Dám Nghĩ Lại

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần kết

❊ ❊ ❊

“Điều tôi tin” là một tiến trình, không phải một tuyên bố cuối cùng.

- Emma Goldman

Khi tôi đọc tiểu thuyết, đoạn kết luôn là phần tôi thích nhất. Theo trí nhớ của

tôi, bất kể là tiểu thuyết khoa học giả tưởng mà tôi đọc ngấu nghiến như Ender’s Game (tạm dịch: Cuộc đấu của Ender) hay cuốn truyện huyền bí như The Westing Game (tạm dịch: Trò chơi của ngài Westing), những nút thắt bất ngờ ở phần kết không chỉ là điểm nhấn của truyện, nó chuyển hóa câu chuyện, khiến tôi tái tư duy về mọi tình tiết mình đã đọc trước đó.

Tuy nhiên, khi viết về các ý tưởng, tôi chưa bao giờ thích phần kết. Không thể xem chương cuối là phần kết luôn được sao? Đây là một quyển sách, không phải một báo cáo sách. Những điều hay ho cần nói, chẳng phải tôi đã nói hết rồi sao.

Tôi nghĩ điều tréo ngoe này đã được miêu tả tài tình bởi nhà văn trào phúng Richard Brautigan: “Khi tôi viết về một nhu cầu của con người, quyển sách của tôi luôn kết thúc bằng từ Mayonnaise”. Ông ấy đã viết dòng này ở chương kế cuối của một quyển sách, và hóm hỉnh kết thúc quyển sách bằng từ này, nhưng lại cố tình viết sai chính tả thành “mayonaise” để xóa bỏ tâm lý trông chờ cái kết của độc giả. Nhu cầu của con người, chưa bao giờ được thỏa mãn.

Tôi đã có suy nghĩ trước đó rằng có thể cho độc giả thấy quyển sách đã được biên tập ra sao qua từng bản thảo, nhưng khi nghĩ lại, tôi không muốn tra tấn bạn đọc. Lê lết qua những ý tưởng chưa hoàn chỉnh và giả định chưa đủ căn cứ không phải là cách tốt nhất để sử dụng thời gian của bạn. Ngay cả khi bạn là người hâm mộ nhiệt thành của Hamilton, bạn có lẽ cũng không mê nổi bản thảo đầu tiên – tận hưởng thành phẩm của tái tư duy thì thú vị hơn nhiều so với việc theo dõi tiến trình của nó.

Điều làm tôi không thích phần kết nhất là tính kết thúc của nó. Nếu một chủ đề quan trọng đến mức xứng đáng được viết ra bằng cả một quyển sách thì nó không nên có kết thúc. Nó nên là một cái kết mở.

Đó là thách thức tất yếu của quyển sách Dám nghĩ lại. Tôi không muốn phần kết là một sự đóng lại hoàn toàn. Tôi muốn tư duy của mình tiếp tục triển nở. Để diễn đạt tinh thần cởi mở ấy bằng biểu tượng, tôi đã quyết định phần kết này sẽ là một trang trắng. Theo nghĩa đen.

Những người thuộc mạng lưới thử thách của tôi đồng lòng bác bỏ ý tưởng này. Hai trong số những sinh viên suy nghĩ thấu đáo nhất của tôi thuyết phục tôi rằng mặc dù nó là một điểm kết đối với tôi trong vai trò tác giả, nhưng nó lại là điểm khởi đầu đối với độc giả – một tấm ván nhảy cầu làm nảy sinh những tư tưởng mới và là cầu nối cho những cuộc đối thoại mới. Và rồi họ gợi ý cho tôi một cách để tôn vinh tinh thần của quyển sách: Tôi có thể học hỏi theo phương pháp được áp dụng trong lớp học của Ron Berger và cho thấy một số quy trình tái tư duy của tôi về phần kết được thể hiện qua từng bản nháp.

Tôi vô cùng thích ý tưởng này . Đó có vẻ là một ý tưởng tuyệt vời dành cho một quyển sách về tái tư duy. Giống như cuốn sách trưng bày trên bàn cà phê viết về các loại bàn cà phê trong bộ phim Seinfeld – hay như thời điểm Ryan Gosling mặc chiếc áo có in hình Macaulay Culkin, và rồi Macaulay Culkin cao tay hơn, mặc một chiếc áo in hình Ryan Gosling đang mặc chiếc áo kia.

