“Em chẳng hiểu anh ra làm sao nữa,” Rose nói vói Macon. Mới đầu anh nói được, anh sẽ ở nhà suốt buổi chiều, và giờ anh nói không. Làm sao em tính được khi mà anh lại thiếu nhất quán như thế chứ?”
Cô đang gấp mấy chiếc khăn ăn vải lanh xếp thành chồng lên bàn, chuẩn bị bữa tiệc trà thường niên cho người già. Macon nói, “Xin lỗi em, Rose, anh không nghĩ chuyện này lại nghiêm trọng đến thế.”
“Tối qua anh bảo anh sẽ ở nhà dùng bữa tối và rồi anh đâu có ở. Có đến ba buổi sáng trong hai tuần qua em lên gọi anh xuống ăn sáng mà không thấy anh ngủ trên giường. Anh không nghĩ là em sẽ lo lắng hả? Ngộ nhỡ có gì xảy ra thì sao.”
“Được rồi, anh đã bảo là anh xin lỗi rồi mà.”
Rose vuốt vuốt lại chồng khăn ăn trên bàn.
“Thời gian cứ trôi qua lúc nào anh chẳng biết nữa,” anh bảo cô. “Em biết như thế nào rồi đấy. Anh muốn nói là anh không có ý định đi ra ngoài, thoạt đầu là vậy, nhưng rồi anh nghĩ, ‘Ồ, có thể chỉ một chốc thôi mà,’ và điều kế tiếp anh biết là đã muộn quá rồi, quá sức muộn để có thể lái xe về, và anh nhủ thầm, “À,...”
Rose quay ngoắt người đi lại chỗ tủ đựng bát đĩa. Cô bắt đầu đếm số muỗng. “Em có căn vặn cuộc sống riêng tư của anh đâu,” cô nói.
“Anh nghĩ là em có đấy.”
“Em chỉ cần biết nấu bao nhiêu thức ăn là đủ, vậy thôi.”
“Anh không trách em chuyện tò mò đâu,” anh nói.
“Em chỉ cần biết phải chuẩn bị bao nhiêu phần ăn sáng thôi.”
“Em nghĩ anh không để ý đến ba người hay sao? Bất cứ khi nào cô ấy đến huấn luyện Edward, ai nấy đều bắt đầu kiếm việc để làm gần đó. Đi ké né qua phòng khách - ‘Chỉ muốn tìm cái kìm thôi! Đừng để ý đến tôi!’ Rồi thì quét hiên nhà ngay khi anh và cô ấy đưa Edward ra ngoài đi dạo.”
“Hiên nhà bẩn như thế em chịu làm sao được?”
“Được, thế này nhé,” anh nói. “Tối mai anh sẽ ở nhà ăn tối, chắc chắn đấy. Anh hứa. Em tin anh đi.”
“Em không khiến anh ở nhà nếu anh không muốn,” cô bảo anh.
“Đương nhiên là anh muốn! Anh chỉ ra ngoài tối nay thôi,” anh nói, “nhưng không muộn đâu, anh chắc đấy. Anh hứa sẽ có mặt ở nhà trước mười giờ.”
Tuy nhiên ngay cả khi đang nói, anh vẫn nghe giọng mình sao thật giả dối và nông cạn, và anh thấy Rose đã cụp mắt xuống.
❀ ❀ ❀
Anh mua một cái bánh pizza thập cẩm to tướng và lái xe xuống phố. Mùi bánh tỏa ra khiến anh đói đến độ mỗi khi dừng ở đèn đỏ anh lại nhón mấy miếng bên trên - xúc xích rắc tiêu, nấm cắt hình lưỡi liềm. Mấy ngón tay anh nhớp nháp hết cả mà khăn tay thì chẳng biết đi đằng nào. Lát sau vô lăng cũng nhớp nháp luôn. Ngâm nga gì đó trong cổ họng, anh lái ngang qua các cửa hiệu đồ nữ trang, cửa hàng bán rượu, shop giày giảm giá, công ty Hot-Tonight Novelty. Anh đi đường tắt qua một con hẻm và xe giật nảy lên giữa hai dãy sân sau - những ô chữ nhật bé tí bị tống vào đó nào là cầu trượt với cả xích đu dành cho bọn trẻ chơi và những bộ phận xe ô tô bị gỉ sét, rồi những bụi cây trơ trụi thiếu sinh khí. Anh rẽ vào đường Singleton và đậu lại sau một chiếc xe tải nhỏ không mui chất đầy những tấm thảm cuộn tròn giống nhau như đúc.
Hai đứa con gái sinh đôi nhà bên cạnh ngồi trên bậc tam cấp bên ngoài nhà - hai cô bé độ mười sáu tuổi ưa chưng diện quần jean bó sát hai chân giống như những cây xúc xích. Thời tiết quá lạnh để có thể ngồi bên ngoài, thế nhưng chẳng bao giờ ngăn nổi bọn nó.
“Chào chú Macon,” hai đưa reo lên.
