📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 399 lượt xem — Trang 5 / 6
Ác báo

Anh thợ câu nọ có tánh tàn ác, thường bỏ thuốc độc xuống các khe suối để cá chết nổi lên.
Hôm nọ, tình cờ anh ta gặp một con lươn bạch tại khe suối.
Dân trong làng bảo:
- Không nên, con lươn bạch này tu lâu năm rồi...
Vì bản chất ác độc, anh ta đem thuốc ra, toan bỏ xuống nước.
Có ông thầy chùa chạy đến nài nỉ:
- Nếu vậy cậu giết tôi còn hơn.
Anh nọ nói:
- Nếu ông có đói thì tôi cho ông ăn chớ tôi cương quyết giết con lươn này...
Anh ta mời ông thầy chùa về nhà, đãi bữa cơm chay. Mãn buổi cơm, anh ta ra suối bỏ thuốc độc. Thuốc pha vào nước sôi đỏ ngầu. Trong nháy mắt, con lươn nọ trồi lên, lờ đờ như điên dại. Mừng quýnh, anh nọ bắt con lươn đem về làm thịt. Lạ thay, trong bụng con lươn có mấy món đồ chay để đãi ông thầy chùa khi nãy.
Dân làng xôn xao bàn tán, cho rằng ông thầy chùa chính là con lươn trá hình.
Từ đó anh thợ câu lấy làm e ngại. Vợ anh có thai. Lớn lên, đứa con anh đau ốm liên miên, báo hại anh thợ câu phải tán gia bại sản mà chạy thuốc cho nó.
0
Con rắn thần

Có anh góa vợ, đi làm mướn để sanh nhai. Hôm nọ, được 30 quan tiền, anh bèn nghĩ ra một kế: đi mua nồi và lưỡi câu về để câu cá.....
Anh ngồi trên bờ chờ đợi.
Chập sau, nghe con mồi rung rinh biết là cá đã ăn câu anh giựt mạnh, gặp một con rắn to lớn, mừng quá, anh gỡ rắn ra rồi nói:
- Tao tha tội cho mày. Từ rày về sau đừng trở lại đây phá mồi của tao..
Lạ thay, hai ba lần sau, rắn vẫn phá mồi. Anh nọ nói:
- Ta phải giết mày.
Rắn năn nỉ, tự xưng là con của Long Vương vì mắc tội nên bị đày lên dương thế. Bán tín bán nghi, anh đem con rắn nọ về nuôi.
Một hôm rắn bảo:
- Ba ngày nữa trời mưa dầm dề hằng tháng. Nước lụt cả làng này. Hãy lo kết bè để tị nạn.
Đúng như lời, mưa dầm dề ngày đêm. Anh nọ và con rắn nhờ ngồi trên bè tre nên được an toàn. Gặp một ổ kiến trôi lình bình, rắn bảo vớt kiến lên, anh nọ y lời. Gặp bầy chuột, gặp con trăn... rắn cũng khuyên anh nọ nên cứu đem lên bè.
Bỗng đâu, từ đằng xa có người lội loi ngoi chết đuối. Động lòng trắc ẩn, anh nọ toan vớt. Rắn cản lại. Anh nói:
- Cứu một người dương gian bằng cứu một ngàn người ở Âm ty.
Mãn trận lụt, anh thợ câu đem người chết đuối nọ về nuôi trong nhà. Hai bên kết bạn rất thân thiết. Rắn tỏ vẻ buồn bực, bày tỏ sự tình với anh thợ câu rằng:
- Hôm nay đã mãn hạn, tôi trở về thăm cha mẹ, tôi xin dắt anh theo chơi. Ở Thủy cung tôi có cây đờn tỳ bà rất quý.
Anh thợ câu theo rắn nọ viếng Thủy cung. Long Vương rất mừng rỡ hứa tặng anh thợ câu vật gì mà anh muốn. Anh thợ câu xin cây đờn tỳ bà. Long Vương nói:
- Được, cây đờn hễ khảy lên thì có mãnh lực đánh tan binh sĩ của phe địch. Chú nên giữ kỹ.
Đem cây đờn về nhà, anh thợ câu để nó cẩn thận dưới đáy bồ lúa.
Người bạn (mà anh đã cứu giúp hồi nạn lụt) đâm ra tò mò, thừa lúc anh đi vắng đến bồ lúa lục soát và gặp cây đờn. Thấy trên mặt đờn có khắc mấy chữ “Phá tan quân địch” anh nọ động lòng tham bèn ăn cắp cây đờn rồi trốn mất.
Lúc ấy ở đế đô có loạn, bọn ngoại xâm bao vây kinh thành. Vua truyền lịnh: Ai giải vây được thì sẽ gả công chúa cho. Anh bạn bất lương đem đờn khảy, phá tan ngoại xâm và lãnh chức phò mã.
Anh thợ câu biết mình bị bạn làm phản nên ra đế đô, cương quyết đòi cây đờn nọ. Người bạn năm xưa ra lịnh bắt giam anh ta.
Nằm trong khám, anh ta vô cùng buồn bực. Bầy kiến năm xưa bò lại hỏi han tự sự. Kiến bèn đem câu chuyện thuật lại với chuột. Chuột đánh bạo tìm đến trăn... Con trăn bèn nói với bầy chuột:
- Lại đây, đừng sợ. Về nói với ân nhân rằng hiện nay công chúa đang đau mắt. Sẵn đây, tôi trao tặng hòn ngọc này, đem về mài nhỏ vào mắt công chúa thì lành bịnh ngay.
Thời gian sau, anh thợ câu được thả ra, bèn dâng sớ lên nhà vua xin trị bịnh cho công chúa. Nhờ viên ngọc nọ, công chúa sáng mắt. Công chúa bèn nhìn anh thợ câu mà nói:
- Người này là chồng tôi.
Ông phò mã tức là người bạn phản bội - ngồi chưng hửng. Anh thợ câu bèn tâu với nhà vua gốc tích cây đờn ty bà và tố cáo người ăn cắp nó.
Vua rất hài lòng, xử tử quan phò mã giả hiệu và gả công chúa cho anh thợ câu.
0
Ông thầy tiên tri

Cậu thư sinh nọ đi học được ba năm, xin phép thầy trở về quê thăm nhà.
Thầy học của cậu rất giỏi về kinh sử và giỏi về môn tiên tri.
Biết rằng trên đường về quê có nhiều tai nạn, thầy học bèn căn dặn:
- Con hãy phòng thân. Nhớ mấy điều thầy răn.
- Thưa thầy, điều gì?
- Một là đừng vô chùa, hai là đừng xức dầu thơm, ba là đừng đuổi gà, bốn là... “Không ba, không bốn, không sáu...”
Cậu học trò ngạc nhiên, nhưng thầy không chịu giải nghĩa, hôm sau cậu lên đường...
Chiều đến, một trận giông to nổi lên, mưa rơi như thác đổ. Chợt nhìn thấy bên đường có ngôi chùa xưa, cậu muốn ghé vào nhưng sực nhớ lời thầy dặn. “Đừng vô chùa”, cậu ráng đứng ngoài sân dầm mưa.
Chập lâu, gió thổi quá mạnh, ngôi chùa sụp đổ tan tành.
Về đến nhà cậu hết sức mừng rỡ khi gặp được vợ con. Nhưng ở nhà cô vợ cậu ta lén tư tình với người thanh niên khác. Gã nọ bàn với cô:
- Được tối nay tôi giết nó. Cứ mua dầu thơm, bảo chồng cô gội và xức dầu. Chừng nửa đêm, tôi cạy cửa vào nhắm theo mùi thơm ấy mà giết...
Cô vợ trắc nết tuân lời của tình nhân, mua dầu thơm về, bảo chồng nên xức vào đầu tóc.
Nhớ lời thầy dặn, cậu học trò trả lời:
- Không đâu. Tôi không muốn chưng diện.
Vì tiếc của, cô vợ đem tất cả dầu thơm ấy xức vào đầu mình.
Đêm đến, cậu tình nhân ra tay thi hành thủ đoạn, nhắm theo hướng của dầu thơm mà tiến tới. Cậu chém mạnh. Cô vợ rú lên. Cậu tình nhân mới biết rằng mình đã giết lầm nên chạy trốn. Xóm giềng chạy tới. Cậu ngồi khóc lóc bên tử thi của vợ, cho rằng có kẻ lạ mặt vào đây ám sát. Dân làng không tin nên trói cậu lại, giải đến ngục thất của quan huyện.
Trong thời hạn bị điều tra, cậu học trò được quan giám ngục giao cho nhiệm vụ phơi lúa. Cậu làm việc sốt sắng. Gà ở lối xóm chạy lại ăn phá quấy nhiễu nhưng nhớ lời thầy dặn, cậu không đuổi.
Quan giám ngục hỏi:
- Tại sao mi không đuổi gà? Nói mau?
Cậu bèn thuật lại hết đầu đuôi và kêu oan. Ông giám ngục nói:
- Đâu mi nhắc lại cho ta nghe lời dặn của thầy.
- Dạ, thầy dặn đừng vô chùa, đừng xức dầu thơm, đừng đuổi gà và một câu nữa khó hiểu quá.
- Cứ nói.
- Dạ... Không ba, không bốn, không sáu.
Quan giám ngục nói:
- Không ba, không bốn, không sáu... tức là năm, thì tên sát nhân là đứa thứ năm trong gia đình hoặc là tên Năm. Để ta xét hỏi dân làng.
Sau cuộc điều tra, tên Năm nhận tội sát nhân và nhờ vậy cậu học trò được tha bổng.
0
Hầm vàng, hầm bạc

Làng kia có người tá điền già, lúc sắp chết gọi hai người con trai đến bảo rằng:
- Thằng cả đã lớn khôn lại có sức vóc nên lãnh hai con chó và đám ruộng ở mé rừng, còn thằng hai thì lấy hai con trâu và đám ruộng ở gần đình làng lo cày cấy mà sống.
Khi cha chết rồi, người anh cả vốn gian ngoa muốn giành phần ruộng tốt cho mình nên bảo em:
- Anh là lớn lãnh phần thờ phụng cha, vậy em hãy để cặp trâu và đám ruộng gần đình cho anh, còn em lấy hai con chó và đám ruộng rừng mà cày.
Người em vốn thật thà nên nhận lời, đắt hai con chó ra đi. Đến ruộng gò thì thấy toàn đá sỏi, tuy vậy người em không thất vọng, đẽo một lưỡi cày nhỏ móc vào đuôi chó, vừa cày vừa hát nghêu ngao:
Chó mà cày!
Chó mà cày!
Hôm nay ta dẫn chó đi cày,
Hột kia gieo xuống, cũng có ngày mạ mọc lên.
Công hai người rồi sẽ được đáp đền,
Khỏe ta cày, mệt ta nghỉ, ta lại nằm bên mé rừng.
Kìa kìa con én liệng ở lưng chừng,
Chừng nào lúa chín, nó hát mừng công khó của ta.

Tiếng hát vang vào rừng sâu động đến tai bầy khỉ, chúng bảo nhau kéo ra xem, thì thấy cảnh người và chó cày ruộng, chúng nhìn nhau cười khúc khích.
Ngày đã xế, người em mệt mỏi liền mở cày thả chó ra, ở một mình bên gốc cây, ngủ một giấc ngon lành.
Lúc mơ màng, người em nghe một con trong bầy khỉ bảo nhau:
- Gã cày ruộng chắc chết rồi nên không nghe nó hát nữa.
Các khỉ khác phụ họa:
- Ruộng đầy sỏi đá, nó lại dùng chó mà cày thì chết cũng phải, ta nên đem chôn nó làm phước.
Các khỉ lao nhao lên hỏi:
- Chôn ở đâu bây giờ?
Con khỉ lớn nhất bảo:
- Đem chôn ở hầm vàng.
Thế rồi bầy khỉ áp lại khiêng người em vào rừng, người em cứ giả đò chết để cho bầy khỉ mang tới hầm vàng.
Chừng chúng đi hết rồi, người em ngồi dậy lấy vàng đem về mua nhà tậu ruộng hưởng cuộc đời giàu sang.
Người anh thấy vậy động lòng tham, mới bảo người em rằng:
- Em cho anh mượn đôi chó trong vài hôm sẽ xin hoàn lại.
Người em sẵn lòng giao chó cho người anh. Liền đó, người anh đem chó đến ruộng gò, cày được một lúc, thì đến nằm dưới gốc cây mà người em đã nằm. Bầy khỉ thấy vậy chạy đến xem. Một con khỉ lớn nói:
- Nó chết rồi.
Các khỉ nhỏ xúm xít xung quanh nghe ngóng, người anh nín thở giả chết, các khỉ nhỏ hỏi:
- Bây giờ định chôn nó ở đâu?
- Ở hầm bạc.
Người anh nghe rõ cả. Lòng tham đã khiến anh ta muốn được vàng hơn bạc, nên làm bộ cựa mình, kêu bầy khỉ bảo rằng:
- Hãy chôn ta ở hầm vàng, đừng chôn ở hầm bạc mà ta không được siêu thăng.
Nghe tiếng nói của người giả chết, bầy khỉ kinh hồn hoảng vía tưởng ma quỷ hiện hồn nên ném người anh rơi xuống vực thẳm bể sọ mà chết.
Đáng đời một kẻ gian tham.
0
Gió biết tương tư

Nơi cánh rừng kia có một cây sồi cao lớn đã gần trăm tuổi, mỗi ngày gió chạy vào rừng làm bạn với cây sồi. Gió thổi vào cây sồi làm cành lá reo lên lao xao như ca nhạc, ngày nào đôi bạn này cũng ca hát như thế để làm vui cho khu rừng quạnh quẽ.
Ở gần khu rừng có lão tiều phu, ngày ngày thường đánh chén ca hát nghêu ngao. Bữa nọ, có lệnh vua truyền xuống bảo lão phải đốn cây sồi để lấy gỗ cất nhà. Lão không đốn, lại tâu với vua rằng:
- Gỗ sồi không tốt, nếu muốn xây cung điện thì nên đốn gỗ trầm hương.
Vua cho là phải, không đốn cây sồi.
Cảm ơn lão tiều phu, cây sồi liền kêu lão bảo rằng:
- Ông cứu tôi khỏi chết, tôi xin đền ơn ông. Nguyên trước đây có nhà phú hộ đem chôn dưới gốc tôi một hũ vàng, tôi giữ kín sự bí mật không hề tiết lộ với ai. Từ ngày ấy đến nay đã 30 năm rồi không thấy chủ hũ vàng trở lại, vậy vật đó về phần tôi nay xin biếu ông vậy.
Được cả hũ vàng, lão tiều phu trở nên giàu có, ăn xài thoải mái, lại cưới hầu thiếp và xây nhà cửa.
Thấy cây sồi to lớn, tốt tươi, lão tiều phu bèn bảo thợ rìu hạ xuống làm kèo cửa sổ.
Cây sồi bị hạ xuống, khu rừng vắng mất bóng cây cao, vài ngày sau gió chạy vào rừng, thấy mất người bạn sồi thì buồn rầu vô hạn, vi vu qua các nẻo tìm kiếm người bạn già. Một ngày kia gió lạc đến nhà lão tiều phu (bây giờ trở nên nhà phú hộ) đứng ngoài cửa sổ than van. Thình lình, gió nghe tiếng thì thào:
- Này bạn gió của tôi ơi, mình chia cách nhau đã lâu bây giờ mới gặp, thật đáng buồn quá nhỉ.
Gió dáo dác kiếm tìm. Tiếng thì thào lại vẳng lên:
- Bạn đang đứng sát tôi đây, ơ bạn không nhìn ra sồi cũng phải. Thân tôi đã bị lão già cưa ra từng mảnh, bào giũa làm thành cửa sổ rồi.
Gió nhìn lại buồn buồn đáp:
- Vậy ư? Nào tôi có biết. Thật đáng trách cho lão già đã chia rẽ chúng ta lại còn cưa bác ra từng mảnh. Tôi phải báo thù...
Gió trở nên giận dữ, hỏi cây sồi lão già ở đâu. Sồi cho biết rằng lão đã ra kinh thành bằng thuyền từ mấy hôm trước chưa về.
Gió càng nổi cơn thịnh nộ, từ giã cây sồi, rồi chạy tìm các bạn bốn phương, hợp lại thành trận cuồng phong ở trên sông, đợi lão già trở về nhận chìm cả người.
Báo thù xong, gió lại buồn vì bạn sồi không còn bao giờ trở lại rừng hoang nữa; ngày ngày gió thường nhớ tương tư đến bên cửa sổ cất tiếng vi vu cùng người bạn già than thở.
Về sau nhưng đôi nhân tình thương nhớ nhau cũng thường trông mây nhắn gió để gởi tới nhau những tiếng lòng thổn thức tương tư.
0
Ba anh dốt làm thơ

