Mười hai

Chuộc Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười Hai

❊ ❊ ❊

Dù căn nhà cổ xây theo kiểu Adam từng tao nhã thế nào, dù nó từng bao quát ngoạn mục cả vùng cây cối công viên ra sao, tường của nó cũng không thể vững chắc bằng tường của công trình kiểu Baronial Scotland đã thay thế nó, và các phòng của nó cũng không bao giờ sở hữu được tính kiên cố như của sự tĩnh lặng đôi khi vẫn bóp nghẹt nhà Tallis. Giờ sau khi nhóm tìm kiếm đi khỏi, đóng cửa lại và quay bước băng qua sảnh, Emily mới cảm thấy sự hiện diện chễm chệ của nó. Bà cho rằng Betty và những người giúp việc vẫn còn ăn tráng miệng trong bếp và sẽ không biết rằng phòng ăn đã trống sạch. Không một tiếng động. Tường, gỗ lát nhà, sự nặng nề lan tỏa của đồ đạc gần như mới, vỉ lò khổng lồ, những lò sưởi đồ sộ bằng đá mới sáng màu làm liên tưởng qua hàng thế kỷ đen thời của những lâu đài đơn độc trong các khu rừng câm lặng. Bố chồng bà định, bà nghĩ, tạo nên không khí gắn bó và truyền thống gia đình. Một người đàn ông dành cả đời chế then và khóa sắt luôn hiểu giá trị của sự riêng tư. Tiếng ồn bên ngoài ngôi nhà bị chặn tuyệt đối, và thậm chí những âm thanh trong nhà cũng như bị bịt lại, thậm chí thỉnh thoảng bằng cách nào đó còn bị làm cho mất hẳn.

Emily thở dài, không nghe được rõ lắm tiếng của chính mình, rồi lại thở dài lần nữa. Bà đứng cạnh chiếc điện thoại nằm trên cái bàn bán nguyệt làm bằng sắt uốn cạnh cửa thư viện, và tay bà đặt trên ống nghe. Để nói chuyện với cảnh sát Vockins, trước tiên bà sẽ phải nói với vợ ông ta, một người phụ nữ lắm mồm thích chuyện phiếm về trứng gà và những đề tài liên quan - giá thịt gà, bọn cáo, túi giấy bây giờ dễ rách thế nào. Chồng bà ta từ chối thể hiện sự tôn trọng mà người ta có thể mong đợi từ một cảnh sát. Ông có cái vẻ thật thà khi thể hiện sự tẻ nhạt, cố tạo ra cho nó âm hưởng hùng tráng như của sự uyên thâm khó khăn lắm mới giành được trong bộ ngực mặc sơ mi gài khuy thít chặt: trời không bao giờ chỉ mưa mà phải là mưa như trút nước, nhàn cư vi bất thiện, con sâu làm rầu nồi canh. Trong làng đồn rằng trước khi gia nhập lực lượng cảnh sát và nuôi ria, ông là một thành viên công đoàn. Có người thấy ông, hồi còn tham gia Tổng Bãi công, mang truyền đơn trên một con tàu.

