạn lần đừng trở về nhà!”
Sử Hồng Anh ngạc nhiên: “Tại sao? Ta đã hai lần đánh cắp huyền thiết mà không bị lộ. Đổng Thập Tam nương và Sa Thiên Phong đều không biết người đó là ta”.
Kim Trục Lưu: “Dù Sử bang chủ không truy cứu chuyện này, cô nương cũng đừng nên về nhà! Cô nương mà về nhà thì y sẽ không tha cho cô nương!”
Sử Hồng Anh: “Sao ngươi biết?”
Kim Trục Lưu nói: “Tôi đã nghe được tin này. Cô nương có biết Soái Mạnh Hùng không?”
Sử Hồng Anh: “Soái Mạnh Hùng? Ồ, ta nhớ ra rồi. Ba năm trước y đã từng đến nhà ta, ca ca bảo y là một cao thủ ở quan ngoại”.
Kim Trục Lưu nói: “Ồ, té ra y là người Mãn Châu. Chả trách nào?”
Sử Hồng Anh: “Chả trách nào cái gì?”
Kim Trục Lưu: “Y giả mạo thành người Hán, dùng quỷ kế ám toán lãnh tụ nghĩa quân ở miền Tây Xương Trúc Thượng Phụ, giành lại Tây Xương cho triều đình, cô nương có biết chuyện này không?”
Sử Hồng Anh: “Ca ca của tôi chưa bao giờ nhắc đến chuyện nghĩa quân phản Thanh. Nhưng chuyện này có liên quan gì đến tôi?”
Kim Trục Lưu: “Chuyện này không có liên quan gì đến cô nương cả, nhưng Soái Mạnh Hùng thì có!”
Sử Hồng Anh nhíu mày: “Liên quan gì? Chẳng qua tôi chỉ gặp mặt y một lần”.
Kim Trục Lưu: “Sử bang chủ muốn gả cô nương cho y!”
Sử Hồng Anh bực dọc: “Nhảm nhí, sao lại như thế được?”
Kim Trục Lưu: “Không phải tôi nhảm nhí. Sa Thiên Phong đã nghe Sử bang chủ nói như thế, chắc chắn là không phải giả”.
Sử Hồng Anh nghiến răng: “Ca ca của tôi thật hồ đồ, tôi làm sao chịu gả cho người như thế?” Kim Trục Lưu: “Ca ca của cô nương tham công danh phú quý, chuyện gì mà không làm được? Cho nên cô nương đừng về nhà?”
Sử Hồng Anh trầm ngâm không nói, tựa như vẫn đang tính toán điều gì.
Kim Trục Lưu bảo: “Cô nương trốn không phải là cách, Sử bang chủ có nhiều tai mắt, nếu bị y tìm thấy thì cô nương phải làm thế nào?”
Sử Hồng Anh hỏi lại: “Vậy theo ngươi thì ta phải làm thế nào?”
Kim Trục Lưu: “Chuyện này...” Chàng vốn muốn nói: “Tốt nhất là cô nương đi cùng tôi, hai người chúng ta liên thủ thì không cần phải sợ ca ca của cô nương”.
Nhưng chàng lại ái ngại. Giả sử Sử Hồng Anh hỏi thế này: “Ta cùng đi với ngươi, có lẽ sẽ tránh được một lúc. Chả lẽ ta phải đi theo ngươi suốt đời hay sao?” Chàng sẽ trả lời như thế nào?
Sử Hồng Anh dục: “Ta đang lo đây, ngươi có gì thì cứ nói thẳng ra?”
Kim Trục Lưu ấp úng: “Nếu cô nương không chịu bị gả cho Soái Mạnh Hùng, vậy thì... cô nương... cô nương cứ đi tìm Lý Đôn”
Sử Hồng Anh nói: “Tìm y thì có ích gì?”
Kim Trục Lưu ấp úng: “Cô nương... cô nương và Lý Đôn...”
Sử Hồng Anh: “Ngươi sao thế? Sao lại cứ ấp a ấp úng như thế! Ngươi bảo ta và Lý Đôn thế nào?” Kim Trục Lưu: “Có nghĩa là... các người gạo sống đã nấu thành cơm, Sử bang chủ cũng không thể ép gả cô nương cho người khác nữa”. Kim Trục Lưu nghiến răng, cuối cùng đã nói được điều mình muốn nói.
Sử Hồng Anh đỏ mặt: “Hay lắm, ngươi bắt nạt ta, ta không màng đến ngươi nữa!’
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-03 09:10:16Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu ngẩn người: “Tôi... tôi chẳng qua là tính cho cô nương, sao lại bảo bắt nạt?”
Sử Hồng Anh nghiến răng: “Ngươi... ngươi coi ta là người thế nào? Sao có thể nói những lời khó nghe trước mặt ta, cút đi cho ta!”
Kim Trục Lưu bị nàng mắng, đến khi nghe xong thì trong lòng hớn hở, vội vàng nói: “Xin lỗi, tôi đã hồ đồ. Tôi... tôi tưởng cô nương và Lý Đôn... nào ngờ không phải!”
