📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 395 lượt xem — Trang 4 / 6
Ông tổ nghề in là ai?

Đời vua Lê Thái Tông (1434-1442) ở nước ta có ông Lương Nhữ Học người làng Lục Hồng, tỉnh Hải Dương vốn ham chuộng thơ văn và thích sao lục các văn thơ đời trước. Thuở bây giờ ở nước ta không có nghề in. Người ta thường viết vào trúc vào tre hoặc vào giấy bản. Một áng văn thơ dù hay muốn truyền đi tất phải chép bằng tay thành nhiều bản.
Ông Lương Nhữ Học nghe nói ở bên Tàu có nghề in, nhưng không biết người Tàu làm cách nào để in. Bấy giờ, ông mới tâu với vua Lê cho mình qua bên Tàu tìm học cách in. Người Tàu có tính hay giấu nghề, nên ông Lương Nhữ Học không dễ gì thâu thập cái hay của họ. Ông biết một nơi kia có những thợ in làm việc, ông bèn thuê một căn nhà ở kế bên rồi đục lỗ ở tường, rình xem họ làm việc từng ngày.
Thuở đó, người ta chưa phát minh ra máy in, mọi việc ấn loát đều phải làm bằng tay. Ông Lương Nhữ Học thấy người Tàu khắc chữ vào những bản gỗ rồi thoa mực lên và đem in vào giấy, muốn in nhiều hay ít gì cũng được. Khi đã rõ bí quyết này rồi, ông liền trở về nước dạy dân chúng ở làng Liễu Tràng cưa bào từng bản gỗ rồi dùng mũi dao bén khắc chữ lên gỗ, đoạn đem in thì thấy kết quả tốt đẹp.
Từ đó, việc in bằng bản gỗ bắt đầu xuất hiện và dần dần lan rộng trong dân gian. Người ta gọi đó là thủ ấn phẩm hay thủ ấn họa.
0
Trạng Bùng, ông tổ nghề dệt Việt Nam

Ở nước ta vào thời Hậu Lê có một danh sĩ lỗi lạc là ông Phùng Khắc Khoan, người thời bấy giờ gọi là “Trạng Bùng”. Khi vua Lê Thế Tông vừa lên ngôi, con cháu nhà Mạc chạy sang Yên Kinh kêu ca với vua nhà Minh rằng họ Trịnh cướp ngôi của nhà Mạc chớ không phải con cháu nhà Lê phục nghiệp.
Để cho vua nhà Minh biết rõ thực hư, vua Thế Tông liền sai Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ, ông Nguyễn Nhâm Thiện làm phó sứ đem ấn tín và lễ vật sang Yên Kinh cầu phong.
Trong chuyến sang Tàu này, lúc qua Ba Thục, Trạng Bùng thấy người Tàu dệt ra những tấm lụa láng bóng trông rất đẹp. Ông liền quan sát cách thức họ kéo tơ, xe chỉ, dệt thành lụa và hình dáng của chiếc khung cửi như thế nào, ông ghi chép kỹ.
Đến sau đi sứ trở về, Trạng Bùng bèn đem những điều mắt thấy tai nghe ra thực hành.
Trước hết ông dạy dân Nam cách trồng dâu nuôi tằm, dần dần đến việc ưởm tơ, xe chỉ và dệt thành những tấm lụa. Từ đó, nghề dệt bắt đầu truyền bá đi khắp nơi trong nước. Dần dần có nhiều làng, dân chúng chỉ sống thuần bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt lụa.
Riêng về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, đã giỏi về văn chương thơ phú, ông còn được dân nước ta coi là ông tổ của nghề dệt.
0
Huyền Trân công chúa và hai châu Ô, Lý

Vào thời nhà Trần, vua Trần Nhân Tôn truyền ngôi cho con là Trần Anh Tôn, rồi lên núi Yên Tử tu hành. Thỉnh thoảng, Nhân Tôn hay đi ngao du sơn thủy. Có lúc lại du hành vào đến tận phần đất của Chiêm Thành. Lúc đó vua Chiêm là Chế Mân đang trị vì, vốn biết người khách tu hành ngao du sơn thủy kia là Thượng hoàng nước Việt nên đón rước long trọng. Nhân Tôn cảm kích, hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân.
Sau đó, vua Chiêm sai một đoàn sứ giả hơn một trăm người đem vàng bạc, châu báu, trầm hương sang Đại Việt dâng lễ cầu hôn. Vua Trần và triều thần không chấp thuận, chỉ có ông Văn Túc Đạo Tái là chủ trương nên gả.
Việc tương không thành, nhưng suốt năm năm, vua Chế Mân liên tục cho sứ sang dâng lễ vật, nhắc lời hứa của Thượng hoàng Nhân Tôn và xin làm rể nước ta. Chế Mân lại thuận đem hai châu Ô, Lý làm cống lễ, bấy giờ vua Trần mới chấp thuận.
Huyền Trân công chúa về làm hoàng hậu nước Chiêm Thành được một năm thì vua Chế Mân chết, thái tử nước Chiêm phái sứ giả sang nước ta dâng bạch tượng và cá về việc tang.
Theo tục lệ Chiêm Thành, hễ vua mất thì hoàng hậu, cung phi đều phải lên giàn hỏa, hỏa táng theo vua.
Vua Trần Anh Tôn biết vậy, nên mật sai võ tướng Trần Khắc Chung dẫn tùy tướng nói thác rằng sang Chiêm quốc điếu tang, kỳ thật để lập mưu cứu Huyền Trân công chúa đem về nước.
Khi đến kinh thành Đồ Bàn, Trần Khấc Chung nói với thái tử Chiêm rằng:
- Bản triều sở dĩ kết thân với Chiêm quốc vì vua trước là Hoàng Vương người ở Tượng Lâm, thành Điền Xung là đất Việt Thường. Hai bên cõi đất liền nhau, để dân yên phận hưởng thái bình nên đã gả công chúa cho quốc vương. Gả như thế là thương dân chớ không phải mượn má phấn giữ trường thành đâu. Nay hai nước đã kết hiếu thì nên giữ lấy phong tục tốt. Quốc vương mất, nếu đem công chúa tuẫn táng ngay thì việc tu trai không người chủ trương. Chi bằng theo tục lệ bản quốc, trước hãy ra bãi biển để chiêu hồn ở bên trời, đón linh hồn cùng về rồi hỏa đàn sau.
Thái tử Chiêm quốc nghe lời nói của Trần Khắc Chung có lý nên thuận tình, để cho công chúa Huyền Trân xuống thuyền ra giữa biển làm lễ chiêu hồn. Bấy giờ, Trần Khắc Chung bố trí đâu đó sẵn sàng, đem một chiếc thuyền nhẹ đợi sẵn ở giữa biển, đợi thuyền chở công chúa ra tới nơi, lập tức cướp công chúa sang thuyền mình, dong thuyền ra khơi nhằm phương Bắc lướt tới.
Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung gặp nhau hết sức vui mừng. Họ là hai người tình cũ. Trai tài gái sắc tái ngộ cùng nhau thì còn gì đẹp đẽ hân hoan bằng. Bởi vậy họ kéo dài cuộc yêu đương trên mặt biển hơn một năm mới về tới Thăng Long.
Đời sau, các văn nhân, thi sĩ cảm hứng về quãng đời lịch sử của Huyền Trân công chúa đã dùng lời thơ, điệu hát làm nên nhiều bài truyền tụng đến đời nay.
Phần đông đều nhớ bài “Nước non ngàn dặm”. Theo điệu Nam Bình, mà có kẻ cho rằng chính công chúa Huyền Trân đã soạn ra trên đường sang Chiêm quốc:
Nước non ngàn dặm ra đi,
Mối tình chi!
Mượn màu son phấn,
Đền nợ Ô, Lý.
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì,
Số lao đao hay nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết,
Cũng theo hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn theo chì,
Khúc ly ca, sao còn mường tượng.
Thấy chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng,
Hướng dương hoa quỳ,
Dặn một lời mãn quân:
Như chuyện mà như nguyện.
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay muôn phần.

