📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 394 lượt xem — Trang 6 / 6
Thầy pháp sợ ma

Ở xóm Đông, có một ông lão thầy pháp lừng danh. Một hôm nọ, lúc ăn cơm, vợ của lão bèn hỏi ướm thử:
- Mình sợ ma quỷ không? Ma quỷ có thật hay không?
Lão cười rồi đáp:
- Nhất định có ma quỷ và tôi chẳng bao giờ sợ chúng nó. Nghề của tôi rất già dặn, dẫu ma quỷ thứ dữ, tôi trừ gấp một khi. Nếu non tay ấn, tôi đã bị chúng nó vật từ lâu rồi.
Nhưng người vợ vẫn chưa tin, tìm cách thử thách tài năng chồng mình. Chiều hôm đó, lão đi làm đám ở xóm bên cạnh. Vợ lão đứng nép vào bụi cây rậm rạp, tay cầm khúc củi cháy dang dở.
Trong đêm khuya, lão phù thủy lò mò lần bước trở về, mang cái đãy xôi, chuối, gà luộc của thân chủ tặng cho. Vợ lão hay trước, bèn thổi lên cho đóm than cháy đỏ, đón đường lão, từ từ nâng khúc than cháy đỏ lên cao, hơ qua hơ lại như bóng oan hồn yểu tử bay vật vờ trong cõi âm.
Lão hoảng hốt, rởn tóc gáy, sực nhớ tới mấy câu thần chú trừ tà. Lập tức lão thủ bộ, bỏ đãy xôi thịt xuống đất hai tay chắp bắt ấn, miệng đọc lẩm bẩm:
- Yểm thiên lý thu lai, vạn lý thu lai?
Vợ lão nín cười, đi xăm xăm lại gần, huơ tới huơ lui khúc củi cháy dang dở.
Lão thầy pháp sợ điếng hồn, tay chân run lẩy bẩy, quên cả việc bắt ấn, quên cả đãy xôi thịt. Lão ta cắm đầu chạy thẳng về nhà, miệng đọc hớt hải:
- Yểm thiên lý... Yểm vạn lý... Trời đất ơi, tha tội cho tôi, tội nghiệp tôi. Sáng mai tôi sẽ cúng xôi cho các người.
Chờ cho lão chạy khuất dạng, vợ lão bước ra đường xách cái đãy, ung dung trở về, đem giấu kín trên giàn bếp.
Sáng hôm sau, lão cố giữ nét mặt trầm tĩnh, vợ lão hỏi:
- Mình đói bụng không?
Lão đáp:
- Đói chớ.
- Vậy thì vợ chồng mình cùng ăn bữa xôi thịt.
Nói xong, bà vợ đem mấy vắt xôi đặt vào đĩa rồi rút con gà luộc trong đãy, đem chặt từng khúc.
Lão trố mắt...
- Xôi này giống như xôi... Con gà này giống như con gà...
Bà vợ nói nhanh:
- Mình lẩm cẩm quá. Xôi là xôi, gà luộc là gà luộc. Con ma hồi tối là... con ma, chẳng có gì ngạc nhiên cả.
Lão thầy pháp cúi đầu ăn miết, mặt mày sượng sùng, hiểu rằng mình đã mắc mưu của vợ hồi tối.
0
Dốt đặc hơn hay chữ lỏng

Ông bá hộ nọ sinh ra hai người con gái xinh đẹp. Với bản chất lo xa, ông gả con gái lớn cho anh thanh niên dốt đặc, suốt ngày anh ta chỉ biết chăm lo đồng áng. Riêng về đứa con gái út, ông gả cho một chàng nho sĩ đang học dở dang.
Hôm nọ, nhân lúc rảnh rang, ông bá hộ rủ hai chàng rể đi dạo chơi ngoạn cảnh. Trên dòng sông trong vắt, nước chảy êm đềm, ông thấy một con ngỗng vừa lội, vừa kêu inh ỏi.
Ông bèn hỏi:
- Này hai con, tại sao con ngỗng kêu to như thế?
Chàng rể thứ, ỷ mình biết chút ít chữ nghĩa bèn vỗ trán suy nghĩ, long trọng nói:
- Trường cảnh tắc đại thanh.
Trong khi ấy, chàng rể lớn giải thích:
- Con ngỗng kêu to vì trời sanh nó sẵn như vậy!
Lát sau, ông bá hộ lại gặp một con vịt lội tung tăng trong ao, ông hỏi hai chàng rể:
- Tại sao nó nổi trên mặt nước?
Chàng rể nho sĩ nói câu chữ:
- Đa mao thiểu nhục tắc phù.
Chàng rể nông dân lắc đầu:
- Chẳng có gì lạ cả. Trời sanh nó nổi thì nó nổi...
Mãn cuộc du ngoạn, ông bá hộ đưa hai chàng về nhà uống rượu, ông gật gù khen người rể thứ:
- Con học nhiều, rành sách vở thánh hiền. Hồi nãy con giải đáp rành rẽ, cha lấy làm hài lòng...
Người rể lớn nghe vậy, tỏ thái độ bất mãn:
- Vậy chớ hồi nãy khi thấy con ngỗng kêu lớn tiếng, dượng Ba nói câu gì?
Người rể thứ đáp:
- Trường cảnh tắc đại thanh, nghĩa là cổ dài thì kêu tiếng to lớn.
Người rể lớn đáp:
- Vô ích quá. Vậy chớ con ếch, con ễnh ương đâu có cổ dài, chúng nó vẫn kêu to! Còn dượng cắt nghĩa tại sao con vịt nổi trên mặt nước?
- Tôi nói: Đa mao thiểu nhục tắc phù, nghĩa là nhiều lông, ít thịt thì nó nổi.
Người rể lớn cãi:
- Vậy chớ chiếc thuyền đâu có lông, đâu có thịt mà nó vẫn nổi trên mặt nước? Tóm lại, hai câu chữ nho của dượng Ba đều... trật cả. Theo ý kiến nông cạn của tôi thì “ngỗng kêu lớn tiếng”, “vịt nổi trên mặt nước” đều do trời sinh ra như thế, chẳng cần giải thích lôi thôi.
Người rể nho sĩ lắc đầu, nhìn nhận rằng lời nói ngang của chàng dốt kia cũng có lý.
Ông bá hộ bèn cười khì, lẩm bẩm:
- Thế mới hay, lời tục thường nói: Thà dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.
0
Muôn sự của chung

