📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hiệp Cốt Đan Tâm- Lương Vũ Sinh

105 trả lời, 21.982 lượt xem — Trang 2 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 07:50:35Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Mười Bốn
[/align]
Nghe tiếng đàn nào biết kẻ ác
Bên hồ Đại Minh kết bạn hiền
[/align]Kim Trục Lưu thất kinh, vội vàng dùng nội công truyền âm nhập mật kêu: “Sử cô nương, Sử cô nương!” Nhưng trong rừng chỉ có tiếng chim hót chứ chẳng nghe Sử Hồng Anh trả lời.
Kim Trục Lưu bước ra ngoài, chỉ thấy trước mặt có ba ngã rẽ, cũng không biết Sử Hồng Anh đã đi về lối nào! Kim Trục Lưu hoang mang lo lắng, lòng thầm nhủ: “Xem ra hình như nàng tránh mặt mình. Nếu thế thì mình chẳng còn cách nào”. Khinh công của Sử Hồng Anh chẳng kém gì Kim Trục Lưu, nay trong tay chàng đang cầm một tảng huyền thiết thì làm sao đuổi theo nàng? Huống chi cũng không biết nàng đi về lối nào.
Kim Trục Lưu bực bội, thầm mắng: “Đều do vì bọn khốn kiếp nói vớ vẩn khiến Sử cô nương tức giận bỏ đi!” Chàng hận không chạy về Hải Sa bang tìm Sa Thiên Phong và Đổng Thập Tam nương đánh cho một trận, nhưng nghĩ lại, hai người Sa, Đổng đều đã thua to. “Hảo hán không đánh người yếu, coi như bọn chúng cũng đã bị trừng trị”. Chàng nghĩ như thế cho nên cơn tức dần dần dịu xuống.
Kim Trục Lưu bình tĩnh ngẫm nghĩ, Sử Hồng Anh tuy né tránh chàng, nhưng lúc nãy dù bị người ta mỉa mai cũng cùng mình liên thủ đối địch, rõ ràng đã rất coi trọng mình. Nhớ lại lúc nãy nàng đã nổi giận vì mình đã hiểu nhầm tình cảm của nàng với Lý Đôn. Cũng có nghĩa là, từ chuyện này có thể biết rõ nàng và Lý Đôn không phải là tình nhân. Lần gặp mặt này coi như chàng không đến nỗi uổng công, ít nhất cũng có thể giải được mối nghi ngờ trong lòng mình. Kim Trục Lưu nghĩ đến thì không những đã hết giận mà trong lòng còn cảm thấy ngọt ngào ấm áp.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Chắc là nàng e ngại nên mới né tránh mình. Nàng vốn là người phóng khoáng, vài ngày sau chắc sẽ quên ngay. Sau này gặp lại, mình phải xin lỗi nàng mới được. Giờ đây phải vào kinh thành rồi tính tiếp”.
Kim Trực Lưu vượt sông lên phía bắc, đi ngang Từ Châu tiến vào Sơn Đông, ngày hôm nay đã đến Tế Nam. Tế Nam là một thành thị phong cảnh đẹp đẽ, Kim Trục Lưu thầm tính còn năm sáu ngày nữa mới đến ngày lễ mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh, lòng thầm nhủ: “Đã đến Tế Nam, phải tới Hồ Đại Minh du ngoạn một phen”.
Rồi chàng tìm khách sạn nghỉ một đêm, sáng sớm hôm sau thì đến Hồ Đại Minh. Hồ Đại Minh nằm ở phía nam thành Tế Nam, dưới chân núi Thiên Phật. Kim Trục Lúa thuê một chiếc thuyền nhỏ chèo qua bờ bên kia. Mặt hồ phẳng lặng như gương, chùa chiền lầu các, tùng già xanh um từ trên núi Thiên Phật in bóng xuống mặt hồ. Vì đang là cuối thu nên lá đỏ đầy núi, nước hồ lại xanh biếc trông cứ giống như một bức tranh. Kim Trục Lưu vừa chậm rãi chèo thuyền vừa ngắm cảnh. Lúc này trong hồ vắng lặng chỉ còn một mình chàng.
Kim Trục Lưu đang ngồi dựa trên thuyền chợt nghe tiếng mái chèo khua nước, một chiếc thuyền buồm nhỏ phóng nhanh tới, lướt qua chàng. Kim Trục Lưu liếc mắt nhìn, trên khoang thuyền thấp thoáng có một bóng người quen thuộc, sau khi chiếc thuyền vượt qua, chàng mới nhớ rằng kẻ ấy chính là Cung Bỉnh Phan. Con thuyền nhỏ của Cung Bỉnh Phan chạy như bay, trong chớp mắt đã tiến về phía trước, y đang xoay lưng về phía Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu thấy y, nhưng y không thấy chàng.
 Hơn một tháng nay, Kim Trục Lưu đã gặp rất nhiều cao thủ giang hồ, Cung Bỉnh Phan tuy chỉ là một hương chủ trong Hồng Anh hội, nhưng luận về bản lĩnh thực sự, y hầu như chẳng kém gì Văn Đạo Trang. Kiếm thuật của y rất tinh diệu, điều đó khiến cho chàng phải có mấy phần khâm phục.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Không biết Cung Bỉnh Phan đến đây làm gì? Bọn chúng luôn dòm ngó tảng huyền thiết của Lục Hợp bang, chả lẽ đã dò hỏi được tung tích của mình cho nên đuổi theo đến đây? Tại sao chỉ có một mình y? Trong cuộc tỉ kiếm ngày hôm đó, y tuy thua mình một chiêu, nhưng cũng là cao thủ kiếm thuật hiếm có. Danh tiếng của Hồng Anh hội trên giang hồ không xấu lắm, nếu y chịu bỏ địch thành bạn, mình cũng có thể kết giao với y”.
Kim Trục Lưu chèo thuyền vào bờ, nhưng lại không thấy bóng dáng Cung Bỉnh Phan đâu. Chàng chậm rãi dạo bước ven hồ, khi đến trước đình Lệ Hạ, trong đình có treo đôi vế đối, về đối viết rằng: “Hải thử đình cổ, Tế Nam danh sĩ đa”. (Đình này Hải Hữu cổ Danh sĩ Tế Nam nhiều). Đây là hai câu thơ trong bài “Bồi Lý Bắc Hải yến Lệ Hạ đình” của thi thánh Đỗ Phủ thời Đường, người địa phương cảm thấy hai câu thơ này rất hợp cho nên đã lấy ra làm câu đối ở đình Lệ Hạ.
Đình Lệ Hạ là thắng cảnh nổi tiếng của Tế Nam, du khách đến đây đều thích ngồi nghỉ ngơi trong đình, uống trà được pha bởi nước suối Báo Tuyền, thưởng thức cảnh đẹp của hồ Đại Minh. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Nếu gặp Cung Bỉnh Phan thì sẽ đấu kiếm với y lần nữa, nếu không gặp thì mình sẽ tiếp tục du ngoạn”. Du sơn ngoạn thủy và tỉ võ đấu kiếm đều là chuyện Kim Trục Lưu thích, thế là chàng tạm dừng chân trong đình.
Chợt nghe tiếng gõ lóc cóc vang lên, té ra có hai cha con người làm nghề kể chuyện sách (thuyết thư) bước tới. Hai người bày bàn sách bên cạnh đình, gõ trống gọi người nghe. Kim Trục Lưu đang rảnh rỗi, vì thế cũng kéo tới nghe kể chuyện sách. Người kể chuyện sách là một cô gái khoảng mười bảy tuổi, ăn mặc trông rất giản dị. Vừa nhìn tựa như nàng rất yếu đuối, nhưng ở giữa chân mày có một luồng anh khí. Còn người gảy đàn là một ông già mặt rỗ, trông rất xấu xí. Vài thiếu niên trong đám đông cười rằng: “Không ngờ quạ mà cũng sinh ra phượng hoàng”.
Mọi người chỉ để ý nét đẹp xấu của hai cha con, nhưng Kim Trục Lưu thì thầm thất kinh: “Hai cha con nhà này chắc chắn đã luyện võ công, xem ra ông già là một cao thủ nội gia!”
Hai cha con tựa như không hề nghe thấy lời châm chọc của bọn người đứng bên ngoài, ông già sửa dây đàn rồi nói: “Đa tạ các vị đã đến xem, tôi sẽ bảo ả nha đầu kể dâng lên cho các vị hai đoạn sách, nếu không hay, xin mọi người bỏ quá cho”. Một thiếu niên lanh miệng nói: “Mỹ nhân đã kể chắc chắn sẽ rất hay”.
Ông già ôm quyền vái dài nói: “Nếu các vị thấy hay, xin hãy ban thưởng cho chút ít”. Thế rồi liền cầm cây đàn lên bắt đầu gảy, còn cô gái thì vỗ phách khe khẽ hát, giọng hát của nàng nghe trong trẻo dịu dàng, lúc khoan lúc nhặt. Người xung quanh ai nấy đều ngẩn cả ra, cả những thiếu niên lên tiếng bông đùa lúc nãy cũng phải nín thở, tựa như sợ để sót tiếng nào của nàng.
Chợt tiếng ca dừng lại. Một lát sau mọi người mới kêu bật lên “hay!” Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Người ta nói lối hát lê hoa miền Tế Nam là nhất tuyệt trong khúc nghệ, quả nhiên danh đồn không ngoa”.
Ông già ấy bỏ mũ xuống đang định xin tiền thưởng, chợt có người kêu lớn: “Hay, hát rất hay! Ngươi không cần xin tiền ở đây, hãy dắt con gái ngươi đến phủ của bọn ta, hát cho ‘công tử gia’ bọn ta nghe. Nếu ‘công tử gia’ thích đảm bảo suốt đời ngươi ăn không hết”.
Ông già ấy mặt biến sắc, trả lời: “Tôi và ‘công tử gia’ của các ngài không quen biết nhau, không dám đến phủ nhận thưởng”. Kẻ ấy cười ha hả: “Các người đến rồi sẽ quen biết ngay. Hì hì, ngươi không quen biết ‘công tử gia’ của bọn ta, nhưng ‘công tử gia’ đã biết con gái của ngươi từ lâu!”
Kim Trục Lưu nhìn lại, chỉ thấy người đang nói chuyện là một hán tử to béo, trông giống như một giáo đầu, phía sau là bảy tám đại hán. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Chắc là gia nô của một tên ác bá nào đó, để xem hai cha con nhà này sẽ đối phó thếnào”.
Bọn người này kéo tới, đám người nghe chuyện đều bỏ chạy cả, chỉ còn lại vài người đứng nhìn từ xa, tựa như đang chờ xem vở tuồng hay. Có kẻ còn nói với tới: “Công tử gia họ Trương đã thích con gái của ông, ông đã may mắn lắm rồi còn gì!” Kim Trục Lưu biết không cần mình ra tay, nhưng thấy đám ác nô này ngang tàng, có ý muốn trêu đùa bọn chúng, chàng liền lấy một nén vàng ném tới, hán tử ấy đưa mũ ra tiếp lấy, trong lòng rất ngạc nhiên, nhưng vẫn hờ hững nói một tiếng “đa tạ”, tựa như chẳng hề để ý đến nén vàng.
Hán tử ấy không động thanh sắc, nhưng tên giáo đầu nọ thì đùng đùng nổi giận: “Hảo tiểu tử, ngươi dám đem tiền ra dối chọi với công tử nhà ta?”
Kim Trục Lưu đáp: “Không dám, tôi chỉ là một kẻ nghèo hèn, nào dám lấy mắt [font="times new roman"]chó mà coi thường người! Lúc nãy tên giáo đầu ấy đã nghênh ngang lên tiếng, cho nên Kim Trục Lưu mới mỉa mai y như thế.
Thế là y liền nổi giận phóng về phía Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu xua tay nói: “Ôi chao! Ta không biết đánh nhau”.
Thiếu nữ kể chuyện sách lúc nãy đứng chặn giữa hai người, can: “Tiểu nữ sẽ theo ngài về bái kiến ‘công tử gia’ là được, ngài đừng trút giận sang người khác?”
Giáo đầu ấy đang nóng lòng đắt thiếu nữ đi, cho nên chỉ trừng mắt nhìn Kim Trục Lưu rồi bảo: “Được, cô nương đã nói giúp, ta tha cho ngươi, đi thôi!” Rồi kéo tay nàng ta.
Thiếu nữ ấy vùng lại: “Sao lại lôi kéo như thế, ngươi tưởng ta là ai? Ta không đi!” Lúc này nàng vẫn cầm cái dùi gõ, nàng chỉ gõ nhẹ tên giáo đầu đã cánh tay tay phải tê rần. Y cả kinh, lúc này mới biết nàng ta thân mang tuyệt kỹ, lập tức tay trái chụp tới, chân lại bồi thêm một đòn Tảo đường thoái.
Thiếu nữ ấy nhíu mày: “Ta ghét nhất hạng nô tài ỷ thế hiếp người!” Nói chưa dứt, nàng đã lách người qua, còn tên giáo đầu chợt cảm thấy cổ đau nhói, té ra nàng đã tóm cổ y nhấc bổng lên rồi ném mạnh ra xa.
Nàng chỉ ném một mình tên giáo đầu nhưng lại có thêm năm sáu người ngã xuống.
Té ra nàng ta ném y về phía những kẻ vô lại đang đứng xem, thế là cả bọn va vào nhau té sầm xuống. Kim Trục Lưu vỗ tay cười ha hả.
Bọn vô lại này vốn chỉ đứng cách đó mười trượng. Còn thiếu nữ ấy nhấc một hán tử nặng hơn trăm cân ném tới mà có thể khiến cả bọn ngã lăn, bọn ác nô thấy thế đều hồn phiêu phách tán, chỉ đành co giò chạy mất.
Kim Trục Lưu tuy đã thấy khác lạ, nhưng không ngờ võ công của nàng lại cao cường đến thế. Lòng thầm nhủ: “Tiểu cô nương còn trẻ tuổi mà công phu ngoại gia đã luyện đến mức đó thật là hiếm có”.
Thiếu nữ kêu: “Cha, chúng ta không thể tùy tiện lấy của người khác”. Thế rồi cầm ném vàng định trả lại cho Kim Trục Lưu. Ông già ấy thì lo lắng bảo: “Nha đầu, con đã gây ra họa lớn, chạy mau, chạy mau!”
Thiếu nữ ấy bĩu môi: “Chẳng qua chỉ đắc tội với một tên ác bá thổ hào, sợ cái gì?” Ông già nói: “Ôi, con quả thật chẳng biết trời cao đất dày, con trả nén bạc lại cho công tử này rồi chúng ta chạy mau!”
Thiếu nữ thấy cha mình lo lắng như thế, lòng thầm nhủ: “Cha đã đi khắp đại nam giang bắc, không biết đã gặp bao nhiêu người, chưa bao giờ thấy người hoảng sợ như hôm nay. Chả lẽ tên ác bá ấy có tài cán gì” Trong lòng lo lắng không yên, nhưng cũng ném trả nén vàng cho Kim Trục Lưu.
Ông già ấy quay đầu lại nói: “Đa tạ tướng công ban thưởng hậu hĩnh, cha con [font="times new roman"]chúng tôi xin lãnh nhận. Tướng công cũng chạy cho mau để khỏi bị liên lụy”. Ông ta miệng thì nói chân bước không ngừng, tựa như sợ chỉ muộn một chốc thì họa lớn sẽ giáng xuống.
Kim Trục Lưu vẫn cảm thấy ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Nàng ta có bản lĩnh như thế, ông già chắc chắn còn ghê gớm hơn. Tại sao lại hoảng sợ?”
Nghị chưa dứt, ba thớt ngựa đã phóng tới, hai cha con người nọ vừa mới chạy đến ven hồ, thuyền gia trong hồ thấy có ba người chạy đến thì vội vàng đẩy thuyền ra, không dám chở hai cha con nhà này. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, chỉ thấy ba người ấy nhảy xuống ngựa chạy đến chặn ngang đầu hai cha con.
Đi phía trước là một người trẻ tuổi khoảng hơn hai mươi, mặt như hoa phấn, trêntay cầm một cây quạt xếp màu trắng, có dáng rất phong lưu nho nhã. Phía sau lưng y là có hai người một cao một thấp, người cao có thân hình khôi ngô, đầu trọc lóc láng bóng, kẻ ấy hừ một tiếng rồi nói: “Ồ, té ra là Hà lão đại”. Kẻ thấp thì hai mắt sáng quắc, hai thái dương nhô lên, trong eo cắm một đôi phán quan bút, vừa nhìn thì đã biết đó là cao thủ nội gia. Y không lên tiếng, chỉ liếc nhìn hai cha con nhà này.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Chắc là gã thiếu niên mặt hoa da phấn kia là ‘công tử gia’. Xem ra hai tên bảo tiêu của y công lực không tệ”. Lúc này Kim Trục Lưu mới biết mình đã quá khinh địch, thế là chàng giả vờ chậm rãi bước tới.
Chỉ thấy ‘công tử gia” ấy chặn thiếu nữ, phe phẩy chiếc quạt rồi mỉm cười: “Tại hạ ngưỡng mộ cô nương tài sắc song toàn, sai người nhà đến mời, không ngờ bọn nô tài lại không biết nói chuyện đã đắc tội với cô nương. Tại hạ xin lỗi cô nương”.
Thiếu nữ nhận một vái của y nhưng cũng không trả lễ, nàng nghiêm mặt: “Cha con bọn ta mãi nghệ kiếm cơm trên giang hồ, nhưng không thấp hèn đến nỗi bợ đỡ nhà giàu có, ngươi mời cũng được, ép cũng được ta không đi! Cút đi cho ta!” “công tử gia” ấy nhướng mày, tựa như nổi giận, nhưng vẫn mỉm cười: “Cô nương đã nặng lời, tại hạ chỉ đến mời cô nương, nào dám coi cô nương là nghệ nhân thấp hèn”.
Thiếu nữ ấy gằn giọng: “Ngươi đã nói xong chưa, ta không rảnh đôi co với ngươi!”
“Công tử gia” ấy không xuống thang được, cười lạnh lùng: “Cô nương không nể mặt đến thế sao? Xin lỗi, cô nương không muốn đi cũng phải đi!” Rồi đưa tay kéo thiếu nữ liền.
Nàng ta trợn mắt, mắng: “Buông tay! Được, ta phải coi ngươi có bản lĩnh gì!”
Thế rồi hai ngón tay kẹp cái đùi trống, gõ vào hổ khẩu của tên “công tử gia” ấy. Trong khoảnh khắc, có hai người đồng thời kêu lên: “Công tử, cẩn thận!”, “Phượng nhi cẩn thận!” Một người là đại hán đầu trọc, người kia là ông già.
Nói chưa dứt lời, chỉ nghe tên “công tử gia” hừ một tiếng: “Kẻ tiểu nhân không biết cao thấp!” Rồi cây quạt xếp mở ra, chặn cây dùi trống của thiếu nữ lại. Cái dùi trống tuy không phải là loại vũ khí sắc bén, lẽ ra đã đâm vào cái quạt.
Nhưng thật kỳ lạ, chỉ nghe bốp một tiếng, không những cái quạt không bị rách mà trái lại cái đùi trong tay thiếu nữ vuột ra?
Kẻ thấp lùn nói: “Đừng lo, ả này không phải là đối thủ của ‘công tử gia’ chúng ta”.
Kim Trục Lưu lúc này mới thất kinh, bản lĩnh của tên “công tử gia” này tuy chẳng cao minh gì, nhưng cũng đủ khiến cho chàng bất ngờ.
“Công tử gia” đánh một chiêu đắc thủ, cười ha hả: “Cô nương, ta khuyên cô nương đừng rượu mời không uống mà uống rượu phạt, chi bằng hãy theo ta!”
Miệng đang nói thì đã giơ cao cây quạt xếp trong tay, hai ngón kẹp cánh quạt, bắt chước theo thủ pháp dùng dùi của thiếu nữ ấy, gõ đầu quạt vào hổ khẩu của nàng. Hà lão đại tuy biết rõ không đánh lại ba người, nhưng cũng đành phải liều, khi “công tử gia” gõ đầu quạt xuống, Hà lão đại quát lớn: “Sao lại có kiểu mời khách ngang ngược đến thế?” Thế là năm ngón tay tóm vào đầu quạt của “công tử gia”, “công tử gia” dùng lực giật lại, bốp một tiếng, cái quạt xếp gãy làm đôi.
“Công tử gia” này cũng rất ghê gớm, cái quạt đã bị giật mất, lập tức trở tay đánh ra một chưởng. Lực đạo của chưởng này quả thật không yếu, chỉ nghe chưởng phong vù vù.
Hai chưởng giao nhau, “công tử gia” chỉ cảm thấy mình tựa như đánh vào một khối bông. Chợt nghe có người kêu lên thất thanh: “Không xong!” Nói chưa dứt lời, chỉ nghe rắc một tiếng, cánh tay trái của “công tử gia” đã bị Hà lão đại vặn trật khớp. Té ra Hà lão dại biết rõ địch mạnh ta yếu, muốn thoát hiểm thì phải bắt tên “công tử gia” này làm con tin. Tên “công tử gia” có võ công không kém, nếu Hà lão đại liều đánh tới thì e rằng phải đến hai ba mươi chiêu mới thắng được y. Trước đó bảo tiêu của y thấy tiểu chủ nhân địch không lại sẽ chạy tới giúp đỡ.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 07:52:49Hoàng Dung>
Hà lão đại trong lúc gấp gáp đã dùng kế, khi hai chưởng giao nhau, y thu lại toàn bộ kình lực, đến khi đối phương dồn xong lực đạo ra mới đột nhiên phát chân lực, vặn cánh tay của đối phương, “công tử gia” này vốn võ công rất cao cường nhưng thiếu kinh nghiệm đối địch, mà chiêu này của Hà lão đại lại rất khéo léo cho nên không xoay sở được.
Hà lão đại đánh ra một chiêu đắc thủ, trong lòng cả mừng, lướt người lên đánh tiếp ra một chiêu Đại cầm nả thủ, chỉ cần y tóm được xương tỳ bà của “công tử gia”, “công tử gia” sẽ không thoát khỏi bàn tay của y.
Nào ngờ động tác của Hà lão đại tuy cực nhanh, nhưng cũng chậm một bước, khi ngón tay của y chạm vào vai của “công từ gia”, đột nhiên một nguồn lực đạo đẩy ra, buộc Hà lão đại phải biến chưởng chống đỡ, trong lúc đó “công tử gia” đã được người ta kéo ra.
Kẻ buộc Hà lão đại phải thối lui chính là hán tử đầu trọc cao lớn, Hà lão đại liên tục dùng ba chiêu Phất vân thủ, ý đồ muốn lấy nhu khắc cương, nhưng không ngờ lại không làm gì được. Chưởng lực của đối phương như dời núi lấp biển dồn tới, Phất vân thủ của y đã áp dụng theo tự quyết chữ “ngự”, nhưng vẫn không thể nào hóa giải cho nên chỉ đành chống đỡ mà thôi.
Kim Trục Lưu thông hiểu võ công của các môn các phái, thấy vài chiêu thì trong lòng đã cả kinh. Té ra hán tử đầu trọc này đã sử dụng công phu Đại lực kim cương chưởng của phái Thiếu Lâm. Đại lực kim cương chưởng là loại chưởng lực uy mãnh nhất trong thiên hạ, tuy trong võ học có nói rằng lấy nhu khắc cương, nhưng điều đó chỉ có hiệu quả khi hai bên có công lực tương đương nhau, còn bây giờ thì công lực của Hà lão đại rõ ràng kém xa đối phương, làm sao có thể hóa giải được? Người đã kéo công tử gia ra là tên lùn có đôi mắt sáng quắc, thủ pháp nối xương của y rất thuần thục, trong chớp mắt đã tiếp lại chỗ trật cho “công tử gia”. Lúc này y mới dám thỉnh tội với “công tử gia”. Té ra bọn chúng biết gã công tử này rất háo thắng, tin rằng khi y gặp nguy hiểm có thể giải cứu được. Nhưng không ngờ Hà lão đại lại đánh hở ra một chiêu, tuy cứu được y nhưng y đã bị thiệt thòi.
Sau khi được nối xương xong, gã công tử nổi giận đùng đùng quát lên: “Không bắt được ả nha đầu nhà ngươi, khó giải được mối hận trong lòng ta!” Tên lùn biết võ công của gã công tử hơn hẳn nàng thiếu nữ, còn Hà lão đại thì phải chống đỡ những đòn tấn công ác liệt của đồng bọn mình, không thể nào giúp được con mình cho nên mới yên tâm để cho y tới đấu với nàng.
Bọn họ đều là nhân vật có tên tuổi trên giang hồ, tuy làm bảo tiêu cho chốn hào môn nhưng vẫn giữ thân phận của mình, nếu không bất đắc dĩ thì không bao giờ lấy mạnh hiếp yếu, ỷ đông hiếp ít.
Nàng thiếu nữ ấy đang lo cho cha mình, chỉ hận không thể nào xông vào giúp cha, gã công tử ấy đã phóng về phía nàng. Nàng ta cả giận, rút soạt một thanh liễu diệp đao, quát lớn: “Hay lắm, các người ỷ thế hiếp người, ta sẽ chém chân chó của người!’
Gã công tử lật cổ tay lại, chẳng thèm để ý đến thanh liễu diệp đao rồi y lướt người lên, tóm vào hổ khẩu của nàng ta, nàng ta chém hụt một đao, cổ tay suýt tý nữa đã bị y tóm lấy.
Y ra tay thì thắng được một chiêu, lửa giận trong lòng đã giảm bớt, cười ha hả: “Tiểu nương tử, nàng đã nói sai rồi. Chúng ta một địch một, sao lại nói là ỷ thế hiếp người? Ha ha, còn ta, thì tay không đấu với đao của nàng kia mà!”
Nàng thiếu nữ tức tối nhưng không lên tiếng. Chỉ thấy nàng nghiến răng xông về phía y, đáng tiếc võ công của nàng rốt cuộc kém y rất xa, nàng triển khai Bạt phong đao pháp, tuy chiêu nào cũng hiểm hóc nhưng chẳng làm gì được đối phương, được khoảng mười mấy chiêu thì đã rơi vào nguy hiểm. May mà gã công tử vừa mới được tiếp xương, chỉ có thể dùng một cánh tay, nếu không nàng càng khó chống đỡ.
Hà lão đại thấy con gái gặp nguy hiểm, lòng lo như lửa đốt, nhưng bị luồng chưởng lực của đối phương bao trùm, muốn thoát cũng khó, làm sao có thể cứu được con mình? Trong lòng đang lo cho nên chiêu số của y đã bắt đầu rối loạn.
Kim Trục Lưu nghĩ thầm: “Đã đến lúc!” Đang định bước tới, chợt thấy một người quen mặt chạy như bay tới phía trước, cười ha hả nói: “Bành trại chủ, sao hôm nay có hứng đánh nhau với người ta thế?” Người đó chính là Cung Bỉnh Phan. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Để coi tên họ Cung này giúp bên nào”.
Hà lão đại nghe giọng nói của Cung Bỉnh Phan như sấm rền bên tai, rõ ràng là một cao thủ nội gia, thế là thất kính thầm nhủ: “Người này quen biết với bọn chúng, y đến nói không chừng là giúp bọn chúng. Hỏng bét, hỏng bét! Hôm nay cha con mình chỉ e mọc cánh cũng khó thoát”. Nào ngờ hán tử đầu trọc đang giao thủ với y càng thất kinh hơn, mặt nở nụ cười lúng túng: “Cung hương chủ, ngọn gió nào đã thổi ông đến đây? Ông hãy nghỉ ngơi một lát, tiểu đệ sẽ nói chuyện với ông”.
Cung Bỉnh Phan cười cười: “Ông cũng biết ta rất nóng nảy ư? Nếu không mở cái hồ lô này ra, ta không thể ngồi nghỉ ngơi được!” Miệng thì nói, nhưng mắt lại nhìn về phía tên lùn.
Tên lùn ấy thản nhiên: “Cung hương chủ, tôi khuyên ông đừng quản chuyện bao đồng”. Cung Bỉnh Phan cười đáp: “Té ra Liên trại chủ cũng ở đây, thật may mắn. Sao, ta không được quản chuyện này ư? Nhưng rốt cuộc chuyện này thế nào, ông cũng phải cho ta biết chứ!” Tên lùn đáp: “Ta nói ông không quản thì không quản! Nếu ông muốn biết thì đợi đánh xong ta sẽ mời ông uống rượu”.
Cung Bỉnh Phan nói: “Uống rượu thì không gấp, nhưng chuyện trước mắt thì không thể chờ được. Đến khi các người đánh xong, tiểu cô nương này có lẽ đã thiệtto!”
Kim Trục Lưu nghe khẩu khí của Cung Bỉnh Phan, lòng thầm mừng, nghĩ bụng: “Có tên họ Cung này ra tay, có lẽ không cần đến mình nữa. Nghe y nói như thế, hình như hai người này đều là trại chủ, nhưng cũng hơi kỳ là. Nếu bọn này đã có vai vế trong chốn lục lâm, sao lại chịu cam lòng làm ưng khuyển cho chốn hào môn?” Tên lùn nghe mấy câu nói của Cung Bỉnh Phan thì đứng phắt dậy, nhíu mày trợn mắt: “Cung hương chủ, ông muốn thế nào đây?”
Cung Bỉnh Phan cười gần: “Hừ, các người không nói thì ta làm sao biết? Nhưng ta muốn các người phải nói. Hai cha con nhà này đã có lỗi gì với các người? Hãy nói ra ta nghe thử, nếu không...”
Hán tử ấy quát: “Nếu không thì thế nào?”
Cung Bỉnh Phan lập tức trả lời: “Nếu không ta nhất định phải xen vào chuyện này”.
Vì Cung Bỉnh Phan xuất hiện cho nên gã đầu trọc họ Bành rối bời trong lòng, cho nên Hà lão đại đã giành lại chủ động. Gã công tử cũng phân tâm, vốn là gã có thể tóm được nàng thiếu nữ, chỉ hơi phân thần thì đã bị nàng ta né tránh.
Hai người Liên, Bành biết lai lịch của Cung Bỉnh Phan cho nên không thể không e ngại y, dù gã lùn họ Liên ngang ngược nhưng cũng không dám quá phóng túng. Gã công tử thì nén không được nữa, ngoác miệng mắng: “Ngươi là cái thứ gì mà quản chuyện của bổn công tử? Liên sư phụ, bắt y lại!”
Tên đầu trọc họ Bành vội vàng nháy mắt với tên lùn họ Liên, nói: “Công tử không biết đó thôi, Cung tiên sinh là hương chủ của Hồng Anh hội, hì hì, đều là người cùng một đạo cả!”
Cung Bỉnh Phan cười lạnh: “Người cùng một đạo cái gì, ta đâu dám trèo cao! Hì hì, nghe nói hai người đã làm bảo tiêu cho nhà họ Tào, nay đã hưởng công danh phú quý! Đây chắc là Tào công tử? Trông rất oai phong! Liên trại chủ, ‘công tử gia’ đã có lệnh, ngươi hãy mau đến bắt ta?”
Sắc mặt hai người Liên, Bành lúc đỏ lúc xanh, số là hán tử đầu trọc tên gọi Bành Cự Vinh, hán tử lùn tên gọi Liên Thành Hổ đều là chủ của sơn trại độc bá một phương.
Gã công tử không biết sự lợi hại của Cung Bỉnh Phan, cả giận quát: “Hồng Anh hội là cái thứ gì, chỉ là một bang hội nhỏ bé trên giang hồ mà dám hù dọa ta, được lắm, ngươi đã dám làm càn trước mặt ta, ta phải lấy đầu ngươi trước!” Y đang bực dọc vì Liên Thành Hổ không đến bắt người, liền vỗ một chưởng đẩy nàng thiếu nữ ra, còn mình chạy đến đánh Cung Bỉnh Phan.
Cung Bỉnh Phan cười lạnh: “Không cần công tử phải nhọc lòng, công tử muốn lấy đầu tôi phải không? Thì đây cứ lấy!” Y chưa nói dứt lời thì gã công tử đã phóng về phía y, Liên Thành Hổ vội vàng kêu lên: “Công tử, đừng!”
Chỉ nghe vù một tiếng, một cái mũ đột nhiên từ tay Cung Bỉnh Phan bay ra, té ra y đã lột mũ trên đầu làm ám khí đánh ra. Cũng trong lúc này, một mũi phi đao từ trong tay Liên Thành Hổ cũng phóng tới.
Kình phong lướt qua mặt, gã công tử cả kinh, vội vàng cúi đầu. Chỉ nghe soạt một tiếng, chiếc mũ đã bị phi đao của Liên Thành Hổ chém đứt thành hai phần.
Nhưng phi đao cũng bị chiếc mũ táng trúng mất hướng bay xéo ra, rơi xuống cùng với hai mảnh mũ. Dùng một chiếc mũ mà có thể đánh rơi phi đao, tuy chiếc mũ đã bị phi đao chém làm đôi, nhưng rõ ràng công lực của Cung Bỉnh Phan hơn hẳn Liên Thành Hổ.
Điều khiến người ta thất kinh hơn là sau khi gã công tử kinh hoảng, chợt thấy da đầu mình mát rượi, đưa tay lên sờ thì mới biết một mảng tóc đã bị chiếc mũ hớt ngọt, lúc này tóc đang rơi xuống lả tả trước mặt y. Nếu không nhờ mũi phi đao của Liên Thành Hổ kịp thời đánh rơi chiếc mũ, hóa giải kình đạo của nó, chỉ e da đầu của y cũng bị gọt mất một lớp? Gã công tử kinh lại càng thêm kình, sợ đến nỗi hồn bay [font="times new roman"]phách tán, vội vàng lui sang một bên.
Cung Bỉnh Phan cười ha hả: “Lão tổ tông Tào Mạnh Đức cửa nhà họ Tào ngươi cạo tóc thay đầu, nay ta bắt chước lão tổ tông nhà ngươi lấy mũ thay đầu, đáng tiếc ‘công tử gia’ nhà ngươi không lấy được đầu ta!” Gã công tử lúc này làm sao dám lên tiếng?
Lúc này hai bên đều đã ngửa bài, Liên Thành Hổ không thể nào xuống nước được. Y bèn rút hai cây phán quan bút, hai bút gõ vào nhau, quát: “Họ Cung kia, ta chỉ nể mặt Hồng Anh hội, không ngờ ngươi lại không biết điều, người tưởng ta sợ ngươi đấy hử?”
Cung Bỉnh Phan cười lạnh: “Hay lắm, vậy chúng ta phải nói cho rõ ràng trước.
Chuyện hôm nay chẳng có liên quan gì đến Hồng Anh hội, chẳng qua họ Cung này đi đường gặp chuyện bất bình, muốn tìm ngươi trút giận, ngươi muốn thế nào?”
Liên Thành Hổ cả giận quát: “Cung Bỉnh Phan, ngươi... ngươi hiếp người quá thể! Hay lắm, chúng ta sẽ tỉ thí, coi thử ai hơn ai!” Nói chưa dứt lời thì chân đã đạp vào hồng môn, hai bước đâm mạnh tới. Khi cao thủ tỉ thí, rất ít khi vừa mới ra tay thì đã tấn công từ phía chính diện, Liên Thành Hổ rõ ràng muốn chọc giận Cung Bỉnh Phan cho nên mới làm thế.
Kiếm thuật của Cung Bỉnh Phan rất tinh diệu, quát rằng: “Hay lắm!” Rồi đánh ra một chiêu Dạ chiến bát phương, kiếm quang tỏa ra bốn phía. Y vốn tưởng rằng có thể đánh rơi đôi phán quan bút của Liên Thành Hổ, nhưng sau một tràng tiếng leng keng vang lên, đôi phán quan bút của Liên Thành Hổ vẫn có thể thoát ra khỏi màn kiếm quang.
Cung Bỉnh Phan giật mình thầm nhủ: “Chẳng trách nào thằng lùn này lại ngang ngược đến thế, thủ pháp điểm huyệt bằng phán quan bút của nhà họ Liên quả nhiên thiên hạ vô song!” Y biết công lực của mình hơn đối phương, nhưng vì không hiểu thủ pháp điểm huyệt bằng phán quan bút của đối phương cho nên chỉ đành cẩn thận, đánh ra đường kiếm pháp trong công có thủ, tuy biết rất nhiều chiêu số sát thủ nhưng không dám sử dụng. Kiếm pháp của Cung Bỉnh Phan là loại kiếm pháp thượng thừa hiếm thấy trên võ lâm, mà công lực lại hơn hẳn đối phương cho nên vẫn hơi chiếm một chút thượng phong. Hai người vừa công vừa thủ với nhau, kiếm quang bút ảnh hòa vào nhau, trong chớp mắt đã đánh đến ba mươi mấy chiêu.
Kim Trục Lưu thấy bút pháp của Liên Thành Hổ, trong lòng thầm thất kinh, “Bút pháp này rất quen thuộc, không biết đã thấy ở đâu rồi?” chàng bất giác bước tới gần nhìn cho kỹ.
Xem một hồi, Kim Trục Lưu thầm hiểu ra: “Té ra đây là loại bút pháp Tứ bút điểm bát mạch, song y chỉ có một đôi phán quan bút cho nên không sử dụng ra hết. Chả trách nào mà mình chẳng nhận ra”. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-05 22:07:51Hoàng Dung>
Té ra vào hai mươi năm trước, Kim Thế Di đã từng gặp một đôi anh em song sinh giỏi thuật điểm huyệt, đó chính là Liên Thành Bích và Liên Thành Ngọc. Hai em bọn họ dùng bốn cây phán quan bút phối hợp với nhau, có thể trong vòng một chiêu điểm trúng kỳ kinh bát mạch của đối phương, lợi hại vô cùng. Lúc đầu Kim Thế Di chẳng làm gì được họ, sau đó đã học được những chiêu số Tứ bút điểm bát mạch của họ cho nên mới đánh bại được họ.
Còn Liên Thành Hổ là đường đệ của họ, nhưng tuổi tác cách nhau rất xa, nếu hai đường huynh của y nay tuổi đã lục tuần, y vẫn chưa đến bốn mươi tuổi. Sau khi bị Kim Thế Di đánh bại, Liên Thành Bích, Liên Thành Ngọc đã sớm phong bút đóng cửa. Trong số các con em nhà họ Liên chỉ có Liên Thành Hổ học được tuyệt kỹ gia truyền. Nhưng không có ai phối hợp cùng y, y chỉ đành dùng hai bút điểm tứ mạch. Kim Trục Lưu đã được cha giảng giải, tuy chưa giỏi công phu Tứ bút điểm bát mạch, nhưng cũng hiểu sự ảo diệu của nó. Cho nên chàng nhận ra không ít sơ hở trong lối đánh bút của Liên Thành Hổ. Nhưng chàng cũng chưa từng học một vài biến hóa tinh diệu, lúc này nhìn kỹ lại mới hiểu.
Kim Trục Lưu nhìn rất rõ ràng, chàng bất giác càng bước càng tới gần. Liên Thành Hổ, Bành Cự Vinh không biết chàng là ai, cứ nghĩ rằng đó là một thiếu niên lớn gan và tò mò mà thôi cho nên chẳng hề để ý. Cung Bỉnh Phan đã thấy chàng, lại không khỏi thất kinh, lòng thầm nhủ: “Nếu tên tiểu tử này nhớ thù lúc trước, đến tìm mình thì thật hỏng bét!”
Bản lĩnh của Bành Cự Vinh hơn hẳn Hà so đại, lúc đầu y còn sợ Cung Bỉnh Phan sẽ nhúng tay vào cho nên lòng dạ không yên. Những lúc này hai bên đã ngửa bài cho nên y cũng yên lòng, thầm nhủ: “Nếu tên họ Cung này đã nói thế, mình chỉ đối địch với y, chắc là Hồng Anh hội cũng không vì một hương chủ mà đến trả thù. Được lắm, mình đánh bại y rồi tính tiếp”. Thế rồi chưởng lực liền đánh ra dồn dập, Hà lão đại lập tức không chống đỡ nổi, binh một tiếng vang lên, y đã trúng một chưởng, lập tức thối lùi ba thước, khóe miệng tươm máu. Nàng thiếu nữ vội vàng bước lên đỡ cha mình, lo lắng hỏi: “Cha, cha có sao không?”
Hà lão đại thở phì phò: “Không sao! Phượng nhi, con chạy mau!” Y đã bị Bành Cự Vinh đánh một chưởng rơi hai răng cửa, nhưng gã công tử thì đứng một bên lườm lườm, Hà lão đại sợ con gái bị y bắt, cho nên thúc nàng bỏ chạy.
Nàng thiếu nữ ấy lo lắng: “Còn cha thì sao?”
Hà lão đại: “Nha đầu ngốc, sao cha có thể bỏ chạy?” Hà lão đại là người coi trọng đạo nghĩa giang hồ, Cung Bỉnh Phan không quen biết nhưng đã giúp đỡ y, y nào có thể để một mình Cung Bỉnh Phan ở lại.
Tuy Hà lão đại không bị trọng thương nhưng sau một hồi ác đấu, khí lực đã sắp hết, y thở phì phò định bước qua, vừa mới bước được một bước thì lại thở dốc. Bành Cự Vinh đánh lui được Hà lão đại, chắc mẩm rằng sẽ bắt được cha con họ, thế rồi vung hai chưởng phóng về phía Cung Bỉnh Phan, cười lạnh lẽo: “Tên họ Cung kia, ngươi có còn muốn lo chuyện bao đồng không?”
Cung Bỉnh Phan chíu mày: “Đừng nói nhiều, cứ xông lên đi!”
Bành Cự Vinh giận dữ: “Hay lắm, ngươi đã coi thường anh em ta đến thế, ta đành giúp ngươi thỏa nguyện!” Tức thì một chưởng vẽ thành một đường vòng cung, chém vù tới.
Chưởng này chính là tinh hoa của Đại lực kim cương chưởng, khi chưởng lực đồn tới, kiếm quang tản mát, cây phán quan bút của Liên Thành Hổ thừa cơ đâm vào mặt của Cung Bỉnh Phan.
Cung Bỉnh Phan vội vàng hạ thấp người, thân người lắc lư như ngọn nến trong gió. Chân cũng bước loạng choạng như kẻ say, chợt y quát lên: “Xem kiếm!” Rồi y xoay người, kiếm quang đâm thẳng vào ngực Bành Cự Vinh, Bành Cự Vinh tưởng rằng y không chống đỡ nổi, không ngờ kiếm pháp của y lại kỳ quặc, đột nhiên đâm tới, không kịp đề phòng suýt nữa đã bị y đâm trúng.
Bành Cự Vinh phất ống tay áo kêu soạt một tiếng, ống tay áo đã bị cắt mất một mảnh, Bành Cự Vinh thối lui hai bước, lúc này mới đủ chỗ phát Đại lực kim cương chưởng đẩy lùi Cung Bỉnh Phan.
Té ra Cung Bỉnh Phan sử dụng kiếm pháp Túy bát tiên, trông dáng y lảo đảo như muốn ngã xuống, nhưng thực sự là phối hợp với đường kiếm pháp này. Chỉ thấy y chỉ đông đánh tây, bước chân loạng choạng, chẳng ra bài bản gì cả, nhưng mỗi chiêu đều là kiếm thuật thượng thừa quỷ dị khó lường.
Song đối phương cũng là cao thủ, Cung Bỉnh Phan nhờ vào bộ kiếm pháp quỷ dị có thể hù dọa được một lúc, nhưng rốt cuộc không thể chống cự được. Sau hai ba mươi chiêu lại bị đối phương dồn vào nguy hiểm.
Hà lão đại nghiến răng, liều mạng xông tới, thiếu nữ biết tính của cha, cho nên muốn ngăn cản cũng chẳng được, nàng liền nghiến răng, giơ cao thanh liễu diệp đao, nói to: “Được, muốn chết thì cha con ta cùng chết!”
Bành Cự Vinh hừ một tiếng: “Bọn ngươi đã chán sống, đang vội gặp Diêm vương ư? Đợi lát nữa ta sẽ gọi các ngươi”. Trong lúc kịch chiến với Cung Bỉnh Phan, y tiện tay vỗ ra một chưởng về phía hai cha con Hà lão đại, Hà lão đại lại không khỏi loạng choạng thối lui mấy bước. May mà lần này Bành Cự Vinh đang phân tâm đối phó với Cung Bỉnh Phan, cho nên đánh ra rất nhẹ. Vì thế Hà lão đại mới không bị thương nữa.
Nhưng Hà lão đại cũng biết mình có lòng mà không có sức, chỉ đành thở dài mà thôi.
Gã công tử đã nhấp nhổm muốn nhảy tới, nhưng y đã từng biết di hại của Hà lão đại, tuy lúc này đã thấy Hà lão đại đuối sức, trong lòng vẫn còn sợ hãi, trong nhất thời không dám ra tay.
Hà lão đại nghĩ bụng: “Người họ Cung này đã bênh vực mình, xem ra tính mạng khó giữ. Mình chỉ có lòng mà không có lực, cũng khó giúp được y. Nếu y chết vì mình, mình sẽ tự sát báo đáp”. Vì đó cầm cây đao trong tay, bàn lay run run.
Nàng thiếu nữ lại hỏi: “Cha, cha làm gì thế?” Thế rồi chụp lấy thanh đao trong tay của cha mình.
Cũng trong lúc này, chợt nghe một tràng cười ha hả vang lên. Kim Trục Lưu đã bước tới trước mặt cha con nàng, buông giọng cười về phía ba người đang kịch đấu!
Cha con Hà lão đại đều ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ người này đã nổi điên? Sao y lại lớn gan đến thế!” Nhưng vì Kim Trục Lưu đến bất ngờ, Hà lão đại phân tâm, chỉ để ý đến chàng cho nên nhất thời quên cả ý nghĩ tự sát.
Kim Trục Lưu cười ngặt nghẽo, Hà lão đại ngạc nhiên thì thầm nói với con gái mình: “Thật kỳ lạ, người này đứng gần như thế, chả lẽ không sợ Phách không chưởng lực của Bành Cự Vinh”.
Tiếng cười của Kim Trục Lưu nghe leng keng loảng xoảng, đó là bởi vì chàng phát ra nội công thượng thừa, ba người đang kịch chiến đều bị chàng quấy nhiễu tinh thần. Cung Bỉnh Phan không biết ý chàng cho nên trong lòng cả kinh.
Liên Thành Hổ không chịu đựng được nữa, quát lớn: “Tên tiểu tử nhà ngươi cười cái gì?”
Kim Trục Lưu chỉ về y: “Đầu tiên là cười người!”
Liên Thành Hổ gầm lên: “Ta có gì để ngươi cười?”
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ta cười công phu Tứ bút điểm bát mạch của ngươi chỉ có thể sử dụng được một nửa mà dám giở ra ở đây! Hỡi ơi, nhân tài của nhà họ Liên thật hiếm hoi, đáng buồn, đáng buồn!”
Liên Thành Hổ cả kinh: “Tên tiểu tử này cũng biết công phu Tứ bút điểm bát mạch của nhà mình?” Liền quát lớn: “Dù ta có sử dụng được một nửa, ngươi cũng không phá nổi, không tin ngươi cứ đến thử xem”.
Kim Trục Lưu: “Đừng vội, đừng vội, ta vẫn chưa nói hết”.
Bành Cự Vinh giật mình: “Ngươi còn cười ai?”
Kim Trục Lưu: ‘ “Người thứ hai ta cười là ngươi!”
Bành Cự Vinh trợn mắt: “Ngươi cười ta cái gì?”
Kim Trục Lưu nói “Cười Đại lực kim cương chưởng của ngươi hỏa hầu còn thiếu, chỉ có thể gọi là Nê bồ tát chưởng. Thiếu Lâm tự có hạng đệ tử như ngươi, Đạt Ma sư tổ cũng bị ngươi làm cho mất mặt!”
Đại lực kim cương chưởng của Bành Cự Vinh thật ra là chân truyền của Thiếu Lâm tự, từ ngày xuất đạo cho tới nay, gặp rất nhiều kẻ cường địch, đối phương sử dụng binh khí, y đã từng thua vài trận, nhưng tỉ thí chưởng lực thì chưa bao giờ thua ai. Y lâu nay vẫn luôn tự phụ Đại lực kim cương chưởng của mình. Nay nghe Kim Trục Lưu mỉa mai Kim cương chưởng của mình là Nê bồ tát chưởng, làm sao không nổi giận? Gầm lên: “Được, ngươi bảo Đại lực kim cường chưởng của ta kém cỏi, ngươi cứ đến thử xem sao!”
Kim Trục Lưu buông giọng cười lớn, nhảy vào vòng chiến: “‘Ngươi không tin ư? Ta đến đây!”
Bành Cự Vinh không biết Kim Trục Lưu đang cầm cái tráp đựng huyền thiết trong ấy, chỉ thấy Kim Trục Lưu đẩy cái tráp về phía y thì lập tức quát lớn vỗ tới một chưởng.
Đại lực kim cương chưởng của Bành Cự Vinh có thể làm vỡ đá nát bia, nghĩ bụng mặc kệ trong tráp có chứa thứ gì cũng phải đánh vỡ nát.
Kim Trục Lưu cười rằng: “Cẩn thận, vật này không thể chạm được!” Nói chưa dứt lời, “binh” một tiếng, Bành Cự Vinh đã đánh xuống một chưởng, cái tráp của Khu Trục Lưu đã vỡ mất một mặt, còn Bành Cự Vinh thì thê thảm hơn, lòng bàn tay nát bét máu thịt bầy nhầy, xương tay hầu như gãy nát. Y thối lui đến sáu bảy bước, nhưng miệng thì không kêu lên tiếng nào.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Kẻ này đánh phải huyền thiết mà vẫn không ngã, quả nhiên cũng có chút tài cán. Nếu tỉ thí chưởng lực, chỉ e mình không phải là đối thủ của y”. Nhưng Kim Trục Lưu có ý chọc giận y, chàng lập tức cười khảy: “Thế nào? Ta đã bảo công phu của ngươi là Nê bồ tát chưởng mà ngươi vẫn không tin!”
Bành Cự Vinh vừa lo vừa giận, cố nén đau quát: “Tên tiểu tử nhà ngươi đã gạt ta, trong tráp chứa thứ gì? Nếu ngươi có bản lĩnh thì có đám tiếp một chương của ta hay không?”
Kim Trục Lưu cười rộ: “Ta đã nhắc nhở ngươi, ai bảo ngươi cứ chạm vào tráp của ta?”
Bành Cự Vinh đỏ mặt tía tai, quát: “Đừng nói nhiều, ngươi có dám ườn với takhông?”
Kim Trục Lưu cười lớn nói: “Có gì mà không dám? Xem chưởng!” Rồi tỏ vẻ ngạo mạn, chẳng thèm nhìn tới đối phương, đánh xuống một chưởng. Bành Cự Vinh tức đến nỗi thất khiếu bốc khói, quát rằng “Hay lắm!” Rồi vung chưởng vẽ thành một hình vòng cung đánh tới.
Bành Cự Vinh thấy Kim Trục Lưu chỉ khoảng hai mươi tuổi, nghĩ chàng chỉ là một tên tiểu tử miệng còn hôi sữa, cho nên tuy chỉ còn một cánh tay trái nhưng chẳng hề coi Kim Trục Lưu ra gì.
Kim Trục Lưu cũng bắt chước giọng y nói: “Đến hay lắm!” Nhưng đột nhiên chàng không đánh chưởng tới mà thu ra phía sau.
Chưởng lực của Bành Cự Vinh dồn tới như đời núi lấp biển, định ngoác miệng mắng, Kim Trực Lưu đã quát: “Cẩn thận”, lập tức chưởng lực đột nhiên phát ra, chỉ nghe rắc một tiếng, cánh tay trái của Bành Cừ Vinh đã bị gãy chỉ còn một khúc xương [font="times new roman"]nối với vai, lúc này cánh tay đã từ từ xuôi xuống.
Kim Trục Lưu tuy đã dùng kế, nhưng trong vòng ba thước mà không bị trúng chưởng lực của đối phương, vả lại khi trả một chưởng thì đã đánh gãy tay của Bành Cự Vinh, công lực như thế đủ khiến cho Liên Thành Hổ thầm thất kinh.
Kim Trục Lưu cười hỏi: “Thế nào?” lúc này Bành Cự Vinh đau đến nỗi toát mồ hôi lạnh, y phải lập tức nối xương nếu không sẽ bị tàn phế. Y chỉ đành nghiến răng nén đau nối xương trước, không dám đấu khẩu với Kim Trục Lưu nữa.
Kim Trục Lưu nói: “ Ngươi hãy yên tâm tự chữa trị, ta xưa nay không đánh chó đã rơi xuống nước. Nói xong thì xoay người bước tới trước mặt Liên Thành Hổ: “Nay đến lượt tên lùn nhà ngươi! Cung đại ca, hãy nhường cho tôi”.
Cung Bỉnh Phan lui qua một bên, Liên Thành Hổ quát: “Ngươi đã bảo sẽ phá Kinh thần bút pháp của ta!” Té ra bản lĩnh của Liên Thành Hổ tuy cao hơn Bành Cự Vinh nhưng chỉ toàn nhờ vào đôi bút chứ công lực thì không cao như Bành Cự Vinh. Y thấy Bành Cự Vinh đối chưởng bị thua, nào dám tỉ thí nội lực với Kim Trục Lưu, cho nên ý của y là chỉ muốn tỉ thí bút pháp với Kim Trục Lưu. Kinh thần bút pháp là tên khác của Tứ bút điểm bát mạch, Liên Thành Hổ chỉ có thể sử dụng hai bút điểm bốn mạch, cho nên không tiện nói ra tên gốc của loại bút pháp này. Hà lão đại nén không được, nói: “Trong tay người ta không có phán quan bút, làm sao tỉ thí bút pháp với ngươi?” Kim Trục Lưu cười gằn: “Đừng lo, đừng lo. Không có phán quan bút tôi vẫn có thể sử dụng công phu Tứ bút điểm bát mạch như thường. Tôi đã nói là làm, nhất định lên lùn này sẽ phải thua tâm phục khẩu phục!”
Liên Thành Hổ nghe như thế, làm sao có thể tin được? Trong lòng thầm nhủ: “Chả lẽ ngươi chỉ dùng đôi tay, dù có phán quan bút, chỉ có một mình ngươi thì chẳng thể nào dùng Tứ bút điểm bát mạch”. Liền quát: “Được, ngươi phá thử xem!” Hai bút phân ra, bút trái điểm vào huyệt kỳ môn, bút phải điểm vào huyệt huyết hải.
Kim Trục Lưu khép ngón tay lại, lướt người tiến lên trong màn bút ảnh của đối phương, trả lại một chiêu Khấp quỷ kinh thần, tay trái điểm vào huyệt thiên đột của Liên Thành Hổ, tay phải điểm vào huyệt dương bạch, chàng dùng ngón tay thay bút, quả nhiên đã sử dụng Kinh thần bút pháp của Liên gia, vả lại chiêu này cũng là khắc tinh của Liên Thành Hổ.
Liên Thành Hổ hoảng hồn: “Tên tiểu tử này quả nhiên quái dị!” Rồi vội vàng thối lui, mau chóng biến chiêu. Kim Trục Lưu lướt người lên, chưởng chỉ tung bay, trong vòng một chiêu đã liên tục điểm vào tám huyệt đạo trên hai mạch Nhâm Đốc của đối phương, khiến cho Liên Thành Hổ chỉ đành chống đỡ.
Kim Trục Lưu vừa đánh vừa giảng, không ngừng chỉ ra sơ hở của đối phương. “Chiêu Phân hoa phất liễu của ngươi sử dụng chưa đến nơi, chiêu số gốc tuy là bút phải nặng, bút trái nhẹ, nhưng đối phương tấn công tay phải của ngươi, lẽ ra ngươi phải đánh trái nặng phải nhẹ mới đúng! Đối địch hay ở chỗ là phải nhìn thấy thời cơ, [font="times new roman"]sao có thể cứng nhắc như thế?” Hì hì, chiêu Tam hoa tụ đỉnh của ngươi lại không đúng Tam hoa tụ đỉnh, lẽ ra phải điểm vào huyệt hoa cái, thái dương và thiên linh ở trên đỉnh đầu, sao ngươi lại điểm bừa bãi như thế!” Chàng chỉ nói những bí quyết của Kinh thần bút phán.
Những điều Kim Trục Lưu nói ra lúc nãy quả thật là những sơ hở Liên Thành Hổ chưa từng nghĩ tới, có điều y cũng biết phải làm thế nhưng lại không đủ sức. Ví dụ như trong chiêu Tam hoa tụ đỉnh, y biết phải điểm vào huyệt hoa cái, thái dương và thiên linh của đối phương, nhưng muốn điểm vào ba huyệt này thì phải phóng người lên đánh xuống, khinh công của y không bằng Kim Trục Lưu thì làm sao có thể làm được điều đó?
Song mặc dù y không đủ sức làm được, nhưng y vẫn phải khâm phục những lời giảng giải của Kim Trục Lưu. Sau một hồi hoang mang, y biết công phu điểm huyệt của mình không bằng đối phương, hôm nay chắc chắn sẽ thất bại, nếu cứ đánh nữa chỉ càng tạo cơ hội cho đối phương mỉa mai, còn mình chỉ thêm phần hổ thẹn mà thôi. Nhưng y là một nhân vật thành danh trên giang hồ, không thể nào chịu thua một lên tiểu tử hậu sinh, y nhíu mày nảy ra một kế, hai bút xỉa tới, phá một chiêu của Kim Trục Lưu, gằn giọng: “Đúng thế, bản lĩnh của ngươi quả thực hơn ta, nhưng ngươi sử dụng không phải công phu Tứ bút điểm bát mạch! Nếu muốn đánh bại ta, ta sẽ cung tay nhận thua. Nhưng nếu muốn ta tâm phục khẩu phục, ngươi phải dốc hết bản lĩnh ra!” Kim Trục Lưu đã nói dùng tay không có thể sử dụng Tứ bút điểm bát mạch, nay Liên Thành Hổ vin vào câu nói này để làm khó chàng, tuy hơi vô lý nhưng vì cố lấy lại sĩ diện cũng chỉ đành làm thế.
Kim Trục Lưu lấy ngón tay thay bút, hai tay chỉ có thể sử dụng được Song bút điểm tứ mạch, đó là điều mà bất cứ ai hiểu thuật điểm huyệt đều hiểu, Hà lão đại không khỏi mắng rằng: “Ngươi rõ ràng đã thua mà còn cố cãi, có biết hổ thẹn hay không? Hừ, ngươi buộc người ta dùng hai tay không điểm tám mạch, chẳng phải đã làm khó người ta hay sao?” Liên Thành Hổ cười lạnh, “Ai bảo y đã nói câu lúc nãy?” Kim Trục Lưu nói: “Đừng cãi đừng cãi! Ta đã nói đương nhiên phải làm!”
Rồi đột nhiên lướt người tới, sử dụng một chiêu mà cả Liên Thành Hổ chưa bao giờ thấy, trong một chiêu, đã điểm tám huyệt ở bốn nơi trên người y, Liên Thành Hổ không biết chống đỡ thế nào, đang định nói: “Thủ pháp này của ngươi chẳng qua là biến hóa từ Song bút điểm tứ mạch mà thôi”. Chưa kịp lên tiếng thì đôi bút đã bị Kim Trục Lưu giật mất.
Kim Trục Lưu kêu lên: “Công phu Tứ bút điểm bát mạch đây!” Rồi chàng ném hai bút ra, tiếp theo lướt người tới nhanh như điện chớp, hai cây bút lướt xéo qua nhau, điểm vào bốn huyệt đạo trên mạch đốc, mạch nhâm, mạch xung, mạch đới của Liên Thành Hổ, dùng tay thay bút, hai tay đã điểm vào bốn huyệt âm kiêu, dương kiêu, âm duy, dương duy. Chiêu này phù hợp với công phu điểm huyệt tuyệt đỉnh Tứ bút điểm bát mạch!
Tám mạch của Liên Thành Hổ đã bị điểm, nhất thời không thể nào cử động được. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ngươi đã phục chưa? Ta không muốn công phu bút pháp của nhà họ Liên thất truyền cho nên hôm nay tạm tha cho ngươi?” Rồi chàng bước về phía trước, thuận tay vỗ mấy cái, giải tám huyệt đạo của Liên Thành Hổ. Bành Cự Vinh và “công tử gia” thấy tình thế không xong, đã chạy từ lâu. Liên Thành Hổ được giải huyệt đạo, mặt vàng như đất sét, không dám lên tiếng, cũng đành lủi thủi bỏ đi.
Chính là: Gặp chuyện bất bình dùng tuyệt kỹ, kinh thần bút pháp dọa cường nhân.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 15 phân giải.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 07:55:34Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Mười Lăm
[/align]
Một mình một kiếm một chén rượu
Khách lễ lầu cao lòng muôn nơi
[/align]
Kim Trục Lưu bước tới trước mặt Cung Bỉnh Phan, nhẹ nhàng: “Cung hương chủ, không ngờ ông cũng tới đây”.
Cung Bỉnh Phan hờ hững: “Đúng thế, thật là may mắn. Đa tạ ngươi đã rút đaotương trợ”.
Kim Trục Lưu: “Trước đây tôi không biết ông, đã có điều đắc tội. Nay chúng ta có thể kết bằng hữu. Tiểu đệ họ Kim, tên là Trục Lưu”. Lần trước Cung Bỉnh Phan bại trong tay chàng, đã từng hỏi tên chàng, lúc đó Kim Trục Lưu vẫn coi y là kẻ đối địch, không chịu nói tên thật cho y biết.
Cung Bỉnh Phan cầm kiếm vái dài: “Cung mỗ đa tạ ơn cứu giúp của các hạ, nay xin hủy cái hẹn tỷ kiếm vào ba năm sau. Xin cáo biệt ở đây!”
Kim Trục Lưu ngỡ ngàng: “Chả lẽ ông vẫn còn chưa hết giận ư? Nếu ông muốn lấy tảng huyền thiết này tôi có thể tặng cho ông. Nửa đường gặp chuyện bất bình rút đao tương trợ là điều đương nhiên, ông không cần nói những lời khách sáo”. Hà lão đại đứng một bên nghe chàng nói đến tảng huyền thiết, mặt không khỏi ngạc nhiên, mắt chú ý đến cái tráp của chàng, tựa như muốn nói điều gì đó nhưng lại thôi.
Kim Trục Lưu là người phóng khoáng, nhiều tình cảm. Khi chàng thật lòng muốn kết giao bằng hữu với đối phương, chàng có thể hy sinh tất cả mọi thứ, tảng huyền thiết tuy là báu vật hiếm có trên đời, nhưng chàng cũng không màng đến. Nhưng Cung Bỉnh Phan nghe thế thì tưởng rằng chàng mỉa mai mình, vì thế y nói: “Đúng thế, Cung mỗ đã từng muốn cướp tảng huyền thiết này, nhưng phải dựa vào bản lĩnh thật sự! Bản lĩnh của các hạ hơn ta, ta biết không xứng lấy vật này, sao các hạ còn mỉa mai ta?”
Kim Trục Lưu thở dài: “Ồ, chỉ vì tại hạ vụng ăn nói nên mới làm mất lòng lão huynh. Tại hạ chỉ muốn có ý kết giao, lão huynh đừng hiểu nhầm”. Cung Bỉnh Phan lạnh lùng: “Kim huynh hạ mình kết giao, tiểu đệ nào dám trèo cao!” Nói xong thì quay người bỏ đi. Hà lão đại muốn nói lời cảm tạ cũng đã không kịp nữa.
Kim Trục Lưu bảo: “Người này tuy kiêu ngạo nhưng cũng rất cứng cỏi”. Lòng thầm nhủ: “Y đã từng bại dưới kiếm của mình, chả trách nào hiểu nhầm như thế. Tục ngữ nói lâu ngày sẽ thấy lòng người, sau này y sẽ biết con người của mình, lúc đó mình sẽ lại giải thích với y”.
Cha con Hà lão đại bước đến bái tạ ơn cứu mạng của Kim Trục Lưu, đôi bên hỏi tên nhau, Kim Trục Lưu mới biết người cha tên là Hà Kiện Hùng, người con gái tên Hà Thái Phượng.
Kim Trục Lưu nói: “Hà đại thúc, ông đang bị thương, ở đây có một viên tiểu hoàn đơn, ông hãy uống vào”.
Hà Kiện Hùng cả kinh: “Đây là Hà hoàn đơn của phái Thiếu Lâm, tôi làm sao dám nhận viên linh đơn này?”
Kim Trục Lưu: “Một vị thế bá của tôi đã đánh cắp viên thuốc này, ông hãy cứ dùng, tôi vẫn còn rất nhiều”.
Hà Kiện Hùng là một hán tử giang hồ phóng khoáng, nghe chàng ít như thế thì cũng không khách sáo, cầm viên tiểu hoàn đơn nuốt rồi cảm tạ: “Ơn lớn không thể không trả, sau này Kim công tử nếu cần dùng đến tiểu nhân, Hà mỗ nhất định sẽ dốc hết sức mình. Chúng ta hãy rời khỏi nơi thị phi này”.
Kim Trục Lưu nói: “Chúng ta đã đánh bọn chúng tơi bời hoa lá, chả lẽ bọn chúng còn dám tới?” Cha con Hà Kiện Hùng thu dọn đồ đạc, vội vàng bỏ đi, Kim Trục Lưu tuy ngạc nhiên cũng chỉ đành cầm tảng huyền thiết đi theo.
Hà Kiện Hùng không bị nội thương, sau một hồi nghỉ ngơi, lại uống một viên tiểu hoàn đơn cho nên bước chân đi nhưng bay. Khinh công của Hà Thái Phượng cũng không kém, nàng cứ đi sát theo sau cha như hình với bóng. Nhưng Kim Trục Lưu chạy càng nhanh hơn, chỉ trong chớp mắt đã vượt tới trước mặt họ.
Hà Kiện Hùng biết trong tay chàng đang cầm tảng huyền thiết, theo kinh nghiệm giang hồ của y, vừa nhìn đã biết tảng huyền thiết này rất nặng nề mà mình lại không đuổi kịp chàng, có lúc chàng phải chậm nước mình mới đuổi kịp theo, trong lòng rất ngạc nhiên, bội phục.
Ba người thi triển khinh công chạy một mạch đến hơn hai mươi dặm, vòng qua núi Thiên Phật, ra khỏi thành Tế Nam. Hà Kiện Hùng mới thở phào: “Chúng ta có thể nghỉ ngơi”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Gã công tử ấy là ai, sao lại ngang ngược đến thế? Hai tên bảo tiêu của y nổi tiếng trên giang hồ, sao lại chịu nghe theo y?”
Hà Kiện Hùng cười nói: “Y là con trai yêu quý của Tào Chấn Dung”.
Kim Trục Lưu lại hỏi: “Tào Chấn Dung là ai?”
Hà Kiện Hùng ngạc nhiên: “Kim công tử không biết Tào Chấn Dung là đại học sĩ ở Văn hoa điện, y là tướng quốc thời nay! Trong triều có hai người làm tướng quốc, người Mãn là Mục Chương A, người Hán là Tào Chấn Dung. Về quyền bính thì Mục Chương A hơi lớn hơn, nhưng Tào Chấn Dung là kẻ biết nịnh bợ, nối giáo cho giặc, chuyên môn nghĩ cách giúp cho hoàng đế Thát Đát chèn ép người Hán, tội ác chẳng kém gì Mục Chương A”.
Vào thời Thanh tướng quyền phân tán, trong cơ vụ tán lý, chức nội các đại học sĩ đứng đầu trăm quan, tựa như tể tướng thời xưa. Vào đầu thời Thanh chế độ quy định, đại học sĩ được chia cho hai người, một Hán một Mãn. Nhưng thực quyền đa phần nằm trong tay đại học sĩ người Hán.
Kim Trục Lưu nói: “Té ra là thế. Tôi từ hải đảo về không bao lâu, không biết chuyện này.
Hà Kiện Hùng nói: “Đứa con yêu quý này của Tào Chấn Dung hoành hành ngang ngược khắp nơi. Y lại thích luyện võ công, cho nên trong phủ có rất nhiều nhân vật giang hồ tham công danh phú quý, bọn chúng cũng là tai mắt của triều đình”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Biết sớm như thế, ta đã trừng trị y một trận. Được, đến Bắc Kinh ta sẽ tìm Tào Chấn Dung”.
Hà Kiện Hùng hỏi: “Kim công tử đến Bắc Kinh ư?”
Kim Trục Lưu đáp: “Đúng thế”.
Hà Kiện Hùng nói: “Có phải liên quan đến lễ mừng thọ của Tát tổng quản không?”
Kim Trục Lưu ngác nhiên: “Sao ông biết?”
Hà Kiện Hùng: “Xin hỏi có phải công tử cướp tảng huyền thiết từ tay Lục Hợp bang hay không?”
Kim Trục Lưu đáp: “Đúng thế. Té ra ông cũng biết lai lịch của tảng huyền thiết này”.
Hà Thái Phượng vừa lo vừa mừng: “Đây có phải tảng huyền thiết Sử Bạch Đô định tặng cho Tát tổng quản không? Có thể cho tôi mở rộng tầm mắt không?”
Kim Trục Lưu nói: “Được thôi, nhưng cô nương phải cẩn thận, tảng huyền thiết này rất nặng!”
Hà Thái Phượng vừa cầm tảng huyền thiết thì suýt nữa đã đánh rơi, luôn miệng khen: “Quả nhiên là vật báu! Chuỗi dạ minh châu kia tuy giá trị liên thành nhưng kém xa tảng huyền thiết này!” Hà Kiện Hùng cười bảo: “Không, Tát Phúc Đỉnh chỉ thích dạ minh châu”. Hà Thái Phượng nói: “Cha nới phải”. Thần sắc lộ vẻ buồn bã, thế rồi nàng đưa trả tảng huyền thiết cho Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Hình như họ hiểu hết chuyện trong Lục Hợp bang, không biết có mối liên hệ gì?” Đang định hỏi, Hà Kiện Hùng đã nói: “Kim công tử, tôi muốn hỏi một người. Ngài có biết trong Lục Hợp bang có một người tên Lý Đôn không?”
Kim Trục Lưu đáp: “Tôi và y là bằng hữu đồng đạo”
Hà Thái Phượng vội vàng hỏi: “Nói như thế, ngài quen biết với y, nhưng không biết là bằng hữu như thế nào?”
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Y đánh cắp minh châu, ta đánh cắp huyền thiết, ta và y chính là đồng đạo, là đều đánh cắp vật của Lục Hợp bang, nhưng y đã ném chuỗi minh châu xuống đầm sâu, không may mắn như ta”. Thế rồi liền kể lại chuyện hôm trước ở núi Tồ Lai.
Hà Kiện Hùng nói: “May mà có Kim công tử giúp y, ta đang lo lắng y sẽ bị người Lục Hợp bang bắt về, không biết y hiện nay đang ở đâu?”
Kim Trục Lưu bảo: “Sau khi chia tay ở núi Tồ Lai, tôi không biết tin tức của y nữa. Nhưng ông hãy yên tâm, Lục Hợp bang hiện nay đang lo rất nhiều chuyện, nào là phải tìm lễ vật khác dâng lên cho Tát Phúc Đỉnh, lại còn phải tìm em gái của bang chủ, cướp lại tảng huyền thiết này, làm sao rảnh rỗi đi tìm Lý Đôn? Huyền thiết quý hơn minh châu, vả lại tôi cũng chẳng giấu giếm hành tung, người của Lục Hợp bang muốn tìm chúng trước tiên phải đối phó tôi!”
Hà Kiện Hùng gật đầu: “Đúng thế, công tử đã đánh cắp tảng huyền thiết này, coi như đã yểm hộ Lý Dồn. Nhưng như thế ngài sẽ gặp nhiều nguy hiểm, cha con chúng tôi cũng ái ngại lắm”.
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Tôi không sợ Lục Hợp bang, Sử Bạch Đô không đến tìm tôi, tôi cũng muốn tìm y. Hà đại thúc, ông quan tâm Lý Đôn như thế, không biết y là người thế nào với ông?”
Hà Thái Phượng đỏ ừng mặt, cúi đầu không nói. Hà Kiện Hùng nói: “Đối với ân công còn sợ gì? Không dám giấu gì, Lý Đôn là tiểu tế. Y và nha đầu nhà tôi đã tự đính thân, định năm nay sẽ cho bọn chúng hoàn hôn, không ngờ lại xảy ra chuyện Lục Hợp bang”.
Kim Trục Lưu đắc ý, cả mừng kêu lên: “Thật hay lắm!” Hà Thái Phượng hổ thẹn đến nỗi đỏ ửng mặt. Nhưng nàng chỉ nghĩ Kim Trục Lưu mừng cho mình chứ không biết Kim Trục Lưu mừng cho bản thân chàng. Kim Trục Lưu cứ tưởng Lý Đôn là ý trung nhân của Sử Hồng Anh, nay mới biết hoàn toàn là hiểu lầm.
Hà Kiện Hùng nói: “Phượng nhi biết chuyện này đã rất lo lắng, không gặp Lý Đôn nó không yên tâm. Cho nên tôi chỉ đành đưa nó đi tìm. Vì muốn y dễ dàng nhận tin, chúng tôi đã cải trang thành người kể chuyện sách”.
Kim Trục Lưu: “Hay lắm? Cô nương cứ hát như thế sẽ dụ được Lý Đôn lộ diện đấy”. Hà Thái Phượng nhoẻn miệng cười: “Ân công đừng nói đùa”.
Kim Trục Lưu bảo: “Tôi sẽ đến Bắc Kinh, các người cũng tìm Lý Đôn, chúng ta hãy lên đường thôi. Hà cô nương, nếu gặp Lý Đôn, xin cho tôi gởi lời thăm”.
Kim Trục Lưu đang sung sướng trong lòng, đi đường cũng rất nhanh, tuy mang theo tảng huyền thiết nặng nề, nhưng một ngày đã đi hơn ba trăm dặm, đến trưa hôm sau thì đã vượt qua sông Hoàng Hà, đến Vũ Thành.
Vũ Thành nằm ở bờ bắc sông Hoàng Hà, tương truyền là một thành trì được xây dựng vào thời vua Đại Vũ trị thủy. Trong thành có một tòa tửu lầu nổi tiếng tên gọi là lầu Nghi Liêu, nghe nói người nấu rượu đầu tiên trong lịch sử là bề tôi của vua Đại Vũ tên gọi Nghi Địch, ông ta nấu ra rượu, “vua Vũ nếm và khen, sau đó dần xa Nghi Địch”. Tuy vua Vũ xa lánh Nghi Địch, nhưng phương pháp nấu rượu đã được truyền [font="times new roman"]ra dân gian. “Người Hạ thích uống rượu”, “Hạ” là quốc hiệu của vua Đại Vũ, trong sách sử cũng có ghi chép. Tòa lầu Nghi Liêu này có ý nghĩa kỷ niệm Nghi Địch. Về sau đã trở thành một danh thắng ở Vũ Thành.
Tòa tửu lầu cao hơn nhà cửa trong thành, khách có thể đứng trên lầu ngắm nhìn Hoàng Hà, nhớ lại công đức của vua Đại Vũ. Kim Trục Lưu đến Vũ Thành, đương nhiên cũng đến lầu Nghi Liêu uống rượu.
Hôm nay trên tửu lầu khách rất ít, người địa phương quen đến tối mới uống rượu, Kim Trục Lưu đến tòa tửu lâu vào buổi trưa, chỉ có một mình chàng là khách. Kim Trục Lưu càng vui mừng hơn, nghĩ bụng không ai quấy nhiễu nhã hứng của mình, đang định uống một trận cho thỏa thích, vì thế cẩn thận đặt tảng huyền thiết xuống gầm bàn.
Kim Trục Lưu làm thế là để tránh bị người ta để ý, may mà ván lầu rất dày cho nên có thể chịu nổi, vậy mà khi đặt xuống cũng phát ra tiếng động. Tên tửu bảo thấy thì rất ngạc nhiên thầm nhủ: “Sao cái tráp này nặng nề đến thế?” Nhưng y nghĩ trong tráp cũng chẳng có thứ gì quý giá cho nên cũng quên bẵng đi.
Kim Trục Lưu vừa ngồi uống rượu vừa ngắm sông Hoàng Hà, chỉ thấy sóng đục ngầu cuồn cuộn, trời nước giao nhau, so với sông Trường Giang thì hùng vĩ hơn, Kim Trục Lưu chìm đắm trong suy nghĩ bất giác đã uống được một nửa bình rượu. Tửu lượng của Kim Trục Lưu không mạnh lắm, uống nửa bình rượu đã ngà ngà say, chàng đưa mắt nhìn sông Hoàng Hà, cảm xúc trong lòng trỗi lên, dựa lan can lầu ngâm rằng: “Tam thiên niên sự tàn nha ngoại, vô ngôn quyện bằng thư thụ. Thệ thủy di xuyên, cao lăng biến cốc, na thức đương thời thần Vũ?” Đây là bài từ do nhà làm từ thời nhà Tống tên gọi Ngô Mộng Song sáng tác khi lên thăm lăng vua Võ. Lăng vua Võ nằm ở núi Cối Kê ở huyện Thiệu Hưng, miền Triết Giang, cách Vũ Thành ở Sơn Đông không đến ngàn dặm, nhưng bài thơ này hợp với cảnh vật trước mặt, vì nó nói lên cảm xúc trong lòng chàng lúc này.
Vua Đại Vũ trị thủy là chuyện ba ngàn năm trước. Ba ngàn năm trôi qua đã có nhiều thay đổi, chuyện xưa chìm vào dĩ vãng chẳng còn chút tông tích. Dòng sông năm xưa không biết đã mấy phen thay đổi, núi cao chập chùng có lẽ cũng đã thành thung lũng. Mặc dù công tích của Đại Vũ dẫu nay chẳng còn dấu vết nữa, nhưng công vạn thế của ngài vẫn nằm sâu trong lòng của người đời. Câu thơ “Na thức đương thời thần vũ” hàm chứa ý tứ của cả hai mặt. Kim Trục Lưu nhớ lại bậc hiền thánh ngày xưa, lòng thầm nhủ: “Hễ ai làm chuyện tốt cho trăm họ, trăm họ sẽ không quên người đó. Sức lực mỗi người có khác nhau, mình tuy không bằng Đại Vũ, nhưng cũng nên học theo cách của ngài làm chút chuyện tốt cho trăm họ”.[/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 08:01:43Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu suy nghĩ miên man, đã uống mấy chén rượu, rồi ngâm đoạn tiếp theo: “Tịch liêu tây song tọa cửu, cố nhân kiêm hội ngộ, đồng tiễn đăng ngữ. Tích tiên tàn bi, linh chủ đoạn bích, trùng phất nhân gian trần thổ”. Năm xưa Ngô Mộng Song lên lầu Đại Vũ là đi cùng với người bạn thân là Phùng Thâm Cư. Sau khi về nhà đốt đèn nói chuyện với bạn suốt đêm, nhớ lại những điều ban ngày nên hết sức cảm khái.
Khi Kim Trục Lưu đang ngâm đến câu này, chàng chợt nhớ Sử Hồng Anh: “Nếu Sử cô nương cũng ở đây, cùng mình tâm sự thì hay biết bao!” Chàng nghĩ đến đây, bất giác vỗ lan can vừa hát vừa thở dài. May mà trên lầu không có khách, nếu không chàng sẽ bị coi là một kẻ điên. Tên tửu bảo hầu rượu cho chàng đã quen thấy cảnh này cho nên không lấy làm lạ.
Chợt nghe có người cười nói: “Hay lắm, tiểu huynh đệ này quả thật có nhã hứng!” Tiếng cười loảng xoảng như tiếng kim loại giao nhau, nghe rất chối tai. Kim Trục Lưu quay đầu nhìn lại, chỉ thấy có hai người đã bước lên lầu. Người lên tiếng đi ở trước mặt, tuổi khoảng bốn mươi, tướng mạo cao lớn oai vệ. Còn người đi ở phía sau chính là Cung Bỉnh Phan, Kim Trục Lưu nghe tiếng cười của người này đã cảm thấy ngạc nhiên, thấy Cung Bỉnh Phan càng bất ngờ hơn.
Kim Trục Lưu đã ngà ngà say, chàng vẫn ngồi trên ghế, bưng bình rượu, lập tức cười ha hả: “Đúng là đường đời đi đâu cũng gặp nhau, nào nào...” Chàng định mời Cung Bỉnh Phan cạn một chén, chợt thấy Cung Bỉnh Phan lắc đầu về phía chàng, nháy mắt rồi chỉ ra cửa sổ. Cung Bỉnh Phan đang đi sau lưng người ấy, cho nên lúc đó Kim Trục Lưu mới thấy y ra hiệu.
Kim Trục Lưu tuy đã ngà ngà say, nhưng vẫn hiểu rằng Cung Bỉnh Phan giả vờ không quen biết chàng, có ý bảo chàng chạy cho nhanh.
Kim Trục Lưu_thầm nhủ: “Chả lẽ nhân vật này rất lợi hại. Sao mình có thể sợ y?” Nhưng Cung Bỉnh Phan không dám nói với chàng, chỉ dám đứng phía sau người ấy ra hiệu, rõ ràng là y sợ người này. Kim Trục Lưu rất ngạc nhiên, chàng biết Cung Bỉnh Phan là người rất kiêu ngạo, nhưng nay lại tỏ ra sợ hãi người này, thật là chuyện lạ khiến cho người ta không ngờ tới!
Số là Kim Trục Lưu định nói ba chữ “Cung hương chủ”, mời Cung Bỉnh Phan đến uống rượu, nhưng chàng đã thấy y ra dấu, trong lòng tuy rất ngạc nhiên nhưng cũng không muốn khiến cho Cung Bỉnh Phan khó xử vì thế lập tức ngừng lại. Nhưng Cung Bỉnh Phan tỏ ý bảo chàng bỏ chạy, chàng vẫn ngồi yên, mắt vẫn nhìn về phía người ấy.
Người ấy tưởng Kim Trục Lưu gọi mình, cười lớn nói: “Tiểu huynh đệ, ngươi thật thú vị. Đúng thế, đúng thế! Trên đường đời lúc nào cũng gặp nhau, gặp nhau cần gì phải quen biết. Nào, ta sẽ uống rượu với ngươi! Ta mời ngươi một chén!”
Cung Bỉnh Phan biến sắc, lại lắc đầu ra hiệu. Kim Trục Lưu giả vờ không biết: “Hay lắm, mời nhau không bằng ngẫu nhiên, xin mời hãy đến đây. Đừng nói là một chén, mười chén cũng được!” Trong lòng thầm nhủ: “Kẻ này khí độ bất phàm, chắc là hào khách trên giang hồ, mặc kệ y là ai, làm quen trước rồi tính”. Lúc này Kim Trục Lưu bưng bình rượu đứng dậy người đã loạng choạng.
Người ấy càng cao hứng: “Tiểu huynh đệ, tửu lượng của ngươi thế nào, có dám đấu rượu với ta không?” Nói xong thì quay đầu lại bảo với Cung Bỉnh Phan: “Từ khi ta và đà chủ của các ông thi uống rượu bất phân thắng bại, mười năm nay vẫn chưa gặp địch thủ!”
Lúc này Kim Trục Lưu đã say, chàng nói liền: “Được, chúng ta sẽ thi uống rượu?” Người ấy đáp: “Lão đệ phóng khoáng như thế thật hiếm có trên đời. Hôm nay đấu rượu, bất kể ai thắng ai thua, chúng ta đều sẽ trở thành bằng hữu. Nào, tửu bảo, hãy mang một vò rượu ngon nhất ra đây!”
Người ấy bưng vò rượu, nói: “Vò rượu này nặng ba mươi cân, e rằng không đủ cho ta uống, hãy đem theo một vò nữa ra đây!” Tên tửu bảo trợn tròn mắt, lè lưỡi nghĩ thầm: “Bán được là tốt, mặc kệ y có uống được hay không!” Liền bưng ra một vò rượu nữa, đặt bên cạnh Kim Trục Lưu, rồi bày trước mặt họ một cái bát lớn.
Người ấy vẫy tay kêu Cung Bỉnh Phan: “Cung hương chủ, ông cũng đến đây!” Cung Bỉnh Phan cười gượng: “Tửu lượng của tôi rất kém, xin thứ tôi không thế uống cùng”.

