Ngày thứ nhất
Hừng đông, làn sương mù che phủ cánh đồng. Không một ngọn gió, những ruộng lúa mì bất động. Đằng trước cánh đồng, các lực lượng của Napoléon đang triển khai thế trận. Khom lưng trên con ngựa màu nhạt, Napoléon ngắm nhìn phong cảnh yên bình này. Vây quanh Ngài là Thống chế, sĩ quan, tùy tùng, giám mã. Họ hợp thành một cái bia rất tuyệt vời. Chỉ huy các đạo quân tập hợp lại, Berthier, Masséna, Lannes, Bessières từ Vienne tới. Các tướng lĩnh ăn mặc lộng lẫy như để duyệt lại đội ngũ lần cuối cùng. Espagne quai hàm bạnh ra nghiến chặt, Lasalle râu vểnh lên, môi ngậm chiếc tẩu lạnh ngắt. Boudet, Claparède, Mouton, Saint-Hilaire đầu rụt trong cổ áo. Oudinot gương mặt lộ vẻ bướng bỉnh, râu cạo nhẵn, nhưng lông mày lại để quá rậm. Molitor mái tóc bù xù phủ xuống tận má, cái mũi của ông mảnh như một lưỡi dao cạo. Marulaz oai vệ với cái bụng ních căng trong dải khăn màu hoa mào gà. Sự căng thẳng quá sức đã ngăn cản mọi cử chỉ và lời nói. Ngồi bất động trên lưng những chú ngựa chân thẳng đứng đang lắc nhẹ những cái bờm dài, đội quân trong trang phục sặc sỡ, được trang trí, tô điểm lộng lẫy, ánh vàng lấp lánh đến tận những đôi ủng đánh xi bóng loáng. Những nhân vật nam chính này tạo nên một bức tranh lỗi thời. Lejeune tiếc là không còn thời gian để có thể phóng vài nét bút phác họa bức tranh dù chỉ bằng bút chì một cách vội vã. Anh cảm thấy rất rõ sự chênh lệch giữa thiên nhiên và những người lính, giữa sự bình tâm ở người này và sự lo lắng ở người kia. Nhưng rồi chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Lejeune suy tư về hiệu lực của bối cảnh, nó có khả năng làm thay đổi cả ý nghĩa và sự diễn xuất của các nhân vật. Lejeune cũng nghĩ về một trong những người tình thoáng qua của mình, một cô nàng người Đức làn da trắng hồng đang tắm dưới một ngọn thác ở Bavière: cô nàng thật tự nhiên giữa khung cảnh thiên nhiên, thật xinh đẹp. Nhưng đêm đến, trong phòng khách đầy những đồ ren, sản phẩm mỹ nghệ, những nội thất sẫm màu, cô nàng trút bỏ áo xiêm, cũng trần truồng, nhưng nghiêm trọng hơn là cô nàng lại trở nên khêu gợi; sự buông thả, phóng túng, áo quần trên thảm thật trái ngược với không gian bày trí rất nghiêm túc ở đây. “Thật là nực cười, Lejeune nghĩ, mình lại vẩn vơ nghĩ về chuyện yêu đương trước cuộc chiến…” Anh mỉm cười. Nhưng rồi tiếng Hoàng đế đã kéo anh trở về với thực tại:
– Hình như chúng nó ngủ! Bọn Áo bẩn thỉu! Mascalzoni![1]
Không một lời bình luận, không một câu xác nhận hoặc đế thêm vào; giờ không phải lúc để a dua a tòng nữa; cho đến cuối ngày, rất có thể một vài người trong số các Vương công, Bá tước, Nam tước, và Tướng lĩnh sẽ gục ngã. Sương mù tan dần, chỉ còn lại như những dải lụa mềm bồng bềnh trên cánh đồng. Bầu trời xanh thẳm, đồng lúa mì còn xanh hơn. Phía chân trời, trên sườn dốc Gerasdord, quân Áo đã tập hợp thành từng khối.
– Bọn chúng lì lợm khủng khiếp! Hoàng đế hét lên.
– Như món súp thôi mà, Berthier nói, mắt vẫn dán vào ống nhòm.
Lannes càu nhàu:
– Đó chỉ là hậu quân thôi, thưa Bệ hạ. Chúng ta xông lên đánh bại chúng đi!
– Kị binh của tôi, Berthier tiếp lời, không gặp trở ngại gì trên những địa điểm đã qua.
– Không, Masséna nói, quân Áo ở kia, rất gần chúng ta.
– Ít nhất, chúng có sáu chục ngàn người, Berthier nói, nếu tin tình báo của tôi chính xác.
– Hừ, tin tình báo của ông! Lannes gầm lên: lũ tù binh đó, bọn chúng chỉ nói cho ông toàn những điều nhảm nhí! Bọn chúng đã bị hiến sinh trên cái hòn đảo chết tiệt kia, chúng nó biết gì về ý đồ của Quận công Charles?
– Tối nay, tụi du kích mới cắt cổ một người của tôi, Espagne buông một câu uể oải.
– Đúng vậy, Lannes tiếp lời, đám du kích, bọn trộm cắp và phần đông các trung đoàn đang sẵn sàng xuất kích ở Bohême!
– Đương nhiên rồi, Bessières nói thêm vào, bọn chúng đợi tiếp viện từ Ý tới…
– Mặc kệ chúng!
Hoàng đế nhăn mặt kêu lên. Ngài mệt mỏi khi nghe những lời huyên thuyên. Ngài không cần nghe ý kiến của họ. Ngài vẫy tay ra hiệu cho Berthier rồi bỏ đi cùng với quan giám mã Caulaineourt, Bá tước trẻ tuổi Anatole de Montesquiou, viên sĩ quan tùy tùng có khuôn mặt ẻo lả và đám lính Cận vệ mới được tuyển lựa từ Ai Cập lúc nào cũng lên mặt quan trọng, lúc nào cũng cặp kè bên cạnh Hoàng đế, chúng quấn những dải băng lông gai, quần thổ màu hồng điều, dao găm sang trọng cài bên thắt lưng. Berthier hiểu ý, cất giọng nói to không thèm nhìn đám Tướng lĩnh:
– Bệ hạ đã vạch kế hoạch bố trí lực lượng tác chiến, các ông chuẩn bị triển khai thực hiện theo phương án đó. Không cần phải tính toán thêm điểm yếu nào nữa. Chúng ta sẽ gặp nhau ở phía sau con sông, quân đội sung sức, tiếp tế, quân nhu sẽ từ nơi đó tới. Vấn đề ở đây là chúng ta phải dựng một chiến tuyến liên hoàn từ làng này sang làng khác để chống lại quân địch. Masséna cắm chốt ở giữa làng Aspern cùng với Molitor, Legrand và Carra-Saint-Cyr. Lannes chiếm giữ làng Essling cùng với những sư đoàn Boudet và Saint-Hilaire. Giữa các khu làng, cần phải chắn khu đất đã được dọn dẹp vì lính thiết kị của Espagne và khinh kị binh của Lasalle được triển khai tại đó dưới sự chỉ huy của Bessières. Nào bắt đầu đi!
Không cần phải thảo luận gì cả. Các toán quân đã bắt đầu tách ra và mỗi đơn vị triển khai tại những vị trí đã định. Mơ màng, Berthier đi theo con đường về trại mình, Lejeune và Périgord đi kèm hai bên. Tham mưu trưởng hỏi:
– Anh nghĩ gì về việc này, Lejeune?
– Không, thưa ngài, tôi không có ý kiến gì cả.
– Thật hả?
– Thứ ánh sáng này đang tạo cho tôi cảm hứng muốn cầm bút vẽ.
– Thế còn anh, Périgord?
– Tôi ư? Chỉ biết tuân lệnh thôi.
– Tất cả chúng ta đều buộc phải tuân lệnh, các con của ta ạ, Berthier thở dài.
Họ lần lượt đi qua chiếc cầu nhỏ đang bập bềnh trên dòng nước. Đến đảo, Périgord thúc ngựa tiến ngang hàng với ngựa của Lejeune, nói giọng tâm sự:
– Ông ấy rầu rĩ quá, ông Tham mưu trưởng của chúng ta ấy mà.
– Cái đó có thể không chính xác đâu. Hoàng đế hình như đã chọn phương án phòng thủ rồi, binh lính đã đào hào và chờ đợi. Chắc là bọn Áo sắp tấn công chúng ta? Hoàng đế tin như vậy. Bệ hạ chắc là có những lí do của mình.
– Lạy chúa! Périgord nói, mắt ngước lên trời, miễn sao Bệ hạ biết rõ nơi nào an toàn để dẫn dắt chúng ta tới đó! Nhưng dù sao, anh bạn thân mến ạ, ở đây chúng ta còn tốt hơn là ở Paris hay ở Vienne đó, vị tướng tham mưu của chúng ta đang ở trong vùng đất thông thuộc với hai người đàn bà! Này, tôi dám chắc rằng ông ấy đang nghĩ về bà Visconti…
Lejeune không trả lời. Tất cả mọi người đều biết rằng Berthier có một gia đình gồm một ông, hai bà và ông luôn cảm thấy day dứt. Từ năm mười ba tuổi, ông ta đã say đắm đến cuồng si một cô gái vùng Milan có đôi mắt xám, nhưng than ôi, cô ta lại cưới Hầu tước Visconti, một nhà ngoại giao dũng cảm có tuổi và rất kín đáo. Ông ta chả mấy khi bực mình bởi sự thiếu chung thủy của bà vợ xinh đẹp, nóng bỏng của mình. Khi quyết định đi theo Bonaparte sang Ai Cập, Berthier đành phải từ biệt người yêu trong sự nhớ nhung xé lòng. Giữa sa mạc mênh mông, dưới mái lều trại lính, ông đã dựng một chiếc bàn thờ cho nàng Giuseppa yêu quý. Ông liên tục viết cho nàng những bức thư say đắm và đầy dâm dục. Mối quan hệ này kéo dài trong nhiều năm. Rồi dần dần, Napoléon nhận ra nỗi đam mê dai dẳng kỳ cục này. Khi được phong làm Vương công vùng Neuchâtel, Berthier bắt buộc phải chọn lựa một Công nương đích thực để thành lập một thiết chế đại loại như một triều đại. Là một kẻ dễ bảo và bất hạnh, ông đã rất khổ sở khi quyết định lựa chọn Élisabeth de Bavière, một người có khuôn mặt nhọn và không có cằm làm vị hôn thê; quyết định này hình như không làm cho Giuseppa Visconti ghen tuông thì phải. Rồi hai tuần sau lễ cưới bắt buộc ấy, điều gì đã xảy ra? Vị Hầu tước qua đời ngay trên giường của mình. Còn Berthier thì không còn cơ hội cưới bà vợ góa của Visconti được nữa. Berthier lên cơn sốt và nằm bên bờ một cơn khủng hoảng thần kinh trầm trọng. Ông cần được an ủi, nâng đỡ, ban thưởng. Ngay cả hai người đàn bà của ông dù phải chịu đựng lẫn nhau, vẫn lui tới với nhau rồi cùng chơi bài whist. Hôm nay, Chủ nhật, ngày 21 tháng Năm 1809, trong lúc mọi người chờ đợi những khẩu pháo Áo khạc lửa thì Berthier lại thở dài là vì lẽ đó.
* * *
Thống chế Bessières thở dài vì những nguyên nhân tương tự nhưng rất kín đáo. Vẻ lạnh lùng, cử chỉ lịch lãm hiếm có, hơi nhiều lời, nhưng không bao giờ bộc lộ sự xúc động ra ngoài, không thể nghi ngờ khi xa cách người yêu, ông biết tự kiềm chế cuộc đời kép của mình dưới vẻ bề ngoài ồn ào. Cũng vì những lí do ấy mà dưới làn áo vét xanh vàng, ông đeo hai tấm lắc. Một tấm gợi nhớ về bà vợ Marie-Jeanne của ông, một người đàn bà sùng đạo, rất dịu dàng và được kính trọng nơi triều đình; tấm lắc còn lại là hình ảnh người tình của ông, một vũ nữ của nhà hát nhạc vũ kịch. Vì người đàn bà này mà ông đã phải tiêu tốn hàng triệu quan, tên nàng là Virginie Oreille, thường gọi là Letellier.
Bessière không bao giờ bộc lộ những suy nghĩ yếu đuối day dứt trong ông. Lần đầu tiên đến làng Essling bên cạnh Tướng Espagne, ông ngước nhìn chăm chú vào tháp chuông. Một ngày lễ Pentecôte tuyệt vời! Ngày hôm nay, không phải Thánh Esprit giáng xuống đầu họ mà Quận công Charles với những lưỡi lửa, những trái phá, những quả đạn pháo. Trên quảng trường, lũ ngựa yên cương gọn gàng đang ăn lúa mạch, những bì lúa vương vãi khắp mọi nơi. Lính kị binh giúp nhau mặc áo giáp, một số khác xé rèm vải cửa sổ lau chùi vũ khí.
– Espagne, thông báo cho các sĩ quan biết Hoàng đế có lời chúc phúc. Bessière nói rồi xuống ngựa.
Rồi, với vẻ mặt đầy suy tư, ông đi về phía nhà thờ, bước vào trong. Điện thờ bị biến thành trại lính. Hai lần cầu kinh niệm Chúa trở nên lạc lõng trước bàn thờ không còn đồ thờ và trang trí nào ở trên. Bessière đứng lặng im trước cây Thánh giá suýt bị ai đó tháo bỏ, ông cúi đầu, hai bàn tay cầm hai tấm lắc hiện thân của những người yêu dấu của ông. Giờ này, Marie-Jeanne chắc là đang dự buổi lễ tại nhà thờ trong tòa lâu đài Grignon của họ; còn Virginie chắc đang ngủ trong căn hộ lớn ông đã mua cho nàng gần Palais-Royal. Còn ông, ông làm gì trong cái nhà thờ của nước Áo bị tàn phá trơ trụi này? Bốn mươi ba tuổi, ông là Thống chế của Đế chế. Cho tới lúc này, mọi việc đều đang ủng hộ ông. Ông đã trải qua bao nhiêu ngả đường trong một thời gian rất ngắn! Từ khi còn rất trẻ, chiến đấu trong đội Vệ binh của Louis XVI, ông đã quyết tâm bảo vệ Hoàng gia trong vụ phiến loạn ngày mười tháng Tám. Ông không bao giờ chấp nhận sự tầm thường, dung tục của cuộc cách mạng cũng như sự lệ thuộc vào các giáo sĩ. Rồi bị nghi ngờ, ông phải trốn về nông thôn sống trong gia đình Công tước Rochefoucauld trước khi gia nhập quân đội vùng Pyrénées rồi quân đội Ý, trở thành một trong số những người thân cận của Tướng Bonaparte. Ông đã giúp Bonaparte làm cuộc đảo chính rồi ông đã tổ chức lực lượng bảo vệ Napoléon, tiền thân của đội Cận vệ hoàng gia… Một giờ nữa thôi, ông sẽ lên ngựa, lính tráng yêu quý ông. Kẻ thù kiêng nể ông. Những thầy tu ở Saragosse được ông bảo vệ cũng kính trọng ông. Phải chăng ông sinh ra là để chỉ huy? Bessières không biết cái gì khác ngoài sự dốc lòng phụng sự việc quân.
Bên ngoài, Espagne đã bắt đầu phân công nhiệm vụ, đôn đốc công việc chuẩn bị, kiểm tra ngựa và vũ khí. Ông chú ý thấy lính thiết kị đang đào một cái huyệt dưới gốc cây du, đầu một con phố chính. Ông đã phái một viên Đại úy đến giải quyết sớm vụ mai táng. Đại úy Saint-Didier thong thả đi đến xem xét.
Ba lính thiết kị tay cầm mấy chiếc xẻng lấy cắp được đang đưa những nhát xẻng cuối cùng trong lòng huyệt. Giữa bãi cỏ, thi thể Pacotte trắng bệch, cứng đờ.
– Khẩn trương lên, các cậu ơi. Đại úy Saint-Didier nói.
– Cái gì cần làm thì phải làm thưa Đại úy, Fayolle đáp lời, tay cắm phập chiếc xẻng xuống đống đất bao quanh miệng huyệt.
– Chúng ta sẽ đi khỏi cái làng đáng nguyền rủa này!
– Phải chôn cất người anh em của chúng ta đã, thưa Đại úy, Fayolle lại nói, lũ cáo rừng thường luẩn quẩn quanh đây sẽ chén mất anh ta.
– Chúng ta có những nguyên tắc, một lính thiết kị to béo, nguyên là thợ rèn tên là Verzieux nói.
– Thế cái thằng cha bị các ông mổ bụng tối qua trong ngồi nhà đó không được chôn cất à?
– Hắn à! Fayolle nói, một thằng Áo ấy mà.
– Nếu lũ cáo chén thịt hắn thì những con cáo ấy thuộc về hắn.
Người lính thứ ba, nhỏ con, mái tóc màu nâu cười khẩy nói, y liền bị viên Đại úy mắng vào mặt:
– Thôi, đủ rồi đấy, Brunel!
Ngài có theo tôn giáo nào không, thưa Đại úy? Gã Fayolle ranh mãnh hỏi, tay vuốt bộ dây đeo quần màu đen mà hắn tìm thấy trong túi Pacotte rồi quấn quanh cổ như cà vạt, không biết đó là một kỷ niệm hay một chiến lợi phẩm.
– Mười lăm phút nữa, tôi muốn cả ba người có mặt ở tiểu đội! Đại úy Saint-Didier ra lệnh rồi quay gót. Anh bực mình là phải chỉ huy những thằng lính súc sinh này.
Anh ta đi được một đoạn thì Brunel hỏi hai người kia:
– Saint-Didier, đó là tên của một gã quý tộc, đúng không hay tớ nhầm?
– Có thể đó là người đã giúp chúng ta tránh được tình thế tồi tệ nhất đấy, Fayolle nói, tớ biết trước đây, ông ta làm việc ở Ratisbonne. Ông ấy rất hiểu công việc của mình.
– Ồ thế à! Verzieux nhắc lại rồi tiếp tục công việc. Chán ngấy với mấy thằng cha sĩ quan nhút nhát, đám này bị nhặt ngay vào quân ngũ khi vừa mới ra khỏi cổng trường trung học, chỉ được huấn luyện có mười lăm ngày bởi vì họ nói được tiếng La-tinh!
