Bí Mật Của Cha Brown

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tội Ác Tồi Tệ Nhất Trên Đời

❊ ❊ ❊

Cha Brown đang thơ thẩn bước qua một phòng trưng bày tranh với vẻ mặt cho thấy ông không đến đây để ngắm tranh. Quả thực, ông chẳng muốn ngắm tranh làm gì, dù bản thân ông vốn không ghét hội họa cho lắm. Không phải vì những bức tranh theo trường phái cực kỳ hiện đại kia có gì đồi phong suối tục hay bất chính. Phải là một người có tâm hồn dễ bốc lửa lắm mới bị khơi gợi những đam mê ngoại đạo trước những vòng xoắn đứt đoạn, những hình nón lộn ngược và những khối trụ vỡ vụn mà nghệ thuật của tương lai dùng để truyền cảm hứng hoặc đe dọa nhân loại. Sự thật là cha Brown đang tìm một người bạn trẻ đã hẹn gặp ông ở cái chốn có phần lạc lõng này, bởi bản thân cô lại có xu hướng chuộng phong cách vị lai hơn. Người bạn trẻ ấy đồng thời cũng là một người họ hàng trẻ tuổi; một trong số ít họ hàng mà ông có. Tên cô là Elizabeth Fane, thường gọi là Betty, con gái của một người chị đã kết hôn với dòng dõi quý tộc điền chủ thanh tao nhưng sa sút. Vì người cha vừa nghèo khó lại đã qua đời, cha Brown vừa đóng vai trò người bảo hộ kiêm linh mục, lại vừa là người giám hộ kiêm người bác trong một chừng mực nào đó. Tuy nhiên, vào lúc này, ông chỉ đang đưa mắt nhìn quanh các nhóm người trong phòng trưng bày mà chẳng thấy bóng dáng mái tóc nâu quen thuộc cùng gương mặt rạng rỡ của cô cháu gái đâu. Dù vậy, ông vẫn bắt gặp vài người quen và kha khá người lạ, trong đó có dăm kẻ mà đứng từ góc độ thuần túy thẩm mỹ, ông chẳng mộng muội gì được làm quen.

Trong số những kẻ xa lạ ấy, người duy nhất khơi gợi được sự tò mò của vị linh mục là một thanh niên nhanh nhẹn, dẻo dai, ăn vận vô cùng lịch sự và trông có vẻ giống người ngoại quốc. Sở dĩ vậy là bởi dù bộ râu của anh ta được tỉa tót hình chiếc thuổng giống như người Tây Ban Nha thời xưa, mái tóc sẫm màu lại được cắt ngắn cũn cỡn đến mức trông chẳng khác nào một chiếc mũ sọ đen chít chặt vào đầu. Còn trong số những kẻ mà vị linh mục hoàn toàn không muốn làm quen cho lắm, nổi bật lên là một người phụ nữ mang vẻ ngoài hách dịch, diện chiếc váy đỏ chói lọi, với mái tóc vàng rực bờm xờm quá dài để gọi là tóc ngắn tém, nhưng lại quá xõa tuột để có thể gọi bằng cái tên nào khác. Cô ta sở hữu gương mặt bặm trợn, có phần nặng nề với làn da nhợt nhạt, thiếu sức sống, và hễ nhìn ai là lại giở cái vẻ quyến rũ chết người của loài rắn basilisk. Lẽo đẽo theo sau cô ta là một người đàn ông thấp đậm với bộ râu xồm xoàm, gương mặt rất rộng cùng đôi mắt híp dài lim dim như đang buồn ngủ. Biểu cảm trên mặt hắn ta ra điều phúc hậu, rạng rỡ, dẫu rằng chỉ mới tỉnh ngủ có một nửa; nhưng cái cổ rụt như cổ bò khi nhìn từ phía sau lại phảng phất nét hung bạo.

Cha Brown đăm đăm nhìn người phụ nữ, thầm nghĩ rằng sự xuất hiện và bước tới của cô cháu gái có lẽ sẽ tạo nên một sự đối lập dễ chịu hơn nhiều. Thế nhưng vì lý do gì đó, ông vẫn cứ tiếp tục dán mắt vào đấy, cho đến tận khi ông cảm thấy sự xuất hiện của bất kỳ ai cũng sẽ là một sự tương phản dễ chịu. Thế nên, khi nghe tiếng gọi tên mình và nhìn thấy một gương mặt quen thuộc khác, ông cảm thấy vừa nhẹ nhõm phần nào, lại vừa giật mình thon thót cứ như vừa tỉnh giấc.

Đó là gương mặt sắc sảo nhưng không kém phần thân thiện của một luật sư tên là Granby. Những lọn tóc điểm bạc của ông ta trông hệt như thứ phấn rác rắc từ mái tóc giả thời xưa, bởi chúng chẳng hề ăn nhập chút nào với sự nhanh nhẹn, tràn trề sinh lực của tuổi trẻ trong từng chuyển động. Ông ta thuộc mẫu người ở khu tài chính cứ chạy long song như học sinh trong các văn phòng của mình. Dĩ nhiên ông ta không thể chạy tung tăng khắp phòng trưng bày tranh thời thượng theo cái kiểu đó được; nhưng trông ông ta cứ như đang muốn làm thế, đoạn thấp thỏm liếc sang trái sang phải để tìm kiếm một bóng quen.

Tôi không ngờ anh cũng là người sành nghệ thuật hiện đại đấy, cha Brown mỉm cười lên tiếng.

Tôi cũng chẳng ngờ là anh lại thích loại này, người kia đáp trả. Tôi đến đây để bắt một kẻ.

Chúc anh săn bắn thuận lợi nhé, vị linh mục đáp. Tôi cũng đang làm chuyện tương tự đây.

Gã luật sư hừ mũi: Hắn bảo đang ghé qua đây để đi tiếp sang lục địa, rồi hỏi liệu tôi có thể gặp hắn ở cái chốn quái gở này không. Hắn ngẫm nghĩ một thoáng rồi bỗng cộc lỏn nói: Này, tôi biết anh là người giữ được bí mật. Anh có biết Sir John Musgrave không?

Không, vị linh mục đáp; nhưng tôi nghĩ chắc ông ta chẳng phải là bí mật gì sất, dẫu người ta vẫn đồn rằng ông ta ẩn dật trong một lâu đài. Chẳng phải đó là lão già mà người ta hay truyền tai nhau đủ thứ chuyện sao — nào là chuyện ông ta sống trong một ngọn tháp có cả cửa sập lẫn cầu kéo thực sự, và tuyệt nhiên chẳng bao giờ chịu bước chân ra khỏi thời kỳ Trung Cổ? Lão là khách hàng của anh à?