Hán tử ấy nói: “Tửu lượng nhiều hay ít cũng như người uống nước, nóng lạnh tự biết. Điều này không thể gượng ép được. Được, ông không tham gia hãy ngồi một bên làm trọng tài cho chúng tôi. Tôi và vị tiểu huynh đệ này tỉ thí uống rượu, mỗi người một bát, thay phiên nhau uống, ai không uống được nữa thì người đó thua”.
Cung Bỉnh Phan cười rằng: “Sử bang chủ là tửu bá nổi tiếng, đà chủ chúng tôi xưa này vô địch trên tửu đàn, nhưng cũng rất khâm phục tửu lượng của ông, lần tỉ thí này đã biết thắng thua, cần chi tôi phải làm trọng tài? Tôi thấy vị tiểu huynh đệ này đã uống rất nhiều, chuốc say y thì không hay lắm. Chi bằng mỗi người uống ba chénđể kết giao bằng hữu?”
Cung Bỉnh Phan nói như thế thật ra là ngầm báo cho Kim Trục Lưu biết hán tử này là ai. Kim Trục Lưu lúc này mới vỡ lẽ, lòng thầm nhủ: “Té ra người này là anh trai của Hồng Anh, bang chủ của Lục Hợp bang Sử Bạch Đô! Chả trách nào Cung Bỉnh Phan bảo mình chạy cho mau”. Đồng thời chàng cũng hiểu tại sao Cung Bỉnh Phan lại có vẻ sợ Sử Bạch Đô, bởi vì Lục Hợp bang và Hồng Anh hội là hai bang hội đối địch nhau trên giang hồ, địa vị của Sử Bạch Đô tương đương với đà chủ của Hồng Anh hội, Cung Bỉnh Phan chẳng qua là một hương chủ của Hồng Anh hội cho nên y không hẳn sợ Sử Bạch Đô, nhưng không thể không kính nể Sử Bạch Đô.
Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Nếu đã không biết thì thôi. Nhưng nếu biết rồi thì làm sao chạy?” Thế rồi chàng trợn mắt, nói: “Ai bảo ta uống say? Ta chưa bao giờ nhận thua cả, mặc y là tửu vương cũng được, tửu bá cũng được, chúng ta phải tỉ thí với nhau mới được!” Chàng vốn chỉ có sáu bảy phần tửu ý, nhưng giả vờ đã say đến tám chín phần.
Sử Bạch Đô cười ha hả: “Hay, hay! Ta rất thích những thiếu niên như thế này. Cung hương chủ, ông không cần lo lắng cho tiểu huynh đệ này, cứ uống say rồi ta sẽ chăm sóc cho y”.
Kim Trục Lưu nói: “Đúng thế, phải có qua có lại, nếu ông uống say ta cũng sẽ chăm sóc cho ông. Được, uống đi nào!” Rồi chàng bưng vò rượu rót đầy chén và ngửa cổ uống cạn.
Sử Bạch Đô giơ ngón tay cái khen: “Tiểu huynh đệ mau mắn lắm!” Rồi cũng uống một bát lớn. Hai người thay phiên nhau uống, chỉ trong chốc lát đã uống hơn chục bát. Bọn họ dùng loại bát lớn, mỗi bát có thể chứa cả cân rượu. Nhưng trước mặt họ có hai bầu rượu ba mươi cân, uống một chục bát chẳng qua chỉ được một phần ba mà thôi.
Chỉ thấy Kim Trục Lưu toát mồ hôi đầm đìa, trên đầu tựa như có một cái lồng hấp, khói trắng bốc lên nghi ngút, dần dần tạo thành một màn sương mù. Bọn tửu bảo trên tửu lầu đều trầm trồ ngạc nhiên vây lại xem. Té ra Kim Trục Lưu tuy đã có mấy phần tửu ý nhưng không hề hồ đồ, chàng biết mình uống rượu không giỏi, nếu thật sự tỉ thí với Sử Bạch Đô, đừng nói là một vò, chỉ cần ba bát thì đã say mèm. Chàng dùng nội công thường thừa dồn rượu ra thành mồ hôi. Cho nên chàng càng uống càng tỉnh. Sử Bạch Đô uống xong mười bát rượu, y đặt bát xuống cả cười: “Tiểu huynh đệ, ngươi không phải thi uống rượu với ta mà tỉ thí nội công!”
Kim Trục Lưu đáp: “Ông chỉ bảo uống rượu thi với ta, chỉ cần uống vào là được. Còn ta dùng cách gì để uống là chuyện của ta!”
Sử Bạch Đô cười lớn: “Đúng thế, ngươi thích uống thế nào cứ mặc kệ, chỉ cần ngươi thắng được ta ta sẽ nhận thua. Nhưng ta không thể chiếm phần tiện nghi của ngươi, ngươi cứ mặc tình uống như thế, ta muốn xem thử tửu lượng của ta lớn hay nội công của ngươi sâu?”
Ý của câu này là muốn thắng bằng tửu lượng chứ không cần thắng bằng nội công.
Kim Trục Lưu không nói lời nào, chàng bưng vò rượu lên tu ừng ực chứ không thèm dùng bát nữa. Trong chớp mắt bụng chàng đã căng lên như một cái trống da. Sử Bạch Đô vỗ bàn khen: “Hay lắm, uống tựa như kình ngạc hút nước trăm sông, tiểu huynh đệ, Sử Bạch Đô này coi như đã phục ngươi!”
Sử Bạch Đô tuy nói thế nhưng trong lòng thì nghi ngờ: “Tên tiểu tử này trẻ tuổi như thế, nội công lại tinh thuần, y là ai?” Sử Bạch Đô kết giao rộng rãi, tuy những thiếu niên anh hùng trong võ lâm y chưa từng gặp nhưng cũng đã nghe tới, suy đi nghĩ lại cũng chẳng biết chàng là đệ tử của nhà nào mà có công lực như thế. Y chợt giật mình: “Chả lẽ hắn là tên ăn mày?”
Bốn đại cao thủ trong Lục Hợp bang đã từng thua trong tay Kim Trục Lưu, lần đầu tên Thanh Phù và Tiêu Lỗi gặp Kim Trục Lưu thì lúc đó chẳng vẫn là một kẻ ăn mày, cho nên về sau bọn họ mới gọi chàng là tên ăn mày.
Sử Bạch Đô đã để ý cái tráp của Kim Trục Lưu để dưới gầm bàn, y cúi đầu xuống nhìn thì thấy cái tráp không phải màu đỏ nhưng bề ngoài thì lại rất giống cái tráp cũ.
Sử Bạch Đô lẳng lặng hất mũi chân, tảng huyền thiết nặng cả trăm cân bị y đá bay lên khiến chiếc bàn vỡ nát.
Sử Bạch Đô quát: “Hay lắm, té ra ngươi là tên tiểu tử họ Kim!” Rồi không màng đến Kim Trục Lưu mà chụp tảng huyền thiết trước.
Kim Trục Lưu đột nhiên xoa da bụng, lảo đảo: “Ôi chao, ta thật sự đã say!” Thế rồi hạ mồm phun ra một vòi rượu.
Sử Bạch Đô phất ống tay áo, vòi rượu hóa thành cơn mưa rượu bay tứ tán, bọn tửu bảo đứng nhìn họ cũng bị Kim Trục Lưu dùng nội công thượng thừa phun rượu trúng, đau đến nỗi kêu oai oái. Sử Bạch Đô tuy tránh được vòi rượu ấy nhưng cảm thấy trước mắt loang loáng, trong khoảnh khắc không dám mở mắt ra.
Kim Trục Lưu thừa thế cướp lại tảng huyền thiết, Sử Bạch Đô dỏng tai lắng nghe, đánh vụt ra một chưởng. Kim Trục Lưu tiếp lấy chưởng ấy của y, kêu lên: “Hảo công phu, ở đây không thể thi triển chúng ta hãy xuống dưới”.
Sử Bạch Đô quát lên: “Hay lắm, ngươi đừng hòng chạy!” Rồi phóng vọt ra cửa sổ đuổi sát theo sau Kim Trục Lưu, cả hai đáp xuống lòng đường. Kim Trục Lưu vẫn chưa cướp được tảng huyền thiết đương nhiên nhảy xuống trước, Sử Bạch Đô thì nghĩ. Cung Bỉnh Phan sẽ cầm giùm mình cho nên yên tâm không sợ Kim Trục Lưu bỏ chạy. Kim Trục Lưu cười nói: “Ta đã muốn đánh với ngươi từ lâu, sao có thể bỏ chạy?” thế rồi trở tay đánh ra một chiêu Long cảnh thủ châu, nhân lúc Sử Bạch Đô chưa đứng vững, chân đã tấn công vào thượng bàn của y.
Sử Bạch Đô gạt ngang ra, tay trái co lại vỗ vù ra một chưởng. Kim Trục Lưu kêu lên: “Ối chao, không xong, chưởng lực thật lợi hại!” Rồi chàng hạ người, làm ra vẻ như không chịu nổi chưởng lực của y, Sử Bạch Đô hừ một tiếng: “Ngươi đã biết lợi hại rồi sao?’ Chưa dứt lời, Kim Trục Lưu quét ngang ra một chưởng, năm ngón tay khép lại điểm xuống be sườn của y.
Kim Trục Lưu sử dụng thủ pháp điểm huyệt độc môn của nhà mình, Sử Bạch Đô bị cú quét ấy của chàng che mắt, không ngờ chàng lại dám lướt người lên, bất thần xỉa một chỉ vào be sườn của mình.
Kim Trục Lưu bị y đánh lui hai bước, kêu lên: “Ngã rồi, ngã rồi!” Sử Bạch Đô cảm thấy be sườn tê rần, vội vàng vận khí giải huyệt, cả giận quát: “Hảo tiểu tử, ngươi thật quỷ quyệt?” Y không những chẳng ngã xuống mà chưởng lực càng mạnh hơn.
Kim Trục Lưu cả kinh, lòng thầm nhủ: “Chả trách nào Sử Bạch Đô có thể hùng bá giang hồ, quả nhiên có mấy phần công phu chân thực!” Thủ pháp điểm huyệt độc [font="times new roman"]môn của Kim Trục Lưu đã nhiều lần chế ngự cả cường địch, cả những người võ học thâm sâu như Văn Đạo Trang mà cũng không biết cách giải, nhưng không ngờ Sử Bạch Đô không biết cách giải cũng có thể vận khí phá huyệt đạo, chỉ điều đó cũng đã đủ thấy nội công của y hơn hẳn Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu đương nhiên thất kinh, Sử Bạch Đô lại càng tức giận hơn. Y là nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ, nay trúng kế của một tên tiểu tử hậu sinh, y đã bị điểm trúng huyệt đạo coi như đã thua một chiêu. Trong lúc cả giận hai chưởng cùng phát ra, hận không đánh chết Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu sử dụng Thiên la bộ pháp né tránh, nhưng chàng vừa tránh vừa trả đòn, hai chưởng phân ra hóa giải chưởng lực của Sử Bạch Đô.
Sử Bạch Đô cũng không khỏi thầm bội phục, trong lòng thầm nhủ: “Chả trách nào bốn đại cao thủ trong bang của mình cùng bọn Văn Đạo Trang, Sa Thiên Phong đều thua trong tay của y!”
Sử Bạch Đô đánh liên tục ba chưởng, lực đạo của chưởng trước chưa hết, luồng chưởng lực phía sau đã đồn tới. Ba chưởng liên hoàn này tên gọi Long môn kích lãng, chưởng lực phát ra hết như dời núi lấp biển, dù có mình đồng da sắt cũng khó chống chọi nổi.
Kim Trục Lưu bị y đẩy lùi mấy bước, Sử Bạch Đô quát: “Ngươi giấu muội muội của ta ở đâu. Nói mau, nếu không ta lấy mạng ngươi!”
Chính là: Thi rượu chưa kịp phân thắng bại, giữa đường lại cùng nhau tỷ võ.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 16 phân giải. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 08:05:04Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Mười Sáu 
[/align]
Huyền thiết ra oai đấu bang chủ
Giữa đường vì nghĩa làm ông mai
[/align]Kim Trục Lưu cười lớn: “Ta cũng đang muốn biết tung tích của Hồng Anh, ngươi lại hỏi ta. Hì hì, thật hổ danh ngươi là một bang chủ, chỉ biết khoác lác!”
Sử Bạch Đô trừng mắt quát: “Ta khoác lác thế nào?”
Kim Trục Lưu nói: “Một chút bản lĩnh của ngươi thì làm sao lấy được mạng ta? Ngươi không phải đã quá khoác lác hay sao?”
Sử Bạch Đô nổi trận lôi đình, không đáp lại mà lao tới tấn công. Nội công của Kim Trục Lưu không bằng y, nhưng võ công của chàng thì ảo diệu hơn y. Kim Trục Lưu thấy chiêu phá chiêu, gặp thức phá thức, nếu không thể phá thì né tránh. Trong chớp mắt năm mươi chiêu đã trôi qua mà Sử Bạch Đô chẳng làm gì được chàng.
Sử Bạch Đô tuy không lấy được mạng Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu cũng đã rất mệt mỏi, bề ngoài nhìn thì chàng rất ung dung tự nhiên, nhưng thực sự đã dốc hết sức bình sinh ra mới có thể ngang tài ngang sức với Sử Bạch Đô.
Trong lúc tích chiến chỉ nghe từng tiếng bình bình vang lên không ngớt bên tai, bảng hiệu của các cửa hiệu hai bên đường đều đã bị quyền phong chưởng lực của họ đánh rơi xuống đường, người đi đường trốn sạch, các cửa tiệm đều sợ bị vạ lây nên đành đóng cửa lại.
Kim Trục Lưu giải xong một chiêu, quát: “Sử bang chủ, ta có lời khuyên nhủ, nghe hay không là tùy ngươi”.
Sử Bạch Đô hừ một tiếng: “Tên tiểu tử nhà ngươi muốn dạy ta?”
Kim Trục Lưu nói: “Không dám. Nhưng ngươi có biết tại sao em gái của ngươi bỏ trốn hay không? Ngươi trách người trước tiên phải nên trách mình!”
Sử Bạch Đô đánh ra một quyền, quát hỏi: “Ngươi nói thế là ý gì?”
Kim Trục Lưu né tránh đường quyền của y, đáp trả: “Ngươi tưởng Sử cô nương bỏ trốn là vì ta đấy ư? Sai rồi, sai lắm! Đó là hoàn toàn là do ngươi không tốt đã làm ô nhục gia môn!”
Sử Bạch Đô quát: “Ngươi nói càn nữa ta...” Y vốn muốn nói “ta sẽ đánh chết ngươi”, đó là câu nói đầu môi chót lưỡi của y. Nhưng lúc này thì chợt nghĩ lại mình cũng chưa chắc lấy được mạng của Kim Trục Lưu, nếu nói thêm một lần nữa thì sẽ bị đối phương chê cười, cho nên đành im lặng.
Kim Trục Lưu ỡm ờ: “Ngươi muốn thế nào thì ta mặc kệ. Nhưng ta không nói thì không được. Nói thực cho ngươi biết, ta và lệnh muội chỉ là bằng hữu mới quen nhau, ta làm sao dụ dỗ nàng bỏ chạy được? Ngươi không nên buộc nàng lấy người mình không yêu”.
Sử Bạch Đô tức giận nghiến răng nói: “Ả nha đầu ấy đã nói tất cả cho ngươi biết?”
Kim Trục Lưu nói: “Ta và lệnh muội tuy mới quen nhau, nhưng ta chỉ muốn lấy công bằng cho nàng. Tên họ Soái kia chỉ là hạng bại hoại trong võ lâm, sao ngươi lại ép em gái của mình gả cho y? Với võ công của ngươi vốn là có thể trở thành một nhân vật nổi tiếng, cần gì phải a dua bọn quyền quý, quỳ gối trước triều đình?”
Sử Bạch Đô cả giận quát: “Sao lại có lý như thế này, tên tiểu tử nhà ngươi dám dạy đời ta!”
Kim Trục Lưu vừa hóa giải đòn tấn công của y, vừa chậm rãi: “Không phải ta dạy đời ngươi mà ta muốn tốt cho ngươi. Sử bang chủ, ta thật lòng khuyên ngươi, nếu ngươi có thể thay đổi, không những huynh muội các ngươi có thể thân thiết như xưa, mà những người hiệp nghĩa trên giang hồ cũng sẽ tha thứ cho ngươi”.
Sử Bạch Đô tức giận đến nỗi thất khiếu bốc khói, quát ầm lên: “Ngươi đã nói xong chưa? Hừ, hừ, Sử Bạch Đô xưa nay độc lai độc vãng, thích làm gì là làm, cần gì ai phải thứ lỗi!”.
Kim Trục Lưu xua tay: “Ngươi đã không nghe lời hay, ta cũng đành chịu. Được, nói nhiều cũng vô ích, hết rồi!” Sử Bạch Đô nổi giận, quyền chưởng đều tung ra.
Sử Bạch Đô thầm nhủ: “Dù mình giết không được tên tiểu tử này ít nhất cũng chỉ có thể lưỡng bại câu thương, công lực của tên tiểu tử không bằng mình, đôi bên bị thương thì chắc chắn y sẽ nặng hơn mình?” Sử Bạch Đô đã có ý nghĩ này cho nên chiêu nào cũng toàn là sát thủ.
Kim Trục Lưu từ ngày xuất đạo cho đến nay chưa bao giờ gặp phải đối thủ lợi hại như thế này. Cuộc chiến này nguy hiểm hơn trận chiến với Văn Đạo Trang ở nhà Giang Hải Thiên, dù Kim Trục Lưu đã dốc hết sức bình sinh, đấu được năm sáu mươi chiêu vẫn không thể lấy lại cân bằng, chàng mệt đến nỗi mồ hôi đầm đìa. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Nếu cứ đánh nữa, dù không thất bại e rằng cũng tổn hao nguyên khí”.
Cung Bỉnh Phan đứng một bên xem, thấy Kim Trục Lưu dần dần đuối thế, chợt nảy ra một ý nên bước tới nói: “Sử bang chủ đừng vội, tôi sẽ giúp ông! Hảo tiểu tử, ngươi đám đắc tội với Sử bang chủ, ta sẽ lấy mạng ngươi trước!” Dứt lời ném cái tráp về phía Kim Trục Lưu.
Sử Bạch Đô quát: “Sử mổ này đâu cần người khác giúp đỡ, tránh qua một bên! Đừng cản trở ta!” Sử Bạch Đô là nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ, lúc này đã chiếm thượng phong, làm sao có thể không màng đến thân phận của mình mà cần người khác giúp đỡ? Chính vì y nể mặt Cung Bỉnh Phan là hương chủ của Hồng Anh không được. Nói thực cho ngươi biết, ta và lệnh muội chỉ là bằng hữu mới quen nhau, ta làm sao dụ dỗ nàng bỏ chạy được? Ngươi không nên buộc nàng lấy người mình không yêu”.
Sử Bạch Đô tức giận nghiến răng nói: “Ả nha đầu ấy đã nói tất cả cho ngươi biết?”
Kim Trục Lưu nói: “Ta và lệnh muội tuy mới quen nhau, nhưng ta chỉ muốn lấy công bằng cho nàng. Tên họ Soái kia chỉ là hạng bại hoại trong võ lâm, sao ngươi lại ép em gái của mình gả cho y? Với võ công của ngươi vốn là có thể trở thành một nhân vật nổi tiếng, cần gì phải a dua bọn quyền quý, quỳ gối trước triều đình?”
Sử Bạch Đô cả giận quát: “Sao lại có lý như thế này, tên tiểu tử nhà ngươi dám dạy đời ta!”
Kim Trục Lưu vừa hóa giải đòn tấn công của y, vừa chậm rãi: “Không phải ta dạy đời ngươi mà ta muốn tốt cho ngươi. Sử bang chủ, ta thật lòng khuyên ngươi, nếu ngươi có thể thay đổi, không những huynh muội các ngươi có thể thân thiết như xưa, mà những người hiệp nghĩa trên giang hồ cũng sẽ tha thứ cho ngươi”.
Sử Bạch Đô tức giận đến nỗi thất khiếu bốc khói, quát ầm lên: “Ngươi đã nói xong chưa? Hừ, hừ, Sử Bạch Đô xưa nay độc lai độc vãng, thích làm gì là làm, cần gì ai phải thứ lỗi!”.
Kim Trục Lưu xua tay: “Ngươi đã không nghe lời hay, ta cũng đành chịu. Được, nói nhiều cũng vô ích, hết rồi!” Sử Bạch Đô nổi giận, quyền chưởng đều tung ra. Sử Bạch Đô thầm nhủ: “Dù mình giết không được tên tiểu tử này ít nhất cũng chỉ có thể lưỡng bại câu thương, công lực của tên tiểu tử không bằng mình, đôi bên bị thương thì chắc chắn y sẽ nặng hơn mình?” Sử Bạch Đô đã có ý nghĩ này cho nên chiêu nào cũng toàn là sát thủ.
Kim Trục Lưu từ ngày xuất đạo cho đến nay chưa bao giờ gặp phải đối thủ lợi hại như thế này. Cuộc chiến này nguy hiểm hơn trận chiến với Văn Đạo Trang ở nhà Giang Hải Thiên, dù Kim Trục Lưu đã dốc hết sức bình sinh, đấu được năm sáu mươi chiêu vẫn không thể lấy lại cân bằng, chàng mệt đến nỗi mồ hôi đầm đìa. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Nếu cứ đánh nữa, dù không thất bại e rằng cũng tổn hao nguyên khí”.
Cung Bỉnh Phan đứng một bên xem, thấy Kim Trục Lưu dần dần đuối thế, chợt nảy ra một ý nên bước tới nói: “Sử bang chủ đừng vội, tôi sẽ giúp ông! Hảo tiểu tử, ngươi đám đắc tội với Sử bang chủ, ta sẽ lấy mạng ngươi trước!” Dứt lời ném cái tráp về phía Kim Trục Lưu.
Sử Bạch Đô quát: “Sử mổ này đâu cần người khác giúp đỡ, tránh qua một bên!
Đừng cản trở ta!” Sử Bạch Đô là nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ, lúc này đã chiếm thượng phong, làm sao có thể không màng đến thân phận của mình mà cần người khác giúp đỡ? Chính vì y nể mặt Cung Bỉnh Phan là hương chủ của Hồng Anh [font="times new roman"]khó ứng phó.
Kim Trục Lưu múa cái tráp đựng huyền thiết, đẩy Sử Bạch Đô thối lùi ba trượng, chàng đột nhiên xoay người bỏ chạy.
Sử Bạch Đô đang sợ chàng đuổi theo, không ngờ trái lại chàng đã xoay người bỏ chạy, y ngạc nhiên thầm nhủ: “Tên tiểu tử làm trò gì thế nào?” Chỉ thấy Kim Trục Lưu phóng người vọt lên thớt ngựa của y.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Xin đa tạ đã tặng huyền thiết và ngựa tốt. Niệm tình hai món quà này, ta không đánh ngươi nữa. Ha ha, ta đi đây!”
Con ngựa của Sử Bạch Đô vốn là loại ngựa Đại Uyển nổi tiếng, nay đã bị Kim Trục Lưu cướp mất, tức giận phóng ba mũi tiền tiêu về phía Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu dùng cái tráp đựng huyền thiết đánh rơi một mũi, còn hai mũi kia thì đã rơi xuống ở sau lưng ngựa, thật ra Sử Bạch Đô cũng biết không làm gì được Kim Trục Lưu, chẳng qua y ném mũi tiền tiêu để trút giận mà thôi.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Ngươi đừng nhỏ mọn như thế, ta đã lấy huyền thiết của ngươi. Chẳng qua ta chỉ mượn con ngựa này của ngươi mà thôi. Đến Bắc Kinh ta sẽ trả lại cho ngươi!” Miệng thì nói nhưng đã ra roi chạy mất, khi nói đến chữ “trả” thì đã phóng cả mấy trượng.
Kim Trục Lưu đánh bại Sử Bạch Đô, lại lấy được ngựa tốt, trong lòng đắc ý vô cùng, nghĩ bụng: “Nếu mình gặp Hồng Anh kể cho nàng nghe, chắc nàng sẽ buồn cười lắm. Nàng đã bị y bức hiếp, mình sẽ trả thớt ngựa này cho nàng, để nàng trút giận trước mặt y”, rồi lại nghĩ: “Mình đắc tội Sử Bạch Đô, chỉ e y sẽ ngăn cản mình với nàng”. Nghĩ đến đây, chàng lại cười gượng: “Không biết người ta có tốt với mình không, sao lại nghĩ nhiều đến thế?”
Thớt tuấn mã phóng nhanh như điện chớp, Kim Trục lưu ngồi trên lưng ngựa huơ chân múa tay lớn giọng hát bài Liên hoa lạc, người đi đường chỉ tưởng chàng là kẻ điên cho nên vội vàng né tránh.
Không biết đã chạy bao lâu, chợt thấy có một thớt ngựa ở phía trước chạy tới, người ngồi trên lưng ngựa thấy chàng vội vàng kéo mũ xuống che kín nửa mặt của mình, Kim Trục Lưu vẫn chưa kịp nhìn thấy rõ mặt của y, ngựa đã chạy lên sườn núi. Kim Trục Lưu chột dạ nghĩ: “Không biết mình đã gặp người này ở đâu?” Vội vàng phóng ngựa đuổi lên sườn núi nói: “Bằng hữu, ngựa của ngươi chạy trên đấtbằng không bằng ngựa của ta, chúng ta hãy chạy đua trên đường núi xem thử”.
Người ấy thấy Kim Trục Lưu đuổi tới thì càng kinh hoảng, biết không thoát được cho nên chỉ đành nhảy xuống ngựa vái dài Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu vừa nhìn thì cười: “Té ra là ông”. Người ấy chính là Phong Tử Siêu.
Phong Tử Siêu rung giọng: “Kim đại hiệp, lần đó gây sự ở nhà lệnh sư huynh toàn là chủ ý của Văn Đạo Trang, không liên quan gì đến tôi”. Y đã tận mắt thấy Kim Trục Lưu đánh bại Văn Đạo Trang, cho nên khi gặp chàng thì tựa như chuột gặp mèo. Kim Trục Lưu cười: “Ngươi và Văn Đạo Trang là cá mè một lứa sao lại bảo chẳng liên quan gì? Nhưng ngươi quá nhát gan cho nên bỏ chạy trước”.
Phong Tử Siêu tưởng rằng Kim Trục Lưu sắp giết mình cho nên hoảng sợ đến nỗi mặt trắng bệt. Không ngờ Kim Trục Lưu chợt cười ha hả: “Ngươi không đáng làm bẩn kiếm của ta. Nhưng ngươi phải làm cho ta một việc”. Phong Tử Siêu nói: “Kim đại hiệp cứ dạy”. Kim Trục Lưu nói: “Con gái của ngươi đâu?” Phong Tử Siêu tỏ vẻ khổ sở nói: “Tôi cũng đang tìm tung tích của nó”. Rồi nghĩ bụng: “Chả lẽ y gặp con gái mình?”
Kim Trục Lưu hỏi: “Có phải ngươi tìm cô ta về rồi ép gả cho Văn Thắng Trung hay không?”

[/align]Phong Tử Siêu vội vàng đáp: “Không, không! Tên tiểu tử họ Văn làm sao sánh được với Kim đại hiệp, y chỉ là hạng cóc ghẻ làm sao ăn thịt thiên nga, thực ra cha con chúng tôi đều coi thường y”. Trong lúc hoảng hốt y cứ nói bừa mà chẳng kịp nghĩ gì cả.
Kim Trục Lưu nói: “Được, đã như thế ta sẽ làm mai cho ngươi, ta muốn ngươi gả con gái cho Tần Nguyên Hạo, nếu không ta sẽ đập gãy hai chân của ngươi!”
Phong Tử Siêu lúc này mới biết Kim Trục Lưu làm mai cho bằng hữu, chứ không phải cho mình, lòng thầm nhủ: “Sao trên đời lại có ông mai ngang ngược đến thế này!” Nhưng miệng thì không thể không nói : “Vâng, vâng. Kim đại hiệp làm mai đã là nể mặt tôi lắm, tôi làm sao không nghe theo?” [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 07:59:31Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu cười: “Ngươi đừng nói thế này mà lại nghĩ thế khác. Nếu ngươi ép gả con gái của mình cho người khác, ngươi hãy coi chừng đôi chân của mình. Đừng tưởng rằng có thể trốn được ta!”
Phong Tử Siêu nói: “Tôi chỉ cần tìm ra con gái, sẽ lập tức đưa nó đến núi Võ Đang tìm Tần Nguyên Hạo. Kim đại hiệp, ngài hãy yên tâm”.
Kim Trục Lưu: “Cũng không cần gấp như thế, chỉ cần ngươi đừng quản chuyện của họ”. Phong Tử Siêu vội vàng vâng dạ rồi bảo: “Tất cả nghe theo lời dặn của Kim đại hiệp”.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Nể mặt con gái của ngươi, hôm nay ta tha cho ngươi. Nhưng ta muốn mượn ngươi một ít tiền”.
Phong Tử Siêu vội vàng móc ra: “Kim đại hiệp cứ lấy mà dùng”.
Kim Trục Lưu cười nói: “Ngươi muốn tặng cho ta. Cũng được! Coi như là tiền trả công làm mai!”
Kim Trục Lưu vẫn còn ngà ngà say, đã làm một chuyện hay thì rất đắc ý, buông giọng cười lớn rồi phóng ngựa đi. Lòng thầm nhủ: “Tên tiểu tử Tần Nguyên Hạo này rất nhút nhát, chắc chắn sẽ không biết cầu hôn. Nhưng nay đã có mình làm mai, chắc chắn hôn sự của y sẽ thành. Nhưng Tần Nguyên Hạo có mình làm mai, còn mình thì ai làm mai cho đây?”
Kim Trục Lưu phóng ngựa xé gió, chạy được một đoạn thì đến một thị trấn, lúc này trời đã tối, chàng tìm một khách sạn lớn nhất trú qua đêm. Chàng vừa nhảy xuống ngựa, ông chủ của khách sạn đã đích thân dắt người ra cung kính chờ chàng. Kim Trục Lưu thấy họ ân cần với mình như thế thì hơi ngạc nhiên.
Kim Trục Lưu vừa đánh nhau một trận, lại cưỡi ngựa phóng cả trăm dặm đường, trên người đầy đất. Vừa nhảy xuống ngựa chàng nói: “Ta chỉ là một tiểu tử nghèo, các người cần gì phải khách sáo với ta như thế”.
Ông chủ khách sạn ngạc nhiên, lập tức vái dài nói: “Ông trẻ đã nói đùa, tiểu điểm được ông trẻ ghé đến đã rất vinh hạnh, nếu tiếp đãi không chu toàn xin hãy bỏ quá cho”. “Ông trẻ” là từ để thể hiện sự tôn kính đối với người khác của nơi này, nhưng Kim Trục Lưu vẫn còn trẻ tuổi, nghe ông chủ khách sạn cứ gọi mình là “Ông trẻ” thì không khỏi cảm thấy buồn cười.
Kim Trục Lưu cười bảo: “Ông cũng biết cách tiếp đãi lắm, đáng tiếc ta chỉ ở đây một đêm. Ông hãy chăm sóc hộ ta thớt ngựa kia”. Ông chủ khách sạn cúi khom người nói: “Ông trẻ hãy yên tâm, chúng tôi sẽ chăm sóc cẩn thận”. Rồi lập tức căn dặn người làm tắm rửa chải chữa cho thớt ngựa.
Ông chủ khách sạn lại nói: “Tiểu nhân đã chuẩn bị cho ông trẻ một căn phòng tốt nhất”. Kim Trục Lưu lắc đầu: “Phòng có tốt hay không ta không cần, ta chỉ muốn một căn phòng đối diện chuồng ngựa”. Ông chủ khách sạn ngỡ ngàng, nói chàng hiểu ý: “Ông trẻ hãy yên tâm, không có kẻ nào dám đánh cắp ngựa quý của ông trẻ”.
Nhưng ông chủ khách sạn vẫn tìm một căn phòng đối diện với chuồng ngựa rồi đích thân bưng cơm rượu lên cho chàng. Kim Trục Lưu cười lắc đầu: “Ta làm sao có thể ăn nhiều như thế?” Ông chủ khách sạn cung kính đáp: “Tiểu nhân không biết khẩu vị của ông trẻ, chỉ đành kêu bọn chúng làm nhiều món như thế. Ông trẻ cứ tùy ý nếm qua”.
Kim Trục Lưu cảm thấy ái ngại, móc nén bạc ra rồi nghĩ bụng: “May mà mình có bạc của Phong Tử Siêu, nếu không đành phải ăn quịt”. Té ra Kim Trục Lưu đã dùng hết bạc, chỉ còn lại một nén vàng, nhưng không tiện sử dụng ở khách sạn nhỏ này.
Chủ khách sạn không đợi Kim Trục Lưu nói xong đã vội vàng trả lời: “Tiểuđiểm được ông trẻ ghé thăm là đã may mắn lắm, sao có thể dám nhận bạc của ông trẻ”. Kim Trục Lưu cương quyết: “Sao lại có lẽ này, các người làm ăn phải có vốn, tại sao có thể ăn không được?” Dù chàng nói thế nào, chủ khách sạn vẫn không chịu nhận, mặt lộ vẻ lo lắng. Kim Trục Lưu đành thu bạc lại, nói: “Thôi được, ông đã muốn lỗ vốn thì ta chỉ đành chịu”. Rồi nhủ thầm: “Đợi khi mình đi thì len lén bỏ vàotủ của y là được”
Kim Trục Lưu ăn xong cơm tối, càng nghĩ càng cảm thấy lạ, thực sự không biết lý do gì chủ khách sạn lại đối đãi với mình như thế. Trong lòng có chỗ hoài nghi cho nên đêm ấy chàng chỉ dám nhắm mắt đả tọa chứ không dám ngủ say.
Đến khoảng canh ba thì chợt nghe bên ngoài có tiếng ngựa hí, có hai người khách đến. Chủ khách sạn tại đích thân tiếp đãi, Kim Trục Lưu vừa nghe giọng nói của họ thì không khỏi thất kinh, té ra hai người ấy chính là Thanh Phù đạo nhân và Đổng Thập Tam nương. Đổng Thập Tam nương vốn đi cùng Viên Hải, nhưng không biết thế nào lại di cùng Thanh Phù.
Đêm khuya vắng người, Kim Trục Lưu có công phu thính phong biện khí, thính giác đương nhiên nhạy bén hơn người bình thường, bên ngoài tuy nói chuyện rất nhỏ nhưng chàng vẫn có thể nghe rõ ràng.
Chỉ nghe Đổng Thập Tam nương nói: “Ở đây có nữ tử giang hồ khả nghi không?” Chủ khách sạn đáp: “Không có nữ khách nào đi riêng cả”. Thanh Phù hỏi: “Vậy có bằng hữu đồng đạo hay không?” Ông chủ khách sạn nói: “Tiểu nhân đang định bẩm cáo với hai vị hương chủ, có một huynh đệ của quý bang đang ở trong tiểu điểm”. Đổng Thập Tam nương hỏi: “Ồ, người ấy là ai?” Chủ khách sạn đáp: “Tôi không biết”. Đổng Thập Tam nương hỏi gặng: “Sao ngươi lại không biết?” Chủ khách sạn trả lời: “Y cưỡi con ngựa của Sử bang chủ”. Nói đến đây, Đổng Thập Tam nương lộ vẻ thất kinh, vội vàng hỏi: “Có chuyện như thế ư? Ngươi có nhìn lầm không?” Ông chủ quán trả lời: “Sử bang chủ đã từng đến tiểu điểm vài lần, tiểu nhân không thể nào nhìn lầm con ngựa của ngài”.
Thanh Phù nói” “Người cưỡi con ngựa ấy như thế nào?”
Lão chủ quán trả lời: “Hình như là một thiếu niên khoảng hai mươi tuổi”.
Thanh Phù càng ngạc nhiên hơn: “Thật kỳ lạ! Chả lẽ...”
Ông chủ quán trả lời: “Tôi cũng cảm thấy kỳ lạ, y trẻ tuổi như thế mà được Sử bang chủ trọng dụng. Nhưng đó đúng là con ngựa của Sử bang chủ cho nên y tuy không tiết lộ thân phận, tiểu nhân cũng không dám cói thường”.
Kim Trục Lưu chợt vỡ lẽ ra, nhủ thầm: “Té ra chủ nhân của khách sạn này có liên hệ với Lục Hợp bang, y thấy con ngựa của mình, chỉ tưởng là Sử Bạch Đô cho mình mượn, cho nên mới cung kính với mình như thế”.
Thanh Phù lẩm bẩm: “Chả lẽ đó là chuyện của tên tiểu tử ấy?” Đổng Thập Tam nương trầm ngâm không nói. Lão chủ chưa biết thế nào cho nên hỏi: “Hai vị hương chủ không biết kẻ này có cần tôi đến gọi y xuống gặp không?”
Đổng Thập Tam nương nói: “Ngươi không cần kinh động y, để ta lên xem thử. Thanh Phù đạo trưởng, ông hãy ra chuồng ngựa xem nếu đúng là ngựa quý của bang chủ thì đừng để nó lọt vào tay người ngoài”.
Thanh Phù và Đổng Thập Tam nương đều đã đoán được rằng đó chính là Kim Trục Lưu, nhưng vẫn còn hơi hoài nghi, bởi vì với võ công của Kim Trục Lưu, hình như không thể nào chiếm được con ngựa của Sử Bạch Đô, Đổng Thập Tam nương nghĩ bụng: “Tên tiểu từ này võ công rất cao cường, giả sử nếu thật là y, trước tiên mình phải cho y nếm hai mũi độc châm”. Mụ không cho lão chủ khách sạn gọi Kim Trục Lưu té ra là chuẩn bị tìm cách ám toán chàng.
Đổng Thập Tam nương rất e ngại Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu cũng không nắm chắc phần thắng. Võ công của Đổng Thập Tam nương không kém chàng bao nhiêu, lại thêm Thanh Phù là cao thủ đứng hàng thứ ba trong Lục Hợp bang, ngoài Sử Bạch Đô và Đổng Thập Tam nương là đến y. Hai người họ liên thủ đương nhiên Kim Trục Lưu không bằng. Cho nên khi Đổng Thập Tam nương lên lầu, chàng đã nghĩ xong kế thoát thân.
Đổng Thập Tam nương lấy ra một ống thổi nhỏ, đâm vào trong khe cửa, nhắm thẳng vào giường ngủ, thổi ra ba mũi độc châm, đó là loại độc châm kiến huyết phong hầu, chỉ cần da chỉ hơi bị trầy xước thì khó giữ mạng. Mụ nghĩ bụng: “Dù không bắt được tên tiểu tử này, y nhất định cũng sẽ nhảy ra, một khi y nhảy ra thì mình tiếp tục thổi độc châm, lúc đó chắc chắn sẽ trúng?”
Nào ngờ mụ ta thổi độc châm vào mà chẳng thấy động tĩnh gì. Đổng Thập Tam nương ngạc nhiên nghĩ bụng: “Chả lẽ độc châm đã bắn trúng vào cổ họng của y, khiến cho y chết không kịp ngáp?”
Đổng Thập Tam nương quyết phải xem cho rõ ràng, lòng thầm nhủ: “Dẫu tên tiểu tử này chưa trúng độc châm, với võ công của mình trong vòng vài chiêu cũng sẽ không bại trong tay của y. Thanh Phù đến đây thì chúng ta sẽ nắm chắc phần thắng. Có điều chỉ hơi tốn công mà thôi. Nhưng tên tiểu tử này rất xảo quyệt, đừng mắc mưu của y”.
Đổng Thập Tam nương một tay múa tít cây roi mềm, một tay cầm ống thổi mạnh dạn đạp cửa xông vào! Mụ ta đã cẩn thận phòng bị không ngờ vẫn mắc mưu của Kim Trục Lưu.
Chỉ nghe ào một tiếng, mùi thối tỏa ra. Té ra Kim  Trục Lưu đã treo trước cửa một cái bình tiểu, Đổng Thập Tam nương đạp cửa xông vào lập tức người bị tưới nước tiểu ướt đẫm. Đổng Thập Tam nương xưa nay rất thích sạch sẽ, lần này quả thật đã khiến cho mụ giở khóc giở cười.
Đổng Thập Tam nương nổi giận không màng đến nước tiểu, quét tới một roi, đương nhiên roi đó chẳng trúng ai. Đổng Thập Tam nương vốn là kẻ già dặn giang hồ, sau khi cả giận thì chợt nhủ thầm: “Tên tiểu tử này bỡn cợt mình, chả lẽ còn nằm trên giường chịu đòn?” Quả nhiên ngay lúc này, chỉ nghe Thanh Phù đạo nhân ở bên dưới kêu: “Tứ muội hãy mau xuống đây! Tên tiểu tử ở đây!”
Té ra sau khi Kim Trục Lưu sắp đặt mưu kế thì chuồn ra ở cửa sổ phía sau. Chàng nhanh hơn Thanh Phù đạo nhân một bước, cả hai người chạm mặt ở chuồng ngựa.
Thanh phù đạo nhân quét cây phất trần chụp xuống đầu, định ngăn cản Kim Trục Lưu cướp ngựa. Sợi tơ của cây phất trần này vốn là Ô kim huyền tơ, cho nên có thể đâm vào huyệt đạo của đối phương, cũng có thể coi là một món binh khí hiếm có. Nhưng gặp phải Kim Trục Lưu thì đã mất linh.
Kim Trục Lưu vẫy ra một đóa kiếm hoa, kiếm quang lướt tới chỉ nghe tiếng xoèn xoẹt vang lên. Cây phất trần của Thanh Phù đạo nhân chưa kịp đánh vào người chàng thì tơ phất trần đã bị chàng chém mất một đoạn. Thanh Phù đạo nhân hoảng hồn thối lui.
Lúc này Kim Trục Lưu đã phóng vào chuồng ngựa, dắt con ngựa quý ra. Thanh Phù đạo nhân liều chết tấn công, cản không cho chàng phóng lên lưng ngựa.
Kim Trục Lưu quát: “Hay lắm, tên lỗ mũi trâu nhà ngươi chắc đã chán sống, ta không cần con ngựa này nữa, trước tiên phải giết chết ngươi!” Tức thì tảng huyền thiết lao về phía Thanh Phù đạo nhân, Thanh Phù đạo nhân cả kinh chỉ đành thối lui. Đổng Thập Tam nương giận dữ chạy tội, quát: “Hảo tiểu tử, dám bỡn cợt lão nương, ngươi đừng chạy?”
Kim Trục Lưu đánh lui Thanh Phù đạo nhân, cười ha hả, lúc này chàng đã phóng lên lưng ngựa, miệng rối rít: “Thối quá, thối quá! Ta làm sao dám chọc giận mụ đàn bà thối như ngươi, ta phải đi đây!”
Đổng Thập Tam nương quét tới một roi, nhưng roi này lại hụt, trái lại thớt ngựa tung vó, bùn bắn đầy mặt. Đổng Thập Tam nương tức giận đến nỗi thất khiếu bốc khói, chỉ nghe được tiếng cười của Kim Trục Lưu từ xa vọng tới, lúc này chàng đã biến mất trong màn đêm.
Kim Trục Lưu chạy được một đoạn thì chợt nghĩ: “Bọn chúng vừa vào đã hỏi có nữ tử giang hồ nào hay không, chả lẽ Sử Hồng Anh cũng đến đây?”
Chàng chưa nghĩ xong thì chợt nghe tiếng vó ngựa vọng tới. Kim Trục Lưu nghe có bốn thớt ngựa, chàng tỏ mò thầm nhủ: “Nửa đêm canh ba mà có một toán người chạy trên đường, không biết là vì chuyện.gì?”
Kim Trục Lưu là người thích lo chuyện bao đồng, cho nên phóng ngựa đuổi về phía ấy, không bao lâu thì đã đuổi kịp.
Dưới ánh trăng mờ nhạt, chỉ thấy trên thớt ngựa đầu tiên là một thiếu nữ, còn ba thớt khoái mã ở phía sau trang đuổi theo nàng. Kim Trục Lưu nhận ra hai trong số người ấy là Cao Đại Thành và Đỗ Đại Nghiệp, còn thiếu nữ chạy ở phía trước vì quá xa nên Kim Trục Lưu không biết đó có phải là Sử Hồng Anh hay không. Trong số ba người đuổi theo, có một người Kim Trục Lưu không quen biết, ngựa của người này chạy rất nhanh, lúc này y chỉ cách thiếu nữ khoảng mấy trượng.
Chỉ nghe người ấy quát: “Ả nha đầu nhà ngươi thật lớn gan, vật của bọn ta mà [font="times new roman"]ngươi cũng dám cướp!” Lúc này khoảng cách giữa hai người đã gần lại, y giở cây trường thương, đâm về phía thớt ngựa trước mặt. Thiếu nữ ấy gạt lại một kiếm, đánh ra một chiêu Phất vũ phiên vân, đẩy cây thương cuộn hai vòng, phá được chiêu này của y. Tuy nàng phá được chiêu số của kẻ địch nhưng người đã lảo đảo, đành nhảy xuống ngựa.
Thiếu nữ ấy quay đầu lại, Kim Trục Lưu đã có thể nhìn rõ ràng, té ra đó chẳng phải là Sử Hồng Anh mà là Phong Điệu Thường. Kim Trục Lưu nhìn rõ thì trong lòng hơi thất vọng nhưng cũng cảm thấy bất ngờ.
Người đánh Phong Diệu Thường rơi xuống ngựa kêu ồ một tiếng: “Chúng ta đã tìm lầm người, kiếm pháp của ả này không giỏi, ả... hình như ả là...” Nói chưa dứt, chợt y kêu ối chao một tiếng rồi ngã xuống ngựa. Té ra Kim Trục Lưu sợ y hại Phong Diệu Thường cho nên lấy ra một miếng bạc lẻ làm ám khí, ném vào huyệt đạo ở sau lưng y.
Chính là: Phải lấy bạc lẻ làm ám khí, trừng trị kẻ ác nỗi lương duyên.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, môi xem hồi 17 phân giải.[/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-05 23:33:55Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Mười Bảy
[/align]
Nghiêng nước nghiêng thành khó gặp mặt
Vui sơn vui thủy dễ quên về
 