Ba anh học trò gặp nhau ở giữa đường lấy làm mừng rỡ, tay nắm mặt mừng, rồi nói với nhau: “Mang tiếng là học trò mà mình không làm nên thơ phú, khiến người đời không phục. Vậy sẵn đây ba ta nên hợp sức làm thơ”.
Cả ba người đều vui mừng đắc ý. Anh thứ nhất nhìn quanh quất thấy một cái hang, có một con cóc từ trong hang nhảy ra, tức thì anh ta làm nên câu thơ:
Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra,
Anh thứ hai làm tiếp câu thứ nhì:
Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó
Anh thứ ba cũng trổ tài nhả ngọc phun châu:
Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.
Làm xong, mỗi anh một câu thơ như vậy rồi, cả ba đọc đi đọc lại và lấy làm ưng ý lắm. Một anh bỗng giật mình nói:
- Hễ học hành giỏi thì thế nào cũng phải chết, mình như vầy thì trời chắc không để yên.
Nói rồi cả ba sai tiểu đồng đi mua ba cỗ quan tài để dành sẵn đó. Thằng tiểu đồng lơn tơn tới một cái quán ghé vào uống nước. Một anh kia thấy vậy hỏi thăm. Nó khoe rằng ba ông thầy của nó thông minh tài giỏi hơn người, chỉ trong chốc lát làm xong bài thơ, làm rồi sợ Trời quở nên sai nó mua hòm sẵn chờ chết đem chôn. Anh kia bèn hỏi bài thơ thế nào, thằng tiểu đồng đọc một mạch xong ba câu thơ con cóc.
Anh kia bật cười nghiêng cười ngửa, cười sằng sặc đỏ cả mặt tía cả tai, rồi nói với thằng tiểu đồng:
- Mầy có đi mua hòm nhớ mua giùm tao một cái.
Thằng tiểu đồng hỏi mua hòm làm chi vậy, anh kia mới nói rằng:
- Tao cũng phải mua hòm để sẵn đó, nếu có cười lỡ đứt ruột thì có sẵn mà chôn.
0
Con chó đá

Có hai anh em nhà kia, người anh thì gian ngoan còn người em thì hiền từ, người anh lợi dụng đoạt hết cả của cải trong nhà sau khi cha mẹ chết. Người anh chỉ thí cho vợ chồng người em một túp lều rách nát và cũng không buồn giúp đỡ món gì. Tuy vậy, vợ chồng người em cũng cắn răng chịu đựng cảnh cơ hàn.
Vào một buổi chiều, vợ chồng người em vừa nấu xong nồi cháo ngồi lại chia nhau ăn, thì từ bên ngoài có một cụ già gầy yếu, mình mẩy lở lói bước vào kêu đói.
Vốn tánh nhân từ, vợ chồng người em liền bước ra cửa dắt cụ già vào trong nhà, nhường cả nồi cháo cho cụ già đang đói.
Ăn xong, da thịt cụ già trở nên hồng hào, cụ gọi vợ chồng người em bảo rằng:
- Vợ chồng nhà ngươi thật là tốt bụng, nhà không đủ gạo nên mới nấu cháo mà ăn, nhưng khi thấy ta đói khát thì lại nhịn nhường, khiến ta mang ơn rất nặng. Để đền đáp lại, xin vợ chồng nhà ngươi hãy theo ta vào núi, ta sẽ trả ơn cho.
Nói rồi cụ già dắt vợ chồng người em đến bên một con chó đá, cầm cây gậy đập vào đầu chó đá ba cái, chó liền há miệng ra. Cụ già bảo người em:
- Trong miệng chó là cả một kho tàng, nhà ngươi hãy để tay vào muốn lấy bao nhiêu thì lấy.
Người em làm theo lời. Quả nhiên trong miệng chó đá đầy cả vàng khối. Nhưng người em chỉ lấy đủ dùng thôi. Trở về nhà, vợ chồng người em mang vàng làm vốn buôn bán, chẳng bao lâu giàu to.
Nhân đi qua làng, người anh thấy người em nay được nhà cao cửa rộng, quần áo phủ phê, thì tò mò muốn biết bí quyết làm giàu, mới ghé vào nhà em giả là thăm viếng rồi hỏi qua công chuyện làm giàu.
Người em thật thà có sao nói y như vậy.
Người anh lập tức trở về nhà biểu vợ ngã heo giết gà làm một mâm cỗ thật long trọng để đi mời cụ già ăn xin đói khát tới ăn. Người anh khỏi mất công đi tìm, cụ già chống gậy tìm tới nhà đúng vào lúc đói. Vợ chồng người anh mừng rỡ thỉnh cụ già lên ngồi ván giữa ép ăn, ép uống rồi xin cụ đưa tới chỗ con chó đá đặng lấy vàng.
Khi tới nơi, cụ già cũng cầm gậy đập vào đầu chó đá ba cái, miệng chó há ra. Nhìn vào trong thấy vàng khối rực, người anh động lòng tham, đút cả hai tay vào miệng chó, hốt cả đống vàng. Miệng chó thì nhỏ, cả hai tay đút vào đã chật rồi lại còn cả một đống vàng thì tài nào rút ra được.
Người anh loay hoay một hồi, đến giờ chó ngậm miệng lại, kẹp cả hai tay người anh ở trong không làm sao rút ra được. Người anh kêu cứu thì cụ già đã biến mất rồi.
Không còn biết làm sao, người anh đành để hai tay kẹp trong miệng chó đá từ ngày này qua ngày nọ cho đến chết.
0
Giết chó khuyên chồng

Thuở xưa có hai anh em họ Trịnh, ăn ở với nhau cũng thuận hòa, chỉ ngặt là người anh thích chuyện ăn chơi, giao du kết bạn, vì vậy bao nhiêu tiền của cha mẹ để lại người anh giành lấy hết, không để cho người em một đồng nào làm vốn sinh nhai.
Người em phải chịu cảnh thiếu thốn nghèo khổ, còn người anh tối ngày trà rượu, bài bạc rong chơi. Người anh đi tới đâu cũng có vài ba gã “cặp tàu” để được ăn uống phủ phê, người anh thường lấy thế làm hãnh diện với làng nước, người vợ có nhỏ to khuyên giải thế nào cũng không nghe. Đã vậy, người em có đến cậy nhờ chút đỉnh tiền bạc, thóc gạo thì người anh khăng khăng từ chối, đuổi về, trong lúc đó hễ bạn bè của anh ta có cần một đôi quan tiền, người anh lấy đưa ngay không tiếc. Vợ thấy thế bảo chồng:
- Không ai lạ đời như mình cả, ruột thịt bỏ ra, người xa bỏ vào là nghĩa lý gì?
Người chồng cãi lại:
- Đàn bà biết gì, để rồi coi, nếu có chuyện gì, bạn bè họ không bỏ tao chớ chú Ba nó thì đừng hòng nhờ cậy gì.
Nói rồi người anh dương dương tự đắc cho rằng mình xử thế rất khéo, không mảy may lưu ý đến chuyện giúp đỡ người em. Người vợ biết nói gì nữa với chồng cũng vô ích, nên lẳng lặng làm thinh.
Đêm kia, người chồng vừa về tới nhà, vợ run rẩy kêu chồng vào buồng nói rằng:
- Nguy rồi, hồi chiều này có một lão ăn xin đến trước cửa nhà mình kêu đói, mình cho một bát cơm mà lão còn chê ít đứng ỳ ra đó, đuổi mãi không đi, giận quá, em lấy gậy, đánh lão một gậy lão liền ngã lăn ra chết. Em liền bó thây lão trong chiếc chiếu để dưới sàn ngoài kia, bây giờ mình liệu đem chôn lão cách nào đừng cho ai biết mới tránh khỏi tội giết người, thiệt là oan gia, khi không kéo đến nhà mình vậy.
Nghe vợ nói xong, người chồng liền bảo ở nhà đợi, mình đi tìm các bạn về phụ lực đem chôn. Các bạn của anh ta khi nghe kể chuyện, tất thảy đều tìm cách thoái thác, thậm chí còn khuyên anh ta nên thú tội với quan. Anh ta chán nản về nói với vợ phải liệu cách nào khác chớ mấy người bạn chẳng người nào chịu tiếp tay đem chôn lão ăn mày.
Người vợ bèn nói với chồng:
- Hay để em đi mời chú Ba, may ra chú biết nghĩ tình giúp mình một tay.
Người vợ đi mời người em đến, phụ lực với anh đem chôn lão ăn mày.
Chẳng ngờ mấy thằng bạn của người anh đều là kẻ tiểu tâm, muốn lập công nên họ kéo nhau đến huyện đường tố cáo. Quan huyện truyền cho sai nha đi bắt người anh điệu đến phủ đường. Người vợ liền đi theo kêu oan cho chồng.
Người vợ bẩm với quan huyện:
- Thưa quan huyện, những người bạn của chồng tôi họ cáo gian. Sự thật chẳng có lão ăn mày nào bị đánh chết cả, vật bó chiếu đem chôn là một con chó.
Quan huyện không tin cho quật mồ lên xem thì thấy xác một con chó bị đánh chết, liền hỏi qua duyên cớ. Người vợ thật tình nói rằng vì muốn khuyên chồng chừa bỏ cái thói giao du với nhưng người bạn xấu, nên mới làm thế để cho chồng thấy rõ bụng dạ nham hiểm của con người.
Quan huyện hết lời khen ngợi người đàn bà có trí và truyền răn phạt những người bạn xấu xa độc ác. Người chồng đã tỉnh ngộ, xa lánh bài bạc rượu trà và các bạn bè không tốt, từ đó rất thương yêu người em, hết lòng giúp đỡ người em ruột thịt.
0
Người con chí hiếu

Ông Nguyễn Cốc người ở làng Thanh Mễ, ăn ở với cha mẹ rất chí hiếu, chỉ hiềm cha mẹ ông không được hiền lương nhân đức, trong làng đều cho rằng “cha mẹ rắn mà đẻ con Phật” để chỉ cảnh cha mẹ ông và ông.
Ông Nguyễn Cốc có người ông nội lúc bấy giờ đã 90 tuổi, già cả lụm cụm, mỗi khi ăn cơm thì run rẩy, làm đổ cả canh cơm đầy bàn, người cha của ông liền đem một cái muỗng dừa để cho ông nội của ông ăn cơm chứ không cho cầm bát, mỗi bữa cơm lại bắt ông nội của ông ngồi riêng rẽ ở dưới đất mà ăn chớ không được ăn chung mâm. Thấy thế, ông Nguyễn Cốc liền đóng một cái máng cho heo ăn. Người cha trông thấy liền hỏi ông rằng:
- Con đóng cái máng cho heo ăn để làm gì, con định nuôi heo chăng?
Ông Nguyễn Cốc lắc đầu:
- Con đóng cái máng này cốt để dành khi nào cha già rồi, con sẽ để cho cha ăn cơm, cũng như cha đã dùng muỗng dừa cho ông nội con ăn cơm vậy.
Người cha của ông biết ông mỉa mai mình, nên bỏ hẳn không cho ông nội của ông ăn cơm bằng muỗng dừa nữa.
Thấy ông nội của ông già yếu lắm rồi, ngồi đâu run đó lại nay yếu mai đau làm phiền lụy cả nhà không ít, nên cha ông đóng một chiếc xe chở ông nội của ông đem bỏ trong rừng. Ông Nguyễn Cốc liền vô rừng đem chiếc xe về. Người cha giận dữ hỏi ông:
- Ta đã bỏ nó rồi, còn đem về làm gì?
Ông Nguyễn Cốc đáp:
- Con để dành đó khi nào cha già, con chở cha bỏ trong rừng cũng như cha đã bỏ ông nội con vậy.
Người cha của ông Nguyễn Cốc nghĩ xấu hổ về chuyện làm sai quấy của mình, liền vào rừng đem ông nội của ông về, lo phụng dưỡng rất là tử tế.
Cả làng ai cũng khen ông Nguyễn Cốc là người con chí hiếu, biết khuyên cha làm điều thiện để trau dồi đạo đức.
0
Sinh con rồi mới sinh cha

Hai anh lính được giải ngũ trở về làng, một người nhờ có vốn liếng làm ăn phát đạt mới nghĩ đến người bạn của mình, liền đem 10 quan tiền cho bạn vay. Hai năm sau, người này lại lấy thêm 5 quan tiền nữa giắt trong mình đi sang làng của bạn ở định cho bạn vay thêm. Khi đến trước cổng, người này cẩn thận lấy 5 quan tiền bỏ vào một cái lỗ, đoạn lên tiếng gọi bạn bảo có mình tới thăm.
Vợ chồng người bạn đon đả ra chào. Mặc dầu lúc này làm ăn có tiền, nhưng vợ chồng người bạn xấu bụng, tưởng rằng người này đến đòi nợ nên toa rập nhau ám hại.
Đêm đó, được vợ chồng bạn đãi đằng cơm nước xong xuôi người này đi nằm, tưởng rằng sẽ được ngủ ngon để mai sáng trở về, vì vợ anh ở nhà cũng sắp sinh. Chẳng ngờ vợ chồng người bạn sắp đặt với nhau, chờ lúc người này ngủ quên, xông vào đâm chết, rồi đem vùi thây ở gốc khế ngọt.
Cách ít lâu cây khế trổ sinh một trái (chỉ độc nhất một trái thôi) người vợ liền bẻ xuống ăn, rồi thọ thai, sau sanh đặng một đứa con trai. Thằng bé này đến 10 tuổi cũng chưa biết nói. Vợ chồng đều buồn rầu, tìm đủ cách để cho thằng bé biết nói mà nó vẫn không nói. Thình lình, một hôm thằng bé bỗng bật nói:
- Xin cha mẹ hãy đi mời quan huyện đến đây.
Cả vợ lẫn chồng đều hết sức ngạc nhiên, nhưng mừng thấy thằng bé biết nói nên cả hai tức tốc đi mời quan huyện tới nhà.
Thằng bé lên tiếng tố cáo về vụ giết người của hai vợ chồng người bạn, và tự xưng là người bị giết trước kia.
Quan huyện không tin, thì người này chỉ chỗ giấu năm quan tiền ở ngoài cổng và xin cho đào dưới gốc cây khế. Quả nhiên đúng như lời tố cáo.
Quan huyện bắt ngay vợ chồng người bạn ác tâm giam giữ rồi cho đứa bé trở về quê quán của mình.
Khi người này về tới làng thì cảnh vật trong làng thay đổi quá nhiều, ngay cả đứa con trai cũng đã có vợ có con rồi.
Do đó người đời có câu này truyền tụng:
Sinh con rồi mới sinh cha,
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