Phần kết có vẻ là nơi hoàn hảo để trình bày một vài khoảnh khắc tái tư duy mang tính quyết định, nhưng tôi vẫn không biết nên viết gì cho phần này. Tôi quay lại tham khảo mạng lưới thử thách của mình, và họ gợi ý thêm một cách để tổng hợp các chủ đề then chốt và cập nhật tức thì mọi ý tưởng tái tư duy của tôi.

Ý tưởng đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi là vào một khoảnh khắc trong quá trình xác minh dữ kiện, khi tôi biết được rằng các nhà khoa học đã thay đổi suy nghĩ về bộ lông vũ nổi tiếng của họ khủng long Tyrannosaurus. Nếu bạn đang hình dung về con khủng long bạo chúa lông vũ được nhắc đến ở Chương 1, thì tôi cũng vậy, nhưng giới khoa học hiện đang thống nhất là loài khủng long này đa phần có thân hình được che phủ bởi lớp vảy. Nếu bạn cảm thấy sốc về thông tin cập nhật này, hãy đọc lại Chương 3 - Niềm vui khi sai. Thật ra, tôi cũng có tin tốt đây: Có một chủng khủng long Tyrannosaur khác, khủng long Yutyrannus, được các nhà khoa học tin rằng có bộ lông vũ sặc sỡ.

Quá khác thường. Những người đọc bản thảo sớm muốn phần này được viết theo lối trang trọng hơn – vài người cho biết giờ họ có cách trình bày sự bất đồng khác trước. Khi gặp phải thông tin khác với quan điểm của mình, thay vì chối bỏ hoặc bất đắc dĩ phải bàn luận, họ xem đó là cơ hội để học hỏi điều gì mới: “Có lẽ tôi nên tái tư duy điều này”.

Mạng lưới thử thách của tôi nói rằng trích dẫn một “sự thật thú vị” trong quyển sách là một việc quá tầm thường.

Gần đây, tôi thường tái tư duy về cách quá trình tái tư duy diễn ra. Hàng ngàn năm qua, phần lớn hoạt động tái tư duy lặng lẽ diễn ra trong các cộng đồng người. Trước khi kỹ nghệ in ấn ra đời, phần lớn tri thức được truyền miệng. Lịch sử loài người giống như một trò chơi gọi điện thoại dài hơi – qua mỗi người truyền đạt, thông tin được ghi nhớ và diễn dịch khác đi, và mỗi người nhận không tài nào biết câu chuyện đã được biến thể ra sao. Khi một ý tưởng du hành qua một lãnh địa, nó có thể đã được tưởng tượng lại toàn bộ mà không ai nhận ra. Khi ngày càng nhiều thông tin được lưu lại trong sách và sau này là báo, chúng ta đã có thể bắt đầu quay trở lại tìm hiểu bằng nhiều cách khác nhau xem tri thức và niềm tin nào đã phát triển. Ngày nay, mặc dù chúng ta có thể thấy mọi bản hiệu chỉnh được thực hiện trên Wikipedia, nhưng những người tham gia hiệu đính các nội dung này thường đưa nhau vào những cuộc chiến biên tập, từ chối thừa nhận người khác đúng hay bản thân mình đã sai. Mã hóa tri thức cho phép chúng ta truy lại các chỉnh sửa, nhưng nó không nhất thiết có thể giúp chúng ta cởi mở tư duy.

Nhiều nhà tư tưởng vĩ đại đã lập luận rằng tái tư duy là một nhiệm vụ của từng thế hệ, không phải từng cá nhân – ngay cả trong khoa học. Như nhà vật lý lỗi lạc Max Planck mô tả: “Một chân lý khoa học mới thường không chiến thắng bằng cách thuyết phục được đối thủ và khiến đối thủ nhìn thấy chân lý, mà nó chiến thắng bởi vì những đối thủ kia cuối cùng đã chết già”. Nếu theo góc nhìn này thì sự thay thế một thế hệ còn diễn ra nhanh hơn sự thay đổi trong quan điểm của một con người.

Tôi không còn tin điều này là đúng. Tất cả chúng ta đều có khả năng tái tư duy, chúng ta chỉ không vận dụng nó thường xuyên, bởi vì chúng ta không tư duy như những nhà khoa học đủ nhiều.

Phương pháp tư duy khoa học đã tồn tại từ nhiều thiên niên kỷ trước, ít nhất từ thời Aristotle và Hy Lạp cổ đại. Và tôi ngạc nhiên khi biết rằng từ nhà khoa học (scientist) chỉ mới được dùng khá gần đây: mãi cho đến năm 1833 nó mới được đặt ra. Suốt hàng thế kỷ, chúng ta không có một thuật ngữ chung nào để gọi những người làm nghề khám phá tri thức thông qua xây dựng các giả thuyết, thiết kế các thí nghiệm và thu thập dữ kiện. Tôi hy vọng chúng ta không phải chờ thêm chừng ấy thời gian để nhận ra rằng lối tư duy này có thể được sử dụng cho mọi ngành nghề cũng như mọi khía cạnh của cuộc sống.