Phía đằng kia, gần bờ sông Danube, chim hải âu kêu ré lên. Fayolle khoác chiếc áo măng tô màu nâu lên vai, nhăn mặt:
– Ngay cả chim chóc cũng cóc cần đến chúng ta, nó báo hiệu một sự tệ hại…
* * *
Tất cả các trung đoàn kị binh đồn trú tại Vienne đã hành quân từ sáng sớm, mặt đất rung chuyển. Friedrich Staps đứng nép vào tường nhường đường cho đám long kị binh phi nước kiệu, đoàn quân buộc anh ta đứng chôn chân tại chỗ. Sau đó, Friedrich đi vào khu phố cổ gần nhà thờ Saint-Étienne. Anh đẩy cánh cửa kính của một cửa hàng bán đồ ngũ kim vừa mở, bước vào, cùng lúc đó, một vị khách khác cũng vào mở hàng, ông khách hàng thân hình vạm vỡ, mặc đồ màu tối, mái tóc màu xám hiếm thấy buông dài xuống cổ áo. Ông khách đó nói tiếng Pháp, người bán hàng mắt tròn xoe cố giải thích bằng tiếng Đức ngữ điệu Vienne nghe như hát, nhưng ông khách chẳng hiểu gì cả. Người Pháp lấy viên phấn từ trong túi ra, vẽ loằng ngoằng cái gì đó trên quầy hàng, hiển nhiên, hình vẽ của ông cũng chả cắt nghĩa được cái gì cả. Người bán hàng càng lúng túng. Staps lại gần đề nghị:
– Tôi biết chút ít tiếng Pháp, thưa ông. Tôi có thể giúp gì được ông đây…
– A! Có thế chứ, thanh niên, anh cứu tôi một bàn thua đấy!
– Ông vẽ cái gì thế?
– Cái cưa ấy mà.
– Ông muốn mua cưa à?
– Đúng thế, dài một chút và chắc chắn, đừng mềm quá, răng phải nhọn và mảnh.
Nghe Staps dịch sang tiếng Đức, người bán hàng chạy về phía những chiếc thùng các tông rút ra nhiều loại cưa khác nhau, trao cho ông người Pháp. Staps tò mò xem xét rất kỹ chiếc cưa:
– Thưa ông, ông không có vẻ gì là thợ mộc hay lính công binh gì cả.
– Đúng thế, anh nói có lí! Xin lỗi nhé, sáng nay tôi hơi vội, tôi chưa giới thiệu cho mọi người biết: Tôi là Percy, bác sĩ phụ trách phẫu thuật của quân đội.
– Ông cần một cái cưa để chăm sóc thương binh à?
– Chăm sóc! Tôi rất thích cái từ đó, nhưng trong chiến tranh, người ta không chăm sóc, mà chữa chạy, vây dồn cái chết, người ta phải cắt những cánh tay, chân, trước khi da thịt bị hoại thư. Hoại thư, anh có hiểu cái thuật ngữ đó không nhỉ?
– Không, tôi chưa bao giờ nghe từ đó cả.
– Với nhiệt độ thế này, Percy vừa lắc lư cái đầu to xù vừa nói, những cái chân tay bị thương sẽ thối rữa dần, thanh niên ạ, tốt hơn hết là cắt chúng đi trước khi toàn bộ cơ thể sẽ bị nhiễm trùng, thối rữa theo.
Bác sĩ Percy chọn một cái cưa hợp ý mình, rồi trao cho người bán hàng gói lại; ông ta rút một tệp tiền florin từ trong chiếc hộp nhỏ, trả tiền, nhét số tiền còn lại vào túi, cảm ơn người bán hàng, rồi đội chiếc mũ tricorne[2] mang phù hiệu lên đầu. Qua cửa kính cửa hàng, Staps nhìn thấy ông bác sĩ đi về phía phố Carinthie rồi leo lên một chiếc xe ngựa.
– Thế còn ông, thưa ông, người bán hàng hỏi.
Staps quay lại nói:
– Tôi cần một con dao rộng bản và nhọn.
– Để chặt thịt à?
– Đúng thế, anh mỉm cười trả lời.
Ra khỏi cửa hàng ngũ kim, Friedrich Staps nhét con dao làm bếp gói trong mảnh giấy màu xám vào trong túi trong chiếc áo khoác nhăn nheo, rồi bước rất nhanh vào phố; những đội kị binh tiếp tục dồn về các cửa thành Vienne thẳng tiến về Ebersdorf, sông Danube và chiếc cầu phao lớn. Khi về đến ngôi nhà sơn màu hồng Jordangasse, Staps gặp những người cởi trần, mũ cảnh sát trên đầu, đang dỡ hàng từ trên một chiếc xe ngựa hậu cần che kín bạt. Không hỏi ai, Staps đi theo hai người; mồ hôi đầm đìa, họ khuân từng chiếc sọt to tướng về phía bếp, Staps đi theo vào đó. Nào gà, nào nước đá, bánh mì tròn, nào rau dưa chất đống trên chiếc bàn dài màu nâu. Chị em Krauss và bà quản gia đang vặt lông gà, chặt thịt, nhặt rau, rửa ráy, còn Henri Beyle, mặt có vẻ khó chịu, đang xách hai xô nước từ phía vòi nước về. Staps đưa tay đón xô nước:
– Anh nghỉ đi, anh đang ốm mà.
– Anh tốt bụng quá, anh Staps ạ.
Rồi chỉ tay vào khối thực phẩm chất đống, Henri giải thích:
– Đồng nghiệp của tôi ở bộ phận hậu cần, anh thấy đấy, họ cũng chăm sóc sức khỏe cho tôi.
– Và sức khỏe các bà, các cô ở đây nữa chứ.
Henri nhìn Staps, ngắm nhìn cái vẻ như thiên thần và nụ cười đây ngụ ý của cậu ta; thằng cha này quá lịch sự làm cho Henri khó chịu. Mỗi một lời nói của hắn đều buộc người nghe phải hiểu theo nhiều cách khác nhau. Anh chàng này là thế nào nhỉ, có phải dè chừng cậu ta không nhỉ? Tại sao? Nhưng rồi, Henri quên ngay nỗi lo khi nghe thấy Anna Krauss đang chơi đùa với mấy cô em gái dù không biết họ đang chơi trò gì. Rất nhanh, Staps đã hòa nhập vào cuộc trò chuyện bằng tiếng Đức với mấy chị em Anna. Chính việc này làm cho Staps trở thành kẻ đê tiện nhất dưới con mắt Henri lúc này đang ngồi phía đầu bàn, thỉnh thoảng lại mỉm cười với họ, nhưng không làm sao hội nhập vào cuộc trò chuyện được. Đột nhiên, Henri mặt tái xanh, nghiến răng ken két, cố đứng lên, vẻ mặt rất khó chịu, người run bắn lên. Anna lo lắng vội vàng đứng lên đỡ Henri. Cô đưa tay cho Henri, anh cảm thấy hơi ấm của cô lan truyền sang cơ thể mình, mặt anh đỏ bừng như quả cà chua.
– Mặt anh ấy hồng hào trở lại rồi đó! Friedrich Staps nói to bằng tiếng Pháp.
Henri chỉ muốn cắn chết cái thằng khốn khiếp đó.
* * *
Áo vét phanh ra, ống quần vén lên phía trên đôi giày đế gỗ dính đầy bùn, Vincent Paradis trông không còn giống một khinh binh, cũng chẳng còn là lính trinh sát; nhìn trang phục của anh người ta nghĩ đây là một dân binh ngụy trang mà thôi. Sĩ quan tùy tùng của Đại tá Lejeune phải lắc mạnh mấy lần mới đánh thức được Vincent dậy. Một cái ngáp dài thỏa mãn, anh ta vươn vai khoan khoái nhìn xuống dòng sông Danube nước đục ngầu, dòng sông rộng mênh mông như biển cả anh chưa từng nhìn thấy bao giờ, dòng chảy rất không ổn định như một ngọn thác, với đầy thói đỏng đảnh, dữ tợn, khôn lường. Mặt trời bắt đầu dội lửa, Paradis nhặt chiếc mũ shako đội lên đầu, cột chiếc quai da màu vàng óng phía dưới cằm. Không biết ai là tác giả chiếc mũ cao quá cỡ này? Paradis được viên sĩ quan Bộ tham mưu bảo lãnh, cảm thấy như được che chở trên đảo Lobau. Anh thích thú có thể phân biệt được từ xa cảnh đi lại nhộn nhịp về phía những ngôi nhà san sát bên nhau và các trang toại làng Ebersdorf ở phía bờ bên kia. Thế rồi Paradis nghe từ đâu đó vọng lại một bản nhạc. Thì ra, trước đoàn quân đang chuẩn bị vượt cầu phao lớn dập dềnh, đội kèn đồng thuộc lực lượng Cận vệ Hoàng đế đang chơi bản hành khúc của Cherubini viết cho dàn kèn. Phía sau là những lá cờ ba màu tung bay, tiếp theo là lực lượng pháo binh đội ngũ tuyệt vời. Trong quân ngũ, không ai chịu được đám lính pháo binh này. Họ có tất cả mọi quyền hạn và luôn chứng minh được điều đó. Hoàng đế thực sự nuông chiều họ, vì thế đám lính này trở nên ngỗ ngược. Họ chỉ lên tuyến đầu khi trận đánh sắp đến hồi kết thúc, xênh xang thao diễn giữa những xác người và ngựa chết thảm, bọn họ ăn trong những chiếc cà mên riêng, thường du ngoạn trong những chiếc xe có đệm hoặc những xe ngựa thuê. Tại Schönbrunn, nơi họ đóng trại, họ được hậu cần cung cấp cho những chiếc bình để hâm nóng rượu vang ngọt. Cũng như Hoàng đế, họ mặc những chiếc quần casimir bó trong những đôi ghệt vải màu trắng. Dorsenne, chỉ huy lực lượng này ăn mặc bảnh chọe, tóc đen nhánh uốn thành lọn, gương mặt như cái cọc nho của một kẻ quen lui tới trong các salon[3], thường xuyên liếc nhìn xem mấy chiếc cúc của đồng phục đơm đã đúng chỗ chưa, vuốt phẳng nếp gấp giả, chăm sóc độ bóng của lưỡi lê bằng cách dùng một ngón tay đeo găng lướt qua phía trên.
Đám pháo binh thuộc đội Cận vệ đi sát nhau thành hàng ba khi vượt qua chiếc cầu bằng ván gỗ dài lê thê ghép cố định trên những chiếc thuyền có hình dạng và kích thước khác nhau, bị dòng nước xô đẩy. Họ càng đi chậm và bước đúng nhịp bao nhiêu thì những chiếc mũ hai sừng càng bị ném xuống nước bấy nhiêu. Không biết bao nhiêu chiếc mũ bicorne đã bị nước cuốn trôi. Mỗi người trong số họ đều gỡ nút một cái mũ da gấu, để trong một chiếc túi buộc trên chiếc ba lô của người đi trước rồi đội lên đầu.
– Cảnh tượng thật tuyệt vời! Sĩ quan tùy tùng của Lejeune chứng kiến màn trình diễn đứng ngay phía sau Paradis nói.
– Vâng, thưa Trung úy.
– Nó làm cho trái tim mọi người ấm lại!
– Vâng, thưa Trung úy, khinh binh Paradis nhắc lại tỏ bày sự đồng cảm với các ân nhân đã giúp mình rời ra xa mũi tên hòn đạn. Nhưng cái nghi lễ vờ vịt khách sáo đó làm cho Lejeune khó chịu.
Thực ra, những quân nhân quèn rất ít được quan tâm. Họ luôn bị đối xử tồi tệ, phải còng lưng mang vũ khí nặng nề, cặp giò và lưng mỏi nhừ như bị đứt rời. Họ ngủ dưới đất ngay cả dưới trời mưa, cãi nhau ỏm tỏi để dành một chỗ ngủ gần bên đống lửa trại.
Lejeune đi đến, tay chắp sau lưng, vẻ mặt khó chịu. Tất cả những biểu hiện đó không báo trước được cái gì dễ chịu cả. Lejeune bá vai Paradis bày tỏ thiện cảm rồi dẫn Paradis về phía bờ sông, nơi còn lại chỉ có hai người. Đột nhiên Lejeune nhảy lùi lại phía sau. Anh vừa giẫm phải một con rắn đang trườn ngoằn ngoèo giữa đám cỏ.
– Đừng sợ, Paradis mỉm cười nói, đó là một con rắn lành chuyên ăn ếch và ốc thôi mà.
– Cậu biết nhiều thứ quá.
– Ông cũng vậy, thưa Đại tá, chỉ có điều chúng ta không cùng chung những hiểu biết mà thôi.
– Thực lòng mà nói, cậu rất có ích cho tôi.
– Tôi chỉ nói những điều tôi biết thôi mà, thế thôi.
– Nghe này…
– Ông có vẻ buồn.
– Đúng thế.
– Ồ, tôi hiểu tại sao ông lại buồn rồi, thôi ông ạ!
– Cậu hiểu thế nào?
– Ông không cần tới tôi nữa.
– Có chứ…
– Thế thì sao?
– Bọn Áo sắp tấn công chúng ta, Hoàng đế đã dứt khoát như vậy. Từ bây giờ cậu sẽ rất có ích cho sư đoàn của cậu.
– Đấy chính là điều mà tôi đã hiểu rất rõ đó, thưa Đại tá.
– Tôi không phải là người quyết định.
– Tôi biết. Không có ai quyết định cả.
– Hãy đi thu xếp đồ đạc đi…
Paradis trong bộ quần áo kỳ cục quay lại khu vực dành cho các sĩ quan, kiểm tra lại vũ khí, túi đạn, nhặt lấy tất cả rồi không hề quay đầu lại đi liền một mạch về phía chiếc cầu phao nhỏ nối với bờ trái. Lejeune muốn hét thật to với Paradis rằng mình là đồ vô tích sự ở đây, nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn như vậy, cho nên, đành im lặng, buồn rầu, cứ như chính anh là người phản bội lại niềm tin của chàng trai quả cảm đó. Thực ra, ở đây cũng như trong các lùm cây ở Aspern, nơi Paradis sẽ trở lại với trung đoàn Molitor đều nguy hiểm như nhau cả thôi.
– A! Thế là bọn chúng đã bắt đầu cựa quậy rồi! Cầu cho cuộc chiến tranh nhanh chóng chấm dứt đi thôi!
Vừa lo lắng, vừa hài lòng, với trạng thái hưng phấn xảy ra trước những trận đánh đầu rơi máu chảy, Berthier cho Lejeune mượn chiếc ống nhòm để kiểm tra lại xem ông có bị lóa mắt không. Họ đang đứng trên tháp chuông Essling từ đó có thể quan sát toàn bộ cánh đồng. Lejeune có thể nhận ra: quân Áo bắt đầu dịch chuyển xuống vùng đồng bằng, theo hình vòng cánh cung.
– Thông báo ngay cho Bệ hạ đi, nhanh lên!
Lejeune chạy ào xuống cầu thang gỗ xoáy tròn, thiếu chút nữa thì đập đầu vào một cái xà gồ, đôi giày vẫn mang nguyên cả đinh thúc ngựa. Anh chạy ngang sân nhà thờ, lao qua cánh cửa mở rộng và nhìn thấy Hoàng đế đang ngồi trên một chiếc ghế bành ngay giữa quảng trường, khuỷu tay tì lên một chiếc bàn có trải một tấm bản đồ khu vực chính xác đến từng chi tiết, những con đường bị lúa mì vươn cao che lấp cũng được mô tả rất kỹ.
-� Tâu Bệ hạ! Lejeune cao giọng báo cáo, quân Áo đã bắt đầu triển khai lực lượng tiến công chúng ta rồi ạ!
– Lúc mấy giờ?
– Tầm buổi trưa ạ.
– Hiện nay bọn chúng đang ở đâu?
– Đang ở trên những ngọn đồi.
– Rất tốt. Bọn chúng sẽ không thể tổ chức tấn công trước mười ba giờ.
Hoàng đế đứng dậy, xoa hai tay vào nhau, vẻ mặt thật phấn khích, Ngài gọi món súp mì ống yêu thích. Một căng tin lưu động đã được dự phòng cho việc điểm tâm của Bệ hạ. Mấy người đầu bếp nhanh tay trên bếp lửa, hâm nóng thức ăn. Họ ném vào nồi nắm mì ống đã luộc chín. Ấy thế mà, họ vẫn thường xuyên bị Hoàng đế chê bai, mắng mỏ, cho rằng lúc nào cũng trong tình trạng bị động mỗi khi Hoàng đế yêu cầu. Cuối cùng Berthier đến khẳng định thêm nguồn tin quân Áo chuẩn bị tấn công.
– Mọi thứ đâu vào đấy cả rồi chứ? Napoléon hỏi.
– Vâng, thưa Bệ hạ.
Rồi Bệ hạ dùng thìa cuộn tròn nuốt tuột món mì ống bật ra một câu chửi thề vì món ăn nóng quá, rớt xuống cả cằm; tiếp theo, Ngài thét lác yêu sách món pho mát Barmesan vì đầu bếp đã quên chuẩn bị, rồi lim dim đôi mắt không phải để thưởng thức sự khoái khẩu từ những đĩa thức ăn mà là những ý đồ trận đánh đang nảy sinh. Đám sĩ quan tùy tùng đứng xung quanh nhìn Hoàng đế ăn một cách rất bình thản. Sự bình tĩnh của vị chỉ huy làm cho họ tin tưởng vững tâm hơn, giữa tình thế đang bị bao vây trước khi cuộc chiến bắt đầu. Họ nhận mệnh lệnh rõ ràng và thực hiện mệnh lệnh đó rất nghiêm túc, bởi vì tất thảy đã được dự phòng từ trước, kể cả lễ mừng chiến thắng. Hoàng đế biết rõ sự khôn khéo về những ý tưởng chiến lược của Quận công Charles, tài năng của một nhà tổ chức, ngay cả sự thiếu dứt khoát của Quận công cũng bị lợi dụng một cách triệt để. Berthier rót một cốc rượu vang cùng lúc đó, Périgord bộ điệu như kiệt sức, nhảy phắt từ lưng con ngựa đang thở hồng hộc, hơi phả như khói xuống đất, báo cáo:
– Thưa Bệ hạ, chiếc cầu phao lớn bị đứt mất rồi.
Hoàng đế tức giận đứng lên, lấy ống tay áo lau đĩa súp và chiếc cốc:
– Đứng là đồ ăn hại! Bắn tất cả những thằng nào dám cả gan đào ngũ trước lúc bọn địch tấn công. Hừ, đám công binh, bọn chúng đẹp mặt thật đấy!
– Nói chính xác xem nào, Berthier bảo viên quan tùy tùng của mình.