Hơn nữa, bà sẽ yêu cầu cảnh sát làng làm gì? Trước khi ông bảo với bà rằng trẻ con là trẻ con thôi, và dựng nửa chục trai làng dậy khỏi giường đi tìm, thì hẳn đã một giờ trôi qua, và hai đứa sinh đôi có thể đã tự mình mò về rồi, vì sợ phát khiếp cái thế giới rộng lớn trong đêm tối. Thực ra, bà không nghĩ đến hai thằng bé, mà đến mẹ chúng, em bà, hay đúng hơn là sự hiện thân của cô em trong dáng người săn chắc của Lola. Khi Emily đứng dậy khỏi bàn ăn để an ủi con bé, bà ngạc nhiên khi thấy mình giận dữ. Càng cảm thấy cơn giận, bà càng làm ra vẻ cuống lên lo cho Lola để che giấu đi. Vết xước trên mặt con bé là không thể phủ nhận, vết thâm tím trên cánh tay nó thì thực kinh hoàng, nếu là do hai thằng bé con gây ra. Nhưng một cảm giác thù địch cũ dằn vặt Emily. Người mà bà đang xoa dịu là cô em gái Hermione của mình - Hermione, vai phụ bất ngờ chiếm hết chú ý dành cho ngôi sao, cô chủ nhỏ của vở kịch, người mà bà đang ghì vào ngực mình ấy. Như hồi xưa, càng giận dữ, Emily càng tỏ ra ân cần. Và khi Briony tội nghiệp tìm thấy lá thư của hai thằng bé, chính cảm giác thù địch đó đã kích động Emily trở nên khắc nghiệt bất thường. Mới bất công làm sao! Nhưng viễn cảnh con gái bà, hay bất cứ cô gái nào trẻ tuổi hơn bà, mở phong bì, và khiến căng thẳng tăng lên bằng cách mở ra một cách từ từ đầy chủ ý, rồi đọc to lên cho mọi người nghe, tung tin và biến mình thành trung tâm của vở kịch, đều khơi lại ký ức xưa và những ý nghĩ ích kỷ.

Suốt thời thơ ấu của họ, Hermione từng luôn líu lo nhún nhảy trong một vũ khúc ba lê hạnh phúc, luôn phô trương bất cứ khi nào có thể mà không suy nghĩ gì - cô chị gái lặng lẽ, cáu kỉnh tin như vậy - đến việc như thế có vẻ lố bịch và thảm hại ra sao. Luôn luôn có người lớn vây quanh khuyến khích cái kiểu làm dáng không ngừng này. Và khi, một cách xuất sắc, cô bé Emily mười một tuổi làm cả phòng khách choáng váng khi lao vào cửa kính và tay bị đứt sâu đến nỗi một tia máu phun thành bó hoa đỏ thắm trên chiếc váy đầm vải muslin trắng của đứa bé đứng cạnh đó, thì con bé Hermione chín tuổi đã chiếm lĩnh sân khấu chính bằng tiếng hét cuồng loạn. Trong khi Emily nằm không ai đoái hoài trên sàn, sau sofa, được một ông chú học y buộc cho một cái ga nô chuyên nghiệp, hàng chục họ hàng lại tập trung cố gắng dỗ cho con em gái bình tĩnh. Và giờ thì nó ở Paris tung tẩy với một gã làm ở nhà đài trong khi Emily này phải chăm lo cho con nó. Plus ca change[1], cảnh sát Vockins có lẽ sẽ nói thế.

Và Lola, giống hệt mẹ nó, không ai giữ lại được. Ngay khi lá thư được đọc to lên, nó cũng chơi trội hơn hai thằng em bỏ trốn của mình bằng cú lao bổ ra ngoài đầy kịch tính. Mẹ sẽ giết mình mất. Nhưng chính nó đang nuôi sống linh hồn mẹ nó. Khi hai đứa sinh đôi quay về, bà dám cá là sẽ vẫn chưa tìm thấy Lola. Bị nguyên tắc ái kỷ sắt đá bó buộc, nó sẽ ở ngoài lâu hơn trong bóng đêm, bọc mình bằng một sự bất hạnh tự thêu dệt nào đó, để sự nhẹ nhõm của mọi người khi nó xuất hiện sẽ càng được đậm hơn, và mọi sự chú ý lại dồn hết cho nó. Buổi chiều đó, không cần nhổm người dậy khỏi giường, Emily cũng đoán được Lola đã ngầm hủy hoại vở kịch của Briony, một nghi ngờ được khẳng định khi nhìn thấy tờ poster trên khung bị xé toạc theo một đường chéo. Và đúng như bà dự đoán, Briony đã ra ngoài lang thang, dằn dỗi và không ai tìm được nó. Lola mới giống Hermione làm sao, vừa vẫn ngây thơ vô tội vừa khiến những người khác tự hủy hoại mình.