0
Anh khờ đi buôn

Vào thời Hùng Vương thứ 8, có vợ chồng anh chàng họ Lưu, anh chồng thì hiền như cục bột, hiền đến đỗi mọi người cứ nghĩ anh ta ngớ ngẩn đần độn, trái lại chị vợ khôn ngoan lanh lợi, ngày nào cũng đôn đốc chồng:
- Sao mình không chịu làm gì cả để được giàu sang vinh hiển như người ta?
Anh chồng biết vợ mình không muốn mình ăn không ngồi rồi, nên một hôm bảo vợ:
- Tôi đi buôn đây, mình hãy cấp cho tôi một mớ vốn, tôi sẽ đi ngay.
Người vợ thấy chồng chịu làm ăn buôn bán thì mừng rỡ liền đưa cho 10 nén vàng và sắm sửa đồ đạc để chồng lên đường.
Bước ra khỏi nhà, anh chồng thấy cái gì cũng lạ mắt cả nên lấy làm thú vị lắm. Một hôm đi đến cội cây, anh thấy một lái buôn đang đếm bạc. Anh mới hỏi:
- Bác làm cái gì vậy?
Người lái buôn vọt miệng đáp:
- Tôi đi buôn bạc mới về, nên ngồi đếm lại.
Nghe người kia nói đi buôn bạc, anh chồng lấy làm khoái chí nên xin đổi 10 nén vàng lấy 10 nén bạc, vì anh ta nghĩ đi buôn dễ kiếm lời hơn vàng.
Lấy 10 nén bạc bỏ vào cái túi, anh ta khoan khoái lên đường.
Ngày hôm sau, đi qua một cánh đồng, thấy người mục đồng ngồi trên lưng trâu nghêu ngao ca hát coi có vẻ thảnh thơi sung sướng quá, còn mình phải mang 10 nén bạc kè kè nặng nhọc, nên anh ta xin đổi 10 nén bạc lấy một con trâu, trong khi mỗi con trâu giá chỉ 1 nén bạc. Nhưng anh ta cần gì, miễn ngồi được trên lưng trâu là thỏa thích rồi.
Ít hôm sau, thấy ngồi trên lưng trâu, đi mãi ngoài đường cũng chán, nhân gặp người chăn dê đang nặn sữa dê, uống coi ngon lành, anh ta lại xin đổi trâu lấy con dê. Đến khi con dê ra tỉnh, phải chăn dắt đi giữa chỗ đông người rất là bất tiện, gặp người đang gánh hai thúng giấy tiền vàng bạc trông rất lạ mắt nên anh ta hỏi:
- Này bác ơi, bác gánh cái chi vậy?
Người kia đáp:
- Đây là lụa hoa lê.
Anh liền xin đổi con dê lấy hai thúng giấy tiền vàng bạc.
Gánh hai cái thúng giấy đi nghênh ngang một đỗi, anh ta gặp một ông lão cầm một cái ống thụt nước tưới vườn, anh mới hỏi:
- Thưa cụ, cầm cái chi đó?
Thấy anh ta khờ khạo, ông lão trả lời:
- Đây là cái thúy hoa lung tung bộ không biết sao mà hỏi?
Cũng như mấy lần trước, anh ta xin đổi hai thúng lụa hoa lê lấy cái thúy hoa lung tung.
Thấy có lợi, ông lão đổi liền..
Tới một nơi khác, anh thấy một đám trẻ đang chơi chong chóng, anh liền hỏi đó là cái gì. Một đứa trẻ nhìn anh, cười rồi đáp:
- Đây là cái ba hoa thiên địa.
Nghe lạ anh xin đổi cái thúy hoa lung tung lấy cái ba hoa thiên địa.
Đi đến một cánh đồng thấy hai người đang lui cui bắt con niềng niễng, một thứ côn trùng sắc nâu có cánh, anh mới lên tiếng hỏi. Hai người kia cười khúc khích trả lời:
- Anh dốt quá, bộ không biết ngọc lưu ly hay sao mà hỏi.
Nghe nói ngọc lưu ly, anh khoái lắm liền năn nỉ đổi cho kỳ được. Thế là mười nén vàng đem đi, rốt cuộc chỉ đổi được mấy con côn trùng bé nhỏ. Tuy vậy, anh ta rất mừng, cắc ca cắc củm đem về, định bụng sẽ dâng lên vua xem ngọc lưu ly vì nghe đồn vua rất thích ngọc.
Về đến làng, anh đem trình ngay với chức việc, và nhất định không cho ai mở xem trước, mà phải dâng đến tay vua.
Mấy ngày sau dân làng anh mở hội để rước ngọc lưu ly dâng lên vua xem. Trong số người đi dâng ngọc có cả anh ta. Vợ anh ta hoang mang không hiểu tại sao chồng mình dám làm cái chuyện táo bạo như vậy, nhưng việc đã lỡ rồi có cản ngăn cũng chẳng được.
Đến kinh, cái hộp đựng ngọc lưu ly được chuyển đến Đô Sát viện xem xét trước, anh cũng nhất định không cho quan Đô úy mở ra, lấy cớ làm như vậy phạm thượng. Quan Đô úy cũng không vừa, dọa nếu không để mình xem trước thì sẽ giam giữ anh ta và cả vợ anh ta. Bất đắc dĩ, anh ta phải để quan Đô úy mở nắp hộp.
Khi vừa mở nắp hộp ra, mấy con niềng niễng chớp cánh bay vù khiến cho quan Đô úy sửng sốt, buồn cười còn anh ta thì tiếc rẻ thở vắn than dài, bảo rằng không khéo giữ ngọc thì ngọc bay mất.
Chuyện này thấu đến tai vua, vua liền mời anh ta vào chầu rồi phán:
- Trẫm đã biết chuyện dâng ngọc lưu ly của ngươi rồi, tuy ngươi khờ khạo nhưng thành tâm, vậy ngươi làm cách nào để có cái thứ ngọc lạ kỳ đó?
Anh ta cố nhớ lại rồi nói:
Mười nén vàng này
Mười nén bạc này
Một con trâu này
Một con bò này
Một con dê này
Một gánh lụa hoa lê này
Một cái thúy hoa lung tung này
Một cái ba hoa thiên địa này
Và bao nhiêu công khó nhọc lặn lội khắp nơi mới tìm gặp ngọc lưu ly.

Nghe rồi, vua cười mà rằng:
- Trẫm sẽ đền lại cho ngươi mỗi thứ bằng hai và ban cho chức quan lang, hằng năm hưởng bổng lộc triều đình.
Đoạn vua day quở mắng quan Đô úy đã lạm quyền mở nắp hộp mà không trình lên vua xem trước.
Nhiều người nghĩ rằng gã này khờ dại, nên mới bị người đời gạt gẫm lừa dối trục lợi, nhưng kẻ ở đời hơn nhau ở chỗ thành thật ngay thẳng, đó là phần thưởng xứng đáng cho anh chồng hiền này vậy.
0
Ba phần gia tài

Một ông lái buôn tánh tình hiền lành cẩn thận, trước khi nhắm mắt lìa đời, làm một chúc thư để lại phân chia gia tài cho ba đứa con.
Gia tài của ông gồm có 17 con trâu và 19 con heo. Theo chúc thư thì người con cả được một nửa, người con thứ được một phần ba và người con út được một phần chín đàn trâu. Còn heo thì con cả được một phần hai, con thứ một phần tư và con út một phần năm.
Trong chúc thư có dặn hai điều: thứ nhứt không được bán trâu và heo để lấy tiền chia, thứ nhì không được giết hại súc vật, nghĩa là để nguyên vẹn vậy mà chia.
Thật là chuyện rắc rối. Người con cả lên tiếng giành phần:
- Nửa đàn trâu 17 con và đàn heo 19 con, toàn là số lẻ làm sao mà chia?
Đến lượt người con thứ cũng càu nhàu:
- Phần tôi thì một phần ba đàn trâu là 5 con với hai phần ba và một phần tư đàn heo tức 4 con với ba phần tư. Như vậy phải giết trâu và heo mới chia được, mà cha thì cấm giết.
Người con út cũng tỏ vẻ bực mình:
- Phần tôi được một phần chín đàn trâu và một phần năm đàn heo như thế cũng chẳng chia quái gì được trừ phi xả thịt nó ra.
Gặp sự rắc rối như vậy, cả ba anh em không ai chịu nhân nhượng ai, triệt để giữ đúng các phần chia trong chúc thư, không ai ưng chịu sửa đổi một khoản nào.
Ban đầu còn bàn bạc nhỏ nhẹ với nhau, sau rồi sanh ra cãi vã to tiếng với nhau. Cuối cùng, người con cả đề nghị:
- Trong nhà phân xử không xong, thì cứ nhờ người ngoài phân xử vậy.
Cả ba cùng tới nhà một ông đồ nho giỏi về xử lý.
Lúc bấy giờ ông đồ đang ngồi xem sách, chợt thấy ba anh em kéo tới, biết có rắc rối về chuyện chia phần nên bảo:
- Ừ, nếu các anh đem việc này tới cửa công thì tốn kém rất nhiều, còn với tôi, chỉ lấy chút đỉnh công lao thôi. Vậy các anh định phần công lao của tôi bao nhiêu?
Sau một hồi bàn tính, họ dành phần ông đồ ba con heo.
Tảng sáng hôm sau, ông đồ dắt một con trâu và một con heo đến nhà ba anh em người lái buôn, rồi thả hai con vật này nhập vào bầy trâu và heo. Xong rồi, ông gọi tất cả ba anh em đến hỏi:
- Bây giờ trong chuồng có bao nhiêu con trâu vậy các chú
Cả ba trả lời 18 con. Ông đồ hỏi:
- Này chú Hai, phần của chú bao nhiêu?
- Thưa một nửa đàn trâu tức là 9 con.
Ông đồ bảo:
- Vậy chú hãy vào bắt 9 con của chú đi.
Người thứ hai mừng rỡ và thấp thỏm sợ ông đồ biết về phần lợi của mình, đúng lẽ thì chỉ 8 con và một phần hai con chớ không được chọn 9 con.
Quay sang chuồng heo, ông đồ hỏi tiếp:
- Bây giờ có cả thảy bao nhiêu heo vậy chú?
- Dạ 20 con.
- Phần của chú Hai bao nhiêu?
Người thứ Hai đáp:
- Nửa đàn là 10 con.
Ông đồ ra lịnh:
- Chú hãy bắt lấy đủ 10 con nhưng trừ con của tôi lại.
Người thứ hai lấy đủ phần của mình rồi, lật đật đem trâu và heo về nhà, chỉ để lại cho ông 1 con heo phần công lao.
Giờ đến lượt người con thứ:
- Thưa cụ tôi được một phần ba, vậy cụ chia cho.
Ông đồ hỏi:
- Một phần ba của đàn trâu 18 con là bao nhiêu vậy chú Ba?
- Dạ 6 con.
- Được rồi, chú mau vào chuồng bắt 6 con của chú ra, nhưng nhớ để con có dấu của tôi lại. A còn heo, chú được mấy phần?
- Thưa một phần tư tức là 5 con.
- Vậy chú cứ bắt 5 con, nhớ để cho tôi một con heo phần công lao nhé.
Người con thứ cũng như người con trưởng lật đật đem phần chia đi không cần bàn cãi gì nữa cả.
Đến lượt người con út, ông đồ hỏi:
- Này chú, chú được bao nhiêu phần trâu và heo?
Người này đáp:
- Dạ một phần chín đàn trâu và một phần năm đàn heo.
Ông đồ tính toán xong liền bảo:
- Chú hãy vào chuồng bắt hai con trâu và hai con heo, nhưng nhớ để tôi một con heo phần công lao.
Người con út cả mừng vì đúng lẽ anh chỉ được ba con và bốn phần năm thôi, thế mà được những bốn con thì có lợi vô cùng. Trong khi ấy ông đồ trở về nhà với một con trâu và ba con heo, tất nhiên là ông cũng có lợi.
0
Ông tiến sĩ mọc lông dê

Tại đất Hiệp Hữu có người họ Lê đã đỗ Tiến sĩ, sống một đời vinh hiển ơn vua lộc nước. Tuy sống trong cảnh giàu sang nhưng ông Tiến sĩ này thường vương vấn nỗi buồn riêng, bởi nơi lưng ông tự nhiên mọc ra những chòm lông trắng bệch như lông dê, đem hớt đi, nó lại mọc ra nhiều như thường. Người trong trấn đều biết chuyện nên ngầm gọi ông là Tiến sĩ mọc lông dê.
Buồn bã, ông Tiến sĩ tắm rửa sạch sẽ, lập trai đàn rồi đi thiếp xuống Âm ty, tìm xem kiếp trước mình làm những gì mà kiếp này lại mọc lông dê để cho người đời biếm cợt. Khi tới Âm cung, ông Tiến sĩ được Diêm chúa tiếp rước niềm nở và cho biết kiếp trước ông Tiến sĩ là một thư sinh tánh ưa hoa nguyệt, lúc chết, Diêm đình định bắt đầu thai làm con dê, nên quỷ sứ bắt tới pháp đình lấy bộ da dê tròng vào, sắp sửa cho đi đầu thai nhưng lại thấy ông cũng có làm nhiều việc nhân đức cứu người. Vậy việc nhân đức là chánh, mà việc trăng hoa là phụ, nên bỏ lốt dê mà cho tái sinh làm người được đỗ đạt hiển vinh. Vừa nghe pháp quan nói vậy, ông mừng rỡ vội vã tuột lấy lợp dê chạy đi, chẳng ngờ tên quỷ sứ lẹ tay hơn ông, nắm bộ da dê mà giựt, vì ông chạy quá nhanh nên bộ da dê rách toác, vướng lại trên lưng mấy mảnh, thành ra kiếp này phải chịu mọc lông dê.
Lê tiến sĩ nửa mừng nửa tủi mới hỏi Diêm chúa phải làm cách nào để gột sạch những lốt lông dê. Diêm chúa tiễn ông ra về và bảo rằng: “Hãy ráng tu nhân tích đức làm lành, cứu nhân độ thế thì tự nhiên lông dê sẽ rụng mất”.
Trở lại dương trần, từ đó, ông Tiến sĩ hết lòng lo việc thiện: cứu giúp nhưng người nghèo khó, khuyên răn những kẻ ác gian, lập đàn trai, cất chùa miếu thờ phụng thánh thần. Đến năm 60 tuổi, tự nhiên những mớ lông dê biến đi đâu mất.
0
Con mèo của Cống Quỳnh

Trong cung vua có nuôi một con mèo rất đẹp, cổ mèo được cột một sợi xích vàng, nhà vua cưng con mèo như của quý. Một hôm Cống Quỳnh thấy con mèo của vua thì khoái ý, không phải Cống Quỳnh có lòng tham, mà vì muốn quấy phá nhà vua để cười chơi.
Cống Quỳnh liền lẻn vào cung nhà vua rình đánh cắp được con mèo đem về nhà, tháo sợi xích vàng giấu đi, lấy dây lạt buộc vào cổ mèo. Thường bữa, ông Cống Quỳnh bày ra hai đĩa đồ ăn, một đĩa toàn món ăn ngon và một đĩa gồm có đầu tôm xương cá, cơm thừa canh cặn. Xong rồi ông thả con mèo ra, chờ nó men tới đĩa đồ ăn ngon thì ông đánh đập dữ tợn, còn nếu nó tới bên đĩa cơm thừa canh cặn thì ông để yên cho nó ăn, lâu ngày thành thói quen.
Bị mất con mèo, nhà vua cho đi lùng kiếm khắp nơi. Có người thấy ở nhà Cống Quỳnh có một con mèo giống hệt con mèo của vua nên tâu cho vua rõ. Nhà vua vốn biết cái tánh rắn mắt của Cống Quỳnh lại biết ông hay quậy phá đầu này đầu kia nên kêu Cống Quỳnh đến hỏi:
- Khanh có bắt con mèo đeo xích vàng của trẫm để đùa chơi, xin cho trẫm lại, trẫm quý nó lắm.
Cống Quỳnh hỏi nhà vua:
- Mất mèo sao bệ hạ nghi cho tôi?
- Vì có người thấy con mèo trong nhà của khanh.
Cống Quỳnh cãi lại ngay:
- Kẻ đó ăn nói hàm hồ, chớ con mèo đó là mèo của tôi nuôi.
Nhà vua nhất định đó là con mèo của mình, còn Cống Quỳnh thì bảo con mèo của ông. Đôi bên lời qua tiếng lại. Rốt cuộc, Cống Quỳnh nói với vua:
- Xin bệ hạ hãy triệu các triều thần vào chầu, tôi sẽ có cách làm cho tỏ rõ, mèo của bệ hạ hay mèo của tôi.
Nhà vua cho họp đình thần lại đông đủ. Cống Quỳnh nói:
- Xin các quan làm chứng cho.
Nói rồi ông xin nhà vua đem ra hai đĩa cơm, một đĩa toàn là món ăn vật lạ, một đĩa cơm thừa canh cặn. Trước khi thả mèo ra, Cống Quỳnh nói với các quan:
- Bây giờ muốn biết mèo của vua hay mèo của tôi rất dễ. Mèo của vua chỉ ăn toàn món ngon vật lạ, còn mèo của tôi chỉ biết ăn cơm thừa canh cặn. Vậy các quan làm chứng cho.
Đoạn Cống Quỳnh thả con mèo. Đã tập quen rồi nên khi buông ra, con mèo đi ngay tại đĩa cơm thừa canh cặn. Cống Quỳnh reo lên vui sướng, ôm con mèo về nhà!
0
Cây khế bằng vàng

Ngày xưa, có anh em nhà kia, cha mẹ mất sớm để lại một điền sản khá lớn, nhưng người anh gian tham giành chiếm hết cả, chỉ để cho em một miếng đất xéo, một túp lều tranh và một cây khế ngọt.
Người ta hát rằng:
Chanh chua thì khế cũng chua,
Chanh bán có mùa khế bán tư niên.