Sử Hồng Anh vẫn còn chưa hết giận: “Ngươi tưởng ta như thế nào đó là chuyện của ngươi. Ta đúng cũng được, không đúng cũng được. Ngươi hãy mặc kệ ta!”
 Kim Trục Lưu cười: “Phải, phải! Cô nương đừng giận! Tôi nào dám quản chuyện của cô nương, nhưng chúng ta coi như cũng là bằng hữu đúng không? Cô nương gặp khó khăn, kẻ làm bằng hữu phải suy tính cho cô nương có đúng không? Dù không giúp được, có người bàn tính cũng tốt. Sử cô nương, nếu cô nương không tìm Lý Đôn vậy chúng ta cùng nhau lên kinh được không? Nếu xảy ra chuyện thì hai người đối phó càng tốt hơn một người”.
Kim Trục Lưu rốt cuộc vẫn là một chàng trai trẻ không có kinh nghiệm tình trường, dù chàng có lắm mưu nhiều kế nhưng cũng không thể hiểu nổi tâm sự của đàn bà con gái. Nếu chàng chưa nhắc đến chuyện của Lý Đôn, Sử Hồng Anh có lẽ sẽ chấp nhận. Nhưng lúc này chàng lại nói như thế thì đã quá lộ liễu, vả lại còn khiến cho Sử Hồng Anh tưởng mình là một kẻ khinh bạc.
Sử Hồng Anh giận đến đỏ mặt, lạnh lùng: “Ngươi tưởng ta cần người bảo vệ đấy hử? Hừ, ngươi đã quá coi thường ta! Đúng thế, bản lĩnh của ta không bằng ngươi, nhưng cũng không cần ngươi bảo vệ! Ngươi cứ đi đường ngươi, ta đi đường ta, đừng nhiều lời?”
Kim Trục Lưu đuổi theo mấy bước, thở dài: “Tôi quả thật không biết ăn nói đã đắc tội với cô nương! Tôi làm sao dám coi thường cô nương, cô nương là nữ trung hào kiệt, tôi bái phục còn không kịp nữa kìa?”
Sử Hồng Anh vừa bước vừa giận dữ: “Ngươi đúng là khắc tinh của ta, ai cần ngươi khâm phục? Ta chỉ mong ngươi tránh cho xa!” Lúc này nàng vẫn chưa bớt giận nhưng lời lẽ thì mềm mỏng hơn.
Chợt nghe có tiếng ngựa lọc cọc, Văn Đạo Trang phóng ngựa đuổi theo, từ xa đã quát: “Tên tiểu tử Kim Trục Lưu hãy đứng lại cho ta?”
Kim Trục Lưu: “Sử cô nương, cô thấy đấy, chúng ta không đi thì sẽ phiền to!”
Sử Hồng Anh ngẩng đầu lên nhìn chỉ thấy phía sau Văn Đạo Trang còn có ba thớt ngựa, té ra đó là Sa Thiên Phong cùng với hai thủ hạ của Sử Bạch Đô, Đổng Thập Tam nương và Viên Hải.
Văn Đạo Trang quát: “Hảo tiểu tử, có giỏi thì đừng chạy!”
Kim Trục Lưu: “Đúng thế, hôm nay chúng ta không thể chạy, nếu chạy ngươi sẽ tưởng bọn ta sợ ngươi”. Kim Trục Lưu định cùng Sử Hồng Anh liên thủ đối địch để làm hòa với nàng. Mặt khác, trong tình huống như thế này Kim Trục Lưu có muốn chạy cũng chẳng được. 
Văn Đạo Trang quát: “Hảo tiểu tử, hôm nay ta phải liều với ngươi!” Y vừa nói xong đã phóng ngựa tới.
Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Sao lại giận dữ như thế, chả lẽ con trai yêu quý của ngươi đã chết?” Văn Đạo Trang cả giận: “Ngươi còn đám nguyền rủa nó! Hừ, Trung nhi của ta phải nghiền nát ngươi ra mới giải được mối hận trong lòng”.
Kim Trục Lưu: “Té ra lệnh lang vẫn còn sống, ta đã chữa trị cho lệnh lang, cha con các ngươi còn chưa đa tạ, trái lại muốn lấy mạng ta!”
Văn Đạo Trang tức giận đến nỗi mặt đã bừng, y nhảy xuống ngựa, chỉ Kim Trục Lưu mắng: “Hảo tiểu tử, đã dùng thủ đoạn bỉ ổi bỡn cợt bọn ta, nay lại nói như thế!” Dứt lời phát liền một chưởng.
Té ra Văn Đạo Trang cho con trai uống “thuốc giải”, rồi giải huyệt theo cách Kim Trục Lưu đã chỉ. Quả nhiên Văn Thắng Trung bình phục trở lại, lập tức nôn một trận thừa chết thiếu sống. Văn Thắng Trung kể ra chuyện đêm qua bị Kim Trục Lưu bỡn cợt. Lúc này Văn Đạo Trang mới biết “thuốc giả!” chẳng qua là đất trên mình Kim Trục Lưu kỳ ra.