“Thế nào, các cô gái.”
“Chú đến thăm cô Muriel đấy à?”
“Chú cho là vậy.”
Anh bước lên mấy bậc tam cấp đi vào nhà Muriel, tay ôm hộp bánh pizza, và gõ cửa. Debbie và Dorrie tiếp tục quan sát anh. Anh thoáng hấp háy cười với hai đứa. Bọn nó thỉnh thoảng trông hộ Alexander nên anh phải tỏ ra tử tế mới được. Có đến phân nửa hàng xóm ở đây trông hộ Alexander, hình như là vậy.
Anh vẫn còn cảm thấy thiếu tự nhiên với những người hàng xóm của Muriel.
Alexander ra mở cửa. “Pizza đến rồi đây!” Macon nói với nó.
“Mẹ đang nói chuyện điện thoại,” Alexander nói giọng hờ hững. Nó quay ngoắt lại trở về chỗ trường kỷ, chỉnh lại chiếc kính trên mũi. Rõ ràng nó đang xem ti vi.
“Pizza hỗn hợp, không có cá trồng đâu,” Macon nói.
“Cháu dị ứng với bánh pizza mà.”
“Thành phần nào?”
“Sao ạ?”
“Cháu dị ứng với thành phần nào? Xúc xích rắc tiêu? Xúc xích không tiêu? Nấm? Ta có thể loại mấy thứ ấy ra mà.”
“Mọi thứ,” Alexander nói.
“Cháu không thể dị ứng với mọi thứ được.”
“Đúng vậy mà.”
Macon đi vào nhà bếp. Muriel đưng lưng xoay về phía anh, nói chuyện điện thoại với mẹ cô. Anh có thể biết được ấy chính là mẹ cô nhờ vào âm sắc cao, buồn tủi, trách móc trong giọng Muriel. “Mẹ không định hỏi Alexander như thế nào hay sao? Mẹ không muốn biết gì về chứng nổi mề đay của nó phải không? Con hỏi thăm sức khỏe của mẹ, sao mẹ không hỏi thăm chúng con lấy một tiếng?”
Anh lẳng lặng bước đến từ đằng sau cô. “Mẹ thậm chí còn không hỏi điều gì đã xảy ra với ông bác sĩ mắt của nó,” cô nói, “trong khi con thì lại lo lắng về điều đó biết chừng nào. Con thề là có lúc mẹ còn nghĩ nó không phải là cháu của mẹ nữa kìa! Cái lần con bị sái mắt cá chân do đi giày bị té và con gọi xem liệu mẹ có thể chăm sóc nó hộ con không, mẹ nói sao chứ? Mẹ nói, ‘Nào nghe cho rõ này. Chị muốn mẹ phải đi cả một quãng đường dài như thế đến nhà chị hay sao.’ Mẹ cho rằng Alexander chẳng liên quan gì đến mẹ cả!”
Macon đứng trước mặt cô, chìa ra hộp bánh pizza. “Ta-da!” anh thì thào. Cô ngước lên nhìn anh và nở nụ cười rỡ ràng, kiểu cách.
“Mẹ à,” cô nói. “Con gác máy đây! Macon đến rồi!”
Đã từ lâu, rất lâu rồi mới có người xem việc anh đến nhà như một sự kiện trọng đại.
❀ ❀ ❀
Anh đến văn phòng của Julian vào một buổi chiều thứ Hai và nộp cho anh ta những gì anh đã viết được cho cuốn cẩm nang du lịch nước Mỹ. “Chỉ mới miền Đông Bắc thôi,” anh nói. “Chắc kế đến tôi sẽ bắt đầu về miền Nam.”
“Được đấy,” Julian bảo anh. Anh ta chồm ra phía sau bàn làm việc, lục lọi ngăn kéo. “Tốt đây. Tôi muốn cho ông anh xem cái này, Macon. Xem nào, đâu mất rồi ấy nhỉ... a, đầy rồi.”
Anh ta đứng thẳng lên, mặt đỏ lựng. Anh ta trao cho Macon một chiếc hộp nhỏ xíu bọc nhung xanh dương. “Quà Giáng sinh cho em gái ông anh đây,” anh ta nói.
Macon bật nắp hộp. Bên trong, trên nền xa tanh trắng tinh là một chiếc nhẫn kim cương. Anh nhìn Julian.
“Cái gì đây?” anh hỏi.
“Cái gì đây?”
“Ý tôi là, đây có phải là... cậu gọi là gì, nhẫn dinned[1] à? Hay nó là, là...”
“Nhẫn đính hôn đấy, Macon.”
“Đính hôn?”
“Tôi muốn cưới cô ấy.”
“Cậu muốn cưới Rose?”
“Có gì kỳ cục à?”
“À, tôi...” Macon nói.
“Nếu cô ấy đồng ý, tôi sẽ cưới cô ấy.”
“Cái gì, cậu chưa hỏi nó hả?”