0
Hồn Trương Ba da hàng thịt

Ngày xưa, có người đánh cờ tướng rất cao tay tên là Trương Ba. Khắp trong vùng chẳng có tay cờ nào đương cự nổi với anh ta. Ngày nọ, có người đánh cờ với Trương Ba bị anh ta dồn vào thế bí, người này cứ nghĩ mãi không gỡ được. Trương Ba mới nói:
- Nước cờ này chỉ có tiên cờ là Đế Thích họa may mới gỡ được, còn người trần thì mong gì.
Vào lúc đó, có một ông lão ăn mày ghé lại trước nhà Trương Ba để xin ăn. Ông lão thấy hai người ngồi đánh cờ thì bước lại xem. Biết người kia đang lâm vào nước bí, ông lão liền xin đi thử để giải bí cho người kia.
Trương Ba liền nói với ông lão:
- Cờ này chỉ có Đế Thích hiện xuống họa may mới gỡ được, còn ông tài cán đến bực nào mà mong thử.
Ông lão ăn mày vẫn điềm đạm nói:
- Thì ông cứ để tôi thử một nước xem sao.
Trương Ba thấy nói mãi, ông lão cũng cứ xin thử, bất đắc dĩ phải nhận lời. Tức thì ông lão ngồi vào bàn cờ đi một nước chẳng những gỡ bí mà còn lần lượt dồn Trương Ba vào thế thua.
Trương Ba vừa giận vừa kinh ngạc nhìn sững ông lão một hồi lâu, đoạn bước xuống đất mời ông lão ngồi lên cao, sụp lạy mà rằng:
- Tôi có mắt mà không tròng, lỡ phạm vào bực vĩ nhân mà không hay, vậy xin thứ lỗi cho.
Trương Ba lại tiếp:
- Tôi chắc chắn ngài là tiên cờ Đế Thích chớ không ai. Vì người thường không cao cờ đến thế đâu.
Ông lão từ chối mãi, nhưng sau cùng cũng phải nhận mình là Đế Thích vì nghe Trương Ba nhắc mãi đến tên mình, nên phải hiện xuống xem tài Trương Ba đánh cờ cao đến bực nào. Rồi ông lão khen Trương Ba:
- Quả thật anh là tay cao cờ, đáng khen. Cùng một làng cờ với nhau tôi muốn giúp anh một việc.
Trương Ba rất vui mừng nghe lời ông lão nói:
- Số anh không thọ, ngày chết của anh đã gần kề, vậy anh hãy dặn vợ anh khi nào anh chết thì hãy thắp hương lên mà khấn vái tên tôi, tôi sẽ hiện xuống cứu cho anh sống lại. Anh hãy nhớ lời tôi, đừng sơ sẩy mà vợ chồng không còn gặp nhau nữa.
Nói đoạn, tiên cờ Đế Thích biến mất.
Vài hôm sau, Trương Ba nhớ lời Đế Thích, kêu vợ dặn dò thật cặn kẽ, rồi lâm bệnh mà chết.
Rủi ro là vợ Trương Ba mải lo khóc chồng nên chẳng còn nhớ đến lời chồng dặn dò.
Tống táng xong xuôi, gần một tháng sau, một hôm vợ Trương Ba quét dọn trong nhà thấy bàn cờ tướng của chồng mới sực nhớ lại lời chồng dặn dò. Chị ta bèn thắp hương quỳ lạy van vái tiên cờ Đế Thích. Chỉ trong chốc lát, Đế Thích hiện ra, chị ta khóc lóc kể lể sự tình. Đế Thích liền nói:
- Bây giờ trễ rồi, chồng chị chết đã lâu, da thịt tan rã rồi còn làm sao mà cứu được nữa. Lỗi này tại chị mà ra cả, ta còn biết làm sao.
Thấy Đế Thích muốn bỏ đi, vợ Trương Ba khóc lóc khẩn cầu, kêu ca xin cứu chồng mình. Đế Thích còn đang phân vân chưa biết phải làm sao, xảy nghe nói ở bên hàng xóm có anh hàng thịt vừa từ trần, Đế Thích liền bảo với vợ Trương Ba:
- Ta chỉ còn có cách cho hồn của chồng chị nhập vào xác của gã hàng thịt vừa chết kia, chị có bằng lòng không?
Vợ của Trương Ba nghĩ không còn cách nào hơn đành phải bằng lòng.
Tiên Đế Thích bèn làm phép đem hồn của Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt.
Lúc đó, vợ của anh bán thịt mừng rỡ vì thấy chồng sống lại, song người hàng thịt lại không nhận ra vợ của mình, và xem người xung quanh đều xa lạ. Vừa khi ấy, vợ Trương Ba đi đến, người bán thịt mừng rỡ chạy ra ôm lấy nhận là vợ của mình. Vợ Trương Ba đã hiểu việc làm của Đế Thích nên cũng nhận người bán thịt là chồng mình, cùng dắt nhau về nhà.
Vợ người bán thịt không chịu, chạy ra níu kéo đòi chồng. Hai bên cãi lẫy to tiếng với nhau, sau đó cùng kéo nhau lên quan để nhờ phân xử.
Quan hỏi người bán thịt nhận ai là vợ thì anh ta chỉ vào vợ của Trương Ba và bảo không biết vợ của anh hàng thịt. Quan liền hỏi cách làm heo bán thịt thế nào, thì anh ta trả lời không xuôi, đến lúc hỏi việc đánh cờ tướng thì anh ta trả lời xuôi rót.
Vị quan xử kiện lấy làm khó nghĩ vì hồn người này, mà xác người kia, muốn làm vừa lòng cả hai người vợ thì phải chia hồn và xác ra, một việc không làm được.
Sau cùng, vị quan đành gọi riêng vợ Trương Ba mà hỏi:
- Trong khi chồng chị còn sống, có làm điều gì đặc biệt không?
Vợ Trương Ba thật tình kể lại chuyện tiên Đế Thích hiện xuống đánh cờ và hứa sẽ cứu Trương Ba khi chết và hứa đem hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt thế nào thuật rõ đầu đuôi. Vị quan lại gọi anh hàng thịt vào hỏi, anh ta thuật đúng lời của vợ Trương Ba.
Chuyện đã rõ ràng nên quan xử cho vợ chồng Trương Ba đoàn tụ. Người ta bảo “Hồn Trương Ba da hàng thịt” là do chuyện này.
0
Ông Cống Quỳnh tiếp vua và sứ Tàu

Cái tài ứng đáp của ông Cống Quỳnh như thế nào tưởng phần đông những người có đọc chuyện xưa tích cũ đều biết. Chẳng những Cống Quỳnh làm cho vua quan thời đó phải kính phục, mà cho đến sứ Tàu cũng phải lắc đầu bái phục.
Một lần nọ, phái đoàn sứ giả nước Tàu sang nước Nam để nhắc lễ cống, họ có mang theo một khúc cây sơn phết rất đẹp, dâng lên vua nước Nam xem, rồi đố vua quan ta biết là cây gì.
Lúc bấy giờ, vua và quan của ta đều cầm khúc cây lên xem một lượt, họ lấy làm khó đoán vì chẳng ai biết cây gì mà nói trúng tên.
Thói thường, cách đố chơi chơi như vậy của sứ Tần là điều điếm nhục cho triều đình ta, nếu không có tài đoán ra. Vua ta và triều thần đều lấy làm bối rối, sứ Tàu chỉ kỳ hạn có ba ngày, mà mất hai ngày rồi, chẳng có ai tìm biết được cây gì. Họ đinh ninh thế nào cũng bị sứ Tàu cười đùa chế nhạo. Đang lúc bối rối, có người nhớ đến ông Cống Quỳnh, liền tâu với vua xin mời ông đến.
Ông Cống Quỳnh đã nghe biết chuyện, nhưng vẫn làm như chẳng hay biết gì, để cho bá quan thuật chuyện xong, Cống Quỳnh bảo đem khúc cây ra. Ông cầm xem thử thì thấy nhẹ bổng khác hẳn những thứ cây thường. Dùng dao chẻ thì thấy cây nhiều sớ thịt, đem thả xuống nước thì trôi băng băng. Cống Quỳnh liền cười ha hả bảo gọi sứ Tàu đến, rồi ông ứng khẩu nói lên mấy lời:
- Còn nước con no con mập, hết nước con ốm con gầy. Tức là cây gòn.
Sứ Tần đều lắc đầu le lưỡi bái phục tài xét đoán của Cống Quỳnh.
Một lúc nọ nghe vua than, chẳng biết ăn món gì cho ngon miệng. Trong hoàng thành thì sơn hào hải vị khô lân chả phụng chẳng thiếu một món gì. Đã vậy, bá quan ngày ngày đều tìm của lạ dâng lên vua, vậy mà vua cứ kêu là ăn không được.
Bấy giờ, Cống Quỳnh nghĩ ra một mẹo, liền viết thơ mời vua đến nhà mình ăn trứng đá, mà Cống Quỳnh cam kết rất ngon miệng.
Vua lấy làm lạ quá, thuở giờ đá làm gì có trứng, tại sao Cống Quỳnh có trứng đá để làm món ăn? Tuy hoài nghi, nhà vua cũng chịu khó vi hành đến nhà Cống Quỳnh để xem món lạ.
Cống Quỳnh liền cho bắc một cái chảo thật to, đem một hòn đá tảng đặt vào chảo và đổ nước thật đầy đậy nấp lại đoạn bảo quân hầu của vua nổi lửa lên đun.
Lò lửa được đặt ở giữa sân, hai bên có hai chiếc ghế dùng cho vua và ông Cống Quỳnh ngồi.
Trong lò lửa cháy phừng phừng, nước sôi ồn ào.
Thỉnh thoảng, vua hỏi Cống Quỳnh:
- Trứng đá ở đâu?
Cống Quỳnh đáp:
- Ở trong hòn đá đang nấu.
Vua hỏi:
- Chừng nào trứng đá mới nở?
Cống Quỳnh đáp:
- Còn lâu.
Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, nhà vua ngồi đợi sốt cả ruột thỉnh thoảng lại hỏi:
- Chừng nào trứng đá mới nở?
Cống Quỳnh thản nhiên đáp:
- Còn lâu.
Cứ như vậy, từ giờ Ngọ rồi sang đầu giờ Mùi rồi sang đầu giờ Thân. Nhà vua đói rã ruột, mặt mày bí xị mà không thấy món trứng đá dọn ra để ăn.
Ở giữa sân, cái chảo nấu hòn đá cứ sôi ùng ục, Cống Quỳnh thì thản nhiên ngồi đọc sách, mặc cho nhà vua nhăn nhó kêu đói bụng.
Đợi đến lúc nhà vua đói lả rồi, Cống Quỳnh mới bảo gia nhân dọn ra một mâm cơm chỉ có nước tương và rau luộc, đoạn tâu với vua:
- Trong lúc chờ đợi trứng đá nở ra, xin bệ hạ ăn tạm vài bát cơm đỡ đói.
Nhà vua đang đói nên thuận ăn ngay. Dầu cho bữa cơm chỉ có rau luộc và nước tương, nhà vua ăn cũng ngon lành, hết bát này đến bát khác, chẳng bao lâu nồi cơm hết sạch.
Đợi nhà vua ăn xong, Cống Quỳnh hỏi - Bệ hạ có ngon miệng không?
Nhà vua thật tình đáp:
- Ngon lắm. Từ trước tới giờ, trẫm mới được ăn một bữa ngon miệng nhất.
Cống Quỳnh cười ha hả, bảo dẹp cái chảo nấu đá, rồi nói với nhà vua:
- Bệ hạ đã được hài lòng rồi đó, còn đợi món trứng đá làm gì.
Nhà vua vẫn hỏi, món trứng đá chừng nào mới có, Cống Quỳnh cười ngất rồi bảo còn lâu. Bấy giờ nhà vua mới biết Cống Quỳnh bỡn cợt mình. Tuy vậy, được một bữa ăn ngon miệng, nhà vua không phiền, mà còn khen Cống Quỳnh là tay cao mưu, nhiều bản lãnh.
0
Người ăn khỏe nhất nước Nam