Kim Trục Lưu dùng một chiêu Phân hoa phất liễu, hóa giải thế công của Văn Đạo Trang, cười rằng: “Ta đã bảo có thể giữ lại mạng của lệnh lang, nay thuốc giải của ta linh nghiệm như thế, sao ngươi lại bảo ta lừa ngươi?”
Khi hai người đang nói thì Sa Thiên Phong và Đổng Thập Tam nương, Viên Hải cũng đã tới nơi. Sa Thiên Phong kêu to: “Anh muội, sao muội tới đây mà không gặp ngu huynh. Tên tiểu tử họ Kim chẳng phải thứ tốt lành gì, muội đừng để y dối gạt!”
Kim Trục Lưu nói: “Ta chẳng phải là thứ tốt lành gì, nhưng cũng không đến nỗi xấu như ngươi! Ta chưa hề xưng huynh gọi đệ với người ta mà lại muốn cướp vật báu của họ!”
Sa Thiên Phong sợ Kim Trục Lưu nói tiếp, vội vàng quát: “Hảo tiểu tử, ngươi dám dụ dỗ Sử cô nương, ta phải lấy mạng ngươi! Thập Tam nương, cô nương hãy khuyên Sử cô nương, chuyện của quý bang tôi không tiện xen vào”. Sa Thiên Phong biết bản lĩnh của Sử Hồng Anh rất ghê gớm, vả lại nàng là em gái của Sử Bạch Đô, cho nên không thể đả thương nàng. Y lại đề phòng nàng giúp Kim Trục Lưu cho nên mới đẩy trách nhiệm ấy cho Đổng Thập Tam nương.
Sử Hồng Anh vừa mới giận Kim Trục Lưu, lại thấy Kim Trục Lưu chiếm thượng phong khi giao thủ với Văn Đạo Trang, cho nên lúc này nàng vẫn đứng im mà nhìn. Vốn là nàng có thể bỏ chạy nhưng đến lúc này vẫn đứng yên.
Đổng Thập Tam nương thấy Sử Hồng Anh không giúp cho Kim Trục Lưu, tưởng rằng nàng đã hồi tâm chuyển ý, liền bước tới tha thiết: “Anh muội, muội là người thông minh, dù huynh muội có bất hòa cũng là người một nhà. Bang chủ biết lần này muội bỏ đi là bị tên tiểu tử này dụ dỗ, Ngài sẽ không trách muội. Tên tiểu tử này không những là kẻ địch của Lục Hợp bang chúng ta, mà còn đắc tội với bốn bang hội lớn trên giang hồ khác, muội đi cùng với y sẽ gặp nguy hiểm. Tỷ đã tìm muội từ lâu, khó khăn lắm mới gặp ở đây, chúng ta về thôi!”
Té ra ngày hôm đó Đổng Thập Tam nương gặp Cung Bỉnh Phan và bọn Cao Đại Thành thì mới biết Sử Hồng Anh đi cùng Kim Trục Lưu, huyền thiết cũng nằm trong tay bọn họ. Vì thế Đổng Thập Tam nương một mặt báo về cho Sử Bạch Đô, một mặt tìm kiếm khắp nơi.
Đổng Thập Tam nương và Viên Hải tìm đến Hải Sa bang, vừa đúng lúc Văn Đạo Trang đem “thuốc giải” của Kim Trục Lưu trở về, họ biết Kim Trục Lưu vẫn chưa đi xa, lập tức lên ngựa đuổi theo. Quả nhiên gặp Sử Hồng Anh ở đây, họ càng tưởng rằng xưa nay Sử Hồng Anh cùng một giuộc với Kim Trục Lưu.
Sử Hồng Anh nghe Đổng Thập Tam nương thì vừa thẹn vừa giận, trợn mắt quát: “Dù bà có nói gì đi chăng nữa, tôi vẫn không quay về?” Sử Hồng Anh vừa có khí chất cứng cỏi của nam nhi, vừa có nét e thẹn của thiếu nữ, tuy bị oan khuất nhưng cũng không muốn phân giải.
Đổng Thập Tam nương ngẩn người: “Anh muội, chả lẽ vì tên tiểu tử này mà muội không về nhà. Trên đời này vẫn còn nhiều người tốt hơn y?” Sử Hồng Anh biến sắc, quát: “Câm mồm!”
Đổng Thập Tam nương đã không thể xuống thang được nữa, liền hạ giọng: “Anh muội, bang chủ ra lệnh cho chúng tôi tìm muội. Chúng tôi không muốn ép. Nhưng...” Sử Hồng Anh lạnh lùng gắt ngang: “Đừng nói nữa, ta không về! Ngươi có bản lĩnh gì thì cứ bắt sống ta!”
