Đêm thứ nhất
Ngọn nến trên tay, Henri lục tìm trong chiếc hòm con có in hình một con đại bàng, lôi ra một quyển vở màu xám, đặt lên bàn. Vắt ngang bìa quyển vở là một dòng chữ bằng mực đen: Chiến dịch Strasbourg năm 1809 tại Vienne. Anh đọc lướt nhanh những trang cuối cùng. Cuốn nhật kí dừng lại ngày 14 tháng Năm, và từ đó nó không còn được tiếp tục ghi nữa. Những từ cuối cùng do chính Henri viết: “Kèm theo đây là văn bản của một bản tuyên bố. Thời tiết thật tuyệt vời và rất nóng”. Gập lại ở trang này, một bản tuyên bố nổi tiếng mà Hoàng đế đã cho công bố vào đêm trước ngày chiếm thành Vienne. Henri mở bản tuyên bố đó ra đọc lại: “Hỡi anh em binh sĩ! Hãy đối xử tốt với nông dân nghèo khổ, với nhân dân vì nhân dân có khả năng giữ gìn danh tiếng cho các anh; đừng bao giờ mảy may tự hào về những thành công của chúng ta; hãy coi đó là một bằng chứng của công lý thiêng liêng, nó trừng phạt sự bội bạc và sự bội ước…”. Anh ngừng lại vì không tin vào một từ nào trong bản tuyên bố rỗng tuếch này, Henri lắc đầu, bĩu môi tỏ vẻ chán ngấy. Một vài ngày trước đây, tại một làng, ngay một quả trứng gà cũng tìm không ra. Henri ghi lại: “Cái gì những người lính không mang theo được, thì họ đập phá tan tành…” Anh lật mặt sau bản tuyên bố, dùng bút chì viết vào đó:
Vienne, nửa đêm, ngày 22 tháng Năm.
Khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi quay lại chiến lũy. Chân trời đỏ ối và vẫn đang run rẩy bởi những đám cháy của cuộc chiến. Không hề có một mẩu tin đích thực nào từ mặt trận dội về. Nguồn tin chính thức làm yên lòng lại không làm cho tôi yên tâm chút nào cả, cô K. còn tệ hại hơn. Thời gian trôi qua chậm chạp và mối nguy hiểm ở ngoài kia tăng lên, tôi thấy cô càng suy sụp. Có bao nhiêu người đã chết? Chính tôi, một kẻ đang đau ốm lại còn phải giúp đỡ nàng. Nàng có vẻ mặt của Juliette trước thân hình không có sức sống của người yêu Romeo: “Ôi lưỡi dao găm hạnh phúc,… hãy để cho ta được chết…”
Henri viết nguệch ngoạc vào bên lề “kiểm tra lại câu trích dẫn này”; anh thở dài như trên sân khấu, sau đó, chấm xuống dòng, ghi lại thái độ kỳ cục của gã thanh niên Staps. Có tiếng bước chân ngoài cầu thang, anh nghĩ rằng gã đó đang leo lên căn gác lửng, nhưng có ai đó gõ cửa. Henri gập cuốn sổ lại, cử chỉ khó chịu, miệng lẩm bẩm: “Kẻ hoang tưởng này muốn cái gì ở ta nữa đây?”. Nhưng không phải tay người Đức mà trong hành lang là bà quản gia đầu quấn khăn, ngọn nến trên tay đang đi trước một người đàn ông mà Henri không nhận ra được vì vẻ bề ngoài khác thường của ông ta. Khi hai người vào trong phòng, Henri nhận ra ngay, không nghi ngờ gì nữa: đó là người cho thuê ống nhòm, lưng hơi gù, tóc trắng buông từng lọn trên cái hộp sọ trơn bóng, cặp mắt kính nhỏ tròn xoay đeo ngay giữa mũi. Người đàn ông nói lúng búng một thứ tiếng Pháp lơ lớ:
- “Xưa” ông, tôi mang trả lại ông túi “xiền”[1].
Ông ta bước lại bên bàn ném lên đó một chiếc túi da đã cũ có buộc sợi dây
– Tiền của tôi ư? Henri nói, vội vàng lật tới kiểm tra, phát hiện thấy lỗ thủng, nhận ra mấy đồng florin đã biến mất tự bao giờ.
– Ngài để “dơi” trên đường.
– Nhưng!
– Vì “chôi” là người “xật xà”…
– Khoan đã! Làm thế nào mà ông biết được địa chỉ của tôi?
– Ôi, ông bạn nhỏ của tôi, không có gì khó khăn lắm đâu.
Vị khách không mời mà đến đột nhiên nói bằng giọng rất trầm và vang, không có trọng âm. Henri há hốc miệng. Bà quản gia trở lui khép cửa lại. Người đàn ông cởi bỏ áo khoác ngoài, cởi dải dây cột khối u giả rồi lột bộ tóc giả, giọng hớn hở đầy ấn tượng:
– Tôi là Karl Schulmeister, thưa ông Beyle.
Henri nhìn kĩ ông khách dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn nến. Người cho thuê ống nhòm cải trang là một người béo lùn, tầm vóc trung bình, màu da đỏ, những vết sẹo sâu in dấu trên trán. Schulmeister! Mọi người đều biết ông ta, nhưng có bao nhiêu người có thể nhận ra được ông? Với quyết tâm cung cấp những tin tức tình báo cho Hoàng đế, ông ta đã nâng nghệ thuật cải trang lên một cấp độ mà những người Áo tìm cách vây dồn ông đều không đạt kết quả. Schulmeister! Người ta kể về ông với hàng ngàn câu chuyện li kỳ đại loại như vậy. Một hôm, ông ta cải trang thành một người bán thuốc lá luồn sâu vào một trại lính của Quận công Áo. Rồi một hôm khác, ông rời thành phố đang bị chiếm đóng bằng cách thay thế một người chết nằm trong quan tài. Lại một lần khác nữa, cải trang thành một Hoàng tử Đức, ông đã đi kiểm tra các tiểu đoàn quân Áo và tham dự cả buổi họp của Hội đồng chiến tranh của François II. Napoléon đã từng giao cho ông đứng đầu lực lượng cảnh sát thành Vienne như vào năm 1805 và Henri đã rất ngạc nhiên:
– Với nhiệm vụ mà Hoàng đế giao phó, ông có đủ thời gian để giả trang nữa sao?
– Thực ra thì tôi rất thích cái trò đó, thưa ông Beyle, thêm nữa là cái cách giả trang này rất tiện lợi.
– Thế cái việc ông giả làm người cho thuê ống nhòm trên chỗ pháo đài kia là để làm gì?
- Tôi nghe những lời đồn đại. Tôi ghi nhớ những câu chuyện bẩn thỉu, lượm lặt những thông tin. Những suy nghĩ tồi tệ, trong thời gian chiến tranh có thể gây nên những sự phá hoại.
– Ông nói cả điều đó cho tôi ư?
– Không, không, thưa ông Beyle.
– Vậy tôi là người rất quan trọng để đón tiếp chuyến thăm viếng của ông ư? Ông muốn thuê tôi làm việc cho ông ư?
– Không hoàn toàn như vậy. Ông có biết là cha của các cô gái nhà Krauss rất gần gũi với ngài Quận công không?
– Ông sẽ mất thời gian thôi.
– Không đâu, thưa ông Beyle.
– Cô Anna Krauss chỉ nghĩ đến Đại tá Lejeune thôi…
Henri tiếc rằng mình đã nhỡ lời, nhưng ngay lập tức, nói lảng sang chuyện khác để chữa lỗi lầm của mình.
