📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Lã Bất Vi

98 trả lời, 15.500 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-29 03:31:28Mọt Sách>
Đã hoàn tất và đưa vào thư viện, Xin cám ơn tất cả các hiệp sĩ

Lã Bất Vi

Tác giả : Hàn Diệu Kỳ

Dịch giả: Ngọc Mai - Trần Thế Đạt


bản pdf

quyen 1 bạn sonzin đã nhận

quyen 2 bạn sonzin đã nhận

quyen 3 bạn glacier đã nhận

quyen 4 Tulipe đen đã nhận

quyen 5 Canary đã nhận

quyen 6 Canary đã nhận

quyen 7 bạn L0ng3ta đã nhận

quyen 8 bạn L0ng3ta đã nhận

Xin mời đăng ký gõ !!


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Cho em đăng kí đánh máy với!! Có ai làm chưa ạ?? Có gì nhắn vào YM cho em nha: the_last_samurai_sh
Đăng nhập để trả lời
0
Toi dang ky go quyen 8 va quyen 7
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn !

Bạn có thể mở một topic mới với tựa đề: Lã bất vi-Quyển 7, 8 trong mục đánh máy truyện cho thư viện, sau đó gõ thẳng trong diễn đàn, hoặc gõ bằng Word rồi sau đó đăng lại sau vào diễn đàn. [sm=40.gif]


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
glacier đăng ký quyển 3 trước nha.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-04 22:15:50ct.ly>
Trích đoạn: glacier

glacier đăng ký quyển 3 trước nha.



Cảm ơn Glacier nhiều

Chúc Glacier luyện môn " Đàn chỉ thần công " trong Lã Bất Vi sớm thành công [8D][:D]

Chúc vui
Đăng nhập để trả lời
0
Tulip đen xin đăng ký quyển 4 nhé!
Đăng nhập để trả lời
0
Chào MS!
Hiện giờ Tulip đen đang tham gia hiệu đính truyện "Điệp viên giữa sa mạc lửa" cho VNTQ, mà nghe nói sắp đăng rồi, nên có lẽ Tulip đen sẽ tập trung cho truyện này trước. Do đó "Lã Bất Vi quyển 4" có thể sẽ đánh chậm hơn một chút nha MS. Tulip đen đã đăng trước 1 phần quyển 4 vừa đánh xong. Phần còn lại sau khi hoàn tất sẽ đăng luôn một thể nha.
Mong là sự chậm trễ này của Tulip đen không làm ảnh hưởng đến kế hoạch đăng truyện của VNTQ.
Thông cảm nhé!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Mọt sách và ct.ly kiểm tra lại giúp glacier với được không, glacier đang gõ quyển số 3, tới trang số 231, đoạn Điền Quang và Kinh Kha nói chuyện, cả đoạn Kinh Kha tiếp kiến Thái tử Đan nữa, nếu glacier không lầm thì có sự sai sót trong bản gốc rồi. Từ ngữ không được liên tục, hình như là mất đoạn đó. Nếu cứ để thế mà gõ thì cũng được, nhưng glacier cứ cảm thấy khó chịu thế nào ấy, nên thôi đành gác kiếm chờ reply từ các admin vậy. [8|]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-10 12:58:05Mọt Sách>
ms coi lại rồi. không có sao

đoạn điền quang nói với kinh kha rồi muốn tự sát: "thì nói điền quang đã chết." bạn có thể thêm vào:

"Rồi bất ngờ rút dao đâm sâu vào cổ họng ngã xuống.
Kinh Kha bất ngờ và cảm động trước lòng thành của Điền Quang liền thu liệm di hài vào một cỗ áo quan gỗ tốt rồi lên đường đi gặp thái tử Đan.
Nghe tin Kinh Kha đến, Thái tử Đan vội ra tiếp kiến. Sau khi làm lễ Kinh Kha tự giới thiệu mình và đồng thời..."

Vậy đi nha, chỗ nào bạn cảm thấy mạch truyện không được liền lạc thì thêm thắt một chút cho nó mượt mà cũng đâu có sao[:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Glacier ơi
Mọt sách nói đúng đó,

Ai mà vào gõ truyện cho Mọt sách, cũng sẽ trở thành nhà văn bất đắc dĩ hết đó Glacier há [:D]
Đăng nhập để trả lời
0
Úi, như thế thì truyện đâu còn nguyên bản đâu, [8D]?? Nhưng thôi kệ, glacier nghĩ chúng ta đâu phải là những nhà nghiên cứu hay phê bình mà phải cần nguyên bản dịch, chúng ta chỉ là những kẻ ham đọc truyện mà thôi. Tks sự chỉ bảo của Mọt sách và ct.ly nha.
Đăng nhập để trả lời
0
chào bạn Mọt Sách, & các bạn,

Hôm nay Canary quay lại diễn đàn, thấy diễn đàn đẹp & sách phong phú hơn trước nhiều.
Nếu chưa ai nhận chương 5 & 6 thì Canary nhận type 2 chương này. Bạn Mọt Sách cho canary biết nhen.

Thân
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: canary

chào bạn Mọt Sách, & các bạn,

Hôm nay Canary quay lại diễn đàn, thấy diễn đàn đẹp & sách phong phú hơn trước nhiều.
Nếu chưa ai nhận chương 5 & 6 thì Canary nhận type 2 chương này. Bạn Mọt Sách cho canary biết nhen.

Thân


[sm=welcome.gif] Back Canary !

Chào mừng Canary quay về VNTQ.

Cảm ơn Canary đã giúp đỡ. NH đã ghi tên của Canary vào danh sách rồi.

Chúc Canary vui khoẻ và mau "đại công cáo thành" nha. [:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Vài năm sau, Lã Bất Vi hồi tưởng lại những ký ức xưa về tấn bi kịch đau thương giữa ông và Triệu Cơ. Cuối cùng, ông đã phát hiện ra khi ông để cho Dị Nhân chuyển đến ở tại phủ đệ của ông, thì đó cũng là lúc mầm họa của tấn bi kịch được sinh ra.

Cái ngày mà Lã Bất Vi từ đại điện của Triệu Hiếu Thành Vương đi ra. Ông thở phào như trút đi được một gánh nặng. Xem ra, Triệu Hiếu Thành Vương vẫn chưa bắt ông và Dị Nhân dù có bằng chứng chính xác việc bỏ trốn về nước Tần mà chỉ hòai nghi chất vất vài câu rồi thôi. Lã Bất Vi ngầm vui vẻ tán thưởng cho sự thành công của những mưu kế nàœ Ông cần nhân cơ hội này để mượn gió bẻ măng. Thừa lúc Triệu Hiếu Thành Vương sơ suất không để ý, thì phải hành động ngay. Ông cần phải mang châu ngọc và tài sản của mình vận chuyển một cách bí mật về Hàm Dương. Để ai đi làm chuyện này đây? Ông đem Dương Tử và Tư Không Mã ra so sánh, Tư Không Mã thì cương trực thẳng thắn, không ham sống sợ chết nhưng thiếu sự sắc sảo; Dươnng Tử thì lanh lợi sắc sảo, có thể xoay sở tùy cơ ứng biến. Ông để cho Dương Tử mang đến cho Hoa Dương Quân bức thư mà ông viết. Lấy danh nghĩa là đi buôn chuyến để bắt đầu công việc vận chuyển tài sản về Hàm Dương. Ông còn sai nha dịch thu gom vàng cám, để đem tặng cho Lận Bửu, để báo đáp cho những tin tức mà anh ta mang lại, đợi tới khi trốn khỏi Hàm Đan, có lẽ vẫn có thể dùng được anh ta. Lúc cần phải đi, làm sao có thể cắt bỏ cái đuôi bám Công Tôn Càn đây...

Những vấn đề rối như tơ vò này, nhiều lúc cứ như cuốn lấy ông làm ông như quên đi tất cả. Quả thực ông không thể nhớ lại được, lúc đó khi ông đem gia quyến của mình, giới thiệu với Dị Nhân, Triệu Cơ đứng ở vị trí nào. Nhưng Lã Bất Vi có thể khẳng định rằng Dị Nhân có cái nhìn đầu tiên rất đặc biệt với Triệu Cơ.

Lã Bất Vi đoán không sai.

Đó là một buổi trưa tràn đầy ánh nắng, khi Lã Bất Vi đang trình tự trước sau giới thiệu người nhà của ông tới bái kiến Thái tử điện hạ ở trong phòng khách. Kể từ sau khi Dị Nhân ở lần lộn với những bọn gái điếm, anh ta đã có sự nhạy cảm đặc biệt đối với phụ nữ. Khi Lã Bất Vi giới thiệu tới những thê thiếp của ông thì ánh mắt của Dị Nhân đã kịp quét qua những khuôn mặt và bộ ngực của họ. Triệu Cơ đã lọt vào ánh mắt thèm khát của anh ta; ánh mắt đó dừng lại trên khuôn mặt của Triệu Cơ. Mỹ nhân! mỹ nhân! anh ta cảm thấy dường như từ trước tới giờ anh ta chưa từng gặp một người phụ nữ có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành như thế. Nhìn cái dáng vẻ đó, giống như có người đã từng nói thêm một chút thì béo quá mà giảm một chút thì lại gầy quá; trên khuôn mặt nàng mắt mũi như nhật nguyệt tinh tú, được bố trí rất hoàn hảo. Đôi mắt có hồn đó giống như bầu trời trong lúc trời quang mây tạnh, giống như dòng suối đang nhả ngọc phun châu, như nụ hoa đang chúm chím... Dị Nhân cảm thấy ý nghĩ của mình quá bất lực, không sánh được trước ánh thu ba mê hồn, quyến rũ của Triệu Cơ.

Khi Lã Bất Vi giới thiệu xong về mọi người trong nhà, liền để cho thê thiếp, môn khách đi cùng Dị Nhân tới vườn uyển "Hài Thú Viên" để du ngoạn. Rất nhanh, Dị Nhân nhìn chằm chằm không chớp mắt vào từng bước chân nhẹ như gió thoảng của Triệu Cơ. Triệu Cơ chạy nhảy tung tăng. Dị Nhân như nhìn thấy hương hoa mây nước được phủ đắp trên người nàng. Bộ quần áo hồng như đào xanh như liễu của nàng tung bay phấn phới về phía sau; bộ ngực của nàng gợn nhô lên cao. Triệu Cơ tựa hồ như không chú ý đến những ánh mắt đang theo bám bên cô, cô cứ mải đuổi bướm hái hoa, thỉnh thoảng lại cất tiếng cười khanh khách như tiếng chuông ngân.

Lưu luyến dạo chơi trong khu vườn quên cả giờ về. Dị Nhân nghĩ tới ma lực của vàng bạc. Có chúng Lã Bất Vi sẽ có thể hô mưa gọi gió, tung hoành ngang dọc... Vừa nghĩ tới đây, Dị Nhân cảm thấy rầu rĩ biết chừng nào. Lã Bất Vi, một gã buôn tầm thường lại có thể vùng vẫy, yên tâm rong ruổi bồnng bềnh cùng mây gió với những thê thiếp của ông ấy ở trên giường. Còn ta đường hoàng là Tần Vương tôn, là thái tử của An Quốc Quân độc nhất vô nhị lại phải ăn ở cùng bọn gái điếm. Vừa nghĩ tới Di Hồng Cảnh là gian tế của Triệu Hiếu Thành Vương phái đến, anh ta lại như cây cỏ héo trải qua sương gió của mùa thu. Anh ta không thể không đi kỹ viện, anh ta phải che giấu bưng bít Triệu Hiếu Thành Vương. Sau khi đi đến đó trở về, anh tay thấy cô độc vô cùng, anh ta oán hận cha mình là Chiêu Tương Vương, và căm hận Triệu Hiếu Thành Vương. Nếu như không có các cuộc binh đao hoành hành tách nhập của họ thì đâu có việc phái anh ta đi làm con tin! Nếu sống bình an vô sự ở Hàm Dương thì anh ta sớm động phòng hoa trúc, hưởng thú hoan lạc rồi. Anh ta cũng trách Lã Bất Vi, no say không nghĩ đến kẻ bần hàn đói rét. Người năm thê bảy thiếp, ta vò võ một mình, chăn đơn gối lạnh! Người không phải luôn mồm nói vì điện hạ xả thân quên mình sao? Ta bây giờ không cần ngươi sả thân quên mình mà ngươi hãy cho ta thấy tinh thần sả thê vọng thiếp của ngươi đi! Đem Triệu Cơ dâng cho ta!

Lã Bất Vi phát hiện Dị Nhân ở trong phủ đệ của ông ta chỉ du hạc hí kịch, mấy ngày liền không hề đến kỹ viện, liền thúc gục. Dị Nhân nói: "Đi mãi chốn đó, có gì hay đâu!" Lã Bất Vi cho rằng Dị Nhân lại giở tính trẻ con, nên lời nói có chút chỉ trách: "Thái tử điện hạ sao lại có thể nói như vậy?" Dị Nhân nói pha chút chua xót: "Không nói vậy thì nói thế nào. Đúng như vậy, đi kỷ viện mãi, thì có gì hay đâu! Ta hơn hai mươi tuổi đầu, huyết khí hừng hực, cơ thể cường tráng, lại không thê không thiếp; trong khi thái bá năm thê bảy thiếp, quá thừa phong lưu, mà cũng không dâng cho ta một người!"

Lã Bất Vi thấy lời nói của Dị Nhân tuy buồn cười nhưng cũng không phải không có lý. Thân làm thái bá của anh ta mà lại không hề nghĩ đến điểm này? Cá quẫy đuôi, mèo gọi xuân, chó khởi thân, huống hồ là Vương tôn Tần hào hoa phong nhã.

Lã Bất Vi đùa: "Thái tử điện hạ nói rất có lý. Ngài xem trong đám thê thiếp của hạ thần có ai tâm đầu ý hợp thì đại thần xin dâng ạ!"

Dị Nhân hỏi: "Lời thái bá có thật không?"

Lã Bất Vi trả lời rất tự nhiên: "Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy!" Ông ta tuyệt đối không hề ngờ rằng Dị Nhân thực tâm thành ý muốn lấy một thê thiếp của ông ta. Lã Bất Vi hiểu rõ, trong các nước chư hầu đều có một cổ ngữ truyền từ đời này sang đời khác: "Thà mặc áo bạn chứ quyết không chiếm vợ bạn" Huống hồ lại là vợ Thái bá. Hơn nữa, Dị Nhân mới vào phủ, đã biết mặt mũi, hình dáng, tính cách các thê thiếp của ông như thế nào!

Khi nghe Dị Nhân nói: "Xin Thái bá dâng Triệu Cơ" thì Lã Bất Vu tưởng mình nghe nhầm, hỏi lại: "Thái tử điện hạ nói gì?"

Dị Nhân nhắc lại từng chữ: "Xin Thái bá hãy hiến cho tôi Triệu Cơ"

Lã Bất Vi cảm thấy đất như sụt dưới chân mình, hai mắt hoa lên, ông định trách mắng Dị Nhân một trận ra trò nhưng lại nghĩ là không nên. Vừa rồi ông chẳng đã nói: ngài xem trong số thê thiếp của hạ thần có ai vừa măt, hạ thần sẽ vui lòng dâng hiến. Nếu Dị Nhân là Tần Vương, ông cũng chỉ là nói đùa cho vui.

Lã Bất Vi biết rằng, vì việc lập Thái tử và quay trở về Tần của Dị Nhân, ông đã phải chịu khuynh gia bại sản, cũng là tiêu tốn nghìn vàng, vậy mà đi tiếc một mỹ nhân hay sao. Nói một cách khác, vì một mình Triệu Cơ mà phải đắc tội với Dị Nhân thì chẳng phải đã vứt bỏ hết mọi công lao đã có hay sao? Một ngày nào đó Dị Nhân sẽ quay trở về Tần làm quốc vương, Lã Bất Vi ta sẽ là tướng quốc chỉ dưới một người và trên cả vạn người, bao nhiêu vinh hoa phú quý tha hồ mà hưởng thụ, lúc đó còn lo là không tìm thấy một người đẹp giống như Triệu Cơ hay sao?

Nghĩ đến đây, yết hầu của Lã Bất Vi động đậy, ông nuốt mạnh cục đắng trong lòng, cố gắng để cho khuôn mặt mình mang một vẻ can tâm tình nguyện, ông nói: "Thái tử điện hạ hẳn là có con mắt tinh đời, trong số những thê thiếp của hạ thần, Triệu Cơ là xuất chúng nhất đấy. Nàng không chỉ đẹp mà còn thông minh lanh lợi, am hiểu âm luật, có tài múa hát. Thái tử điện hạ thu nạp Triệu Cơ thì có gọi là quần anh tụ hội rồi. Xin điện hạ định một ngày lành, thần sẽ mang Triệu Cơ đến bên điện hạ."

Dị Nhân mừng như mở cờ trong bụng, nước mắt vòng quanh: "Thái phó tiên sinh, nhẫn chịu nỗi đau khổ tình yêu chia lìa, quả thực là cha mẹ tái sinh của ta! Ta sẽ nghe theo thái phó tất cả."

Lã Bất Vi quyết lòng, nghiến răng nói: "Vậy thì rõ rồi".

Sau khi tạm biệt Dị Nhân ra về, Lã Bất Vi cảm thấy mọi cái như đang sụp đổ dưới chân mình, đất trời tối sầm trước mắt. Dường như ông cảm thấy mệt mỏi không thể chịu đựng được khi phải cố gắng kinh doanh cho xong mẻ buôn lớn này. Ông tựa người vào một thân cây để cho bóng cây che lấp bớt đi vẻ mặt đau khổ của mình. Ông nhận thấy, các món khách và phục dịch của ông đã lũ lượt bỏ đi giống như thời gian trôi, và đôi hài lụa thêu hoa của Triệu Cơ cũng giống như một bông hoa sen đẹp phiêu liêu trong thế gian này.





Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Triệu Cơ sẽ như thế nào nếu biết chuyện phải lấy Dị Nhân đây? Dù nàng có nước mắt lã chã, đau khổ không thiết sống hay là mừng vui khôn xiết, vứt bỏ ông mà đi thì theo ông điều đấy chẳng còn có ý nghĩa gì nữa. Nàng giống như cặp sừng tê ngưu, châu ngọc, chu sa đỏ, đồ gốm quý giá ấy, hoặc còn có thể mua được những sửng tê ngưu, châu ngọc, chu sa đó, đồ gốm còn quý giá hơn nữa.

Hoàng hôn và một con chim khách đơn độc rơi xuống sân phủ Lã Bất Vi. Con chim khách đó lích chích nhảy nhót. Lã Bất Vi vẫn đứng cô độc tựa lưng vào thân cây nhìn lối đi lát gạch loang lổ mờ mờ chạy dài về phía bóng tối, phía cuối con đường là hai cái cửa nhỏ màu đỏ đi vào phòng ngủ Triệu Cơ đang mở rộng, phía bên trong lộn xộn mông lung giống như một giấc mơ về tương lai.

Lã Bất Vi hiểu rằng, đêm nay ông khôn thể để mất đi cơ hội đi vào cõi mộng mông lung đó. Khi Lã Bất Vi nằm cùng Triệu Cơ trong chiếc chăn gấm, lúc này ông mới ý thức được rằng, từ ngày mai làn da thịt mượt mà thơm tho này sẽ thuộc về người khác. Ông ngây người nhìn vẻ yêu kiều mà nàng đang thể hiện với ông và cũng ngây người khi nói cho nàng biết chuyện nàng sẽ phải lấy Dị Nhân.

Ban đầu, Triệu Cơ lắc đầu như không hiểu, sau đó nàng òa khóc. Nàng biết Dị Nhân là vương tôn nước Tần, nàng cũng biết Lã Bất Vi sai khi giúp Dị Nhân giành được danh thái tử sẽ phải giúp anh ta trở thành vua nước Tần. Dị Nhân đã ăn ở trong phủ Lã đã mấy ngày nay, nhưng anh ta chẳng để lại ấn tượng gì đối với nàng. Hơn nữa, giờ đây nàng đang mang trong bụnng dòng máu của Lã Bất Vi, nàng làm sao có thể lấy anh ta được!

Triệu Cơ vừa khóc vừa nói: "Thiếp làm sao có thể xa chàng được!"

Bằng một lời lẽ chân thành, Lã Bất Vi lại nói lại một lượt cho cô nghe cái lý do khiến nàng phải lấy Dị Nhân, Triệu Cơ cũng cảm thấy Lã Bất Vi không còn cách nào khác, nhưng nghĩ đến cái giọt máu đang dần lớn lên trong bụng, cô lại nói với Lã Bất Vi: "Thế còn cái thai trong bụng thiếp, như thế chẳng phải là đã may sẵn áo cưới cho người khác hay sao? Đợi thiếp sinh cho Lã đại nhân đứa con này rồi đi phục vụ Dị Nhân cũng được."

Lã Bất Vi nói: "Mang thai mười tháng, rồi lại sinh nở, e là thái tử không đợi lâu như thế được đâu. Ta đã nói rồi, ngày mai nàng sẽ lấy thái tử. Chuyện mang thai phải giữ kín như bưng, về sau hãy nói với anh ta, anh ta sẽ cho là thai trong bụng nàng là cốt nhục của mình. Anh ta sẽ ngạc nhiên mừng rỡ và sẽ càng ân sủng nàng hơn, địa vị của nàng sẽ thêm tôn quý và chắc chắn... nếu sinh con trai, thì đó sẽ là chi trưởng và sẽ được lập thành hoàng thượng. Nàng sẽ là Vương phi, là Thái hậu. Một khi đứa trẻ đó làm vua, vậy thì thiên hạ nước Tần chẳng phải là của ta và nàng sao? Nếu sinh con gái thì đó cũng sẽ là con của Thiên kim hoàng thượng cành vàng lá ngọc."

Triệu Cơ nói: "Mọi người đều nói, một ngày chồng vợ nên nghĩa trăm năm; bỗng nhiên lại phải rời xa đại nhân thì thiếp sẽ ngày đêm mộng tưởng. Nếu là xa cách nghìn trùng, thì trong lòng vẫn có thể chịu đựng được. Bây giờ cùng ở trong thành Hàm Đan, chàng là Thái phó của anh ta, thường xuyên phải đến chỗ anh ta. Mỗi lần chúng ta gặp mặt, thì chỉ có thể nhìn mà không thể gặp được, thiếp sợ rằng sẽ không thể chịu đựng nổi!"

Lã Bất Vi nói: "Thường xuyên gặp mặt thì có gì là không tốt?" Điều này có thể khiến cho chúng ta được ôn lại chuyện cũ và lại được lần nữa ân ái, chỉ cần chúng ta cẩn thận, thận trọng, đợi tới khi có điều kiện thuận lợi có thể. Hơn nữa, sau này anh ta trở thành vua nước Tần, chắc chắn cũng không tránh khỏi việc chiêu cơ nạp thiếp, người đẹp chẳng thiếu gì, lúc đó chắc sẽ không còn yêu nàng sâu nặng như bây giờ đâu!"

Mặc dù Lã Bất Vi và Triệu Cơ lại được một lần nữa đùa nứoc như đôi uyên ương, họ ôm rất nhiều hy vọng là được chung chăn gối với nhau, nhưng rốt cục đều chỉ là sự ảo ảnh mịt mù mà thôi. Vì thế, họ luyến tiếc trước lúc phải chia tay, đây là một đêm đẹp tuyệt vời của họ. Hai người họ dựa vào nhau mà thì thầm chuyện yêu đương. Lã Bất Vi lúc trước còn trầm tĩnh ít nói, nay đã họat bát hẳn lên, họ quấn quýt nói chuyện với nhau dường như không có sự câu nệ nào...




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Buổi trưa ngày mai, những người hầu và quan khách của Lã phủ đều nhìn thấy Triệu Cơ ăn mặc hóa trang màu sắc rất rực rỡ, và được Lã Bất Vi dẫn tới phòng của Dị Nhân. Phía sau có vài nữ tỳ, họ vẫn nặng nề bưng những tráp son. Có một cái tráp vẫn chưa đóng chặt làm bay ra những dải phấn thơm lừng. Điều này gây một ấn tượng rất sâu sắc với mọi người. Họ không thể đoán được Triệu Cơ muốn làm điều gì. Họ vẫn cứ đoán già đoán non. Nhưng Lã Bất Vi đã nhanh chóng đem những tin tức về việc gả chồng cho Triệu Cơ công bố với mọi người. Vào ngày này, mọi người trong phủ họ Lã đều đưa ánh mắt tò mò để dõi theo tình chí của Lã Bất Vi. Nhưng, trên mặt của Lã Bất Vi chẳng có chút gì là đau khổ hay mừng vui gì cả giống như tiết trời của mùa đông, nó băng bạc mà ảm đạm.

Triệu Cơ bị cơn cuồng dục của Dị Nhân làm cho cô phải kinh sợ. Trong sự tưởng tượng của cô, hậu duệ của quân vương, là con rồng cháu rồng tất nhiên cốt cách phải tài giỏi phi phàm. Nhưng vị vương tôn này không chỉ có hình dáng phàm phu tục tử mà còn có đôi mày lệch nhau, hai mắt lồi ra. Cô cảm thấy dáng vẻ Dị Nhân rất đáng buồn cười. Nghĩ vậy cô bật cười thành tiếng. Dị Nhân không kìm được áp cái má thô ráp của mình lại, hôn cô tới tấp. Lát sau, phấn hồng mà cô thoa đã để lại vết trên môi và mặt Dị Nhân. Triệu Cơ bảo anh ta mau đi rửa đi, để một lúc nữa người ta trông thấy rất xấu hổ. Trời đã bắt đầu tối, đêm đã bắt đầu buông xuống. Dị Nhân ôm cô lên giường, chân tay quờ quạng lột hết quần áo của cô. Cô nghĩ về mặt này có thể anh ta không sành như Lã Bất Vi. Khi cô đã chìm ngập vào cơn mê tình ái, cô mới thấy anh ta không kém Lã Bất Vi chút nào. Cô chỉ lo cái thai trong bụng bị động mạnh chuyển hướng...

Sau khi xây thêm một nhà mới trong Mão Hạng, Dị Nhân và Triệu Cơ liền chuyển tới đó. Căn nhà mới khang trang đẹp đẽ, chạm trổ tinh vi. Ngòai sân là hồ nước, cây cối sum suê. Ở một nơi đường hoàng như thế, lại có Triệu Cơ ngày đêm làm bạn, Dị Nhân thậm chí hoang đường nghĩ: "Trong thành Hàm Dương, cuộc sống của các vương tôn cũng không hơn gì đây."

Vào moot ngày đầu xuân năm 259 trước công nguyên, vị hoàng đế số một trong lịch sử Tần Thủy Hoàng chào đời trong nơi ở của Dị Nhân ở Hàm Đan.

Trước khi Thủy Hoàng sinh ra, trời đất mù mịt, tuyết phủ dày đặc, gió ào ào, hoa tuyết bay mù mịt. Mọi người trong phòng đứng ngồi không yên. Dị Nhân ở bên ngòai đi đi lại lại. Trong tiếng rên lúc rời rạc lúc kéo dài của Triệu Cơ, bà đỡ nhìn đăm đăm vào dưới bụng cô. Thầy bói đã xem được một quẻ tốt, ông ta nói những lời chúc mà người bên cạnh nghe cũng khó mà hiểu được.

Rất nhanh, theo sự tụt xuống của bụng Triệu Cơ là tiếng khóc oa oa vang lên choe choé của một bé trai, một sinh linh tràn đầy sức sống đã chào đời. Tướng mạo phi phàm nhưng không hề giống những gì sách vở miêu tả, cằm vuông mắt dài, tóc trái đào ngay ngắn, miệng nhiều răng, lưng có vân rồng, chân có chín nốt ruồi, chân tay to cứng, giọng to vang.

Nghe tin Triệu Cơ có sinh được quý tử, Dị Nhân mừng như phát điên lao vào trong phòng, nhìn ngắm đứa trẻ ngọ nguậy trong tả giống như một con cá nhỏ, anh ta mừng rơi nước mắt, không biết nói gì. Lã Bất Vi nghe tin Triệu Cơ sinh con trai, mừng thầm trong bụng, mang theo một lễ vật lớn đến chúc mừng. Ông ngắm nhìn đứa trẻ bụ bẫm, càng ngắm càng thấy trên khuôn mặt nó có những nét của ông.

Lã Bất Vi rất mực cảm khái nói: "Đứa trẻ khá lắm!"

Triệu Cơ nói nhỏ giọng đầy ẩn ý: "Thái bá, giờ thì mãn nguyện rồi nhé!"

Dị Nhân đương nhiên không nghe ra ẩn ý trong câu nói của Triệu Cơ, mặt nàng rạng rỡ nói với Lã Bất Vi: "Thái bá, nhanh đặt cho quý tử của ta một cái tên đi!"

Lã Bất Vi trầm tư suy nghĩ một lúc lâu rồi nói: "Gọi là Chính đi, sinh vào chính nguyệt (tháng giêng), chữ chính, văn thao võ lược; khi lớn lên sẽ nắm vững triều chính, tề quốc trị gia bình thiên hạ."

Dị Nhân tán thưởng nói: "Hay! vậy thì gọi là Doanh Chính."

Triệu Cơ nói:" Cũng có thể gọi là Triệu Chính."

Mọi người đều tán thành vì Triệu và Tần cùng một tổ tiên. Sách sử ký đã viết tổ tiên của Tần là cháu gái của Chuyên Húc Đế tên là Nữ Tu. Nữ Tu trong lúc dệt vải đã nuốt nhầm phải trứng con chim đen, sinh ra cậu con trai tên là Đại Nghiệp. Đại Nghiệp cưới con gái của Thiếu Điển tên là Nữ Hoa. Nữ Hoa sinh ra Đại Phi; Đại Phi cùng Đại Vũ binh trị thủy thổ. Sau khi trị thủy thành công, vua Thuấn ban thưởng cho Đại Vũ một cái Ngọc Khuê màu đen (ngọc khuê: dụng cụ bằng ngọc dùng trong nghi lễ của vua chúa thời xưa), Đại Vũ tiếp nhận Ngọc Khuê và nói:"Việc này không hoàn thành một mình, Đại Phi cũng có công lao trong đó." Vua Thuấn nói:"Đại Phi, ngươi giúp Vũ hoàn thành công việc này, ta thưởng cho ngươi một cái Lưu màu đen (Lưu: chuỗi ngọc trang sức trên mũ miện của các đế vương thời xưa). Thuấn gả cho Đại Vũ một cô con gái xinh đẹp. Đại Phi đón nhận rất cung kính. Đại Phi lại phò tá Thuấn trị huấn muôn lòai chim thú. Chim thú đa phần đều bị khuất phục. Ông là Bá Ế. Thuấn đã từng có hộ Doanh. Hậu duệ nhiều đời là Bá Ế có một người tên là Phi Liên, ông có tài đi bộ như thần. Ông có hai người con trai, một người là Ô Lai, sức khoẻ hơn người, người còn lại tên là Lý Thắng. Phi Liên và Ô Lai đã phò tá Ân Trụ Vương bằng cả tài năng phi thường của mình, về sau bị Chu Vũ Vương giết chết, còn lại Lý Thắng. Con trai của Lý Thắng là Mạnh Tăng được Chu Thành Vương sủng ái. Cháu trai của Mạnh Tăng là Tạo Phụ vì có tài điều khiển xe ngựa nên được Chu Vương sủng ái. Ông thay Chu Vương điều khiển bốn chú ngựa nổi tiếng là Đức Xí, Ôn Lý, Hoa Lưu và Lục Nhì đi tuần thú nơi miền tây mãi vui mà quên về. Khi Từ Yển làm loạn, Tạo Phụ điều khiển xe chạy một ngày nghìn dặm về nước dẹp loạn cho Chu Mục Vương. Để thưởng cho công trạng dẹp loạn của Tạo Phụ, Chu Mục Vương cắt cho ông thành Triệu. Thời cổ đại tục lấy tên đất làm tên họ nên tộc người sống trên thành Triệu đều có họ Triệu Thị.

Lã Bất Vi đã để ý thấy mỗi lần ông đến nơi ở của Dị Nhân, Triệu Cơ lại giơ Tiểu Doanh Chính đang nằm trong lòng nàng hướng về phía ông, ông biết cử chỉ này của nàng là ngầm thể hiện tấm lòng trung chinh không đổi của nàng đối với ông. Thế là, trong mùi hơi sữa nồng lên khắp gian phòng, Lã Bất Vi nhìn rõ thấy chiếc bụng dưới trắng ngần của Triệu Cơ lộ ra do y phục bị kéo lên khi nhấc đứa bé lên, vết sữa thấm loang trên áo ướt đẫm. Hôn nhân như là một thứ thuốc gạt bỏ hết tất cả của người phụ nữ, cướp đi sự thuần phác ngây thơ của thời thiếu nữ. Mỗi ánh mắt Triệu Cơ nhìn Lã Bất Vi đều chan chứa tình yêu xen lẫn nhục dục. Trước sự mê hoặc chết người đó, Lã Bất Vi không khỏi nghĩ về những đêm cùng Triệu Cơ hoan lạc. Nhưng giờ đây, Lã Bất Vi không còn tâm tư nào để tìm cơ hội có được những khóai lạc của những đêm ấy nữa. Ông đã mưu họach xong việc quay trở về nước Tần của Dị Nhân, mấy ngày nay ông đang tìm cơ hội để thực hiện. Dù ông đã có vô vàn những kinh nghiệm cuộc sống đầy sóng gió trên con đường chiến thắng nhân sinh nhưng ông cũng không khỏi thấp thỏm lo sợ trước việc quy Tần của Dị Nhân, mặc dù ông đã có sự bố trí sắp xếp chu đáo tỉ mỉ.

Dị Nhân mê đắm trong niềm vui to lớn của việc lấy vợ sinh con. Đêm đến, anh ta ở bên cạnh Triệu Cơ để thưởng thức dư vị mê hồn mà nàng đem lại cho anh ta, cứ như vậy đêm này qua đêm khác mà không biết mệt mỏi. Ban ngày, Dị Nhân lại vui đùa cùng đứa con trai kháu khỉnh. Anh ta rất muốn tìm thấy hình bóng mình trên gương mặt của tiểu Doanh Chính, nhưng anh ta không tìm ra đặc điểm gì trên gương mặt thằng bé. Bởi vì nó quá nhỏ mà trăm đứa trẻ đều có vẻ mặt non tơ giống nhau. Dị Nhân đã lạnh lùng như băng trước việc đến Xương Lư và những cuộc hẹn hò với Di Hồng. Anh ta không phải lọai người trung tình coi việc có quan hệ với những cô gái khác ngòai vợ mình là một việc làm mạo hiểm. Mỗi nụ cười, mỗi cử chỉ của Di Hồng luôn khiến anh ta cảm thấy tiềm ẩn trong đó âm mưu sát khí. Nhưng trước sự thúc gục của Lã Bất Vi và sự nghiệp lớn quay trở về nước Tần của mình, anh ta cần phải đến Xương Lư để ứng phó. Lần nào cũng vậy, Di Hồng đều rất quyến luyến với Dị Nhân, ả đã hai lần đến tìm Dị Nhân ở nơi anh ta ở. Anh coi sự chủ động của mình là một sự giả nhân giả nghĩa, một sự xoa dịu trước những nguy hiểm sắp đến. Những việc làm hồn xiêu phách lạc sắp sửa bắt đầu. Lã Bất Vi đang trong trạnh thái tinh thần căng thẳng đều cảm thấy một nỗi sợ hãi không tên trước từng động tĩnh xung quanh mình.

Buổi sáng hôm nay lại khiến ông lo sợ một trận, một người hầu gõ cửa ầm ầm. Người hầu vào báo cho ông biết gia tướng của Lận Tương Như xin gặp. Lã Bất Vi biết là Lận Bửu đã đến liền cho Lận Bửu vào. Lận Bửu nói với Lã Bất Vi là Lận Tường Như đang ốm nặng, toàn thân run rẩy, e là không sống được bao lâu nữa và hỏi Lã Bất Vi có đi thăm không.

Lã Bất Vi suy nghĩ một hồi rồi đồng ý đi thăm. Lận Bửu bảo muốn đi thì phải nhanh lên không là không kịp nhìn thấy Lận Tường Như thở nữa. Lã Bất Vi hỏi Lận Bửu rằng anh ta có thể giúp ông một việc được không, nếu hoàn thành thì sẽ có trọng thưởng. Lận Bửu nói, ngòai việc lấy mẫu thân của anh ta là không thể được ra, Lã Bất Vi muốn gì cũng được. Lã Bất Vi nói rằng thế thì tốt lắm, rồi kề sát vào tai Lận Bửu thì thầm một hồi lâu với giọng nói mà dường như không nghe thấy thanh âm gì. Lận Bửu gật đầu lia lịa trước hai môi đóng mở liên tục của Lã Bất Vi.

Trước khi đi Lận Bửu còn thề non hẹn biển với Lã Bất Vi "Vi đại nhân, chuyện này tôi sẽ lo hết", rồi nhìn Lã Bất Vi với ánh mắt tham lam. Lã Bất Vi hiểu, ánh mắt của Lận Bửu là có ý vòi tiền ông. Vì thế Lã Bất Vi sai người bê đến một khay bạc vụn rồi nói với Lận Bửu:"chút tiền này Lận Bửu tiên sinh dùng tạm trước, sau khi xong việc thì..."

Lận Bửu nói:"Vi đại nhân không cần nói nữa, tiểu nhân hiểu rồi." Nói xong, Lận Bửu nhanh như gió cuốn trút số bạc vào trong túi. Lận Tương Như bệnh nặng hết phương cứu chữa đang nằm ở trên giường, gương mặt ông xám lại như người đã chết, dường như ông cũng biết rằng mình sắp sửa nhắm mắt xuôi tay, ông đưa đôi mắt đục đầy ngấn nước nhìn những quân thần như Triệu Hiếu Thành Vương, Triệu Thắng, Triệu Bảo đang đứng vây quanh trước mắt ông.

Lận Tương Như ú ớ trong mồm như có lời muốn nói nhưng những cơ quan trong thân thể yếu ớt của ông không thể phối hợp thành hành động tốt được để ông có thể phát ra thành lời. Ông gắng sức đỡ người lên nhưng nỗ lực đó của ông dường như vô ích.

Triệu Hiếu Thành Vương nhìn người đại thần trung thành liêm khiết, túc trí đa mưu đang hấp hối mà lòng cảm thấy chua xót. Ông nghĩ về những năm tháng mà người này cùng với Liêm Pha, một quan văn, một quan võ như hai bánh xe của một cỗ xe đưa nước Triệu tiến lên, uy danh chấn động các chư hầu. Đặc biệt là tinh thần khảng khái cương trực, giọng nói oai nghiêm của ông khi gặp mặt với Chiêu Tương Vương nước Tần ở Mãnh Trì đã trở thành một giai thọai thiên cổ. Ban đầu, khi nhận được thư mời của Chiêu Tương Vương, Triệu Huệ Vương có chút e sợ định chối từ không đi. Nhưng Lận Tương Như và Liên Pha cho rằng, nếu không đi họ sẽ cho là gan của nước Triệu nhỏ như gan chuột, cần phải hiên ngang mà đi, Triệu Huệ Vương tiếp thu ý kiến này liền cùng Lận Tương Như đi Mãnh Trì giương cờ nỗi trống rầm rầm rộ rộ. Chiêu Tương Vương mượn cớ say rượu đòi Triệu Huệ Vương gẩy đàn cho ông ta nghe với vẻ rất khinh miệt. Triệu Huệ Vương đành phải nhẫn nhục gảy đàn. Quan sử của nước Tần ngay lập tức đã ghi lại cảnh đó như sau:"Ngày...tháng...năm..., Tần Vương họp mặt với Triệu Vương đã lệnh cho Triệu Vương gảy đàn." Lận Tương Như thấy vậy cho là đó chẳng phải là nỗi nhục lớn của nước Triệu hay sao. Ông cảm thấy giận dữ bất bình tột độ liền bước lên trước nói với Tần Vương.

"Đại Vương chúng tôi cũng nghe nói Tần Vương kinh thông âm luật, đặc biệt là những bài hát của nước Tần, giờ hạ thần bẻ nồi sành cho Tần Vương, xin Tần Vương biểu diễn cho chúng tooi nghe một đoạn để cùng được vui vẻ với nhau." Chiêu Tương Vương rất giận dữ không chịu biểu diễn. Vì thế Lận Tương Như lại bước lên trước vài bước, bê nồi sảnh kề gần Chiêu Tương Vương quỳ gối mời, Chiêu Tương Vương vẫn không chịu gõ, Lận Tương Như nói:"Chỗ tôi đứng cách Đại Vương không đến 5 bước, máu ở cổ tôi có thể tưới ướt người Đại Vương đấy!" Quân lính hai bên của Chiêu Tương Vương muốn chật đầu Lận Tương Như, Lận Tương Như liền giương mắt quát lại, quân lính hai bên đều khiếp vía. Vì thế, Chiêu Tương Vương đành phải gõ một đoạn nhạc. Lận Tương Như quay đầu lại nói với quan sử nước nước Triệu:"Viết là ngày...tháng...năm..., Tần Vương gõ nồi cho Triệu Vương nghe." Cho đến khi buổi tiệc kết thúc, Chiêu Tương Vương cũng không thể chiếm ưu thế được. Hơn nữa, quân lính của nước Triệu đứng cảnh giới nghiêm ngặt, nước Tần cũng không dám có những hành động sơ suất gì.

Lúc đó, Triệu Hiếu Thành Vương còn là Thái tử, được nghe sứ thần tử Mãnh Trì về thuật lại chuyện một cách sống động. Triệu Huệ Văn Vương nói với ông, giang sơn của nước Triệu được bình yên là có công lao của Lận Thượng khanh... Trong chốc lát, vị trọng thần có chiến công hiển hách với dòng họ Triệu này lại phải cưỡi hạc đi xa rồi. Mạch suy nghĩ của Triệu Hiếu Thành Vương bị cắt đứt bởi cơn co giật của Lận Tương Như. Ông thấy Lận Tương Như đã nhắm nghiền mắt lại, đầu đã lệch sang một bên. Tiếp đó rộ lên tiếng khóc của gia đình con cái Lận Tương Như. Gia tướng Lận Bửu cùng mấy người vội vàng mặc áo tang cho ông. Khi khiêng thi thể của Lận Tương Như lên, người ta tìm thấy trên gối của ông có ống tre ghi di chúc.

Lận Bửu không dám chậm trễ, vội vàng đưa cho Triệu Hiếu Thành Vương. Triệu Hiếu Thành Vương nhìn thấy trên tấm di chúc có khắc 4 chữ:"Phóng Quy Dị Nhân". Thực ra tấm chi chúc này là do Lã Bất Vi đã bố trí cho Lận Bửu giả làm. Lã Bất Vi biết rằng Lận Tương Như là trọng thần có công lao hiển hách của nước Triệu, những lời ông muốn nói trước lúc lâm chung có trọng lượng đáng kể với Triệu Hiếu Thành Vương. Nếu Triệu Hiếu Thành Vương có thể nghe theo thì Dị Nhân và ông có thể trở về Hàm Dương thuận buồm xuôi gió mà không phải chịu đựng sự nguy hiểm không phải trốn tránh nữa. Triệu Hiếu Thành Vương trở về Tòng Đài mang theo thẻ trúc có viết di chúc của Lận Tương Như và cùng các quần thần bàn bạc về việc để Dị Nhân trở về Tần. Triệu Hiếu Thành Vương cảm thấy ông không thể phục lại tâm nguyện cuối cùng trước lúc lâm chung của Lận Tương Như, đó là tình nghĩa quân thần với nhau.

Hơn nữa, qua những lời thăm dò và quan sát của ông và lẩn chất vấn Lã Bất Vi, ông không phát hiện thấy biểu hiện thù ghét phản trắc nào của Dị Nhân đối với nước Triệu. Rất nhiều đại thần trong đso có cả Bình Dương Quân Triệu Bảo và Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đều phản đối việc Dị Nhân trở về nước Tần. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng vừa là chú của Triệu Hiếu Thành Vương vừa là tướng quốc, Triệu Hiếu Thành Vương không thể không để ý đến lời của ông.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Bình Nguyên Quân Triệu Thắng cho rằng, giờ đây An Quốc Quân Doanh Trụ đã lập Dị Nhân làm Thái tử, như vậy Triệu đã nắm được đằng chuôi, có thế kẹp giữ được nước Tần, xảy ra chuyện gì có thể đưa Dị Nhân ra để mặc cả.

Triệu Hiếu Thành Vương do dự hồi lâu, cảm thấy việc thả Dị Nhân là việc nên làm. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nói, việc đó chỉ bằng việc biến Dị Nhân làm con dao hai lưỡi, như thế có thể trả được mối thù Trường Bình. Triệu Hiếu Thành Vương mặt mày biến sắc nói, nhất nhất không thể vội vàng được, nếu làm như vậy vừa phụ lòng Lận Tương Như lại vừa gây ra chuyện không hay, tạo cho nước Tần cái cớ để gây sự. Sự việc được đẽo gọt rất lâu.

Triệu Hiếu Thành Vương và Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đã đưa ra hết thảy mọi phương cách và lý lẽ nhưng vẫn chưa quyết định được phương cách nào, quân thần đành phải giải tán trong tâm trạng không vui.

Sau khi trở về phủ, Bình Nguyên Quân Triệu Thắng và Bình Dương Quân Triệu Bảo cùng nhau bàn bạc, và quyết định sai người đi bắt Dị Nhân về, nếu không cái họa thả hổ về rừng có hối hận cũng muộn. Bình Dương Quân đồng ý nói: "Nên ra tay trước nếu không về sau sẽ gặp phải rắc rối. Đem Dị Nân đi giấu kín, nếu Đại Vương có hỏi ta cứ bảo là không biết, Đại nhân cũng không biết làm thế nào." Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nói:"Vậy thì chúng ta tìm vài người đáng tin cậy, tối nay sẽ ra tay."

Lã Bất Vi đang bận rộn chuẩn bị, ông cảm thấy việc trở về Tần một cách quang minh chính đại có một tia hy vọng khi biết tin Triệu Hiếu Thành Vương đã mang tấm di chúc của Lận Tương Như đi. Hơn nữa, ông đã quan sát kỹ cửa thành các phía đông, tây, nam, bắc của thành Hàm Đan và đã biết được tên họ của người cầm đầu các lính canh ở đây. Vừa rồi, khi Lận Bửu đến báo tin Triệu Hiếu Thành Vương đã cầm di chúc của Lận Tương Như đi, Lã Bất Vi đã thưởng cho anh ta rất hậu hỉnh, ông nói ra tên của người cầm đầu lính canh, hỏi anh ta có quen biết không. Lận Bửu nói, anh ta có chút quen biết với cửa thành phía bắc. Lã Bất Vi nghĩ, nếu không có cách nào tốt hơn thì sẽ ăn mặc cải trang rồi bảo Lận Bửu đưa họ trốn qua thành phía bắc.

Lã Bất Vi lại gọi cả Tư Không Mã vào trong phủ, bảo họ phải đặc biệt lưu tâm trong mấy ngày này, ông còn dặn dò Tư Không Mã là không nên trở về, cứ ở lại cùng với Chu Kiệm luân phiên canh gác bảo vệ Dị Nhân cả ngày lẫn đêm.

Ngày nào cũng vậy, trước khi trời tối, Tư Không Mã cũng đeo gươm đi tuần một vòng từ trước đình sau vườn đến các ngóc ngánh khác, sau đó anh ta mới đóng chặt cửa. Công Tôn Càn kiên nhẫn canh gác ở Vu điện sân trước không biết mỏi mệt là gì, trời có sập thì cậu ta cũng không để ý, chỉ cần mở to mắt trông giữ Dị Nhân là được.

Đêm nay, vào lúc nửa đêm, Tư Không Mã ra ngòai đi giải, anh ta nhìn thấy một bóng đen giống như một cái túi rơi từ trên bờ tường rào vào. Tiếng "bịch" làm anh ta giật mình. Sau đó, liên tiếp là mấy tiếng "bịch", "bịch" nữa.

Tư Không Mã không thể đi giải tiếp được nữa, vội vàng chạy vào gọi Chu Kiệm, hai người cầm kiếm xông ra. Cái bóng đen đó chạy vụt về phía phòng ngủ của Dị Nhân.

Tư Không Mã hét lớn:"Ai? Đứng lại!"

Một vài bóng đen liền quay người trở lại, vây lấy Tư Không Mã và Chu Kiệm. Tư Không Mã bảo Chu Kiệm nhanh đi bảo vệ điện hạ Dị Nhân còn anh ta sẽ đối phó với mấy tên này. Chu Kiệm vội vàng chạy thẳng đến phòng ngủ của Dị Nhân.

Tư Không Mã vừa định rút gươm sống mái với bọn này thì nghe thấy một người trong những cái bóng đen vây quanh hỏi:"Mày là Tư Không Mã phải không?"

Tư Không Mã hỏi:"Mày là ai?"

Có người trả lời:"Triệu Hoảng".

Tư Không Mã lại hỏi:"Đêm hôm khuya khoắt, các ngươi xông vào phủ của Dị Nhân làm gì?"

Triệu Hoảng trả lời:"Bắt Dị Nhân!"

"Ai sai các ngươi làm vậy?"

"Điều này ngươi không phải hỏi."

"Sứ mệnh của Tư Không Mã ta là bảo vệ điện hạ Dị Nhân, đâu có dễ để bọn ngươi lợi dụng lúc hỗn loạn mà bắt đi."

"Ngươi khiến ta thật không thể hiểu nổi. Chẳng phải là ngươi đã cùng Triệu Hoảng này tòng quân cho tướng quân Triệu Quát sao? Súyt nữa bị quân Tần giết chết ở Trường Bình, may mà thóat chết trở về Hàm Đan, tại sao bây giờ lại quay ra bảo vệ vương tôn nhà Tần thế?"

"Lúc đó khác bây giờ khác, năm câu ba điều không thể nói rõ được. Triệu Hoảng, ta khuyên các ngươi hãy nhanh ra khỏi đây đi!"

"Tư Không Mã, chúng ta cũng coi như bạn bè sinh tử hoạn nạn có nhau. Đây không thể hiểu nổi vì cớ gì mà cậu lại đi nối giáo cho giặc, khăng khăng một lòng bảo vệ vương tôn nước Tần cơ chứ?"

"Mỗi người đều có chí nguyện và cuộc sống riêng, Triệu Hoảng, các cậu hãy nhanh đi đi!"

"Đã như vậy thì Triệu Hoảng này sẽ không còn nể tình xưa nghĩa cũ xưa! Xông lên!"

Tiếp theo tiếng lệnh của Triệu Hoảng, những bóng người đó tụ lại cùng xông vào đánh chém Tư Không Mã. Tư Không Mã lấy hết sức ra đòn, đánh được vài chục hiệp, Tư Không Mã do một mình không địch nổi với số đông nên đã bị bọn chúng chém bị thương ngã xuống đất. Một tên đang giơ gươm lên chuẩn bị đâm thẳng vào Tư Không Mã, nghe thấy lệnh của Triệu Hoảng: "Dừng tay!" Tên này thu gươm lại, mấy tên khác vội vàng xông lên giống như hổ sói vồ mồi cùng nhau ấn chặt Tư Không Mã xuống đất. Triệu Hoảng kề rất gần Tư Không Mã nói: "Ngươi đã cứu sống ta một lần, ta cũng tha cho ngươi lần này. Món nợ ân nghĩa của chúng ta đã trả xong. Nói rồi, đem dây thừng trói chặt Tư Không Mã lại. Sau đó bọn chúng chạy rầm rầm về phía phòng ngủ của Dị Nhân. Chu Kiệm đang ở đó cũng gặp phải vận hạn như Tư Không Mã, bị trói vào đòn gánh sau khi bị thương. Triệu Hoảng lệnh cho tùy tùng kèm hai bên ba người bị bắt đi ra từ cửa phía sân sau.

Mặt trăng lúc ẩn hiện sau những đám mây, con đường vắng vẻ không một bóng người nằm yên lành dưới ánh trăng. Triệu Hoảng vừa thúc Dị Nhân ngoặt qua một góc phố, vừa quay nhìn đằng trước co một nhóm người đang chặn ở đường.

Thì ra Triệu Hiếu Thành Vương lo rằng Bình Nguyên Quân Triệu Thắng sẽ tự động ra tay với Dị Nhân, sẽ có những hành động vừa phụ lại tâm nguyện của Lận Tương Như, vừa chọc tức Tần Vương liền phái quân đến đứng bảo vệ gần nơi ở Dị Nhân.

Triệu Hoảng, người phụng lệnh Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đi bắt Dị Nhân, vừa thấy rằng Triệu Hiếu Thành Vương phái người đứng chắn ở đó cũng không dám có phản kháng gì, đành vứt lại Dị Nhân rồi hậm hực bỏ đi. Tốp lính do Triệu Hiếu Thành Vương phái đến đưa Dị Nhân trở lại nơi ở của ông ta, lại còn cởi trói cho Tư Không Mã và Chu Kiệm. Dị Nhân, Tư Không Mã và Chu Kiệm không thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra, màn kịch bắt rồi lại thả khiến họ ngạc nhiên trợn tròn hai mắt, họ nhìn tốp lính mặc quân phục của nước Triệu mà không khỏi nghi ngờ. Nhóm lính này lo sợ có chuyện gì không hay lại xảy ra liền ở lại trong phủ của Dị Nhân.

Ngày hôm sau, Lã Bất Vi nghe được tin vội vàng đến, trong sự quan sát của lính nước Triệu, Lã Bất Vi dùng ánh mắt dò hỏi Dị Nhân, Tư Không Mã tất cả những gì đã xảy ra đêm qua. Trong lúc ông đang không hiểu nổi nhóm lính mà Triệu Hiếu Thành Vương phái đến này là bảo vệ Dị Nhân hay giám sát Dị Nhân thì đúng lúc đó có hai hoạn quan từ cung Tùng Đài đến, ban chiếu mệnh của Triệu Hiếu Thành Vương cho Dị Nhân: Dị Nhân có thể trở về Hàm Dương. Trong thời gian chưa đầy một ngày một đêm, mấy lần trải qua sự biến đổi vận mệnh lớn đã khiến mấy người Lã Bất Vi, Dị Nhân và Tư Không Mã dường như phải chết đi sống lại, lúc thì đao thương gươm kích, nguy hiểm cùng kéo đến, lúc thì trời quang mưa tạnh, sóng gió bình lặng.

Tin vui do hai vị hoạn quan này mang đến đã khiến cho Lã Bất Vi và Dị Nhân vui sướng, năm năm làm con tin đã kết thúc, những ngày tháng phải sống trong cảnh sợ hãi, chịu sự lăng nhục của người khác đã một đi không trở lại nữa.

Anh ta lấy việc trở thành thái tử của An Quốc Quân mà nghênh ngang kiêu ngạo tự mãn xuất hiện trong thành Hàm Dương, từ cung Chương Đài cho đến các thôn xóm, ai ai cũng phải lau mắt mà nhìn cái vinh quanh, cái rực rỡ mà vị vương tử này đã có được sau bao nguy hiểm. Đối với Lã Bất Vi, tâm huyết và sự đầu tư của ông cùng với cái thành công to lớn này bắt đầu được đền đắp. Ông có thể hiên ngang bước đến Vương Cung Tướng Phủ để mọi người nhìn ngắm giọng nói và tướng mạo tươi cười của ông khi làm Thái Truyền. Cái tướng vị khiến mọi người thèm nhỏ dãi ấy đang chờ ông ngồi vào.

Người giàu có mà thiên hạ phải kể đến đầu tiên không ai khác chính là Lã Bất Vi đây. Không chỉ tiền vàng quấn quanh bụng, ông còn có cả một nửa nước Tần như lời Dị Nhân đã hứa ban thưởng cho ông.

Hai viên hoạn quan và quân lính nước Triệu đã đi khỏi rất lâu rồi nhưng vẻ vui mừng vẫn hiện lên trên khuôn mặt của Lã Bất Vi và Dị Nhân. Nụ cười của họ như hoa nở mùa xuân cứ rực rõ mãi không thôi.

Lã Bất Vi về đến phủ, sai người mua rất nhiều gỗ và mời đến rất nhiều thợ mộc đóng cho ông mười ba cỗ xe cao rộng chắc chắn theo yêu cầu của ông.