Ngay cả khi quyển sách sắp được in, tôi vẫn tiếp tục tái tư duy. Khi tôi đưa ra quan điểm ủng hộ lối tư duy của nhà khoa học, vẫn còn điều khiến tôi chưa yên tâm. Tôi tự hỏi phải chăng mình đã quá xem nhẹ những tình huống mà trong đó, việc thuyết giảng, lên án và thủ thuật chính trị vẫn rất hiệu quả. Khi chúng ta cần tái tư duy quan điểm của chính mình, đa số bằng chứng đều cho thấy rằng chế độ tư duy của nhà khoa học là lựa chọn tốt nhất. Nhưng chế độ lý tưởng này lại không cho thấy hiệu quả rõ ràng khi chúng ta cần giúp người khác tư duy cởi mở hơn. Tôi đã cố gắng nắm bắt những sắc thái tinh vi trong từng cách tiếp cận, khám phá cách mà sự rao giảng hiệu quả trong các cuộc tranh luận với những ai dễ tiếp nhận quan điểm của chúng ta hay những ai không quá cố chấp với quan điểm cá nhân về vấn đề; sự lên án có thể có tác dụng với những khán giả không đòi quyền kiểm soát; và tư duy đơn giản hóa có thể thuyết phục những người vốn đã có cùng lập trường chính trị với chúng ta. Nhưng ngay cả sau khi đã xét đến những điểm dữ kiện này, tôi vẫn không chắc liệu cách tiếp cận vấn đề của mình đã đủ thấu đáo chưa.

Một câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ ở đây là khi nào việc tái tư duy nên dừng lại – giới hạn của tái tư duy ở đâu? Tôi nghĩ câu trả lời khác nhau tùy theo mỗi cá nhân và mỗi tình huống, nhưng theo nhìn nhận của tôi thì phần lớn chúng ta vẫn còn cách mức trung bình quá xa. Dữ kiện thích đáng nhất về điều này nằm ở Chương 3, về những nhà dự đoán tài ba: họ cập nhật những dự đoán của mình trung bình bốn lần cho mỗi câu hỏi thay vì chỉ hai lần như những người khác. Điều này cho thấy chúng ta không cần thực hiện tái tư duy quá nhiều mới mong nhận được lợi ích từ nó, và những mặt trái thì gần như không có. Không phải lúc nào tái tư duy cũng khiến chúng ta phải thay đổi suy nghĩ. Giống như học sinh tái tư duy các đáp án đã chọn khi làm bài thi, ngay cả khi chúng ta quyết định sẽ giữ nguyên một niềm tin hay một quyết định, chúng ta vẫn yên tâm hơn rằng mình đã suy xét thấu đáo vấn đề.

Và rồi đại dịch virus corona xảy ra, và tôi đã rất tò mò muốn biết các nhà lãnh đạo sẽ truyền đạt thông điệp như thế nào trong giai đoạn khủng hoảng. Làm thế nào để họ tạo cho người dân cảm giác an tâm về hiện tại và hy vọng về tương lai? Rao giảng tính ưu việt của các kế hoạch của họ và lên án những đề xuất khác có thể giảm sự bất an. Tiếp cận vấn đề theo hướng chính trị có thể tạo sự đồng thuận về một mục tiêu chung.

Đối với tôi, một ví dụ đáng học hỏi nhất là từ thống đốc bang New York. Trong một bài phát biểu vào đầu mùa xuân, khi bang của ông và cả nước Mỹ đối mặt với một cuộc khủng hoảng chưa từng có, ông tuyên bố: “Cách tốt nhất là chọn một phương án và thử triển khai: nếu phương án đó thất bại, hãy thẳng thắn thừa nhận và thử cách khác. Nhưng trên hết, chúng ta phải thử cách gì đó”.

Tờ The New York Times nhanh chóng mổ xẻ bài phát biểu của thống đốc, nhấn mạnh rằng “cách gì đó mà không cụ thể thì cũng chẳng tốt hơn không làm gì”. Trong khi các lãnh đạo khác “cụ thể, xác đáng, tích cực”, thì ngài thống đốc “mơ hồ, trừu tượng, lập lờ”. Không chỉ giới truyền thông chỉ trích bài phát biểu mà một trong những cố vấn của thống đốc còn mô tả đó là một nước đi chính trị dại dột.