Không, Granby đáp ngắn gọn: chính con trai lão, Đại úy Musgrave, mới là người tìm đến chúng tôi. Nhưng lão già kia đóng vai trò rất lớn trong vụ này, ngặt nỗi tôi lại chẳng biết gì về lão; vấn đề là ở đó. Này, chuyện này là bí mật đấy, như tôi đã nói, nhưng tôi có thể tin tưởng anh. Hắn hạ thấp giọng và kéo bạn mình sang một phòng trưng bày bên cạnh — nơi trưng bày các tác phẩm mô tả những sự vật thực tế và tương đối vắng vẻ.

Cậu thanh niên Musgrave này, hắn nói, muốn vay chúng tôi một khoản tiền lớn bằng cách thế chấp quyền thừa kế tài sản của người cha già ở Northumberland. Lão già đó đã qua tuổi bảy mươi từ lâu và có lẽ cũng sẽ... tạ thế lúc nào không hay; nhưng ngặt nỗi còn cái khoản thừa kế thì tính sao đây? Chuyện gì sẽ xảy ra sau đó với tiền bạc, lâu đài, cửa sập cùng đủ thứ của cải của lão? Đó là một cơ ngơi gia tộc rất bề thế và đến nay vẫn còn giá trị lớn, nhưng ngặt một nỗi là nó lại không bị ràng buộc bởi luật thừa kế bất phân. Thế nên anh hiểu chúng tôi đang đứng ở hoàn cảnh nào rồi đấy. Vấn đề là, như nhân vật trong truyện của Dickens đã nói: liệu lão già ấy có dễ tính hay không?

Nếu lão dễ tính với con trai mình thì anh sẽ càng thấy mọi chuyện dễ thở hơn, cha Brown nhận xét. Không, e rằng tôi không giúp gì được cho anh rồi. Tôi chưa từng gặp Sir John Musgrave, và tôi hiểu rằng ngày nay rất ít người có cơ hội gặp mặt ông ta. Nhưng xem ra các anh có quyền đòi hỏi một câu trả lời rõ ràng về vấn đề đó trước khi cho vị công tử bột kia vay tiền của hãng luật nhà anh. Lão có phải kiểu người sẵn sàng truất quyền thừa kế của con cái chỉ vì một xu không?

Chà, tôi vẫn hoài nghi lắm, người kia đáp. Cậu ta rất nổi tiếng, tài năng và là một nhân vật lớn trong giới thượng lưu; nhưng cậu ta hay ra nước ngoài và từng làm nhà báo.

Ồ, cha Brown nói, đó đâu phải là tội ác. Ít ra thì không phải lúc nào cũng vậy.

Vớ vẩn! Granby cộc cằn ngắt lời. Anh thừa biết ý tôi là gì mà — cậu ta vốn là một kẻ lang thang rày đây mai đó, từng làm nhà báo, diễn giả, diễn viên, đủ mọi thứ nghề trên đời. Tôi phải biết chắc vị thế của mình đang ở đâu chứ... Kia rồi, chính là hắn.

Và gã luật sư, người nãy giờ vẫn đang nện bước đầy số nóng ruột khắp căn phòng vắng, bỗng xoay người lao vút vào căn phòng đông đúc hơn. Hắn đang chạy về phía gã thanh niên cao ráo, ăn vận bảnh bao với mái tóc cắt ngắn và bộ râu mang kiểu cách ngoại quốc.

Cả hai cùng bước đi, vừa đi vừa trò chuyện, và một lúc lâu sau, cha Brown vẫn dõi theo họ bằng đôi mắt nheo lại vì cận thị. Dù vậy, tầm nhìn của ông đã bị phân tâm và kéo giật trở lại bởi sự xuất hiện đầy hớt hải, thậm chí có phần ồn ào của cô cháu gái Betty. Trái với dự đoán của người bác, cô kéo ông trở lại căn phòng vắng vẻ lúc nãy và ấn ông ngồi xuống chiếc ghế nằm trơ trọi giữa biển sàn gỗ.

Con có chuyện phải kể cho bác nghe đây, con bé nói. Chuyện ngớ ngẩn đến mức chẳng ai khác có thể hiểu nổi.

Cháu làm bác choáng váng rồi đấy, cha Brown nói. Có phải chuyện về cái mối làm ăn mà mẹ cháu bắt đầu kể cho bác nghe không? Chuyện đính ước này nọ ấy mà; chứ không phải thứ mà sử gia quân sự gọi là một cuộc giao tranh tổng lực đâu nhỉ?

Bác thừa biết, con bé nói, rang mẹ muốn con đính hôn với Đại úy Musgrave mà.

Bác không biết đâu, cha Brown đáp với vẻ nhẫn nhịn; nhưng có vẻ như Đại úy Musgrave đang là một đề tài thời thượng đấy chứ.

Dĩ nhiên nhà mình rất nghèo, con bé nói, và nói chuyện đó chẳng thay đổi được gì thì cũng bằng thừa.

Thế cháu có muốn kết hôn với cậu ta không? cha Brown hỏi, nhìn cô qua đôi mắt nheo lại.

Cô bé chau mày nhìn xuống sàn nhà và đáp bằng giọng trầm hơn:

Con tưởng là có. Ít ra thì con nghĩ là con tưởng vậy. Nhưng con vừa mới trải qua một cú sốc.

Thế thì kể cho bác nghe toàn bộ sự việc xem nào.

Con nghe thấy tiếng cười của cậu ta, cô nói.

Đó là một kỹ năng xã giao tuyệt vời đấy chứ, ông đáp.

Bác chẳng hiểu gì cả, cô gái nói. Nó chẳng mang chút hơi hướng xã giao nào sất. Vấn đề nằm ở chỗ đó đấy — nó hoàn toàn không giống tiếng cười xã giao.

Cô khựng lại một lát, đoạn quả quyết nói tiếp:

Con đến đây từ rất sớm và thấy cậu ta ngồi thui thủi một mình ở giữa căn phòng trưng bày những bức tranh mới — lúc đó phòng hoàn toàn trống không. Cậu ta chẳng hề hay biết có con hay bất cứ ai ở gần đó; cậu ta ngồi một mình, và rồi cậu ta cười.

Chà, cũng chẳng có gì lạ, cha Brown nói. Bác không phải là nhà phê bình nghệ thuật, nhưng xét theo tổng thể thì...

Ôi, bác chẳng hiểu gì sất, cô nói với vẻ gần như giận dỗi. Chẳng giống thế một tí nào. Cậu ta không hề ngắm tranh. Cậu ta ngước ngược lên trần nhà; nhưng đôi mắt lại như đang hướng vào bên trong, và tiếng cười của cậu ta khiến máu trong người con đông cứng lại.

Vị linh mục đã đứng dậy và đang rảo bước quanh phòng với hai tay chắp sau lưng. Cháu không được phép vội vàng trong một trường hợp thế này, ông mở lời. Có hai kiểu đàn ông — nhưng ta khó mà bàn về cậu ta lúc này được, vì cậu ta đến kìa.