Có chiếu mệnh của Triệu Hiếu Thành Vương họ có thể đường đường chính chính mang đi đồ tế nhuyễn bằng vàng bạc, đồ đựng đẹp đẽ quý giá.

Trong tiếng chặt phá mang nhịp điệu của rìu búa, Lã Bất Vi dùng năm ngón tay mập béo của mình nhẩm đếm thời gian...

Thời gian rộng rãi cho phép Lã Bất Vi tạo ra mười ba cỗ xe, đồng thời thời gian cũng đã tạo ra một sự kiện lịch sử trọng đại ảnh hưởng đến việc quy Tần của Lã Bất Vi và Dị Nhân, làm cho nó được phủ lên một màu sắc của gươm dao khốc liệt, bi hoan li lợp.

Sự kiện lịch sử trọng đại này là "Cướp Phủ cứu Triệu".

Tháng 9 năm 259 trươc CN, khi Lã Bất Vi cùng Dị Nhân đang chuẩn bị đến từ biệt Triệu Hiếu Thành Vương, Chiêu Tương Vương nước Tần đã phái đại tướng Vương Linh đem quân đi bao vây Hàm Đan, không ngừng tiến công vào thành không kể ngày đêm. Thành Hàm Đan trong cảnh nguy cấp, thái độ của Triệu Hiếu Thành Vương đối với Dị Nhân cũng có một sự thay đổi một trăm tám mươi độ, không cho phép anh ta từ nước Triệu trở về Tần nữa. Vận mệnh của Lã Bất Vi và Dị Nhân lại từ trên đỉnh núi vinh quang rơi xuống vực sâu nguy hiểm.

Dị Nhân bị quân Triệu thận trọng đưa lên đỉnh thành, quân úy ra sức hét lớn: "Quân Tần hãy ngừng tiến công, nếu không chúng tôi sẽ giết chết thái tử Dị Nhân của các ngươi!" Dưới thành, ngựa kêu người hét ầm ĩ, tiếng hô của Dị Nhân giống như một bông tuyết bị rơi vào một cái nồi nước nóng bị tan ra mà không có âm thanh gì. Chiến trận của quân Tần bụi khói mù mịt khắp trời, chẳng ai trong số họ nhìn rõ trên đỉnh thành gương mặt tái mét vì sợ của Dị Nhân.

Dị Nhân từ trên đỉnh thành đi xuống, cả mặt phủ một lớp bụi khói. Trên đường trở về nơi ở, anh ta nhìn thấy quân và dân trong thành Hàm Đan đang vận chuyển đầu mũi tên, súc gỗ để lao từ trên cao xuống đánh địch và lương thực với khí thế căm thù giặc sôi sục. Họ lo sợ sẽ lại gặp phải vận mệnh bi thảm như ở Trưởng Bình thuở nào, nên đã tiến hành sự phản kháng rất anh dũng và hiệu quả đối với sự tấn công của quân Tần. Đội quân tinh nhuệ của Bình Nguyên Quân Triệu Thắng và Bình Dương Quân Triệu Bảo đã chọn đúng thời cơ tiến ra ngòai thành tấn công quân Tần. Quân Tần không những không đánh phá được Hàm Đan àm còn bị thiệt hại nặng nề.

Lúc này, trong triều đình của nước Tần đang nổ ra cuộc tranh luận. Chiêu Tương Vương chủ trương tiếp tục tấn công mạnh Hàm Đan, phái Vũ An Quân Bạch Khởi vừa mới khỏi bện đi thay Vương Linh làm tướng quân. Bạch Khởi dâng lời can gián: "Hàm Đan phòng thủ rất kiên cố, không dễ gì công phá. Hàm Đan lại gần các chư hầu khác, Triệu Quốc muốn đi cứu viện thì cứu binh chỉ cần đi một ngày là tới. Những nước chư hầu đó từ xưa đến nay đều có lòng oán hận nước Tần chúng ta. Ở trận Trường Bình, nước Triệu dù có bị thương vong bốn trăm nghìn người và ngựa nhưng quân Tần chúng ta cũng tử vong hơn một nửa, trong nước binh lực suy yếu. Chúng ta phải trèo đèo lội suối lao quân viễn trinh, hơn nữa điều kiện thủy thổ không thuận lợi. Một khi nước Triệu và viện binh của các nước chư hầu kia mà trong ứng ngòai hợp, khi quân Tần của chúng ta mệt mỏi không chịu nổi nữa, hơn nữa trước mặt sau lưng đều có địch, thì lúc đó tất sẽ thất bại không còn nghi ngờ gì nữa.

Phạm Tuy ghen tức với chiến công của Bạch Khởi, hơn nữa trong chuyện nối ngôi, Bạch Khởi lại phản đối việc Tự Hề làm thái tử, mối hiềm khích giữa ông ta và Bạch Khởi rất sâu. Ông ra phản bác lại chủ trương của Bạch Khởi: "Nước Triệu từ sau trận đánh Trường Bình đến giờ, gục ngã không dậy được, có gì ta phải nản lòng nhụt khí như thế, chúng ta nên đánh một hồi chuông lấy lại dũng khí, thừa thắng xông lên tiêu diệt nước Triệu, cơ hội không thể để mất, mất rồi không thể lấy lại được, lẽ nào Vũ An Quân muốn nước Triệu khởi tử hồi sinh, không thể để nước Triệu liên minh với chư hầu vững chắc rồi mới tiến công Hàm Đan."

Chiêu Tương Vương cho là Phạm Tuy nói có lý liền lệnh Bạch Khởi đi thay thế Vương Linh. Bạch Khởi lấy cớ sức khoẻ ốm yếu bệnh tật không thể chỉ huy quân lính chiến đấu được. Chiêu Tương Vương rất không vừa lòng với Bạch Khởi cũng không có cách nào đành phải cử Bang An Bình làm đại tướng quân, tăng thêm quân chi viện tiếp tục đi bao vây Hàm Đan.

Trong tình cảnh bị quân Tần tiến công ngày càng mạnh mẽ hơn, tình thế của Hàm Đan vô cùng nguy kịch. Triệu Hiếu Thành Vương hổ thẹn quá hóa giận, cho gọi Bình Nguyên Quân Triệu Thắng và Bình Dương Quân Triệu Bảo nói: "Chiêu Tương Vương không giữ lời, nhiều lần tấn công nước Triệu chúng ta, lần này lại đánh đến thành Hàm Đan, ta thấy có khi giết quách Dị Nhân đi, cho bọn chúng chút màu sắc xem sao!"

Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nói: "Bây giờ giết hay không giết Dị Nhân cũng chẳng có nghĩa gì nữa, dù có giết hắn ta cũng không thể ngăn được quân Tần tiến công Hàm Đan. Việc cần kíp nhất bây giờ là xin viện binh ở nước Nguy và nước Sở gần chúng ta như vậy mới có thể giữ được Hàm Đan."

Triệu Hiếu Thành Vương thu nhận ý kiến của Bình Nguyên Quân Triệu Thắng, cử người đến nước Nguy và nước Sở cầu cứu.

Quốc Quân An Li Vương của nước Nguy và Triệu Hiếu Thành Vương có tình hữu hảo đã lâu, đồng thời cũng rất sợ sự trỗi dậy của nước Tần. Vì thế ông ta đã cử Phổ Bỉ làm Đại tướng quân dẫn chỉ huy một trăm nghìn đại quân xuất phát từ Đại Lương thẳng tiến đến Hàm Đan.

Quân hầu nước Tần thăm dò tình hình báo đã nắm được phương hướng của quân Nguy liền báo cáo lên Chiêu Tương Vương. Chiêu Tương Vương lập tức phái sứ thần đến Sinh Đô cảnh cáo An Li Vương nước Nguy: "Nếu kẻ nào dám xuất binh cứu Triệu, đợi sau khi đại quân của nước Tần ta đánh gục Hàm Đan sẽ quay trở lại tiêu diệt kẻ đó."

An Li Vương vô cùng sợ hãi, đành phải lệnh cho Phổ Bí dừng tiến công, đóng đô quân đội tại biên giới nước Triệu và nước Nguy, án binh bất động chờ xem biến hóa của chiến cục hai nước.

Triệu Hiếu Thành Vương chờ mòn con mắt viện quân của nước Nguy, chờ mãi mà không thấy, ruột nóng như lửa đốt. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng phái người đến Đại Lương tìm tin lính quân Nguy Vô Kị đi thúc bách. Nguy Vô Kị là anh rể của Bình Nguyên Quân Triệu Thắng, đồng thời là em trai của An Li Vương. Nguy Vô Kị lúc đó làm tướng quốc của nước Nguy, nắm trong tay quyền lực lớn, ông hiểu rõ rằng, sau khi nước Tần tiêu diệt nước Nguy thì mục tiêu thôn tính tiếp theo sẽ là nước Nguy. Nếu nước Triệu bị diệt vong thì nước Nguye cũng khó giữ được. Cách bờ mà đứng nhìn đám cháy chỉ bằng liên minh với nước Triệu chống lại nước Tần. Nguy Vô Kị đã đến khẩn cầu An Li Vương rất nhiều lần rằng hãy để đại quân của Phổ Bi nhanh chóng giải cứu Hàm Đan. An Li Vương e sợ cửa thành sẽ bị cháy, tai ương sẽ ập đến, binh phong của nước Tần sẽ ập đến, vì vậy nhất mực không đồng ý. Nguy Vô Kị đành phải tập hợp một trăm cỗ xe chiến, dẫn đầu một nghìn môn khách của mình đến thành Hàm Đan sống chết với quân Tần. Nguy Vô Kị dẫn đầu bộ hạ của mình anh dũng tiến về cửa thành phía đông của Đại Lương, chuẩn bị ra khỏi thành từ phía đó. Viên quan canh cửa phía đông là Hậu Doanh, đã hơn bảy mươi tuổi, dáng vẻ lụ khụ, ông thường uống rượu suông không có thức nhắm vì nhà nghèo. Nguy Vô Kị nghe nói ông rất có tài năng nên đã từng đích thân đến thăm, đồng thời đã đón ông ta về nhà mình chiêu đãi như một thượng khách. Hậu Doanh có một người bạn, tên là Chu Hợi, cũng đã từng nhiều lần đến thăm ông.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Đội quân của Nguy Vô Kị xuyên qua các phố các chợ, đến cửa thành phía đông rất nhanh, ông từ biệt Hậu Doanh. Hậu Doanh không lạnh lùng cũng không vồn vã đáp lời: "Công tử điện hạ hết sức cố gắng nhé, già này chân tay mềm yếu không thể đi cùng điện hạ được." Nói rồi ông lại lạnh lùng đi ra chỗ khác lo việc thành môn của ông.

Sau khi ra khỏi thành, Nguy Vô Kị vừa đi vừa nghĩ, thường ngày bản thân ông vẫn thường cúi mình trước kẻ sĩ, tiếp đãi ông ta như khách quý, chăm sóc rất chu đáo. Nhưng giờ là thời khắc sinh tử ly biệt, là bạn bè của nhau mà tại sao ông ta lại không động lòng gì chứ? Hay là bản thân có điều gì đắc tội với ông? Nguy Vô Kị càng nghĩ càng không vui, quyết định quay lại hỏi Hậu Doanh cho ra nhẽ.

Vừa nhìn thấy Nguy Vô Kị quay lại, Hậu Doanh cười nói: "Tôi đã đoán điện hạ nhất định sẽ quay trở lại tìm tôi."

"Tại sao tiên sinh lại đoán được tôi sẽ trở lại?"

Hậu Doanh hỏi: "Điện hạ cảm thấy con người tôi phụ tình bạc nghĩa lắm phải không?"

"Đúng thế."

"Điện hạ đã trách nhầm tôi! Từ khi nghe tin điện hạ mạo hiểm dẫn quân đến Hàm Đan, tôi đã mất ngủ cả đêm để nghĩ thay điện hạ việc này. Điện hạ thường coi trọng nhân tài, đa tình trọng nghĩa kết giao được rất nhiều bạn bè có tài năng, chân thật, trong những lúc cấp bách nguy hiểm, ông nên thỉnh cầu ý kiến của họ. Nhưng ông lại quên mất họ, làm xằng uổng công quyết chiến với quân Tần, điều đó giống việc bỏ miếng thịt vào miệng hổ, chỉ có thể chết một cách vô ích mà thôi."

Nguy Vô Kị cảm thấy lời nói của Hậu Doanh có lý và thuyết phục, ông liền thỉnh cầu kế sách của Hậu Doanh.

Hậu Doanh liền kéo Nguy Vô Kị ra một chỗ tránh ánh mắt của người khác, rồi nói: "Tôi nghe nói binh phù điều khiển quân đội của Phổ Bỉ đặt trong phòng ngủ của Đại Vương, Phi Tử được đại vương sủng ái nhất là Như Cơ có thể tự do ra vào phòng ngủ của Đại vương, việc trộm lấy binh phù dễ như trở bàn tay. Tôi còn nghe nói bố của Như Cơ bị người ta sát hại, cô ta rất muốn trả mối hận này, ước muốn dồn nét trong lòng đã ba năm mà vẫn chưa được thực hiện. Có lần, cô ta đã khóc và kể lại chuyện này với điện hạ. Điện hạ rất đồng cảm với cô ta, lập tức sai người chém đầu kẻ thù của Như Cơ rồi tặng cho cô ấy. Cô ta mang ơn điện hạ, vì vậy có phải hy sinh tính mạng vì điện hạ cô ấy cũng không từ chối chỉ cần điện hạ mở mồm nhờ cô ta giúp mình lấy trộm binh phù của Đại vương, cô ấy nhất định sẽ làm được, lúc đó có tay tay binh phù, là điện hạ đã dành được quyền điều binh khiển tướng của Phổ Bỉ, thống sóai đại quân, cứu được nước Triệu phía bắc, đánh hù được quân Tần phía tây. Đó là chiến công quá phi thường còn gì!"

Nguy Vô Kị y kế mà làm, lại mang môn khách và chiến xe của ông trở lại Đại Lương. Ông tìm được Như Cơ và cô ta đã đáp ứng lời thỉnh cầu của ông. Một đêm, An Li Vương uống rượu đến say, về đến phòng ngủ là rơi vào giấc mộng không còn biết gì nữa. Như Cơ nhân cơ hội lấy nửa biếc hổ phù. Quân vương thời cổ đại dựa vào binh phù để điều động quân binh. Một bức binh phù chia làm hai, tướng quân chỉ huy quân đội giữ một nửa, quân vương giữ một nửa. Người truyền đạt mệnh lệnh của quân vương cần phải cầm nửa bức binh phù này đến ghép với nửa còn lại, hai nửa này khớp nhau thì tướng quân mới tin đây là mệnh lệnh của vua.

Như Cơ đem bức hổ binh trộm được đưa cho Nguy Vô Kị. Nguy Vô Kị lập tức đem theo một vài xe nhỏ, nửa đêm xuất phát. Hậu Doanh đứng ở cửa phía đông tạm biệt ông và nói: "Tướng ở bên ngòai lệnh vua cũng có lúc có thể không theo. Bây giờ điện hạ cầm nửa bức hổ phù này đi khớp với bức kia, dù có không sai nhưng Tấn Bỉ cũng chưa chắc đã giao binh quyền cho ông. Nếu ông ta mà thỉnh thị đại vương thì nguy to. Người bạn Chu Hợi của tôi là một đại lực sĩ, điện hạ có thể mang theo ông ta. Nếu như Tấn Bỉ giao binh quyền thì tốt, còn nếu không thì giết quách ông ta đi!"

Nguy Vô Kị trả lời: "Tấn Bỉ là lão đại tướng quân đức cao vọng trọng, có công với nước, mưu lược hơn người, tôi có mang theo binh phù anh ta cũng chưa chăc đã giao binh quyền, rốt cục là không thể không chết được, tôi phải giết một vị lão đại tướng quân như thế không khỏi không đau lòng mà rơi nước mắt."

Hậu Doanh nói: "Điện hạ thử nghĩ xem, tính mệnh của Tấn Bỉ so với giang sơn xã tắc của hai nước Triệu, Nguy bên nào quan trọng hơn."

Vì vậy, Nguy Vô Kị cùng với Chu Hợi nhanh chóng đến Thang Âm, gỉa truyền mệnh lệnh của An Li Vương đòi Tấn Bỉ phải trao binh quyền. Tấn Bỉ đem tấm hổ phù ghép lại, quả thực không sai. Nhưng, ông ta cảm thấy chút ghi hoặc trong lòng, quan sát kỹ Nguy Vô Kị hồi lâu rồi nói: "Tôi cầm đầu bốn trăm nghìn đại quân đóng đô tại biên giới hai nước Nguy, Triệu, đây là trọng trách mà đại vương giao phó cho tôi. Giờ đây, đại vương sao lại cử điện hạ đến thay thế tôi khi mà chẳng có biến cố gì cả? Tôi cần phải nhìn thấy đại vương mới có thể tuân lệnh được."

Tấn Bỉ chưa nói hết câu, Chu Hợi đang đứng một bên liền vượt lên trước một bước, rút từ trong ống tay áo một cái rìu bằng sắt và bổ một cái thật mạnh vào đâu của Tấn Bỉ, Tấn Bỉ chết ngay.

Nguy Vô Kị tiếp quân đội của Tấn Bỉ, tay cầm hổ phù và phát lệnh: "Tất cả trường hợp hai bố con cùng trong quân đội, bố ra về; anh và em cùng trong quân đội, anh ra về; con một đi lính thì về nhà phụng dưỡng cha mẹ!"

Toàn bộ khẩu lệnh này không chỉ lấy được lòng quân binh, tăng sĩ khí của binh sĩ mà còn khiến cho quân đội tăng thêm sức chiến đấu. Nguy Vô Kị cầm đầu tám vạn tinh binh, tiến về Hàm Đan trong đêm.

Triệu Hiếu Thành Vương mong mãi mà không thấy viện quân của quân Nguy đến, liền phái Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đến Sở xin viện binh. Triệu Thắng hiểu rằng, Quốc Quân Hiếu Liệt Vương của nước Sở cũng rất sợ nước Tần, không thể biết được rằng liệu ông ta có thể phái quân đến tương trợ hay không. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng ông quyết định dùng trí tuệ và vũ lực ép nước Sở nhận lời. Như vậy, cần phải chọn ra hai mươi môn khách trí dũng song toàn trong số ba nghìn môn khách rồi cùng ông đến Trần thành của nước Sở.

Trong số các môn khách, Triệu Thắng tuyển chọn mãi mà chỉ chọn được mười chín người, còn thiếu một người chọn mãi không được. Lúc này, có một môn khách tên là Mạo Tọai đi đến trước mặt Bình Nguyên Quân Triệu Thắng và tự đề cử: "Tôi nghe nói đại vương cần đem hai mươi khách đến nước Sở để ký kết hiệp ước liên minh chống Tần, giờ còn thiếu một môn khách, xin đại nhân để tôi lấp đi quân số!" Triệu Thắng cảm thấy như đã từng gặp Mạo Tọai nhưng không quen anh ta. Ông nghĩ, người này là một thực khách không nhiều bản lĩnh để xin ăn, liền hỏi: "Ngươi làm môn khách của ta mấy năm rồi?"

Mạo Tọai trả lời: "Ba năm."

Triệu Thắng nói móc ruột: "Ta thấy một người có tài năng sống ở trên đời cũng giống như một chiếc dùi ở trong túi, mũi của nó sẽ lập tức bị lộ ra ngòai. Giờ ngươi đã ở trong nhà của ta ba năm rồi, ta chẳng nghe thấy ai từng khen ngợi ngươi, thậm chí đến tên của ngươi ta cũng không biết. Có thể thấy ngươi cũng chẳng có gì xuất chúng cả, thôi cứ ở nhà đi!"

Mạo Tọai lễ phép phản bác lại: "Đại nhân, tôi không thể thể hiện được mình là bởi vì đại nhân không đặt tôi ở trong túi. Nếu ngài đặt tôi trong túi từ sớm thì e là cả cái dùi cũng đã lộ ra từ lâu rồi, huống hồ là chỉ lộ một chút đầu mũi!"

Trước lời lẽ của Mạo Tọai, Triệu Thắng không biết nói gì hơn và cảm thấy rất phục tài ăn nói, sự cả gan của anh ta, ông liền để anh ta đi theo đoàn đến Trần thành nước Sở. Trên đường đi, Mạo Tọai cùng với mười chín môn khách rôm rả bàn luận chuyện thiên hạ đại thế, anh ta thể hiện ra là người có trí tưởng lớn, lời lẽ rất có đạo lý. Triệu Thắng và mọi người mới biết tài năng của Mạo Tọai rất xuất chúng, trong lòng cảm thấy hối hận là đã không chú ý đến anh ta từ trước.

Triệu Thắng và môn khách của mình đi đến thành Trần, quốc đô nước Sở, Hiếu Liệt Vương tiếp đón họ rất long trọng ở Chương Hoa Đài. Triệu Thắng và Hiếu Liệt Vương bàn bạc thành lập hiệp ước liên minh kháng Tần. Triệu Thắng đã thuyết phục vị vua nước Sở này từ sáng đến tối đến mức miệng khô lưỡi rát bằng cách lập đi lập lại những lợi ích của việc liên minh kháng Tần, nhưng Hiếu Liệt Vương vì sợ Tần nên cả buổi do dự không quyết.

Những môn khách đến cùng Triệu Thắng vô cùng sốt ruột, tất cả đều đồng thanh giục Mạo Tọai: "Cậu lên trước nói vài câu xem sao."

Vì thế, Mạo Tọai một tay giơ gươm, một tay nắm chặt cán gươm, vội vàng bước lên trước nói với Triệu Thắng: "Đại vương, vấn đề lợi hại của việc Triệu - Sở liên minh, dăm câu ba điều có thể quyết định được, nhưng tại sao từ sáng đến giờ mà vẫn chưa giải quyết được?"

Hiếu Liệt Vương kinh ngạc hỏi Triệu Thắng: "Tên tiểu tử to gan kia là ai?"

Triệu Thắng có chút run sợ nói: "Đại vương thứ lỗi, đó là môn khách của tôi."

Hiếu Liệt Vương khí nộ bốc lên ngùn ngụt, quát mắng Mạo Tọai: "Còn không nhanh xéo đi, ta và chủ nhân của ngươi đang bàn chuyện quốc gia đại sự, trên lễ đường này đâu có chỗ cho bọn môn khách các nguơi!"

Mạo Tọai chẳng có vẻ sợ hãi, ấn kiếm đi đến trước mặt của Hiếu Liệt Vương, đàng hoàng nói: "Đại vương mắng nhiếc Mạo Tọai tôi là cậy uy thế hùng mạnh của nước mình. Giờ đây, tôi và đại vương cách nhau không đến mười thước, tính mạng của Đại vương nằm trong tay tôi. Dù nước Sở có nhiều quân binh hơn nữa thì giờ đây cũng không thể giúp gì được cho Đại vương. Chủ nhân của tôi vẫn còn ở đây, đại vương không nên quát mắng tôi vô lễ như thế."

Hiếu Liệt Vương thấy Mạo Tọai hiên ngang, đằng đằng sát khí, sợ đến mức không nói lên lời. Thị vệ đứng hai bên ông ta đã tuốt hết gươm nhưng cũng không dám xông lên.

Mạo Tọai nói tiếp: "Tôi nghe nói trước đây Thương Thang dù chỉ có bảy mươi dặm đất đai nhưng về sau cũng làm vua thống trị thiên hạ; Chu Văn Vương cũng chỉ có vài trăm dặm đất đai biên cương nhưng lại có thể hiệu lệnh được chư hầu. Lẽ nào là do họ cậy binh sĩ nhiều, quân đội lớn mạnh? Không phải, đó chỉ là họ có thể nắm được tình thế có lợi, làm phấn chấn uy vũ của họ mà thôi. Bây giờ, đất đai nước Sở là năm nghìn dặm, cộng thêm cả trăm vạn dũng sĩ, đó là điều kiện để xưng vương xưng bá trong thiên hạ. Nước Sở dựa vào uy lực lớn mạnh này thì có nước chư hầu nào trong thiên hạ có thể địch nổi. Hơn nữa, xin hãy nhìn xem nước Tần vô danh tiểu tốt chỉ mang có mấy vạn binh mã đi tấn công nước Sở, trận đầu là có thể đánh chiếm được thành Yên và thành Sinh quốt đô của nước Sở, trận tiếp theo sẽ đánh chiếm Di Lăng, đem số phận các phần mộ của tổ tiên nước Sở giao phó cho một bó đuốc, trận thứ ba đốt trụi các tông miếu của nước Sở. Nước Sở phải chịu nỗi nhục như thế này thì thật là một mối hận thù mà cả trăm đời sau cũng không thể giải nổi, ngay cả nước Triệu chúng tôi cũng cảm thấy hộ thẹn thay cho nước Sở, huống hồ đại vương lại là vua nối dõi của nước Sở mà lại không thấy muốn báo thù để rửa nhục thì thật là không phải! Hai nước Triệu - Sở liên minh kháng Tần cũng là vì nước Sở chứ cũng không vì mình nước Triệu chúng tôi!"

Từng lời nói vang trời này của Mạo Tọai đều đánh trúng yếu điểm của Hiếu Liệt Vương, khiến ông ta đột nhiên tỉnh ngộ, ông liền thừa nhận: "Đúng thế, đúng thế, lời nói của tiên sinh đã động tới tâm can của ta. Quả nhân nguyện lấy cả nước Sở ra để liên minh với nước Triệu chống lại quân Tần!"

"Chuyện liên minh kháng Tần, đại vương đã quyết?"

Hiếu Liệt Vương trả lời: "Quả nhân quyết rồi!"

Mạo Tọai nói với những người xung quanh Hiếu Liệt Vương: "Nhanh mang máu của gà chó ngựa đến, chúng ta cùng đại vương hút máu ăn thề."

Hiếu Liệt Vương nói: "Đúng thế, hút máu ăn thề!"

Rất nhanh sau đó, bình đồng đựng máu đỏ được người của Hiếu Liệt Vương dâng lên. Mạo Tọai đón lấy rồi quý gối dâng lên Hiếu Liệt Vương. Hiếu Liệt Vương lấy máu bôi vào miệng, tiếp sau đó là Triệu Thắng, Mạo Tọai và các môn khách của nước Triệu đang đứng ở lễ đường.

Triệu Liệt Vương của nước Sở và nước Triệu đã ký kết hiệp ước liên minh chống Tần như vậy. Xuân Giáp Quân Hoàng Yết, Tướng Quốc của nước Sở đã dẫn đầu mười vạn tinh binh ngày đêm tiến về Hàm Đan với tốc độ nhanh.

Bây giờ, Lã Bất Vi cảm thấy thời gian trôi đi rất chậm. Ngày nào ông cũng nhìn thấy bóng của đầu nhọn gác lầu in rõ trên sân. Ban đầu, cái bóng đó dài và hẹp, về sau, dần dần ngắn lại. Đến giữa buổi, cái bóng biến mất. Một lúc sau cái bóng lại xuất hiện, theo án chiều tà nó lại kéo dài ra. Ông ta cảm thấy mình không thể khống chế được thời gian bởi vì trong lúc này đây đã xảy ra những chuyện mà ông không thể ngồi đó.

Lã Bất Vi tưởng rằng quân Tần sẽ đánh thẳng đến Hàm Đan, lúc đấy ông và Dị Nhân có thể đường hoàng trở về Hàm Dương. Vậy mà, tin tức chiến sự truyền đến lại làm Lã Bất Vi đau lòng. Mười vạn tân binh do Xuân Giáp Quân chỉ huy đến kết hợp với viện binh của nước Nguy cho nước Triệu do Tin Lăng Quân chỉ huy cùng mở một cuộc tấn công dữ dội đánh vào quân Tần. Lúc này, Bình Nguyên Quân Triệu Thắng cũng đích thân chỉ huy ba nghìn cảm tử quân của nước Triệu vượt thành ra ngòai. Tình thế rất nguy hiểm, dòng người và ngựa đang đi cuốn trận địa của quân Tần. Do phải chinh chiến nơi xa, chiến đấu đã lâu nên quân Tần đã mỏi mệt, lần này lại gặp phải sự kìm kẹp tấn công từ bên trong lẫn bên ngòai của binh mã ba nước, quân Tần làm sao có thể đứng vững được. Tướng Tần Vương Hột đã dẫn binh tàn tướng bại thóat về thành Phần, hai vạn quân Tần không kịp rút đã bị liên quân Nguy - Sở bao vây cuối cùng phải đầu hàng.

Lã Bất Vi hiểu rõ rằng, kết cục trận chiến này tiềm ẩn một vận mệnh xấu cho ông và Dị Nhân. Ông sẽ buông tay ngồi chờ nó đến, ông đang tranh thủ từng giờ từng phút tìm cơ hội thóat cùng với Dị Nhân và trong cảnh binh ngựa hổn loạn, Lã Bất Vi vẫn lợi dụng lúc đêm tối và lúc sương dầy, kề sát chân tường lần mò đến nơi ở của Dị Nhân giống như một cái bóng, Dị Nhân cũng đến tìm ông.

Công Tôn Càn dường như lờ đi tất cả những việc làm của họ. Khi mới bắt đầu, Lã Bất Vi và Dị Nhân có chút nghi không hiểu. Vì sao con người nước Triệu có sứ mệnh do thám này lại rộng lượng như vậy với ông và Dị Nhân? Thậm chí ông còn nghi ngờ tên Công Tôn Càn béo phục phịch này đang dệt tấm lưới âm mưu gì đây, đang diễn trò muốn bắt nhưng cố ý thả để tìm ra những sơ suất và bằng chứng tội lỗi nào đó của ông và Dị Nhân để về sau dễ bề luận tội. Ông đã nhanh chóng phát sinh ra kế sách vạn năng của Công Tôn Càn. Công Tôn Càn đã theo dõi sát sau Triệu Cơ và Doanh Chính. Người phi này và con của cô ta đã trở thành con tin của con tin.

Mỗi khi Lã Bất Vi đến hoặc Dị Nhân đi, Công Tôn Càn đều không nhúc nhích giống như một phong tượng Phật - Anh ta mãi mê theo dõi hành tung của hai mẹ con. Mỗi khi Triệu Cơ đưa Doanh Chính đi ra khỏi phủ, anh ta lại theo đuôi như một con mèo đánh hơi thấy mùi tanh. Công Tôn Càn cũng là con người xảo trá, mỗi khi thấy Triệu Cơ và tiểu Doanh Chính ở lâu trong phòng không ra ngòai, anh ta liền đứng bên ngòai gọi với giọng rất thân mật: "Chính nhi! Chính nhi!"

Tiểu Doanh Chính lảnh lót đáp lại rồi tíu tít chạy ra.

Trong lòng Công Tôn Càn đã cảm thấy đạt được mục đích.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Tiểu Doanh Chính ở nhà thì Triệu Cơ cũng ở nhà, Triệu Cơ ở nhà thì Dị Nhân cũng đang ở nhà. Anh ta bế tiểu Doanh Chính lên, cọ nhẹ bộ râu của mình lên cặp má non tơ của tiểu Doanh Chính. Tiểu Doanh Chính buồn bật cười khanh khách. Sau đó, Công Tôn Càn lại lấy từ trong tay áo ra chút bánh trái gì đó rồi đút đầy mồm tiểu Doanh Chính. Dị Nhân, Lã Bất Vi, Tư Không Mã, Chu Kiệm, Triệu Cơ khi đối mặt với Công Tôn Càn cũng chỉ chào hỏi một vài từ câu nệ hoặc lạnh lùng chào nhau, chỉ có tiểu Doanh Chính là người duy nhất có thể cùng anh ta nô đùa thân mật.

Lã Bất Vi đã sớm hiểu động cơ của Công Tôn Càn đang tiềm ẩn trong mối quan hệ này và ông thường cảnh cáo Triệu Cơ: "Đừng để cho tiểu Doanh Chính chơi với cái gã béo Công Tôn nguy hiểm đó." Triệu Cơ cũng thường quát mắng và dọa tiểu Doanh Chính: "Ông béo Công Tôn đó trên người cứt đãi đấy, ở gần ông ta con sẽ bị thối đấy! Còn chơi với ông ta mẹ sẽ đánh gãy chân con."

Mỗi khi ở gần Công Tôn Càn, tiểu Doanh Chính lại dí sát mũi vào áo của Công Tôn Càn ngửi lấy ngửi để. Công Tôn Càn hỏi: "Chính nhi, cháu ngửi cái gì đấy?"

"Chú Công Tôn, người chú không thối à?" Tiểu Doanh Chính ngộ nghĩnh hỏi.

Công Tôn Càn hỏi lại: "Chú không tắm gội trong chuồng xí, làm sao mà người lại thối được."

Tiểu Doanh Chính nói: "Mẹ cháu đã nói dối, người chú Công Tôn không thối, người chú Công Tôn không thối!"

Khi Bình Nguyên Quân, Xuân Giáp Quân và Tin Lăng Quân dẫn đại quân ba nước trở về, toàn thành Hàm Đan trở nên sôi sục. Từ vài năm nay, đây là thắng lợi nước Tần đầu tiên mà ba nước chư hầu đạt được, mười mấy vạn quân dân trong thành tụ tập nhảy múa đón mừng.

Triệu Hiếu Thành Vương đáng lẽ đã tiếp đón trả ơn Xuân Giáp Quân và Tin Lăng Quân rất tốt, thế nhưng trong lúc chiến tranh, vị vua dạn dày sương gió này đã phải thấp thỏm đêm ngày, lo lắng sợ hãi. Khi tiếng trống thắng lợi quân Tần nổi lên một cách vang dội thì bỗng chốc có thể ông đổ sụp xuống. Sau khi ông run rẩy ngồi trong ngự xe đi đón Xuân Giáp Quân và Tin Lăng Quân, ông ốm không dậy được nữa.

Triệu Bình Nguyên Quân Triệu Thắng vẫn luôn nhớ tới một việc, đó là giết Dị Nhân và Lã Bất Vi. Trong những lúc thâu đêm suốt sáng chuẩn bị cho buổi lễ mừng thắng lợi, Bình Nguyên Quân Triệu Thắng cũng vẫn thường bàn bạc với Xuân Giáp Quân và Tin Lăng Quân chuyện này. Tin Lăng Quân Nguy Vô Kị rất tán thành chủ trương của Bình Nguyên Quân Triệu Thắng, ông nói: "Đúng, giết cái tên vương tôn này đi! con tin cái gì? Chằng có ích lợi gì cả. Dị Nhân bị cầm cố ở Hàm Đan mà Tần Chiêu Vương coi như không có chuyện này, đã mấy lần tấn công nước Triệu mà chẳng hề lo lắng gì. Nếu không dám làm gì Dị Nhân thì rõ ràng nước Triệu yếu kém có thể bắt nạt được."

Xuân Giáp Quân Hoàng Yết là một quân tử nhân hậu, ông phải đối việc giết hại Lã Bất Vi và Dị Nhân: "Hai nước đánh nhau cũng không được giết sứ thần huống chi lại là Tần vương tôn làm con tin? Theo tôi được biết, cái vị Dị Nhân này ở trong Hàm Đan cũng chưa có gây rối nào, vô cớ giết anh ta thì chẳng phải quá tàn nhẫn hay sao?"

Bình Nguyên Quân Triệu Thắng để ý gì đến tấm lòng nhân ái này của Xuân Giáp Quân, nói: "Xuân Giáp Quân lòng tốt thương người của ông sớm muộn gì cũng làm hỏng chuyện."

Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nói đúng. Quả nhân tính cách nhân ái rộng lượng này của Xuân Giáp Quân Hoàng Yết đã gây ra họa sát thân, trong cuốn sử ký Xuân Giáp Quân Liệt Truyện, Tư Mã Thiên đã ghi lại kết cục bi kịch của vị quân tử này.

Sở Hiếu Liệt Vương không có con trai, Xuân Giáp Quân đã trăn trở suy nghĩ về chuyện này rất nhiều, thế là ông quyết định tìm những người vợ dễ sinh nở hiến cho Sở vương. Dù đã tiến cống rất nhiều nhưng vẫn không sinh hạ được con trai. Lúc này, Lý Viên người nước Triệu mang em gái của anh ta đến định hiến cho Sở vương, nhưng anh ta nghe nói Sở vương không có khả năng sinh con, e là về sau em mình sẽ đến ở không được sủng ái nữa. Vì thế Lý Viên bỏ ý định này và đến xin hầu hạ Xuân Giáp Quân. Không lâu sau, anh ta xin phép về quê và đã cố tình kéo dài thời gian nghỉ phép. Sau khi trở lại, vào gặp Xuân Giáp, Xuân Giáp hỏi anh ta vì sao lại về muộn, Lý Viên trả lời: "Tề vương phái sứ thần đến hỏi em tôi về làm vợ, vì phải ngồi uống rượu với vị sứ thần đó nên đã làm muộn thời gian." Xuân Giáp hỏi: "Có lễ vật ăn hỏi không?" Lý Viên trả lời: "Không có." Xuân Giáp lại hỏi: "Ta có thể gặp mặt cô ấy không?" Lý Viên trả lời: "Vâng." Thế là Lý Viên đem em gái của mình hiến cho Xuân Giáp và đã nhận được sủng ái của Xuân Giáp Quân. Về sau, khi biết cô ta đã có mang, Lý Viên cùng cô ta bàn bạc một mưu kế.

Em của Lý Viên nhân cơ hội để khuyên Xuân Giáp Quân: "Sở vương rất tôn trọng tín nhiệm chàng, tình huynh đệ cũng không bì kịp, hơn nữa, giờ đây chàng đã làm tể tướng nước Sở hơn hai mươi năm rồi, nhưng Sở vương lại không có con trai, giả sử trăm năm sau Sở vương sẽ lập anh em của ông ta làm vua. Sau khi nước Sở lập vua mới cũng tức là những người thân cận của tân vương trước kia được hiển quí. Lúc đó ngài làm sao còn có thể được trọng dụng lâu ngày nữa đây? Sự việc không chỉ dừng lại giản đơn như những lời tôi nói, bởi ông nắm quyền trước Sở vương đã quá lâu, sự thất lễ với anh em Sở vương nhất định không ít, anh em Sở vương quả được lập làm vua Sở. Tai họa sẽ giáng xuống đầu ông, lúc đó làm sao giữ được ấn tướng và vùng đất phong ở Giang Nam đây. Giờ đây tiện thiếp đã biết mình mang thai, nhưng người khác thì chưa biết chuyện này. Tiện thiếp được ngài sủng ái lâu ngày không nhạt phai, lấy sự trọng vọng của ngài đem đưa tiện thiếp tiến cho Sở vương. Sở Vương nhất định sủng ái tiện thiếp, nếu tiện thiếp có phúc phận sinh được con trai, vậy thì chính đứa con của ngài đã được lập làm Sở Vương. Khi đó ông ở trên muôn người dưới một người. Ai còn có thể trách tội ông được?" Xuân Giáp Quân đinh ninh như vậy, vì thế đưa em gái của Lý Viên vào ở trong nhà khách, đồng thời canh giữ nghiêm ngặt. Sau đó bẩm báo Sở Vương. Sở Vương triệu em gái Lý Viên vào trong cung. Vô cùng sủng ái nàng, chẳng bao lâu nàng sinh con trai, lập làm thái tử. Bởi em gái Lý Viên là Vương hậu, nên nước Sở trọng dụng Lý Viên, Lý Viên nắm chính sự trong triều.

Lý Viên đã đưa em của mình vào cung, đứa con của nàng sinh ra đã được lập làm thái tử. Lý Viên sợ Xuân Giáp Quân tiết lộ bí mật, lại thêm kiêu ngạo, vì vậy mà nuôi bọn tội đồ để giết hại Xuân Giáp Quân diệt khẩu. Khi đó người nước Sở hầu như đều biết nội tình.

Khi Xuân Thân Vương đảm nhận Sở Tương hơn hai mươi năm, Sở Hiếu Liệt Vương bị bệnh. Chu Anh nói với Xuân Giáp Quân: "Việc đời có những cái phúc lớn không cầu mà chợt đến, cũng có những cái họa lớn không mong mà đến, nay ông đang ở một nước biến động vô thường, hầu cận vị vua vui giận bất định, tại sao không có ai giúp ông tránh hung tìm cát?" Chu Anh noi: "Ông làm Tướng Quốc nước Sở đã hơn hai mươi năm, tuy danh phận ở vào ngôi Tướng, nhưng trên thực tế ông chính là Sở Vương! Giờ Sở Vương bệnh trạng, sớm muộn sẽ mất đi, một mai Sở Vương mất đi, mà ông chính là người phò tá Thiếu chủ. Đợi Tân Vương trưởng thành lại đem chính quyền trả lại ông ta, nếu không ông quay mặt về phương nam xưng vương mà hùng cứ một phương. Đây chính là phúc lớn không cầu mà tới mà tôi nói!" Xuân Thân Vương lại hỏi: "Cái gì là họa không mong mà tới?" Chu Anh trả lời: "Lý Viên không được trọng dụng mà oán hận ông như kẻ thù, tuy ông ta không thống lĩnh quân đội, nhưng từ lâu ông ta đã nuôi dưỡng bọn tội đồ. Đợi một khi Sở Vương mất đi, Lý Viên sẽ vào cung nắm chính quyền và giết ông để diệt khẩu. Đây chính là cái họa không cầu mà đến mà tôi nói!"

Xuân Giáp Quân nói: "Thế nào gọi là người biết tránh hung tìm cát?" Chu Anh nói: "Trước hết xin ông hãy đưa tôi vào chức Lang Trung hầu cận Sở Vương. Sau khi Sở Vương mất, Lý Viên nhất định sẽ vào cung trước, lúc đó tôi sẽ thay ông giết quách hắn đi. Đây chính là cái tránh họa tâm phúc mà tôi nói." Xuân Giáp Quân nói: "Nên bỏ cái cách làm này đi, Lý Viên là con người yếu đuối, tôi xưa nay lại đối với ông ấy rất tốt, ông ta dù thế nào cũng không làm những việc như thế đâu." Chu Anh biết những lời can gián của mình không được thu nhận, sợ rằng tai họa sẽ ập tới, vì vậy lặng lẽ bỏ đi.

Sau chuyện này mười bảy hôm, Sở Hiếu Liệt Vương mất. Lý Viên quả nhiên nhập cung, ông ta bố trí bọn tội đồ mai phục trong Tật Môn. Xuân Giáp Quân vừa vào tới Tật Môn, bọn tội đồ này từ hai bên xông ra đâm chết ông ta, còn cắt đầu ông ta vứt ra con sông gần đó, tiếp đó sai quân sĩ đem người nhà Xuân Giáp Quân giết sạch. Em gái Lý Viên đầu tiên được Xuân Giáp Quân sủng ái có thai mà được sung vào vương cung sinh con trai được lập làm Sở Vương, đó chính là Sở U Vương.

Xuân Giáp Quân đang khuyên Bình Nguyên Quân Triệu Thắng không nên giết Dị Nhân, số phận tàn khốc này vẫn đợi anh ta ở nơi xa xôi. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng cảm thấy lòng nhân hậu của Xuân Giáp Quân là lòng nhân hậu đàn bà. Không phải lòng nhân kẻ trí, bèn giấu ông ta mời Tin Lăng Quân Nguy Vô Kị vào trong mật thất bàn bạc mưu kế. Hai người thương định, cho mai phục rất nhiều võ sĩ ở hai bên chính điện Tùng Đài sẽ giết Dị Nhân và Lã Bất Vi trên bàn tiệc, để tế linh hồn tướng sĩ ba nước tử trận. Bình Nguyên Quân Triệu Thắng sai người viết thư mời. Sai người mang sang mời Dị Nhân và Lã Bất Vi.

Triệu Cơ bê thiếp mời được làm bằng thẻ tre, vui mừng nói: "Buổi lễ lớn như thế này, nhất định có ca múa rực rỡ, có thể tiện thiếp đi cho mở mang tầm mắt không?"

Dị Nhân liếc xéo Triệu Cơ một cái, bụng nghĩ: "Liên quân ba nước Triệu, Nguy, Sở vừa đánh cho nước Tần chúng ta đại bại, cô lại còn có lòng mà vui chơi nữa sao." Dị Nhân không để ý gì đến Triệu Cơ, suy đi nghĩ lại, đến Tùng Đài dự tiệc nhất định sẽ bị nhục, tự mình xử trí thế nào.

Lã Bất Vi bê thẻ tre, mắt đăm đăm nhìn về phía trước. Ông biết bữa tiệc này không chỉ đưa ông và Dị Nhân vào tình thế khó xử mà nó còn ẩn dấu đầy sát khí. Mấy hôm nay ông cảm thấy bồn chồn không yên, tinh thần bất định. Ông tìm thầy bói xem cho một quẻ, thầy bói nói ông có tai họa sát thân, cần phải chú ý đề phòng, ngay khi đi trên đường, một chiếc lá rơi phía sau, cũng phải nghe động tĩnh.

Lã Bất Vi xem rõ ngày giờ ghi trên thiếp mời, tức ngay ngày hôm sau. Nó có nghĩa là ông và Dị Nhân chỉ còn hơn một ngày để bàn bạc đưa ra đối sách.

Lã Bất Vi sai người chuẩn bị xe, đang chuẩn bị đến chỗ ở của Dị Nhân, thì thấy Lận Bửu thần sắc hốt hoảng, sầm sập lao vào. Lã Bất Vi vội mời ông ta vào phòng khách, còn chưa đợi gọi trà, Lận Bửu đã hổn hển nói: "Lã đại nhân, ngài hãy mau trốn đi!"

"Tại sao thế?" Lã Bất Vi hỏi.

"Lã đại nhân có phải ngài nhận được thiếp mời của Bình Nguyên Quân đến dự tiệc không?"

"Vâng."

"Họ muốn giết đại nhân và Dị Nhân tại bàn tiệc!"

"Làm sao ông biết?"

"Lã đại nhân, ông vẫn còn nghi ngờ hay sao? Tuy Lận Tương Như đại nhân nhà tôi không có ở nhà, nhưng tôi cũng là người giao du rộng rãi, lắm bạn bè. Đừng nói là tai mắt khắp nơi, mà mọi việc đều thông suốt, nắm bắt được mọi biến động. Đây chính là "nho sĩ không ra khỏi cửa nhưng biết được mọi việc trong thiên hạ!"

"Tôi có một người bạn làm quân qui trong phủ Bình Nguyên Quân. Hôm qua chúng tôi uống rượu với nhau, ông ấy nói ông ấy có nhiều bạn bè, tôi cũng nói tôi nhiều bạn. Tôi nói, ông chẳng phải quen biết một số giới võ phu thành thạo binh khí hay sao? Ông xem mấy anh em ta nho, sĩ, thương, nông chỗ nào cũng có, mọi nơi đều là anh em cả, ông ta bảo tôi nói khóac, tôi kể ra, nho tôi quen biết ai, sĩ tôi quen biết ai, thương tôi nói là tôi quen Lã Bất Vi hào phú. Có lẽ là rượu nhiều quá, ông ta cười khẩy, nói cái vị Lã Bất Vi của ông sắp xuống hoàng tuyền rồi, các ông sẽ gặp nhau ở kiếp sau nhé! Tôi liền hỏi vị quân úy này là có chuyện gì, ông ta nói rằng Bình Nguyên Quân và Tin Lăng Quân đang mưu tính chuyện này..."

Lã Bất Vi nghe Lận Bửu nói một tràng, tin tưởng đó toàn là sự thật. Ông thỉnh cầu Lận Bửu cho ra một lời khuyên, tìm cách để ông ta và Dị Nhân trốn đi.

Lận Bửu cười nói: "Trong lòng tôi cũng đang rất lo, tính mạng của Lã đại nhân đâu giống như phường áo cải chúng tôi, nhẹ như lông hồng." Lã Bất Vi hiểu ý Lận Bửu, vội tiếp lời nói: "Người không phân biệt cao thấp giàu nghèo, tính mệnh đều quí trọng như nhau. Lận tiên sinh cứu tính mạng tôi và Dị Nhân lần này, tôi nguyện suốt đời không quên ơn."

Lận Bửu vội xua tay, nói: "Lã đại nhân quá lời rồi, Lã đại nhân quá lời rồi!"

Lã Bất Vi vội gọi gia tướng lấy một trăm lượng vàng tặng Lận Bửu. Lận Bửu mặt mày rạng rỡ đến kinh ngạc, nói: "Đa tạ ân điển của Lã đại nhân! cứu người như cứu hỏa, tôi sẽ về phủ thu xếp, bảo đảm là đại nhân và Dị Nhân bình an vô sự rởi khỏi Hàm Đan. Mong ngài yên tâm!"

Dị Nhân không ngớt nhìn ra cổng phủ với vẻ mặt mơ hồ, cả chiều nay anh ta chờ đợi bóng dáng hồn hậu của Lã Bất Vi, Dị Nhân đoán, Lã Bất Vi nhất định cũng nhận được thiếp mời của Bình Nguyên Quân. Vị thái phó đa mưu túc trí này nhất định sẽ nghĩ ra được biện pháp hữu hiệu để ứng phó.

Cảnh hoàng hôn càng hiện rõ, mọi vật trong sân như thóat ẩn thoắt hiện. Bây giờ Lã Bất Vi vẫn chưa đến, Dị Nhân đứng ngồi không yên, muốn để Chu Kiệm đi tìm Lã Bất Vi về.

Lúc này từ bên ngòai vọng vào tiếng lộc cộc của bánh xe ngựa, Dị Nhân mừng ra mặt, bèn nói với Chu Kiệm: "Mau ra mở cửa đi, lã Thái phó đến rồi đấy!"

Mở cánh cổng phủ, Chu Liễn bước qua ngưỡng cổng, để cho chiếc xe ngựa chạy vào. Xe ngựa đã đứng hẳn, chiếc dèm được kéo ra để lộ khuôn mặt hào phòng của Lã Bất Vi.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XI

Sự ra đời của Tần Thủy Hoàng


Dị Nhân thấy Lã Bất Vi chậm chậm bước vào, khuôn mặt bình thản trong lòng có chút nghi hoặc: "Thái phó vẫn chưa nhận được thiệp mời của Bình Nguyên Quân sao? Hay là nhận được mà không thèm quan tâm đến?"

Vốn thường khi nhìn thấy Dị Nhân, Lã Bất Vi không bao giờ tỏ ra thiếu lịch sự, ông nói rất rành mạch: "Dị Nhân điện hạ, bữa yến tiệc mừng công tối nay của Bình Nguyên Quân đã sắp tới, xin ngài hãy chuẩn bị kỹ càng đến dự tiệc. Để tránh sự ác cảm của Bình Nguyên Quân là chúng ta đến muộn, tôi đã chuẩn bị một món lễ vật chất hậu hĩnh, bây giờ để Chu Kiệm và Tư Không Mã đưa tới Tùng Đài, và khởi bẩm với Bình Nguyên Quân rằng Dị Nhân điện hạ sẽ tới ngay."

Dị Nhân nói với Chu Kiệm hãy mau mang lễ vật đến, và nói một cách tán thưởng: "Thái phó đại nhân nghĩ rất chu toàn!"

Triệu Cơ ôm gọn đứa bé Doanh Chính đi tới, ngập ngừng hỏi: "Lã thái phó, thiếp muốn bế Doanh Chính ra ngòai chơi, có được không ạ?"

Lã Bất Vi nói: "Bình Nguyên Quân tổ chức quốc yến lần này rất linh đình, lễ nghi nghiêm trang. Thái tử phi bế đứa trẻ nhỏ đến đó sợ sẽ làm mất đi sự uy nghiêm. Ngộ nhỡ đứa trẻ tiểu Doanh Chính lám náo loạn thì rất khó kiểm sóat nổi, như vậy thì sẽ làm cho quân thần của Tần quốc và các nước chư hầu chê cười."

Dị Nhân lạnh lùng nói: "Phận con gái, không nên đặt chân vào đại đường!"

Triệu Cơ nói như oán trách: "Cơ hội ngàn năm khó gặp này chắc không có chỗ cho những người mẹ như thiếp!"

Dị Nhân sau khi ăn mặc chỉnh tề, liền thúc giục Lã Bất Vi lên xe khởi hành. Lã Bất Vi quay lại ôm đứa trẻ Doanh Chính một cách thân mật, và dùng ánh mắt buồn rầu vô hạn nhìn Triệu Cơ, đôi môi hơi mấy máy như có điều muốn nói nhưng rồi lại thôi.

Dị Nhân không kiên nhẫn được anh ta nghĩ: "Lã thái bá thường ngày tính cách mạnh mẽ quyết đoán, sao hôm nay lại mềm yếu như phụ nữa vậy? chẳng phải là để thái tử phi và tiểu công tử đến Tùng Đài dự tiệc sao, hà dĩ phải khó xử như thế?"

Lã Bất Vi nói với Triệu Cơ: "Yến tiệc ở Tùng Đài sẽ tổ chức thâu đêm, ta và thái tử điện hạ cũng chẳng biết bao giờ sẽ trở về, thái tử phi và Doanh Chính nên đi nghỉ sớm, giữ gìn sức khoẻ!"

Dị Nhân lại thúc giục một lần nữa: "Thái phó, mau lên đường thôi, chúng ta đến muộn sẽ làm mất lễ tiết đấy!"

Dị Nhân đã lên xe được một lúc, Lã Bất Vi mới vén rèm bước lên. Trong xe bóng tối tràn ngập, Dị Nhân không thể nhìn rõ được khuôn mặt buồn đau của Lã Bất Vi.

Bốn con tuấn mã kéo chiếc xe ngựa lúc lắc chạy vượt qua những con phố, trong xe, Dị Nhân nhắm nghiền mắt lại, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng quát của người đánh xe Tư Không Mã. Dị Nhân cảm thấy kỳ lạ, sao hôm nay con đường lại xa và xe lại chạy chậm đến như vậy, anh ta ngồi lắc lư theo nhịp xe chạy, giữa đường, bỗng nhiên chiếc rèm xe bị hắc lên, có một chút ánh sáng quét qua mặt Dị Nhân, khi anh ta vừa mở mắt ra, thì tấm rèm đã kịp hạ xuống, trong xe vẫn tối như mực.

Dị Nhân tự nhủ với mình: "Trời tối quá."

Cùng với tiếng hô vừa đủ nghe của Tư Không Mã "đến rồi", chiếc xe cũng dừng lại.

Lã Bất Vi nói: "Dị Nhân điện hạ, mau xuống xe thôi!"

Dị Nhân nhảy xuống khỏi xe, định thần nhìn xung quanh, những chiếc nến ở đây sáng như ban ngày. Tùng Đài chiêng trống vang trời, bốn bề gió thổi xào xạc, trông thật là hoang vắng. Ông mơ hồ hỏi: "đây là việc gì vậy?"

Lã Bất Vi nói: "Bình Nguyên Quân muốn trong bữa yến tiệc tối nay sẽ giết chết điện hạ, chúng ta không mau rút chạy e rằng sẽ chẳng còn mạng đâu!"

Lúc này Dị Nhân mới cảm thấy hoang mang sợ hãi, và hiểu rằng vì sao Lã Bất Vi đã lưu luyến chia tay lần cuối với thái tử phi và tiểu công tử. Dị Nhân thầm mừng cho chủ tớ của họ đã tránh khỏi nanh hùm, hóa hiểm thành an, nhưng lại oán trách Lã Bất Vi không nên bỏ rơi thái tử phi và tiểu công tử.

Lã Bất Vi liền nói: "Kẻ tiểu nhân xin điện hạ tha tội! Chúng ta mau chạy theo con đường nhỏ bí mật, ngộ nhỡ quân của Triệu Quốc đuổi theo thì dù có cánh chúng ta cũng khó lòng chạy thóat! Đợi sau khi thóat khỏi hiểm nguy, tiểu nhân sẽ thuật lại với điện hạ vì sao lại phải bỏ lại thái tử phi và tiểu công tử để bỏ chạy."

Dị Nhân chỉ biết có vậy, đành bỏ lại ngựa xe, rê xuống con đường nhỏ chạy thục mạng. Trong bóng đêm mù mịt, ba người bọn họ đạp trên những đống đất sỏi mấp mô mà chạy, bước cao bước thấp, những bụi cây đã làm rách hết quần áo và giầy của họ. Chạy được khá xa, nhìn lại phía sau không có người đuổi theo, ba người họ mới đứng lại, vừa đi vừa thở hổn hển. Dị Nhân đau lòng nói: "Thái tử phi và Doanh Chính của ta sẽ gặp phải tai ương mất!"