Nhờ khế mùa nào cũng có trái, lại là trái ngọt, nên vợ chồng người em đem khế đổi gạo sống lây lất qua ngày.
Ngày kia có đàn chim phụng hoàng từ trên núi bay xuống, đậu ngay trên cây khế của người em, bao nhiêu quả chín đều bị chim phụng hoàng ăn sạch.
Nghe nhiều tiếng động kỳ lạ, người em lật đật ra nhìn lên cây khế, thấy sạch cả trái thì kêu trời kêu đất rồi ôm cây khế mà khóc ròng.
Chim phụng hoàng thấy vậy liền hỏi rằng:
- Người kia, tại sao mà khóc than khủng khiếp vậy?
Người em tức tưởi đáp rằng:
- Vợ chồng tôi vốn nghèo, quanh năm chỉ cậy nhờ có cây khế mà sống, nay phụng hoàng ăn sạch cả trái thì lấy đâu mà đổi gạo?
Chim phụng hoàng liền nói:
- Nhà ngươi đừng khóc nữa, ta đã lỡ ăn hết trái của nhà ngươi thì ta sẽ đền. Bây giờ nhà ngươi hãy xòe tay ra, ta đền cho cây khế khác.
Chim phụng hoàng nói rồi, nhả vào tay người em một cây khế, cành lá và trái đều bằng vàng.
Vợ chồng người em đem những quả khế vàng đi bán, được rất nhiều tiền, từ đó mua nhà, tậu vườn, tậu đất, mỗi ngày thêm giàu có.
Người anh thấy thế, bèn hỏi dò người em. Người em cứ thật tình thuật lại chuyện đàn chim phụng hoàng ăn khế ngọt rồi cho cây khế bằng vàng. Người anh sinh bụng tham, bèn năn nỉ ỉ ôi để người em đổi cây khế ngọt lấy ruộng vườn điền sản của mình.
Người em bằng lòng.
Từ đó người anh làm chủ cây khế ngọt, ngày ngày trông đợi đàn chim phụng hoàng đến ăn cây khế để xin cây khế vàng. Nhưng ngày tháng trôi qua, chỉ thấy loài chim quạ hàng đàn, hàng lũ bay đến cắn phá trái chín rồi ỉa đầy sân. Người anh tức giận lấy cây đuổi đi, đàn quạ bay lên buông ra những tiếng:
“Quạ! Quạ! Xấu hổ!”, như chế nhạo kẻ tham lam ích kỷ.
0
Người thiếu phụ Nam Xương

Vũ Nương có chồng là chàng Trương. Hai người ăn ở với nhau thật là thuận hòa vui vẻ và sinh được một đứa con trai đặt tên là Đản.
Gặp phải lúc trong nước có giặc, chàng Trương phải ra đi làm nhiệm vụ của người nam nhi. Vũ Nương ở nhà lo làm lụng để nuôi mẹ chồng cùng đứa con thơ.
Chẳng bao lâu, mẹ chồng qua đời, cảnh nhà càng hiu quạnh. Đứa con càng lớn lên trông càng dễ thương. Lắm khi nó bập bẹ hỏi: Cha nó đâu? Vũ Nương bảo rằng: Cha con đi làm ăn xa cũng sắp sửa trở về.
Có đêm thằng bé Đản nhớ cha, kêu khóc om sòm, dỗ hoài không nín. Vũ Nương ôm con vào lòng mà nghẹn ngào thương cảm. Nhân nhìn lên vách, thấy bóng mình rọi lên đó, mới nghĩ cách vỗ về con, nàng kêu Đản, trỏ lên vách ván mà nói:
- Đó, cha con về rồi kìa.
Thằng Đản lấy làm vui mừng, không khóc nữa. Đêm nào nó cũng đùa với cái bóng trên vách mà nó gọi bằng cha rồi ngủ rất ngon.
Thời gian thấm thoát trôi qua. Giặc giã đã yên. Chàng Trương khăn gói trở về quê hương. Vợ chồng mừng mừng tủi tủi trong lúc sum vầy. Chàng Trương không khỏi cảm thương cho vợ mình đã vất vả nuôi con.
Lúc bấy giờ, Vũ Nương xách rổ đi chợ. Nàng trao bé Đản cho chồng bồng ẵm. Khi nàng đi rồi, thằng bé giẫy nẫy lên kêu khóc không chịu cho chàng Trương bồng, nó nói rằng chàng Trương không phải là cha của nó.
Chàng Trương lấy làm lạ vừa dỗ dành ngon ngọt, vừa hỏi Đản:
- Nếu ta không phải là cha của Đản, vậy chớ cha của Đản là ai?
Đản thỏ thẻ nói:
- Cha của Đản đến đây thường lắm. Đêm nào cha của Đản cũng đến đây nô đùa với Đản tới khuya, Đản buồn ngủ mới thôi.
Chàng Trương nghi ngờ vợ mình ngoại tình trong lúc mình vắng nhà, vì vậy đêm mới có người đàn ông đến đây nô đùa với Đản.
Vũ Nương đi chợ về, thấy khí sắc chồng không vui thì hỏi han. Chàng Trương mới tức giận mắng nhiếc vợ thậm tệ và toan đuổi đi. Vũ Nương đoán hiểu chồng nghi ngờ mình có tình riêng trong lúc vắng nhà. Nàng nghĩ rằng thân phận đàn bà, chữ trung trinh tiết liệt làm đầu, thế mà nàng không khéo giữ gìn cho trọn vẹn thì xấu hổ biết bao nhiêu, chỉ còn có cái chết mới tỏ được nỗi oan tình.
Nghĩ vậy, nên nàng đi ra bờ sông gieo mình tự vận. Cả làng hay tin, tìm vớt xác của nàng lên, xác vẫn tươi tỉnh, khí sắc như thường, ai cũng lấy làm thương tiếc.
Đêm đến, Đản đang ngồi trong lòng cha, vùng trỏ lên vách, kêu to:
- Kìa, cha của Đản đến kia kìa.
Chàng Trương nhìn lên vách, thấy bóng mình phản chiếu ánh đèn dầu in lên đó. Bấy giờ chàng mới hiểu rõ nguồn cơn, lòng vô cùng hối hận vì đã nghi oan vợ mình.
Mọi việc đã lỡ, còn biết làm sao? Chàng Trương đành đem con ra bờ sông bày lễ cúng tế để giải oan cho người vợ trung trinh tiết liệt.
Tục truyền, Vũ Nương chết đi, được thành tiên, có về báo mộng cho chồng. Dân làng cảm gương tiết nghĩa nên lập miếu thờ Vũ Nương ở bờ sông tục gọi là miếu “Người thiếu phụ Nam Xương”.
Đến sau, lúc qua sông, vua Lê Thánh Tôn có làm bài thơ cám cảnh như vầy:
Nghi ngút đầu ghềnh khói tỏa hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi lo lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chăng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2017 23:58:37 bởi casau>
Chuyện cây đa bến cũ

Một thư sinh quê quán ở Thanh Nghệ Tĩnh, học giỏi, thông minh, tính tình hào hoa phong nhã. Ngày kia, vác lều chiếu vào Huế để thi hương, lúc qua bến Ô Lâu ở khoảng giữa Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế chàng gặp một cô lái đò nhan sắc mặn mà, liền cảm sắc đẹp của nàng.
Lúc qua sông, chàng đặt lời ướm thử, thì cô lái đò cũng tỏ dạ yêu chàng. Liền đó, hai người ước hẹn sẽ nên duyên vợ chồng sau ngày chàng thư sinh vào trường thi trở về.
Khoa thi đó, chàng thư sinh đậu Giải nguyên. Trở về bến đò Ô Lâu, bấy giờ chàng đã là một vị tân khoa được mọi người kính vì trọng vọng. Tuy vậy, chàng vẫn đến gặp người yêu, ước hẹn một lần nữa rằng: sau khi về quê quán tỏ thật với cha mẹ, sẽ nhờ mai mối đem sính lễ đến cưới nàng. Để cho nàng tin lòng, chàng cởi áo tặng nàng:
Ra về để áo lại đây
Để cho em đắp kẻo ngọn gió tây lạnh lùng.

Chàng đi rồi, ngày ngày nàng vẫn đưa đò chở khách sang sông. Chiều chiều, nàng gác mái, neo đò dưới gốc cây đa, đem áo của chàng ra ngắm nghía nhớ thương.
Ngày tháng trôi qua quá mau. Thấm thoát đã được một năm, nhưng bóng hình của chàng vẫn vắng bặt. Cô lái đò thường trông lên bến cất tiếng hát véo von:
Thuyền về còn nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Thấy nàng có sắc có duyên, lắm khách qua đò đưa lời chọc ghẹo. Với ai nàng cũng khăng khăng từ chối, một dạ chờ chàng.
Một năm, hai năm rồi ba năm trôi qua, hình bóng của chàng thư sinh đã làm xiêu lòng cô gái càng vắng bặt ở phương trời. Nhớ thương chồng chất, lòng cô gái tưởng hóa điên, hóa dại cũng nên. Nàng không hiểu rằng vì cha mẹ không thuận tình hay chàng thư sinh có lòng bội bạc.
Nàng cũng từ chối những cuộc hôn nhân của đám trai tráng trong làng. Nhiều người cho rằng nàng quá si tình nên mới đợi chờ người không yêu nàng chỉ vì vui miệng mà nói chuyện viển vông.
Sự buồn khổ thất vọng đã làm cho cô lái đò ở bến cây đa trên sông Ô Lâu biếng ăn biếng ngủ, biếng nói, biếng cười. Trên sông xanh, người ta không còn nghe tiếng hát vui tươi trong trẻo của nàng. Nàng vẫn chèo đò chở khách sang sông, nhưng vẻ vui tươi không còn nữa.
Thế rồi, một chiều kia, vì quá thất vọng sao bao năm chờ đợi, cô lái chèo thuyền ra giữa sông, hò lên mấy tiếng nhắn nhủ cùng mây nước rồi lao mình xuống sông tự vẫn.
Về sau có những câu hát ru em:
.... Hò, ơ... Trăm năm nhiều nỗi hẹn hò,
Cây đa bến cũ con đò vẫn đưa.
Cây đa bến cũ còn đưa,
Con đò đã thác năm xưa tê rồi.

0
Chuyện người lấy cóc

Hai vợ chồng nông phu nọ tánh tình hiền lương nhơn đức, nhưng hiềm vì không con để nối dòng. Vợ chồng hết sức cầu khẩn Phật, Trời xin ban cho một mụn con. Quả nhiên, lòng thành thấu đến Phật, Trời, năm sau vợ người nông phu nọ thọ thai. Đến ngày sinh nở, chẳng may đẻ ra một con... cóc.
Vợ chồng người nông phu rất buồn phiền, chẳng lẽ đem cóc giết đi thì mang tội sát sinh, hại vật, còn để nó sống thì làng nước chê cười. Đã vậy, công việc trong ngoài lại không có ai tiếp tay coi sóc, ông bà đều thở ngắn than dài.
Một hôm, ông bà bỗng nghe cóc nói tiếng người:
- Dưa hấu sắp chín rồi, chim chóc sẽ đến ăn phá, vậy cha mẹ để con ra giữ vườn dưa.
Ông bà ngạc nhiên rồi miễn cưỡng bằng lòng, chớ không tin rằng cóc có thể giữ dưa được.
Lúc bấy giờ có một đám thư sinh đi qua vườn dưa, thấy không ai canh giữ thì giở trò đùa cợt đạp lên dưa mà đi. Họ bỗng giựt mình vì nghe có tiếng nói:
- Xin các thầy đi tránh ra ngoài kia, đừng đạp lên dưa của nhà em.
Trong đám thư sinh, có một chàng họ Bạch quanh quẩn chỉ thấy một con cóc ngồi ở giữa vườn thì lấy làm sinh nghi. Không lẽ cóc biết nói tiếng người? Nếu nó biết nói tiếng người chắc là tiên thánh gì bị đọa xuống trần đây.
Nghĩ vậy rồi, thư sinh họ Bạch lên tiếng hỏi, cóc đáp lại rất mực khôn ngoan. Chẳng biết sao, khi về đến nhà thì chàng thư sinh mắc phải bệnh tương tư, tối ngày chỉ nhớ tới nàng Cóc. Cha mẹ chàng thấy con buồn bã biếng ăn biếng ngủ thì thăm hỏi nguyên do, bấy giờ chàng thư sinh xin cha mẹ mình cho phép được lấy nàng Cóc làm vợ. Cha mẹ chàng tưởng chàng mắc bệnh điện, nên mời thầy bùa đến trị, đến sau bất đắc dĩ phải chiều lòng con đi cưới nàng Cóc.
Về phần cha mẹ nàng Cóc thì vô cùng lo ngại, con mình là Cóc chớ đâu phải là người mà biết làm dâu làm vợ? Có lẽ người đời muốn chế nhạo mình chăng? Nàng Cóc biết chuyện liền khuyên cha mẹ cứ yên lòng nhận lời hứa hôn với nhà họ Bạch.
Chuyện này đồn lên khắp trong làng, ai ai cũng cười cho chàng thư sinh dại dột, hết người rồi sao lại phải lấy nàng Cóc làm vợ? Một hôm, ông Đồ, thầy dạy học các thư sinh, truyền cho các học trò hãy về bảo vợ nhà, mỗi người mang tới cho thầy một chiếc áo mới, áo nào thấy mặc vừa kích thước, hàng nào thầy vừa ý nhất thì người đó sẽ chiếm giải đầu.
Các thư sinh vui mừng, vì có dịp tốt để cho vợ họ trổ tài, còn chàng họ Bạch thì rầu rầu nét mặt. Chàng nghĩ, nàng Cóc làm gì biết thêu thùa vá may mà hòng đua tài với vợ các bạn. Vì vậy chỉ biết thở than với cha mẹ. Nàng Cóc biết chuyện liền bảo chàng cứ yên tâm lo việc sách đèn, chừng đúng hạn kỳ nàng sẽ giao áo cho chàng đem nộp cho thầy.
Quả nhiên, đúng ngày hẹn, nàng Cóc trao cho chồng chiếc áo gấm xanh may thật khéo, thầy dạy học mặc vào thì thấy vừa vặn từng ni tấc, ai cũng tấm tắc khen. Trong khi đó, những chiếc áo của vợ các bạn may đem ướm vào, cái thì rộng thùng thình, cái thì chật bó sát lấy người, rốt cuộc chỉ có chiếc áo gấm của nàng Cóc được giải nhất.
Từ đó, ít ai dám khinh thường nàng Cóc.
Năm sau, triều đình mở khoa thi, nàng Cóc theo đưa chồng, lúc đến một bụi cây nàng chui vào đó được một lát trở ra, cởi bỏ lốt cóc xấu xí, biến thành một người con gái đẹp như tiên. Chàng thư sinh họ Bạch lấy làm mừng rỡ, thừa lúc nàng Cóc sắp xếp lại hành lý, anh ta lẻn vào bụi để xem thì thấy một bộ da cóc, liền lấy giấu đi. Nàng Cóc biết chuyện năn nỉ chồng để xin lấy bộ da lại, người chồng nhất định không đưa. Thành ra nàng không thể trở về tiên cảnh, bởi trước đây bị đày làm kiếp Cóc. Nàng Cóc đành ở lại cõi trần. Khóa đó, chàng thư sinh đậu Giải nguyên. Vợ chồng vinh hiển, trở về làng, ai cũng khen họ tốt đôi.
0
Cái cân và cục máu