– Lejeune, anh bạn Lejeune của tôi là sĩ quan tùy tùng của Thống chế Berthier.
– Tôi biết. Anh ta được sinh ra ở Strasbourg giống như tôi. Anh ta nói tiếng kẻ thù của chúng ta một cách tuyệt vời.
– Thế thì sao?
– Chả sao cả…
Schulmeister đi đến gần chiếc bàn và lần giở xem quyển vở màu xám. Ông ta đọc to vài câu:
– “Viết thận trọng upon myself. Không có gì chính trị cả.”
Ông ta gấp cuốn vở lại rồi quay về phía Henri:
– Vì sao phải thận trọng hả ông Beyle?
– Bởi vì tôi không muốn cung cấp bất kỳ thông tin nào, dù nhỏ nhất về quân sự cho những ai cố tình đọc nhật kí của tôi.
– Tất nhiên! Schulmeister nhìn những dòng chữ Henri ghi chép lộn xộn phía sau bài tuyên bố của Hoàng đế nói. Ông hỏi: “Cái cậu Staps kia là ai mà ông cho rằng có thái độ rất kỳ quặc?”
– Một người ở trọ trong ngôi nhà này thôi.
Henri phải kể lại anh đã bắt gặp gã thanh niên như thế nào, đã thấy được những câu thần chú anh ta đọc trước bức tượng nhỏ và con dao thái thịt mà anh ta cầm trong tay như một thanh gươm ra sao.
– Mặc áo choàng vào, nhanh lên, ông Beyle, rồi dẫn tôi đến căn phòng của kẻ bị quỷ ám đó.
– Vào giờ này ư?
– Đúng vậy.
– Chắc anh ta đã ngủ rồi.
– Thì đánh thức anh ta dậy.
– Tôi cứ nghĩ anh ta là một người gàn…
– Cầm lấy cây nến.
Henri miễn cưỡng chấp nhận rồi dẫn Schulmeister lên tầng áp mái, chỉ cho ông ta cửa phòng gã thanh niên trẻ người Đức. Viên cảnh sát cầm lấy ngọn nến từ tay Henri, đi vào phòng không gõ cửa, và nhận thấy căn phòng nhỏ trống không.
- Anh bạn Staps của ông đi chơi đêm rồi à?
Ông ta hỏi Henri.
– Không phải Staps của tôi và tôi không theo dõi anh ta!
– Nếu hắn đã kích thích trí tò mò của ông thì hắn cũng kích thích trí tò mò của tôi.
Bức tượng nhỏ vẫn nguyên chỗ cũ. Hai người đàn ông tận mắt quan sát bức tượng. Đó là tượng Jeanne d’Arc mặc giáp trụ!
– Nó có nghĩa gì nhỉ? Schulmeister nói, Jeanne d’Arc! Vấn đề gì đây?
* * *
Trăng hạ tuần đã lặn, khói bốc lên từ những đám cháy che phủ hết các vì sao. Giữa thảm cỏ, nằm ngửa mặt lên trời thư giãn, kị binh Fayolle không ngủ. Anh ta đã no nê sau khi cùng ăn chung trong một chiếc cà mên với Brunel và hai người khác, rồi sau đó, anh nằm duỗi ra, chăm chú nghe mọi tiếng động, tiếng ngựa hí, tiếng nói chuyện trầm đục, tiếng củi cháy nổ lép bép trong trại lính, tiếng kim khí của áo giáp ném xuống đất. Gần đây, Fayolle có thói quen đặt cho mình nhiều câu hỏi. Hành động đó phù hợp với anh bởi vì nó giúp cái đầu trống rỗng của anh ta vận động, nhưng sau hết, đó là cái gọi là nghỉ ngơi, ghê thật! Fayolle đã được nếm trải phần lớn những thử thách, những cảm giác của chiến tranh; anh đã biết người ta xuyên một lồng ngực bằng một cú nhấn tay như thế nào, đã thấy tiếng động của từng mảng xương sườn gãy ra sao, đã tận mắt nhìn thấy dòng máu vọt ra khi lưỡi kiếm được rút phắt ra, đã biết làm thế nào để tránh cái nhìn của kẻ thù bị mổ bụng, bằng cách nào để có thể vừa lướt trên mặt đất vừa băm nát gót chân của một con ngựa, làm sao chịu đựng được cái nhìn của đồng ngũ bị phanh thây bởi một quả tạc đạn đang réo sôi sùng sục, làm thế nào để tự bảo vệ và ngăn những đường gươm, làm thế nào để dè chừng, làm thế nào để quên đi sự mệt mỏi vì nạp đạn hàng trăm lần trong cảnh hỗn độn của đám kị binh. Tuy nhiên, cái chết của vị tướng đã làm cho anh bối rối, đau khổ. Bóng ma Bayreuth đã thắng được Espagne, viên đạn súng cối đã phá vỡ trái tim ông là chuyện thực. Cái sự kiện bất ngờ đó đã được chép lại chưa? Một kẻ ngoại đạo có thể tin được điều đó không? Còn anh, Fayolle, số phận anh sẽ ra sao? Anh có thể uốn cong nó được không? Và theo hướng nào đây? Rồi anh có còn sống đến đêm mai không? Và Brunei đang nằm bên cạnh, vừa ngủ vừa làu nhàu thì sao đây? Rồi Verzieux, lúc này anh ta đang ở đâu và sống chết thế nào? Fayolle coi thường đám ma quỷ nhưng vẫn đặt một bàn tay lên trên khẩu súng carbine đã nạp đạn. Fayolle nghĩ về cô thôn nữ Áo mà anh đã vô tình giết hại trong ngôi nhà nhỏ ở Essling. Anh ta đã chòng ghẹo cái xác chết khi còn đang ấm nóng, và kẻ tòng phạm với anh ta, tay lính Pacotte, đã bị cứa cổ bởi những người du kích Landwehr, và sự vụ đó không còn người chứng kiến nào khác nữa. Đúng là chuyện tầm phào! Người tính thiết kị suy nghĩ. Giết người, đó là công việc của anh mà. Anh giết người rất thạo và bẩn thỉu như họ đã dạy cho anh. Anh có biệt tài để làm điều đó. Có bao nhiêu người Áo đã bị đâm chết trong ngày hôm nay? Anh không đếm được. Mười chăng? Ba mươi chăng? Nhiều hơn? Hay ít hơn? Những việc đó không ngăn nổi giấc ngủ đang ập đến. Những người Áo bị giết chết nhìn không rõ mặt, nhưng hình ảnh cô gái ấy thì luôn ám ảnh. Fayolle thật sai lầm đã nhìn vào đôi mắt cô gái trẻ để rồi bị nỗi sợ hãi trong đôi mắt đó ám ảnh. Đây không phải là lần đầu tiên Fayolle bắt gặp nỗi sợ hãi của người khác! Thực ra thì anh thích như vậy. Nỗi khiếp sợ ập đến trước cái chết không tránh khỏi kích thích anh. Quyền lực thật tuyệt vời! Và duy nhất, Fayolle tự cảm thấy cái uy quyền đó tại nhà thờ Đức Bà Pilar, lần đó, đối diện với anh là một tu sĩ đang trong cơn giận dữ cầm dao găm xiên thẳng vào anh, nhưng may thay, anh đã tránh được nhưng con dao đã để lại một vết rạch dài; dù bị thương nhưng Fayolle đã siết cổ ông tu sĩ kia đến chết, rồi cuỗm hết các thứ đồ len đem đi cắt một chiếc áo măng tô. Sau đó, Fayolle ném cái xác chết đó xuống sông Ebre nơi có hàng trăm xác lính Tây Ban Nha chết nổi lềnh phềnh trong những chiếc túi. Cô gái Essling vẫn nằm lại trên đống chăn đệm. Đã có ai đó tìm ra cô ta chưa? Biết đâu một thằng biệt kích nào đó quờ quạng tìm chỗ mai phục đã phát hiện ra xác chết đó và chắc hẳn hắn sẽ rất kinh ngạc? Hoặc cũng có thể chẳng ai biết cả. Ngôi nhà đó cũng có thể đã bị đạn pháo thiêu hủy. Lẽ ra Fayolle phải chôn cất cô gái đó. Ý nghĩ này giày vò Fayolle mãi. Anh mường tượng hình ảnh cô gái, cô ấy cau mặt, cái nhìn kinh hãi thay đổi thành ánh mắt đe dọa và Fayolle không thể nào xóa nhòa được hình ảnh đó.