Đổng Thập Tam nương bó tay, chỉ đành nói: “Nếu muội đã không chịu, chúng tôi chỉ đành ‘mời’ muội trở về”. Nói đến chữ “mời” thì phất cây roi trong tay ra. Sử Hồng Anh quát: “Hay lắm! Chúng ta hãy tỉ thí thử võ công!” Thế rồi vung cây roi bạt ra, lập tức trả lại một chiêu Trân châu quyển liêm, cả hai người đều sử dụng roi, nhưng vì Sử Hồng Anh xưa nay coi thường Đổng Thập Tam nương, cả hai người bằng mặt mà không bằng lòng, tuy cùng một bang nhưng chưa bao giờ đối chiêu với nhau.
Hai roi giao nhau, cây roi bạt của Sử Hồng Anh bị Đổng Thập Tam nương đánh bật ra, nhưng nàng xoay mũi roi, quét tiếp về phía Đổng Thập Tam nương, Đổng Thập Tam nương phóng người lên, suýt tý nữa bị roi của Sử Hồng Anh cuộn vào chân. Số là luận về khí lực thì Đổng Thập Tam nương rất dồi dào, luận về thuật đánh roi thì Sử Hồng Anh biến hóa tinh diệu hơn.
Phía bên kia Kim Trục Lưu và Sa Thiên Phong cũng đã ra chiêu. Lúc đó Kim Trục Lưu đang sử dụng một chiêu Nhất trụ kình thiên, chỉ dùng một chưởng hóa giải Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang, Sa Thiên Phong thấy có lợi, thế là đánh vụt một chưởng tới, trong chưởng có mùi gió tanh rất khó ngửi. Y vốn đã luyện công phu Độc sa chưởng, nếu bị trúng một chưởng của y thì chắc chắn da thịt thối rữa mà chết.
Kim Trục Lưu lách mình né tránh, bịt mũi kêu: “Thối quá, thối quá? Toàn thân của người có độc, xem ra ta cũng phải cho ngươi một viên thuốc giải mới được!” Kim Trục Lưu đang cầm tảng huyền thiết trên tay trái, khi chàng lách người thì Sa Thiên Phong đã nhận ra.
Sa Thiên Phong quát lớn: “Tên tiểu tử họ Kim kia, ngươi đang cầm cái gì?” Kim Trục Lưu cười hì hì: “Chính là thứ ngươi muốn, có trả cho ngươi, ngươi cũng chẳng nhận được”.
Lần trước Sa Thiên Phong đã mắc lừa, lúc này bán tín bán nghi, thấy Kim Trục Lưu giơ cái tráp ném về phía y, y toan đưa tay lên chụp lấy, Văn Đạo Trang vội vàng quát: “Đừng chạm vào!”
Viên Hải thì không dám đắc tội với Sử Hồng Anh, khi ở Tô Châu, y đã từng bị Kim Trục Lưu bỡn cợt, thế là rút đao phóng lên trợ chiến. Vừa lúc đó đã đỡ một đòn của Kim Trục Lưu cho Sa Thiên Phong.
Công phu ngoại gia của Viên Hải rất cao cường, hai tay có khí lực đến ngàn cân, nhưng không thuần hậu như chân lực nội gia của Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu cầm tảng huyền thiết, đương nhiên nếu chạm vào thì phần thiệt nghiêng về phía y. Chỉ nghe keng một tiếng, tia lửa bắn ra, cái tráp của Kim Trục Lưu bằng gỗ, bị thanh giới đao của Viên Hải chém một đường, trúng vào tảng huyền thiết bên trong, cho nên lưỡi đao đã cong queo! Viên Hải cảm thấy hổ khẩu tê rần, chấn động đến nỗi thối lui mấy bước.
Kim Trục Lưu xoay người, đánh tảng huyền thiết về phía Văn Đạo Trang, Văn Đạo Trang né tránh chính diện, hai chưởng mở ra dùng tự quyết chữ “ngự”, mép chưởng nhẹ nhàng dẫn cái tráp qua một bên, đẩy lùi kình lực mạnh mẽ của Kim Trục Lưu nhưng y cũng thối lui hai bước.
Sa Thiên Phong vừa lo vừa mừng, lạc giọng kêu lên: “Quả nhiên là huyền thiết!” Miệng chưa khép lại thì chợt thấy có một vật bay vào nghe rất hôi thối. Té ra Kim Trục Lưu nói được là làm được, chàng đã vò một hòn đất, bắn vào mồm y, Sa Thiên Phong không kịp phun ra, viên đất đã trôi xuống cổ họng.
Sa Thiên Phong cả gian quát: “Hảo tiểu tử, hôm nay ta không giết ngươi thề không làm người!” Dứt lời rút liền đôi phán quan bút, phóng lên liên thủ với Văn Đạo Trang. Y biết trong tay Kim Trục Lưu đang cầm tảng huyền thiết cho nên không dám dùng đôi chưởng nữa!
Sau khi Viên Hải đã đứng vững chân, lửa giận cũng bốc lên cao, lập tức nhảy bổ tới, quát mắng: “Hảo tiểu tử, hôm nay không phải ngươi chết thì ta vong!”
Kim Trục Lưu cười khảy: “Ba người đều muốn lấy mạng ta, nhưng ta chỉ có một mạng, làm thế nào đây? Ta cũng không muốn thiên vị, cho nên chỉ đành giữ lại mạng này!” Chàng vừa nói vừa cười, tay đã rút kiếm ra khỏi vỏ, đâm về phía Sa Thiên Phong.