Emily phân vân đứng trong sảnh, không muốn vào phòng nào cả, căng tai nghe tiếng gọi của đám người đang tìm kiếm bên ngoài và - nếu bà thật lòng với chính mình - nhẹ cả người khi không nghe thấy gì hết. Vụ mất tích của hai thằng bé này là một vở kịch không về cái gì cả; đây chính là cuộc đời của Hermione áp đặt lên cuộc đời bà. Không việc gì phải lo lắng cho hai thằng sinh đôi. Chúng sẽ không đời nào lại gần bờ sông. Chắc chắn chúng sẽ mệt lử rồi mò về nhà. Bà bị bao quanh bởi những bức tường dày làm bằng sự im lặng đang rít lên trong tai bà, lên cao và xuống thấp theo kiểu riêng của nó. Bà bỏ tay khỏi điện thoại và day day trán - không có dấu vết nào của con quái vật đau nửa đầu, ơn Chúa vì điều đó - rồi bước về phía phòng khách. Một lý do nữa để không gọi cảnh sát Vockins là Jack sắp gọi điện xin lỗi. Cuộc gọi sẽ đến thông qua nhân viên tổng đài của Bộ; rồi bà sẽ nghe tiếng tay trợ lý trẻ nói giọng mũi hí như ngựa, và cuối cùng là giọng chồng bà từ sau bàn làm việc dội vang trong căn phòng mênh mông có trần kiểu ketxon. Việc ông phải làm việc muộn bà không nghi ngờ gì, nhưng bà biết ông không ngủ lại ở cơ quan, và ông biết bà biết. Nhưng không có gì để nói. Hay đúng hơn, có quá nhiều điều. Họ giống hệt nhau ở điểm đều rất sợ hãi phải xung đột, và việc tối tối ông gọi điện thoại về nhà, dù bà có nghi ngờ nhiều thế nào, chính là sự an ủi cho cả hai người. Nếu sự giả vờ này có là đạo đức giả thông thường thì bà cũng phải thừa nhận nó có giá trị của nó. Bà có những nguồn thỏa nguyện trong đời mình - ngôi nhà, công viên, trên hết, bọn trẻ - và bà muốn bảo vệ chúng bằng cách không gây chuyện với Jack. Và bà không nhớ sự có mặt của ông nhiều bằng giọng ông trên điện thoại. Ngay cả việc bị nói dối không ngừng, mặc dù không hề giống tình yêu, cũng mang trong nó sự chú ý liên tục; ông hẳn phải quan tâm đến bà thì mới thêu dệt tỉ mỉ đến thế và trong suốt cả một quãng thời gian dài dặc tới vậy. Sự giả dối của ông là dấu hiệu chứng tỏ tầm quan trọng của cuộc hôn nhân giữa họ.

Vài đứa con bị đối xử bất công, rồi người vợ bị đối xử bất công. Nhưng bà không bất hạnh như phải thế. Vai này đã khiến bà sẵn sàng cho vai kia. Bà dừng lại trên lối vào phòng khách và để ý thấy những ly cocktail dính vết sôcôla vẫn chưa được dọn đi, và cửa dẫn ra vườn vẫn mở toang. Giờ một làn gió thoảng cũng làm xào xạc đám cây lách được trưng trước lò sưởi. Hai hay ba con ngài núc ních bay vòng quanh cái đèn nằm trên đàn clavico. Bao giờ sẽ có người chơi lại nó đây? Việc những con sinh vật đêm kia bị thu hút về phía ánh sáng, nơi chúng dễ bị những con vật khác làm thịt nhất, là một trong những điều kỳ bí đem lại cho bà niềm hân hoan giản dị. Bà không thích phải giải thích tường tận điều này. Có lần tại một bữa tối trang trọng, một ông giáo sư khoa học gì đó, muốn mở một cuộc trò chuyện nhỏ, đã chỉ ra vài loại côn trùng bay quanh đèn chúc đài. Ông đã bảo bà rằng chính ấn tượng thị giác về một vùng tối thậm chí còn sâu thẳm hơn bên ngoài vùng sáng đã hút chúng lao vào. Ngay cả khi chúng có thể bị ăn thịt, chúng cũng phải tuân theo bản năng, thứ bản năng bắt chúng tìm kiếm nơi tối tăm nhất, ở phía kia ánh sáng - và trong trường hợp này là ảo ảnh. Với bà nghe như lời ngụy biện, hay một lời giải thích chỉ để giải thích. Làm sao ai đó lại có thể tự phụ rằng mình hiểu thế giới trong mắt một loài côn trùng cơ chứ? Không phải mọi thứ đều có nguyên nhân, và vờ như không phải thế là một cách can thiệp vào lối vận hành của thế giới phù phiếm này, và có thể còn dẫn đến khổ sở. Một số thứ chỉ đơn giản là vậy.