Xưa kia có vị đạo sĩ tu tiên tại núi Lao Nhơn, lúc rảnh rang, đạo sĩ xuống núi để dò xét tình hình người dưới trần tục. Đạo sĩ bèn giả dạng làm người tiều phu nghèo khó. Lúc chợ đang nhóm họp đông đảo, đạo sĩ đến gần một anh bán trái đào mà nói:
- Tôi đang khát nước. Anh cho tôi xin một trái.
Anh nọ nói nhanh:
- Ông lão này vô duyên quá? Ở đây chỉ có bán với buôn, ông ngủ mê à? Tôi chẳng cho ông trái nào đâu.
Đạo sĩ nài nỉ:
- Anh còn hàng trăm hàng ngàn trái đào chồng chất trên cỗ xe bò này. Cho tôi một trái, thiết tưởng anh chẳng thiệt thòi gì đâu? Anh nên suy nghĩ lại.
- Đừng nói nhiều vô ích, ông hãy đi nơi khác.
Đạo sĩ mỉm cười:
- Bây giờ, tôi mua một trái. Anh bán không?
- Đưa tiền cho tôi xem.
Đạo sĩ đưa tiền cho anh nọ rồi ông cầm một trái đào mà ăn ngon lành: ăn xong, ông ta nài nỉ:
- Cho tôi xin thêm một trái. Tôi còn đói quá.
Anh nọ cương quyết từ chối. Hai người cãi vã, ban đầu còn nhỏ nhẹ, lần lần sinh to tiếng. Người qua kẻ lại xúm nhau xem, ngày càng đông.
Đạo sĩ cáo từ xin phép đi nhưng anh nọ nắm tay lại:
- Ông định ăn cắp của tôi trái đào này à?
Người đứng xem bàn tán, có kẻ nói:
- Thôi? Tôi sẵn sàng trả tiền trái đào này giúp cho ông lão ấy.
Đạo sĩ gật đầu cám ơn người lạ mặt, ông ta ung dung ăn, sau chót, ông cầm cái hột đào, thổi bùa phép, vào rồi đem chôn dưới đất, ngay nơi ông ta đứng.
Chôn xong, ông ta nói to:
- Bà con cho tôi xin một chút nước sôi.
Ai nấy ngạc nhiên, tò mò muốn xem ông lão nọ giở trò gì. Một người tình nguyện chạy vào quán nước mượn cái ấm nước sôi, đem ra trao cho lão.
- Này, ông dùng nước sôi để làm gì?
Ông lão đáp:
- Thiên cơ bất khả lậu.
Nói xong ông tưới nước sôi ngay nơi chôn hột đào khi nãy.
Thế rồi, trong phút giây, mặt đất nứt nẻ, hột đào lên mộng, nở ra hai cái lá xanh mơn mởn, gốc cây đào to lớn dần, mọc thêm nhánh to nhánh nhỏ. Lá trổ xum xuê ngay các chồi non. Trong phút chốc, cây đào nọ trổ bông. Bông lớn lên, kết trái, ban đầu trái còn xanh nhưng bỗng nhiên mùi thơm ngào ngạt dâng lên. Cả đám cử tọa hò reo:
- Xem kìa, trái chín hết rồi.
Lão ta đáp:
- Nếu trái đã chín, ta sẵn sàng hái xuống, tặng cho bà con. Ở chợ này mỗi người ăn một trái cho biết. Nó là giống đào tiên, lâu lâu mới trổ một lần.
Ban đầu, nhiều người do dự, bàn tán lợi hại:
- Tại sao lão này tử tế quá, hay là đào tiên giả?
Nhưng ăn xong, ai nấy đều nhìn nhận:
- Đào ngon thiệt.
Họ xin thêm mỗi người một vài trái, đem về làm giống và tặng cho họ hàng bà con.
Thái độ của ông lão luôn luôn vui vẻ, ông leo lên tận ngọn cây, hái đến trái cuối cùng, đem xuống tặng. Hái xong, lão nói to:
- Bây giờ tôi xin kiếu bà con, cho tôi mượn cây dao.
Cầm lấy con dao, lão đốn gốc cây đào nọ, vác lên vai, đi lững thững về phía dãy núi xa xa.
Nhưng anh bán đào bỗng la hoảng, khi nhìn thấy cả xe đào đều biến mất, chẳng còn một trái. Ra nãy giờ lão già đã... hóa phép đem tất cả đào của hắn phân phát cho khách qua đường, và gốc cây đào mà lão vác trên vai chính là cái gọng xe, bị lão chặt đứt hết một khúc.
Anh ta khóc hu hu trong khi người xung quanh cười rộ...
Mới hay:
Ở đời muôn sự của chung.
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi.