– Sự thực là, Périgord nói trong hơi thở gấp gáp, một trận lũ bất chợt ập đến, nước sông dâng lên quá nhanh…
– Thế không phòng bị trước à? Hoàng đế gầm lên.
– Có chứ, thưa Bệ hạ, nhưng cái mà chúng ta không phòng bị trước, đó chính là bọn Áo. Chúng đóng quân phía đầu nguồn, chỗ khúc sông hẹp. Chúng dùng thuyền chất đầy đá thả trôi giữa dòng nước. Những con thuyền lao băng băng đâm vào cầu phao, phá vỡ ván sàn, chặt đứt dây buộc…
– Thật tệ hại! Thật tồi tệ!
Hoàng đế đi đi lại lại, quát tháo, quở trách, Ngài túm nẹp áo lông của Lejeune:
– Anh thuộc lực lượng công binh à, đi khôi phục ngay cái cầu đó cho ta, khẩn trương lên!
Các sĩ quan hiểu rõ tình cảnh hiện nay là: không thể dùng cây cầu đó được nữa, mọi liên lạc với bờ phải hoàn toàn bị cắt đứt, đường tiếp tế lương thực cũng như vũ khí từ Vienne bị gián đoạn và lực lượng Davout trong tình trạng không thể tiếp ứng kịp. Lejeune vâng lệnh rồi nhảy phắt ngay lên lưng con ngựa của Périgord. Trước tình thế khẩn cấp, đầy những hiểm nguy, Périgord không dám phản đối. Lejeune thúc ngựa lao nhanh rồi biến mất chỗ lối rẽ. Hoàng đế như trong cơn điên nhìn khắp xung quanh, nét mặt dữ dằn liếc xéo đám sĩ quan tùy tùng, giọng lạnh lùng, tục tĩu:
– Tại sao các anh cứ đứng chôn chân như những cái bô đựng phân thế kia? Chuyện đứt cầu không thay đổi cái gì cả! Hãy trở về đơn vị đi, mẹ kiếp, lũ vô tích sự!
Rồi Ngài quay ngay sang ghé sát Berthier, giọng dịu lại như thể không hề có cơn cáu giận vừa qua:
– Nếu tay Quận công Áo biết được sự cố này, mà chắc chắn là hắn sẽ biết, hắn sẽ tận dụng tình hình này ngay lập tức. Hắn sẽ khẩn trương hành động và sẽ tấn công chúng ta bằng lực lượng áp đảo vì nghĩ rằng ta đang bị kẹt bên bờ trái.
– Chúng ta sẽ đón tiếp chúng, tâu Bệ hạ.
– Bọn ngu xuẩn! Sông Danube vẫn đang ở trong tầm khống chế của chúng ta!
– Mong sao hắn nghe được lời của Bệ hạ, Tham mưu trưởng thì thầm.
– Périgord! Hoàng đế gọi. Báo cho ngài Công tước Rivoli biết bọn Áo có thể bất ngờ xuất hiện ở khúc hẹp sông Danube chảy qua Aspern…
Périgord lại nhảy phắt lên con ngựa ngay bên cạnh, may mắn cho Périgord, con ngựa này còn tốt hơn con ngựa của anh. Người ngựa lao lên như một mũi tên, tức tốc truyền đạt mệnh lệnh của Hoàng đế tới Thống chế Masséna. Hoàng đế nhìn Périgord đi xa dần rồi mất hút giữa rừng cây bị băm chặt nham nhở, mỉm cười nói với Berthier:
– Nếu bọn chúng lao thuyền phá vỡ cầu của chúng ta, Alexandre ạ, có nghĩa là chúng đã bố trí lực lượng nhằm tấn công chúng ta theo hướng sông Danube đấy.
– Ít nhất là lực lượng tiên phong…
– Không đâu! Lại xem này.
Napoléon đẩy viên sĩ quan tham mưu về phía chiếc bàn, lật mặt sau tấm bản đồ, lấy bút chì vẽ bản đồ khu vực.
Berthier nhìn và lắng nghe:
– Charles bố trí lực lượng hướng về phía đồng bằng, ta gọi là mũi tên A…
– Chúng ta chỉ cần thấy bọn chúng.
– Đúng như vậy! Trong lúc này, từ Bisamberg, đây chỗ này phía trên bên trái sơ đồ của tôi, tại đây chúng ta biết rằng bọn Áo đồn trú từ nhiều ngày nay. Chúng điều một toán quân khác, chắc chắn là mạnh hơn, cùng với pháo yểm trợ, bố trí dọc theo sông Danube, gọi là mũi tên B. Chúng hi vọng có thể tấn công từ phía sau Aspern, bất ngờ tấn công trong khi chúng ta chờ đợi chúng ở hướng khác, chúng sẽ tập hậu từ phía sau tuyến phòng thủ của chúng ta, bao vây chặt chúng ta…

Hoàng đế tiếp tục vẽ những đường chì ngoằn ngoèo làm cho bản sơ đồ trở nên mờ mịt, nhưng Berthier đã hiểu rõ tất cả dụng ý của Hoàng đế.
Phi ngựa tới chỗ ngoặt có một lùm cây che khuất, Lejeune nhận ra những túm lông trên mũ lính khinh binh thuộc lực lượng Molitor, anh không muốn chậm trễ, bởi lẽ không còn thời gian để phung phí nữa, vả lại anh không muốn rơi vào một tình thế khó xử, do một sự ngẫu nhiên kỳ quái nào đó lại phải đối mặt với Paradis, một người lính đã rất muốn ở lại Bộ tham mưu, tránh xa vùng lửa đạn thế mà anh đã không thể bảo vệ được. Làm sao giải thích cho Paradis biết được là Berthier là người rất cương quyết: “Không có chuyện ưu ái ở đây, Lejeune ạ, mỗi người có vị trí của mình. Hãy giúp tôi trả cái tay săn thỏ ấy về trung đoàn của nó đi. Đừng nêu gương xấu!” Lejeune không còn biết phải trả lời thế nào nữa. Với tình thế ấy thì ma quỷ nào còn dám dùng Paradis vào lực lượng trinh sát? Trong khi người ta lại đang cần pháo thủ, lính bộ binh. Tuy vâng lệnh cấp trên, nhưng Lejeune không sao gạt bỏ được sự băn khoăn, day dứt. Ừ, rồi thì công việc sẽ giúp anh quên đi tất cả.
Đại tá Lejeune vượt qua chiếc cầu nhỏ bị sóng đánh tả tơi; sông Danube rộng lên rất nhiều, những tấm ván lắc lư, chao đảo, con ngựa của Lejeune bước giữa những vũng nước. Lên đến đảo, Lejeune tiếp tục cho ngựa phi, tận mắt kiểm tra thảm họa ở phía bờ bên kia. Chiếc cầu phao lớn bị đứt ở đoạn giữa. Những con sóng ào về vị trí cầu bị đứt, tiếp tục xé tung những xà gồ, cột đỡ. Dây buộc bị kéo căng lần lượt đứt tung. Một phần cầu có xu hướng bị dịch chuyển sang phía khác, bất chấp mọi cố gắng của thợ cầu và lính công binh; họ dùng sào, rìu, cán cuốc cố gắng đẩy lệch hướng những chiếc thuyền lèn chặt đá mà bọn Áo đã thả xuống giữa dòng nước chảy xiết. Một chiếc thuyền đâm sầm vào cầu rồi chìm ngay trên mép đảo. Lejeune đến xem xét kỹ chiếc thuyền. Đó là một chiếc nhỏ hình tam giác, lòng thuyền khá sâu được chất đầy đá; do hình dạng đặc biệt đó nên chiếc thuyền vừa trôi nhanh vừa xoáy tròn, đâm thẳng vào cầu và những chiếc thuyền buộc xích neo giữ với một tốc độ rất lớn, va quật dữ dằn với tất cả các góc cạnh của nó. Thật điên rồ! Lejeune lầm bầm, sao lại vội vàng dựng một chiếc cầu phao trên dòng sông ầm ầm thác lũ thế này. Bọn địch đang tận dụng tình thế rất hợp lí. Lejeune càu nhàu đứng nhìn chiếc cầu được lắp ghép cẩu thả do thiếu thời gian, nhưng anh không dám nói thật điều đó với bất cứ ai. Lẽ ra cần phải đợi một vài tuần, hay thậm chí một vài tháng để cho nước sông Danube bớt hung dữ đôi chút, trở lại lưu lượng dòng chảy cũ, rồi mới dựng một cây cầu chắc chắn bằng gỗ với những trụ cầu cắm chắc xuống dòng sông. Những lập luận ấy chẳng có ích lợi gì trong lúc này, phải chỉ đạo việc sửa chữa ngay, tìm cách đưa lên bờ những thuyền bè, thân cây mà bọn Áo vứt xuống nhằm phá vỡ cây cầu mong manh.
Mệt mỏi, Lejeune tháo bỏ mọi thứ hoa mỹ trên bộ quân phục đang có nguy cơ làm anh khó chịu; anh ném gươm, mũ shako, túi đeo xuống giữa bãi cỏ rồi đến chỗ một sĩ quan công binh cùng với khoảng mười người khác đang cố gắng tìm cách chống đỡ một chiếc thuyền tam giác ma quái. Họ giữ một tấm gỗ dày chĩa vào chiếc thuyền đang vun vút lao tới, chờ đợi cú va chạm khủng khiếp. Chiếc thuyền lao nhanh đâm vào tấm gỗ, những người lính buông tay, bốn người trong số họ phải nhảy điệu valse giữa dòng xoáy nước ngầu bọt, may mắn thay, họ đã kịp túm được cọc và xà cầu. Cả bọn càu nhàu, kêu thét, miệng nuốt đầy nước bùn, nhưng chiếc thuyền đã bị đổi hướng đâm vào bờ đảo.
– Đại úy!
Lejeune chìa bàn tay về phía viên sĩ quan công binh ướt sũng, râu tóc rối tung, kéo anh ta lên cầu. Viên sĩ quan không nói gì cả mà lắng nghe những mệnh lệnh do đặc phái viên của Bộ tham mưu mặc quần đỏ truyền đạt. Sự hiện diện của Lejeune làm cho Đại úy yên lòng đôi chút.
– Đại úy, chúng ta mất bao nhiêu chiếc thuyền đỡ?
– Khoảng một chục, thưa Đại tá, không còn nguyên vật liệu để đóng những cái khác thay thế.
– Tôi biết rồi, làm bè thôi.
– Ôi giời ơi! Mất nhiều thời gian lắm!
– Anh có giải pháp nào khác không?
– Không.
– Tập hợp người của anh lại và động viên họ làm đi.
– Tất cả à?
– Tất cả. Bảo họ đi chặt cây, đẽo gọt đôi chút rồi kết lại, dùng đinh ghép ván, buộc dây, anh thấy ổn là được, nhưng bằng mọi cách phải có những chiếc bè nhanh nhất, bằng số thuyền đã bị nước cuốn trôi.
– Tuân lệnh.
– Nhìn kia kìa, ván cầu chưa bị nước cuốn trôi hết đâu, tôi thấy nhiều tấm được nước đẩy lên đảo. Nói mọi người nhặt lại đi.
– Không đủ được đâu…
– Thì cứ có chừng ấy đã! Hãy nối lại liên lạc với bờ phải bằng mọi giá, khẩn trương lên!
– Khẩn trương, khẩn trương, thưa Đại tá…
– Đại úy, Lejeune bình tĩnh nói với người sĩ quan công binh, bọn Áo có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào. Tôi hi vọng ta có thể tập trung được lực lượng về phía làng Ebersdorf đối diện, bọn chúng biết rõ điều đó và chúng chuẩn bị hành động.
Lực lượng của Molitor đi sát nhau trên con đường dài trũng nối phía sau Aspern với một trong những nhánh sông cạn của dòng Danube. Súng đã nạp đạn sẵn sàng và binh lính chờ đợi như trong giao thông hào, ẩn náu sau những ụ tự nhiên, được những bụi cây rậm rạp che chắn. Họ tin vào lực lượng dự trữ. Bọn Áo đang chuyển dịch giữa vùng đồng bằng đối diện với những khu làng. Chúng sẽ vấp phải lực lượng kị binh hoặc là hứng đạn pháo của Masséna. Lo lắng, nhưng chắc chắn một điều là họ không phải chịu đựng cú sốc đầu tiên. Lúc này, một số người đang há miệng nghe những câu chuyện tào lao của tay thượng sĩ Roussillon, dù những câu chuyện phiếm này đã được kể cả trăm lần và họ đã thuộc lòng. Thượng sĩ Roussillon đã từng đánh nhau trên khắp các chiến trường và anh ta luôn tự hào là mình còn sống sót sau mỗi trận đánh. Không biết bao nhiêu lần, anh ta đã kể về những chiến tích, nó để lại nhiều vết thương trên người anh hoặc kể về những chuyện kinh hoàng, khủng khiếp làm mọi người dựng tóc gáy. Roussillon kể rằng ở Cairo, một tên đao phủ làm thế nào để chặt đầu hai ngàn kẻ nổi loạn Thổ Nhĩ Kỳ trong vòng năm tiếng đồng hồ mà không bị mỏi tay. Vincent Paradis ngồi tách ra một nơi. Anh nghi ngờ khả năng mình có thể tồn tại cho đến cuối cuộc chiến. Và để không phải nghĩ đến sự khủng khiếp đó, hoặc giả là chưa phải ngay bây giờ, anh cầm một nhánh sậy mảnh mai đùa nghịch với một con rùa lớn; thu tròn lại trong bùn, chú rùa giãy giụa, vỏ mai bị lộn ngược.
– Nó không bao giờ có thể lật mình trở lại được, một khinh binh khác trông thấy bình luận. Chân của nó nhỏ quá, cũng như chúng ta. Tôi, nếu tôi có đôi chân dài hơn và không run rẩy, tôi thề rằng tôi sẽ nhanh chóng chuồn khỏi nơi này ngay.
– Để đi đâu, Rondelet?
– Tôi sẽ chôn mình trong một cái lỗ, tất nhiên là chờ cho đến khi chiến tranh qua đi. Tôi muốn làm sao để có thể hóa thân thành con chuột.
– Im nào…
Paradis dỏng tai lên nghe ngóng.
– Cậu có nghe thấy gì không, Rondelet?
– Tớ chỉ nghe những lời tầm phào của tay thượng sĩ, mà thực ra thì tớ không để ý cho lắm.
– Những con chim…
– Cái gì, những con chim ư?
– Tự nhiên, chúng bặt không thấy hót nữa.
Anh ta gặm một miếng bích quy khô cong thiếu chút nữa thì gãy cả răng, rồi ư ử hát với cái mồm đầy ứ bánh:
Napoléon muôn năm, muôn năm
Cho chúng ta
Nào gà
Nào bánh,
Rượu thì vô số
Napoléon muôn năm…
Paradis vươn cao lên bờ con đường trũng che giấu lực lượng quân Pháp và nhìn thấy một lá cờ màu vàng nhô lên trên một cái gò nhỏ, rồi thì mũ sắt đen, những ánh chớp lóe trên đầu những mũi gươm nhọn hoắt, và trong nháy mắt, một hàng quân phục màu trắng, rồi một hàng nữa, lại một hàng nữa, không trống, không kèn, không cả tiếng động. Paradis ngồi thụt xuống nền đường trũng, cuối cùng mới nói rành rẽ được mấy chữ:
– Chúng đến rồi kìa!
– Xong rồi, bọn chúng đã xuất hiện ngay cạnh chúng ta, khinh binh Rondelet ngoảnh sang người lính bên cạnh nhắc lại, rồi người này tiếp tục truyền cho người kia. Theo đó, tin tức cứ thế được truyền đi tới Aspern.
Bọn chúng dàn quân thành khoảng mười hàng, sẵn sàng lẩn vào giữa cánh đồng cỏ cao ngập đầu và những ngọn đồi, nơi đầy hiểm họa đang chờ chúng. Không cất cao giọng, mà bằng khẩu lệnh chắc như đinh đóng cột, các sĩ quan ra lệnh ba hàng quân đầu tiên vào vị trí bắn để cản đường bọn Áo. Khoảng năm trăm khinh binh lặng lẽ leo lên trên những vách đất và đống đá vụn; một đầu gối ngập trong cỏ, ẩn vào phía sau những bụi cây rậm rạp, họ nâng vũ khí lên vai nhắm bắn về phía những ngọn đồi. Sau lưng họ, những đồng đội khác chuẩn bị sẵn sàng vào thay thế vị trí của họ ngay sau khi loạt đạn đầu tiên phát nổ để họ có thời gian nạp đạn và đảm bảo bắn được liên tục.
– Đừng sốt ruột! Thượng sĩ Roussillon cằn nhằn, cứ đợi cho chúng vào thật gần…
Khinh binh hạ thấp nòng súng xuống.
– Khi nào chúng vào đến chỗ cái cây nhỏ còi cọc kia (các anh thấy cái cây đó không? Cách khoảng một trăm năm mươi mét…), đến lúc đó chúng ta có thể nổ súng!
Xa hơn một chút về phía bên phải họ, cách khoảng nửa quãng đường đến làng, người ta nhận ra những chóp mũ shako của một đơn vị khác sau những bức tường nhỏ và phía dưới kho lương thực dự trữ của một trang trại lớn xây bằng đá. Molitor đã khéo léo bố trí lực lượng lợi dụng địa hình phức tạp, những vùng trũng, những điểm lợi thế, ngay cả những ụ bùn khô được dân làng đắp cao để ngăn nước. Paradis đột nhiên cảm thấy yên tĩnh lạ thường. Anh tập trung chú ý quan sát những hàng lính mặc quân phục màu trắng, quân ngũ chỉnh tề, chậm chạp và gần như không trang bị vũ khí gì cả đang tiến thẳng về phía anh, rồi những hàng quân đó như tan đi vào góc khuất sườn đồi, cứ như thể tất cả bọn chúng bị chìm lấp vào đó. Vùng đất bên dòng sông Danube gồ ghề, phá hỏng viễn cảnh và bọn Áo biết rõ điều đó.