[/align]Kim Trục Lưu đánh ngã hán tử ấy, hai chân chàng kẹp mạnh, thớt ngựa phóng tới như bay. Lúc đầu Cao Đại Thành còn tưởng Kim Trục Lưu là người trong chốn hắc đạo như y, cũng đuổi theo thiếu nữ này, cho nên tuy biết ở phía sau có một người nhưng cũng không để ý, lúc này thấy hán tử ở trước mặt ngã ngựa dù mới thất kinh, vội vàng quay đầu lại.
Kim Trục Lưu quát: “Hay lắm, các người đã quen thói giặc cướp, lại dám bắt nạt phụ nữ!” Rồi thúc ngựa lên giơ tảng huyền thiết đánh xuống. Cao Đại Thành giở cao cây lang nha bổng lên đỡ, keng một tiếng, cây lang nha bổng bị gãy làm đôi, con hổ khẩu của Cao Đại Thành thì tươm máu, y hoảng sợ đến nỗi hồn bay phách tán, vội vàng quay đầu ngựa bỏ chạy.
Đỗ Đại Nghiệp múa tít đôi song câu đâm tới. Kim Trục Lưu quát: “Ngươi cũng chẳng phải là thứ tốt lành gì, cút đi!” Rồi chàng giật cương ngựa, thớt ngựa phóng vọt tới mấy trượng, Kim Trục Lưa đâm soạt tới một kiếm, Đỗ Đại Nghiệp nằm rạp người xuống yên ngựa, đôi song câu thủ ở trên đầu, kiếm quang lướt qua, đôi câu đã bị chặt đứt, vai đã bị vạch một đường kiếm, may mà vẫn chưa trúng vào đầu.
Phong Diệu Thường vừa kinh vừa mừng, kêu lên: “Ngươi... ngươi chẳng phải là tên...” Lần trước khi Kim Trục Lưu đến nhà Phong Diệu Thường, chàng đã giả thành tên ăn mày, nhưng lúc này lại xuất hiện trước mắt nàng với dáng vẻ của một chàng công tử sang trọng, cho nên Phong Diệu Thường vừa mới nói đến chữa “tên” thì đã ngừng lại.
Kim Trục Lưa đáp: “Đúng thế, ta chính là tên ăn mày đi cùng Tần Nguyên Hạo. Tại sao bọn chúng đuổi theo cô nương?”
Phong Diệu Thường nói vội: “Tôi cũng không biết. Đám hỏi tôn tính dại danhcủa ân công?”
Kim Trục Lưa nói: “Ta họ Kim, tên Trục Lưu”.
Dứt lời thì nhấc bổng tên hán tử lên, vỗ một chưởng vào lưng y rồi quát hỏi: “Tại sao các người bắt nạt Phong cô nương, nói!”
Hán tử ấy nghe đến chữ “Phong” thì mặt lộ vẻ mừng rỡ, nói: “Phong cô nương, đại đanh của lệnh tôn có phải là Tử Siêu hay không?”
Phong Diệu Thường nhíu mày: “Ngươi quen biết cha ta, ngày trước ngươi làm gì?”
Hán tử ấy cười ha hả: “Đúng là nước lụt cuốn sập miếu long vương, người nhà mà không nhận ra nhau. Tôi và cha của cô nương là bằng hữu cũ, ngày trước khi ông ta làm đại nội thị vệ, khi tôi làm ăn không vốn ở chốn Dự Bắc, được ông ta chiếu cố, chưa bao giờ thất thủ. Nay tôi đã nhận ra kiếm pháp của cô nương, quả nhiên là con gái của ông ta”. Té ra người này ngày trước là một đại đạo độc cước, Phong Tử Siêu là chỗ dựa của y, những thứ y cướp được đều phải chia một nửa cho Phong Tử Siêu, Phong Tử Siêu lại dùng tiền đó mua chuộc quan phủ cho y, cho nên bản lĩnh của y tuy không cao lắm nhưng lại hoành hành ngang ngược chưa bao giờ bị bắt.
Người này tưởng Kim Trục Lưu cũng có quan hệ với Phong Tử Siêu, cho nên vội vàng làm thân. Nào ngờ Kim Trục Lưu trợn mắt, quát: “Đừng nói nhiều, các người đuổi theo nàng rốt cuộc là vì chuyện gì?”
Người ấy đáp: “Đây chỉ là hiểu nhầm, hiểu nhầm! Có mấy đà chủ của vài bang hội đem lễ vật lên kinh tặng cho Tát tổng quản, không ngờ trên đường đều bị một phụnữ cướp mất. Ả này xuất quỷ nhập thần, không ai gặp mặt ả, cho nên bang chủ Thanh Long bang Cao Đại Thành mới phát thiệp lục lâm, mời bằng hữu đồng đạo giúp đỡ, điều tra tung tích của người đàn bà này. Hễ những nữ tử giang hồ đáng ngờ đều không bỏ qua, cho nên...”
Phong Diệu Thường kêu lên: “Ồ, té ra các người tưởng ta là người đàn bà ấy!”
Cao Đại Thành nói: “Tát tổng quản là lão thượng ti của lệnh tôn, điệt nữ làm sao cướp lễ vật của ông ta. Chỉ trách là bọn ta nhìn nhầm cho nên mới đuổi theo điệt nữ”. Phong Diệu Thường cười lạnh: “Ta chỉ tiếc mình không có bản lĩnh như người ấy, nếu không ta cũng sẽ cướp”.
Hán tử ấy thất kinh, không ngờ Phong Điệu Thưa nó lại ăn nói như thế. Trong nhất thời không biết nói gì mới phải.
Kim Trục Lưu hỏi: “Lục Hợp bang có nhận được thiệp lục lâm không?” Hán tử ấy nghe Kim Trục Lưu hỏi thì nghĩ chàng là kẻ già dặn giang hồ, thế rồi mới vội vàng trả lời: “Lục Hợp bang là bang hội lớn nhất trong giang hồ, Cao Đại Thành làm sao có thể tùy tiện sai một người phát thiệp lục lâm cho Sử bang chủ? Nhưng Tứ đại hương chủ của Lục Hợp bang lại rất trọng nghĩa khí giang hồ, khi biết chuyện này thì đều ra tay giúp đỡ. Cao Đại Thành chính vì sự việc gấp gáp, không kịp hỏi ý Sử bang chủ cho nên cũng rất lo lắng, y lo Sử bang chủ sẽ hỏi tội vì đã tự tiện phát thiệp lục lâm, nay chắc không còn lo lắng gì nữa”. Người này thấy Kim Trục Lưu hỏi kỹ, chỉ tưởng rằng chàng ít nhiều có mối quan hệ với Lục Hợp bang cho nên không ngần ngại trả lời.
Kim Trục Lưu hỏi: “Tứ đại bang chủ cũng đuổi bắt nữ tử ấy, chả lẽ họ không sợ tý nào hay sao?”
Hán tử này ngẩn người, nhủ thầm: “Hình như tiểu tử này biết rất nhiều chuyện, chắc chắn là có quan hệ với Lục Hợp bang”. Vì thế nói: “Khi bốn đại hương chủ hứa rút đao tương trợ đều đưa ra một điều kiện, đó là chỉ được bắt sống chứ không đả thương nữ tử ấy. Chúng tôi cũng không biết là cớ gì. Kim công tử hỏi như thế chắc là biết lý do bên trong”
Kim Trục Lưu nói: “Ta đương nhiên biết nhưng không nói cho người!” Hán tử ấy lúng túng, vội vàng cười cầu tài: “Đúng, đúng. Tiểu nhân nào xứng biết chuyện của Lục Hợp bang. Kim công tử còn hỏi gì nữa, tiểu nhân có thể đi được chưa?”
Kim Trục Lưu lắc đầu: “Không được?”
Hán tử ấy thất kinh: “Mong Kim công tử nể mặt Phong Tử Siêu và Lục Hợp bang, chúng ta dầu sao cũng là người cùng phe!”
Kim Trục Lưu nói: “Ta nể mặt Phong Tử Siêu và Sử Bạch Đô cho nên mới thường cho ngươi hai cái tát!” Hán tử ấy cả kinh thất sắc, chưa kịp nói tiếng nào thì đã bị Kim Trục Lưu vỗ hai bạt tai vào mặt.
Kim Trục Lưu cười nói: “Tội chết có thể miễn, nhưng tôi sống khó tha. Ngươi hãy ngoan ngoãn nằm ở đây, mười hai canh giờ sau huyệt đạo sẽ tự giải”. Hán tử ấy bị Kim Trục Lưu điểm huyệt nên đã ngất xỉu.
Phong Diệu Thường bảo: “Kim đại hiệp, huynh đã phế võ công của y rồi sao?”
Kim Trục Lưu nói: “Đúng thế. Xương tỳ bà của y đã bị ta bóp nát, từ rày về sau không thể làm chuyện ác được nữa. Con ngựa của y cũng là loại ngựa quý, cô nương hãy lấy ngựa của y mà đi”.
Con ngựa đang gặm cỏ trên sườn dồi, Kim Trục Lưu định chạy lên dắt nó xuống, chợt nghe tiếng vó ngựa lọc cọc, trên đường lại xuất hiện hai thớt ngựa. Hai người này chính là Viên Hải và Tiêu Lỗi.
Từ xa Viên Hải đã thấy Phong Diệu Thường, kêu ồ một tiếng bật kêu: “Ả này không phải là Sử tiểu thư của chúng ta, hình như các ngươi đã đuổi nhầm người!” Tiêu Lỗi hậm hực: “Cao bang chủ và Đỗ Đại Nghiệp chạy đi đâu rồi?”
Viên Hải là một hòa thượng tham hoa háo sắc, thấy Phong Diệu Thường xinh đẹp nảy lòng tham: “Mặc kệ ả này là ai, bắt ả rồi hãy tính tiếp”. Hai mắt của y cứ nhìn chằm chằm vào Phong Diệu Thường, lúc này Tiêu Lỗi đã phát hiện Kim Trục Lưu đang đứng trên sườn đồi.
Tiêu Lỗi cả kinh: “Không xong!” Viên Hải vẫn chưa biết sống chết hỏi: “Chuyện gì không xong?” Tiêu Lỗi vội vàng: “Ông xem kìa, hình như tên tiểu tử họ Kim!”
Kim Trục Lưu cười ha hả quay đầu lại: “Các người đã nhận ra tên ăn mày này rồi Cao Đại Thành, Đỗ Đại Nghiệp đều là hạng giá áo túi cơm, vừa đánh đã chạy, ta vẫn chưa hết ngứa tay, các người đến thật đúng lúc!”
Khi Kim Trục Lưa quay lưng lại, chàng đã nhặt mười mấy viên sỏi, khi đang nói thì đã ném sỏi tới như mưa.
Viên Hải, Tiêu Lỗi được xếp vào hàng Tứ đại hương chủ, nhưng võ công kém hơn hai người kia rất xa, bọn họ đã từng bị Kim Trục Lưa đánh bại, lúc này chợt gặp chàng thì làm sao dám giao thủ.
May mà Tiêu Lỗi đã thấy Kim Trục Lưu trước cho nên quay đầu ngựa, Kim Trục Lưu xoay người lại thì y đã vỗ ngựa bỏ chạy, không bị trúng đá. Viên Hải thì xui xẻo hơn, y chạy đến cách Phong Diệu Thường khoảng mười trượng mới thấy Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu ném đá tới, Viên Hải giơ thanh giới đao phòng thân, nhưng đầu vẫn bị trúng một viên đá đến nỗi máu tuôn đầm đìa. Viên Hải phóng ngựa bỏ chạy, miệng quát lớn: “Hảo tiểu tử, có gan hãy đuổi theo?” Y muốn đó Kim Trục Lưu đến chỗ Đổng Thập Tam nương và Thanh Phù, nhưng lại không biết rằng hai kẻ này vừa mới thua trong tay Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu cười lớn: “Đổng Thập Tam nương đang đợi đại hòa thượng nhàngươi đổ nước rửa chân cho mụ, ta không có hứng chiều theo”.
Tiêu Lỗi không muốn chọc giận Kim Trục Lưu, thấy Kim Trục Lưu không đuổi theo thì yên dạ, khen: “Tên tiểu tử này thật phong lưu!”
Viên Hải hừ một tiếng: “Tên tiểu tử thối này thật đáng ghét, vừa mới lừa muội muội của bang chủ chúng ta, nay lại đi theo ả này. Nếu để bang chủ biết tức chết đi được!”
Tiêu Lỗi nói: “Ta chỉ sợ bang chủ không biết chuyện này, nếu biết thì ngược lại. Theo ta thấy, bang chủ đương nhiên rất tức giận, nhưng chắc cũng ngầm thích y!”
Viên Hải vị lẽ ra, miệng nói: “Đúng thế! Nếu chúng ta báo với bang chủ thì sẽ lập được công lớn!”
Kim Trục Lưu dắt ngựa xuống giao cho Phong Diệu Thường. Phong Diệu Thường hỏi: “Kim đại hiệp, ngài đi đâu?” Kim Trục Lưu cười hỏi: “Cô nương có nhớ đến Tần Nguyên Hạo không?” Phong Diệu Thường đỏ mặt: “Kim đại hiệp đừng đùa nhảm”.
Kim Trục Lưu nghiêm nghị: “Không. Ta tuy thích nói đùa nhưng lần này thì không. Cô nương phải nể mặt ta mới phải!”
Phong Diệu Thường ngạc nhiên bất giác hỏi: “Ân công, ngài đã cứu mạng tôi, có gì thì cứ sai khiến, sao lại khách sáo như thế?”
Kim Trục Lưu lúc này mới cười ha hả: “Được, nếu cô nương đã nói như thế thì phải nghe tôi. Tuy tôi chưa hỏi ý cô nương, nhưng tôi nghĩ cô nương đã chấp nhận”. Phong Diệu Thường nghi ngại trong lòng, hỏi: “Rốt cuộc là vì chuyện gì?” Kim Trục Lưu đáp: “Ta sẽ làm mai cho cô nương. Cha cô nương đã chấp nhận, chỉ cần cô nương chịu lấy Tần Nguyên Hạo thì sẽ không ai buộc cô nương lấy người khác nữa!”
Phong Diệu Thường đỏ ửng mặt, Kim Trục Lưu hỏi tới: “Này, cô nương có chịu [font="times new roman"]hay không?” Phong Diệu Thường thỏ thẻ hỏi: “Ân công đã gặp cha tôi ở đâu?” Kim Trục Lưu cười: “Tốt lắm, cô nương đã không phản đối tức là đã đồng ý. Cha của cô nương cũng đi trên con đường này, nếu chạy ngược lại chắc chắn sẽ gặp ông ta”. Rồi chàng mới kể lại chuyện mình đã làm ông mai như thế nào.
Phong Diệu Thường đỏ ửng mặt, vừa thẹn vừa vui, lòng nhủ thầm: “Cha bị y dọa một trận, nếu từ nay có thể cải tà quy chính thì thật là chuyện tốt. Cha tuy đã hứa nhưng Tần Nguyên Hạo là đệ tử của danh môn chính phái, không biết trưởng bối của chàng có chấp nhận hay không?”
Hình như Kim Trục Lưu biết tâm sự của nàng bèn mới cười đùa: “Sư phụ của Tần Nguyên Hạo là vãn bối của tôi, tôi đã làm mai thì ông ta phải gật đầu, cô nương hãy yên tâm”.
Phong Diệu Thường thẹn thùng: “Ân công đừng đùa mãi thế”. 
Kim Trục Lưu nghiêm mặt: “Không đúng, không đúng, sao cô nương gọi tôi là ân công? Sư phụ của Nguyên Hạo tuy là vãn bối của tôi, nhưng tôi và Tần Nguyên Hạo là bằng vai phải lứa với nhau, sao gọi là ân công với đại hiệp, gọi như thế chẳng phải quá xa cách hay sao. Cô nương đã đồng ý mối duyên này, vậy đã là đệ muội của tôi, cô nương phải gọi tôi là đại ca mới phải!” Nói xong thì cười ha hả.
Phong Diệu Thường đang nhảy lên lưng ngựa, nàng cúi đầu không biết nói gì mới phải. Kim Trục Lưu: “Cha của cô nương quen biết với những kẻ này, khi cô nương gặp ông ta không cần sợ bọn họ làm khó nữa. Nhưng tôi muốn cô nương hãy khuyên ông ta chi bằng hãy quay trở về núi Tồ Lai thì hơn, đừng lên kinh tìm kiếm lợi lộc nữa”. Kim Trục Lưu lúc nãy vừa nói đùa, nhưng giờ đây lại nói chuyện rất nghiêm túc, khiến cho Phong Diệu Thường giở cười giở khóc, lòng không thể không cảm kích chàng.
Phong Diệu Thường vái dài: “Kim đại ca, suốt đời này muội rất cảm kích hảo ý của đại ca đối với cha con muội, muội sẽ khuyên người nghe lời đại ca”.
Kim Trục Lưu: “Muội lại khách sáo. Được chúng ta ai hãy đi đường nấy. Khi muội và Tần Nguyên Hao thành thân, ta sẽ uống rượu mừng”.
Kiên Trục Lưu vừa làm một chuyện đắc ý, chàng cười ha hả rồi tiếp tục phóng ngựa đi.
Trên suốt quãng đường Kim Trục Lưu cứ dò hỏi tin tức của Sử Hồng Anh. Nhưng cho đến ngày chàng tới Đạt Đô Môn vẫn không tìm ra manh mối. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Người cướp lễ vật tặng cho Tát Phúc Đỉnh chẳng phải Sử Hồng Anh thì là ai? Chắc chắn nàng cũng sẽ đến xem náo nhiệt, mình vào kinh rồi tìm nàng”.
Khi Kim Trục Lưu vào đến Bắc Kinh thì còn bốn ngày nữa mới đến lễ mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Mình lần đầu tiên vào kinh, cao thủ ở đây nhiều như mây, tuy mình không sợ gì cả nhưng cẩn thận một chút vẫn hay hơn, tai mắt của Lục Hợp bang rất nhiều, mình dùng ngựa của Sử Bạch Đô, nếu ở lại khách [font="times new roman"]sạn thì sẽ bị người ta phát giác, chi bằng cứ tìm đến nhà một vị tiền bối nào đó xin tátúc”. Nhưng chàng suy đi tính lại cũng không biết nên đến nhà ai.
Bề trên của Kim Trục Lưu đều là chưởng môn các phái, vì phản Thanh phục Minh cho nên có người đã chết, có người quy ẩn, những người còn sống thì không thể sống ở kinh đô.
Cuối cùng Kim Trục Lưu mới nhớ ra một người, người này không có quan hệ với sư môn của chàng, nhưng lại có mối quan hệ gián tiếp. Đó chính là lão tiêu đầu Đới Quân, người trước kia đã mở Trấn Viễn tiêu cục.
Đới Quân là bằng hữu của Vũ Văn Lang, xưa kia hai người đã từng làm việc cho Chấn Nguyên tiêu cục. Mà Vũ Văn Hùng, sư điệt của chàng là con trai của Vũ Văn Lang. Mười ba năm trước, Vũ Văn Lang áp tiêu đến Liêu Đông thì bị đại đạo Uất Trì Đồng đánh cướp, bán cả gia sản mà không đủ bồi thường cho nên uất ức mà chết. Trấn Viễn tiêu cục cũng vì thế mà đóng cửa. May nhờ Đới Quân chăm sóc Vũ Văn Hùng mới may mắn thoát cảnh đói rét. Sau đó Vũ Văn Hùng trở thành đệ tử của Giang Hải Thiên, hóa giải mối oán thù này với Uất Trì Đồng, Uất Trì Đồng đã bồi thường lại tổn thất cho tiêu cục, Trấn Viễn tiêu cục mới được mở lại. Nhưng lần đó Uất Trì Đồng vào Bắc Kinh giải quyết chuyện này, bị phản đồ của Giang Hải Thiên là Diệp Lăng Phong bán đứng, nửa đường bị bắt tống vào thiên lao. Sau đó Giang Hải Thiên, Vũ Văn Hùng vào kinh mới cứu được Uất Trì Đồng ra khỏi thiên lao, trong lần cướp ngục này, Đới Quân cũng giúp đỡ rất nhiều. Kim Trục Lưu nhớ lại người này, lòng thầm nhủ: “Sư huynh đã từng nói người này đầy nhiệt huyết, không hổ là một bậc tiền bối. Vũ Văn Hùng cũng nhờ mình hỏi thăm ông ta, sao mình không đến quấy nhiễu ông ta, chắc ông ta sẽ không từ chối tiếp đãi mình”.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-05 23:54:48Hoàng Dung>
Thế là Kim Trục Lưu lập tức đến tìm Đới Quân. Đến nhà Đới Quân thì chỉ thấy cửa lớn đóng kín, Kim Trục Lưu gõ mấy lần mới thấy một hán tử trung niên bước ra, người ấy thấy Kim Trục Lưu và con tuấn mã của chàng thì mặt lộ vẻ ngạc nhiên: “Ngài tìm ai?”
Kim Trục Lưu đưa vái thiếp rồi hỏi: “Tôi là sư thúc của Vũ Văn Hùng, xin hỏi Đới lão tiền bối có ở nhà hay không?”
Kim Trục Lưu tuổi còn nhỏ hơn Vũ Văn Hùng, người ấy nghe càng thất kinh, lòng nhủ thầm: “Sao Vũ Văn Hùng lại có một sư thúc?”
Kim Trục Lưu cười trấn an: “Ngươi không tin ta là sư thúc của Vũ Văn Hùng hay sao? Để ta vào nói với Đới lão tiền bối, ngươi sẽ hiểu ngay”. Rồi nhủ thầm: “Đới lão tiền bối rất mến khách, sao gia nhân của y lại lạnh lùng với khách phương xa thế này, nhận được bái thiếp mà vẫn chưa mời mình vào? Đứng ở đây thì làm sao tiện nói chuyện?”
Chàng nghĩ chưa dứt thì người này chợt trả bái thiếp lại, lạnh nhạt: “Gia phụ đã mất từ sớm, quý khách từ xa đến bái phỏng, tại hạ xin thay tiên phụ bái tạ. Tại hạ không dám nhận bái thiếp này”. Thế rồi vái dài, tỏ ra ý đuổi khách.
Kim Trục Lưu cả kinh: “Đới lão tiền bối chết từ khi nào?”
Háu tử đáp: “Gia phụ qua đời chỉ mới hơn một tháng”.
Kim Trục Lưu: “Tôi được Giang sư huynh nhờ đến đây thăm lệnh tôn, Vũ Văn sư điệt cũng đã nhờ tôi thăm hỏi lệnh tôn. Không ngờ người đã qua đời. Xin cho tôi đến trước linh tiền hành lễ thay cho sư huynh và sư điệt”.
Kim Trục Lưu nhắc đến tên Giang Hải Thiên, hán tử ấy thầm nhủ: “Mặc y là thật hay giả, nay y đã thay Giang đại hiệp hành lễ, mình thật khó từ chối”. Thế rồi chỉ đành mời Kim Trục Lưu vào rồi nghĩ thầm: “Đành phải mạo hiểm vậy, sau này sẽ tìm hiểu lai lịch của y”.
Kim Trục Lưu bước vào đến linh đường, thấy quả nhiên có một tấm bài vị mới, trên có đề mấy chữ “Đới công Thả Chi bài vị”. “Thả Chi” là tinh tự của Đới Quân, Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Mình đến không hợp lúc tý nào, tưởng rằng có thể tìm một nơi ở, ai ngờ lại đến bái bài vị của ông ta”.
Hán tử đứng một bên đáp lễ, sau khi Kim Trục Lưu hành lễ, y vẫn đứng ở đấy mà không đổi hướng, mặt nhìn ra cửa, tỏ ý như muốn tiễn khách. Kim Trục Lưu không màng đến y, ngồi tót lên ghế.
Hán tử ấy đành ngồi xuống nói chuyện với Kim Trục Lưu. Đôi bên hỏi tên nhau, Kim Trục Lưu mới biết y tên là Đới Mạc, là con trai trường của Đới Quân, y còn có một người em tên là Đới Thái, hiện không có ở nhà.
Kim Trục Lưu không đợi y hỏi, tự động cho biết lai lịch của mình. Đới Mạc nghe chàng bảo là con của Kim Thế Di, trong lòng thầm nhủ: “Kim đại hiệp đã ra hải đảo, hai mươi năm nay chẳng có chút tin tức gì, không ai biết ông ta có con hay không. Không biết kẻ này thật hay giả mạo?”
Đới Mạc lại hỏi chuyện của Giang Hải Thiên và Vũ Văn Hùng, nhưng chàng chỉ biết được một số chuyện, bởi vì chỉ ở nhà Giang Hải Thiên một ngày.
Đới Mạc đương nhiên cảm thấy nghi ngờ, Kim Trục Lưu cũng hơi kỳ lạ, lòng thầm nhủ: “Cha của y đã chết, tại sao y chẳng có vẻ gì đau buồn? Theo lý, có khách đến thăm, hiếu tử phải nói về cái chết của chủ mình mới phải, nhưng y lại cố tra vấn khách, tuy bảo người trong giang hồ không màng đến lễ tục, nhưng như thế cũng thật là thất lễ”.
Khi họ đang ngồi với nhau, phía sau linh đường có tiếng bước chân, tiếng bước chân rất nhỏ, Kim Trục Lưu vừa nghe thì biết người này có khinh công rất cao, y bước ra nhưng không muốn để cho khách phát giác. “Tại sao y lại âm thầm quan sátmình?” Kim Trục Lưu nghĩ thầm. Chàng càng nghĩ càng cảm thấy chuyện này có nội tình gì đây.
Kim Trục Lưu thấy chủ nhân không có ý giữ khách, lòng thầm nhủ: “Đới Quân là người nhiệt tình, con trai của ông ta chẳng giống cha tí nào, đành thôi vậy, y đã không giữ khách, mình còn ở đây làm gì?” Thế rồi đứng dậy cáo từ.
Đới Mạc vội nói: “Kim huynh hãy ngồi đợi một lát”. Rồi vào hậu đường, một lát sau thì cùng một lão bộc bước ra, lão bộc bưng một cái mâm, trong mâm có một nén bạc nặng năm mươi lượng.
Đới Mạc nói: “Kim huynh từ xa đến đây, chúng tôi không có gì đáp đền, ở đây có một chút lễ, mong Kim huynh hãy nhận lấy”.
Kim Trục Lưu cả giận trong lòng: “Sao lại có lẽ này, y đã coi mình là kẻ dậu đổ bìm leo”. Rồi lẳng lặng cầm đỉnh bạc ấy, cười ha hả: “Tiểu nhân tuy nghèo khổ nhưng cũng không đến nỗi phải nhờ vả người ta. Không dám nhận lễ vật của tôn phủ”. Nói xong thì đặt đỉnh bạc xuống, hai đầu đỉnh bạc vốn vểnh lên, những chàng dùng lực bóp đã bẹp hẳn xuống.
Lão bộc lại cầm đỉnh bạc lên, chậm rãi nói: “Kim công tử, ngài nổi giận thì không sao, nhưng lại khiến tôi cũng phải phí sức. Nếu không sửa lại đỉnh bạc này thì không dùng được!” Khi nói vừa hai tay đã kéo hai đầu đỉnh bạc lên bóp nhẹ, chỉ trong chốc lát đỉnh bạc đã nguyên vẹn. Bóp cho đỉnh bạc bẹp ra là chuyện dễ dàng, nhưng khôi phục nguyên dạng thì khó hơn, rõ ràng là công lực của lão bộc ấy hơn hẳn Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu vốn muốn đi, nhưng chợt thấy lão bộc thi triển công phu, bất giác cả kinh, vội vàng ngừng bước cung tay: “Dám hỏi tôn tính đại danh của lão anh hùng?” Lúc này Kim Trục Lưu mới biết ông ta không phải là một lão bộc bình thường.
Ông già ấy không trả lời mà đưa tay ra: “Kim thiếu hiệp, hôm nay lão hủ gặp được thiếu hiệp quả thật rất vui mừng”. Kim Trục Lưu biết ông ta có ý thử công phu của mình, nên âm thầm giới bị nắm lấy tay ông ta.
Không ngờ ông già chỉ nắm tay bình thường chứ không phát nội lực. Nhưng khi nắm tay chàng, ngón tay ông ta lại sờ vào chiếc nhẫn ngọc trên tay Kim Trục Lưu. Chiếc nhẫn ngọc này được làm bằng loại hàn ngọc ở dưới biển, hôm nay Kim Trục Lưu đến thăm Đới Quân cho nên đeo vào.
Sờ vào thấy chiếc nhẫn ngọc mát rượi, ông già rút tay, cười ha hả: “Kim huynh quả nhiên là công tử của Kim đại hiệp, lão hủ chính là Đới Quân”. Té ra Đới Quân tuy không phải là bằng hữu của Kim Thế Di, nhưng năm xưa Kim Thế Di và Mạnh Thần Thông tỉ võ bên ngoài Thiếu Lâm tự, ông ta cũng là một trong hàng ngàn võ lâm có mặt. Ông ta biết Kim Thế Di, nhưng Kim Thế Di không quen ông ta. Ông ta cũng biết Kim Thế Di đã lấy được ngọc cung và ngọc tiễn của Kiều Bắc Minh.
Kim Trục Lưu ngỡ ngàng, chợt hiểu ra rồi thầm nhủ: “Đúng thế, ở trong nhà này ngoại trừ Đới Quân thì còn ai có công lực như thế”.
Đới Mạc vội vàng thỉnh tội, cười nhẹ: “Kim huynh, huynh đừng trách, chúng ta lần đầu tiên gặp nhau, tôi không thể không mời gia phụ thử huynh”. Kim Trục Lưu [font="times new roman"]mừng ra mặt, cũng cười: “Tôi chỉ là mạo muội đến đây, không biết lão tiền bối vẫn còn khỏe nhưng tại sao...”
Đới Quân cười nói: “Lão đệ không cần kiêng kị chữ chết, năm nay đã hơn sáu mươi, nhưng bộ xương già này coi như cũng còn cứng cáp, lần này ta giả chết chỉ là chuyện bất đắc dĩ nói ra thì dài, mời lão đệ hãy vào trong chúng ta sẽ nói tiếp”.
Trong nội đường đã bày sẵn rượu thịt, Đới Quân mời Kim Trục Lưu ngồi vào chỗ rồi nói: “Lão đệ, đệ là sư thúc của Vũ Văn Hùng, coi như chúng ta là người một nhà. Đệ hãy ở lại đây. Nào! Cạn trước ba chén để tẩy trần cho đệ”.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Người này quả thật là hào sảng mến khách”. Vì thế nói: “Thật không dám giấu, tôi đang định quấy nhiễu tiền bối”. Dứt lời liền cười ha hả.
Đới Quân nói: “Nghe nói Vũ Văn Hùng đã thành hôn, lão đệ có uống chén rượu mừng của hắn không?” Kim Trục Lưu đáp: “Hôm ấy tôi đã kịp đến nơi, còn xảy ra một chuyện rắc rối”. Rồi kể lại mọi chuyện ngày hôm ấy.
Đới Quân lại hỏi: “Tôi cũng rất nhớ Lâm Đạo Hiên và Lý Quang Hạ, chắc là bọn chúng đã lớn, nay có còn ở nhà họ Giang không?” Kim Trục Lưu nói: “Đúng thế, bọn họ đều đã lớn. Nhưng bây giờ thì không còn ở nhà họ Giang mà theo Thượng Quan Thái đến Tây Xương. Chuyện này cũng xảy ra trong ngày thành hôn của Vũ Văn Hùng”. Đến khi Kim Trục Lưu kể hết nguồn cơn, Đới Quân không khỏi cười rằng: “Kim lão đệ, sư điệt của đệ đã thành thân, còn đệ thì sao?” Đới Mạc cười rằng: “Cha, cha định mai mối cho Kim thiếu hiệp đấy ư? Chỉ e Kim thiếu hiệp không cần cha phải lo lắng”.
Kim Trục Lưu nhớ đến Sử Hồng Anh, mặt đỏ ửng: “Cha tôi bốn mươi tuổi mới thành thân, tôi chỉ mới hai mươi. À này, Vũ Văn Hùng cũng gửi thiệp mời cho lão tiền bối? Nhưng hôm ấy tiền bối không tới mọi người đều thất vọng”.
Đới Quân đáp: “Ngày hôm ấy ta đang giả chết, người chết thì làm sao dự tiệc?”
Đới Quân uống một chén rượu rồi tiếp: “Chuyện này có liên quan đến ba người sư điệt của lão đệ. Năm xưa một tiêu đầu của Chấn Nguyên tiêu cục biết Vũ Văn Hùng đến Bắc Kinh, tiêu đầu ấy tên gọi Đinh Cố, Đinh Cố cấu kết với quan phủ, nhưng Vũ Văn Hùng lại không biết. Đinh Cố dụ hắn đến đình Đào Nhiên, phục binh đột nhiên xông ra, may mà ta cùng Lý Quang Hạ đến kịp, ta đã đánh chết Đinh Cố, mọi người mới có thể chạy được. Nhưng Lâm Đạo Hiên đã bị bọn chúng bắt ở khách sạn. Sau đó Giang đại hiệp cướp ngục, cứu Uất Trì Đồng, lúc đó cũng cứu luôn cả Lâm Đạo Hiên”.
Kim Trục Lưu nói: “Tôi cũng nghe sư huynh nói chuyện này, nhưng không rõ bằng lão tiền bối”.
Đới Quân lại nói tiếp: “Đinh Cố có một đứa con trai tên gọi là Đinh Bành, Đinh Bành chạy ra khỏi Bắc Kinh, sau này ta mới biết. Thực ra ta giết Đinh Cố cũng là bất đắc dĩ. Sau khi Đinh Bành chạy tới Bắc Kinh, đã gia nhập vào Lục Hợp bang, nghe nói bang chủ của Lục Hợp bang võ công rất cao cường. Đinh Bành chẳng qua chỉ là một tiểu đầu mục dưới trướng y. Tuy không được trọng dụng nhưng cũng được xem như là một thông tín của Sử Bạch Đô”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Tôi biết Sử Bạch Đô. Mấy ngày trước tôi đã từng giao thủ Với y. Võ công của y quả thật rất cao cường, nhưng theo tôi thấy thì không hơn nổi Đới tiền bối”.
Đới Quân: “Nếu như thế Kim lão đệ chắc là biết vài ngày nữa sẽ đến ngày lễ mừng thọ Tát Phúc Đỉnh”.
Kim Trục Lưu nói: “Đúng thế. Tôi đã biết chuyện Sử Bạch Đô gửi quà mừng cho Tát Phúc Đỉnh”.
Đới Quân: “Lần này các nhân vật quan trọng trong Lục Hợp bang đều theo y đến Bắc Kinh. Ta nghe tin phong thanh, Đinh Bành lên tiếng sẽ trả thù cho cha, có thể lần này cũng sẽ đến Bắc Kinh”.
Kim Trục Lưu vở lẽ ra: “Ồ, té ra là tiền bối vì tránh thù người mới giả chết. Thật ra tiền bối không cần làm thế. Dẫu Đinh Bành có mời Sử Bạch Đô đến giúp y, chúng ta sẽ đầu với bọn chúng một trận!”
Đới Quân thở dài: “Ta nay đã già, có thắng được Sử Bạch Đô hay không là chuyện khác, nhưng ta đã không còn lòng tranh bá giang hồ nữa. Huống chi oán thù nên giải không nên kết, cần gì phải có xích mích với Lục Hợp bang. Vì thế ta mới nghĩ ra kế hạ sách này”.
Kim Trục Lưu hỏi thêm: “Nếu bọn chúng không tin thì sao?”
Đới Quân đáp: “Khi ta nằm trên giường bệnh, có rất nhiều người đến thăm ta. Ngày đưa tang cũng thế. Nếu ta không tiết lộ, liệu ai có thể biết rằng ta giả vờ?”
Kim Trục Lưu chép miệng: “Lão tiền bối vì muốn yên chuyện, quả thật đã phí nhiều công sức”. 
Đới Quân gật đầu: “Chắc chắn Đinh Bành sẽ nhận được tin ta đã chết, có câu chết là hết chuyện, Đinh Bành thấy bài vị của ta thì có thể làm gì được ta nữa?”
Kim Trục Lưu hỏi nữa: “Nếu y không chịu ngừng lại, mà đòi trả thù Đới đại ca thì sao?”
Đới Quân: “Sử Bạch Đô là nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ, y chỉ có thể giao thủ với tôi, chắc chắn sẽ không bắt nạt con trai của tôi”. Kim Trục Lưu hỏi về Đinh Bành, Đới Quân lại trả lời Sử Bạch Đô, xem ra tựa như là đáp sai, nhưng thực sự đã giải nỗi lo trong lòng Kim Trục Lưu. Đới Quân biết bản lĩnh của con mình không kém, chỉ cần Sử Bạch Đô không ra tay, Đinh Bành cũng không dám khiêu chiến vớihọ.
Kim Trục Lưu cười nói: “Nếu cả Sử Bạch Đô cũng tới, tôi lại không có mặt ở [font="times new roman"]đây, cho nên không thể để y thấy con ngựa này được”. Đới Quân gật: “Tôi sẽ cẩn thận. Tôi sẽ gửi con ngựa này cho nhà họ Trương hàng xóm, họ không phải là người trong võ lâm, nhưng là bằng hữu mấy mươi năm nay của tôi. Kim lão đệ, lần này đệ vào kinh có chuyện gì? Kim Trục Lưu không muốn cha con Đới Quân lo lắng, đáp: “Cũng chẳng có chuyện gì, tôi chỉ muốn đến kinh đô chơi một chuyến mà thôi”. Rồi nghĩ bụng: “Đợi qua lễ mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh rồi nói cho họ biết cũng không muộn”. Chàng chuẩn bị sẽ gây một trận lớn trong ngày hôm ấy. [/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 00:16:39Hoàng Dung>
Đới Mạc cười rằng: “Đáng tiếc tôi phải ở nhà canh linh đường, không thể đưa huynh đi chơi”. Đới Quân: “May mà đệ chưa bao giờ đến Bắc Kinh, chắc không ai nhận ra đệ.
Nhưng cũng có không ít người trong võ lâm đến chúc thọ cho Tát Phúc Đỉnh. Kim lão đệ, bản lĩnh của đệ tuy cao cường nhưng cũng phải nên cẩn thận”.
Kim Trục Lưu trả lời “vâng” một tiếng, nhưng hôm sau thì chàng đã một mình ra ngoài. Trong suốt ba ngày hôm sau chàng đã tham quan hết mọi cảnh đẹp ở Bắc Kinh. Đến ngày thứ tư liền nghĩ bụng: “Hôm nay là ngày lễ mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh, lẽ ra trước tiên phải đi thăm Vạn lý trường thành mới phải. Nếu không ngày mai nếu xảy ra chuyện gì, nói không chừng sẽ bị người ta đánh chết hoặc bị thương, không thể đi thăm Vạn lý trường thành!” Vậy là mới sáng sớm tinh mơ chàng đã đến Cư Dung Quan.
Cư Dung Quan nằm trên dãy Bát Đạt cách kinh đô hơn một trăm dặm, Vạn lý trường thành nằm vắt ngang qua dãy Bát Đạt. Kim Trục Lưu sợ có người nhận ra thớt ngựa cho nên đi bộ. Sáng sớm trên đường ít người đi, Kim Trục Lưu thi triển khinh công tuyệt đỉnh, không đến hai canh giờ, mặt trời mọc không bao lâu thì chàng đã đến dãy Bát Đạt.
Vạn lý trường thành nằm kéo dài từ Gia Cốc Quan đến Sơn Hải Quan, khoảng một vạn hai ngàn dặm, còn Cư Dung Quan thì đi ngang qua Bát Đạt Lĩnh. Kim Trục Lưu leo lên đài canh gác trên núi, chỉ thấy Vạn lý trường thành vắt ngang qua các dãy núi tựa như một con rắn dài. Thành quan của Cư Dung Quan được xây đựng ở mặt bắc Nam Khẩu, hai bên là núi cao, ở giữa là một thung lũng nhỏ hẹp, trên đài canh cỏ dại hoa núi mọc um tùm, dập dờn tựa như sóng biếc, tạo thành một bức tranh đẹp đẽ. Đó là một trong Yên kinh bát cảnh, người ta thường gọi là Cư Dung điệp thúy.
Kim Trục Lưu du ngoạn một hồi, từ quan thành đi về phía tây, không bao lâu thì có một tòa thạch đài tên gọi Vân Đài, được xây dựng bằng Hán bạch ngọc, trên có khắc tượng của tứ đại thương vương, bức phù điêu tinh xảo đẹp đẽ, thần thái oai mãnh. Ở giữa các bức tượng của tứ đại thương vương có khắc những dòng kinh Phật bằng chữ Phạn, Tạng, Tây Hạ, Mông, Hán. Bên trên có bức phù điêu hoa Mạn Đà La, trong hoa lại khắc vô số hình Phật rất nhỏ.
Tòa Vân Đài là một trong những kiến trúc Phật giáo nổi tiếng Trung Quốc, có giá trị rất cao trong công việc nghiên cứu Phật điển và văn tự cổ đại. Nhưng Kim Trục Lưu là người ít hiểu biết Phật học, chàng chỉ ngắm nghía bức phù điêu tinh xảo, nhưng chẳng có hứng thú gì với kinh Phật khắc ở bên trên. Nhìn một hồi thì chàng bỏ đi.
Trên đường đi chàng đã thăm qua các danh thắng như tượng Ngũ Lang, ảnh Lục Lang, Mục Quế Anh điểm tượng đài... Những danh thắng này đều là những di tích của Dương gia tướng thời Bắc Tống chống Liêu, thật ra đây đúng hơn là những truyền thuyết trong dân gian, ví dụ như Mục Quế Anh điểm tượng đài chẳng qua chỉ là một tảng đá lớn, không ai biết Mục Quế Anh có từng điểm tướng trên tảng đá này hay không. Thậm chí không biết là có nhân vật Mục Quế Anh hay không nữa, trong sách sử không tìm ra chứng cứ, e rằng quá nửa là một nhân vật hư cấu.
Kim Trục Lưu chợt nghe thoáng tiếng đàn lúc cao lúc thấp, lúc dìu dặt lúc đứt quãng. Chàng biết gần đó có một dòng thác tên là dòng thác Gảy Đàn, bởi vì nước ở đây chảy trong trẻo như tiếng đàn cho nên người ta mới gọi tên như thế. Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Quả thật là giống tiếng đàn”.
Qua khỏi Mục Quế Anh điểm tượng đài, chàng đã đến chỗ cao nhất của dãy Bát Đạt, chỉ thấy trên một vách núi có khắc hai chữ “Thiên hiểm”, thế núi rất hiểm trở, Vạn lý trường thành nằm vắt ngang qua nơi ấy. Kim Trục Lưu bước lên tường thành, phóng tầm mắt nhìn ra xa, chỉ thấy núi non trùng điệp, Cư Dung Quan nằm ở phía bắc, Vạn lý trường thành như một con rắn dài băng núi vượt đèo, bên ngoài Cư Dung Quan là thảo nguyên bao la. Kim Trục Lưu vạch áo đón gió, hào tình bộc phát, chợt cảm thấy con người thật bé nhỏ trước trời đất!
Chợt nghe tiếng đàn lại vang lên, Kim Trục Lưu thất kinh, lần này chàng đã nghe rõ ràng hơn, đó là tiếng đàn thật chứ không phải là tiếng nước chảy.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ai lại gảy đàn trên Vạn lý trường thành? Chắc không phải là cao nhân thì cũng là nhã sĩ. Có duyên gặp gỡ sao không đến kết giao với y”. Rồi lần dò theo tiếng đàn, khi đến gần người ấy thì chàng không khỏi thất kinh. Trong tưởng tượng của Kim Trục Lưu, người gảy đàn có thể là một ẩn sĩ râu dài ba chòm, nào ngờ đó lại là một người trẻ tuổi, nhiều lắm chỉ lớn hơn chàng hai ba tuổi mà thôi.
Kim Trục Lưu bước về phía y, người trẻ tuổi ấy tựa như nhìn mà không thấy, cứ chuyên tâm gảy đàn.
Cốc Chi Hoa, mẹ của Kim Trục Lưu là đệ tử đắc ý nhất của Lã Tứ Nương, Lã Tứ Nương là con gái của nhà đại nho Lã Lưu Lương cuối thời Minh đầu thời Thanh. Do đó Cốc Chi Hoa không những học được kiếm thuật của Lã Tứ Nương mà cũng rành cầm kì thi họa, Kim Trục Lưu từ nhỏ đã được truyền thụ, tuy không giỏi như mẹ mình nhưng cũng hiểu chút ít về cổ cầm.
Lúc này người đó đang gãy đoạn “Tương quân” trong Sở từ: “Quân bắt hành hề di do, kiển thùy lưu hề trung châu? Mỹ yếu diểu hề nghi tu, bái ngô thừa hề quế châu...” đây là một đoạn đối thoại giữa hai người đang yêu nhau, cô gái hỏi: “Chàng đang có tâm sự gì? Vì ai mà đậu thuyền ở Trung Châu?” Chàng trai đáp: “Chẳng phải là vì nàng ư? Vì nét xinh đẹp của nàng ta đã ngồi thuyền Quế Châu đuổi theo nàng, đến khi gặp nàng ta chẳng muốn đi”. “Yếu diểu” hình dung nét đẹp dịu dàng, “nghi tu” có nghĩa là trang điểm rất đẹp. Kim Trục Lưu nghe khúc đàn này, bất giác trước mắt hiện lên bóng dáng yểu điệu của Sử Hồng Anh, thế là chàng vỗ phách phụ họa. Tiếng đàn chợt thay đổi như ai như oán, như khóc như than, người đó vẫn đàn Sở từ, nhưng đã đổi thành một đoạn trong Li tao: “... giang li dữ tích chỉ hề, nhẫn thu lan dĩ vị bội. Bạc dư nhược tướng bất cập hề, khủng niên tuế chi bất ngô dữ. Triều khiên tỉ chi mộc lan hề, tịch lãm châu chi túc mãng. Nhật nguyệt hối kỳ bất yểm hề, xuân dữ thu kỳ đại tự. Truy thảo mộc chi linh lạc hề, khủng mĩ nhân chi trì mộ!”
Giang li là tên của một loại cỏ thơm, loại cỏ này còn gọi là mị vu. Tích chỉ là loại cỏ thơm mọc ở nơi tối tăm. Nhẫn có nghĩ là dùng chỉ xỏ vào. Khiên có nghĩa là rút ra. Túc mãn là loại cỏ lạ mọc vào mùa đông. Bài này thể hiện tâm trạng tiếc nuối vì thời gian qua nhanh, còn người đẹp thì đến trễ.
Kim Trục Lưu ngâm nga bốn câu cuối cùng: “Nhật nguyệt hối kỳ bất yểm hề, xuân dữ thu kỳ đại tự. Truy thảo mộc chi linh lạc hề, khủng mĩ nhân chi trì mộ”. (Ngày tháng bỗng chốc không dừng hề, xuân và thu thay nhau tàn tạ, riêng cây cỏ rơi rụng hề, e rằng mĩ nhân đến quá trễ). Rồi chàng không khỏi nhớ đến Sử Hồng Anh: “Không biết lúc nào mới gặp lại nàng? Dẫu khi nàng đã già mình mới gặp lại, trong mắt mình nàng vẫn là một mĩ nhân”.
Tuy tình cảm trong lòng Kim Trục Lưu và bài Li tao của người này vừa đàn không hề giống nhau, nhưng người này thật sự đã đàn quá hay, Kim Trục Lưu cũng bất giác ngất ngây trước tiếng đàn của y. Chàng chậm rãi đến gần y, lúc này thiếu niên ấy mới phát giác Kim Trục Lưu, nhưng cũng chẳng thèm nhìn chàng mà tiếp tục gảy đàn.
Tiếng đàn cứ liên miên không dứt, thiếu niên vừa đàn vừa ca rằng: “Bạch câu ca dĩ thệ, y nhân thủy nhất phương, tạp nhu phương chữ trạch, tương kiếm hốt tương vương?” (Tiếng hát sớm dứt thế, người đã xa một mau. Lẫn lột hương thăm thẳm. Gặp nhau nỡ quên nhau?). Câu đầu đã lấy điển cố trong thiên “Bạch câu” của Kinh thi, ý muốn nói rằng y muốn giữ khách phương xa ở lại cho nên buộc ngựa của khách phương xa, nhưng cuối cùng không thể giữ được, cho nên mới nói rằng “Bạch câu ca dĩ thệ”. Câu thứ hai là điển cố trong thiên “Liên hà” của kinh thi, “Liên hà thương thương, bạch lô bi sương, sở vị y nhân, đại thủy nhất phương. Súc hồi tùng di, đạo trở thả trường, súc du tùng chi, uyển tại thủy trung ương”. Ý câu này muốn nói người mà mình ngưỡng mộ, muốn theo đuổi chỉ có thể nhìn mà không thể đến gần được. Câu thứ ba thì dùng điển cố trong thiên “Tư mĩ nhân” của Sở từ, ý muốn nói mỹ nhân chịu thiệt thòi, hoa thơm mọc trong chốn đầm lầy. Câu thứ tư thì nói rằng trong tình huống như thế, sau khi gặp nhau thì nên quên nhau thì hơn, nhưng làm sao có thể vừa gặp đã quên?
Kim Trục Lưu nghĩ thầm: “Hình như y ca bài ca này cho mình nghe, Sử cô nương chẳng phải là mĩ nhân chịu thiệt thòi trong bài ca hay sao? Không biết người y nhớ nhung là ai?”
Tiếng đàn chợt ngừng lại, Kim Trục Lưu khen rằng: “Đàn rất hay. Nhưng đời người chỉ có trăm năm, cớ gì cứ buồn khổ như thế?”
Thiếu niên ấy liếc nhìn Kim Trục Lưu rồi đưa cây đàn cho chàng nói: “Huynh đài có thể hiểu tiếng đàn của ta, chắc là cũng biết gảy đàn. Tại hạ mong được nghe”. Nói thì có vẻ khách khí, nhưng cũng có mấy phần kiêu hãnh.
Kim Trục Lưu cũng không từ chối, cầm lấy cây đàn cổ đặt trên đùi mình. Kim Trục Lưu thấy cây đàn cổ có nhiều đường vân, bị cháy xem một góc, chàng vừa nhìn đã biết cây đàn ấy gọi là đàn tiêu vĩ.
Kim Trục Lưu khen rằng: “Đàn tốt. Đây chắc là đàn cổ từ thời Xuân Thu”.
Thiếu niên hơi ngạc nhiên: “Đúng thế, nghe nói Bá Nha đã dùng cây đàn này đàn cho Chung Tử Kỳ nghe bản Cao sơn lưu thủy”.
Kim Trục Lưu cười nói: “Cao sơn lưu thủy thì tôi không đàn được, tôi chỉ đàn được điệu Hạ Lý Ba nhân, huynh đài đừng cười”. Nói xong bắt đầu múa ngón trên đây đàn.
Đàn đến chỗ gấp gáp thì như muôn ngựa đang chạy, ngàn quân giết địch. Kim Trục Lưu vừa đàn vừa cao giọng hát: “Tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả. Niệm thiên địa chi du du, độc sảng nhiên hi thế hạ!” (Trước không thấy người xưa, sau người nay chưa đẻ. Ngẫm trời đất vô cùng, một mình tuôn giọt lệ). Tiếng đàn vàtiếng ca đều buồn bã trầm uất, nhưng không hề có chút bi thương, chỉ có chan chứa hào khí ngất trời! Khác hẳn với điệu đàn buồn bã của thiếu niên lúc nãy.
Thiếu niên gật gù: “Huynh đàn quả là tri âm, nếu đã thích cây đàn này, tôi sẽ tặng cho huynh đài”. Kim Trục Lưu cả kinh: “Tiểu đệ làm sao dám nhận món hậu lễ này?”
Thiếu niên buông giọng cười: “Hiếm khi gặp được người tri kỷ, chỉ là một cây đàn thì có đáng là chi?”
Kim Trục Lưu vốn cũng là người phóng khoáng, thấy thiếu niên hào sảng như thế thì lòng thầm nhủ: “Nếu mình không nhận thì rõ ràng mình còn câu nệ lễ lục”. Vì thế cầm cây đàn rồi nói: “Ngón đàn của huynh đài rất tài ba, Bá Nha thời cổ chắc cũng chỉ là thế, nhưng tôi lại không xứng là Chung Tử Kỳ. Nếu bảo là tri âm, tôi thật cảm thấy hổ thẹn. Tại hạ không dám từ chối ý tốt của huynh đài, nhưng đã nhận hậu lễ của huynh đài tôi cũng chẳng biết báo đáp thế nào”.
Thiếu niên ấy cười rằng: “Huynh đài muốn đáp đền ư? Rất dễ!” Rồi chỉ vào cây trường kiếm của Kim Trục Lưu: “Huynh đài mang kiếm theo bên mình chắc là tinh thông kiếm thuật. Ta dã đàn cho huynh đài nghe, huynh đài hãy múa kiếm cho ta thưởng thức!”
Hào tình trỗi dậy, Kim Trục Lưu nói: “Tôi chỉ mới học kiếm được vài năm, hiểu biết hạn hẹp. Nhưng tôi đã nghe ba khúc đàn của huynh, tôi chỉ trả lại một khúc cũng vẫn còn chưa đủ. Vả lại ngón đàn của tôi kém xa huynh, không dám múa rìu qua mắt thợ nữa. Thôi được, nếu huynh đã thích xem múa kiếm, tôi sẽ nguyện làm trò cho huynh xem.
Kim Trục Lưu nắm kiếm quyết, vung thanh kiếm lên, lập tức ngân quang tỏa ra nhanh như điện chớp, từng đóa kiếm hoa tung bay, kiếm khí ngang dọc. Chàng thiếu niên kêu hay một tiếng, bắt đầu gảy cây đàn.
Kim Trục Lưu có ý trổ tài cho nên đã múa bài Đại tu di kiếm thức tinh diệu nhất trong Thiên Sơn kiếm pháp, chàng chú tâm vào bài kiếm của mình đến nỗi thiếu niên ấy đàn gì chàng cũng chẳng biết. Chàng đang múa say sưa thì chợt phân tâm cho nên kiếm chiêu hơi loạn xạ. Số là chàng bất giác bị tiếng đàn ảnh hướng, chợt tiếng đàn và đường kiếm của chàng không hợp nhau, chàng mới phát giác ra.
Thiếu niên ấy ngạc nhiên: “Kiếm thuật của huynh đài quả nhiên tuyệt thế vô song?” Rồi y chỉnh lại dây đàn, lần này y dồn hết tâm trí, tiếng đàn lúc trầm lúc bổng, quả nhiên dần dần phù hợp với bài kiếm của Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu rất ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ y cũng hiểu Đại tu di kiếm thức, nếu không tiếng đàn của y làm sao có thể hòa hợp với bài kiếm của mình đến thế”
Kim Trục Lưu phân vân trong lòng nên không tập trung múa kiếm được, lúc này chàng đang thi triển chiêu đầu tiên trước khi thâu thế tên gọi Hoành uyển lục hợp, chiêu kiếm này đòi hỏi phải tập trung cao độ, chàng đang vội thâu thế cho nên đánh ra hơi nhanh, thiếu niên ấy chợt bốc một nắm sỏi vãi về phía chàng.
Chỉ nghe tiếng leng keng vang lên như tiếng đàn đang gấp, nắm sỏi ấy hóa thành bột trong màn kiếm quang, nhưng có một viên sỏi lướt vào đánh trúng Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu cả kinh, vội vàng thâu thế. Viên sỏi này chẳng có hại gì cho chàng, điều chàng thất kinh là kiếm pháp của chàng hơi có sơ hở, và thiếu niên ấy đã nhận ra.
Kim Trục Lưu vừa thâu thế chỉ nghe thiếu niên cười rằng: “Lúc nãy ta đã sai, lần này có lẽ huynh đài đã sai!”
Kim Trục Lưu cười ha hả, thâu kiếm thức rồi cung tay: “Huynh đài quả nhiên thật tinh mắt, tiểu đệ rất khâm phục. Té ra huynh đài cũng là một bậc thầy trong kiếm thuật, không biết tôn sư là ai?”
Thiếu niên cười đáp: “Nào phải là đại hành gia gì? Chẳng qua tôi chỉ biết vài môn công phu gia truyền lóng cóng đó mà thôi. Tôi không biết khách sáo, nói thật, [font="times new roman"]ngón đàn của huynh hơi kém tôi, nhưng kiếm thuật của tôi thì cao minh hơn huynh nhiều”.
Kim Trục Lưu nghi ngại trong lòng, chàng thầm nhủ: “Bộ Đại tu di kiếm pháp này là do cha phát triển từ Thiên Sơn kiếm pháp, trong đó có dung hợp chiêu số trong bí kíp của Kiều tổ sư, chả lẽ kiếm thuật của y giống với nhà mình?” Nhưng dò hỏi bí mật võ công của người khác là điều cấm kị trong giang hồ, cho nên Kim Trục Lưu tuy nghi ngờ nhưng cũng không tiện hỏi.
Kim Trục Lưu cảm thấy thiếu niên này và mình rất hợp nhau, vì thế nói: “Được huynh đài coi là tri âm, nếu không chê chúng ta có thể kết thành huynh đệ chăng? Tiểu đệ họ Kim, tên Trục Lưu. Năm nay vừa còn hai mươi tuổi”.
Thiếu niên chậm rãi: “Ồ, Kim... Trục Lưu? Xưa kia có một vị đại hiệp nổi tiếng thiên hạ tên Kim Thế Di, không biết có mối quan hệ gì với Kim huynh?” Kim Trục Lưu đáp: “Chính là gia phụ”. Thiếu niên hơi biến sắc: “Nếu như thế
tôi không đám trèo cao”.
Kim Trục Lưu cả cười: “Lúc nãy huynh còn trách tôi câu nệ lễ tiết thế tục, sao huynh cũng nói những lời này? Cha tôi là đại hiệp nổi tiếng thiên hạ, tôi chẳng qua chỉ là một tên ăn mày con mà thôi!”
Thiếu niên ấy không khỏi cười ha hả: “Kim lão đệ, đệ thật thú vị. Không ngờ chúng ta vừa gặp đã coi nhau như bạn, sống trên đời hiếm khi được gặp tri kỷ, chúng ta phải kết giao nhau đi thôi. Ta họ Lý tên Nam Tinh, năm nay hai mươi hai tuổi, lớn hơn đệ hai tuổi, ta không khách sáo gọi đệ một tiếng lão đệ!”
Kim Trục Lưu mừng lắm, liền đó hai người bái nhau tám bái, kết thành huynh đệ, Kim Trục Lưu gọi một tiếng “đại ca”, lòng thầm nhủ: “Mình chưa bao giờ nghe ai nói đến tên của đại ca. Giang sư huynh thích những thiếu niên anh hùng, hỏi ông ta chắc sẽ biết”. 
Lúc này bóng chiều đã ngả về tây, Kim Trục Lưu chuẩn bị ngày mai đến nhà Tát Phúc Đỉnh, cho nên phải quay về sớm, chàng nói với Lý Nam Tinh: “Tiểu đệ hiện đang ở nhà một người bằng hữu họ Đới trong thành, nếu đại ca có rảnh, mời vài ngày sau đến chơi”.
Lý Nam Tinh đáp: “Được, đệ có chuyện cứ đi trước. Ta muốn ngồi một lúc nữa”. Kim Trục Lưu cho y biết địa chỉ, nhưng y lại không nói địa chỉ của mình cho Kim Trục Lưu biết.
Kim Trục Lưu định quay về, Lý Nam Tinh chợt kêu: “Lão đệ, quay lại, sao đệ lại sơ ý đến thế!”
Chính là: Kiếm đàn tương giao cùng thoát tục, thiếu niên vừa gặp đã tương đầu.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 18 sẽ rõ. [/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 08:28:55Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Mười Tám
Báu vật bày ra dụ đạo tặc
Hoa đường huyên náo gặp giai nhân

Kim Trục Lưu khựng người lại, chàng ngạc nhiên quay đầu, Lý Nam Tinh cười bảo: “Đệ quên mang theo cây đàn này”. Kim Trục Lưu áy náy: “Không phải tiểu đệ coi thường quà của đại ca, chính vì đây là báu vật hiếm có, cho nên tiểu đệ...” Lý Nam Tinh không vui: “Chả lẽ cây đàn này quý hơn giao tình của chúng ta hay sao? Thứ ta đã tặng quyết không lấy về lại, nếu đệ chê thì ta sẽ đập nát nó?”
Kim Trục Lưu vội vàng nhận lấy cây đàn: “Đại ca đừng giận, tiểu đệ xin nhận. Thực ra...” thực ra Kim Trục Lưu không có ý khách sáo, chỉ vì cây đàn quá quý giá, lúc đi lòng lại có chút tâm sự cho nên quên rằng Lý Nam Tinh đã tặng cây đàn cho chàng. Lý Nam Tinh: “Thật ra cái gì?” Kim Trục Lưu không muốn giải thích, nhưng đành nói: “Không có gì. Trong lòng tiểu đệ chỉ có chút tâm sự”. Lý Nam Tinh hỏi: “Tâm sự gì vậy?”.
Kim Trục Lưu vỗ vào vỏ kiếm: “Đáng tiếc thanh kiếm này của đệ không phải là kiếm quý, nhưng đệ nhất định sẽ tặng cho đại ca một thanh kiếm quý!” Lý Nam Tinh hỏi lại: “Cái gì? Đệ muốn trả ơn ta sao?” Kim Trục Lưu đáp: “Không phải như thế, đó chỉ là tâm nguyện của mỗi người mà thôi. Vì đệ hiểu tiếng đàn của huynh mà huynh đã tặng cho đệ cây dàn cổ, đệ cũng cho rằng huynh là người tri âm kiếm thuật của đệ, cho nên đệ phải tặng cho huynh một thanh kiếm? Đệ phải nói trước rằng, nếu huynh không chịu nhận bảo kiếm của đệ thì huynh đã coi nhẹ tấm giao tình của đệ”.
Lý Nam Tinh thầm cười: “Chưa thấy thanh bảo kiếm đâu mà đã trịnh trọng như thế”. Tuy như thế nhưng y cũng cảm kích thành ý của Kim Trục Lưu, nên cũng trịnh trọng: “Được, ta xin đáp tạ lão đệ trước”.
Kim Trục Lưu cả mừng, cầm cây đàn lập tức trở về kinh thành, may mà cửa thành vẫn chưa đóng, khi về đến nhà họ Đới thì trời đã đến hoàng hôn, cha con Đới Quân đang đợi chàng ăn cơm tối.
Đới Quân hỏi: “Đệ đi đâu cả ngày hôm nay?” Kim Trục Lưu đáp: “Tôi đến Vạn lý trường thành du ngoạn, kết giao cùng một người bằng hữu, quay về muộn. Người bằng hữu ấy đã tặng cây cổ cầm này cho tôi”.
Đới Quân không biết cổ cầm này là vật quý, nhưng lại lo lắng chàng gây ra chuyện, dặn: “Thiếu niên thích chơi bời ta không trách, huống chi lần đầu tiên đệ mới đến Bắc Kinh. Nhưng ngày mai là ngày lễ mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh, nhân vật tam sơn ngũ nhạc đều tụ tập ở kinh đô, ta nghĩ đệ phải cẩn thận hơn. Chưa biết lai lịch của người ta thì tạm thời không nên kết giao”.
Kim Trục Lưu đáp: “Đa tạ lão tiền bối đã khuyên nhủ, nhưng có thể yên tâm về người bằng hữu này”. Đới Quân nói: “Ta tin con mắt của đệ, ta cũng là người rất thích kết giao bằng hữu, có điều ta mong đệ mấy ngày nay nên cẩn thận hơn”.
Kim Trục Lưu ăn xong cơm tối, ngập ngừng: “Đới lão tiền bối, xưa nay ông ở Bắc Kinh chắc là ông đều kết giao những nhân vật tam giới cửu lưu trong kinh?” Đới Quân vuốt râu đáp: “Đệ muốn hỏi thăm về ai? Trong kinh thành Bắc Kinh, chỉ cần có chút danh tiếng, ta đều biết cả”.
Kim Trục Lưu nói: “Đệ có một tảng huyền thiết, muốn nhờ một thợ đúc kiếm giỏi rèn thanh bảo kiếm. Không biết trong kinh thành có thợ đúc kiếm nào nổi tiếng nhất?” Đới Mạc lần đầu tiên nghe chữ “huyền thiết”, hỏi liền: “Huyền thiết là gì?”
Đới Quân thất kinh, kêu lên: “Nghe nói huyền thiết chỉ có ở Tinh Túc hải trên núi Côn Luân, nặng gấp mười lần thiết bình thường, không ngờ lão đệ lại có vật quý này. Thợ đúc kiếm nổi tiếng nhất trong kinh thành Bắc Kinh e rằng không xứng đúc thanh kiếm này”.
Kim Trục Lưu rất thất vọng: “Nếu không tìm được người đúc kiếm, có báu vật cũng vô dụng”. Đới Quân nói: “Để ta nghĩ xem sao”. Một lát sau nói: “Ta nghĩ có một người có thể đúc kiếm cho đệ, nhưng y không sống bằng nghề đúc kiếm. Nếu ta đến nhờ y thì có thể y sẽ chấp nhận. Đáng tiếc ta không thể ra khỏi nhà, chỉ đành đợi mọi chuyện êm thấm sẽ tìm cách cho lão đệ”.
Kim Trục Lưu như cất được tảng đá trong lòng, nghĩ bụng: “Đến khi mình đúc xong thanh kiếm sẽ tặng cho đại ca, báo đáp ơn tặng đàn của y”. Thế rồi, trịnh trọng nhờ Đới Quân rồi quay về phòng nghỉ ngơi.
Hôm sau Kim Trục Lưu thức dậy rất sớm, trước tiên dùng nhật dung đơn thay đổi dung mạo của mình, nhật dung đơn thật ra là một loại mỹ phẩm thời xưa, có thể thay đổi da mặt, nhưng không làm cho khuôn mặt biến hình. Nhưng nếu kỹ thuật hóa trang cao minh, dùng nhật dung đơn cũng có thể giấu mặt thật của mình. Kim Trục Lưu được Cơ Hiểu Phong tặng mười viên nhật dung đơn, Cơ Hiểu
Phong đương nhiên cũng dạy chàng cách hóa trang, Kim Trục Lưu trước tiên chọn một viên có thể cải trang thành người trung niên bôi lên mặt, sau đó gắn hai chòm râu, chàng nhìn vào gương thì quả nhiên thấy mình giống như một người trung niên bốn mươi tuổi, trông rất tầm thường. Cha con Đới Quân đang đợi Kim Trục Lưu ăn cơm ở ngoài, thấy một “người lạ” bước vào, Đới Mạc cả kinh, quát: “Ngươi là ai?” Kim Trục Lưu cười: “Là tôi!” Đới Quân nói: “Kim lão đệ, dung mạo của đệ thay đổi thật cao minh, nhưng rất tiếc giọng nói vẫn chưa thay đổi, phải già hơn một chút mới giống người có tuổi”.
Kim Trục Lưu cúi đầu: “Đa tạ chỉ giáo”, rồi chàng thu kình khí, nói ra quả nhiên nghe hơi già nua. Đới Quân hỏi: “Tại sao lão đệ phải thay đổi dung mạo?”
Kim Trục Lưu đáp: “Tôi muốn ra ngoài”. Đới Mạc nói: “Hôm nay là ngày mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh!” Kim Trục Lưu nói: “Chính vì thế tôi mới cải trang, nếu gặp người quen thì họ sẽ không nhận ra tôi” Đới Quân hỏi: “Hôm nay tạm thời ở nhà một ngày được không?” Kim Trục Lưu nói: “Tôi đã có hẹn với bằng hữu, không tiện thay đổi”. Kim Trục Lưu vì sợ cha con họ lo lắng cho nên không dám nói ra sự thật.
Đới Quân nghe chàng nói như thế thì không tiện ngăn cản, bèn bảo: “Bản lĩnh của lão đệ cao cường, lại thay đổi dung mạo, chắc là không xảy ra chuyện gì, nhưng tốt hơn là nên cẩn thận”. Kim Trục Lưu nói vâng một tiếng rồi vội vàng ăn điểm tâm sau đó cáo từ Đới Quân.
Đới Quân nghỉ ngơi một lát rồi bảo: “Hôm nay có lẽ sẽ có một người khách tới, nếu Kim lão đệ không có chuyện gì khác, gặp bằng hữu xong hãy nên về sớm một tí”.
Kim Trục Lưu vâng dạ: “Lão bá đừng lo, tôi sẽ cố gắng quay về sớm”. Ra khỏi nhà Đới Quân, chàng thầm nhủ: “Hôm nay Sử Bạch Đô chắc chắn sẽ đến chúc thọ Tát Phúc Đỉnh, Đinh Bành là một đầu mục của y, không có tư cách đi cùng Sử Bạch Đô, y không có người chống lưng, một mình chắc chắn sẽ không đám đến nhà họ Đới tìm kẻ thù. Không biết người khách mà Đới Quân nói là ai? Nhưng chắc không phải Sử Bạch Đô và Đinh Bành”.
Đới Quân không hề nhờ Kim Trục Lưu nhưng Kim Trục Lưu lại muốn giúp đỡ ông ta. Chàng chỉ lo Sử Bạch Đô đến nhà họ Đới, nhưng đã đoán hôm nay không thể xảy ra chuyện đó cho nên yên tâm ra ngoài.
Đi được một hồi, Kim Trục Lưu chợt nghĩ “Tát Phúc Đỉnh là đại nội tổng quản, hôm nay khách khứa sẽ đến đầy nhà. Nhưng e rằng không phải ai cũng có thể đến được? Nếu có người tra vấn thì mình ứng phó thế nào đây?”
Nghĩ chưa xong, chợt thấy phía trước có hai người, vừa nhìn thì đã biết đó là nhân vật giang hồ. Kim Trục Lưu nảy ra một ý, chàng bước tới hỏi: “Có phải hai vị đến Tát phủ hay không?”
Hai người ấy quay đầu lại, hỏi ngược lại: “Lão ca là bằng hữu ở đâu?” Kim Trục Lưu nói: “Tiểu đệ quen biết một người bằng hữu họ Văn, bằng hữu này có giao tình với Tát tổng quản, được y mời cho nên hôm nay tôi cũng đến xem náo nhiệt”.
Người ấy lộ vẻ ngưỡng mộ, nói: “Có phải người họ Văn ấy tên gọi Văn Đạo
Trang không?” Kim Trục Lưu: “Chính thế. Hai người có quen biết với y?”
Hai người này nói: “Tôi nào dám trèo cao. Tôn tính đại danh của huynh đài là gì?” Kim Trục Lưu bịa ra một cái tên giả, rồi chàng hỏi tên của hai người này mới biết người cao tên gọi Trương Hoằng, kẻ lùn tên gọi Lý Tráng.
Trương Hoằng nói: “Tôi có quen một chấp sự họ Tiền trong Tát phủ, cho nên mới xin được hai thiệp mời”.
Kim Trục Lưu giật mình: “Quả nhiên là bọn chúng có thiệp mời”. Rồi hỏi:
“Không biết hai người ở bang phái nào?”
Hai người đáp: “Chúng tôi chỉ là đại đạo độc cước”.
Kim Trục Lưu nói: “Nghe nói có rất nhiều người có tiếng tăm trong giang hồ hôm nay cũng đến?”
Lý Tráng nói: “Đúng thế, nghe nói bang chủ của Lục Hợp bang Sử Bạch Đô, bang chủ Hải Sa bang Sa Thiện Phong, bang chủ của Thanh Long bang Cao Đại Thành, bang chủ của Bạch Hổ bang Đỗ Đại Nghiệp đều đến cả”.
Kim Trục Lưu nghi ngờ: “Hôm nay có đông khách khứa như thế, e rằng cũng có những kẻ tâm địa xấu xa lẻn vào!”
Lý Tráng cười nhẹ: “Yên tâm, chuyện đó không thể xảy ra. Người của các bang hội thì đi theo bang chủ của họ, còn những khách riêng lẻ như chúng ta đều có thiệp mời cả, những kẻ không có lai lịch không thể nào lẻn vào được!”
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Lấy thiệp mời rồi tính tiếp”. Thế rồi chàng đi sau Lý Tráng, ngầm vận nội lực, điểm nhẹ vào huyệt khiên phong ở be sườn trái của Lý Tráng. Kim Trục Lưu dùng lực rất khéo, Lý Tráng không hề hay biết. Huyệt khiên phong có liên quan đến đại trường, Lý Tráng đi một hồi thì chợt cảm thấy bụng đau như cắt, mồ hôi lạnh tuôn ra như mưa, không thể nào bước chân được nữa.
Trương Hoằng cả kinh: “Lý huynh, huynh sao thế?” Lý Tráng rên rỉ: “Ta, hình như ta đã bị bệnh, ta đau bụng quá!”
Kim Trục Lưu lo lắng: “Tiểu đệ cũng biết y thuật, để tiểu đệ xem cho Lý huynh”. Rồi giả vờ kêu lên: “Ôi chao, không xong?”
Trương Hoằng hốt hoảng: “Bệnh gì?”
Kim Trục Lưu dọa: “Là bệnh quặn ruột. Phải mau chưa trị đi thôi! Phía trước có một tiệm thuốc, tôi thấy Lý huynh chi bằng hãy tìm đại phu xem thử, rồi hốt thuốc uống ngay. Có lẽ hai canh giờ nữa sẽ khỏe”.
Lý Tráng đang bị đau bụng, nghe Kim Trục Lưu nói như thết hì hoảng hồn đến nỗi mặt vàng ệch, van nài Trương Hoằng: “Trương huynh, huynh hãy đỡ tôi đi hộ. Cứu, cứu mạng, chắc không thể đi không thể dự tiệc được rồi”.
Trương Hoằng là huynh đệ kết bái với Lý Tráng, tuy không muốn nhưng cũng đành phải chịu. Kim Trục Lưu bảo: “Không ngờ Lý huynh lại đột nhiên phát bệnh, tiểu đệ tưởng có thể đi cùng với hai vị. Bằng hữu có nạn, tôi cũng không đi dự yến nữa”.
Trương Hoằng lắc đầu: “Không, không. Cứ để Lý huynh cho tôi chăm sóc. Khi đến Tát phủ hãy nói hộ chúng tôi một tiếng để họ khỏi hiểu lầm, tưởng rằng chúng tôi làm phách, gửi lễ vật mà không chịu đến”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Đúng thế, phải có người bẩm cáo hộ cho các vị mới được. Hai người hãy yên tâm, tiểu đệ sẽ nói với Văn Đạo Trang. Chúc Lý huynh mau khỏi bệnh, tiểu đệ đi trước đây”. Hai người Trương, Lý, vội vàng đáp tạ, Kim Trục Lưu thì vừa đi vừa cười thầm.
Té ra trong lúc xem mạch cho Lý Tráng, Kia Trục Lưu đã đánh cắp thiệp mời của y. Khi đến phủ của Tát Phúc Đỉnh. khách khứa đã đến đông nghịt.
Kim Trục Lưu thầm quan sát, thấy hễ những khách đi riêng vừa vào cửa thì có tri khách quen mặt chào hỏi họ, sau đó mới có người nhà dắt vào. Kìm Trục Lưu thầm nhủ: “Trương Hoằng, Lý Tráng đều có người quen ở nhà họ Tát, không thể giả mạo bọn chúng được. Lẻn vào bằng cách nào đây?”
Người phía sau đã đẩy tới, Kim Trục Lưu không đi cũng không được, chỉ đành đánh liều bước tới. Chàng đang lo lắng trong lòng, vô tình dẫm phải một người bên cạnh, người ấy giận dữ nói: “Ngươi không có mắt ư?” Rồi trở tay chụp lấy Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu và người ấy chạm mặt nhau, hàng không khỏi cả kinh, té ra đó là Trịnh Hùng Đồ, kẻ đã từng giao thủ với chàng ở Khoái Hoạt Lâm Tô Châu. Kim Trục Lưu sợ y nhận ra, không dám lên tiếng. Trịnh Hùng Đồ chụp tay Kim Trục Lưu, cũng không khỏi thất kinh. Số là y đã luyện công phu Thiết sa chưởng, y vốn có ý khống chế chàng, nhưng Kim Trục Lưu không hề hay biết, trái lại mạch môn của Trịnh Hùng Đồ đau nhói như bị kim đâm.
Người bên cạnh khuyên: “Chúng ta đều là khách chúc thọ Tát đại nhân có gì hãy bỏ quá cho nhau”. Trịnh Hùng Đồ đang chờ cơ hội xuống nước, thế là vội vàng rút tay, gằn: “Không có gì, chẳng qua ta chỉ muốn mời đại ca này đi trước mà thôi”. Lòng thầm nhủ: “Tên tiểu tử này thật quái dị, không biết là nhân vật ở đâu”.
Chợt có người kêu lên: “Trịnh đại ca, huynh đã đến rồi đấy ư!” Kim Trục Lưu nghe giọng nói này thì không khỏi cả mừng, té ra người đó chính là Cung Bỉnh Phan.
Kim Trục Lưu hạ giọng: “Trịnh đại ca, huynh đi trước”. Trịnh Hùng Đồ gặp người quen, mừng rồi bước tới, cũng chẳng thèm nhìn Kim Trục Lưu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 08:39:03Hoàng Dung>
Trịnh Hùng Đồ mừng rỡ: “Cung hương chủ, té ra ông làm từ khách ở đây. Công Tôn đà chủ của các người cũng đến ư?” Đà chủ của Hồng Anh hội Công Tôn Hoằng là nhân vật có tiếng tăm trên giang hồ, tề danh cùng với Sử Bạch Đô, xưa nay rất kiêu ngạo. Trịnh Hùng Đồ tưởng rằng y không đến, cho nên thấy Cung Bỉnh Phan mới hỏi như thế.
Cung Bỉnh Phan đáp: “Đà chủ của chúng tôi vốn là không muốn đến, nhưng vì Sử đà chủ đã mời cho nên cũng tới. Tôi lại rảnh rỗi không có chuyện gì làm nên ra đây giúp đỡ”. Kim Trục Lưu bước vào, các tri khách ở cổng lớn đều không nhận ra chàng, có hai người bước tới cười đón: “Xin lỗi, cho xem thiệp mời. Lão huynh là...”
Kim Trục Lưu lấy thiệp mời dúi vào tay y, giả vờ phát hiện ra Cung Bỉnh Phan, không thèm để ý đến y mà bước tới trước mặt Cung Bỉnh Phan, cười ha hả: “Cung hương chủ, ông đến thật sớm!”
Cung Bỉnh Phan quen biết rất rộng rãi, người ta biết y, y không biết người ta là chuyện thường, Cung Bỉnh Phan đang suy nghĩ “Kẻ này là ai?” Kim Trục Lưu đã không đợi y lên tiếng hỏi mà đưa tay nắm lấy tay y rồi nói: “Hôm ấy ở hồ Đại Minh không giữ được huynh, nay chúng ta phải uống một trận cho thỏa thích”. Hai tay chạm vào nhau, Cung Bỉnh Phan đã đoán được vài phần, bởi vì Kim Trục Lưu đã từng giao thủ với y vài lần. Lại nghe Kim Trục Lưu nói như thế cho nên đương nhiên biết chàng là ai.
Cung Bỉnh Phan thầm thất kinh: “Tên tiểu tử này quả thật lớn gan!” Y vừa thất kinh vừa không khỏi không khâm phục Kim Trục Lưu, lòng thầm nhủ: “Y đã có gan xông vào, chả lẽ mình không chịu gánh vác cho y?! Quá lắm chẳng qua là trở mặt với Sử Bạch Đô, dù sao mình cũng không thể để y coi thường”. Vì thế liền cười ha hả: “Xin mời Kim huynh, hôm nay e rằng tôi không rảnh cùng huynh uống rượu, nhưng tửu lượng của đà chủ chúng tôi rất cao, huynh chỉ cần bảo là bằng hữu của Cung mỗ, ngài chắc chắn sẽ uống cùng huynh”. Ý của y muốn cho Kim Trục Lưu biết rằng, Công Tôn Hoằng không phải cùng một giuộc với Sử Bạch Đô, Kim Trục Lưu cứ đến làm quen với y, nếu có chuyện gì xảy ra thì đã có Công Tôn Hoằng.
Bọn tri khách thấy họ thân mật như thế, ai cũng tưởng rằng Kim Trục Lưu là bằng hữu của Cung Bỉnh Phan, đương nhiên cũng không tra hỏi nữa. Vì thế Kim Trục Lưu dễ dàng vượt qua ải này.
Tri khách dắt Kim Trục Lưu vào khách sảnh uống trà rồi vội vàng ra tiếp khách mới. Kim Trục Lưu đưa mắt nhìn quanh, chỉ thấy Cao Đại Thành, Đỗ Đại Nghiệp, Trịnh Hùng Đồ, Sa Thiên Phong đều trong phòng khách chứ không thấy Sử Bạch Đô. Chàng chợt vô tình nhìn thấy có một thiếu niên dung mạo thanh tú ngồi ở một góc, cúi đầu uống trà chứ không nói chuyện với người xung quanh. Kim Trục Lưu giật mình, thầm nhủ: “Ồ, hình như người này rất quen mặt, không biết mình đã gặp y ở đâu?” Chợt nghĩ lại nếu qua nói chuyện với y, chỉ sợ người ta nhận ra mình nên đành thôi. Chàng chợt nghe hai người khách bên cạnh nói chuyện, một người hỏi: “Chúng ta có nên vào thọ đường chúc thọ cho chủ nhân hay không?” Một người nói: “Nghe nói chủ nhân còn tiếp đãi khách quý ở nội đường, chắc là không ra thọ đường dự lễ sớm! Ngươi có biết không, Sử Bạch Đô của Lục Hợp bang và Công Tôn đà chủ của Hồng Anh hội đều đến! Công Tôn đà chủ xưa nay không qua lại với quan phủ, hiếm có dịp ông ta đến chúc thọ, Tát tổng quản chắc chắn sẽ tiếp đãi ông ta?” Người kia cười rằng: “Ta biết chứ. Nhưng chúng ta vào thọ đường trước để mở rộng tầm mắt cũng được!”
Người kia hỏi lại: “Mở rộng tầm mắt cái gì?”
Bằng hữu của y nói: “Ô, té ra ngươi vẫn chưa biết ư, quà mừng đều để trong thọ đường, nghe nói còn có báu vật của hoàng thượng ngự ban”.
Kim Trục Lưu nghe hai người nói, quay đầu lại nhìn, không thấy thiếu niên kia đâu nữa, chắc là đã vào thọ đường. Vì thế Kim Trục Lưu cũng đi sau hai người này, tiến vào trong thọ đường.
Thọ đường rộng hơn khách sảnh nhiều lần, bên trong có tám cái bàn bát tiên, bày đầy lễ vật của các nơi. Thứ gây chú ý nhất đương nhiên là lễ vật của hoàng đế ban cho, đó là một đôi dưa hấu bằng ngọc trong suốt. Thứ đến là một cây thiên niên hà thủ ô của Sử Bạch Đô tặng, nghe nói loại hà thủ ô này là loại thuốc bổ hiếm có, có thể cải tử hồi sinh. Số là sau khi mất chuỗi ngọc trai và tảng huyền thiết, Sử Bạch Đô mới tìm được cây hà thủ ô này.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ai nấy đều khen đôi dưa hấu bằng ngọc, thật ra chẳng qua chỉ vì đó là thứ của hoàng đế mà thôi, nhưng mình lại thích cây hà thủ ô hơn”.
Nghĩ đến đây thì không khỏi thầm cười: “Mình đã cướp tảng huyền thiết của y, mượn ngựa quý của y, nay lại muốn cướp cây hà thủ ô này, há chẳng phải khiến cho y tức đến nỗi thất khiếu bốc khói hay sao? Hà thủ ô đương nhiên là báu vật, nhưng chẳng bằng tảng huyền thiết, mình cũng không nên quá tham lam như thế. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, gã Sử Bạch Đô này quả thật thần thông quảng đại, sau khi mất hai món quà quý mà có thể tìm được món thứ ba cũng là vật hiếm có trên đời”.
Sau đôi dưa hấu bằng ngọc và cây hà thủ ô, mọi người đều công nhận món quà quý tiếp theo là nhánh thông thiên tê giác, thông thiên tê giác là loại tê giác hiếm có ở vùng núi tuyết Tây Tạng, nghe nói nếu rượu thịt bị bỏ thuốc độc, chỉ cần nhúng thông thiên tê giác vào thì nó sẽ đổi màu. Mài thông thiên tê giác để uống có thể giải được bách độc. Loại thuốc giải độc hay nhất trên đời là thiên sơn tuyết liên, thứ đến là loại thông thiên tê giác này. Nghe nói đó là do một Phật sống ở Tây Tạng tặng cho. Phật sống đương nhiên không đích thân đến chúc thọ, nhưng cũng đã phái thủ hạ đến tặng món quà này. Đối với Tát Phúc Đỉnh cũng là một vinh dự.
Ngoài ba món đồ quý này, những thứ trân trâu, ngọc thạch, san hô mã não thì vô số, Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Nếu Cơ bá bá ở đây chắc chắn sẽ mang đầy túi về” Khách khứa ngắm nhìn lễ vật, ai nấy đều trầm trồ khen ngợi. Nhưng cũng có người bàn tán: “Vốn là lễ vật không chỉ có bao nhiêu đây, nghe nói trên đường đã bị người ta cướp rất nhiều món”. “Lễ vật của Thanh Long bang và Bạch Hổ bang đều bị người ta cướp”. “Ngươi có biết ai cướp không?” “Nghe nói là một nữ tử che mặt, không ai biết ả là ai”.
Kim Trục Lưu nghe mọi người bàn tán, lòng cười thầm: “Các người không biết nhưng ta lại biết”. Song, chàng lại hơi thất vọng. Bởi vì lần này Kim Trục Lưu mạo hiểm đến đây, một trong những mục đích chính là mong có thể gặp được Sử Hồng Anh, nhưng cho đến lúc này vẫn chưa thấy nàng.
“Nàng không dám đến hay là mình vẫn chưa phát hiện?” Kim Trục Lưu thầm nhủ, chàng đang nôn nóng tìm Sử Hồng Anh, cho nên chẳng còn lòng dạ nào xem lễ vật nữa.
Nữ khách đến chúc thọ ở Tát phủ chia làm hai loại, một loại là thân quyến của nhà quan đi cùng chồng đến, những người này nấp trong nội đường, còn những người kia là nhân vật giang hồ, ví như Đổng Thập Tam nương của Lục Hợp bang chẳng hạn. Những nữ khách này thì ở trong thọ đường, nhưng rất hiếm.
“Chả lẽ Sử Hồng Anh đi cùng gia quyến của nhà quan?” Kim Trục Lưu thầm suy nghĩ, chợt chàng nghe có hai người đang nói chuyện: “Nghe nói mấy ngày trước bọn họ tưởng con gái của Phong Tử Siêu là nữ tặc cướp báu vật. Lão đệ, đệ có biết chuyện này không?” “Thế à! Đệ không biết!” “Ồ, nói ra thật lạ! Ta tưởng đệ biết chuyện này” “Sa bang chủ, sao huynh lại bảo tôi biết chuyện này?”
Giọng nói của người sau nghe rất trong trẻo, Kim Trục Lưu tựa cảm thấy tựa như đã từng nghe ở đâu, chàng vội vàng đưa mắt tìm kiếm, chỉ thấy hai người nói chuyện, một người là Sa Thiên Phong, người kia là thiếu niên lúc nãy. Sa Thiên Phong đang nhìn thiếu niên ấy với ánh mắt nghi ngờ.
Kim Trục Lưu lập tức cũng nghi ngờ, định chen qua, nhưng lúc này tiếng ồn ào trong thọ đường chợt im hẳn, có người thì thầm: “Thọ tinh công đã ra”.
Chỉ thấy có một người ăn mặc sang trọng bước vào thọ đường, người ấy chắc chắn là Tát Phúc Đỉnh. Hai bên Tát Phúc Đỉnh là Văn Đạo Trang và Sử Bạch Đô, bọn họ đứng phía sau, còn một người đi sánh vai cùng với Tát Phúc Đỉnh là một hán tử mặt đại quải, trông giống như một người nhà quê. Trong khung cảnh thế này, có một người nhà quê đi ra cùng Tát Phúc Đỉnh đương nhiên khiến cho nhiều người để ý.
Kim Trục Lưu hỏi người bên cạnh mới biết đó chính là Công Tôn Hoằng. Công Tôn Hoằng vừa vào thọ đường đã đi tìm bằng hữu của y. 
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Công Tôn Hoằng này quả nhiên không giống Sử Bạch Đô, xem ra y không phải là phường a đua nịnh bợ”.
Tát Phúc Đỉnh ra nhận lễ, mọi người đều tranh nhau chúc thọ. Sa Thiên Phong không hỏi thiếu niên ấy nữa mà chen chân lên. Kim Trục Lưu đã hơi sơ ý, thì đã không nhìn thấy thiếu niên ấy nữa.
Khách khứa tuy tranh nhau chúc thọ nhưng cũng rất có trật tự, đà chủ của các bang hội lên trước những kẻ có tư cách kém hơn thì dù chen ở trước mặt cũng không dám không nhường cho họ.
Sa Thiên Phong chúc thọ xong, đến lượt Cao Đại Thành và Đỗ Đại Nghiệp, chợt có một đại hán râu xồm vẹt mọi người bước ra, cao giọng: “Ta đến chúc thọ cho ngươi!” Khi mọi người đang ngạc nhiên, y đã vung tay tóm về phía Tát Phúc Đỉnh. Thủ pháp quả thật nhanh đến khó hình dung!
Tát Phúc Đỉnh là đại nội tổng quản, võ công đương nhiên phi phàm, nhưng không thoát khỏi cú chụp của hán tử râu xồm ấy, chỉ thấy đau nhói đến tận tim gan, hán tử râu xồm quát rằng: “Nếu ngươi nhúc nhích ta bóp nát xương”. Nói chưa dứt lời, y giật ngang một chỗ, khiến Cao Đại Thành bay vọt lên, Đỗ Đại Nghiệp đứng ở phía sau cũng bị va phải nên té lăn nhào. Té ra hai người bọn họ định đánh lén, nhưng không ngờ hán tử đã ra tay trước. Sự việc này quả thật bất ngờ, Văn Đạo Trang đứng bên cạnh Tát Phúc Đỉnh muốn giải cứu nhưng cũng không kịp! Trong khoảnh khắc này, khách khứa trong đường đều ngẩn người ra, chợt có người kêu: “Chính là Uất Trì Đồng!”
Hán tử râu xồm cười ha hả: “Đúng thế, Uất Trì Đồng đã khiến cho các vị giật mình! Huynh đệ dưới trướng của ta không có cơm ăn, các người lại tặng lễ vật cho tên cẩu quan này, chi bằng cứ tặng cho ta, ta sẽ nhớ ơn các người! Các người hãy đứng yên không được nhúc nhích, nếu không đừng trách ta đắc tội!”
Uất Trì Đồng là đại đạo nổi tiếng ở miền quan ngoại, năm năm trước đã từng gây náo loạn ở kinh đô. Giờ đây y là nghĩa quân ở miền Tiểu Kim Xuyên, lần này vào kinh là đến mượn lương hưởng của Tát Phúc Đỉnh.
Mọi người trong thọ đường đều biết Uất Trì Đồng là đại đạo giết người không chớp mắt, quả nhiên không ai dám động đậy. Bọn vệ sĩ vốn biết y đã đi theo nghĩa quân thì càng kinh hoảng hơn, lòng thầm nhủ: “Nếu Tát đại nhân rơi vào tay cường đạo thì còn dễ giải quyết. Nếu rơi vào tay phản tặc, chỉ e rằng không sống nổi!”
Nhưng ai cũng cảm thấy kỳ lạ, không biết sao một tên mã tặc nổi tiếng như thế này mà vẫn có thể lẻn vào bên trong được!
Uất Trì Đồng nói vài câu, chỉ thấy bảy tám hán tử ăn mặc theo kiểu gia bộc chen vào, mỗi người cầm một cái bao bố quơ hết lễ vật ở trên bàn.
Những người này chính là thủ hạ của Uất Trì Đồng đã mai phục sẵn ở trong Tát phủ. Vì Tát phủ đang có việc lớn cho nên phải thuê thêm nhiều người, Uất Trì Đồng nhờ người khác ra mặt mua chuộc quản sự trong Tát phủ, cài thuộc hạ của mình vào, nhưng bản thân Uất Trì Đồng thì lại dùng cách khác lẻn vào, sau này đọc giả sẽ biết. Khi thủ hạ của Uất Trì Đồng ra tay cướp của, có hai người khách không biết là muốn ra tay ngăn cản hay vô tình dời bước, khi họ vừa đang nhúc nhích thì chợt nghe hai tiếng “ối chao” vang lên, rồi bỗng nhiên ngã xuống.
Chỉ thấy một phụ nữ áo đen đứng ở trước cửa, lạnh lùng nói: “Đương gia của ta đã nói trước, ai không nghe lời Đương gia của ta thì cũng giống như hai người này!”
Mọi người nhìn thấy phụ nữ này thì càng lạnh mình. Té ra nàng ta chính là Kỳ Thánh Ân vợ Uất Trì Đồng, có ngoại hiệu Thiên Thủ Quan âm. Thủ pháp ném ám khí của Kỳ Thánh Ân có thể nói là hàng nhất tuyệt trong võ lâm, lấy tính mạng của người ta dễ như nhổ cỏ!
Kỳ Thánh Ân vừa xuất hiện đã giết hai người, không ai biết nàng ta đã dùng thủ pháp gì cho nên ai nấy đều kinh hãi.
Chợt cả người buột miệng: “Công phu hay lắm!” Người đó chính là Văn Đạo Trang, nói chưa dứt lời thì hai đồng tiền đã bay ra từ trong tay của y. Lúc này thủ hạ của Uất Trì Đồng đã dồn lễ vật trên bàn vào trong bao bố, chỉ còn lại đôi dưa hấu bằng ngọc và cây hà thủ ô.
Văn Đạo Trang phóng tiền tiêu khiến cho họ bất ngờ, một người thấy thế vội vàng giật đôi dưa hấu. Nhưng cũng đã trễ một bước, tuy lấy được đôi dưa hấu nhưng cây hà thủ ô thì không cánh mà bay.
Số là thủ pháp ném tiền tiêu của Văn Đạo Trang rất kỳ diệu, hai mũi tiền tiêu bay tới, một trái một phải kẹp lấy cây hà thủ ô kéo một vòng rồi trở về trong tay Văn Đạo Trang. Thủ hạ của Uất Trì Đồng coi trọng nhất là lễ vật của hoàng đế, nhưng không biết cây hà thủ ô càng quý hơn, trong lúc quan trọng thì họ chỉ cướp đôi dưa hấu cho nên để cho Văn Đạo Trang có cơ hội ra tay.
Kỳ Thánh Ân cười lạnh lẽo: “Hay lắm, tên họ Văn kia, ngươi có muốn tỉ thí ám khí với ta không?” rồi nàng ta vừa vung tay thì có ba đốm hàn tinh bay về phía Văn Đạo Trang. Các cao thủ ném ám khí đều nhận ra đó là ba mũi thấu cất đinh chuyên đánh huyệt đạo. 
Văn Đạo Trang gằn giọng: “Đúng thế, ta đang muốn lãnh giáo công phu ám khí của Thiên Thủ Quan âm nhà ngươi”. Rồi bắn ra ba mũi tiền tiêu nữa, chỉ nghe ba tiếng leng keng vang lên, hai mũi thấu cất đinh đã bị hai mũi tiền tiêu đánh trúng. Nhưng khi mũi thấu cất đinh thứ ba sắp bị mũi tiền tiêu bắn trúng thì đột nhiên bay theo hình vòng cung tới trước mặt Văn Đạo Trang. Văn Đạo Trang không ngờ thủ pháp của nàng ta lại kỳ diệu đến thế, muốn tiếp ám khí của nàng cũng đã không kịp nữa, chỉ đành rụt đầu xuống, keng một tiếng, mũi thấu cất đinh đã cắm vào lưng ghế phía sau y.
Cuộc tỉ thí này có thể nói kẻ tám lạng người nửa. cân. Tiền tiêu nhẹ hơn thấu cất đinh nhiều, Văn Đạo Trang có thể dùng tiền tiêu đánh rơi thấu cốt đinh của Kỳ Thánh Ân, rõ ràng nội lực của Văn Đạo Trang hơn một bậc, nhưng rốt cuộc thì y vẫn không thể đánh rơi được tất cả thấu cất đinh, nếu nói về thủ pháp ám khí thì đã thua Kỳ Thánh Ân.
Kỳ Thánh Ân bị người ta đánh rơi ám khí, đương nhiên cũng cảm thấy mất mặt, bà ta nổi giận, định ra tay nữa bỗng nghe Uất Trì Đồng nói: “Ân muội, cần gì phải gấp? Sau này chúng ta sẽ tìm y tính nợ. Y làm sao có thể nuốt trọn cây hà thủ ô kia được?” Kỳ Thánh ân đáp: “Cũng được, tên họ Văn kia, lát nữa chúng ta sẽ ra ngoài tranh hơn thua, ngươi cứ chọn địa điểm”. Văn Đạo Trang nói: “Nếu ngươi nhất định tỉ thí ta sẽ chiều theo, muốn đi chúng ta hãy đi ngay bây giờ”.
Uất Trì Đồng gạt: “Đừng trúng kế khích tướng của y”. Rồi đột nhiên quát lớn: “Tên họ Văn kia, chuyện lúc nãy ta tạm thời không tính toán với ngươi. Từ bây giờ trở đi, nếu ngươi dám nhúc nhích ta sẽ giết Tát Phúc Đỉnh!”
Đó chính là: Xông vào hoa đường cướp báu vật, hùng phong chẳng kém thuở thiếu niên.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 19 sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-06 23:21:22Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Mười Chín
Trợn mắt há mồm xem long hổ đấu
Lòng đau ngờ chính biết bạn phượng loan

