📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 397 lượt xem — Trang 3 / 6
Chuyện Thầy Thím

Xưa kia, ở đất Quảng Nam có hai vợ chồng tên Lánh. Họ tu tiên tại làng Trà Luông, huyện Thăng Bình.
Lần lần thầy được nổi danh. Dân chúng cứ tên, gọi chồng là Thầy, vợ là Thím.
Hôm nọ, thấy căn nhà việc đã hư hao, Thầy nói với hương chức làng:
- Để tôi cất lại giùm cái khác.
Ai nấy không tin, ngỡ là Thầy nói chơi. Dè đâu đến nửa đêm, giông bão nổi ầm ầm. Lại nghe tiếng bao nhiêu thợ hò hét, đôn đốc cất cho mau, cùng với tiếng đục, tiếng búa liên hỏi. Sáng ra ai nấy ngạc nhiên, nhà việc làng đã sửa sang lại, to hơn trước.
Nhưng ở làng kế bên, thiên hạ vô cùng bất bình vì trong đêm giông tố vừa rồi, nhà việc của họ bay đi đâu mất. Nghe tin đồn, họ qua làng Trà Luông để nhìn. Sau khi nhìn rõ dấu tích, họ nhận ra: Trên vách tường của nhà việc xưa của họ có dấu vết của một dây trầu leo lên, bây giờ nhà việc của làng Trà Luông cũng có dấu tích ấy. Họ đem đơn kiện lên quan trên.
Bộ Hình ngoài Huế bèn điều tra, sai người vào làng Trà Luông. Hương chức làng nói:
- Chúng tôi không ăn cắp của ai. Nếu có tội thì kẻ thủ phạm là Thầy với Thím.
Tức thời, hai vợ chồng Thầy Thím bị bắt. Quan trên tuyên bố xử tử. Hai vợ chồng của Thầy xin đình lại bản án mà rằng:
- Chúng tôi muốn truyền lại cho nước Nam mình một bảo vật.
Theo lời yêu cầu của Thầy và Thím, quan trên sai người đem lại một vóc lụa dài, viết lông và mực tàu. Thầy bèn vẽ một con Rồng, khúc đuôi vẽ trước. Chừng vẽ xong khúc đầu Rồng, Thầy dùng một bó nhang mà khấn vái rồi vẽ hai con mắt. Sau khi điểm nhãn, Rồng nọ bay bổng, hai vợ chồng Thầy cỡi lên đó mà trốn.
Đến Nha Trang, vợ chồng Thầy Thím xin ở đậu tại nhà của một bà lão tên là bà Xuổi. Thầy có treo một bọc vải ở trong toàn là đậu. Thầy căn dặn không cho ai dòm vào bọc ấy.
Dè đâu, đứa cháu của bà Xuôi có tánh tò mò. Hôm nọ, nghe tiếng thì thào trong bọc vải, nó lén mở ra. Tức thì bao nhiêu binh tướng hiện ra cầm khí giới bao vây đứa cháu nọ. Nó la hoảng, Thầy Thím hay được, trở về, hô phép. Các binh tướng rút trở lại vào hột đậu trong bao.
Ngày mùng năm tháng Giêng năm đó, vợ chồng thầy đều tịch diệt. Quan trên ra lịnh dùng dây sắt mà xiềng mả của hai vợ chồng. Dè đâu ban đêm, voi trong rừng chạy ra, phá vòng xiềng.
Biết đó là thần, nhà vua phong sắc cho hai vợ chồng, Thầy là Chí Đức tiên sanh chi thần, Thím là Chí Đức nương nương.
0
Nữ anh hùng Bùi thị Xuân

Sau khi thâu phục được sơn hà, vua Gia Long ra lịnh xử tử vua Tây Sơn (Quang Toản) cùng các vị tướng lĩnh của Tây Sơn như quan Thiếu phó Trần Quang Diệu và vợ là Bùi thị Xuân v.v...
Đến lượt đứa con gái của Trần Quang Diệu. Đứa con ấy mới chừng mười lăm tuổi. Khi thấy voi tiến tới quất giết mình, đứa con la hoảng:
- Mẹ ơi! Cứu con.
- Chân tay của mẹ bị trói hết rồi không phương nào cứu được. Con hãy vui lòng mà chết luôn với mẹ cha, còn hơn là sống với bọn này.
Con voi huơ vòi, cuốn đứa con gái, quăng lên trời rồi đưa hai ngà ra hứng. Hai lần như vậy, đứa con chết hẳn.
Bà Bùi thị Xuân vẫn không thay đổi sắc mặt. Bà bước tới trước con voi nọ. Bọn đao phủ ra lệnh cho bà phải quỳ xuống để con voi dễ quấn.
Bà không tuân lịnh, cứ bước tới như hăm dọa. Con voi thối lui. Bọn đao phủ phải cầm gươm đâm voi, chọc tức voi. Voi bước tới quấn bà, thảy lên rồi đưa hai ngà ra hứng. Nhìn xác của bà, ai nấy đều khâm phục. Bà đã dùng lụa mà quấn sẵn chung quanh ngực, bụng, bắp vế. Lớp quần áo ngoài tuy rách nát nhưng bà không bị lõa lồ. Đoán trước cực hình này đôi ba ngày, nên bà đã chuẩn bị trước.
Bùi thị Xuân là một nữ tướng can đảm đã từng chống giữ lũy Trấn Ninh.
Nay nhiều nơi có tên đường Bùi thị Xuân để kỷ niệm gương can đảm, tiết liệt của bà.
0
Kép Hứa Văn hát bội

Hồi quan Thượng Quốc công Lê văn Duyệt ngồi trấn Gia Định, đất Sài Gòn hưởng an lạc thái bình.
Quan Thượng nổi danh là nghiêm khắc, có quyền tiền trảm hậu tấu.
Ngài thích vui, xem người đấu cọp, xem đá gà và nhất là xem hát bội. Ngài lập gánh hát riêng, cất rạp riêng. Khi hát, ngài thường cầm chầu.
Đêm nọ, diễn tuồng Võ Thành Lân. Kép Hứa Văn thủ vai chánh, vai một trung thần bị bọn phản nghịch rượt chạy. Con ngựa ô chạy tới bờ biển không phương qua được. Kép Hứa Văn hát nam rằng:
Ô mã qua miền hải ngạn.
Công (của) Tiên hoàng tỏ rạng dường non...

Bỗng đâu, con cá lý ngư nổi lên rước. Kép bèn lên ngồi trên lưng cá mà hát rằng:
Vởn vơ cá lội như cờ... ho
Quan Thượng công giận lắm, cho rằng kép Hứa Văn hát trật nên gõ mạnh vào thành trống một tiếng “cắt”. Cá làm sao mà biết ho được? Kép Hứa Văn hoảng hồn, biết rằng mình hát lỡ lời, không khéo lát nữa bị đánh đòn. Kép bèn giữ gương mặt trầm tĩnh, hát tiếp:
Ho... (vì) tưởng đâu ô mã, ai dè lý ngư...
Quan Thượng chầu liên tiếp ba bốn tiếng trống để khen tài của Hứa Văn. Ngài cười lớn:
- Hay quá! Tha tội! Tha tội!
Ngày nay, lăng quan Thượng Quốc công ở Bà Chiểu (Gia Định) có bàn thờ kép Hứa Văn. Âu cũng là xứng đáng với tài danh bất hủ của người nghệ sĩ tiền bối này!
0
Ông Huỳnh Mẫn Đạt

Ông Huỳnh Mẫn Đạt quê quán ở Rạch Giá, thi đậu cử nhân, triều Tự Đức ông làm đến chức Tuần phủ tỉnh Hà Tiên.
Khi thực dân chiếm Nam Kỳ, ông viện cớ già, xin về hưu trí.
Trong khi ấy, người bạn của ông là Tôn Thọ Tường ra đầu hàng Pháp, được phong làm Đốc phủ sứ.
Hôm ấy, ông Huỳnh Mẫn Đạt lên Sài Gòn chơi. Đi ngang qua bùng binh chợ, ông dừng lại để nghe dàn nhạc của nhà binh Tây thổi kèn.
Tình cờ, Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường đi xe song mã tới ông Huỳnh Mẫn Đạt không muốn gặp mặt Tôn Thọ Tường nên vội vàng núp bên gốc cây. Trong bụng ông khinh thường Tôn Thọ Tường. Không ngờ Tôn Thọ Tường lanh mắt nhảy xuống xe, chạy lại chào hỏi ông Huỳnh Mẫn Đạt, rồi trách ông này sao lên Sài Gòn mà không ghé nhà mình chơi.
Ông Huỳnh Mẫn Đạt đứng trước một tình thế khó xử bèn ngâm bài thơ bát cú, tỏ bày tâm sự:
“Cừu mã năm ba dạo cặp kè,
Duyên sao giải cấu khéo đè ne.
Đã cam bít mặt cùng trời đất,
Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe.
Hớn hở trẻ giong đường dặm liễu,
Lơ thơ già núp cột cây hòe.
Sự đời thấy vậy thì hay vậy,
Thà ấn non cao chẳng muốn nghe”.

Ý của ông Huỳnh Mẫn Đạt là buồn cho mình già nua, an phận, không bằng Tôn Thọ Tường là người tuổi trẻ, bay nhảy gặp thời. Lời văn công kích bạn nhưng rất tao nhã.
Ông Tôn Thọ Tường bèn trình bày cảnh khổ não của mình: tuy làm việc cho Pháp nhưng lòng vẫn đau xót:
Tình cờ xảy gặp bạn tiền liêu.
Thi phú ngâm nga hứng gió chiều.
Thế cuộc đổi đời đà lắm lắm.
Thiên cơ mầu nhiệm hãy nhiều nhiều.
Nước non dường ấy tình dường ấy.
Xe ngựa bao nhiêu, bụi bấy nhiêu.
Hăm hở nhạc Tây nghe trỗi mạnh.
Nghe qua ngùi nhớ giọng tiêu thiều...

0
Núi Yên Tử ở Hải Dương
 
Ở miền Bắc đến nay còn truyền tụng câu hát:
Dầu ai quyết chí tu hành
Có về Yên Tử mới đành lòng tu

Theo sách Khóa Hư Lục chép lại thì vua Trần Nhân Tông mồ côi cha mẹ sớm. Muốn báo ơn cha mẹ, nhà vua bỏ ngai vàng, trèo non lặn suối đến núi Yên Tử mà tu. Nhưng các vị Quốc sư sai người đến chùa, năn nỉ đức vua trở về. Cực chẳng đã, vua Trần Nhân Tông về triều mà chấp chánh.
Hơn mười năm sau, đức vua không quên được đạo Phật. Vua thỉnh vị hòa thượng ở chùa Hoa Yên (núi Yên Tử) về kinh đô. Hòa thượng này trụ trì tại chùa Thắng Nghiêm, vua giao phó cho trách nhiệm xuất bản các kinh Phật.
Về già, vua Trần Nhân Tông lại đến Yên Tử mà tu cho trọn lời phát nguyện lúc trước. Đời ấy, một vị Trạng nguyên tên Trần Đạo Tái cũng đến núi Yên Tử mà tu hành, không chịu làm quan.
0
Ông Nguyễn Mại xử án

Ông Nguyễn Mại một vị danh nho, quê quán ở làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau khi thi đậu Hoàng giáp, ông được bổ nhiệm làm quan án ở tỉnh Sơn Tây.
Một hôm, ông ra chợ thấy một người đàn bà hung tợn đang đứng chửi rủa ỏm tỏi. Ông hỏi nguồn cơn. Người đàn bà nói:
- Ở xóm này, có đứa bất lương giựt gà của tôi. Nhà tôi nghèo khó, đem gà ra đây bán lại bị nó ăn trộm.
Ông Nguyễn Mại liền tụ họp dân chúng xung quanh truyền rằng:
- Một con gà giá đáng là bao nhiêu mà mụ này dám chửi rủa cả làng xóm. Vô phép quá! Vậy thì dân sự ở đây có quyền đánh mụ ta mỗi người một tát tai để trừng trị.
Vì là lịnh trên, dân trong xóm phải tuân lời. Nhưng họ không nỡ đánh mạnh, chỉ tát tai mụ nọ nhè nhẹ cho có lệ. Sau rốt có một anh chàng vung tay mà thoi vào hông mụ nọ thật mạnh, miệng thì chửi rủa. Ông Nguyễn Mại nói:
- Quân hầu đâu? Bắt tên này. Hắn chính là đứa ăn cắp gà. Không nghi ngờ gì nữa, có tịch thì nhúc nhích.
Tên ấy thú nhận và xin đền lại con gà.
Một lần khác, ông đi dạo ngang qua chùa Sơn Vị, nghe trong chùa ồn ào vì một tiểu tăng nọ mất đồ vật tri hô lên. Ông Nguyễn Mại sai các sư nọ trong chùa lập đàn tràng để chạy đàn. Mỗi người một cây phướng ở tay mặt, tay trái thì nắm chặt hột lúa.
Ông nói:
- Hễ ai gian tham, trộm cắp thì lát nữa hột lúa sẽ mọc trong tay.
Bao nhiêu sư sãi, ni cô đều trầm tĩnh chay đàn, riêng một tiểu tăng nọ cặp mắt láo liên, lâu lâu hé ngón tay ra để coi thử hột lúa.
Ông tra hỏi thì tiểu tăng chịu tội.
0
Ông tiên sư nghề làm lọng