Ngày xưa, có hai vợ chồng nhà buôn gian tham lường đảo, chế ra một cái cân cán rỗng, bên trong đổ thủy ngân, hai đầu cân thì bịt đồng nên đố ai biết cân gian. Thường ngày, khi cân hàng bán cho người thì dốc cán cân về đằng móc, còn khi mua hàng để bán lại dốc cán cân về đằng quả, vì vậy mua hay bán hàng, vợ chồng nhà buôn gian tham cũng đều được lợi về phần mình.
Nhờ buôn bán như vậy, họ trở nên giàu có. Đã vậy, vợ chồng sinh được hai trai mặt mày sáng láng, trí óc thông minh, ai cũng khen là nhà có phước. Ngày nọ hai vợ chồng bàn với nhau nên phá bỏ cái cân gian giảo kia để dành ân đức lại cho con.
Hai vợ chồng đều thuận tình, liền đem cái cân ra chẻ. Lạ thay khi chẻ cân ra, chất thủy ngân biến đâu mất cả, mà chỉ thấy đọng lại một cục máu đỏ lòm. Cả hai đều lấy làm kinh sợ, làm lễ sám hối và ngày nào cũng lo thí ân bố đức.
Chẳng bao lâu, cả hai đứa con bỗng lăn ra chết. Hai vợ chồng đau đớn vô cùng, kêu khóc rất thảm thương. Họ biết rằng mình vì làm ác nên Phật, Trời mới hành phạt như vậy. Nhưng đã muộn rồi, vợ chồng chỉ biết than thở với nhau chớ không dám oán trời trách đất.
Một đêm hai vợ chồng nằm mơ, thấy Bụt hiện lên bảo rằng:
- Hai đứa con của nhà ngươi là cốt yêu quỷ. Trước kia, thấy nhà ngươi làm chuyện gian ác, lường cân tráo đấu nên Trời sau hai con quỷ đầu thai làm con nhà ngươi để phá tan sản nghiệp này. Nhưng từ khi thấy vợ chồng nhà ngươi biết cải ác tùng thiện phá bỏ cái cân thủy ngân, hằng lo tu nhân tích đức nên Trời, Phật cảm thấu tấm lòng thành, đòi hai con quỷ về Trời, không cho chúng nó phá hại sản nghiệp của ngươi. Vậy ngươi không nên than thở nữa, mà hãy lo làm thiện tất có nhiều phần thưởng quý giá dành cho ngươi.
Nói rồi, Bụt biến mất. Vợ chồng nhà buôn kia nhớ lời Bụt dặn, không còn thương khóc hai đứa con đã chết, mà lo làm lễ sám hối một lần nữa. Vợ chồng hết lòng lo làm việc thiện, về sau lại sanh được hai đứa con tuy không khôi ngô tuấn vĩ nhưng được cái hiền lành thông minh, học đâu nhớ đó, lại ăn ở với cha mẹ rất có hiếu.
Lớn lên, cả hai đứa con đều thi đỗ làm quan, thờ cha kính mẹ hết lòng. Về già, vợ chồng nhà buôn được thảnh thơi, sung sướng, xa gần đều cảm mến ân đức. Bấy giờ, vợ chồng mới hiểu rằng Trời, Phật rất công minh, việc làm gian ác dầu kín nhẹm đến đâu cũng không tránh được quả báo nhãn tiền. Cũng may nhờ sớm biết cải hối mà họ được an nhàn sung sướng lúc về già.
0
Kẻ trộm thành Phật

Ngày xưa có một nhà sư rất chuyên cần trong việc kệ kinh. Tu đã lâu mà không thành chánh quả, nhà sư mới bỏ chùa đi sang xứ Phật để hỏi thăm Đức Phật bao giờ công quả của mình mới đắc thành.
Dọc đường, nhà sư gặp một gã đàn ông nọ xin đi theo làm đệ tử, nhà sư mới hỏi rằng:
- Trước kia ngươi làm nghề gì mà nay muốn theo ta đi sang xứ Phật?
Gã đàn ông đáp:
- Trước kia tôi làm nghề ăn trộm, nhưng vì sợ luân hồi quả báo, nên tôi nguyện từ đây lánh dữ tìm lành, lo tu hành cho tiêu tan tội lỗi.
Nhà sư nói:
- Tu hành cốt là lòng thành, nhà ngươi đã làm việc ác, nay còn muốn tu hành sao được?
Kẻ trộm năn nỉ mãi, nhà sư cũng không cho đi theo. Cuối cùng, gã lấy da mổ bụng lấy bộ đồ lòng trao cho nhà sư và nói:
- Nếu cái thân này không được theo thầy, thì dám xin gởi bộ lòng thành để thầy mang sang trình với Đức Phật.
Nói rồi kẻ trộm gục xuống chết, nhà sư liền đem bộ đồ lòng của kẻ trộm ra đi.
Ít ngày sau, mùi hôi thúi xông lên, nhà sư không chịu được nên liệng bộ đồ lòng dưới một cội cây rồi tiếp tục cuộc hành trình. Vào lúc đó có con quạ từ trong rừng bay ra, tha bộ đồ lòng đem về đậu trên cây phướn của Đức Phật.
Ngày kia, nhà sư đến xứ Phật vào quỳ lạy Đức Phật Tổ, thì Ngài quở trách rằng:
- Người ta đã đem cả lòng thành gởi gắm cho ngươi mà ngươi không biết giữ gìn, lại đem vứt bỏ giữa đường nên ta phải sai chim quạ đem về đây.
Nhà sư liền nói:
- Hắn là một kẻ ăn trộm từng làm điều gian ác.
Phật Tổ phán rằng:
- Dầu là kẻ trộm, nhưng hắn sớm biết cải hối ăn năn nên ta đã cho hắn thành Phật, còn ngươi, lòng chưa được lành, tâm còn toan tính nọ kia, nên phải trở về lo tròn công quả, may ra mới được về cõi Phật.
Nhà sư đành trở lại chùa xưa, tiếp tục tu hành khổ hạnh.
0
Con rùa vàng

Thuở xưa kia có hai người bạn chơi nhau rất thân, hiềm vì một người thì giàu, còn một người nghèo. Người bạn giàu có cái tên là Đại Trượng Phu, còn người bạn nghèo có tên là Chí Quân Tử.
Vợ chồng Đại Trượng Phu thấy bạn nghèo thì có ý muốn giúp đỡ vốn liếng để làm ăn. Chí Quân Tử lòng dạ thẳng ngay, ngại rằng lấy tiền của bạn đem về, rủi làm ăn thất bát thì lấy đâu mà trả cho bạn, vì vậy nên từ chối việc giúp đỡ của bạn.
Nhà Đại Trượng Phu chẳng thiếu gì của quý, nhưng lại muốn có thêm của lạ nên hôm nọ lấy năm nén vàng đưa cho một người thợ bạc đặt làm một con rùa bằng vàng. Ngày kia, Chí Quân Tử đến thăm bạn, Đại Trượng Phu liền đem con rùa vàng ra khoe. Chí Quân Tử xem rồi để trong một cái dĩa, đoạn cùng bạn uống rượu đến say khướt nằm ngủ quên.
Lúc bấy giờ, con trai của Đại Trượng Phu đi học ở xa về, thấy con rùa vàng lấy đem đi chơi. Đến chừng Chí Quân Tử ra về được một lát, Đại Trượng Phu mới sực nhớ tới con rùa vàng, hỏi vợ thì vợ nói không lấy cất Đại Trượng Phu lấy làm bối rối, chẳng lẽ nghi cho người bạn tốt của mình ăn cắp con rùa vàng?
Ngày sau, Đại Trượng Phu đến nhà Chí Quân Tử chơi, nhân tiếc con rùa vàng có hỏi mát bạn rằng:
- Này anh, hôm trước anh có lấy con rùa vàng của tôi đem về để cho chị coi không?
Nghe vậy, Chí Quân Tử nghĩ thầm rằng:
“Có lẽ bạn ta nghi ta ăn cắp con rùa vàng chăng?” Nhưng chẳng lẽ bảo là không lấy thì chi cho khỏi phật lòng bạn mình, nên đành nhận là có lấy.
Đại Trượng Phu mới bảo bạn:
- Thôi được, anh cứ giữ con rùa vàng mà chơi. Tôi xin kiếu anh.
Đại Trượng Phu về rồi, vợ chồng Chí Quân Tử lấy làm lo lắng, làm sao có con rùa vàng để trả cho bạn. Vợ chồng bàn nhau bán nhà bán cửa cho ông Phú Trưởng Giả và xin làm người hầu hạ để có đủ tiền làm con rùa vàng trả cho bạn.
Ông Phú Trưởng Giả biết chuyện lấy làm động tâm, mới gọi người thợ bạc đến làm một con rùa vàng khác, trao cho vợ chồng Chí Quân Tử đem về trả cho bạn và cũng không nhận vợ chồng Chí Quân Tử làm người hầu hạ, mà chỉ cho ở nhờ.
Được ít lâu, người con trai của Đại Trượng Phu trở về nhà có đem theo con rùa vàng đã lấy độ trước, trả cho cha mẹ và nói:
- Hôm nọ, con về nhà thình lình thấy con rùa vàng để trong đĩa nên con lấy cất đây, nếu gặp phải kẻ gian thì mất luôn rồi. Vậy con xin trả lại.
Thấy vậy vợ chồng Đại Trượng Phu vô cùng ngạc nhiên. Rùa vàng nào con mình lấy đem đi chơi, rùa vàng nào bạn đem trả? Mới nghĩ ra, có lẽ người bạn nghèo sợ mình phiền trách nên làm con rùa khác để thế.
Bấy giờ, Đại Trượng Phu mới đem con rùa vàng đến nhà Chí Quân Tử để trả lại và xin lỗi bạn. Nhưng nhà đã bán rồi, vợ chồng bạn lại đến ở nhờ trong nhà ông Phú Trưởng Giả. Lập tức, Đại Trượng Phu đến gặp ông Phú Trưởng Giả trao trả con rùa vàng và xin đưa vợ chồng bạn về. Ông Phú Trưởng Giả từ chối như vầy:
- Anh có mượn rùa vàng của tôi đâu mà trả? Còn vợ chồng Chí Quân Tử, tôi có bắt buộc gì đâu mà lãnh về?
Còn Chí Quân Tử nhận mình có mắc nợ ông Phú Trưởng Giả nên không chịu về. Câu chuyện trở thành rắc rối rồi, cả ba mới đưa nhau đến cửa công nhờ phân xử.
Lẽ tự nhiên quan trên không biết xử làm sao đối với ba người ngay thật và tốt bụng này.
0
Nhà sư và con cá kình

Thuở xưa, ở nước ta có nhà sư Nguyễn Được tu hành rất khổ hạnh, đệ tử của ông cũng khá đông, điều hoài mong độc nhất của nhà sư Nguyễn Được là làm thế nào có được Kinh Phật để truyền bá cho nhân gian cứu người qua bể khổ.
Một hôm, sư Nguyễn Được nằm thiu thiu ngủ, bỗng có một vị Bồ Tát đến gọi tên và bảo:
- Ngày mai, ngươi hãy cùng các môn đệ đi sang phương Tây. Nếu vượt qua được những gian lao trên đường thiên lý, tất ngươi sẽ tìm thấy chân kinh và đọc được chân kinh, ngươi sẽ thành chánh quả.
Nhớ lời báo mộng của Bồ Tát, hôm sau, sư Nguyễn Được hội các đệ tử nói rõ mục đích đi tìm chân kinh và bảo nếu ai muốn theo mình thì hãy sửa soạn hành trang.
Ngày thứ tư, Nguyễn Được và hai mươi đệ tử nhắm phương Tây mà thẳng tới. Họ không ngại nắng mưa, cứ cúi đầu rảo bước. Tới đâu thì các đệ tử khuyên giáo để lấy miếng ăn cho thầy và cho mình. Gặp những đường rừng núi mênh mông thì họ ăn hoa quả đỡ lòng, gối đất nằm sương hết sức vất vả.
Con đường đi tới xứ Phật hãy còn xa mịt mù, các đệ tử của sư Nguyễn Được phần thì bệnh hoạn, phần không chịu nổi sự nhọc nhằn gian khổ, nên lần lượt xa thầy quay trở lại. Bấy giờ, trên đường thiên lý đi thỉnh kinh chỉ còn một mình nhà sư Nguyễn Được.
Ông không nản lòng thối chí, lặn suối trèo non mà đi dốc lòng thỉnh được chân kinh. May nhờ thần thánh hiện ra giúp đỡ dọc đường nên ông vượt qua được nhiều núi cao rừng rậm tiến gần tới cõi Phật.
Ngày nọ, ông đi đến bờ biển sóng bủa trập trùng, mây nước bao la không còn thấy đâu là bờ bến nữa. Muốn đến Tây phương tất phải vượt qua biển rộng, nhà sư không có thuyền bè làm sao vượt biển được. Suy tới tính lui, nhà sư đành đánh liều bước đại xuống nước mà đi, lòng những tin tưởng thần thánh sẽ phù hộ độ trì cho mình vượt qua biển rộng.
Vào lúc đó, một con cá kình to lớn từ đáy biển sâu trồi lên, đỡ ông ngồi trên lưng rồi bơi ra biển rộng êm như ghe thuyền lướt sóng. Nhà sư nhắm mắt tham thiền nhập định, cứ tưởng có thuyền bát nhã độ mình qua biển khổ, chớ không biết rằng cá kình đang độ mình qua biển. Ban ngày, cá kình nhắm theo hướng mặt trời lặn mà bơi tới, ban đêm thì nhắm theo hướng trăng sao mà đưa ông đi.
Ngày kia, gần tới bờ, cá kình bỗng lên tiếng nói với nhà sư:
- Mô Phật, nhà sư đi tìm chân kinh để cứu nhân độ thế, đắc thành chánh quả, có thể nghe lời thỉnh nguyện của tôi không?
Mặc dầu chưa biết cá kình thỉnh nguyện điều gì nhà sư vẫn sẵn lòng đáp một tiếng “Được”, quên rằng đã phạm vào lời phát nguyện giữ sự im lặng trước khi tìm được chân kinh.
Được nhà sư nhận lời, cá kình mừng rỡ tiếp lời:
- Từ cả ngàn năm nay tôi bắt buộc phải trường chay khổ hạnh để chuộc lại tội lỗi trước kia. Vậy xin sư ông hãy tâu với Đức Phật cho tôi được thoát vòng khổ ải này có được không?
Nhà sư lại đáp “Được” tức là phạm vào lời phát nguyện lần thứ hai.
Thế rồi, khi tới bờ, nhà sư lên bộ, cá kình từ giã và hẹn đón chờ nhà sư trở về để đưa qua biển. Nhà sư liền nhắm vào hướng Tây mà đi tới. Chẳng bao lâu nhà sư đến được xứ Phật, vào một ngôi chùa, trong đó có nhiều chồng kinh sách. Nhà sư tìm được chân kinh, song vì đã hai lần phạm vào lời phát nguyện nên khi giở chân kinh ra, nhà sư chỉ đọc thấy có một câu đầu: “Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật?”.
Nhà sư không nản chí, xếp chân kinh lại, bỏ vào tay nải rồi quay gót trở về. Tới bờ biển, cá kình y hẹn đón rước nhà sư qua biển. Nhà sư mải mê nghiền ngẫm lời kinh đã đọc mà không thấy vẻ buồn rầu của cá kình. Lúc gần tới bờ bên kia, cá kình không còn kiên nhẫn được nữa, nên lên tiếng hỏi:
- Bạch sư ông, sư ông đã đạt những lời thỉnh nguyện của tôi lên Đức Phật chưa? Ngài phán thế nào? Tôi còn phải chịu trong vòng khổ ải này bao lâu nữa?
Nhà sư đang tham thiền, nghe hỏi thì giật mình để rơi tay nải đựng kinh xuống biển.
Cá kình tưởng là vật cứu rỗi của Phật ban cho nên đớp lấy nuốt vào bụng, có cả quyển chân kinh.
Nhà sư lảo đảo lên bờ, miệng vẫn lẩm nhẩm câu kinh đã thuộc lòng. Lúc lên bờ rồi, nhà sư mới nhận ra là mình đã về tới đảo Phú Quốc, nhà sư liền ở đó tu hành. Ngày đêm, nhà sư vẫn nghĩ đến quyển chân kinh nhưng không làm sao lấy lại được. Về sau, khi gần chết, sư Nguyễn Được khắc lên núi Bãi Sập và Thạch Động câu kinh của mình học được.
Theo lời truyền tụng, để ghi nhớ việc đi tìm chân kinh, các đệ tử của Nguyễn Được bèn lấy gỗ chạm trổ hình con cá kình để làm mõ tụng kinh. Cũng từ đó, các nhà tu hành lần tụng kinh đều gõ vào đầu mõ cá kình nhắc lại câu mở đầu chân kinh: “Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
0
Bà huyện Thủy Đường