Mười ba giờ, trời nóng bức cũng là lúc có những tiếng súng nổ rời rạc ở phía bên kia trang trại. Binh lính ngồi xổm, nhấp nhổm, đầu súng chúc xuống đất, mắt hướng về phía chân trời bất định và ngọn đồi cuối cùng, từ đó, bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện lính biệt kích của Quận công Áo. Lạy chúa! Bọn chúng ẩn náu ở đâu? Chúng bất ngờ xuất hiện giữa bãi cỏ cao lút người, dàn quân thành đường chéo và quy củ đến hoàn hảo. Binh lính đi ghệt màu xám, áo quần sạch sẽ và trang phục hoàn toàn giống nhau, cùng một động tác chĩa mũi gươm nhọn hoắt như trong một cuộc duyệt binh. Paradis liếc mắt nhìn xuống bộ quần áo rách tướp của mình; còn Rondelet thì mặc một cái áo vét dân sự, dây đeo gươm màu trắng như phấn lòi ra ở phía dưới; viên sĩ quan chỉ huy của họ không đội mũ và hai má được tô điểm bằng bộ râu hai ngày không cạo. Phía đối diện, bọn Áo đang tiến đến, và cứ tiếp tục tiến đến; bọn chúng có khoảng bao nhiêu nhỉ?
– Bọn chúng đông gấp mười lần quân ta, Rondelet lẩm bẩm.
– Cậu cứ phóng đại lên, Paradis trả lời để không bị mất tinh thần.
Kẻ thù sắp vượt qua chỗ cây còi cọc. Mọi người súng tì vai sẵn sàng, ngón tay bồn chồn đặt trên cò súng.
– Bắn! Viên sĩ quan ra lệnh và rút thanh gươm, tay kia cầm bao gươm.
Paradis bóp cò, cảm thấy bờ vai như bung ra do cú giật quá mạnh của khẩu súng. Anh ta ngồi chồm hỗm nhường chỗ cho đồng đội đứng ở hàng thứ hai lên thay thế. Anh ta đã bắn bừa về phía trước, ngang tầm lồng ngực, không biết có trúng cái gì không.
– Bắn!
Anh nghe thấy loạt súng thứ hai nhưng không nhìn thấy gì cả vì đang hí hoáy nạp đạn nơi con đường trũng. Anh cầm một vỏ đạn, dùng răng xé rách lớp vỏ bọc, đổ thuốc vào nòng súng nóng bỏng, dùng thông nòng lèn chặt, rồi nhét đạn ghém vào; cứ ba phút lại một loạt đạn vang lên, khoảnh khắc đó được gọi là một chút nghỉ ngơi. Phía trên, những loạt đạn vẫn tiếp tục vang lên. Không biết bọn Áo ra sao nhỉ? Paradis vẫn chưa nhìn thấy người bị thương. Khi đến lượt Paradis nhoài lên bắn thì khói thuốc súng đã loãng dần, bọn Áo đã biến mất phía bên kia những ngọn đồi.
* * *
Đáng lẽ ra phải lẩn tránh đi như Vincent Paradis suy nghĩ thì bọn Áo lại tập hợp lại theo một kế hoạch đã chuẩn bị kỹ càng. Cái mà người lính bộ binh ấy không hề biết trong khi giương súng bắn bừa vào khu vực đồng bằng, đó là Thống chế Masséna đã nhìn thấy anh ta. Từ trên tháp chuông Aspern, ông nhìn thấy toàn bộ quang cảnh chiến trường. Ông quay lại vỗ nhẹ vào chiếc chuông đồng, đi từ cửa sổ này qua cửa sổ khác, những ô cửa mở hẹp nhưng khá cao, theo hình lỗ châu mai Lúc này, ông đang dự đoán những động thái của đối phương, quân Áo có ba khối quân rất có kỷ luật bao vây khu làng từ phía đồng lầy, chỗ khúc ngoặt của dòng Danube tới khu vực nằm giữa cánh đồng Marchfeld và có thể cả phía sau làng Essling. Đây đó có những trung đoàn phải dãn ra nhường lối cho hàng chục khẩu pháo và xe chở đạn, các pháo thủ chễm trệ trên đó như đang ngồi trên lưng ngựa. Mặt tái xanh và câm lặng, Masséna quấn cái roi ngựa trên cổ tay phải, quất mạnh vào các bức tường, ông lầm bầm chửi rủa vì đã không kịp xây dựng các lỗ châu mai cho những ngôi nhà cũng như không đào được những giao thông hào thật rộng để cản bước tiến của Quận công Charles. Ông hiểu rằng Quận công Áo muốn bao vây các khu làng, phá hủy cầu cống, khóa chặt ba mươi ngàn binh lính Pháp bên tả ngạn, cắt đứt mọi cứu viện và loại bỏ họ bằng việc dốc một lực lượng nhiều gấp ba lần. Ông cảm thấy từ lúc này, tình thế chiến trường phụ thuộc chính vào các quyết định của ông. Đứng trên cầu thang tháp chuông, phía sau là viên sĩ quan tùy tùng Sainte-Croix, ông thét to:
– Bọn chúng đang sắp sửa bao vây và bóp vụn chúng ta đấy.
– Chắc chắn là như vậy rồi, Sainte-Croix nói.
– Chắc chắn! Anh có mắt đấy chứ hả? Như thế thì theo anh, cần phải làm cái gì đây?
– Tôi sẽ ưu tiên bảo vệ cầu, thưa Công tước.
– Không đủ! Gì nữa?
– Rồi thì…
– Anh đã nhìn thấy những con gấu vùng Bavière bao giờ chưa?
– Gấu ư? Từ xa thôi.
– Một con gấu, khi bị thương, nó tự liếm khô vết thương, rồi sau đó thì ngủ phải không?
– Tôi không rành chuyện này, thưa ngài Công tước.
– Hắn sẽ tấn công! Chúng ta cũng sẽ làm như vậy! Chúng ta sẽ cùng những người lính nghèo đói khốn khổ của chúng ta chọc thủng đội quân ăn mặc bảnh bao, hàng ngũ chỉnh tề của quân Áo! Chúng ta sẽ cắt nhỏ chúng ra, anh bạn Sainte-Croix của ta ạ!
Trong gian thờ, Masséna lấy một cái khăn lễ tuyệt đẹp có thêu những sợi chỉ vàng, vắt lên vai mà rằng:
– Những cái này đáng giá đấy, Sainte-Croix, thật là ngu xuẩn nếu dẫm đạp lên khăn lễ của thầy tu! Anh có tin vào giáo hội không, anh bạn, cái tên của anh hơi khả nghi đấy.
– Tôi tin vào ngài, thưa ngài Công tước.
– Biết trả lời đấy, Masséna cười hài lòng nói.
Ông vừa nảy ra ý đồ phòng thủ tiến công có hiệu quả nên gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Dưới tán những cây du nơi quảng trường, ông nói với đám sĩ quan đang tập trung ở đó chờ lệnh:
– Chúng ta phải giữ bằng được hai ki-lô-mét chiều dài mặt trận trước khi lực lượng cứu viện từ hữu ngạn tới. Phía đối diện, bọn chúng đông gấp ba lần ta với ít nhất hai trăm khẩu pháo đang chĩa vào chúng ta. Chúng ta cần phải bất ngờ tấn công trước!
– Chiếc cầu lớn vẫn chưa sửa xong…
– Đúng thế! Nhưng chúng ta không còn thời gian nữa.
Masséna nhảy phắt lên lưng con ngựa do một giám mã dẫn tới trao cương cho ông. Đeo vội đôi găng trắng, ông vút mấy roi vào hông ngựa, phi nhanh đến chỗ đám pháo thủ được bố trí theo hình cánh cung quanh Aspern, ẩn náu dưới những hàng cây và góc khuất của những ngôi nhà. Tất cả đã sẵn sàng. Các pháo thủ đứng phía sau khoảng hai chục khẩu pháo đã nạp đạn sẵn sàng. Theo hiệu lệnh của Masséna, họ đốt que châm mồi lửa. Trên cánh đồng, các đơn vị thuộc binh đoàn số sáu của Áo do Nam tước Hiller, một người khôn khéo nhưng đã có tuổi chỉ huy đã xuất hiện. Bọn chúng đang trong tư thế nghỉ, đội hình sít sao, áp đảo.
– Hạ nòng pháo sát đám lúa mạch! Thống chế ra lệnh.
Nói rồi, không rời lưng ngựa, ông giật phắt que châm mồi của một pháo thủ bên cạnh, cặp mắt vằn lên, giọng vang xa phát ra những mệnh lệnh rõ ràng:
– Khi ta châm lửa vào khẩu pháo số một, thì chờ khoảng một nhịp thở rồi châm ngòi cho khẩu súng số bốn, sau đó là khẩu số bảy, số mười, mười ba, tiếp theo là số hai, số năm, số chín, và cứ tiếp tục như vậy. Ta muốn lập một hàng rào lửa! Những con chó đã nằm trong tầm bắn của chúng ta!
Nói xong từng ấy, Masséna hạ thấp mồi lửa đang cầm trên tay xuống, châm ngòi nổ. Tiếng gầm lên vang dội, theo sau là khẩu số bốn và lần lượt những khẩu pháo khác nổ rền vang. Những người lính vội vàng nạp đạn trong làn khói mịt mờ.
Trận chiến không tên. Mỗi người tưởng tượng ra một kiểu khác nhau, trong nỗi thấp thỏm, lo lắng về nó từ một tuần nay, và thực sự, cuộc chiến chỉ vừa mới bắt đầu.
* * *
Ba giờ chiều, dân thành Vienne nghe tiếng pháo rền vang. Những người tò mò nhất chen nhau dồn về những điểm cao để có thể quan sát chứng kiến trận đánh nhau. Họ đứng chon von trên nóc nhà, trên những tháp chuông, bên những lỗ châu mai của các chiến lũy cũ. Họ tranh giành những chỗ tốt nhất như đi xem trong nhà hát. Henri Beyle đang ốm nhưng được người bác sĩ Đức Carino nhượng bộ cho phép ra ngoài hít thở không khí trong lành. Mặc cho vết thương đau nhói, Henri ngồi ở điểm nhô ra của ngọn tháp canh, từ đó có thể nhìn thấy dòng sông Danube uốn lượn và cánh đồng lúa mạch xanh rờn rộng mênh mông. Chị em Anna Krauss cũng bị lôi kéo đến chỗ tháp canh và may mắn là tay Staps khó chịu hay cau có không đi theo họ. Xa xa phía cánh đồng Marchfeld, các tiểu đoàn đang di chuyển giống như những vật mĩ nghệ bé nhỏ tinh xảo vô hại, và khói từ nòng những khẩu pháo phun ra giống như những cục bông. Henri có cảm giác như đang ngồi trong vị trí người nhắc vở sân khấu, nên cảm thấy lúng túng. Những ngọn lửa đang bùng lên trên những ngôi nhà bị dội pháo ở làng Aspern không làm cho anh vui sướng gì. Anna quấn chặt mình trong chiếc khăn Ai Cập rộng thùng thình như thể trời đang lạnh giá, nàng run lên, môi mím chặt. Nàng đoán chắc rằng điều tệ hại sẽ đến với Louis-François. Còn Henri, bị cơn ghen tuông dày vò, giờ đây, anh chỉ cảm nhận nơi cô hình ảnh của sự đau đớn bất lực.
Một thợ làm kính trong phố cũ cho thuê ống nhòm trả tiền theo phút. Ông ta liên tục phải theo dõi đồng hồ để kiểm tra thời gian. Henri nhờ bác sĩ Carino thuê hộ một chiếc, nhưng không còn cái nào nữa. Lão thợ kính chỉ người đàn ông to béo bên trái nói rằng thời gian thuê giá hai florin của ông ta sắp hết. Cuối cùng, Henri cũng thuê được ống nhòm. Anh hướng ống nhòm về phía Aspern nơi một nhà kho đang bốc cháy ngùn ngụt. Một cột khói đen bùng lên dữ dội, ngôi nhà bên cạnh bị khói phủ kín, mái nhà sắp sập đến nơi, có ai dưới đó không? Rồi sau đó, Henri quay ống nhòm về phía cây cầu nơi đoàn người đang đi hối hả như một đàn kiến. Có tiếng đồn đang lan truyền, Henri không tin vào tai mình nữa: Hoàng đế đã cho chặt đứt chiếc cầu phao lớn chặn đường rút lui, bắt buộc binh lính không còn con đường nào khác phải chiến đấu và chiến thắng. Anna chìa bàn tay, nở nụ cười buồn bã; Henri trao cho nàng chiếc ống nhòm, nàng dán chặt mắt vào đó, lo lắng, bồn chồn nhưng với khoảng cách xa thế này, ngay cả bằng ống nhòm, cũng chỉ phân biệt được những động tác lờ mờ, không có gì chính xác cả, nhất là không thể nào nhận ra những khuôn mặt hay những bóng hình thân thuộc. Sự lờ mờ phản lại tất cả. Không ai có quyền cầm ống nhòm quá thời gian thuê, nếu quá một chút, người cho thuê đòi thêm hai đồng florin nữa. Bác sĩ Carino dịch lời yêu sách đó, hiểu ra, Henri cúi sát mặt về phía người cho thuê, thét to một tiếng “Không!” làm lão phải giật lùi trở lại. Đúng lúc đó, có giọng một phụ nữ:
– Henri!
Thì ra là Valentine. Henri nghiến răng chửi thề. Nàng cùng với đoàn kịch đi đến chiến lũy chuẩn bị biểu diễn vở Dom Juan của Molière dàn dựng theo phong cách Vienne. Diễn viên ăn mặc rất lịch sự, một số diễn viên mặc áo dài vải percale, các chàng trai vận các bộ quần áo chẽn, ống quần bỏ vào trong ủng cao cổ. Họ mang theo ống nhòm dùng trong nhà hát, xôn xao bình luận trận đánh theo cách của họ. Đám diễn viên nói về vở kịch Comte Waltron, một vở kịch có những âm mưu rất kỳ quái cùng với rất nhiều diễn viên quần chúng mặc quân phục đeo trang bị kị binh lướt qua trước mặt khán giả.
– Em nói với bạn bè của em rằng họ có thể đến bên hòn tên mũi đạn được đấy, Henri nói với Valentina.
– Anh lúc nào cũng tử tế nhỉ! Cô nàng phật ý nói.
– Đến phía dưới kia, họ sẽ nhìn thấy những xác chết thật, máu thật và ai biết được, họ lại có cơ may nhận được một cái xà gồ cháy dở vào đầu.
– Anh không phải người kỳ cục đấy chứ, Henri!
– Anh không phải là một gã kỳ cục, em nói đúng đấy, anh không có lý do gì để là người như vậy.
Henri quay lại chỗ tháp canh, ở đó từ nãy Anna luôn trong tâm trạng lo lắng, nhưng nàng đã bỏ đi cùng với mấy người em gái. Bác sĩ Carino giải thích: “Anh cũng nên bắt chước họ thôi, anh bạn đáng thương của tôi ạ. Giá như anh có thể nhìn được mặt của anh lúc này… Anh sốt cao quá rồi đấy, theo tôi, anh nên về giường và ăn một bát súp đi.” Theo lời khuyên, Henri bỏ đi không nói lời từ biệt Valentina. Bạn bè của cô vẫn tiếp tục câu chuyện tầm phào về những đám cháy đang bốc ngùn ngụt ở phía Aspern. Họ cho rằng những đám cháy này không hiện thực bằng cơn giông trong vở kịch La Flute enchantée mà họ đã xem trên sân khấu ngoài trời Schikaneder nổi tiếng.
* * *
Những loạt đạn pháo của Masséna đã tàn phá hàng ngũ quân Áo. Sau một lúc nhốn nháo nguy hiểm và rút lui chiến thuật, pháo binh của họ bắt đầu vào cuộc. Một cái kho bằng gỗ bị đạn pháo dội trúng, rồi hai trăm khẩu pháo liên tục khạc lửa, làm cho mái nhà đổ sụp hoàn toàn, đám cháy bùng lên dữ dội. Dân tình không có thời gian cũng như phương tiện dập tắt ngọn lửa. Những xác chết đầu tiên bị đốt cháy như những bó đuốc, dù họ đã cố gắng lăn lộn trên cát nhưng bất lực, vô vọng. Khinh binh được bố trí bên trái, cách xa làng, thế mà họ vẫn cảm thấy hơi nóng từ đám cháy phát ra rát ràn rạt; tàn lửa bay tứ tung làm cháy sém cả quần áo; một làn gió nhẹ lùa về phía họ một đám khói đen sì, dày đặc, cổ họng họ khô cháy. Rondelet nhổ nước bọt xuống đất, đùa tếu:
– Mới bắt đầu mà mình đã bị nướng chín rồi đây.
Paradis nhăn mặt nhét thuốc vào nòng súng. Lực lượng sư đoàn Molitor không thay đổi vị trí. Sau một vài loạt đạn bắn sang nhau, cả hai phía chưa bị trầy da xước thịt, thấy xếp hàng bắn nhau không đạt hiệu quả, họ phải phá vỡ hàng ngũ. Viên Đại úy chỉ huy đút thanh kiếm vào vỏ và rút cả hai khẩu súng ra. Thượng sĩ Roussillon, nét mặt không mảy may xúc động, lên tiếng khích lệ đơn vị của mình:
– Này, các chàng trai, chúng ta phải dọn sạch mảnh đất này! Toàn đơn vị dàn theo hình rẻ quạt! Chúng ta chuẩn bị chuyển sang tấn công.
– Tấn công cái gì? Paradis bạo dạn hỏi lại.
– Bộ binh Áo đang tập trung tại Aspern, Đại úy giải thích. Cần phải tấn công chúng từ sau lưng.
Vẻ tư lự, viên sĩ quan cầm chắc hai khẩu súng trong tay, sải những bước dài trên bãi cỏ. Ba ngàn lính được bố trí khắp trên các cánh đồng và trong thung lũng, áp sát bờ sông Danube, vừa tiến quân vừa nghe ngóng. Nhưng những tiếng nổ lẹt đẹt phát ra từ đám cháy quá gần, tiếng pháo gầm rú dữ dằn, tiếng gẫy khô khốc của các xà gồ, vì kèo đã che lấp tiếng chân ngựa của một đại đội khinh kị binh của Áo, mặc quân phục màu xanh, đang phi nước kiệu chọc thẳng vào sườn họ. Đám khinh kị binh xông lên gào thét điên cuồng, kiếm lăm lăm trong tay, lưng cong của lưỡi kiếm hướng lên trời để thọc, đâm và xiên đám bộ binh xuống mặt đất cho có hiệu quả hơn.