Fayolle đứng lên.
Phía trên thung lũng nơi có mấy đại đội đang đồn trú, người ta có thể phân biệt được những ngôi nhà ngoài cùng của làng Essling; mái nhà bị chia cắt trên một nền ráng sáng đỏ. Không mũ, cũng không áo giáp, thanh gươm thẳng tắp buông thõng đập vào chân, Fayolle bước đi như một kẻ mộng du về hướng đó. Fayolle luồn từ lùm cây này sang lùm cây khác đến bờ cánh đồng, tại đây, anh gặp những kẻ bất nhân của bóng đêm trên bãi chiến trường, những kẻ làm công việc thu nhặt thương binh, tử sĩ này đã lợi dụng việc của mình để lục lọi kiếm ăn trên những xác chết. Hai trong số bọn chúng đang hì hụi tìm cách tháo một đôi giày ra khỏi xác một khinh kị binh đã cứng đờ. Trên mặt đất, giữa đống áo lông, áo nẹp, bọn chúng đặt một chiếc đồng hồ, một dây lưng, mười đồng florin, một tấm lắc. Một Đại úy, ngồi chồm hỗm, tay cầm tấm lắc ghé sát ngọn đèn đặt trên mặt đất:
– Ôi giời! Hắn nói, cô gái mới đẹp làm sao, chắc là hôn thê của hắn ta đây!
– Bây giờ thì cô ta hoàn toàn tự do rồi, kẻ đồng lõa của hắn vừa hì hụi cố tháo đôi giày vừa nói.
– Thật tiếc là không có địa chỉ, và không có tên.
– Lật mặt sau bức ảnh xem.
– Ừ, mày có lí đấy, Louis béo ạ…
Hắn ta cầm con dao tìm cách tách bức ảnh ra khỏi tấm lắc. Mấy người khác đi qua ôm trên tay một đống áo quần nặng trĩu. Một tên láu cá xâu một chuỗi mũ sắt, mũ shako trên một cây gậy, như là những người đi săn chuột ở vùng nông thôn, rồi những chùm lông gài mũ, gù, tua rua treo lủng lẳng như những đuôi thú. Fayolle đi mỗi lúc một xa, chạm toán một tên lính gác, bị tên này chìa thẳng mũi súng vào giữa ngực:
– Anh đi đâu đấy, hả?
– Tớ muốn đi dạo chút thôi, Fayolle nói.
– Không ngủ được à? Bị phấn khích rồi! Tớ ấy à, tớ có thể ngủ đứng được như ngựa vậy!
– Bị phấn khích ư?
– Nếu anh không đi ra phía cánh đồng thì chắc là anh vẫn tiếp tục có chút phấn khích. Bọn Áo mai phục cách đây không đến một trăm bước đâu. Anh có nhìn thấy ánh lửa đằng kia không, bên trái hàng rào đó? Bọn chúng đấy.
– Cám ơn.
Chúc may mắn! Người lính gác càu nhàu nhìn Fayolle đi về phía khu làng.
Fayolle bước di trong đêm tối mênh mông, vấp ngã không biết bao nhiêu lần, quần găm đầy hạt ké, lội bừa qua những vũng nước. Khi tới làng Essling, Fayolle không thể nào phân biệt đâu là người ngủ, đâu là xác chết; khinh binh của Boudet vì quá mệt mỏi, nằm đầy trên phố, dựa vào các bức tường, người nọ tựa vào người kia; họ hòa trộn tất cả vào nhau trong sự phó mặc. Fayolle vấp phải đôi ghệt của một người lính, anh ta nhổm dậy, mồm lầm bầm chửi rủa. Fayolle chẳng thèm quan tâm đến chuyện gì cả, mà cứ tiến thẳng về phía ngôi nhà anh đã từng tới thăm hai lần, nhận ra nó không khó khăn gì, nhưng lính tráng đã đóng chặt cả ở đó. Họ đã dựng các túi cát và đồ đạc vỡ gãy thành chiến lũy. Cô gái may mắn là không bị thiêu cháy, ngôi nhà cô ấy cũng không bị một quả đạn nào rơi trúng cả, có ai đó đã tìm thấy cô gái chết trong tư thế bị trói; xác cô gái bây giờ ra sao? Anh ta ngước mắt về phía cửa sổ tầng trên. Cửa kính bị phá vỡ, cửa chớp treo lủng lẳng, một lính khinh binh đang ngồi trên bậc cửa sổ hút thuốc. Fayolle rất muốn vào ngôi nhà nhưng bản năng đã níu kéo anh ở lại. Dừng lại trên phố, Fayolle không dám phiêu lưu một lần nữa.
* * *
Không một ai ngủ được theo đúng nghĩa, trừ Lasalle, ông là người đam mê cuộc sống trận mạc hơn là cuộc sống nơi những salon sang trọng và biết cách nghỉ ngơi trong những điều kiện tệ hại nhất; ông thu lu cuộn tròn trong chiếc áo măng tô, nằm xuống và ngay lập tức đã ngáy vang, ông mơ về những cảnh tượng anh hùng mà ông hằng mong được trải nghiệm. Những người khác, sĩ quan, lính tráng, đều căng thẳng và lo lắng, gương mặt họ nhàu nhĩ đầy những nếp nhăn. Báo động tràn lan khắp mọi nơi đã đặt các tiểu đoàn vào tư thế sẵn sàng cho những cuộc đọ súng. Những phát súng nổ rải rác bên cạnh trại lính Áo và trong đêm tối, không thể nào phân biệt được được các sắc lính. Mọi người nghĩ rằng sau mỗi trận đánh, họ sẽ được nghỉ ngơi ở trên hoặc ở dưới mặt đất.