0
Quẻ tử vi tốt xấu

Ngày xưa, vị hoàng đế nọ sau khi bình định sơn hà bèn trở về cố hương, giao thiệp thân mật với các bực kỳ lão trong làng, bày tiệc yến ẩm để tạ ơn xưa.
Vị hoàng đế ngồi nơi ghế danh dự, xung quanh ngài còn hàng trăm quân sĩ hầu cận, giữ trật tự bỗng một quân hầu đến quỳ trước mặt vua:
- Tâu bệ hạ, có ông lão nọ muốn ra mắt nhưng bề tôi ngăn cản, chờ lệnh bệ hạ.
Vị hoàng đế tỏ vẻ không bằng lòng:
- Cứ gọi lão ấy vào đây hầu chuyện với ta.
Lúc sau, một ông lão quê mùa bước tới, quỳ xuống lạy...
Hoàng đế nói nhanh:
- Cứ bình thân. Có chuyện gì quan trọng?
Ông lão đáp:
- Kẻ phàm phu này muốn kêu oan với Điện hạ một điều, nhưng nói ra sợ phạm thượng.
- Cứ nói. Ta không hề câu chấp.
- Tâu Điện hạ, tính theo quẻ tử vi thì Điện hạ và kẻ phàm phu này cùng sinh vào một làng, một ngày, một giờ. Nhưng lớn lên, cớ sao Điện hạ trở nên một bậc kỳ tài, trị vì muôn dân trăm họ còn kẻ phàm phu này cứ sống hẩm hiu, cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc. Mong Điện hạ xét giùm. Tại sao Con Tạo trớ trêu, bày nhiều điều... bất công.
Hoàng đế mỉm cười, truyền quân hầu rót rượu mời ông lão quê mùa ấy. Lát sau, hoàng đế hỏi khẽ:
- Hằng ngày lão sinh sống bằng nghề gì?
- Tâu Điện hạ, hàng ngày kẻ phàm phu này chỉ chuyên nghề nuôi ong mật, bán sáp và mật mà độ nhật, ngoài ra chẳng còn nguồn lợi nào khác nữa.
- Tất cả được bao nhiêu ổ ong?
- Tâu Điện hạ, được mười tám ổ.
Hoàng đế thích chí, vỗ vai ông lão mà giải đáp:
- Thế là rõ ràng quá rồi. Lão sung sướng hơn ta. Quẻ tử vi đúng lắm.
Ông lão ngơ ngác:
- Xin Điện hạ... nói thêm.
- Trời đã định cho mỗi chúng ta trị vì thiên hạ. Như ta đây, lên ngôi hoàng đế nhưng quyền hành chỉ gồm trong một nước. Còn lão, trời hậu đãi hơn nhiều, cho cai trị đến mười tám nước. Mỗi ổ ong là một nước, có ong chúa, có quần thần, có dân chúng. Mười tám ổ ong tức là nước chư hầu dưới tay của vị hoàng đế trung ương. Vị hoàng đế ấy chính là lão đó.
0
Người bán dầu

Đời nhà Tống, ông Trần Nghiêu Tư nổi danh là tay thiện xạ bách phát bách trúng. Gặp những tay thiện xạ khác, Trần Nghiêu Tư luôn khoe khoang:
- Khắp nước Trung Hoa, chưa ai tài giỏi hơn tôi.
Hằng ngày Trần Nghiêu Tư ưa tập dượt bắn cung, tìm các loại chim chóc trong vườn mà giết thử. Hôm ấy, có ông lão bán dầu đi ngang qua. Thấy có người bắn quá giỏi, ông ta tò mò, đặt gánh xuống xem rất lâu.
Sau khi bắn xong một loạt chín mười mũi tên, Trần Nghiêu Tư lấy làm tự đắc, nhìn xung quanh chợt thấy ông lão bán dầu. Ông lão khẽ gật đầu...
Trần Nghiêu Tư gọi ông lão:
- Ông biết bắn cung à? Bắn như tôi, ông phục tài không?
Ông lão đáp:
- Chằng có chuyện gì đáng phục cả. Trên thế gian này, hễ làm quen tay thì tất nhiên sẽ khéo léo. Thí dụ như ban nãy, tôi thấy ông bắn mười phát, trúng đích đâu được tám, chín. Tài nghệ của ông chỉ tạm gọi là được, vậy thôi.
Trần Nghiêu Tư tức giận, cho rằng ông lão khinh khi mình:
- Ông này ăn nói lếu láo quá! Vậy chớ ông bắn được như tôi không?
Ông lão đáp:
- Tôi có sở trường khác. Bấy lâu nay sống nhờ nghề bán dầu, tôi trau dồi nghề rót dầu, chắc ông khó làm được như tôi. Ông hãy xem này.
Dứt lời, ông lão đặt một cái bầu xuống đất, đặt thêm một đồng tiền điếu trên miệng bầu rồi từ từ rót dầu xuống.
Giọt dầu từ trên cao, nhễu thằng, chui qua lỗ vuông của đồng tiền điếu trước khi rớt vào đáy bầu, ông lão cứ rót như vậy mãi đến khi cái bầu gần đầy rồi nói với Trần Nghiêu Tư:
- Ông xem, mặt đồng tiền điếu vẫn khô ran, chẳng dính chút dầu nào cả. Tôi chẳng phải là tài giỏi hoặc có thiên tư gì, chẳng qua là quen tay... Cũng như ông quen bắn cung vậy thôi.
Trần Nghiêu Tư gật đầu, thấm ý. Từ đó về sau, ông đổi tính, bớt khoe khoang hơn trước.
0
Chuyện hai con ngỗng chung tình