Lã Bất Vi nghe và hiểu rằng, tuy Dị Nhân không nhắc tới đích danh tên họ của ông, nhưng cũng có ý trách móc ông.

Lã Bất Vi an ủi đáp: "Điện hạ, không nên quá bi quan và đau lòng như vậy, việc không đưa thái tử phi và Doanh Chính đi cùng cũng chỉ là việc bất đắc dĩ mà thôi. Lận Bửu và tên quan giữ thành nói, Lã Bất Vi mang theo gia quyến đến đền thờ ở ngọai thành để xem bói. Lúc vừa rồi anh không nhìn thấy ra khỏi thành, viên qua úy còn vén rèm lên để xem xét. Nếu như mang theo thái tử phi và Doanh Chính thì sẽ lộ hết chân tướng. Hơn nữa, khi nhìn thấy thái tử phi và Doanh Chính cũng lên xe, thì chắc Công Tôn Càn cũng sẽ không để yên đâu. Ngộ nhỡ hắn bẩm tấu với Bình Nguyên Quân, chẳng phải là vẽ hổ không thành lại vẽ thành chó sao!"

Tuy Dị Nhân cảm thấy mừng lời Lã Bất Vi nói có lý, nhưng trong thâm tâm ông vẫn cảm thấy khó chấp nhận được, ông nói: "Chỉ sợ rằng ta và thái tử phi của ta, ta và Doanh Chính của ta sẽ gặp nhau ở thế giới bên kia thôi!"

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ giữ được tính mệnh về đến Hàm Dương trở thành vua của một nước, thì chỉ ngày một ngày hai những mỹ nữ hầu hạ điện hạ chả như mây ấy chứ. Như vậy, điện hạ chả có vô số thái tử phi, vô số Doanh Chính hay sao! Nếu như điện hạ không thể quyết đoán kịp thời, một mực ở lại trong phủ đệ làm phiền mẹ con thái tử phi, như vậy chẳng phải điện hạ sẽ trở thành thịt cá nằm sẵn trên thớt của Bình Nguyên Quân và làm ma của thành Hàm Đan sao! Điện hạ ngay cả thân mình còn chẳng giữ nỗi, nói chi đến việc xum họp với thái tử phi với Doanh Chính đây!"

Tư Không Mã đứng ở bên cánh cũng nói phụ họa vào: "Điện hạ, lời nói của Thái phó rất có lý!" Dị Nhân không kháng lại được lời nào nữa.

Ba người đều ngồi dưới đất, tất cả đều im lặng, khi Lã Bất Vi ngồi xuống, ông cảm thấy như có vật gì đè chặt lại ở trong ngực. À, ta nhớ ra rồi, là một mảnh trúc cầm cố được giấu ở trong bụng, bên trên có ghi lời di chúc của Triệu Khôi Tử: "Cơ nhi gán cho Lã Bất Vi." Trước khi trốn khỏi Hàm Đan, có hai vật ông cần mang đi. Thứ nhất là bộ Kinh Thương yếu điểm "Kế Nhiên" do Hoàng Phủ Nghĩa tặng ông, ông đã đọc rất kỹ bộ này, cũng có thể nói, từng nét chữ trong quyển sách cũng đủ làm cho ông kiếm được rất nhiều tiền. Tuy đống thẻ trúc ấy quá nặng, nhưng khi bí mật trốn đi ông cũng phải mang theo bằng được. Còn một thứ nữa là trúc gán nợ này. Bên trên có ghi ông và người con gái mà ông yêu thương, tấm trúc gán nợ này được mài dũa sáng trơn như ngọc, nó giống như tấm thân đẹp mê lòng người của Triệu Cơ.

Trước đêm dời khỏi Hàm Đan, Lã Bất Vi đã vắt óc suy nghĩ về chuyện có nên mang Triệu Cơ và Doanh Chính đi theo hay không. Một là người ái thiếp đã từng cùng ông chung chăn gối, một là sản phẩm mà ông dùng tinh huyết để tạo thành. Hai mẹ con và Lã Bất Vi giống như khí và huyết vậy, tình nghĩa sâu nặng. Vừa rồi, khi Lã Bất Vi khuyên nhủ Dị Nhân cũng chỉ là những lời qua loa đại khái, nhưng có ai thể hiểu được rằng trong lòng ông như đang có sóng dậy gió cuộn, một nỗi đau âm thầm...




tiếp theo


CHƯƠNG XII

Giáo đâm thẳng - Tên bắn lén


Dị Nhân - Lã Bất Vi - Tư Mã Không, ba người tờ mờ sáng thì đến Hàm Dương.

Ăn sương nằm đất, giãi gió dầm mưa mấy ngày nay đã kiệt hết sức lực của họ. Ba con người, anh nhìn tôi - tôi nhìn anh, đều như nhau cả, đầu óc rối bù, quần áo nhem nhuốc. Tư Không Mã tự giễu cười nói: "Bộ dạng của chúng ta thế này đến cung Chương Đài vẫn chưa đủ để làm cho Hoàng Thượng Chiêu Tương Vương của chúng ta khiếp đến nỗi hồn bay phách lạc!"

Lúc này Lã Bất Vi cũng hứng khởi nói: "Vậy ta phải khấu đầu tạ tội, ông Thái phụ vô dụng này cũng chẳng tiếp đón điện hạ Dị Nhân tử tế đâu."

Dị Nhân cười lớn rồi nói: "Ngài hơi quá lời rồi!"

Ba người cười nói một hồi rồi sửa sang mủ áo đi về phía cổng thành. Cổng thành vừa mở chưa lâu, phía trong cổng thành vẫn chưa thấy xe ngựa qua lại - tên lính canh không để cho ba người tả tơi rũ rượi bọn họ vào thành.

Vừa thấy bị chặn lại, Dị Nhân tức tối. Trong lòng nghĩ, mấy tên tiểu tốt tép riu các người có mắt cũng như mù, chả lẽ còn nghi ngờ điện hạ Dị Nhân ta hay sao?

Nghĩ đến đó, Dị Nhân giận dữ nói: "Muốn giấy phong truyền gì? các người biết ta là ai không?"

Lã Bất Vi vội đẩy Dị Nhân về phía sau, rút giấy phong truyền của mình ra, cúi đầu khúm núm nói: "Chúng tôi là thương nhân nước Triêu, đến Hàm Dương để làm ăn một chuyến, xin đại ca trấn giữ cổng thành rộng lòng cho chúng tôi qua."

Lã Bất Vi sợ rằng Dị Nhân nói ra: "Ta là Tân Vương Tôn Dị Nhân". Tin tức này sẽ được truyền đi nhanh chóng, khắp thành Hàm Dương sẽ biết Dị Nhân trở về. Họ mới đến lần đầu, vẫn còn chưa biết trong Vương Cung có động tĩnh gì không, đừng nói là nảy sinh nhiều chuyện bất ngờ, gây nhiều phiền phức.

Tên lính trấn giữ cổng thành lật đi lật lại giấy phong truyền nhầu nát của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi vội vàng nháy mắt Tư Không Mã một cái, Tư Không Mã hiểu ý, lấy ra một nén bạc từ trong ngực đưa cho tên lính trấn giữ cổng thành.

Tên lính nhận bạc, trả lại cho Lã Bất Vi giấy phong truyền, hất hàm để cho ba người lật đật đi vào trong cổng thành.

Mặc dù phố xá trong thành Hàm Dương vẫn còn che phủ trong sương sớm mong manh, mặc dù Dị Nhân đã xa nó bảy mùa xuân, nhưng anh vẫn còn nhớ được phố này là phố gì, ngôi lầu kia là lầu nào, anh hào hứng sôi nổi kể với Lã Bất Vi và Tư Không Mã khi anh đến đây cảnh tượng như thế nào.

Ngắm nghía một lượt cảnh phố lờ mờ, bỗng nhiên Dị Nhân hỏi Lã Bất Vi: "Thái phụ, ngài nói xem ta đi bái kiến ông nội Chiêu Tương Vương trước hay là đi gặp mẫu thân Hạ Phi trước?"

Lã Bất Vi nói như đã có dự tính sẵn: "Điện hạ, theo ý của tiểu nhân, người mà ta phải bái kiến trước tiên là Hoa Dương phu nhân."

Dị Nhân nghi ngờ hỏi: "Trên có Gia gia Chiêu Tiên Vương. Quân Vương của một nước, sau có mẫu thân Hạ Phi sinh ra ta. Sao phải đi bái kiến Hoa Dương phu nhân!"

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ, tôi là một thương nhân, xin cho tôi phép so sánh trong kinh doanh. Ở đây có ba mối làm ăn, một mối có thể thu về ngàn lạng bạc, một mối có thể thu về trăm lạng bạc, còn một mối chẳng có lợi gì. Vậy Điện hạ sẽ làm ăn mối nào trước?"

Dị Nhân nói: "Chẳng cần so sánh cũng biết, đương nhiên phải buôn bán mối thu về ngàn lạng trước, mới tiếp đến là thu về trăm lạng, còn vất bỏ cái mối chẳng có lợi lộc gì."

Lã Bất Vi nói tiếp: "Nghe thế có lý. Hoa Dương phu nhân nói một lời là định đặt trời đất, lập Điện hạ lên làm vua. Từ nay về sau Điện hạ có thể thuận lợi trở thành quốc quân hay không! Hoa Dương phu nhân là người có quyến thế. Đó chính là mối làm ăn kiếm được ngàn lạng vàng đấy!"

Dị Nhân nói: "Được sự chỉ bảo của Thái phụ, làm cho ta tỉnh ngộ ra, thật sự cần phải đi bái kiến Hoa Dương phu nhân trước. Vậy thì chúng ta hãy đến ngay cấm cung Loan Phượng Các của Hoa Dương phu nhân thôi!"

Lã Bất Vi ngăn lại nói: "Đến trước không có nghĩa là lúc này."

Dị Nhân: "Vậy..."

Lã Bất Vi nói: "Bây giờ chúng ta cần phải đến Phủ đệ của Hoa Dương Quân thăm dò. Điện hạ là nghĩa tử và là Hạ thần của Hoa Dương phu nhân, cần phải ăn mặc cho đẹp, mang theo lễ gặp mặt mới không mang tiếng về lễ nghĩa mẫu tử và quân thần, đồng thời đến chỗ Hoa Dương Quân nắm bắt được đầu mối rõ ràng, tình hình chính trị, để Điện hạ từ nay về sau hành sự tránh được sự lỗ mãng hoang đường."

Dị Nhân gật đầu cho thế là phải.

Về việc Dị Nhân và Lã Bất Vi trải qua gian khổ tìm đến Hoa Dương Quân vui ra mặt, vội vàng chuẩn bị rượu làm lễ tẩy trần cho Thái tử và Thái phụ.

Trong bữa tiệc, Lã Bất Vi nói ra ý muốn đến Phủ Đệ của Hoa Dương phu nhân trước, Hoa Dương Quân không ngớt lời thán phục mưu tinh sâu xa của Lã Bất Vi, liền hỏi: "Thái tử và Thái phụ từ Hàm Đan trở về trong công việc làm ăn không biết có đầy đủ hay không, cần bao nhiêu lạng bạc để chi trả mặc dù không dám nói ra."

Lã Bất Vi cười nói: "Cám ơn tấm lòng nghĩa của Hoa Dương Quân. Việc này có lẽ không cần làm phiền đến Hoa Dương Quân, tôi đã chuyển mấy cửa hiệu ở Hàm Đan đến Hàm Dương rồi, không dám nói là buôn bán thịnh vượng, của cải dư thừa nhưng cũng có thể thu lợi, có một số vốn nhỏ. Phụng hiếu cho sự chi trả của Hoa Dương phu nhân cũng không đến nỗi nào."

Hoa Dương phu nhân ngạc nhiên hỏi: "Sao cơ, Thái phụ đã chuyển cửa hiệu về trước rồi phải không?"

Lã Bất Vi trả lời: "Đúng vậy."

Hoa Dương Quân nói: "Là những cửa hiệu gì?" Lã Bất Vi nói: "Lời cửa miệng, vẫn là buôn bán châu báu. Ngay đến tên cửa hiệu, muốn cần đến chút tiếng tăm của Hoa Dương Quân, gỉa dụ như "Long Xương Quảng" chẳng hạn."

Hoa Dương Quân nói: "Lấy tên Long Xương Quảng, nhưng trong thành Hàm Dương tiếng tăm đã lâu, bản nhân còn mấy lần gặp mặt Dương Tử chủ cửa hiệu."

Lã Bất Vi nói: "Dương Tử là một người thông minh năng nổ trong những môn khách của tôi."

Hoa Dương Quân: "Trời đất! sao Thái phụ không sớm nói ra? Mau mời Dương Tử đến, chủ tớ các ngài cũng lâu ngày chưa được gặp lại."

Một lát sau Dương Tử đến, thăm hỏi cặn kẽ đối với Dị Nhân và Lã Bất Vi.

Sau khi cơm no rượu say, Hoa Dương Quân từ sớm đã chuẩn bị xong nước tắm hương thơm, mời Dị Nhân - Lã Bất Vi - Tư Không Mã tắm rửa.

Trong phòng tắm hơi nước bốc ngùn ngụt, ba người bọ họn tuy rằng không một mảnh vải che thân, nhưng đều được khí hơi nước che lấp, hai bên cũng chẳng nhìn rõ nhau. Hơi nước mờ mịt không chỉ làm da thịt của Lã Bất Vi dễ chịu mà còn làm cho tư duy của ông thỏai mái. Tuy ông cùng Dị Nhân trở về nước Tần, nhưng chưa hẳn đã phải là sự thành công, mục tiêu Dị Nhân làm vua Tần, ông trở thành Tướng Quốc vẫn còn cách xa vời vợi. Mỗi bước đi sau này cần phải hết sức thận trọng, không thể có một chút sơ suất nào, nếu không công lao đổ hết xuống sông xuống biển. Trước mắt thật khéo léo đi bái kiến An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân để cho họ càng thêm vui mừng, để củng cố và tăng thêm ấn tượng sâu sắc tốt đẹp đối với Dị Nhân và mình. Do đó Lã Bất Vi nghĩ đến việc Dị Nhân ăn mặc trang phục nào đi vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, việc đó thể hiện được Lã Bất Vi là một điều tinh tế của một thương nhân. Ông nghĩ, ăn mặc mũ áo cũ kỹ thậm chí rách nát của nước Triệu đó, dễ làm cho người ta nghĩ tới nỗi khổ sở phải chịu đựng khi tha hương nước khác, có thể gợi lên sự thông cảm và thương xót của An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, ăn mặc mũ áo của nước Tần, khiến người ta cho rằng chủ tớ họ nhớ nhung quê hương đất nước, một bầu máu nóng của đứa trẻ sơ sinh, sẽ làm cho An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân cảm thấy lòng tận trung hổ thẹn của họ đối với nước Tần... Đúng lúc Lã Bất Vi không biết lựa chọn cách nào giữa hai cách, đột nhiên ông nghĩ đến Hoa Dương phu nhân là người nước Sở, bà hết sức yêu thích trang phục, vật phẩm, bài hát của nước Sở. Phải phải rồi! Để cho Dị Nhân cùng mình ăn mặc trang phục của nước Sở để vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân thôi!

Lã Bất Vi vui mừng trước chủ ý tuyệt diệu của mình, như con giao long lộn mình trong bồn tắm phát ra tiếng nước kêu róc rách.

Dị Nhân, Lã Bất Vi, Tư Không Mã sau khi tắm rửa xong, tất cả vẻ mặt đều rạng rỡ, tinh thần đều sảng khóai. Họ sai người ra chợ mua về ba bộ quần áo thêu con phượng của nước Sở, ăn mặc chỉnh tề rồi vào hầu An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, tuyệt chiêu này của Lã Bất Vi quả nhiên rất hiệu nghiệm, làm cho Hoa Dương phu nhân hết đỗi vui mừng, có những sử sách đã ghi chép tỉ mỉ tình tiết này.

Trước khi vào cung gặp Hoa Dương phu nhân ngày hôm đó, Lã Bất Vi đã sắp đặt kỹ lưỡng cho Dị Nhân, ngòai những cách thức dạy cho anh ta làm thế nào kể cho Hoa Dương mến mộ, còn có đặc ý để cho Dị Nhân mặc trang phục đang lưu hành trên đất Sở. Phục trang đất Sở thời kỳ chiến quốc có một nét đặc sắc riêng, bởi đất Sở thích hợp trồng cây đay, có lịch sử thêu dệt lâu đời, cho nên sản phẩm dệt của đất Sở tương đối đẹp, sự tinh tế của trang phục thủ công vượt trội các nơi khác. Áo đai, áo dài trở thành kiểu dáng rộng rãi nhưng thỏai mái, con gái thường kéo áo dài và con trai thường dệt áo đai rộng, đều là kiểu dáng trang phục lưu hành của nước Sở, người nước Sở phong Chúc Cách là tổ tiên, Chúc Cách là Hỏa Thần, người nước Sở xưa phần lớn đều thích màu đỏ, vua nước Sở thường mặc là "áo thêu". Người nước Sở lại tôn kính chim phượng hoàng, các đường nét được thêu trên chất liệu quần áo phần lớn là phượng hoàng, thêm lên ít hoa văn phức tạp, thành những mẫu hoa văn hình dạng quái đản. Trang phục nước Sở màu sắc đẹp vô cung thích mắt. Cách ăn mặc cả bộ của Dị Nhân có thể gợi lên tình cảm thân thiết cho Hoa Dương phu nhân và những hồi ức tốt đẹp của bà. Quả nhiên, sự bố trí kỹ càng đó đã giành được kết quả không thể ngờ tới.

Dị Nhân và Lã Bất Vi mặc trang phục đẹp của nước Sở vừa định cất bước, Hoa Dương Quân liền sai người đến Loan Phượng Các báo trước. An Quốc Quân cùng Hoa Dương phu nhân không ngớt vui mừng. Vội ngồi ngay ngắn trên công đường đón chờ. Tiếp đến là một tiếng kêu lớn: "Tần Vương Tôn Dị Nhân và Thái phụ Lã Bất Vi tới!". An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân nhìn thấy hai người đàn ông mũ áo chỉnh tề, sắc mặt trang nghiêm, toàn thân đều ăn mặc trang phục nước Sở, theo đuôi nhau đi tới. Hoa Dương phu nhân chợt thấy trang phục của nước Sở, thêm phần thân thiết. Nhất thời cảm động, cũng chẳng cần để ý đến lễ nghĩa phép tắc giữa quân thần mẫu tử, bước vội xuống công đường ôm chặt lấy Dị Nhân đang lao tới, khóc không thành tiếng: "Con của ta, làm mẫu thân nhớ con đến chết!"

Dị Nhân nước mắt lưng chòng nói: "Nhi thần ở Hàm Đan cũng muôn nhớ mong da diết Phụ quân và Mẫu hậu."

Lã Bất Vi thấy thế, bà Hoa Dương phu nhân vẫn như trước đây dung nhan xinh đẹp, mà An Quốc Quân thì nay đã khác xưa, nếp nhăn già nua đầy khuôn mặt.

Nửa buổi, Dị Nhân mới rời ra khỏi lòng Hoa Dương phu nhân, làm lễ khấu kiến với An Quốc Quân. An Quốc Quân vẻ mặt phấn khởi nói: "Con của ta lớn lên thành một người tài giỏi tư thế hiên ngang, vả lại trên đường đi thuận lợi, không có gì khó khăn hiểm trở, thật là điều đáng mừng."

Dị Nhân nói: "Nhi thần có được ngày hôm nay, đều trông cậy vào sự tính toán, và bảo vệ của Thái phụ Lã Bất Vi."

An Quốc Quân nói: "Thái phụ Lã Bất Vi, ngươi có công lớn vất vả, ta nhất định sẽ trọng thưởng cho ngươi."

Lã Bất Vi cúi người đáp: "Tạ ơn An Quốc Quân."

Hoa Dương phu nhân ngắm nhìn một lượt trang phục của Dị Nhân rồi lại ngắm nhìn trang phục của Lã Bất Vi, nhìn mãi mà không thấy chán.

An Quốc Quân bông đùa nói: "Ái phi của ta, hãy cẩn thận kẻo cứ nhìn vào đó rồi không thu lại ánh mắt về được đâu!"

Hoa Dương phu nhân nói: "Con trai ta, con và Thái phụ ở Hàm Đan đã bao năm nay, vì sao toàn mặc trang phục của nước Sở?"

Dị Nhân nhìn Lã Bất Vi một lượt rồi trả lời: "Dị Nhân bất hiếu không thể ở lại Loan Minh Các hầu hạ Phụ Quân và Mẫu Hậu, trong lòng cảm thấy áy náy, bèn mua về hai bộ trang phục nước Sở để ở trong cấm cung, mỗi lần nhìn thấy, cảm thấy như được ở bên cạnh Phụ Quân và Mẫu Hậu rồi!"

Lã Bất Vi cũng đứng ở một bên liền nói: "Mỗi khi đến ngày sinh nhật của Phụ quân và Mẫu hậu, Dị Nhân đều mặc lên bộ trang phục của nước Sở, thiết đàn chúc thọ cho hai người ở trong Phủ Đệ, chúc phúc cho hai người ở tứ đường phía ngòai thành."

Nghe Dị Nhân và Lã Bất Vi nói như vậy, Hoa Dương phu nhân cảm động lệ chảy ướt đẫm gò má, nghẹn ngào khen ngợi: "Dị Nhân, tấm lòng hiếu nghĩa của con cơn hơn nhiều lần con đẻ. An Quốc Quân, tiện thiếp nhận con kế nghiệp, đó là sự nhìn xa trông rộng!"

An Quốc Quân gật đầu cho là phải.

Lã Bất Vi nhân cơ hội cúi đầu làm lễ Hoa Dương phu nhân nói: "Khởi bẩm An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân, tiểu nhân và Thái tử điện hạ đều có một suy nghĩ, không biết có nên nói ra hay không? xin được tha tội."

Hoa Dương phu nhân nói: "Thái phụ, sau này chúng ta đều là người nhà cả, việc gì phải khách khí, cứ nói đi!"

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ Dị Nhân muốn đổi tên thành Tứ Sở, là con của nước Sở, thứ nhất là thể hiện chữ hiếu của Thái tử, thứ hai là để kỷ niệm ngày cha mẹ con cái đoàn tụ."

Một câu nói làm cho An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân lòng vui như mở cờ, nói: "Ý hay, ý rất hay!"

An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân nói cười vui vẻ, quyết định để Dị Nhân và Lã Bất Vi tạm thời ở trong phủ trại của An Quốc Quân, đợi sau khi bẩm tấu Triệu Tương Vương sẽ xây dựng cung điện Thái tử và Phủ viện Thái phụ. Không biết ai khởi xướng lên việc Dị Nhân lấy vợ sinh con, chuyện An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân tìm kiếm Triệu Cơ và tiểu Doanh Chính, Dị Nhân không khỏi nghẹn ngào, lòng dạ trăm sầu.

An Quốc Quân an ủi nói: "Con trai ta không phải buồn rầu nữa, bởi cha muốn tìm cách làm cho mẹ con bình an đoàn tụ. Nếu như việc không thành, con gái trong thành Hàm Dương đều đẹp như hoa như ngọc, chọn trong số họ làm thê thiếp, làm trò tiêu khiển cho con trai ta!"

Hoa Dương phu nhân nói: "Thời gian không còn sớm nữa, Dị Nhân mau đi khấu kiến Hạ Phi, mẹ đã sinh ra con."

Buổi chiều một ngày mùa thu, mặt trời yếu ớt, tia nắng mệt mỏi từng lúc từng lúc chiếu trên những hoa tàn tạ, cánh hoa rơi khắp mặt đất, giống như cõi mộng tan vỡ mà khiếp sợ.

Mờ sáng hôm nay, Triệu Cơ uể ỏai nằm trên chiếc chõng, nhìn chiếc chăn bên cạnh bà trống trải còn ở đó, biết rằng Dị Nhân đêm qua chưa trở về. Lòng bà vừa oán trách vừa lo lắng: "Tiệc tùng gì lung tung ở đâu rồi."

Sau khi dậy, cũng như mỗi sáng theo trình tự bà đang trang điểm, chải chuốt khuôn mặt của mình, Lận Bửu bí mật chạy vào ghé sát tai bà nói: "Lã Bất Vi bảo tôi đến báo với Thái tử phi, ông cùng Điện hạ Dị Nhân đêm qua đã trốn khỏi Hàm Đan trở về nước Tần rồi. Bảo bà trốn đi, bảo trọng lấy mình, có cơ hội họ sẽ cứu mẹ con bà!"

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XII

Giáo đâm thẳng - Tên bắn lén


Lận Bửu sau khi nói xong, nhìn rõ trên khuôn mặt của Triệu Cơ hiện ra sắc mặt nhợt nhạt, sau đó lẩm bẩm: "Các ngươi.." tiếp theo là "bọn đàn ông lòng lang dạ sói này.." Chưa dứt lời, Lận Bửu vội vàng bịt miệng bà nói: "Hiện giờ quân thần của nước Triệu vẫn chưa biết điện hạ Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn, Công Tôn Càn mất cảnh giác, bà cùng với Chu Kiệm nhân cơ hội này mà trốn đi. Nếu như bà to tiếng như vậy việc sẽ bại lộ, lập tức Bình Nguyên Mã sẽ bắt mẹ con bà và Chu Kiệm, trở thành con tin của những con tin, đến lúc đó dù có cánh mọi người cũng khó lòng thóat được."

Triệu phi thấy lời nói của Lận Bửu có lý, bèn vuốt nước mắt. Sau khi Lận Bửu đi rồi, bà vội tìm đến Chu Kiệm bàn bạc tìm cách. Chu Kiệm nói với Triệu phi: "Đợi lát nữa tôi và Công Tôn Càn chơi cờ, bà nhân cơ hội đó mà dẫn tiểu Doanh Chính trốn chạy, thay họ dấu tên trú ngụ ở nhà dân thường, sau đó tìm cơ hội trốn khỏi Hàm Đan."

Triệu phi nói: "Tôi thay quần áo, đeo một chiếc đai."

Chu Kiệm nói: "Không được, làm như vậy Công Tôn Càn nhìn thấy sẽ nghi ngờ. Bà và tiểu Doanh Chính cứ ăn mặc thế này, đợi tôi và Công Tôn Càn đặt bàn cờ ở trên bàn, hai người sẽ lập tức đi ngay."

Triệu Phi nói: "Vậy thì..."

Chu Kiệm nói: "Bà làm Thái tử phi, tiểu Doanh Chính là Công tử, tính mệnh hai người ngàn vàng, tiền đồ còn sáng lạng, bất kể thế nào cũng phải trốn về Hàm Dương."

Triệu phi nhận thấy trong mấy tiếng gọi đầu tiên của Chu Kiệm, Công Tôn Càn tỏ ra phớt lờ, chẳng chút mảy may. Triệu phi phán đoán mấy tiếng gọi đó đủ để thấy được cự ly giữa Chu Kiệm và Công Tôn Càn rồi. Phải chăng Công Tôn Càn đã phát giác ra điều gì.

Tiếp đó một tiếng gọi nữa của Chu Kiệm: "Đại ca Công Tôn Càn lại đây chơi cờ với tôi nào!" Công Tôn Càn mới chậm chạp nhúc nhích tấm thân béo tròn đi về phía đó.

Triệu phi nhìn đích xác Công Tôn Càn đã ngồi ngay trước bàn cờ, mới ôm tiểu Doanh Chính vụt chạy qua như lá rơi trong gió giật.

Đi trên ngõ phố người ngựa qua lại nhộn nhịp, Triệu phi không ngớt tự khuyên mình "không nên sợ hãi luống cống, không nên sợ hãi luống cuống!" Cho dù như thế, nhưng bà vẫn cảm thấy tâm can hồi hộp, có lúc như con chim bị dính tên, cuống cuồng lật đật chạy về phía trước.

Công Tôn Càn luôn đi nhầm nước cờ, đem lại cho lòng mình một cảm giác như đãng trí.

Quả thực Công Tôn Càn đãng trí, ông đã có cảm nhận phải cảnh giác về việc đêm qua Dị Nhân đi dự tiệc ở Tùng Đài. Một là vì sao tiệc lại tổ chức trước một ngày, hai là tiệc sẽ thâu đêm suốt sáng, bây giờ đã là buổi chiều ngày thứ hai rồi, tiệc cũng phải tan. Đến giờ này Dị Nhân vẫn chưa về, không biết đã xảy ra chuyện gì đây?

Nghĩ tới đó, Công Tôn Càn thu cờ vào nói: "Để hôm khác sẽ quyết một trận sống còn nhé!"

Công Tôn Càn từ trong phòng của Chu Kiệm đi ra, bỗng nghe thấy tiếng trống kèn kinh thiên động địa từ phía Tùng Đài, người đi trong ngõ phố đều đứng lại nghe ngóng gần xa rồi cụm đầu nhỏ to bàn luận điều gì đó.

Công Tôn Càn cũng chạy ra phố đứng trong một đám người nhìn về phía Tùng Đài. Nghe đám luận giữa những người qua lại, mới biết rằng tiệc mừng ngày lập nước của Bình Nguyên Quân chính thức bắt đầu. Giật mình, ông mới nghĩ tới, tại sao Dị Nhân nói tối qua nó đi dự tiệc nhỉ? Ông quay người trở về trong cung, nhìn ngó khắp nơi cũng chẳng thấy bóng dáng mẹ con Triệu phi, xét đoán là có điều gì không hay xảy ra.

Công Tôn Càn hỏi Chu Kiệm: "Thái tử phi và tiểu Doanh Chính đâu?"

Chu Kiệm cố ý tỏ ra vẻ không biết nói: "Thế à? tôi cũng đang tìm họ, vừa nãy Thái tử phi và tiểu Doanh Chính còn ở đây, nháy mắt một cái đã không thấy đâu rồi!"

Công Tôn Càn đợi người quản gia về, dặn anh theo dõi Chu Kiệm còn mình thì bước vội đến Tùng Đài, tìm tới một tên quan gác cổng quen biết, hỏi thăm xem bên trong có Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi không? tên quan gác cổng nói, ông ta không thấy Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi nào cả! Công Tôn Càn nhờ tên quan gác cổng vào trong phòng tiệc thăm dò tìm giúp. Tên quan gác cổng quay người đi vào, quá nửa buổi mới chạy ra nói với Công Tôn Càn bên trong cũng chẳng thấy Tần Vương Tôn Dị Nhân và Lã Bất Vi.

Lúc này Công Tôn Càn mới bắt đầu hoảng hốt và sợ hãi. Ông đoán chắc đến tám - chín phần là Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn. Khi Công Tôn Càn nghĩ như vậy, ông cảm thấy mồ hôi đang chảy lã chã sau lưng, giống như chó mất đuôi. Ông lại chạy đến phủ đệ của Lã Bất Vi, hỏi han bọn người hầu và các môn khách, thì họ đều nói lão gia nhà họ đêm qua đi dự tiệc ở Tùng Đài.

Công Tôn Càn không dám chần chừ. Lại quay người tìm đến Tùng Đài, bẩm báo với Bình Nguyên Quân sự thể tìm mọi nơi mà chẳng thấy Dị Nhân và Lã Bất Vi đâu. Bình Nguyên Quân đang dương dương tự đắc trong ánh đèn tiệc rượu, sau khi nghe xong thất kinh trách mắng Công Tôn Càn rằng: "còn tìm gì nữa, e rằng họ đã trốn khỏi thành Hàm Đan này rồi!"

Tin Dị Nhân và Lã Bất Vi bỏ trốn, từ bữa tiệc mừng ngày lập nước mà nói, quả là như một cơn gió độc. Bình Nguyên Quân tức giận đùng đùng, lòng dạ rối bời đạp đổ bàn tiệc. Ngày hôm đó, sau khi gửi thiếp mời đến Dị Nhân và Lã Bất Vi, ông đã cẩn thận đưa ra kế
sách làm sao trong bữa tiệc làm cho Tần Vương Tôn và thái phụ của hắn trói tay chịu bị bắt, sau đó đưa ra một tội danh để giết họ. Tối hôm qua thấy Chu Kiệm phụng mệnh Dị Nhân và Lã Bất Vi đem lễ mừng đến Bình Nguyên Quân vui mừng hể hả. Một là họ không có cảnh giác khi bị giết hại, hai là nước láng giềng của Triệu Vương nhiếp chính vẫn tỏ ra ngưỡng mộ kính phục mình. Hôm nay tiệc mừng bắt đầu, không nhìn thấy bóng dáng Dị Nhân và Lã Bất Vi đâu cả, Bình Nguyên Quân võ đoán, hai kẻ chủ tớ này vì sự lúng túng mà tránh dự tiệc. Ông nhếch mép cười nhạt rồi nói: "Trốn tránh lần đầu chứ không thể trốn tránh được mãi, đợi đến sau bữa tiệc rồi sẽ bắt các ngươi!"

Bình Nguyên Quân không thể ngờ rằng Dị Nhân và Lã Bất Vi sớm chuồn mất, ông giận sai người bỏ tù tất cả gia quyến, môn khách của Lã Bất Vi và Dị Nhân, nói: "Không được để cho những người này trốn thóat!"

Công Tôn Càn sợ Chu Kiệm lại có một sai lầm nữa, tội càng thêm nặng, vội trở lại phủ đệ của Dị Nhân, vừa nhìn thấy Chu Kiệm đang đứng bần thần ở đó, như trút được gánh nặng ông thở dài một tiếng.

Được bài học Triệu phi và tiểu Doan Chính chạy trốn, thần kinh của Công Tôn Càn và tên quản gia kia hết sức căng thẳng. Mặc dù Bình Nguyên Quân cắt cử rất nhiều lính canh ở đó, chỉ bỏ tù Chu Kiệm, nhưng Công Tôn Càn không dám có một sơ suất nhỏ ngay cả khi ngủ cũng phải mở một mắt.

Hôm đó, Công Tôn Càn đang trừng mắt nhìn Chu Kiệm đi lại dưới hành lang như không có chuyện gì xảy ra, bỗng nghe có một tiếng trẻ chưa vỡ giọng đang gọi ông; "Công Tôn thúc thúc ơi! Công Tôn thúc thúc!"

Công Tôn Càn nhìn theo hướng tiếng gọi, cho đó là giấc mơ, đứa bé trai thông minh sáng dạ, nhanh nhẹn họat bát đang đứng trước mặt ông không phải là công tử tiểu Doanh Chính của Dị Nhân sao? nó vẫn ở trong thành Hàm Đan, nói rõ rằng bố mẹ nó cũng chưa trốn khỏi. Lần theo dấu vết thì có thể truy nã được hai tên tội phạm của Bình Nguyên Quân, bắt về sẽ được một khoản tiền thưởng lớn.

Chu Kiệm vừa nhìn thấy tiểu Doanh Chính, sợ hãi mặt không còn giọt máu, thất thanh kêu lên: "Tiểu công tử, sao lại chạy về đây?"

Tiểu Doanh Chính hào hứng nói: "Mẫu thân nhốt ta ở trong nhà một bà lão, ngột ngạt đến chết đi được!"

Sắc mặt Chu Kiệm thần hồn nát thần tinh nói: "Tiểu công tử, mau chạy đi, Công Tôn Càn là người xấu, muốn bắt mọi người hãm hại đấy!"

Tiểu Doanh Chính cãi lại nói: "Ngươi lừa ta, Công Tôn thúc thúc là bạn tốt của ta."

Thì ra, Triệu phi dẫn tiểu Doanh Chính trốn đến ngòai thành ẩn náu, tìm đến một nhà bà lão hiền lành tốt bụng, nói là từ Biên Ấp đến thành Hàm Đan tìm người thân bị lạc đường. Bà lão rất cảm thông bèn để cho mẹ con Triệu phi ăn nghỉ ở đó. Triệu phi sợ để lộ tin tức, bèn nhốt tiểu Doanh Chính trong phòng như chim trong lồng cá trong chậu, khó chịu sự vắng vẻ và tĩnh mịch trong căn phòng tăm tối, phải đi ra ngòai chơi cho thích mới được. Triệu phi một chút sơ xuất, cậu liền chạy ra ngòai.

Công Tôn Càn ôm tiểu Doanh Chính vào lòng, như bắt được vàng dụ dỗ nói: "Nào, Công Tôn thúc thúc dẫn cháu đi mua quà nhé!"

Công Tôn Càn tìm đến một cửa hàng thực phẩm gần đấy, mua cho tiểu Doanh Chính bao nhiêu là những thứ ngon, rồi hỏi: "Tiểu công tử, bố mẹ cháu đang ở đâu?"

Tiểu Doanh Chính trả lời: "Mẹ cháu đang ở nhà của một bà lão, còn bố cháu không biết ở đâu cả."

Công Tôn Càn lại hỏi: "Cháu có thể tìm đến nhà bà lão ấy được không?"

Tiểu Doanh Chính nói: "Được, cháu nhớ đường mà!"

Công Tôn Càn bế tiểu Doanh Chính chạy thẳng về phía Tùng Đài đặt tiểu Doanh Chính nô đùa bên ngòai cung điện, còn mình thì vào bẩm báo với Bình Nguyên Quân: "Công tử tiểu Doanh Chính của Dị Nhân đã rơi vào tay tôi, xin điều quân đi theo nó để bắt Dị Nhân và Triệu Cơ."

Bình Nguyên Quân nói: "Tiểu Doanh Chính đang ở đâu?"

"Đang ở ngòai điện ạ."

Bình Nguyên Quân từ trong cung điện bước ra, nhìn thấy một đứa bé trai đang vui đùa như một chú khỉ dưới ánh nắng rực rỡ.

Công Tôn Càn tay dắt tiểu Doanh Chính đi về phía trước như không có chuyện gì xảy ra, một tốp lính theo sau từ phía xa. Tiểu Doanh Chính vừa đi vừa hỏi Công Tôn thúc thúc những chuyện ngây thơ nực cười, hoàn toàn không biết được những âm mưu đằng sau.

Vòng vèo đi qua những ngõ phố nối tiếp nhau, Công Tôn Càn nhìn thấy Triệu phi đang ngẩng đầu đứng đợi trước một gian nhà tranh. Khi Công Tôn Càn dắt tiểu Doanh Chính đi vào, bà biết rõ chuyện gì sắp xảy ra, sắc mặt bà trắng bệch như chưa từng thấy, giống như một chiếc lá run rẩy trong cơn gió.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo


CHƯƠNG XII

Giáo đâm thẳng - Tên bắn lén


Công Tôn Càn đẩy ngã tiểu Doanh Chính, chỉ Triệu phi nói với quân lính phía sau: "Đây chính là phi tử của Tần Vương Tôn Dị Nhân!"

Ánh nắng tắt đen trong cái lấp lánh của những mũi đao kiếm và giọt nước mắt của Triệu phi. Lúc đầu, tiểu Doanh Chính còn đủ sức để gào thét. Không lâu sau, cổ họng nó khản đặc lại, chẳng còn nghe thấy gì nữa. Triệu phi đưa vạt áo dài lau nước mắt, cất lên tiếng khóc thổn thức.

Quân lính tinh thần lên cao, áp giải thái tử phi đẹp như hoa đi về Tùng Đài.

Triệu phi và tiểu Doanh Chính đứng trước cung điện Tùng Đài mong manh như ngọn cỏ xuân yếu ớt. Bà nghe thấy giọng nói trống rỗng hỏi bà về nơi ở của Dị Nhân và Lã Bất Vi.

Triệu phi nói với ông rằng, có thể họ đã trở về Hàm Dương rồi. Bình Nguyên Quân không hài lòng nói, tại sao lại có thể? thái tử phi đang giấu giếm ta điều gì?

Triệu phi nói, khi đi Dị Nhân và Lã Bất Vi giấu ta, ta chẳng có điều gì dấu giếm ông cả.

Câu nói vòng vo làm cho Bình Nguyên Quân thấy vui, Bình Nguyên Quân nhìn ngắm, sau khi cười thì Triệu phi cũng nở nụ cười gượng. Bà cảm thấy câu trả lời của mình làm cho mọi người buồn cười.

Bình Nguyên Quân phát hiện thấy nụ cười của Triệu phi có một nét đẹp mê hồn. Làn môi mỏng như một thứ rượu ngon say lòng người, hàm răng trắng như ngọc dày và đều đặn, xếp vào hàng vợ thứ trong hậu cung của ông.

Khi nụ cười của Triệu phi thâu tóm toàn bộ sự chú ý của Bình Nguyên Quân, một tên quan gác ngòai chạy vào điện bẩm báo Bình Nguyên Quân, Xuân Thân Quân đến bái kiến ông, đang đợi hầu ngòai cung điện. Bình Nguyên Quân đành phải cho người đem Triệu phi đi, coi giữ cẩn thận.

Bình Nguyên Quân cho Xuân Thân Quân vào trong điện, Xuân Thân Quân đến báo cáo tình hình với Bình Nguyên Quân.

Xuân Thân Quân mồm năm miệng mười nói: "Quân Tần đã bị đánh bại, Hàm Đan được bảo về, tôi ở quý quốc đã nhiều ngày rồi. Ngày mai chuẩn bị về Trần Thành, Chương Hoa Đài vãn còn hàng đống việc cần tới giúp Hiếu Liệt Vương giải quyết."

Thấy Xuân Thân Quân phải trở về nước Sở, trong lòng Bình Nguyên Quân ngòai sự lưu luyến và bâng khuâng ra, phần lớn là sự lo lắng. Lần này Triệu - Nguy - Sở hợp sức chống lại Tần, đánh cho mười mấy vạn quân Tần tan tác giành được thắng lợi lơn, làm cho nước Triệu từ nguy thành an, cũng là để cho Bình Nguyên Quân nhìn thấy sự đồng tâm hiệp lực, cùng nhau chèo chống của ba nước Triệu - Nguy - Sở thì chẳng có sức mạnh nào chống đỡ nổi. Bây giờ Xuân Thân Quân phải về nước Sở, không lâu nữa Tin Lăng Quân cũng sẽ trở về nước Nguy, liên minh ba nước cũng sẽ tuyên bố giải tán.

Vua của các nước chư hầu và các tướng của họ thường là Triều Tần Mạc Sở, mâu thuẫn với nhau để cướp lấy thành ấp và của cải nhiều hơn. Có cách nào có thể làm cho hai nước Sở - Nguy cùng nhau lâu dài chống lại Tần đây?

Những ngày nay, Bình Nguyên Quân lo lắng mà buồn phiền về việc này. Bây giờ thấy Xuân Thân Quân sắp rời Hàm Đan rồi, cảm giã ấy bỗng như sôi sục, ông thành khẩn nói: "Lần này phá vỡ Tần, bảo về Hàm Đan, toàn bộ nhờ vào Xuân Thân Quân và Tin Lăng Quân. Ta xem ra hai vị anh tài đại lược, tấm lòng nghĩa hiệp, cùng ta sớm tối có nhau nay phải cách xa, một phút không nhìn thấy mà như chia ly ba mùa thu rồi, ta vẫn đợi có nhiều thời gian để mà tâm linh trò chuyện, uống rượu vui đùa, làm sao có thể nói đi là đi được."

Xuân Thân Quân cũng buồn rầu nói: "Trong thiên hạ có bữa tiệc nào là không tàn đâu."

Bởi Xuân Thân Quân hơn Bình Nguyên Quân mấy tuổi, Bình Nguyên Quân trêu đùa nói: "Trưởng huynh nhớ nhung bà chị dâu hay là nhớ nhung mấy vị thiếp xinh đẹp đấy?"

Xuân Thân Quân bĩu môi giễu đùa lại: "Tôi đây bóng hoàng hôn che lấp trước hoàng kim rồi, mấy a tiện thiếp ấy so với các mỹ nữ bên cạnh Bình Nguyên Quân, đâu có dám?"

Bình Nguyên Quân tim đập thình thịnh với kiểu đùa của mình diều đó làm cho ông chợt nghĩ đến một chút ý tuyệt vời. Đúng đúng rồi, phải làm như thế, tiện bề đợi đôi ba việc. Ông muốn dâng tặng Triệu phi cho Xuân Thân Quân làm thiếp. Như vậy, mối thù không đợi trời chung giữa nước Tần và nước Sở, giữa nước Sở và nước Tần cũng không còn một chút thỏa hiệp: "Hiếu Liệt Vương sợ thân cô thế cô, không chịu được sự báo thù của nước Tần, cũng sẽ không thay lòng đổi dạ dựa vào nước Triêu." Bình Nguyên Quân nghĩ đến đây, cười nhăn nhở nói: "Mũi tên ngọn kiếm giao chiến với nước Tần đã làm ta đầu óc quay cuồng, làm việc không còn được chu tất nữa, cuối cùng lại không nghĩ đến cách dâng tặng mỹ nữ để phục dịch bên cạnh. Vừa lúc hiện có một giai nhân tuyệt sắc, tối nay sẽ tiến dâng với công quan của Trương huynh để làm trò vui thú!"

Xuân Thân Quân cảm tạ từ chối nói: "Tôi làm sao có được diễm phúc ấy, hay là hiền đệ giữ lấy mà dùng!"

Bình Nguyên Quân nghĩ đó chính là sự khách sáo của Xuân Thân Quân với ông, liền chuyển sang chuyện khác nói: "Trưởng huynh nhất định phải ở lại Hàm Đan mấy hôm, ngọc thể của Đại vương chúng tôi bất an, việc ngọai giao nội chính của triều đình làm tôi hết sức lúng túng, xin trưởng huynh giúp đỡ tôi mưu tính kế lược trị quốc."

Xuân Thân Quân nói: "Đâu dám, đâu dám! Hiền đệ là một trong những người quyết định sách lược, tránh được mọi sự thất bại, chư hầu trong thiên hạ ai chẳng biết tài cán của hiền đệ, phò trợ nước Triệu làm cho nước Triệu cường thịnh, giàu có một phương. Tôi ở đây bàn gì việc kế lược trị quốc, đó không phải là múa rìu qua mắt thợ hay sao?"

Bình Nguyên Quân thái độ và lời nói cầu khẩn: "Trưởng huynh dẫn quân viễn chinh, chỉ cần ở Hàm Đan vui nghỉ mấy ngày, ta mới an tâm được!"

Thấy Bình Nguyên Quân bày tỏ tình cảm sâu nặng như vậy, Xuân Thân Quân đành nói: "Tôn kính không bằng nghe lệnh."

Bình Nguyên Quân tiễn Xuân Thân Quân đến ngòai điện, sau khi đợi Xuân Thân Quân lên xe đi, ông lập tức sai người áp giải Triệu phi trở lại. Bình Nguyên Quân bịa ra một lọat lời nói dối để đánh lừa Triệu phi, nói rằng Dị Nhân trên đường chạy trốn đã bị quân Triệu chặn giết, Triệu phi trở về nước Tần cũng chỉ là cô nhi quả mẫu, Triệu Thắng ta luôn là người quân tử thương xót những kẻ cô quả, có đặc ý tìm nơi sinh sống yên ổn cho hai mẹ con. Triệu phi đau khổ, vội hỏi Thái phụ Lã Bất Vi kia đâu. Bình Nguyên Quân giả nhân giả nghĩa nói: "Cũng đã đến ngày tận số rồi!" Triệu phi tê tái cõi lòng, khóc lóc thảm thiết. Bình Nguyên Quân nói, người chết không thể sống lại được, đã giao ngươi cho tướng quốc nước Sở làm thiếp của Xuân Thân Quân. Xuân Thân Quân là người có quyền có thế, là một phú hào tiếng tăm. Còn người lại phong lưu tài ba, coi sắc đẹp hơn cả minh châu. Ông hiện đang ở Hàm Đan mấy ngày nữa sẽ quay lại Trần Thành, ngươi đi cùng ông ấy cũng có tiếng thơm lây, vinh hoa phú quý. Đợi lát nữa, ta sẽ dẫn ngươi đến công quán, ngươi phải hầu hạ ông ấy đêm nay ở đấy, ngươi phải niềm nở làm cho ông ấy vui, nếu như cứng đầu cứng cổ, làm phiền Xuân Thân Quân, mẹ con nhà ngươi sẽ bị đuổi ra khỏi cổng, lưu lạc đầu đường xó chợ, ăn sương nằm đất, còn nếu không thì cũng bị bán cho nhà chứa, suốt đời ở đó.

Nghe xong một lọat những lời đường mật, đòn cứng đòn mềm dọa dẫm, Triệu phi cảm thấy chỉ có thể chết dần từng khúc ruột mà đi theo con đường ấy. Bình Nguyên Quân thấy Triệu phi đã chịu, trong lòng mừng thầm vội sai người giúp mẹ con Triệu phi trang điểm chải chuốt. Triệu phi sau khi được trang điểm như cành liễ trong gió, Bình Nguyên Quân cảm thấy có những rung động trong lòng, tâm hồn rạo rực trước một cô gái có khuôn mặt xinh đẹp như thế.

Triệu phi sáng ngời nét đẹp tay dắt tiểu Doanh Chính rãi bước ra, đi theo hướng kiệu hoa lỗng lẫy đã được chuẩn bị từ trước. Bình Nguyên Quân đứng ở một bên nhìn bờ vai đang lay động của bà. Trong đầu chợt hiện ra một chú cá tung tăng, một hòn đá sỏi màu trắng và tròn trịa, một quả đồi bị gió thổi xác xơ... Khi Bình Nguyên Quân liên tưởng như thế, trên mặt thoáng một nụ cười đê tiện.

Lúc này, trong căn phòng của công quá chỉ còng lại Xuân Thân Quân và Triệu Cơ.

Ánh sáng của ngọn đèn dầu rất rõ, chiếu sáng tất cả mọi thứ trong căn phòng, Xuân Thân Quân tầm nhìn không rõ hoặc là cố ý tỏ ra lúng túng trước mặt một người con gái, dáng vẻ tỏ ra không cần để ý tới Triệu phi. Sau khi Bình Nguyên Quân cáo biệt với các môn khách của ông. Xuân Thân Quân bắt đầu nhìn chằm chằm vào Triệu Cơ của vị Tần Vương Tôn.

Xuân Thân Quân ở trong phủ đệ của ông hoặc khi ở các nước chư hầu khác nói chuyện về sắc đẹp của phụ nữ, mọi người đều nói đến mảnh đất Ngô Việt sinh ra một mỹ nữ, giống như người đẹp trên đời tên Tây Thi. Xuân Thân Quân không chút hòai nghi về điểm này. Nhưng hôm nay nhìn thấy Triệu Cơ, làm cho ông có được ấn tượng của cây cỏ ngát mùi thơm của mỹ nữ Yến Triệu. Ông cảm thấy kỳ lạ, Hàm Đan gần kề Man Hồ lễ bạc lòng thành, hoang thể tản mạn thường thường chùm lên áng mây che lấp mặt trời, dòng sông Hoàng Hà tuôn trào ấy không rõ cọ sát thế nào với khu ấp ấy để mang thai sinh ra Triệu phi yểu điệu thục nữ như thế.

Đối với vị tướng của một nước mưu tính, sâu sa như Xuân Thân Quân, cự tuyệt thú vui với một mỹ nữ bên cạnh mình quả là điều khó thấy, thậm chí không thể tìm được. Hiện giờ, Xuân Thân Quân đang ở trong cái điều khó thấy ấy, ông không phải là không nghĩ đến Triệu phi, dục vọng dày vò cũng tự nhiên mất.

Sau khi Bình Nguyên Quân thở dài một cái, liếc nhìn Tin Lăng Quân rồi nói: "Chị gái ta tuổi nay đã cao, làm việc gì cũng lực bất tòng tâm, nghe nói mấy bà vỡ lẽ bên cạnh anh rể cũng đã lơ là cẩu thả, qua loa đại khái, không thể phụng hầu hết lòng được anh rể. Lỡ một khi anh rể có điều gì sai sót không chỉ nước Nguy nam chinh bắt phạt, mà còn nước Triệu ta cũng sẽ mất đi tấm bình phong ngàn vàng. Tôi suy nghĩ và tìm cho anh rể một nữ tỳ đẹp như hoa như ngọc, biết chăm chút từng ly từng tí, nếu nay ông trời tác thành, cuối cùng thì cũng thỏa mãn tâm nguyện của tôi!"

Những lời nói ngon ngọt của Bình Nguyên Quân, giấu kín tâm tư của ông. Triệu phi gả cho Xuân Thân Quân không thành, Bình Nguyên Quân lại nghĩ đến cho Tin Lăng Quân lấy Triệu phi làm thiếp, như vậy Triệu - Nguy hợp sức sẽ vững chắc như bức tường đồng không thể nào phá nỗi. Tin Lăng Quân lại muốn hai chân đạp lên hai chiếc thuyền Tần - Triệu thì còn khó hơn cả việc muốn đi lên trời.

Khi Bình Nguyên Quân đương đương tự đắc với cách tính toán, ông nghe thấy Tin Lăng Quân cảm kích vạn phần nói: "Thật khó có được tấm lòng nhiệt huyết của em đối với ta!"

Bình Nguyên Quân ba hoa khóac lác nói: "Nếu là nữ tứ xuất chúng như vậy, không biết quý danh là ai, nhân sĩ nơi nào?"

Bình Nguyên Quân hí hửng nói: "Nhắc tới họ tên của bà càng thấy tiếng tăm, nổi tiếng tới cả các nước chư hầu."

Xuân Thân Quân là người phá tan sự tính mệnh bằng cách nói chuyện với Triệu phi. Triệu phi lúc này vui buồn lẫn lộn, nghe Bình Nguyên Quân nói đến tin buồn về Dị Nhân và Lã Bất Vi của bà, bà đau buồn khôn tả, nhưng nay lại có thể gửi thân cho Xuân Thân Quân, tướng quốc của một nước vừa giàu có lại nắm giữ quyền lớn, sao không thể vui được? Tuy rằng như vậy, khi trả lời câu hỏi của Xuân Thân Quân, bà vẫn buồn rầu xúc động. Trên thế gian này bà chẳng còn ai thân thích để cậy nhờ, phu quân Dị Nhân danh chính ngôn thuận và Lã Bất Vi dẫu bà có ý vương tơ lòng về tình cảm kia, đã chôn vùi xương thịt duới đất. Bà và tiểu Doanh Chính như hai chiếc lá lả tả rơi rụng trong cơn gió mùa thu khi Xuân Thân Quân hỏi bà có can tâm tình nguyện theo ông đế đấy không. Bà chẳng chút dấu giếm nói ra hết sự tình.

Xuân Thân Quân biết Dị Nhân và Lã Bất Vi đã trở về Hàm Dương, tờ giấy không thể hứng được ngọn lửa, tin tức này rất nhanh được lan truyền đến các nước chư hầu. Giở trò lừa bịp chiếm đọat vợ người khác, từ góc độ khí tiết - đạo đức của Xuân Thân Quân mà nói, quả là một nỗi nhục nhã, một khi các nước chư hầu biết được, danh dự của ông gần như mất hết. Việc này đối với ông, đối với cả nước Sở là một hành động tồi bại bị phơi bày, bất kể thế nào cũng không thể tránh khỏi. Bây giờ, giáp mặt với quân tướng Sở - Tần, chẳng còn mặt mũi nào. Xuân Thân Quân làm tướng của một nước có thể vì tình nghĩa mà chỉ huy hàng ngàn vạn binh mã xung phong vào chỗ hiểm nguy, nhưng sự gặp lại của Dị Nhân đầy sự cảm thông rồi! Thời ký chiến quốc, rất nhiều thái tử, công tử của vua các nước đều trở thành con tin, qua ngày đoạn tháng gian nan thậm chí còn rơi vào sự hiểm nguy ở các nước chư hầu khác. Năm ấy thái tử Hoàn của Thanh Tương Vương làm con tin đến nước Tần, chịu khó khăn vất vả, là ông đã dùng kế để thái tử Hoàn thóat hiểm trở về nước Sở, đối với số phận của những con tin, Xuân Thân Quân có một sự cảm thông sâu sắc, với những nguyên nhân đó, Xuân Thân Quân không chỉ không dung nạp Triệu phi làm thiếp, mà còn muốn thuyết phục Bình Nguyên Quân thả Triệu phi và tiểu Doanh Chính trở về Tần.

Thế rồi Xuân Thân Quân nói với Triệu phi: "Mấy ngày nay mẹ con ngươi chạy ngược chạy xuôi, trốn đông tránh tây đủ mệt rồi! Ta đưa ngươi đến công quán ở nơi khác để nghĩ ngơi nhé!"