Đại úy Musgrave bước nhanh vào phòng và đảo mắt chào mọi người bằng một nụ cười. Granby, viên luật sư, đi sát phía sau, và gương mặt mang dáng vẻ nghề nghiệp của ông ta lúc này đã xuất hiện một biểu cảm mới đầy nhẹ nhõm và thỏa mãn.

Tôi phải xin lỗi vì tất cả những gì mình đã nói về Đại úy, ông ta nói với vị linh mục khi họ cùng dạt về phía cửa ra vào. Cậu ấy là một người vô cùng thức thời và hoàn toàn hiểu rõ quan điểm của tôi. Chính cậu ấy đã hỏi tôi tại sao không lên phía bắc để gặp mặt người cha già; tôi có thể nghe chính miệng lão ông kể về tình hình cơ ngơi thừa kế ra sao. Chà, chẳng còn cách giải quyết nào sòng phẳng hơn thế nữa phải không? Nhưng vì quá sốt sắng muốn hoàn tất mọi chuyện nên cậu ấy còn ngỏ ý muốn đón tôi lên chiếc xe hơi riêng của mình để đến Musgrave Moss. Đó là tên của điền trang. Tôi liền đề nghị rằng, nếu cậu ấy đã nhã ý như vậy, chi bằng chúng tôi cùng đi chung; và chúng tôi sẽ khởi hành vào sáng mai.

Khi họ đang trò chuyện, Betty và viên Đại úy cùng bước qua khung cửa, vô tình tạo nên một khung tranh mà dẫu có đa sầu đa cảm đến đâu, một số người vẫn sẽ thích ngắm nhìn hơn là mấy cái hình nón với hình trụ. Dù có những điểm tương đồng nào khác đi nữa, cả hai đều vô cùng tuấn tú xinh đẹp; và viên luật sư đã định lên tiếng bình luận về điều đó thì bức tranh bất ngờ biến đổi.

Đại úy James Musgrave nhìn ra phòng trưng bày chính, và đôi mắt đang cười ngập tràn đắc thắng của hắn bỗng khựng lại, dán chặt vào một thứ gì đó khiến con người hắn như biến đổi từ đầu đến chân. Cha Brown ngoảnh lại như thể đang đón nhận chiếc bóng lướt tới của một điềm báo trước; và ông nhìn thấy gương mặt xám xịt, sa sầm gần như tái mét của người đàn bà to lớn mặc váy đỏ, bên dưới mái tóc vàng rực bờm xờm nhưm bờm sư tử. Ả ta luôn đứng với tấm lưng hơi gù, hệt như một con bò tảng đang cúi đầu hạ sừng, và vẻ biểu cảm trên gương mặt nhợt nhạt, bủng beo của ả ta đầy vẻ áp bức, thôi miên đến mức họ suýt quên mất sự hiện diện của gã đàn ông thấp bé với bộ râu xồm xoàm đang đứng bên cạnh.

Musgrave bước thẳng vào giữa phòng về phía ả, hệt như một cỗ tượng sáp được ăn vận lộng lẫy đang được lên dây cót để cất bước. Hắn thì thầm vài câu với ả mà chẳng ai nghe rõ. Ả không đáp lời; nhưng cả hai quay người bước đi cùng nhau, rảo dọc theo căn phòng trưng bày dài như thể đang tranh luận điều gì, còn gã đàn ông thấp thỏm, cổ rụt như cổ bò có bộ râu quai nón thì lẽo đẽo bám theo sau hệt như một tên tiểu đồng yêu tinh kỳ quái.

Lạy Chúa! cha Brown lẩm bẩm, chau mày nhìn theo bóng họ. Quái lạ, mụ đàn bà đó là ai thế?

Chẳng phải bạn hiền gì của tôi cả, ơn Chúa, Granby đáp với vẻ cợt nhả lạnh lùng. Trông có vẻ như việc tạt ngang tạt ngửa tán tỉnh ả ta có thể kết thúc trong thảm kịch đấy nhỉ?

Tôi không nghĩ cậu ta đang tán tỉnh ả đâu, cha Brown nói.

Ngay khi ông vừa dứt lời, nhóm người ấy đã quay đầu ở cuối phòng trưng bày và tản ra, còn Đại úy Musgrave thì sải những bước gấp gáp quay lại chỗ họ.

Này, hắn cất lời, với giọng điệu tự nhiên như không, dường như sắc mặt đã có phần thay đổi. Tôi thực sự xin lỗi, anh Granby, nhưng tôi chợt nhận ra mình không thể cùng anh đi lên phía bắc vào ngày mai được. Dĩ nhiên, anh cứ việc dùng chiếc xe hơi ấy. Cứ tự nhiên nhé; tôi sẽ không cần dùng đến nó đâu. Tôi—tôi có việc phải ở lại Luân Đôn vài ngày. Cứ rủ thêm một người bạn đi cùng nếu anh thích.

Bạn tôi, cha Brown... viên luật sư bắt đầu lên tiếng.

Nếu Đại úy đã thực sự nhã ý như vậy, cha Brown nghiêm túc nói. Tôi xin mạn phép giải thích rằng tôi cũng có một số quyền lợi nhất định trong cuộc điều tra của anh Granby, và sẽ là một sự giải tỏa lớn cho tâm trí tôi nếu được phép cùng đi.

Và đó là lý do vì sao ngày hôm sau, một chiếc xe hơi vô cùng sang trọng cùng tài xế cũng bảnh bao không kém đã phóng vút về hướng bắc qua những hoang mạc Yorkshire, chở theo cái "gói trùm" có phần lạc lõng gồm một vị linh mục trông giống hệt một bọc vải đen, và một gã luật sư có thói quen chạy bộ cẩng cẩng thay vì đua tốc độ trên mấy cỗ máy bốn bánh của kẻ khác.

Họ dừng chân nghỉ ngơi rất thoải mái tại một trong những thung lũng lớn ở Tây Riding, ăn tối và ngủ lại tại một quán trọ tiện nghi, rồi khởi hành từ sáng sớm ngày hôm sau để xuôi dọc theo bờ biển Northumberland cho đến khi chạm tới một vùng đất chằng chịt những cồn cát và đồng cỏ biển hoang vu. Nơi nào đó nằm sâu trong tim vùng đất ấy chính là tòa lâu đài biên giới cổ kính — một di tích độc đáo và đầy bí mật về những cuộc chiến tranh biên giới thuở xưa. Cuối cùng họ cũng tìm ra nó bằng cách đi theo con đường mòn chạy dọc theo một nhánh biển đâm sâu vào đất liền, rồi cuối cùng uốn lượn thành một thứ kênh đào thô sơ kết thúc ngay tại con hào bao quanh lâu đài. Lâu đài thực sự là một pháo đài đúng nghĩa, với kiến trúc vuông vức, có tường xומ trổ hoa thị mà người Norman đã cho xây dựng ở khắp mọi nơi từ Galilee cho đến tận rặng Grampians. Nơi đây quả thực có cả cửa sập lẫn cầu kéo, và họ đã được nhắc nhở một cách đầy thực tế về điều đó thông qua một sự cố khiến việc vào trong bị trì hoãn.