Tại làng kia, có một nhà cự phú thích ăn ngon. Trên mâm cơm bao giờ cũng có món ngon vật lạ, trong nhà lại nuôi heo, gà, vịt, ngỗng rất nhiều, để khi nào cần ăn thì bắt đem ra “thịt” liền.
Ngày nọ, chủ nhà đi xa về có dắt theo một người khách quý, liền bảo gia nhân làm tiệc đãi đằng. Ăn uống xong, chủ nhà đưa khách đi dạo ngoài sân. Lúc bấy giờ, có đôi ngỗng trắng dắt bầy con đi ngang qua. Chủ nhà liền chỉ cho khách xem và nói:
- Bạn có thấy đôi ngỗng đó không? Trông chúng mạnh khỏe nhanh nhẹn, lại mập mạp nhiều thịt nữa. Ngày mai tôi sẽ “thịt” một con để đãi bạn.
Thuở bấy giờ, ngỗng biết nghe tiếng người. Đôi ngỗng trắng, khi nghe chủ nhà bảo vậy thì lo lắng buồn bã vô cùng. Chúng đang sống có đôi với nhau, vậy mà có con phải chết, thì làm sao chúng còn vui vẻ thản nhiên được.
Đêm đến, trở về chuồng, đôi ngỗng nhắc lại lời của chủ, rồi ngỗng đực bảo ngỗng cái:
- Chủ nhà đã hứa với bạn như vậy, thì thế nào họ cũng giết mình. Vậy em hãy để cho anh chết, em ở lại ráng tần tảo nuôi con.
Ngỗng cái cãi lại:
- Anh phải sống, để cho em chết. Anh cứng cỏi mạnh khỏe hơn em, anh đủ sức nuôi dưỡng đàn con bé dại, còn em chân yếu tay mềm, có chết cũng chẳng sao, vậy anh hãy để cho em chết.
Con ngỗng đực nhất định không chịu, chúng cãi nhau giành lấy cái chết gần suốt đêm. Đến gần sáng, ngỗng đực và ngỗng cái đồng thỏa thuận như vầy: Hai con cùng ra nằm ngang nhau ở cửa chuồng, nếu gã đầu bếp bắt trúng con nào thì con nấy chịu.
Tình cờ, phòng của khách lại ở kế bên chuồng ngỗng, khách lại biết nghe tiếng nói của loài vật. Đêm đó giữa lúc thao thức, khách nghe đôi ngỗng tranh luận bàn bạc với nhau, con nào cũng giành lấy cái chết để hy sinh cho nhau. Khách tự nghĩ: Vì mình mà đôi ngỗng đang sống yên ổn với nhau bỗng phải chia lìa, con mất con còn, thấy không buồn sao được?
Muốn cho đôi ngỗng được sống bên nhau, chẳng còn cách gì hơn là mình từ chối bữa ăn mà chủ nhà định làm thịt ngỗng đãi mình. Nghĩ như vậy rồi, khách đợi trời sáng, bảo với chủ nhà:
- Anh đừng làm thịt ngỗng, tôi đã thưởng thức món thịt ngỗng một lần rồi, thịt ngỗng có ngon lành gì đâu.
Chủ nhà nghe khách nói vậy, vị nể khách nên bảo người đầu bếp đừng làm thịt ngỗng.
Thế là đôi ngỗng được thoát chết. Lời bịa đặt của khách đã cứu được đôi ngỗng, không phải vì khách chán ngán không muốn ăn thịt ngỗng, nhưng vì xót thương đôi ngỗng chung tình, lúc bình yên cũng như lúc nguy nan, bị cái chết hăm dọa, đôi ngỗng cũng không hề bỏ nhau.
0
Cao nhân tất hữu cao nhân trị

Ngày xưa, tại làng Xuân Tiêu thuộc tỉnh Hải Dương có một tay ăn trộm nhà nghề rất tài tình. Người trong làng thảy đều ngán mặt anh ta. Thấy bóng anh ta ở đâu là thiên hạ lo canh chừng ráo riết.
Ngày nọ, có một khách qua đường, đến trọ tại một cái quán, ngủ đêm để sáng mai lên đường. Khách mở túi bạc ra đếm rồi đặt lên đầu giường làm gối kê.
Tên trộm dò biết khách có số bạc to, nên quyết tâm ăn cắp cho được. Đêm đó, tên trộm đợi khuya, lẻn vào nhà trọ giả làm mèo đuổi chuột, mấy lần chạm vào khách. Bị đụng vào chân, khách chợt ngồi dậy để đuổi mèo. Tên trộm thừa dịp đó cuỗm mất túi bạc. Chừng khách biết được thì đã muộn rồi.
Khách lấy làm căm tức đã thua trí tên trộm. Tuy vậy, không phải là người tầm thường, khách không chịu mất một cách nhanh chóng như vậy. Nhìn quanh quẩn trong quán trọ, khách thấy có cái nơm bắt cá, khách liền cầm lấy hỏi thăm nhà của tên trộm nhà nghề rồi thẳng tới.
Núp ở ngoài cửa, khách thấy tên trộm đang đổ túi bạc mình ra ván, rồi cùng vợ ngồi đếm. Tức thì, khách tông cửa rộng ra, rồi đứng ngoài to tiếng đòi chia của. Tên trộm nghe vậy thì giận lắm vác gậy xông ra đuổi đánh kẻ đợi chia của. Khách liền núp vào chỗ tối, đợi cho tên trộm bước ra cửa, khách liền bước vào nhà chốt cửa lại, thừa lúc bất ngờ lấy cái nơm cá chụp vào đầu vợ tên trộm, đoạn hốt hết đống bạc vào túi, theo đường cũ trở về quán trọ, đóng cửa ngủ yên một giấc.
Đến sáng, khách vừa tỉnh dậy, thì đã thấy tên trộm lễ mễ mang một mâm xôi thịt đến ra mắt để tôn khách làm sư. Vì từ trước đến nay, trong nghề ăn trộm, tên trộm chưa bao giờ chịu thua ai hoặc thấy ai tài giỏi hơn mình như khách. Bấy giờ khách mới nói rõ cái quá khứ oanh liệt của mình. Thì ra khách là một tên ăn trộm nhà nghề rất nhiều mánh lới, đã giải nghệ từ lâu.
Lúc đó, tên ăn trộm mới biết mình tài giỏi đến đâu vẫn còn có người tài giỏi hơn.
0
Chuyện thằng Trời đánh