Mặt đất rung lên dưới tiếng vó ngựa, tiếng kèn xung trận vang lên xen lẫn tiếng thét gào của đám khinh kị binh. Bị bất ngờ, Paradis và đồng đội của anh lại tì súng vào vai theo bản năng. Hai cánh tay song song với mặt đất, viên Đại úy của họ bắn cả hai tay, rồi ném hai khẩu súng xuống đất, rút phắt thanh gươm, cùng lúc đó, khinh binh không thèm ngắm và cũng chẳng thèm nghe lệnh gì nữa, cứ nhằm ngang tầm cổ ngựa mà bắn. Giữa đám lính đông nghẹt hằm hè sắp sửa nghiến nát họ, Paradis bỗng thấy một con ngựa nhảy lồng lên; tay kị binh vấp phải một con ngựa bên cạnh, mất thăng bằng, một viên quan ba[4] Áo bị trúng đạn vào trán, con ngựa theo quán tính cứ mang theo người sĩ quan trên yên mà chạy, rồi cuối cùng hất anh ta xuống đất. Paradis không thể nào nạp tiếp đạn được, chống báng súng xuống mặt đất xốp, cả hai tay giữ súng, hai vai, đầu cúi thấp, người cong gập như bị dính một ngọn lao, cùng đồng đội vai kề vai, lập thành một bức rào chắn. Anh khép mắt lại. Cú va chạm xảy ra tức thì. Những con ngựa đi hàng đầu bị xé toạc trên đầu những mũi lê dựng đứng, ngã nhào. Paradis co rúm trong khóm cỏ, cánh tay tím bầm tê liệt hoàn toàn. Anh cảm thấy một dòng chất lỏng nóng và nhớp dính trên những ngón tay… Chắc chắn là mình bị thương rồi, anh nghĩ vậy. Paradis chống tay đứng lên nhìn ra xung quanh thấy một đám khinh binh và khinh kị binh hỗn độn. Paradis khẽ lắc người nằm bên cạnh, lật ngửa mặt lên trời; đôi mắt anh ta đảo lia đảo lịa. Phía sau, một con ngựa bị đạn xé toạc ổ bụng đang hí lên đau đớn, đôi chân đạp lia lịa, bụng bị xé toang hoác, ruột gan vương vãi ra ngoài. Trên chiến trường, Paradis nghĩ, quả thật không còn hiểu ra làm sao nữa, tôi chết rồi sao? Máu của ai vậy? Không, chắc là không phải của tôi. Hay máu ngựa? Hay máu của người bên cạnh, mà tên anh ấy là gì nhỉ?
– Pssst…
Paradis nhìn thấy Rondelet nằm sấp đang nhay nháy mắt với mình. Anh hỏi:
– Cậu có sao không?
– Không sao cả, nhưng cầu mong đừng lặp lại nữa. Tớ giả vờ làm thây ma thôi mà, nhưng phải thận trọng đấy.
– Này, cẩn thận!
Một người lính Áo bị ngã ngựa tập tễnh tiến lại gần. Anh ta nghe được cuộc trao đổi giữa hai xác chết giả vờ nên vội vàng nâng cao thanh kiếm. Nhờ Paradis báo hiệu, Rondelet phản xạ nhanh chóng, lăn người sang bên cạnh. Nhanh tay, Paradis bốc một nắm đất ném vào mắt tay kị binh; bị đất tung vào mắt, tên lính nhảy cẫng lên cuống cuồng, khua kiếm tít mù tạo thành một điệu vũ nguy hiểm. Thượng sĩ Roussillon nhặt một mũi lê, đâm thẳng vào lưng và đẩy một cú rất mạnh vào tên lính Áo.
– Bị thương hay không thì cũng phải đứng lên! Viên thượng sĩ ra lệnh. Bọn chúng sắp trở lại đấy.
– Thế bọn chúng chuồn hết rồi à? Rondelet thở phào. Thượng sĩ Roussillon nắm cánh tay kéo anh ta dậy:
– Cậu còn nguyên vẹn cả đấy thôi, guốc ngựa chưa chạm được vào má cậu đâu mà! Thế còn cậu?
– Có máu, đúng thế, Paradis trả lời, nhưng không biết là máu của ai.
– Tất cả mọi người quay lại tập hợp phía sau con đường trũng, khẩn trương lên!
Những kẻ có phép lạ đứng dậy, tai điếc đặc, lúng ta lúng túng trên chính đôi chân của mình.
– Nhặt hết các túi đạn lên, thượng sĩ Roussillon càu nhàu. Đừng có phung phí đạn.
Phía bên kia bãi chiến trường, đám lính khinh kị binh đang củng cố lại đội hình chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới.
* * *
Sau loạt đạn thứ tư, Tướng Molitor quyết định rút quân về phía làng. Ông nghĩ nơi đó có thể tạo được một điểm tựa tốt. Ông kìm cương con ngựa đang run lên vì sợ hãi, tay nắm chặt đốc kiếm tổ chức cuộc rút lui cần thiết về phía sau con đường trũng. Tại đó, cuộc tấn công lần thứ năm bị bẻ gãy. Một số khinh kị binh chốt trên một cái gò, do chủ quan, nghĩ là đã chiếm được ưu thế, cho nên họ bị nghiến nát như trong một cái cối xay thịt; bọn chúng bị đánh tạt từ phía sau, hứng chịu những trận huyết chiến giáp lá cà và đạn bắn thẳng. Khinh binh nhường trận địa nhưng nhặt nhanh tất cả súng ống, tư trang trên các xác chết. Người thì cắp súng trong tay, kẻ thì quàng súng qua vai, có kẻ lại đeo súng bằng dây da màu đen có móc lưỡi gươm trần; Paradis quàng ngang ngực rất nhiều túi đạn, đầu đội chiếc mũ shako của lính Áo. Họ lùi về phía những ngôi nhà gần nhất của làng Aspern, bỏ qua những con ngựa màu nâu, to lớn, đang trong cơn đau hấp hối hí vang trời: chúng phải chịu một cái chết từ từ đau đớn, không thể giúp chúng kết thúc nỗi đau được, lúc này, đạn thật quý giá, phải dành cho người.
Thật kỳ lạ, đám cháy nhìn gần không gây ấn tượng mạnh cho lắm. Phần lớn những ngôi nhà trên con phố chính, nơi từng toán lính tráng tiến đến gần như không hề hấn gì, bởi vì pháo của Nam tước Hiller cuối cùng đã bị câm bặt, bởi vì những đám cháy dữ dội lúc này đã xẹp xuống do thiếu chất dẫn cháy. Khắp mọi nơi trong làng, nhiều người đang cố gắng ném đất dập tắt đám cháy. Khu làng bị tàn phá, nhà cửa bị cháy trơ khung đen thui, ám khói, đổ gãy, lâu lâu lại rơi xuống một khúc xà gồ, tro tàn bốc mù mịt. Khói đặc đến nghẹt thở, khinh binh phải xé vạt áo sơ mi che mặt. Sức nóng của mấy cái lò lửa trở nên không chịu nổi.
Trên mảnh đất rộng bằng phẳng trước nhà thờ Aspern, đám sương mù dày đặc, đen ngòm bốc lên từ những đám cháy quyện với đám bụi bặm phủ mù mịt, bởi vì các pháo thủ vẫn tiếp tục bắn mò trong đám khói dày đặc; mặt mũi của họ bẩn thỉu, môi khô khốc. Họ nhặt đạn của kẻ thù bắn đến để bắn trả lại. Đỉnh tháp vuông nhà thờ bị nổ tung bởi một trái phá, cái chuông bằng đồng rớt xuống làm sập cả cầu thang dẫn lên các tầng trên. Trên sàn một chiếc xe ngựa chất đầy thương binh, tạm thời được đưa về tập kết tại một khu nhà kho. Họ sẽ được đưa về phía đầu cầu đảo Lobau, bác sĩ Perey đã lập trạm sơ cứu tiền phương ở đó. Chân, tay thương binh được băng bó bằng những mảnh vải xé ra từ các bộ quân phục. Thương binh cụt chân, dập cẳng khập khễnh lê lết, họ bò như những con quỷ. Những thương binh nhẹ hơn vác thương binh nặng quấn trong những chiếc áo măng tô.
Masséna đứng ở sân trước nhà thờ. Chiếc khăn cha xứ quấn quanh cổ, ông cầm một khẩu súng đã nạp đạn ra lệnh bằng một giọng chói tai:
– Đưa hai khẩu pháo bố trí trên dãy phố thứ hai!
Trong khi các pháo thủ móc pháo kéo vào vị trí thì Molitor đến gần Thống chế, cầm cương ngựa lắc lắc.
– Bao nhiêu người chết, Tướng quân?
– Một trăm. Hai trăm, thưa ngài Công tước, có thể hơn.
– Thế còn thương binh?
– Ít nhất cũng tương đương như vậy, tôi nghĩ là như thế.
– Tương tự chỗ tôi, Masséna nói, số quân còn lại thuộc trung đoàn của ông cũng chịu một tỉ lệ tổn thất như vậy. Có điều khác là…
Thống chế đẩy Molitor về phía điểm xuất phát của dãy phố chính thứ hai, chỉ cho ông ta thấy, trong màn sương mù, những lá cờ màu vàng có in hình những con đại bàng đen chỉ cách đó khoảng ba trăm mét.
– Lực lượng của ông tiến đến từ phía đầu làng này, Molitor ạ, bọn Áo tiến đến từ phía đầu làng kia. Pháo binh của tôi có thể kìm chân chúng, nhưng thuốc pháo chả mấy chốc sẽ hết. Hãy tập trung những người còn khỏe mạnh trong đơn vị của ông lại và tiến lên!
– Ngay cả những người khỏe nhất cũng không còn đủ sức nữa, thưa ngài Công tước.
– Ôi, Molitor! Ông đã từng chiến đấu với bọn Tyrol, người Nga và ngay cả với Quận công Charles ở Caldiero! Tôi chỉ đề nghị ông lại tiếp tục thôi mà.
– Khinh binh của tôi còn trẻ quá, họ sợ, họ chưa có kinh nghiệm chiến trường và sự bất chấp của chúng ta.
– Bởi vì những xác chết mà họ nhìn thấy chưa đủ lượng! Hoặc vì họ nghĩ quá nhiều về cái chết!
– Đây không phải là nơi để mắng mỏ họ.
– Đúng vậy, Tướng quân. Hãy đưa rượu cho họ uống! Hãy làm cho cái bọn bỏ đi ấy say mèm đi rồi chỉ cho họ lá cờ!
Đại tá Lejeune chạy ào vào làm con ngựa lồng lên ngay trước mặt Masséna:
– Thưa ngài Công tước, Bệ hạ yêu cầu ngài cố gắng giữ vị trí này cho đến tối nay.
– Ta cần thuốc súng.
– Không thể được thưa ngài. Chiếc cầu chính sẽ không có khả năng sử dụng được trước tối nay.
– Thế thì đánh nhau bằng gậy à?
Masséna quay lưng, thư thái, tiếp tục câu chuyện đang dở dang với Molitor:
Rượu, thưa Tướng quân, rượu có đầy trong gian giữa. Tôi sẽ cho dỡ hết mọi thứ trên xe ngựa của các đơn vị hậu cần xuống. Lúc này chúng ta đang rất cần xe cho việc chuyển thương binh.
Khi Lejeune phi ngựa thẳng xuống cánh đồng bị chia cắt bởi những hàng rào và bờ giậu, anh như con thoi nối liền liên lạc giữa Essling và Hoàng đế, cùng lúc đó, cơn say bắt buộc đối với lính bắt đầu được thực hiện. Đạn pháo cho đến lúc này đã bỏ quên mái nhà thờ, hàng trăm cây cột chồng đống ở phía trong, Molitor cho dồn cả vào dưới rặng du. Nóng tháng Năm cộng với hơi nóng bốc ra từ những đám cháy, khói bốc mịt mù làm khô cả họng. Khoảng hai nghìn khinh binh kiệt sức chen lấn nhau nhận những chiếc cà mên kim loại đựng đầy ắp thức ăn, lính tráng uống như súc vật uống nước, uống rất nhanh như chưa bao giờ được uống. Để thay đổi tính cách các chàng trai thích lẩn tránh cái chết hơn là sự chém giết thành những chiến binh thực thụ, để đạt được mục đích đó cần phải làm cho họ trở nên vô thức hoàn toàn với hoàn cảnh hiện nay, làm cho họ có khả năng đương đầu được với nó. Say, ít nhất cũng tạo nên không khí vui nhộn, họ trở nên dũng cảm, coi thường bọn Áo mà Masséna dự định sẽ nã pháo để kìm chân chúng không cho tiến lên. Cứ sau mỗi một tiếng nổ lại bật ra những lời bình luận phóng túng hoặc những câu hò hét trả thù. Khi khinh binh đã ở trong hạng thái phấn khích, Molitor cho tập hợp họ lại thành một đội ngũ có vẻ nghiêm chỉnh, ông giương cao ngọn cờ ba màu, trên đó tên trung đoàn được thêu màu vàng, thế là họ dũng mãnh bước theo ông trên con phố chính và phía đằng kia, bộ binh của Nam tước Hiller đang án ngữ tại đó. Sau loạt súng thứ nhất, nhìn thấy một số đồng đội ngã xuống, họ cho rằng đó là do không may mắn. Anh lính Paradis cũng trong trạng thái nửa tỉnh nửa say như những người khác, giương súng bắn thẳng về phía trước, sau đó theo một mệnh lệnh vừa phát ra, anh ta lại giương lê thẳng căng ngang tầm dạ dày. Paradis bắt đầu chạy và xiên mũi lê vào bất cứ người nào mặc quân phục trắng mà anh chỉ nhìn thấy mờ mờ.
* * *
Hoàng đế trên lưng ngựa, bên cạnh là Lannes, trước mặt là làng Essling, bên bờ cánh đồng rộng mênh mông, vây xung quanh là đám lính ném lựu mặc toàn đồ xanh, đội mũ da lông gấu thuộc trung đoàn khinh bộ binh 24.
– Thế nào? Hoàng đế hỏi Lejeune.
– Công tước Rivoli thề sẽ cố thủ tới cùng.
– Như vậy là ông ta sẽ giữ được.
Thế rồi, Hoàng đế cúi đầu, bĩu môi. Người lo ngại đôi chút về lực lượng pháo binh Áo đang nhằm bắn thẳng rất dữ dội về hướng Essling như đã từng bắn rất quyết liệt về phía Aspern. Bất ngờ, một quả đạn rơi trúng vào háng con ngựa của Hoàng đế, con ngựa rung bờm hí vang, khuỵu xuống cùng với người kị sĩ trên lưng. Lannes vội vàng nhảy phắt xuống đất cùng với Lejeune; các sĩ quan giúp Hoàng đế đứng dậy, lính Cận vệ Roustan nhặt chiếc mũ cho Hoàng đế.
– Không sao cả, Hoàng đế vừa nói vừa lấy tay vuốt lại chiếc áo khoác. Nhưng trong kí ức mọi người, sự kiện này gợi cho họ nhớ lại tai nạn mới đây ở Ratisbonne, viên đạn của một gã người Tyrol[5] đã làm Ngài bị thương ở gót chân. Ngài phải ngồi trên một chiếc trống băng bó lại vết thương trước khi lại leo lên ngựa.
Một viên tướng đội mũ có chòm lông chống thanh kiếm trên cỏ kêu to:
– Chúng ta sẽ hạ vũ khí nếu Hoàng đế không lùi lại phía sau!
– Nếu Bệ hạ không đi khỏi nơi đây, một người khác lại gào lên, thì tôi sẽ cho người của tôi đưa Bệ hạ đi!
– Rắc rối quá! Napoléon nói rồi đội mũ lên đầu.
Trong khi lính Cận vệ của Napoléon dùng dao găm giết chết con ngựa bị thương đang trong cơn hấp hối, Caulaincourt dắt đến một con ngựa khác thay thế; Lannes giúp Hoàng đế lên ngựa. Nãy giờ im lặng, lúc này Berthier mới yêu cầu Lejeune hộ tống Hoàng đế đến đảo và yêu cầu Lejeune lặp một trạm quan sát để từ đó Hoàng đế có thể giám sát mọi cuộc hành quân mà không gặp nguy hiểm. Được bảo vệ giữa một đoàn tùy tùng, Napoléon im lặng thúc ngựa rời xa khu vực nguy hiểm, vượt qua làng Essling và khu rừng cây rất rậm rạp nối liền Essling với sông Danube. Đoàn quân đi dọc theo con sông cho tới chỗ cây cầu nhỏ, lần lượt vượt sông. Trong lúc vượt sông, quan giám mã đi theo giữ ngựa cho Hoàng đế. Khi đến đảo Lobau, Hoàng đế đùng đùng nổi giận. Ngài chửi Caulaincourt bằng thứ tiếng lóng vùng Milano, cho rằng các sĩ quan đã ra lệnh cho Ngài, đe dọa Ngài và rằng Ngài phải tuân lệnh. Bọn chúng dám dùng bạo lực buộc Hoàng đế quay trở về phía sau ư? Napoléon hỏi Lejeune và Lejeune trả lời là đúng như vậy. Lúc cơn tức giận đã giảm xuống đôi chút, Hoàng đế lẩm bẩm:
– Từ đây thì chẳng nhìn thấy cái quái gì cả!
– Việc đó có thể thu xếp được, thưa Bệ hạ, Lejeune nói.
– Thế anh có sáng kiến gì không? Hoàng đế nói, giọng khó chịu.
– Cây thông cao lớn kia…
– Thế anh định coi ta như một con tinh tinh của vườn thú Schönbrunn à?
– Có thể làm một cái thang dây, từ trên cao mọi thứ đều lọt vào tầm mắt của Ngài.
– Thế thì làm ngay đi!
Một kiểu trại lính lập tức được bố trí ngay dưới gốc cây thông. Hoàng đế buông mình trên chiếc ghế bành. Ngài không nhìn mấy người lính trẻ yếu đuối đang leo lên cây mắc cái thang dây, Ngài lắng nghe tiếng pháo nổ xa xa không ngớt, Ngài không ngửi thấy mùi khói cháy khét lẹt bay đến từ cánh đồng. Vẻ thản nhiên, Ngài nhìn chằm chặp vào mũi ủng, mơ màng: “Thế là bọn chúng đều căm ghét ta! Berthier, Lannes, Masséna và những kẻ khác, tất cả những kẻ khác, bọn chúng đều căm ghét ta! Ta không có quyền được nhầm lẫn. Ta không có quyền thua. Nếu ta thua, bọn vô lại sẽ phản bội ta. Và có thể chúng còn giết ta! Bọn chúng mang ơn ta và hình như bọn chúng giận ta! Chúng giả vờ trung thành, chúng ra trận chỉ để nhặt nhạnh vàng bạc, danh vọng, lâu đài và đàn bà! Bọn chúng ghét ta và ta không ưu ái một ai cả. Kể cả anh em của ta. À mà có chứ. Joseph chẳng hạn, mà theo thông lệ thôi, anh ta là anh cả. Thế còn Duroc cũng như vậy. Tại sao nhỉ? Bởi vì anh ấy không biết khóc, và quá nghiêm khắc. Bây giờ anh ấy ở đâu? Tại sao anh ấy không ở đây? Nếu anh ấy cũng căm ghét ta thì sao? Thế còn ta? Ta có ghét ta không? Không hề. Ta không có ý kiến gì về ta cả. Ta chỉ biết có một sức mạnh thúc đẩy ta và không có cái gì có thể ngăn cản được điều đó. Ta buộc lòng phải tiến lên và phải chống lại tất cả bọn họ”.