Họ lội giữa những cụm cỏ dại xơ xác và gai góc để ra đến bờ hào. Con hào hiện lên như một dải lụa đen ngòm điểm xuyết những chiếc lá mục và lớp váng bám trên mặt, hệt như gỗ mun được cẩn hoa văn bằng vàng. Chỉ cách dải đen ấy tầm một hai thước là bờ cỏ bên kia cùng những trụ đá lớn của cổng thành. Nhưng có vẻ như chốn thâm sơn cùng cốc này đã từ lâu không có người lui tới từ bên ngoài, thế nên khi Granby sốt ruột cất giọng gọi lớn qua bên kia với những bóng người mờ ảo ẩn sau cánh cửa sập, họ dường như gặp rất nhiều khó khăn chỉ để hạ tấm cầu kéo gỉ sét xuống. Chiếc cầu bắt đầu dịch chuyển, lật nhào như một ngọn tháp đổ sập ngay trên đầu họ, rồi khựng lại giữa không trung ở một góc độ đầy đe dọa.

Granby sốt ruột nhảy cẫng lên bên bờ sông, gọi với sang bạn đồng hành:

Ồ, tôi chịu thấu mấy cái kiểu chậm như rùa bò này rồi! Sao nào, thà nhảy qua còn nhanh hơn ấy chứ.

Và với bản tính bốc đồng đặc trưng, hắn nhảy thật, hạ cánh với một cú lảo đảo nhẹ nhưng an toàn ở bờ bên trong. Đôi chân ngắn ngủn của cha Brown vốn chẳng thích hợp cho việc nhảy nhót. Nhưng tính khí của ông lại hợp với việc ngã tõm xuống vũng nước bùn lầy hơn hầu hết mọi người. Nhờ sự lanh lẹ của người bạn đồng hành, ông đã tránh được việc rơi xuống quá sâu. Nhưng khi đang được kéo lên bờ cỏ trơn trượt ngập bùn, ông bỗng khựng lại với cái đầu cúi gằm, đăm đăm nhìn vào một điểm cụ thể trên sườn dốc cỏ.

Anh đang hái hoa bắt bướm đấy à? Granby cáu kỉnh hỏi. Chúng ta không có thời gian cho anh sưu tầm thực vật quý hiếm sau màn biểu diễn lặn ngụp giữa những kỳ quan sâu thẳm vừa rồi đâu nhé. Nhanh lên, dù có dính bùn hay không, chúng ta cũng phải trình diện trước mặt vị nam tước thôi.

Khi đã bước vào bên trong lâu đài, họ được đón tiếp khá nhã nhặn bởi một người đầy tớ lớn tuổi, cũng là người duy nhất xuất hiện trong tầm mắt, và sau khi trình bày mục đích chuyến đi, họ được dẫn vào một căn phòng dài lát gỗ sồi có những ô cửa sổ kiểu cách cổ xưa. Binh khí từ nhiều thế kỷ khác nhau được treo đối xứng trên những bức tường tối màu, và một bộ giáp trụ nguyên vẹn từ thế kỷ thứ mười bốn đứng sừng sững như lính gác bên cạnh lò sưởi lớn. Ở một căn phòng dài khác phía bên kia, qua cánh cửa khép hờ, người ta có thể thoáng thấy những gam màu trầm của các dãy chân dung gia tộc.

Tôi cứ có cảm giác mình đang bước vào một cuốn tiểu thuyết hơn là một ngôi nhà, viên luật sư nói. Tôi chẳng thể ngờ lại có người thực sự duy trì phong cách 'Những bí ẩn của Udolpho' theo cách này đấy.

Vâng; cụ già quả thực rất kiên định với nỗi niềm hoài cổ của mình, vị linh mục đáp; và những thứ này không phải đồ giả đâu nhé. Chúng không phải do mấy kẻ nghĩ rằng toàn bộ người thời trung cổ đều sống cùng một thời điểm làm ra đâu. Đôi khi người ta chắp vá các bộ giáp từ những mảnh khác nhau; nhưng bộ giáp đó che kín toàn bộ một con người, và che rất hoàn hảo. Anh thấy đấy, đó là loại giáp đấu thương thuộc đời hậu kỳ.

Tôi nghĩ lão là một kiểu chủ nhà hậu kỳ đúng nghĩa, nếu cứ đà trò chuyện này, Granby cằn nhằn. Lão bắt chúng ta chờ mất cả tiếng đồng hồ rồi đấy.

Anh phải chuẩn bị tinh thần cho việc mọi thứ đều diễn ra chậm chạp ở một nơi thế này chứ, cha Brown nói. Tôi nghĩ lão tiếp đón chúng ta thế này là tử tế lắm rồi: hai kẻ hoàn toàn xa lạ xông đến hỏi những câu chuyện cực kỳ riêng tư cơ mà.

Và quả thực, khi người chủ nhân của ngôi nhà xuất hiện, họ chẳng có lý do gì để phàn nàn về cách đón tiếp; ngược lại, họ bắt đầu nhận ra một nét gì đó chân thực trong truyền thống gia phong và phép ứng xử — những thứ vẫn giữ được phẩm giá vốn có một cách tự nhiên giữa chốn hoang dã lạnh lẽo ấy, sau ngần ấy năm tháng sống ẩn dật và buồn tẻ. Vị nam tước trông không hề ngạc nhiên hay lúng túng trước chuyến viếng thăm hiếm hoi này; dẫu họ ngầm đoán rằng có lẽ đã từ lâu lắm rồi — tính bằng cả phần tư đời người — lão chưa từng tiếp đón một vị khách lạ nào trong nhà, nhưng lão vẫn hành xử cứ như vừa mới tiễn đưa những bà bá tước ra về cách đó một thoáng. Lão không hề tỏ ra rụt rè hay thiếu kiên nhẫn khi họ chạm đến vấn đề cực kỳ riêng tư của chuyến đi; sau một hồi trầm ngâm khoan thai, lão dường như thừa nhận sự tò mò của họ là hoàn toàn có cơ sở trong hoàn cảnh này. Lão là một cụ ông gầy gò, sắc sảo với đôi lông mày đen và chiếc cằm dài, và dù mái tóc được uốn xoăn cẩn thận mà lão đang đội chắc chắn là tóc giả, lão lại đủ khôn ngoan để chọn mái tóc giả màu hoa râm của một người cao tuổi.

Liên quan đến vấn đề mà các anh đang quan tâm trực tiếp, lão nói, câu trả lời thực ra vô cùng đơn giản. Quả thực tôi có dự định sẽ trao lại toàn bộ tài sản của mình cho con trai tôi, giống như cha tôi đã trao lại cho tôi; và không gì — tôi xin nhấn mạnh là không gì — có thể khiến tôi thay đổi quyết định đó.