Trong khu nhà kho đã được củng cố vững chắc ở Essling, ngồi trên một cái trống, một tấm ván đặt ngang đầu gối, Đại tá Lejeune đang viết thư cho cô Krauss, vẻ mặt trầm tư, ngọn bút bằng lông quạ ngập trong lọ mực con luôn được mang theo bên mình cùng với giấy ký họa. Lejeune không kể gì cho Anna về những ghê tởm và hiểm nguy, anh chỉ hỏi thăm tình hình sức khỏe, cuộc sống hiện tại của Anna, kể cho cô về những nhà hát thành Vienne mà anh sắp đến, về những bức tranh đang dự định vẽ nhất là về Paris, về Joly nổi tiếng, người thợ làm tóc đang được ưa chuộng đã uốn mái tóc anh thành từng lọn theo kiểu Nina, về những món đồ trang sức anh sẽ tặng cho cô, hoặc là về những đôi giày mỏng tang chưa đi đã rách của hãng Cop. Lejeune còn kể cho cô nghe anh vẫn đi dạo trên những con đường, ngắm nhìn những ki-ốt ở Trivoli, dưới ánh sáng mờ cùng những ngọn đèn lồng đỏ treo trên những hàng cây. Ánh sáng mờ, màu đỏ, những từ này không gợi lên hình ảnh Trivoli trong suy nghĩ của Lejeune; chúng được gợi lên từ những đám cháy đang bao quanh anh vào lúc này. Tóm lại, anh muốn thư thái đôi chút, nhưng không thể được, hoặc là rất khó khăn, ngôn từ cứ như cạn khô, ngắn ngủn, thấm đẫm sự lo âu. Chiến tranh không có gì là trữ tình cả, anh nghĩ, hay ít ra tính trữ tình của nó rất xa vời. Anh đã từng suýt chết ít nhất ba lần trong cái ngày quyết liệt này. Những hình ảnh về Aspern cháy đỏ thay thế cho hình ảnh những khu vườn yên tĩnh ở Trivoli và Masséna thế chỗ cho những nghệ sĩ với mái tóc hợp mốt thời thượng lúc đó.
– Lejeune!
– Dạ, thưa ngài?
– Lejeune, Berthier hỏi, việc sửa chữa cầu lớn đến đâu rồi?
– Périgord đang có mặt ở đó. Anh ấy sẽ thông báo cho chúng ta biết khi các toán quân bên bờ phải có thể vượt sông Danube được.
– Chúng ta cùng đến đó kiểm tra xem thế nào đi, Berthier nói tiếp, sau một hồi trao đổi với Thống chế Lannes.
Họ đánh giá mức độ thiệt hại, cả hai đều biết rằng cho đến giờ, Molitor đã mất nửa sư đoàn, ba nghìn quân rải đầy trên các đường phố Aspern và những cánh đồng bao quanh, không tính đến số người bị thương, mất tích trong trận đánh diễn ra ngày hôm sau, trong ba hay bốn giờ nữa, khi quân địch quay trở lại lúc hừng đông và sẽ ào lên trong một cuộc huyết chiến náo loạn mới. Berthier, Lannes đứng lên cùng với các sĩ quan tùy tùng và giám mã; họ làm thành một đoàn, dẫn ngựa đi chậm rãi dọc theo bờ sông Danube dưới ánh sáng lúc tỏ lúc mờ phản chiếu từ những ngọn lửa đang hun đúc một phần khu làng. Lejeune bỏ dở bức thư đang viết, lấy một nhúm cát rải lên mặt giấy để thấm mực. Gió bắt đầu nổi lên, thổi tạt khói về hướng đảo Lobau, khói táp vào mắt cay xè. Họ đến gần phía sau làng Aspern nên nghe thấy rõ những tiếng súng nổ.
– Tôi đi đến đó đây! Lannes nói và quay ngựa trở lại.
Ông phi ngựa lao vào cánh đồng lúa mạch cao lút đầu người và tối như hũ nút ngăn cách ông với Aspern. Marbot, sĩ quan tùy tùng, theo sát ông một cách máy móc, một lúc sau, anh ta phi ngựa lên trước vì thạo đường và biết rõ những chướng ngại vật hơn. Những người khác tiếp tục đi về phía đảo và chỗ cây cầu nhỏ. Thống chế và viên Đại úy tùy tùng lặng lẽ và thận trọng tiến lên. Trăng hạ huyền nhạt nhòa, đêm mênh mông, mọi người không nhìn thấy gì cả. Một cơn gió ngược chiều mang theo mùi cháy khét lẹt làm cho lũ ngựa khó chịu, gió thổi tung chùm lông trên chỏm mũ Thống chế. Để cho ngựa có chút thời gian nghỉ ngơi và để kiểm tra địa hình khu vực này, Marbot xuống ngựa cầm cương dắt.
– Cậu có lí, Lannes nói, đây không phải lúc chúng ta tự bẻ chân mình!
– Thưa ngài, chúng tôi đã chuẩn bị một chiếc xe ngựa để ngài có thể trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công.
– Một thiện ý đấy! Tôi phải giữ lấy cặp giò chứ.
Rồi Lannes cũng xuống ngựa đi bên canh viên Đại úy tùy tùng được ông đánh giá rất cao từ nhiều năm nay.
– Cậu nghĩ sao về ngày hôm qua?
– Chúng ta chỉ thấy những điều tệ hại, thưa ngài.
– Có thể, điều quan trọng là chúng ta đã không phá vỡ được trung tâm quân Áo.
– Chúng ta đã trụ được.
– Một chọi ba, đúng thế, chúng ta đã trụ vững được, nhưng chưa đủ.
– Rạng sáng sớm mai, chúng ta sẽ được tăng cường những đơn vị rất sung sức cùng với lực lượng của Davout. Còn bọn Áo, chúng sẽ không có một mảy may hi vọng ứng cứu nào cả.
– Lực lượng của chúng ở Ý…
– Còn xa lắm.
– Ngày mai, chứng ta phải chiến thắng, Marbot ạ, bằng mọi giá!
– Ngài đã nói vậy, thì chắc sẽ được như thế.
– Ôi! Đừng có nịnh bợ ta!
– Tôi đã chứng kiến cả trăm lần ngài xông pha trận mạc và quân đội yêu quý ngài.
– Ta đưa họ ra đầu gươm mũi súng và họ yêu quý ta! Đôi khi thật không hiểu ra làm sao nữa.
– Thưa ngài, đây là lần đầu tiên tôi thấy ngài nghi ngờ.
– Thế ư? Thực ra khi ở Tây Ban Nha, ta đã nghi ngờ nhưng im lặng…
– Chứng ta đến…
Phía trại Masséna không có lính gác. Hai người đàn ông lặng lẽ đi giữa những người tính đang ngủ gà ngủ gật trên mặt đất. Bên một bếp lửa, họ nhìn thấy bóng chiếc lưng còng đổ dài của Masséna, bên cạnh ông là bóng của Bessières, Marbot đi trước nên Thống chế Bessières nhận ra anh nhờ vào cái mũ dân sự anh đang đội; trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, Marbot bị thương, đạn quệt vào giữa trán nên không đội được chiếc mũ lông truyền thống dành cho sĩ quan tùy tùng của Thống chế Lannes. Bessières tưởng rằng Marbot đến một mình nên lập tức té tát vào mặt:
– Này Đại úy, anh đến để moi tin đấy à. Tôi cho anh một tin thế này. Hãy quay về nói với ông chủ của anh rằng tôi không bao giờ quên những lời rủa của ông ta đâu!
Lannes là một người có khí chất nóng nảy, khi nghe thấy Bessières nói vậy đã đẩy người sĩ quan cần vụ sang bên cạnh, bước ra chỗ ánh sáng hắt ra từ trong lều.
– Thưa ông, Lannes không kìm nén được cơn giận dữ liền tuôn ra một tràng với Bessières, Đại úy Marbot biết hi sinh tính mạng của mình và sẵn sàng xả thân đó! Nói với Marbot bằng cái giọng khác đi! Đã không dưới mười lần, Marbot bị thương trên chiến trường rồi đó, còn những kẻ khác chỉ xênh xang thao diễn trước mặt quân thù thôi!