“Tôi sẽ hỏi cô ấy vào hôm Giáng sinh, khi tôi trao nhẫn cho cô ấy. Tôi muốn làm điều này thật hợp thức. Truyền thống. Ông anh có nghĩ cô ấy sẽ đồng ý không?”
“À, quả thật tôi cũng không biết nữa,” Macon nói. Đáng tiếc là, anh chắc cô sẽ đồng ý, nhưng có chết anh cũng không nói ra điều ấy.
“Cô ấy sẽ chịu tôi thôi,” Julian nói. “Tôi đã ba mươi sáu tuổi rồi, Macon, nhưng để tôi nói với anh điều này, tôi thấy mình giống như một cậu học trò khi đứng trước cô ấy. Ở cô ấy tôi tìm thấy nhiều điều mà những cô gái nơi chung cư tôi sống không có. Cô ấy thật... đứng đắn, chân thành. Ông anh muốn biết gì không? Thậm chí tôi chưa ngủ với cô ấy lần nào.”
“Ồ, tôi không muốn nghe về chuyện ấy,” Macon vội nói.
“Tôi muốn chúng tôi có một đêm tân hôn thật sự,” Julian nói với anh. Tôi muốn làm mọi thứ thật đúng trật tự. Tôi muốn là thành viên của một gia đình thật sự. Chúa ơi, Macon, không phải thật ngạc nhiên biết mấy khi hai cuộc đời tách rời nhau lại có thể kết nối với nhau hay sao? Ý tôi là hai thực thể khác biệt, phải không nhỉ? Anh thấy chiếc nhẫn sao?”
Macon nói, “Được đấy.” Anh nhìn xuống chiếc nhẫn nói, “Rất đẹp, Julian,” và đóng nhẹ nắp hộp rồi trao lại cho Julian.
❀ ❀ ❀
“Nào, đây không phải là máy bay thông thường đâu,” Macon bảo Muriel. “Anh không muốn em có hiểu biết sai lầm. Người ta gọi đây là commuter plane. Có nghĩa là máy chuyên dụng dành cho doanh nhân, leo lên máy bay phóng đến thành phố gần nhất, làm vài phi vụ mua bán gì đấy rồi lại leo lên máy bay phóng ngược trở lại nhà, chỉ vừa vặn trong một ngày.”
Chiếc máy bay anh đang nói đến - một máy bay cỡ nhỏ mười lăm ghế dáng từa tựa con muỗi hay con ruồi – đứng ngay bên ngoài cửa phòng chờ dành cho hành khách. Một cô bé mặc áo khoác có mũ trùm đầu đang chất hành lý lên máy bay. Một cậu bé đang kiểm tra gì đó trên cánh máy bay. Có vẻ như hãng hàng không này do các cô cậu tuổi teen điều hành. Macon cảm thấy dường như ngay cả phi công cũng ở tuổi teen. Cậu ta bước vào phòng đợi, tay mang một tấm bìa kẹp giấy tờ. Cậu đọc to danh sách hành khách. “Marshall? Noble? Albright?” Lần lượt từng người bước về phía trước - chỉ chừng tám hay mười người gì đó. Viên phi công nói với từng người, “Thế nào, ổn không?” Ánh mắt cậu ta đậu lại nơi Muriel lâu nhất. Hoặc cậu ta nhận thấy Muriel hấp dẫn nhất hoặc cậu ta bị choáng bởi cách ăn mặc của cô. Cô mang đôi giày có gót cao nhất của mình, vớ lưới dài màu đen điểm xuyết những bông hồng đen, chiếc đầm xòe ngắn, áo khoác ngoài dày cộm mà cô gọi là “fun fur”. Mái tóc cô uốn quăn xù bung ra một bên đầu, và mí mắt tô màu bạc. Macon biết cô kẻ hơi đậm, nhưng đồng thời anh cũng thích cái cách cô coi trọng dịp này đến như vậy.
Viên phi công mở cửa và hành khách đi theo cậu ta ra ngoài băng qua một đoạn đường bê tông, rồi bước lên mấy bậc thang lung lay như muốn đổ sụp vào khoang máy bay. Macon phải cúi gập người hết cỡ khi xuyên qua lối đi giữa hai hàng ghế. Hai người họ len lỏi giữa hai dãy ghế đơn, ghế nào cũng mảnh nhỏ như ghé xếp. Họ tìm thấy hai chỗ ghế cạnh nhau và ngồi xuống. Các hành khách khác lục đục đi tìm ghế ngồi, hổn hển thở và đâm sầm vào các thứ. Người cuối cùng lên máy bay là viên phi công phụ lái có đôi má tròn trĩnh, mịn màng như của em bé, trên tay cầm một lon Diet Pepsi. Anh ta đóng sầm cánh cửa lại sau lưng và đi đến buồng lái. Tấm màn ngăn buồng lái không thật kín lắm. Macon chỉ cần nghiêng người vế phía lối đi là trông thấy những dãy nút bấm và đồng hồ, viên phi công đeo bộ tai nghe vào, viên phi công phụ thì tu nốt chút nước còn lại rồi đặt cái lon rỗng xuống sàn.