Đó là ông Bùi Nhạ Hành người ở xã Thượng Phúc vùng Hà Nội. Ông đậu tiến sĩ vào cuối đời nhà Trần. Khi nhà Minh sang xâm chiếm, ông theo phò Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn.
Cuộc khởi nghĩa thành công, đời vua Lê Thái Tôn, ông đem lễ vật qua bên Tàu mà cống sứ. Đến thành Yên Kinh, vua Tàu sai một vị quan mời ông Bùi Nhạ Hành lên trên lầu cao để xem kinh Phật rồi mới cho vào cống sứ.
Ông leo lên. Vừa đến lầu, dưới này quan Tàu rút thang. Hai ba ngày, ông không được ăn uống gì cả.
Biết là quân Tàu muốn thử mưu kế, ông bình tĩnh nhìn trên lầu, thấy một tượng Phật to lớn và một tô nước lạnh. Sau tượng Phật, có hai cái lọng che. Lấy ngón tay khều ra thử, rô ràng tượng nọ bằng bột chín phơi khô. Ông Bùi Nhạ Hành bẻ tượng Phật mà ăn rồi đọc kinh Phật.
Năm bảy ngày sau, không còn món gì để ăn nữa, ông bèn cầm hai tay hai cây lọng nhảy xuống đất, nhờ lọng bọc gió, ông xuống rất êm.
Quan Tàu rất ngạc nhiên, khâm phục tài ông. Chừng trở lên lầu thấy tượng Phật biến mất, quan Tàu hỏi:
- Tượng Phật đâu rồi?
Ông Bùi Nhạ Hành chỉ tay vào bụng mình mà cười:
- Tâm tức Phật! Phật tức tâm!
Nhờ tài ứng phó của ông, vua Tàu nể nang nước Việt Nam ta.
Khi ông Bùi Nhạ Hành mất, vua nhà Lê phong cho chức Thái bảo Lương quận công. Tục truyền rằng sau khi về nước, ông phổ biến nghề làm lọng, căn cứ vào hai cây lọng ông nhảy xuống đất.
0
Kiếm bạc Kiên Giang

Cụ Nguyễn Trung Trực là anh hùng kháng Pháp lừng danh nhờ trận đốt chìm tàu địch ở Nhựt Tảo (Tân An) và trận đánh đồn ở Rạch Giá năm 1868.
Với sự tổ chức khéo léo của cụ, nhờ sự dũng cảm của nghĩa quân, đồn của tỉnh lỵ Rạch Giá bị hạ, tất cả người Pháp trong đồn đều bị tiêu diệt. Mãi đến bốn ngày sau, người Pháp mới chiếm lại được.
Sau đó, cụ ra Phú Quốc. Người Pháp truy nã, bao vây; vì hết lương thảo, cụ ra đầu hàng.
Người Pháp lệnh xử tử cụ tại chợ Rạch Giá ngày 27 tháng 10 dương lịch 1868.
Thuở ấy người Pháp dùng tên đao phủ tên là Tưa. Tên này chuyên môn chém đầu người mà ăn tiền. Trước khi hành hình, tên Tưa cầm gươm bước tới, sợ sệt. Hắn xá cụ Cụ nói:
- Mầy làm theo luật lệ của Tây, mầy không có tội gì với tao. Đừng sợ. Nhưng mà tao yêu cầu một chuyện.
Tên đao phủ ngơ ngác, cụ nói tiếp:
- Mầy phải chém cổ tao cho tốt, nghĩa là chém thiệt gọn. Hễ dục dặc thì tao vặn họng mầy.
Sau khi cụ chết, dân chúng làng sở tại Rạch Giá lén nhà cầm quyền Pháp mà thờ cụ tại đình Vĩnh Thanh Vân. Hằng năm, ngày kỳ yên tế lễ rất long trọng, trang nghiêm. Mãi đến vài chục năm sau, quan chủ tỉnh người Pháp mới hay biết. Bị hạch hỏi, hương chức đình rất lo sợ. Bây giờ có ông Hương cả tên là Mỹ đứng ra lãnh trách nhiệm thay mặt hương chức mà đi hầu.
Người Pháp hỏi:
- Nguyễn Trung Trực làm nghịch ý với nhà nước Pháp, tại sao hương chức lại dám thờ?
Ông Hương cả trầm tĩnh mà trả lời:
- Chúng tôi biết vậy nhưng thờ ông Nguyễn Trung Trực là thờ chữ Trung. Ông làm quan cho triều đình, ông chết vì triều đình.
Quan chủ tỉnh người Pháp gật đầu, không trả lời. Hương chức làng dè dặt hơn, làm một biển treo trước đình ghi mấy chữ: “Nam Hải đại tướng quân”; ý nói đình thờ cá Ông.
Và việc thờ phụng cứ tiếp tục mãi đến ngày hôm nay.
0
Hổ huyệt

Ông Lý Khắc Cần là một vị quan rất thanh liêm hồi cuối đời nhà Lê.
Hôm nọ ông đi công cán đến núi Đại Ngạn giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, nhìn xem phong cảnh hồi lâu, ông truyền lịnh cho bọn quân hầu:
- Ngưng cáng lại. Tao muốn nằm hóng mát nơi đây.
Quân hầu thưa:
- Chúng tôi không dám.
- Sao vậy?
- Thưa, vùng này nổi tiếng nhiều thú dữ.
- Ta đã ra lịnh thì chúng bây phải làm tuân theo.
Nằm nghỉ hồi lâu, bỗng nghe cọp rống tứ phía. Quân hầu đòi khiêng cáng chạy trốn nhưng ông Lý Khắc Cần không chịu. Lát sau, cọp chạy đến xé xác ông.
Quân hầu hoảng hết, chạy vào báo tin cho quan sở tại hay biết. Quân sĩ kéo đến núi tìm được xác ông, đem về Nghệ An mà chôn cất rất long trọng.
Đêm hôm sau, cọp loạn rừng kéo xuống đồng bằng, bao vây mộ ông Lý Khắc Cần, moi xác lên đem về núi. Quân sĩ rượt theo, đến khuya thì gặp cọp đang quào đất chôn ông bên sườn núi...
Đêm ấy, quân sĩ không dám tiến tới, đóng binh gần đó. Quan chỉ huy nằm mộng thấy ông Lý Khắc Cần hiện về nói rằng:
- Đừng cải táng. Cọp chôn ta ở đâu thì để vậy. Đó là Hổ huyệt, điềm tốt lành cho con cháu về sau.
Quả nhiên, mấy đứa con của ông lớn lên, thi đỗ đầu làm quan to hiển hách một trời.
0
Đứa con ăn mày

Tương truyền ông Nguyễn Đăng Tuân là người ở Lộc Thành, tỉnh Quảng Bình. Tuy làm quan đến chức Thái sư nhưng không được an vui vì không có mụn con nào để nối dõi.
Hai ông bà thường đến chùa khấn vái để cầu tự.
Cảm động vì tấm lòng thành của ông, các vị Bồ Tát bàn bạc với nhau:
- Sẵn trong làng có thằng ăn mày đui mù, ta nên cho nó đầu thai làm con thái sư.
Nằm mộng, thấy điềm như vậy, sáng hôm sau, ông Nguyễn Đăng Tuân đến chùa tìm vị hòa thượng. Vừa đến cổng, ông gặp một tên ăn mày mù lòa đang nằm thoi thóp.
Vị hòa thượng nghe được câu chuyện ấy liền bàn với ông Tuân:
- Ngài nên cầu khẩn lần nữa xem sao...
Đêm đến, các vị Bồ Tát hiện về báo mộng cùng ông Tuân:
- Ngươi đừng ái ngại. Chúng ta sẽ hóa phép cho nó khỏi mù lòa...
Thề là bà Nguyễn Đăng Tuân thụ thai và tên ăn mày nọ cũng tắt thở. Đứa con sau này là Nguyễn Đăng Giai, một vị đại thần rất có công đời Tự Đức.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2017 00:17:07 bởi casau>
Trái dưa hấu

Đời Hùng Vương thứ mười bảy, có Mai An Tiêm làm quan trong triều, vì một câu nói có vẻ kiêu kỳ làm nhà vua nổi giận bắt đày An Tiêm ra một hoang đảo xa xôi, vợ An Tiêm xin theo, được vua chấp thuận. Từ đó hai vợ chồng An Tiêm sống quạnh hiu trên hoang đảo tự lo lấy cái ăn cái mặc.
An Tiêm phải cày cấy gieo trồng để lấy cái ăn. Thời gian qua, một hôm cuối mùa đông, An Tiêm thấy những đàn chim tha từ đâu về một thứ trái vỏ xanh, bổ ra thấy nhiều hột nho nhỏ hình bầu dục nhọn đầu. An Tiêm liền nảy ý kiến đem thứ hạt kia trồng giống xuống đất, ngày ngày vun vồng tưới nước. Được ít lâu, lá và dây bò lan trên mặt đất, đến sau trổ ra nhiều quả, vỏ thì xanh lòng thì đỏ, ăn vào thấy ngọt ngào mát mẻ.
An Tiêm mới lấy tre khắc chữ cắm vào thứ trái này thả xuống biển cho trôi đi. Thuyền buôn qua lại trên biển khơi thấy quả lạ liền vớt lên, rồi tìm tới hoang đảo trao đổi thức ăn, lụa là, vải bô lấy thứ quả lạ mang về đất liền bán cho mọi người.
Nhờ quả lạ và ngon, chỉ một mình An Tiêm biết cách trồng, nên ghe buôn đổ xô đến hoang đảo ngày càng đông, đời sống của vợ chồng An Tiêm nhờ đó mà no ấm vui vẻ. Vợ của An Tiêm lại sanh được một con, cảnh sống của vợ chồng chàng đỡ hiu quạnh vất vả.
Những quả lạ gởi về đất liền mỗi năm một nhiều, các quan làm sớ tâu lên vua Hùng Vương về sự xuất hiện của thứ quả lạ mà ngon đó. Vua liền hạ lịnh cho các hầu tìm xem thứ quả lạ đó từ đâu đưa tới. Thuyền buôn liền đưa quan quân đến hoang đảo để gặp An Tiêm. Vợ chồng An Tiêm vui mừng đón rước sứ giả của nhà vua và kính dâng lên những quả tốt nhất ngon nhất.
Khi tiếp được vật tặng của vợ chồng An Tiêm, nhà vua cho bổ ra khao thưởng các quan, ai ăn cũng khen ngon. Vua Hùng Vương nghĩ đến công lao của vợ chồng Mai An Tiêm trong việc gây được giống quả quý, lại từ lúc bị đi đày, vợ chồng không than trách chi vua, biết an phận thủ thường cố gắng làm lụng, nên xuống chiếu rước vợ chồng An Tiêm về đất liền cho phục hồi chức cũ.
Vợ chồng An Tiêm khi rời khỏi hoang đảo không quên đem hột giống của thứ quả này về đất liền gieo giống, truyền giống đến ngày nay mà chúng ta quen gọi là dưa hấu.
0
Ông trạng 12 tuổi

Ông Nguyễn Hiền, người làng Hà Dương, tỉnh Nam Định, nổi tiếng là thần đồng từ lúc sáu, bảy tuổi.
Thầy dạy học cho ông là một nhà sư ở chùa. Mỗi ngày, nhà sư dạy cho ông mười tờ giấy, học trong chốc lát là ông thuộc cả mười.
Năm 11 tuổi, Nguyễn Hiền đỗ Thủ khoa, đến năm sau, nhằm đời Trần Thánh Tôn, ông vào thi Đình, đỗ được Trạng nguyên. Lúc bấy giờ ông chỉ mới 12 tuổi.
Được đưa vào chầu vua, vua thấy một đứa bé loắt choắt thì không khỏi ngạc nhiên về tài học nên hỏi:
- Trạng học với ai mà giỏi thế?
Trạng tâu rằng vừa sanh ra thì giỏi liền, chỉ cần học thêm đôi ba điêu là tinh thông tất cả.
Vua thấy Nguyễn Hiền thiếu khiêm tốn, lại ăn nói không được lễ phép nên cho về học lại lễ nghĩa, đúng ba năm mới được vào làm quan.
Chẳng bao lâu, sứ Tàu đem sang Thăng Long một bài thơ ngũ ngôn để thử tài nước Nam.
Bài thơ như vầy:
Lưỡng nhật bình đầu nhật,
Tứ sơn điên đảo sơn,
Lưỡng sơn tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian.