Bessières cao giọng, thái độ ngạo mạn này rất ít khi thấy nơi ông:
– Tôi, tôi mà xênh xang à? Hay là chính anh? Tôi có bao giờ thấy anh xuất hiện trong các trận đánh với bọn uhlan[2] đâu.
– Một số kẻ thích đánh nhau, một số khác thích do thám và tố cáo nhau!
Sự ám chỉ thật thô thiển nhưng rất rõ ràng. Lannes đã thổi bừng trở lại mối hằn thù xưa cũ của họ. Khi quyết định dùng chuyện Murat chống lại đối thủ của mình, Bessières đã công khai cho mọi người biết rằng Lannes đã bội chi hai trăm ngàn quan trong khoản kinh phí cấp cho lực lượng Vệ binh Đế chế mà ông đề nghị. Thế là, lập tức Napoléon thu hồi lại quyết định đó; Murat cưới Caroline. Đêm nay, trước ngọn lửa chiến tranh bốc lên ngùn ngụt trên các mái nhà làng Aspern, mối thù hằn xưa cũ của hai vị Thống chế lại bùng lên vượt quá dưới hạn.
– Thật quá quắt! Bessières kêu to. Ngươi đã làm cho ta hiểu ra mọi chuyện rồi đó!
Hai tay khoanh trước ngực, Masséna kiên nhẫn chờ cho cuộc cãi vã xẹp xuống, nhưng Bessières đã rút kiếm ra, ngay lập tức, Lannes cũng hành động tương tự, một cuộc đấu kiếm sắp sửa xảy ra. Masséna nhảy bổ và đứng chặn giữa họ:
– Đủ rồi đó!
– Hắn lăng nhục tôi! Bessières nói trong cơn điên loạn.
– Đó là một thằng phản bội! Lannes gầm lên.
– Định hạ nhục nhau ngay trước mặt kẻ thù à? Các anh định moi ruột nhau ngay trước mặt kẻ thù đấy chắc? Ta lệnh cho các ông tránh xa nhau ra! Các người đang ở địa bàn của ta đấy! Tra gươm vào vỏ đi!
Cả hai miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh.
Bessières giận run người, im lặng, quay gót đi về phía đội kị binh của mình. Masséna nắm vai Lannes:
– Cậu nghe thấy không?
– Chả nghe thấy gì cả! Lannes nói mặt cau có.
– Dỏng tai lên mà nghe, đồ con lừa!
Trong đêm tối, những người thổi sáo đang chơi một bản nhạc có giai điệu mà Lannes nhận ra không mấy khó khăn. Bản nhạc làm cho Lannes xao xuyến.
– Người của ông chơi bảo “La Marseillaise” à? Lannes hỏi lại Masséna.
– Không phải. Mà là bọn Áo đang đồn trú trong cánh đồng kia. Bản nhạc vang xa đấy.
Họ lặng yên nghe bản hành khúc sông Rhin đã từng được những người tình nguyện Marseille phổ biến khắp nước Pháp thời khởi nghĩa. Bài hát đã từng tiễn đưa cuộc Cách mạng và những người lính của mình đến tận Thủ đô Paris để rồi tại đó theo một sắc lệnh, bài hát bị cấm đoán vì nội dung tầm thường có tính phản loạn của nó. Lannes và Masséna tránh không nhìn mặt nhau. Họ vẫn nhớ những lời tụng ca về họ trong quá khứ. Từ thời điểm đó, họ được mang tước hiệu Công tước và Thống chế, họ có đất và vàng như những nhà quý tộc, nhưng không lâu sau, bài ca “La Marseillaise” đã thúc đẩy họ nổi dậy, họ đã rời làng quê ra đi chiến đấu và không biết bao lần họ đã ngân vang từng trường đoạn của bài ca để phát huy tinh thần quả cảm? Lannes không thể nào kìm nén, khe khẽ ngân nga đoạn điệp khúc bừng bừng khí thế. Kẻ thù đang dạo bản hành khúc kia là nhằm khiêu khích hay họ nghĩ đến lượt mình phải cất lên bài hành khúc để động viên kêu gọi mọi người tham gia cuộc chiến tranh giải phóng chống lại chế độ chuyên chế. Masséna và Lannes cùng chung một ý nghĩ, cùng một sự xúc động nhưng không nói với nhau gì cả. Họ lắng nghe, vẻ mặt nặng trĩu đầy xúc cảm và lôi cuốn. Họ đã từng là những thanh niên nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu nước. Họ đã yêu quý biết bao những trường đoạn trong khúc quân hành bừng bừng khí thế đó. Và giờ đây, đối thủ đang buộc họ đối diện với những khúc hùng ca như một lời nguyền hay một sự sám hối.
* * *
Những tiếng thở khò khè, những tiếng kêu than não ruột, những tiếng rên rỉ, những tiếng nấc nghẹn ngào, những tiếng la thét hoảng loạn, bài ca của những thương binh trên đảo Lobau không có vẻ luyến tiếc não nùng gì cả. Các y tá trở nên chai lì, vô cảm. Họ mặc những bộ quân phục nhếch nhác, được quần thì mất áo, toàn cọc cạch lẻ bộ. Họ lấy lá cọ xua đàn ruồi nhặng bu đầy trên những vết thương. Bác sĩ Percy khoác chiếc tạp dề dài, hai cánh tay nhuốm đầy máu, ông không còn sự hiền lành thường thấy trên khuôn mặt nữa. Ông không được một chút nghỉ ngơi, phải luôn thường trực bên những chiếc cáng tự tạo bằng những cành cây và những thân sậy với những thứ được gọi là dụng cụ cấp cứu. Trợ lí của ông đặt những người lính bị lột hết áo quần hoặc trong cơn hấp hối lên trên chiếc bàn mà họ thu nhặt được. Để có được sự giúp đỡ, Percy nhờ vào miệng lưỡi hay chửi bới của ông. Phần đông trong số người gọi là trợ lí của ông chưa bao giờ được học hành gì về phẫu thuật, cho nên, một mình ông làm sao có thể chăm sóc cho từng ấy con người què cụt và bao nhiêu người khác nữa, mỗi người một kiểu. Ông dùng phấn đánh dấu những vị trí cần phải cắt bỏ trên những tấm thân đang gồng người lên vì đau đớn; những phụ tá không được đào tạo của ông phải dùng cưa, đôi khi họ cưa ngay sát chỗ khớp, máu me phọt ra tung tóe. Họ cắt cả những khúc xương lòi ra ngoài da thịt; những người bị thương đau đớn tột độ, suy sụp và rồi cuối cùng thôi không cựa quậy nữa. Rất nhiều người chết như vậy vì một cơn đột quỵ tim hoặc mất quá nhiều máu do chẳng may động mạch chủ bị cắt không cầm lại được. Bác sĩ Percy quát tướng lên:
– Bọn đần độn! Các anh chưa bao giờ chặt một con gà à?
Mỗi một thao tác không vượt quá hai mươi giây. Có nhiều thương binh cần được cứu chữa. Những cánh tay, cẳng chân bị cắt cụt được dồn lại thành một đống. Những y tá bất đắc dĩ phải đùa cợt để cố nén những cơn buồn nôn đang ập đến hoặc là phải quay mặt đi; “Thêm một chân nữa này!” Họ nói to mỗi khi vứt một cánh tay hay khúc chân cắt cụt vào đống phế thải. Percy trực tiếp xử lí những ca phức tạp nhất. Ông cố gắng chắp nối, đốt, tránh phải cưa cụt đến mức tối đa, cố gắng giảm đau cho thương binh, nhưng làm sao tốt hơn được khi chỉ có những phương tiện cứu thương thô sơ như vậy? Ngay khi có thể, ông tận dụng hết khả năng huấn luyện nghề cho những người hoạt bát nhất trong đám y tá đó:
– Anh có thấy không, Morillon, đây là những mảng xương ống quyển xếp chồng lên nhau, mẩu xương lòi ra…
– Có thể sắp xếp lại cho đóng vị trí được không bác sĩ?