Thuở xưa, tại làng Bối Xuyên, huyện Thiên Bổn, tỉnh Nam Định có một người đàn bà góa, một hôm đang ngủ chợt thấy một vị thần tên là Cường Bạo Đại Vương hiện đến giao cấu với mình. Thời gian sau, người đàn bà nọ có mang rồi đẻ ra một đứa con trai giống hệt Cường Bạo Đại Vương.
Đứa bé lớn lên, ngang tàng, ngỗ nghịch, dữ dằn, không ai trị nổi nên mọi người gọi nó là thằng Cường Bạo. Năm lên mười tuổi, mẹ Cường Bạo qua đời, nó trở nên côi cút, lại bị người đời ghét bỏ, nên Cường Bạo chỉ có cái khố che thân. Ngày ngày bắt tôm bắt cá mà sống, nó biết cha nó là thần Cường Bạo Đại Vương, nhưng chẳng yêu thương giúp đỡ gì, nên nó tỏ ra ngỗ nghịch bất kính.
Cường Bạo chỉ làm bạn với ông Táo ở trong bếp, mỗi lần bắt được tôm cá nó nướng chín rồi mời ông Táo đánh chén. Say rượu, hoặc no bụng rồi, nó thường phá xóm phá làng nên ai cũng ghét, chửi rủa nó là “Thằng Trời đánh”.
Thần Cường Bạo Đại Vương thấy thiên hạ chửi rủa con mình, đối với mình nó cũng chẳng coi ra gì, nên vô cùng tức giận mới tâu xin với Ngọc Hoàng hãy giết Cường Bạo đi.
Thấy đứa bé ngang tàng ngỗ nghịch, ai cũng oán thán nên Ngọc Hoàng liền sai Thiên Lôi xuống đánh chết Cường Bạo.
Vốn là bạn thân của Cường Bạo, ông Táo biết được tin này, liền báo cho Cường Bạo hay và bày mưu với nó để hạ Thiên Lôi.
Ông Táo bày cho Cường Bạo lấy rau mồng tơi trộn với dầu vừng bôi lên khắp mái nhà và bôi vào lá chuối, gác lên mái nhà một lớp nữa. Lúc bấy giờ, Thiên Lôi cầm búa tầm sét từ trên trời phóng xuống mái nhà định nhắm vào đầu Cường Bạo mà đánh. Chẳng ngờ Thiên Lôi phóng quá mạnh, lại không đề phòng nên trượt chân ngã quay xuống đất, búa tầm sét văng tuốt ra xa, bị Cường Bạo đoạt mất. Đã vậy, vừa ngã quay xuống đất, Thiên Lôi bị ngay con gà cồ xáp lại đá rèn rẹt, trầy cả mặt mày, liền chạy trối chết về Trời.
Thắng được Thiên Lôi một trận, Cường Bạo lấy làm khoái chí, từ đó không còn biết kiêng nể ai nữa. Riêng về Thiên Lôi, bị đánh một trận tơi bời, chạy tuốt về Trời, ban đầu định giấu diếm sự thất bại nhục nhã, nhưng rồi thấy giấu không êm, nên phải vào tâu trình với Ngọc Hoàng để cầu xin xá tội.
Ngọc Hoàng nghe tâu nổi giận đùng đùng, mắng nhiếc Thiên Lôi thậm tệ, rồi giao hẹn cho Thiên Lôi nếu không giết được Cường Bạo sẽ cách chức Thần Sét và đày xuống trần. Sau đó Ngọc Hoàng phán hỏi văn võ bá quan có mưu chước gì hay để trừ Cường Bạo.
Bắc Đẩu liền hiến kế nên ra lệnh cho Long Vương dâng nước lên là ngập lụt khắp cả vùng của Cường Bạo, nếu nó không bị chết chìm thì cũng đói lạnh mà chết, khỏi phải điều binh khiển tướng gì cả.
Ngọc Hoàng lấy làm đẹp dạ, chuẩn y mưu kế của Bắc Đẩu, rồi ra lệnh cho Long Vương đem nước làm ngập lụt cả làng Bối Xuyên.
Ông Táo biết được tin này, hối hả báo cho Cường Bạo biết và dặn phải làm như vầy như vầy... Cường Bạo liền chặt chuối cây kết thành một chiếc bè, dựng lên một túp lều lợp bằng lá chuối, quét nhớt lá mồng tơi, rồi trên bè để một con gà trống, một cái trống, một cái chiêng để đối phó với mọi bất trắc.
Đúng như lời ông Táo mách, ngày sau mưa to gió lớn, nước dâng lên cuồn cuộn làm ngập lụt cả một vùng.
Vì có chuẩn bị, Cường Bạo thoát lên chiếc bè chuối. Nước dâng cao đến chừng nào, bè chuối nổi lên cao chừng ấy. Lúc bấy giờ, Cường Bạo tay đánh trống khua chiêng, tay múa búa Thiên Lôi vừa cướp được, miệng hò hét inh ỏi đòi kéo lên phá cửa Trời.
Khi ấy, Ngọc Hoàng đang ngự yến với triều thần, xảy ra chiêng trống khua ầm ĩ, lại có tiếng la hét đòi phá cửa Trời thì kinh ngạc, sai quân ra coi thực hư.
Được một lát quân trở vào báo rằng: Cường Bạo đang thắng thế, Long Vương không làm gì nổi, Cường Bạo lại nhờ có nước dâng cao nên định kéo lên đánh phá cửa Trời, khí thế thật dũng mãnh.
Bắc Đẩu đang dự yến, nghe tâu bày như vậy thì thất kinh, biết rằng kế của mình đã bị hỏng, nếu không kịp thời thay đổi, Cường Bạo kéo lên làm loạn Thiên Cung như Tề Thiên Đại Thánh ngày nào thì nguy to, bèn tâu xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế nên ra lệnh cho Long Vương rút hết nước về biển Đông để Cường Bạo không lên Trời được.
Trời cũng đồng ý nói:
- Thằng Cường Bạo thật là đứa ngỗ nghịch, cãi cha, mắng mẹ, lại toan làm loạn Thiên môn, phen này ta chịu thua nó, đợi sau này sẽ trị tội nó.
Thắng được trận này, Cường Bạo càng tự kiêu, tự đắc coi Trời Đất chẳng ra gì, càng làm nhiều điều ngỗ nghịch, quấy phá đầu này, bắt nạt đầu kia, xưng hùng xưng bá, khiến mọi người đều tức giận trù ẻo chửi rủa nó, kêu nó là “Thằng Trời đánh”. Tưởng mình tài giỏi rồi nên nó có ý khinh rẻ ông Táo, không năng đi lại giao du với ông Táo nữa. Cũng lúc đó, nhà Trời dò biết ông Táo thông đồng với Cường Bạo, nên ra lịnh giam lỏng ở xó bếp không được đi đâu nữa cả, trừ có ngày 23 tháng Chạp mới được phép về Trời dâng sớ thà thôi.
Rồi một hôm, Cường Bạo say rượu, lảo đảo đi qua cánh đồng làng, Thiên Lôi từ ngày bị Ngọc Hoàng quở phạt lấy làm căm tức, nên rèn ngay một lưỡi tầm sét, núp trên cây, đợi Cường Bạo đi qua liền giáng cho nó một lưỡi tầm sét trúng ngay đầu, Cường Bạo ngã ra chết tốt.
Hay tin này, dân chúng cả mừng, kéo tới xem và cả thảy đều biết Cường Bạo bị Trời đánh chết về tội ngỗ nghịch.
Từ đó về sau, mỗi khi thấy đứa con nào quậy phá ngỗ nghịch, người ta thường gọi đó là “Thằng Trời đánh”.
0
Chuyện kho vàng ở Tỉnh Sơn Tây