“Này, trên báy bay lớn hơn,” Macon nói lớn với Muriel khi động cơ rú lên, “em hầu như không cảm nhận được nó cất cánh lúc nào đâu. Nhưng với loại máy bay này em nên ngồi cho vững vào nhé.”
Muriel gật đầu, mắt mở to, bấu chặt lấy thành ghế phía trước. “Cái đèn chớp chớp trước mặt phi công là gì thế anh?”
“Anh không biết.”
‘Thế còn cây kim cứ đảo qua đảo lại kia?”
“Anh không biết.”
Anh nghĩ chắc cô thất vọng về anh lắm. “Anh quen với máy bay phản lực, chứ không phải thứ đồ chơi này,” anh nói với cô. Cô lại gật đầu, thừa nhận. Tự nhiên Macon có cảm giác như mình thật sự là một người đàn ông từng trải và sành đi du lịch lắm.
Máy bay bắt đầu chạy sườn sượt trên đường băng để lấy đà cất cánh. Nó cứ nảy bật lên mỗi khi sượt qua một viên sỏi; mỗi lần nảy lên như vậy lại khiến toàn thân máy bay rên lên cót két. Họ lấy đà. Phi hành đoàn, đột nhiên nghiêm trang và chuyên nghiệp hẳn lên, làm một loạt những thao tác trên bảng điều khiển phía trước mặt. Máy bay nhấc bổng lên khỏi mặt đất. “Ồ!” Muriel nói, và cô quay sang Macon với nét mặt sáng rỡ.
“Máy bay cất cánh rồi đấy,” anh bảo cô.
“Em đang bay!”
Họ đã lên cao - phải cần đến ít nhiều nỗ lực, Macon có cảm giác như thế - bên trên những cánh đồng bao quanh sân bay, bên trên rừng cây, và cơ man nào là nhà cửa. Những hồ bơi bên trên mặt đất rải rác lấm chấm trong các khoảnh sân vườn đây đó giống như những chiếc đinh rệp màu xanh nhạt. Muriel ghé sát mặt vào cửa sổ đến nỗi hơi thở cô phả ra tạo thành một quầng sương mờ đục trên kính. “Ồ, nhìn kìa anh!” cô nói với Macon, và rồi nói thêm điều gì đấy anh nghe không rõ. Động cơ máy bay kêu to chát chúa, và lon Pepsi lóc cóc lăn tới lăn lui trên sàn, còn viên phi công nghiêng người qua tay phụ tá của mình nói gì đó như hét về cái tủ lạnh của anh ta, “Thế nên tôi tỉnh dậy lúc nửa đêm, cái đồ chết tiệt đó cứ kêu ầm ĩ cả lên...”
Muriel nói, “Alexander mà không thích đi như thế này mới lạ đó!”
Macon chưa thấy Alexander thích thú bất cứ cái gì, nhưng anh nói một cách đầy trách nhiệm, “Lúc nào đó ta sẽ mang nó theo.”
“Ta sẽ phải đi thật nhiều nơi đấy nhé! Pháp này, Tây Ban Nha này, Thụy Sĩ...”
“À,” Macon nói, “chỉ e là không có đủ tiền thôi.”
“Chỉ nước Mỹ thôi cũng được. California này, Florida này...”
California và Florida cũng tốn tiền chứ, lẽ ra Macon nên nói như vậy (mà Florida thậm chí chưa có chỗ trong cuốn cẩm nang của anh đâu), nhưng giờ anh đang bị cuốn theo cái háo hức của Muriel trước mọi thứ cô nhìn thấy. “Nhìn này anh!” cô nói, và chỉ vào cái gì đấy. Máy bay bay quá thấp đến độ như thể nó đang bay lần theo các biển chỉ đường vậy; anh thấy thật gần những nông trại, những cánh rừng, những mái nhà. Tự nhiên trong anh xuất hiện suy nghĩ rằng mỗi nóc nhà nhỏ bé kia che đậy những mảnh đời thực sự. À, đương nhiên là anh đã biết điều ấy, nhưng bỗng anh thấy tức thở. Anh thấy những con người dưới kia sống cuộc sống của họ thật biết bao nhiêu - vô cùng mãnh liệt, riêng tư, say mê. Miệng há to, anh liếc nhìn qua Muriel. Dù là cô muốn anh nhìn thấy gì đi nữa thì chắc chắn thứ đó cũng đã lướt qua từ lâu rồi, thế nhưng cô vẫn cứ tiếp tục tròn mắt háo hức nhìn ra cửa sổ.