Hoàng đế cuốn một điếu thuốc lá, đột nhiên hắt hơi về phía Lejeune lúc đó đang đứng phía trước mặt báo cáo:
– Thưa Bệ hạ, thang đã được lắp đặt xong. Bằng ống nhòm, Bệ hạ có thể quan sát toàn bộ chiến trường.
Hoàng đế ngước mắt lên ngọn cây thông và chiếc thang mềm đang đung đưa. Ngài ngồi trên yên ngựa đã khó khăn, thì làm sao có thể leo lên được trên cao ấy? Hoàng đế thở dài:
– Trèo lên đi Lejeune, báo cáo chi tiết tình hình chiến trường cho ta.
Khi Lejeune đã ở trên những cành cây thấp, Hoàng đế nói thêm:
– Không cần tính số người mà tính từng khối, giống như những bức họa vứt đi của anh ấy!
Lên đến tầm có thể quan sát được, Đại tá Lejeune lồng tay vào một sợi dây, đặt chân trên một cành cây chắc chắn, giương ống nhòm quét một góc rất rộng toàn bộ chiến trường. Những khối người và chỉ nhìn được thế mà thôi. Lejeune đã từng cùng với Berthier học cách nhận biết các trung đoàn của Quận công Áo theo cờ hiệu của họ. Anh có thể định danh được chúng và biết tên tướng lĩnh chỉ huy, đánh giá biên chế từng đơn vị. Nhờ ống nhòm của Hoàng đế, Lejeune có thể phân biệt được cờ hiệu màu vàng của đám lính kị binh đánh thuê, những tua lụa đen quấn quanh mũ của đám long kị binh. Trong cảnh lộn xộn của đám lính tráng, về phía tay phải, anh nhìn thấy đám bộ binh của Hohenzollern và kị binh của Bellegarde tập trung tại Essling mà không tiến sâu vào làng. Phía Aspern, lửa vẫn cháy ngùn ngụt, anh thấy quân của Nam tước Hiller đang tấn công một cách đáng sợ. Nằm giữa hai cánh quân đang kháng cự đó, anh còn nhìn thấy lực lượng của Thống chế Bessières với lá cờ hiệu màu xanh được viền ánh bạc đang từ từ rút lui khỏi bãi chiến trường, lính thiết kị của Espagne án binh bất động, xếp thành mười bảy đại đội sẵn sàng tấn công và binh lính của Lasalle. Đối diện với họ, trong khói đạn mịt mù, phòng tuyến pháo đang khạc lửa, biên chế tiểu đoàn và kị binh thì ít hơn; lính Áo lúc này di chuyển về phía hai khu làng để tăng cường lực lượng vào hai vị trí đó. Lejeune từ trên cây tụt xuống báo cáo với Hoàng đế tình hình này. Phía dưới, cùng lúc đó có hai kị binh lao tới: một từ Essling đến, và người kia từ Aspern.
Người thứ nhất là Périgord, vẻ tươi vui, người thứ hai là Sainte-Croix, tóc bị cháy sém, mặt mũi lem luốc, vẻ nghiêm trọng. Hoàng đế quan sát cả hai người rất nhanh:
– Chúng ta bắt đầu bằng những tin vui trước, phải không Périgord?
– Thưa Bệ hạ, Thống chế Lannes giữ vững được Essling. Bằng sư đoàn của Boudet, họ đã giữ vững, không để mất một tấc đất
– Boudet thật dũng cảm! Từ cuộc rút lui khỏi Toulon, anh ta đã tỏ rõ sự quả cảm của mình!
– Thưa Bệ hạ, còn một tình tiết khác nữa là đích thân Quận công Charles đã chỉ huy cuộc tấn công…
– Sao lại là “ông ta đã chỉ huy”?
– Vì hiện nay ông ấy đang bị chứng sốt co giật giữ lại trên giường.
– Ai thay thế ông tạ?
– Rosenberg, thưa Bệ hạ.
– La fortuna è cambita![6] Nơi mà Charles không thành công thì Rosenberg cũng sẽ thất bại thôi!
– Đó cũng là điều mà ngài Tham mưu trưởng suy nghĩ, thưa Bệ hạ.
– Rosenberg là người dũng cảm, nhưng hơi táo bạo. Tuy nhiên, ông ta cũng thiếu cương quyết vì sự thận trọng từ trong bản chất… Sainte-Croix đâu?
– Ngài Công tước Rivoli cần tiếp tế khẩn cấp đạn dược, thưa Bệ hạ.
– Ông ta đã biết rất rõ tình hình tiếp tế quân nhu hiện nay mà.
– Tôi phải trả lời ông ta như thế nào đây, thưa Bệ hạ?
– Rằng bảy giờ trời mới tối, từ bây giờ đến khi đó, ông ta phải tự xoay xở lấy để giữ vững khu vực Aspern hoặc là đống tro tàn của nó. Sau đó, cầu phao sẽ được khôi phục, các tiểu đoàn tập trung trên bờ trái sẽ vượt sông Danube. Chúng ta có khoảng sáu mươi ngàn…
– Trừ đi số đã hi sinh, Sainte-Croix thì thầm.
– Anh nói cái gì?
– Không ạ, thưa Bệ hạ, tôi bị ngứa họng.
– Sáng mai, lực lượng của Davout từ Saint-Polten sẽ đến. Chúng ta sẽ có thêm chín chục ngàn người nữa, còn bọn Áo thì đã kiệt sức rồi…
Hai liên lạc viên nhảy lên yên ngựa. Hoàng đế không nói lời nào nữa, quay ngay về phía Lejeune. Không đợi câu hỏi, Lejeune thông báo ngay tình hình:
– Thưa Bệ hạ, bọn Áo đang dồn quân tiến về phía làng.
– Như vậy là chúng đã giảm bớt lực lượng ở khu vực trung tâm.
– Vâng, đúng như vậy.
– Bọn chúng có điểm yếu! Berthier chắc chắn nhận thức rõ vấn đề này, hãy đi tìm ông ta chỗ lò ngói Essling, nói cho ông ta biết là đã đến lúc phải tung lực lượng kị binh của chúng ta vào đội hình pháo binh của Charles, hãy nói rõ rằng Tham mưu trưởng phải điều chỉnh mọi chi tiết việc bố trí lực lượng với Bessières. Caulaincourt! Anh thay thế Lejeune trèo lên ngọn cây thông quan sát và báo cáo tình hình.
Đại tá Lejeune lên đường truyền đạt mệnh lệnh. Hoàng đế cau có trên chiếc ghế bành, miệng làu bàu:
– Mặc kệ bọn chúng kết tội ta là quá táo bạo, ta rất muốn thế, nhưng không thể chậm trễ được nữa!
* * *
Phơi mình dưới nắng từ sáng sớm, trong bộ áo giáp và chiếc mũ sắt, Fayolle bắt đầu cảm thấy nóng bức, ngột ngạt. Con ngựa của anh giẫm chân bành bạch trên mặt đất cho đỡ nóng hoặc cọ bờm vào con bên cạnh. Đứng hàng thứ sáu trong đại đội, Fayolle chỉ đón nhận từ cuộc chiến những âm thanh đục và nhìn thấy những ngọn lửa đang thiêu trụi những ngôi nhà bị đạn pháo từ tứ phía; đột nhiên, từ phía trước, qua khoảng cách giữa lưng các đồng đội của mình, Fayolle nhận ra có sự chuyển động. Lá cờ thuộc lực lượng Bessières bay phía trên đoàn quân, rồi Fayolle nhận ra mái tóc dài phủ đầy bụi của Thống chế, ông đang giương cao thanh kiếm. Những hồi kèn vang lên, tiếng các sĩ quan ra lệnh tiến quân và trên chiến tuyến dài khoảng một ki-lô-mét, hàng nghìn kị binh rầm rập lao về phía những khẩu pháo được khói thuốc súng dày đặc che phủ.
Fayolle tiến lên. Bộ áo giáp nặng trĩu, lắc lư theo nhịp chân ngựa, như muốn bẻ gẫy chỗ khớp nối nơi vai, Anh ta vo tròn cái áo măng tô Tây Ban Nha buộc gọn ngang ngực. Mũi kiếm mà anh cầm trên tay chúi xuống đất. Fayolle tập trung tất cả tâm trí, hình dung cuộc tấn công sắp xảy ra, nhớ lại hình ảnh đồng đội Pacotte, cuống họng bị đâm rách toác, anh cảm thấy mình đã rất sẵn sàng tiêu diệt bọn Áo bẩn thỉu. Cuối cùng, khi những hồi kèn ra lệnh nạp đạn vang lên, anh thúc mạnh gót đinh vào sườn chú ngựa ô, lao lên cùng với đồng đội trong một cuộc đua tranh man dại, lưỡi gươm chĩa thẳng căng về phía trước, rít lên trong tiếng gió ngựa phi cuốn tung bụi mịt mù, mồm miệng méo xệch bởi những tiếng thét gào, tru tréo không dứt để quên đi sự hiểm nguy, sợ hãi, bất chấp cái chết, làm cho cái chết phải khiếp sợ, để lấy thêm can đảm, để cảm thấy mình chỉ là một phần tử khiêm tốn của một đoàn quân bách chiến bách thắng. Toán lính đầu tiên bị loạt đạn pháo đốn ngã, cần phải nhảy qua những chướng ngại vật là những xác chết bị xé tung thành từng mảnh vụn, tránh không để cho vó ngựa dẫm lên hoặc trượt trên những đám ruột gan, xương thịt đẫm máu. Phía đằng xa, người ta phân biệt đám long kị binh vùng Bade với những túm lông màu xanh, do Marulaz cao lớn dẫn đường, với đám hạ sĩ quan đầu đội mũ không vành nặng bằng lông thuộc lực lượng Bessières. Marulaz và Bessières đang tập trung các kị binh của họ về phía sau, trong khi lính thiết kị ào lên trước khi đám pháo thủ Áo kịp nạp đạn. Những người lính đầu tiên xô ngựa vào dãy pháo, những người tiếp theo, trong đó có Fayolle, Verzieux, Brunel phi như bay trên những thân cây và trên những bánh xe ngựa chở đạn. Fayolle đâm thanh kiếm của mình vào tim một đối thủ, giẫm lên một anh chàng đang mang một viên đạn pháo, đóng đinh một gã khác vào giữa cỗ pháo. Rồi, anh tiếp tục vung kiếm chém loạn xạ, đang điều khiển con ngựa của mình quay tránh vòng vây thì bất ngờ anh bị rơi vào đám bộ binh mặc quân phục trắng đang đứng thành khối vuông bắn dữ dội. Một viên đạn rít lên chạm vào chiếc mũ sắt, Fayolle lăn xả vào con nhím tua tủa lông lưỡi lê. Đúng vào lúc đó, tiếng kèn báo hiệu rút lui, nhường chỗ cho những đợt tấn công khác do Tướng Espagne trực tiếp chỉ huy. Mặt méo mó vì tức giận, một mình Tướng Espagne dẫn đầu, đôi mắt vằn lên, cứ như thể ông muốn thách thức lũ ma quỷ đe dọa ông trong giấc mơ từ cái ngày bất hạnh ở Bayreuth.
Tiến sát vào ngay phía sau hàng phòng ngự bằng pháo, Fayolle nhìn thấy viên tướng của mình đang trong cơn hăng tiết hùng hục lao tới. Anh giật mạnh cương ngựa, muốn gia nhập đội hình xung phong, nhưng ngựa của anh cứ giơ cao hai chân trước lên trời vì nó đã trúng đạn vào giữa trán. Fayolle ngã ngựa, lưng quật mạnh xuống đất, quai mũ cứa mạnh vào cằm. Gần như bị choáng, Fayolle với lấy thanh kiếm, chống khuỷu tay trên mặt đất cánh đồng bị xéo nát, đứng lên, đúng vào lúc đó, anh có cảm giác một nhát kiếm sượt qua chỏm lông mũ, miết trên tấm bảo vệ lưng bằng kim loại; một tên sĩ quan Áo mặc áo vét màu đỏ, anh lính thiết kị bò bốn chân tay, cả hai đều được giải cứu nhờ vào sự xung kích của Tướng quân Espagne, Fayolle cảm thấy có một bàn tay rất khỏe nắm lấy cánh tay, chưa kịp định thần thì đã thấy mình ngồi trên ngựa sau lưng đồng đội Verzieux, nhưng thấy Verzieux gục xuống co rúm lại phía đầu yên ngựa, bất động. Fayolle gọi, nhưng Verzieux đã bị một viên đạn xuyên qua áo giáp phần bụng trên phía bên trái; máu phun có bọt qua lỗ thủng của áo giáp bị loạt đạn xé nát, chảy tràn xuống đùi. Cùng với Brunel, Fayolle đưa Verzieux xuống ngựa; để anh nằm trên bãi cỏ, tháo dây da trên tấm che ngực dính bết vào chiếc áo vét nhuộm đỏ máu nóng. Verizeux thở khò khè và hét lên đau đớn khi Fayolle nhét một nắm cỏ vào chỗ vết thương để cầm máu. Bàn tay đỏ máu và dấp dính, Fayolle đứng thẳng dậy nhìn người thương binh đang được đưa về chỗ xe cứu thương đang đỗ đầu chiếc cầu nhỏ. Nhiều kị binh khiêng Verzieux trên một chiếc cáng tự tạo bằng những cành cây, mấy chiếc áo măng tô phủ ngang người. Fayolle cởi bỏ chiếc mũ sắt, vứt xuống đất.
– Ít nhất thì, Brunel nói, Verzieux cũng không phải quay trở lại đây nữa.
* * *
Tì trên cái bụng ấm và mềm của một con ngựa bị giết, Vincent Paradis chửi rủa bọn Áo thuộc lực lượng của Nam tước Hiller. Bị đẩy ra khỏi làng Aspern bằng một cuộc tiến công giáp lá cà quyết liệt bằng kiếm do Molitor chỉ huy, bọn chúng đang quay trở lại rất đông. Một số lính ngã xuống, nhưng những người mới thay thế họ đã siết chặt đội ngũ. Hiệu quả của rượu đã hết, sự hứng khởi dịu đi, Paradis cảm thấy lưỡi khô khốc, gáy đau ê ẩm, mí mắt nặng trĩu: phía đầu dãy phố chính, hình như không phải là người nữa, mà như là những con thỏ cải trang, Paradis nghĩ như vậy, những bóng ma bị lớp khói che phủ, những con quỷ, một cơn ác mộng hay một trò chơi. Sau mỗi một lần bắn, Paradis lại trả khẩu súng của mình cho người khác và lại nhận một khẩu súng mới đã nạp đạn; tại chỗ hẻm phía sau một cánh cửa, binh lính nạp đạn liên tục vào các khẩu súng.
– Cậu đừng ngủ đấy nhé! Rondelet nói
– Tôi thử xem, Paradis trả lời, tay tì lên cò súng, vai phải tím bầm vì sức giật của khẩu súng.
– Nếu cậu ngủ, bọn chúng sẽ đến thịt cậu ngay đấy. Một người chết mà lại ngáy vang thế thì không thực tế chút nào đâu.
Để chứng minh, Rondelet nâng cánh tay bất động của một trong các đồng đội lên, mặt đầy những vụn óc vỡ tung tóe vì một viên đạn xuyên vào giữa trán.
– Cậu ấy có ngáy đâu, Rondelet nói tiếp.
– Ôi, thôi, được rồi!
Một loạn đạn của bọn Áo làm cho đội hình nhốn nháo, mình ngựa giật nảy lên. Phía trước một dãy phố, vài khinh binh mai phục phía sau một cái cây đổ nghiêng. Họ đột ngột đứng lên chạy lùi về phía sau. Người bị thương được họ nắm cổ áo lôi đi như lôi cái túi, đau đớn rên rỉ, mặt nhăn như con nít; một vệt máu đỏ để lại trên mặt đường và ngay lập tức bị bùn đất làm nhòe đi. Khi đi qua chỗ Rondelet, một số xác lính bị phanh thây, và con ngựa bị giết đang được Paradis dùng làm bệ tì, những kẻ đào ngũ hét to:
– Bọn chúng có nhiều pháo lắm, biến đi, nhanh lên, nếu không, các người sẽ tan thành từng mảnh bay lên với chim chóc đấy!
Đúng lúc này, những họng pháo đã được bố trí thành một tuyến phía sau những ngôi nhà nhỏ; tốt hơn hết là phải chuồn thôi. Rondelet và Paradis về đến sân nhà thờ. Phần lớn lực lượng của tiểu đoàn đang tập trung tại đó.
– Phải ra phía sau, nhanh lên!
Họ bò trên nền đất đá sỏi tới tận cửa ra vào, rồi đứng lên khi vào đến bên trong, họ gặp lại đồng đội lúc này đang xé vỏ đạn:
- Ẩm quá, thuốc đạn ấy mà, một khinh binh cao lớn, râu ria xồm xoàm, tóc buộc túm sau gáy càu nhàu.
– Chuồn qua bên kia vườn đi! Coi chừng những khẩu pháo đấy!
– Thế trung sĩ có đồng ý không, người nhiều râu hỏi.
– Mày mù à? Paradis thét vào tai anh ta, tay chỉ vào những xác chết nằm trên đường phố.
– À không! Một người khác có vẻ ngoan cố nói, trung sĩ đã động đậy chân rồi đó.
– Anh ấy chả động đậy gì cả!
– Không thể để anh ấy ở lại đó được!
– Quay lại đi, đồ ngu!
Người lính chạy lom khom ra ngoài, nhưng liền bị một loạt đạn đốn ngã trước khi đến được chỗ cái xác mà theo anh đang động đậy; người lính quay tròn, miệng đầy máu me, rồi đổ sụp xuống phía sau con ngựa chết cứng đờ đang được dùng như một ụ tránh đạn.
– Láu cá đến thế là cùng! Rondelet càu nhàu.
– Mất thời gian quá! Ôi giời ơi! Paradis cáu kỉnh.