Vào đời nhà Lê, ở tỉnh Sơn Tây có hai anh em nhà kia rất nghèo. Cả hai anh em chỉ chuyên nghề hái rau đốn củi đổi gạo sống qua ngày. Họ rất nhân từ phúc hậu, thường hay bố thí chén cơm, chén gạo cho kẻ già yếu tật nguyền.
Trong nhà họ có nuôi con chó cái, lần đó đẻ ra một con chó trắng chỉ có ba chân. Làng xóm cho là quái vật hiện lên quấy phá, bảo giết đi, hai anh em chẳng những không giết mà còn nuôi dưỡng con chó đến ngày khôn lớn.
Một hôm đang ngồi ăn cơm, họ chợt thấy có một lão ăn mày chống gậy vào cửa xin cơm. Cả hai đều nhường cơm cho ông lão ăn no. Ăn xong, ông lão ăn mày nói:
- Tiếng đồn quả thật không sai, hai anh em một nhà đều là người nhân đức, đáng được thưởng. Ta nay không phải là kẻ ăn mày nghèo khó mà là thần giữ kho vàng Sơn Tây, lúc nãy muốn thử lòng các ngươi, nay ta đã biết rồi. Ta muốn ban cho các ngươi kho vàng.
Ông lão ăn mày, tức Thần giữ cửa kho vàng, tiếp rằng:
- Ngày xưa có một vị quan Tàu tức là Mã Kỳ, có chôn giấu tại khu vườn thuộc huyện Lập Thạch tỉnh Sơn Tây một kho vàng. Đã hơn một trăm năm rồi chẳng hề thấy người của Mã Kỳ trở lại, nhân thấy các ngươi nghèo khó mà có lòng nhân đức nên ta định đem kho vàng tặng cho các ngươi. Nhưng các ngươi phải đợi đủ trăm ngày và phải có một con chó trắng (tức chó cò) ba chân đem trước cửa kho tàng (tức là tòa miếu cổ ở khu vườn), bắt nó sủa lên ba tiếng, tự nhiên cửa kho tàng bên trong một cái bệ đá sẽ mở ra. Thôi, các ngươi hãy cố nhớ lời, ta xin kiếu.
Nói rói, Thần giữ của biến đi. Hai anh em đợi đúng một trăm ngày, dắt con chó cò đến miếu hoang, tới bên cái bệ đá, bắt chó sủa lên ba tiếng, tức thì một cánh cửa đặt ngầm trong cái bệ đá mở toang, nhìn vào trong thì thấy một dãy chum vại nằm kề liền nhau. Hai anh em bước vào mở nắp chum vại ra xem thấy toàn vàng và ba vạn cân bạc.
Từ đó, hai anh em trở nên giàu có. Gặp lúc Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, hai anh em nhờ người cận thần tiến dẫn, đem biếu Mạc Đăng Dung một trăm cân vàng, một trăm cân bạc. Vua Mạc cho thâu nhận rồi phong cho hai anh em tước Quận công.
Cách ba năm sau, có năm, sáu người Tàu dắt một con chó trắng đến ngay tòa miếu chôn cửa, mở cửa kho vàng. Thấy kho vàng trống trơn, họ kêu khóc thảm thiết. Hai anh em Quận công sai người đến hỏi, họ đáp rằng:
- Chúng tôi là con cháu của Mã Kỳ ở bên Trung Quốc, trăm năm trước tổ phụ của chúng tôi có để lại Sơn Tây một kho châu báu, hiện còn gia phả để lại đàng hoàng, nhưng chúng tôi đến đây rồi, thì kho tàng không biết ai đã lấy mất rồi, vì vậy chúng tôi buồn khổ mà khóc.
Hai anh em Quận công nói rằng:
- Nhờ thần nhân chỉ bảo, nên anh em chúng tôi đã lấy được kho vàng.
Mấy người Tàu liền hỏi:
- Làm sao các ngươi lấy được kho vàng, vì muốn mở cửa kho vàng phải có con chó cò ba chân mới mở được.
Anh em Quận công bảo rằng:
- Nhà chúng ta có sẵn.
Rồi anh em thuật cho họ nghe, chuyện con chó cái nhà mình đẻ ra con chó trắng mà mọi người cho là quái vật.
Họ nói:
- Thế thì Trời đã dành cho các ngài đó, chớ giống chó có ba chân thì chỉ quận Sầm Châu tỉnh Quảng Đông bên Tàu mới có mà thôi. Bây giờ của các ngài đã lấy rồi, chúng tôi còn giữ lấy con chó này làm gì nữa, vậy xin tặng luôn các ngài đó.
Hai anh em Quận công thương tình, cho họ ba chục cân vàng và một trăm cân bạc để làm lộ phí trở về Tàu.
0
Mài dao dạy vợ