Nghe Xuân Thân Quân nói như vậy, Triệu phi sợ hãi vạn phần, không biết điều đó đã thất lễ với vị tướng quốc Sở này, vội quỳ xuống xin tha tội.

Xuân Thân Quân không biết vì sao, vội nói: "Thái tử phi. Ngươi làm gì thế, mau đứng dậy đi!"

Triệu phi nói: "Chắc hẳn tôi có điều gì đắc tội với tướng quốc, nên tướng quốc mới đuổi tôi ra ngòai!"

Xuân Thân Quân nói: "Thái tử phi hiểu biết lễ nghĩa, làm sao có thể đắc tội với ta được!"

Triệu phi mở cửa nhìn trời đất nói: "Bình Nguyên Quân dặn thân hèn này cùng tướng quốc qua đêm, nếu thân hèn này không có điều gì thất thế, sao lại không giữ lại."

Xuân Thân Quân lúc này mới hiểu rõ, nhưng lại không thể tiết lộ sự thật Dị Nhân chưa chết và cái suy nghĩ của mình với Triệu phi, đành chiếu lệ nói: "Thái tử phi đẹp như chim sa cá lặn, sao ta lại không muốn cùng ngươi động rèm hoa trúc? Mấy ngày nay dẫn quân đi chinh chiến, sức lực mệt mỏi, đành phải chọn khi để vui vẻ vậy."

Nghe Xuân Thân Quân nói vậy, Triệu phi cũng vái ba vái cáo từ, nhưng thân bà trong lao tù, không nơi nương náu. Xuân Thân Quân muốn tìm cho Triệu phi một công quá khác qua đêm, vừa tiễn bà ra đến ngòai cửa, đã có mười mấy quân lính nước Triệu phụng mệnh canh giữ. Xuân Thân Quân đành phải nhờ bọn lính này áp giải đi.

Ngày thứ hai, Xuân Thân Quân lại đến bái kiến Bình Nguyên Quân. Bình Nguyên Quân bực dọc đêm qua Xuân Thân Quân cự tuyệt Triệu phi đuổi ra ngòai cửa, bây giờ biết Xuân Thân Quân không tiếp nhận Triệu phi, cười thầm trong bụng miệng lẩm bẩm: "Lại vẫn chỉ là sự nhân hậu cổ hủ." Việc này ta đâu có ép, còn những lời khuyên khua môi múa mép của Xuân Thân Quân nói thả Triệu phi ra, bề ngòai Bình Nguyên Quân tỏ ra chịu nghe lời, nhưng lập tức lại nghĩ ra một quỷ kế.

Sau khi Xuân Thân Quân đi khỏi, Bình Nguyên Quân lại đến công xá của Tin Lăng Quân, đối với cuộc đến thăm bất ngờ của em trai vợ, Tin Lăng Quân không chút ngạc nhiên mà còn yên tâm nữa. Một là mình là anh rể của Bình Nguyên Quân, hai là ông còn là Tiển Nhi Tử của Nguy Thiệu Vương có thể đích thân dẫn đại quân giải vây Hàm Đan, đối với Bình Nguyên Quân thậm chí cả nước Triệu đều là tình sâu nghĩa nặng.

Bình Nguyên Quân hàn huyên mấy câu, bèn nói với Tin Lăng Quân: "Anh rể! mấy ngày nay có một việc ám ảnh trong lòng ăn không ngon, ngủ không yên nữa."

Câu nói đó của Bình Nguyên Quân làm xúc động Tin Lăng Quân, ông vội hỏi Bình Nguyên Quân chuyện gì đã làm ông áy náy không yên như vậy.

Tin Lăng Quân không chờ được nữa, nói: "Em đừng vòng vo với ta nữa, mau nói xem bà là ai?"

"Thái tử phi của nước Tần - Triệu Cơ!"

Vừa nghe đến phi tử Triệu Cơ của Dị Nhân, Tin Lăng Quân lập tức có một thái độ do dự, vội vàng xua tay nói: "Ta không thể sử dụng vị thái tử phi này."

"Đợi một lát, ta sẽ đưa bà ta tới, nhìn thấy anh có cần cũng chẳng được!" Bình Nguyên Quân nói dứt khóat.

Tin Lăng Quân biết rõ lần này Triệu - Nguy - Sở hợp thành một khối, giải vây Hàm Đan, sớm rửa hận nước Tần mạnh thế. Bởi vì bản thân mình là anh rể của Bình Nguyên Quân không thể cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, thấy chết mà không cứu. Nếu như thừa cơ trước sự nguy hiểm của người khác, lấy thái tử phi làm thiếp, như vậy được đằng chân lẫn đằng đầu, quan hệ giữa nước Nguy và Tần sẽ sớm cùng thủy tận, chẳng còn nghi ngờ gì nữa, Trần Thành đứng mũi chịu sào sẽ trở thành mục tiệu đánh phá của nước Tần, oan gia dễ gì gỡ được, không nên cạn tàu ráo máng.

Đã là người bạn thân thiết với Bình Nguyên Quân, phải nói thẳng sự lợi hại của việc này một cách trực tiếp cho rõ ràng. Thế là Tin Lăng Quân chẳng giấu giếm nói ra cách nghĩ từ đáy lòng mình. Bình Nguyên Quân nghe xong, tuy miệng nói: "Có lý!" Nhưng trong bụng lại mắng rằng: "Gan không bằng con chuột, nước Tần lòng lang dạ sói sẽ không tươi cười hớn hở đồi với nước Nguy, không lễ nghĩa đón tiếp bởi Tin Lăng Quân nhà ngươi không tiếp nhận Triệu phi đâu." Sẽ có ngày quân lính đến chân thành, phá thành chiếm đất đó!"

Sau khi Tin Lăng Quân đi rồi, Bình Nguyên Quân suy sụp tinh thần đi đi lại lại trong điện, khuôn mặt ngọc ngà tươi như hoa của Triệu phi bất chợt ẩn hiện trước mặt ông, ông nổi giận đùng đùng nghĩ: "Triệu phi ơi! Triệu phi! Thả một tiểu mỹ nhân như ngươi trở về nước Tần quá dễ dàng, không làm nhục được ngươi cũng phải sai ngươi đi làm một cái gì có ích!"

Trận tuyết đầu tiên của thành Hàm Dương, trắng trong làm mê hồn người như bộ ngực của đứa bé gái, nhưng đối với một cô gái chạy nạn trong gió rét, chẳng có chút yên vui nhàn tản để thưởng thức cảnh tuyết rơi.

Di Hồng vác cái gói, tay ôm hai vai đi trong gió bấc lạnh gía của Hàm Dương, có hai thứ đang được giấu trong bụng cô gái chật chội đến nỗi tưởng như cô không bước đi được, một cái là ngọc tỉ của Triệu Vương, sau khi từ nhà chứa trở về cung làm thiếp của Triệu Hiến Thành Vương đã trở thành con sen chẳng đáng gì. Do một buổi chiều khi đem áo dài cho Triệu Hiến Thành Vương, ăn trộm cái ấn tin thay trời đổi đất - quyền sinh quyền sát kia. Cô muốn đem bảo vật này làm lễ vật ra mắt Dị Nhân. Bây giờ cô nghĩ về sự việc lúc đó, vẫn là nỗi sợ hãi giống như con rắn đang chui luồn trong người cô.

Một thứ nữa mà Di Hồng mang đó là thai nhi trong bụng. Cô có thể tính toán chính xác nó xảy ra khi nào. Sau khi ngủ với Dị Nhân trong nhà chứa, mỗi tháng có như hẹn mà đến. Thai nhi cô mang là cốt nhục của thái tử nước Tần, đạo lý muôn đời là muốn được ở bên cạnh Dị Nhân. Mặc dù có được làm phi tử chính thức hay không. Có được hưởng thụ vinh hoa phú quý hay khôg, cô cũng chẳng cần coi trọng, cô muốn nắm giữ số phận của mình, cô muốn cáo biệt thân phận thiếp hầu với Triệu Hiến Thành Vương, cần thì đến, không cần thì đi. Cô nhìn thấy những cảnh như thế ngay bên cạnh mình. Một số thiếp hầu của quân vương kia, một khi người đàn ông chủ nhân của họ quá bộ ngó tới, không đến Chúc Từ trông coi đèn xanh thì cũng thay thế những hậu phi canh mộ cho người quá cố. Nếu được giữ lại trong cung, cũng phải khổ sở đến nhạt phấn phai hương, sau đó giống như đồ đạt lâu ngày bị vất bỏ ra khỏi cung.

Hỏi thăm nơi ở của Dị Nhân ở Hàm Dương, già trẻ lớn bé đều biết cả. Di Hồng không mấy khó khăn tìm đến Điện Thiện Thanh phủ đệ của Dị Nhân. Khi cô đứng dưới bức hoành phi lớn đưa tay ra mở cổng, bất chợt trăm ngàn cảm xúc xốn xang, bỗn tuôn trào nước mắt.

Tên quan đứng canh cổng nhìn thấy rõ mái tóc bay phất phơ trong gió lạnh đầu mùa đông của một người con gái.

Tên quan gác cổng đi tới hỏi Di Hồng tìm ai. Di Hồng hỏi đây có phải là phủ đệ của điện hạ Dị Nhân không? Tên quan gác cổng nói là đúng rồi. Sau đso hỏi cô là ai, Di Hồng hùng hồn nói, ta là phi thiếp của điện hạ Dị Nhân, đến từ Hàm Đan của nước Triệu.

Tên quan gác cổng vừa nghe thế, không dám chậm trễ, vội mời Di Hồng vào ngôi điện cạnh cổng, sau đó quay người lật đật đặt bước vào phòng của Dị Nhân, bẩm báo nói rằng phi tử ở Hàm Đan của điện hạ Dị Nhân đã trở về.

Dị Nhân nghe thấy thế, nghĩ là Triệu phi và tiểu Doanh Chính trở về, vui mừng khua chân múa tay kêu lớn: "Triệu Cơ phi của ta và Doanh Chính của ta, hai người đã trở về rồi!"

Bởi vì phủ đệ của Lã Bất Vi chưa xong, ông cũng tạm thời ở trong điện Thiện Thanh. Dị Nhân vội bước - tìm đế phòng của Lã Bất Vi, lớn tiếng kêu lên: "Thái phụ ơi! Lã Thái phụ! thái tử phi Triệu Cơ và Doanh Chính nhi trở về rồi."

Đám người hầu nói với Dị Nhân, Thái phụ vừa đi ra ngòai. Dị Nhân lúc này mới quay người tìm tên quan gác cổng, vội vàng hỏi thái tử phi đang ở đâu. Tên quan gác cổng trả lời nói, đang ở trong ngôi điện bên. Dị Nhân trách mắng nói: "Ngươi không có mắt hay sao? còn không mau mời vào Đại đường chính điện."

Khi tên quan gác cổng đưa Di Hồng vào chính điện. Điều bất ngờ mà ông nhìn thấy không phải là Triệu phi và Doanh Chính như ông nghĩ. Ông trau mày hỏi Di Hồng, ngươi là ai?

Di Hồng khẩn thiết nói: "Thái tử điện hạ, ngài không nhận ra tiện thiếp hay sao? Tiện thiếp là Di Hồng, là Di Hồng cùng chung chăn chung gối với điện hạ ở nhà chứa Hàm Đan!"

Dị Nhân nghĩ ra! Người đàn bà lăng nhăng này quả đúgn là Di Hồng. Người con gái thướt tha yểu điệu, phong tinh vạn trạng lúc đầu kia và Di Hồng đang đứng trước mặt thật rất khác nhau, trong lòng dâng lên một sự ghét giận.

Di Hồng rất nhanh thấy cái nhìn của Dị Nhân là thứ tình cảm gì, vội nói: "Trong bụng của tiện thiếp đang mang giọt máu của điện hạ."

Dị Nhân chẳng thèm để ý nói: "Vợ chồng sông nước, vì sao gọi là dòng giống của ta? chẳng qua là ta nhất thời hồ đồ mà thối!" Dị Nhân nói xong, sai người đuổi Di Hồng ra.

Di Hồng khóc lóc kêu trời kêu đất nói: "Tiện thiếp không sợ sống chết, bất chấp hiểm nguy trôi nổi mấy trăm dặm đường tìm đến điện hạ, vì sao điện hạ lại tuyệt tình đoạn nghĩa như vậy."

Dị Nhân lòng gang dạ thép, thẳng tay chỉ mắng nói: "Hãy đuổi bà ta đi cho ta."

Di Hồng kéo lê tấm thân ục ịch, la lối om sòm với bọn a hầu ở dưới môn khách, bước đi trong nước mắt đầm đìa.

Cơn giận của Dị Nhân chưa nguôi, ông lẩm bẩm nói: "Sao có thể như thế được. Ta vui đùa với ngươi, ngươi lại đến tìm ta. Ta bây giờ đường đường là Tần Vương Tôn, thái tử của An Quốc Quân. Di Hồng kia ta đâu thèm nhắc tới. Chỉ cần ta vung tay một cái, các cô gái như hoa như ngọc muốn có bao nhiêu mà chẳng được."

Giữa buổi, Lã Bất Vi trở về, sau khi xem xet thăm dò. Ông hỏi Dị Nhân: "Thái tử điện hạ nổi giận đùng đùng, phải chăng vừa rồi có người làm phiền tới điện hạ!"

Dị Nhân kể lại một lượt sự việc Di Hồng tìm đến.

Lã Bất Vi âu sầu buồn bã nói: "Thành Hàm Dương gió sương mù mịt này, Di Hồng cô gái tiều tụy, tứ cố vô thân đến bước đường cùng, điện hạ xử lý với cô ta thế nào?"

Dị Nhân sắc mặt không hề thay đổi, nói: "Còn thế nào với Di Hồng nữa? không có liên quan gì đến ta!"

Lã Bất Vi cho rằng không đúng, bèn nói: "Lời của thái tử cần xét lại có ba điều mà Di Hồng liên quan đến điện hạ. Một là một ngày nên nghĩa vợ chồng, tình cảm trăm năm tựa sâu như biển sự va chạm da thịt giữa điện hạ và Di Hồng tuy rất ít, nhưng không phải là không có, dù thế nào cũng được coi như một chút duyên phận vợ chồng. Hai là Di Hồng mang dòng máu của điện hạ, điện hạ cũng phải có trách nhiệm của người làm cha. Ba là Di Hồng đương nhiên bỏ Triệu theo Tần, chín phần sống một phần chết, người đàn ông có được thế cũng là khó, huống hồ lại là một người con gái, về tấm lòng nghĩa cử của cô ấy, điện hạ cũng phải lấy tình nghĩa để báo đáp."

Lời nói đanh thép của Lã Bất Vi khiến Dị Nhân băn khoăn áy náy. Ông nói tiếp: "Ăn quen làm biếng, có mới nới cũ... là những hành động xấu xa người chính nhân quân tử không thèm để ý tới, kỳ thực đó là thiên tính của mỗi người. Nếu như một người muốn hèn hạ làm một đồ trang sức, thậm chí can tâm tình nguyện trở thành môi giới làm theo những việc của kẻ tiểu nhân để kiếm lợi, thì cũng không đáng trách lắm. Nhưng người ta muốn trở thành kẻ quân tử đội trời đạp đất đặc biệt là làm vua của một nước, người ta cẩn phải tự kìm chế mình, khiêm tốn, tu thân tích đức mới có thể đạt được mục đích mà mình theo đuổi."

Dị Nhân gật đầu cho là phải.

Lã Bất Vi nói tiếp: "Sau này điện hạ muốn làm Quốc Quân người trong nước có răm rắp nghe theo hay không? có tấm lòng nhân ái yêu thương Quốc Quân hay không? có liên quan rất lớn. Có một lần Quốc Quân của nước Tề là Tề Tuyên Vương thỉnh giáo Mạnh Kha - Mạnh phu tử đạo lý Tề Hoàn Công - Tấn Văn Công bá nghiệp. Từ Tuyên Vương nói: "Mạnh tiên sinh, vì sao Tế Hoàn Công - Tấn Văn Công trị quốc được thịnh vượng? Mạnh Tử trả lời nói: "Môn sinh của Khổng Trọng Ni không nói việc của Tề Hoàn Công - Tấn Văn Công cho nên chẳng lưu truyền được cho hậu thế. Thần hạ cũng không được nghe nói, quả thật đại vương muốn bàn việc trị quốc với thần, vậy thì hãy bàn về đạo ý làm vua thiên hạ. Tề Tuyên Vương hỏi, nhân đức đạt ở mức nào thì có thể làm vua thiên hạ. Mạnh Tử nói: "Trấn an được dân chúng thì có thể làm vua thống trị thiên hạ", "Như quả nhân đây có thể làm vua thống trị thiên hạ được không? " Mạnh Tử nói: "Được." Tề Tuyên Vương lại hỏi: "Dựa vào cái gì mà biết quả nhân có thể làm được?" Mạnh Tử trả lời: "Tôi nghe cận thần Hồ Linh của Đại vương nói: "Đại vương ngồi trên công đường, có một người dắt con trâu đi ngang qua công đường, Đại vương nhìn thấy bèn hỏi: dắt trâu đi đâu. Người đó trả lời, đem trâu đi giết để dùng máu của nó quét chuông. Đại vương nói, thả con trâu đó ra đi, quả nhân không dám nhìn dáng vẻ sợ hãi của con trâu trước khi bị giết, giống như người vô tội đi ra pháp trường. Người đó lại hỏi: Vậy thì bỏ nghi thức quét chuông đó được không? Đại vương nói: Làm sao có thể bỏ nghi thức quét chuông ấy được! Lấy dê để đổi trâu là được rồi! Xin hỏi Đại vương chuyện Hồ Linh kể có thật không? Từ Tuyên Vương nói, chuyện ấy có thật. Mạnh Tử nói: Tấm lòng nhân từ ấy đủ để minh chứng Đại vương có thể làm vua thống trị thiên hạ rồi." Lã Bất Vi nói đến đây, ngừng một lát rồi nói tiếp: "Điện hạ vừa về đến Hàm Dương, cần phải dựng lên cho hình tượng nhân từ, tiếng tăm nhân từ mở rộng, giống như câu chuyện của Di Hồng hãy châm lên một ngọn đèn đều không phải dễ, đúng như là mấu chốt đẹp đẽ về chữ đức của điện hạ Thiện Hiếu Quân Vương vậy. Vì sao điện hạ lại có thể đuổi Di Hồng ra khỏi cổng vậy?"

Những câu nói đó của Lã Bất Vi làm cho Dị Nhân tâm phục khẩu phục.

Dị Nhân nói: "Thái phụ mưu tính sâu xa, những lời nói hôm nay đều là lời hay lẽ phải, ta nhất định ghi tâm khắc cốt. Chẳng may Di Hồng mất đi tin tức trong phong sương bão tố, thật rất khó tìm được."

Lã Bất Vi bí mật cười, nói: "May mà tôi vừa trở về, gặp gỡ cô ấy ngòai cổng phủ, được tôi mời quay trở lại."

Dị Nhân đích thân đón Di Hồng vào chính điện, sai bọn người hầu, chuẩn bị quần áo để cô tắm rửa, hầu hạ cơm nước. Khi Di Hồng đem ngọc tỉ sáng chói trình lên trước mặt Dị Nhân, Dị Nhân vui mừng ra mặt, không tài nào kể xiết. Đang bàn bạc cùng Lã Bất Vi, sai môn khách đem ấn tín của Triệu Vương đến Liễn Thành - Thân Thành ở biên giới của nước Triệu nói dối họ là sứ thần từ Hàm Đan đến, phụng mệnh của Triệu Vương cắt hai thành dâng cho nước Tần. Quân canh giữ của hai thành nhìn thấy ấn tín của Triệu Vương, tin đó là thật, sẽ ngoan ngoãn giao cho ấn tín và công văn của Quận Trứ. Rồi nhẹ nhõm trở về Hàm Đan để phục mệnh.

Dị Nhân chẳng cần mất tí công sức nào mà được hai thành ấp và muốn coi nó là thành ấp của mình. Lã Bất Vi khuyên giải nói: "Điện hạ, theo như kiến giải của hạ thần, hai thành trì này điện hạ không thể xem nó là của mfinh, nên dâng cho Đại vương, một là để cho triều đình và dân chúng kính nể một chút, quân lính của Dị Nhân ta không phải chịu đao kiếm mà dễ dàng có được hai thành của nước Triệu, thực sự vẫn có tài năng khuấy trời đạp đất, hai là thể hiện một chút tấm lòng chí công vô tư của điện hạ.

Dị Nhân hành sự theo sự chỉ bảo của Lã Bất Vi, quả nhiên làm cho văn võ bá quan trong triều phục sát đất tài cán của Dị Nhân và tỏ lòng kính phục, hết lời ca tụng. Việc này đã được truyền đi khắp nhân gian, dân trăm họ cũng mến mộ vạn phần, đều nói rằng Dị Nhân làm Tần Vương, nước Tần của chúng ta có thể vá trời lấp biển, vô địch thiên hạ.

Thiện Tương Vương thấy con trẻ lấy hai thành của nước Triệu, làm lễ tiến, vui mừng tột cùng nói: "Cháu của quả nhân ta, sức mạnh lẫy lừng, văn võ toàn tài. Dị Nhân này thật hơn người?"

Thiện Tương Vương vui vẻ một lúc, cuối cùng lại thưởng cho Dị Nhân Liễn Thành - Thân Thành làm phong địa.

Liễn Thành - Thân Thành đã tặng đi rồi lại được trả lại, đổi lấy được thanh danh to lớn, Dị Nhân cảm thấy trở về Hàm Dương vừa phất cờ đã thắng, mở tiệc mừng ở trong phủ. Đèn nến rực rỡ, gái đẹp hầu hạ. Lã Bất Vi uống đến nỗi mặt đỏ phừng phừng, hứng khởi nói: "Lần này thắng ít, chỉ là thử nghiệm bước dầu, những người buôn bán cho chúng ta thường nói bỏ ra ít thu về nhiều, một vốn bốn lời. Muốn đầu tư ít nhất mà được đền đáp lại lớn nhất như việc chính sự triều đình, việc này là xứng đáng!"

Dị Nhân bảo các môn khách rót đầy chén cho Lã Bất Vi vui mừng hỉ hả nói: "Lời của thái phụ đều là vàng ngọc cả, chúng tôi cứ thế tuân theo mà làm!"

Lúc này, có một người nữ hầu vào báo, Di Hồng sinh một đứa bé trai.

Lã Bất Vi phấn khởi vội nói: "Điện hạ Dị Nhân lại có cả quý tử nữa, thật là hết niềm vui này đến niềm vui khác." Theo sau lời nói của Lã Bất Vi, lại vang lên tiếng cốc chén chạm nhau.

Bởi Di Hồng suốt đường đi vất vả nên sinh sớm, đứa bé trai sinh ra không đủ cân, đầu bé tí teo. Nhưng Dị Nhân vẫn rất thương yêu nó, nói: "Đứa bé yếu ớt quá, như một con sâu nhỏ!"

Di Hồng bị đày đọa đến khổ sở, xin Dị Nhân đặt tên cho đứa bé, Dị Nhân không khỏi suy tính nói: "Thì gọi nó là Tiên đi."

Thấy Di Hồng đã sinh cho mình một đứa con trai, Dị Nhân nghĩ rằng cô cũng phải có một danh phận. Bởi trước đó đã có Triệu phi, Di Hồng đương nhiên không thể gọi làm phi được, chỉ có thể gọi là phu nhân, đó là hàng thứ hai trong hàng thê thiếp.

Lại nói đến hai tên quan huyện canh giữ Liễn Thành, Thân Thành của nước Triệu. Sau khi không dừng lại nghỉ ngơi về đến Hàm Đan, tìm tới trước Tùng Đài xin phục chức.

Triệu Hiến Thành Vương vẫn luôn ốm đau, triều chính của nước Triệu luôn luôn do Bình Nguyên Quân nắm giữ. Sau khi hai tên quan canh giữ huyện thành khấu đầu bái kiến liền nói với Bình Nguyên Quân. Sau khi hai thành Liễn, Thân cắt cho nước Tần, chúng tôi vội về ngay.

Lúc đầu Bình Nguyên Quân như người trên trời rơi xuống, việc gì thế? Cắt hai thành Liễn, Thân cho nước Tần ư?

Hai tên trấn giữ huyện thành bẩm báo lại sự việc đã qua, Bình Nguyên Quân nghe xong thấy rất nghi ngờ. Vội tìm đến chỗ Triệu Hiến Văng Vương để hỏi xem, Triệu Hiến Văn Vương cũng kinh ngạc vô cùng, hỏi lại: "Chúng ta chẳng có nguyên cớ gì, vì sao lại cắt hai thành Liễn, Thân cho Tần?"

Bình Nguyên Quân nói: "Hai vị trấn giữ huyện thành nói là làm theo lệnh truyền của quan giữ ngọc tể của Đại vương."

Triệu Hiến Văn Vương lúc này mới nghĩ đến việc kiểm tra ngọc tỉ của mình, vội vàng sai người mở hộp ngọc ở cạnh đầu giường ra xem, nhìn thấy ngọc tỉ đã không cánh mà bay.

Triệu Hiến Văn Vương sợ hãi nói: "Kẻ nào ăn trộm ngọc tỉ của quả nhân?" Nói rồi một mồm đầy máu tươi phun ra vạt áo.

Bình Nguyên Quân bắt tất cả các cung nữ, hoạn quan trong Tùng Đài có thể đến cấm cung của Triệu Hiến Văn Vương, điều tra xét hỏi. Nhưng miệng người nào người ấy đều câm như hến chẳng nói chẳng rằng, tỏ ra việc ấy không phải là mình làm.

Bình Nguyên Quân thấy việc truy hỏi không có kết quả thì vắt óc suy tính tìm ra cách khác, muốn tìm ra ngọc tỉ của Triệu Hiến Văn Vương đưa về nước Triêu. Cuối cùng ông nghĩ đến thái tử phi và tiểu Doanh Chính của nước Tần, còn có gia quyến của Lã Bất Vi cũng nằm trong đối tượng được nắm bắt, có thể đổi họ lấy ngọc tỉ của Triệu Hiến Văn Vương. Bình Nguyên Quân suy đi tính lại, cảm thấy ngòai cách này ra không còn cách nào hơn. Thế là viết quốc thư, sai sứ thần đến Hàm Dương thương lượng với nước Tần, nước Tần đồng ý.

Sau rất nhiều năm, mỗi khi nói về việc này ở trong cung Chương Đài, Di Hồng đương đương tự đắc nói: "Tin Lăng Quân hắn có thể ăn trộm thẻ để cứu Triệu, ta sẽ lấy ngọc tỉ hoàn cơ cho ông ta thấy." Công Tử Vương Tôn tuổi trẻ không hiểu được nhân tình thế thái và những cung nữ sau này muốn tìm hiểu ngọn ngành đầu đuôi "ăn trộm ngọc tỉ hoàn cơ". Thế rồi giai đoạn lịch sử xúc động tâm hồn năm đó làm sống lại số phận bạc bẽo của Di Hồng."

Tướng quốc Phạm Thư nhớ rõ, hoàng hôn ngày hôm đso kéo dài dằng dặc. Một dãi nắng chiều tàn tạ chậm chạp, không mấy hài lòng lặn xuống Sơn Cốc.

Đó là ngày Phạm Thư biết rằng Dị Nhân và Lã Bất Vi đã trở về Hàm Dương. Trong phòng khách của phủ tướng quốc, Tử Hề và Đỗ Thương sau một thời gian dài oán giận Thiện Tương Vương và Du Quốc Quân, lặng nhìn vào khuôn mặt không tỏ rõ buồn vui của Phạm Thư. Chòm râu rậm rạp bao năm cheo kín miệng của Phạm Thư lúc ẩn lúc hiện. Tử Hề rất chut ý chi tiết này. Hy vọng có một âm thanh làm ông hưng phấn cất lên tiếng nói từ đó.

Hồi lâu, cuối cùng Phạm Thư lên tiếng: "Phàm làm việc đều có nhanh, chậm, nặng, nhẹ, như nay Đại vương nhằm đúng vào Vũ An Quân Bạch khởi nghĩa rửa sạch hận thù, tuy nhiên làm giảm quân sĩ của ông ấy, nhưng chưa giải hận được trong lòng, không muốn nghỉ ngơi. Tôi muôn nghĩ ra một chủ ý, làm hết tâm nguyện của Đại vương. Đợi việc này giải quyết xong, rồi là ra tay đối phó với Dị Nhân và Lã Bất Vi. May sao quốc quân chưa biết được, dù rằng quốc quân sau khi thiên thu, còn có An Quốc Quân được hạ nắm giữ triều đình, Dị Nhân và Lã Bất Vi còn phải nhờ trên chạy dưới, phúc chốc thời gian khó lòng gây lên sóng gió."

Tử Hề và Đỗ Thương thừa biết, Phạm Thư đang bị vướng mắc về việc này không biết xử lý Vũ An Quân như thế nào? Thiện Tương Vương phái Ngũ Đại Phu Vương dẫn quân đánh Hàm Đan, Vũ An Quân đang mắc bệnh. Quân Tần không những tấn công lâu mà không hạ được Hàm Đan, mà còn tiêu binh tổn tướng. Lúc này, bệnh của Vũ An Quân thấy đã giảm, Thiện Tương Vương muốn ông thay Vương Lăng làm Đại tướng quân, chỉ huy đội quân nước Tần. Vũ An Quân sau khi dưỡng bệnh thân thể suy nhược đến điện Kỳ Niên khấu kiến Thiện Tương Vương, khuyên rằng: "Đại vương, nô thần dám nói thật, quả thật Hàm Đan không dễ phá vỡ, mà chư hầu muốn cứu viện, một hôm tức thì từ Trường Bình đến Hàm Đan, các chư hầu đó từ lâu đã oán hận nước Tần, mấy năm trước tuy đại phá quân Triệu tại Trường Bình, nhưng nước Tần ta quân chết một nửa, sức lực trong nước yếu thế. Bây giờ chúng ta không những tích trữ lực lượng khôi phục nguyên khí, mà còn trèo đèo lội suối để đánh vào thành đô của người ta, giả sử nước Triệu tiếp ứng từ trong, chư hầu từ ngòai đánh vào, nước Tần chúng ta như rắn mất đầu, xin Đại vương suy xét để hành sự."

Mấy hôm sau, Thiện Tương Vương nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy Vũ An Quân xứng làm chỉ huy, liền gọi Phạm Thư đêm chiếu lệnh của ông đến phủ của Vũ An Quân thúc mời. Phạm Thư nói hết nước hết cái. Vũ An Quân không hể mảy may. Phạm Thư trở về cung Chương Đài, sôi nổi kể nào là Vũ An Quân thân thể khoẻ mạnh, muốn tìm vui thú, nào là nói năng thẳng thắn, trách Thiện Tương Vương hạ lệnh muốn đánh Hàm Đan. Sau khi Thiện Vương nghe xong tức giận đùng đùng, bởi vì lúc đso nước Tần đang đánh nhau đẫm máu với liên quân ba nước Triệu - Sở - Nguy ở ngòai thành Hàm Đan, tình thế hết sức nguy ngập. Thiện Tương Vương không sử phạt Vũ An Quân. Không lâu sau, quân lính Tần bại trận ngòai thành Hàm Đan. Thiện Tương Vương tức tối cách chức của Vũ An Quân đẩy xuống làm quân sĩ. Vũ An Quân hậm hực nói: "Nếu như Đại vương nghe theo lời khuyên của hạ thần, quân Tần đã không thất bại thảm hại." Câu nói đó đến tai Thiện Tương Vương, Thiện Tương Vương ra lệnh giam Vũ An Quân vào phòng tối. Vũ An Quân vừa buồn vừa hận, bệnh tình tái phát. Một số quan trong triệu đã minh can cho Vũ An Quân, nói rằng Vũ An Quân đã có công lao lớn với nhà Tần, Thiện Tương Vương động lòng trắc ẩn lại ra lệnh nói là đợi sau khi bệnh tình của Vũ An Quân thuyên giảm sẽ đẩy vào phòng tối sau.

Tận mắt nhìn thấy Vũ An Quân sắp rơi vào chỗ chết mà không có đường thóat, Phạm Thư - Tử Hề - Đỗ Thương, bọn họ không ngớt lời than vãn. Không ngờ rằng Thiện Tương Vương hạ hàng lọat chiêu lệnh như thế, họ lo lắng một ngày nào đó Vũ An Quân trở lại cầm quyền, đặc biệt là Phạm Thư vốn dự tính một khi Vũ An Quân lưu đày vào phòng tối ẩm lạnh lẽo, mất đi sự quây quanh giữa môn khách và cựu bộ, tìm mấy vị thích khách du lãng tài nghệ tuyệt vời, cướp đi tính mạng của Vũ An Quân. Bây giờ xem ra kế họach này phải từ từ thực hiện.

Tử Hề và Đỗ Thường lo rằng: Dị Nhân và Lã Bất Vi trở về, sẽ chạy vạy cứu vớt Vũ An Quân ra. Hai người đưa ra ý kiến như vậy, Phạm Thư như người trong mơ tỉnh dậy nghĩ đến lúc đầu là vì không để cho Dị Nhân đến Hàm Đan làm con tin, Vũ An Quân đã không tiếc sức lực cầu cạnh van xin. Bánh ú trao đi, bánh tri trao lại. Lần ngày khẳng định rằng trước mặt Thiện Tương Vương và An Quốc Quân, Dị Nhân và Lã Bất Vi sẽ ca tụng công đức của Vũ An Quân. Lâu dần, nhóm người bọn họ phải tụ tập liên kết, hình thành lên một thế lực mạnh ngang với mình.

Thấy Pham Thư cứ trầm tư chẳng nói, Tử Hề và Đỗ Thường đứng một bên nói như thể lửa đổ thêm dầu: "Tướng quốc! kẻ hèn xin có lời: đã chặt thì chặt cho đứt, tránh để sau này tất loạn. Phải nhân cơ hội khi họ chưa gây lên sóng gió dao sắc chém đay rối, trước tiên diệt Vũ An Quân, sau đó đối phó với Dị Nhân và Lã Bất Vi."

Pham Thư dáng vẻ lo lắng xa tính kỹ, nói: "Công tử và lão tướng quốc nói nghe có lý lắm, chúng ta phải đồng tâm hiệp lực, nắm chắc thời thế, chú ý động tĩnh của Vũ An Quân, không khó tìm ra những sai sót, sau đó bẩm tấu với Đại vương, nói ra điều lợi hại, đuổi Vũ An Quân ra khỏi Hàm Dương. Đến lúc đó, chúng ta sẽ ra tay đúng như ý muốn."

Tử Hề khẩn thiết nói: "Tướng quốc! chúng ta tim được khuyết tật và tội danh trong con người của Vũ An Quân, vậy thì phải đợi đến ngày tháng năm nào? dứt khóat chúng ta phải dựng lên câu chuyện làm cho mọi người kinh sợ, rồi đến cung Chương Đài bẩm tấu Đại vương, để Đại Vương tin và cho đó là thật, chẳng chút ngờ vực và cảm thấy Vũ An Quân là một phạm nhân tội ác tày trời không thể dung tha."

Đỗ Thương lắc đầu nguây nguẩy nói: "Không được, không thể được, Đại vương của chúng ta rất anh minh, không dam nói là thấy được chân tơ kẽ tóc, nhưng có khả năng nắm bắt được đầu mối của sự việc, khó lòng che đậy được. Nếu như cố tình bịa đặt vô lý, một khi bị Đại vương tìm hiểu xem xét, như vậy khác gì việc lạy ông tôi ở bụi này!"

Pham Thư nói: "Bịa đặt vô lý đương nhiên không thể được, nhưng chúng ta có thể tìm hình bắt bóng. Tôi đã nghĩ kỹ rồi. Bây giờ không phải là có một số người nối đuôi nhau đi vào phủ đệ của Vũ An Quân, giải bày nỗi oan khuất hay sao? chúng ta nói rằng họ xỏ xiên triều đình, phỉ báng Thánh thượng, có ý đồ mưu phản theo địch. Tôi đến chỗ Đại Vương bẩm báo, các ngài loan tin trong vương cung và các triều thần. Như vậy sợ gì Đại vương không tin?"

Tử Hề khóat tay tán dương: "Điều này Đại vương tức giận nhất là hạ thần bình luận cái hay cái dở của ông sau lưng."

Đỗ Thương nói: "Dân chúng kích bác triều chính, phỉ báng Thánh thượng, mưu phản theo địch, như vậy là tội đại phản nghịch mắc tội chết chu di chín họ đấy!"

Pham Thư lại cùng Tử Hề - Đỗ Thương mưu tính một hồi lâu sau đó chạy về phí cung Chương Đài kiến diện Thiện Tương Vương.

Gia quyến của môn khách trở về Hàm Dương không lâu sau, Lã Bất Vi đã xây dựng xong phủ đệ của mình. Việc nhà trong phủ ông để cho Hoàng Phủ Kiều toàn quyền lo liệu, việc làm ăn ngòai phủ đệ dựa vào Dương Tử và mấy người tâm phúc kinh doanh. Ông dốc hết tâm sức cùng các môn khách thu thập và nghiên cứu sự việc đổi thay của các nứoc chư hầu và trong cung vua Tần, để củng cố địa vị vương hầu của Dị Nhân và để sớm có ngày lên ngôi, ông đã cố gắng hoàn tất việc chuẩn bị.

Việc đầu tiên Lã Bất Vi nhắc Dị Nhân phải làm là vào cửa thăm hỏi hoàng thân quốc thích và các vị lão tướng trong triều. Dị Nhân biết rõ dụng ý của Lã Bất Vi, họ vừa về đến Hàm Dương, thế lực mỏng yếu, vây cánh chẳng có. Việc cần kíp trước mắt là cúi mình trọng dụng người tài, tìm kiếm mọi nơi thu phục nhân tâm, xây dựng lên thế lực của mình. Lã Bất Vi với sự tinh tế của một thương nhân, ông đều suy tính kỹ càng chu đáo đối với việc Dị Nhân tới phủ đệ của ai, đến nơi nào trước nơi nào sau, mang theo lễ vật gì, cầu lễ nghĩa thế nào để đạt được mọi sự tốt đẹp.

Lã Bất Vi nghĩ thấu đáo mọi việc, tìm đến phủ để của Dị Nhân cùng bàn bạc cho tiện. Dị Nhân trở về Hàm Dương mặc dù thời gian không lâu, nhưng nay cũng đã khác xưa. Đường đường là Tần Vương Tôn, thái tử của An Quốc Quân, nơi ở rèm hoa lộng lẫy, thị vệ nô tì tiền hô hậu ủng, lời lẽ cung kính nịnh hót rót tâu bên tai, bản thân tự cho mình là nhất, vênh vang tự cao tự đại. Do vậy, đối với Thái phụ Lã Bất Vi mặc dù là người tri ân tri kỹ, nghe theo sự tính toán, nhưng chẳng giống khi ở Hàm Đan mọi việc đều phải nghe theo.

Lã Bất Vi sau khi cúi đầu bái kiến, tường tận tỉ mỉ kể lại sự sắp đặt chu tất của ông với Dị Nhân. Đại khái nói để Dị Nhân thấy sự giao thiệp rộng rãi, phú quý quyền lực và thế sự phải làm. Nhưng nghe Lã Bất Vi một thôi một hồi nói đến việc tìm tới phủ đệ của ai, đến đâu trước đến đâu sau, mang theo lễ vật gì, lễ nghi ra sao... cảm thấy rườm rà rách việc, thậm chí hơi chút dạy bảo cặn kẽ như đối với đứa trẻ không biết gì. Dị Nhân mệt mỏi nghe xong Lã Bất Vi kể lễ, chẳng mấy vui vẻ nói: "Thái phụ xin hãy yên tâm, ta lại không phải là đứa trẻ lên ba mà không biết đâu là gần gũi thân quen!"

Lời của Dị Nhân nói vừa dứt thì trong ánh mắt phát ra những cái nhìn sắc lạnh như khinh miệt. Lã Bất Vi biết rõ, nếu như ông còn tiếp tục liên thuyên nữa, sẽ chẳng có gì hay ho cả.

Lã Bất Vi về phủ đệ của mình, trong lòng canh cánh nỗi lo âu như vẫn có một điều gì báo trước không tốt lành.

Trong danh sách những người bái yết mà Lã Bất Vi lập lại không có Vũ An Quân, ông có đầy đủ lý do để nói với Dị Nhân là vì sai người ông cần tôn kính mà lại không biết. Nhung khi Dị Nhân nghe đến sắc mặt không chút mảy may, khiến Lã Bất Vi không nói ra hết ý.

Dị Nhân lên kiệu xe, bằng lòng đi bái yết người mà ông cho rằng cần phải bái yết. Kiệu xe của Dị Nhân leng keng tiến vào phủ đệ của Vũ An Quân.

Dị Nhân vừa nhìn thấy Vũ An Quân bàng hoàng một lát.

Một ông già lọm khọm, đầu gối trên thành giường. Trong trí nhớ của anh, một vị tướng tài quát mây thét gió, dũng mãnh hiên ngang biết bao. Anh còn nhớ rõ lắm, cái trâm cài tóc trên cái đầu lốm đốm bạc của Vũ An Quân như một ngọn lửa lay động, phát sáng rực rỡ mãi mãi trong con mắt của anh. Không ngờ rằng vị đại tướng quân vô tình trước mắt này, cái trâm cái tóc bao năm quân úy ngưỡng mộ ấy đã sớm bị Thiện Tương Vương thu lại mất, búi tóc trắng muốt phủ đầy sương của những tháng năm. Khuôn mặt lâu ngày không nhìn thấy ánh mặt trời kia giống như một cái bánh nướng thiếu lửa - trắng bợt và yếu đuối. Lại còn những nếp nhăn vừa dày vừa sâu, nứt lẻ như một đáy hồ khô cạn.

Dị Nhân nghĩ đến Vũ An Quân lập lên chiến công hiển hách cho Đại Tần, nghĩ đến việc chăm lo cẩn thận đối với anh trong vấn đề làm con tin ở Hàm Đan, một nỗi chua xót cuộn lên trong lòng, nước mắt ngậm ngùi gọi không thành tiếng: "Đại tướng quân!"

Vũ An Quân được nữ hầu giúp việc tựa vào thành giường sau khi kêu lên một tiếng. "Thái tử điện hạ!" Con mắt ấy ẩn hiện sự đan xen một thứ tình cảm vừa hàm chứa nhưng không biểu lộ rõ, rồi lập tức lớn tiếng quát mắng: "Ngươi - kẻ tiểu nhân vong ơn bội nghĩa, cút ngay đi cho ta nhờ!"

Câu nói của Vũ An Quân như một gáo nước lạnh dội vào đầu Dị Nhân làm anh không kịp tránh. Rất lâu sau, Dị Nhân mới như tỉnh lại, trách móc hỏi: "Đại tướng quân, ngươi không thể nhận ra kẻ lại nhân này ư? ta có ý tốt đến thăm viếng ngươi, sao ngươi lại lăng nhục trách mắng ta?"

"Nay ta và ngươi không thể có cùng mặt trời, cũng chẳng có cùng ngôn ngữ chung. Ngươi mau đi đi?" Vũ An Quân với một bộ mặt xa lạ, sau đó gọi bọn người hầu đuổi Dị Nhân ra khỏi cửa.

Dị Nhân từ trong phủ đệ của Vũ An Quân bị coi thường mà trở về, bao nhiêu hứng thú thăm viếng người thân bè bạn bỗng nhiên chẳng còn nữa, ngao ngán trở về phủ đệ của mình, anh ngồi bần thần cả buổi, không tài nào lý giải nổi cử chỉ của Vũ An Quân, lẩm bẩm một mình nói: "Vũ An Quân ngươi chẳng hiểu tình người... đày đi thiên Tỉnh Quan."

Khi Dị Nhân đến phủ đệ của Lã Bất Vi để thông báo cho ông ta biết chiếu lệnh của Chiêu Tương Vương, Lã Bất Vi trông thấy Dị Nhân nước mắt giàn dụa, biểu lộ một nỗi xót thương, đồng cảm chân thành.

Dị Nhân bùi ngùi than thở: "Phía bắt Thiên Tỉnh quan giáp với đất của người Hồ, là nơi hoang vu hẻo lánh, cách trở núi non, đường xá xa xôi. Vũ An Quân lại bệnh tật triền miên, chưa kịp đến nơi có lẽ đã chết đói chết rét dọc đường rồi, chắc rằng trọn đời cũng chẳng thể trở về được nữa!"

Dị Nhân ủ dột, buồn rầu ngồi lại một lúc, rồi rời khỏi phủ Lã Bất Vi trở về.

Nỗi niềm của Dị Nhân đã cảm động đến Lã Bất Vi. Sau khi Dị Nhân trở về, Lã Bất Vi trơ trụi một mình một bóng, đối diện với ngọn đèn dầu mà lặng lẽ buồn thương. Ông có được nghe một số người nhiều lần nói đến chuyện Vũ An Quân đã chăm lo cho những kẻ bị bạc đãi là Hạ Cơ và Dị Nhân với tấm lòng rộng rãi, nghĩa hiệp ra sao; đã cầm gươm mặc giáp , chiến công hiển hách thế nào; đã thương xót những kẻ bần hàn cơ độc, đã tiếp tế cho dân thường áo vải ra sao; và đã công bằng liêm chính, cương trực bất khuất, dám nói thẳng để mạo phạm đến Chiêu Tương Vương như thế nào...

Lã Bất Vi nghĩ đến đây, trong lòng bỗng nảy sinh một nỗi thương xót và kính phục lớn lao đối với Vũ An Quân. Và ông cũng đã lý giải được phần nhiều nguyên do tại sao Dị Nhân luôn luôn có thâm tình với Vũ An Quân như vậy.

Trầm tư khá lâu, rồi Lã Bất Vi cho tìm Tư Không Mã đến phòng ngủ của mình, đóng cửa lại, rồi nói với ông ta, vẻ bí mật vô cùng: "Ngày mai, ngươi hãy thay ta làm một chuyện, mà phải làm sao cho thật kín đáo, trôi chảy, thần không biết, quỷ chẳng hay."

Tư Không Mã với một vẻ sẵn sàng lao vào nước sôi lửa bỏng đáp lời: "Thái phó đại nhân, có chuyện gì tùy đại nhân sai bảo."

"Đại để là người đã được nghe rồi, Vũ An Quân vì làm cho đại vương nổi giận nên bị lưu dầy đến Thiên Tỉnh Quan. Ngươi hãy chờ trên con đường từ Hàm Dương đến Thiên Tỉnh Quan, đợi đúng thời cơ, hãy đem 50 dật vàng này đưa cho Vũ An Quân, rồi nói rằng có vị Vương Tôn nước Tần không tiện bày tiệc tiễn đưa, nên đặc mệnh cho ngươi mang tặng ông ta số tiền vàng này. Mong rằng tướng An Quân hãy gắng bảo trọng."

"Tiểu nhân cam đoan sẽ đưa 50 dật vàng đến tận tay Vũ An Quân, không sót một ly."

"Khi làm việc này, không thể để cho bất kỳ ai trông thấy."

"Tiểu nhân đã rõ. Nhưng giả sử Vũ An Quân có hỏi năm mươi dật vàng này có phải do Dị Nhân điện hạ tặng cho hay không thì tiểu nhân phải trả lời ra sao?"

"Ngươi không phải đáp gì cả, không bảo đúng, cũng chẳng bảo sai. Lập tức đi ngay."

Trên con đường từ Hàm Dương đến Thiên Tỉnh Quan, Tư Không Mã suốt hai ngày đêm gội tuyết dẫm băng, nhịn đói nhịn rét để trốn trong rừng rậm chờ đợi, nhưng cũng chẳng thấy chút tăm hơi nào của Vũ An Quân. Tư Không Mã có biết dâu rằng Vũ An Quân vừa rời khỏi Hàm Dương được mười dặm, mới đi đến vùng Đỗ Sưu, thì Chiêu Tương Vương đã ban cho ông ta một thanh kiếm để tự vẫn rồi.

Lã Bất Vi sững sờ trước cảnh đi săn hoành tráng của Chiêu Tương Vương.

Đó là một buổi sáng, tuyết mới ngừng rơi, gió lạnh tê tái. Đỉnh Tần Lĩnh tô điểm, trang sức một màu bạc trắng, tựa như ánh nến đang thỏa sức lung linh, dòng sông Vị tuyết băng phủ kín, tương tự một cô gái an nhàn đang nằm yên lặng giữa bình nguyên um tùm xanh sẫm. Trên con đường từ Hàm Dương đến ung thành, những lá cờ Thúy hoa năm màu sáu sắc đón gió bay phần phật. Đi đầu tiên trong hàng ngũ đi săn là những quân úy, ngồi trên bốn hàng ngựa đang cùng tiên lên. Những gíap trụ họ mặc trên người và ánh phản quang của đống tuyết trắng phản chiếu lẫn nhau. Đi sát phía sau là đội Nghi trượng. Các thị vệ, cung nga giơ cao cờ hiệu, cờ tiết, quạt lông. Gió bấc thổi vào làm phát ra những âm thanh lọat soạt tựa như tiếng xé vải.

Sau đó là chiếc xe của Chiêu Tương Vương, do bốn con ngựa ngũ sắc kéo. Bên trái xe là An Quốc Quân, bên phải xe làm Phạm Tuy. Tuy rằng đã vào tiết giữa đông gía rét, nhưng trên xe vẫn không che rèm, để tiện lợi cho việc quan sát được xa, khi phát hiện ra con mồi có thể nhanh chóng giương cung bắn tên. Chiêu Tương Vương đầu đội mũ miện, mình mặc măng bào bằng lông chồn. Tuy rằng vị quân chủ của một nước này tuổi đã cao, người đã khô gầy, nhưng vẫn bám vào càng xe, hiên ngang trước gió, rất có khí phách của ngựa Ký tại chuồng, chí ngòai nghìn dặm. Điều này đã cổ vũ cho các văn võ bá quan, vương tôn công tử tùy tùng. Phía sau xe của Chiêu Tương Vương là các quan lại trạng yếu như Cung giảo sĩ, Thứ trưởng, Tả thứ trưởng, Tưởng sử, Bang tư không, Công thất thừa, Tông chúc, Quốc úy, Thượng tướng quân, Tư ngự, họ dắt theo chó săn. Hai mươi ba người cháu của Chiêu Tương Vương cùng với các thái phó của họ cùng ngồi xe, cầm cung, sung thêm vào đội ngũ xạ thủ đi săn.

Đến Ung Thành, Chiêu Tương Vương đích thân bái tế ở bốn khu vực thờ phụng trời và ở Tông miếu, sau đso mới bắt đầu đi săn. Phạm Tuy là tổng tư nghi của đoàn đi săn, sau khi được Chiêu Tương Vương truyền ý chỉ, ông ta bèn ra lệnh một tiếng, tức thì các vương hầu, quan tướng vương tôn, công tử liền thúc ngựa giong xe, chạy vào trong bãi hoang hay rừng núi nơi đi săn. Thoáng chốc đã ồn ào tiếng người la ngựa hý, chiêng trống ầm vang. Bụi tuyết bay mù mịt khắp nơi. Đâu đâu cũng huyên náo, tựa như trong một chiếc vạc đang sôi sùng sục, loạn vô cùng, sôi động.

Những hổ, báo, lợn rừng, dê rừng ẩn nấp trong rừng, bãi, khe, hang bị kinh động, bỏ chạy loạn xạ, trở thành những mục tiêu cho người ta truy đuổi, bắn giết.

Dị Nhân vì đã bị giữ làm con tin rất lâu ở Hàm Đan, võ công rất kém cỏi, ở trên xe, tuy rằng thỉnh thoảng cũng bắn ra vài mũi tên, nhưng đều chỉ phí công vô ích. Vài giờ đã trôi qua, mới bắn trúng một con dê rừng non yếu ớt.

Lã Bất Vi buôn bán khắp thiên hạn, có thể cho rằng đã luyện thành cái thuật hút vàng vào tay áo, nhưng về phép giương cung bắn tên lại dốt đặc. Ông ta phóng ngựa truy đuổi, cũng vờ bắt chước động tác giương cung đặt tên, nhưng chẳng hề động chạm đến một con thú hoang nào.

Trông thấy rất nhiều Vương Tôn khác của nươc Tần bắn bách phát bách trúng, trên thanh chắn phía sau xe, trên khung xe treo, vắt la liệt những chim rừng, thú hoang máu tươi còn nhỏ ròng ròng, con thì đã chết, con thì còn thoi thóp thở, Lã Bất Vi cảm thấy số thú vật mà Dị Nhân săn được ít ỏi đến đáng thương hại. Nếu so sánh Dị Nhân với đám anh em dũng mãnh tráng kiện kia, thì khác gì đem con dê non nhãi ranh trên xe của Dị Nhân so sánh với cả dây những hổ dữ, sư tử kia. Mặc dù là như vậy, nhưng Lã Bất Vi không hề lo lắng, sốt ruột.

Về việc phải làm sao để cải thiện tình trạng thảm hại của Dị Nhân trong cuộc đi săn này, ông ta đã có sẵn kế sách trong lòng.

Trước khi ra khỏi kinh thành, Lã Bất Vi đã dự liệu trước tình hình. Nếu xảy ra tình trạng như vậy, sẽ làm tổn hại đến hình tượng anh dũng của Dị Nhân điện hạ. Ông ta đã có chuẩn bị từ trước nên không hề lo lắng, móc từ trong túi ra rất nhiều tiền bạc. Trong khi mọi người đang vô cùng hào hứng, mê mải trong cuộc săn, đã sắp sửa đẩy xe trở về, Lã Bất Vi lặng lẽ, kín đáo đi mua lại những thú vật do các quan tướng có tước vị khá thấp kém đã săn được, mặ khác, chỉ mua của mỗi người một con. Ông ta vung tiền rộng rãi, giá cả gấp mấy lần ngòai chợ. Trong nháy mắt, con ngựa của Lã Bất Vi khắp lưng khắp người đã treo đầy chim thú, ông ta mới ruổi ngựa đi theo Dị Nhân. Khi đến bên xe của Dị Nhân, Dị Nhân thấy Lã Bất Vi săn được nhiều như vậy, thì vô cùng kinh ngạc. Dị Nhân hỏi: "Thật không ngờ rằng Thái phó lại là mũi dùi giấu trong đống thóc, không để lộ mũi nhọn ra ngòai. Tổng cộng được bao nhiêu?"

Lã Bất Vi trả lời: "Ba hổ, ba sói, năm dê rừng, hai nhung, hai hoẵng, tổng cộng được mười bốn con."

Dị Nhân vô tình nhìn đến túi đựng tên của Lã Bất Vi, phát hiện ra túi tên của ông ta chẳng hao đi mấy chiếc, bèn vô cùng nghi hợac mà hỏi rằng: "Tên của thái phó dường như còn nguyên chưa động đến, vậy bắn bằng thứ gì?"

Lã Bất Vi móc từ túi ra một đĩnh bạc, trả lời: "Bắn bằng cái này, kích phát bách trúng, dễ dàng như lấy đồ vật ở trong túi."

"Lã thái phó dùng tiền bạc để mua về ư?"

"Phải!"

"Giá bao nhiêu?"

Lã Bất Vi nói với Dị Nhân số tiền bỏ ra để mua thú về.

Dị Nhân thấy quá đắt đó, bèn nói: "Giá tiền gấp đôi gấp ba so với chợ, thế mà lại bỏ gần theo xa, về kinh đô rồi đi mua có phải hơn không?"

Lã Bất Vi nhìn khắp xung quanh không thấy ai, bèn nhấc một con dê bụng vàng lên ném vào trong xe của Dị Nhân. Dị Nhân kinh ngạc, mừng rỡ chăm chăm nhìn Lã Bất Vi đầy vẻ biết ơn. Lã Bất Vi vừa định giải thích, thì Dị Nhân nói: "Thái phó không cần phải nói, tôi đã hiểu rõ rồi. Hành động này thực chẳng khác nào tặng than cho người đúng khi trời tuyết!" Thực ra, Dị Nhân cũng đang xấu hổ vô cùng vì bản thân mình gần như trở về ttay không. Bây giờ đã được Lã Bất Vi mua cho những chim thú quý hiếm, để bổ sung vào đám chiến lợi phẩm, cứu được ông ta trong lúc nguy cấp.