Bà không mong muốn biết tại sao Jack lại ở lại London nhiều đêm liên tiếp nhau đến thế. Hay đúng hơn, bà không mong ai nói cho mình biết. Bà cũng không muốn biết gì nhiều hơn về công việc khiến ông luôn phải ở lại làm muộn ở Bộ. Vài tháng trước, không lâu sau Giáng sinh, bà vào thư viện đánh thức ông dậy khỏi một giấc ngủ chiều và thấy một cặp tài liệu mở để trên bàn. Chỉ là sự tò mò nhẹ nhàng nhất của người vợ đã khiến bà liếc mắt dòm, vì bà chả mấy quan tâm đến chuyện quản lý quốc gia. Ở một trang bà thấy một danh sách các tiêu đề: kiểm soát ngoại hối, chế độ phân phối, di tản hàng loạt ở các thành phố lớn, cưỡng bức lao động. Trang ngoài viết tay. Cứ vài đoạn văn bản lại chen vào một phép tính số học. Kiểu chữ viết ngay ngắn với các nét vòng liền vào nhau bằng mực nâu của Jack bảo bà cứ giả định một cấp số nhân năm mươi. Cứ mỗi tấn chất nổ thả xuống, cứ cho là năm mươi người bị thương vong. Giả sử 100.000 tấn bom thả xuống trong hai tuần. Kết quả: năm triệu thương vong. Bà vẫn chưa đánh thức ông dậy, và hơi thở nhè nhẹ, như huýt gió của ông quyện với tiếng chim hót mùa đông vẳng tới từ đâu đó bên ngoài bãi cỏ. Ánh nắng lóng lánh gợn lăn tăn trên gáy sách và mùi bụi ấm ở khắp nơi. Bà bước lại chỗ cửa sổ và nhìn ra ngoài, cố gắng tìm con chim giữa những cành sồi trơ trụi chĩa lên đen thẫm trên nền trời vỡ nát màu xám và phớt thiên thanh. Bà hiểu rõ là phải có các dạng thức phỏng đoán quan liêu như thế. Và phải, luôn có những nhân viên quản lý lo xa phải tiến hành lo liệu đảm bảo cho chính mình trước mọi kết cục có thể xảy ra. Nhưng những con số ngông cuồng kia chắc chắn là một dạng tự phóng đại, và thiếu suy nghĩ đến mức vô trách nhiệm.

Jack, người bảo vệ cho căn nhà này, người bảo lãnh cho sự bình yên của nó, được đặt lên vai trọng trách phải có tầm nhìn xa. Nhưng xa đến thế này thì thật ngớ ngẩn. Khi bà đánh thức ông dậy, ông làu bàu và đột ngột vội nhoài người tới đóng cặp tài liệu lại, và rồi, vẫn ngồi, kéo tay bà đưa lên miệng và hôn một cách lạnh nhạt.