[/align]Lúc này trong thọ đường cao thủ nhiều như mây, nếu luận về bản lĩnh thì bọn Sử Bạch Đô, Sa Thiên Phong, Văn Đạo Trang không kém gì vợ chồng Uất Trì Đồng, nhưng vì ném chuột sợ bể đồ, cho nên chẳng ai dám làm càn.
Lúc này lễ vật trên bàn đã sạch trơn. Uất Trì Đồng cười lớn: “Tát đại nhân, phiền ông hãy truyền lệnh mở cửa lớn để chúng tôi đi ra. Nếu người của chúng tôi mất một cọng lông, tôi sẽ lột da đầu của ông. Ông đã nghe rõ chưa?”
Tát Phúc Đỉnh sợ đến nỗi sắc mặt vàng bệch, ú ớ: “Vâng, vâng!” Đành làm theo lời Uất Trì Đồng. Uất Trì Đồng đã chuẩn bị sẵn khoái mã ở bên ngoài, những người này vừa ra khỏi cổng đã lên ngựa. Nhưng vợ chồng Uất Trì Đồng thì vẫn còn trong thọ đường.
Tát Phúc Đỉnh xin: “Uất Trì đà chủ, ông... Ông có thể nâng cao quý thủ không?”
Uất Trì Dòng nói: “Vội gì, đợi một lát nữa”. Một hồi sau, chỉ nghe tiếng tu tu từ xa vọng tới, Uất Trì Đồng cười rằng: “Coi như ông có hiểu biết, không sai người truy đuổi”. Té ra đó là tín hiệu báo bình an của thủ hạ. Lúc này bọn chúng đã đến nơi an toàn.
Tát Phúc Đỉnh cười khổ sở: “Ông có thể thả tôi chưa?” Uất Trì Đồng nói: “Tôi sẽ thả ông, nhưng phiền ông hãy đưa tôi ra khỏi thành!” Tát Phúc Đỉnh ấp úng: “Điều này... điều này...” Uất Trì Đồng cười lạnh: “Cái gì mà điều này với điều nọ, ông không tin tôi sao?” Tát Phúc Đỉnh ấp úng: “Không dám. Nhưng ông làm thế thì mặt mũi tôi còn để đâu?” Uất Trì Đồng nói: “Ông muốn mặt mũi hay tính mạng?” Tát Phúc Đỉnh không dám nói nhiều, chỉ đành “vâng” một tiếng. Uất Trì Đồng cười ha hả: “Quân tử đã nói một lời thì xe bốn ngựa khó đuổi. Ra khỏi thành, tôi sẽ thả ông. Đi!”
Cười chưa dứt, Sử Bạch Đô đột nhiên đã phát một chưởng vào lưng Tát Phúc Đỉnh, quát: “Làm sao có thể tha cho thằng giặc hại dân hại nước?” Đòn đánh bất ngờ ấy không những khiến cho người trong Tát phủ đều ngạc nhiên, ngay cả Uất Trì Đồng cũng không hề ngờ tới.
Uất Trì Đồng vốn đang nắm chắc Tát Phúc Đỉnh, Sử Bạch Đô phát tới một chưởng, Uất Trì Đồng đột nhiên cảm thấy một luồng đại lực đánh vào hổ khẩu của mình, bất giác buông tay, nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Sử Bạch Đô đã kéo Tát Phúc Đỉnh qua.
Té ra Sử Bạch Đô đang nghĩ cách giải cứu Tát Phúc Đỉnh, khi y nghe Uất Trì Đồng bảo Tát Phúc Đỉnh phải đưa mình ra khỏi thành cho nên mới đánh liều nghĩ ra kế này.
Y nghĩ Uất Trì Đồng chắc chắn sẽ không lấy mạng Tát Phúc Đỉnh. Y tính cũng rất đúng, Uất Trì Đồng chỉ phòng bị có kẻ đánh lén mình chứ không để ý đến người đánh lén Tát Phúc Đỉnh. Y vừa đánh vào Tát Phúc Đỉnh một chưởng Cách sơn đả ngưu, Tát Phúc Đỉnh chẳng sao cả, nhưng nếu công lực Uất Trì Đồng không bằng y thì chắc chắn sẽ bị thương.
Sử Bạch Đô kêu lên: “Tát đại nhân, xin thứ cho vô lễ!” Rồi nhẹ nhàng đẩy Tát Phúc Đỉnh qua một bên. Uất Trì Đồng đề phòng không kịp, muốn cướp lại con tin thì đã muộn một bước. Uất Trì Đồng gầm lớn một tiếng: “Hảo tiểu tử, rồi lập tức vỗ một chưởng về phía Sử Bạch Đô.
Lúc nãy Sử Bạch Đô đánh một đòn Cách sơn đả ngưu không làm gì được Uất Trì Đồng đã biết công lực của đối phương bằng mình. Sử Bạch Đô cười rằng: “Khẩu khí lớn lắm, nay ngươi mọc cánh cũng khó thoát, còn muốn làm dữ ư?” Thế rồi hai chưởng chạm nhau, Uất Trì Đồng hơi lắc lư người, còn Sử Bạch Đô thì đã thối lui ba bước.
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Uất Trì Đồng dấn tới quyền trái chưởng phải liên tục đánh ra, miệng luôn quát lớn: “Dù Uất Trì Đồng này không thoát ra khỏi cửa cũng phải giết chết tên tiểu tử nhà ngươi!” Đó là lối đánh lưỡng bại câu thương, còn bá đạo hơn cả đòn sát thủ lúc nãy nhiều.
Bản lĩnh của Sử Bạch Đô vốn không hề thua Uất Trì Đồng, nhưng thấy Uất Trì Đồng làm liều cũng không khỏi khiếp sợ mấy phần. Công lực của hai bên bằng nhau, ai nhát gan thì người đó thua, chỉ nghe soạt một tiếng, vai áo của Sử Bạch Đô bị rách một mảng, đầu vai đau nhói, may mà y đã hóa giải lực đạo của Uất Trì Đồng cho nên chỉ bị móng tay cào trúng da, không hề bị thương.
Tát Phúc Đỉnh vẫn chưa hết sợ, quát: “Sao còn chưa mau bắt tên cường đạo, không bắt song được thì giết chết!”
Văn Đạo Trang đã từng khoác lác mình là người có võ công giỏi nhất trong thiên hạ, y không chịu cùng Sử Bạch Đô tấn công Uất Trì Đồng, nhủ thầm: “Mình bắt con nữ tặc kia cũng lập được công lớn”. Thế rồi nhảy bổ về phía Kỳ Thánh Ân.
Kỳ Thánh Ân quát: “Hay lắm, ta sẽ tính nợ với ngươi!” Rồi liền vung tay, liên tục đánh ra bảy tám món ám khí. Văn Đạo Trang khen vội: “Thiên Thủ Quan âm quả nhiên đanh bất hư truyền!” Rồi vận chưởng thành gió phóng người vọt lên, ám khí lướt qua người y, những kẻ đứng bên cạnh thì xui xẻo, bọn họ không thể nào vận chưởng thành gió như Văn Đạo Trang để đánh rơi ám khí, vả lại đây là chỗ đông người cho nên muốn né tránh cũng không kịp, Kỳ Thánh Ân phát ra tám món ám khí nhưng có mười ba người ngã xuống! Ba người lại bị người khác xô ngã, còn hai người kia thì bị chưởng lực của Văn Đạo Trang đánh ngất.
Đám khách khứa la hét ầm trời, những kẻ nhát gan tự thấy kém cỏi, vội vàng chạy ra cửa, trong tòa đường chỉ còn lại những cao thủ thuộc hàng nhất lưu và đám vệ sĩ của Tát phủ.
Tứ đại hương chủ của Sử Bạch Đô thấy bang chủ của mình hình như không chống lại được kẻ địch, cho nên cả bốn người cùng xông lên.
Uất Trì Đồng một mình khó chống lại số đông, nhất thời rời vào nguy hiểm.
Đổng Thập Tam nương ra đòn rất dữ, Uất Trì Đồng thấy mụ ta là người đàn bà, hơi coi thường, y không biết đó là người giỏi nhất trong bốn hương chủ, chỉ hơi sơ ý thì đã bị trúng một roi. May mà Uất Trì Đồng mình đồng da sắt, roi ấy chỉ để lại một lằn máu trên lưng!
Lúc này Văn Đạo Trang và Kỳ Thánh Ân đã giao thủ, Kỳ Thánh Ân thấy chồng bị thương, vừa lo vừa giận, muốn xông đến giải cứu nhưng lại bị Văn Đạo Trang chặn lại.
Hai vợ chồng Uất Trì Đồng đều gặp nguy hiểm, có lẽ đã không thể nào chống chọi được nổi, Tát Phúc Đỉnh cười ha hả: “Hai vợ chồng nhà ngươi thật lớn gan, dám đến đánh cướp nhà ta! Ta bắt bọn ngươi phải nôn lại từng món!” Ý muốn thủ hạ của y bắt sống vợ chồng Uất Trì Đồng. Lúc nãy Tát Phúc Đỉnh đã bảo không bắt sống được thì giết chết, nhưng giờ đây đã tiếc của cho nên đã đổi ý.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Uất Trì Đồng đến cướp lương hướng cho nghĩa quân, không hổ là một bậc anh hùng, sao mình có thể ngồi yên!” Đang định ra tay, không ngờ đã có một người xông ra trước cả chàng. Người đó chính là gã thiếu niên lúc nãy. Chỉ thấy thiếu niên ấy nhảy vọt ra, kéo mũ xuống, lộ ra mái tóc dài óng ả, y kêu lên: “Đại ca, sao đại ca còn nối giáo cho giặc?” Sử Hồng Anh vừa lộ mặt thật, ai nấy đều cả kinh, Kim Trục Lưu vừa lo vừa mừng, nhất thời ngẩn người ra.
Tát Phúc Đỉnh thất kinh, hỏi: “Ngươi là ai? Ca ca của ngươi là ai?”
Sử Hồng Anh lớn giọng nói: “Ta là em gái của Sử Bạch Đô, ta cũng có phần cướp lễ vật của tên cẩu quan nhà người!”
Tát Phúc Đỉnh lạnh lùng hỏi lại: “Sử bang chủ, thế nào đây?” Sử Bạch Đô đỏ mặt: “Xá muội làm càn, tôi sẽ trừng trị nó!” Thế rồi y bỏ Uất Trì Đồng, nhảy bổ tới bắt Sử Hồng Anh. Nàng kêu lên: “Ca ca, hãy nghe muội nói một lời...” Sử Bạch Đô quát lớn: “Ta không có một em gái như ngươi!” Sử Bạch Đô sợ nàng nói ra những lời khó nghe, nên vỗ tới liền một chưởng. Sử Bạch Đô vỗ ra một chưởng về phía em gái của y, lập tức có hai người nhảy bổ về phía y, một người là Kim Trục Lưu. Thân pháp của Kim Trục Lưu cực kỳ nhanh nhưng người ấy đứng gần Sử Hồng Anh cho nên đến trước một bước.
Sử Bạch Đô nghe có tiếng binh khí phía sau lưng mình, lòng thầm lo: “Ở đâu lại có cao thủ như thế này?” Rồi trở tay lại chụp vào xương tỳ bà của người ấy, mũi kiếm của người ấy xỉa vào huyệt khí du ở dưới be sườn của y, đây là kế vây Ngụy cứu Triệu, Sử Bạch Đô vội vàng né qua một bên, lập tức tung ra một cú đá bật, người này thấy y quá hung dữ, thế là điểm mũi chân nhảy vọt lên, vung ra một đóa kiếm hoa đâm xuống đỉnh đầu của y. Sử Bạch Đô đã rút kiếm ra khỏi bao, đánh ra một chiêu Cử hỏa thiêu thiên, hai mũi kiếm giao nhau, tiếng kim khí vang lên chấn động rền tai. Những chiêu này nhanh như điện chớp lửa xẹt, hai bên đều trổ võ công thượng thừa, chỉ hơi không cẩn thận thì sẽ bị đầu rơi máu chảy. Mấy chiêu đã qua, Sử Bạch Đô tuy hơi chiếm được thượng phong nhưng cũng không làm gì được người này, trong lòng thầm kinh hãi.
Người ấy lộn người trên không trung, hạ xuống bên cạnh Sử Hồng Anh, nói mau: “Sử cô nương, chúng ta cùng hưởng phú quý, hôm nay cũng nên cùng chịu hoạn nạn!”
Sử Bạch Đô trừng mắt quát: “Nha đầu, tên tiểu tử này là ai?” Sử Hồng Anh nói: “Y là bạn của muội, thế nào?” Người ấy cười: “Ngươi hỏi ta ư? Ta là người đã cùng lệnh muội cướp lễ vật của Tát Phúc Đỉnh, ngươi đừng nổi nóng, ta vốn chuẩn bị sẽ tặng cho ngươi một phần”.
Sử Bạch Đô cả giận, quát: “Hay lắm, té ra chính là ngươi đã li gián anh em bọn ta, ta phải giết ngươi!” Rồi đâm ra soạt soạt hai kiếm, Sử Hồng Anh nói: “Ca ca, chính là huynh đã buộc muội phải ra tay!” Rồi nàng phất ngọn roi phối hợp với trường kiếm của người ấy cùng chống Sử Bạch Đô. Lúc này Kim Trục Lưu mới nhận ra kẻ này, chàng bất giác vừa lo, vừa mừng, vừa rầu rĩ, sao lại thế này? Lý đại ca và Hồng Anh đã quen biết nhau từ trước ư? Té ra người đó chính là Lý Nam Tinh.
Kim Trục Lưu vì rầu rĩ trong bụng, bất giác ngẩn người ra. Có hai vệ sĩ chạy đến chặn chàng. Kim Trục Lưu vỗ ra hai chưởng, đẩy hai vệ sĩ ấy té nhào. Đến khi ra tay xong, chàng mới thấy mình đã quá tay.
Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh đều phát hiện Kim Trục Lưu, Kim Trục Lưu đã cải trang, Sử Hồng Anh nhất thời vẫn chưa nhận ra, Lý Nam Tinh vừa nhìn công phu của chàng thì đã biết.
Kim Trục Lưu đánh ngã hai tên vệ sĩ, kêu lên: “Đại ca...” Lý Nam Tinh cười ha hả: “Hiền đệ, đệ cũng đến ư? Có ta chăm sóc cho Sử cô nương, không Cần đệ phải giúp đỡ!” Sử Hồng Anh kêu lên: “Kim đại ca, té ra là huynh!” Ba người đồng thét lên tiếng mỗi người nói mỗi câu, nhưng Kim Trục Lưu thì hơi bất ngờ, kêu lên một tiếng “đại ca” thì không nói gì được nữa.
Sử Bạch Đô đánh rất dữ, Sử Hồng Anh chỉ nói được một câu, rồi đành dồn hết tâm trí vào đối phó y. Lúc này Uất Trì Đồng một mình đánh bốn đại hương chủ của Lục Hợp bang, đã hơi núng thế nhưng vẫn còn chống chọi nổi. Kỳ Thánh Ân một mình đánh Văn Đạo Trang cũng đã hơi đuối sức.
Kim Trục Lưu không suy nghĩ gì nữa, chàng biết bản lĩnh của Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh, hai người họ liên thủ thì Sử Bạch Đô cũng không thể làm gì được họ, tình thế phía Kỳ Thánh Ân nguy hiểm nhất, vì thế Kim Trục Lưu lách người nhảy bổ về phía Văn Đạo Trang.
Văn Đạo Trang mắt nhìn bốn hướng, tai nghe tám phương, cảm thấy sau lưng hơi có tiếng gió liền trở tay đánh ra một trảo. Trảo này chính xác vô cùng ba ngón tay chụp vào mạch của Kim Trục Lưu. Đây là nơi tụ hội của mạch thiếu dương trên tay, dù người có võ công giỏi đến mức nào khi bị chụp phải mạch này thì không thể nào nhúc nhích được.
Văn Đạo Trang biết Kim Trục Lưu lao tới, nhưng không ngờ vừa chụp đã trúng, y không khỏi chột dạ: “Bản lĩnh của tên tiểu tử này chẳng kém gì mình, tại sao lại dễ dàng để cho mình chụp trúng?” Nghĩ chưa dứt thì cảm thấy cẳng tay tê rần, đầu ngón tay của Kim Trục Lưu đã đâm vào hổ khẩu của y.
Số là Kim Trục Lưu có công phu thay đổi huyệt đạo, không sợ đối phương khống chế kinh mạch của mình. Song hai bên có nội lực tương đương nhau, đó cũng là chiêu rất nguy hiểm. Cổ tay của Kim Trục Lưu bị chụp trúng, kinh mạch tuy không bị thương, nhưng nội lực thì đã giảm sút, chàng vốn dùng thủ pháp mạnh điểm vào huyệt đạo của Văn Đạo Trang, kết quả chỉ khiến cho Văn Đạo Trang chấn động hổ khẩu.
Nhưng tuy thế, Văn Đạo Trang cũng đã thiệt to, hổ khẩu chợt tê rần tựa như có luồng điện lướt qua, y vội vàng buông tay. Kỳ Thánh Ân quét soạt một roi tước, Văn Đạo Trang không thể nào né tránh, vội vàng đưa tay lên đỡ, ngọn roi mềm của Kỳ Thánh Ân bật ra, lập tức trên tay phải của Văn Đạo Trang cũng nổi một lằn máu.
Kỳ Thánh Ân được Kim Trục Lưu giúp đỡ, đánh lùi Văn Đạo Trang, nhất thời nhảy ra khỏi vòng vung tay phóng một nắm ám khí về phía những kẻ đang vây đánh Uất Trì Đồng.
Đổng Thập Tam nương vung cây roi dài đến gió mưa không lọt, chỉ nghe tiếng leng keng vang lên không ngớt bên tai, không ngọn ám khí nào của Kỳ Thánh Ân đánh vào người mụ. Viên Hải được mụ ta yểm hộ cho nên cũng không hề bị thương.
Kiếm thuật của Thanh Phù đạo nhân rất cao, cũng đánh rơi được ha mũi thấu cốt đinh.
Nhưng khi ám khí phóng tới, Tiêu Lỗi đã vội vàng chống đỡ một đao của Uất Trì Đồng, cho nên đã trúng một mũi mai hoa châm vào cánh tay. Uất Trì Đồng chém xuống một đao, cánh tay bị thương của Tiêu Lỗi lại trúng thêm đao này, y nóng lên như lợn bị chọc tiết rồi ngã xuống bất tỉnh.
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kỳ Thánh Ân cũng đã nhảy tới, lạnh lùng quát: “Con nữ tặc nhà ngươi không xứng dùng roi, ta với ngươi sẽ tỉ thí?” Kỳ Thánh Ân được người ta gọi là Tiên Kiếm Song Tuyệt, lúc nãy giao thủ với Văn Đạo Trang, chưa thể thi triển hết sở trường, nay gặp Đổng Thập Tam nương thì hai bên tương đương nhau, kiếm pháp của Kỳ Thánh Ân tinh điệu hơn Đổng Thập Tam nương nhiều, lúc này đã đánh Đổng Thập Tam nương luống cuống tay chân, chỉ có thể chống đỡ.
Kim Trục Lưu đánh lùi Văn Đạo Trang, cười ha hả: “Đa tạ, đa tạ!” Té ra khi hai bên vừa chạm nhau đã tách ra, Kim Trục Lưu thi triển thủ pháp Không không diệu thủ, đoạt lấy mấy cây hà thủ ô trên mình Văn Đạo Trang.
Lúc này Sa Thiên Phong phóng tới, Kim Trục Lưu cười lạnh lùng: “Hôm trước đi ngang qua quý bang được tiếp đãi, nay mượn hoa cúng Phật, kính ngươi một chén”.
Thế rồi cầm một bầu rượu trên bàn bổ vào mặt Sa Thiên Phong. Chưởng lực của Sa Thiên Phong có thể đánh nát đá vỡ bia, choang một tiếng, bình rượu vỡ nát, Sa Thiên Phong bị rượu bắn đầy mặt, hầu như không thể mở mắt ra được. Y chợt cảm thấy có một luồng gió lướt tới, Kim Trục Lưu đã nhảy tới trước mặt, Sa Thiên Phong đấm bừa ra một quyền, Kim Trục Lưu đánh ra một đòn đại cầm nả thủ Thiên vương thác tháp, rồi quát: “Đi!” Sa Thiên Phong đã dồn hết sức lực ra, không kịp thu lại, bị Kim Trục Lưu kéo nhẹ thì người đã bị ném đi như trái bóng.
Kim Trục Lưu xoay người phóng đến bên cạnh Trịnh Hùng Đồ, Trịnh Hùng Đồ đã biết sự lợi hại của chúng, vội vàng vỗ xuống một chưởng, quát: “Ta liều với ngươi!” Chưởng tâm của Trịnh Hùng Đồ đỏ như máu, chưởng phong thoang thoảng mùi tanh.
Số là Trịnh Hùng Đồ ỷ mình luyện Độc sa chưởng, tưởng rằng Kim Trục Lưu không đám tiếp chưởng. Nào ngờ vừa mới bổ chưởng xuống, Kim Trục Lưu đã xỉa chỉ vào huyệt lao cung trên lòng bàn tay của y, cười rằng: “Ngươi có liều được không? Ta sẽ phế bàn tay của ngươi, xem ngươi còn liều được hay không?” Trịnh Hùng Đồ thấy chàng xỉa chỉ ra, bất giác cả kinh. Số là huyệt lao cung là điểm cuối cùng của kinh mạch thiếu dương tây, nếu bị điểm vào thì chân khí sẽ bị ngưng trệ, công phu Độc sa chưởng cũng chẳng còn. Nếu muốn luyện lại ít nhất cũng phải tốn mười năm.
Trịnh Hùng Đồ tuy miệng nói liều mạng, nhưng thấy thế không dám liều nữa. Y cả kinh vội vàng biến chưởng thành quyền, trong lúc hoảng hốt, chưa kịp đấm ra quyền đã bị Kim Trục Lưu nắm cánh tay vặn rắc một tiếng, bẻ gãy cánh tay của y!
Trịnh Hùng Đồ gầm lớn ngã xuống đất bất tỉnh.
Sử Bạch Đô đã đỡ lấy Sa Thiên Phong, nhưng muốn cứu Trịnh Hùng Đồ cũng không kịp. Sử Bạch Đô cả giận, đỡ Sa Thiên Phong ngồi xuống rồi nói: “Sa đại ca, ông hãy thay tôi, để tôi giải quyết thằng tiểu tử kia!” Vì thế Sa Thiên Phong nhảy tới chặn Lý Nam Tinh lại, còn Sử Bạch Đô thì phóng về phía Kim Trục Lưu. Lúc này Văn Đạo Trang đang thở dốc, hổ khẩu không còn tê rần nữa, y thấy Sử Bạch Đô đã phóng lên chặn Kim Trục Lưu, không muốn tranh công với Sử Bạch Đô nên chạy đến giúp Sa Thiên Phong. Sử Hồng Anh và Lý Nam Tinh sánh vai tác chiến, lấy hai địch hai, lúc này khó phân thắng bại.
Kim Trục Lưu né tránh hai chiêu, Sử Bạch Đô múa kiếm như gió, miệng quát: “Tên tiểu tử kia, ngươi đánh cắp huyền thiết, ngựa quý của ta, nay lại đánh cắp quà mừng của ta, nếu ngươi không trả lại ba món này ta sẽ lấy mạng ngươi!”
Kim Trục Lưu cười đáp: “Ngươi là bang chủ của một bang, sao lại không hiểu quy củ trong hắc đạo? Đã lấy của người thì làm sao có thể trả lại? Nhưng nếu ta đã bảo là mượn thì còn có thể thương lượng”.
Sử Bạch Đô hừ một tiếng: “Hảo tiểu tử, chết đến nơi mà còn bỡn cợt!” Ánh kiếm lướt tới kêu soạt một tiếng, mũi kiếm của y đã vạch đứt áo trước ngực của Kim Trục Lưu. Chiêu này quả thật hung hiểm đến cực điểm, may mà Kim Trục Lưu né tránh nhanh chóng, nếu không đã bị y đâm một mũi vào ngực.
Sử Hồng Anh thấy thế không khỏi kêu lên kinh hoảng, Văn Đạo Trang vỗ một chưởng, đè cây roi của nàng xuống, nếu không phải Lý Nam Tinh phóng kiếm ra nhanh thì suýt nữa y đã chụp được cây roi. Lý Nam Tinh nói mau: “Hiềnđệ, hãy mau qua bên đây!” 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 00:01:26Hoàng Dung>
Kim Trục Lưu nghe tiếng họ biết ngay họ rất quan tâm đến mình. Nhất là tiếng kêu thất thanh của Sử Hồng Anh, tuy nàng không nói thêm câu gì nhưng cũng đã đủ khiến cho Kim Trục Lưu phấn chấn tinh thần.
Kim Trục Lưu vừa lùi đã tiến lên, chàng lập tức rút kiếm ra khỏi bao, cười nói: “Sử bang chủ, quyền cước nội công tôi đã lãnh giáo qua, nay tôi muốn xem thử kiếm pháp của ông”. Chàng đang sung sướng trong lòng, tuy bị kẻ cường địch tấn công nhưng vẫn cười nói như thường.
Lúc này trong trường đã trở thành một cuộc đại hỗn chiến, nhưng thật sự chỉ có những cao thủ tỉ thí mà thôi, bọn vệ sĩ chỉ đứng bên ngoài hò hét trợ oai.
Kim Trục Lưu sử dụng Truy phong kiếm thức, thanh kiếm bay lượn tựa như long bay, trong chớp mắt đã đánh ra ba mươi sáu nhát kiếm. Sử Bạch Đô cũng không khỏi thầm thất kinh, nhủ thầm: “Mình đã gặp nhiều danh gia kiếm thuật trong thiên hạ, dù không thể nói tên tiểu tử này thuộc hàng thiên hạ đệ nhất nhưng cũng hơn những kẻ mà mình đã biết. Nếu luận về kiếm thuật, chỉ e mình không bằng y”.
Kim Trục Lưu đánh liền ra ba mươi sáu kiếm, Sử Bạch Đô vẫn đứng vững như núi, một bước chẳng lùi, Kim Trục Lưu cũng không khỏi thầm thất kinh. Số là kiếm thuật của Sử Bạch Đô tuy không tinh diệu như Kim Trục Lưu nhưng rất vững chắc và chất phác, võ học thượng thừa rất coi trọng điều này.
Kim Trục Lưu rốt cuộc tuổi vẫn còn trẻ, chưa thể đạt được cảnh giới lấy vụng thắng khéo, cho nên kiếm thuật dù biến hóa khó lường, quỷ dị tuyệt luân nhưng cũng bị loại kiếm pháp chất phát của Sử Bạch Đô kiềm chế. Cứ mỗi chiêu tinh diệu đều bị Sử Bạch Đô dễ dàng hóa giải bằng một chiêu bình thường.
Đang lúc kịch chiến chợt nghe keng một tiếng, cây thanh cương kiếm của Kim Trục Lưu đã bị Sử Bạch Đô chặt gãy. Sử Bạch Đô ngăn cản không cho chàng chạy về phía Lý Nam Tinh. Lý Nam Tinh, Sử Hồng Anh muốn chạy về phía chàng cũng bị Văn Đạo Trang cản lại.
Kim Trục Lưu khéo léo dùng Thiên la bộ pháp, vòng qua cái bàn bát tiên du đấu với Sử Bạch Đô, trong nhất thời Sử Bạch Đô cũng chẳng làm gì được chàng. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ở đây kẻ võ công cao cường nhất là Sử Bạch Đô, mình sẽ nhử y để cho Lý đại ca và Sử cô nương có cơ hội thoát thân”.
Chàng nghĩ như thế cho nên không muốn chạy về phía họ. Thực ra với khinh công trác tuyệt của mình chàng vẫn có thể tránh được Sử Bạch Đô nhưng lại, không làm thế.
Phía vợ chồng Uất Trì Đồng thì đã chiếm thượng phong. Đổng Thập Tam nương chỉ có thể chống đỡ trước những đường roi của Kỳ Thánh Ân. Thanh Phù, Viên Hải thì bị Bạt phong đao pháp của Uất Trì Đồng đánh đến nỗi luống cuống tay chân.
Phía Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh thì thắng bại khó phân. Đối thủ của họ là Văn Đạo Trang và Sa Thiên Phong. Tam tượng thần công của Văn Đạo Trang cực kỳ cương mãnh, mỗi khi ra đòn đều phát ra tiếng gió, Lý Nam Tinh nhờ kiếm pháp quái dị tuyệt luân mới chống đỡ nổi y nhưng cũng hơi núng thế. Còn Sử Hồng Anh thì sử dụng ngọn roi bạc như du long xuất hải, Sa Thiên Phong chỉ dựa vào đôi chưởng để đối phó với ngọn roi của nàng nên không thắng nổi.
Sử Bạch Đô nhíu mày rồi nói: “Sa đại ca, huynh cứ mặc sức trừng trị ả nha đầu ấy cho tôi, tôi sẽ không trách huynh”. Y tưởng rằng Sa Thiên Phong nể mặt mình cho nên mới nương tay, chứ không biết rằng Sa Thiên Phong vì bị Kim Trục Lưu ném một cú nên đã mất hết nhuệ khí.
Trên giang hồ Sa Thiên Phong cũng là nhân vật có tiếng tăm, chẳng kém Sử Bạch Đô bao nhiêu. Bản lĩnh của y so với Sử Hồng Anh thì hơi nhỉnh hơn, nhưng nay không đánh lại nàng, chỉ cảm thấy chẳng còn mặt mũi gì, Sử Bạch Đô lại thúc giục cho nên càng nôn nóng hơn, khi cao thủ tỉ thí thì đó là điều tối kị, lúc sơ ý đã bị Sử Hồng Anh quét trúng một roi, tức giận đến nỗi kêu lên oai oái.
Cũng trong lúc này, chợt một tiếng thét thảm thiết vang lên át cả tiếng la của Sa Thiên Phong, té ra Viên Hải đã bị Uất Trì Đồng chém một đao vào cánh tay trái, đau đến nỗi lăn lộn dưới đất, Uất Trì Đồng quát lớn: “Kẻ nào tránh ta thì sống, cản ta thì chết!” Đổng Thập Tam nương không dám ham đánh nữa, vội vàng lách người qua, Kỳ Thánh Ân đã cùng chồng sánh vai xông ra.
Tát Phúc Đỉnh kêu lớn: “Sử bang chủ, chuyện chính quan trọng hơn!” Ý là muốn Sử Bạch Đô truy bắt kẻ chủ mưu. Trong mắt Tát Phúc Đỉnh, vợ chồng Uất Trì Đồng quan trọng hơn Kim Trục Lưu nhiều.
Khi Tát Phúc Đỉnh kêu lớn, thuộc hạ của y cũng đang bàn tán, một người nói:“Sử Bạch Đô làm sao thế, không lo chuyện chính mà lại chơi trò rượt bắt với một tên tiểu tử? Chả lẽ y muốn trọng nhẹ bỏ nặng?” Một người nói: “Y không lo giải quyết em gái của mình mà lại nhờ Sa Thiên Phong!” Một người cười gằn: “Y làm thế chẳng qua không muốn ra tay với em gái mình mà thôi!”
Sử Bạch Đô rất thính tai lanh mắt, nên nghe tất cả những điều này. Y vừa lo vừa giận nhủ thầm: “Nếu mình để ả nha đầu chạy thoát, Tát tổng quản sẽ nghi ngờ mình!”
Sử Bạch Đô gầm lớn, lật một cái bàn, Kim Trục Lưu cười lớn: “Đừng nổi giận chúng ta vẫn chưa phân thắng bại, hãy đấu tiếp đi nào”. Kim Trục Lưu lách người bồi thêm một chưởng, cái bàn nứt toác ra.
Vợ chồng Uất Trì Đồng đã chạy ra đến cổng, Kỳ Thánh Ân quay đầu lại kêu: “Tiểu huynh đệ, đi thôi!” Rồi vung tay phóng bảy mũi binh khí khác nhau về phía Văn Đạo Trang, Văn Đạo Trang vội vàng gạt đỡ, Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh cũng đã xông ra. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Đúng thế, ta cũng nên đi thôi!”
Chàng vừa cười vừa tung cước đá tám cái bàn bát tiên lật ngược lên, tám cái bàn lăn long lóc trong thọ đường.
Kỳ Thánh Ân đã ra đến cửa thì đứng lại, hai tay vãi ám khí, chỉ trong chớp mắt đã có mười mấy tên vệ sĩ bị thương.
Sử Bạch Đô cả giận, thanh trường kiếm vung ra một đạo ngân hồng, chỉ nghe tiếng leng keng vang lên không ngớt bên tai, ám khí của Kỳ Thánh Ân đều bị y chặt gãy.
Sử Bạch Đô chạy ra cổng thấy Công Tôn Hoằng vẫn đứng yên, Sử Bạch Đô cầm kiếm vái dài nói: “Công Tôn đại ca, hôm nay dù thế nào cũng phải nhờ đại ca giúp đỡ! Tôi xin giao tên tiểu tử họ Kim cho huynh”. Rồi không đợi Công Tôn Hoằng trả lời, vung kiếm đuổi theo. Lúc này vợ chồng Uất Trì Đồng và Lý Nam Tinh, Sử Hồng Anh đã chia nhau bỏ chạy. Vợ chồng Uất Trì Đồng chạy về hướng đông, hai người Lý, Sử chạy về hướng tây, cao thủ trong nhà Tát Phúc Đỉnh chạy ra cũng chia nhau đuổi theo họ. Sử Bạch Đô chạy đến ngã ba, bất giác chần chừ, không biết nên đuổi về hướng đông hay hướng tây? Kim Trục Lưu chạy ra sau cùng, Công Tôn Hoằng đứng ở cửa cười hỏi: “Ngươi còn trẻ mà võ công không kém, sư phụ của ngươi là ai?” Kim Trục Lưu nói: “Đây không phải là chỗ để kết giao!” Ý chàng muốn nói: “Ngươi ở trong Tát phủ, muốn hỏi lai lịch sư môn của ta, như đang hỏi cung ta. Nếu ngươi muốn kết giao thì không hợp thời tí nào".
Công Tôn Hoằng hừ một tiếng, nghĩ bụng: “Thiếu niên này quả thật rất kiêu ngạo!” Rồi liền giở hai chưởng lên, cười: “Ngươi không nói chả lẽ ta không có cách biết?”
Kim Trục Lưu chém tới một chưởng, Công Tôn Hoằng trở tay chụp lại, Kim Trục Lưu mau chóng điểm vào huyệt đạo của y, Công Tôn Hoằng đỡ, ngón tay của Kim Trục Lưu đã điểm vào huyệt lao cung trong lòng bàn tay của y, không ngờ Công Tôn Hoằng chẳng hề gì, Kim Trục Lưu phát giác không xong, khi co tay lại thì đã cảm thấy trong lòng bàn tay của đối phương có một luồng hấp lực, chàng muốn rút nhưng không được, Kim Trục Lưu cả kinh, lúc này mới biết võ công của Công Tôn Hoằng hơn hẳn Sử Bạch Đô.
Cung Bỉnh Phan thấy thế cả kinh, vội vàng nói “Bang chủ, giết gà đâu cần dùng dao mổ trâu, cứ để tôi”. Nói chưa dứt, chỉ thấy Công Tôn Hoằng loạng choạng, Kim Trục Lưu đã chạy ra khỏi cửa. Công Tôn Hoằng hô lớn: “Tên tiểu tử này rất xảo quyệt, ngươi không phải là đối thủ của y, chi bằng hãy cùng ta đuổi theo Uất Trì Đồng”. Cung Bỉnh Phan vừa lo vừa mừng, mừng là vì Kim Trục Lưu đã chạy thoát, lo là vì bang chủ đã thua Kim Trục Lưu một chiêu.
Cung Bỉnh Phan không biết, nhưng Kim Trục Lưu thì hiểu rằng đó là do Công Tôn Hoằng có ý nhường cho mình bỏ chạy. Nhưng khi chàng chạy ra đến cửa thì không khỏi hoang mang: “Đúng thế, mình phải chạy, nhưng nên chạy về hướng nào?”
Kim Trục Lưu chạy ra đường phố, chỉ thấy có một đám người nhốn nháo, có người chạy về hướng đông, có người chạy về hướng tây. Có người lại bàn cãi: “Ngươi bảo nên chạy về hướng đông hay hướng tây? Bọn cường đạo này rất hung dữ, ta thấy chạy về hướng tây thì ít nguy hiểm hơn”. “Không, con ả ấy là em gái của Sử BạchĐô, chúng ta cần gì phải gây chuyện với y?” “Các người cứ sợ đầu sợ đuôi tốt nhất cứ hư trương thanh thế kêu gào cho lớn vào, chạy sang hướng đông hay hướng tây cũng như nhau cả!”
Kim Trục Lưu nghe thế biết vợ chồng Uất Trì Đồng chạy về hướng đông, Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh chạy về hường tây.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Hồng Anh đã có đại ca giúp đỡ, chắc là Sử Bạch Đô cũng không làm gì được họ. Mình... hỡi ơi, chi bằng mình chạy về hướng đông đi thôi!” Chàng vốn là muốn gặp Sử Hồng Anh, nhưng lúc này lại chạy ngược hướng với Sử Hồng Anh, trong lòng rất hoang mang, không biết chàng chua xót hay đau khổ? Sử Bạch Đô đang chần chừ, không biết nên chạy về phía đông hay phía tây, chợt thấy Công Tôn Hoằng vội vã chạy ra, kêu lên: “Uất Trì Đồng đã chạy về hướng đông, để ta đuổi theo y, chuyện nhà của các người ta không quản!” Sử Bạch Đô cả mừng: “Có đại ca ra tay, vợ chồng Uất Trì Đồng làm sao chạy thoát. Tên tiểu tử ấy đâu?” Công Tôn Hoằng nói: “Tên tiểu tử ấy rất xảo quyệt, y đã chạy thoát. Dầu sao y cũng chẳng phải là kẻ chủ mưu, cứ để mặc cho y đi. Nhưng nếu ông đối phó nổi tôi có thể gọi Văn Đạo Trang ra giúp ông”.
Sử Bạch Đô đỏ mặt: “Buồn cười, buồn cười Làm sao tôi có thể sợ tên tiểu tử ấy? Được, chúng ta chia nhau bắt người”. Sử Bạch Đô biết khinh công của Kim Trục Lưu rất cao siêu, nên không hề nghi ngờ Công Tôn Hoằng có ý thả chàng chạy. Trái lại y lo lắng Kim Trục Lưu sẽ chạy về phía mình, nếu hai người gặp nhau, y tuy không thua chàng, nhưng cũng bị chàng giữ chân, không đuổi theo kịp Sử Hồng Anh nữa.
Kim Trục Lưu thi triển khinh công Bát bộ cản thiền, bọn vệ sĩ đuổi theo chỉ cảm thấy như có luồng gió lướt qua người, đến khi nhìn lại thì có một bóng đen chạy ở phải mặt, cho nên không nhìn rõ đó là ai. Không bao lâu sau, Kim Trục Lưu đã chạy ra đến cửa đông, ra tới ngoại ô thấy có ngã rẽ, Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Không biết có nên tìm Uất Trì Đồng không?” Chợt thấy có hai vệ sĩ đang đi nhau rên rỉ bước tới, té ra bọn chúng đều trúng ám khí của Kỳ Thánh Ân cho nên bị thương.
Kim Trục Lưu tóm lấy một tên, quát hỏi: “Uất Trì Đồng chạy về hướng nào?”
Một vệ sĩ đáp: “Bọn chúng đã đi được bảy dặm. Ta khuyên ngươi đừng đuổi theo, ám khí của con mụ ấy rất lợi hại. Ối chao, ngươi... ngươi là...”
Tên vệ sĩ nói một hồi mới phát giác Kim Trục Lưu rất lạ mặt, bất giác cả kinh. Còn tên kia lúc này mới nhận ra lầm người cho nên vội vàng rút kiếm đâm chàng. Kim Trục Lưu không thèm quay đầu lại, trở tay đoạt lấy thanh kiếm của y, cười gằn: “Đa tạ ngươi đã chỉ điểm”. Rồi phóng vọt đi như làn khói. Trong chốc lát Kim Trục Lưu đã chạy vượt qua Thất Lý Bồ. Chàng không đuổi kịp Uất Trì Đồng nhưng lại thấy Văn Đạo Trang và Sa Thiên Phong. Hai người Sa, Văn đã đuổi theo từ trước, nhưng bọn chúng lo ngại vợ chồng Uất Trì Đồng nên không dám chạy quá nhanh, cố ý đợi viện binh.
Văn Đạo Trang quay đầu lại nhìn thấy Kim Trục Lưu đã đuổi tới, y thất kinh rồi cười ha hả: “Thiên đường có lối ngươi không đi, địa ngục không cửa ngươi lại vào. Hà hà, hiếm có dịp tương phùng ta phải trêu ngươi một phen”. Văn Đạo Trang thầm nhủ y và Sa Thiên Phong chưa chắc thắng vợ chồng Uất Trì Đồng, nhưng dư sức đối phó với Kim Trục Lưu.
Kim Trục Lưu cười rằng: “Họ Văn kia, ngươi quên ơn ta đã cho con trai ngươi uống thuốc giải hay sao?” Văn Đạo Trang cả giận, đang định nhảy bổ lên. Kim Trục Lưu đã rút kiếm chuẩn bị nghênh địch. Chợt nghe tiếng nhạc ngựa vang lên, Công Tôn Hoằng và Cung Bỉnh Phan đã phóng ngựa đuổi tới, từ xa đã cao giọng kêu: “Văn đảo chủ, Sa bang chủ, Sử bang chủ bảo các người mau mau về giúp đó ông ta! Cứ giao tên tiểu tử này cho tôi!”
Văn Đạo Trang nghĩ: “Chả lẽ Sử Bạch Đô sợ không đối phó nổi với em gái của mình? Kiếm pháp của tên tiểu tử đi cùng ả không kém, nhưng tại sao y phải nhờ mình giúp đỡ?” Nhưng Văn Đạo Trang vốn có ý bỏ nặng lấy nhẹ, vả lại y không dám nghi ngờ Công Tôn Hoằng lại lừa mình. Vì thế đáp: “Thôi được, giao cho ông tên tiểu tử này”. Văn Đạo Trang quay đầu chạy ngược trở lại, Sa Thiên Phong cũng e dè Kim Trục Lưu cho nên đương nhiên cũng vội vàng chạy theo.
Công Tôn Hoằng nói: “Ông cũng bảo Cao bang chủ, Đỗ bang chủ và các hương chủ của Lục Hợp bang quay về. Tôi không cần ai giúp đỡ!”
Văn Đạo Trang nghĩ bụng: “Gã này thật kiêu ngạo, được, nếu bắt được vợ chồng Uất Trì Đồng ta cũng sẽ chiếm một phần công lao, nếu ngươi bị đánh bại, ta coi ngươi ăn nói thế nào!” Rồi cười rằng: “Vâng, vâng. Có ngài lo chuyện này, ai còn dám tranh công với ngài?”
Công Tôn Hoằng phóng ngựa đuổi theo, kêu lớn: “Tên tiểu tử, đừng chạy! Hừ hừ lần này xem thử ngươi có chạy được không?”
Công Tôn Hoằng miệng thì kêu nhưng tay lại kìm cương ngựa, không cho ngựa chạy nhanh. Kim Trục Lưu đã thấy, chợt hiểu ra: “Y cố ý kêu gào cho Văn Đạo Trang nghe”. Vì thế chạy nhanh như gót chân có bôi mỡ. Kim Trục Lưu thi triển khinh công tuyệt đỉnh chạy được khoảng một đoạn, Công Tôn Hoằng khen rằng: “Hảo khinh công!” Rồi mới buông ngựa đuổi theo.
Đuổi một hồi, chẳng thấy bóng dáng Văn Đạo Trang đâu nữa, vợ chồng Uất Trì Đồng cũng đã ngừng lại bên đường đợi họ. Công Tôn Hoằng nói: “Tiểu huynh đệ, còn cần chạy nhanh như thế không! Kim Trục Lưu cười: “Công Tôn bang chủ, tôi đã không đánh lại ông, không chạy thì còn làm gì?” Công Tôn Hoằng cả cười: “Ai muốn đánh nhau với ngươi?”
Uất Trì Đồng cười ha hả, ôm quyền nói: “Tiểu huynh đệ, hôm nay có ngươi rút kiếm tương trợ, ta phải đáp tạ trước. Công Tôn bang chủ là bằng hữu cũ của ta, ngươi là bằng hữu mới của ta, chúng ta đều là người một nhà, Công Tôn đại ca, lần này cũng nhờ đại ca giúp đỡ, tôi còn chưa đáp tạ đại ca”.
Té ra vợ chồng Uất Trì Đồng lẻn vào Tát phủ toàn nhờ Công Tôn Hoằng yểm hộ. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Té ra gã này là nội ứng cho Uất Trì Đồng, chả trách nào y chịu tới Tát phủ chúc thọ”. Thế rồi lấy lễ vãn bối ra mắt Công Tôn Hoằng, cười rằng: “Lúc nãy đã mạo phạm, mong tiền bối thứ lỗi”.
Công Tôn Hoằng: “Võ công của ngươi khá lắm, lệnh sư là ai có thể nói cho ta biết chưa?”
Cung Bỉnh Phan bước tới chào Kim Trục Lưu, đáp thay: “Bang chủ, để tôi giới thiệu, đây chính là Kim Trục Lưu thiếu hiệp”.
Nghe thế Uất Trì Đồng cười ha hả: “Té ra ngươi là sư đệ của Giang đại hiệp, chả trách nào võ công ghê gớm đến thế!”
Công Tôn Hoằng: “Kim Thế Di đại hiệp là gì của ngươi??
Kim Trục Lưu nói: “Chính là gia phụ”.
Công Tôn Hoằng càng vui mừng hơn, nói lớn: “Ta và lệnh phụ đã từng gặp nhau một lần tại chùa Thiếu Lâm, tính lại đã là chuyện hơn hai mươi năm trước. Lệnh phụ là người ta khâm phục nhất, chúng ta cứ coi như ngang hàng nhau, ngươi gọi ta lão tiền bối, ta không dám nhận”.
Uất Trì Đồng nói: “Diệp Mộ Hoa đã đến Tiểu Kim Xuyên. Lý Quang Hạ và Lâm Đạo Hiên cũng đã đến chỗ Trúc Thượng Phụ. Chốc nữa ta sẽ về Tiểu Kim Xuyên, Kim lão đệ, đệ không nên ở lại Bắc Kinh nữa. Vậy hãy cùng ta đến Tiểu Kim Xuyên!”
Kim Trục Lưu nói: “Tôi còn có chút chuyện, e rằng mười ngày nửa tháng nữa mới có thể rời khỏi Bắc Kinh. Tôi đang ở tại nhà của Đới lão tiêu đầu, mọi người có thể yên tâm”.
Uất Trì Đồng nói: “Như thế ta sẽ đến Tiểu Kim Xuyên đợi ngươi, ta không kịp đến chào Đới lão tiêu đầu, ngươi hãy cho ta gửi lời thăm”. 
Công Tôn Hoằng nói: “Được, các người hãy chạy mau. Nếu không bọn người kia đuổi theo thì phiền to”.
Uất Trì Đồng nói: “Công Tôn đại ca, còn huynh? Lần này huynh âm thầm giúp đỡ tôi, sau này bọn chúng cũng sẽ biết.
Công Tôn Hoằng cười đáp: “Tôi cũng không muốn làm khách của Tát Phúc Đỉnh, quay về làm gì? Tôi sẽ quay về tổng đà, dựng cờ phản Thanh, xem thử Tát Phúc Đỉnh và Sử Bạch Đô làm thế gì!”
Uất Trì Đồng vui mừng ra mặt, nói: “Vậy thì tốt còn gì bằng, đại ca đã dựng cờ, các bang hội lớn trên giang hồ quá nửa sẽ không còn theo Sử Bạch Đô”.
Thế rồi mọi người chia tay nhau, Kim Trục Lưu chờ trời tối mới một mình lẻn về Bắc Kinh.
Chính là: Kinh hoa long hổ đấu, hồ hải dậy phong ba.


[/align]Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 00:19:45Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Hai Mươi 
[/align]
Nguyện đem máu nóng tạ tri kỷ.
Hiểu lầm giai nhân đứt ruột chàng.
[/align]
Sau một hồi náo loạn, khắp nơi trong kinh thành Bắc Kinh đều có binh lính canh gác, may mà đêm nay trời không có trăng, Kim Trục Lưu mới lẻn mò trở về nhà họ Đới, lúc này trời đã đến canh ba.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Đại ca đã biết nơi ở của mình, không biết y và Hồng Anh có đến tìm mình không?” Khinh công của Lý Nam Tinh, Sử Hồng Anh đều hơi kém chàng, bọn người Văn Đạo Trang, Sa Thiên Phong sau đó mới đến giúp Sử Bạch Đô đuổi theo họ, do đó Kim Trục Lưu đoán rằng họ có thể thoát hiểm. Nhớ đến Sử Hồng Anh, Kim Trục Lưu bất giác nôn nao trong lòng. Dù chàng đã tránh mặt họ, nhưng từ sâu thẳm trong lòng mình, chàng vẫn muốn gặp lại Sử Hồng Anh. “Chả trách nào hôm qua tiếng đàn của đại ca tựa như mang một nỗi nhớ nhung, té ra người mà y nhớ nhung chính là Sử cô nương. Lần này có lẽ mình không quá đa nghi. Xem ra đại ca hình như vẫn chưa biết chuyện giữa mình với Sử cô nương, nếu y thực sự yêu mến Sử cô nương, mình chỉ đành giúp y”. Kim Trục Lưu thầm nhủ.
Khi vào đến nội viện, chỉ thấy đèn nhà khách vẫn còn sáng, bên cửa sổ có bốn người, ngoài cha con Đới Quân, Đới Mạc còn có một ông già và một thiếu niên. Đới Quân đang đánh cờ với ông già, Đới Mạc và thiếu niên ấy đứng bên cạnh xem. Thiếu niên ngồi xoay mặt ra ngoài, tướng mạo rất giống Đới Mạc. Kim Trục Lưu thấy thiếu niên ấy không phải Lệ Thắng Nam, trong lòng hơi thất vọng, nghĩ bụng: “Chắc là thiếu niên này là con trai thứ hai của Đới Quân, nhưng ông già kia là ai?”
Kim Trục Lưu nhảy xuống tường, người chàng nhẹ như chiếc lá chẳng hề phát ra tiếng. Nhưng ông già ấy đã phát giác, tiện tay nhặt một quân cờ ném vào huyệt nhuyễn ma dưới be sườn của Kim Trục Lưu. Trong đêm tối mà có thể nhận huyệt vị không hề sai một li. Kim Trục Lưu giật mình: “Bản lĩnh của Ông già này thật ghê gớm, hôm nay mình ra đi, Đới Quân muốn mình về sớm để gặp một người khách, chả lẽ là ông già này?”
Kim Trục Lưu tiếp lấy quân cờ, Đới Quân đã cười: “Đường huynh đây chính là Kim thiếu hiệp mà tôi nhắc tới”. Ông già ấy đứng đậy, cười ha hả: “Đắc tội, đắc tội! Kim lão đệ đừng trách, tôi tưởng là Sử Bạch Đô đến tìm lão Đới!”
Trên người Kim Trục Lưu đầy máu me, Đới Quân thất kinh, hỏi: “Lão đệ đã bị thương?” Kim Trục Lưu cười nói: “Tôi đã đả thương vài tên thủ hạ của Tát Phúc Đỉnh, may mà vẫn không sao”. Đới Quân nói. “Lão đệ cũng thật lớn gan, ta nghe nói Tát phủ. đã náo loạn, thì biết ngay có phần của đệ”. Nhà họ Đới vốn là tiêu cục, giao thiệp rất rộng rãi, cha con Đới Quân tuy không ra ngoài nhưng biết rõ mọi chuyện. Kim Trục Lưu kể lại mọi chuyện lúc ban ngày.
Đới Quân nói: “Uất Trì Đồng vẫn còn hùng phong năm xưa, còn ta thì đã già chẳng làm gì được nữa. Đáng tiếc y đến quá vội vàng, ta không thể gặp mặt y!” Thế rồi giới thiệu: “Đây là Đường Kiệt Phu đại ca, bằng hữu của ta năm xưa”.
Kim Trục Lưu cũng từng nghe Trần Thiên Vũ kể về Đường Kiệt Phu. Chàng hành lễ vãn bối rồi thầm nhủ: “Trần thúc thúc bảo ông ta là danh gia ám khí miền Tứ Xuyên, nhưng không biết tại sao lại lên kinh?”
Đới Quân nói: “Kim lão đệ, đệ thật may mắn. Đường đại ca ở nhà hưởng phước, đã nhiều năm không ra khỏi Tứ Xuyên. Lần này lại vừa khéo đến Bắc Kinh, hiện đang ở tại chùa Ngọa Phật ở Tây Sơn. Trụ trì của chùa Ngọa Phật Tứ Không Thượng Nhân là sư phụ của tiểu nhi Đới Hiến, là bằng hữu của Đường đại ca. Tôi vốn muốn giữ ông ta ở đây, ông ta lại chê không thanh tịnh bằng Ngọa Phật tự. Nay nếu không vì tảng huyền thiết của đệ thì đã không chịu tới”.
Đường Kiệt Phu cười rằng: “Ông đang giả chết. Chả lẽ ta đến giữ linh đường cho nhà ông?”
Đới Quân nói: “Không phải lần này tôi muốn đại ca giữ linh đường mà muốn nhờ đại ca làm thợ rèn kiếm. Kim lão đệ, có lẽ đệ không biết, Đường đại ca không những là danh gia ám khí mà còn là thợ đúc kiếm nổi tiếng thiên hạ. Tôi tưởng không dễ gìmời được ông ta”.
Đường Kiệt Phu khiêm tốn: “Tôi đã sống đến từng tuổi này. Không dễ mở rộng tầm mắt? Kim lão đệ, nói thật tình ta chỉ có chút tay nghề, chỉ e làm hỏng tảng huyền thiết của đệ. Đệ có lo lắng không?”
Kim Trục Lưu mừng ra mặt: “Lão tiền bối chịu giúp đỡ cho vãn bối, vãn bối không biết lấy gì báo đáp. Lão tiền bối đừng quá khách sáo”.
Đới Quân cười nói: “Hai người không cần phải khách sáo nữa, trong khắp thiên hạ thì chỉ có Đường đại ca mới có thể đúc thanh bảo kiếm này. 
Kim Trục Lưu vào phòng thay quần áo, rồi đem tảng huyền thiết cho Đường Kiệt Phu xem. Đường Kiệt Phu ngắm nghía một hồi luôn miệng khen: “Đúng là của báu, nếu đúc thành bảo kiếm thì chắc chắn sẽ là vua của các loại binh khí trong thiên hạ! Nhưng nếu muốn đúc thành thanh bảo kiếm, ta phải có một số dụng cụ?”
Đới Quân nói: “Tôi đã chuẩn bị trước cho huynh, tôi đã đào một cái hang ở phía sau, trong hàng có lò lửa và hai cái búa lớn. Huynh hãy xem thử?”.
Thế rồi Đường Kiệt Phu bưng tảng huyền thiết cùng mọi người ra xem: “Lão Đới, ông suy nghĩ thật chu đáo, nếu đào hố đánh sắt ở đây thì không phát lộ ra ngoài. Được, sáng mai ta sẽ bắt đầu làm việc”. Đới Quân nói: “May mà có một người bằng hữu làm thợ sắt, tôi đã mượn cái lò gió này về. Y vừa chuyển đến đây thì bên ngoài đã xảy ra chuyện, thật nguy hiểm! Nếu muộn nửa khắc thì đã bị bọn lính canh phòng phát hiện.
Kim Trục Lưu thấy Đới Quân dốc hết tâm sức vì mình, trong lòng rất cảm kích nhưng chàng cũng không khỏi buồn bã.
Chàng đúc thanh kiếm này là để để tặng cho Lý Nam Tinh, nay cũng chẳng biết Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh đi về hướng nào, cũng không biết họ có tới tìm mình hay không?
Một ngày, hai ngày, ba ngày trôi qua... mỗi ngày Kim Trục Lưu đều mong ngóng họ, bất giác ngày thứ bảy cũng trôi qua, thanh bảo kiếm cũng đã được đúc xong nhưng cũng chẳng thấy họ đến.
Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh đi đâu? Họ đã ra sao? 
Kim Trục Lưu đang nóng lòng chờ đợi, tạm không nhắc đến nữa. Lại nói đến chuyện của hai người Lý, Sử.
Hôm ấy Sử Hồng Anh chạy ta khỏi Tát phủ, Lý Nam Tinh chặn hậu cho nàng, vừa đánh ra vừa chạy ra khỏi cửa thành, không bao lâu sau thì đã cắt đuôi được truy binh. Quay đầu nhìn lại thì từ xa đã thấy Sử Bạch Đô đuổi theo. Bản lĩnh của Sử Bạch Đô tuy hơn em gái của mình, nhưng khinh công hơi kém hơn, vả lại y chần chừ ở ngã ba đường cho nên khoảng cách giữa hai bên ngày càng xa hơn.
Sử Hồng Anh sợ anh trai đuổi theo, chạy một mạch đến hơn mười mấy dặm đường không đám ngừng lại, cũng không nói chuyện với Lý Nam Tinh. Lý Nam Tinh cười rằng: “Chúng ta có thể đi chậm lại không ai đuổi kịp chúng ta”. Sử Hồng Anh chạy rất nhanh, Lý Nam Tinh chạy theo nàng cũng hơi đuối sức.
Sử Hồng Anh thở phào, chợt giật mình như nhớ ra chuyện gì, nàng ngừng bước quay đầu lại hỏi: “Kim Trục Lưu đâu? Y có chạy ra được không?”
Lý Nam Tinh ngập ngừng: “Ta thấy y cũng đã chạy ra ngoài, nhưng không biết chạy về hướng nào? Có điều cô nương có thể yên tâm, bản lĩnh của y còn giỏi hơn cả ta, ca ca của cô nương lại không đuổi theo y, chắc chắn y sẽ thoát hiểm”.
Sử Hồng Anh nói: “Tôi biết... nhưng” Lý Nam Tinh hỏi lại: “Nhưng thế nào?”Sử Hồng Anh định nói: “Nhưng tôi chỉ muốn gặp y”. Lý Nam Tinh nhìn nàng đăm đăm, ánh mắt tựa như có điều gì khác lạ, nàng chợt cảm thấy e thẹn, nghĩ bụng: “Mình cần gì phải thổ lộ tâm sự cho y biết, chỉ cần nói cho Kim Trục Lưu nghe”.
Nàng nói tiếp: “Nhưng, nhưng tôi cũng cảm thấy hơi kỳ lạ, lẽ ra y phải chạy theo huynh mới đúng”. Thực ra nàng muốn Kim Trục Lưu tìm mình.
Lý Nam Tinh cũng cảm thấy hơi ngạc nhiên, hỏi: “Có lẽ y đã chạy đi tìm Uất Trì Đồng. Cô nương và y đã quen biết từ trước ư?”
Sử Hồng Anh hỏi lại “Lý đại ca với y có phải là anh em kết nghĩa không?” Lý Nam Tinh gật đầu. Sử Hồng Anh cười nói: “Các người vừa gặp mặt đã kết nghĩa thành huynh đệ. Ta thật không ngờ”. Lý Nam Tinh nói: “Quen biết nhau quý là ở tấm lòng. Tình cảm không quản thời gian ngắn dài, cô nương bảo có đúng không?”.
Sử Hồng Anh đỏ mặt, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ y đã biết chuyện giữa mình và Kim Trục Lưu cho nên giờ nói đùa với mình? Hừ, tên ngốc Kim Trục Lưu này đã nói gì”.
Sử Hồng Anh là một thiếu nữ thông minh, Kim Trục Lưu cứ bám lấy nàng, nàng đương nhiên biết tâm ý của Kim Trục Lưu đối với mình. Nhưng trước khi mọi việc rõ ràng, nàng không muốn Kim Trục Lưu thổ lộ về mình. Lúc này nàng chỉ nghĩ Kim Trục Lưu đã cho Lý Nam Tinh biết tâm sự của mình, Lý Nam Tinh nói những lời này là để thăm dò, cho nên trong lòng rất bực nội, nhưng cũng có mấy phần vui mừng. Nào ngờ Lý Nam Tinh chẳng hề biết chuyên giữa nàng với Kim Trục Lưu, đương nhiên càng không biết hai người đã tình trong như đã mặt ngoài còn e. Y không phải thăm dò cho Kim Trục Lưu mà là thăm dò cho mình.
Y thấy Sử Hồng Anh đỏ mặt, bất đồ thầm mừng: “Ồ, xem ra nàng đã hiểu được ý mình, không biết bước tiếp theo sẽ nói gì đây?” Trong lòng mỗi người đều có tâm sự nhưng đều hiểu nhầm ý của đối phương.
Ngay lúc đó chợt nghe tiếng vó ngựa lọc cọc, bụi ở phía trước bốc lên, bảy tám thớt ngựa đuổi tới, Sử Bạch Đô ở phía sau cũng đuổi theo. Khinh công Sử Bạch Đô chỉ kém muội muội của y nhưng sức thì dai hơn, nếu chạy đường dài thì Sử Hồng Anh không bằng y.
Sử Bạch Đô vừa nhìn thì đã biết đó là ai, y cả mừng kêu lớn: “Soái tướng quân, hãy mau chặn tên tiểu tử ấy! Té ra gã ấy chính là Soái Mạnh Hùng, y vâng chiếu về kinh để báo cáo tình hình quân sự ở Tây Xương. Mấy thớt ngựa ở phía sau đều là tùy tùng của y. 
Phía trước không lối, phía sau có truy binh. Sử Hồng Anh biết bản lĩnh của Soái Mạnh Hùng chẳng kém gì đại ca của mình, cũng biết anh trai của mình ép gả mình cho người này. Trong bước đường cùng nàng không khỏi cả kinh.
Lý Nam Tinh không biết sự lợi hại của Soái Mạnh Hùng, lớn giọng nói: “Đừng lo, hãy chạy về phía bên này!” Rồi vòng tay lên, chỉ nghe bùng một tiếng, một làn khói tỏa ra, trong làn khói ánh kim quang lấp lánh, phát ra tiếng kêu soạt soạt.
Sử Hồng Anh vừa lo vừa mừng, buột miệng: “Ồ, huynh cũng biết sử đụng loại ám khí này ư?” Té ra loại ám khí mà Lý Nam Tinh vừa mới đánh ra gọi là độc vụ kim châm liệt hỏa đạn, chàng cũng có loại ám khí này, nhưng Sử Hồng Anh vừa nhìn thì biết trái độc vụ kim châm liệt hỏa đạn còn lợi hại hơn ám khí gia truyền của nhà nàng.
Khi khói lan tới thì chỉ thấy có người ngã ngựa, tiếng ối chao vang lên không ngớt, mấy tên tùy tùng của Soái Mạnh Hùng đều đã trúng độc châm, nhưng Soái Mạnh Hùng thì vẫn ngồi yên trên lưng ngựa, vả lại đã xông luôn qua khỏi màn khói.
Nói thì chậm sự việc diễn ra rất nhanh, Soái Mạnh Hùng phóng tới, cười lạnh hai tiếng hì hì: “Hảo tiểu tử loại ám khí của ngươi gặp phải ta cũng đành bó tay! Được, hãy nếm trước một roi của ta!” Người chưa rời yên đã vung roi lên đánh soạt về phía Lý Nam Tinh. Lý Nam Tinh rút kiếm ra khỏi bao, quát rằng: “Xuống ngựa cho ta!” Soái Mạnh Hùng hừ một tiếng cũng quát: “Buông kiếm!” Rồi vung cây roi lên, cuộn lấy chuôi kiếm của Lý Nam Tinh.
Lý Nam Tinh chém kiếm qua, nhưng chuôi kiếm bị y cuộn lấy, tuy chạm vào cây roi nhưng không chặt đứt được.
Soái Mạnh Hùng chỉ muốn cuốn vào cổ tay của chàng, nhưng chỉ hơi chệch một tý cho nên trúng vào chuôi kiếm, Lý Nam Tinh cầm chắc thanh kiếm giật mạnh một cái, suýt nữa đã kẹp được Soái Mạnh Hùng rơi xuống ngựa. Soái Mạnh Hùng không khỏi thầm thất kinh: “Tên tiểu tử này cũng có bản lĩnh thật sự!” Thế rồi hai chân kẹp mạnh, thúc con ngựa phóng như bay về phía trước. Soái Mạnh Hùng cười lớn: “Lần này xem thử ngươi có buông kiếm hay không!”
Nào ngờ y thúc ngựa phóng về phía trước để tạo cơ hội cho Lý Nam Tinh. Lý Nam Tinh dậm chân lướt lên. Soái Mạnh Hùng không kịp rút cây roi ngựa ra, Lý Nam Tinh đã đâm cả kiếm lẫn roi lên phía y.
Soái Mạnh Hùng buông cây roi, nhảy xuống lưng ngựa, Lý Nam Tinh cũng rơi xuống như con diều đứt dây. Soái Mạnh Hùng quát: “Hảo tiểu tử, còn chưa bó tay chịu trọn!” Rồi nhân lúc Lý Nam Tinh chưa kịp đứng vững chân, phóng người tới toan tóm lấy chàng.
Lý Nam Tinh quát: “Hay lắm!” Rồi người xoay như trôn ốc, xem ra bước chân loạng choạng nhưng kiếm thế thì rất lợi hại. Soái Mạnh Hùng vừa nhìn thì biết Lý Nam Tinh sử dụng Túy bát tiên kiếm pháp, không dám khinh địch, vội vàng phóng ra một cước, quyền cước đều dùng cả nên lần này mới đánh lui dược Lý Nam Tinh. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Sử Bạch Đô đã đuổi tới, quát: “Khoan ra tay! Để ta hỏi tên tiểu tử này. Ai đã truyền công phu ám khí cho ngươi. Ngươi và Thiên ma giáo có liên quan gì?” Lý Nam Tinh cười lạnh: “Ngươi mà xứng hỏi lai lịch của ta ư?” 
Soái Mạnh Hùng không dám lơi lỏng, ra đòn tới tấp khiến cho Lý Nam Tinh chỉ có thể chống đỡ. Soái Mạnh Hùng chiếm được thượng phong, lúc này mới nói: “Mặc kệ y là ai, bắt y rồi sẽ tính tiếp!” Té ra y thấy Lý Nam Tinh và Sử Hồng Anh đi chung với nhau, trong lòng rất ghen tị.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 00:29:29Hoàng Dung>
Sử Bạch Đô nói lớn: “Tên tiểu tử này đã cướp quà mừng thọ của Tát tổng quản, tốt nhất nên bắt sống y giao cho Tát tổng quản thẩm vấn”. Lúc này Soái Mạnh Hùng tuy đã chiếm được thượng phong nhưng cũng chẳng làm gì được Lý Nam Tinh.
Sử Bạch Đô suy đi tính lại, vừa sợ Soái Mạnh Hùng để chàng chạy thoát, lại sợ Soái Mạnh Hùng đánh chết chàng, cho nên đưa lá bài Tát Phúc Đỉnh ra, tiếp theo cũng lập tức ra tay, toan dùng thủ pháp như chớp giật bắt Lý Nam Tinh trước rồi tính.
Lý Nam Tinh làm sao có thể chống chọi nổi hai cao thủ? Khi Sử Bạch Đô vung tay tới, toan bóp nát xương tỳ bà của chàng, chợt nghe soạt một tiếng, ngọn roi bạc của Sử Hồng Anh đã đánh xuống, ngọn roi này đánh rất đúng lúc, cho nên chặn được ca ca của nàng. 
Sử Bạch Đô chụp hụt, Sử Hồng Anh đã múa cây roi bạc, đứng chắn ngang giữa Lý Nam Tinh và Sử Bạch Đô, nói: “Đại ca, huynh là chủ của một bang, sao lại lấy đông hiếp yếu?”
Sử Bạch Đô tức giận đến nỗi thất khiếu bốc khói, quát lớn: “Trong mắt ngươi còn có ta ư? Y là cái gì của ngươi mà ngươi lại giúp đỡ y?”
Sử Hồng Anh nói: “Tục ngữ có nói chỉ biết lý chứ không biết thân, bọn Thát Đát bức hiếp người Hán chúng ta gần cả trăm năm này, ca ca, chả lẽ huynh còn nối giáo cho giặc? Nếu thế thì muội phải giúp đỡ y!” Sử Bạch Đô đỏ mặt tía tai, quát rằng: “Ả nha đầu dạy ta đấy ư, chuyện quốc gia đại sự, bọn trẻ con như ngươi biết gì? Hãy tránh ra cho ta!”
Sử Hồng Anh nói: “Huynh hứa không làm ưng khuyển cho triều đình thì muội sẽ tránh ra”.
Sử Bạch Đô cười lạnh: “Đó là chuyện của ta, không cần ngươi phải lý lới! Hừ, nay ngươi đã đủ lông đủ cánh thì muốn bay phải không? Ta phải coi thử ngươi có bay khỏi bàn tay của ta được hay không!” Sử Bạch Đô sợ nàng nói ra những điều mình không muốn nghe, nên vỗ ra một chưởng, đẩy ngọn roi bạc của Sử Hồng Anh ra, toan dùng đôi tay không bắt sống nàng.
Sử Hồng Anh cả giận: “Đại ca, hôm nay huynh đã buộc muội phải ra tay. Rồingọn roi bạt vung lên tựa như du long, Sử Bạch Đô không chụp được đầu roi, suýt tý nữa bị cuốn vào cổ tay.
Sử Bạch Đô gầm thét: “Phản rồi phản rồi! Được lắm, ngươi không chịu nghe lời ta, ta chỉ đành dùng gia pháp trừng trị ngươi!” Chưởng lực tức thì đẩy gấp ra, hai chưởng múa tít, đánh cho Sử Hồng Anh luống cuống chân tay. Chính y đã dạy võ công cho nàng, nên y đều hiểu rõ mỗi chiêu mỗi thức của nàng.
May mà Sử Bạch Đô không dùng binh khí, muốn dùng tay không đoạt roi trong nhất thời cũng không dễ, hơn nữa Sử Hồng Anh rất lanh lẹ, lại giỏi né tránh, mà Sử Bạch Đô cũng không dám đả thương nàng. Cho nên Sử Hồng Anh có thể gắng gượng chống chọi, nhưng không thể nào phân tâm nói chuyện được nữa.
Hai anh em Sử Bạch Đô đánh nhau, rất hợp với ý của Soái Mạnh Hùng. Lần này Soái Mạnh Hùng về kinh, việc công là bẩm cáo quân tình cho triều đình, việc tư là cầu hôn Sử Hồng Anh. Soái Mạnh Hùng nghĩ bụng: “May mà có Sử Bạch Đô đối phó với em gái của y, nếu không mình cũng rất khó xử”, rồi bèn cười nói: “Sử bang chủ đừng nổi giận, lệnh muội không còn nhỏ nữa, nhất thời bị yêu ngôn mê hoặc. Về phía Tát tổng quản, tôi sẽ giấu cho ông, ông đừng đả thương Sử cô nương”.
Sử Bạch Đô đáp: “Đa tạ tướng quân chiếu cố. Mong tướng quân giữ lại mạng tên tiểu tử này”.
Soái Mạnh Hùng cười: “Tôi sẽ biết cách đối phó y”, lòng nhủ thầm: “Ngươi chỉ muốn giữ y lại để tra khẩu cung, ta sẽ đánh y tàn phế chỉ để lại cái miệng của y là được”.
Công lực và kinh nghiệm của Soái Mạnh Hùng hơn hẳn Lý Nam Tinh, nghĩ ra ý ác độc ấy, nên mỗi chiêu đều là những thủ pháp hung tàn, Lý Nam Tinh toàn thần ứng chiến, bản thân chàng không biết sợ hãi, nhưng Sử Hồng Anh lại thầm thất kinh.
Trong lúc kịch chiến Soái Mạnh Hùng phân hai chưởng ra, chưởng thế phiêu hốt bất định, chợt nghe quát lớn một tiếng “Trúng!” chợt thấy Lý Nam Tinh loạng choạng, phóng vọt ra đến ba trượng, nhưng tà áo của Soái Mạnh Hùng thì bị lủng ba lỗ. Té ra Lý Nam Tinh đã bị chưởng phong của y quét trúng, nhưng Truy phong kiếm thức của chàng nhanh vô cùng, Soái Mạnh Hùng lướt tới trước người chàng suýt nữa cũng bị trúng kiếm.
Sử Hồng Anh không thấy tà áo Soái Mạnh Hùng bị đâm thủng, nàng chỉ thấy Lý Nam Tinh bị Soái Mạnh Hùng đánh lui, bất giác cả kinh. Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, trong lúc nàng kinh hoảng đòn roi đã bị Sử Bạch Đô tóm trúng.Lý Nam Tinh kêu lên: “Ta không bị thương, cô nương đừng lo lắng!” Sử Hồng Anh giật mình, rút một cây truy thủ lập tức chặt đứt đầu roi, Sử Bạch Đô thấy suýt nữa đã tóm được em gái của mình, không ngờ nàng dùng cách đó để thoát thân, bất đồ cả giận nói lớn: “Hay lắm, ngươi một lòng hướng về người ngoài, ta không cần đứa em gái như ngươi nữa! Tên tiểu tử này chưa bị thương, ta sẽ đả thương ngươi trước, sau đó ta sẽ trừng trị ngươi!”
Soái Mạnh Hùng kêu lên: “Không được, không được? Hãy nể mặt tôi, đừng đả thương muội muội của huynh!” Miệng nói như thế, còn người thì đã nhảy bổ về phía Lý Nam Tinh. Số là tà áo của y đã bị Lý Nam Tinh đâm thủng ba lỗ, trong bụng vẫn không hề lo lắng gì, nhưng nghe Sử Bạch Đô mắng em gái của mình, bất đồ giận dữ.
Thật ra Lý Nam Tinh cũng bị thương nhẹ, nhưng chàng không muốn Sử Hồng Anh lo cho mình mà thôi. Lúc này chàng thấy Soái Mạnh Hùng nhảy bổ về phía mình, lòng tức giận thầm nhủ: “Con cóc ghẻ nhà ngươi mà muốn ăn thịt thiên nga, ta sẽ liều mạng này quyết không để cho ngươi được như ý!”
Soái Mạnh Hùng vỗ ra hai chưởng, dồn hết chưởng lực ra, nghĩ bụng Lý Nam Tinh chắc chắn không dám tiếp chưởng, chỉ cần chàng lui ra phía sau thì mình có thể hoàn toàn khống chế được thế cuộc, khiến cho chàng không thể nào thi triển kiếm pháp. Nào ngờ Lý Nam Tinh không lùi cũng chẳng tránh, trái lại dùng cả kiếm lẫn chưởng tấn công y. Soái Mạnh Hùng cười ha hả: “Được, ta sẽ tỉ thí chưởng lực với ngươi!” Chưởng phong quét vào mũi kiếm của Lý Nam Tinh, hai chưởng chạm vào nhau bình một tiếng, Lý Nam Tinh phóng vọt người lên lộn người ra cách đó mấy trượng. Trong chớp mắt, Lý Nam Tinh chỉ cảm thấy trời xoay đất chuyển, chàng bật người dậy, nuốt ngụm máu vào trong bụng, cười ha hả: “Tiếp nào, tiếp nào! Xem thử ai hơn ai!”
Soái Mạnh Hùng vừa đánh một chưởng đã đẩy lùi được Lý Nam Tinh, đột nhiên cảm thấy lòng bàn tay tê rần, cúi đầu nhìn thì thấy lòng bàn tay có nhiều lỗ kim nho nhỏ, máu đen cũng rịn ra từ những lỗ ấy. Té ra khi Lý Nam Tinh tiếp chưởng của y, trong lòng bàn tay đã nắm sẵn mai hoa châm tẩm độc.
Soái Mạnh Hùng không ngờ Lý Nam Tinh lại đám dùng thủ đoạn lưỡng bại câu thương đối phó với y, y vừa lo vừa giận, vội vàng vận khí hộ kinh mạch, đuổi theo rồi quát: “Ta phải đánh chết tên tiểu tử nhà ngươi! Sử bang chủ, không phải tôi không nể mặt huynh, tên tiểu tử này thật đáng ghét!”
Sử Bạch Đô là đại hành gia võ học, Lý Nam Tinh dùng độc châm ám toán Soái Mạnh Hùng rất khéo léo, nhưng cũng không giấu nổi cặp mắt của y. Sử Bạch Đô nghĩ bụng: “Bản lĩnh sử dụng độc của tên tiểu tử này rất cao minh, chắc chắn có liên quan đến Thiên Ma giáo. Nếu trước khi Soái Mạnh Hùng bị phát độc, một mình mình không thể nào chặn nổi bọn chúng. Chỉ đánh để cho Soái Mạnh Hùng giết chết tên tiểu tử này!”
Sử Hồng Anh không biết Soái Mạnh Hùng. đã trúng độc châm, thấy y lao bổ tới, còn Lý Nam Tinh bị y ép thối lui, rõ ràng không chống đỡ nổi, bất giác lo lắng lắm, lòng thầm nhủ: “Y là nghĩa huynh của Kim Trục Lưu, mình đã chịu ơn của y, nay phải tìm cách cứu y!”
Đúng là phúc vô song chí, họa bất đơn hành. Sử Hồng Anh nghĩ chưa xong chỉ nghe tiếng nhạc ngựa vang lên, tiếng ngựa ồn ào, té ra đó là bọn Văn Đạo Trang, Sa Thiên Phong và Tứ đại hương chủ của Lục Hợp bang kéo đến!
Văn Đạo Trang nhận ra Soái Mạnh Hùng, cười lên ha hả: “Soái tướng quân, ông cũng đến đấy ư? Giết gà đâu cần dao mổ trâu, hãy để tôi đối phó tên tiểu tử này?”
Sử Hồng Anh dùng kế, nàng chợt nhảy ra khỏi vòng chiến. Đôi truy thủ chĩa vào cổ họng mình, quát lớn: “Đại ca, nếu các người muốn giết y thì muội sẽ chết trước mặt đại ca!”
Sử Bạch Đô cả kinh, kêu lên: “Soái tướng quân, đã như thế, ông hãy tự quyết định!”
Soái Mạnh Hùng thấy Sử Hồng Anh vì muốn cứu Lý Nam Tinh mà lấy cái chết ra uy hiếp, lòng càng tức giận hơn, nhưng y không muốn Sử Hồng Anh chết đi, vì thế kêu lên: “Sử cô nương, khoan đã, chúng ta có thể thương lượng với nhau!”
Sử Hồng Anh cười lạnh: “Ta không nài nỉ ngươi, ngươi muốn đuổi tận giết tuyệt, ta tự ra tay để ngươi khỏi tốn sức chẳng phải tốt hơn hay sao?”
Soái Mạnh Hùng cười đau khổ: “Cần gì phải như thế, tôi sẽ thả tên tiểu tử này, nhưng cô nương cũng phải...”
Sử Hồng Anh mắng: “Ta không nói chuyện với ngươi, ngươi đừng hòng ta sẽ hứa với ngươi điều gì”.
Soái Mạnh Hùng nhíu mày, mắt lộ hung quang đột nhiên đã nổi lên sát cơ. Nhưng y không cam lòng, thầm nhủ: “Ngươi không chịu theo ta, ta sẽ lừa lấy ngươi. Chỉ cần ngươi sống, ta sẽ tìm cách lừa được ngươi, còn tên tiểu tử này dù sao cũng đã bị trọng thương, cứ tạm thời tha cho y cũng được”.
Thế là Soái Mạnh Hùng giả vờ rộng rãi, cười rằng: “Sử cô nương, tôi không làm khó cô nương, cô nương muốn thế nào cũng được. Nhưng phải do ca ca của cô nươnglàm chủ”. Rồi y quyết đá chuyện này sang cho Sử Bạch Đô.
Soái Mạnh Hùng nói xong lui xuống. Y nháy mắt với Văn Đạo Trang, có ý bảo Văn Đạo Trang theo dõi Lý Nam Tinh. Số là lúc này y cũng phải vận công chống lại độc khí, lúc nãy hậu viện chưa tới, y phải liều mạng, còn lúc này không cần như thế nữa. Y chấp nhận tha cho Lý Nam Tinh đương nhiên là muốn lấy lòng Sử Hồng Anh, nhưng còn một nguyên nhân khác là bởi vì y cũng muốn trị thương cho mình.
Sử Bạch Đô hoàn toàn hiểu ý Soái Mạnh Hùng, liền hừ một tiếng: “Ả nha đầu này chỉ biết có người ngoài, ta không thể tha cho ngươi!”
Sử Hồng Anh cười thê lương: “Đại ca đã vô tình như thế, muội còn sống để làm gắn liền dí sát cây truy thủ vào cổ họng mình, nói chưa xong lập tức đã vạch nhẹ mộtđường, máu ứa tươm ra.
Soái Mạnh Hùng vội vàng kêu lên: “Sử huynh, lệnh muội tuổi trẻ hiểu biết nông cạn, huynh hãy từ từ dạy dỗ nàng, đừng buộc nàng tìm đến cái chết”.
Sử Bạch Đô cũng xuống nước: “Ả nha đầu nhà ngươi làm ta tức chết. Thôi được, ngươi theo ta về, ta sẽ nghe lời ngươi!”
Sử Hồng Anh biết nếu không nghe theo điều kiện của anh trai mình, bọn chúng sẽ không tha cho Lý Nam Tinh. Sử Hồng Anh thầm nhủ: “Sau khi mình về nhà sẽ tìm cơ hội trốn tiếp. Lý đại ca bị trọng thương, phải thoát ra khỏi bàn tay của bọn chúng càng sớm càng tốt”. Vì thế nàng nói: “Được, các người hãy đem đến một con ngựa cho bằng hữu của ta, đợi y đi khuất, ta mới buông truy thủ xuống”.
Lúc này Soái Mạnh Hùng cảm thấy chua xót trong lòng, nhưng vẫn cười gượng: “Được, được! Tục ngữ có nói không đánh không quen nhau, người bằng hữu này võ nghệ cao cường, ta cũng muốn kết giao với y. Văn đảo chủ, ông hãy tặng con ngựa của ông cho y”.
Văn Đạo Trang nhảy xuống ngựa, dắt con ngựa về phía Lý Nam Tinh, bực dọc: “Được, nể mặt Soái tướng quân, ta tha cho tên tiểu tử nhà ngươi”.
Lý Nam Tinh không cầm cương ngựa mà nói: “Sử cô nương... thật là thiệt thòi cho cô nương!” Sử Hồng Anh mạnh giọng: “Huynh đừng lo, hãy chạy cho mau! Non xanh vẫn còn sợ gì không có củi đốt”
Lý Nam Tinh là người dễ xúc động, nghe như thế thì nước mắt tuôn ra, lòng thầm nhủ: “Nàng vì cứu mình mà phải khuất phục, mình làm sao báo đáp tấm ân tình này? Nàng nói đúng, non xanh vẫn còn, sợ gì không có củi đốt, đợi mình dưỡng thương xong sẽ đến cứu nàng ra”. Lúc đầu Lý Nam Tinh vốn không muốn bỏ chạy một mình, nhưng nghe Sử Hồng Anh nói như thế thì nghĩ có chết cùng nhau cũng vô ích nên đổi ý.
Lý Nam Tinh nhảy lên lưng ngựa, nói với lại: “Sử cô nương, cô nương hãy tự bảo trọng, lôi đi đây! Tên họ Soái kia, ta sẽ không nhận ơn của ngươi, ngươi đừng tưởng rằng hôm nay tha cho ta thì ta có thể chuyển địch thành bạn với ngươi!”
Soái Mạnh Hùng cười ha hả: “Tên tiểu tử thật cứng cỏi, được, ta sẽ đợi ngươi đến tìm ta”.
Lúc này Lý Nam Tinh không gượng được nữa, vì thế vung roi ngựa phóng như bay. Sử Hồng Anh chợt nhớ ra một chuyện, lớn giọng kêu: “Huynh dưỡng thương xong, hãy báo tin của tôi cho Kim Trục Lưu biết”.
Vì Lý Nam Tinh đã phóng ngựa đi cho nên Sử Hồng Anh hơi lơi lỏng. Nào ngờ Sử Bạch Đô nhân lúc nàng phân tâm, dột nhiên giật thanh truy thủ của nàng, phóng theo Lý Nam Tinh. Sử Hồng Anh lạc giọng kêu lên, nhưng đã bị Sử Bạch Đô điểm huyệt đạo.