– Có thể chứ, nếu chúng ta có thời gian.
– Còn bao trường hợp đang chờ chúng ta ở phía sau.
– Tôi biết!
– Thế chúng ta phải làm gì đây?
– Phải cắt, anh ngốc ạ, lại phải cắt thôi! Morillon, tôi kinh tởm việc này lắm rồi!
Percy lau mồ hôi đầm đìa trên mặt bằng một cái giẻ lau, ông đang bị đau mắt. Người thương binh, không, người bị kết án thì đúng hơn, chỉ được quyền có một vạch phấn do bác sĩ Percy đánh dấu ở phía trên đầu gối rồi được đặt lên chiếc bàn nơi trước đây những người nông dân Áo dùng để ăn súp. Một người phụ tá cầm cưa, thè lưỡi cố giữ cưa cho đúng vạch phấn. Percy cúi xuống người kị binh bị thương mà người ta có thể nhận ra qua bộ ria, chòm râu má và lọn tóc.
– Bắt đầu bị hoại thư rồi, bác sĩ lầm rầm. Đưa kẹp đây!
Một thanh niên cao lớn vụng về chìa ra một chiếc kẹp khủng khiếp, tay kia cầm một chiếc khăn mùi soa bịt mũi. Percy dùng chiếc kẹp gắp những phần thịt bị cháy, ông nổi khùng:
– Giá như có bột kanh-ky-na, tôi sẽ cho ngâm vào nước cốt chanh, rồi tẩm dung dịch đó trên một miếng giẻ và rửa sạch tất cả những vết thương. Chỉ cần có thế là chúng ta có thể rửa sạch tất cả, có thể giảm đau và cứu thương binh thoát khỏi những cơn hiểm nghèo!
– Không phải người đó thưa bác sĩ, Morillon nói, tay cầm một cái cưa thợ mộc bê bết máu.
– Thế thì tốt cho anh ta! Người tiếp theo!
Cầm một góc tạp dề, Percy gạt những con giòi trong vết thương của người thương binh mới được chuyển đến, người này đang trong tình trạng hôn mê, đôi mắt lồng lộn đảo điên.
– Hỏng rồi! Người tiếp theo!
Hai người hộ lí, một người giữ chặt người thương binh, người kia ghì chặt bắp chân, đặt Parađis trên bàn giải phẫu.
– Anh ta bị thương ở chỗ nào?
– Không biết, thưa bác sĩ.
– Anh ta từ đâu đến?
- Họ tìm thấy anh ấy trong đống những thương binh nhặt được gần nghĩa địa Aspern.
– Nhưng anh ta có bị thương đâu!
– Có những mẩu thịt dính trên mặt và trên tay áo anh ta, họ tưởng anh ta đã trúng đạn, nhưng sau khi lau đã sạch hết rồi.
– Một điều chắc chắn là anh ta đã dính trọn vào mặt mình thân xác đồng đội bị một quả tạc đạn băm vụn, xé nát. Thôi thử vỗ vào đầu anh ta xem sao.
Percy cúi xuống người lính mà họ tưởng là bị thương:
– Này, cậu nói được không đấy? Cậu có nghe tôi nói không?
Paradis vẫn nằm bất động, lắp bắp nói về lai lịch của mình:
– Tôi là Paradis, khinh binh, tuyến hai, sư đoàn số ba của Tướng Molitor, thuộc binh đoàn của Thống chế Masséna…
– Thôi, khỏi lo, tôi không đẩy cậu trở lại mặt trận nữa đâu, cậu không còn khả năng cầm súng được nữa. (Rồi nói với Morillon:) Chàng trai này to khỏe đấy, này, mặc lại áo cho anh ta hộ tôi, có việc cho anh ta đó.
Ông bác sĩ và người trợ lí dựng Paradis dậy. Người lính khinh binh mặc quần cụt ngoan ngoãn đi theo Morillon. Bên ngoài, trên những chiếc ba lô nằm chất đống là những thương binh không còn khả năng cứu chữa được nữa vì thiếu thuốc và các y cụ; họ được đánh dấu bằng một chữ thập bằng phấn vào trán để không bị nhầm lần với những người mới chuyển đến, và tránh được cả việc đem họ trở lại bàn mổ. Những người hấp hối chắc chắn là sẽ không nhìn thấy bình minh nữa. Họ đã ra đi vì cuộc chiến và vì cuộc sống. Sát bên cạnh, dưới hàng rào cây du non, bọn người mách mối trong các trạm quân y lưu động đã bố trí một loại cửa hiệu, tại đó chúng bán lại những bộ quần áo capotes có túi, túi đạn, quần áo lột ra từ những xác lính Áo và lính Pháp ngổn ngang trên cánh đồng.
– Này Louis béo, Morillon nói với một tay to con đội mũ, cậu trang bị cho tay này nhé.
– Hắn có xu không?
– Đó là lệnh của bác sĩ Percy đó.
Louis béo thở dài. Việc kinh doanh của hắn có thể chấp nhận được. Nhưng nếu hắn từ chối mệnh lệnh bác sĩ, thì có thể bị cấm bán những chiến lợi phẩm hắn thu lợi lượm được trên bãi chiến trường. Bất đắc dĩ, hắn phải thi hành mệnh lệnh, kết quả là Paradis được cấp một bộ áo quần trông rất lố lăng, đôi ủng rộng thùng thình, một chiếc áo sơ mi có ống tay bên phải rách toạc, một chiếc áo gi-lê của khinh kị binh, khó khăn lắm Paradis mới cài được chiếc khuy áo. Morillon bàn giao Paradis cho một nhóm làm bếp chịu trách nhiệm nấu cháo cho thương binh.
* * *
Bữa ăn khá thịnh soạn được bày biện trên bàn Hoàng đế trong căn lều dựng gần cây cầu nhỏ. Những người đầu bếp xoay xoay mấy con gà móc trên xiên đặt trên bếp lửa liu riu, da gà chín vàng rộm, tỏa mùi thơm phức. Ngài Constant đặt chiếc bàn dưới một lùm cây, trải khăn bàn và đốt mấy ngọn nến. Ở vị trí này, Hoàng đế sẽ không nhìn thấy đoàn xe chở những con người bất hạnh về chỗ bác sĩ Percy. Giả sử thương binh không bị chết trước khi đến trạm thì thế nào lát nữa một trong tứ chi của họ cũng sẽ bị cưa. Hoàng đế ăn một cách bình thản thoáng chốc quên đi tiếng gầm rít của đạn pháo. Lannes được mời đến bên bàn ăn, ngồi bên phải Hoàng đế. Thống chế đã kể lại cuộc cãi vã của mình với Bessières, có thay đổi một số điểm có lợi cho mình. Lập tức, Napoléon đã cho triệu Bessières đến, quở trách cho một mẻ thậm tệ trước khi đuổi đi. Bessières bị xúc phạm và cố nhiên, ông ta lại trở thành kẻ xúc phạm người khác bởi vì Hoàng đế đã gây ra chuyện đó, vì Ngài thích thú cái trò bất công đó để tôi luyện những người xung quanh, đôi khi Ngài ôm hôn hoặc tát tai một ai đó mà chẳng vì một lý do xác đáng nào cả mà chỉ theo sở thích của Ngài mà thôi. Đáng lẽ phải hòa giải cho hai vị Thống chế thì Ngài lại chia rẽ khoét sâu mâu thuẫn, khơi dậy thêm mối thù hận giữa họ bởi lẽ Hoàng đế cảm thấy mình cần phải là vị quan tòa duy nhất, nơi kháng án duy nhất trong mọi hoàn cảnh, và không nên để cho các vị Công tước của Ngài quá hòa hợp với nhau để rồi một ngày nào đó họ thống nhất đồng lòng chống lại Ngài.