Vào thời nhà Lê mạt vận, ở làng Tiên Châu huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, có một người vạm vỡ, vai u thịt bắp, mạnh khỏe ít ai bì. Nhà lại nghèo, nhưng ăn uống thì thật là khỏe, mỗi bữa, ăn sạch một nồi bảy cơm mà vẫn chưa no. Do ăn mạnh như cọp nên người ta đặt tên anh ta là Lê Như Hổ.
Vì nhà nghèo nên lúc trưởng thành, Lê Như Hổ phải đi ở gởi rể tại làng Thiện Phiến. Nhà vợ chưa biết sức ăn của Như Hổ nên mỗi bữa chỉ cho ăn một nồi ba cơm. Ăn đói thành ra Như Hổ làm biếng học, lại bỏ phế cả công việc hàng ngày. Cha vợ thấy thế liền hỏi cha ruột của Như Hổ:
- Trước kia tôi nghe nói con trai ông hiếu học lắm mà, vậy sao từ khi nó về nhà tôi nó cứ lơ lơ lửng lửng như người ốm, cứ tìm chỗ ngủ chớ không học hành gì, có lạ lắm không?
Vốn biết sức ăn khỏe của con, cha Như Hổ bèn hỏi sui gia:
- Từ khi cháu về nhà ông, ông cho ăn uống thế nào?
Ông này đáp:
- Mỗi bữa một nồi ba cơm.
Cha Như Hổ mới nói:
- Như vậy không được, nhà tôi nghèo rớt mồng tơi vậy mà mỗi bữa tôi còn cho nó ăn một nồi bảy cơm, nó lại kêu đói, huống hồ một nồi ba, chẳng trách nó đâm ra lười biếng.
Cha vợ Như Hổ muốn rõ thật hư thế nào, bèn trở về cho Như Hổ ăn đúng một nồi bảy cơm.
Mẹ vợ Như Hổ thấy vậy liền nói:
- Ông khéo kén được rể quý quá. Làm việc học hành chẳng ra cái gì cả, chỉ được có cái ăn khỏe mà thôi. Hạng người chỉ biết ăn cho nhiều thì còn làm nên gì được mà mình hòng nở mặt nở mày thiên hạ.
Cha vợ mới trả lời:
- Bà nó đừng lo, hễ nó mạnh ăn, tức nó làm việc mạnh hơn người, để rồi bà nó xem.
Mẹ vợ không tin bảo:
- Nếu nó mạnh hơn người thì tôi có vài mẫu ruộng kia đầy cỏ, ông hãy bảo nó dọn thử cho tôi xem.
Như Hổ nghe mẹ vợ bảo như vậy, đợi sáng hôm sau, vác dao phát cỏ ra ruộng. Đến chỗ cây đa to, có bóng mát, Như Hổ thấy buồn ngủ liền nằm xuống đánh một giấc ngon lành. Lúc đó, bà mẹ vợ đi chợ về ngang cây đa, thấy Như Hổ nằm ngủ ngáy pho pho, bà ta điên tiết đi riết một hơi về nhà, kêu chồng mà nói:
- Này ông ra đồng mà xem thằng rể quý của ông, từ sáng đến giờ nó nằm ngủ khò dưới gốc cây đa chớ có làm quái gì đâu. Vậy mà cứ biểu tôi nấu nướng cho nó ăn thật to để nó làm việc. Làm việc gì cái thứ chỉ biết ăn ấy!
Cha vợ cũng giận lắm, cùng mẹ vợ xăm xăm đi ra đồng, định cho Như Hổ một bài học. Chẳng dè, trong lúc mẹ vợ trở về nhà, ở ngoài đồng Như Hổ choàng tỉnh dậy, lấy dao ra phát cỏ. Sức mạnh như thần, nên chỉ trong chốc lát, Như Hổ dọn sạch trơn mấy mẫu ruộng cỏ. Cá dưới ruộng chạy không kịp, chết nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Lúc cha mẹ vợ ra tới nơi thấy ruộng sạch rồi bấy giờ mới thấy rõ tài sức của Như Hổ. Cả hai không còn coi thường Như Hổ nữa.
Đến mùa lúa chín, mẹ vợ nấu cơm với nồi hai mươi cho Như Hổ ăn, rồi bảo đi gọi thợ gặt lúa. Như Hổ được ăn no liền xin ra đồng để gặt khỏi phải kêu công thợ. Nói rồi Như Hổ lấy một cây tre làm đòn xóc, và đem liềm hái thừng chạc ra đồng. Vừa được nửa buổi, Như Hổ đã gặt xong hai mẫu ruộng, bó làm bốn bó xỏ đòn cân quảy về. Cha mẹ vợ thấy đều vui lòng hả dạ, từ đó ngày nào cũng cho Như Hổ ăn uống no nê.
Mỗi năm vào độ mùa xuân, làng bên cạnh có tổ chức hội đánh vật. Năm đầu, Như Hổ dự tranh đánh ngã tất cả các tay đô vật danh tiếng. Năm sau và những năm kế tiếp Như Hổ vẫn giữ chức vô địch môn đô vật.
Năm ba mươi tuổi, Như Hổ bắt đầu nổi tiếng văn hay chữ tốt. Đời Quảng Hòa nhà Mạc, Như Hổ thi đỗ tiến sĩ, bấy giờ ông Nguyễn Thanh cũng thi đỗ cùng khoa với Như Hổ. Nhân lúc nói chuyện về gia thế mình, Nguyễn Thanh bị Như Hổ đùa bỡn như vầy:
- Cơm gạo nhà bác chỉ đủ cho tôi ăn một tháng là sạch nhẵn.
Nguyễn Thanh cười đáp:
- Bác nói khi quá, dầu bác ăn khỏe đến bực nào, tôi cũng đủ sức đãi bác trọn ba tháng.
Như Hổ cười to bảo:
- Bây giờ bác thử đãi tôi một bữa xem sao.
Nguyễn Thanh không tin Như Hổ ăn nhiều nên hẹn ngày mời Như Hổ đến huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa là quê hương của mình để đãi.
Đúng ngày hẹn, Như Hổ tới nơi, Nguyễn Thanh vì bận việc quan nên quên khuấy, không có mặt ở nhà để tiếp đãi bạn. Như Hổ liền nói với vợ Nguyễn Thanh:
- Tôi là bạn của quan Nghè đây, nhân có việc quan đi qua đây, có ba mươi gia nhân theo hầu, vậy xin phu nhân cho một bữa cơm thì tôi cám ơn lắm.
Vợ Nguyễn Thanh tin lời, sai người ở làm thịt một con heo, dọn sáu mâm cơm đem ra. Như Hổ bèn bảo người ở của Nguyễn Thanh:
- Chú đi gọi bọn gia nhân của tôi vào đây. Người ở đi tìm chẳng thấy tên gia nhân nào cả. Lúc trở về lại thấy Như Hổ ngồi ăn một mình mà hết cả một con heo và sáu mâm cơm. Ăn xong, Như Hổ để lời cảm tạ rồi đi.
Xế chiều, Nguyễn Thanh về nhà, vợ thuật chuyện:
- Bữa nay có một người nói là quen với mình, nhân việc quan đem nhiều gia nhân đi qua đây, nhờ tôi dọn cho một bữa cơm, tưởng là thật, tôi làm cho một con heo, dọn sáu mâm cơm, té ra chỉ có mình người đó ngồi ăn, chỉ trong một lát hết sạch một con heo và sáu mâm cơm, khác nào quỷ đói.
Nguyễn Thanh hỏi về hình dạng, vợ tả sơ qua, ông biết ngay là Lê Như Hổ nên nói:
- Đó là bạn của tôi, cùng đỗ một khoa, lúc trước có hẹn đến chơi, lỡ bận việc quan, tôi quên mất, thế nào người đó cũng trách tôi sai hẹn.
Sau đó, Nguyễn Thanh nhân có việc, đến lành Tiên Châu, ghé thăm Như Hổ. Như Hổ bèn sai người nhà làm thịt hai con heo, thổi bốn mâm xôi. Một bàn đãi Nguyễn Thanh còn một bàn dành riêng cho Như Hổ.
Nguyễn Thanh thì chỉ ăn hết một phần tư con heo, một góc mâm xôi. Còn Như Hổ ăn hết sạch một con heo hai mâm xôi, lại ăn thêm một góc xôi và nửa con heo ở bàn bạn.
Nguyễn Thanh thấy vậy thất kinh, nói rằng:
- Ngày xưa, ông Mộ Trạch có tiếng là ăn khỏe nhất vậy mà chỉ ăn hết 18 bát cơm 12 bát canh là cùng. Nếu ông ấy sanh đồng thời với bác thì cũng phải kém xa đến ba bực.
Đã khỏe như thế, Như Hổ còn có tài phò vua giúp nước, về sau được phong làm Thiếu bảo Lữ Quốc Công, rồi về trí sĩ, đến 72 tuổi mới mất.
Nói về Như Hổ, người đời cho rằng: Đó là người ăn khỏe nhất nước Nam.
0
Ông tổ làm da ở Việt Nam