Những người sống sót ở khu vực tiếp giáp mặt trận quá ư là gần địch. Họ nhặt nhạnh súng đạn mang đầy trên tay như những người tù khổ sai; Rondelet nhấc một cái que xiên thịt bỏ sót trên lò sưởi, cả bọn chạy về phía khu vườn có những hàng rào thấp che chắn. Họ vượt qua hàng rào, cúi rạp xuống để tránh con phố nguy hiểm. Họ nhằm hướng tháp chuông nhà thờ Aspern giờ đây chỉ còn trơ bộ khung, họ rời xa rồi lại quay trở lại, vấp phải một bức tường nhỏ, họ liền lao vào trong những bụi rậm, leo lên những bức tường bằng đá, mắt cá chân bị trẹo, họ đi tập tễnh, vấp ngã va cả vào nhau, da thịt bị những cây ngấy đâm nát. Trong nỗi sợ hãi chết chóc, hoặc bị chôn vùi hoặc bị chết cháy trong đống tro tàn, họ có một sức lực phi thường. Họ nghe nhiều tiếng pháo nổ giữa những con phố chính; một quả tạc đạn rơi trên mái nhà họ vừa rời khỏi, xà kèo trên mái bốc cháy ngùn ngụt. Họ gặp một toán lính đào ngũ khác mặc quân phục khét lẹt và thế là băng đảng bọn đào ngũ lớn dần lên khi đi đến được chỗ bức tường khu nghĩa địa; còn chút sức lực cuối cùng, họ leo qua bức tường, nhảy qua những ngôi mộ và từ cây thập ác này qua thập ác khác, cuối cùng đến được chỗ nhà thờ. Masséna và các sĩ quan đang tập trung ở đó; những cành cây du lớn bị phạt đứt rơi xuống đầu họ.
Fayolle lấy lại con ngựa của anh bạn Verzieux. Con ngựa này dễ bị kích động hơn con ngựa của anh. Cho nên, Fayolle phải luôn giữ chặt dây cương, nhưng càng về chiều, sau hàng chục loạt đạn phũ phàng, người kị sĩ và chú ngựa của mình đã trở nên mệt lử. Mọi người quay trở lại rồi lại xông lên, đâm chém, hàng ngũ thưa thớt dần mà bọn Áo thì không chịu lùi. Fayolle đau ê ẩm lưng, đau tay, đau khắp mọi nơi, mồ hôi đầm đìa tuôn cả vào mắt. Anh dùng ống tay áo thấm máu Verzieux giờ đây đã khô thành vệt sẫm lau mắt. Fayolle thúc ngựa với những cú giày đinh quá mạnh làm con ngựa trầy da chảy máu. Một tay cầm gươm, tay khác cầm que châm lửa cướp được của bọn Áo, anh dùng hàm răng giữ chặt dây cương và trong tư thế sẵn sàng trở lui cùng với tiểu đội để tạm nghỉ chốc lát giữa hai cuộc phản công. Đúng lúc đó, binh lính của Lasalle chạy lướt qua kêu to:
– Qua phía này! Qua phía này!
Giữa cảnh nhộn nhạo và hỗn độn của cuộc chiến, ai là người chỉ huy đây? Fayolle và người đồng ngũ của anh là Brunel lúc này phát hiện ra Đại úy Saint-Didier vọt ra từ trong đám khói mù mịt, đầu không mũ, giơ cao cánh tay chỉ hướng cho họ đi theo mấy toán quân cùng với một số tính thiết kị đang rối loạn đội hình. Họ cùng nhau thúc ngựa quyết liệt tấn công quét sạch bọn lính đánh thuê hiện đang ghìm chân các kị binh của Bessières. Ngạc nhiên, bọn Áo trở ngọn giáo có cờ hiệu của chúng về đám người đang tấn công dồn dập nhưng chúng không thể nào ghìm cương những con ngựa đang theo đà tiến công và bị đẩy bật ra không kịp cả nạp đạn. Fayolle ấn cả que châm mồi lửa vào cái mồm đang há hốc của một tên lính đánh thuê và dồn toàn thân đẩy cả cái cán cờ vào yết hầu hắn, tên lính đánh thuê co người ngã nhào xuống, lăn lộn trên mặt đất, mắt trợn ngược, cuống họng bị cháy đen. Cách đó mấy bước chân, Thống chế Bessières, chân đi đất, đầu không mũ, tay áo rách nát, đang đỡ những đường kiếm của đối phương bằng hai thanh kiếm múa tít trên đầu. Trận giáp lá cà này, bọn lính đánh thuê, mặc dù đã dồn hết sức, nhưng mũi giáo của chúng quá dài, không kịp rút kiếm và súng, cuối cùng chúng phải tháo chạy, bỏ lại những xác chết và một vài con ngựa. Bessières nhảy lên một trong những chú ngựa bờm cụt ngủn, yên cương nạm vàng, lùi về phía sau, theo ông là những người đã cứu ông thoát khỏi bọn Áo và binh lính đại đội của ông còn sống sót. Tại nơi tập trung quân, một sĩ quan mặc quân phục rất đường bệ đang chờ ông. Đó là Marbot, sĩ quan tùy tùng được Thống chế Lannes ưu ái, thông báo cho ông một tin khó chịu:
– Ngài Thống chế Lannes giao trách nhiệm cho tôi thưa với Ngài rằng cần tập trung toàn bộ lực lượng để tiến công…
Bessières cảm thấy bị xúc phạm, mặt xám lại, ông ném một cái nhìn khinh bỉ:
– Tôi chưa bao giờ làm khác thế cả.
Gặp dịp, dù là rất nhỏ, mối hiềm khích cũ giữa hai vị Thống chế liền quay trở lại. Cả hai người là đồng hương của nhau ở vùng Gascogne, họ ganh tị nhau và cản đường nhau từ chín năm nay, khi mà Lannes hi vọng cưới Caroline, người chị lông bông của vị Tổng tài; ông ta tố cáo Bessières đã ủng hộ Murat chống lại Ngài Tổng tài: phải chăng vì điều này mà vị Tổng tài đã không muốn chứng kiến lễ cưới đó?
* * *
Berthier lập tổng hành dinh của mình tại những ngôi nhà kiên cố thuộc khu lò ngói Essling, nó giống như một nơi tổ chức cuộc vui có những kẻ rình mò bên mái nhà, lính biệt kích bên cửa sổ, có cả pháo ở tầng trệt. Lannes giận dữ đi vào căn phòng nơi Berthier đang căng những tấm bản đồ bên những cái giá, có đánh dấu và ghi rõ những thay đổi trên chiến trường thu thập được qua những tin tức từ mặt trận chuyển về và các mệnh lệnh của Hoàng đế.
– Kị binh, Lannes nói, không có khả năng giải thoát chúng ta!
– Về lâu dài thì có thể làm được.
– Còn Masséna thì sao? Tất cả mọi thứ đã tan tành cả rồi! Khi Hiller thanh toán toàn bộ cánh quân của ông ta, thì chúng ta còn bao nhiêu quân ở sau lưng?
– Aspern chưa bị thất thủ.
– Cho tới khi nào? Tại sao đến lúc này họ không gửi quân cứu viện Vệ binh tới?
– Đội Vệ binh sẽ ở lại bảo vệ cây cầu nhỏ để đảm bảo cho việc hành quân an toàn lên đảo!
Hoàng đế vừa nói vừa đi vào phòng, giọng giận dữ. Ngài thô bạo đẩy Berthier lùi ra rồi cúi xuống nghiên cứu tình hình trên bản đồ. Lo lắng trước diễn biến của từng sự kiện, Ngài không chịu được việc bị gạt sang một bên dưới gốc cây thông trên đảo Lobau. Napoléon hiểu rằng nếu sáng nay, Quận công Áo tấn công sớm hơn thì ông ta sẽ chiến thắng, nhưng số phận chưa thể quay lưng lại với quân Pháp; chiến thắng ở Austerlitz đã diễn ra trong vòng có mười lăm phút. Một tiếng rưỡi nữa, mặt trời sẽ lặn, đã đến lúc phản công. Berthier giải thích:
– Một phần binh đoàn của Liechtenstein tăng cường cho lực lượng của Rosenberg, thưa Bệ hạ, nhưng Essling sẽ giữ được cho tới tận đêm. Tuyến phòng thủ của chúng ta rất vững chắc.
– Than ôi, Lannes nói thêm, kị binh của chúng ta đã tăng thêm nhiều cuộc phản kích nhưng không có hiệu quả, không hỗ trợ được gì cho chúng ta.
– Họ phải đẩy lui bọn Áo vào sâu trong cánh đồng! Hoàng đế nói to. Lannes, hãy động viên toàn bộ lực lượng kị binh, anh nghe ta nói đấy chứ và tung toàn bộ số kị binh đó vào trận làm thành một khối! Tấn công! Hãy kéo tất cả pháo từ Hohenzollern về đây! Chĩa nòng pháo thẳng vào bọn chúng! Ta muốn các anh chiếm lấy tất cả bằng cơn hồng thủy lửa và thép!
Lannes cúi đầu đi ra cùng với các sĩ quan tùy tùng. Cây cầu phao lớn vẫn trong tình trạng không được sửa chữa một cách thỏa đáng, binh lính của Oudinot và Saint-Hilaire không thể vượt qua để cứu viện. Và nếu trong cuộc tấn công tổng lực này, lính kị binh bị thua nữa thì sẽ sao đây? Quân Áo được động viên, không có ai cản đường chúng cả, chúng sẽ tập trung một số lượng lớn và từ mọi hướng tấn công vào các khu làng.
– Anh nghĩ sao về chuyện này hả Pouzet? Lannes vừa hỏi vừa quàng tay qua vai người bạn già, một vị tướng chỉ huy lữ đoàn đã từng theo ông hết chiến dịch này đến chiến dịch khác và mới đây đã giảng cho ông về chiến thuật dụng binh.
– Bệ hạ vẫn lập luận theo cùng một phương pháp. Phương pháp đó dựa trên hành động thần tốc và bất ngờ như trước đây ở Ý, nhưng trong những cánh đồng rộng lớn ở Bắc Âu này, địa hình không thuận lợi, rồi việc di chuyển, tấn công, phương pháp đó đòi hỏi sử dụng những lực lượng trang bị nhẹ, rất cơ động, và có căn cứ xác đáng, quân đội sống trên nước mình mà như là những nhóm tướng tá đánh thuê. Thế mà lực lượng của chúng ta đã trở nên quá nặng nề, quá chậm chạp, quá mệt mỏi, quá trẻ, và quá suy thoái về tinh thần…
– Im đi, Bouzet, im đi!
– Bệ hạ đã đọc Puységur, Maillebois, Folard, và cả Guibert, Carnot nữa; Carnot thì rất muốn khôi phục lại tính tàn bạo của chiến tranh. Điều mà Carnot và Saint-Just chủ trương chỉ có giá trị ở thời đại họ. Tất nhiên, một quân đội có tinh thần tốt cần phải chiến thắng bọn lính đánh thuê vụ lợi! Thế bọn lính đánh thuê vụ lợi đó ở đâu vào ngày hôm nay? Và những người ái quốc đứng về phía nào? Anh không biết phải không? Tôi sẽ nói cho anh nghe: những người ái quốc cầm vũ khí chống lại chúng ta ở Tyrol, ở Andalousie, ở Áo, ở Bohême và chả bao lâu nữa là ở Đức, ở Nga…
– Anh nhìn nhận vấn đề đúng đấy, nhưng mà im đi, Bouzet.
– Tôi muốn im lặng lắm chứ, nhưng hãy chân thành một chút đi: anh còn tin vào điều đó nữa hay không?
Lannes đặt chân lên bàn đạp, trèo lên con ngựa vừa được đưa đến cho ông. Pouzet cũng lên ngựa, nhưng thở dài khá to chủ ý để cho người bạn mình nghe thấy.
* * *
Những suy nghĩ khủng khiếp làm cho gương mặt Anna Krauss rầu rĩ; cô tưởng tượng những người lính bị kẹt trong một đám cháy dữ dội hoặc nằm phơi trên mặt đất, ổ bụng toang hoác; cô lưu giữ trong tai mình những tiếng pháo rền vang và những tiếng nổ lẹt đẹt của những đám cháy, cô nghe cả những tiếng kêu ma quái. Không một tin tức nghiêm chỉnh nào từ mặt trận chuyển về và ở Vienne chỉ chắt lọc được những thông tin từ những cuộc chuyện trò ngồi lê mách lẻo, nhưng, một điều chắc chắn là phía xa kia, trên những cánh đồng, người ta đang giết nhau loạn xạ từ nhiều giờ nay. Ánh mắt Anna thẫn thờ trong ánh sáng màu hồng của mặt trời sắp tàn đang chiếu sáng những khung cửa kính. Cô đưa một tay lơ đễnh tháo dây cài đôi dép xăng đan kiểu La Mã, ngồi thu lu bó gối trong một góc ghế sofa, câm lặng, hai cánh tay ôm chặt lấy hai đầu gối. Một lọn tóc rủ xuống trán, cô cũng không buồn vén lên. Ngồi bên cạnh cô trên một chiếc ghế đẩu có nệm, Henri cố gắng nói với cô bằng một giọng dịu dàng, vừa để trấn an cô gái và cũng là tự trấn an mình, nếu cô không hiểu đúng ý nghĩa của các từ tiếng Pháp, thì ngữ điệu dịu êm của anh cũng an ủi làm yên lòng cô đôi chút, không nhiều lắm, bởi trong giọng nói của Henri thiếu âm sắc của sự chân thành mà anh không thể nào giả tạo được. Anh phải uống thứ thuốc nước kinh tởm của bác sĩ Carino pha chế cho. Cơn sốt đã buộc Henri phải nghỉ ngơi. Vì vậy, Henri có thời gian ngắm nhìn Anna từ lúc nàng lả đi trong tấm khăn san. Anh nói rất nhanh với một niềm tin giả tạo, và rồi lại im lặng; Anna nhắm mắt lại. Henri lẩm bẩm rằng những cô gái thành Vienne đều có lòng chung thủy bí ẩn; nếu thiếu vắng người yêu, thì họ tự giam mình lại. Anna có gương mặt xinh xắn theo kiểu Ý, thái độ và cử chỉ rất tự nhiên, không một chút điệu đàng, một niềm phấn khích được tiết chế bởi vẻ dịu dàng. Henri mong muốn ghi lại những nhận xét này, nhưng sẽ ra sao nếu Anna tỉnh giấc?
Giấc ngủ của nàng chập chờn và rầu rĩ, đôi môi thỉnh thoảng lại rung rung thầm thì điều gì đó. Để xua đi cái chết có thể xảy ra với Lejeune, Henri tiếp tục nói bằng giọng trầm buồn: “Không có chuyện gì xảy ra với Louis-François cả, ta hứa với nàng điều này”… Phía cuối căn phòng, hai người em của Anna thân hình mảnh mai đang nhảy lò cò đến, cười nói ồn ào. Henri quay lại ra hiệu cho hai đứa lặng yên cho Anna ngủ: “Quiet, please!”[7]. Hai cô bé rón rén bước lại, như trong một cuộc chơi trốn tìm. Cả hai đều có mái tóc sáng màu hơn tóc Anna, khuôn mặt chúng non choẹt nhưng sắc sảo hơn và váy áo đứng đắn hơn. Henri im lặng đứng lên đưa hai đứa bé rời xa chiếc ghế sofa, hai đứa bé nói chuyện với anh bằng cử chỉ, điệu bộ không thể nào hiểu được, chúng nhìn nhau phì cười, rồi cả hai nắm áo Henri mà kéo, buộc anh phải đi theo chúng. Hai đứa dẫn Henri đến đầu cầu thang dẫn lên gác lửng, rón rén như những con mèo, cố gắng nhẹ bước để không gây ra tiếng cọt kẹt trên bậc cầu thang gỗ, Henri cứ để mặc chúng đưa đi. Bọn chúng muốn chỉ cho anh cái gì? Một trong hai đứa từ từ mở cánh cửa, rồi cả ba vào một căn phòng nhỏ nằm sát mái dùng làm kho chứa, đồ đạc rất hỗn độn. Hai đứa nhỏ lao vội về một chiếc két, dán mắt vào một cái khe khá rộng nằm giữa hai thanh mè, chúng cãi cọ nhau rồi mời Henri lại xem. Henri bước lại nhìn vào thì thấy Staps. Những tia nắng ban ngày còn soi rõ những vệt bụi bay, người thanh niên đang quỳ gối trước một bức tượng nhỏ màu vàng, cầm trong tay một con dao thái thịt, mũi dao hướng về phía mặt đất, như một kị sĩ đang chăm sóc binh giáp của mình; chiếc áo sơ mi bằng vải thô, mi mắt khép, anh ta như đang tụng một bài thánh ca nào đó.
Henri tin là Staps nói vớ vẩn. “Hắn ta điên, anh nghĩ, tôi tin chắc là hắn điên, nhưng mà là điên kiểu gì vậy? Chàng trai đáng thương này làm thế là vì ai? Bức tượng nhỏ kia là hiện thân của ai? Tại sao lại có một con dao? Trong bộ não được nung nóng kia, hắn đang âm mưu cái gì vậy? Hắn làm trò phù thủy này vì cái gì? Chúng ta đều là những kẻ nguy hiểm mà trước hết là Hoàng đế. Chúng ta đều là những kẻ điên. Tôi cũng vậy, tôi là một thằng điên, nhưng Anna, cô ấy điên vì Louis-François, anh ta cũng điên như một người lính…”
Trong lúc đó, Đại tá Lejeune đang chiến đấu bên cạnh Masséna. Một lần nữa anh lại đến khu vực Aspern để khẳng định với ông mệnh lệnh phải kháng cự cho đến lúc hoàng hôn và thông báo cho ông biết những ý đồ của Hoàng đế là ném toàn bộ lực lượng kị binh tấn công pháo binh của Quận công Áo, kể từ lúc đó, Lejeune không thể rời khỏi khu làng đang bị bao vây. Chỉ còn khu vực nghĩa địa và nhà thờ là đang nằm trong tay lực lượng khinh binh; nhờ có rất nhiều chỗ ẩn náu trong đống hoang tàn đổ nát, bọn Áo đã thành công trong việc chốt chặt được khắp mọi nơi một cách rất vững chãi. Masséna cho tập trung tất cả những đồ vật có thể dựng thành chiến lũy, nào cày bừa, đồ đạc, nào những khẩu pháo không còn tác dụng nữa vì thiếu thuốc súng. Các pháo thủ chồng cả những xác chết lên phía bên chiến lũy phía sân trước nhà thờ cho tới tận bức tường bao quanh nghĩa địa. Không có đạn, những người lính đang bảo vệ nơi này bằng tất cả những gì họ có trong tay, một chiếc thập tự bằng đồng, một tấm gỗ, những con dao; Paradis lôi cái ná cao su ra, Rondelet cầm cái que xiên như một lưỡi gươm dài.