Sứ Tàu đem bài thơ dâng lên vua Trần, nhà vua đem hỏi triều thần thì chẳng một ai hiểu được nghĩa lý bài thơ. Các quan tâu rằng:
- Bệ hạ mời quan Trạng đến xem.
Vua Trần liền cho sứ giả đi điệu Nguyễn Hiền về kinh. Sứ giả đến làng Hà Dương, vào nhà Trạng Hiền thì thấy đứa trẻ đang lui cui dưới bếp liền bỡn cợt rằng:
- Ngô văn quân tử viễn bào trù; hà tu mị táo.
(Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp núc, lọ là phải nịnh vua bếp).
Trạng liền ứng khẩu đáp lại:
- Ngô bán hữu quan cư đỉnh nại; khả tạm điệu canh.
(Ta vốn có chức quan Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh).
Sứ giả thấy ứng đối cao thâm càng phục tài Trạng Hiền. Bấy giờ mới bày tỏ ý vua mời Trạng về kinh.
Trạng lắc đầu bảo rằng:
- Lúc trước Thiên tử bảo ta không thông lễ nghĩa phải về học lại, đến nay mới biết thiên tử cũng chưa biết lễ nghĩa gì cả, thì làm sao ta lai kinh cho được.
Sứ giả về thuật lại, vua biết lỗi liền sai đem cờ quạt lọng tán đến rước, bấy giờ Trạng mới chịu về kinh. Vua trao cho Trạng xem bài thơ ngũ ngôn. Trạng liền cầm bút lông viết ra một chữ “điền” rồi giải nghĩa rằng:
- Câu thứ nhất có nghĩa chữ “Nhật” ngược xuôi bằng đầu nhau. Câu thứ nhì bốn chữ “Sơn” ngược xuôi cũng là chữ “Sơn” cả. Câu thứ ba, hai chữ “Vương” tranh nhau ở trong một nước. Câu thứ tư bốn chữ “Khẩu” ngang dọc cũng thành chữ “Khẩu” cả, rút cục chỉ là một chữ “Điền”.
Sứ Tàu phải chịu phục tài của Trạng Hiền. Vua Trần lấy làm đẹp ý phong Nguyễn Hiền làm Kim tử Vinh lộc đại phu. Sau làm đến Công bộ Thượng thư, được ít lâu thì mất.
Vua thấy người trẻ tuổi mà tài cao nên lấy làm thương tiếc lấy tên huyện Thượng Hiền đổi ra là Thượng Nguyên để kỷ niệm bực hiền tài và cũng để cữ tên ông vậy.
0
Trạng Trình

Ông Trạng Trình có tên thật là Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, quê ở làng Trung An tỉnh Hải Dương.
Ông từ nhỏ tư chất thông minh, học đâu nhớ đó. Một hôm ông cùng bạn trẻ cởi áo quần xuống tắm tại bến Hàn. Có thầy tướng số đi qua, đứng lại nhìn ông rồi nói:
- Thằng bé này có bộ tướng rất sang, chỉ tiếc da quá dày nên chỉ làm được Trạng nguyên hay Tể tướng là cùng.
Vừa lớn lên ông theo học với ông Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Lúc Lương Đắc Bằng đi sứ sang Tàu gặp người đồng họ là Lương Nhữ Hốt tặng cho một quyển “Thái Ất Thần Kinh”, nhờ đọc quyển sách này, Đắc Bằng tinh thông về khoa lý số. Đến sau, Đắc Bằng trao quyển “Thái Ất Thần Kinh” cho Bỉnh Khiêm, nhờ đó ông rất giỏi về khoa tiên tri, đoán biết việc hưng vong của đất nước.
Năm Đại Chính thứ sáu về đời nhà Mạc, ông vào kinh ứng thí, đỗ được Trạng nguyên. Vua Mạc phong ông làm Đông các học sĩ. Bấy giờ, trong triều bọn nịnh thần kéo phe kết cánh nhiễu hại thần dân. Ông liền dâng sớ xin vua chém đầu kẻ nịnh thần. Sớ của ông không được vua chấp nhận, ông bèn từ quan về ở ẩn trên bến Tuyết Giang, mượn gió mát trăng thanh, non xanh nước biếc làm thú tiêu dao ngày tháng.
Tuy đã về trí sĩ, nhưng lúc nào có việc hệ trọng, vua nhà Mạc liền sai sứ giả đến mời về kinh bàn việc nước. Nhờ có công và tài học uyên bác, bàn bạc mọi việc đều thông suốt, nên vua nhà Mạc phong ông làm Lại bộ Thượng thư Trình quốc công, vì vậy mà mọi người gọi ông là Trạng Trình.
Lúc Trịnh Kiểm lên cầm quyền, thế lực thu vào một tay, vua Lê Trung Tôn mất, không có con để nối ngôi, ý Trịnh Kiểm muốn thừa dịp này để cướp lấy ngai vàng, nhưng trong bụng còn phân vân mới sai người tâm phúc đến Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình. Ông ngoảnh mặt đi và bảo đầy tớ rằng: “Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”.
Nói rồi, Trạng Trình bảo tiểu quét dọn chùa, đốt hương để ông ra chơi.
Ông bảo tiểu rằng:
- Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản.
Sứ giả về thuật lại mọi lời, Trịnh Kiểm hiểu rằng Trạng Trình có ý khuyên mình nên tìm dòng dõi nhà Lê lên ngôi thì sự nghiệp của họ Trịnh sẽ vững bền. Do đó, họ Trịnh chỉ giữ lấy nghiệp chúa chớ không làm vua.
Lúc nhà Lê trung hưng, Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng hiềm khích nhau. Họ Trịnh có nhiều uy quyền hơn nên họ Nguyễn sợ bị ám hại, bèn cho người đến hỏi ý kiến Trạng Trình. Ông liền nói: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Nguyễn Hoàng hiểu ý liền vận động xin vào trấn giữ Thuận Hóa, và nhờ có dãy Hoành Sơn che chở mà Nguyễn Hoàng dựng nên cơ nghiệp nhà Nguyễn lâu dài.
Lúc về ẩn dật ở Bạch Vân am, ông có soạn quyển Sấm Trạng Trình bàn đến việc vị lai của nước Nam.
Nhớ lại thời Hoa Nhật chiến tranh và Thế giới Đại chiến thứ hai, nhiều người thường nhắc đến những câu sấm của Trạng Trình, đại để:
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khổ đao binh,
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.

Mà nhiều người cho rằng Trạng Trình đoán rất đúng thời cuộc nước nhà và thế giới.
Cũng có câu:
Bao giờ bèo dạt bể Đông,
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi.

Ứng vào việc nhà Nguyễn bị loại khỏi Hoàng triều cương thổ vậy.
0
Sự tích chùa Một Cột

Ở Hà Nội ngày nay có chùa Một Cột được coi là thắng tích mà ai cũng nhắc nhở.
Thuở xưa vào đời nhà Lý, đạo Phật rất thịnh hành, chùa chiền, am tự được cất lên ở nhiều nơi, người sùng đạo cũng đông. Vua Lý Thái Tôn lại là người rất ngưỡng mộ đạo Phật. Ngoài những chùa mới cất, nhà vua còn cho trùng tu các ngôi chùa cổ, tạc tượng đúc chuông.
Một đêm vào khoảng tháng Giêng, nhà vua nằm mộng, nghe thấy mùi hương sực nức, kế đến Phật Bà Quan Âm hiện ra hướng dẫn nhà vua đi xem một tòa sen chói lọi hào quang. Giật mình thức dậy, nhà vua liền đem điềm chiêm bao thuật lại với triều thần. Lúc bấy giờ, sư trưởng Thuyền Lão, người đang cầm giềng mối đạo tại hoàng cung mới bàn với nhà vua nên dựng một ngôi chùa để kỷ niệm Phật Bà Quan Âm.
Chùa này được dựng lên giữa một cái hồ hình dạng giống tòa sen, có một cột tròn từ dưới nước nhô lên, nhà vua đặt tên là chùa Diên Hựu.
Về sau, bá tánh thập phương, thấy chùa dựng trên một cái cột nên truyền nhau gọi là chùa Một Cột, lâu ngày thành quen, nên ít có ai gọi là chùa Diên Hựu.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2017 01:01:32 bởi casau>
Chàng Lía

Ngày xưa, ở huyện Phù Ly, tỉnh Bình Định, có vợ chồng người làm vườn nghèo khổ, sanh được một đứa con trai đặt tên là Lía. Cha qua đời, Lía còn nhỏ tuổi chịu cảnh mồ côi. Thường ngày, Lía theo mẹ bắt ốc hái rau để sống. Lúc lên mười tuổi, mẹ Lía cho Lía đi ở đợ một người giàu trong vùng để chăn trâu.
Thấy mẹ ăn uống cực khổ, Lía mới trộm gà của chủ nhà đem về làm thịt cho mẹ ăn. Mẹ Lía biết chuyện rầy la dữ lắm, Lía mới thôi ăn trộm gà nữa.
Thường ngày, Lía đuổi trâu ra đồng để mặc trâu đi đâu thì đi, còn Lía tụ tập vài ba đứa trẻ hoang, hết bày việc đánh nhau bằng gậy gộc, lại rủ nhau đi trộm bí, khoai lang, củ sắn. Bởi vậy người ta thường ví:
Thằng Lía, thằng Hung, thằng Hoang,
Trái bầu trái bí với củ khoai lang,
Gặp đâu xớt đó chẳng để an thứ nào.