Vào thời nhà Mạc (năm 1852) ở Trúc Lâm tổng Phan Xá, tỉnh Hải Dương có ông Nguyễn Thới Trung, thuộc phái văn quan, được vua Mạc Đăng Dung cử theo phái đoàn đem lễ vật sang cống hiến ở Yên Kinh.
Lúc qua Hoàng Châu, một thắng cảnh của nước Tàu, ông Nguyễn Thới Trung thấy dân chúng địa phương lấy da thú vật đem thuộc rồi làm giày da thú đem thuộc rồi làm giày dép mà mang. Ông rất hoan hỉ xin với người Tàu học nghề đó, người Tàu muốn giữ bí mật nhà nghề nên nhất định không dạy.
Không nản chí, đợi cống hiến lễ vật xong, bận trở về ông cải dạng làm người Tàu, trà trộn sống chung với họ. Ở Hoàng Châu được một năm, ông đã thông thạo nghề thuộc da. Bấy giờ ông vội vã về nước, đem nghề thuộc da dạy nghười làng Trúc Lâm.
Ban đầu không ai tin ông thành công, dần dần ông cố công thuộc thành những tấm da tốt, rắn chắc, không có mùi hôi. Ông còn dạy người ta cách thức đóng giày. Chẳng bao lâu, dân chúng ở các làng kế cận được phái đến học nghề rất đông. Vài năm sau, cả nước đều biết tiếng. Riêng làng Trúc Lâm, nhờ nghề thuộc da mà trở nên giàu có, ông Nguyễn Thới Trung được mọi người tôn làm ông Tổ nghề thuộc da ở Việt Nam. Sau khi ông chết, dân chúng lập đền thờ ở làng Trúc Lâm, hằng năm có làm lễ tế rất trọng thể.
0
Người chồng bất nghĩa

Đời nhà Đường, người Tàu đến ở thành Đại La (Hà Nội) rất đông.
Quan Tàu thấy một thiếu nữ Việt Nam tên là Liên Anh có nhan sắc nết na bèn cưới cho con trai của mình.
Về sống chung với cậu công tử nọ, Liên Anh tỏ ra đảm đương, hiền hậu. Năm sau, đôi vợ chồng trẻ có con trai đầu lòng, đời sống gia đình họ rất hạnh phúc.
Nhưng một hôm, có người bạn học cũ tới thăm. Anh chồng bèn thiết tiệc linh đình cùng với vài vị quan Tàu khác. Buổi tiệc sắp đặt tại vườn hoa.
Họ uống rượu rất nhiều. Chừng ai nấy ngà ngà say, người bạn nọ có ý nghĩ trớ trêu:
- Bần cùng mới biết hiếu tử. Nước loạn mới rõ tôi trung. Có gặp sự cố cám dỗ, ve vãn của bạn bè, mới biết mình có thiệt lòng yêu mình không!
Anh chàng nọ gật đầu:
- Phải! Phải lắm. Như vợ tôi đây rất thương tôi. Ngặt chưa bạn bè nào tới cám dỗ để tôi dò xét thử....
Người bạn rót rượu thêm:
- Vậy thì ông nên cho phép anh em ở đây tới cám dỗ thử. Nếu không xong thì rõ ràng là người đàn bà tốt.
Anh chồng nọ đang say, không kịp nghĩ suy bèn đồng ý để bạn bè ve vãn vợ mình.
Nàng Liên Anh đang ngồi trong phòng the ru con ngủ. Bỗng thấy một vị quan trai trẻ đến, buông lời đường mật.
Nàng từ khước, đuổi ra.
Lại một vị khách bước vào, buông ra bao nhiêu là giọng kèn tiếng quyên. Nàng Liên Anh không đồng ý. Lại có vị quan thứ ba, thứ tư bước vào...
Sau cùng nàng Liên Anh nhìn đứa con trai mà khóc:
- Hồi nào đến giờ, mẹ là người nết na đoan trang. Bỗng dưng nhiều người tới đây toan làm điều bất nhã. Chắc là mẹ còn sơ sót điều gì về hạnh kiểm nên thiên hạ mới suồng sã như vậy. Hay là họ khinh khi đàn bà Việt Nam không biết giữ lòng thủy chung?
Rồi nàng thắt cổ tự tử.
Về sau, khi quan trên điều tra vụ án này đã ra lệnh xử tử người chồng nàng Liên Anh bởi chính hắn mới là chánh phạm trong vụ giết người vợ hiền.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2017 11:47:59 bởi casau>
Người vợ bé tài đức

Ở tỉnh Thanh Hóa, có ông nhà giàu nọ cưới người vợ bé rất trẻ, rất đẹp. Bà vợ lớn thấy vậy sanh ra ghen tuông, nay đánh, mai chửi, sai làm công việc nặng nhọc. Người vợ bé cam chịu, không hé môi phiền trách.
Đêm nọ, kẻ cướp tới mở cửa. Người chồng và người vợ lớn sợ hết hồn hết vía, kéo nhau vào một xó nín hơi không dám cục cựa. Cô vợ bé bàn cầm roi, mở cửa ra đánh bọn cướp tơi bời.
Tàn cuộc người vợ lớn mới hỏi:
- Dì có tài phép gì mà đánh tan tụi nó lẹ vậy?
Người vợ bé nói: “Cha tôi là thầy nghề võ. Khi còn bé, cha tôi có dạy chút ít nghề cho nên hôm nay tôi mới trừ được chúng nó”.
Từ đó, trong làng ai cũng khen ngợi người vợ bé là tài giỏi. Có người hỏi thử: “Cô có nghề tài giỏi như vậy, tại sao khi bà vợ lớn đánh, cô không đánh lại”. Cô vợ bé trả lời: “Tôi là kẻ bề dưới, có khi nào dám đánh kẻ bề trên”.
Câu trả lời ấy lần lần thấu tai bà vợ lớn. Bà này suy nghĩ lại, mới đem lòng thương yêu người vợ lẽ, không dám đánh chửi hành hạ như trước nữa.
0
Người chết trả nợ cũ

Xóm nọ, có ông Lý Trước Minh tánh tình rộng rãi, hay thương xót kẻ bần hàn. Ngày này qua ngày khác, ông thường giúp một kẻ nghèo nọ, nào gạo, nào tiền...
Một bữa, tên nọ tới lạy ông và nói:
- Đời tôi mang ơn ông nhiều quá rồi. Nay nhờ ông một lần chót. Xin ông cho tôi vay một tạ đậu xanh để làm vốn. Sau này tôi hứa sẽ trả đủ.
Ông Lý Trước Minh đồng ý. Rồi tên nọ đi đâu mất hơn một năm.
Một hôm qua chùa đọc sách; giữa trưa nằm chiêm bao thấy tên đó hiện về rằng: “Bấy lâu nay tôi thiếu nợ ông một tạ đậu xanh, bây giờ tôi phải trả lại”.
Ông Lý Trước Minh nói:
- Chú thiếu của tôi nhiều quá rồi, lấy đâu mà trả cho đủ? Mấy năm nay chú đi đâu? Tôi miễn nợ cho chú.
Tên nọ lộ vẻ âu sầu, rồi biến mất.
Hôm sau, người nhà tới báo cho ông hay rằng đêm qua con lừa cái đã đẻ được một con lừa nhỏ, mập mạp lắm. Ông Lý Trước Minh sanh nghi, đoán rằng tên nọ đầu thai để trả ơn mình.
Về nhà, ông thử kêu con lừa bằng tên kẻ thiếu nợ. Con lừa ngoan ngoãn chạy lại. Lớn lên, cưỡi con lừa đi đâu chơi cũng được thiên hạ trầm trồ đòi mua, nhưng ông chưa kịp ra giá thì luôn có người nhà đến kêu ông về.
Năm sau, con lừa đó bị con ngựa của ông cắn gãy chân. Thật may, có ông thầy thuốc tới xin trị bệnh.
Thầy thuốc nói:
- Chừng con lừa mạnh, bán được bao nhiêu tiền, tôi chia đôi với ông, chịu không?
Ít tháng sau, con lừa mạnh trở lại, đem bán được một nghìn tám trăm. Chia ra phân nửa tiền, ông Lý Trước Minh đem về, sực nhớ thì rõ đúng giá một tạ đậu xanh của anh nghèo vay lúc trước.
0
Lộc Giác chơn nhơn

Sách Hội Chân biên chép lại:
Ở tỉnh Cao Bằng, có anh tiều phu rất hiền hậu mà cũng rất nghèo. Anh ta có bà mẹ tuổi đã cao. Một hôm mẹ tỏ ý thèm sữa nai.
Nhưng làm sao tìm được bây giờ? Đi vào rừng, vì lẽ thấy anh là nai chạy trốn mất. Anh bèn đứng trên non cao mà khóc.
Bỗng, hiện ra một ông lão quắc thước. Ông lão nói với anh:
- Muốn tìm được sữa nai thì phải mang lốt da nai này vào mình.
Nói xong, ông lão trao cho anh miếng da nai. Nhờ vậy, anh đến gần nai dễ dàng, vắt sữa rất nhiều về cho mẹ uống.
Vài hôm sau, ông lão nọ đến tìm anh, có ý muốn thâu nhận anh làm đệ tử.
Sau khi mẹ mất, anh bỏ nhà lên núi biệt tích luôn.
Nhiều năm sau đó, đứa con trai của anh lên non hái củi tình cờ gặp con nai to lớn. Nai ấy lại gần mà nói với nó:
- Cha bây giờ tu tiên đắc đạo hóa ra nai, không hoàn y cốt người được nữa. Cha cho con nguyên bộ sừng này. Con lấy dây buộc nó lại rồi kéo theo sau. Đi tới nơi mà sừng bị vướng không kéo nữa được, con dừng chân tại đó, khai phá lập nghiệp thì ắt được sung túc hiển vinh.
Dứt lời, con nai lớn nọ húc đầu vào gốc cây, ghim sừng bỏ lại, rồi biến mất.
Đứa con thi hành đúng lời cha, nhờ vậy mà trở nên - giàu có.
0
Tham thì thâm