Ở vùng Bắc Ninh, có một cô gái đẹp ở làng Cách Bi, về sau lấy ông cử nhân Nguyễn Hanh, giữ chức Tri huyện Thủy Đường. Từ đó người ta gọi cô là bà Huyện Thủy Đường.
Bà ăn ở với chồng rất là hòa thuận, khi sanh được đứa con trai vừa bảy tháng thì ông huyện qua đời. Bà huyện tuy còn trẻ nhưng cương quyết ở vậy thờ chồng nuôi con.
Trong làng có gã lý trưởng thuộc đám cường hào ác bá, thấy bà huyện trẻ đẹp góa bụa thì động tình, tìm đủ lời ngon ngọt để ve vãn. Muốn được yên thân nuôi con, bà huyện dùng những lời khôn khéo chối từ.
Một hôm, bà có chuyện phải ra ngoài, gã lý trưởng háo sắc kia liền đi theo, rồi thừa lúc xuất kỳ bất ý nhảy ra ôm đại bà toan làm chuyện đồi bại. Bà vừa vùng vẫy vừa bảo gã lý trưởng hãy buông tha cho bà về, chờ làm lễ đoạn tang chồng bà sẽ tính đến chuyện nợ duyên.
Gã lý trưởng tin lời. Bà thoát nạn, trở về nhà bày lễ cúng tế linh đình, mời hết họ hàng thân thích đến để chưng kiến cuộc lễ. Gã lý trưởng háo sắc kia cũng mò tới nhà, lòng mừng khấp khởi, tưởng rằng bà thiệt tình thực hiện lời hứa với gã.
Cúng tế, tạ tội với chồng xong, bà cầm dao chỉ vào mặt gã lý trưởng háo sắc hài tội gã đã lăng nhục bà ở giữa đường. Bà nói lúc đó bà không muốn chết là vì muốn tạ lỗi với chồng và vì cần phải gởi gắm con thơ với họ hàng làng nước.
Nói đoạn, bà cầm dao chặt cánh tay đã bị tên lý trưởng nắm được, và đâm họng tự tử trước mặt mọi người. Thấy gương tiết liệt của bà như vậy ai cũng xót thương cảm động và mến phục.
Đứa con trai của bà là Nguyễn Cao, sau lớn lên, tư chất thông minh, học hành siêng năng, thầy, bạn, xóm làng đều yêu mến, khi đi thi được đỗ làm quan. Còn tên cường hào kia thì bị người làng bắt trói giải lên quan trị tội.
0
Cây tre trăm mắt

Ngày xưa có anh lực điền vào làm đầy tớ cho một nhà giàu nọ. Thấy anh giỏi giắn siêng năng lại hiền lành chân thật, ông nhà giàu nọ liền gạ gẫm: Nếu anh làm việc giỏi hơn nữa ta sẽ gả con gái cho.
Anh lực điền tin lời, ngày đêm siêng năng làm lụng, gánh vác hết mọi việc nặng nhọc trong ngoài, đem lại cho ông nhà giàu nhiều mối lợi lớn càng giàu thêm ra.
Hơn ba năm làm việc chí công, anh lực điền không nghe ông nhà giàu nhắc nhở gì tới lời hứa gả con gái cho anh ta. Cắc cớ là ông nhà giàu còn nhận gả con gái mình cho con trai lão phú hộ ở làng trên.
Anh lực điền biết vậy thì buồn lắm, thừa lúc ông nhà giàu vui chuyện, anh ta mới đánh bạo nhắc lại chuyện xưa ông nhà giàu liền nảy ra một mưu kế nên bảo anh lực điền:
- Được rồi, ta sẽ gả con gái cho anh, vậy anh hãy lên rừng kiếm cho ta cây tre trăm mắt đem về đây làm đũa đãi hai họ.
Anh lực điền thật thà nghe bảo sao thì làm y như vậy, chớ không biết mưu mô của ông nhà giàu định gạt anh ra khỏi nhà để rảnh tay làm đám cưới cho con gái ông.
Lúc bấy giờ, anh lực điền xách rựa lên rừng, tìm kiếm khắp nơi, đuối cả sức mà không sao tìm ra cây tre có đủ trăm mắt. Ngày lại tàn, bóng tối sắp sửa phủ xuống các nẻo rừng, phần thì buồn, phần thì sợ, anh lực điền ngồi xẹp bên gốc cây ôm mặt khóc.
Xảy có một ông lão cầm gậy hiện ra, gọi anh lực điền và hỏi:
- Tại sao con khóc?
Anh lực điền thuật chuyện ông nhà giàu hứa gả con gái và buộc mình vào rừng tìm cây tre trăm mắt, nhưng tìm kiếm khắp nơi không gặp nên buồn rầu mà khóc.
Ông lão nghe nói liền cười ha hả bảo anh lực điền:
- Chuyện đó có khó gì, con hãy mau chặt cho ta một trăm mắt tre, ta sẽ giúp con có cây tre trăm mắt.
Anh lực điền vâng theo lời ông lão đi chặt đủ một trăm mắt tre đem lại. Ông lão liền cầm những mắt tre, miệng hô hai tiếng: “Khắc nhập” tự nhiên những mắt tre dính lại thành cây tre trăm mắt cao ngút lên mây.
Sau đó, ông lão dạy anh lực điền cách tháo rời các mắt, rồi biến mất. Anh lực điền vui mừng hí hởn đem cây tre trăm mắt về nhà. Tới nơi, gặp lúc đám cưới con gái ông nhà giàu và con trai ông phú hộ đang cử hành. Hai họ họp mặt ăn uống rất là vui vẻ. Anh lực điền không khỏi thất vọng, biết rằng mình bị gạt nên uất ức nên đi ngay vào nhà gọi ông nhà giàu nói rằng mình đã tìm được cây tre trăm mắt rất là lạ.
Ông nhà giàu không tin, nên bảo anh lực điền cho coi cây tre trăm mắt. Anh lực điền mời ông nhà giàu ra sân để xem. Thấy cây tre quả nhiên có đủ trăm mắt rất là lạ, nên ông nhà giàu rờ rẫm cho rõ thực hư.
Thừa dịp đó anh lực điền liền hô: “Khắc nhập? Khắc nhập?”, tức thì cả hai tay ông nhà giàu dính cứng trong cây tre.
Ông phú hộ là chỗ sui gia với ông nhà giàu thấy vậy, bèn chạy lại nắm cây tre để cho ông nhà giàu rút tay ra, chẳng ngờ bị anh lực điền hô: “Khác nhập! Khắc nhập!” thành ra cả hai ông đều dính cứng trong cây tre. Cả hai họ và cả luôn hai ông nhà giàu đều hoảng sợ, kêu xin anh lực điền cứu mạng.
Bấy giờ, anh lực điền nhắc lại lời hứa hẹn của ông nhà giàu, chịu gả con gái cho anh ta thì anh ta cứu khỏi dính trong cây tre, bằng không anh cứ để như vậy.
Biết là không thể nuốt lời, ông nhà giàu đành miễn cưỡng bằng lòng gả con gái cho anh lực điền. Anh lực điền hô to mấy tiếng: “Khắc xuất? Khắc xuất?” Bấy giờ hai ông nhà giàu rút tay ra êm ru, bẽn lẽn nhìn nhau. Còn anh lực điền được vợ.
0
Chuyện con chó đá

Thuở xưa, có anh học trò, mỗi ngày đi đến nhà thầy, phải đi qua một nơi có con chó đá. Lạ một điều, ai đi qua thì con chó cũng trơ trơ, chỉ có anh học trò mỗi lần đi đến thì con chó nhổm dậy tỏ vẻ mừng rỡ.
Anh học trò không khỏi lấy làm lạ, lần kia liền dừng lại hỏi con chó đá rằng:
- Người qua lại ở đây cũng đông, sao các người khác thì mầy không mừng, chỉ riêng mình ta thì mày mừng là tại cớ gì?
Con chó đá đáp rằng:
- Khoa này bao nhiêu người kia, chẳng có ai đỗ đạt cả, chỉ có mình cậu là đỗ, số trời đã định nên tôi mừng cho cậu vậy.
Anh học trò nghe nói vậy rất mừng, lúc về nhà kể chuyện cho cha mẹ nghe. Từ đó, người cha bỗng lên mặt kiêu căng phách lối bắt nạt mọi người. Có lần người cha dắt trâu ra đồng cày ruộng, thả trâu cho giẫm lên mạ của người làng. Người ta nói, ông ta không thèm đáp lại. Hôm sau, đem thêm trâu ra giẫm be bét cả ruộng của người ta. Chủ ruộng lấy làm bất mãn phiền hà, thì người cha trợn mắt múa chân múa tay đe dọa:
- Coi chừng, khoa này con ông thi đỗ thì bây sẽ biết tay ông.
Chủ ruộng nghe vậy thì hoang mang lo lắng nên phải chịu lép mọi bề. Hôm sau, anh học trò đi qua chỗ con chó đá thì không thấy nó nhổm dậy vẫy đuôi mừng nữa. Lúc quay về nó cũng không mừng. Anh học trò ngạc nhiên hỏi con chó:
- Mọi lần tao qua đây mày thấy mày mừng, cớ sao bữa nay mày không mừng nữa, tao có làm điều chi không hay chăng?.
Con chó đá đáp rằng:
- Việc này không phải tại cậu mà là tại cha của cậu lên mặt hống hách bắt nạt đầu này, ức hiếp đầu kia, cho trâu phá ruộng mạ của người ta còn lên giọng hăm dọa, nên Thiên Tào bôi sổ của cậu rồi, khoa này cậu không đỗ đâu như vậy tôi còn mừng cậu làm gì nữa.
Anh học trò nghe con chó đá nói vậy thì buồn bã ra về thuật chuyện cho cha mẹ nghe. Người cha lấy làm hối hận, từ đó không dám lên mặt hống hách nữa. Riêng anh học trò, khoa đó vào thi mặc dầu học giỏi và cố gắng anh vẫn không đỗ. Lòng lấy làm buồn, vác lều chiếu trở về đợi đến khoa sau.
Khoa sau và khoa sau nữa anh đều thi rớt, cha mẹ anh bấy giờ mới biết lẽ trời chí công, nên hết lòng tu nhân tích đức, ăn ở rất tử tế với tất cả mọi người.
Một hôm, anh học trò đi ngang qua chỗ con chó đá, con chó bỗng nhổm dậy mừng rỡ nhìn anh. Anh chưa hỏi gì thì con chó đã lên tiếng:
- Bấy lâu nay cha cậu biết ăn năn sửa mình làm điều thiện, nên Thiên Tào đã ghi tên cậu vào sổ tân khoa, tôi mừng cho cậu đó.
Quả nhiên, khoa thi đó, anh học trò đậu đầu, lúc trở về làng được đón rước linh đình, lúc qua chỗ con chó đá, thì con chó biến đi đâu mất.
0
Tích Nguyệt Lão Tơ Hồng

Vi Cố là một thư sinh văn hay chữ tốt nhưng chưa gặp hội phong vân, thi mãi không đậu, nên quay về mượn thú gió trăng tiêu sầu giải muộn. Một hôm, thơ thẩn dưới trăng, Vi Cố thấy một ông già ngồi dưới cội tùng xem sách. Lại gần thì thấy bên cạnh ông già có một chiếc giỏ đựng toàn chỉ đỏ.
Vi Cố mới lân la làm quen với ông già rồi hỏi ông đọc sách gì đó, còn chiếc giỏ đựng chỉ đỏ làm gì?
Ông già nọ đáp:
- Cuốn sách đang xem chính là sổ nợ duyên có đủ tên những cặp vợ chồng sẽ lấy nhau, còn giỏ chỉ đỏ là tơ hồng để buộc chặt chân vợ chồng lại với nhau cho đến trọn đời.
Vi Cố lấy làm lạ lắm, hỏi:
- Như vậy tôi đây chưa vợ, không biết ngày nào mới có vợ và vợ tôi là ai, ở đâu?
Ông già nọ lật sách xem một hồi rồi nói:
- Còn lâu lắm ngươi mới lấy vợ, vợ ngươi sẽ là con gái của mụ ăn mày ở chợ này.
Nói rồi ông già cười lên mấy tiếng, biến mất. Vi Cố nửa tin, nửa ngờ và lấy làm lo lắng. Hôm sau, ra chợ Thang Âm dò xem hư thực. Quả nhiên, Vi Cố gặp một người đàn bà ăn xin dắt một đứa bé đi chập chững.
Sợ phải kết duyên với con nhà bần tiện. Vi Cố liền dùng dao định chém chết đứa bé. Chẳng ngờ, lưỡi dao vừa xớt qua đầu, mẹ đứa bé hoảng kinh bồng nó chạy trốn mất, nó chỉ bị thương nơi đầu.
Mười lăm năm sau, Vi Cố thi đỗ ra làm quan rồi kết duyên cùng con gái một vị quan già. Thời gian qua, một hôm rỗi rảnh, Vi Cố đùa cợt với vợ, chợt nhìn thấy cái thẹo trên đầu, liền hỏi thăm duyên cớ. Chừng nghe vợ thuật chuyện, Vi Cố mới biết vợ mình không ai khác hơn đứa bé con của người đàn bà ăn xin ở chợ Thang Âm mà ông định giết chết ngày xưa, về sau, được vị quan già xin làm con nuôi.
Bấy giờ, Vi Cố đã hiểu rõ sự huyền bí của đất trời. Thiên cơ đã định thì không tài nào thay đổi được.
Do chuyện này, mà từ đó tới sau người ta gọi ông già dưới trăng là Nguyệt Lão, chỉ đỏ là tơ hồng. Và trong những đám tân hôn, người ta thường chúc câu “Bách niên giai lão” bởi sự tích này mà ra vậy.
0
Viên ngọc quạ