Lã Bất Vi mang những muông thú mua được theo thứ tự mà treo đầy vào thanh chắn phía sau xe, nói một cách thẳng thắn: "Điện hạ là bậc cao quý, thái tử của An Quốc Quân. Hạ thần trộm nghĩ, không những chỉ cần danh phận, tước vị cao quý vô song, mà về mọi phương diện khác đều phải tỏ ra siêu phàm thóat tục, tinh anh khác thường."

Dị Nhân mặt mày hớn hở, nói: "Ta cũng nghĩ như vậy, thực là suy nghĩ của những anh hùng tương tự như nhau!"

Kết thúc cuộc săn, Chiêu Tương Vương sai quan sắc phu phát nỏ đi kiểm tra số lượng mông thú đã bị các Vương tôn nhà Tần bắn được. Sau khi tổng kết, kết quả là Dị Nhân đứng đầu bảng. Chiêu Tương Vương biết, vui mừng hiển hiện lên nét mặt, nói với các cận thần tả hữu với giọng tự hào, trước mắt đội ngũ đi săn vừa mới trở về: "Các cháu của quả nhân ai nấy đều giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Hàng long phục hổ, rõ ràng không phải Dị Nhân thì còn là ai được nữa. Lo gì họ Doanh nhà ta lại không thể tiêu diệt sáu nước chư hầu, hoàn thành bá nghiệp nhất thống thiên hạ!"

Cả đoàn người bùng lên một đợt tung hô, âm hưởng vang dội khắp núi non hang suối.

Rốt cục là vì tuổi đã quá năm mươi, thể lực không còn kham nổi, nên Chiêu Tương Vương khi trở về đế thẩm cung ở Chương Đài, liền cảm thấy đau lưng nhức chân, gan cốt rã rời. Ông ta nằm đài trên giường để hai cung nữ da thịt nõn nà đấm bóp lưng một cách nhịp nhàng.






Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:42:16ct.ly>
tiếp theo


CHƯƠNG XII

Giáo đâm thẳng - Tên bắn lén

Một vị hoạn quan tiến vào, quỳ xuống khả bẩm rằng Tướng quốc Phạm Tuy muốn được diện kiến. Trong lúc này, nếu là người khác thì Chiêu Tương Vương ắt đã cho người cự tuyệt từ ngòai cửa hợac cho đuổi khỏi cung Chương Đài. Nhưng vừa nghe là Phạm Tuy, lại bất chấpt những mệt nhọc sau cuộc săn bắn mà đến, ắt hẳn là có chuyện quan trọng muốn tâu bày.

Phạm Tuy bước vào, nói: "Đại vương mới trở về, long thể còn mỏi mệt, mà hạ thần lại đến quấy nhiễu, thực là tội đáng muôn chết. Nhưng đại vương đã lơ là mất một chuyện, hạ thần không thể không đến đề cập với đại vương."

Chiêu Tương Vương nói: "Ồ, Đại tướng quốc của quả nhân, khách sáo cái gì, có điều gì thì mau nói ra đi."

Phạm Tuy nói: "Một việc lớn là cuộc săn bắn rầm rộ, vang dội như hôm nay, thực là lâu lắm rồi không có, Đại vương long nhan sảng khóai, nên ban thưởng thịt tế mới phải."

Chiêu Tương Vương nói, rất đồng cảm: "Nên ban thịt tế! nên ban thịt tế! nhà ngươi xem đấy, trí nhớ của ta thật là tệ quá!"

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, sau khi kết thúc những công việc như đến Ung Thành tế Trời tế Miếu, đi săn bắn, thì bậc quân chủ phải tiến hành ban thưởng cho các hạ thần và thân thuộc. Ban thưởng chia thành các lọai thưởng vật, thưởng thành, thưởng mệnh, thưởng thịt. Thưởng vật, tức là ban thưởng bằng vật phẩm. Thưởng thành, tức là ban cho thành cấp làm đất phân phong. Thưởng mệnh, tức là quân vương ban bố mệnh lệnh khen thưởng. Nhưng cao quý nhất, long trọng nhất phải kể đến thưởng thịt tế. Ba lọai ban thưởng phía trên, hầu như tất cả mọi quan lại đều có thể được hưởng, nhưng thưởng thịt tế thì chỉ có những kẻ thân thuộc của nhà vua mới có thể được hưởng. "Thịt tế" tức là thịt được sử dụng trong những dịp tế tổ ở tông miếu, sau khi cúng tế xong, chỉ có thể ban cho những người có quan hệ huyết thống với nhà vua.

Chiêu Tương Vương gắng gượng cất tấm thân mệt mỏi trở dậy, truyền cho quan Tông chúc chưởng quản việc tế tự đến, hỏi xem những thịt tế để cung phụng trong tông miếu đã được vận chuyển đến chưa. Tông chúc nói rằng đã vận chuyển để nơi nguyên vẹn, không hề hao tổn. Chiêu Tương Vương run lật bật ngồi dậy khỏi giường, định chấp chưởng công việc chia thịt. Phạm Tuy nói rằng: "Bóng đêm đã bao trùm, đại vương lại vô cùng mệt mỏi, xin đại vương hãy ban một mệnh lệnh cho chia thịt, còn những công việc cụ thể hãy để hạ thần thừa lệnh thi hành cũng được. Chiêu Tương Vương suy nghĩ chốc lát, rồi ban một đạo mệnh lệnh, giao cho Phạm Tuy thực thi.

Sau khi Phạm Tuy trở về Tướng phủ, lập tức sai môn khách mời Tử Hề đến. Từ Hề dụi dụi đôi mắt lem nhèm ngái ngủ, lầu bầu nói:"Đại tướng quốc của ta, nửa đêm canh ba mà vẫn còn trăn trở cái gì vậy?"

Phạm Tuy vẻ hưng phấn ngồi nói: "Hôm nay săn bắn, đại vương rất vui vẻ, nên đã cho chi thịt tế."

Tử Hề lộ rõ vẽ hớn hở nói: "Buổi đi săn hôm nay khiến cho thằng nhóc Dị Nhân hăng máu quá mức, có thưởng thịt tế cho hắn thì ăn cũng chẳng biết ngon."

Phạm Tuy không vừa lòng, nói: "Đại công tử nói như vậy là bất kính đối với Đại vương rồi!"

Rồi ông ta đuổi hết tả hữu, ghé tai thì thào nói với Tử Hề rằng: "Thịt tế này sẽ trị khỏi cho tâm bệnh của đại công tử."

"Trị khỏi được tâm bệnh gì của ta?"

Phạm Tuy nghiến răng nghiến lợi mà nói: "Đại vương giao cho tôi chấp hành việc này, tôi sẽ tẩm độc vào khắp trên dưới miếng thịt tế đượ chia cho Dị Nhân, để cho hắn cùng hai mụ phi tử với lại thằng nhãi ranh kia ăn vào mà lăn đùng ra chết."

Chuyện này quả thực nghiêm trọng, Tử Hề hoảng sợ đến thót tim, tinh thần chấn động. Tử Hề cũng thấy rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở để trừ khử Dị Nhân, nhưng Tử Hề lại lo rằng sau khi Dị Nhân chết đi, không may bị Đại vương tra xét, mà lộ chân tướng, thì quả thật là một đại họa giáng xuống đầu. Phạm Tuy bảo Tử Hề không phải suy nghĩ nhiều quá, trên đường đi Ung Thành, ông ta đã suy tính trước sau rồi, đảm bảo việc này rất kín đáo, không có một chút sơ hở.

Tử Hề đảo đảo đôi mắt sáng, hỏi: "Dựa vào đâu để bảo rằng không có chút sơ hở?"

Phạm Tuy nói chắc như đinh đóng cột: "Đại công tử hãy nghĩ mà xem, nếu Dị Nhân quả thật chết đi, có kẻ nào lại dám nghi ngờ rằng trong miếng thịt Đại vương ban cho lại có độc. Vả lại từ khi giết thú vật, rửa ráy, thui nướng, vận chuyển đi xa, rồi trải qua cúng tế, vận chuyển trở về, cắt xẻ, phân phát, cho đến khi đưa vào phủ đệ của Dị Nhân, miếng thịt tế ấy đã phải qua tay bao nhiêu người theo một lọat những mắt xích như vậy, đến thần tiên cũng không thể biết rõ được ai là kẻ hạ độc thủ. Chắc chắn là Đại vương sẽ không nghi ngờ cho ngài và tôi đâu!"

Nghe Phạm Tuy nói vậy, Tử Hề được tăng thêm lòng dũng cảm, bèn tự mình xuống bếp hành động, đem thuốc độc tẩm vào khắp miếng thịt tế phát cho Dị Nhân, đồng thời lại chừa lại trên thớt một tiếng thịt đem cho mèo đen ăn, con mèo đen ăn xong kêu gào, giãy giụa trên mặt đất một hồi rồi chết.

Khi Phạm Tuy sai người đem miếng thịt tế đến phủ đệ của Dị Nhân, ở đó vẫn đèn đuốc sáng trưng, người rất đông đúc, không có vẻ yên lặng chuẩn bị đi ngủ. Người trên người dưới trong phủ đều biết chuyện Dị Nhân được Chiêu Tương Vương khen ngợi, nên một cảnh tượng tưng bừng choán ngợp khắp nơi. Giờ đây, lại được Đại vương ban thịt tế, thực là như gấm thêm hoa.

Dị Nhân lập tức sai người cắt thịt làm món, bày đặc tiệc rượu. Lại sai Triệu Cơ, Di Hồng, Doanh Chính tắm gội, thay quần áo, chuẩn bị một cuộc say sưa hưởng thụ ơn trạch nồng hậu của nhà vua trong yến tiệc ban đêm.

Dị Nhân lại nghĩ đến Lã Bất Vi. Bản thân Dị Nhân có thể chuyển nguy thành an, từ Hàm Đan trở về, được nối dõi, đứng vào hàng tên quý, là đều nhờ vào vị đại thương nhân này. Không những thế, lại còn khảng khái nhường người đẹp cho, mỗi khi nguy cấp gian nan, đều chỉ đường dẫn lối, trù tính sắp đặt. Nghĩ đến đấy, Dị Nhân kiên quyết định sai người đi mời Lã Bất Vi đến, cùng nhau chung hưởng vinh dự muộn màng này.

Khi Lã Bất Vi đến nơi, việc chuẩn bị cho yến tiệc đã ổn định xong xuôi. Mùi thơm của rượu, của thức ăn từ tỏng gian bếp tỏa ra từng đợt liên tục, xua cũng không bay đi. Những chén rượu, tửu lệnh sáng phát quang, phản chiếu lên những cảnh tượng mỹ lệ.

Lã Bất Vi vừa đến, cũng là lúc người đầu bếp bưng thức ăn vào sảnh đường, Lã Bất Vi đưa tay ngăn lại, nói: "khoan đã, chớ vội động đũa rót rượu!"

Rồi ông ta hỏi kỹ càng về quá trình Chiêu Tương Vương ban thưởng thịt tế.

Khi ông ta biết được rằng việc này do Phạm Tuy chủ trì, lại sai người đưa thịt tế đến, thì nhíu lông mày lại, hằn lên những vết nhăn dọc giữa trán, đôi con ngươi đảo qua đảo lại, rồi nói, giọng nhẹ nhàng, rõ rệt: "Trước khi mọi người thưởng thức thịt tế, tôi có một mẩu chuyện có liên quan đến thịt tế, cũng rất lý thú. Bây giờ tôi xin được kể cho thái tử điện hạ và mọi người cùng nghe, để trợ hứng, tô điểm thêm cho buổi yến tiệc đêm nay."

Nếu một kẻ bình thường nào khác mà rườm rà như vậy để trì hoãn cuộc thưởng thức thịt tế, thì đã bị Dị Nhân chửi mắng, tống cổ ra ngòai lập tức.

Nhưng hôm nay lại là Thái phó Lã Bất Vi, vả lại, Dị Nhân đã từng trải thực tế, biết rằng mỗi khi xảy ra những tình trạng tương tự, Lã Bất Vi thường có những hành động nằm ngòai dự liệu của mọi người, khiến người ta học tập được không phải là ít.

Dị Nhân nói với Lã Bất Vi: "Nghe được một lời của ngươi còn hơn đọc sách mười năm. Chúng tôi xin cung kính lắng nghe câu chuyện của Thái phó."

Thực ra trong lúc ấy, Lã Bất Vi không hề hay biết rằng Tử Hề đã tẩm thuốc độc vào miếng thịt, mà chẳng qua, ông chỉ cảm thấy rằng Phạm Tuy chủ trì công việc này, có lẽ sẽ sử dụng thủ đoạn. Thậm chí, ông còn thấy trỗi dậy một nỗi hoảng sợ kỳ lạ. Việc này khiến cho ông nhớ đến một câu chuyện xảy ra trong cung đình nước Tấn, ông muốn kể ra để cảnh cáo cho Dị Nhân.

Lã Bất Vi bắt đầu kể với một giọng rất hấp dẫn, lọt tai:

"Xưa kia, nước Tấn còn là một quốc gia lớn mạnh, sau đó là nước Nguy, Hàn, Triệu chia xẻ nước Tấn, nước Tấn mới bị diệt vong. Trước kia, Tấn Hiến công nắm giữ chính sự, cưới người con gai nước Tề là Khương Thị làm vợ, sinh được người con trai tên là Thân, lập làm thái tử. Năm Tấn Hiến công thứ năm, nước Tấn chinh phạt Ly Nhung, bắt được Ly Cơ và em gái. Cả hai đều trở thành những người thiếp được Tấn Hiến công rất sủng ái. Vài năm sau, Ly Cơ sinh được một con trai, đặt tên là Hề Tề. Tấn Hiến công bắt đầu xa lánh ba người con trai đầu, mà rất yêu Hề Tề, muốn lập Hề Tề làm thái tử, phế bỏ Thân. Ly Cơ là một người tâm địa độc ác, quỷ kế đa đoan, chỉ mong sao con trai mình được lập làm thái tử. Nhưng mụ còn e sợ thái tử Thân công cao đức trọng, chư hầu đều hướng theo, sợ rằng bây giờ bỏ trưởng lập thứ, sẽ gây ra loạn lạc, ta họa. Khi Hiến Công nói với Ly Cơ suy nghĩ của mình, mụ ta lại dùng lời lẽ ngon ngọt mà nói rằng: việc lập thái tử, chư hầu đều đã biết cả rồi. Thái tử lại nhiều lần dẫn quân chinh phạt, công đức ngời ngời, rất có thanh danh trước dân chúng, vậy thì đại vương làm sao có thể vì thần thiếp mà phế trưởng lập thứ cho được! nếu đại vương kiên quyết làm như vậy, tiện nữ chỉ còn biết dùng cái chết để can gián mà thôi!&gt;

Ngòai mặt, Ly Cơ ca ngợi thái tử Thân, nhưng trong lòng lại ghét cay ghét đắng, chỉ chăm chăm tìm thời cơ để dịt trừ thái tử. Mẹ đẻ của thái tử Thân là Tề Khương mất sớm. Thái tử là người con có hiếu, muôn phần tưởng nhớ mẫu thân. Thái tử Thân thay mặt Hiến công ra phòng thủ Khúc Ốc. Khúc Ốc là vùng đất màu mỡ, nơi đặt Tông miếu của tổ tiên nước Tấn. Một hôm, Ly Cơ nói với thái tử Thân rằng: Đêm hôm qua Đại vương mơ thấy Tề Khương, nhà ngươi là đứa con có hiếu, hãy mau mau đến tông miếu ở Khúc Ốc tế lễ cho bà ta đi, sau đó mang thịt tế dâng cho Đại vương, để cho Đại vương được hưởng thụ cái phúc ấy.

Thái tử Thân đã đến Khúc Ốc để tế lễ cho mẹ đẻ là Tề Khương, lại đem thịt tế trong Tùng miếu dâng lên cho phụ vương. Ly Cơ đã lén sai người mang thuốc độc bôi lên miếng thịt. Hai ngày sau, Hiến công đi săn trở về, viên quan lo việc nấu nướng đem thịt tế ấy dang lên cho Hiến công, Hiến Công vừa định ăn, thì Ly Cơ đứng bên cạnh ngăn lại, khuyên rằng: Thịt tế này được mang đến từ một nơi rất xa, nên phải thử qua một chút!

Ly Cơ sai người cắt lấy một miếng thịt mang cho chó ăn, chó lập tức lăn ra chết. Lại cho một hoạn quan nhỏ ăn, hoạn quan cũng lập tức chầu trời..."

Nghe đến đây, Dị Nhân như đã tỉnh ra, bèn đứng dậy đi vào gian bếp.

Lã Bất Vi vẫn say sưa kể tiếp: "Khi đó, Ly Cơ khóc lóc nói rằng: Đại vương, Thái tử thật quá tàn nhẫn! đến cha ruột của mình mà còn muốn giết hại, muốn nhân dịp để lên ngôi, huống gì là đối xử với những người khác. Đại vương tuổi tác đã cao, là người trong buổi xế chiều, vậy mà hắn không đợi nổi lại muốn giết đi, thật là độc ác quá lắm! Sở dĩ thái tử làm như vậy, chẳng qua là vì tiện thiếp và Hề Tề thôi. Tiện thiếp khẩn cầu đại vương gia ơn, cho phép mẹ cho tiện thiếp được chạy sang nước chư hầu lánh nạn, hoặc là cho phép được tự sát sớm đi, để tránh khỏi thảm cảnh bị rơi vào bàn tay tàn độc của thái tử.

Hiến Công nổi giận đùng đùng, nhưng vì Thái tử Thân đã trở về Khúc Ốc, nên đã mang Thái phó của Thái tử đang sống ở kinh thành là Đỗ Nguyên Khoản ra giết. Có người đem đầu đuôi câu chuyện kể lại với thái tử Thân, đồng thời khuyên thái tử hãy đến gặp Hiến Công để biện bạch rõ ràng. Thái tử Thân nói: phụ thân tuổi đã cao rồi, nếu không có Ly Cơ thì ngủ không được yên, ăn không được ngon. Nếu chuyện này được vạch rõ trắng đen, Ly Cơ không bị lưu đày thì cũng bị giết chết, vậy thì phụ vương biết sống ra sao đây?

Có người lại nói với thái tử Thân rằng: thái tử điện hạ hãy mau chạy sang nước chư hầu khác đi! Thái tử Thân nói: mang theo tội ác giết cha cướp ngôi nghiêm trọng như vậy, còn vị vua chư hầu nào dám tiếp nhận ta? ta tự sát là xong chuyện! Như vậy vào ngày mậu thân tháng 12, thái tử Thân tự sát mà vong mạng ở Khúc Ốc."

Lã Bất Vi vừa kể xong câu chuyện, thì một người hầu bước vào mời Lã Bất Vi xuống bếp, chỉ thấy một con chó nằm chết còng queo trên mặt đất, còn Dị Nhân đứng bên cạnh, sợ đến nổi mặt xám như chàm. Lã Bất Vi đã hiểu ra, câu chuyện ông ta kể đã gợi ý cho Dị Nhân. Thái tử điện hạ đã thông minh ra nhiều.

Dị Nhân hỏi Lã Bất Vi: "Thái phó, làm sao ngài biết được trong thịt tế có độc?"

Thực sự, Lã Bất Vi không hề biết rằng trong miếng thịt có độc, chỉ là nghi ngờ mà thôi. Nghe Dị Nhân hỏi như vậy, để đề cao hình tượng của mình trong mắt Dị Nhân, Lã Bất Vi khéo léo lên giọng tự phụ rằng: "Mánh khoé của lão giào họ Phạm ấy làm sao có thể qua khỏi mắt tôi."

Dù rằng Lã Bất Vi nói rát nhẹ nhàng thỏai mái, nhưng chính mắt trông thấy miếng thịt quả thực là có độc, ông ta cũng sợ đến bủn rủn chân tay. Những chuyện đấu đá, hãm hại lẫn nhau kiểu một mất một còn trong chốn cung đình, trước đây ông ta chỉ biêt đến qua sách vở hoặc nghe người ta đồn đãi, nhưng giờ đây lại là nếm trải của người trong cuộc. Hơn nữa, lại còn liên quan đến cả bản thân mình. Cây muốn lặng mà gió chẳng đứng, từ nay về sau phải luôn luôn dè chừng như bước trên băng mỏng, những mũi tên ngọn giáo trước mặt sau lưng rồi sẽ liên tục đập kích vào bọn họ.

Dị Nhân định bỏ yến tiệc đêm này, đến chỗ Chiêu Tương Vương để tố cáo Phạm Tuy.

Lã Bất Vi ngăn Dị Nhân lại, nói: "Thịt tế đã chuyển qua tay rất nhiều người, mà công tử lại không bắt được tận tay Phạm Tuy. Không có bằng cớ xác đáng rõ ràng, mà chỉ là hòai nghi, thì làm sao đại vương có thể tin cho được. Điện hạ mà làm lớn chuyện, đòi chất vấn trước triều đình, chúng ta và bọn Phạm Tuy, Tử Hề công khai đối địch, vậy thì không còn chỗ nào có thể tiến thóai được nữa. Bọn họ thao túng trong triều đã lâu, người đông thế mạnh, nếu bị dồn đến đường cùng, chó càn dứt giậu, sẽ dũng mãnh vô cùng. Còn điện hạ mới từ Hàm Đan trở về, các văn võ đại thần trong triều đình được mấy người sẵn lòng liều chết để giúp cho điện hạ. Cái đạo văn võ, là phải vừa căng vừa chùng, căng hay chùng thì phải dựa theo thời thế. Điện hạ giờ đây cần phải âm thầm gây dựng, tăng thêm vây cánh, bao giờ thời cơ chín mùi, chỉ một gậy là có thể đập chết được bọn chúng!"

Dị Nhân hỏi: "Vậy còn bữa yến tiệc đêm nay..."

Lã Bất Vi nói: "Vẫn cứ bắt đầu không nên chậm trễ, đừng nên cho người khác biết chuyện này. Thịt khô mùi vị không khác mấy so với thịt tế, cắt ra một mâm bảo là thịt là xong."

Sự hưng phấn vă thắc thỏm, khiến cho Tử Hề trằn trọc không yên, cả đêm không tài nào ngủ được. Tử Hề nghĩ rằng, đến lúc mặt trời lên ba con sào, chắc rằng sẽ có tin dữ từ phủ đệ của Dị Nhân truyền ra. Nhưng suốt một buổi sáng, bên đó vẫn chẳng thấy động tĩnh tăm hơi gì về sau, Tử Hề không cầm lòng nổi, bèn đích thân sang phủ đệ Dị Nhân xem kết cục ra sao.

Khi Dị Nhân trang phục đẹp đẽ, vẻ như chưa từng xảy ra chuyện gì, bước ra đón tiếp Tử Hề, Tử Hề muôn phần kinh sợ. Tử Hề gắng hết sức tự trấn tĩnh, đến phòng khách để hàn huyên với Dị Nhân. Nói chuyện được một lúc, Tử Hề mới gợi đến đề tài phân chia thịt tế tối hôm trước. Dị Nhân điền nhiên nói: "Lâu lắm rồi không được thưởng thức thịt tế mà cha ban thưởng, hương vị của nó thật là nồng hậu khó quên, thấm sâu vào gan ruột. Đến bây giờ vị ngon vẫn còn trong miệng!"

Tử Hề úp úp mở mở, ba hoa một hồi, rồi cáo từ. Về đến phủ đệ của mình, Tử Hề nghi hoặc liệu có phải đã đưa nhầm miếng thịt có độc đi đâu không. Nhưng những vương tôn khác đều đã ăn cả, mà vẫn bình yên vô sự. Tử Hề kinh sợ, hoảng hốt khi nghĩ rằng phải chăng tổ tiên hoặc trời cao đã ngầm bảo hộ cho Dị Nhân. Nghĩ đến đấy, Tử Hề bất giác thấy sống lưng sởn gai ốc.




CHƯƠNG XIII

Hậu cung dâm loạn


Sau khi tới Hàm Dương, Dị Nhân đã bắt đầu một cuộc sống xa hoa truy lạc của bậc vương tôn quý tộc. Trong phủ đệ là điện Chiêu Thanh. Dị Nhân giành một khu riêng biệt cho vợ và các tì thiếp sinh họat giống y như hậu cung của vua chúa, người hầu trong đó toàn là cung nữ và hoạn quan; ngòai cửa có quân lính đứng canh giữ nghiêm nghặt. Cảnh tượng này khiến những người đàn ông như Lã Bất Vi ra vào rất bất tiện. Dù ở địa vị Thái phó, nhưng khi vào bên trong vẫn rất dễ bị người ta trông thấy.

Cuộc sống sung túc ở đây khiến cho tinh lực dồi dào và dung nhan kiều diễm của Triệu Cơ hồi phục lại một cách nhanh chóng đến thần kỳ. Thứ ma lực của tình dục ấy như những dòng máu chảy tuần hoàn trong huyết quản của Triệu Cơ từng giờ, từng phút. Mà ngòai vợ là Triệu Cơ ra, Dị Nhân còn có người thiếp tên là Di Hồng, mới đây Dị Nhân còn thu nạp thêm hai người thiếp khác nữa. Thời gian trên giường của Dị Nhân được chia ra cho cả bốn người đàn bà. Giống như ngọn đèn bão, Dị Nhân giao hoan thâu đêm khiến tinh lực, khí huyết hao tổn đến cạn. Cho dù cứ cách năm ba ngày Dị Nhân lại đến "ôn luyện" và "diễn tập" một số "chiêu thức" trên cơ thể của Triệu Cơ, nhưng cái bản sắc "anh hùng" như buổi đầu ở Hàm Đan đã sớm bị mất đi rồi. Đối với Dị Nhân thì tiêu chuẩn tối cao của nữ nhân là mới lạ và xinh đẹp. Triệu Cơ tuy như một tấm gấm thêu rực rỡ nhưng mặc lâu ngày thì cũng không thể nào tươi sáng như lúc đầu. Vì thế, nên khi Dị Nhân và Triệu Cơ ở bên nhau, đã không còn tiếng khanh khanh, ta ta nữa, mọi ý vị đã trở nên chán ngắt. Điều này đối với Triệu Cơ là một sự "trống vắng" lớn. Vì vậy mà có sự xao động mãnh liệt như đào non lấp bể đang xốn xang trong lòng Triệu Cơ. Mỗi lúc như vậy, Triệu Cơ rất khao khát được gặp Lã Bất Vi. Đặc biệt là khi nhớ lại lần đầu tiên chung đụng với Lã Bất Vi, niềm hạnh phúc trong thầm lặng lại bùng lên xen lẫn với cảm giác sợ hãi, và sự khao khát đó càng ngày càng trở nên mãnh liệt hơn. Điều này rất hợp với câu nói: "Nữ nhân tư tiền phu, nam nhân luyến hậu thế." Triệu Cơ muốn lên gặp Lã Bất Vi, nhưng với thân phận là Thái tử phi nhất cử nhất động đều được tiền hô hậu ủng, mọi việ đều gây ra sự chú ý nên Triệu Cơ không dám khinh suất vọng động.

Mặc dù như vậy, nhưng Triệu Cơ vẫn ôm ấp hy vọng và nghĩ trăm phương nghìn kế để tìm cơ hội. Ông trời quả thương người có lòng. Một hôm Triệu Cơ tới phòng khách thấy Dị Nhân và Lã Bất Vi đang nói chuyện với nhau, vô tình Triệu Cơ nghe thấy Lã Bất Vi vói với Dị Nhân rằng: "Điện hạ, đã lâu rồi thần chưa tới Châu Bảo điếm, mọi việc làm ăn chỉ nghe bẩm báo lại qua lời của môn khách tên là Dương Tử, còn tình hình thực tế như thế nào thì rất mơ hồ. Ngày mai thần xin nghỉ một ngày để tới đó một lần xem sự thể ra sao." Hôm sau, Triệu Cơ liền thay đổi y phục và dẫn theo một thị nữ tới Châu Bảo điếm.

Khi Triệu Cơ tới, đã gần buổi trưa, ngòai quầy hàng khách mua đã đứng chật kín. Ánh mắt chăm chú của Triệu Cơ không màng đến những châu báu ngọc ngà ở trên quầy hàng mà chỉ muốn nhanh chóng tìm ra một khuôn mặt quen thuộc.

Trong quầy là một dãy những kẻ làm thuê chuyên tâm dốc sức vào việc tiếp đãi khách hàng. Lần lượt nhìn qua từng khuôn mặt xa lạ, Triệu Cơ đứng ở bên ngòai với sự thất vọng chán chường. Trong giây phút chần chừ ngần ngại, bỗng nhiên Triệu Cơ trông thấy một người hầu bưng tách trà đi qua căn phòng lớn, mở một cánh cửa nhỏ bên trong rồi bước vào đó. Triệu Cơ nghĩ thầm: "Trong đó vẫn còn một căn phòng, chắc là Lã Bất Vi đang ở đấy!"

Nghĩ tới đây, Triệu Cơ liền nảy ra một kế là gỡ một miếng ngọc bội ở trên người xuống, đưa cho người đứng trước quầy hàng và nói rằng: "Đây là món đồ mà hôm qua tôi mua ở đây, nhưng thấy không vừa ý nên muốn đổi lại." Người đó cầm lấy mảnh ngọc bội xem qua, nhìn mặt Triệu Cơ mấy lần rồi nói: "Mảnh ngọc bội này không phải mua ở đây!" Triệu Cơ nói là phải còn người kia thì bảo rằng không phải. Hai người lời qua tiếng lại, rất ồn ào, và chốc lát đã biến thành một trận cãi vã. Khi Triệu Cơ nói, mắt không lúc nào rời khỏi cánh cửa nhỏ kia.

Quả nhiên, chẳng phải đợi lâu, cánh cửa nhỏ đó mở ra, Lã Bất Vi xuất hiện và quát hỏi rằng: "Người nào ầm ĩ thế?" Lã Bất Vi ngay lập tức đã nhận ra khuôn mặt kiều diễm xinh tươi của Triệu Cơ. Liền vội àng biết tội nói rằng: "Thái tử phi, đã mạo phạm!" Vừa nghe nói thái tử phi giá lâm, tất cả khách hàng vội vàng chạy đi hết. Người bán hàng kia quỳ xuống thỉnh tội. Triệu Cơ không thèm để ý tới những chuyện xung quanh và nói với Lã Bất Vi rằng: "chúng ta hãy vào trong nói chuyện."

Lã Bất Vi hiểu ý, cung kính mời Triệu Cơ, chủ tớ hai người cùng vào trong.

Người bán hàng vội kê ghế và bưng trà.

Triệu Cơ dặn dò thị nữ trở về Chiêu Thanh điện lấy một ít tiền tới, vì Triệu Cơ thích một số đồ ngọc ở đây. Sau khi ả thị nữ đi khỏi, Triệu Cơ nhìn Lã Bất Vi với ánh mắt mơ màng. Lã Bất Vi liền đuổi người bán hàng kia đi. Triệu Cơ thấy trong phòng chỉ còn có hai nguời thì như một ánh chớp đã sà vào trong lòng của Lã Bất Vi.

Lã Bất Vi như ôm lấy một ngọn lửa cháy rực, muốn tránh nhưng sợ không kịp liền vội vàng đẩy Triệu Cơ ra.

Triệu Cơ hờn trách nói: "Thái phó, chàng..."

Lã Bất Vi thóai lui mấy bước để giữ khoảng cách với Triệu Cơ. Khoé mắt rưng rưng, vai gầy khẽ động, Triệu Cơ tức tưởi khóc và oán trách rằng: "Thái phó, chàng đã quên hẳn thiếp rồi ư?" Lã Bất Vi nói: "Thái tử phi, đừng trách oan cho ta. Nàng không thấy đây là nơi nào ư? Tai vách mạch rừng, để người ta thấy thì ta và nàng lại không thân bại danh liệt hay sao?"

Lã Bất Vi làm sao có thể quên được Triệu Cơ đây? Triệu Cơ với khuôn mặt kiều diễm, điệu múa phiên chiều mơ màng và tấm thân đẹp tới mức xiêu hồn lạc phách sau khi đã thóat y, luôn ám ảnh Lã Bất Vi ngay cả trong giấc mơ, thậm chí có lúc còn làm cho Lã Bất Vi cả đêm không thể chợp mắt được. Nhưng khả năng kiềm chế của Lã Bất Vi rất vững vàng. Lập nên ông vua của một nước, nghiệp lớn đã thu được nửa giang sơn, cho nên Lã Bất Vi khi hành sự lập ngôn đều rất thận trọng như dẫm trên băng mỏng, nhìn trước trông sau, ông ta không ngừng răn giới, dè chừng bản thân, không thể vì chuyện nhi nữ tình trường với Triệu Cơ mà làm hỏng việc lớn của mình.

Thấy tiếng khóc của Triệu Cơ mỗi lúc một lớn. Lã Bất Vi vội vàng tìm lời khuyên giải, an ủi và bộc bạch tấm lòng rằng: "Thái tử phi, ta làm sao có thể quên được nàng đây. Ta làm như vậy chỉ là lo lắng cho thái tử phi. Hiện tại nàng không chỉ sống trong cảnh giàu sang phú quí mà còn là bậc mẫu nghi của thiên hạ, không thể vì tình cảm vấn vương với Lã Bất Vi này mà đánh mất đi tất cả mọi thứ."

Triệu Cơ âu yếm nói rằng: "Thái phó nói đúng lắm, nhưng tất cả những thứ đó so với sự sung sướng mà ta có được khi ở trên giường cùng với Thái phó thì chỉ tựa như lông hồng mà thôi!"

Lã Bất Vi nói: "Con người ai mà chả như nhau, muôn vật đều có chung một lẽ! chuyện hoan hợp làm gì có người nào chối bỏ? huống gì thái tử phi lại là một mỹ nhân đang độ xuân tình."

Triệu Cơ nhếch mép mỉa mai: "Thái phó nói miệng thì như thế, cứ tưởng là Trời là bể, nhưng khi hành sự lại như một con rùa rụt đầu rụt cổ mà thôi!"

Lã Bất Vi chống chế lại rằng: "Ta đâu phải hạng người có lá gan của thỏ đế. Đó chỉ vì thái tử phi đã gây ra sự chú ý cho mọi người, lại không có chỗ an toàn bí mật, thì sao ta có thể cùng vui vẻ thân tình với thái tử phi đây!"

Triệu Cơ cướp lời hỏi ngay: "Thế nếu như có một chỗ an toàn đến mức người không biết, quỷ chẳng hay thì sao đây?"

Lã Bất Vi đáp: "tất nhiên ta sẽ hầu đáp nàng rồi!"

Triệu Cơ lại hỏi: "Có thực vậy không?"

Lã Bất Vi đáp: "Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy."

Triệu Cơ mừng rỡ ra mặt nói: "Hay lắm! ta đợi câu này của Thái phó từ lâu rồi!"

Lã Bất Vi chịu ưng thuận, chỉ vì muốn khuyên nhủ Triệu Cơ nên thuận miệng mà nói ra như vậy thôi. Nào ngờ đâu, khi ông ta đến cái chỗ người không biết, quỷ không hay mà Triệu Cơ từng nói đến, súyt nữa thì đã rước lấy tai họa sát thân.

Ba ngày sau, vào lúc hoàng hôn, một nữ tỳ trong Chiêu Thanh điện tới tìm Lã Bất Vi. Bất Vi biết người nữ tỳ này, tên gọi là tiểu Thục, một hầu gái thân cận của Triệu Cơ. Tiểu Thục xinh tươi như hoa nở, tâm cơ nhanh nhẹn nên đã chiếm được sự tin yêu rất mực của Triệu Cơ, và cũng là tai mắt của nữ chủ nhân này. Tiểu Thục tới báo với Lã Bất Vi là thái tử phi mời ông ta qua đó.

Lã Bất Vi vừa nghe nói tới đã giật mình kinh sợ vội hỏi: "Có chuyện gì vậy?"

Tiểu Thục nói: "Thái phó tới đó thì khắc rõ."

Lã Bất Vi lạnh lùng đáp: "Ngươi không nói thì ta không đi." Tiểu Thục nói: "Hôm nay thái tử phi tìm thấy một bài thơ âm vận hài hòa, ngôn từ hoa lệ gọi là "Thiền Chi Hoa". Thái tử phi muốn dùng âm luật của nhà tụng để phổ thành nhạc khúc diễn xướng, nhưng không hợp với âm vận bằng trắc của bài thơ đó, nên muốn thỉnh giáo thái phó đại nhân." Lã Bất Vi liếc thấy ngòai cửa, bóng tối đã phủ mờ. Trong hơi sương của buổi chiều tối, tất cả cảnh vật đều đã bị che khuất diện mạo chỉ còn trông thấy những hình khối mơ hồ.

Lã Bất Vi nghĩ rằng đi trong Chiêu Thanh điện vào lúc này có lẽ không gây chú ý cho mọi người, huống hồ gì đây lại là việc chỉ bảo về âm luật. Lã Bất Vi quyết địinh tới chỗ của Triệu Cơ.

Lã Bất Vi đi theo tiểu Thục ra khỏi phủ của mình, nhìn quanh một lúc rồi nghĩ: "Chiêu Thanh điện ở phía đông phủ của mình, nhưng tại sao tiểu Thục lại đi về phía tây?"

Lã Bất Vi bảo tiểu Thục rằng đã đi nhầm hướng, nhà một đằng lại đi một nẻo. Tiểu Thục nói không phải nhầm, Lã Bất Vi nói, ai mà lại không biết Chiêu Thanh điện ở phía đông của Lã phủ. Tiểu Thục nói: "Thái tử phi không ở trong hậu cung của Chiêu Thanh điện. Thái tử điện hạ vừa mới xây cho thái tử phi một phủ đệ mới." Lã Bất Vi nói: "Việc lớn như vậy tại sao ta chẳng biết gì? Phủ đệ mới của thái tử phi ra sao? " Tiểu Thục nói: "Thái phó đại nhân cứ tới đó thì biết liền."

Lã Bất Vi theo tiểu Thục xuyên đường vượt ngõ trong bóng tối ngày càng dày đặc. Bước thấp bước cao một hồi lâu thì tới trước một tòa nhà được bao bọc rừng cây rậm rạp. Lã Bất Vi không thể trông thấy rõ ràng mái nhà hay cổng, bèn bước theo tiểu Thục.

Ngọn nến và đôi mắt của Triệu Cơ đều hướng về Lã Bất Vi long lanh tỏa sáng. Triệu Cơ mừng vui khôn xiết nói: "Thái phó đại nhân tới rồi à!" Tiếng oanh vàng thỏ thẻ của Triệu Cơ vừa tới bên tai của Lã Bất Vi, từng đợt hương phấn son ngào ngạt cũng đã ập vào tới mũi. Triệu Cơ sai tiểu Thục ra ngòai canh chừng xem xét. Lã Bất Vi nhìn quanh sự bài trí trong phòng, thấy rất đơn giản, có một chiếc sạp gỗ, đàn cầm đàn sắt, ghế ngồi, án thư, trên án thư có bày bút mực, sách vở, và bức lụa. Lớp sơn trên các cánh cửa có chỗ đã bong, các bức tường cũng không phải là quét hồ tiêu; lại thêm khung cảnh tĩnh mịch yên lặng như vậy, không trông thấy bóng dáng tiểu Thục ra vào, Lã Bất Vi đoán chắc: "Nơi này đâu phải là phủ đệ mới nào của thái tử phi." Trong thâm tâm Lã Bất Vi chợt nảy ra ý nghĩa: "Đây liệu có phải là nơi bí mật của người không biết quỷ không hay mà Triệu Cơ nói tới mấy hôm trước không?"

Nghĩ tới đây, Lã Bất Vi nói: "Thái tử phi dấn thân vào chốn tồi tàn này làm gì?"

Triệu Cơ thỏ thẻ nói: "Chẳng phải thái phó sớm tối mong có được chốn an toàn tuyệt bí mật hay sao?"

Lã Bất Vi lúc này vừa bị kích động, lại vừa sợ hãi, tiến thóai lưỡng nan, nói rằng: "Làm vậy há chẳng phải là đã phạm phải điều tối kỵ của thiên hạ hay sao?"

Triệu Cơ không trả lời, chỉ "phù" một tiếng thổi tắt phụt ngọn nến ngay sau đó Lã Bất Vi liền cảm thấy hai cánh tay mèm mại tựa như dây mây đã quấn quanh cổ mình...

Đã từ rất lâu rồi, Lã Bất Vi không được trải qua một đêm ngọt ngào. Xiêu hồn lạc phách như vậy. Đêm nay Lã Bất Vi mê mẩn, nhưng vẫn còn suy nghĩ không yên, vì vậy cứ sau mỗi lần cùng Triệu Cơ giao hoan tới suy kiệt tinh lực, Lã Bất Vi lại ước hẹn giờ phút gặp nhau lần tới. Lã Bất Vi luôn cảm thấy thời gian giữa hai lần gặp sao mà ngắn quá, ông ta lo lắng gặp nhau nhiều sẽ bị lộ cho nên cái cảm giác lo sợ tai họa bất ngờ sẽ ập tới lúc nào cũng ám ảnh tâm trí của ông ta.

Triệu Cơ nói như không hề có chuyện gì xảy ra: "Thái phó, chàng chớ nên sợ hãi như chim sợ cành cong làm gì, sự sắp đặt của thiếp không hề có sai phạm! Nơi đây gần thành Hàm Dương, nhưng lại rất hoang sơ vắng vẻ, ít người lui tới, hơn nữa đêm hôm khuya khoắt lại có tiểu Thục canh chừng thì có thể nói là tuyệt đối không hề có gì sơ suất."

Sau vài lần lén lút gặp nhau, Lã Bất Vi cảm thấy để cho tiểu Thục phận quần thoa má phấn canh chừng không được thích hợp cho lắm, liền cử một môn khách tâm phúc tới thay thế, môn khách đó chính là người làm ở Chu Bảo điếm ở Hàm Đan, tên gọi là Triệu Khả Tín, tiểu Thục chỉ làm nhiệm vụ đưa Triệu Cơ tới khi trời sắp tối rồi trở về hậu cung của Chiêu Thanh điện, gần sáng thì lại tới đón Triệu Cơ về. Ba tháng sau, rốt cuộc cũng có người biết được chuyện giữa Lã Bất Vi và Triệu Cơ.

Nguyên là từ khi Dị Nhân và Lã Bất Vi về tới Hàm Dương. Tử Hề, Phạm Tuy liền phái môn khách tới ngầm giám sát. Quả nhiên, một tâm phúc của Tử Hề, một ngọai giáo sĩ từng dạy chó để cắn chết Lã Bất Vi đã đánh hơi được sự bí mật giữa Triệu Cơ và Lã Bất Vi và lập tức báo cho Tử Hề biết. Tử Hề dặn hắn phải kín miệng như bưng, không được để cho ai biết việc này, sau đó, Tử Hề liền tới tướng phủ đem chuyện này bẩm báo với Phạm Tuy. Phạm Tuy nghe xong, trầm ngâm không nói, đưa tay vuốt râu, bước đi bước lại trong phòng rồi hỏi rằng: "Đại công tử, người của ngài có trông thấy rõ ràng không?"

Tử Hề trả lời chắc chắn rằng: "Trông thấy rất rõ ràng."

Phạm Tuy lại hỏi: "Có giữ được bằng chứng đích xác nào không?"

Tử Hề cúng họng không nói được.

Phạm Tuy nói: "Những việc như thế này, nhất định phải có được bằng cớ rõ ràng, thì lúc hành động mới nắm được phần thắng!"

Phạm Tuy có chút nghi ngờ về tin tức mật báo ấy, nên nhất định phải tận mục sở thị mới tin theo. Đợi tới lúc Lã Bất Vi và Triệu Cơ lại lén lúc gặp nhau. Tên ngọai giải sĩ lần trước vội vàng phóng ngựa tới tướng phủ, hơi thở dồn dập, quỳ trước mặt Phạm Tuy nói: "Tiểu nhân trông thấy rất rõ ràng, một trước, một sau bước vào căn nhà ấy!"

Thế là Phạm Tuy và Tử Hề dẫn theo vài môn khách và thị vệ tới thẳng căn phòng đó. Lúc gần tới nơi, thì trông thấy thấp thoán có một người đứng dưới gốc cây, ngó đông ngó tây. Phạm Tuy nói rằng đó có thể là tai mắt của Triệu Cơ và Lã Bất Vi, chớ nên làm kinh động. Bọn họ rón rén nhẹ nhàng tiếp cận với căn nhà đó và nấp trong bụi cây để quan sát động tĩnh. Đến lúc ở phương đông, bầu trời vừa chuyển dần rạng sắc trắng. Theo sau cánh cửa cọt kẹt mở ra, Phạm tuy và Tử Hề mới trông thấy Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang chia tay nhau từ căn nhà đó. Về tới tướng phủ, Tử Hề vui sướng quá độ nói: "Tướng quốc, chúng ta hãy nói việc dâm loạn của Lã Bất Vi và Triệu Cơ cho thiên hạ biết, làm cho bọn chúng nhục nhã, khiến uy tín và thanh danh của chúng chìm xuông đáy bùn nhơ, không dám ló mặt ra với đời được nữa.'

Phạm Tuy nói: "Đại công tử nói sai rồi, chúng ta vất vả lắm mới có được cơ hội ngàn năm khó gặp này, chỉ làm nhục thôi thì dễ dàng cho chúng quá."

Tử Hề nói: "Đây là chuyện trai gái dâm loạn, ta há lại bỏ qua cho chúng sao?"

Phạm Tuy lộ rõ vẻ độc ác nói rằng: "Ta muốn đẩy bọn họ vào chỗ chết"

Tử Hề vội hỏi: "Tướng quốc, ngài lại có diệu kế gì chăng?"

Phạm Tuy nói gằn từng tiếng: "Ta muốn lùa Dị Nhân tới chỗ bọn họ làm trò tồi bại rồi nhân lúc mọi người rối loạn, giết chết Lã Bất Vi và Dị Nhân, sau đó bẩm với Đại vương là chủ tớ bọn họ chỉ vì ghen tuông nên chém giết lẫn nhau. Chứng cớ đều ở đó, chẳng ai có thể nghi ngờ điều gì cả."

Tử Hề lo lắng hỏi rằng: "Liệu Dị Nhân có tới không?"

Phạm Tuy vỗ ngực tự tin nói: "Đối với việc này, Dị Nhân một là sẽ tức giận, hai là sẽ cảm thấy tò mò, nên chẳng có lý gì mà không tới."

Phạm Tuy sai người trong các ngõ hẻm ở gần Chiêu Thanh điện và phủ đệ của Lã Bất Vi, giám sát cả ngày lẫn đêm. Cuối cùng, cũng tới này hẹn hò vụng trộm giữa Triệu Cơ và Lã Bất Vi. Trời vừa xẩm tối, Lã Bất Vi và Triệu Cơ hai người không hẹn mà cùng bước ra khỏi phủ của mình.

Phạm Tuy và Tử Hề nhận được tin báo của môn khách.

Phạm Tuy nắm chắc phần thắng trong tay, nói: "Chớ nên hành động vội vàng, đợi hai canh giờ để cho hai người bọn chúng tay kề gối ấp quên cả thời gian, chúng ta lập tức xông vào mới có thể khiến cho bọn chúng phơi trần trước ánh sáng ban ngày. Sau đso thì..." Phạm Tuy nói xong, liền quơ tay chém một nhát ra lệnh bắt đầu hành động.

Sau một lát, Phạm Tuy, Tử Hề dẫn một đám võ sĩ và môn khách ngựa xe rầm rộ tới Chiêu Thanh điện, xin được vào cầu kiến thái tử điện hạ. Dị Nhân lúc này đang ở chỗ của Di Hồng, đang tahy đồ ngủ. Vừa nghe nói bọn Phạm Tuy, Tử Hề cầu kiến, liền nghĩ ngay tới việc chém giết nên sau một lúc trù trừ do dự, Dị Nhân mới sai người ra bảo rằng ông ta đã đi ngủ rồi, hôm khác hãy đến. Người hầu nói với bọn Phạm Tuy ở ngòai cửa rằng: "Thái tử điện hạ đã ngủ say giấc, xin tướng quốc và đại công tử ngày mai hãy đến."

Phạm Tuy nghe nói liền xông thẳng vào trong, người hầu vội vàng ngăn lại.

Phạm Tuy lên mặt kiêu ngạo nói: "Ta có việc lớn liên quan tới tính mệnh của thái tử điện hạ cần phải bẩm báo gấp!". Nói xong, cả đám người ồ ạt xông vào.

Tiếng huyên náo ầm ĩ ở bên ngòai, làm kinh động tới Dị Nhân, khiến Dị Nhân phải ra ngòai xem đã xảy ra chuyện gì. Vừa trông thấy tình cảnh đó, Dị Nhân lắp bắp hỏi: "Tướng quốc... làm cái gì đấy?"

Phạm Tuy nhảy xuống ngựa, quỳ xuống nói: "Hạ thần có chuyện quan trọng liên quan tới tính mệnh của thái tử điện hạ, cần phải tự mình bẩm báo."

Nghe Phạm Tuy nói vậy, Dị Nhân mới thở phào nhẹ nhàng, sau đó đuổi hết kẻ hầu người hạ ra khỏi phòng rồi hỏi: "Tướng quốc, có chuyện gì? xin cứ nói."

Phạm Tuy ra vẻ trịnh trọng nói: "Việc này là việc riêng ở trong cung của điện hạ, kẻ hạ thần này đáng lẽ ra không nên can dự vào. Song nghĩ đi nghĩ lại, nếu không nói ra thì thực mang tội bất trung với chủ. Hơn nữa, việc này cũng có liên quan rất lớn tới sự an nguy và danh tiếng của điện hạ."

Dị Nhân vội hỏi: "Có việc gì thì hãy mau nói ra đi! chớ đừng có úp úp mở mở nữa!"

Phạm Tuy nói: "Thái tử phi Triệu Cơ và thái phó Lã Bất Vi đã lén lút tư tình với nhau."

Nói xong, Phạm Tuy nhìn chăm chăm vào đôi mắt trợn tròn của Dị Nhân. Không rời một phút.

Dị Nhân thọat đầu thì rất kinh, nhưng sau lại nhếch mép cười nói: "Không phải như thế đúng không? tướng quốc! chắc ngài nghe bọn đầu đường xó chợ nói bậy bạ chứ gì?"

Phạm Tuy trịnh trọng nói tiếp: "Ngay lúc này đây thái tử phi và thái phó đang gối ấp tay kề ở một ngôi nhà gần thành Hàm Dương."

Dị Nhân hỏi: "Tại sao tướng quốc lại biết rõ ràng vậy?"

Phạm Tuy nói: "Thái tử điện hạ không nên hỏi câu ấy mà nên vào Chiêu Thanh điện tìm thái tử phi, nếu như kẻ hạ thần này lừa dối ngài thì xin để trời tru đất diệt."

Dị Nhân vội vàng dẫn một ả thịt nữ đến chỗ ở của Triệu Cơ. Vừa đúng lúc tiểu Thục từ chỗ Triệu Cơ quay về phủ. Dị Nhân ngó không thấy Triệu Cơ, trong lòng tràng ngập nghi ngờ hỏi: "thái tử phi đâu?"

Tiểu Thục thọat nhìn thấy bộ mặt hằm hằm tức giận của Dị Nhân, lập tức tâm thần rối loạn, tim đập loạn xạ, lắp bắp trong miệng nói: "Thái tử phi đi ra ngòai... không, vừa nãy hãy còn ở đây..." Dị Nhân khí nộ xung thiên, quát "rốt cục thái tử phi đi đâu?" Tiểu Thục vội quỳ xuống, tự trách rằng: "Nô tỳ trí nhớ không tốt, tội đáng muôn chết1 có lẽ là thái tử phi đi thỉnh an Hoa Dương phu nhân."

Dị Nhân lập tức phái người tới chỗ Hoa Dương phu nhân kiểm chứng. Dị Nhân vừa đi vừa thắc mắc trong lòng: "nếu như có xảy ra việc cùng thi tại sao mình chẳng hay biết, một tí gì nhỉ? ta phải hỏi Phạm Tuy cho rõ ràng mới được, tại sao hắn lại biết được nhỉ?"

Tiểu Thục nhìn thần thái, điệu bộ của Dị Nhân biết chắc là Dị Nhân đã phát giác được điều gì rồi, nên lập tức đi báo cho Triệu Cơ, để đưa thái tử phi trở về cung ngay lập tức.

Phạm Tuy vừa thấy Dị Nhân quay trở về, liền hỏi ngay rằng: "Điện hạ, có thấy thái tử phi không?"

Dị Nhân không đáp còn hỏi lại rằng: "Tại sao tướng quốc lại biết chuyện đó!'

Phạm Tuy nói: "Tại sao điện hạ thông minh một đời lại hồ đồ một phút thế? Ngài tra hỏi cặn kẽ thế làm gì nào? ngay bây giờ thần xin dãn thái tử điện hạ tới tận nơi để ngài được tận mục sở thị có phải là rõ ràng hơn không?


Dị Nhân thấy lời nói của Phạm Tuy rất hợp lý, liền lên ngựa đi theo bọn Phạm Tuy mà quên tiệt đi chuyện miếng thịt tế tẩm thuốc độc trước đây.

Tiểu Thục cắm đầu chạy cứ vài bước lại nhìn ngang nhìn ngửa. Khi trông thấy những ánh đuốc loang loáng ở đằng sau chạy tới, bèn theo tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần, tiểu Thục thấy lòng nóng như lửa đốt vì biết rằng mình đến không kịp. Bọn Dị Nhân, Phạm tuy cưỡi ngựa, chẳng mấy chốc đã xuất hiện ở phía sau tiểu Thục. Tiểu Thục vội vàng ẩn núp vào bụi cây ở bên đường. Tâm trạng của Dị Nhân rối bời như tiếng vó ngựa. Dị Nhân vừa muốn tới đó để làm rõ ràng mọi việc nhưng cũng sợ việc thái tử phi và thái phó cùng lõa lồ ở đó sẽ làm ảnh hưởng tới tiếng tăm của mình. Lúc đó, bỗng nhiên Dị Nhân nghĩ rằng việc này không nên đi nhiều người theo kiểu tiền hô hậu ủng, chỉ cần ông ta và Phạm Tuy là đủ, để tránh chuyện người đông lắm chuyện, phao đồn chuyện này ra ngòai, nhưng Dị Nhân cũng nghĩ rằng nếu không mang theo hộ vệ tùy tùng, thì lại sợ ở đó có chuyện ám muội, nếu có lâm vào hiểm cảnh thì chẳng có cách nào ứng phó, phòng vệ...

Bụi cát tung lên dưới vó ngựa và ánh đuốc loang loáng chẳng mấy chốc đã lọt vào tầm nhìn của một người. Đó chính là Triệu Khả Tín - người canh chừng của Lã Bất Vi. Đêm hôm khuya khoắt, ai có thể tới đây được nhỉ? e là nhằm vào thái phó và thái tử phi chăng? trong đầu của Triệu Khả Tín vụt qua những suy đoán đó, và rồi cuống cuồng chạy đến bên cửa sổ nói vọng vào với giọng run rẩy: "Thái phó, mau ra đi, có người tới đấy!"

Triệu Khả Tín hoảng sợ gọi liền hai câu, thì Triệu Cơ và Lã Bất Vi trên giường không một mảnh vải vội vàng vật dậy, quơ vội quần áo mặc vào và dọn dẹp giường chiếu. Triệu Cơ như con bọ ngựa ở trên chảo nóng, chân tay lóng ngóng. Lã Bất Vi vừa mặc quần áo chỉnh tề xong liền nghĩ ngay ra biện pháp để đối phó, nhờ vào ánh ao mờ mờ, Lã Bất Vi nhúng ngay bàn tay ào nghiên mực chưa không hẳn rồi bôi lên mặt, rồi nói: "Ta phải đóng vai tay thầy tướng thọt chân mới có thể thóat được tình cảnh này, bất luận là ai tới, nàng cứ nói là xem bói cầu phúc cho Dị Nhân điện hạ."