Sa Thiên Phong vội vàng giở đôi bút lên đỡ, Kim Trục Lưu tạt ngang thân kiếm, Sa Thiên Phong nhảy vọt ra hơn một trượng, hoảng sợ đến nỗi đổ mồ hôi lạnh.
Kim Trục Lưu xoay người lướt về đâm kiếm vào ngực Văn Đạo Trang, Văn Đạo Trang vỗ chưởng trái ra, chưởng phải chém vào hổ khẩu của chàng, toan đoạt kiếm của chàng. Nào ngờ Kim Trục Lưu sử dụng Truy phong kiếm thức nhanh nhẹn vô cùng, trong chớp mắt từ thực đã hóa thành hư, rồi từ hư hóa thành thực, Văn Đạo Trang chụp hụt, mũi kiếm đã xỉa vào huyệt khí du ở be sườn của y. Văn Dạo Trang rùng người xuống, búng ngón tay keng một tiếng, thanh kiếm của Kim Trục Lưu bật ra, tuy thế Văn Đạo Trang hoảng hồn đến nỗi đổ mồ hôi lạnh toàn thân.
Lúc này Kim Trục Lưu đã đánh lùi được Văn Đạo Trang, thanh trường kiếm lại đâm thẳng vào mặt Viên Hải, Viên Hải giơ thanh giới đao lên gạt keng một tiếng, thanh đao lại bị mẻ mất một miếng. Kim Trục Lưu chỉ sử dụng một cây kiếm thanh cương bình thường, còn thanh giới đao của Viên Hải thì nặng hơn kiếm nhiều, nhưng suýt nữa đã bị chặt gãy, Viên Hải càng kinh hoảng hơn, lòng thầm nhủ: “Nội công của tên tiểu tử này xem ra chẳng kém gì bang chủ. Hôm nay muốn báo thù e rằng không dễ”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-03 09:18:44Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu dùng kiếm pháp kỳ ảo nhanh như điện chớp, chỉ trong chốc lát đã tấn công ba đại cao thủ, khiến cho cả ba người đều toát mồ hôi lạnh. Nhưng đó chẳng qua là nhờ chàng lanh lẹ, nếu luận bản lĩnh thật sự, Kim Trục Lưu chỉ có thể thắng được một trong ba người, nếu phía đối phương liên thủ thì chàng chẳng thể nào đối phó nổi.
May mà trên tay trái chàng đang cầm tảng huyền thiết, kẻ địch có phần kiêng dè. Kiếm pháp của chàng lại rất tinh diệu, trong ba người thì Văn Đạo Trang bản lĩnh kiên cường nhất, Văn Đạo Trang có Tam tượng thần công, không sợ đối chưởng với chàng, nhưng lại kiêng dè kiếm pháp xuất thần nhập quỷ của chàng.
Sau Văn Đạo Trang là Sa Thiên Phong, tuyệt kỹ của Sa Thiên Phong là tuyệt kỹ Độc xa chưởng, nay vì kiêng dè tảng huyền thiết trong tay Kim Trục Lưu cho nên chỉ dám dùng đôi phán quan bút. Công phu điểm huyệt bằng phán quan bút của Sa Thiên Phong cũng rất linh hoạt, nhưng rốt cuộc cũng không bằng công phu Độc sa chưởng của y. Cho nên sự lợi hai hại của y chẳng còn như trước.
Vì những điều này, Kim Trục Lưu đã tiên hạ thủ vi cường, cho nên ngang tài ngang sức với ba đại cao thủ. Nhưng cục diện này chỉ duy trì khoảng năm sáu mươi chiêu, ba người này dần dần bình tĩnh trở lại, còn Kim Trục Lưu thì càng lúc càng đuối sức.
Lúc này Sử Hồng Anh đang đấu roi với Đổng Thập Tam nương, nàng đã chiếm được thượng phong. Vốn mỗi người đều có sở trường, luận về khí lực thì Đổng Thập Tam nương mạnh hơn. Nhưng vì mụ ta không dám đả thương Sử Hồng Anh cho nên nàng mới chiếm được phần thượng phong!
Trong lúc kịch chiến Sử Hồng Anh đánh ra một chiêu Hải vũ sinh phong, đẩy Đổng Thập Tam nương thối lui. Sử Hồng Anh đột nhiên xoay người, lướt tới bên cạnh Kim Trục Lưu, đánh soạt ra một roi về phía Viên Hải. Viên Hải đang định thừa thế đánh vào chỗ trống của Kim Trục Lưu, không ngờ Sử Hồng Anh đột nhiên tấn công y, chỉ thấy ánh bạc lóe lên, y không kịp chống đỡ, chỉ nghe soạt một tiếng, cái đầu trọc của Viên Hải đã trúng một roi. May mà Sử Hồng Anh chỉ đánh nhẹ nhưng trên đầu của y đã hằn lên một vết máu. 