Chúng ta thường dễ dàng bị thuyết phục bởi một nhà lãnh đạo tự tin, đưa ra một tầm nhìn rõ ràng, một kế hoạch vững chắc và một tiên lượng dứt khoát về tương lai. Nhưng cả trong những thời điểm khủng hoảng lẫn giai đoạn thịnh vượng, điều chúng ta cần hơn là một lãnh đạo chấp nhận sự không chắc chắn, thừa nhận các sai lầm, học hỏi từ người khác và tái tư duy các kế hoạch. Đó là những điều mà chúng ta nhìn thấy ở vị thống đốc này, và những người chỉ trích ông ban đầu đã sai về cách mà phương pháp được ông đề xuất đã diễn ra.

Chuyện này không xảy ra trong đại dịch corona và vị thống đốc kia không phải là Andrew Cuomo. Nó xảy ra vào lần gần nhất mà tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ tăng cao kỷ lục: trong cuộc Đại suy thoái. Đó là vào năm 1932, và thống đốc bang New York đó là Franklin Delano Roosevelt (FDR). Ông đưa ra thông điệp “hãy thử cách gì đó” khi đất nước đang quay cuồng trong cơn Đại suy thoái, trong bài diễn văn khai mạc tại một trường đại học nhỏ ở bang Georgia. Trong câu nói đáng nhớ nhất của bài phát biểu, FDR lập luận rằng “đất nước này đòi hỏi sự thử nghiệm táo bạo, không ngừng”. Nguyên tắc ấy đã trở thành chuẩn mực cho phong cách lãnh đạo của ông. Mặc dù các nhà kinh tế hiện vẫn còn đang tranh cãi chính sách cải tổ nào thật sự đã đưa nước Mỹ thoát ra khỏi các cuộc suy thoái lịch sử, nhưng phương pháp “thử và sai” trong xây dựng chính sách của FDR nổi tiếng đến độ người dân Mỹ đã bầu ông làm tổng thống đến bốn nhiệm kỳ.

Trong bài diễn văn hôm ấy, FDR không rao giảng, lên án hay vận động chính trị. Ông nói với phong thái khiêm nhường tự tin mà bạn thường thấy ở một nhà khoa học. Vẫn còn rất nhiều điều chúng ta chưa biết về việc làm thế nào để giao tiếp khiêm nhường tự tin. Khi người ta hiểu biết ít ỏi về một chủ đề phức tạp, chẳng hạn ngăn chặn một đại dịch hay vực dậy một nền kinh tế, họ có thể tin tưởng hơn những nhà lãnh đạo thừa nhận những điều mình chưa biết hôm nay và hoài nghi những phát ngôn của chính họ ngày hôm qua. Khi người ta tự tin rằng mình hiểu rõ vấn đề và nhìn nhận vấn đề đơn giản, họ có xu hướng phản bác những nhà lãnh đạo thừa nhận có những điều mình không chắc chắn và không ngừng thay đổi giải pháp.

Tôi vẫn tò mò muốn biết khi nào thì mỗi chế độ tư duy phát huy hiệu quả cao nhất trong việc thuyết phục người khác, nhưng xét cho cùng, tôi mong được thấy ngày càng nhiều người lên tiếng cổ xúy và nêu gương cho xu hướng tái tư duy, như FDR. Chúng ta chưa khai thác hết giá trị mà việc tái tư duy mang lại – dù là khi chúng ta vật lộn với những quyết định mang tính bước ngoặt trong đời hay trong những giai đoạn khủng hoảng của thời đại. Những vấn đề phức tạp như đại dịch, biến đổi khí hậu và phân cực chính trị đòi hỏi chúng ta phải luôn giữ được lối tư duy linh hoạt. Đối mặt với vô số hiểm họa chưa có tiền lệ và ngày một nghiêm trọng, tính khiêm nhường, sự hoài nghi và óc tò mò luôn là những chìa khóa tối quan trọng cho khám phá. Sự thử nghiệm táo bạo, không ngừng có thể là công cụ tái tư duy tốt nhất của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều có thể tiến bộ trong việc tái tư duy. Bất kể chúng ta đi đến kết luận nào, tôi nghĩ rằng thế giới sẽ là một nơi tốt đẹp hơn nếu mọi người nhìn nhận các vấn đề theo lăng kính của nhà khoa học thường xuyên hơn một chút. Tôi tò mò muốn biết liệu bạn có đồng ý như vậy không? Nếu không, liệu bằng chứng nào có thể khiến bạn nghĩ lại?

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Adam Grant

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.