Hồi xưa, có một đứa bé chăn trâu nọ mồ côi mẹ, không ai nhớ tên gì, chỉ biết tánh tình nó hiền hậu.
Từ sáng tới chiều, nó dãi nắng dầm mưa để chăn trâu. Vậy mà khi về tới nhà nó vẫn bị mẹ ghẻ và mấy đứa em cùng cha khác mẹ xúm lại rầy la.
Trưa hôm nọ, đói bụng quá, nó lén đến lùm chuối gần nấm mồ hoang, thò tay bẻ mấy trái chuối chín bói. Vừa lúc ấy, một con quỷ dạ xoa hiện ra thét lớn:
- Nghèo đói thì ráng chịu, không được ăn cắp. Phen này tao tha tội cho. Đừng tái phạm.
Nó khiếp hãi chạy miết xuống bờ ruộng, than thở số phận với Trời:
- Thiên hạ giàu, phận tôi sao nghèo quá vậy ông? Ông hóa phép tạo vạn vật muôn loài, sao ông không hóa phép giúp tôi chút ít tiền bạc để sống qua ngày?
Bỗng nhiên nó thấy một tia nắng nhễu xuống giữa bãi cỏ, vàng hườm. Chạy lại coi thì rõ ràng một đống tiền vàng. Nó mừng quá, định ra chợ mua quần áo mới.
Dọc đường, gặp bà lão đói rách đứng ngửa tay xin.
Suy nghĩ hồi lâu, nó cho bà đồng tiền nọ rồi trở về nằm ngủ trên bãi cỏ. Bụng đói áo rách nhưng nó vui với việc thiện khi nãy.
Bỗng nhiên, nó nghe đôi trâu vừa lội vừa giãy giụa đùng đùng dưới ao. Coi lại thì giống như cảnh chiêm bao: Mặt nước vàng hườm, nắng chói xuống đỏ ối như sắp đọng lại. Nó đuổi đôi trâu lên bờ. Ngạc nhiên làm sao, mỗi sợi lông trâu có dính theo tòn ten một đồng tiền vàng. Nó gỡ một hai đồng, còn dư lại bao nhiêu thì giấu lại dưới đáy ao.
Nhờ vậy, nó trở nên mập mạp vì đủ cơm đủ áo hơn trước. Hễ hết tiền thì xuống ao mò lên vài đồng. Bà mẹ ghẻ và mấy đứa em ghẻ của nó lần hồi sanh nghi, thay phiên nhau rình rập. Chừng biết vàng nọ ở đáy ao, họ sắm một miệng chài thật lớn, chờ đêm đến là xúm ra kéo trộm hết vàng dưới ao lên.
Họ vãi chài xuống, kéo thử thấy quá nặng, mừng rỡ, hì hà hì hục suốt đêm, chừng hừng đông mới đem chài lên được. Dòm lại thì hỡi ôi, toàn là bùn sình dơ dáy.
Trời nào có giúp kẻ gian ác, phụ kẻ hiền lương bao giờ?
0
Ông Tăng Chủ nuôi cọp bạch

Vùng Bảy Núi xưa kia cọp rất đông. Ông Tăng Chủ đến đó lập trại ruộng.
Một hôm về trại, ông gặp con cọp bạch đứng chực sẵn ngoài cửa. Nhìn kỹ, rõ ràng cọp nọ đau nặng, mình mẩy ốm nhom. Cọp há miệng ra, ngước lên như cầu khẩn. Ông Tăng Chủ hỏi:
- Làm gì mà bạch hổ ngồi đây? Ờ... Chắc là mắc xương hả?
Cọp gật đầu. Ông bảo cọp nọ cúi đầu xuống rồi ông vung tay tấn xuống ngay sau cổ nó. Cục xương văng ra. ông nói:
- Từ rày về sau, bạch hổ đừng tham ăn nữa, nghe không?
Vài hôm sau, bạch hổ cõng lại một con heo để đền ơn.
Lần nọ, bên núi Bà Đội Om có con hạm rất dữ. Ông Tăng Chủ gọi bạch hổ đến cùng với ông đi đánh hạm. Hạm phải té xuống hố mà chết.
Về sau, dân chúng nhớ ơn nên cất miếu thờ Bạch Hổ và xây mộ cho ông Tăng Chủ ở gần chùa Thới Sơn.
0
Đứa con thần

Huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An có người góa phụ tên là Huỳnh thị Phước.
Năm 40 tuổi, bà vô chùa tu. Đêm nọ, bà nằm mộng thấy một người mặt đỏ như son, bận áo xanh. Giật mình thức dậy, bà đến tìm ông hòa thượng mà hỏi. Hòa thượng nói:
- Phật Trời thấy bà là người nhân đức, thiệt tâm tu hành nên cho đứa con. Nhưng bà nên ra khỏi chùa này, kẻo nay mai sanh chồi nẩy lộc, xóm giềng nghi cho tôi.
Chín tháng mười ngày, bà hạ sanh được một con trai mặt mũi rất khôi ngô, tuấn tú. Hương chức làng truy ra, lên án ông hòa thượng nọ về tội thông dâm, bắt buộc ông phải bảo dưỡng đứa nhỏ nọ.
Lớn lên mười tuổi, đứa trẻ học hành siêng năng, có thiên tư, đọc trong nháy mắt là xong một hàng chữ. Đến năm mười sáu tuổi, đứa bé cần có tên tuổi để đi thi, người mẹ không biết đặt tên con là gì. Đêm đó, bà nằm mộng thấy thần linh mách bảo:
- Sáng mai, ngươi bảo đứa trẻ leo lên cây thị, trên đó có khắc sẵn tên nó.
Hôm sau đứa bé tìm gặp mấy chữ Lương Quí Chánh trên cây. Nó mang tên đó, vài năm sau thi đậu cử nhân. Ngày vinh quy bái tổ linh đình biết chừng nào! Nhưng vài hôm sau, ông hòa thượng liễu đạo. Chừng tẩm liệm biết rõ ông là người bán nam bán nữ, xóm giềng hiểu rằng bấy lâu nay ông chịu tiếng oan.
0
Con trâu bay

Có anh nông phu nọ mua được con trâu tơ giá mười hai đồng bạc, đem về cày ruộng. Trâu mạnh khỏe, dai sức lắm.
Đêm ngủ, anh ta nằm chiêm bao thấy trâu nọ mọc hai cái cánh bên hông, bay bổng đi mất. Lúc thức dậy anh ta nghĩ rằng: “Đó là điềm không lành. Mình phải bán con trâu này. Không thì nó cũng mất”.
Hôm sau anh dắt con trâu ra chợ, bán lại được sáu đồng bạc, bèn lấy dây thắt lưng buộc số tiền ấy lại.
Đến nửa đường: anh thấy một con chim lớn đang đứng mổ xác con chuột chết. Lại gần xem thử, thì con chim nọ dạn dĩ, không bay. Anh vồ con chim nọ, dùng dây thắt lưng buộc vào chân chim.
Đi được một lát, chim nọ vùng vẫy, mổ vào tay anh đau điếng. Vô ý, anh buông con chim ra. Chim bay bổng, mang theo cái thắt lưng buộc bạc.
Về tới nhà, vợ hỏi:
- Con trâu đâu?
Anh thở dài:
- Nó bay mất rồi?...
0
Con ong và con tu hú

Con Ong nọ đậu trong ổ lo gầy mật. Bỗng đâu có con Tu hú bay tới kêu lên: “Tu hú! Tu hú!”
Con Ong bèn quở trách:
- Mày kỳ quá! Tối ngày kêu tu hú, tu hú hoài? Không kêu tiếng gì lạ hơn. Nhàm tai tao quá!
Con Tu hú đậu mà trả lời:
- Mày trách tao kêu nghe nhàm tai. Vậy chớ mày suốt đời cứ hút nhụy làm mật, công chuyện đó cũng nhàm vậy.
Con Ong nói:
- Làm việc ích lợi mà làm một thứ hoài thì không sao. Còn mấy kêu cho vui mà kêu một giọng hoài, riết rồi không vui. Vô ích quá!
0
Cọp thổi tù và sừng trâu

Mỗi khi cọp tới phá rẫy, người ta thường thổi tù và sừng trâu để đuổi. Tại sao cọp lại sợ tiếng còi sừng trâu? Tích xưa như vầy:
“Anh nọ giữ rẫy khoai, hằng đêm đốt lửa nướng vài củ khoai lang để ăn giải buồn. Gần chòi anh, có một con cọp thường tới lui rình, thấy vậy cọp ta bắt chước, móc khoai lên, thổi lửa nướng khoai như anh nọ.
Anh nọ giận lắm vì mỗi khi cọp đến, anh phải leo lên chòi cao mà trốn. Về sau, anh bày kế: mua dầu chai đem về rưới mấy bó rơm chung quanh bếp lửa. Gần đó anh đặt hai bó củi, trong bó củi có hai cây pháo tre thật to.
Cọp ăn quen lại ngồi trên bó rơm. Dính dầu chai, dính rơm vào lông, cọp ngơ ngác không hiểu chuyện gì bèn đem hai bó củi nọ thảy vào bếp lửa. Ý của cọp là đốt lên cho sáng để coi rõ. Dè đâu khi củi ngún, hai cây pháo tre nổ lên, rơm và dầu chai phựt cháy khiến cọp phải hoảng chạy. Lửa bốc phừng phừng thiêu rụi lông, râu, làm phỏng da. Vô cùng tức giận, hôm sau cọp trở lại ngồi sát chòi, chờ dịp trả thù.
Ngồi trên chòi cao, anh nọ vô cùng sợ hãi, bèn ném xuống dao, mác, hũ, chén... Cọp không sợ, trái lại há miệng thật lớn như chờ anh té xuống mà nhai xương. Sau rốt, còn cái còi sừng trâu, anh nọ liệng xuống rớt vào ngay cuống họng cọp nọ... Cọp giựt mình không hiểu vật gì làm nó nghẹt thở. Cọp hít hơi, hơi gió lọt vào còi kêu lên: “Cò. Cò”. Thở mạnh ra, hơi gió kêu lên: “Kè... Kè...” Hoảng sợ, cọp chạy miết về rừng. Càng sợ, hơi thở càng mạnh, cho nên dọc đường cọp nghe trong họng mình: “Cò kè, cò kè...”
Từ đó về sau, hễ cọp nghe tiếng còi sừng trâu là chạy cong đuôi”.
0
Chuyện nghĩa hổ