Viên Hải vừa lo vừa tức, lớn giọng quát: “Mẹ... mẹ ơi?” Viên Hải là người nóng nảy, y vốn muốn mắng “Mẹ nó?” Nhưng mắng được một chữ “mẹ” thì chợt nhớ lại đó là em gái của bang chủ, cho nên chỉ đành kêu mẹ ơi.
Sử Hồng Anh hơi ái ngại: “Ta vốn không muốn đánh ngươi, nhưng các ngươi ỷ đông bắt nạt bọn ta. Không thể trách ta được!”
Kim Trục Lưu nghe Sử Hồng Anh nói hai tiếng “bọn ta” thế là lòng hoa nở rộ, tinh thần phấn chấn, tay trái đánh ra một chiêu Bạch hồng quán nhật, tay phải đánh ra một chiêu Loan cung xạ điêu, đẩy lùi Văn Đạo Trang và Sa Thiên Phong, cười rằng: “Viên Hải, hình như ngươi đã ngoài bốn mươi, mẹ ngươi vẫn còn sống chứ? Chắc là cũng đã sáu bảy mươi tuổi? Người lớn tuổi tai chẳng còn thính nữa. Nếu nhớ mẹ như thế, ngươi phải về vùi dưới gối bà ta, kêu một tiếng mẹ ơi, ngươi kêu ở đây làm sao bà ta nghe được?”
Viên Hải tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, kêu lên: “Sử cô nương, tôi không muốn đắc tội với cô nương, nhưng tôi phải lấy mạng tên tiểu tử này!”
Kim Trục Lưu lắc đầu, thở dài: “Ta tốt bụng khuyên ngươi mà không ngờ ngươi lại chẳng biết trái phải?” Thế rồi tiện tay đánh ra một chiêu Bạch vân kiến nhật, nhẹ nhàng phá giải thế đao của Viên Hải.
Sa Thiên Phong vung đôi bút, đánh bật cây roi bạc của Sử Hồng Anh ra, sau đó lập tức điểm vào huyệt phong phủ của nàng, Sử Hồng Anh mau chóng tránh qua một bên, Sa Thiên Phong điểm huyệt bút ấy, Sử Hồng Anh đã xoay tới bên cạnh Kim Trục Lưu, sánh vai cùng chàng đối địch. Sa Thiên Phong tức giận: “Anh muội, ta nể mặt Sử bang chủ cho nên không muốn làm khó muội. Nhưng muội đã rất quá đáng, dám đánh cắp huyền thiết, đại náo Hải Sa bang của ta, giờ đây chỉ còn hai con đường cho muội lựa chọn, một là lập tức trở về cùng Thập Tam nương. Hai là ta phải quản giáo muội thay Sử bang chủ!”
Sử Hồng Anh gần giọng: “Sa bang chủ, tảng huyền thiết là của nhà họ Sử ta, ta lấy vật của mình sao lại có thể nói là đánh cắp? Trừ phi ngài muốn chiếm hữu, nếu không ngài phải đa tạ ta mới phải. Ta tự lấy về để ngài khỏi phải sai người đem tới chẳng phải tốt hay sao?”
Sa Thiên Phong có tật giật mình, lúc này y đỏ mặt quát: “Hay cho ả nha đầu, Sử bang chủ sắp xếp chuyện cả đời cho ngươi mà ngươi lại si mê tên tiểu tử này! Ta sẽ thay ông ta dạy dỗ ngươi!”
Kim Trục Lưu: “Ngươi mà cũng xứng dạy dỗ người khác Hừ, lẽ ra ta phải dạy dỗ ngươi mới đúng?” Thế là vung cái tráp lên, tựa như đánh về phía Sa Thiên Phong, Sa Thiên Phong vội vàng thối lui, bị Sử Hồng Anh đánh soạt tới một roi, dù y né tránh lanh lẹ, đôi roi cũng quét qua vai y, kéo rách một mảng áo. Kim Trục Lưu cười ha hả, chàng đang cười thì vung trường kiếm đâm về phía Văn Đạo Trang, Văn Đạo Trang múa tít hai chưởng, dùng Tam tượng thần công hóa giải chiêu kiếm của Kim Trục Lưu. Sử Hồng Anh trở tay quét ra một roi Hồi phong tảo liễu. Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang vẫn còn dư lực, khi ngọn roi của Sử Hồng Anh đánh tới gần thì bị chưởng phong của y đẩy ngược ra.
Sử Hồng Anh cả kinh, lòng thầm nhủ: “Kẻ này là một kình địch, lợi hại hơn Sa Thiên Phong nhiều. Chả trách nào Kim Trục Lưu đánh mãi mà không thắng. Xem ra hôm nay chỉ có chạy là thượng sách!” Văn Đạo Trang cũng thầm thất kinh, hèn gì Sử Bạch Đô phất lên nhanh như thế, chỉ trong vòng mấy năm mà đã lừng danh giang hồ. Em gái của y đã giỏi như thế này, bản lĩnh của y chắc càng ghê gớm hơn”.