Một anh chăn trâu thật thà, bữa nọ dắt trâu ra đồng cho ăn cỏ, bị kẻ trộm bắt mắt trâu không dám về nhà vì sợ chủ bắt đền. Anh ta buồn rầu nằm dưới gốc cây cổ thụ, chỉ muốn chết đi cho được yên thân.
Chẳng ngờ vào lúc đó, có một đôi quạ bay đến đậu trên cành cây nhìn thấy anh chăn trâu nằm bất động, tưởng là anh chết rồi, nên một con quạ đáp xuống định mổ mắt anh mà ăn. Lẹ tay, anh chăn trâu vồ được con quạ. Giận dữ, anh nói rằng:
- Tao phải giết mày mới được, chưa chi mà mày định móc mắt tao ăn tươi nuốt sống. Tao quyết không dung tha mày.
Bị thất thế, và thấy cái chết trước mắt, con quạ phải xuống nước, năn nỉ anh chăn trâu:
- Tôi trót lỡ lầm, vậy anh đừng giết tôi, tôi sẽ đền ơn anh một vật quý.
Nói rồi, quạ nhả ra một viên ngọc và bảo anh chăn trâu:
- Đây là viên ngọc ước, ai có viên ngọc này ước chi được nấy. Bây giờ anh muốn gì, tôi sẽ ước cho anh xem.
Anh chăn trâu chợt nhớ đến con trâu bị mất, nên ước được một con trâu đem về trả cho chủ.
Quả nhiên, anh ước xong thì thấy con trâu đủng đỉnh bước về. Anh mừng rỡ, nhận lấy viên ngọc, thả con quạ rồi dắt trâu về.
Hôm sau, anh thôi nghề chăn trâu, cầm viên ngọc ra đứng giữa đồng ước được có một tòa nhà năm rồng bảy phượng, vàng son lộng lẫy như đền đài một vị vương tước.
Anh được đẹp ý, lại ước thêm một cánh đồng cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi, tức thì anh ta có ngay cánh đồng như ý muốn.
Có nhà cửa, đất ruộng rồi, gã chăn trâu lại thèm muốn một cô vợ đẹp, mày tằm mắt phượng, xinh đẹp như Hằng Nga. Ước vừa xong, thì có cô gái con nhà giàu nọ, đẹp như tiên giáng thế tìm đến xin kết nghĩa Châu Trần. Ăn ở với nhau trong cảnh sung sướng được ít lâu, cô gái nhà giàu tò mò hỏi gã chăn trâu rằng:
- Trước kia, anh nghèo túng lắm, chẳng hiểu làm cách nào mà ngày nay anh giàu có như vậy? Anh được phép tiên chăng?
Gã chăn trâu thật thà kể chuyện quạ cho viên ngọc ước nên muốn ước gì được nấy cho vợ nghe. Cô gái nhà giàu liền để bụng, rình mò lúc gã chăn trâu ra đồng trông coi ruộng lúa, bèn lấy trộm viên ngọc quạ rồi trốn về ở với cha mẹ.
Khi gã chăn trâu về nhà thấy mất vợ và viên ngọc thì buồn bã thất vọng, bỏ lên núi ngồi khóc một mình. Lúc bấy giờ có ông Bụt hiện ra, hỏi rằng:
- Gã kia buồn tủi việc gì mà ngồi khóc ở chỗ vắng vẻ này, không sợ thú dữ ăn thịt sao.
Gã chăn trâu đáp rằng:
- Vợ tôi nó phản tôi, tôi có viên ngọc quý bị nó ăn cắp trốn đi rồi nên tôi không muốn sống nữa.
Bụt động lòng thương mới bảo anh ta:
- Thôi đừng khóc nữa, để ta giúp ngươi lấy lại viên ngọc quý.
Nói rồi Bụt lấy trong tay áo ra một cành hoa đỏ và một cành hoa trắng trao cho gã và dặn rằng:
- Ngươi hãy đem cành hoa trắng này cài lên cửa ở nhà cô gái nhà giàu, tự nhiên nhà nó sẽ sinh ra lắm chuyện tức cười. Rồi đợi đến chừng nào nó đến cầu cứu hãy đem cành hoa đỏ này lại chữa, nhưng hãy bảo nó trả ngọc rồi mới chữa, nhờ đó ngươi sẽ lấy lại được viên ngọc.
Gã chăn trâu mừng rỡ lạy tạ ông Bụt rồi cầm hai cành hoa về nhà, đem cành hoa trắng lén cắm lên cửa nhà vợ.
Mùi thơm của hoa tươi ngào ngạt, hai ông bà nhà giàu và cô gái bước ra xem rồi tranh nhau ngửi. Lạ thay, chỉ trong nháy mắt, lỗ mũi của ông, của bà cùng của cô con gái bỗng dài ra mãi, lủng la lủng lẳng trước ngực khác nào cái vòi voi.
Bấy giờ, ông nhìn bà, bà nhìn con, cả ba ngơ ngơ ngẩn ngẩn, nửa khóc nửa cười, không biết làm thế nào cho mũi thun ngắn lại, đành thở ngắn than dài để cho thiên hạ chê cười. Chợt nhớ tới thằng rể của mình, ông bà mới bàn nhau cầu cứu với gã chăn trâu, họa may thoát được nạn chăng.
Nghe ông bà già vợ yêu cầu, gã chăn trâu liền cầm cành hoa đỏ tới. Gặp anh ta, ông nhà giàu mếu máo nói:
- Không hiểu sao cả nhà, người nào người nấy mặt mũi đều như thế này?
Gã chăn trâu vội bảo:
- Đó chẳng qua tại vợ tôi nó sinh tâm gian xảo, ăn trộm viên ngọc quý đem về giấu ở nhà này mới sinh ra cớ sự. Nếu muốn được yên lành lại như cũ, thì ông bà bảo nó trả viên ngọc lại cho tôi, tôi sẽ chữa cho hết bệnh tức thì.
Ông bà nhà giàu liền van nài rằng:
“Của là gạch, nghĩa là vàng,
Của chàng lại trả cho chàng lo chi.
Chàng mà chữa được thôi đi,
Vợ thì chàng lấy ngọc thì chàng mang”.

Đó rồi ông bà kêu con gái bảo đem ngọc ra trả. Gã chăn trâu nhận lấy viên ngọc quý rồi, liền đưa cành hoa đỏ cho mỗi người ngửi trong giây lát thì mũi co rút lại y như xưa.
Cả nhà mừng rỡ. Cô gái lại theo về làm vợ gã chăn trâu, từ đó không dám nghĩ đến chuyện trộm ngọc nữa.
Vợ chồng gã chăn trâu trở nên thuận hòa vui vẻ, đến sau sinh được một con trai, một gái đều thông minh, đĩnh ngộ.
Khi tuổi già sắp chết, một hôm hai con quạ thình lình hiện ra trên cây trước nhà, cất tiếng kêu:
Cho mau, cho mau,
Trả ngọc cho mau.

Tức thì trong nhà sáng rực, rồi viên ngọc vụt chốc biến mất dạng.
0
Chàng rể khờ

Xưa có chàng trai nọ khờ khạo, vì nhà túng bấn nên anh ta sẵn sàng ở rể giúp việc cho gia đình bên vợ Anh ta than phiền với bà mai:
- Khó quá. Về nhà cha vợ, tôi phải xử sự ra sao đây? Không khéo lại mất vợ.
Bà mai đáp:
- Mọi việc đều đã xong xuôi. Anh hãy về giúp đỡ gia đình bên vợ, trông coi mọi việc.
- Nghĩa là làm sao?
- Hễ thấy cha vợ làm bất cứ công việc gì dầu nặng dầu nhẹ, anh phải ra sức làm y như vậy để giúp đỡ.
Anh ta vô cùng mừng rỡ:
- Vậy thì được. Tôi xin tuân theo lời dạy.
Đến nhà vợ, sau khi ăn cơm xong cha vợ xách búa ra vườn đốn cây. Chàng rể cũng lật đật xách búa đi theo.
Đến vườn, cha vợ vung búa chặt vào cây.
Chàng rể sực nhớ lời dạy của bà mai, liền chạy đến bên cạnh cha vợ mà thưa:
- Để con đốn cây này giúp cha.
Người cha vô cùng mừng rỡ, bỏ gốc cây ấy qua đốn gốc khác ở kế bên.
Nhưng chàng rể ngây ngô, chạy đến thưa:
- Để con đốn cây này.
Người cha liền qua gốc cây khác, chàng vẫn tiếp tục xách búa đến chàng ràng. Rốt cuộc cha vợ và chàng rể chẳng đốn xong cây nào cả.
Thế là người cha vợ tức giận xách búa đi xa hơn. Ngạc nhiên làm sao, chàng rể đi theo bén gót. Người cha vợ sinh nghi:
- Hay là nó nổi cơn điên? Rủi bề gì, nó dám vác búa chém mình.
Thế là ông cắm đầu chạy thẳng về nhà. Chàng rể thấy vậy vội chạy theo. Chiếc khăn vấn đầu của người cha bị tuột xuống đất, chàng rể cũng bắt chước, lột khăn trên đầu mình mà ném xuống đất. Người cha vợ càng hoảng sợ, té sấp rồi lồm cồm ngồi dậy; phía sau, chàng rể giả bộ té.
Về đến nhà, người cha vợ bèn đấm vào vai vợ mình mà báo nguy:
- Má bầy trẻ ơi? Thằng rể mình nó phát điên rồi. Chạy nhanh, kẻo nó chém.
Ngờ đâu, chàng rể cũng bắt chước cha vợ, đấm vào vai của bà mẹ vợ mình một đấm khá đau điếng.
Cha vợ và mẹ vợ hoảng hốt chạy khỏi nhà, loay hoay bên gốc cây, nhưng chàng rể... hăng máu nọ vẫn bắt chước đến gốc cây. Rốt cuộc, hai ông bà té nhào xuống mương la inh ỏi, kêu cứu với chòm xóm.
Chàng lại nhảy xuống mương, la inh ỏi theo.
Hàng xóm chạy lại, bắt chàng rể hạch hỏi, duyên cớ. Bấy giờ ai nấy mới hiểu. Anh ta chẳng có ác ý gì cả mà trái lại chỉ muốn giúp đỡ cha mẹ vợ... theo lời bà mai!
0
Mãng Xà Vương ở Tân Bằng

Xưa kia, quan ngự y Nguyễn Hữu Long chạy theo phò tá chúa Nguyễn Ánh. Vì quân Tây Sơn đuổi theo ráo riết, quan ngự y chạy lạc đến Tân Bằng, thuộc sông Cán Giáo, vùng U Minh Thượng, tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).
Vừa đến xóm, bỗng nghe tiếng chiêng trống nổi lên inh ỏi, quân sĩ đến thám thính rồi trở về báo cáo:
- Thưa ngài, dân trong xóm đang làm lễ. Họ bắt đứa bé, đem tắm rửa sạch rồi đốt hương trầm, chờ hiến dâng cho Mãng Xà Vương.
Quan ngự y hỏi:
- Chừng nào Mãng Xà Vương đến?
- Dạ, chúng tôi chưa rõ.
Nghe xong, quan ngự y bèn đến nơi, hỏi han dân chúng. Các kỳ lão đều tỏ vẻ sợ hãi, trình bày đầu đuôi sự việc. Hằng năm, đúng dịp, hai con Mãng Xà Vương từ ngoài biển khơi vịnh Xiêm La đến khuấy rối xóm làng. Đôi Mãng Xà Vương nọ to như cái khạp bò, khi chúng đến, cả khu rừng rung chuyển, nổi giông gió, sập nhà cửa. Dân làng khấn vái, hứa nạp cho Mãng Xà Vương hằng năm hai đứa trẻ. Nhờ vậy, chúng không còn hung hăng như trước.
Nhìn qua cuộc lễ, quan ngự y vô cùng xúc động, nhất là khi ông thấy hai đứa bé vô tội kia.
Quan ngự y hỏi nhanh:
- Chừng nào Mãng Xà Vương đến?
Các kỳ lao thưa:
- Dạ, tối mai vào khoảng canh ba, giờ Tý.
- Các ông cứ yên trí, nghe lời tôi.
- Dạ, rủi bề gì “họa hổ bất thành”, gây thêm tai hại cho dân chúng trong xóm.
- Đừng ngại, ta cứ làm như vầy, như vầy. Điều quan trọng là đừng tiết lộ trước, e dân chúng xôn xao khiến kế hoạch có thể thất bại.
Thế là ngày hôm sau, đích thân quan ngự y điều khiển vài người dân tín cẩn, bảo họ tìm hai con chó thật mập, đem về cạo lông, mổ ruột tại căn chòi xa vắng trong rừng.
Mặt khác quan ngự y truyền cho quân sĩ tán vài vị thuốc cho thật nhuyễn. Đâu đó xong xuôi, quan bèn dạy họ bỏ thuốc tán ấy vào bụng hai con chó, may ruột thật kín.
Đêm hôm sau, dân chúng tề tựu đến sân lễ. Chạ mẹ của hai đứa bé thấy con mình bị nhịn đói, ngất xỉu trong bầu không khí đầy khói trầm ngột ngạt, khóc la thảm thiết.
Đến canh hai, các kỳ lão đứng ra kêu gọi dân chúng:
- Bà con hãy yên tâm, rút lui vào nhà. Đừng lấp ló ngoài cửa mà chết oan mạng.
Ai nấy ngơ ngác nhưng rốt cuộc đành tuân lời. Riêng có cha mẹ và thân nhân của hai đứa bé thì cứ ngã lăn ra mà khóc mãi.
Chờ khi mọi người đã khuất dạng, quan ngự y Nguyễn Hữu Long nói với cha mẹ hai đứa bé nọ:
- Bây giờ, các người cứ đem con về, đừng cho chòm xóm hay biết.
Họ ngơ ngác:
- Chúng tôi sợ Mãng Xà Vương trả thù.
- Thôi, cứ đi mau. Lát nữa đây, ta đủ tài trí ứng phó.
Sau đó, theo lệnh của quan ngự y, quân sĩ đem hai con chó dồn thuốc nọ ra sân. Quân sĩ dựng hai con chó theo dáng điệu của đứa trẻ quỳ.
Họ dùng mực và son để tô miệng và mắt chó cho giống với mặt đứa bé.
Quan ngự y căn dặn lần chót:
- Những anh nào chuẩn bị nước sơn? Đã tới chưa?
Vừa dứt lời, cây rừng chuyển răng rắc như giông bão. Quan ngự y khoát tay, bảo những người còn lại:
- Chúng ta hãy núp cho thật kỹ để chờ cơ hội...
Ngoài sân, đỉnh trầm bay nghi ngút. Hai con chó cạo lông, xem trắng phều, mơ hồ giống như hai đứa bé.
Bỗng đâu, giông gió im bặt. Hai con Mãng Xà Vương xuất hiện, bò sát đất, từ từ xáp lại gần đỉnh trầm rồi dựng mình lên, khoe cái mồng khá to, múa qua múa lại.
Quan ngự y mừng thầm nói với quân hầu:
- Chúng nó quá tin nơi hai con chó. Trước khi đớp mồi, Mãng Xà Vương còn giỡn mồi. Rõ ràng chúng đi cặp một con đực một con cái.
Vài phút sau, hai con Mãng Xà Vương quấn lấy mồi, nuốt trọn vào họng rồi bò tới bò lui, dáng điệu càng lúc càng uể oải.
Chất thuốc mê hồn ngấm dần...
Chẳng bỏ lỡ cơ hội, quan ngự y khoát tay ra hiệu lệnh. Bọn quân hầu đem nước sơn ra, tiến dè dặt đến bên cạnh hai con ác thú.
- Sơn cho nhanh lên, mỗi con một màu khác nhau.
Mãng Xà nằm mê man. Quân hầu tha hồ sơn phết: con đực sơn xanh, con cái sơn đỏ.
Các vị kỳ lão hỏi khẽ:
- Tại sao thượng quan chưa ra lệnh giết nó?
Quan ngự y đáp:
- Thế của nó tuy vậy chớ vẫn còn mạnh. Quân hầu của ta chỉ gồm vài người, nhưng ta bảo đảm từ rày về sau chúng nó sẽ chẳng dám trở lại gây rối nữa.
Hai con Mãng Xà bỗng cựa quậy vì chất thuốc mê lần lần mất công hiệu. Nhưng khi nhìn nhau, trông thấy những màu sắc kỳ lạ, chúng trở nên hốt hoảng, xem nhau như kẻ thù khác loại, quá xa lạ. Thế là con Mãng Xà đực và con Mãng Xà cái nổi giận, cắn nhau, rượt nhau như giông như gió, đi mất dạng về phía vịnh Xiêm La.
Từ đó về sau, chẳng bao giờ đôi Mãng Xà nọ trở lại đất liền nữa.
0
Tiếng hát của Hà Ô Lôi