Năm Tự Đức thứ hai, tại làng Long Phụng, tổng Hòa Quới, huyện Kiến Hòa (nay là Bến Tre) có gia đình họ Võ nuôi một con cọp con.
Cọp nọ lớn lên được gia đình thương mến xem như con ruột. Ông tú tài họ Võ dạy hai đứa con của mình (một trai, một gái) kêu cọp nọ bằng anh Hai.
Vài năm sau, ông được lệnh ra Huế lãnh chức vụ mới. Trước khi đi, ông kêu cọp nọ mà căn dặn ráng ở nhà nuôi mẹ nuôi em.
Chừng ông đi được vài ngày, cọp nọ bỗng dưng lại bàn thờ quỳ xuống, la hét. Người mẹ an ủi cọp. Cọp bèn ra dấu tỏ ý muốn xin phép ra đi rồi trở về.
Bà tú tài họ Võ cho phép. Cọp mừng rỡ chạy mất.
Bữa đó, ông tú tài nằm cáng trên đường về Huế, thình lình gặp con cọp đón đường. Nhìn lại, rõ là cọp ở nhà chạy theo. Ông biểu cọp trở về. Cọp khóc lóc, sau cùng đem dâng cho ông tú tài một hoàn thuốc xạ hương để phòng bịnh dọc đường.
Khi về nhà, cọp nọ biếng ăn biếng uống. Về sau được thơ ông tú tài gởi về, cả nhà mới biết rằng cọp đi kỳ rồi là để dâng thuốc. Ai nấy hết sức cảm động.
Vài năm sau, ông tú tài đau nặng nhờ hoàn thuốc nọ nên tạm thuyên giảm. Ông bèn gởi thơ nhắn đứa con trai lớn ra săn sóc. Đứa con đến nơi, ông đã chết.
Cọp ở nhà hằng ngày lo nuôi mẹ và em gái, rảnh thì vào rừng bắt heo hoặc đi lối xóm cột bùa cho con nít kiếm tiền về chi dụng. Bà tú chẳng may mắc bệnh qua đời. Đứa con gái khóc lóc thảm thiết, chạy đầu làng cuối xóm để báo tin buồn rồi lạy tạ ơn những người đến giúp chôn cất mẹ.
Năm bảy tháng sau, người con trai ở Huế về đến Bến Tre. Chừng gặp mặt, cọp khóc lóc rồi dẫn hai anh em ra thăm mả của bà tú tài. Đến nơi, cọp đập đầu vào mà tự tử.
Người con trai bèn để tang cho cọp, làm lễ chôn cất kỹ lưỡng rồi lập miếu thờ, đề mấy chữ: “Nghĩa Hổ Trưởng Huynh chi mộ”. Sau đó có người làm thơ khen tặng như vầy:
Hùm còn biết nghĩa nặng cùng người.
Trả thảo liều thân giữa đất trời,
Một tấm da dầu chôn chặt đất.
Trăm năm còn mãi tiếng khen đời.

0
Người chết trả ơn

Ở tỉnh Bắc Ninh, một chú thợ khéo léo được vua đòi về Huế để xây cất hoàng thành.
Mới đến Nghệ An, chú thợ nhuốm bịnh mà chết bên sườn núi. Liền theo đó, mối bu lại làm ổ, đùn lên như nấm mộ. Mấy người con của chú không hay biết cha mình chết trong trường hợp nào, mồ mả ở đâu để cúng giỗ. Tuy họ được làm quan vinh hiển nhưng trong lòng không nguôi.
Kế bên nấm mộ nọ, có anh nông phu tên là Khá, thấy mộ bỏ hoang, hằng ngày anh tới lui chăm sóc. Hôm nọ, đang cày ruộng, thình lình anh gặp một người lạ tới mời đi ăn giỗ. Hỏi ở gần hay ở xa, người nọ đáp: “Cứ đi theo tôi”.
Anh nông phu than rằng mình nghèo quá, không có áo lành để mặc.
Người nọ nói: “Đừng lo, tôi có cái áo này cho anh mượn mặc đỡ”. Rồi nắm tay anh mà dắt đi về phía đầu làng.
Lát sau, đến nơi cúng giỗ. Anh nông phu nọ hơi ngạc nhiên vì toàn là người lạ. Nhưng đói quá, anh cúi đầu ăn no say rồi ngã lăn ra ngủ.
Người bạn nói: “Mình đi về là vừa”.
Anh nông phu nọ vì chưa tỉnh rượu nên trả lời:
- Anh về trước đi. Tôi về sau cũng được. Đường về gần chớ xa xôi gì.
Người bạn nói:
- Vậy thì anh trả áo lại cho tôi về trước.
Anh nông phu nọ cởi áo ra trả, rồi nằm ngủ luôn giấc trưa. Chừng tỉnh rượu thì thấy xung quanh toàn là người lạ, cảnh lạ. Người trong nhà cũng ngạc nhiên không biết anh nông phu nọ là ông khách nào. Chừng hỏi han đầu đuôi, họ đoán rằng: “Có lẽ nấm mộ nọ là của cha mình. Bấy lâu nay anh nông phu này có công giữ gìn nên cha mình trả ơn lại, mới mời về đây ăn giỗ”.
Sau đó, họ đền ơn anh vàng bạc, lụa là. Từ Bắc Ninh, anh nông phu phải đi bộ sáu ngày đường để về đến quê nhà Nghệ An. Đến nơi, vợ con chưng hửng vì mấy hôm nay ngỡ là anh bị cọp bắt chết rồi...
0
Vợ khôn chồng dại

Chị nọ rất khôn nhưng rủi gặp nhằm anh chồng quá dại. Hôm nọ dệt vải xong, chị giao cho anh chồng đem đi bán.
Đi suốt ngày, rao khan giọng, anh chồng không thấy ai mua. Bỗng đâu có ông thầy giáo đi ngang qua mua hai vóc. Ông nói: “Sáng mai anh lại nhà tôi mà lấy tiền. Nhà tôi ở chỗ chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò te, chỗ cây tre một mắt”.
Hôm sau, anh chồng tìm hoài mà không gặp chỗ nào gọi là chỗ chợ đông mà không ai bán... Về nói cho vợ nghe. Chị mới đoán rằng người mua nọ là ông thầy giáo. Chợ đông không ai bán là trường học. Kèn thổi tò te là gần đám sậy có gió thổi. Cây tre một mắt là cọng hành. Vì vậy, chị vợ bảo chồng đến trường nọ ở gần đám sậy, trước cửa có trồng hành.
Anh chồng kiếm được ông giáo để đòi tiền. ông giáo hỏi: “Tại sao anh biết tôi ở đây?”.
Anh nọ nói: “Vợ tôi đoán như vậy”.
Ông thầy tấm tắc khen thầm cô vợ nọ.
Chừng anh chồng ra về, ông gởi theo một nhánh bông lài cặm giữa một miếng cứt trâu khô.
Nhận được món quà, cô sanh ra buồn bực, tủi phận mình bởi ông giáo nọ có ý mỉa mai cô như câu hát:
“Con vợ khôn lấy thằng chồng dại
Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”
Nghĩ vậy cô ra bờ sông, chờ nước lớn mà tự vận.
Ông giáo nọ đoán được việc ấy nên vô cùng hối hận, giả đò xách một cái rổ rách đi lên mé sông. Gặp cô vợ nọ ngồi trên bờ với vẻ mặt âu sầu, ông giáo nói:
- Chị kia, ngồi qua một bên để tôi nhảy xuống sông xúc cá.
Cô vợ giựt mình, ngạc nhiên vì thấy một người đầu bạc hai thứ tóc mà quá dại, dùng cái rổ rách mà xúc cá. So sánh người già nọ với chồng mình ở nhà thì chồng mình coi vậy mà khôn hơn.
Nghĩ vậy, cô tự an ủi, trở về nhà, không thèm tự tử.
0
Con dơi

Phụng Hoàng là chúa tất cả các loài chim.
Hôm đó có lễ lớn, các loài chim đều đến chầu chực, chỉ có Dơi vắng mặt. Phụng Hoàng hỏi tội, Dơi bèn trả lời:
- Tôi không phải thuộc loài chim. Tôi là thú bốn chân. Hai cánh của tôi là hai chân trước có móng hẳn hoi.
Vài hôm sau, Kỳ Lân ra lịnh cho các loài thú đến chầu.
Con Dơi cũng vắng mặt.
Hỏi tội, Dơi bèn trả lời:
- Tôi không phải là loài thú. Tôi có hai cánh bay được, rõ ràng tôi là loài chim đây nè...
0
Thằng làm biếng gặp thời