Những suy nghĩ này làm Thống chế Lannes ngao ngán, ông vẫn còn sa sầm nét mặt vì vụ cãi lộn vừa qua. Còn Hoàng đế, người ngốn thịt gà không biết chán, đang ngồi kia nhẩn nha ngoặm nốt cái đùi. Hoàng đế thích khuấy động những suy nghĩ buồn vô cớ và cảm thấy thích thú. Ngài vẩn vơ mường tượng đang đắm đuối cùng người đàn bà của mình trong một ngôi biệt thự riêng hay bình yên phi ngựa khắp vùng Gascogne trong cảnh thanh bình. Hoàng đế nhổ mẩu xương xuống đám cỏ, để ý đến vẻ mặt thảm hại của vị Thống chế dưới quyền:
– Không đói à, Jean?
– Tôi cảm thấy không ngon miệng, thưa Bệ hạ…
– Cậu cứ hay hờn dỗi như bé gái bị la mắng ấy! Ngày mai, Bessières sẽ vâng lời cậu và chóng ta sẽ giành chiến thắng trong trận đánh như con trẻ bày trò trận giả thôi mà!
– Hoàng đế dùng tay xé cái cánh gà, đưa vào miệng nhai nhồm nhoàm, rồi lau mồm vào ống tay áo, lau ngón tay vào khăn trải bàn, Ngài giải thích cho Berthier, Lannes và Bộ tham mưu của ông ta các bước hành động mà họ cần phải thi hành:
- Berthier này, đối với lực lượng sắp vượt cầu phao lớn, chúng ta phải chuyển khoảng bao nhiêu người?
- Khoảng sáu chục ngàn người, thưa Bệ hạ, cộng thêm ba mươi ngàn quân của Davout sắp đến Ebersdort.
– Davout, đúng rồi! Phải giục ông ta khẩn trương lên! Thế còn pháo?
– Một trăm năm chục khẩu.
– Tốt! Lannes này, anh chọc thẳng vào trung quân bọn Áo, sử dụng các sư đoàn Claparède, Thareau và Saint-Hilaire. Bessières, Oudinot, khinh kị binh cùng với Lasalle và Nansouty sẽ đợi khi nào lực lượng của anh đột phá được lối vào thì sẽ tràn lên đánh thẳng vào chúng, sau đó họ sẽ quay trở lại về hướng đối phương đang tập trung quân phía trước mấy khu làng…
Hoàng đế vẫy tay gọi, lập tức, Constant mang ngay chiếc áo redingote đến khoác vào vai Hoàng đế vì tiết trời đã bắt đầu trở mát. Caulaincourt rót cho Hoàng đế một cốc rượu vang. Hoàng đế nói tiếp:
– Với sự hỗ trợ của Legrand, Carra-Saint-Cyr và lính biệt kích thuộc đội Cận vệ của ta, Masséna sẽ tạo được vị trí vững chãi nhất trong làng Aspern. về khinh binh của Molitor, chúng ta sẽ dự trữ lực lượng này, họ xứng đáng được sử dụng như vậy. Boudet sẽ bảo vệ Essling.
Hoàng đế uống hết cốc rượu rồi đứng lên ra lệnh cho những khách mời của mình giải tán. Lannes lầm lũi bước đi, chiếc mũ hai sừng kẹp dưới cánh tay. Ông không còn biết đói khát và buồn ngủ là gì nữa. Ông đi qua cây cầu nhỏ chồng chất thương binh để đi về ngôi nhà bằng đá nơi mà hôm qua ông đã thư giãn trong cánh tay của Rosalie, nhưng đêm nay nơi này thật trống trải. Hôm trước, ngay từ sáng sớm, cô gái ấy đã trở lại bờ bên kia trước khi cây cầu bị phá sập. Lannes đã từng muốn trao cho cô gái một món quà, một chiếc thánh giá bằng bạc có nạm kim cương, món quà này ông đã mang trên cổ từ ngày còn ở Tây Ban Nha. Có một việc mà vì nó, Lannes đã bị thải hồi về hậu quân mất mấy tháng, đó là khi một linh mục Tây Ban Nha, người giữ hòm thánh tích Nhà thờ Đức bà Pilar tặng ông cả một kho báu để đổi sự an toàn tính mạng cho các tu sĩ của mình. Cái kho báu đó ước giá khoảng năm triệu quan; mũ miện bằng vàng, mảnh che ngực bằng hoàng ngọc, một huân chương chữ thập Calatrava bằng vàng, những bức chân dung, cây thánh giá nhỏ này… Ông cởi áo khoác và cả sơ mi, cầm món trang sức đó trên bàn tay phải rồi giật mạnh làm đứt tung sợi xích; ông tiến về phía bờ sông đầy cát, vứt mạnh cái vật đó xuống dòng sông Danube đang cuồn cuộn chảy. Rồi ông đứng rất lâu trước dòng sông hung dữ đang gào thét cuồng nộ.
* * *
Cùng trên bờ đảo Lobau đó, cách khoảng một cây số về phía tây, trong những bụi rậm nơi bắt đầu chiếc cầu phao lớn, Lejeune và Périgord, bạn anh, đang chờ mọi người kết thúc việc gia cố cây cầu… Tại đó, thợ cầu và thủy quân Cận vệ làm việc không ngừng; có một số trường hợp bị chết đuối. Không ai có thể dự phòng được những rủi ro và không biết phải nên làm thế nào để tránh những rủi ro đó. Thực ra mà nói, phương tiện, vật liệu xây dựng thiếu thốn quá nhiều, người ta đành phải vá víu mà đáng lí ra phải xây dựng lại từ đầu. Hai sĩ quan tùy tùng của Berthier rất bực mình vì những đợt sóng dữ dằn hung tợn, những xoáy nước hun hút réo rầm rầm, những đợt sóng cồn dâng cao xô bờ ràn rạt, những thân cây bị bật gốc và quật mạnh vào cây cầu mong manh, cần phải dùng những hàng cột cắm sâu xuống lòng sông, giằng với nhau bằng những dây xích để dựng thành một chiếc kè ở phía thượng lưu, như thế mới có thể làm chuyển hướng dòng chảy, giữ lại hoặc làm chậm tốc độ di chuyển của những thân cây bị dòng nước cuốn trôi hoặc những chiếc thuyền tam giác khủng khiếp vẫn được đám lính Áo tiếp tục ném xuống dòng sông. Ban đêm, những chiếc thuyền như những hòn đạn ấy còn khủng khiếp hơn nữa, mặc dù có những ngọn đèn mắc hên cột và đuốc thắp sáng. Khi nhận ra một hòn đảo nhỏ được tạo bởi lá cây hay những thân cây lớn biến dạng đang lao nhanh như những con sơn dương thì đã quá muộn rồi, khó có thể làm thay đổi được hướng di chuyển của chúng; thành thử phải luôn luôn sửa đi sửa lại những thứ vừa mới được sửa xong, công việc cứ thế kéo dài không dứt.