Chính là: Người trong tự trọng, đục tự đục.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 21 sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 01:16:49Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Hai Mươi Mốt
[/align]
Đúc thành bảo kiếm xong tâm nguyện
Xuất chưởng cùng thề trả oán chung.
[/align]

Lý Nam Tinh bị thương quá nặng, chạy được một đoạn cảm thấy đầu váng mắt hoa, tai ù tim đập mạnh. Sử Hồng Anh kêu lớn ở phía sau chàng, nhưng chàng chẳng nghe rõ được gì.
Lý Nam Tinh phóng ngựa bỏ chạy, lúc này đã ra đến đường cái quan, hai bên đã cách nhau trăm bước chân, công phu ám khí thông thường không thể đánh xa đến như thế, nhưng công lực của Sử Bạch Đô phi phàm, y dốc hết sức ra phóng thanh trủy thủ, một luồng ánh bạc đuổi theo Lý Nam Tinh.
May mà Lý Nam Tinh nghe tiếng la của Sử Hồng Anh, chàng quay đầu lại thì thấy thanh trủy thủ bay về phía sau của mình. Lý Nam Tinh rút kiếm đánh tạt ra, thanh trủy thủ lệch sang một bên, vẫn còn đà cho nên cắm phập vào lưng ngựa. Thớt ngựa này là loại chiến mã đã được huấn luyện, bị cây trủy thủ đâm vào, nên phóng càng nhanh hơn, chỉ trong chớp mắt đã khuất dạng. Sử Hồng Anh bị điểm vào ma huyệt, không thể cử động được nhưng.vẫn còn nói chuyện, lúc này tức đến nỗi giọng rung rung: “Ca ca, uổng cho huynh là chủ của một bang, huynh đánh lén người ta như thế thì còn gì là mặt mũi! Bây giờ tuy huynh chế phục được muội, nhưng rốt cuộc thì vẫn giải huyệt đạo cho muội. Thôi được, nếu huynh đã không chịu tha cho bằng hữu của muội, huynh cử việc truy sát y. Hôm nay muội không chết được những ngày mai vẫn có thể tự sát”.
Sử Bạch Đô ám toán không thành, trái lại bị em gái mắng cho một trận, bất đồ mặt đỏ ửng, cố cãi: “Tên tiểu tử ấy là phản nghịch của triều đình, sao có thể nói quy củ giang hồ với y? Thôi được, nếu muội đã muốn chết để bảo vệ cho tên tiểu tử này, hôm nay ta sẽ tha cho y. Nhưng sau này nếu gặp được y thì ta sẽ không bỏ qua”.
Soái Mạnh Hùng cũng bảo: “Đúng, đúng. Đại trượng phu đã nói ra một lời thì xe bốn ngựa khó đuổi. Tên tiểu tử này tuy là phản nghịch nhưng chúng ta đã hứa tha cho y thì cũng không cần phải đuổi nữa. Sử bang chủ, ông có định quay về gặp Tát đại nhân không?” 
Té ra lúc này Soái Mạnh Hùng đã bị phát độc, chỉ nhờ nội công thâm hậu mới có thể chống chọi nổi. Nhưng vận công ngự độc không phải là cách trị tận gốc, nên y mong nhanh chóng về kinh mời danh y chữa trị. Y không thể truy bắt Lý Nam Tinh, đương nhiên muốn làm người tốt trước mặt Sử Hồng Anh.
Vì Soái Mạnh Hùng đã hứa thả người, bọn Văn Đạo Trang và Sa Thiên Phong chẳng thể nào tranh công được, vả lại bọn chúng cũng sợ Lý Nam Tinh còn có người tiếp ứng, hơn nữa chàng đã chạy xa cho nên đành lẳng lặng rút về.
Lần này Sử Bạch Đô đã mất hết sĩ diện. Bèn mới nói: “Tôi sẽ dắt ả nha đầu này về nhà, mong Soái tướng quân cho tôi gửi lời chào Tát đại nhân”.
Soái Mạnh Hùng hỏi: “Tôi có chút việc cần bàn với huynh. Sử đại ca, huynh có thể ở lại vài ngày hay không?”
Sử Bạch Đô vì đã mất mặt, hơn nữa Sử Hồng Anh khiến cho y tiến thoái lưỡng nan. Cho nên y có ý né tránh.
Nhưng lúc này nghe Soái Mạnh Hùng nói thế, Sử Bạch Đô thầm nhủ: “Soái Mạnh Hùng muốn bàn với mình chuyện gì? Chắc là chuyện hôn sự với Hồng Anh. Nếu chuyện hôn sự này thành, mình sẽ không còn lo gì nữa. Nhưng ả nha đầu này rất cứng cỏi, giờ đây mình không biết ả yêu Kim Trục Lưu hay là yêu tên tiểu tử đã bỏ chạy lúc nãy, nhưng dù thế nào đi nữa ả chắc chắn sẽ không chịu lấy Soái Mạnh Hùng. Nếu làm quá ả lại làm lớn chuyện. Vả lại trước khi hôn sự thành, ắt hẳn sẽ có người bới móc trước mặt Tát tổng quản, ông ta lại sẽ truy cứu chuyện hôm nay. Giữ ả nha đầu trong kinh thì thật không tiện tí nào”.
Sử Bạch Đô nghĩ một hồi rồi đáp: “Tôi rời bang đã lâu, e rằng trong bang còn có chuyện tôi phải giải quyết. Nhưng tướng quân đã lên tiếng, Sử mà sao dám chối từ?Thế này nhé, tôi sẽ bảo thủ hạ đưa xá muội về trước, tôi sẽ ở lại đợi tướng quân, nhưng cũng mong tướng quân nói vài lời tốt trước mặt Tát tổng quản tôi mới có thể gặp lại ông ta”.
Soái Mạnh Hùng nghe Sử Bạch Đô đưa Sử Hồng Anh về trước, trong bụng hơi bất mãn nhưng nghĩ lại, mình cần phải trị thương, rồi phải bẩm báo chuyện quân tình với triều đình. Trong vòng một tháng chẳng thể nào giải quyết chuyện hôn sự được. Vả lại tình thế ở Tây Xương đang căng thẳng, chỉ e triều đình sẽ thúc giục mình quay trở lại Tây Xương, lúc đó chuyện hôn sự căng muộn hơn. Soái Mạnh Hùng thầm nhủ: “Trong khoảng thời gian ngắn ngủi không thể thành thân, giữ Sử Hồng Anh ở lại kinh cũng vô dụng, vả lại có thể ả sẽ làm lớn chuyện”. Vì thế đành đồng ý với Sử Bạch Đô, cười rằng: “Có phải Sử bang chủ ngại Tát tổng quản sẽ truy cứu chuyện này không? Thực ra ông không phải là mệnh quan của triều đình, truy bắt cường đạo chẳng phải là nghĩa vụ của ông, không bắt được bọn chúng cũng không thể nào trách được ông. Vài ngày nữa tôi sẽ đến gặp Tát tổng quản, đương nhiên sẽ nói tốt cho ông”.
Sử Bạch Đô đáp tạ Soái Mạnh Hùng, sau đó dặn Đổng Thập Tam nương và Viên Hải đưa Sử Hồng Anh về tổng đà của Lục Hợp bang, còn Thanh Phù và Tiêu Lỗi đi theo y.
Soái Mạnh Hùng đang nôn nóng về kinh chữa trị, cho nên phóng ngựa chạy trước tiên. Trước khi đi Sử Bạch Đô còn dặn Đổng Thập Tam nương phải canh gác Sử Hồng Anh cẩn thận, Đổng Thập Tam nương hiểu ý, cười rằng: “Bang chủ hãy yên tâm, đàn bà con gái ai mà không muốn lấy một người chồng tốt? Anh muội chỉ hồ đồ nhất thời, bị người ta dụ dỗ, chắc chắn sẽ có một ngày hiểu ra”. Sử Bạch Đô nói: “Ta chỉ sợ ả mê muội không tỉnh ngộ”. Đổng Thập Tam nương cười: “Để tôi lấy lợi hại khuyên Anh muội. Chắc là Anh muội sẽ hồi tâm chuyển ý”. Sử Bạch Đô gật đầu: “Được, tất cả đều nhờ cô nương”.
Sử Hồng Anh vốn không để ý bọn họ nói gì, trong lòng thì đang nhớ Kim Trục Lưu, thầm nhủ: “Mong y biết tin đến cứu mình”. Trong Lục Hợp bang chỉ có Sử Bạch Đô là có thể thắng nổi Kim Trục Lưu. Cho nên Sử Hồng Anh đặt hết lòng tin với chàng. Do vậy nàng cảm thấy rất may mắn khi Sử Bạch Đô sắp xếp như thế.
Sử Hồng Anh chưa được giải huyệt đạo, không thể kháng cự, Đổng Thập Tam nương bế nàng lên lưng ngựa, rồi lập tức lên đường. Sử Hồng Anh vì hy vọng được Kim Trục Lưu đến cứu, nên cũng chấp nhận quay về tổng đà. Nàng vốn rất căm ghét Đổng Thập Tam nương, nhưng giờ đây cũng đành nghe theo mụ ta.
Lại nói Lý Nam Tinh người ngựa đều đã bị thương, chỉ biết phóng mãi về phía trước. Lý Nam Tinh càng lúc càng không chịu nổi, muốn tìm một nơi dưỡng thương nhưng không thể nào kìm ngựa lại. Chàng đã sắp không thể nào nhướng mắt lên đượcnổi, chàng vội vàng cắn môi mình, nghĩ bụng: “Không được, không được, mình không thể ngủ. Mình phải tìm cách cứu Sử cô nương, mình phải cố lên!” Lý Nam Tinh biết rằng sau khi bị thương, tinh thần xuống dốc, nếu ngủ thiếp đi thì sẽ không thể nào tỉnh được nữa.
Lý Nam Tinh nhớ đến Sử Hồng Anh, tưởng rằng Sử Hồng Anh cũng nghĩ đến mình, gửi gắm hy vọng vào mình. Chính nhờ sức mạnh tinh thần này chàng mới có thể chạy được một đoạn. Chàng nào biết Sử Hồng Anh lúc này không phải nhớ đến chàng mà là nhớ đến Kim Trục Lưu!
Thớt ngựa hình như chạy chậm lại, nhưng Lý Nam Tinh đã không chịu đựng được nữa. Trong lúc thần trí mơ hồ, chợt nghe tiếng vó ngựa lọc cọc chạy ở phía trước. Trên ngựa là một thiếu niên trạc tuổi chàng, thiếu niên thấy Lý Nam Tinh nằm phục trên lưng ngựa tựa như đã bị thương, nảy ra tò mò để ý đến chàng. Khi hai thớt ngựa hầu như lướt qua nhau, thiếu niên phát giác trên mông ngựa của Lý Nam Tinh có cắm một thanh trủy thủ, y liền quay đầu ngựa đuổi theo Lý Nam Tinh.
Thớt ngựa của Lý Nam Tinh sau khi bị thương chạy một hồi, máu chảy quá nhiều, lúc này cũng sức cùng lực kiệt. Khi thiếu niên ấy đuổi tới, thớt ngựa của Lý Nam Tinh đột nhiên hụt vó trước, lăn xuống vệ đường, ném Lý Nam Tinh rơi xuống. Trong mơ hồ, Lý Nam Tinh hình như cảm thấy có người đang ôm mình, trong khoảnh khắc chàng dã mất đi tri giác.
Không biết trải qua bao lâu, lúc này Lý Nam Tinh mới thức dậy, chàng mở mắt thấy ánh đao sáng loáng. Trước mặt chàng, có một người đang cầm cây trủy thủ sáng quắc, miệng lẩm bẩm: “Ồ, thanh truy thủ này, thanh trủy thủ này...”
Lý Nam Tinh vẫn chưa tỉnh táo, chỉ tưởng rằng kẻ địch đuổi theo, có ý muốn hại mình, nên vội vàng phóng vọt người dậy, quát rằng: “Hảo tiểu tử, ta liều với ngươi!”  Rồi đâm tới một chỉ, thiếu niên đứng trước mặt chàng chỉ cảm thấy hổ khẩu tê rần, cây trủy thủ rơi xuống đất.
Lý Nam Tinh vừa mới tỉnh dậy, người vẫn còn rất yếu, chỉ hơi dùng sức liền lại ngã xuống. Lúc này mới phát giác mình dang nằm trên chiếc giương ấm áp. Trong phòng chỉ có chàng và thiếu niên ấy.
Lý Nam Tinh ngạc nhiên, dần dần nhớ lại rằng mình đã gặp thiếu niên này trên đường. Soái Mạnh Hùng đả thương chàng, Sử Bạch Đô dùng trủy thủ phóng vào thớt ngựa của chàng rồi chàng rơi xuống ngựa... Trong khoảnh khắc chàng đã nhớ lại tất cả. Lý Nam Tinh ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Mình chẳng phải đã rơi xuống đường hay sao? Sao lại ngủ trên chiếc giường này? Chả lẽ y đã cứu mình?”
Lúc này chàng thiếu niên cũng ngạc nhiên lắm, thầm nhủ: “Kẻ này bị thương nặng, có khí mà không lực, công phu điểm huyệt vẫn lợi hại như thế! May mà khí lực của y vẫn chưa hồi phục, nếu không cánh tay này của mình đã hỏng bởi y rồi!”
Nghĩ rồi chàng ta cầm cây trủy thủ lên, cười rằng: “Huynh đài đừng sợ, tôi không phải là kẻ thù của huynh đài. Có phải kẻ thù của huynh đài là người của Lục Hợp bang không?”
Lý Nam Tinh kêu lên một tiếng “Hổ thẹn!” Rồi nói tiếp: “Đa tạ huynh đài đã cứu mạng, sao huynh đài biết tôi là kẻ thù của Lục Hợp bang?”
Thiếu niên ấy đáp: “Nói như thế, chúng ta là cùng kẻ thù. Không dám giấu, tôi đã gây thù chuốc oán với Lục Hợp bang. Tôi nhận ra cây trủy thủ này của Lục Hợp bang”.
Lý Nam Tinh vừa lo vừa mừng, sau khi nói rõ họ tên của mình chàng hỏi thiếu niên: “Dám hỏi cao danh quý tính của huynh đài, huynh đài đã kết thù gì với Lục Hợp bang?”
Thiếu niên này đáp: “Tiểu đệ Trần Quang Chiếu. Mấy tháng trước trên đất Dự Lỗ tôi đã gặp tên hung tăng Viên Hải đánh cướp khách thương, tôi đã giao thủ với y, y bị tôi đâm trúng một kiếm, tôi cũng bị y phóng trúng một ngọn trủy thủ. Ngọn trủy thủ đó giống hệt ngọn trủy thủ này, trên chuôi còn có khắc đấu hiệu của Lục Hợp bang. Huynh xem đây!” Lý Nam Tinh xem lại, chỉ thấy trên chuôi trủy thủ có một cái đầu lâu, quả nhiên đó là ám hiệu của Lục Hợp bang.
Số là chàng thiếu niên này chính là con trai của Trần Thiên Vũ. Lần đó Kim Trục Lưu đến nhà chàng ta, chàng ta đã dưỡng thương xong và rời khỏi nhà, cho nên hai người không gặp nhau. Trần Thiên Vũ đã cho Kim Trục Lưu biết mối thù giữa con trai với Lục Hợp bang. Nhưng Lý Nam Tinh thì không biết mối quan hệ của họ.
Lý Nam Tinh cảm tạ Trần Quang Chiếu rồi hỏi: “Đây là nơi nào, tôi đã ở đây bao lâu?”
Trần Quang Chiếu đáp: “Đây là chùa Ngọa Phật ở Tây Sơn. Trụ trì của chùa Ngọa Phật và gia phụ là bằng hữu. Gia phụ chính là Trần Thiên Vũ ở Tô Châu”.
Trần Thiên Vũ rất nổi tiếng trên võ lâm, không phải Trần Quang Chiếu muốn mượn tên cha mình để lòe thiên hạ mà chỉ muốn khiến cho Lý Nam Tinh khỏi nghi ngờ.
Trần Quang Chiếu tưởng rằng Lý Nam Tinh nghe tên cha mình thì sẽ tỏ lòng ngưỡng mộ, ít nhất cũng nói vài lời khách sáo. Nào ngờ Lý Nam Tinh bảo: “Té ra đây là chùa Ngọa Phật ở Tây Sơn? Tôi vốn muốn đến Tây Sơn tìm một nơi dưỡng thương, quả thực đa tạ Trần huynh!”
Trần Quang Chiếu nghe hết sức ngạc nhiên, thầm nhủ: “Võ công của y giỏi như thế, chả lẽ không biết tên của cha mình?” Trên giang hồ có rất nhiều điều cầm kị, cho nên Trần Quang Chiếu tuy có ơn với Lý Nam Tinh nhưng cũng không dám hỏi lai lịch của chàng. Đành cười rằng: “Như thế huynh đài có thể yên tâm dưỡng thương ở đây. Trụ trì chùa Ngọa Phật tinh thông y đạo, đêm qua đã chữa trị vết thương cho huynh, ông ta bảo vết thương của huynh tuy không nhẹ nhưng may mắn nội công tinh thâm, chỉ cần uống thuốc khoảng mười ngày là khỏe hẳn”.
Lý Nam Tinh cả kinh: “Té ra tôi đã hôn mê một ngày một đêm rồi sao? Ồ, mười ngày mới thuyên giảm, thật đáng lo quá!”
Trần Quang Chiếu nói: “Huynh đài phải coi trọng sức khỏe. Đêm đầu trụ trì đã bắt mạch của huynh, bảo rằng lục mạch của huynh không điều hòa, có hiện tượng ngưng trệ, chắc là có tâm sự phiền não, bảo tôi khuyên huynh đài nên gác mọi chuyện sang một bên dưỡng thương xong rồi tính tiếp. Xin thứ cho tôi mạo muội hỏi một câu, có phải huynh đài nghĩ đến chuyện trả thù không? Có phải kẻ thù của huynh đệ là một người tên Hồng Anh trong Lục Hợp bang không?”
Lý Nam Tinh đỏ mặt: “Tại sao Trần huynh cho rằng Sử Hồng Anh là kẻ thù của tôi?”
Trần Quang Chiếu đáp: “Sử Hồng Anh? có phải người này là em gái của Sử Bạch Đô không?”
Lý Nam Tinh nói: “Đúng thế. Nhưng Sử cô nương không phải là kẻ thù của tôi”. Trần Quang Chiếu: “Như thế tôi đã hiểu nhầm. Đêm qua khi hôn mê huynh đã không ngừng gọi chữ Hồng Anh, tôi không nhớ Sử Bạch Đô còn có một người em gái, chỉ tưởng rằng huynh mắng một kẻ họ Hồng tên Anh mà thôi”.
Lý Nam Tinh ngạc nhiên hỏi: “Tôi mắng Hồng Anh thế nào?”
Trần Quang Chiếu nói: “Huynh mắng Hồng Anh tục lưu. Tôi tưởng rằng huynh mắng kẻ thù, nhưng cũng hơi lấy làm lạ, tại sao mắng kẻ thù là tục lưu? Trong Lục Hợp bang nào chỉ có bọn dung tục, nên mắng độc ác mới phải”.
Lý Nam Tinh cười lớn: “Trần huynh đã nghe nhầm. Tôi không phải mắng người. Tôi có một người bằng hữu tên Kim Trục Lưu, chắc là tôi gọi tên của y cho nên huynh nghe nhầm là tục lưu”. Trần Quang Chiếu cũng không khỏi bật cười, nhưng vẫn còn thắc mắc, hỏi tiếp: “Tại sao huynh lại gọi chung tên bằng hữu của mình với tên ả ma nữ ấy?”
Lý Nam Tinh nói: “Lục Hợp bang tuy là bại hoại trên giang hồ, nhưng trong bang cũng có người này người nọ. Ví dụ như Sử cô nương khác hẳn với ca ca của mình. Sử Bạch Đô cam lòng làm nanh vuốt cho Tát Phúc Đỉnh, nhưng Sử cô nương lại cùng chúng tôi phá tan thọ đường của Tát Phúc Đỉnh, cướp lễ vật của y!” Rồi bèn kể lại chuyện ngày hôm ấy cho Trần Quang Chiếu nghe, lúc này Trần Quang Chiếu mới biết mọi có sự.
Lý Nam Tinh tiếp tục: “Ba người chúng tôi cùng chạy ra một lượt, Sử cô nương bị Sử Bạch Đô bắt về, còn Kim Trục Lưu thì không biết đi về đâu. Chắc là tôi nhớ họ cho nên trong mơ mới gọi tên họ ra”.
Trần Quang Chiếu: “Té ra là thế. Nói như vậy, Sử cô nương là người hiệp nghĩa, lúc nãy tôi đã lỡ lời Huynh có cần tôi dò hỏi tin tức của Kim Trục Lưu không?”
Lý Nam Tinh đáp: “Bản lĩnh của Kim Trục Lưu giỏi hơn tôi nhiều, y đã chạy thoát ra khỏi Tát phủ, chắc chắn là đã thoát hiểm. Không cần Trần huynh phải nhọc lòng, đợi tôi dưỡng thương xong sẽ đi tìm y”.
Kim Trục Lưu ở nhà họ Đới là một bí mật, chàng đã dặn Lý Nam Tinh không được cho người khác biết. Cho nên Lý Nam Tinh tuy đang muốn báo tin của Sử Hồng Anh cho Kim Trục Lưu nhưng cũng không dám nhờ Trần Quang Chiếu.
Lý Nam Tinh thầm suy tính: “Dầu sao Sử Hồng Anh cũng bị áp giải về tổng đà của Lục Hợp bang, Sử Bạch Đô không thể quay về ngay được, trong vòng mười ngày mình có thể khỏe hẳn, nếu không đợi khỏe hẳn, sáu bảy ngày sau cũng có thể đi đường. Lúc đó mình sẽ cùng Kim Trục Lưu đến tổng đà của Lục Hợp bang, chắc là Sử Hồng Anh cũng chưa xảy ra chuyện gì”.
Lại nói Kim Trục Lưu đợi Sử Hồng Anh và Lý Nam Tinh đến tìm chàng ở nhà họ Đới, từng ngày cứ trôi qua, đến ngày thứ bảy cũng chẳng có tăm hơi gì, Kim Trục Lưu tưởng rằng hai người họ cao chạy xa bay, cho nên chàng không khỏi thất vọng nhưng cũng tự an ủi. 
Hôm nay Kim Trục Lưu vẫn xuống hầm xem Đường Kiệt Phu đúc kiếm, Đường Kiệt Phu rút thanh kiếm đã luyện xong ra, cười bảo: “Coi như không phụ lòng mong mỏi, cuối cùng ta đã luyện xong tảng huyền thiết bảo kiếm này. Bảy ngày thì hơi ít một chút, nhưng huyền thiết là loại báu vật hiếm có, chỉ cần luyện đúng cách không cần phải đến ngàn ngày. Lão đệ, đệ hãy thử thanh bảo kiếm này xem thử ta có làm hỏng tảng huyền thiết của đệ hay không?”
Kim Trục Lưu cầm lấy thanh kiếm, áng chừng khoảng đến trăm cân, nhưng ánh kiếm lấp lánh, tựa như nước hồ thu, không mỏng mà tựa như trong suốt. Kim Trục Lưu vung kiếm, chém cây búa bằng sắt tựa như miếng đậu hũ. Kim Trục Lưu mừng rỡ, nói: “Đây đúng là bảo kiếm chém sất như bùn! Tôi sẽ mang cho Đới lão tiền bối xem,
chắc ông ta cũng vui mừng!” Kim Trục Lưu hớn hở cầm thanh kiếm toan bước ra khỏi hầm, chợt có tiếng quát vang lên, con trai của Đới Quân là Đới Hiến chạy tới, xua tay bảo chàng: “Im lặng!”
Kim Trục Lưu hỏi gấp: “Xảy ra chuyện gì?” Đới Hiến kéo Kim Trục Lưu sang một bên, thì thầm: “Sử Bạch Đô và Đinh Bành đã tới. Đang nói chuyện với ca ca tôi ở ngoài linh đường!”
Kim Trục Lưu gật đầu: “Được, thanh bảo kiếm này đã luyện thành, để tôi mời y thử sự lợi hại của thanh kiếm!”
Đới Hiến vội vàng gạt: “Kim huynh đừng làm càn. Gia phụ vì không muốn gây chuyện mới giả chết. Chỉ cần ca ca tôi nói chuyện là được, chi bằng đừng động võ thì tốt hơn. Ngoài Sử Bạch Đô và Đinh Bành, còn có hai hương chủ của Lục Hợp bang nữa. Nếu có chuyện gì xảy ra, chúng ta không nắm chắc phần thắng”.
Tuy bất mãn với cách đối phó của cha con nhà họ Đới nhưng Kim Trục Lưu chợt nghĩ lại, Đới Quân nay đã già, vả lại là người có sự nghiệp ở Bắc Kinh, nếu xảy ra chuyện mình cứ bỏ đi là xong, nhưng cha con nhà họ Đới thì không thể dễ đàng bỏ hết tất cả sự nghiệp mà chạy.
Nghĩ đến đấy, Kim Trục Lưu đành dằn lòng: “Gia chủ đã không muốn, kẻ làm khách như tôi đành nghe theo. Nhưng nếu chúng ta không muốn gây sự, chỉ e bọn chúng lấn tới. Tôi và huynh hãy nấp ở căn phòng bên cạnh linh đường, theo dõi động tĩnh của bọn chúng, nếu có chuyện gì xảy ra thì sẽ xông ra ngay”.
Đới Hiến đáp: “Gia phụ cũng nghĩ như Kim huynh”. Kim Trục Lưu và y lẳng lặng vào căn phòng bên cạnh, chỉ thấy Đới Quân đã nấp sẵn ở đấy.
Đới Quân vẫy tay, Kim Trục Lưu bước đến gần ông ta, Đới Quân ghé tai chàng thì thầm: “Xem ra lần này có thể tránh được mối họa, bọn chúng không nhận ra sơ hở, đang chuẩn bị ra về”.
Kim Trục Lưu nhìn qua khe cửa, chỉ thấy Đới Mạc mặc đồ tang ngồi trước linh tiền, Sử Bạch Đô và Đinh Bành đứng sánh vai nhìn quan tài, phía sau lưng họ là Thanh Phù đạo nhân và Tiêu Lỗi.
Lúc này Sử Bạch Đô nói: “Tôi đã ngưỡng mộ tiếng tăm của Đới lão từ lâu, đáng tiếc không kịp gặp mặt, Đinh Bành, ngươi hãy thắp hương cho ta để cho ta hành lễ!”
Đới Mạc vội vàng can thiệp: “Không dám nhận đại lễ của Sử bang chủ”. Sử Bạch Đô nói: “Lệnh tôn là tiền bối trong võ lâm, nay tôi đến thăm viếng, lễ này không thể bỏ!” Nói xong cung kính vái dài ba cái.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 01:42:23Hoàng Dung>
Đới Mạc chỉ đành đứng một bên trả lễ, chỉ cảm thấy chưởng phong quét vào mặt, Đới Mạc tức giận trong lòng, thầm nhủ: “Kẻ này thật quá đáng”.
Sử Bạch Đô vái xong ba vái lạnh lùng bảo: “Đinh Bành, người chết hết chuyện, mối hiềm khích giữa ngươi với nhà họ Đới coi như kết thúc, ngươi không được gây sự với họ, đi thôi?”
Đới Mạc, Đới Quân đều thở phào. Nào ngờ khi Đới Mạc tiễn khách chợt nghe bên ngoài cổng có tiếng gõ cửa.
Đới Mạc ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Không biết khách không mời này là ai?”
Sử Bạch Đô đứng dậy: “Huynh có khách tôi không làm phiền nữa. Huynh cũng không cần tiễn tôi, cứ tiếp đãi khách của mình đi”.
Đới Mạc vừa bước ra sân, bọn Sử Bạch Đô đã đi theo sau y, chỉ nghe bình một tiếng, cánh cổng đã bị khách đạp tung ra, người ấy bước vào kêu lớn: “Có Kim Trục Lưu ở đây không?”
Người ấy chẳng phải ai khác, đó chính là Lý Nam Tinh. Lý Nam Tinh đang nôn nóng biết tin Kim Trục Lưu, gõ cửa mãi mà không ai trả lời, cho nên đạp cửa xông vào.
Lý Nam Tinh gọi to tên của Kim Trục Lưu ra, tất cả mọi người đều cả kinh.
Lý Nam Tinh lúc này mới phát hiện Sử Bạch Đô, chàng ta nằm mơ cũng không ngờ rằng lại gặp y ở đây, trong khoảnh khắc cũng ngẩn người ra.
Đới Mạc lắp bắp: “Ngươi có tìm nhầm nhà không? Đây là nhà họ Đới, không có người họ Kim”.
Sử Bạch Đô cười ha hả: “Đúng là đời người chẳng mấy lúc gặp nhau! Lý huynh, huynh đã khỏe chưa?”
Lý Nam Tinh cầm chuối kiếm, cũng cười ha hả: “Ta tuy tìm nhầm nhà, nhưng đã gặp được ngươi, cũng không uổng chuyến này”. Lý Nam Tinh nói như thế để tùy cơ ứng biến, muốn che đậy cho Đới Mạc. Kim Trục Lưu vừa lo vừa mừng, chàng cầm thanh kiếm toan chạy ra, nhưng Đới Quân kéo chàng lai: “Vẫn chưa đến lúc, hãy chờ một lát nữa. Hình như Sử Bạch Đô không muốn ra tay với bằng hữu của đệ”.
Đới Quân là người hiểu đời, nên đoán rất đúng. Sử Bạch Đô quả nhiên có mưu đồ khác, nên không động thủ với Lý Nam Tinh.
Chỉ nghe Sử Bạch Đô cười ha hả, cười xong rồi lại nói: “Lý huynh, chúng ta không đánh không quen nhau. Sử mỗ rất khâm phục sự cứng cỏi của huynh. Nhưng lúc này huynh chỉ mới khỏe được bảy phần, không thể giao thủ với người khác, Sử Bạch Đô này cũng không muốn thừa gió bẻ măng, dù huynh có khiêu chiến ta cũng không chiều theo”.
Lý Nam Tinh cười lạnh: “Ngươi không muốn thừa gió bẻ măng? Nói nghe thật hay! Không ngờ mấy ngày chẳng gặp, ngươi đã trở thành chính nhân quân tử!”
Sử Bạch Đô mặt dày mày dạn, không để ý đến lời mỉa mai của chàng, gằn giọng: “Ngày hôm đó có Soái Mạnh Hùng cho nên ta im lặng. Nay ta có chuyện muốn thương lượng, không biết Lý huynh có chịu không?”
Lý Nam Tinh cười lạnh: “Sử bang chủ có quyền có thế, hắc đạo bạch đạo đều nể, có chuyện gì cần đến ta?”
Sử Bạch Đô cười nói: “Ta chỉ thay xá muội bàn bạc với huynh. Không ngại cho huynh biết, ta xưa nay chẳng thích ả kết giao với huynh. Nhưng bọn ta là huynh muội, ta chỉ có một mình Hồng Anh, Hồng Anh lại không thể quên huynh, ta chỉ đành chấp nhận. Ta định ngày mai trở về tổng đàn sẽ nói chuyện với xá muội, hy vọng huynh cũng có mặt ở đó”. Tuy Sử Bạch Đô không nói rõ ra, nhưng ý y muốn bảo bàn chuyện hôn sự với Lý Nam Tinh.
Lý Nam Tinh không ngờ Sử Bạch Đô lại nói với mình như thế, chàng ngỡ ngàng ngạc nhiên: “Ồ, té ra ngươi muốn gạt ta đến tổng đà của Lục Hợp bang? Hừ hừ, ta vốn cũng sẽ tới, dù ngươi có đặt cạm bẫy ta cũng không sợ! Nhưng ta sẽ không đi cùng ngươi, ta biết tự đi”.
Sử Bạch Đô cười ha hả: “Lão đệ thật gan dạ! Nhưng ngươi đã hiểu lầm, chỉ vì ta thương yêu em gái của mình cho nên mới mời ngươi đến làm khách, sao có thể hại ngươi? Được, nếu hôm nay ngươi không thể đi thì ta về trước, ta sẽ đợi ngươi tại tổng đà. Đương nhiên, nếu người không tin thì khỏi đến cũng được!”
Lý Nam Tinh nghe y khiêu khích, nổi giận đùng đùng: “Ngươi cứ đợi đấy, ta nhất định sẽ đến, đừng nói là Sử Bạch Đô nhà ngươi, dù cho Diêm Vương có gửi thiệp mời, Lý mà này cũng đám tới!”
Sử Bạch Đô cười lớn: “Gan dạ, gan dạ! Chả trách nào xá muội lại đem lòng yêu thương ngươi, ta cũng không thể không khâm phục ngươi. Hôm nay không thể nói nhiều, đợi ngươi đến tệ bang, ngươi có thể biết Sử mà này là người tốt hay kẻ xấu. Được, chúng ta đi thôi!” Thanh Phù đạo nhân và Tiêu Lỗi xen vào: “Bang chủ, chúng ta đi như thế sao? Tên... tên tiểu tử họ Kim...” Sử Bạch Đô cười cười ha hả: “Đúng, đúng. Các người không nói ta suýt nữa quên mất. Đới tiêu đầu, trước mặt chân nhân không nói dối, tên tiểu tử Kim Trục Lưu có xích mích với tôi, nếu y ở đây, ông hãy giao y ra”.
Lý Nam Tinh lớn giọng: “Ta đã tìm nhầm nhà, ngươi làm khó Đới tiêu đầu làm gì? ngươi muốn bắt người thì cứ hỏi ta!”
Tiêu Lỗi là kẻ lỗ mãng, y đã hai lần bị Kim Trục Lưu chơi khăm, đang nôn nóng bắt Kim Trục Lưu để trả thù, liền hỏi Lý Nam Tinh đòi người.
Lý Nam Tinh cười lạnh lẽo: “Đúng thế, ta biết tung tích của Kim Trục Lưu, nhưng muốn ta nói cho ngươi biết, trước tiên hãy hỏi một người bằng hữu của ta!” Tiêu Lỗi trợn mắt: “Bằng hữu nào, hãy bảo y ra đây!”
Lý Nam Tinh vuốt thanh trường kiếm, đáp: “Chính là ở đây, ngươi hãy hỏi y có chịu chấp nhận hay không?”
Tiêu Lỗi cả giận định xông tới, Sử Bạch Đô quát: “Có ta ở đây, không cần ngươi phải lên tiếng, lui xuống cho ta!” Mắng xong Tiêu Lỗi, y chợt nhìn Lý Nam Tinh cười rồi bảo: “Lão đệ, ngươi đã nhầm rồi!”
Lý Nam Tinh tức giận hỏi: “Ta nhầm điều gì?”
Sử Bạch Đô thản nhiên: “Ngươi có nghĩa khí với y, đáng tiếc...” Lý Nam Tinh hỏi: “Đáng tiếc điều gì?”
Sử Bạch Đô nghĩ bụng: “Mình cũng không nên nói quá lộ liễu, trước tiên phải khiến cho y nghi ngờ, để khỏi mất thân phận bang chủ của mình”. Bèn cười ha hả: “Cũng không có gì, nhưng tên tiểu tử họ Kim chẳng có ý tốt với xá muội, y đã từng lừa báu vật của Lục Hợp bang ta trên tay xá muội, chắc là ngươi cũng biết chuyện này?”
Lý Nam Tinh ngạc nhiên, nói: “Chuyện này có liên quan gì đến ta? Đồ bất nghĩa của Lục Hợp bang các người ai cũng có thể lấy. Kim Trục Lưu đánh cắp cũng được, lừa cũng được”.
Sử Bạch Đô gằn giọng: “Nếu đệ cứ bênh vực cho tên tiểu tử này, ta cũng chẳng còn gì để nói nữa. Nhưng chuyện này ta phải truy cứu! Ta lấy tảng huyền thiết về là để đúc thành bảo kiếm làm của hồi môn cho xá muội, không thể rơi vào tay kẻ lừa gạt được, Đới tiêu đầu, không phải tôi không tin lời ông, hôm nay tôi đến đây là có chút manh mối, do đó tốt xấu gì cũng phải tra xét một lượt!”
Đới Mạc tức giận: “Nhà họ Đới ta đâu có dễ để cho người ta lục soát?” Lý Nam Tinh cũng nổi giận: “Ta đã bảo, muốn bắt Kim Trục Lưu thì phải hỏi ta!”
Hai bên đang tranh cãi thì chợt nghe tiếng cười của Kim Trục Lưu vang lên: “Sử bang chủ, đừng nhọc lòng nữa, Kim Trục Lưu ở đây”. Chỉ thấy Kim Trục Lưu cầm một thanh bảo kiếm sáng lấp lánh bước xuống.
Thanh Phù và Tiêu Lỗi ỷ có Sử Bạch Đô, không biết thanh bảo kiếm huyền thiết của Kim Trục Lưu rất lợi hại, cả hai vung đao và kiếm chém về phía Kim Trục Lưu!
Chỉ thấy ánh hàn quang chớp lên, keng keng hai tiếng. Đao và kiếm đều chỉ còn thừa một nửa! Không những Thanh Phù và Tiêu Lỗi đứng ngây người ra, cả Sử Bạch Đô cũng sững sờ. Sử Bạch Đô biết thanh bảo kiếm này được rèn từ tảng huyền thiết, trong bụng vừa ghen tị, vừa tức giận, thầm nhủ: “Tên tiểu tử này thật thần thông quảng đại, không biết y tìm đâu ra thợ luyện kiếm cao minh mà có thể rèn thành thanh huyền thiết bảo kiếm này. Nay y có lợi khí trong tay, chỉ e mình không thể thắng được y”.
Số là khi Sử Bạch Đô đòi lục soát, y tưởng rằng mình nắm chắc phần thắng, công lực của y hơn Kim Trục Lưu, mà Lý Nam Tinh vừa mới bị thương chưa hết hẳn, Thanh Phù và Tiêu Lỗi thừa sức đối phó với chàng. Nhưng lúc này Kim Trục Lưu đang có bảo kiếm trong tay, Sử Bạch Đô cũng phải kiêng dè mấy phần.
Kim Trục Lưu cầm thanh kiếm cười ha hả bước tới: “Sử bang chủ, nếu ông muốn giao thủ với tôi thì hãy đợi một lát”.
Chàng đút thanh kiếm vào bao, bước tới trước mặt Lý Nam Tinh: “Đại ca, hãy thu nhận thanh kiếm này!”
Lý Nam Tinh hỏi: “Đệ tặng cho ta?” Lúc này Lý Nam Tinh mới biết đó là thanh huyền thiết kiếm, dù chàng tánh tình phóng khoáng, nhưng cũng cảm thấy món quà này quá quý! Hơn nữa lúc nãy Sử Bạch Đô mới nói y tặng huyền thiết bảo kiếm làm của hồi môn cho em gái của mình, nay Kim Trục Lưu lại tặng cho chàng, chàng áy náy không muốn nhận.
Kim Trục Lưu cười ha hả: “Đại ca, chả lẽ huynh còn ngần ngại? Hôm đó huynh tặng đàn cổ cho đệ, đệ cũng đã nhận, sao hôm nay huynh lại chần chừ? Đúng thế, thanh bảo kiếm này là vật hiếm có, nhưng mối giao tình của chúng ta còn quý hơn thanh bảo kiếm này gấp trăm lần! Đại ca, chả lẽ huynh trọng vật khinh người, như thế thật quá xem thường tiểu đệ!”
Lý Nam Tinh rất cảm động, nhận thanh kiếm rồi bảo: “Hảo huynh đệ, được, ta nhận! Nhưng trận này đệ phải để cho ta ra mặt!”
Khi Lý Nam Tinh nhận thanh kiếm, chợt nghe một giọng nói già nua kêu ồ lên, tựa như rất kinh ngạc, nhưng cũng có mấy phần tiếc nuối.
Kim Trục Lưu quay đầu nhìn lại, té ra Đường Kiệt Phu cũng bước ra. Kim Trục Lưu cười nói: “Đại ca, đây là Đường Kiệt Phu đại hiệp ở Tứ Xuyên. Ông ta đã dốc hết tâm sức để luyện thanh huyền thiết kiếm này, chúng ta nên bái tạ ông ta”.
Đường Kiệt Phu vuốt râu cười: “Bảo kiếm tặng cho tri kỷ, hồng phấn tặng cho giai nhân. Đây cũng là giai thoại của võ lâm. Mong Lý thiếu hiệp coi trọng thanh bảo kiếm!” Té ra Đường Kiệt Phu thấy Kim Trục Lưu tặng thanh kiếm quý cho bằng hữu, trong lòng có mấy phần tiếc nuối, nhưng nghĩ lại cũng cảm động trước tình bằng hữu của họ.
Sử Bạch Đô biết Đường Kiệt Phu là bậc danh gia trong nghề ám khí, nếu luận về công phu thật sự, chỉ e Thiên Thủ Quan âm Kỳ Thánh Ân không bằng ông ta. Thấy ông ta xuất hiện thì không khỏi lúng túng, y cười gượng: “Ta cứ tưởng là ai, té rachính ông đã luyện thanh kiếm này”.
Đường Kiệt Phu nói thẳng: “Ta xưa nay thích lo chuyện bao đồng, huống chi rèn kiếm là nghề của ta, Sử bang chủ, ông có trách tôi nhiều chuyện không?”
Sử Bạch Đô nghe thế biết Đường Kiệt Phu sẽ xen vào chuyện này, y không nắm chắc phần thắng khi Lý Nam Tinh và Kim Trục Lưu liên thủ, nay lại xuất hiện thêm Đường Kiệt Phu, Sử Bạch Đô đương nhiên không thể không nghĩ lại!
Sau khi Lý Nam Tinh đạp tung cửa nhà họ Đới, chàng vẫn chưa đóng lại, lúc này chợt nghe tiếng vó ngựa lọc cọc, có một thớt ngựa trắng chẳng còn yên cương từ bên ngoài chạy vào, Thanh Phù đạo nhân kêu lên: “Ồ, bang chủ, đây có phải là ngựa của ông không?”
Té ra con ngựa này vốn nhốt ở chuồng ngựa nhà hàng xóm, nó nghe tiếng của chủ nhân thì đạp tung cánh cửa chạy ra tìm.
Sử Bạch Đô cười ha hả: “Chả trách nào nó mến chủ cũ!” Thế rồi phóng người lên lưng ngựa, nói: “Kim Trục Lưu, ngươi tặng thanh huyền thiết bảo kiếm cho Nam Tinh lão đệ, chuyện này rất hợp ý ta, ta không truy cứu nữa. Nhưng ngươi cũng nên trả lại con ngựa này cho ta!” Sử Bạch Đô có ý muốn li gián hai người Kim, Lý. Kim Trục Lưu nghe thế thì hoang mang, cũng không biết là mừng hay buồn, Sử Bạch Đô đã dắt bọn Đinh Bành đi mất.
Lý Nam Tinh cười bảo: “Đệ thật thần thông quảng đại, có thể đánh cắp được huyền thiết và ngựa quý của bọn chúng, nhưng con ngựa của Sử Bạch Đô chạy rất nhanh, đệ trả lại cho y thật là đáng tiếc”.
Kim Trục Lưu nói: “Đệ đã hứa trả lại trước cho y, nên cũng phải trả lại”.
Lý Nam Tinh nói: “Nhưng trả lại cho y lúc này bất lợi đối với chúng ta. Y có con ngựa quý, có thể về tổng đà sớm hơn mấy ngày”. Kim Trục Lưu lúc này mới hiểu ý Lý Nam Tinh, té ra chàng ta đang nghĩ tới chuyện cứu Sử Hồng Anh.
Kim Trục Lưu im lặng không nói, Lý Nam Tinh cười rằng: “Nhưng ta đã hứa với Sử Bạch Đô, cứ để y về trước cũng được. Chúng ta cứ ngay hàng thẳng lối mà đến, cũng chẳng sợ gì”. Đới Quân lúc này đã ra khỏi linh đường, lớn giọng kêu: “Các người mau đến đây, hãy xem thủ đoạn độc ác của Sử Bạch Đô!”
Mọi người quay vào linh đường, chỉ thấy Đới Quân mở nắp quan tài, cười rằng: “Giả sử ta nằm ngủ trong quan tài, chỉ e đã tan xương nát thịt!” Mọi người vừa nhìn, quả nhiên thấy mười mấy tảng đá xanh rắn chắc đều đã nát thành bột? Dùng Kim cương chưởng lực đánh nát đá xanh không khó, khó là ở chỗ cách một lớp quan tài, mà tấm ván quan tài không hề suy suyễn, còn đá xanh bên trong thì đã nát, đó là nội công thượng thừa Cách sơn đả ngưu, dù Đường Kiệt Phu là bậc danh túc trong võ lâm, thấy thế cũng trợn mắt há mồm.
Kim Trục Lưu giới thiệu cho đôi bên quen biết, Lý Nam Tinh tạ lỗi: “Đới lão gia, lần này tôi đến thật lỗ mãng”. Đới Quân cười ha hả: “Ta tránh được họa, lại quen biết một thiếu niên hào kiệt, đây chính là chuyện song hỉ lâm môn. Lão đệ, ngươi không cần khách sáo, ngươi và Kim Trục Lưu là huynh đệ kết bái, chúng ta đều là người nhà”.
Kim Trục Lưu lo lắng: “Sử Bạch Đô đã phát hiện tôi ở đây, e rằng sau này sẽ đến gây phiền phức. Đới lão tiền bối, tôi đã liên lụy ông, thực sự rất áy náy. Ông tính toán như thế nào? Có cần tiểu điệt...”
Đới Quân nhíu mày, lớn giọng cười: “Kim lão đệ, có phải ngươi tưởng rằng ta tuổi già nhát gan cho nên mới giả chết không? Đúng thế, nay ta đã lớn tuổi, nhưng đến lúc nguy ngập cũng phải liều thân già! Sở dĩ ta giả chết là bởi muốn hóa giải một mối oan thù, Đinh Bành tuy làm chuyện ác nhiều, ta đã giết cha của y, đương nhiên không muốn làm tổn thương y nữa. Lúc nãy đệ buộc phải bước ra, làm sao nói là liên lụy ta? Lão đệ, những câu này phải chăng đã quá coi thường ta?”
Kim Trục Lưu vội vàng thưa: “Xin thứ cho tiểu điệt lỡ lời. Nhưng ý của tôi là vẫn phải phòng bị, nếu Tát Phúc Đỉnh biết tôi ẩn nấp ở đây, có lẽ sẽ tìm đến đây”.
Đới Quân đáp: “Ta đã suy nghĩ, Sử Bạch Đô đang nôn nóng trở về, y tự phụ là nhân vật có tiếng trên giang hồ, lần này chắc chắn ngại không dám đến cáo từ Tát Phúc Đỉnh. Hơn nữa, hình như y có ý lôi kéo Nam Tinh lão đệ, vả lại ta cũng đã có cách thoát thân, mọi người hãy yên tâm”.
Kim Trục Lưu nghe ông ta nói như thế thì yên tâm, bảo: “Nếu ở đây yên, sư điệt của tôi đang ở Tiểu Kim Xuyên, nếu Đới tiền bối chịu đến đó, bọn họ chắc chắn sẽ rất vui mừng”.
Đới Quân đáp: “Ta biết. Trong kinh thành Bắc Kinh, ta có nhiều bằng hữu, nếu không thể đứng chân được, ta lại sẽ đến Tiểu Kim Xuyên”. Đới Quân không muốn rời khỏi nơi ông ta đã quen.
Kim Trục Lưu nói với Lý Nam Tinh: “Đại ca, đại ca hãy ở đây một đêm”.
Lý Nam Tinh trầm ngâm: “Điều này... e rằng hôm nay ta phải quay về. Lần này ta kết giao được một bằng hữu mới, hôm nay ta vào thành vẫn chưa nói cho y biết, không quay về e rằng sẽ khiến y lo lắng”.
Đới Quân nói: “Các người đã trải qua một trận đại nạn, chắc là phải nói nhiều chuyện, ta còn có việc phải xử lý, xin thứ ta không thể tiếp đãi”.
Kim Trục Lưu dắt Lý Nam Tinh vào phòng của mình, Lý Nam Tinh hạ giọng: “Sử cô nương rất nhớ đệ, nàng vốn muốn ta tìm đệ sớm, đáng tiếc ta bị thương, cho đến hôm nay mới gặp được đệ. Nàng đã bị Sử Bạch Đô bắt về tổng đà”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Lúc nãy đệ đã nghe Sử Bạch Đô nói. Không biết Sử cô nương có bị thương không? Hôm đó đệ tưởng các người đã thoát hiểm, nếu biết như thế thì đệ phải đi chung với các người”.
Lý Nam Tinh cười nhẹ: “May mà Sử cô nương vẫn không bị thương, ta tuy bị thương nhưng vì thế mà kết giao được một bằng hữu, coi như vì họa mà được phước”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Người đó là ai?” Lý Nam Tinh nói: “Là Trần Quang Chiếu, hiền đệ có từng nghe cái tên này không?”
Kim Trục Lưu trầm ngâm: “Trần Quang Chiếu, ồ, cái tên này thật quen!” rồi chàng chợt nhớ ra: “Đúng thế, y chính là con trai của Trần Thiên Vũ!”
Lý Nam Tinh gật đầu: “Đúng vậy, y đã từng nói tên cha y cho ta nghe. Nhưng Trần Thiên Vũ là ai?”
Kim Trục Lưu đáp: “Trần Thiên Vũ là bằng hữu của cha tôi, lần này tôi lên kinh đã từng ở nhà y một đêm. Trần thúc thúc bảo y đã gây xích mích với Lục Hợp bang. Còn nhờ tôi dò hỏi tin tức của y trên giang hồ. Không ngờ y cũng tới Bắc Kinh”.
Lý Nam Tinh nói: “Chúng tôi đang ở tại chùa Ngọa Phật ở Tây Sơn, được, đêm nay tôi sẽ về báo tin vui này cho y biết”.
Kim Trục Lưu hỏi: “Huynh đã gặp y như thế nào?” Lý Nam Tinh bèn kể lại chuyện hôm ấy, Kim Trục Lưu nghe nói Soái Mạnh Hùng đã đến Bắc Kinh, lòng thầm nhủ: “Gã này có thể đả thương đại ca, quả thực không thể coi thường võ công. Y chịu thả cho đại ca đi, chắc là vì muốn lấy lòng Hồng Anh. Nhưng ở đây còn có một nghi điểm, Sử Bạch Đô vốn muốn gả em gái cho Soái Mạnh Hùng, tại sao lại thay đổi chủ ý?” Kim Trục Lưu nghĩ mãi mà không hiểu, cuối cùng chàng đưa ra kết luận: “Rất có thể sẽ có một âm mưu gì đó, mình phải tìm cách điều tra cho rõ ràng, đại ca bại trong tay Soái Mạnh Hùng, mình phải trả thù cho y, nhưng mình không cần phải nói trước cho đại ca biết”.
Lý Nam Tinh vốn vẫn chờ đợi Kim Trục Lưu hỏi chuyện giữa mình với Sử Hồng Anh, nhưng Kim Trục Lưu hỏi đi hỏi lại, chẳng hề nhắc đến nàng ta, Lý Nam Tinh nén không được, đành ra lời: “Hiền đệ, ta có một chuyện nói cho đệ biết”.
Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Đến rồi!” Tim chàng đập thình thình, nhưng chàng không muốn cho Lý Nam Tinh biết bí mật của mình, vì thế hờ hững: “Đại ca cứ nói”.
Lý Nam Tinh nói: “Đệ và Sử cô nương quen biết có lâu không? Theo đệ thấy, cô ta như thế nào?”
Kim Trục Lưu đáp: “Đệ và cô ta quen nhau có hơn một tháng, chỉ gặp nhau vài ba lần, tính ra cũng chẳng phải thân thiết gì. Nhưng theo đệ thấy nàng ta là người gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!”
Lý Nam Tinh vỗ tay nói: “Ta cũng nghĩ như hiền đệ. Hiền đệ, đệ hãy đoán thử ta làm sao quen biết nàng?”
Kim Trục Lưu cười gượng: “Huynh không nói thì đệ làm sao đoán được?”
Lý Nam Tinh hớn hở: “Hơn nửa tháng trước, trên đường đến Bảo Định, ta thấy nàng cướp quà mừng thọ của Tát Phúc Đỉnh, đối thủ rất mạnh, ta giúp nàng đánh lui kẻ địch cho nên quen nhau”.
Kim Trục Lưu cười khổ sở: “Thế ư?”
Lý Nam Tinh cười rằng: “Đúng thế. Hiền đệ, đệ đang cười ta mặt dày, ta và nàng tuy chỉ gặp mặt hai lần, nhưng thân thuộc hơn đệ, hình như cũng có duyên phận với nàng!”
Chính là: Hoa rụng tuy hữu ý, nước chảy lại vô tình.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 22 phân giải.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 07:56:28Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Hai Mươi Hai
Rút kiếm cuồng ca đau chuyện cũ.
Gảy đàn lặng lẽ tiếc lương duyên.

[/align]Kim Trục Lưu tỏ vẻ mừng rỡ: “Chúc mừng đại ca. Hai chữ duyên phận rất khó kiếm, không ngờ đại ca vô tình lại có được!”
Lý Nam Tinh cười rằng: “Ta xưa nay không thích nữ tử, không ngờ vừa gặp Sử cô nương đã điên đảo thần hồn, ngày đêm thương nhớ đến nàng, đó chẳng phải có duyên hay sao?”
Kim Trục Lưu hỏi: “Nhưng Sử cô nương có bày tỏ cho huynh biết chưa?”
Lý Nam Tinh lại cười: “Không phải ta tự cho mình đa tình, theo ta thấy, trong lòng ta có nàng, trong lòng nàng cũng đã có ta. Nếu không hôm ấy nàng đã không liều mạng vì ta đến thế”.
Kim Trục Lưu biết tính cách của Sử Hồng Anh, lòng thầm nhủ: “Hồng Anh là người ân oán phân minh, thị phi rõ ràng, coi trọng tình bằng hữu, trước đây nàng đã từng hết lòng giúp Lý Đôn, vì thế mà mình cũng hiểu lầm nàng”.
Những vấn đề không phải ở Sử Hồng Anh, Kim Trục Lưu chợt nghĩ lại: “Dù đại ca có tự cho đa tình hay không, y cũng đã thương mến Hồng Anh. Quân tử không đoạt thứ yêu thích của người, huống chi mình và y là huynh đệ kết nghĩa?” Rồi lại nghĩ: “Hình như Hồng Anh cũng có ý với mình, nhưng không chừng mình cũng tự cho đa tình? Thôi đi, dù nàng có ý với mình cũng được, không có ý cũng được, sau này mình phải tự kìm nén lánh xa nàng, để cho trái tim của nàng hoàn toàn hướng về đại ca”.
Lý Nam Tinh hỏi vội: “Hiền đệ, đệ đang nghĩ gì thế?”
Kim Trục Lưu đáp: “Đệ đang nghĩ... khi nào thì uống rượu mừng của đại ca”.
Lý Nam Tinh cười: “Vẫn còn sớm. Nay Sử cô nương đã bị nhốt trong tổng đà của Lục Hợp bang, không cứu nàng ra thì chẳng thể nói được chuyện gì. Hiền đệ, lúc nãy đệ đã nghe Sử Bạch Đô hẹn ta, chúng ta cùng đến tổng đà của Lục Hợp bang được chứ?”
Kim Trục Lưu ngần ngại: “Sử Bạch Đô có ý hứa hôn, đại ca còn lo gì?”
Lý Nam Tinh nói: “Nói là thế, nhưng phải đề phòng có cạm bẫy?”
Kim Trục Lưu: “Theo đệ thấy Sử Bạch Đô sẽ không hại huynh. Khi huynh xông vào, Sử Bạch Đô đã nhận ra huynh chưa khỏe hẳn, nếu có ý hại huynh thì chắc chắn đã ra tay rồi”.
Lý Nam Tinh hơi bất mãn, thầm nhủ: “Chả lẽ Kim Trục Lưu sợ, không dám mạo hiểm cũng mình? Nhưng y nói cũng có lý. Võ công Sử Bạch Đô hơn hẳn mình, hômnay lại chịu xuống nước với mình, xem ra là thật”.
Kim Trục Lưu lại nói: “Tiểu đệ còn một ít việc ở Bắc Kinh, e rằng tạm thời không thể bỏ đi”. Thực ra Kim Trục Lưu sợ nếu mình cũng đi, chắc chắn sẽ gây bất lợi cho hôn nhân của Lý Nam Tinh. biết rõ Lý Nam Tinh sẽ hiểu lầm mình, chàng cũng đành từ chối.
Lý Nam Tinh là người trọng tình cảm, trong lòng tuy không vui, nhưng cũng không nói lời oán trách. Nhưng chàng không ngờ Kim Trục Lưu lại từ chối, hai người vốn đang vui vẻ lại trở nên ngượng ngùng với nhau.
Lý Nam Tinh liếc mắt nhìn thì thấy cây cổ cầm ở trên bàn, Lý Nam Tinh hỏi: “Gần đây hiền đệ có học đàn không?”
Kim Trục Lưu đáp: “Đã học vài cổ phổ, nhưng đàn vẫn chưa hay. Đại ca đi lần này không biết chừng nào mới gặp lại. Mong đại ca tặng cho đệ một khúc!”
Lý Nam Tinh đang đầy tâm sự trong lòng, chàng cầm lấy cây đàn, nói một tiếng “được”, rồi gảy đàn hát rằng: “Phương dữ trạch kỳ tạp nhu hề, khương phương hoa tự trung xuất. Phân uất uất kỳ viễn thừa hề, mãn nội nhi ngoại dương. Tình giữ chất khả bảo hề. Khương cư tệ kỳ văn chương”.
Đây là tiết Tư mĩ nhân thiên trong Sở từ, đại ý là: “Thơm và thối trộn lẫn với nhau, tựa như là quân tử và tiểu nhân cùng một triều. Nhưng ai cũng có thể phân biệt được hoa thơm, mùi thơm của nó không thể nào phai nhạt. Phẩm chất tốt đẹp cuối cùng vẫn có thể giữ được, tiếng tăm tốt đẹp vẫn có thể truyền đến nơi xa, không cần người lo lắng cho nàng”. Sử Hồng Anh đang ở trong Lục Hợp bang, tựa như đóa sen thơm tho mọc trong chốn bùn nhơ, không cần nói “mỹ nhân” mà Lý Nam Tinh đang nhớ nhung chính là Sử Hồng Anh. Chàng còn muốn bảo Kim Trục Lưu rằng, Sử Hồng Anh rốt cuộc cũng có thể thoát ra khỏi vũng bùn Lục Hợp bang, dù Kim Trục Lưu không giúp cũng được, cũng không cần chàng lo lắng.
Kim Trục Lưu lòng rối như tơ vò, im lặng không nói. Lý Nam Tinh đưa cây đàn cho chàng rồi hỏi: “Hiền đệ đã học được cổ phổ nào? Có thể đàn cho ta nghe một khúc không?”
Kim Trục Lưu lẳng lặng gảy đàn, Lý Nam Tinh là cao thủ đàn cổ cầm, Kim Trục Lưu tuy chỉ đàn không hát, nhưng chàng vẫn có thể nhận ra đó là một bài trong kinh thi, vì thế cứ hát theo tiếng đàn rằng: “Nhật cư nguyệt chư, hồ điệt nhi vi? Tâm chi ưu hĩ, như phỉ hãn hoàn y, tịnh ngôn tư chi, bất năng phân phi”. Đại ý của bài này là: “Đã từng hỏi trăng, đã từng hỏi trời, tại sao sáng mà cứ như tối? Nỗi ưu phiền trong lòng tẩy cũng không sạch, tựa như một đống đồ dơ bẩn. Ta đè tay lên ngực suy nghĩ mãi. Làm sao có thể giang cánh bay cao?”
Kim Trục Lưu đàn khúc nhạc này cũng có hàm ý sâu xa. Chàng đang khổ vì mình không thể dứt bỏ tình riêng nhi nữ, cảm thấy rằng đó là sai lầm của mình, nỗi ưu phiền trong lòng tựa như một đống đồ dơ, cần phải tẩy rửa cho sạch. Có nhiều chuyện đang chờ chàng làm, cho nên chàng phải “Đặt tay lên ngực suy nghĩ mãi, làm sao có thể giang cánh bay xa?”
Lý Nam Tinh hoàn toàn không hiểu ý Kim Trục Lưu, nhưng cũng có thể cảm nhận được tâm trạng buồn bã của chàng.
Lý Nam Tinh giật mình: “Trục Lưu đang có tâm sự gì không cho mình biết?”
Chợt nghe ngoài cửa có người khen: “Đàn rất hay!” Té ra đã đến giờ cơm, Đới Mạc đến mời họ vào ăn cơm.
Lý Nam Tinh xin cáo: “Không, tôi phải mau chóng trở về. Rồi vội vàng bước ra khách sảnh, cáo từ Đới Quân.
Đến khi Lý Nam Tinh đã khuất dạng sau cánh cổng, Đới Quân cười nói: “Người này tính tình phóng khoáng, chẳng khác gì Kim lão đệ. Chả trách nào các ngươi lại kết thành huynh đệ”. Đường Kiệt Phu cũng bảo: “Võ công và đảm thức của người này quả thật bất phàm, Kim lão đệ, nói thực ta vốn có mấy phần tiếc nuối việc đệ đã tặngthanh huyền thiết kiếm cho y, nhưng nay ta xin chúc mừng vì ngươi đã tặng kiếm cho đúng người”.
Kim Trục Lưu gật đầu: “Đúng thế, sống trên đời khó gặp tri kỷ. Chỉ là một thanhkiếm có gì đáng tiếc!”
Đường Kiệt Phu cả cười: “Nói rất hay, lão đệ, ta cũng mời ngươi ba chén!” Kim Trục Lưu đã uống mười mấy chén rượu, lúc này mới ngà ngà say, chàng thầm nhủ: “Đường Kiệt Phu đúng là bậc danh túc trong võ lâm!” Đường Kiệt Phu thấy Kim Trục Lưu ngồi yên, hỏi: “Lão đệ, ngươi đang nghĩ chuyện gì thế?” Kim Trục Lưu hỏi lại: “Hôm nay là ngày mấy?” Đường Kiệt Phu cười nói: “Lão đệ, hình như đệ đã say, hôm nay là ngày mười ba tháng giêng, hai ngày nữa là đến Tết Nguyên Tiêu, đệ không biết sao?”
Kim Trục Lưu gật đầu: “Quả thực đã say?” thật ra sau khi Kim Trục Lưu đại náo Tát phủ, chàng đang chờ đợi Tết Nguyên Tiêu. Bởi vì chàng nhớ ngày đó cho nên mới buột miệng hỏi. Chàng nghe hai chữ “Nguyên Tiêu”, tửu ý đã giảm mấy phần.
Chàng nhớ rằng cha mình đã bảo mình đem bức thư đến cho Giang Hải Thiên, người căn dặn vào canh ba đêm Nguyên Tiêu, Giang Hải Thiên đeo một chiếc nhẫn hàn ngọc đến Bí Ma Nhai ở Tây Sơn, gặp một người cũng đeo một chiếc nhẫn như thế. Chàng cũng không biết người đó là ai.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ngày kia là Tết Nguyên Tiêu, không biết sư huynh đã đến Bắc Kinh chưa? Sư huynh kết giao rộng rãi, Đới lão liền bối cũng rất giỏi dò hỏi tin tức. Nếu sư huynh lên Bắc Kinh họ chắc chắn sẽ gặp nhau. Hai ngày nữa chắc Trần Quang Chiếu cũng đến tìm mình, mình cứ chờ ở đây, qua Tết Nguyên Tiêu sẽ đến Lục Hợp bang”. Kim Trục Lưu biết khinh công của mình hơn Lý Nam Tinh, nếu ban ngày cưỡi ngựa, ban đêm chạy bộ thì dù Lý Nam Tinh đi trước hai ngày, chàng vẫn có thể đuổi kịp. Số là Kim Trục Lưu tính âm thầm theo dõi, không lộ mặt, đến tổng đà của Lục Hợp bang sẽ tùy cơ hành sự. Nếu Lý Nam Tinh không cứu nổi Sử Hồng Anh thì chàng sẽ ra tay.
Hôm sau vẫn chẳng thấy Trần Quang Chiếu, cũng chẳng nhận được tin tức của Giang Hải Thiên, Kim Trục Lưu cảm thấy ngạc nhiên, thầm nhủ: “Sư huynh đi vòng qua Tây Xương, có thể đã tính toán đúng thời gian, ngày mai sẽ tới. Nhưng tại sao Trần Quang Chiếu vẫn không đến tìm mình? Phải chăng đại ca quên không báo tin của mình cho y? Hay là y lại có chuyện khác”. Hai nhà Kim, Trần có mối thâm giao với nhau, Trần Thiên Vũ lại nhờ Kim Trục Lưu chăm sóc cho con trai của mình, Kim Trục Lưu cũng muốn gặp mặt Trần Quang Chiếu.
Ngày thứ hai đã trôi qua, đến đêm Nguyên Tiêu, trời đã tối mà vẫn chẳng nhận được tin tức của Giang Hải Thiên, cũng chẳng thấy Trần Quang Chiếu đến tìm mình. Vì thế Kim Trục Lưu lấy cớ ra ngoài xem đèn, lẳng lặng ra khỏi thành. Người trong kinh thành rất coi trọng Tết Nguyên Tiêu, vừa đến tối thì lễ hội hoa đăng đã diễn ra, cho đến trời sáng mới tan. Cho nên Kim Trục Lưu mượn cớ ra ngoài xem đèn, có thể đến sáng mới quay về.
Trần Quang Chiếu không đến tìm chàng là vì có một nguyên nhân.
Lại nói Lý Nam Tinh đêm ấy chạy về Tây Sơn, đến chùa Ngọa Phật thì đã tới canh ba. Chú tiểu giữ cửa nói: “Trần công tử không thấy ngài quay về, đã đi tìm ngài khắp núi. Giờ đây không biết đã quay về hay chưa? Có cần tôi báo với phương trượng không?” Lý Nam Tinh thầm hổ thẹn, đáp: “Tôi có việc vào thành, tưởng rằng sẽ về sớm, nên không báo với phương trượng và Tôn huynh biết. Không ngờ gặp phải người bằng hữu cho nên về trễ. Không cần kinh động phương trượng, ngày mai tôi sẽ đến xin lỗi”.
Lý Nam Tinh lẳng lặng về phòng, Trần Quang Chiếu quả nhiên vẫn chưa về. Lý Nam Tinh vừa cảm kích vừa áy náy, đợi một hồi, đang muốn chạy ra tìm Trần Quang Chiếu thì y đã về tới.
Dưới ánh đèn, chỉ thấy Trần Quang Chiếu vừa vui mừng vừa kinh hãi, Lý Nam Tinh vẫn chưa nói lời xin lỗi, y đã nắm lấy tay Lý Nam Tinh mà nói rằng: “Huynh đã về đấy ư? Tôi tưởng rằng huynh xảy ra chuyện!”
Lý Nam Tinh xin lỗi: “Hôm nay tôi vào thành, đã gặp Kim Trục Lưu ở nhà lão tiêu đầu Đới Quân. Huynh đoán thử y là ai?” Trần Quang Chiếu nói: “Huynh dã bảo y là huynh đệ kết nghĩa của huynh”. Lý Nam Tinh cười đáp: “Đúng thế, nhưng y cũng là huynh đệ kết nghĩa của huynh, huynh có biết không?” Trần Quang Chiếu ngẩn ra, rồi cười nói: “Huynh nói phải lắm, huynh đệ của huynh vốn cũng là huynh đệ của tôi”. Lý Nam Tinh bảo: “Cũng có thể nói như thế, nhưng tôi không phải nói ý này. Hai mươi năm trước, có một Kim đại hiệp nổi tiếng thiên hạ, ông ta và cha của huynh là bằng hữu, có đúng không?”
Trần Quang Chiếu vỡ lẽ ra, kêu lên: “Ô, té ra Kim Trục Lưu ấy là con trai của Kim đại hiệp?” Lý Nam Tinh: “Đúng thế. Y hẹn huynh đến gặp mặt với y.
Trần Quang Chiếu vui mừng: “Kim đại hiệp và nhà tôi có mối thâm giao, cha tôi vẫn thường nhắc đến ông ta. Lẽ ra tôi phải đến gặp Kim huynh, nhưng đáng tiếc...” Lý Nam Tinh ngạc nhiên, vội hỏi: “Đáng tiếc chuyện gì?”
Trần Quang Chiếu đáp: “Đáng tiếc vài ngày nay tôi sẽ không thể rời khỏi nơi này”. Lý Nam Tinh kinh ngạc: “Ở đây xảy ra chuyện gì?” Trần Quang Chiếu: “Không có gì, nhưng tôi đã phát hiện một số nhân vật khả nghi đến Tây Sơn. Hòa thượng lên núi hái thuốc đã phát hiện vài nhóm, có kẻ là những nhân vật lợi hại trong hắc dạo, có kẻ là đầu lĩnh của bang hội, lại có hai người là đại nội cao thủ, cũng trà trộn trong đám người này. Đây không phải là lúc du xuân, những kẻ này tụ tập ở Tây Sơn, phương trượng không thể không đề phòng”.
Lý Nam Tinh giật mình: “Ta đã hiểu, hình như bọn chúng đến tìm ta?”
Trần Quang Chiếu gật gù: “Chắc là bọn chúng có âm mưu, nhưng có đối phó với lão huynh hay không tôi không biết”.
Lý Nam Tinh nói: “Đã như thế, tôi sẽ lẳng lặng đi để khỏi liên lụy đến mọi người”.
Trần Quang Chiếu xua tay: “Không, không”. Chàng ngừng lại hạ giọng thì thầm: “Lý huynh không phải người ngoài nên tôi mới nói. Phương trượng trụ trì chùa này là Không Chiếu đại sư, bí mật qua lại với nghĩa sĩ phản Thanh. Cho nên phương trượng mới để ý đề phòng, không hoàn toàn là do huynh, huynh vừa mới khỏe, nếu đi lúc này thì phương trượng sẽ càng lo hơn”.
Lý Nam Tinh hỏi: “Những kẻ này còn trên núi không?”
Trần Quang Chiếu nói: “Sau khi trời tối, hòa thượng trong chùa sợ bọn chúng nghi ngờ cho nên không dám ra ngoài. Cũng chẳng biết bọn chúng đã đi chưa! Nhưng tôi vừa mới xuống núi cũng chẳng gặp ai”.
Lý Nam Tinh rất cảm kích: “Trần huynh, vì tôi mà huynh lên núi tìm kiếm, tôi không biết phải đa tạ huynh thế nào”. Lòng nhủ thầm: “Đáng tiếc thanh huyền thiết bảo kiếm này là Kim Trục Lưu tặng cho mình, không thể tặng cho người khác được”.
Trần Quang Chiếu nói: “Tôi là khách ở đây, khi chùa xảy ra chuyện, tôi không thể rời khỏi nơi này. Cho nên phải ở lại thêm vài ngày nữa điều tra rõ tung tích của bọn người này, nếu biết bình an vô sự tôi mới có thể vào kinh thành tìm Kim Trục Lưu”.
Lý Nam Tinh bàn: “Tôi nghĩ mọi người có thể yên tâm, chỉ cần tôi không lộ mặt ở ngoài, bọn người này sẽ không đến quấy nhiễu. Qua Tết Nguyên Tiêu, có lẽ bọn chúng cũng đã rút khỏi nơi này”.
Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: “Sao huynh biết?”
Lý Nam Tinh trả lời: “Tôi chỉ suy đoán mà thôi. Nếu quan phủ biết được chuyện bổn tự và các nghĩa sĩ kháng Thanh âm thầm qua lại với nhau, bọn chúng đã xua binh bao vây chùa, không cần sử dụng các nhân vật giang hồ đến dò thám. Dò thám trước chẳng phải đã đánh cỏ động rắn hay sao?”
Trần Quang Chiếu gật: “Đúng thế, đến trưa những kẻ này mới lục tục kéo lên núi, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy vào chùa bắt người, xem ra không phải là đối phó với chùa Ngọa Phật. Nhưng làm sao huynh biết bọn chúng sẽ rút lui sau đêm Nguyên Tiêu?
Lý Nam Tinh đáp: “Có lẽ bọn chúng đến đây điều tra xem thử có đào phạm ẩn nấp hay không, hoặc có lẽ là vì chuyện khác. Chùa Ngọa Phật là một trong những thánh địa Phật giáo nổi tiếng, là nơi giữ thanh quy giới luật. Bọn chúng không dám nghi ngờ phương trượng che chở cho tôi. Cho nên chỉ cần tôi không lộ mặt trong chùa, chắc là không có gì đáng lo. Mà những kẻ này quá nửa là nhân vật giang hồ, thói quen trong học đạo là không bao giờ dừng lại ở một nơi xa lạ quá ba ngày. Nên dù bọn chúng vì chuyện gì, trong vòng ba ngày nếu không có kết quả thì sẽ rút lui”.
Trần Quang Chiếu gật đầu: “Huynh nói rất có lý. Song chúng ta vẫn phải đề phòng, hai ngày nay chúng ta nên ở lại trong chùa, cùng chúng tăng bảo vệ chùa”.
Lý Nam Tinh đồng ý: “Đương nhiên, thôi được, vì tôi mà huynh đã mệt nhọc cả ngày, huynh cũng nên ngủ đi thôi”.
Lý Nam Tinh thì không ngủ được, số là chàng đoán rằng những kẻ này không phải đối phó với chùa Ngọa Phật, bọn chúng sẽ bỏ đi sau đêm Nguyên Tiêu không phải là suy đoán mà là chàng biết chính xác.
Nửa năm trước, đã có nhân vật đối đầu với chàng, hẹn chàng canh ba đêm Nguyên Tiêu sẽ bí mật gặp gỡ tại núi Tây Sơn.
Lần này Lý Nam Tinh vào kinh, vốn là sẽ đi gặp gỡ kẻ này, nhưng giờ đây chàng đã đổi ý muốn cứu Sử Hồng Anh trước. Chàng định hôm nay sẽ bí mật khắc chữ lên tảng đá ở Bí Ma Nhai trên núi Tây Sơn, hí lộng kẻ ấy một phen rồi bỏ đi.
Nhưng bây giờ chàng không thể nào không đến, một là vì kẻ đối đầu với chàng đến sớm hơn chàng dự liệu, nay đã mời rất nhiều nhân vật giang hồ đến nấp trong núi, hơn nữa chàng chịu ơn cứu mạng của Trần Quang Chiếu và phương trượng chùa này, do đó chàng mới đứng ra chịu trách nhiệm để khỏi liên lụy đến họ. Lý Nam Tinh đã quyết định cho nên chưa thổ lộ với Trần Quang Chiếu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 23:02:29Hoàng Dung>
Trần Quang Chiếu đáp: “Có phải là đại học sĩ Tào Chấn Dung hay không?”
Kim Trục Lưu: “Đúng thế”. Trần Quang Chiếu nói: “Tào Chấn Dung này là một gian thần, y và người Mãn Mục Chương A chia nhau nắm quyền bính, chuyên nịnh bợ hoàng đế Thát Tử, tìm cách áp bức người Hán. Nhưng Tào Chấn Dung làm tể tướng có liên quan gì đến chuyện huynh du ngoạn Hồ Đại Minh?”
Kim Trục Lưu: “Y có một đứa con là tiểu ác bá ở nơi này, lần đó đến Hồ Đại Minh tôi đã gặp hắn”.
Trần Quang Chiếu hỏi: “Chuyện như thế nào?”
Kim Trục Lưu liền kể lại mọi chuyện hôm ấy cho Trần Quang Chiếu biết. Rồi chàng bảo: “Nếu lần đó không nhờ Cung Bỉnh Phan giúp đỡ, có lẽ một mình tôi không đối phó được bọn chúng”.
Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: “Chả lẽ trong số thủ hạ của gã công tử họ Tào ấy có người giỏi?”
Kim Trục Lưu nói: “Hai tên bảo tiêu của y là nhân vật có tiếng tăm. Một người là phản đồ Bành Cự Vinh của chùa Thiếu Lâm, một người là Liên Thành Hổ”.
Trần Quang Chiếu lắc đầu chép miệng: “Đáng tiết đáng tiếc. Hai người này không biết tự trọng cam chịu làm ưng khuyển cho hào môn”. Kim Trục Lưu nói: “Còncha con người nói sách cũng là nhân vật có tiếng tăm”. Trần Quang Chiếu hỏi: “Họ là ai?” Kim Trục Lưu nói: “Đó là Hà Kiện Hùng và con gái của ông ta Hà Thái Phượng. Huynh có nghe danh cha con họ không?” Trần Quang Chiếu ngạc nhiên: “Hà Thái Phượng? Ồ! Nàng ta là vị hôn thê của một vị bằng hữu!” Kim Trục Lưu vui mừng: “Té ra huynh cũng là bằng hữu của Lý Đôn. Huynh có biết tin tức của y không?”
Trần Quang Chiếu đáp: “Ba tháng trước tôi đã từng gặp y, y đã đến Tây Xương theo nghĩa quân”.
Hai người vào thành Tế Nam, Kim Trục Lưu tìm đến căn khách sạn mà trước kia chàng đã ở, vừa đến trước cửa chỉ thấy chủ khách sạn bước ra nghênh đón. Kim Trục Lưu cười cười: “Ông nhớ thật dai, vẫn còn nhận ra tôi. Hình như ông biết hôm nay tôi đến, chuyện gì thế?” Ông chủ khách sạn đáp: “Khách quý quay trở lại, tiểu điểm rất hân hạnh. Đây có phải Trần công tử không?”
Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Sao ông biết?” Ông chủ khách sạn đáp: “Đã có người đặt phòng cho hai vị, Kim Trục Lưu ngạc nhiên, hỏi: “Là ai đã đặt phòng cho bọn ta?” Ông chủ khách sạn bảo: “Là một tên tiểu tử. Y vâng lệnh chủ nhân của y đến đặt phòng, y bảo chủ nhân của y là bằng hữu của hai người. Tôi tưởng hai người đã biết từ trước”.
Vì khách sạn này nổi tiếng nhất ở Tế Nam. Kim Trực Lưu đã từng tới cho nên lần này chàng mới trở lại không ngờ có người đoán được cho nên đã đặt trước phòng cho chàng khiến cho chàng ngạc nhiên. Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Chả lẽ người nhà họ Tào biết hành tung của mình?” Thế rồi vẫn bình tĩnh hỏi: “Tên tiểu tử ấy có nói gì không?”
Ông chủ khách sạn đáp: “Y để lại một cái tráp, hiện vẫn đang ở trong phòng. Mời hai vị vào trước”.
Kim Trục Lưu và Trần Quang Chiếu vào trong phòng, quả nhiên thấy trên bàn có một cái tráp Kim Trục Lưu không mở ra xem, kêu lên: “Ồ, té ra là người bằng hữu nhiệt tình này. Được, hãy làm cho chúng tôi vài món”.
Chủ khách sạn nói: “Tiền phòng và tiền cơm quý hữu đã trả xong. Tôi đã chuẩn bị một bàn tiệc rượu cho hai vị công tử. Hai vị hãy rửa mặt nghỉ ngơi một lát, tôi sẽ bảo người bưng vào”.
Sau khi ông ta ra ngoài, Trần Quang Chiếu đóng cửa lại, nói nhỏ: “Kim huynh, có biết người này là ai không?” Kim Trục Lưu cười đáp: “Chính vì tôi không muốn ông chủ khách sạn nghi ngờ cho nên mới giả vờ là biết. Được, bây giờ chúng ta hãy giải câu đố”. Trần Quang Chiếu dặn: “Hãy khoan, e rằng trong tráp có điều gì khác lạ, chúng ta hãy cẩn thận”. Kim Trục Lưu cười rằng: “Đúng là huynh có kinh nghiệm hơn tôi. Được, tôi sẽ không đụng vào, mở trước rồi tính tiếp”. Chàng liền rút kiếm khỏi vỏ, đứng cách đó mười bước, phóng thanh kiếm ra, chém đứt cái tráp. Trong tráp không có ám khí bay ra, Trần Quang Chiếu mới yên bụng, cười rằng: “Kim huynh, công phu phóng kiếm của huynh rất tuyệt diệu”.
Kim Trục Lưu lấy cái thiệp màu đỏ trong tráp ra, chỉ thấy trong thiệp có tám chữ: “Giờ dậu đêm nay, mời gặp ở hồ”. Chữ viết trông rất mềm mại, Kim Trục Lưu cười rằng: “Bằng hữu này quả thật có nhã hứng, hình như biết đêm nay tôi sẽ đến chơi hồ”. Trần Quang Chiếu tỏ vẻ lo lắng ngắm nghía cái thiệp một hồi rồi nói: “Nhưng không biết tại sao y lại giấu đầu lòi đuôi như thế? Kim huynh, đêm nay chúng ta có đi không?”
Kim Trục Lưu cười đáp: “Đi, sao lại không đi? Người ta đã tiếp đãi chúng ta, chúng ta cũng nên đến gặp chủ nhân chứ”. Trần Quang Chiếu hỏi: “Huynh không đề phòng con trai của Tào Chấn Dung ư?”
“Lần trước y đã làm tôi mất hứng, nếu lần này là y, tôi sẽ tìm y tính sổ. Nhưng tôi nghĩ y không có nhã hứng này”. Chàng ngừng một lát rồi nói: “Canh ba đêm nay sẽ giải được câu đố, bây giờ chúng ta không cần đoán mò nữa”.
Tiểu nhị đã bê rượu thịt vào, có món gà ăn mày nổi tiếng Dương Châu, lại còn có món cá chưng tổ yến. Kim Trục Lưu bảo: “Người bằng hữu này rất khách sáo, coi chúng ta như khách quý. Đến khi gặp y tôi sẽ cảm tạ mới được”.
Ăn cơm xong thì trời đã về chiều. Kim Trục Lưu đến phân đà Cái Bang gặp Vương Thái.
Vương Thái biết Kim Trục Lưu là sư đệ của Giang Hải Thiên, nay chàng đến bất ngờ thì vui mừng ra mặt, vội vàng mời Kim Trục Lưu vào nội đường hỏi chuyện. Kim Trục Lưu nói ngay: “Xưa nay Cái Bang của các người đưa tin rất nhanh nhạy, nay tôi đến đây nhờ huynh dò hỏi tin tức của một người”. Vương Thái nói: “Kim thiếu hiệp không cần khách sáo, không biết thiểu hiệp muốn dò hỏi tin gì, nếu tôi biết chắc chắn sẽ báo. Kim Trục Lưu: “Thiếu gia nhà họ Tào hiện giờ như thế nào? Hai tên bảo tiêu có còn đi theo y không?”
Vương Thái đã biết chuyện Kim Trục Lưu với con trai của Tào Chấn Dung, cười rằng: “Tào thiếu gia ấy bị huynh đánh một trận, gần cả tháng sau không ra đường được, nay y đã bớt ngang ngược hơn. Liên Thành Hổ bại trong tay của huynh, hổ thẹn rời khỏi nhà họ Tào. Bành Cự Vinh thì vẫn còn ở nhà họ Tào, nhưng cũng ít thấy y xuất hiện trong thành”. Kim Trục Lưu hỏi thêm: “Gần đây trong thành Tế Nam có xuất hiện nhân vật giang hồ hành tung bí hiểm nào không?”
Vương Thái ngạc nhiên: “Chín phần mười bằng hữu giang hồ ở nơi khác đếnchúng tôi đều biết. Nhưng không nghe trong thành Tế Nam có người lạ nào cả. Kim thiếu hiệp, người ấy như thế nào?”
Kim Trục Lưu nghĩ bụng: “Người đã tiếp đãi mình chắc không muốn người ngoài biết”. Rồi mới nói: “Sư huynh muốn tôi để ý những bậc dị nhân để kết giao bằng hữu. Tế Nam là nơi sầm uất nhất Sơn Đông, bằng hữu giang hồ qua lại đương nhiên không ít, cho nên tôi muốn đò hỏi cho biết”.
Vương Thái là người già dặn, biết Kim Trục Lưu có nguyên cớ khác nhưng không muốn nói ra, y cũng không tiện hỏi dấn tới. Vì thế nói: “Mấy ngày nay không có bằng hữu giang hồ nào đến, nhưng cao nhân dị sĩ thì đa số hành tung của họ bí mật, có lẽ chúng tôi cũng không biết. Tôi sẽ bảo người trong bang để ý. Kim thiếu hiệp, lần này huynh đến đây làm gì?”
Kim Trục Lưu nói luôn: “Tôi đến Dương Châu nên mới đi ngang qua đây, có một chuyện muốn nhờ huynh giúp đỡ”. Rồi cho Vương Thái biết chuyện Lệ Nam Tinh đến gặp Sử Bạch Đô, nhờ Vương Thái thông báo cho phân đà ở Dương Châu để ý hộ mình. Vương Thái chấp nhận ngay.
Kim Trục Lưu thấy trời đã tối, bèn đứng dậy cáo từ Vương Thái ngỡ ngàng: “Sao Kim thiếu hiệp đi nhanh đến thế? Tôi đã bảo bọn chúng bày tiệc tiếp đãi Kim thiếu hiệp kia mà”. Kim Trục Lưu dứt khoát: “Tôi còn có chút chuyện, xin lãnh nhận tấm thịnh tình của đà chủ, ngày sau mới có thể quấy rầy được”. Vương Thái không tiện giữ khách, đành nói: “Kim thiếu hiệp đang ở đâu, ngày mai tôi sẽ đến chào hỏi”.
Kim Trục Lưu đáp: “Đà chủ không cần khách sáo, sáng sớm ngày mai tôi đã ra đi, khi quay về tôi sẽ đến”. Vương Thái thầm nghi ngờ, nhủ rằng: “Y vừa tới là dò hỏi trong thành có dị nhân nào không, nay ngồi chưa ấm chỗ thì đã vội vàng bỏ đi. Xem ra đêm nay có chuyện. Nhưng không biết là chuyện gì, sao lại không chịu cho mình biết?” Vì đó sau khi tiễn khách thì bảo đệ tử trong bang ngầm theo dõi. Đó không phải là y nhiều chuyện mà lo lỡ Kim Trục Lưu xảy ra chuyện gì ở đây thì y không biết ăn nói thế nào với Giang Hải Thiên.
Kim Trục Lưu về đến khách sạn, chỉ thấy Trần Quang Chiếu vẫn đang cầm tấm thiệp, đi qua đi lại trong phòng, vẻ mặt trông rất lo lắng. Kim Trục Lưu bước vào nhòng, chàng mới biết. Kim Trục Lưu cười lớn: “Đừng nhọc lòng suy nghĩ nữa, đêm nay chúng ta sẽ đi giải câu đố”. Trần Quang Chiếu chợt nói: “Kim huynh, huynh đi đi. Tiểu đệ...” Kim Trục Lưu ngạc nhiên hỏi: “Sao, huynh không muốn đi?” Trần Quang Chiếu ấp úng: “Y bảo sẽ đợi ở hồ, không có nghĩa là chúng ta cùng đi. Chỉ e người này là bằng hữu của huynh, không hẳn muốn gặp tôi”. Kim Trục Lưu: “Vẫn chưa giải câu đố, làm sao biết bằng hữu của huynh hay bằng hữu của tôi? Chúng ta đều được người ta tiếp đãi, chi bằng cứ đi cùng nhau”. Trần Quang Chiếu không từ chối được, chỉ đành cùng đi với Kim Trục Lưu. Hồ Đại Minh nằm ở phía nam thành Tế Nam, dưới núi Thiên Phật. Núi non hùng vĩ hồ nước long lanh trông rất nên thơ. Nếu là mùa hè, trên hồ có rất nhiều thuyền hoa. Đây là thời tháng hai mùa xuân, trong đêm gió lạnh se se không có ai đến chơi hồ. Hai người Kim, Trần đến bờ hồ thuê một con thuyền nhỏ chèo về phía chân núi Thiên Phật ở đối diện. Thuyền ra đến giữa hồ, hai người đưa mắt nhìn ra xa, trong hồ vắng lặng chỉ có con thuyền nhỏ của họ.
Kim Trục Lưu ngạc nhiên: “Sao người này hẹn chúng ta mà vẫn không thấy y ra tiếp đón? Chả lẽ y muốn đùa?” Trần Quang Chiếu nói: “Chắc là thế, chúng ta hãy quay về thôi”. Kim Trục Lưu cười nhẹ: “Chúng ta vốn đến đây chơi hồ, bằng hữu ấy không đến cũng không làm mất nhã hứng chúng ta”. Ngẩng đầu lên nhìn, mặt trăng lên chưa cao lắm, Kim Trục Lưu cười tiếp: “Y hẹn chúng ta giờ dậu, đến giờ vẫn chưa tới”. Trong lòng hơi ngạc nhiên: “Trần huynh hình như không muốn đến gặp người này. Chả lẽ y biết người này là ai cho nên không muốn gặp?”
Lần trước Kim Trục Lưu chơi hồ ban ngày, nay quay trở lại vào ban đêm lại thấy phong cảnh khác hẳn. Chỉ thấy mặt hồ lặng như gương, ánh trăng mờ ảo tựa như phủ một lớp vải mỏng lên mặt hồ. Chùa chiền trên núi Thiên Phật in bóng xuống mặt hồ, thuyền lướt nhẹ qua sóng gợn lăn tăn, chốc chốc có cá nhảy vọt lên khỏi mặt nước. Kim Trục Lưu đang say sưa ngắm cảnh, chợt nghe tiếng dầm khua nước, chỉ thấy một con thuyền hoa từ xa lướt ra. Kim Trục Lưu lấy làm lạ: “Có thuyền đến, không biết có phải người ấy hay không?” Rồi đứng trên đầu thuyền, bảo ông lái chèo về phía ấy. Trăng đêm nay rất đẹp, Kim Trục Lưu ngẩng đầu lên nhìn chỉ thấy rèm thuyền vén lên một nửa, trong thuyền thấp thoáng bóng hai thiếu nữ. Kim Trục Lưu ngạc nhiên, lòng thầm nhủ: “Chả lẽ hai thiếu nữ này đã hẹn mình?” Đến khi chàng nhìn kỹ lại thì thấy một người mặc bộ đồ đỏ, một người mặc đồ hồng, đầu bới tóc như nhau, tuổi khoảng mười bảy mười tám. Xem ra tựa như hai ả nha hoàn. Kim Trục Lưu chưa từng gặp họ, lòng thầm ngạc nhiên, nhủ thầm: “Phụ nữ giang hồ tuy không nói lễ tục, nhưng người nữ hẹn người nam là chuyện hiếm có. Chả lẽ đây chỉ là nữ khách chơi hồ!” Nhưng chợt nghĩ lại: “Không đúng, không đúng! Đêm xuân vẫn còn lạnh lẽo, phụ nữ bình thường làm sao chịu nổi cái lạnh ở đây?” Nghĩ chưa dứt chỉ thấy một ả nha hoàn bắt đầu gảy đàn, còn một người kia thì hát theo tiếng đàn: “Hỏi rằng sắc xuân bên hồ, quay lại đã là ba năm. Gió đông thổi ta đến hồ, dương liễu mơn man làn da. Đường đời đến nay đã quen, lòng này vẫn còn mê mải, gió lạnh nước trời liền một dải, chim nước bay rợp trời”. Kim Trục Lưu khen rằng: “Hát rất hay, đàn cũng rất hay?” Rồi thầm nhủ: “Đáng tiếc mình không đem theo cây đàn, nếu không mình sẽ hòa cùng nàng một khúc”. Phía sau lưng vang lên tiếng thở dài nhỏ, Kim Trục Lưu quay đầu nhìn lại, chỉ thấy Trần Quang Chiếu đứng ngẩn người ra, vẻ mặt rất kỳ quặc, tựa như lo tựa như mừng, lại có mất phần hốt hoảng. Kim Trục Lưu vỗ vai Trần Quang Chiếu, cười rằng: “Trần đại ca, hình như huynh quen họ, có đúng không, họ là ai?”
Trần Quang Chiếu chợt giật mình, thì thầm: “Họ là nha hoàn của Hà Cô”. Kim Trục Lưu hỏi: “Hà Cô là ai?” Trần Quang Chiếu đỏ mặt, lúng túng: “Chính là người tôi đã nói với huynh...”
Kim Trục Lưu nói: “Té ra ý trung nhân của huynh hẹn huynh, huynh lại không muốn đến. Ha ha, Trần huynh, huynh đã giấu tôi đến khổ”.
Trần Quang Chiếu rất lúng túng: “Lúc đầu tôi cũng không biết. Nét chữ trên thiệp mời rất giống bút tích của nàng, nhưng tôi vẫn không dám đoán chắc. Nàng nói không gặp lại tôi nữa, chúng tôi chia tay nhau đã ba năm”. Chàng ta cứ ấp a ấp úng tựa như có lời mà khó nói.
Lúc này hai chiếc thuyền đã tiến gần tới nhau, hương thơm trong chiếc thuyền hoa tỏa ra ngào ngạt bay theo gió, Kim Trục Lưu hít một hơi thì mới biết đó là hương gỗ đàn thượng hạng, cười rằng: “Hà Cô đúng là người tao nhã. Huynh có nghe ả nha hoàn của cô ta mới hất hay không? Hỏi xuân sắc bên hồ, lại là ba năm nữa. Hì hì, lần này tới lượt huynh lên hỏi”.
Hai ả nha hoàn đã đứng trước đầu thuyền, không đợi Trần Quang Chiếu hỏi đã nói trước: “Trần công tử, công tử đã tới! Mời công tử cùng quý hữu lên thuyền”.
Trần Quang Chiếu ngẩn người, cắn môi không biết là mộng hay thực, thế rồi định thần phóng lên thuyền. Ông lái thuyền sợ Kim Trục Lưu cũng nhảy lên, vội vàng nắm lấy chàng lại hỏi: “Công tử, hai người có cần thuyền này nữa không?”
Kim Trục Lưu giận dữ: “Ngươi sợ bọn ta không trả tiền hay sao? Ngươi buông tay, cho ngươi cái này”.
Nói chưa xong thì ả nha hoàn mặc áo đỏ đã vung tay, keng một tiếng, một đỉnh bạc rơi xuống thuyền, nói: “Ngươi hãy quay vào bờ, không cần ngươi đến đón. Nén bạc này đã đủ chưa?” Lúc này Trần Quang Chiếu mới sực nhớ chưa trả tiễn, bất giác đỏ cả mặt.
Ông lái đò cười hớn hở: “Đủ rồi! Đủ rồi!” Rồi buông liền tay, Kim Trục Lưu nhảy vọt qua.
Kim Trục Lưu cười nhẹ: “Một khách không phiền hai chủ, đa tạ tiểu thư nhà cô đã tiếp đãi, tôi được hưởng phước lây với Trần đại ca”. Miệng thì cười nói, nhưng trong lòng cũng thầm cười bộ dạng thẫn thờ của Trần Quang Chiếu.
Chiếc thuyền hoa này lớn hơn chiếc thuyền con của họ, hai ả nha đầu vén rèm, gọi bọn họ vào trong khoang ngồi xuống, lúc này Trần Quang Chiếu mới phát hiện có hai tấm bình phong che lại, ngăn khoang ra thành hai phòng. Trần Quang Chiếu biết người chàng ngày nhớ đêm mong ở trong khoang này, toan lên tiếng hỏi nhưng lưỡi cứ cứng đờ. Hai ả nha hoàn rót hai chén trà nóng, người mặc áo đỏ đặt chén trà trước mặt Kim Trục Lưu, mời: “Kim công tử, mời dùng trà. Hiếm có dịp công tử và Trần công tử đến, chúng tôi nghe tiếng đã lâu”.
Kim Trục Lưu nói: “Nếu biết ta chỉ là người đi cùng, ta cũng không nên đến.
Nhưng sao các người biết tên của ta?” Ả nha hoàn ấy đáp: “Kim đại hiệp danh chấn giang hồ, chúng tôi tuy không đi lại trên giang hồ nhưng cũng đã sớm nghe tiểu thư nhắc đến tên của ngài. Kim đại hiệp, ngài đừng hiểu nhầm, tiểu thư chúng tôi muốn mời cả hai vị”.
Kim Trục Lưu uống chén trà, cười ha hả: “Hay cho ả nha đầu khéo miệng, lần đầu tiên nghe người ta gọi mình là đại hiệp. Hì hì, không giấu gì cô, ta đâu phải là đại hiệp gì, chỉ là một tên trộm”. A hoàn mặc áo đỏ xen vào: “Kim đại hiệp đừng nói đùa”. Kim Trục Lưu nói: “Trần đại ca thì ngại, nhưng ta phải nói. Tiểu thư nhà cô mời bọn ta đến đây, giờ bọn ta đã đến, trà cũng đã uống nhưng sao vẫn chưa thấy chủ nhân?”
Lúc này sau bức bình phong vọng lại hai tiếng ho, Trần Quang Chiếu cố bưng chén trà, nén không được hỏi: “Tiểu thư không khỏe ư?”
A hoàn mặc áo xanh đáp: “Tiểu thư đang bị nhiễm lạnh, vừa mới ngủ một giấc. Nhưng đã thức dậy. Công tử hãy đợi một lát, tôi sẽ vào mời tiểu thư ra”. Trần Quang Chiếu chợt cảm thấy ruột đau như cắt, cả kinh kêu lên: “Hà Cô, cô lấy mạng ta không sao, nhưng sao có thể hại bằng hữu của ta!”