Một lần nọ, thằng Lía để trâu lạc vào vườn của ông phú hộ làng bên cạnh. Ông phú hộ truyền bắt trâu cột lại bắt đền kẻ để trâu đến phá vườn ông.
Bị mất trâu, thằng Lía không dám về nhà, nó rủ thằng Hung và thằng Hoang đi tìm. Tình cờ nó nhìn được trâu trong nhà ông phú hộ. Nó liền bàn kế với hai thằng bạn của nó, đốt nhà ông phú hộ, để mọi người bận lo cứu chữa, bấy giờ nó lén vào bắt trâu đem về cho chủ.
Chủ hay được, sợ bị liên lụy, nên đuổi thằng Lía đi. Nó trở về sống với mẹ già, và xin với mẹ nó cho nó đi học. Mẹ nó phải van lại ông thầy để nó được học. Nó rất tối dạ, lại hay sanh sự đánh nhau, nên thầy học không dám dạy nó nữa. Thằng Lía liền hợp đồng với thằng Hung, thằng Hoang và vài đứa trẻ ngỗ nghịch đi bắt trộm gia súc của người giàu trong làng, rồi đem chia cho người nghèo. Hành động của thằng Lía càng ngày càng lộng, người trong làng mới họp nhau đầu cáo với quan trên. Làng lính liền tìm bắt Lía. Nó hoảng sợ, trốn lên tỉnh. Được một viên đội tâm phúc quan của tỉnh thâu nhận làm thuộc hạ. Lía bèn học tập côn quyền võ nghệ. Càng lớn lên, Lía có sức mạnh hơn người. Tánh nghĩa hiệp nên gặp chuyện gì bất bình là xông vào can thiệp; vì vậy giữa Lía và bọn cường hào ác bá thường có những trận gây gổ đánh nhau.
Năm đó có mở khoa thi, những ai giỏi luồn cúi hoặc có tiền đút lót thì được đỗ, bằng không thì bị đánh hỏng dầu văn hay chữ tốt. Tuy học hành dở dang, Lía cũng vào thi, nhận thấy bọn tham quan bắt nạt, ngược đãi kẻ nghèo nàn, Lía vô cùng bất bình. Thừa lúc đêm tối, cùng đám đông lẻn vào nhà viên chủ khảo giết chết người này rồi trốn vào rừng.
Quan quân mở cuộc truy nã ráo riết, Lía triệu tập đám người vô nghề nghiệp lẩn lút trong rừng chống lại quan quân. Nhiều trận hai bên giáp chiến dữ dội, quan quân đại bại phải rút lui. Lía đem bộ hạ tràn ra làng xóm chiếm đoạt tài sản của người giàu đem cho người nghèo. Thanh thế càng ngày càng to, triều đình phải treo giải thương cho ai bắt sống hoặc giết chết được thằng Lía. Nhưng Lía giỏi lẩn trốn, thành ra quan quân phải bắt mẹ Lía đem ra thị oai. Nếu thằng Lía không ra nạp mình thì mẹ nó bị giết. Động lòng hiếu đễ, thằng Lía phải chịu nạp mình cho mẹ được tha. Nhưng chẳng bao lâu Lía trốn thoát.
Bấy giờ, Lía trốn tránh rất là cực khổ, đói khát nhiều ngày. Bất đắc dĩ, Lía phải cải trang sửa dạng trốn vào trong thành để kiếm sống. Quan quân, liền bao vây thành, mở cuộc lục xét khắp nơi. Lía trốn vào nhà một ông lão hiền lành. Lúc này, Lía nghe tin mẹ mình bị bệnh và đã chết, các bộ hạ lớp bị bắt, lớp bị giết thì đau lòng không thiết sống gì nữa. Một hôm, Lía nói với ông lão rằng. “Chưa bao giờ tôi bị thất bại chua cay như thế này. Có lẽ trời đã hại tôi. Vậy ông hãy chặt lấy đầu tôi đem nạp cho quan trên để lãnh thưởng, chỉ còn cách đó để tôi đền đáp ơn ông”.
Ông lão không bằng lòng. Lía tự trói mình để cho ông đem nạp quan trên. Thế rồi Lía bị đem ra trảm quyết.
Đến sau có câu hát cảm thương Lía như vầy:
Chiều chiều én liệng truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.
0
Thần núi Tản Viên

Tục truyền thần núi Tản Viên thuộc dòng dõi Lạc Long, nhà nghèo thường vào rừng kiếm củi làm kế sinh nhai. Một hôm vừa đốn ngã cây chò, bỗng nghe tiếng sấm, kế bên Thái Bạch Kim Tinh hiện ra bảo rằng:
- Nhà ngưởi có căn tu, vậy hãy lãnh vật này mà cứu độ nhân thế.
Nói rồi Thái Bạch Kim Tinh trao cho Thần một cây gậy, đoạn biến mất. Từ đó, Thần vào ở luôn trong núi chuyên trị bệnh giúp người làm phước. Hôm nọ Thần đi dạo ở chân núi thấy bọn trẻ đập chết một con rắn lớn, nhìn kỹ nơi đầu rắn có một chữ “Vương”. Thần liền cầm cây gậy gõ vào đầu rắn và niệm phù. Tức thì rắn sống lại bò xuống sông đi mất.
Cách đó ít lâu, một hôm Thần gặp một kẻ đàn ông mặt xanh nanh nhọn, đón đường bái vọng và nói rằng:
- Tôi là Tiểu Long Hầu Thái Tử, con của Nam Hải Long Vương, năm trước lên trần bị bọn trẻ hành hung đánh chết may nhờ cứu mạng. Tôi về thuật chuyện, phụ thân tôi rất là ngưỡng vọng nên sai tôi đi rước ngài xuống dạo Long cung.
Nói rồi, Tiểu Long Hầu đưa thần tới bờ biển, làm phép rẽ nước cùng xuống tới Long cung. Long Vương đón rước Thần ân cần niềm nở, truyền cho Thần muốn lấy vật gì quý giá thì Long Vương sẽ tặng. Thần đều từ chối tất cả. Sau cùng Long Vương trao tặng Thần một quyển sách ước, bất đắc dỹ Thần phải nhận và ngỏ lời cảm tạ.
Sau ba ngày du ngoạn thủy cung, Thần trở về núi Tản Viên tiếp tục trừ tà ma quỷ quái giúp đời. Thường khi Thần cũng đi du ngoạn ở miền đồng bằng. Dân làng mỗi khi biết Thần ngự ở đâu, liền lập đền thờ ở đó.
Lúc nước Nam nội thuộc nhà Đường bên Tần, Thái thú Cao Biền là tay giỏi về phù phép, lại sợ Thần ám trợ dân Nam phá hoại việc đô hộ nên định dùng mưu để trừ Thần. Cao Biền mới bắt những người con gái 17, 18 tuổi, buộc tắm gội sạch sẽ, rồi ăn hoa quả và mặc xiêm áo lịch sự, đoạn đặt ngồi lên ngai, giết trâu bò bày cuộc lễ để cho Thần nhập vào người con gái ấy, rồi thốt nhiên chém chết. Cao Biền thường làm vậy để trấn yểm các thần.
Khi Cao Biền dùng mưu đó để đánh lừa Thần thì Thần cưỡi ngựa trắng, bay trên mây, nhổ nước miếng vào cỗ tế mà bỏ đi. Thấy thế, Cao Biền vô cùng thất vọng cho rằng linh khí nước Nam còn vượng lắm nên không thể trừ được Thần. Do đó, dân Nam càng sùng kính Thần hơn, lập miếu ở nhiều nơi để thờ Thần.
0
Ông quan tuổi Tý và con chuột bằng vàng

Một ông quan nọ nổi tiếng là thanh liêm rất mực. Cai trị một huyện, làng xã đều cậy nhờ mọi việc, ông quan nọ rất sẵn lòng làm, nhưng chuyện đền ơn đáp nghĩa thì ông nhất định từ chối. Bà huyện phải phục tùng theo chồng, nên dầu có ai đi cửa sau năn nỉ bà nên nhận chút lễ vật thay ông, bà cũng khăng khăng từ chối.
Thật là rắc rối, vợ chồng ông huyện càng từ chối bao nhiêu, người ta càng năn nỉ bấy nhiêu. Rốt cuộc bà huyện phải miễn cưỡng nói với làng xã rằng:
- Quý vị nài nỉ mãi, nếu không nhận coi cũng kỹ. Vậy thì quý vị nên làm như vầy: Quan huyện nhà tôi vốn tuổi Tý, làng xã có lòng đền ơn thì nên đúc một con chuột nhỏ bằng vàng để ký chú thì chắc quan huyện nhà tôi nhận.
Làng xã cả mừng làm y theo lời bà huyện. Được con chuột bằng vàng, bà huyện đem cất kín một nơi không cho ông huyện nay.
Thời gian qua, lúc ông huyện về hưu, trong nhà nghèo túng, thiếu trước hụt sau, càng khổ hơn nữa là lúc có người đau ốm không đủ tiền chạy thuốc. Bây giờ bà huyện phải đem con chuột bằng vàng ra cắt xén từng miếng đem bán lấy tiền sắm sửa trong nhà. Ông huyện thấy vậy bèn hỏi vợ:
- Từ ngày thôi làm quan trở về, gia đình ta càng ngày càng sa sút, lắm khi phải vay nợ, vậy tiền ở đâu bà mua sắm phủ phê thế này?
Bà huyện không dám giấu nữa, mới nói thật rằng:
- Lúc đang làm Tri huyện, làng xã hay đem của lót mà mình không nhận, đến sau bất đắc dĩ tôi bảo mình tuổi Tý nên đúc chuột vàng đem đến may ra nhận được. Nhờ đó, ngày nay tôi cắt xén từng miếng đem bán mới có tiền mua sắm trong nhà.
Nghe bà huyện nói, ông huyện ra dáng suy nghĩ một hồi rồi bảo:
- Nầy bà, sao lúc đó bà không nói là tuổi Sửu để bắt họ đúc trâu vàng. Phải chi bà nói vậy bây giờ mình chẳng giàu có à?
0
Từ Thức gặp tiên

Từ Thức là một ông quan thanh liêm tánh tình hào phóng, lòng hay thương người. Khi ngồi cai trị ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, Từ Thức rất được lòng thiên hạ bởi sự nhân hậu.
Gần huyện đường có một ngôi chùa, trổ sanh một gốc mẫu đơn quý. Hằng năm mỗi độ hoa nở, khách thập phương đến xem đông như ngày hội, tiếng đồn khắp xa gần.
Năm đó, khi hoa vừa nở thì có một cô gái nhan sắc tuyệt trần, đến xem hoa, rủi chạm gãy cành làm cho hoa rụng. Lính liền bắt giữ lại không cho về. Thời may, lúc đó Từ Thức chợt đến nghe chuyện như vậy, liền xin tha cô gái và cởi áo cừu đang mặc trao cho người giữ hoa để đền.
Cô gái được thả ra, lạy tạ Từ Thức rồi bỏ đi. Từ Thức cũng không buồn hỏi đến họ tên quê quán nàng.
Ngày ngày, Từ Thức ham cảnh gió mát trăng trong, ngâm hoa vịnh nguyệt hơn là ngồi chốn công đường, vì vậy chàng hay mang bầu rượu túi thơ đi lang thang tìm cảnh đẹp. Quan trên thấy vậy buông lời khiển trách, Từ Thức lấy làm phiền nên treo ấn từ quan, không muốn trói buộc mình trong vòng danh lợi.
Từ đó, Từ Thức bình bồng một chiếc thuyền con, ngao du đây đó. Một hôm thuyền của Từ Thức đến cửa Thần Phù, trông ra ngoài biển thấy một vầng mây ngũ sắc kết thành hình đóa hoa sen. Chàng động tánh hiếu kỳ cho thuyền lướt tới. Trước mặt chàng bỗng hiện ra một dãy núi non thanh lịch. Chàng buộc thuyền lại, một mình lên bờ, núi đá trập trùng không làm sao vượt lên được nữa. Còn đang phân vân, những muốn lui về, bỗng thấy vách đá nứt ra, hiện thành cửa động. Chàng đánh liều đi lần tới trước, được một lát thì con đường rộng mở thênh thang, một dãy đền đài hiện ra với ánh sáng chói lòa, hoa thơm tỏa hương man mác.
Từ Thức say sưa ngắm cảnh, thoạt nghe tiếng cười trong trẻo vẳng lên, ngẩng nhìn. Từ chợt thấy hai cô gái áo xanh vừa cười vừa bảo:
- Kìa chú rể nhà ta đã đến.
Rồi hai nàng đến bảo Từ Thức:
- Phu nhân chúng tôi cho mời Từ lang vào.
Từ rảo bước theo hai nàng, vào đến cung điện. Từ nhìn thấy hai bức hoành phi thiếp chữ vàng “Quỳnh Hư chi điện”, “Giao Quang chi các”.
Một bà tiên mặc áo trắng ngồi ở giữa điện ra dấu mời Từ ngồi rồi hỏi:
- Từ Sinh có biết nơi này là đâu không?
Từ Thức đáp:
- Lòng tôi còn đầy trần tục, không rõ đây là nơi nào, dám xin phu nhân chỉ dạy.
Bà tiên nói:
- Đây là hang thứ 36, động Phù Lai. Ta là Ngụy phu nhân, tiên chủ núi Nam Nhạc, vì thấy ngươi có đức nên cho mời đến.
Nói rồi bà tiên quay vào trong gọi một tiếng, tức thì một tiên nữ từ trong tha thướt bước ra. Vừa thấy mặt nàng, Từ Thức nhớ ngay đến cô gái làm gãy cành mẫu đơn ở hội thưởng hoa.
Từ Thức còn đang ngơ ngác thì bà tiên lên tiếng:
- Đây là con gái ta tên gọi là Giáng Hương, người trước gặp nạn ở hội thưởng hoa nhờ chàng cứu thoát. Để đáp lại ơn xưa, ta cho nó kết duyên cùng chàng.
Từ Thức không thể chối từ, nên liền đó hôn lễ cử hành dưới ánh đèn mỡ phụng. Các tiên nữ đến mừng cưới rất đông. Từ Thức say sưa nhìn Giáng Hương xinh đẹp trong chiếc áo cưới. Các tiên đều chúc tụng, chuốc rượu cho Từ Thức đến say, rồi đưa vào loan phòng.
Ngày tháng trôi qua rất mau, Từ Thức sống trong hạnh phúc bên cạnh Giáng Hương đã được một năm. Một hôm, Từ Thức ra xem hồ, thấy sen nở tưng bừng thì động lòng nhớ đến cõi tục. Chàng dắt Giáng Hương lên đỉnh non tiên trỏ con thuyền đang lướt sóng trên mặt biển mà nói:
- Khi ra đi, ta còn có mẹ già không ai phụng dưỡng, mải say hương lửa duyên tiên mà ta quên mất đạo làm con. Vậy nàng hãy cho ta trở về quê hương lo bề báo hiếu rồi ta sẽ trở lên cùng nàng sống mãi nơi cảnh tiên.
Nàng Giáng Hương buồn bã báo tin cho mẹ hay. Ngụy phu nhân than rằng:
- Ta không ngờ con người ấy lòng trần chưa dứt, thôi thì đành vậy chớ biết sao.
Bèn ra lịnh cho Giáng Hương sắm sửa một chiếc xe mây để đưa Từ Thức về cõi trần. Hai người gạt lệ trong cuộc chia tay.
Từ Thức về đến làng xưa, mọi vật đều hoàn toàn thay đổi, người trong làng không một ai quen biết nên chẳng nhận ra Từ Thức. Chỉ có bãi cát cồn dâu còn trơ trơ đó.
Đi tìm những người già cả trong làng hỏi xem có ai biết đến Từ Thức không, thì có người đáp:
- Theo lời ông cố tôi kể lại thì ngày xưa tại làng này có ông Từ Thức đi lạc vào núi đá đã trên trăm năm rồi, từ ấy đến nay đã trải qua ba đời vua.
Hỏi đến người khác, họ cũng đáp như vậy, bấy giờ Từ Thức mới biết một ngày ở trên tiên bằng một năm ở dưới trần. Lòng Từ Thức buồn vô hạn. Muốn trở lại cảnh tiên thì xe mây đã biến thành chim loan bay mất rồi.
Từ Thức chẳng còn hy vọng gặp lại Giáng Hương nên khoác áo tơi, đội nón lá, chống gậy trúc đi vào núi Hoành Sơn rồi biệt tích.
0
Sự tích Tháp Bà