Triệu Cơ lúc này mới trấn tĩnh lại được nói: "Thầy tướng bôi mặt, đâu thể chỉ bôi mỗi màu đen, phải bôi cả màu nữa chứ!" Nói xong, Triệu Cơ lấy một con dao cắt một đường trên cánh tay của chính mình rồi lấy máu bôi lên mặt của Bất Vi. Lã Bất Vi mở cửa đi ra ngòai, làm cho Triệu Khả Tín đang ngồi chờ đợi dưới ánh sao mờ mờ sợ đến hồn xiêu phách tán. Lã Bất Vi nói: "Đừng sợ, ta bây giờ chỉ là một kẻ bói toán mà thôi!"

Khi ánh sáng của những ngọn đuốc kia chiếu tới chỗ của mình, Lã Bất Vi trông thấy rõ ràng bóng người ngựa nhấp nhô. Lã Bất Vi nói: "Bọn họ cách ta không xa". Triệu Khả Tín muốn cùng với Lã Bất Vi đi vòng ra bụi cây sau nhà để tránh mặt bọn kia. Nhưng Lã Bất Vi cho rằng, kẻ dám tới đây quấy nhiễu nhất định không phải những kẻ tầm thường. Bọn họ đã quyết lùng bắt thì ngươi chẳng thể chạy thóat được đâu. Nếu để họ bắt được chẳng phải là tự mình chui đầu vảo rọ sao. Chẳng bẳng đánh liều đi về phía bọn họ. Triệu Khả Tín nói, đi về phía đó là đi vào tử địa, nguy hiểm bội phần. Lã Bất Vi nói, với kinh nghiệm buôn bán của ta, thì đó mới là sinh lộ trong tử địa, ở trong tuyệt địa mà thu được lợi lộc.

Triệu Khả Tín miễn cưỡng theo, Lã Bất Vi tập tà tập tễnh đi về phía đám người ngựa kia. Khi tới gần, hai người đứng dẹp sang một bên đường.

Lã Bất Vi nghe thấy có người quát: "Đứng lại, ngươi đi đâu đấy?"

Lã Bất Vi không nghe thấy cứ tập tễnh bước đi. Ngay lập tức có người cưỡi ngựa chạy tới giơ ngọn kích ra chắn đường, mượn uy quát hỏi: "Đi đâu đó? đứng lại!"

Triệu Khả Tín trả lời rất rõ ràng: "Là thầy bói thọt, đến thành Hàm Dương xem bói qua đây!"

Phạm Tuy không tin, giục ngựa quay lại nói: "Để ta xem xem". Lã Bất Vi đã nhìn rõ đôi mắt của Phạm Tuy, nhưng vẫn xiêu vẹo bước tới trước mắt của Phạm Tuy. Phạm Tuy nhìn qua, thấy đúng là tên thầy tướng bôi mặt liền quát lớn: "Mau xéo đi chỗ khác, đừng có lảng vảng ở đây nữa!" Sau đó dẫn người lao tới ngôi nhà kia. Lúc gần tới nơi, Phạm Tuy chia người ra bao vây sau trước, rồi đắc ý hỏi Dị Nhân: "Điện hạ, lúc nào thì chúng ta xông vào đây?"

Dị Nhân nói: "vào đó mà làm gì, cứ đợi bọn họ từ trong đó đi ra là rõ hết chứ gì?"

Mọi người đợi ở bên ngòai khoảng hai canh giờ, bên trong vẫn im lìm không tiếng động, không âm thanh. Phạm Tuy đứng ngồi không yên giục: "Điện hạ, hay là chúng ta xông vào trong đó xem sao? đừng để cho bọn họ có cơ hội tự vẫn."

Thế là dưới sự dẫn đường của hai tên thị về cầm đuốc, Phạm Tuy và Dị Nhân đẩy cửa bước vào thì thấy Triệu Cơ quỳ dưới đất như một pho tượng đang lầm rầm cầu phúc. Tất cả đều rất kinh ngạc.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIII

Hậu cung dâm loạn


Phạm Tuy cầm lấy cây đuốc sáng rực, soi quanh căn phòng trống rỗng mấy lần mà không thấy tung tích của Lã Bất Vi đâu, thất sắc hoảng kinh nói: "người đâu?"

Triệu Cơ vờ như không biết hỏi: "Tướng quốc, ngài tới đây để tìm ai vậy?"

Dị Nhân hỏi: "Đêm hôm khuya khoắt, nàng tới đây làm gì?"

Triệu Cơ đáp: "Thiếp thấy sức khoẻ của thái tử điện hạ không được tốt lắm, thân hình ốm yếu, ăn không ngon, ngủ không yên. Nên tự dựng nên một ngôi miếu, cầu trời cho điện hạ an khang, mong trời phật phù hộ điện hạ mạnh khoẻ như rồng như cọp là thiếp mãn nguyện lắm rồi!"

Tình cảnh trước mắt khiến mọi nghi ngờ của Dị Nhân đều tan biến hết. Dị Nhân âu yếm nói: "Ái phi, đêm hôm khuya khoắt lạnh lẽo thế này, tại sao nàng lại ra đây một mình?"

Phạm Tuy lập tức xen vào, soi mói hỏi: "Đúng vậy! thái tử phi sao lại ra đây chỉ có một mình?"

Lời của Phạm Tuy thốt ra vừa dứt, thì từ ngòai cửa có giọng nói trong trẻo vang vào: "Chính nô tì đưa thái tử phi đến đây, nô tì sợ ảnh hưởng tới tấm long thành khẩn của thái tử phi với thái tử điện hạ nên mới núp qua một bên." Kèm theo lời nói là sự xuất hiện của tiểu Thục.

Lúc này, Phạm Tuy cảm thấy xấu hổ vô cùng, bèn đi ra bên ngòai, rút gươm của một tên thị vệ, chỉ vào tên môn khách kia mà trách rằng: "Ngươi tung tin nhảm nhí, hý lộng thái tử điện hạ, ta không thể dung tha!" Tên môn khách kia còn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì đầu đã lìa khỏi cổ.

Dị Nhân, Phạm Tuy đi trong đám đông bao bọc bởi bọn thị vệ và môn khách.

Còn ở nơi giao hoan của thái phó Lã Bất Vi và thái tử Triệu Cơ, chỉ còn lại bầu không gian tĩnh mịch, tăm tối và một vũng máu của tên môn khách vô duyên phải chết oan.




CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Ngày 23 tháng 8 năm 251 trươc Công Nguyên tính theo nông lịch, tại cung Chương Đài sau 56 năm tự vì, Chiêu Tương Vương bị bệnh chết. An Quốc Quân Doanh Trụ lên ngôi, xưng là Hiếu Văn Vương.

Vì chưa phát tang cho Chiêu Tương Vương nên Hiếu Văn Vương không thể cử hành đại lễ đăng cơ. Nhiệm vụ cần kíp nhất lúc đó là an táng Chiêu Tương Vương. Hiếu Văn Vương bàn bạc với quần thần rồi quyết định chọn ngày mồng 9 tháng 9 làm ngày cử hành lễ an táng. Một là vì đây cũng là ngày giỗ của danh sĩ Giới Tử Thôi nước Tấn, các nước chư hầu đều có phong tục cấm đốt lửa để bày tỏ sự thương tiếc; hai là chữ Cửu (chín) đồng âm với chữ Cửu (lâu dài) ẩn tàng cái ý rằng cơ nghiệp của nhà Tần tồn tại mãi mãi cùng trời đất. Bên ngòai chính điện của cung Chương Đài mọit người dựng một linh bằng (nhà rạp dùng cho đám ma) và tất cả mọi người trong cung, ngòai cung hết thảy đều phải mặc áo xô gai. Hai mươi ba người con trai của Hiếu Văn Vương thay nhau túc trực bên linh cữu chịu tang, ngồi bên cạnh chiếc quan tài sặc sỡ là những khuôn mặt đầy ắp vẻ đau thương. Tiếng nhạc hiệu nổi lên như ai oán như khóc thương không hề mệt mỏi. Những văn vũ bá quan triều thần, lời hoàng thân quốc thích tới phúng điếu đi qua linh điện liên miên bất tuyệt. Ở từ rất xa còn có thể nghe thấy tiếng ò e í e.... của khúc nhạc hiếu vọng ra từ trong cung. Một cỗ hiên xa (xe của quan đại phu) phủ toàn màu trắng, kèm theo tiếng cọt kẹt của bánh xe đi thẳng vào cung Chương Đài. Mọi người tỏng cung ai cũng biết người ngồi trên xe là Tướng quốc Phạm Tuy người điều khiển quốc tang. Phạm Tuy ngồi trong xe suy đoán xem ai sẽ được chọn làm người cầm quốc thư thông báo tin buồn cho các nước chư hầu và mời vua của các nước đó đến trước linh cữu phúng điếu. Lão nghĩ thầm, chắc Hiếu Văn Vương sẽ chọn lão. Chiêu Tương Vương là một vị quốc quân vĩ đại của nước Tần, cả một đời chinh chiến xa trường uy danh vang dội; chết đi há đâu lại im hơi lặng tiếng được. Nếu khiến chư hầu các nước dập đầu cúi lạy trước linh cữu thì cũng làm rạng rỡ uy danh của nhà Tần lắm chứ!.

Cỗ Hiên xa của Phạm Tuy chạy vào trong cung Chương Đài rồi dừng lại ở trước thềm điện. Lão xuống ngựa bước tới chỗ của Hiếu Văn Vương đang mắt quầng tóc rối vì cả đêm không ngủ để bẩm báo về dự định mời các nước chư hầu đưa tang, phúng điếu. Hiếu Văn Vương ngồi trước ngự án nói rằng: "Được. Quả nhân đồng ý." Phạm Tuy vừa khom khom lưng lui bước, vừa nghĩ thầm: "Ông vua mới này, dung mạo tầm thường, thân hình khô héo, tinh huyết cơ hồ sắp cạn, làm sao có thể lo liệu nổi công việc triều chính bộn bề đây?"

Rất nhanh chóng, trên con đường thông ra cả bốn phương tám hướng tại thành Hàm Dương, nước Tần phái các sứ giả lên ngựa vung roi, chạy tới các nước chư hầu mau như tên bắn.

Phạm Tuy ra lệnh cho tất cả các dịch trạm, tân quán đều phải để trống, quét cửa sơn tường, lau chùi bàn ghế, để chuẩn bị nghênh tiếp sứ thần và vua của các nước chư hầu. Phạm Tuy tưởng tượng là với cái chết của Chiêu Tương Vương ở nước Tần vĩ đại, nhất định là kẻ đến phúng viếng, sẽ đông như trảy hội, cờ che rợp trời. Nhưng những gì trên thực tế đều hoàn toàn trái ngược với dự đoán của Phạm Tuy. Chỉ có Hoàn Huệ Vương của nước Hàn, nhận được quốc thư của nước Tần là vội vàng mặc áo tang tới Hàm Dương hành lễ của kẻ hạ thần dưới linh cữu của Chiêu Tương Vương. Sau đó thì những người tới phúng viếng không có một quốc quân của nứoc nào nữa cả mà chỉ có những đại thần như Thượng khanh, đại phu, thái phó, tể tướng... hoặc là công tử của các nước chư hầu tới dự. Hơn nữa người tới lại rất thưa thớt vì có nước chư hầu không phái sứ thần sang phúng điếu.

Cả Tần Hiếu Văn Vương và Phạm Tuy đều không thể nào hiểu nổi, lẽ nào Chiêu Tương Vương vừa nằm xuống thì trong con mắt của các nước chư hầu đã không còn coi nước Tần ra gì hay sao? Rốt cuộc là có chuyện gì xảy ra vậy? Chẳng phải đợi lâu thám báo của nước Tần có tin báo về. Nguyên nhân là vì vua Đông Chu dự định lấy danh nghĩa thiên tử triệu tập các nước chư hầu hội minh ở Bình Ấp của nước Nguy, thời gian kéo dài một tháng, bắt đầu đúng vào ngày mồng 9 tháng 9. Nội dung của cuộc hội minh gồm có diễn luyện trận pháp, đua thuyền rồng, nhảy múa, săn bắn, thưởng họa ngâm thơ. Khi vua Đông Chu vừa đề xướng các nước chư hầu lập tức hưởng ứng đông đảo. Tới Bình Ấp sớm nhất là Bình Nguyên Quân và Hiếu Thành Vương của nước Triệu. Hiếu Văn Vương và Phạm Tuy lập tức hiểu ngay rằng, đó là nứoc Triệu mượn các danh phận thiên tử của nhà Chu để khiêu khích và thị uy với nước Tần. Thực ra, nhà Chu từ khi Bình Vương Nghi Cửu dời đô từ Cảo Kinh về Lạc Ấp thì không vực dậy được nữa; đất đai nhà Chu thống trị rất nhỏ hẹp, binh lực lại rất yếu. Còn các nước chư hầu như Trịnh, Tề Tống, Tần, Sở Ngô, Việt... ngày càng cường thịnh tranh nhau xưng bá Trung Nguyên. Trên danh nghxia thì Chu Vương vẫn giữ địa vị chí tôn thiên tử, còn thực tế thì chẳng có tí uy quyền nào đối với các nước chư hầu. Có nước chư hầu mượn danh nghĩa dựng cờ "Tôn Vương" nhưng thực ra là có ý nghĩa "giúp đỡ thiên tử thống lãnh chư hầu". Vua nhà Chu biến thành thiên tử bù nhìn. Đến thời Nản Vương, nhà Chu ngày càng suy yếu, hữu danh vô thực. Không những vương quyền rệu rã mà đất nước cũng bị nước Hàn, Triệu xâm lấn cắt chia đến nỗi lãnh địa bị chia làm hai mảnh. Gọi Lạc Ấp là Tây Chu và Phàm Thành là Đông Chu. Chu Vương đã không còn địa bàn của chính mình nữa. Phải dựa dẫm vào nước khác, ở vùng Lạc Ấp dựa dẫm Tây Chu. Vua nước Đông Chu ở trong tình cảnh nguy vong như vậy nên khi nghe tin vua nước Tần là Chiêu Tương Vương bệnh chết thì vui mừng khôn xiết, cho rằng đây là một cơ hội để chấn hưng lại uy quyền thiên tử của mình. Ông ta phấn khích không cùng cho rằng thần linh đã chỉ cho mình một con đường sáng sủa trong giờ phút tối tăm. Quả nhiên Hiếu Thành Vương nước Triệu cũng cho là việc đổi chủ của nước Tần là một cơ hội ngàn năm có một để thực hiện lại mưu đồ "hợp tung kháng Tần" khi xưa. Hiếu Thành Vương thấy mình không nên xuất đầu lộ diện chiêu binh mãi mã, liền sai người tới kinh đô Lạc Ấp ngỏ lời với vua nhà Đông Chu. Hai bên vừa nói đã bắt tay hợp tác. Thế là, mở cờ gióng trống kêu gọi các nước chư hầu hội minh. Các nước chư hầu với việc vua Tần là Chiêu Tương Vương đánh đông phạt tây, công thành cướp đất, đều thấy lo sợ phập phồng, ngày đêm trăn trở chỉ sợ họa ập đến mình, nên khi Chiêu Tương Vương chết, tất cả đều thở dài nhẹ nhõm. Thấy có người đứng ra dựng cờ kêu gọi chư hầu hội minh chống Tần là tự nguyện đầu nhập. Vua các nước chư hầu đều tự thân đem quân tới hội minh, khí thế ngùn ngụt, ùn ùn kéo về Bình Ấp có tới hơn hai mươi vạn người.

Bình Ấp nằm ở ranh giới nước Tần và nước Nguy. Điều này đối với nước Tần mà nói chẳng khác gì thằng mù mở cửa rước gấu vào nhà. Thi thể của tiên vương hãy còn chưa lạnh mà các chư hầu lại cậy thế mạnh người đông tạo nên một hiểm họa đối địch với nước Tần.

Chư hầu các nước làm như vậy thực là khinh người thái quá, vua tôi nước Tần trên dưới như một, đầy lòng phẫn uất. Có người chủ trương xuất quân thảo phạt Đông Chu, san phẳng Bình Ấp. Có người lại cho rằng việc cần trước mắt là phải phát tang cho Chiêu Tương Vương để cáo úy với linh hồn của tiên vương ở trên trời.

Hiếu Văn Vương, một vị thái tử đợi ngày lên ngôi đã mấy mươi năm trời, trong lúc chống chọi lại muôn vàn khó khăn đó đã đánh mất đi cái chí hướng mưu đồ việc lớn. Thêm vào đó lại sống xa hoa trụy lạc trong cảnh xác thịt má hồng, mới ngòai năm mươi tuổi mà khí huyết đã suy kiệt, trông như một ông già.

Chẳng có được cái di khí hào nghị cương dũng, xông pha chiến trận như các tiên vương. Giải quyết các công việc thì trù trừ do dự, thiếu quyết đoán. Rốt cuộc nên xuất binh thảo phạt hay là an táng tiên vương chẳng thể nào quyết định được, nên chỉ biết triệu tập quần thần lại để thương nghị.

Ánh sáng mùa thu không còn chói chang như mùa hạ, trời nhợt nhạt và không nóng bức. Tiếng khóc than và tiếng nhạc hiếu thê lương buồn thảm không ngừng vang vọng vào đại đường của điện Kỳ Niên. Hiếu Văn Vương ngồi trước ngự án hình dung không quắt, bên dưới và hai hàng văn võ đại thần, cùng với hai mươi ba vị thái tử và thái phó của mỗi người. Lã Bất Vi cũng ở trong số đó. Từ khi tới thành Hàm Dương này, Lã Bất Vi chỉ được gọi vào tham dự việc triều chính có một lần. Hiếu Văn Vương ho gằn vài tiếng rồi yếu ớt nói, vua nước Đông Chu hội minh ở Bình Ấp ca hát nhảy múa, khinh nhờn vong linh của tiên vương, vậy ta phải đối phó với họ thế nào đây. Các quần thần sau một hồi rỉ tai nhau bàn tán mới đưa ra ý kiến riêng của mình. Nhưng bất kể là nói ít hay nói nhiều tất cả đều là những quan điểm cũ. Một phe thì bảo lưu ý kiến phải tiến hành tang lễ trọng hậu trước đã, vì đó mới là việc lớn trước mắt; còn phe khác thì vẫn giữ nguyên chủ kiến là đối với bọn Đông Chu dám giễu võ dương oai trong lúc quốc tang thì phải xuất binh trừng phạt, chứ không thể ngồi im, khoanh tay bỏ mặc được. Hiếu Văn Vương thấy ai nói cũng đều có lý cả.

Dị Nhân bám chặt lấy Lã Bất Vi, yên lặng không nói câu nào, vì vẫn nhớ rõ ràng lời dặn dò của Thái phó là phải tuyệt nhiên im lặng. Không được bừa bãi nói năng. Dị Nhân mấy lần bắt gặp ánh mắt ngăn cản không cho mình được đề xuất ý kiến. Lã Bất Vi biết rằng, ngay bản thân mình lúc này cũng không nên nói gì. Ở chốn triều đình, toàn những bậc đại quan tước cao lộc hậu này đâu có thể lấy thân phận thấp hèn hơn để tham dự vào, huống gì lại chẳng có được mưu kế đáng nể nào.

Lúc này, chỉ thấy hai viên đại tướng bước lên, quỳ trước ngự án đồng thanh nói rằng: "Bọn Đông Chu khinh người cường ngạo như vậy, lẽ nào chúng ta lại chịu nhịn chúng hay sao? Bọn hạ thần mạo muội cho rằng, lũ quân chó má ấy dám khinh ngạo tiên vương, coi thường đại vương. Nếu như đại vương không lên tiếng dạy cho bọn súc sinh này một bài học thì e rằng mọi người thiên hạ đều cho đại vương là hèn yếu, nhu nhược bất tài. Nếu như không xuất quân thì quốc thể của nước Tần sẽ tiêu tan hết, sự tôn quý của đại vương sẽ chẳng còn cả chữ Văn.

Lã Bất Vi đưa mắt nhìn, thì ra là hai viên đại tướng Mông Ngao và Vương Hột.

Lời tấu của Mông Ngao và Vương Hột như một phép khích tướng khiến Hiếu Văn Vương lập tức quyết định tiến quân vào Bình Ấp. Tiễu trừ Đông Chu và những chư hầu hội minh ở đó. Nhưng Phạm Tuy ngăn cản rằng: "Tiên vương vừa mất. Cả nước khóc thương, lòng người chưa định, sĩ khí chưa hăng, còn các nước chư hầu hội minh người đông thế mạnh hơn hai vạn tinh binh, lại còng nóng lòng muốn nhân cơ hội nước ta đổi chủ mà quyết một trận thư hùng. Chúng ta nếu như không suy tính cho kỹ mà cứ mạo muội tiến quân thì tám, chín phần mười sẽ gặp cảnh đầu rơi máu chảy, xin đại vương hãy thu hồi mệnh lệnh!"

Tuy đã coi Phạm Tuy là kẻ cừu thù, nhưng Lã Bất Vi cũng phải công nhận rằng ý kiến của Phạm Tuy rất cao siêu, thực là biết nhìn xa trông rộng. Vì những chuỗi ngọc trước miện của Hiếu Văn Vương che khuất nên Lã Bất Vi không thấy được nét mặt của ông vua này ra sao khi nghe lời can gián của Phạm Tuy. Cho dù Hiếu Văn Vương mỗi khi hành sự thường do dự thiếu quyết đoán. Nhưng trong tính cách của ông ta lúc này sự ngang ngạnh đang trỗi dậy dẫn đến việc ông ta quyết định dứt khóat rằng: "Chủ kiến của quả nhân đã định rồi, Phạm tướng quốc chớ nên can gián nữa làm gì, mà hãy xem phải cử ai làm nguyên sóai thống lĩnh quân đội đây?"

Lã Bất Vi thấy ngay bên cạnh mình, Phạm Tuy mở lớn con ngươi trầm tư suy nghĩ, một lúc sau thì Phạm Tuy tấu lên rằng: "Vừa rồi chỉ là ngu kiến của hạ thần, thấy thấy mình kiến văn thật nông cạn nên rất thành phục trước trái tim quyết đoán của đại vương. Nếu nói tới người làm soái thống binh xuất trận, thì không thể là những hạng thầm thường; dù cho có là những chiến tướng công huân hiển hách, nhiếp phục chư hầu như Vương Hột hay Mông Ngao cũng không thích hợp với việc lãnh chức nguyên sóai thống binh xuất trận, đây không phải là lời nói khoa trương vô căn cứ. Nước ta thay chủ đúng là lúc muôn vàn khó khăn thì phải là một người đức cao trọng vọng trong dòng tông thất họ Doanh mới có thể ổn định lòng quân, chấn hưng sĩ khí, giải tán hội minh, làm mất hồn như muôn nước. Người thích hợp nhất đầu tiên phải là đại vương, nhưng không thể nào thế được vì việc triều chính không thể thiếu vắng đại vương và đại vương còn phài chủ trì lễ an táng cho tiên phụ; thế nên người tiếp theo có thể đảm nhận được trọng trách này chính là thái tử Dị Nhân!" Lời nói của Phạm Tuy vừa thốt ra, các quan lớn bé trong triều đều gật gù, không lời phản đối.

Dị Nhân trở tay không kịp, thần sắc tiêu tan nhìn sang Lã Bất Vi. Lã Bất Vi như hít phải luồng khí lạnh, âm thầm kêu thở, tay Phạm Tuy này quả nhiên tâm cơ giải hoạt, độc ác khôn bì. Hắn nói là do một người đức cao vọng trọng trong tôn thất họ Doanh làm sóai thống binh là rất hợp tình hợp lý, rồi lại đề cử thái tử đảm nhận trọng trách đó thì ai có thể phản đối được. Nhưng trên thực tế là đẩy mình vào chốn rừng đao biển lửa, hiểm họa khôn lường, thực là một mũi tên mà trúng cả hai đích! Lã Bất Vi đưa ánh mắt đăm chiêu của mình chạm vào đôi mắt đầy van lơn cầu cứu của Dị Nhân, khẽ khàng nói: "Xin cứ ngồi yên, chớ nói gì cả!"

Tất cả các quần thần và các thái tử, thái phó đều gật đầu đồng ý đồng thanh phụ họa: "Thái tử cầm quân thực là đúng! thái tử cầm quân hợp lẽ hợp tình!"

Lã Bất Vi biết bọn họ hành động như vậy chắc chắn không phải là can tâm tình nguyện cảm phục Dị Nhân, mà là sau khi nghe sự phân tích thời thế của Phạm Tuy ai nấy đều sợ mình phải cầm quân đi vào chốn rừng đao mũi kiếm, họa ấy tới đầu mà thôi.

Lúc này lời nói của tất cả mọi người đều không còn giá trị mà chỉ đợi một lời của Hiếu Văn Vương.

Hiếu Văn Vương nói: "Thái tử Dị Nhân nghe chiếu, ban cho ngươi làm nguyên sóai, dẫn mười vạn quân tiến về Bình Ấp!"

Lã Bất Vi biết rõ vào thời khắc này, chiếu mệnh của Hiếu Văn Vương không thể nào thay đổi được bèn dục khẽ Dị Nhân rằng: "Mau bước lên nhận chiếu chỉ!"

Dị Nhân bước tới hai bước, rồi quỳ dưới đất, run rẩy nói rằng; "Như thần tuân chỉ!"

Sau khi tan triều. Dị Nhân về điện Chiêu Thanh như kẻ mất hồn. Trong lúc về cung của mình phát hiện thấy có một người bán theo sau. Ngóai đầu nhìn lại thì ra là Lã Bất Vi, liền nghĩ ngay tới cái lần mà Phạm Tuy dẫn mình đi bắt gian phu dâm phụ, tuy không có kết quả gì song ở trong đầu Dị Nhân lúc nào cũng có một bóng đen ám ảnh, thêm vào đó là việc Triệu Cơ đã từng là hầu thiếp của Lã Bất Vi nên có lúc Dị Nhân cũng thấy rất khó chịu.

"Thái phó, tại sao cứ đi theo ta về phủ là thế nào?" Dị Nhân lạnh lùng nói. Lã Bất Vi nói: "Tại sao thái tử điện hạ nhanh quên thế! khi vừa mới ra khỏi cung Chương Đài, điện hạ bảo ta không lúc nào được rời ngài nửa bước cơ mà!"

Lúc này Dị Nhân mới nhớ ra là khi tan triều mình có dặn thái phó như vậy.

Dị Nhân từ xưa đến nay chưa từng tận mắt trông thấy hai bên giao chiến, lại phải thống lĩnh thiên binh vạn mã xông vào hiểm địa, đưa thân vào nơi rừng đao biển lửa, hơn nữa lại là đối đầu với hai mươi vạn tinh binh của các nước chư hầu, điều này khiến Dị Nhân sợ tới kinh hồn lạc phách, chân tay rụng rời. Dị Nhân cảm thấy chỉ có Lã Bất Vi là chỗ dựa duy nhất đáng tin cậy mà thôi. Vì thế cho nên vừa ra khỏi cổng chính của cung Chương Đài ông ta đã nói với Lã Bất Vi như van xin cầu khẩn rằng: "Thái phó, ngàn vạn lần xin ngài chớ rời xa ta." Đối với việc bài binh bố trận, cầm quân đánh trận như thế nào ông ta rất cần sự chỉ đạo của Lã Bất Vi để ban mệnh chỉ huy. Cho dù Dị Nhân có bảo là phải đi theo, nhưng lúc này Lã Bất Vi cũng cảm thấy mình có chỗ sơ suất, đáng nhẽ lúc về cung phải hỏi qua xem có cần về theo không. Nên khi nghe Dị Nhân trách cứ vậy, Lã Bất Vi cũng biết mình cũng có điều thất lễ. Vì vậy, Lã Bất Vi nói với Dị Nhân rằng: "Điện hạ, chúng ta tới chỗ khác nói chuyện!"

Dị Nhân vẫn bực bội nói: "Ở luôn tại đây cũng được."

Sau khi hai người bàn bạc xong, Dị Nhân mới bắt đầu mở mồm chửi rủa Phạm Tuy. Sau đó thốt ra một câu - tanh nồng mùi máu rằng: "Phạm Tuy! ta hận ngươi tới tận xương tủy, ta thề không đội trời chung với ngươi! sau khi ta được lên ngôi thì ta sẽ băm vằm thân ngươi làm muôn mảnh, chém hết cả tam đại, cửu tộc của nhà ngươi."

Lã Bất Vi xoa dịu nói rằng: "Điện hạ, việc gấp trước mắt là phải thực hiện chiếu mệnh của đại vương như thế nào mới đúng. Còn chửi mắng Phạm Tuy chỉ hả giận nhất thời mà chẳng giải quyết được việc gì cả."

Dị Nhân lại quay sang oán trách Lã Bất Vi: "Thái phó, lúc đầu đáng lẽ ra ngài chớ bảo ta đứng ra nhận mệnh vội, thì giờ đây ta cũng có chỗ mà rút lui, nhưng giờ thì tất mọi sự đều đã rồi, mũi tên đã rời cung thì sao có thể quay lại được nữa!"

Lã Bất Vi ôn tồn nói: "Điện hạ, ngài thử nghĩ xem, đại vương vừa mới nắm quyền ở trong tay, việc đầu tiên là phải tuyên bố mệnh lệnh, há lại để cho người khác xen vào, hơn nữa lão quái vật Phạm Tuy lại nói rất hợp tình hợp lý như vậy thì điện hạ sao có thể chối từ được". Dị Nhân thấy lời của Lã Bất Vi cũng rất có lý liền im lặng không nói nửa lời, được một lúc dường như không thể chịu đựng thêm được nữa lại thốt lên: "Thái phó, thế nài thử nói xem, bây giờ ta phải làm như thế nào đây?"

Lã Bất Vi dặn Dị Nhân rằng lúc này nên đến cầu kiến đại vương rồi nói với đại vương rằng, việc lấy mười vạn quân đi đánh lại hai mươi vạn quân thì chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, chỉ chuốc lấy sự thất bại mà thôi. Đến lúc chiến bại, tính mạng của nhi thần chỉ là chuyện nhỏ nhưng thanh danh của đại vương mới là chuyện lớn, sĩ khí của nước Tần cũng bị ức chế, vậy thần xin đại vương cấp thêm cho mười vạn quân nữa. Đó là nước cờ thứ nhất.

Nghe tới đây, Dị Nhân không hiểu hói: "Ngay một lúc mà đòi xin thêm mười vạn binh mã, vương phụ rất khó đáp ứng được."

Lã Bất Vi nói: "Đúng thế! như vậy sẽ xuất hiện cái kiểu mặc cả trên thương trường của ta, ta cố kéo dài thời gian để tìm đối sách và chờ những thay đổi khác."

"Thế còn nước cờ thứ hai như thế nào?"

Lã Bất Vi nói tiếp: "Khi điện hạ nói chuyện với đại vương thì vừa kéo dài thêm thời gian, vừa nói lấy quyền điều binh khiển tướng, chuẩn bị đầy đủ lương thảo quân chung. Tới khi đại vương cấp thêm cho mười vạn binh mã thì chúng ta đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng rồi!" Cứ thế, Dị Nhân trở lại cung Chương Đài, Hiếu Văn Vương cũng biết được cái quan hệ trọng đại trong cuộc chiến với các nước chư hầu, và đang bàn với Phạm Tuy là sẽ phái viên đại tướng nào đi theo. Dị Nhân vừa gặp Hiếu Văn Vương đã đem tất cả những lời mà Lã Bất Vi dặn dò ra nói hết. Hiếu Văn Vương nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi nói: "Đúng vậy, đúng vậy! trận chiến đầu tiên lúc ta lên ngôi nhất định phải giành được thắng lợi. Thế thì ta lại cho con thêm mười vạn binh mã dưới cờ nữa!"

Phạm Tuy can rằng: "Đại vương, ngay một lúc mà điều động nhiều binh mã ở thành Hàm Dương thế thì nhỡ chư hầu các nước nhân cơ hội tiên vương băng hà này tấn công vào đây, thành Hàm Dương há giữ được sao?"

Hiếu Văn Vương nghe Phạm Tuy nói vậy cũng thấy binh mã ở Hàm Dương không thể xuất trận lúc này được.

Dị Nhân viện đủ mọi lý do đòi xin tăng viện. Hiếu Văn Vương nghe xong cũng thấy trận chiến với chư hầu hội minh lần này không chi viện thêm thì không xong. Phạm Tuy vừa mở miệng nói với Hiếu Văn Vương về sự trọng yếu trong việc bảo vệ kinh sư như thế nào, thì ngay lập tức Dị Nhân quay sang cãi nhau với ông ta. Lời qua tiếng lại mỗi lúc một ầm ĩ.

Hiếu Văn Vương nghe một lúc thấy đau đầu loạn óc bèn quát lớn: "Thôi đi! các ngươi hãy lui ra hết cả đi, để cho ta suy nghĩ một chút đã."

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Trên đường trở về điện Chiêu Thanh của mình, Dị Nhân nghĩ bụng: "Mẹo của thái phó thực là thần cơ diệu toán, xem ra việc tấn công Bình Ấp có thể hoãn lại được rồi, nhưng vừa nghĩ tới chuyện vừa rồi chẳng được kết quả gì thì lại thấy rối như tơ vò. Dị Nhân cảm thấy chiếc xe của mình lắc lư chao đảo liền vén rèm ra quát người đánh xe và bọn tùy tùng rằng: "Chạy gì mà nhanh thế, các ngươi thích chết hả!"

Lã Bất Vi tới phủ của mình suy tính rằng khi mà Dị Nhân vâng mệnh xuất quân thì không chỉ có mình phải đi theo mà còn phải đem thêm một số môn khách nữa. Người thứ nhất mà Lã Bất Vi nghĩ đến chính là Tư Không Mã. Lã Bất Vi cảm thấy rằng phải tới chỗ các môn khách ở, để nói rõ mọi chuyện với Tư Không Mã phân tích lợi, hại.

Lã Bất Vi liền đi luôn sang chỗ của các môn khách, chứ không bước vào phòng của mình. Lã Bất Vi nuôi tới hàng trăm môn khách trong nhà, gồm đủ mọi hạng người, nho gia có, hiệp sĩ có, bói toán có, buôn bán có... Trong đó có những người văn võ toàn tài, nhưng cũng không ít kẻ tầm thường. Có những nhân tài khó gặp thì Lã Bất Vi thu làm môn hạ, còn có những kẻ văn dốt, võ nhát lại không biết làm ăn chỉ đến đó với một tấm lòng xin chết vì chủ. Lã Bất Vi cũng giữ lại. Lã Bất Vi biết rằng, muốn họ phong hoán vũ, thống nhất thiên hạ thì phải chiêu hiền đãi sĩ. Nước Triệu có được Lạn Tương Như không chỉ lấy lại được ngọc quý mà còn hòa hợp với Liêm Pha, nên quốt thế vững mạnh và trở thành một trong thất hùng (Bảy nước lớn). Mạnh Thường Quân của nước Tề có được Phùng Hoan mới có thể ở yên lành vô sự trong hang bao lỗ của con thỏ khôn lanh. Nếu như không có Mai Tọai liều mình, hiên ngang uy dũng ở nước Sở thì đâu có chuyện Bình Nguyên Quân và Khỏa Liệt Vương uống máu ăn thề để cứu Triệu... Mà Lạn Tương Như, Phùng Hoan, Mao Tọai lúc đầu cũng đều là những môn khách tầm thường. Vì thế cho nên Lã Bất Vi coi trọng các môn khách này như là thượng khách. Những môn khách thuộc hạng nhất đẳng thì ở tại chốn sang trọng, ngồi xe vung kiếm, ăn uống rượu thịt. Còn đến như bọn phàm phu tục tử, mạt hạng cùng đinh thì cũng được cho ăn uống và tiền bạc hơn cả những kẻ nô tì, phục dịch ở tại trong phủ.

Lã Bất Vi cho rằng Tư Không Mã chính là một kẻ kiêu hùng trong đám thượng đẳng môn khách.

Lúc này Tư Không Mã đang ngồi tiếp đãi một vị khách không mời mà đến. Người này tuy toàn thân ăn mặc trang phục nước Tần nhưng giọng nói thì là khẩu âm của nước Yên, nước Triệu. Đó chính là Triệu Hoảng người may mắn thóat chết cùng Tư Không Mã trong trận chiến ở Trường Bình.

Triệu Hoảng cũng chính là người đi cùng với Hiếu Thành Vương và Bình Nguyên Quân của nước Triệu đến triệu tập chư hầu hội minh ở Bình Ấp. Vua nước Triệu là Hiến Thành Vương và Bình Nguyên Quân không biết tin tức gì về tình hình trong thành Hàm Dương sau khi vua Chiêu Tương Vương qua đời và thái độ của nước Tần đối với lần hội minh của nước chư hầu. Vì thế nên Triệu Hoảng tự xung phong với thành Hàm Dương để thăm dò động tĩnh. Bình Nguyên Quân hỏi Triệu Hoảng có chắc chắn và an toàn không? Triệu Hoảng quả quyết tin rằng là có. Lão nói tuy lã và Tư Không Mã không cùng thờ một chủ, gặp nhau trong trận tuyến giữa Tần và Triệu, nhưng giữa lão và Tư Không Mã còn có tình bằng hữu vào sinh ra tử. Tại Hàm Đan chỗ của Dị Nhân lão trông có ơn hạ thủ lưu tình tha mà không giết Tư Không Mã. Và Tư Không Mã không phải là hạng tiểu nhân lấy oán báo ân, cho dù Tư Không Mã không nói cho lão biết mọi tình hình nhưng cũng không thể báo cho người tới bắt lão được. Lại thêm việc Tư Không Mã đã đường đường chính chính là thủ hạ của thái phó Lã Bất Vi giữ trọng trách nặng nề trong đám môn khách, đối với việc đại sự quân cơ của nước Tần cũng có thể biết sơ đôi chút.

Lúc Triệu Hoảng bí mật xuất hiện trong phòng của mình, Tư Không Mã cảm thấy rất bất ngờ. Triệu Hoảng nói, lần này lão theo Hiếu Thành Vương đến Bình Ấp hội minh chư hầu, lén bớt chút thời gian tới đây thăm bạn cũ. Tư Không Mã thấy Triệu Hoảng đem cả những chuyện bí mật và trọng đại như vậy nói cho mình biết thì vừa cảm thấy Triệu Hoảng đến đây thực lòng vì sự thăm giao nhưng cũng vừa nghi ngờ nên cũng có sự đề phòng.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Tư Không Mã thiết tiệc tẩy trần cho Triệu Hoảng. Hai người cách biệt đã vài năm, có rất nhiều chuyện không thể nào nói hết được. Triệu Hoảng bảo với Tư Không Mã rằng lão đã kết duyên cùng với Khương Đào Hoa và không còn là viên lang trung tầm thường nữa mà là ngự y trong cung ở Tùng Đài. Tư Không Mã nghe Triệu Hoảng tự kể về mình xong liền nói ngay rằng: "Kẻ sĩ ba ngày không gặp là đã thành danh. Vậy hãy uống liền ba chén chúc mừng ngài chứ!" Sau đó Triệu Hoảng liền hỏi Tư Không Mã rằng: "Từ lúc chia tay ở Hàm Đan đến giờ tình hình thế nào? Có thăng quan tiến chức gì không? Có vợ con gì chưa?"

Tư Không Mã nói với Triệu Hoảng rằng mình vẫn như xưa, là một môn khách, cô độc một mình không vợ con.

Nghe xong Triệu Hoảng chà chà... mấy tiếng tỏ ý thông cảm với hoàn cảnh của Tư Không Mã. Sau đó liền ba hoa một hồi về sự giàu sang phú quý ở Hàm Đan. Nói nào là từ khi Tư Không Mã rời Hàm Đan thì đô thành này của nước Triệu đã có thêm bao nhiêu con đường, bao nhiêu tòa lầu cao mái uốn, bao nhiêu trung tâm thương nghiệp phồn hoa. Thấy bộ mặt ra vẻ của Triệu Hoảng, Tư Không Mã rất không bằng lòng nên cũng phóng đại sự huy hoàng và giàu có của thành Hàm Dương, cuối cùng nói thêm một câu "thành Hàm Đan ở nước Triệu của ông so với Hàm Dương nước Tần chúng tôi thì chỉ như gò đống so với núi cao mà thôi!"

Triệu Hoảng phản bác lại nói: "Tôi đã đi hai vòng khắp các đường to, ngõ hẹp ở thành Hàm Dương, những gì trông thấy thì cũng chỉ thế mà thôi. Phải nói rằng ở đây không phồn thịnh huy hoàng bằng Hàm Đan được."

Tư Không Mã giữ vẻ hòa khí nói: "Anh em bọn mình to tiếng tranh luận làm gì, vì ai cũng yêu cái mà mình quý, ai lại không nhìn nước mình bằng con mắt xanh đây!"

"Đúng thế, đúng thế!" Triệu Hoảng tỏ ý tàn đồng rồi chuyển ngay sang đề tài khác: "Vua nước Đặng Chu và hai mươi vạn quân của các nước chư hầu hội minh ở Bình Ấp, có khiến cho văn võ triều thần của nước Tần sợ kinh hồn thất phách không?"

Tư Không Mã thấy câu nói của Triệu Hoảng có ý miệt thị nên mất hết cảm tình, trong lòng nghĩ thầm, mình chán ngấy cái thái độ của tay ngự y nước Triệu này rồi. Nghĩ tới đó, Tư Không Mã buột miệng nói bừa: "câu đó sai bét! huynh không biết chứ. Chiêu Tương Vương chết đi rồi, cả nước Tần đã biến đau thương thành sức mạnh, lại vừa mới mộ thêm khoảng hai mươi vạn tân binh, một lòng thề sống chết đợi ngày ra trận."

"Thực đúng vậy sao? Chỉ vài ngày ngắn ngủi mà chiêu mộ được nhiều nhân mã như thế ư? tôi đi hai vòng quanh thành Hàm Dương tại sao lại chẳng thấy ngựa xe quân lính bài binh bố trận nhỉ?"

"Huynh hỏi câu đó thực quá ngây ngô. Số lượng quân binh là bí mật quân sự, há đâu lại phơi ra trước thanh thiên bạch nhật! mà đã ẩn hết trong rừng cây và các dinh phủ rồi." Tư Mã Không nói như là có chuyện như thế thực.

"Hả!" Triệu Hoảng kêu lên một tiếng kinh ngạc, rồi lại hỏi tiếp: "Nước Tần lúc này đang có đại tang mà các nước chư hầu lại nhảy múa, diễn võ giương oai ở ngay sát biên cảnh. Liệu rằng Hiếu Văn Vương có chịu mà bỏ qua việc đó không?"

Tư Không Mã giả vờ bí hiểm nói rằng: "Mấy ngày hôm nay chỉ thấy văn võ triều thần ra vào cung Chương Đài không ngớt. Nghe nói Hiếu Văn Vương ngày đêm bàn bạc với các quan để tìm kế sách, còn cụ thể ra sao thì không biết được. Nhưng gần đây, triều đình phái Can Quân úy dẫn người đi thu mua những ống tre to và dài nửa mét trở lên cứ rầm rập rầm rập, nên có thể là sắp có đánh nhau rồi."

Triệu Hoảng hỏi ngay: "sao ngài lại biết?"

"Ngài nghĩ mà xem, chỉ có những người đi xa mới dùng những ống tre trúc ấy để đựng gạo thổi cơm chứ, còn quân đội xuất binh đi xe để làm gì? Không thể nào không đi đánh nhau; qua đó cũng biết được nước Tần đi đánh chứ, chắc chắn phải là những chư hầu hội minh rồi." Tư Không Mã khóai chí nói ra những điều mà mình tưởng tượng ra.

Triệu Hoảng lầm bầm nói một mình: "Nói vậy là sắp có chuyện lớn xảy ra rồi!"

Tư Không Mã nghĩ thầm: "Xem ra thằng cha Triệu Hoảng này bị ta gạt rồi!"

Đúng lúc Lã Bất Vi bước vào, thì Tư Không Mã và Triệu Hoảng đã uống được ba tuần rượu rồi. Tư Không Mã giới thiệu ngay với Triệu Hoảng rằng đây là chủ nhân của mình - Thái phó Lã Bất Vi. Còn quay sang giới thiệu với Lã Bất Vi rằng đây là giang hồ Lang Trung Triệu Hoảng người bạn ở Hàm Đan. Triệu Hoảng hơi bối rối, lóng ngóng khấu kiến Lã Bất Vi. Lã Bất Vi cảm thấy quen quen nhưng không nghĩ ra, chỉ nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ sắc lạnh, điều đó càng khiến tâm thần của Triệu Hoảng thêm bất định, cho nên nói chuyện với Lã Bất Vi cứ lúng túng, đầu đuôi chẳng ăn nhập gì với nhau. Nói chuyện qua quýt một lúc Triệu Hoảng xin cáo từ ra về. Sau khi tiễn Triệu Hoảng quay lại, Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã rằng: "Tư Không Mã, người bạn từ Hàm Đan tới của ngươi có đúng là thầy thuốc giang hồ không? Hình như là quân thám báo của nước Triệu."

Tư Không Mã khâm phục nói: "Thái phó đại nhân quả là có con mắt tinh tường! Đó là Ngự y ở trong Tùng Đài, lần này đi theo Bình Nguyên Quân và Hiếu Văn Vương tới Bình Ấp hội minh với các nước chư hầu, nhận sự giao phó của họ tới thành Hàm Dương để dò thám tình hình hư thực. Tôi có mối giao tình sinh tử với người ta..." Nói nới đây Tư Không Mã mới giật mình nghĩ lại lần ở trong núi gần nhà của Đào Hoa. Triệu Hoảng tưởng Lã Bất Vi là Dị Nhân mà truy sát. Nên khi Tư Không Mã vừa nói tới là Lã Bất Vi nhớ lại như in chuyện cũ, và nói không hề che đậy: "Hồi đó ta súyt nữa thì trở thành con ma dưới lưỡi kiếm của hắn và Khương Đào Hoa rồi! tay Triệu Hoảng này hình dáng đã thay đổi nhiều rồi." Tư Không Mã cảm thán nói: "Mới đó đã gần mười năm rồi! năm tháng trôi đi, núi sông còn biến đổi, huống gì là con người." Lã Bất Vi lại hỏi: "Hắn có nói gì về tình hình chư hầu các nước hội minh ở Bình Ấp không?"

Tư Không Mã nói: "Chưa kịp nói tới chuyện đó thì hắn trông thấy Thái phó đại nhân bước vào nên sợ hãi trốn mất rồi." "Hắn về nhà trọ không?" "Không, hắn về Bình Ấp, ở trong phủ của Thái tử tại Tùng Đài, hắn từng có ơn cứu mạng tại hạ cho nên tại hạ không thể không để hắn đi."

Lã Bất Vi vẻ mặt có vẻ khinh mạn nói: "Môn khách võ sĩ các ngươi thực là có tinh thần hiệp sĩ quá nhỉ!"

Tư Không Mã thấy Lã Bất Vi có thái độ ấy liền đem tất cả mọi chuyện mà mình với Triệu Hoảng nói với nhau thuật lại hết cho Lã Bất Vi nghe, rồi nói: "Tại hạ bịa ra chuyện đấy vì nghĩ tới bản thân và thái phó đại nhân cùng thờ thái tử nước Tần; còn việc tại hạ để hắn đi là vì tình bằng hữu. Xin thái phó đại nhân rộng lòng thứ tội."

Lã Bất Vi nhận thấy rằng Tư Không Mã tuy không chịu đem Triệu Hoảng ra giao nộp cho nước Tần, nhưng Lã Bất Vi nghĩ mình không thể thả hổ về rừng đơn giản như thế được, dù thế nào thì cũng phải do thám được tình hình chư hầu hội minh ở Bình Ấp. Nên dù cho Tư Không Mã có làm vậy thì Lã Bất Vi cũng rất vui vì Tư Không Mã tiến thóai có chừng mực, và lại có tính cách hiệp nghĩa can trường.

Sau khi Lã Bất Vi đem chuyện Hiếu Văn Công hạ chiếu sai Dị Nhân làm thống soái lãnh quân đi đánh Bình Ấp thì nói tiếp với Tư Không Mã rằng: "Để cho Triệu Hoảng về Bình Ấp cũng được nhưng chúng ta sẽ tương kế tựu kế để cho nhà ngươi tới đó một chuyến."

Thế rồi, Lã Bất Vi dặn dò Tư Không Mã rất cẩn thận kỹ càng mọi tình huống cần phải đối phó như thế nào. Tư Không Mã vừa nghe vừa gật đầu lia lịa khen hay...

"Thái phó đại nhân, không xong rồi!" Lã Bất Vi đang trầm tư suy nghĩ trong thư phòng thì giật thót tim vì nghe tiếng nói thất thanh hoảng hốt của Dương Tử. Một ý nghĩ vụt qua trong đầu: "Không phải là Tư Không Mã gặp chuyện bất trắc chứ?"

Lã Bất Vi vừa nghĩ tới đó thì trông thấy Dương Tử mặt mày nhợt nhạt nhễ nhại mồ hôi. Trong tiết thu lạnh lẽo như thế này, nếu như không phải là chạy vội vàng và trong lòng bị kích động mạnh, thì không thể nào ra nhiều mồ hôi đến vậy. Lã Bất Vi hỏi ngay: "Có chuyện gì mà khiến ngươi hốt hoảng thế kia?"

Dương Tử liền trả lời: "Lúc nãy tôi từ thương điếm trở về thì trông thấy một đám tang. Chiếc quan tài bọn hầu khiêng rất to lớn và nặng, chạm trỗ rất tinh sảo. Đặc biệt là tấm lụa phủ trên có thêu rất nhiều hình như: hải mã long phi, sóng nổi ba đào, mây hiệu cầu vồng, toàn là những màu sắc rực rỡ. Từ xưa tới giờ tôi chưa từng trông thấy màu sắc nào tươi sáng, rực rỡ như vậy. So với quan tài này thì quan tài của Chiêu Tương Vương còn kém một trời một vực!"

Lã Bất Vi nghĩ thầm: "Khắp nước Tần này, bậc chí tôn chí quý mà không phải là Chiêu Tương Vương, thì ai còn có tài năng hơn đây! ai dám làm quan tài lớn hơn, đẹp hơn đây? hơn nữa, cũng không nghe nói tới ở trong cung có người mất." Lã Bất Vi suy đoán một hồi, trong lòng đột nhiên chấn động, hai cặp lông mày chau lại, giật giật liên hồi rồi tự hỏi: "Hay là Hiếu Văn Vương đây?"

Lã Bất Vi cảm thấy quá rối rắm liền tự mình vào cung Chương Đài để tìm hiểu cho ra lẽ. Lã Bất Vi mặc đồ tang rồi lên xe, vẻ mặt buồn buồn đi tới cung Chương Đài. Xe tới cửa cung, Lã Bất Vi xuống xe đi bộ. Vào thời điểm này, và với thân phận lúc đó của mình, Lã Bất Vi không được ngồi trên xe để đi vào cung điện. Lã Bất Vi liếc nhanh mắt tới chỗ linh cữu thấy ở bên cạnh quan tài của Chiêu Tương Vương lại đặt thêm một cỗ quan quách mới rất là sặc sỡ. Dị Nhân mình mặc đồ tang đang tiếp một nữ tân khách tới phúng điếu.

Dị Nhân vì chưa xuất chinh nên cũng giống như các thái tử khác, thay nhau giữ linh cữu.

Bởi vì sự sặc sỡ huy hoàng của cỗ quan tài mới kia nên tất cả mọi thứ xung quanh nó đều trở nên nhợt nhạt, tầm thường. Lã Bất Vi vừa đi vừa chạy tới, tâm trí vẫn bị hút bởi cỗ quan tài mới kia. Đến nỗi ngay cả những người xung quanh như Dị Nhân, ban nhạc hiếu, vị quân cùng giữ linh cữu cho tới vị nữ tân khách kia cùng những người tùy tòng, tất cả đều không lọt vào tầm mắt của Lã Bất Vi.

Cho đến lúc tới trước cỗ quan tài nọ, Lã Bất Vi mới giật mình sửng sốt. Tuy đã từng làm ăn buôn bán lớn, đặt chân tới cả sáu nước ngòai quan đông, mắt đã nhìn qua không biết bao nhiêu cột kèo chạm trổ ở các phú độ của các bậc quân vương, thái tử, trong những tấm rèm thêu rực rỡ ở trên xa mã của các hầu tước, tướng quân cho đến cả những đồ trang sức của các trang quần thoa má phấn nơi khuê các... nhưng tất cả mọi màu sắc đó, tất cả sự rực rỡ đó còn kém cỗ quan tài này xa về sự tươi sáng huy hoàng. Điều đó khiến cho Lã Bất Vi phải há hốc mồm kinh ngạc: màu trắng thì như ánh trăng như sắc ngọc, từng chỗ ảo mờ; từng đám mây ngũ sắc, từng mảnh sắc chiều hôm sáng đỏ, tất cả đều là cái đẹp của bốn màu tụ lại cứ như khói như mây. Rồi đến hình tượng ngũ linh tượng trưng cho điều tốt của vua chúa như Long, Lân, Quy, Phượng và Bạch Hổ dù đứng, nằm hay bay nhảy tất cả đều sống động như thật; lại đến những kỳ hoa dị thảo cũng tươi thắm rực rỡ, thêm ở đó còn phảng phất tỏa hương...

"Cỗ quan quách này không chỉ được chế tác khéo léo vượt cả hóa công, mà chất liệu, màu sắc còn độc nhất vô nhị; không thể có cái thứ hai trên đời!" Lã Bất Vi cảm thán thốt lên trong lòng.

"Thái phó, lại đây làm quen một chút nào!" Dị Nhân gọi Lã Bất Vi.

Lã Bất Vi quay mình bước tới; đáp lễ vị nữ tôn kính tới phúng điếu kia, rồi ngay lập tức thấy trước mặt sáng bừng như xuất hiện vầng nhật nguyệt. Sự diễn bộ của vị nữ tôn khách này còn vượt lên trên cả sắc màu huy hoàng cỗ quan tài mới kia, mặt như hoa đào, hai mắt long lanh, sống mũi thanh mảnh, môi đỏ như ngậm son.

Dị Nhân giới thiệu rằng: "Vị nữ tân khách tới phúng điếu này là đại thương nhân Thanh quả phụ."

Vị quả phụ họ Thanh này phong tư kiều diễm, trở nên giàu có nhờ kinh doanh Đau Sa, và cũng là một phú thương nổi tiếng cuối thời chiến quốc. Thời kỳ Chiến Quốc, với sự phát triển của sản xuất, sự phân công lao động trong xã hội càng ngày càng rõ rệt, tỉ trọng của kinh tế hàng hóa ngày càng lớn dần. Lọai hình kinh tế hàng hóa này hình thành trên cơ sở thay đổi và sát nhập giữa kinh tế thủ công nghiệp và kinh tế tiểu nông. Vào thời điểm này, thậm chí còn trước nữa, quan niệm về kinh tế hàng hóa của mọi người cũng rất khắc nghiệt. Kinh tế hàng hóa phát triển tới thời Xuân Thu Chiến Quốc thì đã sản sinh ra một nhóm các cự phú. Hầu như các cự phú này đều giàu lên là nhờ đầu cơ tích trữ. Như đại thần Phạm Lãi của Việt Vương Câu Tiễn, như Tử Cống môn sinh của Khổng Tử hay đại thần đại thủy Bạch Khuê của Huệ Vương nước Nguy... tất cả đều giàu có nhờ cách này. Khổng Tự tại sao lại có thể vang danh bốn biển được? Tư Mã Thiên đã phân tích, khảo chứng là cũng có liên quan tới phú thương Tử Cống. Tư Mã Thiên dùng dẫn chứng xác thực để nói rằng Tử Cống từng đọc sách ở chỗ Khổng Tử, sau khi dời chỗ của Khổng Tử đến nước Vệ làm quan, đã dùng phương pháp đầu cơ tích trữ trong công việc kinh doanh buôn bán ở hai nước Tào và Lỗ. Trong hơn bảy mươi môn sinh đắc ý của Khổng Tử thì Tử Cống là người giàu có nhất. Còn như Nguyên Hiếu (tức Tử Tư) thì ngược lại, nghèo đến nỗi ăn không đủ no, lại còn ở trong ngõ hẻm tối tăm ẩm thấp.