[/align]Đó chính là: Tình sâu hẹn kín ngày tương hội. Nào ngờ lời ngọt độc tựa đao.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 25 sẽ rõ.


[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-07 23:32:01Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Hai Mươi Bảy
[/align]
Động phòng một tiếng tỉnh giấc mộng,
Hoa chúc đêm nay chứa sát cơ.
[/align]
Sử Bạch Đô hừm một tiếng rồi nghiêm mặt hỏi: “Ai đùa với muội? Cha mẹ đã

[/align]





qua đời, ta sẽ làm chủ hôn sự của muội!”

[/align]





Sử Hồng Anh tức giận: “Muội không thể để mặc cho huynh sắp xếp! Muội sẽ

[/align]





không lấy Lệ Nam Tinh?”

[/align]





Sử Bạch Đô cười lạnh lùng: “Muội không lấy tên họ Lệ ấy cũng được, vậy thì

[/align]





hãy lấy Soái Mạnh Hùng. Đúng thế, làm tướng quân phu nhân còn tốt hơn làm giáo

[/align]





chủ phu nhân”.

[/align]





Sử Hồng Anh nổi giận đến cùng cực, nhưng nàng lại tỏ vẻ bình tĩnh: “Đại ca, có

[/align]





phải huynh muốn ép muội chết hay không?”

[/align]





Sử Bạch Đô nói: “Huynh biết muội rất ghét Soái Mạnh Hùng, cho nên mới gả

[/align]





muội cho Lệ Nam Tinh. Muội chẳng phải đã liều mạng bảo vệ cho y ư?”

[/align]





Sử Hồng Anh cười lạnh: “Huynh đã lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử. Chả lẽ

[/align]





trong lòng huynh người nam và người nữ chỉ có thể làm vợ chồng chứ không thể làm

[/align]





bằng hữu ư?”

[/align]





“Muội thích Lệ Nam Tinh cũng được, không thích cũng được, tóm lại muội chỉ

[/align]





được chọn hai con đường, một là phải lấy Lệ Nam Tinh, hai là phải lấy Soái Mạnh

[/align]





Hùng! Không có con đường thứ ba cho muội chọn!”

[/align]





Sử Hồng Anh cười lạnh: “Muội đã hiểu ý huynh, huynh biết Lệ Nam Tinh là con

[/align]





trai của giáo chủ Thiên ma giáo, huynh muốn lợi dụng muội lừa lấy Bách độc chân

[/align]





kinh của y!”

[/align]





Sử Bạch Đô cười thầm: “Đương nhiên ta muốn lấy Bách độc chân kinh, nhưng

[/align]





còn có thứ khác muội vẫn chưa biết!” Nhưng bề ngoài vẫn tỏ vẻ như bị nàng nói

[/align]





trúng, cười rằng: “Chính ta đã nuôi dạy muội, đương nhiên ta phải được đáp đền.

[/align]





Nhưng lấy Lệ Nam Tinh cũng đâu có thiệt thòi cho muội! Y trạc tuổi muội, trẻ tuổi

[/align]





anh tuấn hơn Soái Mạnh Hùng nhiều. Võ công của y cũng không tệ, sau này ta có thể

[/align]





giúp y trở thành giáo chủ của Thiên ma giáo”. Sử Hồng Anh đỏ ửng cả mặt: “Huynh

[/align]





coi muội là gì, chả lẽ muội là thứ hàng để cho huynh trao đổi?”

[/align]





“Ta cũng muốn tốt cho muội. Muội nghĩ thử xem, lấy tên tiểu tử họ Lệ còn hơn

[/align]





lấy tên Soái Mạnh Hùng”.

[/align]





Sử Bạch Đô thầm tính toán, nào ngờ Sử Hồng Anh cũng có mưa kế, trong tình

[/align]





huống trước mắt nếu nàng không nghe lời y thì không xong. “Không biết Lệ Nam

[/align]Tinh có ý gì, nhưng dầu sao y cũng là bằng hữu của Kim Trục Lưu, nay mình thân cô






thế yếu, có một người bàn tính với mình cũng tốt. Ít nhất Lệ Nam Tinh không ngang

[/align]





ngược như đại ca”. Sử Hồng Anh nghĩ bụng.

[/align]





Sử Bạch Đô thấy em gái cúi đầu không nói, tưởng rằng nàng đã hồi tâm chuyển

[/align]





ý, liền bảo: “Muội đã nghĩ xong chưa? Huynh thấy chi bằng muội hãy chấp nhận đi

[/align]





thôi!”

[/align]





Sử Hồng Anh giả vờ bực bội: “Muội còn biết làm sao nữa? Được, từ nay về sau

[/align]





coi như muội đáp đền ơn nuôi dạy của huynh, huynh đừng mong muội coi huynh là

[/align]





đại ca nữa!”

[/align]





Sử Bạch Đô cười ha hả: “Muội đừng tuyệt tình như thế, chúng ta vẫn là huynh

[/align]





muội, chuyện này đôi bên đều có lợi. Lệ Nam Tinh yêu thương muội, y quyết không

[/align]





đối xử tệ với muội. Sau khi gả nếu muội được hạnh phúc thì phải cảm kích ta!”

[/align]





Sử Bạch Đô thấy việc đã xong, hí hửng gọi ba hương chủ đến bàn bạc, Đổng

[/align]





Thập Tam nương vẫn chưa thấy về.

[/align]





Thanh Phù đạo nhân lo lắng: “Chỉ sợ tên tiểu tử Kim Trục Lưu đến gây rối”.

[/align]





Sử Bạch Đô nói: “Ta lo y không tới. Y tới đây chẳng khác nào tự chui đầu vào

[/align]





lưới!”

[/align]





Viên Hải hòa thượng cẩn thận: “Nhưng tên tiểu tử này xuất thần nhập quỷ, chỉ e

[/align]





không bắt được y, chúng ta phải cẩn thận hơn”.

[/align]





Sử Bạch Đô cười lớn: “Bắt không được cũng có cái lợi, các người có nghĩ thế

[/align]





không?”

[/align]





Viên Hải sờ cái đầu trọc của mình, ấm ức: “Điều này thì tôi.không hiểu, mong

[/align]





bang chủ chỉ giáo”.

[/align]





Sử Bạch Đô: “Tên tiểu tử Kim Trục Lưu nếu thấy bằng hữu của y và Hồng Anh

[/align]





động phòng hoa chúc, suy nghĩ trong bụng y sẽ có cảm giác như thế nào?”

[/align]





Tiêu Lỗi cười: “Tôi đã hiểu, như thế bọn chúng sẽ trở thành kẻ thù”.

[/align]





Viên Hải vỡ lẽ: “Ồ, té ra là kế ly gián. Bang chủ thần cơ diệu toán, người người

[/align]





khó sánh bằng”.

[/align]





Sử Bạch Đô nói: “Nhưng chúng ta cũng phải phòng bị, chỉ có thể để y biết

[/align]





chuyện này chứ không để cho y gặp mặt Hồng Anh”.

[/align]





Cả ba người kia đều đồng thanh: “Điều này đương nhiên. Bang chủ chuẩn bị như

[/align]





thế nào, chúng tôi đều nghe theo”.

[/align]





Viên Hải lại bảo: “Đáng tiếc Thập Tam nương vẫn chưa về, không biết bà ta đã

[/align]





làm xong việc cho bang chủ chưa?”

[/align]





Tiêu Lỗi cười: “Đương nhiên có thể thành công. Vài ngày nữa chúng ta lại uống

[/align]





rượu mừng của bang chủ chẳng phải càng náo nhiệt hơn sao?”

[/align]





Sử Bạch Đô cười ha hả: “Cũng mong là thế. Theo ta suy tính, Thập Tam nương

[/align]





muộn nhất là ngày mai cũng sẽ quay về. Chuyện trước mắt là phải đối phó với Kim

[/align][/align]






Trục Lưu như thế nào, không cần các ngươi phải lo chuyện của ta!”

[/align]





Thanh Phù đạo nhân hùa theo: “Đương nhiên, đương nhiên. Bang chủ đã có tính

[/align]





toán kỹ càng, sớm muộn gì cũng uống chén rượu mừng này”. Rồi mọi người quay về

[/align]





phòng mình, chuẩn bị mọi thứ theo lời dặn của Sử Bạch Đô.

[/align]





Trong lúc ngày ba người Kim Trục Lưu, Trần Quang Chiếu và Thạch Hà Cô đã

[/align]





đến Dương Châu. Đây chính là ngày thành hôn của Sử Hồng Anh và Lệ Nam Tinh.

[/align]





Kim Trục Lưu theo kế hoạch đã định trước tiên đến phân đà Cái Bang, đà chủ

[/align]





Cái Bang ở Dương Châu tên gọi Lý Mậu, cũng đã từng gặp Kim Trục Lưu ở nhà của

[/align]





Giang Hải Thiên. Lý Mậu vừa thấy Kim Trục Lưu đã bảo: “Kim đại hiệp, huynh đến

[/align]





thật khéo! Người bằng hữu họ Lệ của huynh hôm nay đang làm khách trong Lục Hợp

[/align]





bang!”

[/align]





Kim Trục Lưu thất kinh: “Lệ Nam Tinh và Sử Hồng Anh thành thân rồi ư? Sao

[/align]





lại nhanh như thế?”

[/align]





Lý Mậu đáp: “Chúng tôi có gián điệp ở Lục Hợp bang, nghe nói đêm qua người

[/align]





bằng hữu của huynh mới đến thì Sử Bạch Đô đã chấp nhận hôn sự. Ngay trong đêm

[/align]





ấy đã phát thiệp mời khách, giăng đèn kết hoa, Lục Hợp bang người đông thế mạnh,

[/align]





sáng sớm hôm nay đã chuẩn bị xong mọi việc. Xem ra không phải là giả”.

[/align]





Kim Trục Lưu thấp thỏm không yên, lòng thầm nhủ: “Đây chắc chắn là một trò

[/align]





lừa gạt. Nhưng nếu là thật, mình mang theo nhiều người đến há chẳng phải sẽ làm

[/align]





hỏng chuyện tốt của đại ca sao? Chi bằng mình cứ đến một mình, tùy cơ mà hành sự”.

[/align]





Rồi Kim Trục Lưu cho Trần Quang Chiếu, Thạch Hà Cô biết ý định của mình,

[/align]





mọi người cũng đồng ý.

[/align]





Lại nói Lệ Nam Tinh được như ý muốn, vui mừng hớn hở, nhưng trong lúc bái

[/align]





đường phát hiện một chuyện gây bất ngờ cho chàng. Đương nhiên chàng không thể

[/align]





thấy diện mạo của tân nương tử vì mặt đã được che lại, những hình dáng thì không

[/align]





giống Sử Hồng Anh.

[/align]





Theo phong tục, sau khi tân nương vào động phòng mới giở khăn che đầu cho

[/align]





nên Lệ Nam Tinh dù có nghi ngờ cũng không dám làm gì.

[/align]





Đến khi tối thì mới bắt đầu động phòng. Chỉ thấy đèn đuốc sáng trưng, rèm châu

[/align]





cuốn hờ, tân nương tử ngồi ngay ngắn trên giường, đó chẳng phải là Sử Hồng Anh

[/align]





sao? Theo phong tục tân lang phải giở khăn mặt của tân nương tử, nhưng Sử Hồng

[/align]





Anh đang ngồi trên giường không hề che mặt! Vả lại nàng cũng chẳng mặc đồ của tân

[/align]





nương tử.

[/align]





Lệ Nam Tinh thấy người trong tân phòng là Sử Hồng Anh, trong lòng đã mừng

[/align]





rỡ, chàng thở phào nghĩ rằng: “Mình còn tưởng Sử Bạch Đô gạt mình, té ra là mình đã

[/align]





quá đa nghi”.

[/align]





Đương nhiên Lệ Nam Tinh cũng không khỏi thắc mắc: “Sao Hồng Anh lại ăn

[/align]





mặc chẳng giống gì một tân nương?” Nhưng chàng tự giải thích: “Phải rồi, Hồng Anh

[/align]





vốn chẳng giống nữ từ bình thường, nàng đã quen biết từ trước với mình, đã sớm tình

[/align]





đầu ý hợp, cần gì phải che mặt?”

[/align]





Lệ Nam Tinh được như ý, không nén được vui mừng, chàng bước tới vái dài một

[/align]





cái rồi nói nhỏ: “Không ngờ chúng ta có ngày hôm nay. Hồng Anh, muội đã nhiều lần

[/align]





cứu mạng huynh, huynh cũng chưa từng đáp tạ muội?”

[/align]





Sử Hồng Anh nói: “Huynh là bằng hữu của Kim Trục Lưu, muội cứu huynh mới

[/align]





phải”.

[/align]





Lệ Nam Tinh không hiểu cho nên đáp lại: “Đúng thế, Trục Lưu là bằng hữu của

[/align]





chúng ta. Đáng tiếc hôm nay y không dự hôn lễ. Hồng Anh, muội có biết huynh yêu

[/align]





muội như thế nào không? Huynh chưa từng thổ lộ tâm sự cho muội biết nhưng bây giờ

[/align]





cũng không cần nói nhiều nữa, huynh vui mừng quá! Huynh nghĩ bằng hữu của mình

[/align]





cũng sẽ vui mừng!”

[/align]





Sử Hồng Anh chợt hạ giọng: “Huynh thấy ở ngoài có người không?”

[/align]





Lệ Nam Tinh ngỡ ngàng: “Huynh đệ trong bang chắc không đùa như thế đâu”.

[/align]





Chàng chỉ nghĩ Sử Hồng Anh sợ có người coi lén động phòng.

[/align]





Sử Hồng Anh nghiêm mặt: “Đây không phải chuyện đùa, huynh hãy ra ngoài

[/align]





xem thử!”

[/align]





Lệ Nam Tinh bước ra ngoài xem, chỉ thấy sao trời lấp lánh, trăng treo trên cao.

[/align]





Bên ngoài tiếng ca hát vẫn chưa dứt nhưng không thấy bóng ai, cũng không nghe thấy

[/align]





tiếng gì đáng nghi. Lệ Nam Tinh nghĩ bụng: “Bang quy của Lục Hợp bang nghiêm

[/align]





ngặt, người bên ngoài chắc không dám xông vào nội viện”.

[/align]





Lệ Nam Tinh quay vào tiện tay đóng cửa phòng lại, cười tươi: “Muội có thể yên

[/align]





lâm, không ai nghe lén động phòng. Thời gian không còn sớm nữa, muội...”

[/align]





Lý Nam Tinh muốn bảo Sử Hồng Anh thay đồ, nói chưa dứt thì chỉ thấy Sử Hồng

[/align]





Anh phất ống tay áo, nói: “Muội không phải sợ có người nghe lén động phòng, đêm

[/align]





nay cũng không phải là đêm động phòng hoa chúc. Huynh ngồi xuống đây, muội có

[/align]





điều muốn nói”.

[/align]





Lệ Nam Tinh thất kinh, khi nhìn lại Sử Hồng Anh thì chỉ thấy nàng rất nghiêm

[/align]





nghị, chẳng hề đùa với chàng, Lệ Nam Tinh ngồi xuống, ấp úng hỏi: “Muội muốn nói

[/align]





gì, chẳng phải chúng ta đã bái trời đất rồi sao?”

[/align]





“Hôm nay huynh chỉ bái đường với nha đầu của muội”.

[/align]





Lệ Nam Tinh càng thất kinh hơn: “Tại sao? Muội... muội không muốn lấy

[/align]





huynh?”

[/align]





“Muội phải hỏi huynh trước, huynh tưởng hôm nay là hỉ sự?”

[/align]





“Chả lẽ đó là họa sự?”

[/align]





“Đúng thế. Trừ phi huynh chấp nhận làm nanh vuốt cho đại ca, nếu không huynh

[/align]





sẽ chịu họa sát thân!”

[/align][/align]






Lệ Nam Tinh cười: “Té ra là muội lo lắng điều này, đại ca đã hứa với huynh, từ

[/align]





rày về sau đổi tà theo chính, lại còn muốn tham gia nghĩa binh, cho nên nhờ huynh

[/align]





liên lạc hộ. Nếu không như thế, huynh cũng không dám thành thân với muội ở Lục

[/align]





Hợp bang”.

[/align]





Sử Hồng Anh thở dài: “Chuyện này còn tệ hơn muội nghĩ. Xem ra đại ca không

[/align]





chỉ muốn lừa lấy Bách độc chân kinh của huynh mà còn có âm mưu lớn hơn”.

[/align]





Lệ Nam Tinh nửa tin nửa ngờ: “Muội không tin đại ca?”

[/align]





Sử Hồng Anh đáp: “Đêm qua y đã nói chuyện với muội, muội sẽ cho huynh

[/align]





biết”.

[/align]





Lệ Nam Tinh trợn mắt há mồm, một lát sau mới mở lời: “Nếu như thế, y vẫn

[/align]





không hề bỏ ý định gả muội cho Soái Mạnh Hùng, chỉ vì muội không chịu cho nên

[/align]





mới miễn cưỡng chấp nhận chuyện này”.

[/align]





Sử Hồng Anh gật đầu: “Chẳng sai tí nào”.

[/align]





“Vậy là y vẫn còn qua lại với Soái Mạnh Hùng?” Nói đến đây thì giọng đã có

[/align]





phần hơi run.

[/align]





“Đâu chỉ có qua lại với Soái Mạnh Hùng, y cũng còn cấu kết với Tát Phúc Đỉnh.

[/align]





Phó thống lĩnh Văn Đạo Trang hôm qua đã tới đây. Nhưng y biết huynh nhận ra y cho

[/align]





nên mới tránh mặt!”

[/align]





Lệ Nam Tinh kinh hoảng: “Có nghĩa là đại ca của muội hoàn toàn lừa gạt

[/align]





huynh!”.

[/align]





“Đương nhiên là lừa gạt! Chúng tôi đã là huynh muội, chả lẽ muội không biết

[/align]





con người của y?”

[/align]





“Làm thế nào đây? Hồng Anh, chúng ta cùng chạy thôi!”

[/align]





“Đại ca của muội làm sao không phòng bị được, đêm nay có rất nhiều cao thủ,

[/align]





chúng ta càng không thể thoát”.

[/align]





“Vậy theo ý muội...”

[/align]





“Ở lại tương kế tựu kế!”

[/align]





Lệ Nam Tinh nghe tim mình đập thình thịch, lòng thầm nhủ: “Đúng thế, ở lại

[/align]





làm vợ chồng rồi tính tiếp, đừng bỏ qua hoa chúc đêm nay”. Nhưng chàng không dám

[/align]





nói ra những điều ấy, chỉ hỏi rằng: “Tương kế tựu kế thế nào?”

[/align]





“Chúng ta cứ giả vờ làm một cặp vợ chồng tốt để đại ca không nghi ngờ. Sau đó

[/align]





tìm cơ hội liên thủ chế phục y. Tứ đại hương chủ trong bang là tâm phúc của y, nhưng

[/align]





nhiều huynh đệ lại không nghe theo y, rất bất mãn chuyện y cấu kết với triều đình.

[/align]





Chỉ cần chúng ta chế phục được y, tôi nghĩ đa số người trong bang đều sẽ ủng hộ

[/align]





chúng ta. Thật ra muội cũng chẳng mong làm bang chủ, nhưng Lục Hợp bang là một

[/align]





đại bang, nếu trở thành bằng hữu của nghĩa quân thì họ chẳng phải sẽ tốt hơn hay

[/align]





sao? Lệ đại ca, huynh có muốn đồng tâm hiệp lực cùng muội không?”

[/align]




Lệ Nam Tinh gật đầu: “Cô nương đảm thức hơn người, không hổ là nữ trung hào

[/align]





kiệt. Tôi rất khâm phục, tất cả sẽ nghe theo lời cô nương. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu

[/align]





một điều...”

[/align]





Lệ Nam Tinh không hiểu tại sao Sử Hồng Anh chỉ muốn làm vợ chồng giả với

[/align]





mình! Vả lại phải làm như thế nào? Chàng không dám coi mình là trượng phu cho nên

[/align]





gọi Sử Hồng Anh là cô nương.

[/align]





Sử Hồng Anh chậm rãi: “Huynh là bằng hữu tốt của Kim Trục Lưu, tôi nghĩ

[/align]





huynh sẽ hiểu cho tôi. Trong phòng chúng ta là bằng hữu, ra khỏi phòng chúng ta mới

[/align]





là vợ chồng. Chúng ta không thẹn với lòng, Kim Trục Lưu biết thì sẽ tha thứ cho

[/align]





chúng ta”.

[/align]





Những câu nói này khiến cho Lệ Nam Tinh cảm thấy như bị dội một chậu nước

[/align]





lạnh, sắc mặt của chàng lúc đỏ lúc xanh, nghĩ bụng: “Chả trách nào Kim Trục Lưu

[/align]





không chịu cùng đến với mình, khi mình tâm sự với y, y lại tỏ vẻ hờ hững, còn Hồng

[/align]





Anh lại bảo nha hoàn thay nàng bái đường? Hỡi ơi, Trục Lưu có ý muốn giúp cho

[/align]mình, mình lại có lỗi với y!”
[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 01:06:36Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Hai Mươi Tám

[/align]
Ngầm dùng độc châm ra tay độc
Hãy xem thần kiếm tỏ thần oai.

[/align] 

Lệ Nam Tinh nhảy xuống tường, chợt nghe có tiếng quát: “Xem đây!” Người ấy chính là một đầu mục trong Lục Hợp bang, mình cao bảy thước, hai tay có sức ngàn cân, binh khí là một độc cước đồng nhân cũng nặng đến bảy mươi hai cân. Y không thấy cuộc ác chiến giữa Sử Bạch Đô với Lệ Nam Tinh trong vườn, cho nên cũng không biết sự lợi hại của huyền thiết bảo kiếm, Lệ Nam Tinh cũng quát: “Tránh ta thì sống, cản ta thì chết?” Kẻ ấy cười lạnh: “Huênh hoang khoác lác...” Chưa dứt lời chợt nghe keng một tiếng, Lệ Nam Tinh chém một kiếm xuống đồng nhân, đồng nhân tóe lửa, đầu mục ấy thối lùi liền ba bước, hự một tiếng, miệng phun máu tươi ngã xuống liền Té ra y tuy không bị kiếm chém trúng nhưng bị chấn động lục phủ ngũ tạng nên đứt hơi mà chết. Nhưng độc cước đồng nhân của y cũng không bị bảo kiếm chặt gãy.
Lệ Nam Tinh đưa mắt nhìn, chỉ thấy Kim Trục Lưu đang bị ba người vây đánh, một người là Văn Đạo Trang, hai người kia là Tiêu Lỗi và Viên Hải. Kim Trục Lưu bị ba cao thủ vây đánh đã rơi xuống thế hạ phong, chỉ nhờ thân pháp tinh diệu mà né tránh, trong một lúc Văn Đạo Trang cũng chẳng làm gì được chàng.
Lệ Nam Tinh vừa mừng vừa lo, kêu lên: “Hiền đệ, ta đến đây!” Rồi gắng gượng đâm một kiếm về phía Văn Đạo Trang. Văn Đạo Trang trở tay phất lại, Lệ Nam Tinh đã bị thương ở hông, hạ bàn không vững, bất đồ xoay một vòng, vừa đúng đối diện với Tiêu Lỗi.
Tiêu Lỗi chém một kiếm xuống Lệ Nam Tinh, Thanh Phù đứng từ xa nhìn thế thì cả kinh kêu lên: “Tứ đệ hãy cẩn thận! Đừng tiếp kiếm!” Nhưng cũng đã muộn. Đao và kiếm giao nhau, tiếng kim khí vang lên, thanh đao nặng nề của Tiêu Lỗi bị gãy thành hai đoạn, cả cánh tay của y bị cũng bị huyền thiết bảo kiếm chém đứt từ vai trở xuống, đau đến nỗi ngất ngay tại chỗ.
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Lệ Nam Tinh vung kiếm chém xuống Viên Hải, Viên Hải nghe Thanh Phù đạo nhân nói chột dạ không dám tiếp kiếm. Nhưng cũng không thể tránh nổi một kiếm của Lệ Nam Tinh, keng một kiếm, thanh giới đao của Viên Hải bị chặt gãy. May mà y không dùng sức chống cự, đao tuy gãy nhưng không bị thương, nhưng cũng chấn động đến nỗi khí huyết nhộn nhạo, thối lùi sáu bảy bước mới đứng vững. Thanh giới đao đã gãy Viên Hải như con gà trống bại trận, không dám tiến lên tiếp kiếm. Sử Bạch Đô cũng phóng tới, trong tay cầm độc cước đồng nhân của đầu mục ấy.
Té ra y thấy uy lực của huyền thiết bảo kiếm quá mạnh, đao kiếm bình thường không thể chống đỡ nổi, nên mới nhặt độc cước đồng nhân hy vọng có thể dùng loại binh khí này kìm chế huyền thiết bảo kiếm.
Đổng Thập Tam nương cũng đuổi tới, lần này đã đổi một ngọn roi dài khác cùng Văn Đạo Trang liên thủ đối phó Kim Trục Lưu.
Cuộc ác đấu lại triển khai, Sử Bạch Đô giơ cao độc cước đồng nhân bổ xuống Lệ Nam Tinh. Lệ Nam Tinh vung ngang kiếm chém tới, tiếng kim loại giao nhau nhức cả tai. Độc cước đồng nhân bị mẻ mất một mảnh nhưng Lệ Nam Tinh cũng bị chấn động đến thối lui ba thước. Lệ Nam Tinh giật mình thầm nhủ: “Nội lực của mình không bằng y, phải nhờ kiếm pháp cầu thắng!”
Sử Bạch Đô quát lớn: “Buông kiếm!” Rồi lướt bên tới đánh ra một chiêu Hoành vân đoạn phong, quét ngang đồng nhân ra. Lệ Nam Tinh cười lạnh lùng: “Chưa chắc!” Rồi huyền thiết bảo kiếm múa ra một màn kiếm hoa, chỉ nghe tiếng leng keng vang lên không ngớt trong tai, bụi đồng tung bay, Lệ Nam Tinh vẫn cầm chắc thanh kiếm còn độc cước đồng nhân của Sử Bạch Đô đã bị lủng lỗ khắp người. Té ra chiêu này là Truy phong kiếm thức Kim Thế Di đã từng dạy cho Lệ Nam Tinh, đúng là nhanh như gió quét, lẹ như điện chớp. Chỉ trong chớp mắt chàng đã đâm trên người đồng nhân mười tám nhát kiếm. Kiếm quang tựa như chuồn chuồn giỡn nước, vừa lướt tới đã rút ra. Sử Bạch Đô không thể nào thi triển được hoàn toàn áp lực
của mình, Lệ Nam Tinh đã thâu chiêu đổi thức. Cứ như thế, Sử Bạch Đô không đánh rơi được bảo kiếm của chàng còn chàng đã “đâm bị thương” đồng nhân của Sử Bạch Đô.
Nhưng Sử Bạch Đô sử dụng đồng nhân nặng nề có lợi hơn nhiều so với sử dụng đao kiếm, tuy trên mình đồng nhân bị đâm nhiều chỗ nhưng vẫn có thể chống đỡ nổi uy lực của thanh huyền thiết kiếm.
Lệ Nam Tinh đã bị thương ở eo, hạ bàn không vững, bước chân không lanh lẹ, đánh một hồi cảm thấy mất sức. May mà Sử Bạch Đô sử dụng binh khí nặng nề, trong nhất thời vẫn chưa quen tay. Trong cuộc ác đấu, Lệ Nam Tinh vẫn đánh nhiều thủ ít.
Phía bên kia Văn Đạo Trang và Đổng Thập Tam nương liên thủ cũng khó phân thắng bại với Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu giở hết bản lĩnh mới đánh ngang sức với họ, chàng hơn được là nhờ kiếm pháp tinh kỳ, khinh công ảo diệu nhưng công lực thì hơi kém hơn đối phương. Văn Đạo Trang được Đổng Thập Tam nương giúp đỡ, nên cảm thấy an toàn hơn, đã phát huy oai lực của Tam tượng thần công, sau hai ba mươi chiêu thì Kim Trục Lưu tuy có thể chống đỡ nổi nhưng trán đã rịn mồi hôi.
Trong lúc kịch chiến Lệ Nam Tinh kêu lên: “Hiền đệ, huynh có một chuyện muốn nói với đệ. Hồng Anh, nàng...”
Kim Trục Lưu gạt đi: “Xông ra trước rồi tính”. Lệ Nam Tinh: “Không nói thì ta không yên”. Kim Trục Lưu cười khổ: “Đệ đã biết, chúng ta là hảo huynh đệ, đệ sẽ không trách huynh”.
Lệ Nam Tinh tưởng chàng đã nghe hết tất cả những lời mình và Sử Hồng Anh
nói, nhẹ thở phào, lòng thầm nhủ: “Nếu tự mình nói ra thì rất khó xử, nay y đã nghe thì tốt còn gì bằng”. Chàng nghĩ như thế cho nên cũng không nói tiếp nữa.
Nhưng trong lúc chàng nói chuyện đã phân tâm, bị Sử Bạch Đô tấn công mạnh mẽ nên luống cuống tay chân. Đến khi nói xong tuy đã tập trung hơn nhưng cũng không cứu vãn được tình thế.
Kim Trục Lưu nhủ thầm: “Cứ đánh nữa thì mình và Lệ đại ca sẽ thua to”. Chàng nghĩ như thế nên chợt lướt người qua, quát: “Lệ đại ca, chúng ta hãy đổi đối thủ!”
Kim Trục Lưu lướt tới đâm soạt một kiếm vào huyệt phong phủ phía sau lưng Sử Bạch Đô. Sử Bạch Đô đột nhiên hạ người xuống, múa tít cái đồng nhân ở trên đầu, đẩy Lệ Nam Tinh thối lui, chỉ nghe keng một tiếng, thanh kiếm của Kim Trục Lưu đã đâm vào đồng nhân, mũi kiếm lệch qua. Lúc này Lệ Nam Tinh đã nhảy ra khỏi vòng chiến chặn hai người Văn, Đổng lại.
Sử Bạch Đô tuy đánh bật được thanh trường kiếm của Kim Trục Lưu nhưng da đầu cũng cảm thấy mát rượi. Y cả giận quát lên: “Hay lắm, ngươi tự nạp mạng, ta sẽ giúp cho ngươi!”
Kim Trục Lưu nói lớn: “Ta chỉ có một mạng, có bản lĩnh thì cứ lấy, đừng khoác lác!” Vừa nói tay đã đánh ra ba mươi sáu nhát kiếm, Sử Bạch Đô chỉ có thể chống đỡ chứ không trả đòn nổi. Nếu luận bản lĩnh thật sự, Sử Bạch Đô tuy hơn Kim Trục nhưng binh khí của y quá nặng nề, có thể khắc chế thanh huyền thiết bảo kiếm nhưng không thể nào đối phó nổi với đường kiếm nhanh như chớp của Kim Trục Lưu. Kim Trục Lưu muốn đổi đối thủ với Lệ Nam Tinh cũng vì lẽ này.
Kim Trục Lưu tính rất đúng, hai người Văn, Đổng không thể nào chặn nổi Lệ Nam Tinh. Lệ Nam Tinh nhờ oai lực của huyền thiết bảo kiếm tả xung hữu đột, Văn Đạo Trang còn có thể gắng gượng chống trả, nhưng Đổng Thập Tam nương không dám lướt tới sát người chàng, phải dùng ngọn roi dài từ xa đánh tới, Lệ Nam Tinh vung kiếm chặt đứt ngọn roi. Chàng vừa vung thanh huyền thiết bảo kiếm lên màn ánh ánh sáng tỏa ra mấy trượng, những binh khí bình thường vừa chạm vào đã gãy.
Sử Bạch Đô giận đến nỗi thất khiếu bốc khói, y muốn xông tới chặn Lệ Nam Tinh nhưng thân pháp của Kim Trục Lưu còn lanh lẹ hơn cả y, Sử Bạch Đô chỉ vừa bước dấn tới bất cứ phương hướng nào, mũi kiếm của Kim Trục Lưu đều chĩa về phía ấy. Sử Bạch Đô tuy tức giận nhưng cũng đành chấp nhận.
Lệ Nam Tinh múa cây huyền thiết bảo kiếm chém liền ra ba nhát, cả người lẫn kiếm hóa thành một luồng bạch quang phóng về phía Văn Đạo Trang. Văn Đạo Trang giật mình: “Tên tiểu tử này thật sự muốn liều mạng!” Rồi vội vàng vận Tam tượng thần công hai chưởng đánh ra một luồng Phách không chưởng lực, đẩy Lệ Nam Tinh lùi ra. Khi đánh ra chưởng này y đã dốc hết sức, y may mắn thoát chết, nào dám chặn lại. Chỉ trong chớp mắt, Lệ Nam Tinh đã xông ra tới bờ tường, chàng vung kiếm chém cánh cửa vườn thoát ra ngoài.
Sử Bạch Đô cả giận quát: “Bắt sống Kim Trục Lưu!”
Kim Trục Lưu cười: “Ta muốn đến là đến muốn đi là đi, ai có thể làm gì được ta?” Liền đâm hờ ra một chiêu, rồi chàng lướt ra, vừa lúc đó chạm phải Văn Đạo Trang, Kim Trục Lưu cười: “Có muốn nếm thuốc giải của ta nữa không?” Rồi mũi chân điểm xuống đất, phóng người lên khỏi mặt đất lướt qua đầu Văn Đạo Trang, Văn Đạo Trang vỗ một chưởng về phía chàng, Kim Trục Lưu mượn chưởng lực của y lướt càng nhanh hơn, lộn người trên không trung rồi hạ xuống bức tường.
Ngay lúc đó bên ngoài nghe tiếng bước chân gấp gáp Sử Bạch Đô quát: “Xuống đây?” Y vận chân lực nội gia vào hai chưởng, người chưa tới đã phát chưởng ra trước.
Đòn Phách không chưởng lực của Sử Bạch Đô rất ghê gớm, Kim Trục Lưu đứng trên bức tương cách đó khoảng ba trượng, khi Sử Bạch Đô phát chưởng, chàng vẫn cảm thấy bị chấn động. Kim Trục Lưu biết bên ngoài có mai phục, nhưng chẳng hề lo lắng. Chàng cười ha hả: “Ngươi cần gì phải thúc giục ta như thế?” Rồi phóng vọt người xuống.
Không ngờ người đang lơ lửng chợt nghe có tiếng soàn soạt, ánh vàng lóe lên, một nắm mai hoa châm nhỏ như lông trâu đột nhiên phóng tới chàng. Kim Trục Lưu đang lơ lửng, không thể nào né tránh, vả lại vừa rồi cũng bị ảnh hướng bởi đòn Phách không chưởng lực của Sử Bạch Đô nên không kịp xoay chuyển, trong lúc gấp gáp đành phất ống tay áo nhưng vẫn trúng hai mũi mai hoa châm.
Mai hoa châm là loại ám khí nhỏ bé, chỉ có bắn vào huyệt đạo mới có thể gây tổn thương. Kim Trục Lưu không bị bắn trúng huyệt đạo, tưởng rằng không hề chi, nào ngờ chân vừa chạm xuống đất đột nhiên người có cảm giác tê rần, té ra đây là loại mai hoa châm đã được tẩm độc.
Kim Trục Lưu tức giận: “Ai phóng ám khí? Có gan hãy bước ra đây?” Chưa dứt lời, chợt nghe giọng nói lạnh lùng đáp: “Kim Trục Lưu, ngươi hãy để giành hơi chuẩn bị hậu sự, ta không rảnh chiều ngươi!”
Kim Trục Lưu đưa mắt nhìn, té ra đó chẳng phải ai khác mà chính là Hạ đại nương.
Kim Trục Lưu cười lạnh: “Chỉ là hai cây độc châm sao có thể làm gì được ta?”
Rồi vung kiếm xông vào trong đám người, đuổi theo Hạ đại nương. Bọn đầu mục của Lục Hợp bang làm sao có thể chống đỡ nổi kiếm pháp của chàng, chỉ nghe tiếng ối chao vang lên không ngớt bên tai, trong chớp mắt đã có bảy tám hán tử té lăn quay. Hạ đại nương cả kinh, thầm nhủ: “Mình đã dùng năm loại độc dược lợi hại nhất tẩm vào độc châm này, nhưng tên tiểu tử lại không hề gì, chả lẽ y là kim cương bất hoại?” Mụ ta nào dám chống đỡ, chỉ đánh hờ hai chiêu rồi vội vàng bỏ chạy. Ngay lúc đó Sử Bạch Đô đã đuổi ra, buông giọng cười lớn: “Kim Trục Lưu, chúng ta vẫn chưa phân thắng thua, có gan đừng chạy?”
Kim Trục Lưu đánh lùi Hạ đại nương, chàng chợt cảm thấy mắt hoa lên, đầu óc hơi choáng váng. Số là thần công hộ thể của chàng chỉ có thể kéo dài thời gian phát tác của độc tính, nhưng không thể đẩy chất độc ra. Do đó đối phó với người có võ công kém còn được nhưng với những cao thủ như Sử Bạch Đô thì không thể được.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Ta không mắc mưu của ngươi!” Thế rồi hít một hơi, cười rằng: “Có bản lĩnh thì cứ đuổi theo?”
Kim Trục Lưu ngầm vận huyền công ngăn không cho độc khí dâng lên. Khinh công đương nhiên cũng bị ảnh hưởng, Sử Bạch Đô vừa nhìn đã biết, quát: “Hạ đại nương, hình như tên tiểu tử này đã trúng ám khí của bà?” Hạ đại nương đáp: “Đúng thế, y đã trúng hai mũi độc châm của tôi. Còn...” Hạ đại nương hình như có điều gì muốn nói, nhưng Sử Bạch Đô đã cười ha hả: “Được, bắt tên tiểu tử này rồi tính tiếp!”
Miệng thì nói nhưng người đã chạy theo Kim Trục Lưu, bỏ Hạ đại nương ở phía sau.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Trong vòng nửa canh giờ Sử Bạch Đô không thể nào đuổi theo kịp mình. Qua nửa canh giờ thì rất khó nói”. Rồi dùng công phu Truyền âm nhập mật kêu lên: “Lệ đại ca, Lệ đại ca!” Chàng còn lo cho Lệ Nam Tinh, muốn hai người cùng đi với nhau để tiếp ứng cho nhau.
Kêu liền cả ba tiếng mà vẫn không nghe trả lời. Hạ đại nương đuổi lên, cười lạnh nói: “Lệ Nam Tinh đã chết, ngươi cứ xuống suối vàng tìm y!”
Kim Trục Lưu mắng: “Nói bậy, mụ yêu bà nhà ngươi dám nguyền rủa đại ca của ta, sau này ta sẽ tính sổ với ngươi”.
Hạ đại nương cười lạnh: “Chính ta đã giết y, ngươi muốn thế nào?” Mụ ta ỷ có Sử Bạch Đô cho nên táo tợn hơn nhiều, cũng không sợ chọc giận Kim Trục Lưu nữa.
Kim Trục Lưu thầm nhủ: “Mình không thể trúng kế của mụ”. Rồi quay đầu lại mắng: “Ta sẽ từ từ tính sổ với ngươi”.
Kim Trục Lưu tuy không tin, nhưng không nghe Lý Nam Tinh trả lời cũng hơi nghi ngại. Chàng dùng công phu Truyền âm nhập mật, trong vòng năm bảy dặm, những người có nội công tương đối đều có thể nghe được. Kim Trục Lưu thầm nhủ. “Chả lẽ y đã chạy ra khỏi năm dặm?"
Kim Trục Lưu nghi ngại trong lòng, tinh thần không thể tập trung, chàng chợt có cảm giác choáng váng. Kim Trục Lưu vội vàng thâu nhiếp tinh thần, quay đầu nhìn lại thấy hai người kia đã đuổi càng lúc càng gần.
Kim Trục Lưu thấy mình không thể chống chọi nổi nửa canh giờ, lòng thầm nhủ: “Sao bây giờ vẫn chưa thấy người Cái Bang tiếp ứng? Mình phải nghĩ cách chạy thoát rồi tính tiếp”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-25 23:57:36Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Hai Mươi Chín
[/align]
Chìm sông may có thuyền câu đến
Tìm bắt còn kinh kiêm báu rung.
[/align]

Thạch Hà Cô phẫn uất: “Bà đã nuôi lớn tôi, nếu muốn lấy lại mạng này thì cứ lấy, tôi không cần xin thuốc giải”.
Nói chưa dứt lời, chợt có người khen rằng: “Đúng, có chí khí. Thạch cô nương, đừng sợ mụ ta!” Người này chưa lộ mặt, nhưng giọng nói đã truyền tới Thạch Hà Cô cả mừng, còn Hạ đại nương hoảng sợ đến nỗi hồn bay phách tán. Té ra kẻ ấy chính là Kim Trục Lưu. 
Khi Hạ đại nương định bỏ chạy, chợt thấy có một bóng người lướt tới trước mặt mụ. Hạ đại nương quát: “Tên tiểu tử, ta liều với ngươi!” Rồi mười ngón tay vươn ra toan tóm lấy Kim Trục Lưu. Mười ngón tay của mụ ta đã được tẩm độc.
Kim Trục Lưu cười lớn: “Mụ yêu bà chết tới nơi mà còn muốn hại người!”
Chàng vừa nói dứt kiếm đã rút ra, nhát kiếm vừa chém tới mười chiếc móng tay của Hạ đại nương rụng xuống lả tả.
Thạch Hà Cô vội vàng kêu: “Kim đại hiệp nương tay!” Kim Trục Lưu tung ra một cước, đá Hạ đại nương bay lên, cầm kiếm mắng: “Mụ yêu bà thật đáng ghét! Nể mặt Thạch cô nương, ta chỉ chém rụng độc trảo của ngươi. Nếu không biết hối hận, lần sau ta sẽ lấy mạng chó của ngươi!” Hạ đại nương bò dậy, ba chân bốn cũng chạy vào tổng đà Lục Hợp bang chứ nào dám trả lời!
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Trục Lưu đuổi xong Hạ đại nương lách người bước tới phía trước mặt Sử Bạch Đô. Sử Bạch Đô đang định vỗ xuống một chưởng, chợt thấy ánh xanh loé lên, cây trường kiếm của Kim Trục Lưu đã chém ngang tới, kiếm thế ảo diệu vô cùng, Sử Bạch Đô vội vàng rụt tay lại.
Kim Trục Lưu nói lớn: “Trần đại ca, huynh hãy cùng Hà Cô đến tiếp ứng cho bằng hữu Cái Bang, nhường Sử bang chủ cho tôi”. Trần Quang Chiếu đã sức cùng lực kiệt, biết mình không giúp được cho Kim Trục Lưu, chỉ đành lui xuống theo lời chàng. Kim Trục Lưu cười ha hả: “Sử bang chủ, chẳng phải ông muốn quyết đấu với tôi ư? Sao còn chưa xông tới? Nào, tôi nhường ông ba chiêu!”
Sử Bạch Đô thầm thất kinh, nhủ rằng: “Tên tiểu tử này thật quái dị, y đã trúng độc châm của Hạ đại nương, rõ ràng đã bị thương, nên lúc nãy mới không dám giao thủ với mình. Tại sao chỉ qua một lúc mà y chẳng hề gì!” Tuy nghĩ như thế nhưng miệng vẫn quát: “Ngươi đã là bại tướng của ta, ai cần ngươi nhường?”
Kim Trục Lưu cười nói: “Ngươi đã đánh với Trần Quang Chiếu một trận, ta không muốn chiếm phần lợi, ta nhường ngươi ba chiêu”.
chịu. Sử Bạch Đô dốc hết toàn lực đối phó với Kim Trục Lưu, không thể vận công ngự độc nên chất độc phát tác rất nhanh.
Kim Trục Lưu cười: “Mãnh hổ đã trở thành khỉ đột, ta không muốn trêu khỉ đột, ngươi có muốn đánh nữa không?” Miệng nói không muốn đánh nhưng thanh kiếm trong tay lại chuyển thủ thành công, đánh ra toàn những chiêu hiểm hóc.
Ba hương chủ dưới trướng Sử Bạch Đô và Văn Đạo Trang còn đang ở thành tây lục soát, không biết Kim Trục Lưu đã đến cửa đông giao thủ với Sử Bạch Đô.
Sử Bạch Đô không thấy bọn chúng quay về, lòng thầm hối hận mình đã sắp xếp sai lầm. Trước lượt tấn công hiểm hóc của Kim Trục Lưu, y đã luống cuống tay chân, thầm nhủ: “Đại trượng phu phải tùy cơ ứng biến, nếu mình không quay về cho sớm, chỉ e sẽ bại trong tay tên tiểu tử này”. Từ lúc trúng độc tới giờ, đã gần một canh giờ, y phải quay về lấy thuốc giải.
Sử Bạch Đô gắng gượng đánh thêm một chưởng đẩy lùi Kim Trục Lưu rồi quát: “Đêm nay tạm thời nhường ngươi, sau này sẽ tìm ngươi tính sổ. Lý đà chủ, có đánh nữa các ngươi cũng không chiếm phần hơn được. Ta nể mặt bang chủ của ngươi, đêm nay ngừng ở đây, ý ngươi thế nào?”
Tình thế lúc này Sử Bạch Đô tuy đánh không lại Kim Trục Lưu, nhưng người của Lục Hợp bang đông hơn nên chiếm thượng phong. Lý Mậu thấy Kim Trục Lưu đã quay về, y cũng không muốn người của mình thương vong quá nhiều cho nên nói:
“Thôi được, ngươi đã xin tha thì ta sẽ chấp nhận. Sau này thế nào thì sau này tính tiếp. Ngươi trả thù cũng được, không trả thù cũng được, Cái Bang không bao giờ sợ ngươi”.
Vì thế hai bên thu binh, Sử Bạch Đô vội vàng chạy về lấy thuốc, Kim Trục Lưu và bọn Trần Quang Chiếu cũng theo Lý Mậu trở về phân đà của Cái Bang.
Kim Trục Lưu kể lại mọi chuyện ở Lục Hợp bang, Trần Quang Chiếu như nhớ lại một chuyện, hỏi rằng: “Kim huynh, lúc nãy huynh bảo Hà Cô không cần thuốc giải của mụ yêu bà có thật hay không? Nhưng Lệ đại ca thì đã mất tích?”
Kim Trục Lưu cười nói: “Đương nhiên là thật. Người có thể giải độc của Thiên ma giáo cũng đang ở đây Lý huynh, xin mời bước ra”.
Kim Trục Lưu giới thiệu Lý Đôn cho hai người Trần, Thạch xong nói: “Tuy không tìm ra Lệ đại ca nhưng Lý huynh đã đọc thuộc Bách độc chân kinh của Thiên ma giáo, bản lĩnh giải độc còn hơn cả mụ yêu bà ấy”.
Hai người Trần, Thạch vui mừng ra mặt, vội vàng đáp tạ Lý Đôn. Lý Đôn bắt xong mạch cho Hà Cô, đưa nàng một túi thuốc giải, lại chỉ cách thôi cung quá huyệt cho Trần Quang Chiếu để Trần Quang Chiếu tự giải độc cho Hà Cô. May mà thủ pháp thôi cung quá huyệt này không phức tạp, Trần Quang Chiếu vừa nghe đã hiểu. Trần Quang Chiếu cùng Hà Cô vào một căn tịnh thất trị liệu. Hai người Kim, Lý cùng Lý Mậu bàn bạc hành động tiếp theo.
Lý Đôn nói: “Kim huynh, khi tôi ở Tây Xương đã từng gặp Giang đại hiệp”.
Kim Trục Lưu mừng rỡ: “Đúng thế, y có nhắn nhủ gì cho tôi không?”
Lý Đôn cười: “Giang đại hiệp đương nhiên không biết tôi sẽ gặp huynh. Nhưng phía họ đang rất cần người. Xem tình hình này, Sử Bạch Đô sẽ càng canh gác nghiêm ngặt hơn, hảo thủ của Lục Hợp bang nhiều hơn chúng ta, tạm thời có lẽ không cứu được Sử cô nương. Theo tôi thấy chi bằng chúng ta đến Tây Xương để lấy khỏe đợi mệt”.
Lý Mậu ngạc nhiên: “Lấy khỏe đợi mệt là sao?”
Kim Trục Lưu nghe Lý Đôn vừa nói đã hiểu ngay, cười rằng: “Đúng thế, có lẽ Sử Bạch Đô sắp đưa Sử Hồng Anh đến Tây Xương ép gả nàng cho Soái Mạnh Hùng.
Ở đây chúng ta không đấu lại y, nhưng đến Tây Xương thì khác”. Lý Đôn tiếp tục: “Nay Tây Xương đã lọt vào tay quân Thanh, nhưng núi Đại Lương ở ngoài thành là căn cứ của nghĩa quân. Trúc Thượng Phụ là bậc tiền bối trên võ lâm, Giang đại hiệp cũng ở đấy. Sử Bạch Đô đưa Sử Hồng Anh đến Tây Xương, chúng ta có thể liên kết với nghĩa quân đoạt thành cướp người”.
Lý Mậu cười: “Chỉ cần một mình Giang đại hiệp đã dư sức đối phó với Sử Bạch Đô. Được, tôi sẽ cùng đi với các người”
Kim Trục Lưu lo rằng sau khi họ ra đi Sử Bạch Đô sẽ tìm đến trả thù, Lý Mậu không thể chống trả nổi, nghe Lý Mậu nói như thế bèn cười: “Đúng, quân tử trả thù mười năm chưa muộn”.
Bàn xong, đến hôm sau mọi người lên đường. Thạch Hà Cô cũng được giải độc cho nên hai người Trần, Thạch cũng đến Tây Xương.
Lần này Kim Trục Lưu đại náo Lục Hợp bang, tuy không cứu được người nhưng coi như đã vạch trần âm mưu của Sử Bạch Đô. Sử Hồng Anh tuy bị bắt lại nhưng không nguy hiểm đến tính mạng. Điều khiến Kim Trục Lưu lo lắng chỉ có Lệ Nam Tinh.
Lại nói đêm ấy Lệ Nam Tinh bị Hạ đại nương ám toán, trúng một mũi độc châm nên buộc phải nhảy xuống sông.
Nước sông chảy siết, may mà giỏi thủy tính, chàng vận huyền công, cố gắng phong tỏa huyệt đạo, nương theo dòng nước trôi xuống hạ lưu, trong tay vẫn cầm chắc thanh huyền thiết bảo kiếm. Nửa canh giờ sau chàng đã xuống tới hạ lưu, cách xa thành Dương Châu. 
Nhưng Lý Nam Tinh vừa trải qua một trận kịch chiến, nay lại phải bơi trong dòng nước siết, trong tay lại cầm thanh huyền thiết bảo kiếm nặng đến cả trăm cân, nên dần đuối sức, không thể nào gắng gượng được nữa.
Lệ Nam Tinh không nỡ vứt thanh kiếm, chàng nhìn thấy xa xa hình như có lửa chài, lòng thầm nhủ: “Mình cố một lát nữa có lẽ sẽ bơi tới nơi ấy!” Nào ngờ khi đuối sức không thể phong tỏa được huyệt đạo nữa, độc tính lập tức phát tác.
Lệ Nam Tinh đang lặn ở dưới nước, chợt cảm thấy đầu óc choáng váng, toan nổi lên kêu cứu nhưng trái lại đã chìm xuống. Đó là bởi vì chàng đang cầm cây huyền thiết bảo kiếm.
Lẽ ra chàng phải ném thanh kiếm đi, chỉ vì độc tính phát tác quá nhanh ngoài dự liệu của chàng, chàng vừa cảm giác được thần trí đã mê man. Lúc này, chàng nắm chặt thanh bảo kiếm.
Đến khi trời sáng Lệ Nam Tinh lại gặp phải một chiếc thuyền đánh cá. Trên thuyền có ba cha con, người ngư phủ già tung lưới xuống, Lệ Nam Tinh mắc vào lưới. Ông ta kéo mạnh Lệ Nam Tinh suýt nữa rơi ra khỏi lưới.
Ngư phủ già vừa mừng vừa lo, vội vàng kêu lên: “Có cá lớn lọt lưới, các con hãy đến đây mau”.
Hai con trai của ông ta đang tuổi tráng niên, cả ba người hợp lực mới kép được tấm lưới lên. Người con cả kêu lên: “Sao lại có cá nặng thế này?” Nói chưa dứt, người con út đã kêu: “Ồ, té ra là một người?” Người con cả kêu lên: “Là người cũng không thể nặng đến thế!”
Người cha bảo: “Cứu một mạng người còn hơn xây bảy bậc phù đồ. Hãy kéo y lên”. Vừa kéo lên cả hai người con đều chặc lưỡi kêu lạ. Một người nói: “Người này trông như nho sinh yếu đuối, sao lại nặng nề như thế này? Con thấy ít nhất y cũng nặng hai trăm cân, chả lẽ trên người y có kim ngân châu báu?”
Một người nói: “Sao lại có người mang cả trăm cân kim ngân châu báu nhảy xuống nước? Ồ, có một thanh kiếm. Ôi chao, chả lẽ y là hải lặc? Hải tặc sao trông nho nhã thế này?” Nói xong mò vào người Lệ Nam Tinh, cười rằng: “Thật kỳ lạ, trên người chẳng có một đồng bạc nào. Nhưng quần áo lại sang trọng”. Té ra Lệ Nam Tinh vẫn còn mặc bộ y phục của tân lang, chàng từ tân phòng chạy ra, trên người làm gì có tiền!
Người cha bảo: “Chúng ta chỉ là ngư dân an phận thủ thường, chỉ mong tích chút âm đức, cần gì đến tiền tài của người ta? Mặc kệ y là người thế nào, cứu tỉnh rồi tính tiếp”.
Thương thuyền đậu ven bờ cũng chèo tới xem. Ba cha con nhà này đang lo cứu người nên không để ý. Người cha sai con ép nước trong bụng Lệ Nam Tinh ra, nên trước tiên phải lấy kiếm trong tay chàng ra, thế là người con cả kéo ngón tay của Lệ Nam Tinh, cầm thanh kiếm lên.
Y nào ngờ thanh bảo kiếm ấy nặng hơn trăm cân, huống chi y chỉ cầm bằng một tay. Chỉ nghe y kêu ối chao một tiếng, chưa lấy được kiếm thì đã té soài xuống.
Ông già thất kinh, vội vàng đỡ đứa con, hỏi: “Sao con không cẩn thận đến nỗi trượt chân thả người con cả đứng dậy nói: “Không sao. Té ra không phải người này nặng mà là thanh kiếm”. Người con út bước tới xem thử cũng không nhấc thanh kiếm lên được ngạc nhiên nói: “Thanh kiếm này nặng quá, thật kỳ lạ!”
Ba cha con đang ngạc nhiên, trên chiếc thương thuyền bên cạnh, một hán tử mặc áo đen râu mọc tua tủa đột nhiên nhảy qua.
Ông già giật mình, ngạc nhiên hỏi: “Xin hỏi tiên sinh có gì chỉ giáo?”
Hán tử áo đen nói: “Tôi thấy các người đang cứu người, cho nên đến xem thử, có lẽ các người đang cần giúp? Ôi chao, đây chẳng phải là Tiểu Vương đấy sao? Tiểu Vương, Tiểu Vương?”
Ông già vừa lo vừa mừng, hỏi: “Y là bằng hữu của tiên sinh?” Hán tử áo đen đáp: “Mấy ngày trước tôi và y đến Dương Châu du ngoạn, tôi biết y có chút phiền não, nhưng cũng chẳng phải chuyện lớn lao gì, không ngờ y lại dại đột đến thế!”
Hán tử này có tướng mạo thô hào, nhưng miệng cứ nói không thôi, rõ ràng là quan tâm đến bằng hữu. Người con cả chợt nói: “Tôi cũng không biết vì sao, đợi cứu y tỉnh rồi sẽ hỏi”. Ông già nói: “Tôi đã ép nước trong bụng của y ra, thật lạ, sao bây giờ vẫn chưa tỉnh?”
Hán tử áo đen vội nói: “Tôi không muốn bằng hữu của tôi làm phiền các người, đa tạ các người đã cứu y, mọi chuyện cứ để tôi lo”. Rồi lấy ra một nén nguyên bảo trao cho người cha: “Một chút lễ mọn, mong ông hãy nhận lấy”.
Ông già đang lo mình không cứu sống được Lệ Nam Tinh, vội vàng đáp: “Cứu người là chuyện nên làm, sao có thể lấy tiền của ông”.
Rồi hán tử ấy một tay đỡ Lệ Nam Tinh, một tay xốc thanh huyền thiết bảo kiếm phóng vút qua thuyền của mình.
Ba cha con ngư dân ngẩn người ra, lòng thầm nhủ: “Không ngờ hán tử này lại khỏe mạnh như thế, y và người này quá nửa là cường đạo”.
Hán tử nhảy lên thuyền của mình, đầu thuyền chao đảo. Một thiếu nữ đã đợi sẵn, ngạc nhiên hỏi: “Đây là ai? Thanh kiếm của y...” Thiếu nữ này từ nhỏ đã luyện võ, tuy không giỏi nhưng có thể nhận thấy đây là thanh bảo kiếm, nếu không đã không nặng nề như thế. Điều khiến nàng ngạc nhiên hơn là cha nàng xưa này không bao giờ làm chuyện tốt thế nhưng lần này lại cứu người.
Hán tử áo đen nói: “Con đừng hỏi. Đưa người này vào khoang, đóng cửa sổ lại”.
Thì ra y không muốn để cho người khác thấy. Thiếu nữ rất thắc mắc, nhưng đang gấp cứu người cho nên không tiện hỏi. Hán tử ấy căn dặn xong con gái của mình lập tức quát: “Chèo thuyền!” Rồi y cũng cầm một chiếc dầm giúp cho ông lái. Ông lái nghĩ trong bụng: “Gã này rất nghênh ngang phách lối, mình tưởng y làm quan, nào ngờ y cũng biết chèo thuyền”.
Thiếu nữ đưa Lệ Nam Tinh vào trong khoang thuyền, sờ mũi y thì thấy vẫn còn thở, yên bụng thầm nhủ: “Y đã nhiễm lạnh, mình cho y uống chút rượu nóng”. Rồi lấy rượu quế hoa ra vạch miệng Lệ Nam Tinh đổ vào. Nàng nào biết Lệ Nam Tinh đã trúng độc, có rượu vào chất độc phát tác càng nhanh hơn.
Đăng nhập để trả lời
0
Một lát sau, Lý Nam Tinh vẫn hôn mê, thiếu nữ nhìn kỹ lại thấy chân mày chàng

[/align]





có luồng hắc khí. Nàng sờ lên trán thấy trán nóng như lửa đốt. Thiếu nữ hoảng hồn

[/align]





thầm nhủ: “Sao vẫn chưa tỉnh, không biết là trúng độc hay bị điểm huyệt đạo?”

[/align]





May sao Lệ Nam Tinh đã được Kim Thế Di truyền cho tâm pháp nội công, nội

[/align]





tức liên miên không ngớt, tuy đang hôn mê nhưng cũng phát huy bản năng chống độc,

[/align]





song không có hiệu quả như khi vận công. Trong lúc mê man, Lệ Nam Tinh cảm thấy

[/align]





bụng đau như cắt, bất giác rên lên: “Trục Lưu, Trục Lưu!”

[/align]





Thiếu nữ ấy mừng rỡ gọi: “Tỉnh dậy, tỉnh dậy! Người đang gọi ai thế?” Lệ Nam

[/align]





Tinh kêu xong hai tiếng “Trục Lưu” lại đau đớn ngất đi.

[/align]





Thiếu nữ chỉ đành quay sang hỏi ý cha mình. Lúc này trời vẫn chưa sáng, ven

[/align]





sông không có con thuyền nào khác, hán tử áo đen cố huơ dầm, chiếc thuyền lướt đi

[/align]





trong đám lau lách, người chèo thuyền hỏi: “Lão gia, ngài chẳng phải định đến

[/align]





Dương Châu ư? Tại sao lại ngừng ở đây?”

[/align]





Nói chưa dứt, y đã bị điểm huyệt đạo té lăn xuống. Thiếu nữ vừa bước ra thì cả

[/align]





kinh, kêu lên: “Cha, cha đang làm gì thế?” Hán tử áo đen bóp cổ họng người chèo đò

[/align]





rồi giở lên ném y xuống sông. Thiếu nữ toan chạy đến cứu nhưng cũng đã không kịp

[/align]





nữa. Nàng dậm chân: “Cha, tại sao cha lại giết người?” Hán tử áo đen cười ha hả:

[/align]





“Suốt đời ta không giết một ngàn người thì cũng đến tám trăm. Giết thêm một tên lái

[/align]





đò nữa thì có sá gì?”

[/align]





Người ấy cũng đã chết, thiếu nữ chẳng còn cách nào, thầm nhử: “Mình cứ tưởng

[/align]





cha đã quyết tâm cải tà quy chính, nào ngờ người vẫn không chịu đổi tánh ác, toàn là

[/align]





lừa gạt mình!” Bất giác đau lòng dòng lệ nàng tuôn rơi.

[/align]





Hán tử áo đen mắng, “Nha đầu ngốc, đâu phải cha của con chết mà con đau

[/align]





lòng?”

[/align]





“Tuy là một người lái đò nhưng cũng là một tánh mạng. Sao bỗng dưng cha lại

[/align]





giết y?”

[/align]





“Cha cứu người hay giết người đều có nguyên do cả! Cha giết tên lái đò này mới

[/align]





có thể cho con biết tại sao phải cứu tên tiểu tử này! Con ra đây làm gì, tên tiểu tử ấy

[/align]





đã tỉnh chưa?”

[/align]





Thiếu nữ chợt giật mình: “Hình như kẻ ấy trúng độc vẫn chưa tỉnh!”

[/align]





“Ồ, để ta xem thử”. Rồi chèo chiếc thuyền vào trong đám lau lách, liền đó mới

[/align]





cầm thanh huyền thiết bảo kiếm cùng con gái bước vào trong khoang.

[/align]





Hán tử áo đen nhìn kỹ Lệ Nam Tinh rồi trầm giọng: “Đúng thế, hình như đã

[/align]





trúng độc, nhưng y chết cũng không sao, chỉ mong là giữ được thanh kiếm này”.

[/align]





“Cha, cha vẫn chưa cho con biết tại sao phải giết người và cứu người! Người này

[/align]





là ai, tại sao cha cứu y thì phải giết người lái đò?”

[/align]





Hán tử áo đen cười rằng: “Ta không quen biết tên tiểu tử này, nhưng ta biết đây

[/align]





là thanh huyền thiết bảo kiếm!”

[/align]





“Huyền thiết bảo kiếm là gì?”

[/align]





“Sử Bạch Đô có được một tảng huyền thiết, tảng huyền thiết này nặng hơn thiết

[/align]





bình thường đến mười lần. Ta đã biết Sử Bạch Đô muốn rèn tảng huyền thiết thành

[/align]





bảo kiếm tặng cho Tát tổng quản, sau có người đã đánh cắp tảng huyền thiết này. Lần

[/align]





này chúng ta đến gặp Sử Bạch Đô, không biết huyền thiết bảo kiếm tại sao rơi vào

[/align]





tay tên tiểu tử này, ta cũng chẳng biết y là ai, ta cứu y chỉ vì thanh huyền thiết bảo

[/align]





kiếm, cho nên đem cả người lẫn kiếm đến dâng cho Sử Bạch Đô! Hì hì, ta đang lo

[/align]





không có lễ vật quý giá, nay có huyền thiết bảo kiếm thì còn hơn cả bất cứ báu vật gì

[/align]





trên đời này! Ha ha, đúng là ông trời có lòng với ta, ban cho ta thanh bảo kiếm!”

[/align]





“Vậy tại sao cha phải giết người chèo thuyền?”

[/align]





“Huyền thiết bảo kiếm là món báu vật người trong võ lâm đều muốn, không thể

[/align]





để cho người ta biết đã rơi vào tay ta. Ta không giết tên lái đò này, làm sao có thể cho

[/align]





con biết lai lịch của thanh bảo kiếm?”

[/align]





Nàng thiếu nữ chép miệng: “Nói như thế là con đã sai!”