Vào lúc nước ta nội thuộc nhà Minh (bên Tàu) tại tỉnh Nam Định có vợ chồng người nông dân tên là Lương, sinh được một gái nhan sắc mặn mà đặt tên là Huệ. Khi cô Huệ vừa lớn lên thì cha mẹ qua đời, Huệ phải bỏ tỉnh Nam Định đi tha phương cầu thực. Về sau cô lưu lạc đến Thăng Long, nhờ biết nghề hát nên làm nghề đào hát.
Lúc bấy giờ, nhờ có sắc có duyên, lại hát hay nên đào Huệ được nhiều vương tôn công tử ngắm nghé, nhưng cô đào Huệ không muốn lấy chồng, định ở vậy theo đuổi nghiệp cầm ca.
Dưới sự cai trị khắc nghiệt của quân Minh, dân tình hết sức ca thán: nào sưu thuế, nào phải mò trai lấy ngọc, lên rừng tìm ngà voi, tê giác... khiến cho cô đào Huệ phải xót thương cho đồng bào bị áp bức quá tay.
Thuở đó, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn được dân chúng trong nước theo về rất đông. Cô đào Huệ bèn tìm cách liên lạc với nghĩa quân. Được ít lâu, cô mở một quán rượu tại thành Thăng Long đón rước quân sĩ nhà Minh hằng ngày lui tới. Không phải cô muốn thân thiện với chúng để tìm hư danh, mà là để thám thính quân tình và chờ ngày giết giặc.
Khi biết rõ tình hình quân giặc, cô đào Huệ liền mật báo cho Lê Lợi biết để sắp đặt việc đánh chiếm thành Thăng Long.
Lúc đó quân Minh thua nhiều trận ở Tuy Động, Bồ Cô, kéo về Thăng Long, thường đêm chúng kéo đến quán rượu của cô đào Huệ ăn uống rất đông. Nhờ có sắc, có duyên, lại là đào hát danh tiếng chưa có chồng nên quân Tàu tranh nhau mong chiếm đoạt cô đào Huệ cho kỳ được.
Đêm đó, trước giờ nghĩa quân Lê Lợi tiến đánh thành Thăng Long, cô phục rượu cho nhiều quân Tàu say khướt rồi bỏ vào bao cột miệng lại, đem quăng xuống sông Nhị, khiến chúng phải chết ngộp.
Rủi là trong cuộc giao tranh ác liệt giữa nghĩa quân và quân Tàu trấn giữ thành Thăng Long, cô đào Huệ đã bị chết.
Sau khi đuổi được quân Minh ra khỏi nước Nam, Lê Lợi lên làm vua, ông phong cho cô đào Huệ làm Phúc Thần Kiến Quốc Trình liệt phu nhân, lập đền thờ ở huyện Thọ Xương (phố Hàng Trống, Hà Nội) tục gọi là đền Đông Hương.
Đến sau, có lần thôn Tự Tháp (huyện Thọ Xương) bị một trận hỏa hoạn khủng khiếp. Giữa lúc lửa cháy dữ dội, người ta thấy một người đàn bà hiện ra trên ngọn cây tay cầm quạt, quạt tắt ngọn lửa, cứu nhiều gia đình thoát nạn.
Dân chúng nhớ ơn gọi nơi thờ cúng cô đào Huệ là Tháp Bà, hằng năm cúng tế rất linh đình. Đồng thời để tỏ lòng cung kính, trong lúc cúng tế, dân chúng không bao giờ dùng hoa huệ, tức là tên tục của cô đào Huệ vậy.
0
Chuyện Thượng Công Lê văn Duyệt chém Lãnh Tạo

Lãnh Tạo, người gốc ở huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ An văn võ đều làu thông, hiềm vì tính tình nóng nảy phóng túng, không chịu phục tùng một ai, nhất là các quan của triều đình thì Lãnh Tạo ra mặt chống lại hẳn. Có một lần Lãnh Tạo bị bắt giam về tội phạm thượng, nửa đêm Tạo bẻ gãy gông xiềng, giết lính canh, vượt ngục trốn đi. Sau đó, Lãnh Tạo chiêu tập được một số người lập thành đội ngũ, chiếm trọn truông Mây làm căn cứ, xưng hùng xưng bá một cõi. Quan quân địa phương không đủ sức triệt hạ Lãnh Tạo.
Lúc bấy giờ vua Minh Mạng đang trị vì, xuống chiếu cho Thượng Công Lê văn Duyệt ra làm Tổng trấn Nghệ An để đánh dẹp Lãnh Tạo.
Lãnh Tạo chẳng hề nao núng, quyết một phen thi tài đua trí với ngài Thượng Công.
Một hôm Thượng Công Lê văn Duyệt đang ngồi tại phủ đường thì quân vào báo, có quan Thanh tra của triều đình phái đến để gặp ngài Thượng Công. Bước ra nghinh tiếp, ngài Thượng Công thấy một đoàn người mũ áo chỉnh tề, kéo cờ “Phụng mạng Khâm sai” đã tiến vào phủ đường. Thượng Công Lê văn Duyệt liền mở cuộc tiếp kiến trong hậu. Lúc ấy, vị quan Khâm sai mới đến nắm tay ngài Thượng Công mà hỏi rằng:
- Từ ngày đáo nhậm tỉnh này, Thượng Công có biết Lãnh Tạo là ai không?
Rồi vị quan Khâm sai, chẳng đợi ngài Thượng Công trả lời, lấy tay chỉ vào ngực nói tiếp:
- Lãnh Tạo chính là tôi đây, tôi có vết son ở bên tai. Từ trước tới nay tôi có làm gì trái với phép vua, luật nước đâu mà ngài ra lệnh bắt tôi? Bữa nay tôi giả làm Khâm sai triều đình để vào đây gặp ngài, vậy ngài hãy tính sao thì tính.
Ngài Thượng Công ngó Lãnh Tạo rồi nói:
- Ta đến đáo nhậm xứ này, ai nghe oai danh cũng đều tùng phục, chỉ có ngươi không chịu phục tùng, kết bè kết đảng thì ta phải ra lệnh bắt ngươi. Nhưng, nay nhà ngươi cũng ra mặt thì ta cũng tha thứ cho. Vậy ta ban cho nhà ngươi một trăm lượng vàng, một trăm lượng bạc, nhà ngươi đừng chống lại quan quân nữa và hãy kết làm huynh đệ với ta, ta sẽ tâu với triều đình phong quan chức cho nhà ngươi. Nhà ngươi nghĩ sao?
Lãnh Tạo đáp:
- Vàng bạc thì tôi nhận, còn quan tước thì tôi không màng. Nay tôi có công đến đây, vậy ngài hãy cho một trăm tên quân đưa tôi về rừng là êm chuyện.
Thượng Công Lê văn Duyệt sợ có sự lôi thôi tại phủ đường, nên phải cho một trăm tên lính đưa Lãnh Tạo về truông Mây. Từ đó tiếng tăm Lãnh Tạo càng lừng lẫy.
Thua trí Lãnh Tạo, Thượng Công Lê văn Duyệt lấy làm tức lắm mới ngầm sai người đi tìm bắt mẹ và vợ của Lãnh Tạo. Sau đó, ngài Thượng Công truyền làm một cái chòi cao ba trăm thước để mẹ và vợ Lãnh Tạo ở trên đó rồi gởi thở cho Lãnh Tạo buộc phải về hàng, không thì mẹ và vợ bị xử chém.
Động lòng hiếu tử, xót nghĩa phu thê, Lãnh Tạo đành phải bỏ cuộc đời ngang dọc ở truông Mây, đem thân về nộp cho Thượng Công Lê văn Duyệt để cho mẹ và vợ được thả.
Lúc về đến thành, thấy mẹ và vợ bị nhốt trên lầu cao làm con tin, Lãnh Tạo không khỏi chạnh lòng, mới làm ra một bài phú, ví mình là tay chọc trời khuấy nước, nhưng vì chữ hiếu, chữ nghĩa mà phải bỏ thân về hàng. Ngài Thượng Công xem qua bài phú này, cho rằng Lãnh Tạo có óc ngạo mạn, lại căm giận Lãnh Tạo đã khinh rẻ mình lúc trước nên thừa lúc Lãnh Tạo vừa vào thành liền cho phục binh bắt trói lại đem ra chém đầu, đoạn dâng sớ về triều kể tội Lãnh Tạo, kèm theo bài phú để làm bằng.
Vua Minh Mạng xem qua bài phú của Lãnh Tạo, liền xuống lịnh khiển trách Thượng Công Lê văn Duyệt đã tự chuyên giết chết một người tài giỏi và phạt Thượng Công phải mất bổng lộc trong một năm.
0
Chuyện ông Cống Quỳnh