Có thằng làm biếng nọ không cửa, không nhà, nằm trên bè tre mà ngủ. Bỗng đâu, có con cá nhảy lên bè. Nó bắt con cá nọ, lấy tay gỡ vảy. Vì làm biếng, nó đái lên cá nọ cho sạch nhớt thay vì thò tay xuống sông rửa cá, rồi thảy con cá nọ lên bè mà phơi khô.
Lúc đó, có con quạ bay ngang qua, cắp con cá khô nọ đem về vườn Ngự uyển. Công chúa thấy cá, bèn sai thị tỳ nướng để nàng ăn thử. Dè đâu, công chúa thọ thai, sanh được đứa con trai ngộ nghĩnh.
Vua cha tức giận, nhốt công chúa vào ngục nhưng sau rốt vì quá thương con nên thả công chúa ra truyền rao lựa chồng cho công chúa. Bao nhiêu thanh niên văn hay võ giỏi tới xin ra mắt nhưng công chúa không ưng ai. Lúc đó, chiếc bè của anh làm biếng nọ trôi rề rề ngang điện vua. Đứa con của công chúa thấy vậy bèn kêu lên:
- Bè!... Bè!... Ba! Ba ơi?
Vua cha bèn kêu bè ghé lại hỏi sự tình. Tên làm biếng nọ trở nên phò mã.
0
Thần linh phò hộ

Cô gái nọ rất xinh đẹp, năm hai mươi tuổi mà vẫn chưa chồng. Mỗi ngày, cô mang nhang đèn đến miếu để cầu khẩn sao cho gặp một người chồng xứng đáng..
Tên bán nhang để ý, hằng ngày rình nghe sau bàn thờ thần nên biết đúng tâm sự cô nọ. Bữa đó, sau khi cô khấn vái, hắn ta núp dưới bàn thờ mà nói:
- Ta là thần đây. Số phận của con là ưng tên bán nhang. Mai sau, nó được làm vua, con sẽ vinh hiển.
Cô gái nọ nài nỉ:
- Con không thể nào ưng anh bán nhang được. Ảnh thô tục quá.
Có tiếng trả lời:
- Nếu con không ưng nó, con bị móc mắt tức thì.
Vì quá sợ thần linh, cô nọ đến tìm anh bán nhang. Anh ta làm bộ tỉnh táo, ban đầu từ chối, sau mới bảo cô nọ vào ngồi trong giỏ đựng nhang để anh quảy về nhà.
Dọc đường, gặp ông vua đi săn cọp. Tên bán nhang hoảng sợ, bỏ cả gánh giỏ mà chạy trốn. Vua nghe tiếng la hoảng hốt bèn ngưng kiệu lại. Biết đầu đuôi sự tình, vua thương tình đem cô về phong làm Hoàng hậu. Thay vào đó, vua đem một con cọp vừa săn được bỏ vào trong giỏ y như cũ.
Lát sau, tên bán nhang trở lại quảy giỏ về nhà. Hắn bảo mẹ đi chợ mua gà vịt để làm lễ cưới cho hắn, rồi hắn mở giỏ ra tìm cô gái.
Cọp trong giỏ nhảy ra giết hắn chết tức thì.
0
Cô hồn đền ơn

Thuở xưa, ở Mỹ Tho có ông bá hộ lòng dạ rất nhân từ. Ngày rằm tháng Bảy, ông đốt nhang đèn bày bánh cúng, bánh cấp, mía, chuối để các cô hồn về hưởng. Cúng xong xuôi, ông yên trí vô nhà nằm nghỉ.
Gần nhà ông, có một chòm mả hoang. Đêm đó, có anh bán dầu dừa đi lỡ đường, đến chòm mả nọ mà nghỉ lưng. Anh ta nghe thì thào như nhóm chợ, bọn ma quỷ bàn tán qua lại:
- Đồ ăn ngon quá, mấy anh dám ăn không?
- Ông bá hộ có lòng tốt nhưng làm sao ăn được? Tề Thiên Đại Thánh nói rằng bánh cúng không được tinh khiết. Hồi gói bánh, có con nhỏ đầy tớ rủi đứt tay, làm dính máu trong lá chuối gói bánh.
Anh bán dầu dừa biết đó là tiếng nói của cô hồn. Sáng hôm sau, anh ta lập tức đến nhà ông bá hộ mà báo sự tình. Ông bá hộ hết sức buồn bã, nghĩ thầm:
- Không lẽ mình rầy rà bọn đầy tớ! Cách hay nhứt là mình cáo lỗi quỷ thần, cúng lại lần thứ nhì.
Đêm sau cúng xong, ông bá hộ nhờ anh bán dầu dừa ra ngoài chòm mả hoang nghe ngóng tin tức.
Anh ta y lời, rình nghe bọn cô hồn bàn tán:
- Thất bại nữa! Phen này tụi mình chết đói. Hồi hôm qua lá chuối dính máu. Bữa nay thì nấu bánh bằng củi ô uế ở chuồng heo...
Anh bán dầu dừa trở lại thuật cho ông bá hộ hay. Ông này buồn bã, hỏi lại thì rõ ràng bọn gia nhân đã lấy mấy khúc củi chuồng heo mà chụm lửa nấu bánh.
Ông bá hộ đến chùa gần đó, nhờ nhà chùa cúng giùm, như vậy bảo đảm hơn.
Cúng xong, anh bán dầu cũng ra chòm. mả nghe ngóng. Nhưng lần này anh ta dạn dĩ hơn lên tiếng trước:
- Cô hồn các đảng ơi! Cúng như vậy ăn được không?
Cô hồn mừng rỡ nói:
- Được! Được! Ông bá hộ có lòng tốt, trì chí lo lắng chu đáo miếng ăn cho tụi tôi. Anh về nói với ông bá ta: Chừng một một trăm ngày nữa chúng tôi đền ơn ông một vật xứng đáng lắm.
Sẵn có máu tham, anh bán dầu dừa không thuật lại điều ấy cho ông bá hộ biết. Anh ta giả đò xin cất chòi kế bên cửa ngõ của ông bá hộ. Rồi anh ta sống nương náu chờ ngày mà cô hồn đã hứa. Rình mãi không thấy gì, anh ngã lăn ra ngủ thiếp. Gà gáy, bừng mắt dậy thì rõ ràng có ba cái lu lớn đặt trước cửa ngõ từ hồi nào. Mỗi lu đều có một con rắn hổ quấn chung quanh. Trong lu toàn là vàng thoi, bạc nén. Anh ta thò tay vào lu. Tức thì bao nhiêu vàng bạc đều hóa ra hằng trăm con rắn, đen thui, bò lúc nhúc. Hoảng sợ, anh rút tay ra. Vàng bạc hiện trở lại y nguyên. Lúng túng, anh ta không biết xử trí lẽ nào. Ông bá hộ bước ra cổng, thấy vậy bèn sai gia nhân khiêng vàng bạc vào nhà.
Để đền ơn anh bán dầu, ông bá hộ tặng cho hai thoi vàng, hai nén bạc. Cầm trên tay, anh ta mừng quýnh vì vàng, bạc không hóa thành con rắn nữa. Anh ta ra đi, cười hát nghêu ngao rồi vào quán rượu say sưa.
Tỉnh rượu thì hai nén bạc, hai thoi vàng nọ đã bị người khác ăn cắp từ hồi nào.
0
Hai ông quan thanh liêm

Ông Mẫn Công làm quan Tuần phủ ở Hà Nam.
Lúc đi ghe, ông bị bọn cướp kêu lại, ào qua lục soát của cải. Bọn cướp không thấy vật gì quý giá cả. Chúng lục tới lưng, ông Mẫn Công đem một sợi đai vàng ra mà nói:
- Ta nghèo lắm. Chỉ có món này là quý, bằng vàng của vua ban cho. Ngoài ra, ta không có của riêng.
Bọn cướp không nỡ lấy sợi đai ấy.
Lại có một ông quan khác tên là Trần văn Khánh. Ông này về hưu trí đã lâu. Bỗng hôm nọ, bọn cướp tới đánh phá. Ông Trần văn Khánh nói:
- Đêm hôm tụi bây có công tới thăm tao. Ngặt tao không có vật gì xứng đáng. Trong rương còn năm ba bốn cuốn sách rách, tụi bây chịu khó lấy đỡ đem về cho con cháu nó học.
Bọn cướp bèn rút lui.
Hai chuyện trên đây lưu lại đời sau, cốt ý nêu lên đức thanh liêm. Hai ông quan này thanh liêm đến đỗi kẻ bất lương cũng phải động lòng.
0
Ăn mày xin vàng

Phú ông nọ giàu có nhứt trong vùng nhưng rất hà tiện. Bao nhiêu vàng bạc, ông giấu cất trong nhà, không đem bố thí cho một ai.
Hôm ấy, có lão ăn mày đến năn nỉ phú ông mà xin cho kỳ được một nén vàng. Phú ông quát tháo, sai người đuổi đi. Nhưng lão ăn mày vẫn lỳ gan trở lại xin vàng. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.
Rốt cuộc, phú ông cho lão nọ một nén rồi sai người đầy tớ đi theo rình.
Ban đầu lão ăn mày mừng rỡ, cười hí hởn. Nhưng đến khoảng đất trống, lão đặt nén vàng bên mình rồi ngủ khò. Tên đầy tớ bèn lén lại gần ăn cắp nén vàng nọ đem về cho chủ. Hôm sau, lão ăn mày trở lại nhà phú ông mà xin vàng như cũ.
Phú ông nói:
- Hôm qua tôi cho ông một nén, đâu rồi?
Ông lão ăn mày vuốt râu mà trả lời:
- Tôi để nó ở kế bên mình. Nhưng khi tôi vừa nhắm mắt thì nó cũng mất đi. Bởi vậy tôi trở lại.
Phú ông suy nghĩ về câu nói của ông lão ăn mày, hiểu rằng khi nhắm mắt chết đi thì sự nghiệp không còn gì hết. Ông bèn đem vàng bạc dùng vào việc phước thiện.
Gặp những người trọng tuổi, phú ông thuật lại chuyện lão ăn mày nọ. Ai nấy đoán rằng: không chừng lão ấy là Tiên trá hình để răn đời.
0
Con cọp và cậu học trò