Đột nhiên, Lejeune phát hiện một hình thù kỳ dị đang chuyển động, hình như đang lội bì bõm trong làn nước tối om và réo ầm ầm. Anh lầm bầm không biết các chiến lược gia của Quận công Charles lần này lại nghĩ ra cái trò ma quái gì nữa đây, nhưng anh kịp nhận ra cả một đàn hươu bị trận lũ quét ra khỏi khu rừng, đang bị cuốn trôi, đầu và sừng nhô lên giữa mặt sông. Một vài con trong đàn bị cuốn vào đám dây rợ, một số con khác bị hất lên bờ đảo. Khi nhìn thấy đàn hươu, ai nấy đều thốt lên: “Thức ăn đến với chúng ta thật đúng lúc…”. Con hươu lớn nhất đàn đang cố gắng đứng lên sau khi thoát ra khỏi đám lau sậy, nó lắc mình giũ nước, dáng hiền lành như một con vật nuôi trong nhà, nó chỉ cách Lejeune có vài bước chân. Ngay lập tức, con vật bị một tốp lính, không biết thuộc trung đoàn nào, vậy chặt. Họ chỉ mặc áo sơ mi, trang bị lưỡi lê mà trông như cầm dao. Périgord và Lejeune tiến về phía những người lính. Con hươu ngước nhìn họ, một giọt nước mắt đọng nơi khóe mắt, hình như nó biết chắc là không tránh khỏi cái chết.
– Thật kỳ cục, Périgord nhận xét. Tôi đã trăm lần trông thấy hươu trong các cuộc săn đuổi, con hươu bị vây dồn, nên cứ đứng đực ra, mắt giương lên như bật khóc làm mủi lòng người thợ săn.
– Này Edmond, anh là người sành sỏi đấy, Lejeune nói, anh hãy kết liễu con vật này cho thật ngon lành xem nào.
– Có lí đấy, anh bạn thân mến ạ, bọn vô lại này chỉ biết giết người thôi.
Pédgord đẩy đám tính ra:
– Nó mệt lử rồi, thưa các vị cứ để tôi đảm trách cho. Đừng làm hỏng thịt của nó, tôi biết cách làm mà.
Bằng một nhát kiếm chính xác, Périgord chọc đúng vào yết hầu con hươu, con vật run bắn trên đôi chân rồi ngã khuỵu xuống, lưỡi thè ra ngoài, mắt mở trừng trừng, giọt nước mắt vẫn bên khóe mắt.
Đám lính lập tức xâu xé con mồi, cắt ra từng tảng thịt rồi đem nướng trên bếp lửa. Họ đói quá rồi. Lejeune quay đi và người bạn cũng bước theo anh sau khi lau kiếm vào đám cỏ. Một thượng sĩ tóc tai bù xù chạy đến thông báo cho họ:
– Xong rồi! Chiếc cầu đã được sửa xong rồi.
– Tin tốt lành đấy, Périgord bắt chước giọng Hoàng đế kêu to.
– Cảm ơn, Lejeune nói và có ý muốn gửi một công văn đến Vienne kèm theo lá thư gửi cho Anna.
– Anh đi đấy à, Louis-François? Chúng ta đến báo tin cho Bệ hạ đi.
Périgord và Lejeune nhảy lên hai con ngựa đang được những viên giám mã trông coi cách đó không xa, ở chỗ rừng trống dành cho những sĩ quan. Những người này đã không còn ca hát như hôm qua nữa. Cuộn tròn ngủ trong những chiếc áo măng tô, họ nhìn bầu trời tối đen và mảnh băng hạ tuần nhợt nhạt. Một số khác vuốt ve đám cỏ, bàn tay dịu dàng, cứ như đó là một tấm lưng mèo hay một mái tóc phụ nữ. Họ nghỉ ngơi và mơ về cuộc sống đời thường.
* * *
Hoàng đế ngồi trong trại, hai tay đặt sau lưng, phía trước là tấm bản đồ mà Caulaincourt đã dằn lên mấy hòn đá cuội để gió không thổi tung lên. Ngài đang cân nhắc trận đánh sắp đến. Số phận đang có vẻ đang mỉm cười với Ngài. Ngài chuẩn bị tung đạo quân mới đến rất sung sức vào trận, còn quân Áo thì đã quá mỏi mệt sau một ngày chiến đấu. Ngài sẽ ném tất cả các đạo quân vào cuộc tổng công kích này, vào trung quân quân Áo, nơi kẻ thù yếu thế nhất, có ít quân nhất, như Ngài đã thông báo cho Bộ tham mưu trong bữa cơm chiều nay. Khi Lejeune và Périgord báo cáo với Napoléon rằng cây cầu lớn cuối cùng đã được củng cố lại chắc chắn, cái tin ấy đã không còn làm cho Hoàng đế hài lòng nữa. Bởi lẽ, Ngài đã dự kiến một cách chính xác tình hình sẽ xảy ra như vậy. Các sự kiện từ đây diễn tiếp theo đúng kế hoạch của Hoàng đế. Ngài có thể tùy cơ thay đổi theo tình hình và khả năng phản ứng linh hoạt theo thói quen của Ngài. Napoléon cảm thấy khỏe khoắn. Ngài ra lệnh cho tất cả lực lượng phía bờ trái vượt sông Danube, tiếp cận khu vực ngoại vi vùng đồng bằng. Caulaincourt và người thân binh của ông giúp Hoàng đế leo lên lưng ngựa để Ngài có thể duyệt cuộc diễu hành của các trung đoàn mới tham dự cuộc chiến. Đúng lúc đó, một tiếng nổ vang lên băm nát một mảng vỏ cây du, bay sượt qua người Hoàng đế. Một thoáng kinh hãi. Một tên lính bắn tia người Áo nấp cách đó khoảng hai trăm mét đã ngắm bắn vào đúng dải khăn bằng vải mousseline màu trắng của một tay thân binh.
- Tại sao lại hốt hoảng lên như vậy? Hoàng đế nói. Khi nghe được tiếng rít của viên đạn, thì có nghĩa là nó đã không trúng ta rồi.
Với rất nhiều quân lính vây quanh, Hoàng đế nhằm cây cầu lớn thẳng tiến. Giữa đám kị binh mặc quân phục có chiết những mảnh vải vàng, Hoàng đế đề nghị họ dàn cảnh, bỏ mũ lông và vẫy chào đoàn quân tiếp viện. Hoàng đế nhìn những người lính đi đến, dẫn đầu là ba trung đoàn tính ném lựu của Oudinot, tiếp đến là trung đoàn của hầu tước Saint-Hilaire, ba lữ đoàn thiết kị và súng máy do Nansouty chỉ huy, pháo binh đi cuối cùng, khoảng hơn một trăm khẩu, và dưới sức nặng của nào thùng nào hòm, mặt cầu phao bị dìm ngập dưới mặt nước.
Ba giờ sáng, quân Áo bắt đầu giội pháo. Bốn giờ, trận đánh lại tiếp tục giữa thanh thiên bạch nhật.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên bản, các câu đối thoại của người cho thuê kính này đều là thứ tiếng Pháp ngọng nghịu, chúng tôi sử dụng cách nói trọ trẹ tiếng Việt để chuyến tải tinh thần của tác phẩm.
[2] Uhlan: Lính thương kỵ binh đánh thuê.