[/align]





“Không hẳn thế. Có lẽ Sử Bạch Đô cũng không muốn người khác biết y đã lấy

[/align]





được bảo kiếm. Điều này gọi là giết người bịt miệng, con có hiểu không? Ha ha, ta

[/align]





đem theo thanh huyền thiết bảo kiếm, lại còn dắt con đến gặp Sử Bạch Đô, Sử Bạch

[/align]





Đô sẽ rất thích con!”

[/align]





Thiếu nữ ấy giận dỗi: “Cha, cha nói vớ vẩn gì thế, tại sao tên họ Sử ấy lại thích

[/align]





con?”

[/align]





Hán tử áo đen giận hỏi: “Thường nhi, con vẫn còn nhớ tên tiểu tử Tần Nguyên

[/align]





Hạo ư? Ta khuyên con hãy quên y, người ta là đệ tử của danh môn chánh phái thì làm

[/align]





sao ngó ngàng đến con? Dù y có chịu, ta cũng không muốn gả con cho y! Lần này ta

[/align]





và con đến tìm Sử Bạch Đô là muốn nương nhờ y để Kim Trục Lưu không làm gì được

[/align]





ta! Hừ, tên tiểu tử Kim Trục Lưu cứ đòi làm mai làm mối, con tưởng rằng ta chịu nghe

[/align]





theo y sao?”

[/align]





Té ra hán tử áo đen chính là Phong Tử Siêu, còn thiếu nữ này chính là Phong

[/align]





Diệu Thường. Ngày hôm ấy Phong Tử Siêu gặp Kim Trục Lưu, bị Kim Trục Lưu dọa

[/align]





cho một hồi, hoảng sợ đến nỗi không dám vào kinh chúc thọ cho Tát Phúc Đỉnh đành

[/align]





quay về nhà. Nhưng đến khi về nhà thì càng nghĩ càng tức.

[/align]





Về nhà không lâu, Phong Tử Siêu nghe đồn rằng Kim Trục Lưu đại náo thọ

[/align]





đường Tát phủ, bị bang chủ của Lúc Hợp bang là Sử Bạch Đô đánh bại bỏ chạy.

[/align]





Đương nhiên tin này đã thêm mắm dặm muối, nhưng Phong Tử Siêu lại cho là thật

[/align]





nên nảy ra một ý, đó chính là tìm cách gả con gái mình cho Sử Bạch Đô, nếu chuyện

[/align]





này thành công y chính là nhạc phụ của Sử Bạch Đô, không cần phải lo Kim Trục Lưu

[/align]





đến tìm y nữa.

[/align]





Phong Tử Siêu và Sử Bạch Đô vốn quen biết nhau, nhưng giao tình không sâu

[/align]





đậm mà thôi. Y biết mấy năm trước Sử Bạch Đô chết vợ, cho đến nay vẫn chưa tục

[/align]





huyền, vợ trước cũng chưa có con cái gì, y tuy lớn tuổi hơn Phong Diệu Thường,

[/align]





nhưng vẫn còn tạm chấp nhận được. Song làm thế nào mới khiến cho Sử Bạch Đô

[/align]





cưới con gái của y?

[/align]





Phong Tử Siêu thầm tính: “Thường nhi cũng xinh xắn, trước tiên phải cho Sử

[/align]





Bạch Đô gặp mặt nó, sau khi đôi bên có ý thì không lo không có người đứng ra làm

[/align]





mai”. Y dỗ dành con gái, bảo rằng dắt nàng đi dò tìm tung tích của Tần Nguyên Hạo,

[/align]





Phong Diệu Thường biết chuyện Kim Trục Lưu đứng ra làm mai, buộc cha mình gả

[/align]





mình cho Tần Nguyên Hạo. Tuy nàng cảm thấy Kim Trục Lưu làm như thế hơi thô lỗ,

[/align]





nhưng trong bụng thầm thích. Phong Tử Siêu nói với nàng như thế, nàng tưởng rằng y

[/align]





thực sự sợ Kim Trục Lưu, buộc phải đi tìm Tần Nguyên Hạo, vì thế cũng chấp nhận.

[/align]





Nàng không thường đi lại trên giang hồ, không hề biết Sử Bạch Đô là nhân vật thế

[/align]





nào, lần này “đi ngang” Dương Châu, Phong Tử Siêu bảo rằng Sử Bạch Đô là người

[/align]





quen biết rộng rãi, phải nên đến bái phỏng y, tiện thể dò hỏi lin tức của Tần Nguyên

[/align]





Hạo, Phong Diệu Thường cũng đành chấp nhận.

[/align]





Không ngờ chưa tới Dương Châu lại gặp Lệ Nam Tinh, thế là Phong Tử Siêu gạt

[/align]





gia đình ngư dân, đưa Lệ Nam Tinh lên thuyền của mình, huyền thiết bảo kiếm rơi

[/align]





vào tay y. Phong Tử Siêu nghĩ rằng đây là lễ vật trời ban cho nên mừng càng thêm

[/align]





mừng.

[/align]





Lại nói Phong Diệu Thường nghe cha nói xong, nàng lờ mờ nhận ra rằng cha

[/align]





mình đã lợi dụng mình để cấu kết với Sử Bạch Đô. Phong Diệu Thường bất giác bồn

[/align]





chồn không yên, lòng thầm nhủ: “Cha vẫn không đổi tính xấu, mình có cách nào

[/align]





tránh khỏi kiếp nạn này? Chao ôi, hai lần trước đều nhờ Kim Trục Lưu cứu mình,

[/align]





nhưng nay không biết tìm đâu ra người như thế?”

[/align]





Nghĩ đến Kim Trục Lưu, Phong Diệu Thường chợt giật mình, gọi: “Cha, người

[/align]





này đang hôn mê, làm thế nào đây?”

[/align]





Phong Tử Siêu nhíu mày: “Ta vốn muốn giữ lại mạng y để Sử Bạch Đô thẩm

[/align]





vấn, nay thấy không thể cứu y được nữa, chỉ đành để y sớm thoát khỏi biển khổ!”

[/align]





Phong Diệu Thường chợt nói: “Cha, cha không thể giết người này!”

[/align]





Phong Tử Siêu trừng mắt hỏi: “Tại sao?”

[/align]





“Cha có biết y là ai không?”

[/align]





“Chả lẽ con biết?”

[/align]





Ngay lúc này, Lệ Nam Tinh lại trở mình, Phong Diệu Thường bảo: “Con sẽ làm

[/align]





y tự nói ra!”

[/align]





Phong Tử Siêu hỏi: “Giờ đây y vẫn hôn mê chưa tỉnh, xem ra dữ nhiều lành ít,

[/align]





làm sao con có thể buộc y nói ra?”

[/align]





Phong Diệu Thường cúi xuống kêu lên: “Kim Trục Lưu đến, Kim Trục Lưu

[/align]





đến!”

[/align]





Trong lúc mơ hồ Lệ Nam Tinh nghe kêu như thế thì chợt tỉnh dậy, kêu lên: “Ở

[/align]





đâu, ở đâu?”

[/align]





Phong Tử Siêu thất kinh: “Kim Trục Lưu là người thế nào với y?”

[/align]





Lệ Nam Tinh mở mắt, rên rỉ: “Ồ, ta đang ở đâu? Đây là nơi nào? Các người là

[/align]





ai? Kim Trục Lưu đâu?”

[/align]





Té ra vì chàng luyện được nội công tâm pháp chính tông, tuy hôn mê nhưng nội

[/align]





tức vẫn còn, hơi rượu đã bay, cho nên cơ thể chàng phát huy khả năng chống độc. Số

[/align]





là chàng vẫn chưa tỉnh được ngay, chỉ vì trong lòng còn nhớ đến Kim Trục Lưu,

[/align]





Phong Diệu Thường kêu bên tai chàng, trong giấc chiêm bao chàng nghe được tiếng

[/align]





của người thân cho nên tỉnh dậy theo bản năng.

[/align]





Phong Diệu Thường nói: “Tôi là bằng hữu của Kim Trục Lưu, huynh cho tôi biết

[/align]





Kim Trục Lưu đang ở đâu, tôi sẽ mời y tới”.

[/align]





Lệ Nam Tinh dấy lên tia hy vọng, đáp nhỏ: “Tôi là huynh đệ kết bái với Kim

[/align]





Trục Lưu, y đang ở Dương Châu, cô nương cứ tìm đà chủ Lý Mậu của Cái Bang, lúc

[/align]





đó có thể biết được Kim Trục Lưu”.

[/align]





Phong Diệu Thường nói: “Được, tôi sẽ tìm cách thông báo cho Kim Trục Lưu.

[/align]





Người hãy nghỉ ngơi một lát”.

[/align]





Phong Diệu Thường đóng cửa khoang lại, kéo cha mình ra phía trước, thì thầm:

[/align]





“Giờ đây cha đã biết được y là ai, làm sao có thể giết y?”

[/align]





Phong Tử Siêu: “Y là huynh đệ của Kim Trục Lưu, ta càng phải giết y!”

[/align]





Phong Diệu Thường can: “Cha hãy nghĩ xem, chuyện khác y còn tha thứ, nhưng

[/align]





nếu cha giết nghĩa huynh của y thì dù có chạy đến chân trời góc biển cũng không

[/align]





thoát!”.

[/align]





Phong Tử Siêu nhớ lại Kim Trục Lưu có khinh công xuất thần nhập quỷ, bất giác

[/align]





cũng nổi da gà, nhưng cũng nói cùng rằng: “Ta giết y thì ai biết?”

[/align]





Phong Diệu Thường dọa: “Kim Trục Lưu chắc chắn sẽ điều tra tung tích của

[/align]





nghĩa huynh, lẽ nào gia đình ngư dân ấy không nói ra. Chỉ cần họ nhắc đến thanh bảo

[/align]





kiếm nặng trăm cân, Kim Trục Lưu sẽ truy ra đến tận ngọn ngành?”

[/align]





Phong Tử Siêu gằn giọng: “Ta hối hận không giết chết gia đình ngư dân ấy!”

[/align]





Thực ra y cũng nghĩ đến việc giết chết gia đình này, chỉ vì ở gần đó còn có nhiều

[/align]





thương thuyền, y sợ người ta thấy cho nên mới không dám.

[/align]





Phong Diệu Thường lại bảo: “Dù cha có giết chết gia đình ngư dân ấy cũng vô

[/align]





dụng?”

[/align]





“Tại sao?”

[/align]





“Bởi vì còn có người biết!”.

[/align]





“Ai?”

[/align]





“Con!”

[/align][/align]






“Con? Con muốn đối đầu với ta?”

[/align]





“Con không dám. Nhưng con đang nghĩ cho cha, cho nên phải khuyên cha cho

[/align]





bằng được!”

[/align]





Phong Tử Siêu hừ một tiếng: “Nói như thế con đúng là đứa hiếu tử! Ta thấy hình

[/align]





như con chỉ vì tên tiểu tử Tần Nguyên Hạo ấy! Kim Trục Lưu là bằng hữu của Tần

[/align]





Nguyên Hạo, người này là nghĩa huynh của Kim Trục Lưu, bây giờ con dứt tình máu

[/align]





mủ để giúp người ngoài!”

[/align]





Phong Diệu Thường đỏ mặt: “Cha, cha nói đi đâu thế. Con chỉ nói theo lý lẽ.

[/align]





Cha đã hứa là cải tà quy chính, lúc nãy cha giết người lái đò đã là không nên, nay làm

[/align]





sao có thể lại giết người nữa? Khoan nói y là nghĩa huynh của Kim Trục Lưu, cha giết

[/align]





y sẽ có hậu họa. Dầu không phải như thế cha cũng không thể làm chuyện thương

[/align]





thiên hại lý như thế nữa!”

[/align]





Phong Tử Siêu cười lạnh lẽo: “Dù sao trong mắt con ta cũng đã là kẻ chuyện ác

[/align]





gì cũng làm, giết thêm một người thì chẳng hề chi. Ta nhất định phải giết y, con định

[/align]





thế nào?”

[/align]





Phong Diệu Thường nói cứng: “Trừ phi cha cũng giết con, nếu không cũng chẳng

[/align]





bịt được miệng con?”

[/align]





Phong Tử Siêu đành chịu: “Được, ta không giết y, dù sao cũng cách Dương Châu

[/align]





không còn xa nữa, ta sẽ đưa y đến Dương Châu để Sử Bạch Đô giải quyết”.

[/align]





“Cha, cha nói thực cho con biết, cha muốn con đến Dương Châu gặp Sử Bạch Đô

[/align]





để làm gì?”

[/align]





“Chẳng phải cha đã nói với con từ trước rồi ư?”

[/align]





“Không, con biết cha đến Dương Châu không phải dò hỏi tin tức của Tần

[/align]





Nguyên Hạo”.

[/align]





“Chuyện của cha không cần con phải lo, Sử Bạch Đô là một đại anh hùng, người

[/align]





khác muốn gặp y đâu có dễ”. Phong Tử Siêu biết nếu nói sự thực con gái mình nhất

[/align]





định không nghe theo, chi bằng cứ đến Dương Châu rồi tính tiếp.

[/align]





Phong Diệu Thường đã nghĩ kỹ, nàng hờ hững: “Theo ý của con, cha đừng đi thì

[/align]





hơn”.

[/align]





Phong Tử Siêu nói: “Tại sao?”

[/align]





“Kim Trục Lưu đang ở Dương Châu, cha vừa đến y sẽ tìm cha tính sổ, cha nghĩ

[/align]





Kim Trục Lưu không làm gì được Sử Bạch Đô chẳng qua chỉ là giả thiết của cha mà

[/align]





thôi, vả lại làm sao cha biết Kim Trục Lưu không đánh bại Sử Bạch Đô? Nói không

[/align]





chừng lúc này cả Sử Bạch Đô cũng phải trốn Kim Trục Lưu? Vậy cha sẽ nhờ ai bảo

[/align]





vệ?”

[/align]





Thật ra lúc nãy Phong Tử Siêu nghe bảo Kim Trục Lưu đang ở Dương Châu cũng

[/align]





đã lo lắng không yên. Nhưng sau khi cân nhắc lợi hại lại không chịu bỏ cơ hội cầu

[/align]




cạnh Sử Bạch Đô. Thế rồi để tự lên dây cót cho mình, y nói cứng: “Quyết không có

[/align]





chuyện đó! Hiện nay Sử Bạch Đô là thiên hạ đệ nhất cao thủ, tên tiểu tử Kim Trục

[/align]





Lưu làm sao địch nổi y?”

[/align]





Nói chưa dứt, chợt thấy có một con thuyền lướt tới, trên đầu thuyền có cắm một

[/align]





lá cờ đen, trên cờ có thêu sáu cái đầu lâu, đó chính là dấu hiệu của Lục Hợp bang.

[/align]





Phong Tử Siêu mừng rỡ: “Thuyền của Lục Hợp bang đến”. Rồi liền chèo thuyền

[/align]





ra khỏi bãi lâu lách, lúc này thuyền của Lục Hợp bang cũng đã tới. Một tiểu đầu mục

[/align]





đồng trên đầu thuyền, may sao Phong Tử Siêu cũng quen y.

[/align]





 

[/align]





Chính là:

[/align]





Rồng vào nước cạn bị tôm đùa, Cọp xuống đồng bằng bị chó hiếp.

[/align]Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 30 sẽ rõ
[/align][/align][/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 00:41:25Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh
Hồi Thứ Ba Mươi 
[/align]
Mưa gió bão bùng giở độc thủ
Trăng thanh gió mát thấy lòng nhân.
[/align]

hong Tử Siêu gặp được thuyền của Lục Hợp bang vui mừng ra mặt. Tiểu đầu


[/align]





mục ấy cũng thấy y, lòng thầm lo: “Thật xui xẻo, khó khăn lắm mới thoát


[/align]





được, thế mà lại gặp phải người quen. Chắc gã này đến Dương Châu tìm bang chủ


[/align]





đây”. Tại sao y lại sợ gặp người quen? Té ra lúc đó y có ý muốn bỏ trốn khỏi Lục


[/align]





Hợp bang.


[/align]





Tiểu đầu mục này tên gọi Vương Cát, khi Lý Đôn còn ở Lục Hợp bang, y và Lý


[/align]





Đôn là bạn thân thiết, nghe Lý Đôn khuyên giải đã có ý định đổi tà theo chính. Hai


[/align]





năm nay, Sử Bạch Đô làm toàn chuyện ngang ngược, tuy chưa đến nỗi bị mọi người


[/align]





xa rời, nhưng ngày càng nhiều người trong bang bất mãn đối với y, Vương Cát vì đã


[/align]





sớm giác ngộ cho nên đang mong muốn thoát khỏi sự khống chế của Sử Bạch Đô, chỉ


[/align]





ngặt vì không có cơ hội mà thôi.


[/align]





Lần này Sử Bạch Đô vì muốn tìm lại thanh huyền thiết bảo kiếm cho nên phái


[/align]





mười mấy chiếc thuyền xuôi theo dòng sông, mong có thể tìm ra thi thể của Lệ Nam


[/align]





Tinh để tìm thanh bảo kiếm dưới dòng sông. Dương Châu nằm ở bờ bắc sông Trường


[/align]





Giang, lại là nơi giao thoa giữa Trưởng Giang và Vận Hà, đường thủy ngang dọc,


[/align]





thuyền lớn không dễ tìm kiếm, cho nên chỉ phái loại thuyền nhẹ do một người cầm


[/align]





lái.


[/align]





Vương Cát là một trong số đó. Vương Cát vốn xuất phát cùng một chiếc thuyền


[/align]





khác, y lợi dụng sông rạch chằng chịt, một mình chèo thuyền bỏ đi, lúc này đã cách


[/align]





Dương Châu sáu bảy dặm, đã ra khỏi phạm vi thế lực của Lục Hợp bang. Chỉ cần đi


[/align]





thêm năm mươi dặm đường thủy nữa thì ra đến cửa biển, lúc đó đã an toàn.


[/align]





Nhưng không ngờ lại gặp Phong Tử Siêu ở đây, Vương Cát muốn nấp vào trong


[/align]





thuyền, chợt nghe Phong Tử Siêu kêu toáng lên: “Lão Vương, còn nhận ra ta không?


[/align]





Ta là Phong Tử Siêu đây!”


[/align]





Vương Cát nhíu mày, nảy ra một ý, bèn chèo thuyền đến gần, cười ha hả: “Té ra


[/align]





là Phong đại nhân, ngọn gió nào đã thổi ông đến đây?”


[/align]





Phong Diệu Thường không muốn gặp mặt người của Lục Hợp bang nên chui vào


[/align]





trong khoang canh chừng Lệ Nam Tinh. Phong Tử Siêu nói: “Ta đến đây để gặp bang


[/align]





chủ các người. Sử bang chủ có mạnh giỏi không? Hiếm có dịp gặp nhau, xin mời hãy


[/align]





sang đây trò chuyện!”


[/align]





Vương Cát đáp: “Tôi phải qua bờ bắc có việc, cứ đứng đây nói một lát cũng


[/align]





được. Này, Phong đại nhân, ông đến thật đúng lúc, bang chủ của chúng tôi không


[/align]







mạnh giỏi tý nào!”


[/align]





Phong Tử Siêu thất kinh, vội vàng hỏi: “Đã xảy ra chuyện gì?”


[/align]





“Nói ra thật hổ thẹn, tối hôm qua tổng đà Lục Hợp bang chúng tôi đã xảy ra


[/align]





chuyện long trời lở đất, bang chủ của chúng tôi cũng bị thương!”


[/align]





Phong Tử Siêu cả kinh: “Quý bang oai trấn giang hồ, ai dám lớn gan đối đầu với


[/align]





các người?”


[/align]





“Đó chính là bọn Cái Bang, bọn chúng nói bổn bang đầu hàng triều đình, cấu kết


[/align]





với quan binh cho nên thề phải diệt trừ chúng tôi!”


[/align]





“Đà chủ của Cái Bang ở Dương Châu có phải là Lý Mậu không? Bản lĩnh của y


[/align]





kém xa Sử bang chủ, chả lẽ lão ăn mày già Trọng Trường Thống đã tới?” Vương Cát


[/align]





lắc đầu, Phong Tử Siêu hỏi: “Vậy ai có bản lĩnh đả thương Sử Bạch Đô?”


[/align]





Vương Cát đáp: “ăn mày già thì không tới, nhưng lại có một ăn mày con. Bản


[/align]





lĩnh của ăn mày con này rất lợi hại, Tứ đại hương chủ trong bang chúng tôi đều thua


[/align]





trong tay y, đêm qua cả bang chủ của chúng tôi cũng bị thương!”


[/align]





Phong Tử Siêu nghe Vương Cát nói biết liền người đó là ai, nhưng vẫn hỏi: “Y là


[/align]





ai? Cái Bang có nhân vật nào như thế?”


[/align]





Vương Cát đáp: “Người này không phải là đệ tử Cái Bang, nhưng lại thích cải


[/align]





trang thành kẻ ăn mày. Phong đại nhân, nghe nói khi ông và Văn đại nhân đến nhà


[/align]





Giang Hải Thiên, Văn đại nhân cũng bại trong tay tên ăn mày này, ông có biết y là ai


[/align]





không?”


[/align]





Phong Tử Siêu kêu lên lạc giọng: “Là Kim Trục Lưu? Sao Sử bang chủ có thể


[/align]





bại trong tay y, thật khiến người ta không dám tin!” Thực ra y đã tin chắc điều này.


[/align]





“Đúng thế, đó chính là Kim Trục Lưu! Ông đừng coi thường y, y tuy tuổi còn trẻ


[/align]





nhưng nội công thâm hậu, đã đến mức đăng phong tạo cực, bang chủ của chúng tôi


[/align]





chạm một chưởng với y, lúc đó không có chuyên gì, nhưng khi về đến nhà lại nôn ra


[/align]





một bát máu, té ra ông ta không muốn mất mặt trước đám đông cho nên cố gượng lại.


[/align]





Xem ra có lẽ phải chữa trị đến một năm!”


[/align]





Thực ra Sử Bạch Đô chỉ bị thương bởi phấn độc của Thạch Hà Cô, vết thương đã


[/align]





khỏi từ lâu. Vương Cát nói một hồi đã thổi phồng sự lợi hại của Kim Trục Lưu, có ý


[/align]





muốn hù dọa Phong Tử Siêu.


[/align]





Phong Tử Siêu nghe thế thầm than trong lòng: “Hỏng bét, hỏng bét! Mình tưởng


[/align]





rằng có thể dựa dẫm vào quả núi Sử Bạch Đô, nào ngờ quả núi này cũng bị người ta


[/align]





xô đổ! Tên tiểu tử Kim Trục Lưu quả nhiên đang ở Dương Châu, lại còn liên thủ với


[/align]





Cái Bang, mình mà đến đấy chẳng phải đã tự chui đầu vào lưới hay sao?”


[/align]





Vương Cát lại dọa thêm: “Bang chủ nằm trên giường bệnh, lo Cái Bang và tên


[/align]





tiểu tử họ Kim ấy lại tấn công nữa cho nên cầu viện khắp nơi. Tôi phụng lệnh bang


[/align]





chủ qua sông mời cứu binh. Phong đại nhân, nên tôi nói ông đến thật đúng lúc, lúc






hoạn nạn mới thấy chân tình, lần này ông phải giúp bang chủ chúng tôi một tay. Thôi,


[/align]





tôi đi mời cứu binh đây!”


[/align]





Phong Tử Siêu đứng một mình trước đầu thuyền, thẫn thờ nhìn theo bóng con


[/align]





thuyền của Vương Cát. Y nào biết lúc đó Vương Cát đang cười thầm: “Xem thử nhà


[/align]





ngươi có dám tới Dương Châu cùng chia hoạn nạn với Sử Bạch Đô hay không?” Số là


[/align]





Vương Cát sợ y gặp Sử Bạch Đô, tiết lộ bí mật bỏ trốn của mình. Tuy bí mật này sớm


[/align]





muộn cũng bị phanh phui, nhưng dù sao muộn cũng còn tốt hơn sớm.


[/align]





Lại nói sau khi Lệ Nam Tinh tỉnh dậy ngồi xếp bằng, văn huyền công tụ chân


[/align]





khí lại. Nhưng chẳng qua chỉ tạm thời chống độc mà thôi, nếu muốn giải độc phải


[/align]





dùng phương pháp kim châm bạt độc, có điều phải có người khác châm cho chàng.


[/align]





Phong Diệu Thường bước vào, cười bảo: “Khí sắc của người đã tốt hơn”. Lệ


[/align]





Nam Tinh hỏi: “Cô nương có đá nam châm không?” Phong Diệu Thường đáp: “Người


[/align]





muốn dùng đá nam châm hút ám khí phải không? Được, tôi sẽ giúp người”.


[/align]





Lệ Nam Tinh ngần ngại: “Hay là nhờ cha của cô nương cũng được”. Phong Diệu


[/align]





Thường mỉm cười: “Cha tôi gặp một người bằng hữu, đang nói chuyện với người ấy.


[/align]





Chúng ta là người đi trên giang hồ, chả lẽ người còn ái ngại chuyện nam nữ?”


[/align]





Phong Diệu Thường lấy ra một viên đá nam châm, hỏi: “Bị thương ở đâu?”


[/align]





Lệ Nam Tinh xoay người nằm ngửa ra: “Cách một thốn phía dưới xương tỳ bà


[/align]





trên vai trái, cô nương cắt bỏ thịt đã bị thối rữa rồi hút độc châm ra”. Phong Diệu


[/align]





Thường đáp: “Tôi biết”. Rồi xé áo chàng, chỉ thấy xung quanh vết thương đã sưng


[/align]





đen kịt, Phong Diệu Thường thất kinh: “Loại độc châm này thật lợi hại!” Rồi thử đè ở


[/align]





xung quanh, hỏi: “Có đau không?” Lệ Nam Tinh đáp: “Đừng ngại, cứ cắt đi”.


[/align]





Phong Diệu Thường cắt hết thịt thối rữa xung quanh, nặn máu độc ra hơn một


[/align]





chén trà rồi dùng đá nam châm hút độc châm, Lệ Nam Tinh chẳng hề rên một tiếng.


[/align]





Phong Diệu Thường rất khâm phục, thầm nhủ: “Không hổ là nghĩa huynh của Kim


[/align]





Trục Lưu, xem ra công lực của y chẳng kém gì Kim Trục Lưu”.


[/align]





Phong Diệu Thường lau mồ hôi, vừa rồi nàng chú ý lấy độc châm cho Lệ Nam


[/align]





Tinh cho nên không để ý đến bên ngoài. Lúc này nàng mới bắt đầu lắng nghe, vừa


[/align]





đến đoạn Vương Cát nói Sử Bạch Đô bị Kim Trục Lưu đánh bại, nàng không khỏi cả


[/align]





mừng.


[/align]





Chỉ thấy Lệ Nam Tinh nhắm mắt cúi đầu, tựa như đang dưỡng thần, Phong Diệu


[/align]





Thường không dám kinh động chàng, chỉ giấu nỗi vui mừng trong lòng, một lát sau,


[/align]





Lệ Nam Tinh mở mắt hỏi: “Cô nương có ngân châm châm cứu hay không?”


[/align]





Phong Diệu Thường đáp: “Chỉ có kim may đồ”.


[/align]





“Tôi dùng ngân châm lấy chất độc, kim may đồ không được”. “Vậy phải làm thế


[/align]





nào?” Chợt nàng cảm thấy tựa như ánh mắt của Lệ Nam Tinh hướng lên đầu mình,


[/align]





Phong Diệu Thường rút cây ngân châm trên đầu ra, hỏi: “Dùng cái này được không?”


[/align]





Lệ Nam Tinh gật đầu: “Có thể dùng được, nhưng...” Phong Diệu Thường đã đoán


[/align]





được ý chàng, cười: “Có thể là được, người hãy chỉ cách tôi làm thế nào”.


[/align]





Lệ Nam Tinh lắng tai nghe rồi bảo: “Hình như người bằng hữu của cha cô nương


[/align]





đã đi”. Té ra muốn dùng kim châm bạt độc thì Lệ Nam Tinh phải cởi áo để cho nàng


[/align]





đâm vào bảy huyệt đạo có liên quan, lại phải vén ống quần lên để nàng đâm vào hai


[/align]





huyệt hoàn khiêu ở hai đầu gối. Tuy nói trên giang hồ không nghĩ đến chuyện nam


[/align]





nữ, nhưng như thế cũng hơi bất nhã.


[/align]





Chợt nghe một tiếng ho vọng tới, Phong Tử Siêu đẩy cửa bước vào, lớn: “Chúc


[/align]





mừng, chúc mừng, người đã khỏe hẳn. Có phải người đang muốn dùng kim châm bạt


[/align]





độc?” Lệ Nam Tinh nghe y nói kim châm bạt độc thì biết y ít nhiều cũng có hiểu biết,


[/align]





vui mừng gật đầu: “Đúng thế. Không biết lão gia...” Phong Tử Siêu nói: “Được, tôi sẽ


[/align]





giúp người!”


[/align]





Phong Diệu Thường chợt gọi: “Cha, không được!” Phong Tử Siêu ngạc nhiên


[/align]





hỏi: “ Sao mà không được?” Phong Diệu Thường: “Cha đã quên rồi sao? Tay phải


[/align]





của cha bị bệnh phong thấp, lúc căng thẳng thì sẽ hơi run. Chi bằng cứ để con!”


[/align]





Phong Tử Siêu khựng người, nghĩ bụng: “Mình bị bệnh này từ lúc nào?” Rồi chợt


[/align]





hiểu ra: “Đúng, ả nha đầu này sợ mình hại tên tiểu tử”.


[/align]





Đương nhiên Phong Tử Siêu chẳng tốt lành gì với Lệ Nam Tinh, nhưng vẫn còn


[/align]





do dự chưa quyết định có nên hạ độc thủ hay không. Một là y sợ Kim Trục Lưu sẽ đến


[/align]





tìm mình tính sổ. Hai là y cũng biết con gái của mình chắc chắn không chịu. Giờ đây


[/align]





Phong Diệu Thường nói như thế, Lệ Nam Tinh không hiểu, nhưng y hiểu, nên càng


[/align]





khó hạ thủ hơn. Vì thế Phong Tử Siêu cười ha hả: “Con không nói suýt nữa ta quên.


[/align]





Được, con cứ chữa trị cho Lệ công tử. Ta ra ngoài đây”.


[/align]





Lệ Nam Tinh dạy nàng cách dùng kim châm bạt độc, Phong Diệu Thường rất


[/align]





lanh trí khéo tay vừa học đã hiểu. Thế rồi Lệ Nam Tinh cởi áo để cho nàng dùng ngân


[/align]





châm đâm vào huyệt.


[/align]





Đâm vào huyệt rút độc phải tập trung tinh thần, không thể sai sót bất cứ điều gì.


[/align]





Phong Diệu Thường tuy đã học được cách dùng kim châm bạt độc, sau khi đã đâm


[/align]





vào bảy huyệt đạo trên người và hai huyệt hoàn khiêu dưới chân của Lệ Nam Tinh,


[/align]





nàng cũng mệt đến nỗi toát mồ hôi đầm đìa.


[/align]





Phong Diệu Thường nghỉ ngơi một hồi, đợi Lệ Nam Tinh mặc áo vào rồi mới


[/align]





hỏi: “Cha tôi nói chuyện với một người bằng hữu, người có nghe không?”.


[/align]





Lệ Nam Tinh đáp: “Không nghe có tin tức gì không?” Té ra Lệ Nam Tinh đang


[/align]





vận công chống độc chàng không hề để ý đến âm thanh ở bên ngoài.


[/align]





Phong Diệu Thường đang định báo tin vui cho chàng chợt Phong Tử Siêu lại


[/align]





bước vào: “Ta muốn nói với Lệ công tử, chúng ta không thế đến Dương Châu”.


[/align]





Lệ Nam Tinh hỏi: “Tại sao?” Phong Tử Siêu đáp: “Kim Trục Lưu đã đánh một


[/align]





trận với Sử Bạch Đô ở Dương Châu, hai bên đều bị thương tuy Kim Trục Lưu được


[/align]





Cái Bang giúp đỡ, nhưng thế lực của Lục Hợp bang vẫn rất lớn mạnh. Nghe nói Cái


[/align]





Bang đã chạy ra khỏi Dương Châu, Kim Trục Lưu cũng đã chạy từ lâu. Cho nên tôi


[/align]





nghĩ chi bằng sẽ đưa người đến Kim Lăng. Ở đó cũng có phân đà của Cái Bang, lớn


[/align]





mạnh hơn ở Dương Châu nhiều, ở Kim Lăng người sẽ dễ dàng biết tin của Kim Trục


[/align]





Lưu. Người nói có phải không?”


[/align]





Phong Tử Siêu bịa ra câu chuyện ấy, vô tình phù hợp với sự thực. Đêm qua Lệ


[/align]





Nam Tinh thấy Kim Trục Lưu bị vây đánh, nên không hề nghi ngờ lời của y.


[/align]





Phong Diệu Thường không biết Vương Cát đã nói dối, chỉ nghĩ cha mình bịa đặt,


[/align]





trong bụng rất không vui.


[/align]





Lệ Nam Tinh nói: “Đa tạ ân công tương cứu, tất cả đều nhờ ân công làm chủ. À,


[/align]





tôi vẫn chưa hỏi tôn tính đại danh của ân công?”


[/align]





Phong Tử Siêu sợ Kim Trục Lưu đã từng nói tên của mình, bịa ra một cái tên giả


[/align]





rồi nói: “Người cứ ở trong thuyền của tôi, không cần lo lắng, tôi sẽ đưa người đến


[/align]





Kim Lăng. Thường nhi, chúng ta hãy ra ngoài, con hãy làm chút đồ ăn cho Lệ công


[/align]





tử”.


[/align]





Phong Diệu Thường nghĩ ngợi, cảm thấy nếu vạch trần những lời nói dối của cha


[/align]





mình trước mặt Lệ Nam Tinh thì không hay, vì thế theo y ra ngoài. Ra tới khoang


[/align]





trước, Phong Diệu Thường hạ giọng hỏi: “Cha, tại sao cha lại nói dối?”


[/align]





Phong Tử Siêu cười: “Con không muốn gặp Sử Bạch Đô kia mà? Bây giờ không


[/align]





đi Dương Châu chẳng phải đã hợp ý con rồi sao?”


[/align]





Phong Diệu Thường tuy tin Sử Bạch Đô đã bị thương, nhưng rốt cuộc y vẫn còn


[/align]





sống, nên nàng sợ đến Dương Châu sẽ gặp phiền phức, nhưng cố nói: “Cha, cha đến


[/align]





Kim Lăng cũng được, nhưng cha không được ám hại người ta!”


[/align]





Phong Tử Siêu đáp: “Nha đầu ngốc, đây là cơ hội ta lấy lòng Kim Trục Lưu, đợi


[/align]





gã họ Lệ ấy khỏe hẳn, ta sẽ nhờ y nói tốt trước mặt Kim Trục Lưu, làm sao có thể hại


[/align]





y?”


[/align]





Phong Diệu Thường nghe cha mình nói như thế, chỉ nghĩ Phong Tử Siêu có thành


[/align]





ý, mừng rờ: “Cha, nếu thế thì tốt. Nhưng sao lúc nãy cha không cho y biết tên thật?”


[/align]





“Y vừa mới bệnh chưa khỏi, cho y biết sợ y sẽ nghi ngờ. Đến khi y khỏe hẳn, ta


[/align]





nói cũng không muộn”.


[/align]





Phong Diệu Thường nghe cũng có lý nên rất yên tâm, liền làm cơm cho Lệ Nam


[/align]





Tinh.


[/align]





Lệ Nam Tinh ngầm vận huyền công, ngưng tụ chân lực, qua một canh giờ tinh


[/align]





thần lại hồi phục thêm mấy phần. Nhưng cơ thể vẫn còn hư nhược, sức vẫn còn yếu.


[/align]





Phong Diệu Thường nấu xong một nồi cháo, làm vài món ăn thì trời đã về chiều,


[/align]





ba người cùng dùng bữa tối trong khoang của Lệ Nam Tinh.


[/align]





Lệ Nam Tinh ăn no nê, co duỗi tay chân rồi cười: “Phùng lão gia, ông lái thuyền


[/align]





rất giỏi! Lúc nãy qua một đoạn chảy siết tôi rất lo cho ông”. Phong Tử Siêu bảo mình






họ Phùng nên Lệ Nam Tinh gọi y là Phùng lão gia.


[/align]





Thuở còn trẻ Phong Tử Siêu đã từng vùng vẫy ở hai đường sông nước, vẫn còn


[/align]





nhớ cách lái thuyền, nhưng không tinh thông như trước, nghe Lệ Nam Tinh khen như


[/align]





thế thì biết chàng cũng là một người trong nghề, lòng thầm thất kinh.


[/align]





Lệ Nam Tinh nói: “Chất độc không còn trong người tôi nữa, xem ra ngày mai tôi


[/align]





có thể cầm lái cho người”.


[/align]





Phong Tử Siêu can: “Đừng gấp, người hãy nghỉ thêm vài ngày”.


[/align]





Lệ Nam Tinh mỉm cười: “Để tôi thử xem sao”. Rồi cầm cây huyền thiết bảo


[/align]





kiếm lên. Tuy chàng nhấc thanh kiếm lên được nhưng cũng hơi đuối sức, Phong Diệu


[/align]





Thường nói: “Hãy mau đặt xuống”.


[/align]





Lệ Nam Tinh đặt thanh kiếm xuống rồi cười: “Không có sức dùng thanh kiếm


[/align]





này nhưng vẫn còn sức cầm bánh lái”.


[/align]





Phong Tử Siêu vừa lo vừa mừng, thầm nhủ: “Tên tiểu tử này khỏe nhanh như


[/align]





thế, thêm hai ngày nữa e rằng mình không phải là đối thủ của y. Nếu muốn trừ y thì


[/align]





phải làm cho sớm. Nhưng không biết có nên hại y hay không? Làm sao giấu được ả


[/align]





nha đầu này?”


[/align]





Dùng cơm tối xong, Phong Diệu Thường nhường khoang cho Lệ Nam Tinh, nàng


[/align]





cùng cha ra phía khoang trước.


[/align]





Phong Tử Siêu lăn qua trở lại, lòng thầm tính toán: “Có giết Lệ Nam Tinh


[/align]





không? Làm thế nào mới có lợi hơn cho mình?”


[/align]





Không giết Lệ Nam Tinh đương nhiên là sẽ lấy lòng được Kim Trục Lưu, sau


[/align]





này Kim Trục Lưu không những không gây phiền phức cho mình mà sẽ còn cảm kích


[/align]





mình. Nhưng như thế thì phải đi chung dường với Kim Trục Lưu, chừng nào mới ngóc


[/align]





đầu lên nổi”.


[/align]





Phong Tử Siêu nhớ lại thanh bảo kiếm, thầm tính toán: “Mình không giết tên


[/align]





tiểu tử ấy, y sẽ cầm cây huyền thiết bảo kiếm đi. Vật hiếm có như thế đã cầm trong


[/align]





tay rồi lại đánh mất, chẳng phải đáng tiếc hay sao?”


[/align]





Phong Tử Siêu chợt nảy ra một ý: “Đúng rồi, Sử Bạch Đô vốn muốn tặng thanh


[/align]





kiếm này cho Tát tổng quản, nay Sử Bạch Đô khó giữ mạng, mình đương nhiên không


[/align]





thể trả kiếm cho y. Nhưng mình có thể đoạt thanh kiếm này để tự tặng cho Tát tổng


[/align]





quản”. Phong Tử Siêu nghĩ như thế nên sát cơ nổi lên. Y chỉ còn lo một điều là làm


[/align]





thế nào mới giấu được Phong Diệu Thường.


[/align]





Phong Tử Siêu lại nghĩ: “Nếu tên tiểu tử này còn hôn mê, mình sẽ có cơ hội hạ


[/align]





độc thủ!” Nghĩ đến đây thì chợt nảy ra một chủ ý.


[/align]





Phong Tử Siêu ngồi dậy để thử xem con gái có còn thức hay không, vừa mới ngồi


[/align]





dậy quả nhiên nghe Phong Diệu Thường hỏi: “Cha, cha chưa ngủ sao?”


[/align]





Phong Tử Siêu đáp: “Cha muốn uống chén trà. Con hãy ngủ trước”. Trong bụng


[/align]





nghĩ: “Con nha đầu đang đề phòng mình, được, ta xem thử ngươi chịu được mấy lúc?”


[/align]





Phong Tử Siêu uống trà rồi nằm xuống ngủ. Một hồi nữa, y giả vờ ngay lên kho


[/align]





kho.


[/align]





Ban ngày Phong Diệu Thường đã nhọc sức, nghe cha mình ngáy lớn như thế,


[/align]





Phong Diệu Thường bất giác lơi lỏng tinh thần, không lâu sau cũng ngủ thiếp.


[/align]





Phong Tử Siêu thì thầm kêu: “Thường nhi, Thường nhi!” Y không nghe nàng trả


[/align]





lời, trong lòng thầm mừng, rồi liền ngồi đậy, trong tay cầm một vật, dò dẫm bước về


[/align]





khoang trước.


[/align]





Trong tay y cầm một cái ống thổi, trong ống thổi chứa kê minh ngũ cổ phản hồn


[/align]





hương. Phong Tử Siêu vốn không phải là người giỏi dùng độc, nhưng đây là loại mê


[/align]





hương thường dùng nhất trên giang hồ, Phong Tử Siêu xuất thân từ hắc đạo nên vẫn


[/align]





mang theo kê minh ngũ cổ phản hồn hương.


[/align]





Loại mê hương này rất bình thường, nhưng sau khi hít vào thì phải đến trời sáng


[/align]





mới tỉnh nên gọi là kê minh ngũ cổ phản hồn hương.


[/align]





Phong Tử Siêu ngậm thuốc giải trong mồm, đốt mê hương, thọc ống thổi vào khe


[/align]





cửa rồi thổi mê hương vào trong khoang của Lệ Nam Tinh.


[/align]





Y định sau khi Lệ Nam Tinh đã hôn mê thì ra tay điểm vào tử huyệt của chàng.


[/align]





Như thế có thể giết Lệ Nam Tinh mà không để lại dấu vết. Phong Tử Siêu tuy tính


[/align]





như thế nhưng y không ngờ rằng Lệ Nam Tinh là một người giỏi sử dụng độc. Tuy


[/align]





chàng chưa bao giờ dùng thuốc độc nhưng lại nghiên cứu rất sâu đối với các loại độc.


[/align]





Lệ Nam Tinh đang mơ màng chợt ngửi có một luồng hương thơm thổi vào, chàng trở


[/align]





nên tỉnh táo hơn, lấy làm ngạc nhiên: “Ai lên thuyền ám toán mình?” Đương nhiên


[/align]





chàng nằm mơ cũng không ngờ rằng người đó chính là Phong Tử Siêu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 00:57:55Hoàng Dung>
Lệ Nam Tinh sợ lên tiếng thì kẻ này sẽ nhảy xuống nước, chàng vừa mới khỏe lại, tuy giỏi bơi lội nhưng cũng khó bắt hung đồ. Vì thế cứ nằm yên giả như mình đã hôn mê.
Phong Tử Siêu thổi một hồi đã hết mê hương, thấy bên trong chẳng có động tĩnh gì, trong lòng thầm mừng: “Được, mình sẽ vào làm cho tên tiểu tử này trở thành con ma hồ đồ?”
Phong Tử Siêu rón rén bước vào, sờ vào người Lệ Nam Tinh, đang định tìm tử huyệt thì đột nhiên cảm thấy be sườn tê rần, muốn kêu cũng không ra tiếng, lập tức ngã vật xuống.
Lẽ ra Lệ Nam Tinh lúc này không dễ đắc thủ như thế. Đó là bởi vì Phong Tử Siêu tưởng Lệ Nam Tinh đã hôn mê nên không hề phòng bị, giả sử y cầm theo binh khí còn có thể chiếm thượng phong. Nhung y lại sợ con gái mình phát hiện nên thành thử không hại người được mà người hại mình.
Lệ Nam Tinh ngồi dậy, cười lạnh lẽo: “Ngươi chỉ là tên tiểu tặc mà cũng dám dùng mê hương hại ta. Được, ta sẽ từ từ hành hạ ngươi”. Phong Tử Siêu vẫn còn tỉnh táo, nhưng trong người cảm thấy có vô số cây kim đâm vào lục phủ ngũ tạng của mình, đau đớn nhưng muốn kêu cũng không ra tiếng.
Lệ Nam Tinh vừa đánh đá lửa châm đèn vừa kêu lên: “Phùng lão gia, tôi bắt được một tên tiểu tặc, ồ, ông... sao lại là ông?” Đèn vừa sáng, Lệ Nam Tinh đã nhìn rõ tên tiểu tặc ấy chính là “Phùng lão gia” cho nên bất giác ngẩn người ra.
Lệ Nam Tinh ngạc nhiên kêu lên: “Phùng lão gia, ông đã cứu tôi tại sao còn hại tôi?”
Phong Tử Siêu mở to cặp mắt, cổ họng kêu lên khèn khẹc, trong bụng muốn biện giải cho mình nhưng không nói thành tiếng được.
Lệ Nam Tinh chợt hiểu ra, đang định giải huyệt đạo cho Phong Tử Siêu, chợt nghe có một giọng nói kêu thét lên: “Lệ công tử, hãy nương tay!” Té ra Phong Diệu Thường đã thức đậy, thay đồ chạy đến đây, vừa thấy Lệ Nam Tinh giơ tay vỗ xuống người cha mình, nàng tưởng Lệ Nam Tinh lấy mạng y.
Lệ Nam Tinh chột dạ, thầm nhủ: “Đúng, đợi mình hỏi sự thực rồi giải huyệt đạo cho y. Nay võ công của mình vẫn chưa hồi phục, cẩn thận vẫn hơn”. Thế rồi chàng rút tay về, nói: “Phùng cô nương, cô đến thật đúng lúc, tôi muốn hỏi cô nương chuyện này!”
Phong Diệu Thường cố kìm nước mắt: “Cha tôi đã làm ra chuyện như thế này, tôi thật sự không còn mặt mũi nào cầu xin công tử...”
Lệ Nam Tinh thất kinh: “Như thế cha của cô nương đã có ý hại tôi từ trước? Phùng cô nương, tại sao thế?”
Phong Diệu Thường đáp: “Tôi không phải họ Phùng mà là họ Phong. Tôi tên Phong Diệu Thường, cha tôi tên Phong Tử Siêu. Công tử có nghe nói đến tên của cha con tôi chưa?”
Lệ Nam Tinh đa từng nghe Kim Trục Lưu kể chuyện. Phong Diệu Thường và Tần Nguyên Hạo, lập tức vỡ lẽ ra, kêu lên: “Ồ, té ra đây là Phong cô nương”. Không đợi Phong Diệu Thường giải thích, chàng đã hiểu được mấy phần nên giải huyệt đạo cho Phong Tử Siêu rồi bảo: “Kim Trục Lưu đã kể chuyện của ông cho tôi biết, lần trước y tha ông, vốn muốn ông thay đổi, nào ngờ ông lại không biết hối hận. Tại sao ông hại tôi?”
Phong Tử Siêu đỏ mặt, cố cãi: “Lệ công tử, tôi vốn không muốn hại mạng người, tôi chỉ định xông thuốc mê rồi ném ngài lên bờ. Bởi vì tôi sợ Lục Hợp bang gây phiền phức cho tôi”.
Lệ Nam Tinh không già dặn việc đời, nghe Phong Tử Siêu nói như thế cũng cảm thấy có lý. Chàng mới nói: “Ta vốn không muốn liên lụy ông, nhưng giờ đây đành phải mượn con thuyền của ông, có phải ông còn muốn hại ta không?”
Phong Tử Siêu cúi đầu: “Tôi rất hối hận. Nhưng giờ đây đã nghĩ thông, cứu người thì phải cứu đến cùng, dù có chút rủi ro cũng chẳng sá gì. Lệ công tử người hãy thứ lỗi cho tôi”.
Lệ Nam Tinh hỏi: “Nếu kẻ thù của tôi đuổi đến, ông có ám toán tôi không?”
Phong Tử Siêu quỳ xuống, ngẩng đầu nhìn trời thề: “Nếu có lòng khác tôi sẽ chết không toàn thây”.
Phong Diệu Thường không muốn nhìn thấy cảnh ấy, nàng quay mặt đi: “Cha, mong cha thật sự hối hận, từ rày về sau nên làm người tốt. Nếu không làm nhiều chuyện bất nghĩa sẽ tự chôn mình, Kim đại hiệp đã tha cho cha, Lệ công tử cũng tha cho cha, nếu lần thứ ba gặp phải người khác thì chưa chắc cha thoát chết”. Phong Diệu Thường đang rối bời trong lòng, nàng biết cha mình nói dối nhưng không muốn vạch trần trước mặt Lệ Nam Tinh. Nàng chỉ đành vừa khéo léo khuyên cha mình, vừa nhắc nhở Lệ Nam Tinh không nên hoàn toàn tin.
Đương nhiên Lệ Nam Tinh không hoàn toàn tin Phong Tử Siêu, những chàng đã quyết định không giết y, đương nhiên cũng chẳng thèm làm khó y.
Chàng thầm nhủ: “Công lực của mình tuy chưa hồi phục nhưng cũng chỉ cần vài ngày nữa. Trong vòng ba ngày, công lực có thể hồi phục được tám phần. Võ công của Phong Tử Siêu tầm thường, đã bị mình điểm huyệt rất nặng tay, ít nhất ba ngày sau mới hồi phục nguyên khí. Dù y có lòng khác mình cũng chẳng sợ. Huống chi có con gái y kềm chế y”.
Chàng nghĩ như thế cho nên bình tĩnh nói với Phong Tử Siêu: “Còn ba ngày nữa sẽ đến Kim Lăng, đến Kim Lăng ta sẽ ra đi, quyết không liên lụy đến ông”.
Phong Tử Siêu giả vờ cảm kích: “Lệ công tử nghĩ cho chúng tôi, tôi thật lấy làm cảm động”.
Thế rồi trận phong ba đã qua, Phong Diệu Thường và cha trở về khoang trước, Lệ Nam Tinh cũng yên tâm nằm ngủ.
Sáng sớm hôm sau mọi người tiếp tục lên đường, Lệ Nam Tinh và Phong Tứ Siêu thay phiên nhau cầm bánh lái. Chẳng ai nhắc đến chuyện đêm qua nữa. Phong Tử Siêu thì tỏ ra rất cung kính, một ngày bình an trôi qua, không có chuyện gì xảy ra.
Đến trưa ngày thứ ba thì đã vào đến Nội Hà, Phong Tử Siêu đang cầm bánh lái, chợt thấy trên bờ có người phóng ngựa tới, Phong Diệu Thường không để ý, nhưng Phong Tử Siêu đã nhận ra kẻ ấy chính là Văn Thắng Trung.
Phong Tử Siêu vui mừng, nhưng vẫn giữ bình thản: “Lệ công tử, làm phiền côngtử cầm lái cho tôi một lát”. Vốn là Phong Tử Siêu cầm lái chưa được bao lâu, chưa đến lượt Lệ Nam Tinh nhưng chàng không hề nghi ngờ, chỉ tưởng y tuổi già sức yếu cho nên muốn đổi sớm với mình, do vậy thản nhiên cầm lấy bánh lái.
Phong Tử Siêu trao bánh lái, rồi đột nhiên. xỉa một chỉ nhanh như chớp vào be sườn Lệ Nam Tinh. Lệ Nam Tinh vừa mới nhận lấy bánh lái, nằm mơ cũng không ngờ Phong Tử Siêu lại ám toán mình? Chàng không kịp đề phòng chỉ thấy be sườn đau nhói, cây thiếc huyền kiếm đã bị y đoạt lấy. Nhưng Phong Tử Siêu muốn điểm huyệt đạo của Lệ Nam Tinh cũng không thể đắc thủ.
Phong Tử Siêu giật được thanh kiếm, lập tức cao giọng kêu: “Văn thế huynh, đến đây mau, đến đây mau?” Văn Thắng Trung đang phụng lệnh Sử Bạch Đô đi ngược dòng tìm Lệ Nam Tinh, nghe Phong Tử Siêu gọi vội vàng phóng ngựa trở lại, vừa thấy Phong Diệu Thường và Lệ Nam Tinh ở trên thuyền, bất đồ lòng hoa nở rộ, vội vàng kêu: “Phong tiền bối, ông hãy mau lái thuyền cặp vào bờ, tôi sẽ giúp ông!”
Lệ Nam Tinh cả giận, cầm cây dầm quát: “Sao lại có lẽ này, ngươi có còn là người không? Mau trả kiếm lại cho ta, nếu không đừng trách ta không khách sáo?”
Phong Tử Siêu cười lạnh: “Có bản lĩnh cứ đến lấy!” Nói thì muộn, sự việc diễn ra rất nhanh, bảo kiếm đã rút ra khỏi vỏ vẽ thành một đường vòng cung chém về phía Lệ Nam Tinh.
Lệ Nam Tinh giơ cây dầm đánh ra một chiêu Thần long nhập hải, đâm vào bụng của đối phương. Nhưng đây là cây dầm bằng gỗ, làm sao có thể địch lại cây huyền thiết bảo kiếm, chỉ nghe soạt một tiếng, cây dầm đã bị chặt mất một khúc.
Lệ Nam Tinh lắc người, không lùi mà tiến tới, nửa cây dầm trong tay múa tít như con linh xà, lúc điểm tới lúc rút về, lúc đâm sang bên trái lúc đâm sang bên phải, tấn công vào bảy đại huyệt trên mình Phong Tử Siêu, đó chính là Truy phong kiếm thức, Phong Tử Siêu đã từng thấy, chỉ đành múa kiếm hộ thân. Lần này Lệ Nam Tinh đâm không trúng, nhưng cũng không bị chặt đứt đầm.
Lệ Nam Tinh thấy Văn Thắng Trung thúc ngựa đến bờ sông, lòng thầm nhủ “Không ngờ tên lão tặc này lại cứng cỏi như thế, mình đành mạo hiểm vậy”.
Té ra vì đêm qua Lệ Nam Tinh đã chế phục Phong Tử Siêu quá dễ dàng cho nên không đề phòng y. Cũng chính vì điều này mà chàng vẫn dám đi cùng một thuyền với y. Không ngờ bản lĩnh của Phong Tử Siêu tuy không bằng chàng nhưng cũng chẳng phải là tay vừa. Mà lúc này y đã giật được cây huyền thiết bảo kiếm còn Lệ Nam Tinh thì vẫn chưa hoàn toàn hồi phục công lực, tình thế rất bất lợi cho chàng.
Nhưng Phong Tử Siêu thấy chiêu số của chàng quá tinh diệu, lòng cũng hơi lo rồi vừa múa kiếm hộ thân, vừa chèo thuyền vào bờ.
Phong Diệu Thường thấy hai người đã động thủ, nàng càng hoảng sợ hơn, một lát sau mới kêu lên: “Cha, sao cha có thể như thế?”
Phong Tử Siêu cười lạnh lẽo: “Nữ nhân hướng ngoại, câu này quả không sai. Được, nếu ngươi thấy trái tai gai mắt thì cứ sánh vai cùng tên tiểu tử này đối phó với ta!”
Phong Diệu Thường tức giận vô cùng, nhưng đầu gì y cũng là cha của nàng, đành bật khóc òa lên. Lệ Nam Tinh lướt người phóng chiêu, Phong Tử Siêu múa tít thanh kiếm, soạt một tiếng, cây dầm lại bị chặt đứt mất một nửa chỉ còn lại khoảng hai thước.
Khi Lệ Nam Tinh sắp mất mạng trong tay Phong Tử Siêu, Phong Diệu Thường [font="times new roman"]kinh hoảng kêu lên: “Cha, nếu cha giết y thì hãy giết luôn cả con!” Rồi liều mình lao tới, toan dùng thân mình che cho Lệ Nam Tinh, may mà Phong Tử Siêu không dám ra tay.
Nào ngờ Phong Diệu Thường tuy nhanh nhưng cũng chậm một bước, trong khoảnh khắc ấy, chỉ thấy kiếm quang bóng người cuộn vào nhau. Phong Diệu Thường lạnh mình, thầm kêu lên: “Hỏng bét!” Chợt nghe Phong Tử Siêu kêu rú lên, thanh huyền thiết bảo kiếm vuột khỏi tay!
Té ra sau khi Lệ Nam Tinh bị chặt gãy cây dầm, chàng liền dùng một nửa còn lại như phán quan bút, đột nhiên lướt người tới điểm mũi dầm vào cổ tay Phong Tử Siêu.
Lúc này con thuyền đã cập sát bờ, cây kiếm của Phong Từ Siêu văng lên bờ. Văn Thắng Trung nghiêng người chụp lấy chuôi kiếm cười ha hả. Còn Phong Tử Siêu cũng phóng người lên bờ.
Lệ Nam Tinh thầm kêu: “Đáng tiếc!” Số là chàng chuẩn bị sau khi đoạt lấy kiếm thì sẽ bóp nát xương tỳ bà của Phong Tử Siêu, nhưng vì Phong Diệu Thường đã nhảy bổ tới che trước người chàng, Phong Diệu Thường vốn có ý che cho chàng, nhưng cuối cùng thành ra che cho cha mình, khiến cho Lệ Nam Tinh không đoạt được lại kiếm, cũng chẳng bắt được người.
Lệ Nam Tinh mất huyền thiết bảo kiếm, nào chịu ngừng lại, Phong Tử Siêu vừa chạm chân xuống đất với chàng cũng vừa đuổi theo. Văn Thắng Trung nói vội: “Phong lão bá, cho tôi mượn thanh kiếm này, ông hãy khuyên lệnh ái, để tên tiểu tử này cho tôi”. Kiếm đã rơi vào tay Văn Thắng Trung, Phong Tử Siêu không tiện đòi lại, biết rõ đây là kế Lưu Bị mượn Kinh Châu nhưng cũng phải cho mượn.
Lúc này Phong Diệu Thường cũng đã lên bờ, nàng tháo thanh kiếm trao cho Lệ Nam Tinh: “Lệ công tử, dùng kiếm của tôi”.
Văn Thắng Trung nổi cơn ghen trong lòng, sát cơ cũng trỗi dậy, cười lạnh lẽo: “Phong cô nương, té ra cô đã bỏ tên tiểu tử Tần Nguyên Hạo? Lần tới chắc là đến lượt tôi?” Phong Diệu Thường mắng lớn: “Mồm chó không mọc được ngà voi, khốn kiếp!”
Văn Thắng Trung nổi giận trong bụng nhưng vẫn bình thản: “Đúng thế, tên tiểu tử họ Lệ vẫn còn sống thì đương nhiên không đến lượt tôi. Tôi chỉ đành phát thiệp mời Diêm Vương mà thôi”. Y vừa nói vừa bước đến gần Lệ Nam Tinh.
Lệ Nam Tinh biết kẻ địch không kém, nên chàng chăm chú nhìn động tác của Văn Thắng Trung, chẳng hề nhúc nhích, đến khi Văn Thắng Trung bước đến gần Lệ Nam Tinh đột nhiên quát: “Câm mồm!” Rồi đâm soạt ra một kiếm.
Văn Thắng Trung giơ ngang kiếm chặn lại, đẩy ra một chiêu Thôi song bế nguyệt, miệng cười lạnh lùng: “Tiểu tử thối, ngươi muốn chết! Ối chao!” Nói chưa dứt, chỉ nghe soạt một tiếng, tà áo của Văn Thắng Trung đã bị mũi kiếm quét rách Phong Tử Siêu kêu lên: “Văn thế huynh đừng khinh địch, tên tiểu tử này là nghĩa [font="times new roman"]huynh của Kim Trục Lưu!” Văn Thắng Trung hừ một tiếng, y nén giận trở tay múa lại một kiếm, gân xanh nổi lên, bảo kiếm tỏa ra một luồng ánh sáng bạc bảo hộ trước thân phản kích lại đối phương.
Lệ Nam Tinh chỉ cầm một cây thanh cương kiếm bình thường, không thể nào ápsát phát chiêu được, đành rút chiêu về. Văn Thắng Trung được nước lấn tới, đâm ra liên tục ba nhát kiếm. Lệ Nam Tinh thi triển Thiên la bộ pháp, chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc. Văn Thắng Trung đánh ra ba nhát kiếm cũng chẳng chạm được vào tà áo của chàng.
Văn Thắng Trung đẩy Lệ Nam Tinh lùi một bước, hừ một tiếng: “Là nghĩa huynh của Kim Trục Lưu thì sao?” Miệng nói như thế nhưng trong bụng cũng hơi sợ, thầm nhủ: “May mà mình đoạt được thanh bảo kiếm, nếu không đã chẳng phải là đối thủ của y”.
Lệ Nam Tinh vừa mới khỏe lại, công lực vẫn chưa hồi phục, lại thêm đã đấu một trận với Phong Tử Siêu trên thuyền, khí lực đương nhiên không kéo dài được lâu. Kiếm pháp gia truyền của Văn Thắng Trung tuy không tinh diệu bằng chàng nhưng cũng là loại kiếm pháp thượng thừa, nhờ có thanh huyền thiết bảo hiểm nên sau ba mươi chiêu thì đã khiến cho Lệ Nam Tinh toát mồ hôi trán, kiếm chiêu cũng đã chậm lại. May mà Thiên la bộ pháp của chàng linh hoạt cho nên còn có thể né tránh được. Phong Tử Siêu bước tới trước mặt con gái, dịu dàng: “Thường nhi, con đừng giận, cha cũng chỉ muốn tốt cho con”.
Phong Diệu Thường lạnh lùng: “Cha chỉ đẩy con vào hố lửa!”
“Nay cha không buộc con đến Dương Châu gặp Sử Bạch Đô nữa, chẳng phải đã thuận theo ý con rồi sao? Tên tiểu tử Tần Nguyên Hao có gì tốt, tên tiểu tử này là phản đồ của triều đình, nếu con lấy y mới chính là nhảy xuống hố lửa? Còn Văn thế huynh thì đã quen biết từ trước với con, y là con nhà danh giá, đối với con lại tốt như thế...”
Phong Diệu Thường bịt tai: “Cha đừng làm bẩn tai con, con không nghe!”
Phong Tử Siêu cả giận, nhưng vì muốn con gái nghe theo mình cho nên không dám ra tay. Phong Diệu Thường giận dữ: “Con biết cha sẽ mắng con là đứa bất hiếu, thôi được, cha cứ coi như con đã chết từ lâu!” Phong Tử Siêu tức giận: “Sao lại có lẽ này, con... con dám cãi lại ta?” 
 Nói đến đây, chợt nghe tiếng cười khanh khách vang lên: “Có người đánh nhau, lại có người cãi nhau, ở đây thật là náo nhiệt! Cha, đừng đi nữa, ngừng lại xem thử!”
Phong Tử Siêu ngẩng đầu nhìn lên, té ra có hai cha con nhà nọ đang đến. Người cha tuổi khoảng năm mươi, mình mặc đại quải màu lam, trong tay cầm một cái ống điếu to bằng miệng bát, trong giống như một ông lão nhà quê. Còn người con là một thiếu nữ tuổi chưa đến hai mươi, ăn mặc trông rất giản dị nhưng rất xinh đẹp. Hai cha con đứng cùng với nhau thật chẳng tương xứng tý nào, nếu nàng ta không gọi một tiếng “Cha”, người ta không nghĩ đó là hai cha con.

[/align]Chính là: Có duyên ngàn dặm cũng gặp nhau,
Tai qua nạn khỏi thấy giai nhân.
Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 31 sẽ rõ.[/font][/font]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 21:32:36Hoàng Dung>
đánh máy: Hư Trúc tiên sinh

Hồi Thứ Ba Mươi Mốt
[/align]
Mấy phen buồn bã cất giọng ca
Cõi lòng đau đớn gửi tiêu ngọc.
[/align]hong Tử Siêu thấy hai cha con nhà này bất giác cả kinh! Té ra người có vẻ

[/align]





như ông lão nhà quê chính là đà chủ của Hồng Anh hội Công Tôn Hoằng!

[/align]





Phong Tử Siêu nghĩ bụng: “Ả nha đầu này có lẽ là Công Tôn Yến con gái của y.

[/align]





Nghe nói ả được cha nuông chiều, xuất đạo chưa đầy một năm mà còn thích lo

[/align]





chuyện bao đồng hơn cả người cha, nhiều nhân vật thành danh trên giang hồ đều sợ ả.

[/align]





Hỏng bét, hỏng bét, ả thấy thế này chắc chắn sẽ xen vào? Vả lại Công Tôn Hoằng sẽ

[/align]





nhận ra lai lịch võ công của Văn Thắng Trung!”

[/align]





Nghĩ chưa dứt, chợt nghe giọng Công Tôn Hoằng: “Ồ, trận đấu cũng hay lắm,

[/align]





Yến nhi, con chưa thấy Thiên Sơn kiếm pháp, lần này có thể mở rộng tầm mắt, kiếm

[/align]





pháp của tên tiểu tử kia hơi kém hơn nhưng Tam tượng thần công hình như cũng khá

[/align]





lắm”. Trong lúc Tát phủ bị quần hùng đại náo, Công Tôn Hoằng đã thấy Lệ Nam

[/align]





Tinh nhưng chưa gặp Văn Thắng Trung. Bởi vì lần đó Văn Thắng Trung không đi

[/align]





cùng Văn Đạo Trang. Công Tôn Hoằng thầm nhủ: “Con trai của Văn Đạo Trang chắc

[/align]





cũng chẳng phải hạng tốt lành gì, nhưng mình làm sao có thể động thủ với một đứa

[/align]





hậu sinh, có cách nào giúp Lệ Nam Tinh đây?”

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Thiên Sơn kiếm pháp quả nhiên tinh diệu, những hình như

[/align]





y không đánh lại đối thủ, không biết là vì cớ gì?”

[/align]





Công Tôn Hoằng nói: “Đó là vì y vừa mới trải qua một trận bệnh. Vả lại đối thủ

[/align]





của y dùng huyền thiết bảo kiếm, thanh kiếm này nặng hơn loại kiếm bình thường

[/align]





gấp mười lần, con có nhận ra không?”

[/align]





Văn Thắng Trung nghe thế cả kinh, thầm nhủ: “Không ngờ lão nhà quê này lại

[/align]





là bậc võ học tôn sư! Không những y đã nhận ra võ công của mình mà còn biết đây là

[/align]





huyền thiết bảo kiếm”. Lệ Nam Tinh cũng ngạc nhiên, thầm nhủ: “Công Tôn Hoằng

[/align]





quả nhiên danh bất hư truyền, chỉ vừa nhìn thì đã biết mình đã bị thương. Nghe Trục

[/align]





Lưu nói, lần đó y thoát ra khỏi Tát phủ cũng nhờ Công Tôn Hoằng giúp đỡ. Nhưng

[/align]





mình không thể ỷ lại ngươi khác”.

[/align]





Văn Thắng Trung xưa nay cuồng ngạo, nghe Công Tôn Hoằng đứng một bên

[/align]





bình luận, lời lẽ rõ ràng đề cao Lệ Nam Tinh mà hạ thấp mình, trong bụng rất tức tối,

[/align]





nên cố giở hết bản lĩnh ra, y múa tít thanh huyền thiết kiếm dồn tới từng bước, lòng

[/align]





thầm nhủ: “Ngươi bảo ta không bằng tên tiểu tử này, ta sẽ giết y cho ngươi xem!”

[/align]





Lệ Nam Tinh không muốn mất mặt trước mặt Công Tôn Hoằng, cũng dốc hết sức

[/align]





ra chống trả. Nhưng đáng tiếc chàng đã đuối sức, binh khí lại kém hơn, cuối cùng vẫn






bị Văn Thắng Trung ép thối lui từng bước.

[/align]





Trong lúc kịch chiến Văn Thắng Trung đánh ra một chiêu Lực phách hoa sơn,

[/align]





múa tròn thanh kiếm bổ ngang tới như đại đao. Lệ Nam Tinh lách ra sau gốc liễu, chỉ

[/align]





nghe ầm một tiếng, cây huyền thiết kiếm đã chém đứt cây liễu.

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Đúng thế, quả nhiên là bảo kiếm hiếm có”. Rồi nàng nhảy

[/align]





vọt ra, quát: “Này, đưa thanh kiếm cho ta!”

[/align]





Văn Thắng Trung hỏi lại: “Tại sao phải đưa cho ngươi?”

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Đối thủ của ngươi vừa mới khỏi bệnh, ngươi đã được lợi lại

[/align]





còn dùng huyền thiết bảo kiếm, đánh như thế đâu có công bằng?”

[/align]





Văn Thắng Trung tức giận: “Ngươi tính lo chuyện bao đồng?”

[/align]





Công Tôn Yến đáp trả: “Ta xưa nay rất thích lo chuyện bao đồng, ngươi muốn ta

[/align]





không xen vào cũng được. Nhưng ngươi đánh nhau phải công bằng. Ngươi ỷ có bảo

[/align]





kiếm mà làm dữ, ta thấy trái tai gai mắt lắm! Bây giờ ta sẽ đưa ra hai con đường cho

[/align]





ngươi lựa chọn, thứ nhất ngươi hãy đưa bảo kiếm cho ta rồi đổi lấy một thanh kiếm

[/align]





bình thường. Nếu đánh thắng ta sẽ trả lại ngươi, đánh thua thì sẽ đưa kiếm cho đối thủ

[/align]





của ngươi. Ta chỉ là người làm chứng chủ trì công đạo, không hề có ý muốn lấy kiếm

[/align]





của ngươi”.

[/align]





Văn Thắng Trung hỏi: “Ai nhờ ngươi chủ trì công đạo? Ngươi tránh xa ra, nếu

[/align]





không đừng trách bảo kiếm của ta không có mắt!” Văn Thắng Trung miệng nói, tay

[/align]





vẫn không lơi lỏng, Công Tôn Yến càng bước tới càng gần, lúc này đã đứng bên cạnh

[/align]





Lệ Nam Tinh.

[/align]





Công Tôn Yến cười lạnh: “Được, ngươi không chịu chọn con đường thứ nhất thì

[/align]





chỉ còn có đường thứ hai. Ta sẽ đấu với ngươi, ngươi đã đấu trước một trận, nhưng

[/align]





trong tay có bảo kiếm coi như đã công bằng!” Nói xong chen liền vào ở giữa hai

[/align]





người, đẩy Lệ Nam Tinh ra. Lệ Nam Tinh biết nàng là con gái của Công Tôn Hoằng,

[/align]





nghĩ bụng nàng không đến nỗi thua Văn Thắng Trung nên yên tâm nhường cho nàng.

[/align]





Văn Thắng Trung thấp thỏm lo âu, nhưng đành buông kiếm nói: “Ngươi muốn

[/align]





đấu với ta cũng được, nhưng nếu ngươi thua thì đừng sinh chuyện nữa!”

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Ngươi sợ cha ta giúp ta? Hừ, ngươi không xứng đấu với cha

[/align]





ta. Cha, cha hãy nói một câu để tên tiểu tử này yên tâm”.

[/align]





Công Tôn Hoằng cười ha hả: “Lão phu xưa nay không động thủ với hạng tiểu

[/align]





bối. Đó là con gái của ta ham lo chuyện bao đồng, ngươi có bản lĩnh cứ giết nó, ta

[/align]





cũng sẽ đứng yên không xen vào!”

[/align]





Công Tôn Yến cười: “Ngươi yên tâm? Cứ mặc sức mà đâm bảo kiếm về phía ta,

[/align]





ta nhường ngươi xuất chiêu?”

[/align]





Văn Thắng Trung nổi giận trong bụng, nghĩ rằng: “Lão già này hình như là bậc

[/align]





tôn sư võ học. Hừ, chỉ cần lão chịu đứng yên, chả lẽ mình sợ ả nha đầu này?” Rồi nói

[/align]





liền: “Được, quân tử nói một lời xe bốn ngựa khó đuổi! Ngươi hãy rút ra binh khí đi!”

[/align]





Công Tôn Yến quát: “Ngươi cứ mặc sức phát chiêu, đừng lắm lời!”

[/align]





Văn Thắng Trung chưa bao giờ bị coi thường như thế này nên lửa giận bốc cao,

[/align]





nghiêng người bước tới như chim nhạn giang cánh, cây huyền thiết bảo kiếm từ trên

[/align]





chặt xuống. Chiêu này có tên gọi Loan cung xạ điêu, đó chính là chiêu đắc ý nhất của

[/align]





Văn Thắng Trung.

[/align]





Văn Thắng Trung tưởng rằng nếu không chặt đứt được cánh tay của nàng ít nhất

[/align]





cũng khiến cho nàng bị thương. Nào ngờ Công Tôn Yến lướt người né tránh, nhát

[/align]





kiếm của Văn Thắng Trung đã đâm hụt. Chỉ nghe Công Tôn Yến cười khanh khách:

[/align]





“Cũng chẳng lợi hại gì mấy. Được, có qua phải có lại, tiếp chiêu!” Rồi nàng xoay

[/align]





người tháo sợi đai cột ở eo ra, dùng lực vung mạnh, sợi đai cuộn tới Văn Thắng Trung

[/align]





như ngọn roi mềm.

[/align]





Văn Thắng Trung nghĩ bụng: “Bảo kiếm của ta có thể chặt gãy sắt thép, lẽ nào

[/align]





sợ sợi đai của ngươi?” Nào ngờ sợ đai tơ của Công Tôn Yến tựa như con linh xà, Văn

[/align]





Thắng Trung chém tới một kiếm nhưng không chặt đứt được, sợi đai cuộn tới vỗ bốp

[/align]





một tiếng vào trán của Văn Thắng Trung. Tuy chỉ là một sợi đai tơ nhưng không kém

[/align]





gì roi mềm, trên trán Văn Thắng Trung sưng lên một cục.

[/align]





Công Tôn Yến bật cười: “Đáng tiếc không có gương cho ngươi xem, trên đầu

[/align]





ngươi đã mọc một chiếc sừng”.

[/align]





Văn Thắng Trung vừa sợ vừa giận, vội vàng múa tít bộ Tam tài kiếm pháp nhanh

[/align]





như gió. Lúc này y đã biết bản lĩnh của Công Tôn Yến nào dám khinh địch, cho nên

[/align]





đã dốc hết toàn lực ý muốn giết Công Tôn Yến.

[/align]





Khi Văn Thắng Trung dốc hết toàn lực, sợi đai tơ của Công Tôn Yến cũng không

[/align]





đánh vào được trong luồng kiếm quang của y. Có điều bảo kiếm của y cũng chẳng

[/align]





chém đứt được sợi đai tơ của nàng. Đai tơ bay lên vun vút, bảo kiếm múa tít kêu lên

[/align]





vù vù, kiếm phong dồn ra đẩy đai tơ bay ngược ra trở lại.

[/align]





Huyền thiết bảo kiếm nặng đến cả trăm cân, Văn Thắng Trung sử dụng cũng

[/align]





cảm thấy rất mất sức. Không bao lâu y toát mồ hôi đầm đìa, thở phì phò như trâu.

[/align]





Phong Tử Siêu đã biết Công Tôn Yến là con gái của Công Tôn Hoằng, lòng

[/align]





thầm nhủ: “Dù Văn Đạo Trang và Sử Bạch Đô đến đây e chẳng làm gì được lão già

[/align]





này. Xem ra tên tiểu tử Văn Thắng Trung đã thua chắc. Chao ôi, thanh huyền thiết

[/align]





bảo kiếm không lấy cũng được, ba mươi sáu kế chạy là hay nhất”. Y lập tức nhảy lên

[/align]





con ngựa của Văn Thắng Trung, kêu to: “Văn thế huynh, ngươi cứ đánh đi nhé, xin

[/align]





thứ lão phu không thể chờ được”.

[/align]





Rồi y ra roi phóng ngựa đi. Y chỉ lo chạy cho nên cũng mặc kệ con gái. Phong

[/align]





Diệu Thường vừa tức giận vừa khó chịu, nàng thẫn thờ nhìn theo bóng cha. Lệ Nam

[/align]





Tinh hạ giọng nói: “Phong cô nương, đừng buồn, cứ mặc ông ta”.

[/align]





Phong Tử Siêu vừa chạy làm Văn Thắng Trung vừa kinh vừa giận, tinh thần càng






rối loạn hơn. Y càng lúc càng đuối sức, còn Công Tôn Yến thì vẫn nhẹ nhàng linh

[/align]





hoạt, chiêu số càng lúc càng thần diệu!

[/align]





Công Tôn Yến cười lạnh lùng: “Bản lĩnh của ngươi quá kém, không xứng dùng

[/align]





cây huyền thiết bảo kiếm. Đưa kiếm đây rồi cút cho ta!” Nói chưa dứt cuộn sợi dây tơ

[/align]





màu đỏ lên, tựa như một áng mây chiều bao bọc lấy luồng ánh sáng màu trắng, sợi

[/align]





dây tơ đã cuộn lấy chuôi kiếm, giật cây huyền thiết bảo kiếm từ trong tay Văn Thắng

[/align]





Trung.

[/align]





Văn Thắng Trung co dò bỏ chạy, vừa chạy vừa kêu lên: “Đây là vật của bang

[/align]





chủ Lục Hợp bang, nha đầu nhà ngươi dám lấy có dám báo tên không?” Y đã thua

[/align]





liểng xiểng nhưng vẫn muốn dựa thế Sử Bạch Đô để lấy lại chút sĩ diện.

[/align]





Công Tôn Hoằng cười ha hả: “Lão phu Công Tôn Hoằng, ngươi về nói với Sử

[/align]





Bạch Đô ta đã lấy thanh bảo kiếm này. Nếu y không phục cứ đến tìm ta. Nếu một

[/align]





mình y không dám đến cứ bảo Văn Đạo Trang đi cùng!”

[/align]





Lúc này Văn Thắng Trung mới biết ông già nhà quê này chính là tổng đà chủ

[/align]





của Hồng Anh hội nên nào dám đốp chát lại, chạy nhanh như chân bôi dầu, Công Tôn

[/align]





Hoằng cười ha hả, không thèm đuổi theo y.

[/align]





Lệ Nam Tinh và Phong Diệu Thường bước đến bái tạ, Công Tôn Hoằng rất

[/align]





mừng: “Yến nhi, Lệ công tử chính là người đã từng cùng Kim Trục Lưu đại náo thọ

[/align]





đường của Tát phủ”.

[/align]





Lệ Nam Tinh cúi đầu: “Đa tạ ơn giúp đỡ của cô nương”. Công Tôn Yến cười:

[/align]





“May mà không nhục mệnh, vật xin trả lại cho chủ”. Lệ Nam Tinh nói: “Thần binh

[/align]





lợi khí trong thiên hạ thuộc về người có đức, cô nương đã đoạt được thanh bảo kiếm

[/align]





này thì xin lệnh tôn hãy giữ lấy”. Công Tôn Yến cười: “Cha tôi không bao giờ dùng

[/align]





binh khí, người bảo muốn lấy bảo kiếm chẳng qua là dọa Sử Bạch Đô mà thôi”. Công

[/align]





Tôn Yến nói như thế, nếu Lệ Nam Tinh cứ từ chối nữa thì quá coi thường Công Tôn

[/align]





Hoằng. Lệ Nam Tinh dành nhận lấy.