Ngày xưa có một anh nhà quê hiền lành nhân hậu, nhưng gặp phải người vợ rất chanh chua độc ác.
Trong nhà còn bà mẹ già, bà cụ lại là người khắc nghiệt, thành ra giữa mẹ chồng và nàng dâu thường hay có chuyện lục đục, gấu ó nhau. Gia đình mất hòa khí khiến hàng xóm cũng chê cười. Người chồng chịu lắm sự bực mình, ngao ngán. Một bên thì hiếu một bên thì tình, nghiêng bên này thì bên kia giận, nghiêng theo bên kia thì bên này trách, thành ra anh ta đành làm thinh. Chỉ đợi khi nào vắng vợ thì dùng lời phải chăng nói với mẹ, lúc nào vắng mẹ thì hết sức khuyên răn vợ nên nhẫn nhịn mẹ mình. Chị vợ đã chẳng nghe lại còn to tiếng cãi lại chồng.
Anh ta khổ quá, chỉ biết thở ngắn than dài, buồn cho số phận chớ biết làm sao. Một hôm anh bóp trán nghĩ ra một kế, rồi ra chợ mua một con dao bầu thật lớn, đem về lấy đá ra mài, mài xong đem liếc, liếc rồi lại mài, ngày này qua ngày khác anh ta chuyên chú vào chuyện mài dao.
Chị vợ chanh chua thấy vậy lấy làm lạ quá, to nhỏ hỏi anh ta thì anh ta chỉ lắc đầu không đáp. Chị vợ lức lắm, quyết tìm cho ra lẽ, nên làm ầm lên cho hàng xóm biết chuyện anh chồng mài dao. Bấy giờ, anh chồng mới chịu nói:
- Mày đâu có biết tao mài dao cho bén cốt để có dịp là làm thịt mẹ đó thôi. Mẹ đã già rồi, chẳng chết nay cũng chết mai, rốt cuộc rồi cũng phải chết. Chi bằng giết mẹ cho rồi, chớ để mẹ sống ở đời, ngày nào cũng to tiếng với mày, trong nhà xào xáo, mày thì không nhịn, hàng xóm chê cười, nhục nhã để đâu cho hết. Vậy thì làm thịt mẹ cho êm chuyện, mà mày không còn cãi với ai nữa.
Chị vợ nghe chồng nói vậy thì có vẻ suy nghĩ rồi đâm ra hối hận, biết lỗi của mình không nhỏ, nên từ hôm đó không dám to tiếng với mẹ chồng nữa. Người chồng mừng thầm, nhưng chưa chắc vợ đã thật hồi tâm. Đợi ít lâu sau, một hôm người chồng lại đem dao ra mài rồi thử đi thử lại năm, ba lần. Người vợ nhìn thấy thì lòng nao nao sợ hãi. Người chồng kêu vợ tới gần rồi làm bộ quả quyết nói rằng:
- Bữa nay tao làm thịt mẹ đây, mày hãy vào trong nấu nước đi.
Nói rồi xách dao xăm xăm lại chỗ bà mẹ đang nằm làm bộ định giết mẹ.
Chị vợ thấy vậy thất kinh hồn vía, chạy lại ôm lấy chồng kêu khóc năn nỉ:
- Thôi, trăm lạy mình, ngàn lạy mình, chuyện gì cũng do tôi cả, chớ không ở mẹ già, tôi đã biết hối cải rồi mình đừng giết mẹ. Từ nay tôi xin tu tỉnh nghe theo lời mình, tôi xin hứa không bao giờ cãi vã với mẹ nữa.
Người chồng bấy giờ mới chịu tin, không dọa giết mẹ nữa. Quả nhiên, từ đó về sau trong nhà thuận hòa vui vẻ, mẹ chồng nàng dâu hết lòng kính trọng thương yêu nhau.
0
Con tôm đền ơn