Trong cảnh hỗn loạn, Masséna tìm ra được giải pháp. Khi ông triển khai thực hiện ý tưởng đó thì pháo binh của Hiller nện một quả đạn pháo vào con phố nhỏ nhằm phá vỡ mặt tiền nhà thờ. Ông cho tập trung rơm rạ và lá cây vào một chiếc xe ngựa có hai càng, rồi ông nhặt một cành cây bị gãy, đi vào gian thờ bị trái phá chọc thủng, sẵn lò lửa đang cháy rừng rực, châm lửa vào cành cây khô, quay trở ra và ném vào xe. Chiếc xe phút chốc bốc cháy đùng đùng, ông vẫy Lejeune đang lúng túng giữa cảnh lộn xộn: “Nào lại đây cùng với ta!”. Hai người cầm mỗi người một bên càng xe đang bốc lửa ngùn ngụt, họ đẩy xe lao về phía con phố nhỏ; ngay khi chiếc hỏa xa đạt được tốc độ đủ nhanh, họ liền thả ra rồi nằm xuống, cả hai cảm nhận được những viên đạn bay sượt qua người họ, chiếc xe lao vun vút rồi húc mạnh vào một nòng súng và bung ra; những thùng thuốc súng đang mở tung bốc lửa nổ ầm trời, mọi thứ tan thành từng mảnh văng khắp mọi hướng, những chiếc thùng bị xé nát, những tay chân đứt lìa. Một số pháo thủ cầm gươm lao đến giải thoát cho Masséna và Lejeune đang đứng lom khom, nhưng không thể nào tiến được vào con phố nhỏ nơi có những ngôi nhà đang bốc lửa ngùn ngụt, đó là một cái lò kịch chiến, cho nên họ đành quay trở lại chạy về hướng những cây du bị chặt cụt trước cửa nhà thờ. Một số lính Áo định cản đường họ, nhưng một số pháo thủ khác cầm những thanh xà gồ làm chùy đập vỡ một vài cái đầu; Masséna nhặt được một lưỡi cày và bằng một cú đẩy, ông xiên một lúc hai tên lính Áo nhanh nhẹn khỏe mạnh vào bậc thềm. Lejeune tránh mũi kiếm của một tên sĩ quan mặc áo vét trắng, hắn thúc mạnh đầu gối vào bụng Lejeune làm anh gập người xuống và thật may mắn bởi vì viên đạn nhằm vào gáy anh lại xuyên qua trán tên lính Áo, máu me phun ra tung tóe.
Ngồi bên một cái ghế đá sát một ngôi nhà chỉ còn một bức tường được trụ lại, Masséna nhìn đồng hồ. Cái đồng hồ đã chết. Ông lắc lắc, lên lại dây cót, nhưng không được, nó bị hỏng mất rồi, ông chửi thề:
– Mẹ kiếp! Thế là mất toi món kỉ vật Ý rồi! Chiếc đồng hồ này là của một Đức Ông[8] ở Vatican! Tất cả đều bằng vàng và màu đỏ chót! Rồi một ngày nào đó, nó phải rời khỏi ta… Đừng lom khom bốn chân như thế Lejeune, đến đây ngồi một lúc rồi sẽ đứng lên được thôi mà. Lẽ ra cậu chết rồi, nhưng mà còn may đấy, nào thở mạnh lên…
Đại tá phủi bụi còn Thống chế nói tiếp:
– Nếu chúng ta xoay chuyển tốt được tình hình, tôi sẽ đặt anh vẽ cho tôi bức chân dung, nhưng trong tư thế đang hành động cơ, được chứ? Như trong cảnh sử dụng lưỡi cày như lúc nãy, lúc đang nghiến nát lũ chó Áo ấy chẳng hạn! Anh chú thích phía dưới bức chân dung dòng chữ Masséna trong cuộc chiến. Anh thấy được hiệu quả mà bức tranh đem lại chứ? Có lẽ không ai dám treo bức banh ấy! Thực tế phũ phàng quá mà, Lejeune nhỉ.
Quả đạn đại bác giội đến phá tung mái một ngôi nhà trước mặt hai người đàn ông đang ngồi nghỉ. Masséna đứng bật dậy:
– Đấy, kia, thực tế đấy! Những con chó này đang tìm mọi cách chôn vùi chúng ta dưới đống gạch vụn, tôi dám chắc như vậy!
Từ phía cánh đồng, một kị sĩ phi ngựa chạy đến, anh ta kìm ngựa bên cạnh nhà thờ, hỏi một hạ sĩ quan, nhưng nhận ra Masséna đang liến thoắng những câu chửi thề, liền đi thẳng lại phía ông. Đó là Périgord, lúc nào cũng trong tư thế tuyệt vời.
– Ma quỷ đưa lối cho thằng cha này hay sao ấy? Masséna hỏi.
– Thưa ngài Công tước!
Périgord chìa một lá thư cho viên Thống chế:
– Thư khẩn của Hoàng đế ạ.
– Chúng ta phải thấy cho được tất cả sự xấu xa mà Bệ hạ dành cho tôi…
Ông đọc, mắt ngước lên nhìn về phía mặt trời đang ngả dần về hướng tây. Hai sĩ quan tùy tùng của Berthier đang nói chuyện phiếm với nhau:
– Bị thương à, Edmond? Lejeune hỏi.
– Ơn Chúa, không sao cả!
– Thấy anh đi khập khiễng mà.
– Bởi vì gia nhân không có thời gian đánh xi đôi ủng cho tôi nên da ủng không được mềm mại, mỗi bước đi nó làm tôi đau quá. Còn anh, anh bạn thân mến ạ, chiếc quần của anh có lẽ cũng cần đưa một nhát bàn chải nghiêm chỉnh đấy!
Masséna cắt ngang câu chuyện của họ:
– Anh Périgord, ta nghĩ là anh không đi qua các phòng tuyến bọn Áo.
– Cánh đồng nhỏ nối liền khu làng, từ phía này, lúc tôi đi qua, tuyệt nhiên không có bóng địch quân nào, thưa ngài Công tước. Tôi chỉ gặp một tiểu đoàn quân tình nguyện của chúng ta ở Vienne thôi.
– Chúng ta có thể lui về đó đêm nay, trước khi sư đoàn Molitor bị nghiền nát…
– Có những hàng rào, bức tường bằng những bụi cây gai, những vách ngăn bằng gỗ, những lùm cây, rất nhiều vị trí có thể ẩn náu được…
– Được, Périgord, được lắm. Ít ra thì anh cũng có con mắt quan sát tinh tường đó.
Masséna yêu cầu một con ngựa.
Ngay lập tức, một quan giám mã của ông mang ngựa đến, Masséna định nhảy lên, nhưng bàn đạp bên phải ngắn quá, ông gọi người giám mã lúc này đã ngồi trên ngựa xuống sửa lại. Masséna vừa đặt chân lên con khẳng[9], thì một quả đạn bay đến cắt phăng đầu người giám mã đang loay hoay điều chỉnh bàn đạp. Quả đạn làm gãy lìa bàn đạp, con ngựa nhảy dựng lên, hất Masséna ngã nhào vào cánh tay của Lejeune.
– Ngài Công tước! Ngài không sao chứ?
– Mang một con ngựa khác tốt hơn lại đây! Masséna thét lên.
* * *
Lannes, bị thay hình đổi dạng vì cuộc chiến, Espagne, Lasalle, Bessières chịu trách nhiệm dẫn đầu hàng ngàn kị binh để chọc thủng trung quân của bọn Áo, chia cắt chúng thành các bộ phận nhỏ, làm giảm thiệt hại cho hai khu làng đang bốc cháy dữ dội và chiếm đoạt các khẩu pháo. Fayolle không có cái nhìn tổng thể như vậy, trong cơn giận dữ, anh ứng xử như một cái máy, anh không sợ điều gì cả nhưng cũng không muốn một điều gì hết, không cắt đứt, không theo đuổi, không có thích thú gì, như con rối được dẫn dụ đi bởi tiếng kèn hiệu và tiếng gào thét của cuộc chiến tranh, thét gào, đánh, quật, giữ mũi kiếm, chọc sâu lưỡi lê, đập vỡ lồng ngực, cắt lìa cổ địch quân. Lính thiết kị hủy diệt các tiểu đội pháo binh. Họ móc những khẩu pháo cướp được vào lũ ngựa kéo. Espagne chỉ huy cuộc hành quân; con ngựa của ông mép sùi bọt, mũi phập phồng. Từ trong một góc khuất, Fayolle vừa quan sát Espagne vừa cột yên cương vào chân một cỗ súng cối: mặt vị tướng xám ngoét vì bụi bặm, ngồi thẳng trên bộ yên bằng da cừu, nhưng ánh nhìn xa xôi bác bỏ, phủ định những mệnh lệnh ngắn ngủi và chính xác theo thói quen của ông. Anh lính biết cái gì đang làm rối trí người chỉ huy của mình; anh không thể ngăn cản những hoài nghi các điềm báo của ông: cái quái gì chứ! Cách đây mấy năm, vị anh hùng Hohenlinden, người đá mở ra con đường vào Vienne, bất chấp bão tuyết, nhưng lại rất sợ ma? Fayolle, người mà chúng ta nói ở trên, đã chứng kiến cuộc ẩu đả lạ lùng giữa Tướng quân Espagne với một bóng ma tại lâu đài Bayreuth và kết cục của nó, thực tế là cái gì vậy? Ảo giác chăng? Mệt mỏi ư? Hay một cơn sốt ác tính? Còn Fayolle, anh không tận mắt nhìn thấy con ma. Bạch phu nhân ở Habsbourg! Nhưng anh biết những câu chuyện ma hiện hình mà mọi người vẫn hay nói đến mỗi khi muốn hù dọa trẻ con trong làng; những bóng ma lảng vảng gần bên những bức thánh giá hù dọa người. Fayolle không bao giờ tin vào chuyện đó cả.
– Anh nghĩ là anh đi nghỉ mát đấy à, Fayolle? Đại úy Saint-Didier vừa nói vừa khua thanh gươm loang đỏ, máu đang chảy nhỏ giọt xuống đất; anh đang tích cực tìm cách chuyển ngay mười bốn khẩu pháo thu được của kẻ địch về.
Tướng Espagne giơ cao bàn tay đeo găng, cả đoàn tùy tùng vội vã lên đường. Fayolle và Brunel vụt roi vào những con chiến mã cho chúng phi thật nhanh kéo theo những khẩu pháo vừa chiếm được. Phía bên trái, những chiếc mũ của lực lượng tinh nhuệ xuất hiện trong màn khói đang lắng xuống như một tấm thảm, sau đó là những bộ quân phục màu trắng, những đôi ghệt màu xám cao cổ lên đến tận đầu gối…
– Cẩn thận! Saint-Didier hét lên.
Trong lúc phần lớn lính thiết kị phi ngựa vây dồn đám bộ binh thì Tướng Espagne bị trúng đạn súng máy ngay giữa ngực, viên đạn xuyên qua áo giáp. Người bị thương ngã gục, một bên chân kẹt lại bên bàn đạp, con ngựa tiếp tục lồng lên kéo lê viên tướng như một cái túi, nó nhảy chồm bên những luống đất bị đạn cày xới. Fayolle thúc ngựa chạy theo, cúi rạp mình xuống bờm ngựa, chém phắt cái bàn đạp. Nhiều người khác cũng chạy ào đến hỗ trợ nâng vị tướng của họ lên. Họ cởi tấm giáp che ngực và lưng, cuốn ông trong một tấm áo choàng dài màu trắng của một sĩ quan Áo, tấm áo lập tức nhuốm đầy những vệt máu như những vì sao đỏ rực, rồi họ đặt ông lên giá súng, đầu và tay thõng xuống như một hồn ma.
* * *
Xác chết nằm vắt ngang những ngôi mộ trong nghĩa địa Aspern còn nhiều hơn xác chết trong hầm mộ. Bị bao vây, khinh binh ném cả đá cuội vào lính biệt kích của Nam tước Hiller; Paradis thậm chí rất hài lòng là đã ném đá trúng rất nhiều tên, nhưng cuối cùng, anh và những người còn lại của tiểu đoàn phải rút lui, hi vọng có thể phân tán vào trong những cánh đồng, những khóm cây và bụi cỏ cao lút đầu người có thể che chở cho họ. Một số lính Áo trèo lên những bức tường, miệng khoác lác, tay phất những lá cờ in hình con đại bàng đen hai đầu hoặc một bức ảnh Đức Mẹ mặc áo dài xanh da trời, lượn lờ giữa chốn chết chóc. Trống đánh liên hồi, ngạo nghễ. Lính Pháp bị đuổi bắn như trong một cuộc săn. Một khẩu pháo chĩa vào một đống đất sụt lở của vòng thành. Paradis và Rondelet trốn chạy, không có khả năng chống trả. Họ ngồi chồm hỗm thở dốc ngay phía sau xác một hạ sĩ quan béo tròn, nằm vắt ngang một cây thập ác, bị móc lại trên đó như một chiếc quạt. Rondelet nhấp nhổm phía sau xác chết để quan sát hướng tiến quân của kẻ địch:
– Ôi giời ơi, thượng sĩ đây mà!
Nói rồi, anh ta ôm người bị giết trong tay nói cho Paradis biết. Thượng sĩ Roussillon mắt mở trừng trừng, nụ cười vẫn nguyên trên đôi môi xanh tái. Rondelet tháo chiếc huy chương Bắc đẩu bội tinh ra khỏi bộ quần áo được gọi là quân phục:
– Để làm kỉ niệm, anh ta nói.
Đó cũng là câu nói cuối cùng mà Rondelet không bao giờ kết thúc được nữa vì một quả đạn bỗng vụt đến chém phăng một bên vai anh. Vincent Paradis tối tăm mặt mũi, ngã nhào vào một đống gạch bị cây tầm ma và rêu phong chen lấn, phủ lấp. Tai kêu ro ro. Những âm thanh vọng lại rất yếu ớt. Vincent đặt tay lên mặt Rondelet, bật ra một tiếng nấc tắc nghẹn. Bàn tay Vincent đụng vào một mớ thịt như bột nhão nằm trên tóc, miệng khạc ra cả những mẩu thịt mềm, nhạt thếch và ấm. Phải chăng Paradis đã bị biến dạng? Cần có chiếc gương! Không ai có gương à? Ngay đến một vũng nước cũng không ư? Không? Không có gì cả à? Vincent đã chết thật rồi à? Anh ta đang ở đâu? Có còn tồn tại trên mặt đất nữa không? Có phải anh ta đang ngủ hay không? Anh ta có còn thức dậy được nữa không và ở đâu? Vincent cảm thấy những bàn tay to lớn đang cào bới, nâng anh dậy như một kiện hàng; anh thấy mình tựa lưng vào một hàng rào chắn bằng gỗ ngăn cách với cánh đồng. Một số khinh binh ngả lưng ngủ, mồm lẩm bẩm những gì không hiểu nổi, thân thể họ đẫm máu, được băng bó bằng những chiếc khăn mùi soa và giẻ lau. Một người băng cánh tay bằng một chiếc khăn, một người khác co rúm trên một cành cây như chống trên một cái nạng, chân được bó trong một manh áo vareuse. Một số thanh niên mặc áo choàng kiểm tra thương binh và quyết định tình trạng sức khỏe của họ: họ sẽ không chuyển những thương binh đang hấp hối đi. Những người bị loạn trí được giữ lại và đưa về tập trung trên sàn chiếc xe chở cỏ khô do hai chú ngựa bị bịt mắt kéo đi. Paradis cứ để mặc cho họ làm gì thì làm, anh không trả lời những y tá đang học nghề, họ hỏi anh liên tục, ngạc nhiên vì mặt anh bị băm nát đến thế mà vẫn không bị ngất xỉu.
Xe cứu thương rất tạm bợ, phải mất một thời gian khá lâu mới tới được chiếc cầu nhỏ dẫn sang đảo Lobau; phải đi vòng vèo giữa những đồng cỏ có rào chắn, những vạt ruộng trũng, bẻ rào vượt lối tắt để khỏi phải quay trở lại. Những người phụ mổ theo sát xe cứu thương kiểm tra kĩ các chuyến xe chở thương binh, thỉnh thoảng họ chỉ một thương binh:
– Người này, thôi không cần phải…
Thế là họ đưa người đang hấp hối đó ra khỏi xe, đặt xuống bãi cỏ, rồi tất cả lại tiếp tục tiến lên chậm chạp phía sau cặp ngựa percheron. Paradis đứng thẳng, ngây dại; anh bám vào thanh đứng của chiếc xe chở cỏ khô như bám vào song sắt nhà tù. Từ xa, anh nhận ra trại quân Cận vệ, rồi cũng tới được gần cây cầu nhỏ. Mười chín giờ, màn đêm buông xuống, ánh lửa hồng của những đám cháy chiếu sáng rõ một đống ít nhất bốn trăm thương binh được đặt trên những lớp rạ hoặc thậm chí trên mặt đất. Họ đặt Paradis nằm gần một người lính thiết kị đang trườn như một con rắn, một chân bị vỡ nát, móng tay cào bới trên mặt đất, mồm phun ra những câu chửi rủa Hoàng đế và Quận công Áo. Bằng cưa thợ mộc, người đầm đìa mồ hôi, bác sĩ Percy và các phụ tá của ông liên tục cắt những bàn chân, bàn tay gãy nát tại một chiếc lều. Tiếng la hét và những lời nguyền rủa xót xa.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên tác tiếng Ý, nghĩa là “đồ đểu giả”.
[2] Mũ tricorne: là loại mũ vành ba múi, phổ biến ở thế kỷ 18.
[3] Salon: phòng khách (thường tiếp các nhà văn, nghệ sĩ) của xã hội thượng lưu thời trước.
[4] Quan ba (troisième): cấp bậc Đại úy trong quân đội thời Napoléon.
[5] Tyrol: Tên một thành phố miền tây nước Áo.
[6] La fortuna è cambiata (tiếng Italia): Nghĩa là “vận may đổi chiều”.
[7] Quiet, please (tiếng Anh): Yên lặng nào.
[8] Đức ông (monsignore): một tước vị danh dự do Giáo hoàng ban tặng cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội.
[9] Con khẳng (garrot): Mẩu gỗ để xoắn dây cho chặt.