Bà quyết định không đóng cánh cửa sổ Pháp, mà ngồi xuống ở một đầu chiếc ghế Chesterfield. Bà nhận thấy không hẳn mình đang đợi. Bà không biết ai khác có được sở trường ngồi yên vị như bà, thậm chí không cần một cuốn sách trên đùi, sở trường di chuyển nhẹ nhàng qua những ý nghĩ của mình, như thể một người đi khám phá khu vườn mới. Bà đã học được cách kiên nhẫn trong suốt những năm tháng tránh né chứng đau nửa đầu. Cáu kỉnh, suy nghĩ tập trung, đọc, nhìn, muốn - tất thảy đều phải tránh, thay vào đó là dòng liên tưởng lờ lững trôi, trong khi từng phút tụ lại như tuyết dồn thành đống và im lặng thẳm sâu hơn quanh bà. Giờ ngồi đây bà cảm thấy hơi đêm khẽ mơn man gấu chiếc váy khiến nó khẽ chạm lên cẳng chân bà. Tuổi thơ bà bỗng trở nên hữu hình như lớp vải lụa óng ánh của chiếc váy - vị, thanh, mùi, tất thảy những cái đó, quyện thành một thực thể rõ ràng hơn nhiều một trạng thái cảm xúc. Có một sự hiện diện trong căn phòng: cái tôi mười tuổi phiền não không ai đoái hoài của bà, một bé gái thậm chí còn kiệm lời hơn cả Briony, con bé thường băn khoăn về sự trống rỗng vô tận của thời gian và kinh ngạc khi thế kỷ mười chín sắp kết thúc. Mới giống bà làm sao, nó cũng ngồi trong phòng như thế này, không “tham gia”. Bóng ma này được triệu đến không phải bởi việc Lola giống hệt Hermione, hay do hai đứa sinh đôi khó hiểu biến mất trong đêm tối. Nó được triệu đến bởi sự thu mình từ từ khỏi mẹ, cái thoái bước vào sự độc lập của Briony, báo hiệu thời thơ ấu của con bé đang sắp sửa kết thúc. Một lần nữa nó lại ám ảnh Emily. Briony là con út của bà, và từ giờ đến khi bà xuống mồ sẽ chẳng có gì quan trọng giản đơn hay sung sướng bằng việc chăm lo cho một đứa trẻ. Bà không phải đồ ngốc. Khi ngẫm nghĩ đến cảnh trông hệt như sự tàn lụi của chính mình: Briony chắc chắn sẽ đi học trường của chị nó, trường Girton, còn bà, Emily, đến ngày ấy tứ chi bà sẽ dần cứng đờ và càng ngày càng vô dụng; tuổi tác và mỏi mệt sẽ đưa Jack trở lại vòng tay bà; và sẽ chẳng ai nói gì nữa, hay không có gì cần phải nói, bà vẫn biết cảm giác thoải mái dịu ngọt viễn cảnh ấy mang lại thực ra chỉ là nỗi thương thân. Và giờ thì cái bóng ma của thời thơ ấu bà, khuếch tán khắp căn phòng, đã buộc bà nhớ đến cái vòng cung hiện sinh hữu hạn. Câu chuyện kết thúc mới nhanh làm sao. Không hề lớn lao và vô nghĩa, mà vội vã. Tàn nhẫn.