Kiến Văn Tùng Thoại là nhan đề một bộ dã sử mới soạn sau này, đời nhà Nguyễn.
Theo tài liệu nói trên thì cách đây hơn trăm năm (1826) ở Đông Hải (tức là Đồng Hới) thuộc tỉnh Quảng Bình có người ra biển đánh cá. Tình cờ hôm ấy, người ngư phủ thấy lưới quá nặng nên gọi mấy người bạn:
- Anh em kéo lên cho khéo, chắc là gặp cá to.
Cả bọn hì hục kéo lưới. Khi lưới lên khỏi mặt nước thì ai nấy sửng sốt. Một người bạn la hoảng:
- Con quái thú xuất hiện!
Chủ ghe trầm tĩnh hơn, nhìn kỹ thì đó là con tôm, dài cỡ chiếc ghe lưới. Anh ta nói:
- Đúng là con tôm lớn. Đừng sợ gì hết. Đem lên ghe cho tôi.
Con tôm này thuộc vào loại đặc biệt, mình mẩy đầy vằn vện như có ai sơn phết ngoài vỏ. Mấy cọng râu càng đáng nể hơn, mỗi cọng to như sợi dây thừng, dài tận đuôi tôm.
Lát sau, ngư phủ đem con tôm nọ lên bờ, khiêng đến chợ. Dân chúng bu lại đen nghịt. Có người bàn:
- Nguy lắm, ăn biết có sao không. Rủi ra xúc phạm đến thần thánh. Tôm này là tướng tá của Long Vương, rủi đi lạc.
Một người Hoa kiều họ Tạ đứng ngắm nghía con tôm hồi lâu rồi nghĩ thầm chắc nó là loài đặc biệt, ăn vào thì bổ khỏe vô cùng. Xưa nay, chưa ai chết vì ăn tôm.
Rốt cuộc, con tôm vào tay họ Tạ. Anh ta đem về nhà, con tôm vẫn giãy đành đạch trên mặt đất. Bên cạnh nhà họ Tạ là một người khác, không rõ tên gì, chỉ biết là người họ Dương chạy qua ngăn cản:
- Đừng ăn thịt nó..
Họ Tạ vẫn cương quyết, đốt lửa để nấu nước. Họ Dương nài nỉ, mua con tôm ấy với giá gấp đôi rồi thả xuống biển.
Thời gian trôi qua, chẳng ai còn nhớ đến chuyện con tôm khổng lồ ấy nữa. Họ Dương tiếp tục nghề cũ là mua bán theo đường biển, từ Đồng Hới vào Huế.
Gặp hôm nọ sóng to gió lớn, chiếc thuyền của họ Dương bị lật úp, anh ta tìm cách lội vào bờ, tình cờ gặp miếng ván khá to trôi lềnh bềnh trên mặt biển. Nhờ miếng ván đó, anh ta thoát nạn, vào bờ. Khi đứng trên bãi cát nhìn kỹ thì mới hay rằng đó là con tôm to lớn mà anh đã mua rồi phóng sinh năm trước. Con tôm huơ mấy cọng râu to lên khỏi mặt nước. Họ Dương chấp tay nói:
- Hôm nọ ta cứu mi, hôm nay mi cứu ta. Đúng là cứu vật thì vật trả ơn. Ta có lời tạ ơn...
Con tôm bèn lội vọt ra khơi, mất dạng trong sóng biển muôn trùng.
Từ đó, dân địa phương gọi tôm là “Đại hà”, chẳng ai còn gặp lần nào nữa.
0
Gương vỡ lại lành

Chuyện gương vỡ lại lành nhắc lại mối tình giữa Lạc Xương công chúa và phò mã Từ Đức Ngôn, đời Trần Hậu Chúa bên Trung Hoa.
Phò mã và công chúa sống yên vui trong hạnh phúc thì bỗng đâu nhà Tùy kéo quân đến tàn phá. Trong lúc tán loạn, để dễ bề tẩu thoát, khi giả dạng thường dân, hai vợ chồng đành tạm biệt. Nhưng Từ Đức Ngôn vẫn tin tưởng vào ngày đoàn tụ nên bảo rằng:
- Công chúa hãy trao cho ta một vật gì để sau này làm tin.
Công chúa Lạc Xương đem tấm gương đồng, đập bể làm hai rồi trao cho Từ Đức Ngôn một mảnh:
- Chàng nên giữ thật kỹ.
Từ Đức Ngôn bèn nghĩ ra một kế:
- Rằm tháng Giêng năm sau, ta tìm cách gặp nhau tại Trường An, đem nửa mảnh gương ra bán.
Nói xong, Từ Đức Ngôn tẩu thoát trong khi địch quân tràn vào cung điện, công chúa Lạc Xương bị tướng Dương Tố bắt sống.
Tuy nhiên, Dương Tố là người hiền đức, ông ta ăn ở với công chúa, chẳng bao giờ dùng lời lẽ thô bạo. Công chúa sầu thảm vô cùng, nàng vẫn nhớ đến người chồng cũ, không biết sống chết hay lưu lạc phương nào.
Rằm tháng Giêng năm sau, Từ Đức Ngôn trở thành kẻ sĩ bần hàn, chàng vẫn đến Trường An, dạo tới dạo lui để mong gặp người vợ hiền. Chàng thất vọng vì không gặp công chúa nhưng ở cuối chợ có một thiếu nữ ngồi ngóng, để nửa mảnh gương trong cái thúng. Chàng đến gần, xin xem thử mảnh gương. Lúc đầu, thiếu nữ không cho chàng sờ vào và đòi hỏi chàng phải trả giá cao.
Đoán chừng đó là người tin cẩn của công chúa, chàng mời thiếu nữ vào quán thết tiệc rồi yêu cầu nói sự thật. Để chứng minh lòng mình, chàng đưa nửa mảnh gương ra.
Bấy giờ thiếu nữ trao mảnh gương cho chàng, thử ráp lại thì thấy rất khít khao.
Chàng làm bài thơ nhờ thiếu nữ đem về cho công chúa. Công chúa làm thơ đáp lại. Nhận ra người chồng xưa, công chúa Lạc Xương khóc lóc, thân thể hao mòn. Dương Tố hỏi, nàng nói đầu đuôi tự sự.
Để tỏ ra mình là khách hào hoa, Dương Tố nói:
- Nàng cứ mời người chồng cũ đến đây.
Phò mã Từ Đức Ngôn vào dinh Dương Tố.
Thấy phò mã là người đứng đắn, Dương Tố bằng lòng cho công chúa Lạc Xương và phò mã tái hợp như trước.
Người đời sau khen ngợi Dương Tố là quân tử.
Đó là sự tích gương vỡ lại lành.
Ở nước ta, theo dã sử thì lúc tẩu quốc, vua Gia Long và Hoàng hậu cũng đã cùng nhau thề ước, tấm gương bị đập làm hai, mỗi người giữ một mảnh, sau bao năm bôn ba, họ lại đoàn tụ!
 
HẾT
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2017 22:43:06 bởi Ct.Ly>
Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn và chúc casau luôn an lành
 

 
                                               




0
«« « 2 3 4 5 6 » »»