Sử Hồng Anh chưa nghĩ xong, Thập Tam nương đã xông lên, mỉm cười nói: “Anh muội, có thật là muội vì tên tiểu tử này mà trở mặt với bang chủ không? Ôi, cũng chẳng còn cách nào nữa, ta chỉ đành đưa các ngươi về bang để cho bang chủ xử lý”.
Sử Hồng Anh đỏ ửng mặt, vừa thẹn vừa giận, nhưng nay bị bốn cao thủ vây đánh, Sử Hồng Anh cũng không thể nào cãi nhau với Đổng Thập Tam nương được.
May mà kẻ địch còn e dè, không dám đả thương Sử Hồng Anh cho nên Kim Trục Lưu cũng được hưởng lây. Cả hai người đứng rất gần nhau, bọn họ không dám dùng sát chiêu. Nhưng hai người địch bốn nên thực lực cách nhau rất xa, cứ đánh mãi không bị thương cũng sức cùng lực kiệt.
Sử Hồng Anh vốn đã muốn bỏ chạy, vừa thấy thời cơ đã đến thì quét một roi đánh lùi Viên Hải rồi nhảy vọt ra. Văn Đạo Trang và Sa Thiên Phong đang đối phó Kim Trục Lưu, không rảnh để ý đến nàng, một mình Đổng Thập Tam nương cũng không thể chặn được nàng.
Kim Trục Lưu có khinh công cao cường, Sử Hồng Anh đã phá được vòng vây, chàng muốn chạy càng dễ dàng hơn. Kim Trục Lưu tuy muốn chạy theo nàng nhưng trong lòng lại ái ngại, thầm nhủ: “Bọn chúng có khoái mã, thế nào cũng bị bọn chúng đuổi kịp, lúc đó chẳng phải tốn sức hay sao? Chi bằng cứ liều một phen”. Nhưng lúc này Sử Hồng Anh đã chạy ở phía trước, Kim Trục Lưu không thể thương lượng cùng nàng cho nên chỉ đành chạy theo.
Quả nhiên bọn họ vừa chạy thì bọn Văn Đạo Trang đã phóng lên ngựa đuổi theo. Ngựa của Đổng Thập Tam nương chạy nhanh nhất trong bọn, khi đến gần thì mụ ta vung tay lên, ba mũi ngân thoa phóng theo Kim Trục Lưu.
Ám khí của Đổng Thập Tam nương rất đặc biệt, ba cây thoa mà mụ ta vừa phóng ra gọi là “hưởng thoa”, khi loại thoa này phóng trong không trung sẽ phát ra tiếng hú giống như loại “hưởng tiễn” mà chốn lục lâm thường dùng. Nhưng ngân thoa tương đối nặng hơn, rất sắc bén, trong ruột có giấu chín mảnh độc châm, nếu đối phương dùng binh khí đánh vỡ ngân thoa, độc châm sẽ bay ra, do đó lợi hại hơn hưởng tiễn nhiều. Đổng Thập Tam nương vung tay lên, ba mũi ngân thoa bay vào ba phương vị khác nhau trên mình Kim Trục Lưu, mũi ở phía trên thì găm vào huyệt thái dương, mũi ở giữa thì găm vào huyệt toàn cơ ở ngực, mũi ở dưới thì găm vào huyệt hoàn khiêu ở gối phải. Ba bộ phận này không nằm theo một đường thẳng mà theo một hình tam giác, Đổng Thập Tam nương có thể ném ra ba món ám khí, đánh vào ba huyệt đạo khác nhau, quả thật công phu phóng ám khí đã đến hàng nhất lưu.
Nhưng Đổng Thập Tam nương không ngờ rằng, công phu đỡ ám khí của Kim Trục Lưu càng tinh diệu hơn. Mụ ta tưởng Kim Trục Lưu một tay giơ tảng huyền thiết, một tay vung kiếm đánh rơi ám khí của mình. Kim Trục Lưu cười hì hì cười: “Ta đâu có thiếu bạc dùng, xin trả lại!” thế là chàng vung thanh trường kiếm đánh ra một chiêu Tam chuyển pháp luân, vẫy ra ba đóa kiếm hoa, ba mũi ngân thoa đều bay ngược trở về. Chàng sử dụng kình đạo rất vừa vặn, mũi kiếm chàng chỉ đủ đánh bật ba mũi ngân thoa bay trở về chứ không làm cho độc châm bắn ra.
Điều kỳ diệu hơn là ba mũi ngân thoa bắn về nhanh chậm lại khác nhau, Đổng Thập Tam nương vung roi lên, toan cuộn ngân thoa, nào ngờ mũi ngân thoa thứ hai lại đi sau mà đến trước, Đổng Thập Tam nương chỉ chú ý đến mũi ngân thoa thứ nhất, suýt nữa đã bị mũi ngân thoa thứ hai đả thương, may mà mụ ta lộn người trốn xuống lưng ngựa, trở tay đánh ra một roi cuộn được mũi ngân thoa thứ hai.