Tôi vô cùng biết ơn vì thông tin này, viên luật sư đáp. Nhưng sự nhã nhặn của ngài lại khích lệ tôi nói thẳng rằng ngài đang khẳng định có phần quá quả quyết. Tôi không có ý cho rằng con trai ngài có khả năng làm điều gì đó khiến ngài nghi ngờ tư cách của cậu ta đối với trọng trách này. Dù vậy, cậu ta vẫn có thể...

Chính xác, Sir John Musgrave lạnh lùng ngắt lời, cậu ta có thể. Dùng từ 'có thể' ở đây xem ra còn hơi nhẹ nhàng đấy. Các anh có phiền bước sang căn phòng bên cạnh với tôi một lát không.

Lão dẫn họ vào phòng trưng bày phía trong mà họ đã thoáng thấy lúc nãy, rồi trang nghiêm dừng bước trước một dãy những bức chân dung sẫm màu đang rủ xuống.

Đây là Sir Roger Musgrave, lão nói, chỉ tay vào một nhân vật mặt dài đội tóc giả đen. Hắn là một trong những kẻ dối trá và đốn mạt nhất vào cái thời gian trá dưới triều William xứ Orange, một kẻ phản quốc đáng mặt hai đời vua và suýt chút nữa là kẻ sát nhân hại chết hai người vợ. Kìa là cha hắn, Sir Robert, một lão kỵ sĩ bảo hoàng hoàn toàn chân chính. Kìa nữa là con trai hắn, Sir James, một trong những tử đạo Jacobite cao quý nhất và là một trong những người đầu tiên tìm cách chuộc lỗi với Giáo hội cùng người nghèo. Nào, việc tước hiệu, quyền lực và uy quyền của dòng họ Musgrave được truyền từ người tốt này sang người tốt khác qua khoảng cách của một kẻ tồi tệ có thực sự quan trọng không? Edward I cai trị nước Anh rất tốt. Edward III phủ lên nước Anh vinh quang. Thế nhưng vinh quang thứ hai ấy lại xuất phát từ vinh quang đầu tiên thông qua sự đồi bại và ngu ngốc của Edward II — kẻ từng bợ đỡ Gaveston và bỏ chạy trước Bruce. Hãy tin tôi đi, ông Granby, sự vĩ đại của một gia tộc và lịch sử huy hoàng không chỉ dừng lại ở những cá nhân vô tình gánh vác nó, dẫu cho họ có không làm rạng danh nó đi chăng nữa. Di sản của chúng ta được truyền từ đời cha sang đời con, và sẽ tiếp tục được duy trì như thế từ đời cha sang đời con. Các anh có thể yên tâm, thưa các quý ông, và có thể trấn an con trai tôi rằng tôi sẽ không để lại tài sản của mình cho một trại cứu trợ mèo hoang đâu. Musgrave sẽ phải trao lại cho Musgrave cho đến tận ngày tận thế.

Vâng, cha Brown trầm ngâm nói; tôi hiểu ý ngài rồi.

Và chúng tôi sẽ vô cùng vui mừng, viên luật sư tiếp lời, khi truyền đạt lại một sự đảm bảo tốt đẹp nhường ấy đến con trai ngài.

Các anh cứ việc truyền đạt điều đó, chủ nhà trang trọng đáp. Nó chắc chắn sẽ nhận được lâu đài, tước hiệu, đất đai và tiền bạc trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Chỉ có một điều bổ sung nhỏ và thuần túy mang tính cá nhân cho thỏa thuận đó thôi. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào đi nữa, tôi sẽ không bao giờ thèm mở lời với nó chừng nào tôi còn sống.

Viên luật sư vẫn giữ nguyên tư thế kính cẩn ấy, nhưng lúc này ánh mắt anh ta lại đang trân trân đầy kinh ngạc.

Ơ hay, thế quái nào mà cậu ta lại...

Tôi là một quý ông tư gia, Musgrave nói, đồng thời là người gìn giữ một di sản vĩ đại. Và con trai tôi đã làm một chuyện khủng khiếp đến mức nó không còn xứng đáng làm — tôi chưa nói đến việc làm một quý ông — mà thậm chí là một con người nữa. Đó là tội ác tồi tệ nhất trên đời. Các anh có nhớ Douglas đã nói gì khi Marmion, vị khách của ông ta, ngỏ ý bắt tay không?

Có, cha Brown đáp.

'Lâu đài của ta chỉ thuộc về nhà vua, từ đỉnh tháp cho đến nền móng,' Musgrave đọc. 'Bàn tay của Douglas là của riêng ngài ấy.'

Lão quay người hướng về phía căn phòng bên kia và dẫn những vị khách đang ngẩn ngơ của mình trở lại đó.

Tôi hy vọng các anh sẽ dùng chút ít giải khát, lão cất giọng điềm đạm. Nếu các anh còn băn khoăn về lịch trình di chuyển của mình, tôi rất vinh hạnh được mời các anh lưu lại lâu đài này qua đêm.

Cảm ơn ngài, Sir John, vị linh mục cất giọng đều đều, nhưng tôi nghĩ chúng ta nên rời đi thì hơn.

Tôi sẽ cho hạ cầu xuống ngay lập tức, chủ nhà nói; và chỉ một thoáng sau, tiếng cót két của cỗ máy khổng lồ cổ lỗ sĩ đến kỳ cục ấy vang lên khắp lâu đài hệt như tiếng nghiền của cối xay. Dù gỉ sét là thế, nhưng lần này nó đã hoạt động trơn tru, và họ lại thấy mình đứng trên thảm cỏ phía bên kia con hào.

Granby bỗng rùng mình một cái.

Rốt cuộc thì quái quỷ gì đã xảy ra mà khiến con trai lão làm thế chứ? hắn kêu lên.

Cha Brown không đáp. Nhưng khi họ đã lên xe khởi hành và tiếp tục hành trình đến một ngôi làng cách đó không xa mang tên Graystones — nơi họ dừng chân tại quán trọ Seven Stars — vị luật sư ngạc nhiên đôi chút khi biết rằng vị linh mục không có ý định đi xa hơn nữa; nói cách khác, có vẻ như ông hoàn toàn quyết tâm ở lại khu vực này.

Tôi không thể dứt áo ra đi theo cái cách này được, ông nghiêm nghị nói. Tôi sẽ gửi trả chiếc xe hơi lại, và dĩ nhiên anh hoàn toàn có quyền quay về cùng nó. Câu hỏi của anh đã có đáp án; vấn đề chỉ đơn giản là hãng luật của anh có dám mạo hiểm cho vay tiền dựa trên triển vọng của cậu Musgrave hay không thôi. Nhưng câu hỏi của tôi thì chưa được giải đáp; ấy là liệu cậu ta có phải là một người chồng xứng đáng với Betty hay không. Tôi phải tìm hiểu cho ra lẽ xem cậu ta thực sự đã làm điều gì tồi tệ, hay đó chỉ là sự hoang tưởng của một lão già điên.

