SỰ KIỆN CHẤN ĐỘNG COVID-19 TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN CÁC XU HƯỚNG TRONG CUỐN 2030
Ngày 17 tháng 11 năm 2019, trường hợp COVID-19 đầu tiên, căn bệnh truyền nhiễm do một dòng coronavirus mới gây ra, đã được phát hiện ở tỉnh Vũ Hán, Trung Quốc. Đến giữa tháng 3, mầm bệnh đã lan ra hơn 100 quốc gia và Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố đây là tình huống khẩn cấp về đại dịch toàn cầu. Vào thời điểm viết bài này (tháng 3 năm 2020), phạm vi đại dịch vẫn chưa được xác định rõ, nhưng chắc chắn nó sẽ lây nhiễm cho hàng trăm nghìn người nếu không muốn nói là hàng triệu người trên thế giới. Hiện tại, tác động kinh khủng của nó đối với thị trường tài chính và dân số đã thúc đẩy các chính phủ phải điều chỉnh mạnh mẽ các chính sách tài khóa và tiền tệ để giảm thiểu thiệt hại. Khi cuốn sách này được xuất bản lần đầu tiên, tháng 8 năm 2020, có thể sẽ có một cuộc suy thoái kéo dài và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng mạnh trên toàn cầu. Như tôi đã nói trong phần giới thiệu, không thể biết tương lai ra sao, nhưng cuộc khủng hoảng COVID đã cho chúng ta cơ hội xem xét những hậu quả chấn động toàn cầu sẽ có thể tác động như thế nào đến các luận điểm trong cuốn sách này.
Đa số mọi người đều nghĩ rằng một cuộc khủng hoảng lớn sẽ phá vỡ các xu hướng đang diễn ra thành hai miền “trước” và “sau” rõ rệt. Coronavirus đang gây ra một cuộc khủng hoảng kinh khủng, nhưng trái với suy luận thông thường, rất có thể nó sẽ thúc đẩy các xu hướng đã được đề cập trong cuốn sách này diễn ra với cường độ và tốc độ cao hơn, chứ không phá vỡ chúng. Hãy xét đến vấn đề giảm tỷ lệ sinh đã thảo luận trong Chương 1. Có ba lý do tại sao cơn đại dịch sẽ càng làm gia tăng xu hướng đó. Đầu tiên, mọi người thường trì hoãn các quyết định quan trọng (như sinh con) trong hoàn cảnh bất trắc. Thứ hai, sinh con thì cần chuẩn bị tài chính và nguy cơ suy thoái kinh tế sẽ buộc nhiều người phải cân nhắc xem khi nào là thời điểm phù hợp để có con. Chúng ta đã chứng kiến hiện tượng này trong thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930 và sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Thứ ba, những sự kiện chấn động như chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh sẽ làm thay đổi các thói quen hàng ngày và những ưu tiên quan trọng đối với chúng ta, trong đó có cả quyết định sinh con.
Sự khác biệt giữa các thế hệ, như trong Chương 2, cũng là xu hướng tăng nhanh. Thời điểm viết bài này, coronavirus được coi là gây chết người đối với những người bị suy giảm miễn dịch, bao gồm người trên 60 tuổi và người có các bệnh nền. Loại virus này dường như cũng ảnh hưởng đến các nhóm tuổi theo cách khác nhau, và sẽ khó khăn hơn khi sự pha trộn thế hệ ngày nay quá phổ biến. Bên cạnh đó, nhìn về tương lai dân số và quá trình lão hóa, châu Âu và Đông Á có dân số già hơn, trong khi châu Phi và Nam Á đang bùng nổ trẻ em, tỷ lệ dân số thế giới di chuyển sang các quốc gia thuộc nhóm sau sẽ càng tăng nhanh nếu tỷ lệ tử vong toàn cầu vẫn tiếp tục với tốc độ chúng ta đang chứng kiến.
Cuộc khủng hoảng cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh xu hướng bất bình đẳng hiện tại: Cụ thể người lao động nghèo và người vô gia cư sẽ không có khả năng tiếp cận với điều kiện y tế tốt, trong khi hệ thống miễn dịch của họ có thể đã bị suy yếu do chế độ ăn uống nghèo nàn hoặc điều kiện sống thiếu thốn. Dù virus không phân biệt người bệnh theo thu nhập hay phạm vi bảo hiểm y tế, nhưng những người ở khu vực dưới cùng của kim tự tháp kinh tế - xã hội sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi hậu quả của việc lây nhiễm hơn.
Chúng ta cần tính đến những hậu quả kinh tế nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng này gây ra. Đại dịch xảy ra vào thời điểm tồi tệ nhất đối với nhiều quốc gia châu Âu vẫn đang trong giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Đặc biệt, Ý và Tây Ban Nha nằm trong số những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất, và với việc thiếu vốn nghiêm trọng trong khu vực công, họ sẽ không thể làm gì nhiều. Tầng lớp trung lưu châu Âu đã trì trệ hơn so với tầng lớp trung lưu tại các thị trường mới nổi, như đã thấy trong Chương 3, và xu hướng này sẽ chỉ tăng lên trong thời đại dịch. Đối với các quốc gia vốn đã bất ổn về chính trị hoặc dễ bị ảnh hưởng về kinh tế, như Iran, cuộc khủng hoảng sẽ là một thử thách khắc nghiệt đối với cấp lãnh đạo vì áp lực sẽ gia tăng từ mọi phía trong giới công chúng đang quá bất an.