Trong Lĩnh Nam Chích Quái có chép sự tích chàng Hà Ô Lôi như sau:
Đời nhà Trần, quan An Phủ Sứ vâng lệnh vua đi sứ qua bên Trung Hoa. Quan tên thật là Đặng Sĩ Dinh, cư ngụ tại làng Ma La.
Người vợ của Đặng Sĩ Dinh ở nhà một mình. Đêm đêm, vị thần của làng Ma La bèn giả dạng Đặng Sĩ Dinh, lén vào phòng của người vợ để tư thông.
Đến lúc hừng sáng, vị thần ấy bèn biến mất.
Thấy chuyện lạ kỳ, người vợ bèn hỏi chồng (tức là thần Ma La trá hình):
- Tại sao chàng đi sứ tận bên Trung Hoa mà ban đêm lại về nhà được như vậy? Ban ngày, chàng ở đâu?
Thần Ma La đáp:
- Vua đã sai vị quan khác đi sứ thế cho ta. Hàng ngày, ta hầu vua, đánh cờ với vua. Lúc ban đêm rảnh rang, nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, ta lén về nhà thăm nàng. Hừng sáng, ta phải đi ngay, kẻo vắng mặt ta, vua quở trách.
Cuộc ái ân thầm kín nọ kéo dài khá lâu, người vợ mang thai.
Năm sau, Đặng Sĩ Dinh đi sứ trở về nhà, thăm vợ. Thấy ngày sanh của vợ đã gần kề, Sĩ Dinh nổi giận, tố cáo với vua. Vua truyền hạ ngục người đàn bà mất nết ấy.
Một đêm nọ, vua chiêm bao thấy vị thần mách bảo:
- Ta là thần Ma La, bấy lâu nay ta ăn ở với vợ Sĩ Dinh. Tại sao Sĩ Dinh ngày nay cướp vợ và con ta? Xin nhà vua phân xử?
Vua đáp:
- Được rồi, ta hứa giải quyết ổn thỏa đôi bề.
Rạng ngày hôm sau, nhớ đến giấc mộng, vua gọi Sĩ Dinh đến phán rằng:
- Ta trả tự do cho vợ ngươi. Từ rày về sau ngươi phải ăn ở thuận hòa với vợ. Còn đứa con trong bào thai, sau khi chào đời, phải giao cho thần Ma La.
Để đánh tan sự thắc mắc của Sĩ Dinh, nhà vua thuật lại những điều nghe thấy qua giấc thần mộng.
Ba ngày sau, đứa bé ra đời, nước da của nó đen như mực, láng bóng như thoa mỡ. Vua bèn trợ cấp nuôi dưỡng nó. Năm nó được 15 tuổi, vua cho phép nó được tự do ra vào hoàng thành.
Đứa bé ấy là Hà Ô Lôi. Một hôm dạo chơi xa hoàng thành, Hà Ô Lôi gặp tiên ông Lã Đồng Tân (một vị trong số Bát tiên).
Lã Đồng Tân hỏi:
- Ngươi có cầu mong điều gì không? Ta sẵn sàng giúp đỡ.
Hà Ô Lôi đáp:
- Thưa tiên ông, tôi chẳng muốn làm vương làm tướng gì cả. Tôi chỉ muốn có gương mặt xinh xắn, giọng ca lảnh lót.
Lã Đổng Tân nói:
- Ngươi ao ước có thanh sắc, nguy hiểm lắm. Người có sắc đẹp, hát hay thường gặp điều hoạn nạn. Rốt cuộc, chỉ còn chút danh tiếng mà thôi. Nhưng ngươi ao ước như vậy, lẽ đâu ta chẳng chiều lòng.
Nói xong, Lã Đóng Tân bảo Ô Lôi há miệng ra, rồi nhổ một chút nước miếng vào miệng nó.
Từ đó về sau, Ô Lôi trở nên thông minh, lanh lẹ khác thường. Chàng ta xuất khẩu thành thơ, giọng ngâm lại thanh tao quyến rũ lạ thường, các tiểu thư say mê chàng ta, muốn nhìn tận mặt chàng để kết thân, giao duyên. Tin ấy đến tai vua, vì quá thương mến Ô Lôi, vua ra lệnh cho dân chúng:
- Nếu Ô Lôi gian phạm với con gái nhà ai, quan quân nào bắt hắn tại trận, dẫn về vua răn phạt thì sẽ được thưởng 1.000 quan. Bằng ai quá hung hăng, lỡ tay giết chết Ô Lôi thì vua sẽ phạt một vạn quan.
Bấy giờ, ở làng Nhân Mục, có một nàng quận chúa tên là A Kim, nhan sắc tuyệt đẹp. Nàng góa chồng, vua mến yêu nàng nhưng nàng vẫn khăng khăng từ chối.
Vùa bèn bảo Ô Lôi:
- Quận chúa A Kim quá đoan trang, kiêu căng. Ngươi có mưu kế gì chăng? Ngươi có cách nào gần gũi với quận chúa, ta khen thưởng đấy.
Ô Lôi suy nghĩ hồi lâu rồi đáp:
- Thần nguyện dùng mọi cách để quyến rũ cho kỳ được quận chúa A Kim. Trong vòng một năm, nếu điện hạ không thấy thần trở về hoàng thành, ắt là cơ mưu bại lộ, thần bị ám hại.
Vua nhận lời. Ô Lôi lạy vua ra đi. Anh ta bèn cải trang, giả dạng như đứa giữ ngựa, ăn mặc rách rưới, tay xách cái giỏ tre. Đến dinh của nàng quận chúa, anh ta mua trầu cau, tặng cho đứa thị tì để xin phép vào cắt cỏ ngựa trong vòng rào.
Nhưng khi vào trong, thay vì cắt cỏ, Ô Lôi bèn cố ý cắt tất cả các loại hoa lài, hóa sói trong vườn.
Đứa thị tì tức giận, la lên:
- Quân gian ác? Mi lẻn vào đây phá hoại vườn hoa. Để ta trình với bà quận chúa, bắt trói mi cho đáng tội.
Bị giam trong dinh vài ngày sau, đứa thị tì hỏi Ô Lôi:
- Ngươi làm công cho ai? Tại sao chẳng thấy ai đến đây xin lỗi quận chúa, lãnh cho ngươi về?
Ô Lôi bèn thưa:
- Tôi là kẻ vô gia cư, vô nghề nghiệp, không cha không mẹ. Hôm nọ có vị quan đi ngang qua đây mướn tôi cắt cỏ. Tôi quá mừng nhưng vì người dốt, cắt mớ hoa quý mà ngỡ rằng cắt cỏ. Bây giờ, tôi xin ở đây, làm nô tỳ cho bà quận chúa để hy vọng được tha tội.
Thế là Ô Lôi được nhìn nhận là kẻ gia nhân của quận chúa A Kim. Trong lúc ra vào để làm công việc lặt vặt, Ô Lôi bèn trổ tài ca xướng, ngâm thi vịnh phú. Cả gia nhân và luôn cả quận chúa A Kim đều say mê giọng ca thiên phú của Ô Lôi. Một hôm trời đã quá tối mà cả bọn nữ tỳ đều quên thắp đèn trong dinh. Quận chúa gọi chúng đến, quở mắng một trận nên thân:
- Tại sao bọn ngươi xao lãng công việc trong dinh? Chừng này mấy giờ rồi?
Cả bọn nữ tỳ quỳ xuống chịu tội. Một đứa mạnh dạn trình bày lý do:
- Thưa quận chúa, chiều nay chúng con nghe thằng cắt cỏ ca hát quá hay. Thật là mê hồn, từ hồi nào đến giờ, chưa ai tài giỏi như nó.
Quận chúa A Kim bắt đầu suy nghĩ, cảm thấy bọn nữ tỳ thành thật. Nàng chú ý những đêm kế tiếp, cứ lúc chạng vạng, Ô Lôi rảnh rang công việc lại hát lên lanh lảnh theo lời yêu cầu dồn dập của bọn nữ tỳ. Tuy nằm trong phòng the, ngăn cách với bên ngoài nhưng quận chúa vẫn nghe con tim cô độc của mình rung động. Quả thật, hắn là kẻ có biệt tài.
Với bản chất đa sầu đa cảm, quận chúa gọi Ô Lôi đến, nói giọng thân mật:
- Từ rày về sau ta cho phép ngươi làm gia đồng, ngươi được quyền ra vào phòng ta, chờ ta sai bảo những công việc riêng. Ngươi khỏi chẻ củi cắt cỏ nữa.
Lâu ngày, Ô Lôi trở thành người hầu thân tín nhất của quận chúa. Công việc của anh ta trở nên nhẹ nhàng, thích thú. Thỉnh thoảng, quận chúa ra lệnh cho anh ta ngâm thơ, ca hát. Ban đêm, anh ta cầm đèn đứng hầu cho quận chúa đọc sách, ngâm thơ.
Ngày qua tháng lại, quận chúa đem lòng yêu thương chàng nô tỳ trẻ tuổi ấy, ghiền giọng cười tiếng nói của anh ta. Nhưng vì lễ giáo ràng buộc, quận chúa tránh tiếng, e gây dư luận không tốt.
Nàng bắt đầu mang bệnh tương tư, sức khỏe ngày càng hao mòn. Trong khi ấy, hằng đêm, giọng ca của Ô Lôi như thúc giục, quyến rũ quận chúa đi vào con đường tội lỗi.
Đêm ấy, chờ cho bọn nữ tỳ ngủ say, quận chúa A Kim nói khẽ với Ô Lôi:
- Bấy lâu, ta cảm mến ngươi, giọng hát thiên phú của ngươi khiến ta nhuốm bệnh tình. Đêm nay, ta với ngươi cứ ở trong phòng này cho đến sáng.
Sau những ngày ân ái toại nguyện, bệnh tình của quận chúa thuyên giảm rồi dứt hẳn. Quận chúa cảm thấy yêu đời, bất chấp dư luận và màu da quá đen đúa của Ô Lôi, nàng nói:
- Ta sẵn sàng giúp ngươi tiền bạc, ruộng đất để ngươi trở nên người khá giả suốt đời sống bên cạnh ta, ngươi nghĩ sao?
Ô Lôi nhanh trí đáp ngay:
- Đời tôi không cha mẹ họ hàng, nay được quận chúa đoái nghĩ đến, thật quá lòng mong ước của tôi. Điền sản, vàng bạc, ngọc ngà châu báu tôi không cần, tôi chỉ muốn một điều này, nếu toại nguyện thì dầu chết cũng vui.
Quận chúa A Kim hỏi nhanh:
- Ngươi cứ nói.
- Tôi chỉ nguyện được thấy cái mũ vàng khảm ngọc của quận chúa, đội thử lên đầu một lần.
Vì yêu đương quá mức, quận chúa sẵn sàng nhận lời:
- Dễ quá! Nếu cần, ta tặng cho ngươi làm của riêng, gọi là kỷ niệm.
Cái mũ quý giá ấy vốn của tiên đế ban cho quận chúa, để nàng đội khi dự lễ trong triều đình. Bấy giờ, Ô Lôi, mừng rỡ, mang cái mũ ấy, lẻn trốn ra khỏi dinh của quận chúa, trở về hoàng thành ra mắt vua, tường trình tất cả mọi việc.
Vua cười vui, lập tức gọi quận chúa A Kim vào chầu. Trong khi đó, Ô Lôi nghiễm nhiên đội cái mũ ấy, đứng bên cạnh vua.
Gặp quận chúa, vua chỉ vào Hà Ô Lôi rồi hỏi nàng:
- Có biết tên đội mũ này không?
Quận chúa A Kim bẽn lẽn, hiểu rằng nhà vua muốn chế giễu, mỉa mai để trả thù nàng. Nàng ra về. Tin ấy loan truyền khắp trong hoàng tộc. Ai nấy đều chế nhạo quận chúa A Kim đồng thời tài năng của Hà Ô Lôi cũng nhờ đó mà được nhiều người chú ý hơn.
Nhờ địa vị là kẻ thân tín của vua, Ô Lôi cứ tiếp tục ra vào các dinh thự, ngâm thơ, ca hát và dụ dỗ các cô gái quyền quý. Tuy biết anh là phường Sở Khanh nhưng rốt cuộc nhiều người vẫn sa vào cạm bẫy.
Đôi khi, hắn bị bắt gặp quả tang nhưng ai nấy đều ngán uy quyền của nhà vua, chưa dám đập hắn thẳng tay, sợ vua bắt phạt tiền.
Nhưng thói thường “ăn quen chồn đèn mắc bẫy”, phen nọ Hà Ô Lôi ăn thông với con gái đầu lòng của Minh Uy Vương. Vương bèn bắt hắn, giam trong phòng nhưng chưa dám giết cho hả cơn giận. Ông đến hoàng cung, xin gặp mặt vua để tố cáo:
- Tâu điện hạ, Hà Ô Lôi lẻn vào nhà của thần, ban đêm thần lỡ tay đánh chết vì chẳng phân biệt được, lúc trời tối.
Nhà vua ngỡ rằng Ô Lôi đã chết thật nên phán như sau, để làm thỏa lòng người trong hoàng tộc:
- Nếu hắn phạm tội, bắt tại trận, giết hắn rồi thời thôi, ta chẳng phiền hà gì cả.
Thế là Minh Uy Vương về nhà, hạ lệnh giết Ô Lôi. Trước khi sắp chết, Ô Lôi nhớ đến lời của Lã Đồng Tân ngày xưa, hiểu rằng tiên ông đã dạy rất đúng.
0
«« « 2 3 4 5 6 » »»