Đời xưa ở nước ta có ông Cống Quỳnh tục gọi là Trạng Quỳnh, tài giỏi mưu cao, nhưng có tật ưa đùa giỡn. Từ vua, quan cho đến dân dã, ông muốn đùa bỡn chế nhạo ai thì đùa bỡn không hề biết kiêng nể, lại nhờ đùa bỡn một cách khéo léo tài tình nên Cống Quỳnh không bị ai thù oán.
Một bữa nọ, nhân đi qua bến đò, nghe bọn chèo đò than thở với nhau về nỗi ế khách không kiếm đủ ăn. Cống Quỳnh liền hỏi:
- Nè, tụi bây có muốn đắt khách không?
Được Trạng hỏi đến, các gã chèo đò đều mừng rỡ đáp rằng:
- Muốn lắm!
Cống Quỳnh nhìn ra giữa sông thấy một cái cồn, liền bảo các gã chèo đò ra đó dựng lên một cái chòi, rồi đánh trống khua chiêng inh ỏi. Bên ngoài, Cống Quỳnh cho dán lên cửa một tờ giấy có mấy chữ do ông viết đi: “Cấm đi coi về nói lại”.
Những kẻ háo kỳ trong làng nghe thấy rùm beng ở ngoài cồn không biết là chuyện gì nên rủ nhau đi coi, đông như đám hội, bọn đưa đò, chèo chống mỏi cả tay mà khách qua lại vẫn nườm nượp. Lạ một cái là những kẻ đi coi rồi, về nín thinh, có ai hỏi thì chỉ lắc đầu chớ không đáp.
Bọn chèo đò được một dịp kiếm tiền nên càng phục tài Cống Quỳnh và cám ơn rối rít. Riêng người đi xem rất tức nhưng sau biết đó là mưu của Cống Quỳnh thì ai nấy đều nín thinh, không dám trách.
Một lần nọ, trời vừa hừng sáng, Cống Quỳnh lơn tơn ra chợ, rảo qua các hàng thịt nói rằng nhà mình có đám giỗ lớn, đãi nhiều người ăn, nên bảo các hàng thịt thái nhỏ thịt ra để sẵn đó, ông sẽ cho người nhà đến lấy.
Tin bằng lời, các nhà hàng thịt đua nhau xắt thịt để đó, tin chắc là trúng mối lớn. Chẳng ngờ, thịt thái ra cả thớt, đợi từ sớm mai đến chiều chẳng thấy ai đến lấy. Chẳng lẽ cứ chờ đợi mãi thịt sẽ thối mất, nên các hàng thịt đồng kéo tới nhà ông Cống Quỳnh nhắc lại chuyện mua thịt hồi sáng.
Thản nhiên như không, Cống Quỳnh nói với các người bán thịt:
- Này, tôi có làm gì đâu mà mua thịt?
Các hàng thịt đều nói:
- Hồi sáng ông có bảo thái thịt để làm giỗ.
Cống Quỳnh lắc đầu:
- Bậy lắm. Ai bảo thái thịt thì các ngươi cứ chửi nó, ta vô can.
Các hàng thịt tức mình thi nhau chửi bới kẻ bảo thái. Lúc bấy giờ nhằm niên hiệu Bảo Thái. Nhà vua nghe xôn xao ngoài chợ và lại nghe các hàng thịt chửi bới kẻ nào bảo thái, mới sai quân hầu đi dọ hỏi. Chừng vỡ lẽ ra, nhà vua mới hiểu Cống Quỳnh bày mưu cho các hàng thịt có cớ hài tên mình. Biết vậy mà không giận, nhà vua truyền mua tất cả thịt đã thái rồi và cho mời Cống Quỳnh vào cung trách khéo. Cống Quỳnh chỉ cười hì hì.
0
Ông cọp đình Tân Kiểng

Vùng Tân Kiểng xưa kia là nơi sung túc không kém gì Chợ Lớn hoặc chợ Bến Nghé (Sài Gòn).
Vào mùa xuân năm Canh Dần (1870), cách đây hơn hai trăm năm, dân chúng ở Tân Kiểng đang vui chơi thưởng xuân bỗng có con cọp từ phía rừng Sác chạy vào chợ, giết hại và gây thương tích cho nhiều người. Dân chúng hoảng sợ, chạy đến báo cáo sự tình cho quân sĩ triều đình ở Đồn Dinh (Tân Thuận). Quân sĩ kéo đến, bao vây bốn mặt nhưng con cọp nọ quá dữ, rút vào vách nhà, lùm cây mà thủ thế.
Một nhà sư, gọi là Tăng Ân bèn trình bày với quân sĩ:
- Con cọp này quá lợi hại. Tuy là Phật tử, thế phát qui y nhưng bần đạo sẽ ra sức cứu dân độ thế.
Quân sĩ đồng ý. Nhưng ông Tăng Ân còn một người đồ đệ tên là Trí Năng. Vì quá thương thầy nên Trí Năng cản lại.
Ông Tăng Ân đáp:
- Thầy còn dẻo sức, để thầy đánh cọp. Đệ tử tuy sung sức nhưng liệu đối phó nổi với con ác thú này chăng?
Nói xong, ông Tăng Ân dùng ngọn côn mà hươi lên, xốc vào quyết sống chết.
Tài nghệ của ông Tăng Ân quả thật là cao cường. Một lát sau, con cọp bị thương nặng, bò núp vào trong lùm tre mà cố thủ. ông Tăng ăn chạy theo đánh tới tấp nhưng con cọp nọ lúc hấp hối lại càng trở nên hung tợn.
Đồ đệ Trí Năng hét to:
- Xin thầy để tôi vào tiếp sức.
Chưa dứt lời, con cọp nhảy chồm ra, ông Tăng Ân bước thối lui, té sấp xuống cái mương nhỏ. Cọp vồ ông Tăng Ân.
Thấy thầy của mình lâm nguy, Trí Năng chạy ra đánh mấy đòn công khiến cọp chết tại trận. Nhưng vì vết thương trầm trọng, ông Tăng Ân cũng trút hơi thở cuối cùng.
Dân chúng vùng chợ Tân Kiểng vô cùng thương xót, cử hành tang lễ ông rất trọng thể. Họ an táng ông tại chỗ, trên mộ có xây tháp để ghi công đức.
Nay tháp ấy hãy còn, và tại đình Tân Kiểng (Sài Gòn) theo tục lệ có vẽ hình một con cọp thật to, nhắc lại thành tích xa xưa của ông Tăng Ân, người Phật tử xả thân để cứu dân.
0
Giồng Ông Ngộ

Cách đây hơn 150 năm, vùng Cần Giuộc (Long An) đã có xóm làng đông đúc nhưng xung quanh toàn là rừng rậm. Bấy giờ, ông Nguyễn Chất thưa với cha mẹ:
- Con muốn xuất gia đầu Phật, chẳng hay cha mẹ định liệu ra sao?
Cha mẹ ông đáp:
- Người đi tu cần có chí, có nghị lực tinh thần, chẳng bao giờ để ý đến sự đau khổ của thân xác. Nếu quả thực con mộ đạo thì con hãy lấy tay cầm một cục than lửa cho cha đốt thuốc.
Ông Nguyễn Chất lặng lẽ vào bếp, bốc cục than lửa, mang ra. Lửa cháy phỏng da nhưng sắc mặt của ông vẫn không mảy may lộ vẻ đau đớn.
Hiểu được chí nguyện của con, cha mẹ vui lòng cho phép Nguyễn Chất theo thầy đến tới chùa Vĩnh Quang, lấy pháp danh là Viên Ngộ, khách thập phương gọi ông là Tăng Ngộ.
Ông Tăng Ngộ chỉ ăn mỗi ngày mọt buổi ngọ phạn (buổi trưa) mà thôi. Xung quanh chùa, bấy giờ cây cỏ rậm rạp. Ông kêu gọi thiện nam tín nữ đến làm công quả, khai phá rừng hoang, đắp đường sá, khiến việc giao thông, mua bán trong vùng ngày càng tiện lợi. Đích thân ông Tăng Ngộ cũng đứng đầu chặt cây, ruồng gai. Đôi khi gặp cọp, ông dửng dưng làm công việc, cọp phải cúi đầu, chẳng bao giờ dám quấy rối thiện nam tín nữ.
Về sau ông Tăng Ngộ đến làng Thanh Ba, cất chùa Lan Nhược, đúc tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Khi đúc tượng lần đầu, phía sau lưng tượng có khuyết một chỗ.
Ông Tăng Ngộ nghĩ thầm:
- Chắc là đức Địa Tạng Vương muốn thử lòng ta.
Rồi ông bày lễ đúc tượng một lần thứ nhì. Khi nồi nấu đồng đang sôi, ông Tăng Ngộ bèn chặt đứt một ngón tay của mình mà thảy vào. Sau đó, khi đồng đã nguội, pho tượng hoàn thành tốt đẹp, không khuyết như lần trước.
Vài năm sau, cha ruột của ông mang bệnh, ông đến trước Phật đài xin trường tọa suốt ngày để báo hiếu. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong vùng xảy ra bệnh trái giống. Ông Tăng Ngộ cầu xin đức Địa Tạng phù hộ dân làng rồi tình nguyện tịnh cốc, không ăn bữa cơm nào cả.
Hai mươi sáu năm qua, năm 1846, ông Tăng Ngộ nghĩ rằng mình tu đã quá lâu mà chưa thành chánh quả nên nguyện tuyệt thủy (nhịn uống nước). Bốn mươi chín ngày sau, ông mất. Dân làng xây tháp kỷ niệm ông. Ngôi chùa mà ông xây cất ngày xưa, nay hãy còn ở Thanh Ba (Cần Giuộc) và khu vực do ông điều khiển khai hoang mãi đến nay dân chúng còn gọi là giồng Ông Ngộ. Ông Ngộ tức là ông Tăng Ngộ, tên thật là Nguyễn Chất trong truyện vừa kể trên.
0
Sự tích bà Mã Châu

Ở Việt Nam ta, những vùng có người Việt gốc Hoa phần đông đều sùng bái bà Mã Châu, cất chùa mà thờ, gọi nôm na là chùa Bà Mã Châu, chùa Bà hoặc chùa Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Bà tên thật là Mi Châu, sinh trưởng ở tỉnh Phước Kiến, đời nhà Tống, cách đây hơn 900 năm. Lúc nhỏ bà rất thông minh, tu theo Phật giáo và học thêm trong những pho sách cổ.
Cha của bà cùng với hai người con đi buôn chuyến về đến tỉnh Giang Tây. Chuyến buôn đó thuyền bị giông tố, cả ba đều té xuống biển sắp chết đuối.
Lúc giông tố đang diễn ra ở biển khởi, bà Mi Châu ngồi ở nhà, dệt vải bên cạnh mẹ. Bỗng nhiên, bà Mi Châu ngưng tay dệt, đôi mắt nhắm lại; hai tay đưa về phía trước như đang trì níu vật gì quá nặng, bà mẹ sợ hãi, nắm vai bà Mi Châu mà hỏi:
- Chuyện gì vậy? Hay là bữa nay con mang bệnh. Nếu mệt thì con nghỉ dệt.
Bà Mi Châu không trả lời.
Mẹ càng hốt hoảng:
- Sao con mê sảng như vậy? Hãy tỉnh dậy. Mẹ đi rước thầy về trị bệnh cho con. Điềm gì vậy?
Vừa nói, bà mẹ vừa lắc mạnh vào vai bà Mi Châu. Chập sau, bà Mi Châu mở mắt, khóc nức nở:
- Thưa mẹ? Chuyến này thuyền của cha và hai anh con bị giông tố. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ đã níu vai con mà khuấy rối. Rốt cuộc cha của con đành theo số mạng. Lúc bối rối, cha của con đưa tay lên cầu cứu nhưng tại mẹ mà con cứu không được. Còn hai người anh của con đều an toàn tính mạng, nhờ con cứu trước.
Bà mẹ bán tín bán nghi, ngỡ Mi Châu vừa tỉnh giấc chiêm bao nên nói nhảm.
Vài hôm sau, chiếc thuyền buôn trở về nhà với hai người con trai còn sống sót. Đại khái, hai người anh thuật lại: Lúc chới với giữa biển, họ được một bàn tay vô hình kéo lên thuyền. Riêng người cha thì bị cuốn trôi.
Tin ấy đồn đại xa gần. Từ đó, dân đi biển gặp sóng to gió lớn đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái, cầu cho tai qua nạn khỏi.
Năm Canh Dần (1110), vua nhà Tống phong cho bà Mi Châu là Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Lễ cúng của bà cử hành vào khoảng tháng âm lịch mỗi năm. Người Việt gốc Hoa sùng bái bà Mi Châu (nói trại là Mã Châu) vì bà đã phù hộ đi đường bình an từ Trung Quốc sang đây, đồng thời bảo vệ họ qua các tai nạn, bệnh tật khác.
0
Đức hạnh của bà Thái hậu Từ Dũ

Bà Từ Dũ sinh cách đây hơn 150 năm tại tỉnh Gia Định, huyện Tân Hòa, giồng Sơn Qui nay là Gò Công. Cha của bà là quan Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng.
Lúc còn nhỏ tại gia đình, bà tỏ ra thông minh, ham đọc kinh sử.
Năm 14 tuổi, bà được tuyển vào cung, hầu hạ vua Thiệu Trị rồi sinh ra vua Tự Đức.
Bà dạy con (vua Tự Đức) rất kỹ lưỡng, soạn ra pho sách Từ Huấn Lục để dạy vua về đạo đức, cách cai trị dân. Vua Tự Đức rất có hiếu, hằng đêm chầu chực bên mẹ, đọc kinh sử cho mẹ nghe đến quá khuya. Gặp việc khó giải quyết, vua Tự Đức thường hỏi ý kiến của bà Từ Dũ. Năm đó, triều đình cử hai vị quan đến khu rừng nọ để khai phá đất hoang, hai vị quan ấy trốn tránh nhiệm vụ, trở về tâu rằng:
- Vùng rừng rậm nọ khí hậu ẩm thấp, gây bệnh hoạn, khó bề trồng trọt.
Nghe qua, bà Từ Dũ vừa buồn, vừa giận, bèn ban xuống lời dụ, nhắc nhở ai nấy nên khai thác đất hoang:
Tân hóa đạo, chỗ đất rừng rộng lớn
Siêng mở mang thời địa lợi biết bao
Đạo tôi con đi chọn lựa nơi nào
Không đành ở lại đổ cho lam chướng
Ban đầu ít, dần về sau thạnh vượng
Ráng cần lao mới để tiếng non sông
Nếu đất hoang, đành đoạn để cho hoang
Giúp trộm giặc ở hang nơi tàng tị
Việc đời thảy tiên nan mà hậu dị
Nỡ cam tâm húy kỵ biết nài sao.