Tinh thần bà không hẳn ủ dột đi vì những suy nghĩ thông thường này. Bà trôi bồng bềnh bên trên chúng, vô cảm nhìn xuống, lơ đãng bện chúng lại với những mối bận tâm khác. Bà định trồng một khóm tử đinh hương dọc lối vào hồ bơi. Robbie đang muốn thuyết phục bà làm giàn dây leo và trồng loài đậu tía mọc chậm cho uốn lên giàn, anh thích hoa và hương của nó. Nhưng bà và Jack có khi đã nằm sâu dưới ba thước đất trước khi hoa kịp trổ bông. Câu chuyện sẽ kết thúc. Bà nghĩ đến Robbie trong bữa tối, trong mắt anh có vẻ gì đó man dại và đờ đẫn. Có thể nào anh lại đang hút thứ cần sa mà bà đọc thấy trên tạp chí không, thứ thuốc khiến thanh niên có khuynh hướng phóng túng vượt qua ranh giới điên rồ ấy? Bà quý anh vừa phải, và mừng cho Grace Turner khi hóa ra anh lại thông minh sáng sủa. Nhưng thực ra, anh là sở thích của Jack, là bằng chứng sống của cái nguyên tắc công bằng nào đó mà ông đã theo đuổi hàng bao năm qua. Khi nhắc đến Robbie, không thường xuyên lắm, trong giọng ông có chút gì đó thể hiện bằng chứng rằng ông đã đúng. Một điều gì đó được thiết lập và Emily coi đó là sự chỉ trích chính bà. Bà đã phản đối khi ông đề nghị cho thằng bé tiền học, một việc theo bà có hơi hướng vác tù và hàng tổng, và không công bằng với Leon và hai đứa con gái. Bà không coi mình đã bị chứng minh là sai đơn giản chỉ vì Robbie tốt nghiệp Cambridge với bằng hạng nhất. Thực ra, chuyện đó đã khiến mọi thứ khó khăn hơn với Cecilia khi nó chỉ là hạng ba, mặc dù nó thật lố bịch khi vờ tỏ ra thất vọng. Sự nâng cao phẩm giá của Robbie. “Sẽ chẳng đem lại gì tốt lành đâu” là câu bà thường nói, còn Jack sẽ phản ứng một cách tự mãn rằng hàng đống thứ tốt lành đã đến rồi còn gì.

Nhưng dù sao, Briony vẫn vô cùng bất lịch sự trong bữa tối khi nói chuyện kiểu đó với Robbie. Nếu con bé có những mối oán giận riêng, Emily sẽ thông cảm. Chuyện đó bà đã nghĩ đến. Nhưng bộc lộ chúng ra thì thật không đúng đắn. Lại nghĩ đến bữa tối - anh chàng Marshall kia làm mọi người dễ chịu mới tài tình làm sao chứ. Anh ta có phù hợp không nhỉ? Bề ngoài anh ta thì quả là đáng tiếc thật, nửa khuôn mặt trông như một phòng ngủ trang hoàng quá đáng. Có lẽ chẳng mấy chốc nữa nó sẽ lởm chởm, cái cằm như miếng pho mát này. Hay sôcôla. Nếu thực sự sắp sửa được cung cấp kẹo Amo cho toàn bộ Quân đội Anh thì anh ta sẽ giàu sụ. Nhưng Cecilia, đã học được dạng hiện đại của tính kiêu kỳ ở Cambridge, coi một người đàn ông có bằng hóa học là một con người không hoàn thiện. Mấy từ này đặc sệt nó. Nó lang thang ba năm ở Girton với cái loại sách nó hoàn toàn có thể đọc ở nhà - Jane Austen, Dickens, Conrad, tất cả trong thư viện dưới tầng, trọn bộ. Làm sao cái việc theo đuổi đó, đọc những cuốn tiểu thuyết mà người khác chỉ coi là tiêu khiển, lại khiến nó nghĩ mình cao hơn mọi người khác? Ngay cả một nhà hóa học cũng có giá trị của anh ta chứ. Và nhà hóa học này đã tìm cách làm sôcôla từ đường, các chất hóa học, phẩm màu nâu và dầu thực vật. Mà không hề có bơ cacao. Để sản suất ra một tấn cái thứ này, anh ta giải thích trong khi dùng món cocktail đáng kính ngạc của mình, gần như chẳng mất xu nào. Anh ta có thể hạ giá mặt hàng so với đối thủ và tăng lợi nhuận biên. Nghe thì thô tục, nhưng hàng bao năm sung sướng, hàng bao năm nhàn hạ sẽ tuôn ra từ những bể nguồn rẻ mạt này.