❀ ❀ ❀
Porter và mấy anh em đang bàn tán về chuyện tiền bạc. Mà cũng có thể mỗi Porter nói về tiền thôi còn mấy người kia chỉ nghe rồi thỉnh thoảng xen vào một hai câu gì đấy. Porter đang lập kế hoạch trước cho việc đóng thuế thu nhập. Anh quan tâm đến một thứ gì đó gọi là chicken straddle[2]. “Thế này nhé,” anh nói, “ta đầu tư vào gà con ngay bây giờ, trước khi hết năm. Khấu trừ đi chi phí thức ăn và cả những chi phí khác. Rồi ta bán gà đã lớn ấy vào tháng Giêng và thu lãi.”
Rose nhăn trán. Cô nói, “Nhưng gà con chịu lạnh kém lắm. Chúng sẽ bị cảm lạnh mất. Mà tháng Mười hai và tháng Giêng ở đây trời đâu phải lúc nào cũng ấm áp chứ.”
“Chúng có ở tại Baltimore này đâu Rose. Có Chúa mới biết chúng ở đâu. Ý anh là thứ này không phải là bọn gà như em vẫn thấy; đó chỉ là cách chúng ta xoay sở với món thuế của ta thôi.”
“Ồ, anh không biết nữa,” Charles nói. “Anh chúa ghét dính dáng đến những thứ kẻ khác đang điều khiển. Mà theo lời ai đó thì những con gà đó thậm chí có tồn tại thật đấy.”
“Hai anh em đúng là chẳng có trí tưởng tượng chút nào cả,” Porter nói.
Cả bốn người đứng xung quanh chiếc bàn chơi bài trong phòng nắng, giúp Rose gói quà Giáng sinh cho Liberty. Cô làm thêm một cái garage với phòng dành cho khách ở bên trên cho căn nhà đồ chơi của Liberty. Cái garage quả thật không gọn gàng một chút nào. Vỏ bào vung vãi đầy sàn quanh một đống khúc gỗ nhỏ xíu, và một cuộn dây điện bọc nhựa ngoài màu xanh lá cây làm thành một ống nước tưới vườn không chê vào đâu được. Giờ họ đang làm đồ đạc cho khu vực trên lầu. Rose đang nhồi một chiếc gối ôm nơi ghế bành với kích thước suýt soát viên aspirin. Charles đang cắt giấy dán tường lấy từ một cuốn sách mẫu. Porter đang khoan lỗ để xỏ dây treo rèm. Chẳng còn việc gì để làm; thế nên Macon, vừa mới cùng Edward trở vào, chỉ biết đứng phía sau quan sát.
“Thêm nữa,” Charles nói, “gà con thật sự không phải, anh không biết nữa, thật sự không phải là giống vật xuất sắc gì. Anh chẳng ưa gì cái chuyện đi rêu rao mình là vua gà con cả.”
“Ơ này, em đâu có nói gì đến chuyện ấy chứ,” Porter nói.
“Vua bò đi, ừ; cái đó thì chắc được. Dù sao thì bò vẫn hơn.”
“Có ai nói là beef straddle đâu, Charles.”
Macon nhặt lên một vài tấm ảnh màu và ngồi xuống bên cạnh cuốn sách mẫu. Tấm trên cùng là hình một cái cửa sổ trong một căn phòng anh không nhận ra ở đâu cả - một cửa sổ khung trắng với mấy tấm chớp đóng nửa chừng. Tấm kế tiếp chụp bán thân một nhóm người. Bốn người - lờ mờ, không điểm nhấn – đứng thành một hàng ngang trước trường kỷ. Người phụ nữ đeo tạp dề, còn ba người đàn ông thì mặc com lê đen. Có gì đó thiếu tự nhiên nơi điệu bộ của họ. Cả bốn người đứng thẳng đờ; không ai chạm vào ai lấy một chút. “Những người này là ai đây?” Macon hỏi.
Rose liếc nhìn tấm ảnh. “Gia đình sống trong căn nhà đồ chơi của Liberty chứ ai,” cô nói.
“Ồ.”
“Mẹ nó gửi cho em những tấm ảnh đó.”
“Gia đình không có gì khác ngoài người lớn thôi ư?” anh hỏi.
“Có một đứa con trai đấy thôi; anh không thấy ư. Còn một người là ông nội hoặc là một quản gia gì đấy; chị June bảo Liberty lúc thì thích coi người đó là ông nội lúc thì thích là quản gia”
Macon đặt mấy tấm ảnh qua một bên, không buồn xem những tấm còn lại thế nào. Anh quỳ xuống vỗ về Edward. “Cattle[3] straddle” Charles trầm ngâm nói. Macon bất chợt ước ao giá như anh đang ở nhà Muriel. Anh choàng tay ôm Edward và tưởng tượng được ngửi thấy mùi nước hoa thơm gắt của cô nơi sâu trong lớp lông của Edward.