Cậu học trò đi dạo chơi trên núi bỗng gặp một con cọp mắc bẫy.
Cọp ta vùng vẫy la hét, kêu cứu rằng:
- Tôi rủi lâm nạn, cậu làm ơn gỡ bẫy giùm. Tôi đền ơn xứng đáng, hằng ngày vác heo rừng, vác nai lại để cậu làm tiệc. Trong rừng này còn nhiều hột ngọc quý giá mà bấy lâu nay tôi chôn giấu dưới đất. Hễ được tự do thì tôi đào lên dâng cho cậu.
Cậu học trò nọ vui mừng, phần thì muốn ra tay nghĩa hiệp, phần thì muốn được của cải quý báu nên tháo bẫy ra giùm.
Cọp được tự do, đi khoan thai trước mặt cậu học trò rồi nghiêm nét mặt:.
- Tao đói bụng quá, phải ăn thịt mầy mới được.
Cậu học trò cãi lại. Cọp không nghe. Xảy đâu một ông Tiên hiện ra, tay cầm phất trần chỉ ngay con cọp mà nói:
- Không được hỗn láo, chuyện đâu còn đó.
Biết là Tiên giáng trần, cọp quỳ xuống mà nói:
- Thưa ngài, cậu học trò này phá tôi.
Ông Tiên nói:
- Bây giờ, cọp cứ yên lòng ở vào bẫy như cũ. Cậu học trò này phá rầy như thế nào, để ta xét trị tội nó.
Dứt lời, cọp đi trở vào bẫy. Ông Tiên gài bẫy lại rồi nói với cọp:
- Chuyện đâu còn có đó thì ta để đó. Mi ráng ở đây mà chịu chết.
Rồi ông nói với cậu học trò:
- Cậu có lòng nhân đạo. Từ rày sắp tới phải cẩn thận. Có lòng nhân mà cũng phải có trí mới được, đừng nhẹ dạ nghe lời kẻ ác tâm.
0
Tên trộm vịt

Tên nọ lười biếng, không chịu làm lụng nhưng có tật muốn ăn ngon. Hôm đó nó đi qua làng bên cạnh, thấy một con vịt mập đang đứng ngủ bên bờ ao. Ban ngày, nếu ăn cấp thì khó lòng chạy trốn được. Nghĩ vậy nó đến quỳ mọp trước mặt con vịt, hai tay chắp lại, miệng khấn vái lâm râm.
Chủ nhà lấy làm lạ, chạy ra hỏi:
- Chú kia? Tại sao quỳ lạy con vịt như vậy? Tội chết! Hay là chú điên rồi?
Tên nọ ngước mặt lên mà thưa:
- Nói giấu chi ông, hồi tối này tôi nằm chiêm bao thấy cha tôi về. Cha tôi nói bữa nay sẽ nhập hồn vô xác con vịt tại xóm này, bờ ao này. Vì tình phụ tử tôi tìm đến đây, quỳ trước con vịt này mà nhớ vong hồn cha.
Chủ nhà nghe nói, động lòng, bèn cho con vịt. Anh nọ mừng quýnh đem vịt trở về nhà. Chủ nhà nom theo, thấy anh ta bắt nước sôi cắt cổ, nhổ lông con vịt nọ.
Chủ nhà hỏi:
- Sao chú đành nhẫn tâm giết nó? Nó là hồn của cha chú, chú nói hồi nãy.
Tên nọ trả lời:
- Tôi làm phép, cầu hồn của cha tôi xuất ra khỏi xác của con vịt rồi. Bây giờ tôi ăn cái xác này.
Anh chủ nhà tức giận vô cùng, biết rằng mình mắc mưu tên bất lương.
0
Vương Thập xuống Âm phủ

Vương Thập là dân cùng đinh ở xứ Cao Uyên. Một hôm, anh ta vác hai bao muối, định đem ra chợ bán trốn thuế. Dọc đường gặp hai người bận áo nẹp vàng, Vương Thập hoảng hồn, ngỡ là bọn lính chận xét bắt, anh ta quỳ xuống xin tha tội.
Hai người kia nói:
- Ta không có quyền tha tội gì hết! Ta không phải quan làng. Ta là quỷ sứ ở Diêm đình trá hình lên đây tìm nhà ngươi bắt về.
Vương Thập xin phép về nhà thăm gia quyến một đôi ngày rồi chết cũng cam đành. Quỷ sứ nói:
- Không sao đâu. Mầy đi vài ngày rồi trở về chớ không phải chết luôn. Số là mấy cái cầu tiêu ở Âm phủ đều hôi thúi, tràn ngập sông Nại Hà. Diêm chúa muốn bắt những kẻ nào cờ bạc du côn, buôn muối lậu về làm xâu rửa vét sông ấy.
Quỷ sứ dắt Vương Thập đến trước mặt Diêm chúa.
Diêm chúa thét:
- Ai biểu bây bắt tên này. Nó nghèo túng buôn có hai bao muối quèn. Tụi bây phải xách hai bao muối đó về trả cho vợ con người ta.
Quỷ sứ tâu:
- Lỡ bắt tên này, xuống đây rồi thì làm sao trả lại được?
Diêm chúa suy nghĩ hồi lâu, ra lịnh cho Vương Thập làm đốc công nghĩa là đứng trên bờ mà chỉ huy bọn người làm xâu, khỏi phải lặn hụp dưới sông Nại Hà dơ dáy.
Vương Thập lãnh trách nhiệm, cầm gậy đứng trên bờ, canh chừng mấy tên làm xâu đang xúc đổ bao nhiêu đồ ô uế. Thấy tên nọ lười biếng ngồi ngủ gục, Vương Thập chạy tới, đánh hắn ta mấy gậy. Coi rõ lại thì hắn ta chính là quan giữ kho muối ở huyện mình. Vương Thập không nỡ nào hành hạ hắn ta nữa.
Đây nói về chuyện ở dương gian. Hôm nọ, vợ của Vương Thập thấy chồng mình đi biệt dạng nên tìm kiếm, gặp Vương Thập nằm thoi thóp ngoài đường. Người vợ đem thây chồng về nhà, không dám đem chôn vì xác nọ chưa chết thật, tim còn đập nhẹ. Ba ngày sau, xác hoàn hồn. Vương Thập thuật lại chuyện đi làm đốc công dưới Âm phủ rồi thở dài:
- Bậy quá? Bữa đó tôi lỡ tay đánh nhầm ông quan giữ kho muối ở huyện mình. Chắc ổng cũng trữ muối lậu! Nay mai ổng trả thù, mình chịu sao nổi.
Lúc đó, đằng kho muối, quan giữ kho cũng chết thoi thóp từ mấy ngày rày, nay sống dậy. Chừng gặp mặt Vương Thập tới thăm, quan nọ hoảng hồn chạy trốn, ngỡ là chiêm bao.
Sau khi phân trần, hai người thề không bán muối lậu hoặc trữ muối lậu nữa vì Diêm chúa đã phạt họ một lần rồi.
0
Anh em họ Trương

Họ Trương có hai anh em trai. Người anh thì giàu có, đứa em thì nghèo nàn.
Năm đó, trời đại hạn, ai nấy đói kém. Người em nóng ruột, muốn lại nhà anh để vay mượn lúa thóc, nhưng e ngại vì người chị dâu rất hà tiện. Sau rốt, người em nói với con:
- Con lại nhà bác Hai coi bác có giúp được con cái gì không?
Đứa con trở về, mặt mày buồn xo thuật lại: bác trai thì muốn cho, ngặt bác gái cản lại. Bác gái nói: “Mạnh ai nấy lo”.
Tháng sau, bọn cướp đến vây nhà người anh cả, tra tấn hai vợ chồng để hỏi của. Người em thứ muốn đi cứu anh nhưng vợ cản lại:
- Mạnh ai nấy lo. Hôm trước mình đói, vợ chồng ảnh đâu giúp mình?
Mặc dầu vậy, người em thứ cũng tới cứu được anh chị. Bọn cướp chạy tán loạn. Người anh cả nói với vợ:
- Chú có lòng đến cứu. Mình phải giúp lúa gạo.
Người vợ đáp:
- Chú giúp mình giải vây bọn cướp nhưng chú tới trễ quá. Mình vẫn bị tụi nó tra khảo như thường ơn nghĩa gì!
Vài tháng sau, nạn đói lại xảy ra. Người em thứ bèn sai đứa con mình đến vay mượn. Vợ chồng người anh chỉ bố thí cho vài nắm gạo. Buồn lòng, vợ chồng người em bèn nói với người anh: Tôi nghèo quá. Anh có thương thì mua cái nhà của tôi giùm cho tụi tui sống đỡ.
Người chị dâu mừng rỡ:
- Để tôi mua cho. Nhà của chú là đồ bỏ nhưng tôi mua để từ rày về sau chú không còn bén mảng xứ này, mà nhờ cậy tôi nữa.
Vợ chồng người em thứ bỏ xứ ra đi. Ở quê nhà năm đó bọn cướp tới vây bắt tra khảo người anh cả đến chết. Hay tin ấy, người em thứ trở về, nuôi đứa con của anh cả mình như con ruột.
Hồn người anh cả hiện về, báo mộng:
- Chú có lòng tốt. Từ rày về sau, ta phù hộ chú được giàu sang. Ta nào có lòng xấu. Trăm sự là do người chị dâu nọ nên mới đoạn tình cốt nhục như vầy!
0
«« « 2 3 4 5 6 » »»