Tử Cống ngồi trên xe tứ mã, mang theo nhiều lễ vật, đến các nước chư hầu, nơi nào cũng thăm hỏi, yến tiệc. Nơi nào Tử Cống đến, vua các nước đó đều dùng lễ để đối đãi với ông ta, cách cư xử không có gì phân biệt. Danh tiếng của Khổng Tử có thể lưu truyền khắp thiên hạ là vì trong thời gian Tử Cống chu du liệt quốc đã ca ngợi, biểu dương ông ta. Đây chính là được thanh thế nên càng nổi tiếng vậy.

Một lọai người khác lập nghiệp được nhờ nghề đại thủ công, buôn bán lớn, như y bọn Y Đốn, Quách Tung. Tài sản và sự giàu có của những thương gia lớn này có thể sánh ngang với vua các nước chư hầu. Hàn Phi Tử đã từng đem cái gọi là trên có sự tôn quý của thiên tử chư hầu với dưới có sự giàu có của bọ Y Đốn, Đào Mạt (tức Phạm Lãi), Bối Chúc để đưa ra bình luận. Đến thời kỳ Lã Bất Vi, nhân vật chính của cuốn sách này, họat động thì lại có chuyện từ việc chăn nuôi và khai thác mỏ Đa San (cinabre) mà phát triển lên nhanh chóng. Có người họ Ô tên Khỏa, anh ta mua hàng tơ chỉ cao cấp đem về dâng cho Nhung Vương của bộ tộc du mục. Nhung Vương liền tặng lại cho anh ta rất nhiều gia súc, anh ta lại đem số gia súc đó bán lại với giá rất cao. Trong những kẻ khai thác đa san mà phất lên, thì kẻ đầu sỏ đương thời chính là vị quả phụ Thanh người Ba Thục đang rì rầm trò chuyện với Lã Bất Vi kia. Do bà ta vơ vét của cải làm giàu, tự cương vẻ vì bà ta mà dựng bia lập truyện. Tiết thứ mười một trong cuốn "Hóa thực liệt truyện" (những truyện sinh lợi) của Tư Mã Thiên có chép rằng: "Quả phụ ấy tên là Thanh người Ba Quận, tổ tiên bà ta có được mỏ khai thác đan sa, mưu lợi đã đến mấy đời, gia sản nhiều không thể tính được. Thanh là một quả phụ lại giữ được sản nghiệp của tổ tiên, dùng tiền bạc để bảo vệ mình không bị kẻ khác xâm hại. Tần Thủy Hoàng nhận thấy bà ta là một phụ nữ tiết tháo trong sạch mới đem lễ tân khách đối đãi, lại còn cho xây một tòa nhà gọi là "Nữ hòai thanh đài."

Trong lúc chúng tôi đang giới thiệu một cách đại khái về những tình huống trên thì mối quan hệ giữa Dị Nhân, Lã Bất Vi, quả phụ Thanh đã rất nồng thắm. Lã Bất Vi và quả phụ Thanh đều là những thương nhân lớn có tiếng tăm đối với các vua chư hầu, hai bên cũng đều rất ngưỡng mộ nhau nhưng từ trước tới giờ chưa có ý định liên kết với nhau. Ngày hôm nay hai người không hẹn mà gặp, cả hai đều tiếc rằng gặp nhau đã quá muộn. Đến lúc này, Lã Bất Vi mới hiểu rõ lai lịch của chiếc quan tài màu sắc có một không hai này.

Có thời kỳ, quả phụ Thanh đưa một đội buôn tới quanh kinh đô Hàm Đan nước Triệu để buôn bán. Một lần, trong lúc đến biên giới nước Triệu, đội buôn gặp gỡ đoàn người đi săn của thái tử nước Trịnh, liền đó xảy ra xung đột.

Đội buôn trong tay không có một tất sắc đành bó tay bị bắt. Nhưng lúc đó cái khiến cho thái tử nước Trịnh động lòng không phải là những đồ châu báu, đan sa giá trị liên thành mà là dung mạo tuyệt mỹ của quả phụ Thanh. Trong lúc thái tử nước Trịnh áp giải đoàn buôn của quả phụ Thanh lên đường trở về quốc đô thì cũng chính là lúc gặp đoàn quân của Tần Chiêu Tương Vương đến Hàm Đan tham dự minh hội chư hầu. Quả phụ Thanh không hề biết đó là Tần Chiêu Tương Vương mà chỉ thấy một vị lão tướng oai phong lẫm liệt ngồi trên xe, nàng liền kêu lên mấy tiếng vang động đất trời: "Đại tướng quân, xin cứu mạng!" Chiêu Vương vội sai người lên phía trước hỏi xem có chuyện gì xảy ra, quả phụ Thanh mắt lệ ngấn dòng đem câu chuyện qua đường gặp cướp thuật lại toàn bộ. Tần Chiêu Tương Vương cũng nghe nói ở đất Ba Thục có người quả phụ tên là Thanh rất giỏi buôn bán, hôm nay gặp mặt mới biết người con gái này đi từ bắc xuống nam buôn bán thật không dễ dàng chút nào. Chiêu Tương Vương liền tiến tới phia trước cùng thương lượng với thái tử nước Trịnh, xin thái tử thả quả phụ Thanh ra. Thái tử nước Trịnh nhìn qua nghi trượng và tinh kỳ biết rằng vị tướng quân trước mắt, người mà quả phụ Thanh cầu cứu chính là vua Chiêu Tương Vương nước Tần nên đành phải tuân theo mệnh lệnh. Chiêu Tương Vương còn nói với thái tử nước Trịnh rằng người con gái băng rừng vượt suối, làm công việc buôn bán, gặp cướp, chịu nạn thực là không dễ dàng gì, cầu mong thái tử điện hạ từ nay về sau không nên gây phiền phức. Quả phụ Thanh chưa kịp định thần, liền tiến tới lạy ba lạy trước xe Chiêu Tương Vương muôn vàn cảm tạ. Sau khi chia tay, mỗi người một ngả, quả phụ Thanh mới nhớ ra rằng mình quên không hỏi quý tính đại danh của ân nhân cứu mệnh, có lẽ đã bị những tình huống kiếp nạn không kịp trở tay làm cho u mê cả đầu óc. Bọn thủ hạ của quả phụ Thanh bảo với nàng rằng, thấy qua nghi tượng cờ quạt và tự hiệu thì có thể đó là vua Chiêu Tương Vương nước Tần. Quả phụ Thanh than tiếc không ngớt, quyết tâm đem lễ hậu vào Hàm Dương khấu tạ. Nhưng tiếc rằng việc buôn bán rốt cục lại khiến cho nàng luôn bận rộn chân tay, không thể thực hiện tâm nguyện. Trước đó không lâu, nàng từ nước Lệ buôn bán trở về, nghe tin Tần Chiêu Tương Vương qua đời, trong lòng sầu thảm khôn xiết hối hận vô cùng, lập tức nàng bỏ công việc kinh doanh trong tay lên đường tới Hàm Dương điếu tang. Nàng vừa nhìn thấy linh cữu của Chiêu Tương Vương khác xa với những hình ảnh đẹp đẽ tinh xảo mà nàng tưởng tượng, trong lòng nàng cảm thấy đã phụ ân đối với vị tướng quân nam chinh bắc chiến, một đời rong ruổi trên lưng ngựa. Quả phụ Thanh tự quyết định làm lại cho Chiêu Tương Vương một chiếc quan tài, sử dụng màu sắc nước sơn do chính mình tạo ra. Chất liệu sơn của nàng có đan sa được pha chế bí mật, bề mặt sơn ánh lên màu sắc đẹp đẽ, dẫu nắng thiêu gió thổi cũng không dễ gì làm phai nhạt màu sắc. Nàng thuê một vài người thợ mộc, khắc lên trên quan tài những hình Tinh, Dực, Nguyệt khiến càng thêm lộng lẫy.

Những việc làm của quả phụ Thanh thực sự khiến cho Dị Nhân và Lã Bất Vi cảm động. Khi rời khỏi cung Chương Đài, Lã Bất Vi và Dị Nhân bàn bạc để cho quả phụ Thanh đến điện Chiêu Thanh chỗ của Triệu Cơ nghỉ ngơi chứ không đến nghỉ ở dịch quán hay nhà khách. Nhưng vì Dị Nhân phải túc trực bên linh cữu, do đó Lã Bất Vi dẫn quả phụ Thanh đến điện Chiêu Thanh.

Xe của Lã Bất Vi ở phía trước, xe của quả phụ Thanh ở phía sau, xe ngựa phóng nhanh tới điện Chiêu Thanh. Quả phụ Thanh đầy đặn đẹp đẽ, tài cán và tấm lòng của nàng khiến cho Lã Bất Vi ngưỡng mộ và rung động. "Một người con gái mặt hoa da phấn một thân một mình lại có thể đi buôn bán trao đổi qua các nước, làm rạng rỡ cơ nghiệp tổ tiên sáng lập, vả lại nàng xinh đẹp như hoa như ngọc, sắc đẹp đáng giá, thực là kẻ nữ anh hùng! Nếu như có thể thu nạp con người đó để làm thiếp, vui vẻ với cô ta thì cũng không uổng là một trang trượng phu. Người này trước đây vì Chiêu Tương Vương mà đến viếng, có lẽ là phải lưu lại Hàm Dương một thời gian, vận may trời phú, ta phải tính kế bắt chuyện kết giao qua lại, nếu không đạt được mục đích thề quyết không thôi! Chuyện này có thể bước đầu khó khăn, nhưng ta nghĩ khó khăn cũng chẳng bằng chuyện đưa Dị Nhân từ Triệu về Tần kế vị." Tư tưởng tình cảm của Lã Bất Vi tuy được thả nổi nhưng không phát triển đến mức không tự chủ được, hai cỗ xe nhanh chóng đã đến điện Chiêu Thanh.

Từ lần Lã Bất Vi giả dạng thầy bói thóat hiểm đến nay, đã có một khoảng thời gian rất dài không gặp mặt Triệu Cơ. Nghĩ lại những ngày tháng hãi hùng, hai người đều lo lắng, cho dù có lúc cô đơn, lạnh lẽo, mong nhớ sục sôi nhưng cả hai đành phải kiềm chế không theo ý muốn sống qua ngày để đợi cơ hội sau này.

Chính lúc Triệu Cơ đang đùa vui thân mật với Doanh Chính thì thấy Lã Bất Vi không hẹn mà gặp thì có cảm giác vừa mừng vừa sợ. Trong giây lát Triệu Cơ lại thấy quả phụ Thanh theo sau Lã Bất Vi thì lại cảm thấy rất kỳ quặc. Sau khi Lã Bất Vi nói rõ ý, Triệu Cơ mới biết người khách nữ này là quả phụ Thanh. Bất chợt sau khi nhìn ngắm kỹ càng quả phụ Thanh một hồi, trong lòng Triệu Cơ thốt lên kinh ngạc. Quả phụ Thanh này có đôi mắt như làn sóng mùa thu, cổ trắng như ngó sen, da mịn, xương ngọc, dáng vẻ đoan trang, giống như tiên nữ trên trời giáng lâm xuống cõi trần.

Lần đầu tiên gặp mặt, lại có cả Triệu Cơ ở đó nên Lã Bất Vi tự nhiên không dám có cử chỉ vọng động mà đành phải từ tốn lịch sự cùng Triệu Cơ và quả phụ Thanh hàn huyên. Trong khi đó Triệu Cơ biết quả phụ Thanh giống như một trong nam tử lưu lại trong thiên hạ, ráng sức chèo chống giữ lấy sản nghiệp thì rất lấy làm ngạc nhiên, thứ nhất là vì quả phụ Thanh thuộc lớp nữ lưu, lại có thể ở các nước chư hầu lo việc kinh doanh, chỉ đạo sai khiến những người đàn ông, điều kinh ngạc thứ hai là quả phụ Thanh luôn bận rộn đi lại mệt mỏi, trên chốn phong trần, hao tâm tổn sức nhưng mảy may chẳng biểu hiện vẻ già nua tiều tụy chút nào, mà mười ngón tay vẫn như búp măng, khuôn mặt hồng hào. Triệu Cơ không biết phải xưng hô như thế nào với quả phụ Thanh bèn hỏi tuổi của quả phụ Thanh, quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ rằng nàng thuộc tướng ngọc thỏ, năm nay ba mươi hai tuổi. Triệu Cơ nói: "Chị lớn hơn tôi ba tuổi, tôi gọi chị là chị Thanh." Quả phụ Thanh như vừa được nhận ơn huệ vừa lo sợ, liên tục xua tay và nói: "Như vậy không được, phu nhân là thái tử phi, xin phu nhân cứ gọi tôi là Thanh thôi." Triệu Cơ nói một cách trách móc: "Nếu vậy phải xem mặt nhau, tôi già hơn chị, chị cứ gọi tôi là tỷ nhưng tuổi trẻ là do thiên địa xếp đặt chẳng phải ý người, thôi thì cứ như vậy thôi."

Trong khi Triệu Cơ và quả phụ Thanh vì chuyện xưng hô mà nhún nhường thì Lã Bất Vi đem dung mạo hai người để so sánh, Lã Bất Vi thấy khoé mắt của Triệu Cơ đã phảng phất xuất hiện những bết nhăn hình đuôi cá mà trong khi đó khoé mắt quả phụ Thanh vẫn phẳng phiu nhẵn bóng, không thấy được những dấu tích của cuộc sống phiêu bạt. Lã Bất Vi cảm thấy quả phụ Thanh tuy không có sự trong trắng chất phác của người thiếu nữ, cả tâm hồn lẫn thể xác thực là một người ung dung tự tại, nhưng đó là cái đẹp thể hiện đầy đủ khiến trái tim con người dễ rung động.

Triệu Cơ nhìn thấy ánh mắt si mê của Lã Bất Vi với quả phụ Thanh thì hoàn toàn không vui vẻ. Thêm vào đó, quả phụ Thanh là do Lã Bất Vi đưa tới nên lệ tràn đầy mắt thầm nghĩ: "Quả phụ Thanh đi khắp đó đây, giao kết hầu hết với bọn đàn ông, sợ rằng đây là con quỷ phóng đãng của bọn người rác rưởi. Nhưng bộ dáng liếc mắt đưa tình giữa quan thái phó và nàng ta thì dẫu quá khứ chẳng ô tạp cũng khó giữ được tình cảm phu thê từ nay về sau không thành sương khói."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Khi Triệu Cơ nghĩ như vậy, trong phút chốt hứng thú nói chuyện đã trở nên nguội lạnh, Triệu Cơ khẽ ngáp một cái rồi quay sang nói với Doanh Chính đang quấn quýt bên đầu gối: "Chính nhi, đừng quấy rầy trong này nữa, ta mệt lắm rồi."

Triệu Cơ nói như vậy Lã Bất Vi và quả phụ Thanh mới chú ý đến Doanh Chính. Doanh Chính tuy vừa tròn bảy tuổi nhưng hình dáng to lớn, đầu tròn như đầu hổ. Không chỉ mặt mũi có hình ảnh của Lã Bất Vi mà vẻ khôi ngô cũng như sức mạnh dường như cũng thừa nối Lã Bất Vi.

Lã Bất Vi kéo Doanh Chính lại hỏi một câu đầy ẩn ý: "Nữ thương gia đất Ba Thục, nàng xem Doanh Chính lớn lên có giống thái tử điện hạ không?"

Quả phụ Thanh đương nhiên là không rõ ý tứ của Lã Bất Vi, cứ nhìn Doanh Chính lại nhìn Lã Bất Vi và nói một cách giễu cợt: "Tôi thấy công tử điện hạ lớn lên trông rất giống với thái phó đại nhân."

Kẻ nói vô tình, người nghe thấu ý, Lã Bất Vi vội dùng nét mặt tươi cười không được tự nhiên để che lấp vẻ bối rối. Triệu Cơ trong lòng sợ hãi, hai gò má ửng lên như đám mây hồng buổi chiều tối.

Quả phụ Thanh không chú ý đến những cảnh ấy, bế Doanh Chính lên âu yếm, đùa vui cười nói với Doanh Chính không ngừng.

Lã Bất Vi thấy rằng không còn chủ đề thích hợp để cùng hai người đàn bà kia đàm đạo, nếu như lại còn lưu lại ở đó thì có thể sẽ để lại ấn tượng háo sắc khiếm nhã, liền đứng dậy cáo từ.

Nếu như Dị Nhân không đến, Doanh Chính sẽ ngủ cùng Triệu Cơ. Buổi tối hôm nay nếu quả phụ Thanh qua đêm ở đây thì Triệu Cơ sợ rằng quả phụ Thanh ở lại sẽ làm mọi người chen chúc chật chội một chỗ, nàng nghĩ nvaayj liền bảo nữ tỳ đưa Doanh Chính đi ngủ, nhưng Doanh Chính khăng khăng một mực không nghe theo.

Quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ không cần phải ép buộc, Triệu Cơ có thể đặt thêm một giường nữa ở bên ngòai. Triệu Cơ đối với quả phụ Thanh cũng chẳng nồng nhiệt gì, lại thấy nàng ta cứ khăng khăng như vậy cũng đành thuận ý, bảo bọn nữ tỳ bày thêm giường và chăn đệm ở bên ngòai phòng ngủ của mình. Quả phụ Thanh không muốn đi ngủ sớm, ý muốn cùng vị thái tử phi có cơ hội nói chuyện cởi mở vể những câu chuyện của người con gái trong nhân gian.

Nhưng thấy Triệu Cơ có vẻ lạnh nhạt thờ ơ thì cảm thấy rất kỳ lạ, tự suy đoán: "Không biết có phải cử chỉ lời nói của mình thất lễ đã đắc tội với vị thái tử phi tôn quý này ư?" Nghĩ đi nghĩ lại, đột nhiên nàng mới nhớ ra câu nói công tử lớn lên giống thái phó của mình đã khiến cho thái tử phi buồn rầu. Nghĩ đến đó, nàng liền tới trước mặt Triệu Cơ, đau khổ chau mày nói: "Thái tử phi, chúng tôi là những kẻ buôn bán thô tục thiếu lễ, nếu có câu nói gì mạo phạm, xin người rộng lượng tha thứ." Thực ra Triệu Cơ khi đó cũng hơi khó chịu với câu nói đó, nhưng lại không hề để bụng. Thậm chí Triệu Cơ còn cảm thấy thích thú với câu nói đó, nhưng nó lại khiến cho Triệu Cơ nhớ lại những ngày tháng hạnh phúc đã qua. Sở dĩ Triệu Cơ lạnh nhạt với quả phụ Thanh thứ nhất là vì Dị Nhân đã để cho một nữ thương gia xưa nay không quen biết đến nghỉ ở trong cung. Triệu Cơ cảm thấy điều này là một sự xúc phạm lớn. Thứ hai vì Lã Bất Vi cùng với quả phụ Thanh sắp xe song hành đến thì biết đâu lại không có những cử chỉ đưa tình đối với người nữ đồng hành xinh đẹp nhưng lẳng lơ này. Triệu Cơ chẳng thèm lưu tâm tới câu nói đầy ân hận của quả phụ Thanh, bèn nói một cách miễn cưỡng: "Mọi người đã mệt rồi, mau đi ngủ sớm thôi."

Nghe Triệu Cơ nói như vậy, quả phụ Thanh biết ý liền đi ra nơi đặt giường và để nguyên quần áo ở bên ngòai mà nằm. Doanh Chính từ lúc nhìn thấy người khách mới nghỉ tại đây thì không còn hứng thú đi ngủ bèn đi lang thang khắp trong phòng. Thấy quả phụ Thanh chưa thay đồ thì cảm thấy rất lạ, liền hỏi Triệu Cơ: "Mẫu hậu, sao thím kia không thay đồ đi ngủ?"

Nghe Doanh Chính hỏi như vậy, Triệu Cơ không tin, liền đi ra ngòai xem, quả nhiên đúng là như vậy. Nàng thầm nghĩ: "Chả lẽ người đàn bà này cho là chăn chiếu của ta không được sạch sẽ?"

Quả phụ Thanh cũng không ngủ được, thấy Triệu Cơ đi tới bên giường liền vội ngồi dậy. Triệu Cơ hỏi một câu lạnh lùng: "Chị Thanh đi ngủ sao không thay quần áo chẳng lẽ sợ chăn chiếu của tôi làm bẩn người chị ư?"

Quả phụ Thanh chợt thấy Triệu Cơ xuất hiện vội vàng cúi người thi lễ rồi nói: "Thái tử quá lo rồi, một thương nhân nhỏ bé như chúng tôi lại có thể cùng ngủ chung phòng với thái tử phi thì thực là cái phúc ba đời vậy. Giường chiếu chăn đệm trong này toàn là đồ tốt quý mà lại dùng để che phủ lên cái thân thô tục của tôi thì sợ rằng có sự đảo lộn nghi lễ trong cung."

Triệu Cơ hỏi: "Vậy vì sao chị lại mặc quần áo đi ngủ?" Quả phụ Thanh đáp: "Tôi sợ rằng nếu thay quần áo bên ngòai sẽ khiến thái tử phi chê cười."

Triệu Cơ càng không hiểu rõ lại hỏi: "Thay quần áo sao lại chê cười?" Quả phụ Thanh nói: "Thái tử phi đã hỏi đến vậy thì tôi dứt khóat phải thay đồ rồi." Vì quả phụ Thanh đến Hàm Dương là để điếu tang nên mặc bên ngòai là bộ quần áo lụa màu trắng. Nàng tháo đai quần, lắc nhẹ cánh tay, chiếc quần lụa trắng lặng lẽ rớt xuống để lộ ra một chiếc quần lụa hoa quê nhà bên trong.

Triệu Cơ đã hiểu ra vội nói: "Chị Thanh nghĩ thật chu đáo, sợ mặc những màu sắc quá rực rỡ này sẽ khinh nhờn đến vong linh Chiêu Tương Vương ư?" Quả phụ Thanh khẽ lắc đầu, đau khổ nói: "Xin thái tử phi cầm bộ quần áo này của tôi lên xem xét kỹ lưỡng."

Đây là một chiếc áo dài màu tím, bên trên thêu đầy những hình vẽ như hoa, lại như rồng uốn, lại giống như bằng chữ màu vàng da cam. Triệu Cơ nhìn một lúc nhưng không ra được là hình gì.

Doanh Chính vỗ tay vui mừng nói: "Mẫu hậu, hình thêu trên áo của thím là chữ."

Triệu Cơ tập trung tư tưởng nhìn lại một lần nữa quả vậy, trên chiếc áo đều là những chữ màu vàng cam "nữ nhi giữ thân mình như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng." Cô tự lẩm bẩm một mình "nữ nhi giữ thân mình như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng."

Triệu Cơ đọc xong lặng im trầm tư suy nghĩ.

Quả phụ Thanh nói một cách thẳng thắn: "Phi tử đã hiểu rõ chưa? từ bên ngòai nhìn vào cuộc sống của chị thật sung sướng vinh hoa phú quý, cơ nghiệp huy hoàng, chị sống cuộc sống xa hoa vô độ, đi xe tứ mã, người hầu kẻ ở khắp nhà, tiêu tiền như rác, chị có thể gặp mặt các chư hầu, ngang hàng với họ. Đừng nói là thân phận đàn bà con gái, ngay cả các đấng mày râu cũng không có phúc hưởng cuộc sống của chị. Mọi người sùng bái chị, tôn trọng chị, dâng biếu chị của ngon vật lạ, ngưỡng mộ đấy nhưng cũng đầy lòng đối kỵ! Nhưng có ai biết rằng đằng sau vẻ bên ngòai từng trải dầy dặn và phát đạt lại chất chứa những đau khổ uất hận ủca một người phụ nữ! Những cái khác chị không nói, chị nói tới một số quan gia, phu thương hào thân, họ thèm thuồng nhan sắc của chị nhẹ thì họ cợt nhả cười đùa sàm sỡ, nặng thì động tay chân còn có cả người thì cưỡng ép chị chung chăn chung gối với họ. Có những lúc vì việc làm ăn buôn bán mà không thể cự tuyệt họ, đành phải nuốt căm phẫn mà chịu đựng, cũng có lúc chị phải mắng chửi họ một cách cay độc. Không còn cách nào khác nên chị may chiếc áo này, thêu lên những chữ đó để thông báo với các bậc nam nhi trong thiên hạ rằng: quả phụ Thanh chị đây bán hàng chứ không bán thân, phẩm hạnh đáng giá ngàn vàng! Phi Tử, em đã nghe nói về đại thi hào khuất Nguyên người nước Sở chưa? Vị tả đồ của Sở Hòai Vương này phong cách đạo đức mũ áo đàng hoàng1 Nhưng do chịu lời gièm pha hăm hại của bọn Tử Lan Cận Thương mà phải nhảy xuống sông Mịch La chết oan ức. Tuy chị học hành không nhiều, nhưng chị rất thích bài thơ ca tụng cây quýt của ông ấy, mỗi lần đọc chị vẫn cảm thấy vô cùng thích thú, chị muốn đọc đi đọc lại. Ông ấy đã chỉ cho chúng ta học tập tấm gương của cây quýt, hoa quýt trắng tinh khiết thơm dịu, nội dung của nó chân thật mà hợp lý mà xung quanh nó lại đầy những sự châm chích! cứ nghĩ đến những điều này, trong lòng chị lại trào lên những cảm xúc, để chị đọc cho phi tử nghe một đoạn:

Hậu hoàng gia thụ
Quýt
Thụ mệnh
Sinh Nam Quốc
Thân
Càng
Lục diệp.

Quả phụ Thanh bị tình cảm của đoạn thơ trên chi phối, nước mắt trào ra, không sao kìm lại được.

Lòng đố kỵ từ trước tới nay của Triệu Cơ với chị ta bỗng chốc tan biến, một sự kính nể bỗng dâng lên từ đáy lòng cô, "Chị Thanh, em hiểu rồi, những chữ thêu trên áo chị màu vàng cam là do quả quýt có màu như vậy có đúng không?" Quả phụ Thanh gật đầu.

Lúc này, Doanh Chính cũng không còn dáng vẻ của một đứa trẻ bướng bỉnh nghịch gợm nữa. Nó trầm ngâm nói: "Những lời lẽ huy hoàng của thím, phẩm cách trong sáng của thím quả thực đã làm cháu mở tầm mắt, tăng thêm cho cháu ý chí chiến đấu. Khi nào cháu làm vua nhất định cháu sẽ phong hầu, bái thím làm thừa tướng, mời thím tham dự triều chính; không những thế còn phải lập bia để biểu dương đạo đức tốt đẹp của thím!"

Triệu Cơ quở trách: "Thằng nhóc kia, chẳng hiểu cái gì cả, đừng có mả nói lung tung!"

Doanh Chính ngẩng đầu lên nói: "Mẫu hậu, không được nói như vậy, con cũng sắp trưởng thành rồi. Khi con làm vua, con nói một là một, hai là hai. Nhất định con sẽ lập bai biểu dương thím."

Quả phụ Thanh nói với Triệu Cơ: "Doanh Chính tuy có hơi ba hoa một chút nhưng rất có chí hướng, tài cao sau này ắt có đất dụng võ."

Mấy câu của quả phụ Thanh quả thực làm cho Triệu Cơ như nở từng khúc ruột. Vẻ mặt Triệu Cơ rạng rỡ, nhưng ngay lập tức có chuyển vẻ mặt đắc ý thành nụ cười nói: "Chị Thanh, chị em mình đã trở thành chị em gái thân mật rồi, việc gì còn phải ngồi ở hai phòng riêng biệt nữa!"

Cuối cùng hai người phụ nữ cũng ngồi chung trên một chiếc giường cùng nhau tâm sự một cách tâm đầu ý hợp.

Tiếng gà gáy báo sáng đã lan khắp thành Hàm Dương. Ở phía đông đã bừng sáng, dần dần lan tỏa ra khắp bầu trời. Những ý nghĩ đan xen nhau đã làm Lã Bất Vi mất ngử cả một đêm. Lúc thì là gương mặt trong sáng như đá thạch lựu, đôi môi tươi tắn của quả phụ Thanh, gây cho ông ta những ham muốn, lúc thì là gương mặt trầm ngâm của Tư Không Mã đang đi giữa những lều quân của các chư hầu ở Bình Ấp; lúc lại là cảnh của Dị Nhân đang bước lên xe dẫn trăm quân nghìn mã xung phong vào trận mạc... Tất cả những ý nghĩ lẫn lộn ấy thi nhau dày vò Lã Bất Vi làm ông ta trăn trở không sao ngủ được. Chỉ tới khi dùng xong bữa sáng ông ta mới cảm thấy hơi buồn ngủ lúc này có môn khách vào báo, có nữ thương nhân quả phụ Thanh đến cầu cứu.



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Lã Bất Vi bỗng cảm thấy như tỉnh hẳn, đứng bật dậy nói: "Mau mời vào! mau mời vào!"

Khi những tôi tớ và môn khách còn đang tập trung ở phòng ngòai, xe của quả phụ Thanh đã dừng trong sân lớn. Có một nô tỳ mặt mũi thanh tú bước xuống xe trước, vén rèm xe, lúc đó quả phụ Thanh xinh đẹp như vẻ mới từ từ bước xuống, Lã Bất Vi để ý thấy cô ta vẫn mặc cái áo trắng mặc trong lễ phúng viếng ở cung Chương Đài ngày hôm qua.

Lã Bất Vi vừa dẫn quả phụ Thanh vào phòng khách, vừa suy tính nên làm cách nào để lấy lòng người đẹp này. Sau khi đã ngồi yên ở trong phòng khách hàn huyên vài câu, Lã Bất Vi nói với quả phụ Thanh, vốn dĩ ông đã muốn mời cô ta vào trong phủ đàn hát yến tiệc một bữa, tiếc rằng đúng vào lúc vua Chiêu Tương Vương mất đi không thể mạo muội được, lần đầu tiên gặp mặt không biết cách nào để tỏ ý kính trọng, ta bèn chọn trong đống quần áo, trang sức dự phòng của thê thiếp vài bộ quần áo dâng tặng, mong đừng cười chê.

Quả phụ Thanh mỉm cười rộng lượng: "Được nhận quà của thái phó đã là rất vinh dự đối với ta rồi."

Lã Bất Vi vội vàng sai người đem đến mấy bộ quần áo mới, đẹp, hiếm quí đưa đến trước mặt quả phụ Thanh.

Lã Bất Vi khiêm tốn cung kính nói: "Cũng không biết có vừa với quí nương không?"

Quả phụ Thanh nói: "Thái phó học rộng tài cao, thấy rõ cả tình hình biến động của các nước, nói chi đến việc ước lượng độ dài rộng của một bộ quần áo. Vậy để ta thử xem." Nói xong bèn lấy một cái áo được đặt trên bàn gấm sau khi nhìn quanh một lượt tất cả các tôi tớ trong phòng nói: "Mời các vị tạm bước ra ngòai."

Tôi tớ và môn khách dần dần lui ra hết, còn một mình Lã Bất Vi tiến thóai lưỡng nan không biết làm thế nào. Ông cảm thấy trực tiếp nhìn một người con gái thử áo quần thì có phần đường đột. Đúng lúc ông ta cất bước định đi, quả phụ Thanh nói: "Thái phó đại nhân không thể đi được, ta còn phải nhờ đại nhân xem hộ có vừa không."

Lúc này Lã Bất Vi mới như tỉnh cơn mê trong lòng mừng thầm quả phụ Thanh một mình giữ ông ta ở lại là có ý với ông ta, cho ông ta một cơ hội. Vậy không thể để tuột khỏi tay ông ta quyết định phải tận dụng cơ hội này.

Quả phụ Thanh đã cởi xong cái áo trắng bên ngòai. Lã Bất Vi nhân lúc đó vội vàng tiến lại gần.

Quả phụ Thanh cố ý nói bộ quần áo ta đang mặc không được tử tế lắm, không biết có làm thái phó đại nhân cười không. Kỳ thực ngay trong lúc tiếp xúc với Lã Bất Vi ngày hôm qua, quả phụ Thanh đã cảm thấy Lã Bất Vi có những ham muốn và mưu đồ đối với mình. Ngày hôm nay cô ta nhận được sự ủy thác của Triệu Cơ đến bàn với Lã Bất Vi một số việc quan trọng, suốt đường đi cô luôn lo lắng, e rằng bị rơi vào cái thòng lọng của Lã Bất Vi. Tới phòng khách cô nhìn thấy vẻ mặt tươi cười như bắt được của của ông ta thì càng cảm thấy ông ta đang có một mưu đồ gì. May sao ông ta lại tặng cô quần áo trang sức, cô cảm thấy đây là một cơ hội tốt để cô dùng những chữ thêu trên áo của mình để cảnh cáo Lã Bất Vi.

Lúc đầu Lã Bất Vi chưa nhìn ra được những chữ thêu trên áo của quả phụ Thanh, ông ta cũng hơi hồi hộp với những hình thêu lạ kỳ đó, tới khi nhìn rõ thì rất kinh ngạc. Quả phụ Thanh này quả nhiên là người tướng mạo hành vi đoan trang, xinh đẹp mà có trí tuệ. Cô ta dùng những chữ thêu trên áo "nữ nhi giư thân như ngọc, nam nhi tự tôn tự trọng" để đưa ra một lời cảnh cáo ngầm đối với ông ta, không được có những ý nghĩ sai trái đối với cô ta, phải thật thà từ ý nghĩ, ánh mắt cho tới hành động. Những chữ thêu ấy giống như một gáo nước lạnh dập tắt ngọn lửa ham muốn đang cháy trong đầu Lã Bất Vi, làm ông ta tự cảm thấy khó xử và xấu hổ.

Rất nhanh chóng Lã Bất Vi giấu đi được những cảm xúc thật, ông ta quyết tương kế tựu kế, thể hiện mình là một đại trượng phu không ham tửu sắc. Ý nghĩ luôn trong sáng đúng đắn.

Lã Bất Vi làm ra vẻ không nhìn ra những chữ thêu trên áo của quả phụ Thanh, nói một cách khác đúng đắn nghiêm túc: "cái áo này của quí nương không hẳn là không tử tế nhưng những hình thêu lộn xộn của nó làm người ta rối mắt. Khổng Tử đã nói nam nữ thọ thọ bất thân, mong quý nương mau mặc quần áo chỉnh tề, ngồi xuống nghiêm chỉnh để tránh người ta gièm pha dè bỉu, để không tổn hại đến sự tu dưỡng bấy lâu của quý nương, tổn hại đến danh tiếng vốn trong ngọc trắng ngà của quý nương."

Quả phụ Thanh không ngờ được là Lã Bất Vi lại lái câu chuyện sang hướng này. Trong khi cô nhận thấy Lã Bất Vi đã nhìn ra những chữ thêu trên áo. Cô nghĩ rằng vị thái phó này không che dấu được thái độ hợac là phải tự cảm thấy vô cùng xấu hổ với chính bản thân mình, nếu không thì cũng phải quay ra tán tụng ca ngợi cô. Cô không hề nghĩ rằng vị thái phó này lại có thể thay đổi tình thế trong chốc lát, giả ngây giả dại quay ra răn dạy cô. Ông ta không chỉ che dấu được những ý nghĩ sai trái của mình mà còn giữ được lễ nghi và sự tôn nghiêm của một bậc đại trượng phu. Cô cảm thấy khi Dị Nhân lên làm vua nước Tần, vị thái phó này không những sẽ được bước lên cầu vồng quyền cao chức trọng, mà còn có thể quát gió gọi mây oai phong dữ dội, thâu tóm triệu chính khiến cho nước Tần như rồng điểm mắt sẽ dần dần nuốt lấy thiên hạ.

Quả phụ Thanh cũng là người thông hiểu quyền mưu, đối diện với sự phản ứng bất ngờ của Lã Bât Vi với sự răn dạy bề trên của ông ta cô cũng không hề mất thần thái. Cô nói một cách bình tĩnh không kiêu ngạo cũng không hề tự ti: "Thái phó đại nhân quá lo rồi, quả phụ Thanh ta đi đứng nghiêm chỉnh hành vi đoan trang lẽ nào chỉ vì thay một cái áo mà chịu sự dèm pha?"

Nói xong quả phụ Thanh lại từ từ thay sang cái áo trắng của mình, xếp lại cái áo Lã Bất Vi vừa tặng đặt trên bàn gấm nói: "Tấm chân tình của thái phó đại nhân nhận thì hổ thẹn, từ chối thì bất kính, sau này quả phụ Thanh ta nhất định sẽ báo đáp."

Lúc này Lã Bất Vi mới nghĩ tới việc quả phụ Thanh này vốn dĩ không hề có tình ý gì với ông ta, chả nhẻ là cô ta đến đây là do sự ủy thác của Triệu Cơ rằng có việc gấp phải cùng ông ta bàn bạc.

Quả phụ Thanh đã ăn mặc lại chỉnh tề, nô dịch tôi tớ ai vào việc ấy, đến lúc đó bà ta mới nói rõ ý định của việc viếng thăm ngày hôm nay. Vốn là đêm qua nói chuyện với Triệu Cơ bà ta được biết thi hài của vua Chiêu Tương còn chưa lạnh chư hầu các nước đã tập hợp tại Bình Ấp để liên kết đồng minh, tổ chức ăn mừng ngay ở cửa ngõ nước Tần, dương oai diễu võ, thật là bọn chúng khinh người quá đáng. Bà ta là một thương nhân được ân huệ của vua Chiêu Tương, bà ta cũng không thể chịu được cảnh này. Để đối phó với liên hiệp đồng minh của các chư hầu ở Bình Ấp. Quả phụ Thanh định tổ chức lễ viếng cho các thương nhân ngay tại Bình Dương, mời phú gia hào kiệt và các nhà buôn lớn của các nước đến nước Tần phúng viếng, nhằm nâng cao uy phong của Tần quốc đồng thời dập tắt ý chí của các chư hầu.

Triệu Cơ hoàn toàn đồng ý với dự định của quả phụ Thanh nên đã bảo bà ta đến tìm Lã Bất Vi để thương lượng.

Lã Bất Vi nghe quả phụ Thanh nói xong, cảm thấy đây quả là một kế có thể nâng cao uy thế quốc gia, động viên dân chúng và quân lính, dập tắt mọi hành động của kẻ phản nghịch. Ông ta nhìn quả phụ Thanh với ánh mắt khâm phục nói: "Dám hỏi phú thương làm thế nào để tổ chức lễ viếng?"

Quả phụ Thanh nói như đã được tính toán sẵn trong đầu: "Thái phó ta và ông đều lưu lạc trong thế giới thương nhân lâu rồi, đều có những người bạn tâm giao chí cốt, chúng ta lên tiếng mới không dám nói là thiên hạ đều hưởng ứng, cũng chắc chắn là bạn bè sẽ về tự họp chúng ta chỉ cần định sẵn ngày giờ tổ chức lễ phúng, ông sai người đưa thứ tới bạn của ông, tôi sai người đưa thư tới bạn của tôi. Triệu Diên phụ trách việc lo tổ chức lễ, phải thịnh soạn một chút. Những vị phú thương, những nhà buôn lớn kia không thể đến tay không mà nhất định phải mang lễ vật hậu hĩnh dâng cho nước Tần. Như vậy Tần quốc vừa thể hiện oai phong vừa thu được lễ vật, há chẳng phải là một mũi tên trúng hai đích hay sao."

Lã Bất Vi vôi vàng tán thưởng: "Diệu kế, diệu kế!"

Từ xa, Tư Không Mã đã nhìn thấy những lều vải chi chít như quân cờ ở trong Bình Ấp.

Vài cây lau, cây sậy khô để dáng mệt mỏi mọc ngay bên cạnh những trạm dịch đến Bình Ấp. Thường ngày thì có rất ít dấu vết người qua lại, thỉnh thoảng mới có dấu xe ngựa đi qua. Vậy mà mấy hôm nay lại không như vậy, mấy trăm nghìn cỗ chiến xa của các chư hầu đang từ khắp nơi tới, phân ngựa rải dầy khắp đường, nước đái ngựa như mưa tưới lên trên khiến cho một mùi tanh khét bay đầy khắp đây làm người ta phát nôn mửa khi bắt đầu đi tới đoạn đường này. Tư Không Mã bị cái mùi đấy làm cho đau đầu chóng mặt đi qua một đoạn mới thấy bình thường lại.

Khi sắp vào tới thành Bình Ấp, Tư Không Mã nhìn thấy một xe vận chuyển lương thực đang bị sa lấy dưới hố bùn, mấy người lính đã được vũ trang toàn bộ đang vừa dùng hết sức kéo xe lên vừa hò hét ngựa. Nghe giọng nói của họ, Tư Không Mã thấy cũng gần giống thổ âm của Lã Bất Vi. Ông ta đoán rằng họ chắc là người nước Vệ. Tư Không Mã nhìn thấy hướng xe được quay ra từ phía Bình Ấp cảm thấy rất lạ: "Chư hầu vẫn còn ở trong thành Bình Ấp tại sao lại chở quân như ra bên ngòai."

Tư Không Mã nghỉ một lúc, rồi tiến lên phía trước giúp mấy người lính nước Vệ đẩy xe bò ngựa.

Ông làm việc cật lực để lấy đẩy cái bánh xe đã bị chìm xuống bùn lên trên đường toàn thân ông ta ướt đẫm mồ hôi và nước bùn. Những người lính nước Vệ vốn quá mệt mỏi nay thấy Tư Không Mã giúp mình giải quyết khó khăn liền người nọ bảo người kia mời Tư Không Mã nghỉ một lát rồi lấy rượu thịt ra thết đãi.

Tư Không Mã vừa uống rượu vừa nói chuyện với họ, được biết những xe quân nhu này được đưa từ Bình Ấp sang Bộc Dương của nước Vệ. Ông ta cảm thấy rất lạ, liên hiệp đồng minh chư hầu các nước kéo dài trong một tháng nay vừa được mấy hôm đáng lẽ phải vận chuyển một số lượng lớn lương thực từ các nước đến Bình Ấp mới phải. Nước Vệ ở đây lại hoàn toàn ngược lại, chở lương thực từ Bình Ấp về Bộc Dương.

Tư Không Mã hỏi thăm mấy người lính nước Vệ có chuyện gì xảy ra, mấy người lính ấy mỗi người nói một cách. Rằng liên hiệp đồng minh kéo dài một tháng nhưng mới họat động mấy ngày mà đã có vẻ hết việc, về phần các chư hầu phải ở cái thị trấn hoang vắng này thì đã chán ngán trăm phần; lại đúng lúc vua Triệu Hiếu Thành lâm bệnh, thể lực suy yếu không thể cúng lo việc hội họp của các chư hầu, cũng phải nhanh chóng trở về Hàm Đan còn quân Đông Chu thế tàn lực mỏi chỉ biết thấy quân nước Triệu làm gì thì làm. Tình thế này liên hiệp đồng minh chỉ kéo dài được mười hôm, chư hầu sứ giả các nước phải thu quân về hết.

Tư Không Mã nghe xong cảm thấy vô cùng kinh ngạc, đây là tin tình báo quân sự vô cùng quan trọng. Ông giữ thái độ như không có chuyện gì xảy ra từ biệt mấy người lính thúc ngựa chạy về Bình Ấp

Tư Không Mã vào Bình Ấp một lúc lâu mới tìm thấy Triệu Hoảng.

Tư Không Mã đến làm Triệu Hoảng vô cùng bất ngờ, dẫu sao cũng là bạn cũ, Triệu Hoảng đã bầy tiệc rượu ở trong lều quân khoản đãi Tư Không Mã. Triệu Hoảng nói một cách rào đón với Tư Không Mã. Bây giờ đại vương của đệ đang bị đau bụng, để phải lo việc khám và điều trị, vô cùng bận rộn, không thể thiết đãi đại ca lâu. Nếu đại ca có việc quan trọng cần phải nói rõ, tiểu đệ nguyện làm trâu ngựa để giúp đỡ đại ca.

Tư Không Mã thở dài nói: "Bữa đó sau khi hiền đệ đi khỏi chỗ ta, trong lòng ta quả thực đấu tranh dữ dội. Ta theo thái tử điện hạ, thái phó đại nhân đã mười mấy năm rồi chịu khổ chịu cực, vào sỉnh ra tử ta đã được cái gì? hay là chỉ là một thằng tay sai vặt gọi thì đến bảo thì đi. Ta thiết nghĩ muốn một bước lên mây thăng quan tiến chức vùn vụt chi bằng đổi chủ, từ bỏ chỗ tối đi đến chỗ sang, đến bên vua Triệu Hiếu Thành mưu sự nghiệp giúp đỡ cho vị anh minh quân chủ này, nhất định sẽ có ngày hơn hẳn người khác."

Tư Không Mã nói xong ngửng lên nhìn Triệu Hoảng.

Triệu Hoảng hỏi: "Những lời đại ca vừa nói có phải là sự thật?"

Tư Không Mã liền nói: "Quân tử nhất ngôn tứ mã nan truy."

Triệu Hoảng nói: "Đại vương của đệ bây giờ ngọc thể bất an qua mấy hôm nữa có chuyển biến tốt, đệ sẽ bẩm với đại vương."

Tư Không Mã nói: "Vậy lúc nào ta nghe được tin chính xác của hiền đệ."

Triệu Hoảng gập đầu ngón tay tính toán một lúc nói: "Nửa tháng sau."

Tư Không Mã nghĩ tới câu chuyện mấy người lính nước Vệ nói trước khi vào thành rằng mười ngày sau chư hầu các nước sẽ rời Bình Ấp trở về liền cố ý thăm dò: "Vậy nửa tháng sau ta vẫn đến đây tìm hiền đệ à?"

Triệu Hoảng nói: "Không, ở Hàm Đan."

Tư Không Mã làm ra vẻ không hiểu được nói: "Hiền đệ vẫn ở đây cùng vua Triệu và các chư hầu tổ chức liên hiệp đồng minh vậy ta đến Hàm Đan tìm ai?"

Triệu Hoảng cẩn thận nhìn quanh quất một lát nói với vẻ bí mật: "Liên hiệp đồng minh các chư hầu chỉ tổ chức mười ngày là ai về nước ấy!"

Tư Không Mã gật đầu với vẻ ngạc nhiên nói: "Vậy phải giữ lời nhé, nửa tháng sau gặp lại ở Hàm Đan."

Tư Không Mã từ biệt Triệu Hoảng, sợ làm lỡ mất thời gian nên vội vàng đến chợ Bình Ấp mua một con tuấn mã tốt nhất, lên ngựa phóng một mạch quay xe về Hàm Dương.

Lã Bất Vi biết được tin tình báo liên hiệp các chư hầu chỉ kéo dài trong mười ngày lòng vô cùng vui mừng, vội vàng lên xe đi thẳng tới điện Chiêu Thanh.

Dị Nhân nhìn thấy vẻ mặt quá sức vui mừng, dáng điệu quá sức ung dung của Lã Bất Vi vội hỏi: "thái phó hà cớ gì mà vui mừng vậy?"

Sau khi Lã Bất Vi khởi bẩm với Dị Nhân tin tức tình báo liên hiệp đồng minh các chư hầu chỉ kéo dài mười ngày, đã tự quyết định: "Điện hạ cần xin đại vương phái quân sĩ tới nửa mười vạn quân này hoàn toàn có thể đánh thắng một cách gọn ghẽ! vào hôm các chư hầu tan họp điện hạ hãy khởi binh điều quân, tới khi đến Bình Ấp quân Đông Chu và các chư hầu còn lại đã mỗi người một ngả, còn vài trăm binh sĩ của nước Nguy còn lưu lại ở Bình Ấp thì cũng không chịu nổi, chỉ cần thấy đại binh của Tần quốc tiến vào đã bủn rủn chân tay bỏ thành mà chạy. Điện hạ không cần tốn một giọt mồ hôi đã lập được công lớn. Đại vương và các văn võ bá quan ai mà biết được các chư hầu đã tan hội trước mà còn cho rằng điện hạ có tài dùng quân như thần!"

Vào ngày thứ mười của cuộc họp liên hiệp đồng minh các chư hầu ở Bình Ấp, Dị Nhân và Lã Bất Vi giáp trụ chỉnh tề lên xe khởi hành từ cung Chương Đài.

Vua Chiêu Tương còn chưa nhập liệm, Tần quốc đã phải đối phó với các nước chư hầu. Dị Nhân thống lĩnh đại quân rất có chí khí, tiếng trống hùng hồn và những tiếng kèn của đám tang đem đến cho người ta có cảm giác cái chết như là được quay về nhà vô cùng khí khái hào hùng. Vua Hiếu Văn tự mình đưa quân Tần ra khỏi thành Hàm Dương, và tự mình dập đâu bái lậy trời đất. Vì thái tử là sóai nên thái phó và nhiều môn khách khác, đều phải phụ gía xuất chinh, Lã Bất Vi đứng bên cạnh cổ chiến xa của Dị Nhân tạm biệt vua Hiếu Văn và thành Hàm Dương một cách đầy luyến tiếc, mười vạn đại quân nườm nượp rời khỏi biên giới nước Nguy tiến về Bình Ấp. Đúng như dự đoán của Lã Bất Vi quân Tần đến gần Bình Ấp thì trời gầ tối sương mù che khuất cả mặt người, mấy trăm quân sĩ nước Nguy đang giữ thành quá sợ hãi ôm đầu chạy trốn như chuột. Dị Nhân thống lĩnh mười vạn quân Tần không tốn một ít sức lực đã chiếm gọn Bình Ấp. Lã Bất Vi đề nghị Dị Nhân cử quân sĩ an ủi nhưng người dân nước Nguy vô cùng sợ hãi không dám ra khỏi cổng, vì vậy trong suốt đêm không xảy ra một sự lộn xộn nào.

Ngày thứ hai, mặt trời vừa ló lên phía đông, Dị Nhân cử hơn một vạn quân úy ở lại giữ Bình Ấp. Còn mình và Lã Bất Vi dẫn đầu quân Tần ca khúc khải hoàn trở về. Ở thành Hàm Dương đêm qua vua Hiếu Văn nhận được tin chiến thắng đưa đến từ sáng sớm đã triệu tập văn võ bá quan nghênh đón ở cổng thành. Phần đông người không biết được thời gian Dị Nhân tiến quân và thời gian các chư hầu tan họp là trùng nhau, thi nhau ca ngợi Dị Nhân nhìn xa trông rộng dùng binh như thần. Chỉ có Phạm Thư, Tử Hề và một số người khác là không cho như vậy do họ đều cảm thấy chua xót ở trong lòng. Khi đại quân của Dị Nhân về tới Hàm Dương trời đã chính ngọ, các dấu chân ngựa và bụi mù mịt che phủ đất trời. Phần đông các chiến binh đều mang nổi nhớ quê, vừa nhìn thấy thành Hàm Dương nguy nga tráng lệ đã reo hò một cách vui mừng. Tiếng thúc ngựa hòa theo tiếng gió vọng vào vách núi truyền đi vang dội cả một vùng, cờ xí rợp trời, gió thổi dập dờn như sóng biển.

Ca khúc khải hoàn hùng hồn tráng lệ đã làm vua Hiếu Văn cảm thấy phấn chấn trong lòng. Những mệt mỏi do lo việc tang cho cha và nước mắt khóc tang trong chốc lát đã tan biến hòa theo không khí vui mừng chiến thắng ở bên ngòai. Lúc Dị Nhân bước từ chiến xa xuống, quì lạy trước mặt ông, ông vội đỡ Dị Nhân đứng dậy, vui vẻ hỏi: "Con trai ta anh hùng, đánh thăng trận, nâng cao uy phong của nước Tần, dập tắt ý chí của các chư hầu."

Sau khi về tới cung Chương Đài đã thiết tiệc để Dị Nhân tẩy trần. Bởi vì vẫn trong thời gian lưu giữ linh cữu của vua Chiêu Tương nên tiệc rượu phải hết sức thanh đạm, không được múa hát đàn ca. Ngày mai lại là ngày tổ chức lễ phúng cho các thương nhân, thương nhân các nước mang theo vàng bạc lễ vật dáng vẻ cát bụi dặm trần tập trung bên ngòai cung Chương Đài. Vua Hiếu Văn, Dị Nhân, Phạm Thư, và quả phụ Thanh đại diện cho chủ nhà tiếp đãi bạn bè, tạ ơn đáp lễ... Ở địa vị thái phó, nhìn thấy những việc này trong lòng Lã Bất Vi mừng thầm tăng thêm nhuệ khí cho ông ta. Hai việc đại sự là chiếm Bình Ấp và tổ chức lễ viếng cho các thương gia đã khiến cho từ vua tới các nông dân ở các ngõ nhỏ trong thôn xóm đều biết đến đức tài của Dị Nhân, tiếng tăm lan đến chư hầu của các nước, củng cố địa vị thái tử của Dị Nhân một cách vững chắc và lâu dài.

Tin chiến thắng ở Bình Ấp và vẻ náo nhiệt đông đúc ở lễ viếng của các phú thương đã có thể làm cho vua Chiêu Tương chết nhắm được mắt, ngậm cười nơi chín suối, cái chết của một vị vua nước Tần đã hoàn thành nghiệp lớn được cử hành rất long trọng hợp với lễ nghi. Hai nghi thức được làm đầy đủ. Quán, hạ, tắm xôi nước, ngậm cơm khắc, thiết trọng, tiêu táng, tiểu liệm, đại liệm đồ cúng, quàn, bói cỏ thi, táng nhật, hạ quan tài xuống huyệt, hạ ráng, tuần táng, vẫn ca, đồ chôn cho người chết, quan quách, bia mộ, khóc, vải bọc. Mặc dù nước Tần đã sớm ra quy định nghiêm cấm nghi thức tuẫn táng, nhưng quân vương thì không nằm trong trường hợp ấy, có sách nói: trong di chúc trước khi chêt của vua Chiêu Tương có viết: tuẫn táng một trăm chín chín người. Sỡ dĩ ông ta quy định số người tuẫn táng là có căn cớ nguyên do của nó thiếu một người nữa là đủ hai trăm, ý nói rằng là thiếu một chút nữa thôi là tiêu diệt được các nước chư hầu thống nhất thiên hạ. Ông ta vừa tuyên bố rõ ràng công tích to lớn của mình, lại cảnh cáo răn đe con cháu mình đời sau không được coi nhẹ, mà phải tiếp tục cố găng để hoàn thành đại nghiệp để bẩm báo với vong linh ông trên trời.

Lễ tang của tiên đế được làm một cách trọn vẹn, vua Hiếu Văn không ngừng sửa chữa cải chính sách giống như dòng chảy quanh co ngoằn ngoè, nhưng nhanh và liên tục. Đại xá tội nhân, mở cửa vườn cấm, mở tiệc tiễn đưa binh lính và quan khách, chữa sách của các nước chư hầu, tăng thưởng cho các trọng thần của tiên vương, những người có công trong việc thu phục Bình Ấp và tổ chức lễ phúng cho các thương nhân.

Từ trước đến nay có nhiều sự việc xảy ra đối với Lã Bất Vi giống như là những làn khói, nhanh chóng bị rơi vào dĩ vãng. Nhưng việc ban thưởng cho các trọng thần của tiên vương và những người có công trong việc thu phục Bình Ấp và tổ chức lễ viếng cho quần thương đã để lại cho ông ta những ấn tượng sâu sắc. Ông nhớ rất rõ, buổi trưa hôm đó ánh mặt trời ở cung Chương Đài sáng lấp lánh, vua Hiếu Văn không còn vẻ bệnh tật mệt mỏi ủ rũ nữa, tinh thần ông rất phấn chấn ngồi lên trên điện. Lã Bất Vi ngồi cách vua Hiếu Văn chỉ có mấy bước chân. Ông có thể nhìn rõ cái lư lương đang cháy đặt trên ngự án, nhìn rõ cả chuỗi ngọc trên mũ vua và cả cái yết hầu đang lên xuống. Theo sự lên xuống của cái yết hầu ấy phát ra giọng nói: "Thái phó Lã Bất Vi theo giúp thái tử Dị Nhân. Việc tổ chức lễ phúng cho quần thương hôm nay có thành tích rất lớn, quả nhân đặc biệt ban thưởng mười sáu cấp tước." Lã Bất Vi hiểu rõ rằng ở nước Tần từ cấp một "công sĩ" đến cấp mười hai tước vị "tuất hầu", so với các bậc thái phó khác là ông hơn hẳn họ. Nhưng để đạt đến cấp cao nhất của "triệt hầu" tước vị cấp bốn thì cũng phải cần tới bốn mươi năm thời gian nữa. Trong lúc còn đang nhẩm tính về số mệnh của mình, Lã Bất Vi mơ hồ nghe thấy vua Hiếu Văn nói đến một lọat các tên khác. Phạm Thư, Tử Hề, Hoa Dương Quân, Mông Ngạo, quả phụ Thanh...

