Có thể nói rằng hiện anh đang sống cùng cô. Anh bắt đầu ở nhà cô suốt ngày, bắt đầu phụ trả tiền nhà và chợ búa hàng ngày với cô. Anh để bộ đồ cạo râu của mình trong phòng tắm nhà cô và treo đồ lẫn với những chiếc váy trong tủ của cô. Thế nhưng chẳng xác định được thời điểm đặc biệt nào đã đánh dấu bước chuyển biến đó của anh. Không, chuyện này đến từ từ, mỗi ngày một chút. Đầu tiên là kỳ nghỉ lễ Giáng sinh dài ngày lúc Alexander ở nhà một mình; thế thì tại sao Macon không đến ở cùng một khi anh đã từng ngủ qua đêm ở nhà nó chứ? Và sao lại không mang cả chiếc máy đánh chữ đến mà làm việc ở bàn ăn? Và sao lại không ở lại ăn tối, rồi sau đó thì ở lại ngủ luôn thể?
Tuy nhiên nếu cần phải xác định một ngày nào đó thì đó chính là cái ngày anh đến vào buổi chiều và mang cả Edward theo cùng. Anh vừa mới trở về từ chuyến công tác - một chuyến đi mệt bã người, ghé vội ghé vàng qua những năm thành phố phía Nam, không một chỗ nào ấm áp hơn Baltimore - và anh tạt qua nhà Rose kiểm tra bọn thú cưng. Con mèo ổn, Rose bảo. (Cô phải nói thật to mới mong át được tiếng sủa reo vui của Edward; nó quá phấn khích vì mừng rỡ và sung sướng.) Con mèo thì có thể không hề để ý đến sự vắng mặt của Macon. Nhưng Edward thì... “Nó ngồi suốt ngày trong phòng lớn,” cô nói, mắt dõi ra cửa. Đầu lúc nào cũng ngẩng cao, đợi anh về.”
Thế đấy. Anh đã mang theo Edward khi trở lại Singleton.
“Em nghĩ sao?” anh hỏi Muriel. “Ta để nó lại đây một hai ngày được không? Để xem Alexander có chịu được không, có nổi mẩn gì không?”
“Cháu chịu được!” Alexander nói. “Mèo mới khiến cháu bị dị ứng, chó thì không đâu.”
Muriel tỏ vẻ không tin tưởng mấy, nhưng cô bảo sẽ thử xem.
Trong khi đó, Edward rảo như điên khắp nhà, khịt khịt mũi hết xó xỉnh này đến xó xỉnh kia, cả bên dưới các đồ nội thất nữa. Rồi chạy đến ngồi trước Muriel và nhìn hóng lên mặt cô hớt. Nó khiến Macon liên tưởng đến một cậu học trò chen lấn mãi mới đến được bên cạnh ông thầy; mọi đứa khác ông thầy đã nhìn thấy, giờ tới lượt cậu là cuối cùng.
Vài giờ đồng hồ đầu tiên họ ra sức tách nó ra một chỗ riêng biệt trong nhà, nhưng đương nhiên là vô vọng. Nó cứ lẽo đẽo theo sau Macon mọi nơi, và ngay lập tức tỏ ra thích Alexander. Không có bóng nên nó cứ thả rơi những đồ vật nhỏ xuống chân Alexander rồi lùi lại một chút nhìn vào mặt thằng bé ra chiều trông đợi. “Nó muốn chơi trò ném-mang-về ấy mà,” Macon giải thích. Alexander nhặt hộp diêm và tung lên, một tay chắp đằng sau vẻ nghiêm nghị. Trong khi Edward chạy tới ngoạm lấy hộp diêm, anh tự nhắc nhở mình điều đầu tiên cần làm vào sáng sớm mai là mua ngay một quả bóng và dạy cho Alexander cách ném.
Alexander xem ti vi còn Edward lim dim trên trường kỷ bên cạnh thằng bé, cuộn tròn người lại như một hạt đào lộn hột vàng óng nhỏ xíu, vẻ sung sướng lộ ra trên nét mặt với hai mắt nheo nheo lém lỉnh. Alexander ôm con chó vào lòng, vùi mặt sâu vào bộ lông êm mượt của nó. “Coi chừng đấy,” Macon bảo thằng bé. Anh không biết sẽ phải làm gì nếu Alexander bắt đầu lên cơn hen. Nhưng Alexander không bị khó thở lần nào. Đến giờ ngủ, mũi thằng bé chỉ bị nghẹt chút xíu, mà chuyện này thì gần như đêm nào chả có.
❀ ❀ ❀
Macon muốn tin rằng Alexander không biết chuyện anh và Muriel ngủ chung. “Ồ, ngớ ngẩn hết sức,” Muriel nói. “Nó có thể tưởng anh ngủ ở đâu chứ - trên trường kỷ phòng khách chắc?”