Nhưng, viên luật sư phản đối, nếu anh muốn tìm hiểu về cậu ta, sao không đuổi theo mà hỏi? Việc gì phải cứ lảng vảng ở cái xó xỉnh khỉ ho cò gáy này — nơi cậu ta có mấy khi bén mảng tới?

Tôi đuổi theo cậu ta để làm gì chứ? người kia đáp. Chẳng có lý do gì để bước đến trước mặt một gã thanh niên sành điệu ở phố Bond rồi nói: 'Xin lỗi, nhưng anh đã phạm một tội ác khủng khiếp đến mức không còn là con người nữa phải không?' Nếu cậu ta đủ tệ để làm thế, chắc chắn cậu ta cũng đủ tệ để chối bay chối biến. Và chúng ta thậm chí còn chẳng biết đó là tội ác gì. Không, chỉ có đúng một kẻ biết chuyện, và có lẽ sẽ hé lộ nó trong một cơn bùng nổ tính cách kỳ quặc nào đó tiếp theo mà thôi. Tôi sẽ ở lại gần lão ta thêm một thời gian.

Và quả thực, cha Brown đã ở lại gần vị nam tước kỳ quặc ấy, thậm chí còn gặp mặt lão hơn một lần với sự lịch thiệp tuyệt đối từ cả hai phía. Bởi vì vị nam tước, bất chấp tuổi tác, vẫn vô cùng tráng kiện và rất thích đi bộ, người ta thường xuyên bắt gặp lão sải bước qua ngôi làng và dọc theo các con đường quê. Ngay ngày hôm sau khi đến nơi, khi bước từ quán trọ ra khu chợ lát đá cuội, cha Brown đã nhìn thấy bóng dáng thẫm màu đầy kiêu hãnh ấy sải bước về phía bưu điện. Lão ăn vận một cây đen rất giản dị, nhưng gương mặt cương nghị của lão lại càng thêm phần thu hút dưới ánh nắng rực rỡ; với mái tóc hoa râm, lông mày rậm tối màu và chiếc cằm dài, lão phảng phất hình bóng của Henry Irving hay một vài diễn viên nổi tiếng nào khác. Bất chấp mái tóc đã điểm sương, cả vóc dáng lẫn khuôn mặt lão đều toát lên vẻ cường tráng, và lão chống gậy trông giống một cây gậy khúc côn cầu hơn là cây gậy chống của người già. Lão chào vị linh mục và cất giọng với vẻ đi thẳng vào vấn đề không chút sợ hãi — điều từng xuất hiện trong những lời tiết lộ của lão ngày hôm qua.

Nếu anh vẫn còn tò mò về con trai tôi, lão nói, dùng danh xưng ấy với sự dửng dưng lạnh lẽo, anh sẽ chẳng gặp lại nó mấy đâu. Nó vừa rời khỏi đất nước rồi. Nói thật với anh, có thể xem là trốn khỏi đất nước thì đúng hơn.

Thế cơ à, cha Brown nghiêm túc nhìn chằm chằm.

Một vài kẻ nào đó mà tôi chưa từng nghe tên, gọi là Grunov, cứ đến quấy rầy tôi — chẳng hiểu sao lại chọn tôi — để dò la tung tích nó, Sir John nói; và tôi vừa vào đây để gửi một bức điện báo cho họ hay rằng, theo những gì tôi biết, nó đang sống ở mục Poste Restante tại Riga. Thật là phiền toái hết chỗ nói. Tôi định vào đây gửi từ hôm qua nhưng lại đến muộn mất năm phút so với giờ đóng cửa của bưu điện. Anh ở lại đây lâu chứ? Tôi hy vọng anh sẽ ghé thăm tôi lần nữa.

Khi vị linh mục kể lại cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa ông với lão Musgrave trong làng cho viên luật sư nghe, Granby vừa cảm thấy khó hiểu vừa tò mò.

Sao Đại úy lại chuồn mất tăm thế nhỉ? hắn hỏi. Những kẻ khác muốn tìm cậu ta là ai? Rốt cuộc nhà Grunov là ai vậy?

Về câu hỏi đầu tiên, tôi chịu, cha Brown đáp. Có lẽ tội ác bí ẩn của cậu ta đã bị bại lộ. Tôi đoán chừng những kẻ kia đang tống tiền cậu ta về chuyện đó. Còn về vế thứ ba, tôi nghĩ mình biết. Mụ đàn bà béo ú gớm ghiếc có mái tóc vàng kia tên là Madame Grunov, còn gã đàn ông lùn kia đóng vai chồng mụ ta.

Hôm sau, cha Brown trở về với vẻ khá mệt mỏi, ném phịch chiếc ô bọc vải đen của mình xuống hệt như một kẻ hành hương đặt gánh gậy chống đường. Trông ông có vẻ hơi uể oải. Nhưng cảm giác đó cũng giống như rất nhiều lần trong các cuộc điều tra tội phạm của ông trước đây. Đó không phải là nỗi chán chường của sự thất bại, mà là sự nặng nề của thành công.

Đó là một cú sốc lớn, ông cất giọng trầm đục; nhưng đáng lẽ ra tôi phải đoán ra được mới phải. Tôi phải đoán ra điều đó ngay từ lần đầu bước vào và nhìn thấy thứ đang đứng ở đó chứ.

Khi anh nhìn thấy cái gì cơ? Granby sốt ruột hỏi.

Khi tôi nhận ra chỉ có đúng một bộ giáp trụ, cha Brown đáp.

Một khoảng lặng trùm xuống, trong đó viên luật sư chỉ biết trân trân nhìn người bạn của mình, đoạn vị linh mục nói tiếp.

Mới hôm qua thôi, tôi suýt định nói với cháu gái mình rằng có hai kiểu đàn ông có thể cười một mình. Suýt chút nữa người ta có thể khẳng định rằng kẻ làm thế hoặc là rất tốt, hoặc là cực kỳ xấu xa. Anh thấy đấy, hắn hoặc là đang giãi bày chuyện khôi hài với Chúa, hoặc là đang thổ lộ nó với Ác ma. Nhưng dẫu sao thì hắn cũng có một đời sống nội tâm. Vâng, quả thực có một kiểu người đem chuyện cười giãi bày với Quỷ dữ. Hắn chẳng bận tâm nếu chẳng có ai nhìn thấy câu chuyện hài hước đó; hay nếu chẳng một ai được phép biết về nó một cách an toàn. Bản thân câu chuyện cười ấy đã là quá đủ, miễn là nó đủ sự nham hiểm và độc ác.

Nhưng anh đang nói cái quái gì thế? Granby gặng hỏi. Anh đang nói về ai cơ chứ? Ý tôi là ai trong số họ? Rốt cuộc kẻ nào đang đùa cợt một cách nham hiểm với Đức Vua Sơ-tan của hắn?