Sau khi tan triều, Lã Bất Vi đi ra khỏi đại đường, ánh sáng huy hoàng lúc ở sân lớn của cung Chương Đài vẫn nhảy múa trong đầu ông.

Lã Bất Vi vẫn còn đang chìm trong hạnh phúc vì được phong tước, về tới phủ vừa ngồi xuống ở trong phòng khách thì một nô dịch vào báo cáo thái tử Dị Nhân tới. Lã Bất Vi vội cung kính đón tiếp, mời Dị Nhân vào phòng khách.

Nhìn thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của Dị Nhân, Lã Bất Vi kinh ngạc hỏi: "Thái tử điện hạ, hà cớ gì mà người buồn bực vậy?"

Dị Nhân hỏi lại: "Thái phó ngươi vẫn chưa hiểu ra à?"

Lã Bất Vi nói: "Bất Vi ngu muội khởi mong điện hạ chỉ bảo."

Dị Nhân nói với giọng bực tức bất bình: "Đại công Tử Hề có tài có đức gì mà được ngang bằng, cũng được thăng mười ba cấp."

Dị Nhân vừa nói như vậy, Lã Bất Vi mới cảm tháy hối hận là lúc này đã quá chú tâm vào việc vua Hiếu Văn ban thưởng cho mình mà không để ý tới việc phong thưởng cho các vương tôn công tử khác, cái kiểu coi nhẹ này thật là không nên tí nào. Lã Bất Vi không thể nói rằng mình không để ý tới việc vua ban thưởng cho thái tử, như vậy không tránh khỏi ý khinh thường điện hạ là thường dân áo vải.

Lã Bất Vi nói tránh: "Cũng có thể đại nhân động lòng trắc ẩn, sắc phong cho tước để bù vào chỗ không được phong làm vương tôn."

Dị Nhân nói một cách không vui mừng: "Đại vương đối với đại công tử thật quá thiên vị, chắc chắn là do cái lão già rồi mà không chết Phạm Thư dùng lời lẽ gian xảo xúi giục, như thế phụ vương mới để ta ngang hàng với Tử Hề."

Lã Bất Vi trầm ngâm nói: "Điện hạ nói rất có lý, nếu mấy người này cấu kết phối hợp với nhau, gặp thời cơ là gây sóng gió họat động phá họai chúng ta. Nếu không cẩn thận, bọn họ sẽ phá họai đại sự của chúng ta."

Dị Nhân nói: "Thái phó lẽ nào chúng ta không có cách nào với lũ trâu chó này sao?"

Lã Bất Vi suy nghĩ hồi lâu trong lòng nảy ra một kế nói: "Điện hạ trước mắt chúng ta chưa thể đặt bọn này vào chỗ chết, nhưng có thể tách chúng ra, mỗi đứa một nơi, một cây thì không thể làm nên rừng."

Dị Nhân: "Như vậy cũng hơn là để chúng tập hợp ở trong thành. Thái phó mau nói xem ông co diệu kế gì?" Lã Bất Vi nói một cách nghiêm túc: "Điện hạ từ Bình Ấp trở về, đại vương vẫn chưa cử vị tướng nào đến đó đốc binh trông thành. Bây giờ điện hạ có thể bẩm với đại vương rằng để đại công Tử Hề đảm trách nhiệm vụ này, như vậy có thể mượn tay người khác để đuổi Tử Hề ra khỏi kinh."

Dị Nhân lo lắng nói: "Phụ vương có thể phê chuẩn không?"

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ phải nó rõ với đại vương Bình Ấp vừa thuộc về đại Tần, lại nằm sâu trong lãnh thổ nước Nguy, việc cử quân giữ thành phải được coi trọng, chỉ cần cử vương tôn công tử dẫn binh giữ thành, mới có thể không xảy ra sai sót gì. Phụ vương phái đại công tử Tử Hề đi nhận nhiệm vụ này, vừa biểu thị sự coi trọng của đại vương, hóa giải được nỗi ấm ức không được làm thái tử."

Dị Nhân lại hỏi: "Nếu Tử Hề kháng lại lệnh vua thì sao?"

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ lo lắng như vậy khác chi lo bò trắng răng. Điện hạ vẫn chưa hiểu được tâm tư của đại vương lúc này. Đại vương muốn nhanh chóng thiết lập quyền thế tuyệt đối của mình, muốn được như tiên vương nói một là một, hai là hai, đại vương làm sao có thể để người khác kháng lại lệnh của mình."

Dị Nhân cảm thấy lời của Lã Bất Vi rất có lý, liền đến chỗ vua Hiếu Văn dùng lời lẽ thưa bẩm về việc đưa Tử Hề đến Bình Ấp. Sau một hồi quả nhiên vua Hiếu Văn ban chiếu lệnh cho Tử Hề đến Bình Ấp thống lĩnh quân. Sau khi biết được Tử Hề vô cùng bực tức, muốn kháng chỉ, Phạm Thư khuyên bảo Tử Hề nói: "Đại vương mới lên ngôi, hoàn toàn không muốn người khác ngang vai ngang vế với mình, nếu đại công tử không phục tùng, nhẹ thì có thể bị phế con trưởng lập con thứ, nặng thì nguy hiểm đến tính mạng. Theo ý thần, đại công tử cứ tạm thời cố gắng chịu oan ức, đợi thời cơ sau này sẽ lại làm lại."

Tử Hề đành phải phục tùng, ngày hôm sau lưu luyến chia tay với Hàm Dương, cùgn với mấy môn khách và nô dịch cô độc đi về phía Bình Ấp. Phạm Thư theo tiễn đến tận ngòai thành, dốc hết gan ruột ra khuyên Tử Hề không được sa sút ý chí, phải nhìn xa trông rộng, hăng hái lo toan trị nước yên dân, sau này sẽ có tiền đồ sáng lạng. Tử Hề gật đầu ghi nhớ, nhắc nhở Phạm Thư phải chú úy mọi động tịnh ở trong cung, chỉ cần có một ngọn gió thổi qua hay ngọn cỏ lay động cũng phải lập tức phái người đưa tin về Bình Ấp.

Trong lúc Phạm Thư và Tử Hề vẫn đang nói lời từ biệt ở bên ngòai thành Hàm Dương, quả nhiên trong cung nhà Tần có chuyện "gió thổi cỏ bay". Đó là việc Hoa Dương phu nhân người được Hiếu Văn sùng ái mang bệnh. Bệnh tật quanh người, ăn uống không được làm Hoa Dương phu nhân có sắc đẹp đến hoa nhường nguyệt thẹn làm người khác mê hồn mất đi vẻ tươi tắn dễ thương. Trong khi phải miễn cưỡng chung chăn gối không lên được đến cao trào làm cô mất hồn lạc phách, cũng không thể đùa cợt với vua bằng giọng oanh yến hàng ngày. Như vậy, vua Hiếu Văn đối diện với một Hoa Dương phu nhân mệt mỏi, không có sinh khí khác nào vô vị nhạt nhẽo như nước ốc, vua Hiếu Văn bèn phải rời khỏi thẩm cung. Cảm giác trong chuyện chăn gối với Hoa Dương phu nhân, các phi tần thê thiếp khác không thể đem đến được. Vua Hiếu Văn cũng đã thử đi đến nơi khác mà mặc sức chung chăn gối nhưng những bộ mặt xinh đẹp ấy không có vẻ gì là bẽn lẽn, gượng gạo cứng nhắc, không biết mơn trớn, cảm giác chỉ bùng lên trong chốc lát, sau đó lại tĩnh lặng chẳng có cảm gíac gì. Từ sau ngày Hoa Dương phu nhân bị bệnh, vua Hiếu Văn ăn ngủ không yên, suốt ngày vò đầu bứt tai. Đây không phải là vì ông nhớ tới tình nghĩa quân phi của mình với Hoa Dương phu nhân, sợ cô ta xảy ra chuyện gì, mà là ông ta đang ngày đêm lo sợ tìm không ra một người nào tài sắc song toàn như Hoa Dương phu nhân.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp theo

CHƯƠNG XIV

Quyền lớn trong tay


Phạm Thư quan sát thần sắc đã đoán ra được suy nghĩ ở trong lòng của vua Hiếu Văn, liền phái một môn khách tâm phúc đến Bình Ấp đưa tin này cho Tử Hề, đồng thời bảo Tử Hề lập tức chọn cấp tốc hai mỹ nhân có thể làm cho đại vương vui vẻ, lại vừa có thể nói được lời hay ý đẹp cho Tử Hề tiến vào cung.

Sau khi được biết tin này Tử Hề vui mừng như phát điên, cho rằng đây chính là một cơ hội để thay đổi vận mệnh của mình. Tử Hề tự mình đi dò hỏi điều tra, cuối cùng phát hiện được ở nhà một thân sĩ họ Khương có hai chị em sinh đôi hiểu biết lễ nghi, tài sắc nghiêng nước nghiêng thành. Tử Hề vội đưa lễ trọng, lấy được sự tín nhiệm của cha họ, sau đó đưa hai chị em đến phủ nói rõ dụng ý đưa họ vào cung làm thiếp. Vừa nghe nói được làm thê thiếp của Tần Vương, chị em họ Khương vội vàng cảm tạ ân đức của Tử Hề, chị em họ cảm thấy không còn có vinh dự nào cao quí vinh dự hơn, vui mừng khôn xiết hỏi Tử Hề ngày nào thì có thể lên đường. Tử Hề kiểm tra họ một lượt ca hát lời nói hành động, gặp cảnh sinh tình, không để sót một thứ gì.

Sau đó nói với họ rằng trước mặt phụ vương phải nói rõ Tử Hề nhớ thương phụ vương như thế nào, trị nước yên dân ra làm sao. Sau đó mới trang điểm thật đẹp cho hai chị em, rồi đích thân dẫn họ về Hàm Dương.

Sau khi tới Hàm Dương, Tử Hề đến phủ tướng quốc đầu tiên, để Phạm Thư xem trước và đánh giá hai chị em họ Khương, hỏi ông ta không biết phụ vương có hài lòng không. Phạm Thư nói một cách chắc chắn, sau khi gặp họ đại vương dứt khóat sẽ vui lòng. Lúc đó Tử Hề mới dùng xe đưa hai chị em họ Khương vào cung Chương Đài. Tử Hề để hai cô vẫn ngồi trong xe còn mình vào đại điện khấu kiến vua Hiếu Văn. Sau khi hành lễ giữa hai cha con xong, Tử Hề nói một cách thành thực: "Nhi thần ở Bình Ấp trung thành với nhiệm vụ giữ thành, thường xuyên đến cả những ngóc ngách trong thôn xóm để thăm hỏi tình hình nhân dân, tìm hiểu phong tục tập quán, tình cờ gặp được hai tuyệt sắc gia nhân, tướng mạo như tiên nữ trên trời, nghiêng nước nghiêng thành. Nhi thần nghĩ ngay đến đại vương, không dám hưởng, để đưa đến cung Chương Đài."

Những lời của Tử Hề quả thực làm tiêu tan nỗi khó chịu trong lòng vua Hiếu Văn, ông ta vội vàng tán thưởng: "Thật là trung thần là đứa con có hiếu! hai mỹ nữ họ Khương ở đâu mau đưa đến đây cho phụ vương."

Khi hai chị em được đưa đến khấu kiến vua Hiếu Văn, nhà vua hoàn toàn bị sắc đẹp làm say lòng người của hai cô thu phục, nhìn không biết chán mắt, vội vàng nói với vẻ rất hùng hồn: "Thật là chim sa cá lặn, hiếm có ở đời."

Nhìn thấy dáng điệu vui vẻ của đại vương, trong lòng Tử Hề như vừa trút được một gánh nặng, nói liền một hơi: "Chỉ cần đại vương cảm thấy vui vẻ, nhi thần có chết cũng không hối hận. Nhiệm vụ giữ gìn Bình Ấp vô cùng quan trọng, nhi thần không thể ở lại kinh thành lâu để hầu hạ bệ hạ."

Vua Hiếu Văn đã sớm bị hai mỹ nữ hút hồn, không còn hơi sức đâu để ý tới những lời lẽ tràn lan của Tử Hề, vội xua tay nói: "vậy con trai ta trở về Bình Ấp ngay đi."

Tử Hề lại đến phủ tướng quốc, nói lại toàn bộ tình hình đã xảy ra. Phạm Thư nghe xong, mặt mày vui vẻ nói: "Thật là diệu kế, đại công tử phải nhân dịp này mà tiến tới."

Tử Hề không hiểu được dụng ý của Phạm Thư, ông ta xích lại gần bên cạnh nói vào tai Tử Hề dự định của ông ta.

Tử Hề nghe xong mặt mày hớn hở, mắt híp lại như một sợi chỉ, nói: "Tướng quốc thật là một cao cờ."

Sau bao lần quấn quýt suốt đêm ngày, vua Hiếu Vương đã lấy lại được cảm giác của mình. Hai chị em họ Khương không chỉ thân thể tướng mạo đều xuất chúng mà cũng đều nhiệt tình và dẻo dai như nhau. Sau khi việc gối chăn thỏa thuê, long trời lở đất vẫn như người khát chưa uống đủ nước, nũng nịu nói vẫn muốn. Vua Hiếu Văn lực bất tòng tâm chỉ có thể nằm xuống, cuốn lấy hai thân thể nõn nà. Đại vương bắt đầu buồn ngủ, hai mỹ nữ ghé vào tai nói lại chuyện Tử Hề thương nhớ cha, nhớ kinh thành như thế nào, trị nước yên dân ra sao, cho tới khi tiếng ngáy đều đều của vua vang lên, hai chị em họ Khương mới thôi không cuốn lấy Hiếu Văn. Vua Hiếu Văn ngày càng quấn quýt với hai chị em họ Khương và dần dần xa rời Hoa Dương phu nhân.

Cũng ngày hôm đó một đám người ở nơi khác đến tụ tập bên ngòai cung Chương Đài làm huyên náo cả một vùng, đòi khấu kiến vua Hiếu Văn. Các quan ở trong cung sợ làm kinh động đến vua đang nghỉ ngơi vội vàng ra bên ngòai cung đuổi họ đi. Nhưng những người địa phương đó đối mặt với các quan, mắt trợn mày dựng mà không hề sợ sệt, càng cao giọng: "Chúng tôi nghìn dặm xa xôi từ Bình Ấp tới đây, dù thế nào cũng phải khấu kiến vua Hiếu Văn một lần."

Vua Hiếu Văn đang sắp vào giấc ngủ thì bị tiếng huyên náo đánh thức dậy, vừa nghe nói là có người ở Bình Ấp đến bèn cho triệu kiến. Trong khi họ lần lượt vào quỳ gục ở đại đường, vua Hiếu Văn mới biết được đám người bình dân áo vải từ Bình Ấp đến này là đại diện cho cả vạn dân. Họ trình lên một quyển sách bên trong nói rõ Tử Hề có tài có đức như thế nào, trị nước yên dân ra làm sao. Họ còn nói rằng nhất quyết phải lập con trưởng lên làm thái tử.

Đợi vua Hiếu Văn ngồi xuống ngự sạp, người cầm đầu đám người này lại cố gắng chọn lọc từ ngữ đẹp đẽ thay lời cả vạn dân nói lại. Tiếp theo đám người kia lại lần lượt phụ họa tiếp.

Đám người này là kế sách của Phạm Thư do Tử Hề đạo diễn làm những thứ dân tình nguyện, nhưng đã gây được những suy nghĩ mới trong lòng vua Hiếu Văn. Vua Hiếu Văn nghĩ: "Xem ra nếu sắc phong Tử Hề làm thái tử cũng có lý. Nhưng mấy năm trước ông đã ban chiếu nói cho toàn thiên hạ biết việc lập Dị Nhân làm thái tử, ván đã đóng thuyền rồi khó mà thay đổi được nữa. Bây giờ nếu lập lại thái tử, chư hầu vương tử sẽ mưu tính hại nhau, một khi quốc vương băng hà các chư hầu vương tử tranh ngôi dẫn đến cảnh đầu rơi máu chảy, xã tắc giang sơn sẽ có những rối ren. Việc lập thái tử đã xong, bây giờ nếu thay người đổi ngôi lấy cái tốt thay cái xấu, cũng khó mà yên ổn được, chưa biết chừng dẫn đến cảnh cốt nhục tương tàn, triều chính rối loạn."

Vua Hiếu Văn rơi vào tình trạng tiến thóai lưỡng nan, ông nói với đám thường dân áo vải kia: "Lập ai làm thái tử quả nhân đã có chủ ý từ trước, các ngươi không nên lôi thôi nữa!"

Nghe thấy quốc vương nói thế, đám người thay mặt cho cả vạn dân kia đành đồng lọat im lặng, không ai dám chống lại chỉ ý của vua. Sau khi khấu đầu tạ ơn bèn lần lượt lui ra.

Lúc trời sắp tối vua Hiếu Văn lại tới Tẩm cung, việc tắm gội cũng đã hoàn tất. Hai chị em họ Khương tắm gội thơm tho đã ở đó từ trước để đón nhân sự sủng ái của thánh thượng không giống như mọi ngày bình thuong, họ không cợt nhã nũng nịu với vua mà nói tới chuyện hôm nay, những người từ Bình Ấp thay mặt cho cả vạn dân đến. Vua Hiếu Văn thở dài một tiếng nói: "Gạo đã nấu thành cơm rồi, mọi việc cứ để như vậy đi." Chị em họ Khương kia bèn áp cả bầu ngực căng mọng vào đầu vào lưng vua, cười mắng: "Thể công không thể lừa dối được, lòng dân cũng không thể trái ý, việc lập lại Tử Hề làm thái tử mới thuận theo ý của trời đất, ý của muôn dân." Vua Hiếu Văn nói: "Một lời của quốc vương đáng giá nghìn vàng làm sao có thể hôm nay ban chiếu mai lại thay đổi huống hồ đã khắc cả khế ước ở trên Ngọc Phủ." Chị em họ Khương lại phản đối: "Lời nói này của đại vương thật đáng cười! Núi không chuyển thì nước phải chuyển, khắp cả thiên hạ này không có quy tắc nào là không thể thay đổi. Người xưa thiên tử đã ra lệnh chỉ huy thì chư hầu chỉ cúi đầu nghe lệnh, không dám cả thở mạnh. Còn bây giờ thì sao? các chư hầu không những có thể đứng ngồi ngang hàng với vua mà còn âm mưu cướp cả thiên hạ đánh dẹp cả vua sao? Vua còn có thể bị bãi truất huống hồ chỉ là một thái tử?" Những lời lẽ đó của chị em họ Khương làm cho vua Hiếu Văn im lặng hồi lâu ông mới lên tiếng: "Việc này không thể tùy tiện thay đổi mà phải tính kế lâu dài." Nói xong như thể không nhẫn nại được nữa, ông ta vội vàng giật phăng hai bộ váy áo mỏng như tơ của hai chị em, bày ra cơ thể trắng ngần như hoa như trăng làm say đắm lòng người.

Rất nhanh chóng tin quốc vương lập lại thái tử đã bay khắp trong cung. Vào đúng mấy hôm đó Tử Hề lại từ Bình Ấp vào cung tới hai lần không chỉ là thỉnh an thăm hỏi mà còn tiến cống những sản vật hiếm quí của khắp mọi nơi.

Những hành động ấy đều bị những người tinh mắt nhìn thấy, thêm mắm thêm muối rồi truyền đi khắp kinh thành, càng củng cố thêm tin quốc vương định lập Tử Hề làm thái tử.

Lã Bất Vi nghe được tin này từ Dị Nhân.

Vừa nghe tin lập lại thái tử, Dị Nhân đã như người gặp phải đại họa trở tay không kịp. Dị Nhân vội vàng đến chỗ Lã Bất Vi cùng nhau suy nghĩ tìm ra cách đối phó. Dị Nhân khóc sưng hết cả mặt hỏi Lã Bất Vi việc này có thể là sự thật không?

Lã Bất Vi luôn luôn quan sát một cách chặt chẽ mọi động tĩnh ở trong cung. Đối với việc vua Hiếu Văn lạnh nhạt với Hoa Dương phu nhân, nhóm người đến từ Bình Ấp thay mặt cho cả vạn dân, việc Tử Hề hai lần vào cung, ông ta đều biết rõ, nhưng đối với việc vua Hiếu Văn quyết định lập lại thái tử thì ông ta chưa từng nghe nói.

Lã Bất Vi đem tất cả những nguyên nhân và hậu quả của những sự việc trên liên hệ lại bỗng chợt giật mình, cảm thấy không có lửa thì làm sao có khói, những tin đồn đso chắc chắn không phải chỉ là những tin đồn nhảm của mấy cung nữ rỗi việc trong cung. Cứ nghĩ tới đó Lã Bất Vi lại có cảm giác sợ hãi, hoảng loạn, tê lạnh cả sống lưng. Tuy ông ta vô cùng lo lắng nhưng vẫn làm ra vẻ không có việc gì, gương mặt vẫn bình thản. Ông ta an ủi Dị Nhân vài câu rồi hai ngừoi cùng đi tới chỗ Hoa Dương phu nhân hỏi rõ ngọn ngành.

Từ sau khi Hoa Dương phu nhân bị ốm liệt giường, cách mấy hôm Dị Nhân lại kéo theo Lã Bất Vi đến hỏi thăm bệnh tình, lúc thì mang theo những sản vật hiếm có, lúc thì là thuốc thang tẩm bổ.

Khi Dị Nhân và Lã Bất Vi tới thăm Hoa Dương phu nhân ở thẩm cung, gương mặt trắng bệch của cô làm người khác mủi lòng. Nhìn thấy hai người đến, Hoa Dương phu nhân mệt mỏi, quay mặt lại, nước mắt trực trào ra, giọng nói yếu ớt: "Các ngươi đều nghe rồi chứ?"

Dị Nhân và Lã Bất Vi đều biết rõ Hoa Dương phu nhân nói đến việc gì, gật đầu nói: "Rõ rồi."

Dị Nhân hỏi: "Mẫu hậu, phụ vương có thể vô tình vô nghĩa như vậy có phải là đặt nhi thần vào chỗ chết hay không?"

Hoa Dương phu nhân nói: "Sự việc đã lộ ra manh mối, hai con tiểu hồ ly tinh ấy bất kể ngày đêm đều cận kề bên gối của đại vương tán tụng hớt lẻo lại còn có cả bọn Phạm Thư, Tử Hề phụ họa theo. Còn bây giờ ta nói gì đại vương cũng đều cho là vô lý, xem ra việc lập lại thái tử chỉ là việc nay mai."

"Vậy chúng ta không thể bó tay chịu chết, mặt người khác muốn làm gì thì làm!" Dị Nhân nóng lòng nói để thử Hoa Dương phu nhân.

"Các ngươi cứ mưu tính đi, ta bây giờ đã trở nên không còn sức lực nữa rồi. Xảy ra việc gì có thể nhờ Hoa Dương phu nhân giúp một tay." Gương mặt Hoa Dương phu nhân lộ rõ vẻ bế tắc.

Sau khi từ biệt Hoa Dương phu nhân, để tránh tai mắt của mọi người, Dị Nhân và Lã Bất Vi không về điện Chiêu Thanh mà về phủ của Lã Bất Vi. Vào đến phòng sách, chưa kịp ngồi xuống, Dị Nhân đã quỳ thụp xuống lạy Lã Bất Vi. Lã Bất vi sợ tái xanh cả mặt vội vàng đỡ Dị Nhân dậy nói: "Điện hạ làm như vặy không phải là ép Lã Bất Vi ta vào tội đại nghịch sao, điện hạ mau đứng dậy có gì từ từ sẽ nói."

Dị Nhân khóc nói: "Sự việc đã đến lúc cấp bách ngàn cân treo sợi tóc rồi, một khi phụ vương ban chiếu lập Tử Hề làm thái tử, chúng ta chỉ như đồ bỏ đi sớm muộn gì cũng bị quét ra khỏi cổng. Ta đã cùng thái phó trải qua bao khó khăn hoạn nạn, mọi thành công rực rỡ rồi sẽ đổ ra biển đông sao? Như vậy không được! như vậy không được! như vậy quyết không được! phụ vương bất nhân thì cũng đừng trách thi thần bất nghĩa! ta phải chế ra một viên độc dược đầu độc ông ta, sau đó ta sẽ lên ngôi. Như vậy có được không? xin thái phó hãy giúp ta định đọat."

Những lời nói đầy sát khí của Dị Nhân làm Lã Bất Vi sởn tóc gáy. Đối với việc quan hệ cha con, anh em trở thành thù nghịch, sát hại lẫn nhau ở trong cung đình, trước kia Lã Bất Vi chỉ được đọc trong sách, được nghe trong dân gian. Lã Bất Vi vẫn cảm thấy đây là việc vô tình vô nghĩa, trời đất khó dung tha, cốt nhục tương tàn, anh sông thì tôi chết. Ông ta chưa từng nghĩ rằng ngày hôm nay lại phải đặt mình vào trong hoàn cảnh ấy. Quyền lực tối cao đã làm thay đổi cả nhân tính. Đến Dị Nhân điện hạ là người xưa nay vẫn vâng vâng dạ dạ, không có chủ biến, nay thấy việc sắp mất đi địa vị thái tử thì đến cả lục thân cũng không nhận, giết vua, giết cha.

Lã Bất Vi hiểu rõ rằng quan hệ của ông ta với Dị Nhân là quan hệ môi hở răng lạnh, cùng sống cùng chết. Một khi Dị Nhân bị bãi truất, tất cả tiền bạc và trí óc mà ông ta đặt vào vị vua một nước sẽ mất hết, giấc mộng được cùng vua phân chia đất nước cũng trở thành mây khói. Phải chấm dứt cái thế yếu này, quét sạch mọi trở ngại ngăn trên con đường mà ông ta và thái tử điện hạ tiến tới đỉnh cao quyền lực. Như vậy chỉ có cách đặt vua Hiếu Văn vào chỗ chết. Ông ta chưa kịp ban chiếu sắc lập thái tử mới thì đã chết rồi, lúc đó Dị Nhân mới có thể bước lên ngôi báu một cách đàng hoàng hợp tình hợp lý.

Nhưng sắc mặt của Lã Bất Vi thì lại hoàn toàn trái ngược với những suy nghĩ của ông ta. Ông ta nói một cách tức giận: "Điện hạ đã trở nên quá sợ hãi mà ăn nói lung tung. Giết vua, giết cha là một việc trời chu đất diệt! ta và điện hạ đều được hưởng ân đức của đại vương chỉ có thể trước sau trung thành báo đáp."

Lã Bất Vi nghĩ nếu tới mức bất đắc dĩ phải hạ độc thủ với vua Hiếu Văn ngòai ông ta ra không thể có người thứ hai biết. Lã Bất Vi có can dự vào. Kể cả Dị Nhân cũng phải dấu. Nếu khi thành công thì chỗ yếu nhất của ông ta cũng bị vị vua mới nắm trong lòng bàn tay, sau này lúc nào cũng phải chịu sức ép. Nếu việc bại lộ ông ta phải chịu tiếng bất trung, bất nghĩa nghìn đời sau rửa cũng không sạch. Còn nếu thất bại tránh không khỏi bị liên lụy, cái án chu di chín họ sẽ buộc lấy ông ta. Những việc như thế này đã làm phải làm cho kín, không có bất kỳ sơ suất nào. Như vậy thành bại đều có thể giữ được yên thanh họa nguy thành an, đồng thời trước mặt Dị Nhân vẫn giữ được tiếng trung hiếu, lễ, trí, tín.

Dị Nhân đang lo lắng như có lửa đốt ở trong lòng lại bị Lã Bất Vi phản đối dự định, liền hỏi: "Vậy phải tiến phải lui như thế nào, thái phó hãy nói ra một tiếng."

Lã Bất Vi trả lời: "Tục ngữ nói binh đến ắt phải chặn lại, nước đến ắt phải chắn lại. Điện hạ không được rối lòng mà đi vào chỗ nguy hiểm, đợi đến lúc nghĩ kỹ rồi hành động cũng không muộn. Điện hạ hãy cứ về phủ nghỉ ngơi, trấn tỉnh lại ngày mai nói tiếp."

Sau khi Dị Nhân đi rồi Lã Bất Vi ngồi yên trong phòng, tập trung tất cả trí lực để suy nghĩ sự việc này quá trọng đại, quá đột ngột và cũng quá tàn khốc. Hàng lọat dấu vết đã nói rõ vua Hiếu Văn có ý định phế truất Dị Nhân lập Tử Hề lên làm thái tử. Trước kia cứ nghe đến việc âm mưu tính kế tiểu nhân trục lợi, Lã Bất Vi đã nhổ nước bọt, hỉ mũi một cách khinh bỉ.

Còn bây giờ chính ông ta lại đang suy nghĩ chuẩn bị kế họach mà không phải chỉ là cắt một ngọn cỏ, hay một chuyện cỏn con mà là sát hại một vị vua của một nước. Cứ nghĩ đến đó Lã Bất Vi lại không thể dung tha cho sự tàn nhẫn của chính mình. Vua Hiếu Văn cũng chính là người tiếp nhận một thương nhân từ Hàm Đan, vì việc lập thái tử mà đến Hàm Dương. Lúc đó ông ta đã để lại cho Lã Bất Vi một ấn tượng tốt đẹp về một con người hiểu được và giúp đỡ người khác có cùng chí hướng. Một người như vậy, lại phải chết thảm, chết dưới độc thủ của ông ta sao.

Lã Bất Vi nghĩ tới đây tự nhiên không rét mà run. Ông ta tự nói với mình: "Lã Bất Vi ơi Lã Bất Vi, ngươi không thể thành được kẻ tiểu nhân, kẻ tiểu nhân âm mưu hãm hại người khác à?"

Con đường chính đạo trong nhân gian thì tang thương, khó chịu, chính ông ta đã trải qua việc làm ăn buôn bán, có lúc đã sử dụng những thủ đoạn nhưng cũng chưa từng hại đến mạng ai. Bây giờ bước vào cuộc sống triều chính thì phải mưu sát người khác, kể cả quân vương cũng không phải là ngọai lệ. Một khi Dị Nhân lên ngôi vua, ông ta được tham dự vào việc triều chính thì những việc đấu tranh trong cung đình như thế này sẽ xảy ra liên tục, lúc đấy ông ta sẽ bị rơi vào trong cái vòng xóay của sự tranh đấu mà không biết mình chìm nổi như thế nào.

Lã Bất Vi cũng đã từng nghĩ tới chuyện thóat ra khỏi cuộc sống thị phi của chốn cung đình, an phận thủ thường vào việc kinh doanh. Nhưng như vậy sẽ như thế nào? như vậy ông ta sẽ trở thành một thằng vô tài giữ của đích thực. Vậy thì mục đích của việc từ bỏ làm sỉ tử để làm một thương nhân lúc ban đầu là ở chỗ nào? không phải là vì phong hầu bái tướng sao? Hơn mười năm theo hầu Dị Nhân bao nhiêu vàng bạc đã được dùng vào việc này, đã vào sinh ra tử, thành công chỉ còn ở trong gang tấc, bây giờ lại dễ dàng vứt bỏ, đấy chỉ là hành động của kẻ ngu muội bỏ gốc lấy ngọn. Sau này nắm được đại quyền trong tay, chỉ huy thiên quân oan mã công thành cướp đất, cũng chẳng tránh khỏi phải tàn sát sinh linh, có lúc làm cho số đầu rơi xuống đất đếm không xuể nếu lòng dạ không sắt đá thì rất khó. Đối với vua Hiếu Văn thì không phải là cảnh đầu rơi máu chảy chỉ cần một viên thuốc là có thể kết thúc được mọi việc. Phải dùng thuốc gì, dùng như thế nào... Nhưng một khi đã hạ thủ thì ông ta cũng đã biến thành một tay đao phủ coi mạng người như cỏ rác.

Lã Bất Vi nghĩ mài nhưng cũng không nghĩ được đến cảnh tương lai huy hoàng. Suốt cả một đêm ông ta phải lao tâm khổ từ về việc ấy. Ông ta nhìn ra phía xa trằn trọc mãi mà không sao ngủ được.

Dị Nhân trải qua một đêm trong lo sợ, cố giương đôi mi mắt đang nặng trịch nhìn ra cổng lớn điện Chiêu Thanh. Dị Nhân trông đợi cái dáng chắc nịch đi vào, mang tới cho Dị Nhân những tin tức tốt lành để có thể hồi sinh từ cõi chết. Thái tử Dị Nhân suy đoán xem thái phó có đồng ý với kế họach dùng độc dược hại chết phụ vương không.

Theo sau một lọat tiếng bánh xe lộc cộc, Dị Nhân nhìn thấy trong đó có một chiếc xe dừng ở sân lớn. Không kìm được, thái tử la lớn: "Thái phó đến."

Người từ trên xe bước xuống đích thực là một Lã Bất Vi thần sắc vẫn tự nhiên như khi Lã Bất Vi tới điện Chiêu Thanh bàn bạc với Dị Nhân, các nô bộc và môn khách đều phải lui ra ngòai. Lã Bất Vi nói với Dị Nhân không bao giờ được dùng độc dược với vua Hiếu Văn. Chỉ cần đại vương không ban chiếu lập thái tử mới, việc này vẫn còn hy vọng cứu vãn được. Phàm là việc gì cũng phải dùng lời lẽ trước, sau đó mới dùng vũ lực, huống hồ đây lại là cha mình. Điều này cần ở Dị Nhân đối với vua Hiếu Văn thì làm việc gì cũng phải thấu tình đạt lý. Như Tử Hề làm những việc hợp với ý thích của đại vương, nên đã lấy lòng của vua, làm cho vua vui vẻ. Như vậy địa vị thái tử của điện hạ lại càng không được để khiếm khuyết.

Đối với việc làm thế nào để hợp được với ý thích của đại vương, Dị Nhân không cần chỉ bảo, hỏi: "Chả nhẽ chúng ta chọn một số mỹ nữ dâng lên cho phụ vương sao?"

Lã Bất Vi cười đáp: "Vậy thì chẳng khác gì đông thi nhăn mặt."

"Vậy thái phó có cao kiến gì?"

Lã Bất Vi nói: "Ta nhớ rằng trong nhân gian có một phương thuốc gia truyền tên là "Cao Sâm Lộc Nhung Thai" có tác dụng ổn định cơ thể tăng thêm sinh lực, tráng âm bổ thận. Với thân thể của đại vương ngày đêm lại đắm chìm trong chuyện chăn gối với các mỹ nữ sẽ khó tránh khỏi những thiếu hụt, lâu ngày sẽ suy giảm cả về tinh và huyết, làm giảm tuổi thọ. Chỉ cần dùng lọai thuốc "Cao Sâm Lộc Nhung Thai" này mới có thể bổ tinh bổ huyết, dương cường mà không khóai?" Lã Bất Vi nói xong, hai người lấy ra từ trong xe một túi vuông nhỏ được gói kỹ, nói với Dị Nhân đó chính là Cao Sâm Lộc Nhung Thai.

Dị Nhân vẫn còn ngờ vực nói: "Để ta đưa tới chỗ phụ vương thử xem."

Lã Bất Vi nói: "Điện hạ không thể chỉ đưa thuốc, mà phải thường xuyên đưa Triệu Cơ, Di Hồng và các thê thiếp khác tới vấn an đại vương, ca hát để ngài vui. Điện hạ lại ở thành Hàm Dương, việc hiếu thuận với đại vương là vô cùng thuận lợi, so với Tử Hề xa xôi ngàn dặm thì đúng là như trời tạo cơ hội."

Ngày hôm đó, Dị Nhân dẫn theo Triệu Cơ, Di Hồng và một số người nữa đến khấu kiến thỉnh an đại vương. Sau đó mới đưa lên thứ Cao Sâm Lộc Nhung Thai và khuếch đại khoe khoang công dụng như thần của lọai thuốc này.

Sau khi nghe xong, bộ mặt đầy những nếp nhăn của vua Hiếu Văn bỗng tươi cười như một bôn hoa, không tiếc lời tán thưởng: "Những con trai của ta thật là hiểu được suy nghĩ của ta. Con cả Tử Hề tiến cống mỹ nữ, thái tử Dị Nhân lại tiến công thuốc bổ, nếu cùng giúp đỡ phối hợp với nhau thì sức mạnh chả khác nào rồng nào hổ."

Vua Hiếu Văn uống lọai thuốc đó xong kết quả thế nào? Trong một bộ truyền ký của Lã Bất Vi đã nói như thế này.

"Kể cũng lạ, lọai cao mà Lã Bất Vi đưa đến khi uống có mùi rất lạ, uống xong một lúc thì tinh thần sảng khóai. Vua Hiếu Văn cho chọn các phi tử và mỹ nữ xinh đẹp trẻ trung để qua đêm. Những vương phi mỹ nhân đó hiếm khi có được sự ân sủng của vua, đều như lòai lang sói bị bỏ đói, cố gắng nũng nịu mọi cách, buông thả nhân cách như đang đại hạn gặp mưa rào, quyết để thỏa mãn sự ân sủ của vua, không hề ngừng nghỉ. Chỉ tới khi vua Hiếu Văn mệt mới mức thở hồng hộc, mùi hôi thốc bốc ra, họ vẫn vô cùng thích thú, họ vẫn muốn tiếp tục cho tới khi đã hoàn toàn thỏa mãn mới chịu ông vua mà ngủ một cách hạnh phúc. Cứ như vậy, vua Hiếu Văn liên tục cho gọi toàn bộ các cung tần mỹ nữ hơn hai tháng, và vua cũng đã uống xong hai thang thuốc của Lã Bất Vi, rồi dần dần cảm thấy bất lực... Quần thần mời tiệc, tuy rằng đã quá sức mệt mỏi với những cuộc truy hoan thâu đêm suốt sáng, nhưng cũng gắng sức lấy lại tinh thần để đến dự yến tiệc với các quan. Tiệc rượu đến ngày sau cùng, vua muốn đi nghỉ sớm một chút, nhưng sau khi uống thuốc xong lòng xuân lại trỗi dậy, ông khởi giá định đến chỗ các mỹ nữ, rồi giữa đường không kênh mà chết."

Từ đó có thể thấy được lọai cao Sâm Lộc Nhugn mà Lã Bất Vi tìm được trong dân gian là lọai cao tráng dương bổ thận hay là lọai cao kích dục đọat mạng.

Tháng chín năm hai trăm năm mươi trước công nguyên, thái tử Dị Nhân đường hoàng bước lên ngôi báu, chính thức kế vị, lấy tên là vua Trang Tương.

Vào lúc Dị Nhân lên ngôi trước khi lễ nhạc bắt đầu, là người hiểu rõ thời thế Phạm Thư xin Dị Nhân chuẩn tấu cho việc từ chức tướng quốc, Tử Hề về kinh chịu tang, đến phủ tướng quốc hỏi thăm trước. Phạm Thư đã hoàn toàn nản chí nói: "Hễ ra khỏi núi bị chó lừa, từ nay trở đi những ngày tháng của ta ngươi sẽ vô cùng khó khăn."

Tử Hề không cam chịu là mềm yếu, nói: "Chúng ta theo kẻ phản nghịch, không làm gian tế thì quân vương nói và Lã Bất Vi sẽ làm gì được chúng ta? nếu bọn họ ép người khác quá đáng thì chúng ta sẽ có cớ để lật bọn chúng."

Phạm Thư nhắc nhở: "Đại công tử không nên lơ là như vậy. Khi trước vua Chiêu Tương ban cho chúng ta tô thịt cúng hội độc. Có thể bọn họ không hề nghi ngờ gì, nếu lần này lại để chúng bắt thóp chúng ta, rồi tính chung cả nợ cũ và nợ mới vào thì chúng ta chỉ có đường chết."

Tử Hề tiếp: "Theo ý kiến của ta, vua mới bây giờ sẽ không cho ta quay về kinh thành mà sẽ bắt ta ở cái nơi heo hút khỉ ho cò gáy đó ba mươi tư năm nữa. Ta vẫn sẽ có mắt như mù có tai như điếc không nghe không thấy được gì. Trong thành Hàm Dương và cung Chương Đài có tin tức biến cố gì, vẫn phải nhờ đến lão tướng quốc đưa tin, nhắc nhở cho."

Đối lập với không khí thê lương ảm đạm ở phủ tướng quốc, điện Chiêu Thanh và phủ của Lã Bất Vi khắp nơi đều vui tươi hoan hỉ, yến tiệc, đèn nến rạng rỡ thâu đêm suốt sáng. Dị Nhân mặc trang phục quốc vương mới tinh.

Dưới sự hầu hạ của các mỹ nữ ở cung Nga, Triệu Cơ, Di Hồng và các phi tần mỹ nữ khác dáng điệu hoan hỉ, vây quanh Dị Nhân đang mặc bộ phục sức của vua, dáng dấp ung dung tự tại của một nhà vua mà khen nịnh. Doanh Chính và các vương tử vương tôn khác, chạy nhảy đuổi nhau len lỏi khắp đám người thỉnh thoảng lại đùa nhau kêu la những tiếng kinh thiên động địa.

Lã Bất Vi ở phủ của mình, dáng vẻ hết sức nghênh ngang đắc ý, mở tiệc rượu, ca múa khắp nơi. Ông ta vừa tận hưởng cảm giác thắng lợi, vừa dùng bàn tay to dày vuốt lấy chòm râu. Sau khi kết thúc mấy bài hát, ông ta cho gọi thê thiếp con cái, môn khách tùy tùng, phân lọai ra, chờ đến lượt mình để nhận thưởng, không sót ai. Hoàng Phủ Kiều, Tư Không Mã, Dương Tử, Triệu Khả Tín,... đều được nhận tiền vàng và các đồ tế nhuyễn hiếm có, tất cả đều rất vui mừng. Ai ai cũng đều biết rõ, tướng quốc nước Tần chắc chắn sẽ là Lã Bất Vi. Những môn khách đó điệu bộ trở nên cung kính đều nói: "Sau này còn phải dựa vào sự nâng đỡ của tướng quốc nhiều."

Ngày thứ hai, ở cung Chương Đài treo đèn kết hoa rực rỡ, tiếng đàn tiếng sáo khắp nơi, vua Trang Vương Dị Nhân trang điểm phục sức oai phong đẹp đẽ ngồi ngay ngắn oai vệ trên đại đường. Văn võ bá quan cũng mặc triều phục mới toanh, phân làm hai dãy hiên ngang phía dưới điện hạ.

Quan nghi trượng đứng bên ngự án, tuyên bố chiếu chỉ thứ nhất của vua Trang Tương. Phong Lã Bất Vi làm thừa tướng, phong văn tín hầu, lấy mười hai huyện ở Lam Điền làm thực ấp.

Quan Nghị Trượng vừa nói xong, các quan văn võ phía dưới điện hạ thi nhau rỉ rầm bàn tán, Lã Bất Vi lên làm tướng quốc, phò vua nắm giữ triều chính thì là việc nằm trong suy nghĩ của mọi người. Nhưng những cấp vị cao nhất tập quan, tước, thực ấp đều ban cho ông ta thì văn võ bá quan đều chưa từng nghĩ tới. Trước Lã Bất Vi tướng quốc của nước Tần đã có Sư Lẻ Tật, Cam Mậu, Khuất Cai, Hướng Thọ, Nguy Nhiễm, Tiết Văn, Lầu Hoãn, Kim Thụ, Thọ Chú, Đỗ Tang, Phạm Chư, Tế Trạch, nhưng người được phong hầu chỉ có hai là Phạm Thư và Nguy Nhiễm. Nguy Nhiễm được phong là Nhượng Hầu, ngòai việc ông ta đã làm tướng quốc mười mấy năm giúp đỡ quốc vương bao nhiêu chuyện, quan trọng hơn chính là việc ông ta có quan hệ thân thuộc với Hoàn Thái Hậu, Phạm Thư được phong ứng hầu lại vào một giai đoạn lịch sử đặc biệt làm tiếp cho Nguy Nhiễm. Còn Lã Bất Vi không hề phải Hoàng Thân Quốc Thích của vua Tần, lại chưa lập được công trạng gì, trước khi lên làm tướng quốc thì chưa từng có một chức quan và thành tích chính trị nào. Sau khi vua Trang Tương kế vị, Lã Bất Vi một bước đã bước lên đỉnh cao được phong làm tướng quốc, phong Vương Tín Hầu, tặng thưởng cho hơn một chục vạn hộ lương thực. Thử hỏi, văn võ bá quan làm sao mà không kinh ngạc cho được.

Lã Bất Vi không phải là kiểu người có việc gì vui mừng thì hiện ngay ra nét mặt. Sau khi nghe xong chiếu lệnh thứ nhất của vua Trang Tương và trực tiếp nhìn thấy văn võ đại thần thì thầm bàn tán thì im lặng không nói gì, gương mặt bình tĩnh ung dung, nhưng quả thực trong lòng ông ta thì đang trống giong cờ mở, vui vẻ vô cùng. Mười năm trước ông ta gặp Dị Nhân - một vị vương tôn đang mất hêt hồn phách tại Hàm Đan, đã dự kiến tới lúc trở thành vua một nước. Cách nhìn của Lã Bất Vi quả không sai, Dị Nhân nói lời cũng giữ lấy lời, nói một khi ông ta lên làm vua sẽ chia nửa giang sơn đại tần cho Lã Bất Vi, bây giờ lời nói của vua đã trở thành sự thật. Từ giờ trở đi vị trí của Lã Bất Vi là dưới một người mà trên cả vạn người thống lĩnh thiên hạ, thét gió gọi mây, có đất để sử dụng tài hoa của ông và có cả cơ hội để báo đáp thiên hạ.

Suy nghĩ của Lã Bất Vi hoàn toàn chính xác. Vua Trang Tương làm vua được ba năm rồi băng hà. Doanh Chính lên kế vị lúc mười ba tuổi. Lúc Doanh Chính chưa được chính thức đội vương miện là bảy năm, tổng cộng là mười năm. Mười năm đó trên thực tế Lã Bất Vi là người thống trị Đại Tần. Cũng có thể nói Đại Tần bước vào thời đại của Lã Bất Vi.

Trọng đại lễ lên ngôi của vua Trang Tương, nhất cử nhất động của Lã Bất Vi đều trở thành mục tiêu chăm chú của bao nhiêu người. Văn võ đại thần nhìn thấy, ngay lúc bãi triều hai chiếc xe sang trọng của Lã Bất Vi rời khỏi cung Chương Đài đầu tiên, tiến về phía xa của các ngõ xóm. Mấy hôm sau, họ mới nghe nói Lã Bất Vi làm việc đầu tiên từ khi nhận chức là tới thăm hỏi lão tướng quốc Phạm Thư.

Trí nhớ của thương nhân, thì rất chặt chẽ và chắc chắn. Phạm Thư gây khó khăn và chỉnh lý những việc trước kia của Lã Bất Vi, lại thêm chuyện mọi việc để càng lâu thì càng rối ren.

Những chuyện ấy Lã Bất Vi không bao giờ quên được. Nhưng ông ta hiểu rằng vua mới lên ngôi, lại thay đổi tướng quốc thì việc cần kíp nhât chính là ổn định triều chính, lấy được lòng dân. Quan hệ của Lã Bất Vi và Phạm Thư là quan hệ hiềm khích, văn võ bá quan trong triều, không ít thì nhiều, qua loa hợac rõ ràng đều biết. Lã Bất Vi phải nhân dịp này mà lợi dụng những phản ứng khác nhau ấy nói cho toàn thiên hạ biết.

Lã Bất Vi, ông ta là người có trí óc, sẽ đưa giang sơn nước Tần đi vào ổn định và phát triển.





CHƯƠNG XV

Tiêu Diệt Đông Chu


Lã Bất Vi đã tìm được cớ để tiêu diệt vua Đông Chu, chính thức đặt dấu chấm hết cho cả một triều đại.

Từ năm 256 trước công nguyên, vua Chiêu Tương đã tiêu diệt xong Tây Chu, các tên vua Chu chỉ là hữu danh vô thực. Nhưng trên đất cũng vẫn còn giữ lại vua Đông Chu. Vua Đông Chu này tuy được gọi là "Châu Công" nhưng không phải là thiên tử, nhưng dẫu sao cũng là hậu duệ tương huyết thống với vua Chu. Sự tồn tại nó tạo thành trở ngại lớn trong lòng chư hầu các nước. Khi gặp được thời cơ tro trấu vẫn bốc được thành lửa, gây sóng gió. Có lúc lại bị lợi dụng, ví dụ: Khi vua Chiêu Tương băng hà, họ đã lấy tên ông ta để tổ chức liên kết đồng minh hội. Muốn hoàn thành bá nghiệp thống nhất các chư hầu thì nhất định phải tiêu diệt gọn vua Đông Chu. Nhưng nếu không có thời cơ, và có cái cớ hợp lý thì cũng không thực hiện được mục tiêu. Lã Bất Vi lên làm tướng, đã dâgn sớ lên vua Trang Tương lấy tội danh là khinh nhờn vong linh tiên đế và mưu kế thôn tính Đại Tần để đánh dẹp vua Đông Chu. Vua Trang Tương chuẩn tấu.

Trung thu năm 249 trước công nguyên, gió thu từng đợt lá rụng ào ào. Dưới bầu trời xanh trong bát ngát từng đàn chim nhạn di chuyển về phía Nam, in bóng thành hình mỏ neo xuống con đường thông từ Hàm Dương đến đất cảng. Lã Bất Vi chưa từng điều binh, cũng chưa từng đánh trận, thống lĩnh mười vạn quân ngựa đi thảo phạt Đông Chu. Chiến xa của Lã Bất Vi đi ở giữa đội quân. Ông ta đeo kiếm giữ ấn trọng rất hào hùng, ông ta nhìn lên phía trước ánh sáng mặt trời chiếu vào lưỡi gươm phản xạ lại sáng lóa, như ánh trăng chiếu trên mặt nước. Ông quay về phía sau đoàn người ngựa xe kéo bụi cả một vùng, hàng ngũ ngay thẳng, trong lòng Lã Bất Vi vui mừng phấn chấn nghĩ: "Quân sĩ hăng hái như thế này thì không có gì kiên cố mà không phá nổi, không có thành nào mà không cướp nổi, tiêu diệt Đông Chu chỉ như sóng lớn pha cát, một vùng Đông Chu bé tí như thế, nhắc đến làm gì."

Quân Đông Chu ở đất Củng, nhận được báo cáo của quân lính có quân Tần đến tiến công, vội lên vọng gác xem xét tình hình, chỉ thấy Lã Bất Vi đang thống lĩnh quân Tần, ùn ùn kéo tới thì vô cùng khiếp sợ, run lẩy bẩy. Biết rằng có kháng cự lại cũng chỉ như trứng chọi với đá, bèn sai quân mở cổng thành đầu hàng.

Sau khi Lã Bất Vi bắt sống được vua Đông Chu, chiếm cứ được đất Củng, tiếp tục chỉ huy quân sĩ đang thế như chẻ tre, tiến công Hà Nam, Lạc Dương, Dục Thành, Bình Dương, Yến Sư, Câu Thị và toàn bộ các thành trì khác của Đông Chu.

Lã Bất Vi áp giải vua Đông Chu về kinh. Trong tiệc mừng chiến thắng ở cung Chương Đài, có đại thần nói dùng thủ cấp của vua Đông Chu cúng tế vong linh vua Chiêu Tương, giải được nỗi hận trong lòng.

Lã Bất Vi không đồng ý, khởi bẩm với vua Trang Tương: "Đại vương điện hạ, theo ý thần, nên đưa vua Đông Chu về vùng đất Dương Nhân, nơi đó cách phần đất được phong ấp của thầ chỉ có mấy dặm, ông ta cũng không dám có động tĩnh gì, để cho ông ta có thể cúng tế, duy trì dòng họ Chu."

Những lời của Lã Bất Vi nói xong, tiệc rượu đang huyên náo bỗng im bặt, văn võ bá quan đều gác đũa bỏ chén, ngơ ngác nhìn Lã Bất Vi, tự hỏi: "Đấy chẳng phải là thả hổ về rừng sao, để cho ông ta được tiếp tục thờ cúng bài vị của tổ tiên. Tha tội chết, thì chẳng phải là quá thiên trị ông ta sao?"

Vua Trang Tương tuy không biết trong đầu Lã Bất Vi nghĩ gì, nhưng ông ta tin rằng suy nghĩ của bậc phụ ông ta là thuộc hàng cao nhân, có lý do có căn cứ của nó, liền nói: "Tướng quốc, ngươi hãy giảng giải xem tại sao phải làm như vậy."

Lã Bất Vi chỉnh lại mũ, cất giọng sang sảng, trình bày số lý do tại sao phải di dời vua Đông Chu, không tiêu diệt nơi thờ cúng với vua Trang Tương và văn võ bá quan.

Thái độ của văn võ bá quan biến đổi theo sự chuyển động của hai môi mỏng như lá liễu của Lã Bất Vi, họ thay đổi từ chỗ không hiểu lý do đến lúc dần dần hiểu ra.

Ý kiến của Lã Bất Vi quả thật là không giống mọi người, theo thế như thác trút từ trên cao xuống. Tiêu diệt vua Đông Chu lại không tuyệt được đường thờ cúng, là sự cụ thể hóa của lý tưởng Nho giáo "Hưng diệt quốc, kết tuyệt thế, cử dật dân". Đại Tần từ trăm năm nay đều dùng vũ lực để giết chóc trừng phạt các nước chư hầu, trong mắt họ Đại Tần là một nước dữ như lòai hổ soái không hiểu nhân nghĩa, không có tình người. Lã Bất Vi cho vua Đông Chu đến Dương Nhân, một mặt sẽ diệt trừ tận gốc vua Đông Chu, mặt khác cũng giảm nhẹ được quan hệ huyết thống với họ Khương, dẹp yên lòng chống đối của các nước chư hầu, như vậy mới có thể thu phục một số lớn các hiền tài tập trung về nước Tần, việc thống nhát hoàn toàn nước Tần mới được tiến hành thuận lợi.

Khi một người đàn ông đối với một phụ nữ xinh đẹp lại chung tình thì bị mê mẩn, hồn bay phách lạc. Nhưng bây giờ Lã Bất Vi lại hoàn toàn ngược lại, trong đầu ông ta chỉ toàn là sự ngạc nhiên và lo lắng.

Triệu Cơ trang điểm xinh dẹp tuyệt trần, dung nhan chim sa cá lặn. Gương mặt trắng ngần của cô giờ thêm sắc hồng, không biết là do son phấn che phủ hay là huyết mạch tăng lên. Trong những ánh mắt ở hậu cung, Lã Bất Vi có thể nhìn ngay ra ánh mắt của Triệu Cơ vừa chung tình, vừan rừng rực lại vừa ưu tư. Theo dân gian, con gái lớn lên có 18 thay đổi, càng thay đổi càng xinh đẹp. Bây giờ xem ra, thì phụ nữ già đi cũng có mười tám thay đổi càng thay đổi càng xinh đẹp. Triệu Cơ đã qua thời kỳ xinh đẹp nhất, nhưng trông cô như thể đang cải lão hoàn đồng. Mấy hôm trước, khi gặp quả phụ Thanh ở cung Chương Đài, Lã Bất Vi đã bị chấn động bởi vẻ xinh đẹp của cô ta. Ông đã làm một phép so sách giữa cô ta và Triệu Cơ, cảm thấy cô ta hơn Triệu Cơ tới cả mười phần. Nhưng bây giờ Lã Bất Vi lại cảm thấy quả phụ Thanh kém Triệu Cơ mấy bậc. Triệu Cơ có hai người đàn ông, một người khiến cho sáu nước chư hầu chỉ nhìn thấy đã khiếp sợ, khiến cho mọi người đều phải cúi đầu làm lễ khi gặp, đó là Tần Vương. Người kia chỉ huy cả nghìn quân vạn mã, viết sử sách tướng quốc Lã Bất Vi. Là một người phụ nữ, còn ai vinh dự hơn, nổi tiếng hơn không? Cuộc sống vui vẻ nhàn nhã, đi xe tứ mã, cổng cao nhà rộng, ung dung về mọi mặt của Triệu Cơ khiến cô có thể ngăn chặn được tuổi già. Còn quả phụ Thanh phải lo toan suy nghĩ, hao tâm tổn sức, làm cho gương mặt cô ta có vẻ già dặn hơn Triệu Cơ.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»