Nhờ đó các vị quan ăn năn, cố gắng khai khẩn thêm đất mới, đem dân đến lập nghiệp.
Đối với bọn cung nhân quá đông đảo trong hoàng thành, bà Từ Dũ luôn luôn khuyên họ đừng ở không, mất thời gian vô ích. Bà dạy họ lúc rảnh rang phải nuôi tằm, ươm tơ.
Dè đâu, bọn cung nhân nọ ỷ thế, mua lá dâu của dân chúng mà không chịu trả tiền. Bà Từ Dũ hay tin ấy bèn quát mắng:
- Sao bọn ngươi lộng quyền như vậy? Chẳng qua là ta muốn giúp các ngươi học chuyện nữ công. Từ rày về sau, ta đình bãi việc nuôi tằm.
Mặt khác, bà ra lệnh cho quân hầu phải đi điều tra kỹ lưỡng từng nhà, trả lại số tiền mua lá dâu mà trước kia bọn cung nhân đã ỷ thế mua chịu.
Trong việc cư xử hàng ngày, bà luôn luôn tránh việc sát sinh hại vật. Ở cung Gia Thọ, nơi mé hiên phía đông, trên thềm có một ổ kiến khá đông. Quân hầu dùng chổi mà quét kiến, nhưng chập sau kiến ở dưới hang lại bò lên, quân hầu bảo nhau:
- Ta nấu nước sôi mà xối. Lũ kiến sẽ chết tức khắc hết cả ổ.
Bà Từ Dũ can gián:
- Các ngưởi hãy dừng tay.
Rồi bà nói thầm, như khuyên nhủ lũ kiến:
- Chúng bay kéo đi nơi khác mà ở, kẻo quân hầu xối nước ngay bây giờ.
Chập sau, lũ kiến kéo đi sạch.
Đức vua Tự Đức thường đi ngự ở sông Lợi Nông, bắn chim để giải buồn.
Hôm ấy, vua Tự Đức đi vắng, dặn nữ quan ở nhà tâu cho bà Từ Dũ biết. Nhưng viên nữ quan quên tâu việc ấy, bà Từ Dũ suốt buổi nóng lòng chờ đợi con.
Đến chiều hôm ấy, vua Tự Đức trở về, qua thăm mẹ. Bà Từ Dũ rơi nước mắt, mắng rằng:
- Có một mẹ một con, vậy mà con đi xa không cho mẹ hay trước. Mẹ ở nhà mãi trông đợi.
Vua Tự Đức bèn quỳ lạy, chịu tội:
- Thưa mẹ, từ rày về sau, con không dám nữa.
Nhân dịp ấy, bà Từ Dũ nhắc lại cho vua Tự Đức nghe: Đức Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long) luôn luôn can gián con cháu không được bắn chim. Lý do rất dễ hiểu, nếu chim trống chết, chim mái sống lẻ loi, nếu chim con chết, chim mẹ buồn. Nếu muốn tập bắn, các hoàng tử cứ lo tập bắn bia. Từ nay đừng sát sinh hại vật nữa.
Bà Từ Dũ hưởng thọ 93 tuổi.
0
Chuyện Phù Đổng Thiên Vương

Đời vua Hùng Vương thứ 3, nước ta sống trong cảnh thái bình, an lạc. Vua Tàu bấy giờ là Ân Vương tìm cách gây sự để kéo quân sang xâm chiếm nước ta.
Vua Hùng Vương bèn triệu quần thần, bàn kế hoạch ứng phó. Một đạo sĩ bàn với vua:
- Nên cầu Long Quân (Rồng thần) thử xem sao.
Vua đồng ý, đắp bàn, đốt hương cầu tế suốt ba ngày. Bỗng sấm sét nổi dậy... Ngoài ngã ba đường, xuất hiện một ông lão hình dáng phi thường cao hơn thước, bụng lớn, râu tóc bạc phơ. Vua biết điềm trời xui khiến nên đích thân ra đường mời ông lão vào hoàng thành. Ông lão chẳng ăn uống, nói năng gì cả.
Vua nài nỉ:
- Nay vua nhà Ân sắp xua quân đánh nước ta, nếu có mưu kế chi, xin ông dạy bảo.
Ông lão xủ quẻ rồi nói:
- Ba năm nữa, giặc Ân mới tràn qua. Bây giờ vua hãy truyền lệnh cho quân sĩ luyện tập siêng năng. Mặt khác vua phải cầu hiền, ai dẹp được giặc thì phong cho tướng ấp...
Nói dứt lời, ông lão nọ bay bổng lên không trung, biến mất. Vua hiểu đó là Long Quân.
Đúng như lời tiên tri, ba năm sau, giặc Ân từ bên Tàu kéo sang. Vua sai sứ giả đi khắp chốn tìm nhân tài. Đến làng Phù Đổng, sứ giả hay tin trong làng có ông phú hộ, tuổi hơn 60 mà mới sinh được đứa con trai ba tháng tuổi. Tính tình của đứa bé khác lạ: nó không biết nói, cứ nằm ngửa suốt ngày.
Hay tin vua chiêu hiền, người cha bèn nói đùa với con:
- Sinh thằng bé này thật vô dụng, phải chi nó biết đánh giặc cứu nước.
Bỗng nhiên đứa bé ngồi dậy, khai khẩu:
- Hãy mời sứ giả vào đây, con sẽ lo liệu.
Sứ giả gặp đứa bé, ông ta chưa tin tưởng nơi năng lực của nó:
- Mày đừng nói đùa. Đánh giặc là việc hệ trọng.
Đứa bé nói nhanh:
- Sứ giả hãy tâu lại với nhà vua: Hãy đúc cho ta một con ngựa sắt cao thước, một thanh gươm sắt dài 7 thước, một cái nón sắt thật dày... Ta sẽ phá giặc Ân tan tành.
Hay tin ấy, vua sực nhớ đến điềm của Long Quân năm trước, truyền lệnh rèn đúc những khí giới mà đứa bé quái dị nọ đòi hỏi.
Sau khi nhận thanh gươm, con ngựa và cái nón, đứa bé nói với mẹ:
- Bữa nay, mẹ cứ nấu cơm thật nhiều để con ăn no, trước khi ra trận, gần đến ngày rồi.
Từ đấy, đứa bé lớn nhanh như thổi, hàng xóm phải đem trâu bò đến góp phần ăn cho đứa bé. Tuy nhiên đứa bé vẫn than rằng còn đói. Về quần áo, làng xóm phải chạy vạy mua sắm cho nó, sau rốt phải kiếm bông lau bông sậy về kết thêm để nó che thân mà nó vẫn cho rằng chưa đủ.
Quân nhà Ân ỷ thế đông đảo, từ bên Tàu kéo sang đến Trấn Sơn. Đứa bé vươn vai, duỗi chân đứng dậy, mình cao hơn 10 trượng. Sau khi nhẩy mũi hơn 10 tiếng, đứa bé vung gươm thét to:
- Ta là thiên tướng đây!
Rồi cỡi ngựa sắt, đội nón sắt, xua quân đến dàn trận, ứng chiến với quân Tàu. Giặc nhà Ân bị tan vỡ, lớp chết, lớp đầu hàng. Tục truyền rằng lúc ấy con ngựa sắt vừa sải vừa phun lửa.
Sau khi thắng trận, cậu bé cỡi ngựa bay về trời, tại núi Sóc Sơn.
Vua Hùng Vương nhớ ơn, tôn cậu bé làm Phù Đổng Thiên Vương, bảo dân làng Phù Đổng hằng năm phải tế lễ.
Từ đó về sau, giặc Ân chẳng dám tràn qua nữa, dân chúng hương cảnh âu lạc thái bình suốt 640 năm.
Đời sau, có bài thơ ca tụng công đức Phù Đổng Thiên Vương:
Vệ tinh năm tháng đám mây nhàn.
Muôn tía nghìn hồng chói thế gian.
Ngựa sắt ở trời danh ở sử.
Uy linh lừng lẫy khắp giang sơn.

Người đời nay suy theo tích xưa cho rằng Phù Đổng Thiên Vương là người Việt đầu tiên biết sáng chế ra thiết giáp.
0
Lý Ông Trọng đánh giặc Hung Nô

Ở nước ta, vào cuối đời vua Hùng Vương có một người cao lớn, vạm vỡ khác thường, cao hơn hai trượng ba thước, tính tình hung hăng. Tên của dị nhân ấy là Lý Thân.
Vì phạm tội sát nhân, Lý Thân bị bắt nhưng vua Hùng Vương tiếc con người dị tướng ấy, ra lệnh đặc xá.
Qua đời nhà Thục, An Dương Vương trị vì nước ta. Bấy giờ vua Tàu là Tần Thủy Hoàng toan gây chiến. An Dương Vương bèn bắt Lý Thân cống hiến cho vua Tàu để cầu hòa. Nhìn hình dáng của Lý Thân, Tần Thủy Hoàng rất đắc ý:
- Lý Thân là người kỳ tướng, ắt có kỳ tài.
Rồi phong cho Lý Thân chức Ty Lệ Hiệu Úy.
Từ đó, Lý Thân được Tần Thủy Hoàng trọng dụng, trấn giữ vùng Lâm Thao, ngừa giặc Hung Nô khuấy nhiễu biên giới. Thấy hình thù quái đản của Lý Thân, bọn Hung Nô khiếp vía, chẳng dám lại gần.
Tần Thủy Hoàng phong cho Lý Thân tước Vạn Tín Hầu rồi cho phép về quê quán.
Về sau, bọn Hung Nô ỷ thế, đến biên giới nước Tàu toan quấy nhiễu, Tần Thủy Hoàng sai sứ qua nước ta, đòi Lý Thân trở lại dẹp giặc, Lý Thân không đồng ý, lén trốn lên núi mà ở ẩn, biệt tích...
Để khỏi phật lòng sứ Tàu, An Dương Vương bèn trả lời:
- Lý Thân đã chết vì bệnh thổ tả.
Sứ Tàu không tin. Vua An Dương Vương bèn cho nấu cháo, đổ xuống khe suối rồi chỉ cho sứ Tàu thấy:
- Đó, Lý Thân ăn xong, phải bệnh nên mửa ra tại đây.
Sứ Tàu tin nơi bằng cớ ấy, về nước. Nhưng Tần Thủy Hoàng sai người qua nước ta để yêu cầu:
- Nếu Lý Thân đã chết thì hãy ướp xác gởi qua bên Tàu.
Cực chẳng đã, An Dương Vương đành tìm kiếm cho kỳ được Lý Thân, Lý Thân buồn bã vô cùng, nhưng vì tuân lời nên đành tự vận mà chết.
Vua An Dương Vương dùng thủy ngân ướp xác Lý Thân, nạp cho Tần Thủy Hoàng, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc, bèn truyền lệnh đúc tượng Lý Thân, ban cho hiệu là Lý Ông Trọng.
Tượng ấy bằng đồng, thật to lớn, trong ruột trống rỗng có thể chứa đến vài mươi người.
Đúc xong, Tần Thủy Hoàng truyền đem tượng Lý ông Trọng đặt tại cửa thành Hàm Dương. Bấy giờ, sứ giả Hung Nô thường qua nước Tần để thương thuyết. Khi sứ giả đi ngang qua, Tần Thủy Hoàng sai quân sĩ núp vào trong ruột của pho tượng, làm cử động tay chân.
Vì nhìn không rõ, các sứ giả ấy về đất Hung Nô thuật lại:
- Quả thật Hiệu úy Lý Thân còn sống, ta chẳng nên gây hấn với nước Tàu nữa.
Đời nhà Đường, nhân lúc Triệu Xương phụng mạng vua Tàu qua cai trị nước ta, Lý Thân lại hiện hồn về báo mộng. Khi thức dậy, Triệu Xương bèn cho điều tra quê quán của Lý Thân, tìm ngôi nhà cũ hồi xưa để lập đền thờ phượng.
Ngôi đền ấy rất linh hiển, về sau, Cao Biền khi cai trị nước ta cũng truyền lệnh khắc tượng của Lý Ông Trọng mà thờ, dân chúng hàng năm cử hành lễ tế rất trang nghiêm.
0
Tích Ông Bổn