❀ ❀ ❀
Ồ, nét nổi bật nhất của anh là một người đàn ông ngăn nắp. Anh cực kỳ hài lòng với trật tự do anh sắp xếp. Anh có khuynh hướng ăn những bữa ăn giống nhau và mặc những bộ quần áo giống nhau ngày này qua ngày khác; giặt giũ vào ngày nào đó đã định trước và trả tất cả hóa đơn cũng vào một ngày nhất định. Nhân viên thu ngân đã hỗ trợ anh lần đầu tiên đến ngân hàng cũng chính là nhân viên thu ngân anh giao dịch mãi cho tới giờ, ngay cả những khi cô ta làm không mấy hiệu quả, ngay cả lúc phía bên quầy một nhân viên thu ngân khác có ít người xếp hàng hơn. Trong cuộc đời anh không có chỗ cho bất cứ ai không thể dự đoán được như Muriel. Hay phấn khích bằng. Hay... à, đôi lúc không mấy dễ thương như cô ấy.
Sự trẻ trung của cô không gây hấp dẫn mà đáng lo ngại. Cô hầu như không nhớ nổi nước Việt Nam và không biết mình đã ở đâu khi Kennedy bị ám sát. Cô khiến anh thấy âu lo về tuổi tác của mình, điều mà trước đây anh không hề để tâm. Anh nhận thấy mình bước đi thật khó khăn sau khi ngồi một chỗ quá lâu; anh quan tâm đặc biệt tới cái lưng của mình, luôn trông mong nó lại ổn như trước; nhất là mỗi khi gần gũi với Muriel.
Và cô còn nói quá nhiều nữa – hầu như chẳng lúc nào ngơi; trong khi Macon thuộc tip đàn ông xem sự im lặng còn hơn cả âm nhạc. (“Nghe nào! Đang phát bài hát của anh đấy,” anh thường nói như vậy khi Sarah tắt radio.) Cô nói về những loại phấn trang điểm, máy ép tóc, sự rạn da sau khi mang thai, gấu váy xòe, làn da vào mùa đông. Cô thích thú với vẻ ngoài của đủ thứ, chỉ vẻ ngoài không thôi: độ bóng của son môi, sơn móng tay, mặt nạ dưỡng da, tóc chẻ ngọn. Có một lần, vào một trong những ngày ở cô túa ra sức thu hút lớn hơn cả, anh bảo trông cô thật xinh, và cô trở nên bối rối đến độ trượt chân suýt ngã xuống lề đường. Cô hỏi liệu đó có phải do cô đã buộc tóc lại đằng sau hay không; là do chính mái tóc hay sợi dây cột; hoặc là do cái màu của sợi dây cột mà cô đã sợ rằng có hơi chói một chút và không ăn với màu da của cô. Và anh không nghĩ rằng tóc của cô là vô phương cứu vãn chứ vì cho dù có hơi ẩm thì vẫn bung hết ra? Cho đến khi anh thấy tiếc rằng mình đã khơi mào. À, không phải tiếc, mà là mệt mỏi, chính xác là thế. Kiệt quệ.
Tuy nhiên có đôi lúc cô hếch cằm lên và hình ảnh ấy xoi vào óc anh nhức buốt như có một lưỡi kiếm xuyên qua. Những hình ảnh bất chợt của cô trong những giây phút ngẫu nhiên thường nhật hay vụt hiện lên trước mắt anh: Muriel ngồi tại bàn bếp nhà cô, hai bàn chân chụm lại trên thanh ngang ghế, cặm cụi làm một bài test với phần thưởng là một chuyến đi trọn gói đến Hollywood. Muriel bảo với cái gương của cô, “Ta giống như sự phẫn nộ của Chúa” - một kiểu nghi thức tiễn đưa. Muriel xỏ đôi găng tay cao su to tướng màu hồng với những móng tay đỏ thẫm để rửa chén, cầm đĩa đựng xà phòng lên ơi hời cho vào nước rửa và nghêu ngao mấy bài hát ruột - “War is Hell on the Home Front too” hay “I Wonder if God likes Country Music.” (Chắc chắn là cô thích nhạc đồng quê rồi - những bản ballad kể lể lê thê về đường đời gập ghềnh chông gai, những bức tường nhà tù xám lạnh, trái tim thối nát mục ruỗng của một người đàn ông hai mặt. Và Muriel đứng bên cửa sổ bệnh viện, tay cầm giẻ lau sàn nhìn xuống những người bị thương đang được khiêng cáng vào phòng cấp cứu, hình ảnh này thực sự anh chưa từng trông thấy, chỉ mường tượng qua lời kể của Muriel.
Thế rồi anh biết rằng cái làm nên ý nghĩa ở đây chính là hình mẫu cuộc sống của Muriel; rằng mặc dù anh không yêu cô nhưng anh yêu cái lối ngạc nhiên của cô, và sự ngạc nhiên của chính anh khi ở bên cô. Tại một nơi xa lạ như Singleton này anh là một con người hoàn toàn khác.
Con người này không hề bị hoài nghi về tính khí nhỏ nhen, không bao giờ bị buộc tội về sự lạnh lùng; thật ra, cũng có bị nói kháy về cái tính hay mềm lòng. Và dù có bị kêu ca về thứ này thứ khác thì cũng không phải là về sự ngăn nắp.