Nhưng Đổng Thập Tam nương không thể nào đối phó nổi mũi thứ nhất và mũi thứ ba. Cả hai mũi ngân thoa chia nhau bay về phía Viên Hải và Sa Thiên Phong. Kim Trục Lưu biết Văn Đạo Trang võ công cao cường nhất, cho nên đã đánh bật hai mũi ngân thoa về phía hai người này. Viên Hải biết trong ngân thoa của Đổng Thập Tam nương có độc châm, thế là không dám tiếp lấy, chỉ hoàng hồn lộn xuống ngựa. Dù như thế mũi ngân thoa cũng bay lướt qua da đầu y! Viên Hải né tránh ám khí cho nên buộc phải lăn xuống ngựa, lúc này trông rất thê thảm!
Nhưng Sa Thiên Phong thì càng tệ hại hơn, y nào biết lợi hại, cứ vỗ một chưởng về phía mũi ngân thoa. Đổng Thập Tam nương hoảng hồn kêu lên: “Đừng!” Nhưng đã muộn, chưởng lực của Sa Thiên Phong có thể đánh vở bia nát đá, tức thì mũi ngân thoa vỡ ra, độc châm lập tức bắn ra.
Văn Đạo Trang vội vàng vung tay lên, phát ra một đòn Phách không chưởng lực, gạt độc châm cho Sa Thiên Phong. Nhưng bọn họ cách nhau đến năm trượng, chưởng lực của Văn Đạo Trang không thể đánh rơi hết tất cả độc châm, kết quả là Sa Thiên Phong vẫn bị trúng một mũi, thớt ngựa của Sa Thiên Phong cũng bị chưởng lực của Văn Đạo Trang quét trúng nên tung hai vó trước ném y xuống đất.
Trong bốn người thì đã có hai người ngã ngựa, Sa Thiên Phong lại còn bị thương. Trong hai người còn lại thì Đổng Thập Tam nương tuy chưa ngã ngựa nhưng đã kinh hoảng. Chỉ có Văn Đạo Trang là vẫn ngồi ngay ngắn trên ngựa. Đổng Thập Tam nương không ngờ vì mình phát ám khí mà kết quả ngược lại khiến cho đồng bọn gặp họa, không khỏi vừa thẹn vừa giận, đồng thời cũng không khỏi thầm kinh hãi. Trong tình huống ấy, tiếp tục truy đuổi hay giải độc cho Sa Thiên Phong? Với công lực của Sa Thiên Phong, một cây độc châm không thể lấy được mạng y, nhưng nếu qua một canh giờ thì sẽ bị tàn phế.
Đổng Thập Tam nương vừa mới gây họa, trong lòng đang tức giận, lại còn đang chần chừ, chỉ nghe Sử Hồng Anh cười lạnh: “Đổng Thập Tam nương, ngươi dám dùng ám khí đánh ta! Được, có đi thì phải có lại, ngươi xem đây?”
Thực ra Đổng Thập Tam nương phóng ám khí về phía Kim Trục Lưu, Sử Hồng Anh chỉ mượn cớ mà thôi. Đổng Thập Tam nương không kịp phân giải, Sử Hồng Anh cũng không để cho mụ phân giải. Chỉ nghe xẹt một tiếng, loại ám khí ấy đã bắn ra, một luồng khói dày đặc lan rộng ở phía trước mặt!
Té ra loại ám khí này là một vật thể hình cầu, khi phóng ra thì sẽ lập tức bùng nổ, khói bốc lên, năm xưa sư tổ của Thiên Ma giáo là Lệ Thắng Nam có một loại ám khí lợi hại tên gọi Độc vụ kim châm liệt diễm, bang chủ của Lục Hợp bang không biết tại sao có thể có được phương pháp chế tạo loại ám khí này. Nhưng loại ám khí mà Sử Hồng. Anh vừa mới đánh ra chỉ giống bề ngoài mà thôi, bên trong không có kim châm, cũng chẳng có lửa nóng, chỉ có khói, mà loài khói này cũng không có độc. Đó là bởi nàng ta không muốn sử dụng loại ám khí quá độc địa, nàng chỉ muốn lợi dụng khói mù để thoát thân.
Nhưng Đổng Thập Tam nương thì không biết có độc hay không, mụ ta vội vàng kéo Viên Hải lên lưng ngựa, lập tức quay đầu ngựa chạy về phía sau. Sa Thiên Phong đã trúng độc châm, đương nhiên cũng không dám tiến tới. Chỉ còn lại Văn Đạo Trang một tay khó vỗ nên kêu, y đánh ra hai đòn Phách không chưởng, khói mù quá dày, vừa tản ra đã tụ lại, Văn Đạo Trang sợ trúng độc cho nên hoảng hốt quay đầu bỏ chạy.
Lúc này Kim Trục Lưu đã chạy vào trong rừng, chàng hình như nghe Sử Hồng Anh chạy về hướng bên kia, nhưng đến khi khói mù tan hết, chẳng cũng chẳng thấy Sử Hồng Anh đâu.


[/align]Chính là: Khói mù lan tỏa che tầm mắt, không biết bóng hồng đã mất đâu?
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 14 phân giải
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»