Xã hội chúng ta thường được chuẩn bị để đối phó với những thiên tai thông thường như động đất hay bão, bằng các hướng dẫn để mọi người và công ty tuân theo. Cơ sở hạ tầng của chúng ta, như các tòa nhà thương mại và nhà ở định cư, được xây dựng để chống chọi với những thảm họa như vậy. Chúng ta có được trang bị tương tự để đối mặt với đại dịch không? Tổ chức Y tế Thế giới đã ghi nhận 1.307 đợt bùng phát đại dịch trong các khu vực từ năm 2011 đến năm 2017. Nhìn chung, cứ sau 40 đến 70 năm, thế giới lại phải đối mặt với một đại dịch toàn cầu: đại dịch hạch lần thứ ba năm 1855, đại dịch cúm năm 1918-1919, đại dịch AIDS khởi phát đầu những năm 1980, và bây giờ là COVID-19 năm 2020. Các trận động đất lớn cũng xảy ra trong khung thời gian tương tự: ví dụ như ở khu vực Vịnh San Francisco, hai trận động đất lớn gần đây nhất xảy ra vào năm 1906 và 1989. Tương tự việc chuẩn bị kế hoạch dự phòng cho thiên tai động đất, chúng ta nên xây dựng sẵn sàng các quy trình xử lý tình huống hiệu quả khi cơn dịch trở thành đại dịch cho cả hai khu vực nhà nước và tư nhân. Có sẵn sự chuẩn bị như vậy sẽ giúp hạn chế tình trạng hoảng loạn và bất an nơi công chúng. Tất nhiên, chúng ta sẽ cần chuẩn bị một hệ thống y tế đầy đủ nhân viên với mọi trang thiết bị để xử lý cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng và nâng cấp mở rộng hoạt động theo đó.
Bên cạnh các chính sách nhà nước, các cá nhân cũng có trách nhiệm góp phần giải quyết khó khăn như giãn cách xã hội và “ở yên tại chỗ” để hạn chế sự lây lan ra cộng đồng, nhất là đối với các khu vực thành phố đông dân cư (là nơi mà hầu hết mọi người đều đổ dồn về vào năm 2030 và sau đó, như chúng ta đã thấy trong Chương 5). Điều này sẽ làm gia tăng một số xu hướng, như: mua sắm trực tuyến (Amazon, cảm thấy nhu cầu tăng vọt, đã liên tục tuyển dụng và tăng lương làm thêm giờ cho tất cả nhân viên kho hàng), giao tiếp trực tuyến (từ làm việc từ xa cho đến duy trì kết nối xã hội, gần như mọi người đã chuyển sang sử dụng các dịch vụ viễn thông như Zoom hay WhatsApp để giữ liên lạc) và giải trí kỹ thuật số (các nhà sản xuất phim, sách và âm nhạc sẽ buộc phải nhắm đến khách hàng trực tuyến thay vì các cơ sở bán lẻ truyền thống). Nền kinh tế chia sẻ, vốn đã là một lực lượng đột biến, sẽ còn phát triển nhanh hơn nữa trong cuộc khủng hoảng; những ngành chịu hậu quả (như vận tải) và những ngành phát triển bùng nổ (như ứng dụng kỹ thuật số) sẽ có tác động lâu dài đến cách chúng ta sống, làm việc và tương tác với nhau và với nền kinh tế trong tương lai gần. Thêm vào đó là cuộc cách mạng công nghệ bùng lên, mà tôi so sánh như vụ nổ kỷ Cambri được nhắc đến trong Chương 6. Ví dụ như máy in 3D đã được sử dụng để sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như máy thở và mặt nạ thở - cho thấy công nghệ này sẽ nhanh chóng tham gia vào mặt trận tiền tuyến của xã hội.
Quá trình tất cả những xu thế này tăng tốc và thay đổi dưới sự tác động của đại dịch coronavirus đang lộ diện ngay trước mắt chúng ta. Hầu hết các xu hướng - từ giảm tỷ lệ sinh, thay đổi mối tương quan giữa các thế hệ, cho đến ứng dụng công nghệ - sẽ càng tăng nhanh do đại dịch. Nhưng câu hỏi mấu chốt chúng ta cần hỏi bản thân là liệu những biến động như COVID-19 (hay các cuộc khủng hoảng bất ngờ khác trong tương lai) sẽ giúp chúng ta chuẩn bị tốt hơn hay khiến chúng ta không thể nhìn thấy những thay đổi đa chiều sắp đạt đến đỉnh bùng phát trong thập niên tới, mà tôi đã trình bày trong cuốn sách này?