❀ ❀ ❀
“Sao anh không đến nhà ba mẹ em dùng bữa đêm Giáng sinh nhỉ?” cô hỏi anh.
Macon lúc này đang ở trong bếp nhà cô. Anh đang cúi xuống đóng van nước bên dưới bồn rửa chén. Anh không nói gì mất một lúc, và rồi ngẩng lên bảo, “Ba mẹ của em à?”
“Ăn tối hôm Giáng sinh.”
“Ồ, anh không biết nữa.”
“Nào, Macon, làm ơn nói có đi mà anh! Em muốn anh gặp họ. Mẹ em nghĩ em đang hàn gắn thương tổn cho anh. ‘Chị hàn gắn thương tổn cho cậu ta.’ Anh biết bà sao rồi đấy.”
Phải, Macon biết chứ, ít nhất là qua lời Muriel kể, và anh còn có thể hình dung ra được bữa tối hôm đó sẽ diễn ra như thế nào nữa kìa. Bị gài bẫy. Đầy những chỉ trích cay độc bóng gió và những xúc cảm bị thương tổn. Sự thật là, anh không muốn mình sa sẩy.
Thế nên thay vì trả lời, anh hướng sự chú ý sang Alexander. Anh cố hướng dẫn Alexander cách sửa vòi nước. “Nào,” anh nói, cháu thấy chú đóng van nước không nào. Thế chú làm vậy để làm gì nào?”
Tất cả những gì anh nhận được là ánh mắt nó nhìn anh lom lom đờ đẫn thiếu sinh khí. Đây là ý của Macon, không phải ý của Alexander. Alexander bị lôi xềnh xệch xa khỏi chiếc ti vi giống như một cái bao đá, bị thả phịch lên ghế nhà bếp, và được bảo hãy xem cho kỹ. “Ồ,” Muriel nói, “em không chắc về chuyện này. Nó không khỏe mạnh lắm đâu.”
“Em không muốn mình cứ mãi là người sửa vòi nước nhà bếp chứ, Muriel?”
“À, không, nhưng em không biết...”
Đôi lúc Macon tự hỏi liệu những trận đau của Alexander có phải là tất cả những gì có trong đầu Muriel hay không.
“Tại sao chú lại đóng van nước hả, Alexander?” anh hỏi.
Alexander nói, “Tại sao?”
“Cháu nói cho chú biết đi.”
“Chú nói cho cháu biết đi.”
“Không, cháu nói,” Macon kiên quyết.
Trong một hay hai giây tồi tệ dường như Alexander cứ nhìn trân trân như thế. Thằng bé ngồi trên ghế, gập người hình chữ C, một tay chống cằm, mắt vô hồn. Hai ống quyển nhô ra khẳng khiu như những cái que trong bộ đồ chơi lắp ráp Tinkertoys, và đôi giày đi học màu nâu có vẻ như quá khô và quá nặng nề. Cuối cùng nó cũng mở miệng, “Để nước không bắn tung tóe khắp nơi.”
“Đúng rồi.”
Macon cẩn thận để không khiến nó có cảm giác đắc thắng quá sớm.
Nào, lỗ rò này không phải từ vòi nước, mà là từ tay vặn,” anh nói. Vậy nên ta cần phải tháo tay khóa nước ra và thay sợi cao su non đi. Trước hết cháu phải vặn cái đinh vít trên cùng ra. Làm đi nào.”
“Cháu?”
Macon gật đầu và đưa thằng bé cái tua vít.
“Cháu không thích,” Alexander nói.
“Để nó xem anh làm trước đã,” Muriel đề xuất.
“Nếu chỉ xem không thôi, nó sẽ không biết làm cách nào để sửa vòi nước bồn tắm, và anh sẽ bảo nó làm cho được mà không cần đến anh.”
Alexander cầm tua vít, bằng một động tác yếu ớt không chiếm nhiều không gian mấy. Thằng bé dịch người xuống ghế và bước đến bên cái bồn. Macon kéo một chiếc ghế khác lại gần và Alexander leo lên. Thế rồi thằng bé không biết làm sao để cái tua vít khớp vào khía đinh vít. Thằng bé cứ loay hoay mãi. Những ngón tay của nó bé tí, mỗi đầu ngón tay bịt một miếng gạc màu hồng nhỏ xíu che đi chỗ móng tay bị nó cắn sứt sẹo đau buốt. Thằng bé dồn hết sức cố làm cho cái tua vít khớp vào khía đinh vít, đôi kính tuột trễ tràng xuống mũi. Vì luôn thở bằng miệng, nên giờ nó đang cắn lưỡi và hổn hển thở.
“Tuyệt lắm,” Macon nói khi rốt cuộc thằng bé đã khiến được cái tua vít khớp vào khía đinh vít.
Dẫu vậy, cứ mỗi khi thằng bé vặn một cái nhẹ hều, cái tua vít lại trượt ra khỏi khía và thằng bé lại phải cố cho nó vào lại vị trí cũ. Macon thót bụng. Còn Muriel thì không nói gì, sự im lặng của cô thật miễn cưỡng và âu lo.