Cha Brown nhìn sang phía anh ta với một nụ cười ghê rợn.

À, ông nói, đó mới chính là trò cười.

Lại một khoảng lặng nữa trôi qua, nhưng lần này bầu không khí tĩnh mịch ấy lại mang cảm giác ngột ngạt, đè nặng hơn là sự trống vắng đơn thuần; nó dường như bủa vây lấy họ hệt như màn sương chiều đang dần chuyển từ chạng vạng sang tối mịt. Cha Brown tiếp tục cất giọng bình thản, điềm nhiên ngồi chống khuỷu tay lên bàn.

Tôi đã tìm hiểu về gia tộc Musgrave, ông nói. Họ vốn là dòng giống cường tráng và sống thọ, và ngay cả trong điều kiện bình thường, tôi nghĩ anh cũng phải chờ một khoảng thời gian khá dài mới mong lấy lại được tiền.

Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó rồi; viên luật sư đáp; nhưng dẫu sao thì nó cũng không thể kéo dài mãi được. Lão già đã ngót nghét tuổi tám mươi, dù vẫn đi lại phăng phăng, và mấy người ở quán trọ cứ cười bảo họ không tin là lão sẽ chết nổi đâu.

Cha Brown đứng phắt dậy bằng một trong những chuyển động hiếm hoi nhưng chớp nhoáng của mình, hai tay vẫn chống lên bàn, rướn người về phía trước và nhìn thẳng vào mặt bạn.

Chính nó đấy, ông thốt lên với giọng trầm thấp đầy khích động. Đó mới chính là vấn đề duy nhất. Đó mới là khúc mắc thực sự. Lão sẽ chết thế nào đây? Rốt cuộc thì lão phải chết bằng cách nào cơ chứ?

Ý anh quái quỷ gì cơ chứ? Granby hỏi.

Ý tôi là, giọng vị linh mục cất lên giữa căn phòng đang tối dần, tôi đã biết tội ác mà James Musgrave thực hiện là gì rồi.

Giọng điệu của ông lạnh lẽo đến mức Granby khó lòng kìm được một cái rùng mình; hắn lầm bầm hỏi tiếp.

Đó thực sự là tội ác tồi tệ nhất trên đời, cha Brown nói. Ít ra thì rất nhiều cộng đồng và nền văn minh từng nhìn nhận nó như thế. Từ thuở hồng hoang, nó luôn bị các bộ lạc và làng mạc đánh dấu để nhận những hình phạt khủng khiếp nhất. Nhưng dẫu sao, giờ thì tôi đã biết chính xác cậu thanh niên Musgrave đã làm gì và tại sao cậu ta lại làm thế rồi.

Và cậu ta đã làm gì? viên luật sư hỏi.

Cậu ta đã giết cha mình, vị linh mục đáp.

Đến lượt viên luật sư đứng phắt dậy khỏi ghế, đăm đăm nhìn qua bàn với đôi mày nhăn nhúm.

Nhưng cha cậu ta đang ở trong lâu đài cơ mà, hắn lớn tiếng.

Cha cậu ta đang ở dưới hào nước, vị linh mục đáp, và tôi thật ngốc khi không nhận ra điều đó ngay từ đầu, khi có thứ gì đó cứ cấn cá trong đầu tôi về bộ giáp trụ ấy. Anh không nhớ nổi dáng vẻ của căn phòng đó sao? Nó được sắp xếp và trang trí cẩn thận đến nhường nào? Có hai chiếc rìu chiến bắc chéo một bên lò sưởi, hai chiếc rìu chiến bắc chéo ở bên kia. Có một chiếc khiên tròn Scotland treo trên một bức tường, một chiếc khiên tròn Scotland trên tường đối diện. Và có một bệ giáp trụ canh gác một bên lò sưởi, còn bên kia lại là một khoảng trống. Không gì có thể khiến tôi tin rằng một kẻ đã sắp đặt phần còn lại của căn phòng với sự đối xứng đến mức thái quá ấy lại để sót một chi tiết mất cân đối như vậy. Gần như chắc chắn từng có một bộ giáp trụ thứ hai ở đó. Và chuyện gì đã xảy ra với nó chứ?

Ông khựng lại một thoáng, đoạn tiếp tục với giọng điệu thực tế hơn:

Khi ngẫm lại, đó quả là một kế hoạch hoàn hảo cho một vụ án mạng, giải quyết được bài toán hóc búa muôn thuở về việc phi tang thi thể. Cái xác có thể đứng ẩn bên trong bộ giáp đấu thương hoàn chỉnh ấy suốt hàng giờ, thậm chí hàng ngày trời, trong lúc người hầu kẻ hạ vẫn ra vào tấp nập, cho đến khi kẻ thủ ác chỉ việc lôi nó ra vào giữa đêm khuya rồi thả xuống hào nước mà chẳng cần phải bước qua cầu. Và thế là hắn gặp một vận may lớn nhường nào! Ngay khi thi thể phân hủy một phần trong dòng nước tù đọng ấy, sớm muộn gì thì chẳng còn lại gì ngoài một bộ xương khoác bộ giáp thế kỷ thứ mười bốn — thứ hoàn toàn có thể được tìm thấy dưới hào của một lâu đài biên giới cổ. Chẳng ai đời lại đi tìm kiếm thứ gì ở đó cả, nhưng giả sử họ có tìm thấy đi chăng nữa, thì đó cũng là tất cả những gì họ thu được. Và tôi đã tìm thấy một vài bằng chứng xác thực cho chuyện đó. Đó là lúc anh bảo tôi đang đi tìm một loài thực vật quý hiếm; thực ra đó là một 'thực vật' theo rất nhiều nghĩa đấy, nếu anh châm chước cho lời nói đùa này của tôi. Tôi đã nhìn thấy dấu chân của hai bàn chân lún sâu vào lớp đất cứng bên bờ đến mức tôi đoan chắc rằng kẻ đó hoặc là rất nặng cân, hoặc đang mang theo một vật rất nặng. Nhân tiện, qua đó ta cũng rút ra được một bài học đạo đức từ vụ tai nạn nhỏ khi tôi thực hiện cú nhảy uyển chuyển và linh hoạt như loài mèo vừa rồi.

Bộ óc tôi sắp nổ tung rồi đây, Granby nói, nhưng tôi bắt đầu mường tượng ra cơn ác mộng này là gì rồi. Thế còn anh và cú nhảy tựa loài mèo của anh thì sao?

Hôm nay ở bưu điện, cha Brown nói, tôi tiện tay xác nhận lại lời vị nam tước nói với tôi hôm qua — rằng lão đã có mặt ở đó ngay sau giờ đóng cửa vào hôm trước — nghĩa là, không những đúng vào ngày chúng ta đến, mà còn chính xác vào thời điểm chúng ta đến. Anh không hiểu điều đó có nghĩa là gì sao? Nó có nghĩa là thực ra lão không có nhà khi chúng ta ghé thăm, và đã quay về trong lúc chúng ta đang mỏi mòn chờ đợi; đó là lý do vì sao chúng ta phải đợi lâu đến thế. Và khi nhận ra điều đó, tôi chợt liên tưởng đến một bức tranh kể lại toàn bộ câu chuyện.