[/align]





Công Tôn Hoằng hỏi: “Lệ huynh, sao huynh lại đánh nhau với Văn Thắng Trung

[/align]





ở đây?” Lệ Nam Tinh đáp: “Nói ra thì dài”. Rồi bèn kể lại mọi chuyện ở Dương

[/align]





Châu.

[/align]





Công Tôn Hoằng hỏi: “Tôi cứ tưởng ở Cái Bang có hai thiếu niên cao thủ? Té ra

[/align]





đó là thiếu hiệp và Kim Trục Lưu”. .

[/align]





Lệ Nam Tinh hỏi: “Công Tôn tiền bối nghe được tin gì?”

[/align]





Công Tôn Hoằng đáp: “Mấy ngày trước tôi đã đến Dương Châu, nghe nói Sử

[/align]





Bạch Đô không muốn tiếp khách, bằng hữu ở Dương Châu đã kể lại đại khái chuyện

[/align]





này nhưng tôi vẫn không biết mọi chuyện thật ra như thế nào”.

[/align]





Lệ Nam Tinh vội vàng hỏi: “Kim Trục Lưu có còn ở Dương Châu không? Lão

[/align]





tiền bối có đến phân đà của Cái Bang không?”

[/align]





Công Tôn Hoằng đáp: “Phân đà Cái Bang đã được dời đi nơi khác, tôi đến nơi






[font="times new roman"]chẳng thấy ai cả”. Đã tìm không ra Cái Bang, tất nhiên cũng chẳng có tin tức của Kim

[/align]





Trục Lưu.

[/align]





Lúc này Công Tôn Yến và Phong Diệu Thường cũng đứng một bên trò chuyện.

[/align]





Công Tôn Yến tính tình phóng khoáng, tâm địa nhân từ, kéo tay Phong Diệu Thường

[/align]





nói: “Phong tỷ tỷ, tôi đã nghe tỷ cãi nhau với cha”. Phong Diệu Thường đỏ mặt, nước

[/align]





mắt tuôn ra.

[/align]





Công Tôn Yến an ủi: “Phong tỷ tỷ, tỷ đừng buồn. Tỷ đúng là gần bùn mà chẳng

[/align]





hôi tanh mùi bùn, tôi rất khâm phục tỷ. Phong tỷ tỷ, tỷ định đi đâu?” Phong Diệu

[/align]





Thường đáp: “Tôi là người có nhà mà không thể quay về, đành tới đâu hay tới đó”.

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Nếu tỷ không chê, xin hãy làm bạn với tôi!”

[/align]





Phong Diệu Thường mừng rỡ: “Được tỷ tỷ giúp đỡ tôi đã yên lòng. Nhưng chỉ e

[/align]





gây thêm phiền phức cho tỷ tỷ”. Công Tôn Yến: “Sao lại nói thế, tôi đi lại trên giang

[/align]





hồ không quá một năm, hiểu biết còn kém, sau này chúng ta kết bạn đi cùng, mong

[/align]





Phong tỷ tỷ chỉ giáo cho tôi”. Phong Diệu Thường rất ngạc nhiên lòng thầm nhủ:

[/align]





“Cha của nàng là bang chủ Hồng Anh hội nổi tiếng giang hồ, sao nàng lại bảo thế?

[/align]





Nhưng nàng nói rất chân thành, chắc là không phải lời khách sáo”.

[/align]





Công Tôn Hoằng chợt cười rằng: “Yến nhi, có phải con vẫn nhớ đến cuộc hẹn

[/align]





với Trúc Thanh Hoa không?”

[/align]





Công Tôn Yến làm ra vẻ giận dỗi: “Cha, ai bảo cha không chịu đi theo con, con

[/align]





chỉ đành tự tìm bạn đi cùng”.

[/align]





Công Tôn Hoằng mỉm cười, quay đầu lại hỏi Lệ Nam Tinh: “Lão đệ, đệ định đi

[/align]





đâu?” Lệ Nam Tinh đáp: “Tôi muốn đến Tây Xương một chuyến”.

[/align]





Số là chàng đoán Sử Bạch Đô sớm muộn gì cũng đưa em gái mình đến Tây

[/align]





Xương để gả cho Soái Mạnh Hùng. Chàng nghĩ Kim Trục Lưu chắc chắn cũng sẽ biết

[/align]





điều này nên đến Tây Xương thế nào cũng sẽ gặp Kim Trục Lưu.

[/align]





Công Tôn Hoằng cười: “Được, vậy ba người hãy đi cùng nhau”.

[/align]





Lệ Nam Tinh ngạc nhiên: “Ồ, lệnh ái cũng muốn đến Tây Xương ư?”

[/align]





Công Tôn Hoằng cười: “Yến nhi đến núi Đại Lương ở phía bắc Tây Xương. Núi

[/align]





Đại Lương là căn cứ địa của Trúc Thượng Phụ. Lão đệ có nghe danh Trúc Thượng

[/align]





Phụ không?”

[/align]





Lệ Nam Tinh gật đầu: “Tôi đã từng nghe Kim Trục Lưu nói, nghe nói Trúc tiền

[/align]





bối là bằng hữu của Giang Hải Thiên, võ công siêu quần chẳng kém gì Giang đại

[/align]





hiệp”.

[/align]





Công Tôn Hoằng đáp: “Trúc Thượng Phụ có một người con gái tên gọi Trúc

[/align]





Thanh Hoa, năm ngoái tôi và tiểu nữ đã làm khách ở nhà họ Trúc, bọn chúng tính tình

[/align]





hợp nhau, coi như chị em, Trúc Thượng Phụ bị mất Tây Xương, lui vào trong núi Đại

[/align]





Lương, tiểu nữ rất nhớ Trúc Thanh Hoa. Gần đây mới nhận được tin sang năm Trúc

[/align]





Thanh Hoa sẽ xuất giá, gả cho đồ đệ của Giang Hải Thiên là Lý Quang Hạ”.

[/align]




Lệ Nam Tinh mừng rỡ: “Đúng thế, Trục Lưu cũng đã nói với tôi, y có một sư điệt

[/align]





tên Lý Quang Hạ, là con của anh hùng kháng Thanh Lý Văn Thành. Sang năm sư điệt

[/align]





của y sẽ thành hôn với con gái của Trúc Thượng Phụ, y chắc chắn cũng đến uống rượu

[/align]





mừng”. Chàng nghĩ có chuyện vui này, khả năng gặp Kim Trục Lưu càng lớn hơn.

[/align]





Công Tôn Hoằng nói: “Đáng tiếc tôi còn bận việc của Hồng Anh hội nên không

[/align]





thể uống rượu mừng của họ được. Những tiểu nữ thì đòi đi cho bằng được, tôi đang lo

[/align]





không có ai làm bạn với nó, giờ thì đã ổn, có hai người đi cùng, tôi đã yên tâm. Lệ lão

[/align]





đệ, nó là ả nha đầu ngang ngạnh, làm phiền lão đệ hãy chăm sóc cho nó”.

[/align]





Rồi hai cha con chia tay nhau, Công Tôn Hoàng trở về tổng đà Hồng Anh hội,

[/align]





Công Tôn Yến thì cùng Lệ Nam Tinh, Phong Diệu Thường đến Tây Xương.

[/align]





Vết thương ngoài da của Lệ Nam Tinh đã lành lại nhưng vết thương lòng vẫn còn

[/align]





chưa hết, trong lòng đầy tâm sự nên trên đường chẳng hề nói gì.

[/align]





Phong Diệu Thường vừa mới cãi nhau với cha mình, trong lòng cũng nặng nề.

[/align]





May mà Công Tôn Yến là cô gái vô tư hồn nhiên, tính tình phóng khoáng nên trên

[/align]





quãng đường mọi người cũng bớt buồn tẻ.

[/align]





Ba người ngày đêm lên đường không quá một tháng thì đã qua Giang Tô, An

[/align]





Huy, bước vào địa phận Thiểm Tây. Lúc này đã là tháng chín mùa thu. Đến Thiểm

[/align]





Tây đi toàn là đường núi, Lệ Nam Tinh đã chuẩn bị màn trướng, vì phải tranh thủ lên

[/align]





đường cho nên có lúc không tìm được nơi ở phải đành qua đêm trong rừng.

[/align]





Hôm nay họ đi ngang qua dãy núi Thất Bàn, khi vượt qua đoạn dốc hiểm trở thì

[/align]





bất giác trời đã về chiều. Công Tôn Yến ngước mắt nhìn thấy phía trước có bãi cỏ hoa

[/align]





dại nở rực rỡ, làn suối trong xanh lượn quanh, cây rừng cao chọc trời. Ở phía xa xa núi

[/align]





cao ngất trời, sương phủ là đà lưng chừng núi. Công Tôn Yến mừng rỡ: “Đây là nơi

[/align]





rất đẹp, trời tuy chưa tối nhưng tôi cũng không muốn đi nữa. Chúng ta cứ nghỉ ở đây

[/align]





một đêm”.

[/align]





Cắm trại xong, Công Tôn Yến bảo: “Phong tỷ tỷ, tỷ thổi cơm, tôi sẽ tìm một ít

[/align]





thức ăn”. Phong Diệu Thường nói: “Lệ đại ca, huynh hãy đi cùng Công Tôn tỷ tỷ”.

[/align]





Công Tôn Yến lắc đầu: “Không cần, tôi rất thích đi săn, không cần đông người”. Lệ

[/align]





Nam Tinh đang rầu rĩ trong lòng, Công Tôn Yến không muốn chàng đi cùng, chàng

[/align]cũng đành thôi.
[/align]

[/align][/align]

[/align][/align][/align][/font]

[/align]

[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 21:37:04Hoàng Dung>
Công Tôn Yến có ý muốn để cho họ có thời gian ở lâu bên nhau, tuy mau chóng bắt được hai con thỏ hoang, nhưng cố ý đến trời tối mời trở về, vừa đến bìa rừng chợt

[/align]





nghe tiếng sáo lúc trầm lúc bổng vọng tới.

[/align]





Số là Lệ Nam Tinh rất thích âm nhạc, chàng đã tặng cây cổ cầm cho Kim Trục

[/align]





Lưu, mấy ngày trước chàng đã tự làm cho mình một cây tiêu. Cơm đã làm xong nhưng

[/align]





chưa thấy Công Tôn Yến trở về, ngồi rảnh rỗi lấy tiêu ra thổi.

[/align]





Lệ Nam Tinh từ khi biết mối quan hệ giữa Sử Hồng Anh với Kim Trục Lưu, tuy

[/align]





lòng đã không còn mong muốn gì nữa, chàng đã quyết ý vung tuệ kiếm chém đứt tơ





tình, nhưng tơ tình có thể đứt, vết thương lòng không thể lành trong khoảng thời gian

[/align]





ngắn. Lúc nào chàng cũng rầu rĩ cho nên mượn tiếng tiêu để thổ lộ tâm tình. Tiếng

[/align]





tiêu vang lên ai như oán, như khóc như than khiến nàng Công Tôn Yến xưa nay chẳng

[/align]





biết lo buồn nhưng nghe một hồi thì không khỏi nhói lòng.

[/align]





Công Tôn Yến thầm nhủ: “Lệ đại ca chắc chắn có tâm sự gì, nếu không suốt cả

[/align]





quãng đường y chẳng lặng lẽ như thế. Ôi, tiếng tiêu nghe sao mà thê lương buồn bã

[/align]





thế này. Lệ đại ca sao mà khổ đến thế?” Nàng nấp trong bìa rừng nghe một hồi rồi

[/align]





đưa ánh mắt nhìn về phía Phong Diệu Thường, chỉ thấy Phong Diệu Thường ngồi

[/align]





xoay lưng về phía Lệ Nam Tinh, lấy khăn tay ra lau nước mắt.

[/align]





Công Tôn Yến chợt vở lẽ ra nhủ thầm: “Đúng thế, chắc chắn họ đã có xích mích

[/align]





gì đây, y tưởng Phong tỷ tỷ không thích mình cho nên mới đau lòng như thế. Nhưng

[/align]





Phong tỷ tỷ tại sao lại khóc? Nàng không thích Lệ đại ca ư? Hay là Lệ đại ca không

[/align]





biết dịu dàng khiến cho nàng giận?”

[/align]





Công Tôn Yến nào biết Phong Diệu Thường nghe tiếng tiêu nên nhớ đến Tần

[/align]





Nguyên Hạo, vì thế đau lòng rơi nước mắt. Nàng và Tần Nguyên Hạo hai lòng tuy đã

[/align]





mến nhau, nhưng không có cơ hội thổ lộ cho nhau biết. Tần Nguyên Hạo là đệ tử của

[/align]





danh môn chính phái, dù có Kim Trục Lưu làm mai nhưng cũng chưa chắc thành.

[/align]





Phong Diệu Thường tự ti vì những hành vi xấu xa của cha mình. Lúc này càng suy

[/align]





nghĩ mới cảm thấy tiền đồ mờ mịt, vì thế mới rơi nước mắt.

[/align]





Công Tôn Yến ho một tiếng, bước tới cười bảo: “Lệ đại ca! Huynh thổi tiêu

[/align]





chẳng hay tý nào, huynh làm cho Phong tỷ tỷ khóc rồi kìa. Huynh hãy thổi một khúc

[/align]





dễ nghe được không”.

[/align]





Phong Diệu Thường lau nước mắt: “Không, tôi nghe rất hay. Lúc nãy có hạt bụi

[/align]





rơi vào mắt, tôi đâu có khóc?”

[/align]





Lệ Nam Tinh ngừng thổi, cười khổ sở: “Tôi không thổi được bài dễ nghe”.

[/align]





Công Tôn Yến gật đầu: “Thôi được. Huynh không thổi cũng được, hãy giúp tôi

[/align]





làm thức ăn”.

[/align]





Dùng xong bữa tối, Lệ Nam Tinh vào trại nghỉ ngơi trước. Công Tôn Yến nói:

[/align]





“Ở đây là nơi thế ngoại đào viên, hiếm khi trời đẹp như thế này, Phong Diệu Thường

[/align]





hãy cùng muội đi hái hoa dại, một lát nữa rồi ngủ!”

[/align]





Phong Diệu Thường đồng ý: “Tôi vốn không muốn ngủ, được, chúng ta cứ đi một

[/align]





chập”.

[/align]





Hai người ra khỏi trướng khoảng trăm bước, Công Tôn Yến chợt hỏi: “Phong tỷ

[/align]





tỷ, tỷ thấy Lệ đại ca thế nào?”

[/align]





Phong Diệu Thường hiểu nhầm ý của Công Tôn Yến, thầm cười rằng: “Té ra ả

[/align]





nha đầu đã động lòng xuân”. Rồi nói: “Lệ đại ca văn võ toàn tài, đương nhiên rất

[/align]





tốt!”

[/align]





Công Tôn Yến bật cười: “Thôi được, cuối cùng tỷ đã nói lời thực, sáng mai ta sẽ






cho Lệ đại ca biết, chắc y sẽ vui mừng lắm”.

[/align]





Phong Diệu Thường ngạc nhiên: “Có nghĩa là sao?”

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Phong tỷ tỷ, tỷ đừng giả vờ nữa, hai người đang giận nhau,

[/align]





tỷ tưởng rằng tôi không biết sao?”

[/align]





Lúc này Phong Diệu Thường mới hiểu ra, té ra là nàng đã hiểu nhầm, bất giác

[/align]





cười: “Tỷ đã sai cả rồi”.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Sao, chả lẽ tỷ không thích Lệ đại ca?”

[/align]





Phong Diệu Thường nghĩ bụng: “Lệ đại ca vẫn chưa có ý trung nhân, sao mình

[/align]





không làm mai cho y? Công Tôn Yến đã hiểu nhầm như thế, mình phải nói sự thực”.

[/align]





Rồi nàng cười rằng: “Tỷ muốn làm hồng nương cho tôi phải không? Nhưng tôi cũng

[/align]





muốn làm hồng nương cho tỷ!”

[/align]





Công Tôn Yến bất giác ngẩn người: “Tôi đang nói thực, sao tỷ lại đùa như thế?”

[/align]





Phong Diệu Thường đáp: “Tôi đang nói chuyện rất nghiêm túc. Chẳng phải tỷ đã

[/align]





đồng ý Lệ đại ca rất tốt rồi sao? Cho nên tôi không cần tỷ làm hồng nương, nhưng tỷ

[/align]





lại cần tôi làm hồng nương!”

[/align]





Công Tôn Yến lộ vẻ không vui: “Tỷ nói như thế là có ý gì, sao tôi có thể cướp

[/align]





người tỷ thương mến?”

[/align]





Phong Diệu Thường cười: “Tỷ đã hiểu nhầm”.

[/align]





Công Tôn Yến ngạc nhiên: “Chả lẽ tỷ không thích y?”

[/align]





Phong Diệu Thường đáp: “Tôi kính trọng Lệ đại ca, nhưng không hề có tình cảm

[/align]





nam nữ, tỷ đã hiểu chưa?”

[/align]





Công Tôn Yến lúc này mới vỡ lẽ: “Ồ, té ra tỷ đã có ý trung nhân?”

[/align]





Phong Diệu Thường đỏ mặt, thì thầm: “Cho nên tôi mới bảo tỷ không cần lo

[/align]





lắng. Đã có người làm hồng nương cho tôi từ trước”.

[/align]





Công Tôn Yến mừng rỡ hỏi: “Sao tỷ không nói sớm cho tôi biết, người đó là

[/align]





ai?”.

[/align]





Phong Diệu Thường đáp nhỏ: “Đó là Tần Nguyên Hạo của phái Võ Đang”.

[/align]





Công Tôn Yến: “Tần Nguyên Hạo? Ồ cái tên này nghe rất quen!”

[/align]





Tần Nguyên Hạo là thiếu hiệp anh hùng ở phái Võ Đang, Phong Diệu Thường

[/align]





nghĩ Công Tôn Yến nghe được tên chàng cũng chẳng có gì là lạ, vì thế cũng không

[/align]





hỏi. Công Tôn Yến lại cứ hỏi dấn tới, Phong Diệu Thường không dấu, kể lại mọi

[/align]





chuyện. Công Tôn Yến cười nói: “Ồ, té ra tỷ không vui vì không nghe được tin của

[/align]





Tần Nguyên Hạo”. Nói đến đây thì chợt kêu lên: “Tôi nhớ rồi!”

[/align]





Phong Diệu Thường ngạc nhiên hỏi: “Tỷ nhớ điều gì, sao lại kêu lên như thế?”

[/align]





Công Tôn Yến đáp: “Chưởng môn của phái Võ Đang Lôi Chấn Tử có phải có

[/align]





một đệ tử họ Tần không?” Phong Diệu Thường gật đầu: “Đúng thế”. Công Tôn Yến

[/align]





nói: “Đó chắc chắn là Tần Nguyên Hạo! Khi cha nghe chuyện này cũng đã từng nhắc

[/align]





đến cái tên Tần Nguyên Hạo. Chả trách nào muội thấy quen tai như thế, nhưng nhất

[/align]





thời không nhớ ra”.

[/align]





Phong Diệu Thường vừa mừng vừa lo, vội vàng hỏi: “Tỷ biết tung tích của Tần

[/align]





Nguyên Hạo? Đó là chuyện gì?”

[/align]





Công Tôn Yến đáp: “Trong vòng ba ngày, tôi đảm bảo tỷ sẽ gặp được Tần

[/align]





Nguyên Hạo!”

[/align]





Phong Diệu Thường hầu như không dám tin vào đôi tai mình, một lát sau nàng

[/align]





mới thốt ra hai chữ: “Thật không?”

[/align]





Công Tôn Yến đáp: “Đương nhiên là thật, tôi gạt tỷ làm gì. Tỷ đừng nôn nóng.

[/align]





Hãy nghe cho kỹ đây ở phía nam Bảo Kê, dưới chân Tần Lĩnh, có một sơn thôn, trong

[/align]





sơn thôn có một trang viên tên gọi Thủy Vân trang. Trang chủ Vân Long là võ lâm

[/align]





thế gia, trên giang hồ cũng có tên tuổi lắm tỷ biết không?”

[/align]





“Tôi rất ít đi lại trên giang hồ, quả thật hiểu biết nông cạn, tôi chưa từng nghe

[/align]





nói tới Thủy Vân trang. Chả lẽ Tần Nguyên Hạo ở Thủy Vân trang?”

[/align]





“Đúng thế”.

[/align]





“Tại sao y lại ở Thủy Vân trang?”

[/align]





“Ở Tần Lĩnh có một đám giặc cướp, kẻ cầm đầu tên gọi La Đại Đấu, là cao thủ

[/align]





sử dụng thủ hổ đoạn môn đao, y có ba huynh đệ kết nghĩa võ công cũng rất siêu

[/align]





phàm. Vân Long có một người con gái tên gọi Vân Trung Yến”.

[/align]





Phong Diệu Thường không nhịn được, ấn tiếng hỏi: “Vân Trung Yến thế nào?”

[/align]





Công Tôn Yến từ tốn trả lời: “Vân Trung Yến rất xinh đẹp, có người yêu mến

[/align]





nàng!” Nói đến đây thì nàng cố ý ngừng lại.

[/align]





Phong Diệu Thường quả nhiên thất kinh hỏi: “Người đó là ai?”

[/align]





Công Tôn Yến cười khanh khách: “Tỷ đừng lo, đó chẳng phải là Tần Nguyên

[/align]





Hạo mà là tên cường đạo La Đại Đấu. Y đến Thủy Vân trang cầu thân, Vân trang chủ

[/align]





đương nhiên không chịu. La Đại Đấu không chịu bỏ ý định ấy, ba ngày sau lại sai

[/align]





người đưa một bức thư bảo rằng đã chọn ngày tốt đón dâu. Tại sao La Đại Đấu không

[/align]





lập tức cướp cô dâu? Bởi vì y e ngại Thủy Vân trang. Cho nên y phải mời cao thủ giúp

[/align]





đỡ. Cũng thế, Thủy Vân trang vì đối phó với bọn người này cho nên đã mời bằng hữu

[/align]





các nơi đến tương trợ. Hồng Anh hội chúng tôi có một hương chủ tên gọi Thạch

[/align]





Huyền, vừa lúc đó đến Bảo Kê thăm bằng hữu, người bằng hữu của ông ta rất thân

[/align]





thiết với Vân Long, nhận được thư cầu viện của Vân Long thì lập tức kéo Thạch

[/align]





Huyền cùng đến Thủy vân trang. Nghe nói hôm ấy La Đại Đấu dắt người đến cướp cô

[/align]





dâu, đôi bên đã ác chiến với nhau. Đối phương thế đông người mạnh, lúc đầu phía

[/align]





Thủy Vân trang rất bất lợi. Khi sắp đại bại, chợt có một thiếu hiệp anh hùng tới kịp.

[/align]





Người này tỉ thí với La Đại Đấu, chàng bị La Đại Đấu chém bảy nhát đao, nhưng cuối

[/align]





cùng đã đâm xuyên kiếm vào buồng tim của La Đại Đấu, kết liễu mạng của y!”

[/align]





Phong Diệu Thường đã đoán được mấy phần, vội vàng hỏi: “Thiếu hiệp anh

[/align]





hùng ấy là...”

[/align]





Công Tôn Yến cười: “Đó chính là ý trung nhân Tần Nguyên Hạo của tỷ. Chưởng

[/align]





môn phái Võ Đang Lôi Chấn Tử là bằng hữu của Vân Long, tuy ông ta chưa nhận

[/align]





được thư cầu viện của Vân Long nhưng đã biết chuyện này cho nên sai đệ tử đắc ý

[/align]





nhất của ông ta đến. Thạch Huyền và Tần Nguyên Hạo không quen biết nhau, lúc đó

[/align]





chỉ nghe người ở Thủy Vân trang kêu là Tần thiếu hiệp khi quay về kể lại với cha tôi,

[/align]





cha tôi bảo đó chắc chắn là Tần Nguyên Hạo. Phong tỷ tỷ, Thủy Vân trang cách đây

[/align]





không quá ba ngày đường, chúng ta hãy đến đấy!”

[/align]





Phong Diệu Thường vừa lo vừa mừng, nàng cắt lời Công Tôn Yến: “Tỷ bảo Tần

[/align]





Nguyên Hạo đã trúng bảy nhát đao, vậy vết thương của chàng...”

[/align]





“Tỷ đừng lo, Tần Nguyên Hạo tuy bị thương không nhẹ, nhưng vẫn không nguy

[/align]





hiểm đến tính mạng. Thủy Vân trang có thuốc kim sang rất tốt”.

[/align]





“Vậy Tần Nguyên Hạo ở lại Thủy Vân trang dưỡng thương? Đó là chuyện lúc

[/align]





nào?”

[/align]





“Đó là chuyện sáu tháng trước. Nghe Thạch Huyền nói, Tần Nguyên Hạo không

[/align]





nguy hiểm đến tính mạng nhưng mất máu quá nhiều, e rằng phải dưỡng thương đến

[/align]





nửa năm. Ba ngày sau chúng ta đến Thủy Vân trang, có lẽ Tần Nguyên Hạo vẫn chưa

[/align]





khỏe hẳn, tỷ sẽ gặp được chàng”.

[/align]





Phong Diệu Thường nghe thế như cất được tảng đá trong lòng, nói nhỏ: “Mong

[/align]





không có chuyện gì là tốt”. Nói đến đây, nàng chợt thấy Công Tôn Yến như đang suy

[/align]





nghĩ điều gì, Phong Diệu Thường hỏi: “Yến tỷ, hình như tỷ có điều gì muốn nói phải

[/align]





không?” Công Tôn Yến đáp: “Tôi nghĩ chắc là không có điều gì lo ngại. La Đại Đấu

[/align]





bị giết, đám giặc cướp ở Tần Lĩnh cũng giải tán. Tần Nguyên Hạo dưỡng thương ở

[/align]





Thủy Vân trang, người của Thủy Vân trang chắc biết lo liệu?”

[/align]





Thật ra Công Tôn Yến cũng nghĩ đến điều “bất trắc”. Công Tôn Yến chợt nhớ

[/align]





lại Thạch Huyền đã cho nàng biết một chuyện, đó là trang chủ Thủy Vân trang cảm

[/align]





kích ơn lớn của Tần Nguyên Hạo, có ý gả con gái của mình cho Tần Nguyên Hạo.

[/align]





Người của Thủy Vân trang xì xầm bàn tán cho nên Thạch Huyền đã nghe biết.

[/align]





Nhưng Công Tôn Yến không muốn cho Phong Diệu Thường biết chuyện này.

[/align]





Sáng sớm hôm sau, Công Tôn Yến kể lại cho Lệ Nam Tinh nghe, Lệ Nam Tinh cũng

[/align]





rất vui mừng: “Được, chúng ta hãy đến Thủy Vân trang tìm Tần Nguyên Hạo rồi cùng

[/align]





đến Tây Xương. Phong cô nương, cô và Tần Nguyên Hạo sắp đoàn tụ với nhau, xin

[/align]





chúc mừng”. Phong Diệu Thường đỏ ửng mặt, nhưng trong lòng mừng rỡ vô hạn.

[/align]





Ba người vội vã lên đường, đến chiều hôm sau đến huyện Long. Thủy Vân trang

[/align]





nằm ở dưới chân Tần Lĩnh. Vừa đến huyện Long đã nhìn thấy dãy núi Tần Lĩnh ở

[/align]





phía xa. Lệ Nam Tinh nói: “Đêm nay chúng ta hãy ở lại huyện thành, trưa ngày mai

[/align]





sẽ tới Thủy Vân trang. Nếu tiếp tục đi canh ba đêm nay sẽ tới nơi. Nhưng nửa đêm

[/align]





đến gõ cửa nhà người hơi bất tiện. Phong cô nương, cô nương không vội chứ?”

[/align]





Phong Diệu Thường đỏ mặt: “Lệ đại ca đùa mãi, đương nhiên ngày mai đi cũng

[/align]





được”.

[/align]





Công Tôn Yến chợt bảo: “Lệ đại ca, đại ca có chú ý tới một chuyện không?” Lệ

[/align]





Nam Tinh hỏi: “Có phải cô nương bảo những người chúng ta gặp trên đường không?”

[/align]





Số là hai ngày qua họ đã gặp những người cưỡi ngựa mang theo binh khí trên đường,

[/align]





vừa nhìn đã biết đó là những nhân vật giang hồ.

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Đúng thế! Ở đây là nơi núi non, theo lý ít người đi đường

[/align]





mới phải. Không biết tại sao có nhiều nhân vật giang hồ như thế? Chả lẽ ở núi Tần

[/align]





Lĩnh có bang phái nào tụ hội?”

[/align]





Lệ Nam Tinh nói: “Chúng ta cứ đến Thủy Vân trang hỏi thử, chắc Vân trang chủ

[/align]





sẽ biết”.

[/align]





Phong Diệu Thường gạt đi: “Cần gì phải nghi ngờ như thế? Chúng ta đừng để ý”.

[/align]





Công Tôn Yến trả lời: “Không phải tôi thích lo chuyện bao đồng, nhưng có chút

[/align]





kỳ lạ”.

[/align]





Ba người đang nói chuyện, chợt có hai thớt ngựa chạy tới, một người kêu lên:

[/align]





“Đó chẳng phải Công Tôn cô nương đó sao? Công Tôn cô nương có nhận ra tôi

[/align]





không?”

[/align]





Hai người này nhận ra Công Tôn Yến, lập tức xuống ngựa thi lễ. Công Tôn Yến

[/align]





ngẩn người ra, hỏi: “Ngài có phải Lý trại chủ ở Ẩm Mã Xuyên đó không?”

[/align]





Người ấy đáp: “Cô nương nhớ dai thật, tôi chính là Lý Hổ Nhi, còn đây là bằng

[/align]





hữu của tôi, Trương Bằng Phi ở trại Khiêu Hổ. Té ra năm ngoái Lý Hổ Nhi đã từng

[/align]





đến Hồng Anh hội thăm Công Tôn Hoàng, Công Tôn Yến từng bưng trà mời y uống.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Sao các người lại tới đây?” Lý Hổ Nhi đáp: “Chúng tôi đi uống

[/align]





rượu mừng. Ngày mai phải đến Thủy Vân trang”.

[/align]





Công Tôn Yến thất kinh: “Uống rượu mừng của ai?”

[/align]





Lý Hổ Nhi đáp: “Ngày mai con gái của Vân trang chủ sẽ xuất giá. Chắc cô

[/align]





nương biết Vân trang chủ chứ? Nửa năm trước Thạch hương chủ của quý hội đã từng

[/align]





đến Thủy Vân trang”.

[/align]





Công Tôn Yến đáp: “Tôi có nghe Thạch Huyền nói. Con gái của ông ta tên Vân

[/align]





Trung Yến đúng không?” Lý Hổ Nhi. đáp: “Đúng rồi, ngày mai là ngày vui của

[/align]





nàng”.

[/align]





Công Tốn Yến hỏi: “Không biết ai sắp trở thành nữ tế của Vân trang chủ?”

[/align]





Chính là:

[/align]





Chỉ sợ vui xưa như giấc mộng

[/align]





Tỉnh rồi nào biết tìm đâu ra?

[/align]





Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 32 sẽ rõ.

[/align][/align][/align][/align][/align]

[/align]

[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-08 21:47:04Hoàng Dung>
đánh máy Hư Trúc tiên sinh
 
Hồi Thứ Ba Mươi Hai
[/align]
Hỏi thế gian sao lắm muộn phiền
Một đoạn tơ tình gỡ chẳng xong
[/align]
Lý Hổ Nhi trả lời: “Nghe nói là một anh hùng thiếu hiệp họ Tần!”

[/align]Y vừa nói ra câu ấy, Phong Diệu Thường cảm thấy như sấm nổ giữa trời xanh, cả Công Tôn Yến cũng trợn mắt buột miệng: “Tần gì?"





Lý Hổ Nhi ngạc nhiên, thầm nhủ: “Chả lẽ nàng có mối quan hệ gì với kẻ họ Tần

[/align]





ấy sao?” Rồi mới đáp: “Tôi chỉ biết y họ Tần, chúng tôi nghe Vân trang chủ gả con

[/align]





gái mới đến đây chứ không nhận được thiệp mời của ông ta”.

[/align]





Trương Bằng Phi không thấy Công Tôn Yến đã đổi sắc mặt, bèn nói tiếp: “Nghe

[/align]





nói anh hùng thiếu hiệp họ Tần này đã từng giúp Thủy Vân trang, chắc cô nương biết

[/align]





mùa xuân năm nay La Đại Đấu đến Thủy Vân trang cướp cô dâu, bị người họ Tần này

[/align]





giết chết. Chúng tôi đã từng bị bọn La Đại Đấu bức hiếp, lần đó chúng tôi không đến

[/align]





kịp để giúp, nên tuy không nhận được thiệp mời cũng phải nên đến chúc mừng và đáp

[/align]





tạ! Công Tôn cô nương, các người đi đâu thế? Vân trang chủ xưa nay rất hiếu khách,

[/align]





cũng từng có giao tình với quý hội, nếu cô nương chịu đến Thủy Vân trang, Vân trang

[/align]





chủ chắc sẽ rất vui mừng”.

[/align]





Công Tôn Yến hừ một tiếng: “Sớm muộn gì ta cũng phải đến Thủy Vân trang,

[/align]





không đợi ngươi thay Vân Long mời khách”.

[/align]





Trương Bằng Phi nghe thế ngạc nhiên. Lý Hổ Nhi biết không ổn, vội vàng nói:

[/align]





“Được, nếu Công Tôn cô nương có chuyện khác thì chúng tôi đi trước!” Rồi vội vàng

[/align]





lên ngựa, quên cả hỏi lên Lệ Nam Tinh và Phong Diệu Thường.

[/align]





Công Tôn Yến rất bực đọc: “Phong tỷ tỷ, tỷ đừng buồn, tôi và tỷ sẽ đến Thủy

[/align]





Vân trang tìm Tần Nguyên Hạo tính sổ!”

[/align]





Phong Diệu Thường lúc này cảm thấy như có muôn ngàn mũi tên đâm vào tim,

[/align]





nàng cố kìm nước mắt mà rằng: “Tôi còn đến Thủy Vân trang làm gì?”

[/align]





Công Tôn Yến gằn giọng: “Tìm Tần Nguyên Hạo! Cô nương tha cho y nhưng tôi

[/align]





thì không!” Lúc này Phong Diệu Thường không kìm được nước mắt, nàng bảo: “Yến

[/align]





tỷ, tỷ đừng như thế, tôi chỉ trách mình số khổ, làm sao trách được Tần Nguyên Hạo.

[/align]





Chúng tôi vốn không có hôn ước, làm sao cấm được người ta?”

[/align]





Công Tôn Yến vẫn bực tức: “Nếu không có hôn ước y cũng phải biết tình ý của

[/align]





tỷ giành cho y! Hừ? Tỷ còn biện giải cho y!”

[/align]





Lệ Nam Tinh thở dài: “Chuyện trên đời chẳng theo ý mình, sự thay đổi của tình

[/align]





trường càng khiến cho người ta bất ngờ. Chuyện hôn nhân không thể cưỡng ép,

[/align]





chuyện gì thuộc về quá khứ thì cứ để cho nó đi qua”.

[/align]







Công Tôn Yến vẫn chưa chịu: “Theo ý của huynh, chúng ta không nghĩ đến

[/align]





chuyện này nữa sao?” Lệ Nam Tinh lắc đầu: “Cô nương, cô nương đừng như trẻ con

[/align]





nữa”.

[/align]





Công Tôn Yến bĩu môi: “Ý huynh muốn bảo một đại anh hùng như huynh thì

[/align]





không thèm lo đến chuyện này hay sao?”

[/align]





Lệ Nam Tinh cười khổ: “Không phải thế. Nhưng đó là chuyện người ngoài

[/align]





không thể quản được, vả lại còn có việc gấp hơn chuyện này nữa”.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Ý huynh bảo chuyện đến Tây Xương phải không?”

[/align]





Lệ Nam Tinh đáp: “Đúng thế, đến Tây Xương giúp nghĩa quân đánh đuổi bọn

[/align]





Mãn Châu, chẳng phải chuyện này quan trọng hơn hay sao? Trong thiên hạ có rất

[/align]





nhiều chuyện không như ý, nếu đã không cứu vãn được thì chỉ đành buông xuôi”. Lệ

[/align]





Nam Tinh nói mấy câu này thực sự để cho Phong Diệu Thường nghe.

[/align]





Phong Diệu Thường gật đầu: “Lệ đại ca nói phải”.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Vậy đêm nay chúng ta có vào thành tá túc không?”

[/align]





Lệ Nam Tinh cười: “Đã đến đây, chả lẽ còn ở ngoài? Huyện Long cũng có

[/align]





đường đến Tây Xương, Sáng ngày mai chúng ta sẽ lên đường, nhưng không cần đến

[/align]





Thủy Vân trang nữa”.

[/align]





Công Tôn Yến nghĩ bụng: “Các người buông xuôi nhưng ta vẫn phải làm cho ra

[/align]





lẽ. Được, cứ đến huyện Long rồi tùy cơ hành sự”.

[/align]





Ba người vào đến huyện thành, tìm một khách sạn nghỉ ngơi. Khi họ vào đến

[/align]





khách sạn đã có hai người ngồi ở đấy. Hai người này đều là hán tử tướng mạo thô hào,

[/align]





vừa nhìn đã biết là nhân vật giang hồ. Vừa bước vào cửa, chợt nghe người trẻ tuổi hơn

[/align]





hỏi: “Đường nào đến Thủy Vân trang?”

[/align]





Chưởng quỹ trả lời: “Ra từ cửa nam, đi thẳng về hướng nam đến chân núi rồi rẽ

[/align]





sang hướng đông, ở đó chính là Thủy Vân trang”.

[/align]





Người lớn tuổi hơn nói: “Ngày mai trời chưa sáng hãy kêu ta dậy. Đến trưa bọn

[/align]





ta phải tới Thủy Vân trang”.

[/align]





Chưởng quỹ trả lời: “Khách quan hãy yên tâm. Tôi sẽ không làm lỡ dịp uống

[/align]





rượu mừng của hai vị ở Thủy Vân trang”.

[/align]





Tên tiểu nhị dắt khách về phòng, Công Tôn Yến hỏi: “Thủy Vân trang cách đây

[/align]





có xa không?”

[/align]





Chưởng quỹ trả lời: “Nói xa thì không xa, bảo gần thì không gần, khoảng bốn

[/align]





năm mươi dặm đường. Sáng sớm ngày mai đi, đến trưa có thể tới nơi. Các vị cũng đến

[/align]





Thủy Vân trang uống rượu mừng ư?”

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Không, ta chỉ hỏi mà thôi. Bởi vì từ nhỏ tôi đã nghe đại

[/align]





đanh của Thủy Vân trang chủ”.

[/align]





Chưởng quỹ cười rằng: “Đúng thế, Vân trang chủ được người ta gọi là Tiểu






Mạnh Thường, mấy ngày nay có rất nhiều khách đi ngang qua đây, cho nên tôi mới

[/align]





tưởng các vị cũng đến uống rượu mừng”.

[/align]





Ngay lúc này ở ngoài cửa có một người khách đi ngang qua. Phong Diệu Thường

[/align]





đang nghe chưởng quỹ nói chuyện cho nên không để ý. Người ấy đứng lại ở trước cửa,

[/align]





mặt lộ vẻ ngạc nhiên, kêu ồ một tiếng rồi vội vàng bỏ đi. Công Tôn Yến lường rằng

[/align]





đó chỉ là người muốn tìm nơi ở, tuy cảm thấy y kỳ quặc nhưng không để ý.

[/align]





Lệ Nam Tình thuê hai phòng gần nhau. Hai thiếu nữ ở cùng một phòng. Phong

[/align]





Diệu Thường vào phòng đóng cửa lại, thì thầm: “Yến tỷ, tỷ đừng làm càn”.

[/align]





Công Tôn Yến cười: “Tỷ hãy yên tâm, tôi đâu phải là trẻ con?” Nhưng trong

[/align]





lòng thầm bảo: “Tỷ gặp phải hạng đàn ông phụ bạc, tỷ không tiện ra mặt, nhưng tôi

[/align]





thì được!” Rồi lại nghĩ: “May mà Tần Nguyên Hao ngày mai mới thành hôn, có thể y

[/align]





vẫn chưa biết tình cảm của Phong tỷ tỷ đối với y, đến khi mình nói với y, chắc có thể

[/align]





cứu vãn được”. Vì từ nhỏ Công Tôn Yến được cha nuông chiều, cho nên nghĩ chuyện

[/align]





gì cũng dễ dàng, thường có những ý nghĩ hết sức kỳ quặc. Nàng tưởng rằng mình

[/align]





không phải là trẻ con nhưng thực sự vẫn còn là đứa trẻ.

[/align]





Dùng cơm tối xong, Lệ Nam Tinh ngủ sớm để ngày mai lên đường. Phong Diệu

[/align]





Thường ngổn ngang tâm sự cho nên cứ xoay qua trở lại không thể nào ngủ được.

[/align]





Đến gần nửa đêm, Công Tôn Yến chợt lay nhẹ nàng, nói: “Phong tỷ tỷ, tỷ đừng

[/align]





nghĩ nữa, ngủ đi”.

[/align]





“Tỷ mặc tôi, cứ ngủ trước đi”.

[/align]





Công Tôn Yến cười rằng: “Tỷ không ngủ được tôi làm sao ngủ. Tỷ phải ngủ tôi

[/align]





mới yên tâm. Phong tỷ tỷ, ngoan nào, nghe lời tôi, ngủ đi!” Rồi nàng đột nhiên vung

[/align]





tay điểm vào huyệt hôn thụy của Phong Diệu Thường. Phong Diệu Thường nằm mơ

[/align]





cũng không ngờ Công Tôn Yến lại điểm huyệt đạo của mình. Công Tôn Yến cười nói:

[/align]





“Phong tỷ tỷ đừng trách tôi. Sáng mai tôi quay về, không chừng tỷ sẽ tạ ơn tôi đấy”.

[/align]





Nàng điểm rất nhẹ nhàng cho nên chỉ cần hai ba canh giờ thì huyệt đạo sẽ tự giải.

[/align]





Công Tôn Yến thay áo đã hành, đẩy cửa sổ rồi lặng lẽ phóng ra. Khinh công của

[/align]





nàng rất cao cường, Lệ Nam Tinh ngủ ở phòng bên cạnh mà chẳng hề hay biết.

[/align]





Công Tôn Yến thi triển khinh công tuyệt đỉnh, chạy hơn một canh giờ đến nơi,

[/align]





chỉ thấy trước cổng của Thủy Vân trang treo đèn kết hoa, quả nhiên đang có việc

[/align]





mừng. Nhưng lúc này đã quá canh ba, những khách đến sớm đều đã ngủ, cổng cũng

[/align]





đã đóng chặt, không có người trông coi. Công Tôn Yến cũng chẳng nghe ngóng được

[/align]





gì.

[/align]





Nàng thầm nhủ: “Mình phải tìm Tần Nguyên Hạo nói chuyện riêng với y”. Chợt

[/align]





nhớ mình không biết Tần Nguyên Hạo, làm sao tìm y? Nhưng đã đến đây thì phải vào

[/align]





rồi tính tiếp. Nào ngờ vừa mới nhảy vào sân, chợt có người quát: “Ai, đứng yên!”

[/align]





Trong chốc lát, trong bụi hoa, sau hòn non bộ có bảy tám người phóng ra. Trong

[/align]





đó có hai hán tử cao lớn, một người vừa ra tay đã phóng ám khí, còn người kia thì đã






chém thanh giới đao xuống.

[/align]





Công Tôn Yến phất ống tay áo đánh rơi ba mũi thấu cốt đinh. Khi hán từ kia

[/align]





vung đao chém tới, nàng cũng đã rút kiếm ra khỏi vỏ rồi xoay người tiến lên. Chỉ

[/align]





nghe keng một tiếng, thanh miến đao đã bay lên không trung. Nàng đã dùng tự quyết

[/align]





chữ “giảo” cuộn thanh miến đao của người ấy vuột khỏi tay, lập tức nói lớn: “Ta đến

[/align]





đây không phải đánh nhau!”

[/align]





Người ấy kêu lên: “Ồ, té ra là một nữ tử!”

[/align]





“Ta còn tưởng bọn giặc cướp ở Tần Lĩnh!” Một giọng nói lạnh lùng vang lên:

[/align]





“Chả lẽ Tần Lĩnh không có nữ tặc sao?”

[/align]





Công Tôn Yến tức giận: “Nói bậy! Tên La Đại Đấu ở Tần Lĩnh làm tùy tùng cho

[/align]





ta còn không xứng! Các người dám bảo ta là nữ tặc. Hừ hừ, ta vốn đến đây không phải

[/align]





đánh nhau, nhưng nếu các người nhất định đánh thì ta cũng chiều!”

[/align]





Những người này là đệ tử của Vân Long, nghe nàng có khẩu khí lớn như thế

[/align]





hoảng hồn. Nhị đệ tử Lâm Cương của Vân Long là đầu lĩnh của bọn người này, y cầm

[/align]





chuôi kiếm hỏi: “Vậy cô nương đến đây vì chuyện gì, có thể cho biết hay không?”

[/align]





Công Tôn Yến ngẫm nghĩ, việc đã đến nước này chỉ đành nói rõ với họ. Vì thế

[/align]





đáp sẵng: “Bảo tân lang ra đây, ta có chuyện muốn nói với y!”

[/align]





Đám người ấy nghe xong thì đều ngạc nhiên. Lâm Cương hỏi: “Tân lang đã ngủ

[/align]





say, cô nương muốn gặp y làm gì?” Công Tôn Yến đáp: “Ta đương nhiên có chuyện

[/align]





mới tìm y, ngủ say cũng bảo y dậy!” Lâm Cương trả lời: “Được, cô nương cứ đợi một

[/align]





lát, tôi sẽ kêu y”.

[/align]





Lâm Cương đang định vào bẩm cáo với sư phụ, nhưng Vân Long đã bước ra,

[/align]





nghe có nàng thiếu nữ xinh đẹp muốn tìm nữ tế của mình không khỏi ngạc nhiên.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Đây có phải là Vân trang chủ không? Xin thứ vãn bối nửa

[/align]





đêm xông vào quý trang, kinh động lão tiền bối”.

[/align]





Vân Long liếc nhìn Công Tôn Yến rồi trả lời: “Đúng thế, lão phu chính là Vân

[/align]





Long, xin hỏi cô nương tên họ là chi?”

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Vãn bối là Công Tôn Yến. Tổng đà chủ của Hồng Anh hội

[/align]





Công Tôn Hoằng là phụ thân của vãn bối, Vân trang chủ chắc biết”.

[/align]





Vân Long vừa nghe không khỏi cả kinh, nói: “Té ra lệnh tôn là Công Tôn đà

[/align]





chủ? Vân mô từ lâu đã ngưỡng mộ lệnh tôn, đã từng nhận ơn của quý hội, hiếm có dịp

[/align]





cô nương ghé đến, xin thứ cho tiểu đồ không biết chuyện”.

[/align]





Công Tôn Yến nói: “Nào dám, nào dám. Vãn bối chưa báo tên mà đã cầu kiến,

[/align]





đó là cái sai của vãn bối. Chỉ vì có chuyện gấp cho nên cũng đành chịu”. Vân Long

[/align]





thắc mắc lắm, hỏi: “Ồ, vậy cô nương đến đây là có chuyện gì?”

[/align]





Công Tôn Yến đáp: “Nghe nói lệnh ái ngày mai sẽ xuất giá?” Vân Long trả lời:

[/align]





“Đúng thế”. Công Tôn Yến nói: “Chính vì chuyện này mà vãn bối đến. Xin tiền bối






[font="times new roman"]hãy gọi lệnh tế ra, tôi phải nói chuyện với y, lúc đó tiền bối sẽ hiểu ngay”.

[/align]





Vừa nói đến đây, con gái và con rể của Vân Long cũng chạy ra, Vân Long nói:

[/align]





“Các con đến đây, Công Tôn cô nương muốn gặp các con”. Công Tôn Yến thấy đó là

[/align]





nữ tế của ông ta, nhưng Vân Long lại không muốn để cho họ nói chuyện riêng, vì thế

[/align]





mới kéo theo con gái của mình.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Đây có phải là Vân Trung Yến tỷ tỷ không? Được, tỷ đứng

[/align]





đây thì càng tốt, chúng ta cứ ba mặt một lời nói cho rõ”.

[/align]





Vân Trung Yến đã nổi lòng ghen tuông, nàng lạnh lùng: “Cô nương tìm chàng

[/align]





làm gì?” Công Tôn Yến nói: “Tôi khuyên tỷ đừng lấy y thì tốt hơn, y là kẻ bạc tình!”

[/align]





Vân Trung Yến chợt đổi sắc mặt, lạnh lùng: “Hay lắm, đại sư ca, té ra huynh đã

[/align]





có cô nương khác mà lại giấu muội!”

[/align]





Tân lang lo lắng, vội vàng nói: “Công Tôn cô nương, sao lại nói thế. Tôi và cô

[/align]





nương có quen biết nhau đâu?”

[/align]





Công Tôn Yến chưng hửng, dậm chân: “Đâu có dễ dàng thế, đương nhiên ta

[/align]





chẳng quen biết gì với ngươi, ta muốn nói Phong Diệu Thường. Chả lẽ ngươi bảo

[/align]





không hề quen biết Phong Diệu Thường?”

[/align]





Tân lang nhíu mày: “Phong Diệu Thường là ai, tôi chưa hề nghe cái tên này!”

[/align]





Công Tôn Yến giận dữ: “Không ngờ ngươi phủi sạch sành sanh. Vậy ngươi có

[/align]





phải là Tần Nguyên Hạo không?”

[/align]





Tân lang ngạc nhiên: “Ồ, bây giờ ta đã hiểu. Có phải cô nương tìm người tên

[/align]





Tần Nguyên Hạo không?”

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Ngươi không phải Tần Nguyên Hạo?”

[/align]





Tân lang cười: “Tôi họ Tần, nhưng Tần Nguyên Hạo không phải là tôi!”

[/align]





Vân Long xen vào: “Y là tên tiểu đồ Tần Thiếu Dương. Tần Nguyên Hạo là cao

[/align]





đồ của chưởng môn phái Võ Đang. Công Tôn cô nương, cô nương muốn tìm ai?”

[/align]





Công Tôn Yến đỏ mặt, lúc này mới biết mình nhận lầm người, nên gây ra trò

[/align]





cười cho thiên hạ. Lúc này khách khứa cũng đã kéo tới, họ không biết xảy ra chuyện

[/align]





gì, chỉ nghĩ có kẻ thù đến gây sự cho nên định giúp đỡ. Lý Hổ Nhi và Trương Bằng

[/align]





Phi cũng có mặt trong số đó.

[/align]





Công Tôn Yến thẹn thùng, nhận ra hai người ấy thì trút giận về phía họ: “Toàn

[/align]





là các ngươi hồ đồ, tại sao các ngươi lại bảo tân lang là Tần Nguyên Hạo?”

[/align]





Lý Hổ Nhi không nén được, cười: “Cô nương có nhớ nhầm không? Tôi chỉ nói

[/align]





tân lang họ Tần chứ đâu có bảo là Tần Nguyên Hạo?”.

[/align]





Công Tôn Yến vùng vằng: “Các người bảo tân lang là anh hùng thiếu hiệp đã

[/align]





giết chết La Đại Đấu, đó chẳng phải là Tần Nguyên Hạo hay sao?”

[/align]





Trương Bằng Phi rất phóng khoáng, chịu nhận sai trước, đáp: “Đó là tại tôi hồ

[/align]





đồ. Tôi cũng như cô nương, cứ nghĩ hai người họ là một người”.

[/align][/align]





Vân Long giải thích: “Là thế này, Thiếu Đương là đại đệ tử của tôi, đã xuất sư từ

[/align]





lâu, hai năm nay ở nhà thì ít mà ở ngoài thì nhiều. Mùa xuân năm nay bọn giặc cướp

[/align]





Tần Lĩnh đến sinh sự, hôm trước hắn mới từ Tiểu Kim Xuyên trở về. Danh tiếng của

[/align]





tiểu đồ đương nhiên không bằng Tần thiếu hiệp của phái Võ Đang, cho nên có nhiều

[/align]





bằng hữu không thân thiết, có thể bàn qua tán lại tưởng rằng hai người họ là một.

[/align]





Thực ra cũng tại tôi, vì tôi không muốn kinh động nhiều người không thân thiết,

[/align]





không gửi thiệp mời cho họ khiến họ đến Thủy Vân trang mới biết tên của tân lang”.

[/align]





Tần Thiếu Dương nghe thế trong lòng đương nhiên khó chịu. Vân Trung Yến

[/align]





ghé vào tai y, thì thầm: “Bọn người ấy chỉ biết phái Võ Đang có một Tần thiếu hiệp,

[/align]





nhưng trong lòng muội chỉ có một mình huynh!” Tần Thiếu Dương nghe thế cảm thấy

[/align]





mát lòng mát dạ.

[/align]





Số là Vân Long quả thật cũng muốn gả con gái cho Tần Nguyên Hạo, nhưng

[/align]





Trung Yến và đại sư ca đã có tình cảm từ trước, biết cha có ý như thế, không đợi ông

[/align]





ta mở miệng đã thổ lộ tâm sự của mình. Vân Long lại thử Tần Nguyên Hạo, biết Tần

[/align]





Nguyên Hạo cũng có người khác, nếu hai bên đã không chấp nhận, Vân Long cũng

[/align]





đành thôi vậy. Thực ra ông ta không phải không thích Tần Thiếu Dương, nếu không

[/align]





đã không lập y làm đệ tử chưởng môn. Sở dĩ ông ta muốn gả con gái của mình cho

[/align]





Tần Nguyên Hạo là vì muốn báo đáp ân đức của chàng mà thôi. Sau đó ông ta biết

[/align]





tâm sự của con gái lập tức sai người đến Tiểu Kim Xuyên bảo đại đệ tử về thành hôn.

[/align]





Lại nói Công Tôn Yến sau khi biết sự thực hổ thẹn đến nỗi đỏ mặt, chỉ đành xin

[/align]





lỗi tân lang và tân nương. Vân Long cười nói: “Chỉ là một chút hiểu lầm nhỏ nhoi,

[/align]





cần gì phải để trong lòng? Hiếm có dịp cô nương đến đây, xin mời hãy ở lại, ngày mai

[/align]





cùng uống chén rượu mừng”.

[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Không biết Tần Nguyên Hạo có còn ở quý trang hay

[/align]





không? Tôi muốn mời y cùng tôi đi gặp Phong Diệu Thường, sau đó cả bọn chúng tôi

[/align]





sẽ đến uống rượu mừng của lệnh ái!” Vân Long đáp: “Tần thiếu hiệp đang ở tệ trang,

[/align]





nhưng hôm nay có chút việc đã ra huyện thành, giờ vẫn chưa quay về”.

[/align]





Lâm Cương nói: “Thật lạ, sao Tần thiếu hiệp vẫn chưa quay về? Có cần bảo vài

[/align]người vào thành tìm y không?”

[/align][/align]

[/align][/align][/font]

[/align][/align][/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0






Công Tôn Yến chột dạ hỏi: “Hôm nay Tần Nguyên Hạo ra thành mặc đồ màu
[/align]





gì?”
[/align]





Lâm Cương nói: “Mặc một bộ trường bào màu lam mới may”.
[/align]





Công Tôn Yến kêu ối chao một tiếng: “Hình như Tần Nguyên Hạo đã gặp chúng
[/align]





tôi. Tôi phải về đây!” Nàng là người tính tình nóng vội, nói xong mấy câu thì đã vội
[/align]





vàng bỏ chạy khiến cho bọn người ở Thấy Vân trang sơn trang đều ngạc nhiên. Vân
[/align]





Long chỉ đành bảo vài đồ đệ đi theo xem có chuyện gì.
[/align]





Công Tôn Yến đoán không sai, người khách đứng ở ngoài của khách sạn chính là
[/align]





Tần Nguyên Hạo. Lúc đó Tần Nguyên Hạo vì thấy Phong Diệu Thường đứng cùng
[/align]





với một thiếu hiệp, nên không bước vào kêu nàng. Nhưng sau khi bỏ đi thì chẳng thể
[/align]





nào yên lòng.
[/align]





Tần Nguyên Hạo vẫn chưa biết Kim Trục Lưu làm mai cho mình, nhưng có một
[/align]





người thích làm mai hơn Kim Trục Lưu đã đến núi Võ Đang nói chuyện với sư phụ
[/align]





của chàng. Người này chính là bang chủ của Cái Bang Trọng Trường Thống. Té ra
[/align]





ban đầu Trọng Trường Thống không thích mối duyên này, nhưng sau khi bị Kim Trục
[/align]





Lưu vặt cho một trận ở núi Tồ Lai thì ông ta cảm thấy đuối lý, vì thế chạy đến núi Võ
[/align]





Đang làm mai trước Kim Trục Lưu. Lôi Chấn Tử cảm thấy chuyện này rất buồn cười
[/align]





bởi vì ông ta chưa biết nhà gái thế nào mà đã làm mai. Trọng Trường Thống nói rõ
[/align]





thân phận của phía nhà gái thì bảo: “Phong Tử Siêu là một tên khốn kiếp nhưng con
[/align]





gái của y gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Cho nên không cần hỏi đến Phong Tử
[/align]





Siêu, chỉ cần con gái của y chấp nhận là được. Phong cô nương đã thương mến lệnh
[/align]





đồ từ lâu, ăn mày già đã biết chuyện này. Giờ đây chỉ coi người làm sư phụ như ông
[/align]





có phản đối hay không mà thôi”. Lôi Chấn Tử nể mặt Trọng Trường Thống, chỉ đành
[/align]





chấp nhận không can thiệp vào. Tuy thế trong lòng ông ta cũng không đồng ý lắm.
[/align]





Hai năm qua, Tần Nguyên Hạo cũng mong ngóng tin tức của Phong Diệu
[/align]





Thường, chàng đã dưỡng bệnh ở Thủy Vân trang nửa năm, lần đầu tiên ra huyện
[/align]





thành thì lại gặp Phong Diệu Thường. Nhưng chàng không ngờ Phong Diệu Thường đi
[/align]





cùng một người khác.
[/align]





Tần Nguyên Hạo rời khỏi khách sạn, lòng vẫn nghi ngờ không yên: “Chả lẽ
[/align]





nàng đã kết hôn? Nếu không sao lại đi cùng một người khác? Nhưng biết đâu chừng
[/align]





họ chỉ tình cờ gặp nhau
[/align]





Tần Nguyên Hạo cảm thấy lòng dạ rối bời, không thể nào yên tâm được. Chàng
[/align]





ngồi ngẩn người ra trong quán trà một hồi, bất giác trời đã tối, chàng chợt nảy ra một
[/align]





ý: “Mình cần gì ở đây đoán bừa, chi bằng đêm nay âm thầm đến xem, nếu họ ở cùng
[/align]





phòng thì chính là phu thê”.
[/align]





Đến canh ba, Tần Nguyên Hạo rón rén vào trong khách sạn, đúng lúc gặp Công
[/align]





Tôn Yến vừa chạy ra khỏi khách điếm nhưng hai người không gặp mặt nhau. Khách
[/align]





sạn này không quá mười căn phòng, Tần Nguyên Hạo bước về phía trước thăm dò.
[/align]





Chàng bước đến trước căn phòng của Phong Diệu Thường, len lén nhìn vào khe cửa
[/align]





sổ. Phong Diệu Thường đang nằm xoay mặt ra ngoài ngủ say. Tần Nguyên Hạo nhận
[/align]





ra nàng, lòng đã bớt căng thẳng, lòng thầm nhủ: “Té ra nàng và người ấy chẳng phải
[/align]





phu thê”. Trong lúc mừng rỡ chàng không cần thận, tay chạm vào song cửa phát ra
[/align]





tiếng.
[/align]





Lệ Nam Tinh nằm ngủ ở phòng bên cạnh, vừa nghe tiếng thì biết có người quấy
[/align]





rối.
[/align]





Lệ Nam Tinh đẩy cửa sổ trầm giọng quát: “Ai?” Vì chàng không biết đối phương
[/align]





là ai cho nên không dám phóng ám khí. Tần Nguyên Hạo đương nhiên không tiện giải






thích, nghe chàng quát cả kinh vội vàng bỏ chạy.
[/align]





Tần Nguyên Hạo bỏ chạy, Lệ Nam Tinh nghĩ chàng là kẻ xấu, đang định đuổi
[/align]





theo chợt chột dạ: “Không xong, tại sao không nghe họ lên tiếng? Bản lĩnh của hai
[/align]





người không kém, dù không phát giác, nhưng nghe tiếng mình kêu lẽ nào vẫn nằm
[/align]





im!”
[/align]





Lệ Nam Tinh chỉ đành đẩy cửa vào, kêu lên: “Công Tôn cô nương, Phong cô
[/align]





nương!” Nhưng chàng vẫn không nghe tiếng trả lời. Lệ Nam Tinh không còn nghi
[/align]





ngại gì, chàng bước vào phòng đốt đèn lên xem, chỉ thấy có một mình Phong Diệu
[/align]





Thường nằm ngủ trên giường.
[/align]





Lệ Nam Tinh vừa nhìn đã biết nàng bị người ta điểm hôn huyệt, nhưng chàng
[/align]





không biết đó là Công Tôn Yến. Rồi chàng vội vàng giải huyệt cho Phong Diệu
[/align]





Thường hỏi ngay: “Cô nương... cô nương có bị tặc tử hiếp đáp không?” Phong Diệu
[/align]





Thường dụi mắt hỏi: “Tặc tử nào? Ồ, Yến tỷ đi đâu rồi, huynh có biết không?”
[/align]





Lệ Nam Tinh yên lòng, không hỏi nhiều nữa mà nói: “Được, tôi đi bắt tên tặc tử
[/align]





đây!” Rồi nghĩ bụng: “Có lẽ bọn chúng không chỉ một người, Phong Diệu Thường bị
[/align]





bọn chúng điểm huyệt đạo, Công Tôn Yến bản lĩnh cao hơn, chưa bị ám toán đã đuổi
[/align]





ra. Hừ, bọn chúng nửa đêm mà dám chạy vào phòng nữ khách, chắc chắn là thứ giặc
[/align]





hái hoa!”
[/align]





Lệ Nam Tinh ghét ác như thù, bèn lập tức đuổi theo!
[/align]





Lúc nãy Lệ Nam Tinh chạy vào phòng Phong Diệu Thường, Tần Nguyên Hạo
[/align]





đang ở trên mái nhà. Chàng thấy Lệ Nam Tinh chạy vào phòng của Phong Diệu
[/align]





Thường, bất giác lòng đau nhói, thầm nhủ: “Bọn họ dẫu không phải là phu thê thì ít
[/align]





nhất cũng là tình nhân. Mình không thể để cho họ đuổi kịp được! Nếu Diệu Thường
[/align]





thấy mình cô ấy sẽ nghĩ như sao đây?”
[/align]





Khinh công của Tần Nguyên Hạo hơi kém hơn Lệ Nam Tinh, nhưng chàng đã
[/align]





chạy trước thành ra Lệ Nam Tinh không đuổi kịp.
[/align]





Lại nói Công Tôn Yến từ Thủy Vân trang chạy về, thấy một thiếu hiệp đang
[/align]





chạy như bay. Tần Nguyên Hạo đã thay đồ dạ hành, Công Tôn Yến kêu lên: “Này,
[/align]





ngươi là ai?” Hỏi chưa dứt, chợt nghe Lệ Nam Tinh ở phía sau kêu lên: “Mau chặn y
[/align]





lại, y là giặc hái hoa đấy!”
[/align]





Tần Nguyên Hạo thầm kêu khổ, nhủ rằng: “Đêm hôm khuya khoắt mà mình
[/align]





đứng ngoài cửa sổ nhìn lén Diệu Thường, làm sao giải thích cho y biết đây? Nhân lúc
[/align]





Diệu Thường vẫn chưa tới mình phải chạy cho nhanh!”
[/align]





Nào ngờ khinh công của Công Tôn Yến rất cao cường, Tần Nguyên Hạo toan
[/align]





chạy trước, Công Tôn Yến đã chặn trước mặt chàng, quát: “Đứng lại, ta muốn hỏi
[/align]





ngươi!”
[/align]





Tần Nguyên Hạo kêu lên: “Cô nương, tôi không phải là giặc hái hoa đâu!” Rồi
[/align]





chàng lách người chạy vòng qua hướng khác.
[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Ngươi không phải là giặc hái hoa cần gì phải lo?” Lệ Nam
[/align]





Tinh kêu lên: “Bắt y lại rồi tính tiếp?” Công Tôn Yến đuổi theo như hình với bóng,
[/align]





quát: “Ngươi là ai, nói mau, nếu không đừng trách cô nương không khách sáo!”
[/align]





Tần Nguyên Hạo đáp: “Tôi chỉ là khách qua đường, tôi đang có việc gấp, cô
[/align]





nương hãy tha cho tôi!”
[/align]





Công Tôn Yến nói: “Vớ vẩn, ngươi không nói thực là không được!” Rồi nàng
[/align]





đuổi tới điểm một chỉ vào sau lưng của chàng.
[/align]





Tần Nguyên Hạo chỉ đành trở tay chụp lại, phá giải chiêu ấy của Công Tôn Yến.
[/align]





Công Tôn Yến vừa đấu mấy chiêu thì đã biết chàng là người của phái Võ Đang.
[/align]





Lệ Nam Tinh đuổi tới, nói to: “Công Tôn cô nương, hãy giao tên tặc tử cho tôi”.
[/align]





Chàng tự nhủ một mình có thể bắt được Tần Nguyên Hạo cho nên không muốn lấy
[/align]





hai địch một.
[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Khoan đã, có phải ngươi muốn chạy về Thủy Vân trang
[/align]





không?”
[/align]





Tần Nguyên Hạo thất kinh, hỏi lại: “Sao cô nương biết?”
[/align]





Công Tôn Yến nói: “Vậy ngươi chẳng phải là Tần...” Nói chưa dứt lời, chợt thấy
[/align]





Phong Diệu Thường đã lật đật chạy tới, kêu lên: “Yến tỷ hãy nương tay, y... y là Tần
[/align]





Nguyên Hạo!” Phong Diệu Thường không biết chuyện gì đã xảy ra, chỉ tưởng Công
[/align]





Tôn Yến tìm Tần Nguyên Hạo gây sự, từ Thủy Vân trang đánh ra tới đây.
[/align]





Lệ Nam Tinh cả kinh: “Cái gì, y... y là Tần Nguyên Hạo? Vậy tại sao y điểm
[/align]





huyệt đạo của cô nương?”
[/align]





Công Tôn Yến bật cười nói: “Tôi đã điểm huyệt đạo của Phong tỷ tỷ”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo đỏ ửng cả mặt, vái dài Phong Diệu Thường: “Chúc cho hai
[/align]





người bạc đầu bên nhau. Đêm nay tôi chỉ muốn gặp cô nương một lần chứ không có
[/align]





ác ý gì, cô nương có thể cho tôi đi chưa?”
[/align]





Phong Diệu Thường ngơ ngác hỏi: “Huynh nói gì? Huynh giờ đây đã là nữ tế của
[/align]





Thủy Vân trang, tôi phải chúc huynh cùng Vân cô nương bạc đầu bên nhau mới phải”.
[/align]





Công Tôn Yến cười ha hả, nàng không biết nên nói trước với ai mới phải thế rồi
[/align]





chỉ đành nói: “Y không phải là tân lang!” Cười xong thì mới giải thích: “Tôi đã đến
[/align]





Thủy Vân trang, tân lang tên Tần Thiếu Đương, là đại đệ tử của Vân trang chủ. Phong
[/align]





tỷ tỷ, lần này chúng ta đã hiểu lầm nhiều lắm, cả tôi cũng gây ra chuyện”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo ngạc nhiên: “Xin hỏi cô nương tên họ là chi, chúng ta không
[/align]





quen biết nhau, tại sao lại đến Thủy Vân trang tìm tôi?”
[/align]





Công Tôn Yến vừa cười vừa đáp: “Tôi tên Công Tôn Yến, là tỷ muội với Phong
[/align]





tỷ tỷ, Phong tỷ tỷ tưởng huynh là nữ tế của Vân gia, nhưng tỷ tỷ không dám hỏi cho rõ
[/align]





ràng, tôi đành đi thay tỷ ấy”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo vừa lo vừa mừng: “Té ra nàng vẫn chưa thay lòng, nếu không
[/align]





nàng đã chẳng sợ mình làm nữ tế nhà người khác. Nhưng nàng có quan hệ gì với
[/align]





người này?”
[/align]





Công Tôn Yến biết Tần Nguyên Hạo đã hiểu nhầm liền nói: “Tần thiếu hiệp,
[/align]





huynh có phải là bằng hữu tốt của Kim Trục Lưu không?”
[/align]





Tần Nguyên Hạo đáp: “Chính thế. Tôi đang định dò hỏi tung tích của y”.
[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Được, vậy hai người lẽ ra phải là bằng hữu. Huynh có biết y
[/align]





là ai không?” Phong Diệu Thường mới nói tiếp: “Lệ đại ca là huynh đệ kết bái của
[/align]





Kim Trục Lưu, nhờ y cứu mạng muội, nếu không hôm nay chúng ta đã không gặp
[/align]





nhau”.
[/align]





Lệ Nam Tinh nói: “Cô nương chỉ nói đúng một phần ba, thực ra cô nương đã cứu
[/align]





tôi trước, còn người giúp cho cô nương là Công Tôn cô nương chứ không phải tôi”.
[/align]





Thế rồi nàng kể hết mọi chuyện ra. Lúc này Tần Nguyên Hạo mới biết là hiểu
[/align]





nhầm, vội vàng đáp tạ Lệ Nam Tinh và Công Tôn Yến.
[/align]





Công Tôn Yến hỏi: “Ba người chúng tôi đang định đến Tây Xương tìm Kim Trục
[/align]





Lưu, huynh có đi không?” Nói đến đây, nàng chợt bật cười rồi nói tiếp: “Tôi đã biết
[/align]





rõ rồi mà còn hỏi, có Phong tỷ tỷ huynh nhất định phải đi cùng! Tần thiếu hiệp, tôi
[/align]





xưa nay thích đùa với người khác, huynh đừng chê cười”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo đã hiểu ra mọi chuyện, lòng cảm thấy ngọt ngào, thế rồi mới
[/align]





bật cười: “Công Tôn cô nương, cô đã đoán sai rồi tôi phải quay về Thủy Vân trang”.
[/align]





Công Tôn Yến hỏi lại: “Huynh không đến Tây Xương ư”“
[/align]





Tần Nguyên Hạo đáp: “Ngày mai tôi còn phải dự hôn lễ, cô nương không biết
[/align]





ư?”
[/align]





Công Tôn Yến nói: “Ồ, té ra là thế. Tôi còn tưởng huynh không đi”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo nghiêm nghị: “Dự hôn lễ xong tôi nhất định phải đi”.
[/align]





Tần Nguyên Hạo nói tiếp: “Vân trang chủ rất mến khách, các người...” Nói chưa
[/align]





dứt lời thì chỉ thấy bọn Lâm Cương đã chạy tới phía họ.
[/align]





Rồi cả bọn cùng đến Thủy Vân trang, đến khi dự xong hôn lễ thì bốn người cùng
[/align]





lên đường đến Tây Xương.
[/align]





Tần Nguyên Hạo và Phong Diệu Thường trải qua nhiều trở ngại mới gặp lại
[/align]





nhau, cả hai đều rất hạnh phúc. Lệ Nam Tinh thấy cảnh ấy thì càng đau lòng hơn.
[/align]





Công Tôn Yến đã nhận ra điều đó, nàng thầm nhủ: “Trước đây mình cứ nghĩ Lệ
[/align]





đại ca và Phong tỷ tỷ thương yêu nhau. Nhưng Lệ đại ca tại sao lại buồn bã như thế?”
[/align]





Nàng vẫn giữ nỗi thắc mắc trong lòng, đến Tây Xương mà vẫn chưa có dịp hỏi.
[/align]





Hôm nay, họ đi vòng qua Tây Xương đến núi Đại Lương.
[/align]





Trúc Thanh Hoa và Lý Quang Hạ ra nghênh đón, Công Tôn Yến gặp Trúc
[/align]





Thanh Hoa mừng rỡ, cười nói: “Muội đến đây uống rượu mừng của tỷ, hai người đã
[/align]





định ngày tốt chưa?”
[/align][/align]






Trúc Thanh Hoa đỏ mặt, thì thầm: “Vẫn chưa. Ý của cha là phải đợi lấy lại Tây
[/align]





Xương mới lo chuyện cho chúng tôi”. Trúc Thanh Hoa cũng giống như Công Tôn
[/align]





Yến, đều là cô nương phóng khoáng vô tư.
[/align]





Công Tôn Yến cười: “Chắc mọi chuyện sẽ ổn cả thôi. Võ công của Trúc bá phụ
[/align]





tuyệt thế, lại có nhiều hào kiệt giúp đỡ, lẽ nào không đoạt lại Tây Xương được?”
[/align]





Trúc Thanh Hoa nói: “Muội đừng coi thường kẻ địch, Soái Mạnh Hùng võ công
[/align]





không kém, gần đây triều đình lại liên tục tăng viện cho Tây Xương, nói không chừng
[/align]





bọn chúng sẽ tấn công chúng tôi trước. Ồ những người bằng hữu của tỷ là ai...”
[/align]





Công Tôn Yến cười: “Ở đây có một trưởng bối của tỷ, tỷ phải đến hành lễ
[/align]





trước”.
[/align]





Trúc Thanh Hoa thấy Lệ Nam Tinh, Tần Nguyên Hạo cũng trạc tuổi mình, còn
[/align]





Phong Diệu Thường hình như nhỏ hơn nàng, bất giác ngạc nhiên: “Ai là trưởng bối
[/align]





của tôi?” Chưa dứt câu Lý Quang Hạ đã bước tới, cung kính ra mắt Lệ Nam Tinh:
[/align]





“Lệ thúc thúc giá lâm, tiểu điệt Lý Quang Hạ xin ra mắt”. Té ra Tần Nguyên Hạo đã
[/align]





cho chàng biết mối quan hệ giữa Lệ Nam Tinh với Kim Trục Lưu. Công Tôn Yến
[/align]





cười bảo: “Lệ đại ca là nghĩa huynh kết bái của Kim Trục Lưu”.
[/align]





Trúc Thanh Hoa liền hành lễ với Lệ Nam Tinh rồi mọi người vào sơn trại, Trúc
[/align]





Thượng Phụ nghe nói Lệ Nam Tinh là nghĩa huynh của Kim Trục Lưu thì có ý thử bản
[/align]





lĩnh của chàng, khi hành lễ thì dùng tay đẩy nhẹ, Lệ Nam Tinh cảm thấy một luồng
[/align]





đại lực tựa như nâng mình lên, chàng vội vàng dùng thân pháp trụ vật.
[/align]





Trúc Thượng Phụ vuốt râu cười nói: “Lệ lão đệ quả nhiên danh bất hư truyền, tôi
[/align]





nghe nói lão đệ và Kim Trục Lưu đại náo kinh thành, đúng là anh hùng xuất thiếu
[/align]





hiệp”.
[/align]





Lệ Nam Tinh nói mấy câu khiêm nhường rồi hỏi: “Kim Trục Lưu có đến đây hay
[/align]





không?”
[/align]





Trúc Thượng Phụ: “Ai bảo y đến đây?” Lệ Nam Tinh nói: “Nghe Công Tôn đà
[/align]





chủ bảo, Kim Trục Lưu và người của Cái Bang đã rời khỏi Dương Châu. Khi ở Bắc
[/align]





Kinh tôi cũng nghe y bảo sẽ đến chỗ của tiền bối, tôi tưởng y đến đây”.
[/align]





Trúc Thượng Phụ: “Có lẽ trên đường họ gặp trắc trở, vài ngày nữa chắc sẽ tới”.
[/align]





Lệ Nam Tinh không gặp được Kim Trục Lưu có hơi ngạc nhiên. Lòng thầm nhủ:
[/align]





“Bọn họ lên đường trước mình tại sao vẫn chưa tới? Chả lẽ Kim Trục Lưu đã âm thầm
[/align]





vào Tây Xương?”
[/align]





Trúc Thượng Phụ hình như biết ý chàng, nói: “Hiện nay có mười mấy đại nội cao
[/align]





thủ đến tiếp xúc, binh lực tăng thêm mấy phần, trong thành canh gác rất nghiêm ngặt,
[/align]





tôi đang đợi nghĩa quân ở Tiểu Kim Xuyên đến mới cùng tấn công vào thành. Nếu
[/align]





không có gì cần thiết, người của chúng ta tốt nhất đừng vào Tây Xương”. Lệ Nam
[/align]





Tinh vốn muốn đến Tây Xương dò thám tin tức, nghe Trúc Thượng Phụ nói như thế
[/align]





cũng đành tạm gác qua.
[/align]




Mấy ngày nữa trôi qua mà vẫn chẳng thấy Kim Trục Lưu, Lệ Nam Tinh lo lắng
[/align]





nhưng phải giữ kỷ luật của nghĩa quân, cho nên không thể tự tiện xuống núi chỉ đành
[/align]





đợi trong trại.
[/align]





Người rầu rĩ nhất là Công Tôn Yến. Trúc Thanh Hoa và Phong Diệu Thường đều
[/align]





đã có đôi có cặp, nàng không tiện xen vào họ. Công Tôn Yến ở trong nữ doanh, cũng
[/align]





không thể thường xuyên gặp mặt Lệ Nam Tinh, không biết thế nào mà mỗi khi buồn
[/align]





bã nàng thường muốn gặp Lệ Nam Tinh. Nàng không dám nói ra tâm sự này, tại sao
[/align]





như thế? Cả bản thân nàng cũng cảm thấy lạ. Trước khi gặp Lệ Nam Tinh, nàng vốn
[/align]





là người rất vô tư hồn nhiên.
[/align]





Đêm nọ, Công Tôn Yến di dạo một mình trong rừng, chợt nghe có tiếng tiêu như
[/align]





thở như than từ trong rừng vọng lại. Công Tôn Yến nghĩ: “Chắc Lệ đại ca cũng buồn
[/align]





bã như mình, một mình nấp trong rừng thổi tiêu. Nhưng tại sao y cứ thổi mãi khúc
[/align]





nhạc đau buồn đến thế?” Rồi bất giác nàng đi về hướng tiếng tiêu
[/align]





Chỉ thấy Lệ Nam Tinh thổi một hồi rồi đột nhiên thở dài, cất giọng ngâm một bài
[/align]





thơ. Công Tôn Yến không hiểu ý thơ nhưng nghe tiếng ngâm rất đau khổ, càng buồn
[/align]





hơn tiếng tiêu lúc nãy.
[/align]





 
[/align]





Chính là:
[/align]





Mộng cũ lâu rồi đừng đến nữa! Lòng này như nước chảy về đông.
[/align]Muốn biết chuyện tiếp theo thế nào, mời xem hồi 33 sẽ rõ.[/align][/align][/align]
[/align][/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»