Và rồi, “Ah!” Macon reo lên. Cái đinh vít giờ đã đủ lỏng để Alexander có thể dùng tay vặn ra. Nó làm phần việc này chẳng mấy khó khăn. Thậm chí nó còn tháo cái vòi ra khi chưa được ai bảo. “Rất tốt,” Macon nói. “Chú tin rằng con có tài năng bẩm sinh đấy.”
Muriel thấy nhẹ người hẳn. Đứng tựa lưng vào quầy, cô bảo, “Ba mẹ em thường tổ chức bữa cơm Giáng sinh vào ban ngày. Ý em không phải là giữa trưa, nhưng cũng không phải buổi tối, đúng hơn thì là lúc xế chiều, mà năm nay chắc sẽ vào chiều muộn vì em làm ca sáng ở Meow-Bow và...”
“Xem này,” Macon bảo Alexander. “Thấy không? Sợi cao su non đã cũ và mục hết cả rồi. Thế nên hãy lấy nó ra đi. Đúng rồi. Còn đây là cái mới. Cháu quấn nó vào đi, thậm chí quấn nhiều hơn cần thiết một tí cũng được. Nào, giờ làm đi.”
Alexander quấn sợi cao su non vào khớp nối. Mấy ngón tay của nó trắng bợt ra vì gắng sức. Muriel nói, “Nhà em thường ăn ngỗng. Ba em mang ngỗng về từ Eastern Shore. Hay anh không màng đến ngỗng. Có phải anh chỉ ưa mỗi gà tây không thôi? Hay vịt? Anh thường ăn gì, Macon?”
Macon nói, “Ồ, à...” và được Alexander cứu nguy. Alexander đã ráp xong vòi nước mà không cần ai giúp gì cả liền quay lại bảo, “Giờ sao nữa chú?”
“Giờ hãy xem thử cái đinh vít đã vặn thật chặt chưa.”
Alexander lại tập trung hết sức lực vật lộn với cái tua vit.
Muriel nói, “Có thể anh thích một khoanh thịt bò to tướng. Em biết một số đàn ông thường như thế. Họ nghĩ gia cầm chỉ dành cho bọn gà mái chúng em. Có phải anh cũng nghĩ vậy không? Anh có thể cho em biết mà! Em không nghĩ gì đâu! Ba mẹ em cũng không nghĩ gì đâu!”
“Ồ, ưm, Muriel à...”
“Giờ sao nữa chú,” Alexander gọi.
“À, giờ ta bật lại van nước nhé và xem thử cháu đã làm được những gì nào.”
Macon khom người xuống bên dưới bồn rửa chén và chỉ cho thằng bé chỗ van nước. Alexander với tay vặn cái van, miệng làu bàu gì đó. Macon thầm nghĩ, chẳng lạ lùng lắm sao khi hết thảy các cậu bé con đều có cùng thứ mùi cây xanh dịu nhẹ, giống như mùi tủ đựng quần áo làm bằng gỗ cây tuyết tùng. Anh đứng lên vặn vòi nước. Không còn rò rỉ nữa. “Xem đó!” anh bảo Alexander. “Cháu đã xử lý được vấn đề rồi đấy.”
Alexander cố gắng ngoác miệng cười đáp lễ.
“Lần sau cháu sẽ tự biết cách làm chứ?”
Nó gật đầu.
“Rồi khi lớn lên,” Macon nói, “cháu còn có thể sửa vòi nước cho vợ cháu nữa.”
Khuôn mặt Alexander méo xệch đi vì kinh ngạc.
“‘Lùi lại đi nào, em yêu,’ cháu có thể nói vậy. ‘Để anh xem thử nào.’”
Alexander dẩu môi, “Xì!” - nét mặt nó trông giống hệt như một cái ví nhỏ xíu có dải rút.
“‘Hãy để cho người đàn ông đích thực đảm nhận việc này đi,’ cháu có thể nói với vợ như vậy.”
“Xì! Xì!”
“Macon? Anh sẽ đến nhà ba mẹ em đấy chứ, hay không đến?” Muriel hỏi.
Dường như thật vô lý khi bảo không. Dù gì đi nữa, anh cũng đã đặt bản thân vào thế đã rồi.
❀ ❀ ❀
[1] Nhẫn dinner hay còn gọi là nhẫn cocktail là một kiểu nhẫn to hơn kích cỡ bình thường, có gắn đá quý hay ngọc. Nhẫn dinner thịnh hành trong những năm 1940 - 1950. Phụ nữ thường đeo trên ngón áp út bàn tay phải, do vậy có lúc nó còn được gọi là Nhẫn Tay Phải.
[2] Chicken straddle: một kiểu chơi chứng khoán, ở đây từ chicken (gà) không còn mang nghĩa là gà nhưng Porter lấy gà làm ví dụ, thế nên Rose và Charles lại tưởng việc này liên quan đến gà thật.
[3] Cattle: súc vật.