Rồi sao nữa? người kia sốt ruột giục.

Một ông già tám mươi tuổi vẫn có thể đi bộ, cha Brown nói. Một ông già thậm chí có thể đi bộ một quãng đường dài khi lững thững dạo bước trên các con đường quê. Nhưng một ông già không thể nhảy. Lão sẽ nhảy thảm hại hơn cả tôi nữa kìa. Thế nhưng, nếu vị nam tước quay về trong lúc chúng ta đang chờ đợi, lão bắt buộc phải đi vào theo cách chúng ta đã vào — bằng cách nhảy qua hào nước — bởi vì lúc đó cầu kéo chưa được hạ xuống. Dựa vào tốc độ sửa chữa chiếc cầu, tôi đoán chừng chính lão đã làm gì đó để phá hỏng nó nhằm trì hoãn những vị khách phiền phức. Nhưng điều đó không quan trọng. Khi tôi hình dung ra bức ảnh tưởng tượng về gã đàn ông mặc đồ đen tóc hoa râm thực hiện một cú nhảy vọt qua hào nước, tôi lập tức nhận ra đó là một gã thanh niên giả trang thành ông già. Và thế là toàn bộ câu chuyện sáng tỏ.

Ý anh là, Granby chậm rãi nói, gã thanh niên đáng yêu này đã giết cha mình, giấu xác bên trong bộ giáp trụ rồi thả xuống hào, sau đó giả trang các kiểu sao?

Họ vốn có ngoại hình gần như giống hệt nhau, vị linh mục nói. Anh có thể thấy qua những bức chân dung gia tộc rằng nét mặt họ giống nhau đến nhường nào. Rồi anh lại nhắc đến chuyện hắn giả trang. Nhưng theo một nghĩa nào đó, trang phục của bất kỳ ai cũng là một lớp hóa trang. Lão già ngụy trang bằng mái tóc giả, còn gã thanh niên ngụy trang bằng bộ râu ngoại quốc. Khi cạo râu và đội bộ tóc giả lên mái tóc cắt ngắn, hắn hoàn toàn giống hệt cha mình, chỉ cần thêm một chút hóa trang nữa là đủ. Dĩ nhiên, giờ thì anh đã hiểu tại sao hắn lại tỏ ra vô cùng lịch sự khi nhiệt tình mời anh lên đây bằng xe hơi vào ngày hôm sau rồi chứ. Đó là bởi chính hắn sẽ lên đây bằng tàu hỏa vào đêm hôm đó. Hắn đi trước các anh, gây ra tội ác, mặc lớp hóa trang vào, và sẵn sàng cho các cuộc thương lượng pháp lý.

À, Granby trầm ngâm nói, các cuộc thương lượng pháp lý! Ý anh là, dĩ nhiên là vị nam tước thật sự sẽ thương lượng theo một cách hoàn toàn khác.

Lão sẽ nói thẳng cho anh biết rằng vị Đại úy sẽ chẳng bao giờ nhận được một xu nào sất, cha Brown nói. Âm mưu đó, nghe có vẻ kỳ quái nhưng lại thực sự là cách duy nhất để ngăn lão nói với anh điều đó. Nhưng tôi muốn anh phải đánh giá cao sự xảo quyệt trong những gì mà gã kia đã nói với anh. Kế hoạch của hắn đạt được nhiều mục đích cùng một lúc. Hắn đang bị những kẻ người Nga đó tống tiền vì một tội ác nào đó; tôi nghi ngờ là tội phản quốc trong chiến tranh. Hắn cắt đuôi bọn chúng chỉ bằng một cú lừa, và có lẽ đã đẩy bọn chúng chạy lồng lộn đến Riga để truy tìm hắn. Nhưng sự tinh vi tuyệt mỹ nhất chính là lý thuyết mà hắn vẽ ra về việc vẫn thừa nhận con trai mình làm người thừa kế, chứ không xem là con người. Anh không thấy sao, trong khi điều đó đảm bảo cho khoản tiền thế chấp, nó đồng thời cũng cung cấp một lời giải đáp cho vấn đề sẽ sớm trở thành rắc rối lớn nhất?

Tôi thấy có vài rắc rối đấy, Granby nói; ý anh là rắc rối nào?

Ý tôi là nếu người con trai thậm chí không bị truất quyền thừa kế, sẽ thật kỳ cục khi cha và con chẳng bao giờ gặp mặt nhau. Lý thuyết về việc từ từ khước tư gia đã giải quyết êm thấm chuyện đó. Thế nên chỉ còn lại một rắc rối duy nhất, như tôi đã nói, và có lẽ nó đang khiến gã thanh niên kia phải đau đầu lúc này. Làm sao quái nào mà lão già có thể chết được đây?

Tôi biết lão nên chết thế nào đấy, Granby nói.

Cha Brown có vẻ hơi thẫn thờ, tiếp tục lên tiếng với một điệu bộ xa xăm hơn.

Và thế mà vẫn còn điều gì đó sâu xa hơn thế nữa, ông nói. Có cái gì đó trong lý thuyết ấy khiến hắn thích thú theo một cách mang tính... à phải, mang tính lý thuyết nhiều hơn. Hắn cảm thấy một niềm khoái cảm trí tuệ đến điên rồ khi nói với anh dưới tư cách này rằng hắn đã phạm tội ở tư cách kia — trong khi thực sự là hắn đã làm thế. Đó là điều tôi muốn nói về sự mỉa mai địa ngục; về trò đùa được chia sẻ với Quỷ dữ. Tôi có nên kể cho anh nghe một câu chuyện nghe có vẻ như người ta gọi là nghịch lý không? Đôi khi, niềm vui nằm sâu trong tâm tim địa ngục lại chính là việc nói ra sự thật. Và hơn hết thảy, là nói sự thật theo cách để mọi người đều hiểu sai bét nhè. Đó là lý do vì sao hắn thích cái trò hề giả dạng người khác, rồi tự bôi nhọ bản thân đen tối — đúng như bản chất thật của hắn. Và đó cũng là lý do vì sao cháu gái tôi nghe thấy hắn tự cười một mình trong phòng trưng bày tranh.

Granby giật mình nhẹ, giống như một kẻ vừa bị lôi trở về thực tại một cách phũ phàng.

Cháu gái anh, hắn kêu lên. Chẳng phải mẹ con bé muốn nó kết hôn với Musgrave sao? Chắc lại là câu chuyện về tiền tài và địa vị rồi.

Vâng, cha Brown đáp khô khốc; mẹ con bé hoàn toàn ủng hộ một cuộc hôn nhân khôn ngoan mà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.