Hơn ba mươi phút trôi qua không hay biết khi những mẩu vụn này - ký ức, phán xét, quyết định không rành mạch, hoài nghi - lặng lẽ trải ra trước bà, trong khi bà hầu như không thay đổi vị trí và không nghe tiếng đồng hồ điểm mỗi lần sau mười lăm phút. Bà ý thức được gió đã mạnh lên, làm sập một cánh cửa kính lại, rồi lại lịm dần. Sau đó bà bị Betty và những người phụ giúp làm phiền khi họ dọn dẹp phòng ăn, rồi những âm thanh đó cũng tắt dần và, một lần nữa, Emily lại thả mình lang bạt trên những ngả đường mơ màng, trôi bồng bềnh nhờ liên tưởng, và với sự thành thạo có được sau hàng nghìn cơn đau đầu, tránh tất tật mọi thứ đột ngột hay dữ dội. Khi cuối cùng điện thoại đổ chuông, bà ngay lập tức đứng dậy, không hề tỏ ra ngạc nhiên, quay lại sảnh, nhấc ông nghe lên và nói to như mọi khi bằng ngữ điệu lên giọng của một câu hỏi, “Nhà Tallis nghe?”

Rồi tiếng tổng đài điện thoại, viên trợ lý nói giọng mũi, im lặng một lúc và tiếng rè rè của đường thoại đường dài, rồi giọng trung tính của Jack.

“Em yêu. Muộn hơn mọi khi. Anh vô cùng xin lỗi.” Đã mười một rưỡi. Nhưng bà không bận tâm, vì cuối tuần ông sẽ về, và ngày nào đó ông sẽ về nhà vĩnh viễn nên bà sẽ không thốt ra một lời tồi tệ nào cả.

Bà nói, “Tuyệt đối không sao mà.”

“Do bản sửa đổi Tuyên bố Liên quan đến Quốc phòng[2]. Sẽ phải in lại lần hai. Rồi cái này dẫn tới cái kia.”

“Tái vũ trang,” bà dịu dàng nói.

“Anh e là vậy.”

“Anh biết đấy, ai cũng phản đối nó.”

Ông cười khùng khục. “Văn phòng này thì không.”

“Cả em cũng phản đối.”

“Ồ, em yêu. Anh hy vọng ngày nào đó sẽ thuyết phục được em.”

“Còn em sẽ thuyết phục được anh.”

Đoạn đối thoại mang chút dấu âu yếm, và sự thân thương của nó thật dễ chịu. Như lệ thường, ông hỏi bà ngày hôm nay thế nào. Bà kể cho ông chuyện trời nóng ghê gớm, vở kịch của Briony tan tành, và Leon về cùng một anh bạn mà theo bà, “Anh ta theo phe anh. Nhưng anh ta muốn có nhiều binh sĩ hơn nữa để có thể bán cho chính phủ kẹo sôcôla của mình.”

“Anh hiểu rồi. Lưỡi cày thành giấy thiếc[3].”

Bà miêu tả bữa tối, và ánh mắt man dại của Robbie ở bàn ăn. “Mình có nhất thiết phải cho nó học trường y không?”

“Có chứ. Đó là một bước táo bạo. Đúng kiểu nó. Anh biết nó sẽ thành công.”

Rồi bà kể bữa tối kết thúc vì lá thư của hai thằng sinh đôi thế nào, và nhóm tìm kiếm đang sục sạo ngoài kia.

“Bọn quỷ nhỏ. Mà rốt cuộc bọn chúng đi đâu nhỉ?”

“Em không biết. Em vẫn đang đợi tin.”

Im lặng bao trùm, chỉ bị một tiếng tích tắc đều đều xa xăm phá vỡ. Rồi cuối cùng ngài công chức cấp cao lên tiếng bảo ông đã quyết rồi. Việc ông đặc biệt dùng tên riêng của bà cho thấy ông nghiêm túc.

“Giờ anh sẽ dập máy, Emily ạ, vì anh sẽ gọi cảnh sát.”