Ở Chợ Lớn, tại góc đường Khổng Tử và Phùng Hưng có ngôi chùa Phước Kiến thờ ông Bổn thành lập cách đây hơn 100 năm.
Ông Bổn là ai?
Sử Tàu ghi rõ: Đời Vĩnh Lạc (1403-1424), vua Tàu sai quan Thái giám tên là Trịnh Hòa đi điều tra các nước ở miền Đông Nam Á. Quan Thái giám tuân lệnh, tìm cách liên lạc với những người Hoa kiều hải ngoại, chăm sóc đến đời sống của họ, dạy họ phải giữ thuần phong mỹ tục. Chuyến trở về quan Thái giám mua ngọc ngà châu báu, các sản phẩm miền nhiệt đới từ Ấn Độ, Nam Dương quần đảo, Chiêm Thành, Mã Lai, Xiêm, Việt Nam đem về dâng cho vua.
Khi đi du hành, ông Trịnh Hòa cố gắng giúp đỡ dân chúng, thi ân bố đức, giúp giới Hoa kiều tìm sinh kế.
Sau khi ông mất, giới Hoa kiều nhớ ơn ông, thờ làm phúc thần. Vua Tàu phong sắc cho ông chức tước “Bổn Đầu Công”, gọi tắt là ông Bổn.
Ở những xóm đông đảo người Việt gốc Hoa, ngày nay còn nhiều người thờ ông Bổn và nhắc lại sự tích ông Bổn đi chẩn bần ngày xưa. Do đó, nhiều người ngỡ ông Bổn là ông Bao Công!
0
Chuyện Phạm Tử Hư

Sách Lĩnh Nam Chích Quái có chép truyện sau đây để nêu gương của Phạm Tử Hư thờ thầy học là Công Trực.
Đời nhà Lý, Phạm Tử Hư là cậu học trò nghèo nhưng rất hiếu học, nhờ ơn một nho sĩ tên là Công Trực sớm hôm dạy dỗ. Việc học tập đang tiến hành, dè đâu giữa chừng ông Trực nhuốm bệnh rồi mất.
Công Trực chỉ để lại một đứa con nhỏ tuổi, không ai lo việc phụng thờ.
Trước tình cảnh ấy, Tử Hư về nhà nài nỉ với mẹ ruột:
- Thưa mẹ, bấy lâu nay con chịu ơn thầy Công Trực. Giờ đây thầy mất, thiếu người thờ phụng. Xin mẹ cho con xin chút ít ruộng đất, về phần chia cho con sau này.
Mẹ Tử Hư chiều ý con:
- Mẹ có thể cho con sáu sào ruộng.
Tử Hư nói:
- Vậy thì xin mẹ cho phép con bán trước 2 sào để giúp thầy.
Hai sào ruộng ấy bán được 30 quan tiền. Sau khi làm lễ tế, Tử Hư cất một cái chòi tranh gần bên mộ của thầy, ngày đêm lo việc nhang khói, đằng đẵng suốt ba năm cho trọn thời kỳ để tang.
Khoa thi đang kỳ mở hội, Tử Hư đến kinh đô thi đậu tam trường rồi đậu tứ trường. Tháng 11 năm Đinh Mão, Tử Hư lại đi thi lần chót. Vì đi quá nhọc nhằn mệt mỏi nên buổi trưa nọ Tử Hư ghé vào chùa Châu Võ mà tạm nghỉ cho mát.
Vừa bước vào chùa, Tử Hư vô cùng ngạc nhiên, thấy thầy cũ của mình là Công Trực đã ngồi sẵn bên trong tự bao giờ.
Tử Hư hoảng sợ nhưng cũng mừng, bèn quỳ lạy:
- Thưa thầy, từ bảy tám năm qua thầy đã mất. Tại sao thầy hiện về đây được?
- Tử Hư! Con hãy an tâm. Thầy cảm nghĩ tấm lòng hiếu thảo của con nên muốn gặp mặt con để dạy bảo đôi điều.
- Xin thầy tha tội. Bấy lâu vì quá túng bấn, con chưa cúng kiếng, hôm nay, con lại thiếu lễ vật.
Thầy đáp:
- Này Tử Hư! Xưa kia nhờ ta sống liêm khiết, tuân theo đạo lý nên khi thác, Ngọc Hoàng cho ta làm Phán Quan trông coi những kỳ thi, lựa người hiền đức tài năng...
Tử Hư hỏi:
- Thưa thầy, phen này con thi đậu hay thi rớt? Nếu có thể, xin thầy mách bảo...
Thầy đáp:
- Thiên cơ bất khả lậu. Tuy vậy, thầy hứa cố gắng giúp con. Con hãy về nhà, lo học tập thêm đi. Rồi đợi ngày 20 tháng Chạp năm sau, con đến chùa này lần nữa, thầy sẽ mách bảo đích xác hơn.
Tử Hư về nhà chăm lo học hành, thuật cho mẹ nghe chuyện gặp thầy. Đúng ngày hẹn, chàng mua sắm rượu thịt quảy lên vai, lên đường.
Đến chùa, Tử Hư lấy làm sung sướng mà gặp mặt thầy ngồi sẵn chờ tại đó. Hai thầy trò ăn uống vui say. Tàn buổi tiệc mọn, thầy bảo:
- Con hãy thay quần áo của người đệ tử của thầy mà mặc vào để cải trang.
Cải trang xong, thầy phất tay vài ba lượt trên không trung. Hai thầy trò đằng vân lên trời, ghé vào nơi làm việc của Nam Tào, Bắc Đẩu.
Nam Tào ngồi giữa điện, nghe lời báo cáo của các nơi về cuộc thi sắp tới. Đại khái, Nam Tào chú ý tuyển chọn những người có đức hạnh và đánh rớt kẻ ngỗ nghịch.
Sau khi chọn những người đậu cao, Phán Quan - thầy của Tử Hư - bèn trình bày:
- Ở vùng Hoa Phong, Phạm Tử Hư nổi danh học giỏi. Xin Nam Tào chiếu cố đến.
Nam Tào lắc đầu:
- Tử Hư học giỏi, trẻ tuổi... nhưng hắn là người kiêu căng.
Thầy của Tử Hư bàn vào:
- Thưa Nam Tào, Tử Hư mồ côi từ bé, chăm học nhờ thầy rất có nghĩa. Xin Nam Tào khoan dung, đừng để nó thi rớt.
- Vậy thì kỳ thi này, ta cho nó đậu gần chót trong bảng...
Hai thầy trò về chùa, tạm biệt. Quả nhiên khoa thi năm Mậu Thìn, Tử Hư được ghi tên vào bảng hổ.
0
Hoàng đế bán hành

Ngày xưa, nơi miền thôn dã kia có anh nông dân nghèo, nghèo đến nỗi cha già bị bệnh không tiền chạy thuốc. Hôm người cha chết, anh nông dân vác xác cha ra đồng để chôn, rủi vấp té làm xác cha rơi xuống nước cuốn mất tăm. Anh ta tìm mãi không gặp, đành buồn bã trở về nhà.
Đêm đó, anh nằm ngủ, bỗng có một con rồng xanh hiện đến van xin anh hãy đưa xác cha anh đi chôn nơi khác vì hiện cái xác đó vướng vào hàm rồng làm đau đớn vô cùng.
Anh nông dân liền hỏi rồng xanh rằng hiện xác của cha anh ở đâu. Rồng xanh bảo cho anh biết cái xác đó vướng vào khe đá ở ngoài cửa sông, hãy vớt lên vì nơi đó là hàm rồng.
Nói rồi, rồng xanh biến mất.
Ngày sau anh nông dân nhớ lời dặn, đến khe đá ở cửa sông tìm xác cha vớt lên đem đi chôn ở gò cao. Đêm đến, rồng xanh hiện đến vui vẻ cám ơn anh nông dân, rồi tặng anh một lọ thuốc trường sinh, dặn anh hãy cất kỹ và muốn sống lâu thì đem ra dùng.
Anh nông dân liền đem lọ thuốc giấu kín trong buồng không cho ai biết. Ít lâu sau anh lấy vợ. Một hôm có chuyện ra đồng, anh về chậm. Chị vợ ở nhà lục lọi trong buồng chợt bắt gặp lọ thuốc trường sinh. Mở ra xem thì hương bay ngào ngạt, dính vào tay chỗ nào thì chỗ đó trở nên đẹp đẽ khác thường.
Chị vợ liền đem cả lọ thuốc ra sau hè đổ vào nước tắm rửa, người vụt trở nên đẹp như tiên. Anh nông dân về trông thấy thế thì hết sức ngạc nhiên, gạn hỏi. Chị vợ bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện, anh chồng lấy lọ thuốc trường sinh ra xem quả thấy không còn một giọt.
Việc đã lỡ rồi, lại thấy vợ xinh đẹp như tiên nga, anh chồng đã không giận vợ, còn yêu thương vợ hơn trước.
Lúc bấy giờ, dân làng thấy vợ anh nông dân bỗng trở nên xinh đẹp như tiên thì trầm trồ bàn tán, chẳng bao lâu chuyện này loan truyền đi khắp nơi.
Lúc bấy giờ có ông vua háo sắc, nghe đồn về sắc đẹp của vợ anh nông dân, liền cho đòi vào cung, bắt làm cung nữ. Vợ chồng đang tình mặn nghĩa nồng, bỗng bị rẽ thúy chia uyên, họ đành phải quẹt nước mắt chịu cảnh nhớ thương. Nhất là anh nông dân chẳng biết làm sao để giành lại vợ.
Một hôm anh ra sau hè, chỗ vợ anh đã tắm rửa bằng lọ thuốc trường sinh hôm nọ, thấy khóm hành trồng cạnh đó bỗng to lớn khác thường. Anh bèn nhổ hết khóm hành gánh lên kinh vừa bán vừa rao:
Lá bằng đòn gánh,
Cú bằng bình vôi,
Ai mua hành tôi,
Thì thương tôi với...

Hôm đó người vợ ở trong cung, nghe người bán hành rao lên những lời kỳ lạ, nhận ra tiếng của chồng mình, chị liền mừng rỡ cất tiếng cười.
Vị hoàng đế háo sắc từ hôm bắt được người đẹp vào cung, đã tìm đủ mọi cách để làm cho nàng cười, nhưng lúc nào nàng cũng buồn xo, ngày đêm khóc lóc. Bây giờ, thấy nàng vừa nghe người rao hành thì bật cười liền cho quân hầu gọi anh bán hành vào cung rồi bí mật trao quần áo, gánh gánh hành vừa đi vừa cất tiếng rao để người đẹp cười với mình.
Anh nông dân đã thay đổi quần áo đóng vai vua bèn hạ lịnh bắt ngay người bán hành (do ông vua háo sắc giả dạng) đem chém đầu.
Ông vua thất kinh nói thế nào cũng chẳng ai tin nên bị chết chém. Còn anh nông dân được lên làm vua hưởng cảnh giàu sang với người vợ đẹp.
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»