“Có thực sự cần thiết không? Đến khi họ về được đây…”

“Nếu nghe được tin gì em báo cho anh ngay lập tức nhé.”

“Khoan đã…”

Nghe tiếng động bà quay lại. Leon đang bước qua cửa chính. Ngay sau lưng anh là Cecilia mặt mày hoảng hốt không thốt lên lời nào. Rồi đến Briony cánh tay choàng qua vai cô em họ. Mặt Lola trắng bệch và cứng đờ, như một cái mặt nạ đất sét, khiến Emily, dù chưa hiểu được nét mặt ấy, cũng ngay lập tức hiểu ra chuyện tệ nhất. Hai đứa sinh đôi đâu?

Leon băng qua sảnh về phía bà, tay với ra cầm điện thoại. Từ gấu quần anh lên đến đầu gối có một vệt đất. Bùn, mà lại trong cái thời tiết khô cong thế này. Anh thở nặng nhọc vì đã ráng sức, một vạt tóc bóng nhẫy rủ xuống trước mặt khi anh vồ lấy ống nghe từ tay bà và xây lưng lại.

“Bố phải không ạ? Vâng. Thế này, con nghĩ bố nên về. Không, vẫn chưa, và có chuyện còn tệ hơn. Không, không, bây giờ con không nói được. Nếu được thì tối nay đi. Bọn con sẽ gọi họ ngay đây. Tốt nhất là bố về đi ạ.”

Bà đặt tay lên ngực, bước vài bước lại chỗ Cecilia và hai đứa con gái đang đứng nhìn. Leon đã hạ giọng xuống và lẩm bẩm rất nhanh vào ống nghe đang được bàn tay khum lại che. Emily không nghe được lời nào, và không muốn nghe. Bà thích lui vào phòng mình ở trên lầu hơn, nhưng Leon đã nói chuyện xong với một tiếng cạch vang vang của nhựa tổng hợp Bakelite và quay sang bà. Mắt trợn trừng, và bà tự hỏi có phải mình vừa trông thấy sự giận dữ. Anh đang cố hít thật sâu, và môi căng ra trên hàm răng trong một điệu nhăn nhó kỳ dị.

Anh nói, “Mình sẽ vào ngồi trong phòng khách.”

Bà hiểu chính xác anh định nói gì. Anh không nói cho bà ngay bây giờ, anh sẽ không để bà ngã khuỵu xuống nền gạch mà vỡ sọ. Bà nhìn anh đăm đăm, nhưng không dịch chân.

“Đi nào, Emily,” anh nói.

Tay con trai bà nóng và nặng trịch đặt lên vai bà, và bà cảm thấy sự ẩm ướt của nó qua lằn lụa. Bất lực, bà để anh dẫn về phía phòng khách, toàn bộ nỗi khiếp sợ trong bà tập trung vào một sự việc đơn giản là anh muốn bà ngồi xuống trước khi nói ra tin đó.

 

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Pháp trong nguyên bản; đây là một phần của câu tiếng Pháp mà người Anh hay dùng: “Plus ca change, plus c’est la meme chose.” - “Sự thể càng thay đổi thì càng giống như cũ.” - nghĩa là chẳng có gì thay đổi cả.

[2] Statement Relating to Defence: một văn bản được chính phủ Anh chính thức công bố tháng Ba năm 1935 khởi động cho việc tái vũ trang quân đội nước này trong thập niên 1930.

[3] Xuất phát từ thành ngữ “Beat swords into ploughshare” - Biến gươm thành lưỡi cày - chỉ việc đầu tư xây dựng cuộc sống trong hòa bình thay vì cho chiến tranh; ở đây Jack Tallis nói “Lưỡi cày thành giấy thiếc (để gói sôcôla)” với ý mỉa mai.

ên —★— Chuộc tội Nguyên tác: Mirror Image ebook©MotSAch —★— TVE-4u©tudonald78 Nhà xuất bản: Văn học 09/2009
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Ian Mcewan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.