“Có thể,” anh nói. “Anh dám chắc là nó có cách giải thích nào đấy. Hoặc có thể không. Anh chỉ muốn nói là mình không nên để nó chứng kiến chuyện đó. Cứ để thằng bé nghĩ theo cách nó muốn.”
Vậy nên sáng nào Macon cũng ra khỏi giường và chỉn chu áo quần trước khi Alexander tỉnh giấc. Anh bắt tay vào chuẩn bị bữa sáng rồi mới lên phòng đánh thức nó dậy. “Bảy giờ rồi đấy! Đến giờ dậy rồi đấy! Gọi mẹ dậy đi, được không?” Anh biết trước đây Muriel thường vẫn trên giường trong khi Alexander tự thức giấc và chuẩn bị đi học. Thi thoảng anh ra về trong khi cô vẫn còn say giấc. Macon cho rằng như thế thì thật khó coi. Nên giờ anh làm một bữa sáng thật tươm tất, và nài cho được Muriel ngồi lại bàn ăn với hai chú cháu. Muriel kêu bữa sáng làm cô đầy bụng. Alexander cũng bảo thế, nhưng Macon cho rằng nói vậy không được. ‘Chín mươi tám phần trăm học sinh đạt điểm A ăn trứng vào bữa sáng đấy nhé,” anh nói (vừa thoăn thoắt dọn bàn ăn). Chín mươi chín phần trăm uống sữa.” Anh cởi tạp dề ra và ngồi xuống. “Cháu có nghe không đấy, Alexander?”
“Cháu sẽ bị chướng bụng nếu uống sữa.”
“Ấy là cháu nghĩ vậy thôi.”
“Nói cho chú ấy biết đi, mẹ!”
“Nó bị chướng bụng đấy,” Muriel nói vẻ rầu rầu. Cô ngồi khom người trong chiếc váy lụa dài, một tay chống cằm. “Do men tiêu hóa hay sao ấy,” cô nói rồi ngáp dài. Tóc cô, cuối cùng đã mọc dài ra hơn trước một chút, buông xuống lưng thành những gợn lăn tăn giống như những đường sóng trên cây kẹp xước.
Alexander đến trường cùng Buddy và Sissy Ebbetts, hai đứa nhà bên kia đường, lớn tuổi hơn và có vẻ ương bướng. Muriel hoặc là đi ngủ lại, hoặc là thay quần áo rồi ra khỏi nhà làm công việc gì đó tùy theo ngày. Rồi Macon dọn rửa chén bát, và dắt Edward đi dạo. Họ không đi xa; trời lạnh quá. Mấy người họ gặp trên đường rảo chân thật nhanh, những bước đi giật giật, giống như các nhân vật trong một bộ phim câm. Mọi người giờ đã biết Macon thế nên có nhìn lướt mặt anh khi họ đi ngang qua - giống như một cái gật đầu - nhưng không ai mở miệng nói gì. Edward thì lờ họ đi. Mấy con chó khác có chạy lại gần ngửi ngửi nó nhưng thậm chí nó không thèm đứng lại một chút mà cứ thế đi. Ông Marcusi, đang dỡ những sọt hàng bên ngoài cửa hàng tạp hóa Marcusi, ngừng tay chào, “Này, chào chú lùn béo ị. Chào thùng mỡ di động.” Edward cứ thế đi, ra vẻ hờ hững đầy bảnh chọe. “Con vật xấu xí nhất tôi từng thấy đấy,” ông Marcusi nói với theo, “cứ như một bức vẽ tồi ấy.” Lúc nào nghe vậy Macon cũng cười phá lên.
Anh bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn khi sống ở đây. Phố Singleton vẫn còn làm anh chạnh lòng với nét tồi tàn và xấu xí, nhưng anh không còn thấy mối hiểm nguy nào từ nó nữa. Anh quan sát thấy mấy đứa lưu manh ở trước Cheery Moments Carry-Out vẫn còn nhỏ tuổi và rách rưới đến nao lòng - những đôi môi nứt nẻ vì lạnh, hàng ria lún phún được cạo qua loa, những cặp mắt thâm quầng đờ đẫn. Anh quan sát thấy một khi cánh đàn ông đã đi làm hết cả thì những người vợ hết sức hăng hái ra ngoài dọn dẹp lối đi phía trước, họ nhặt nhạnh những lon bia rỗng và vỏ bao khoai tây chiên, thậm chí còn xắn cả tay áo lên chùi cọ hiên nhà vào những ngày giá lạnh nhất trong năm. Bọn trẻ - găng tay cái nọ cái kia không cùng đôi, mũi chảy thò lò - đuổi nhau chạy ào qua làm bay thốc lên bao nhiêu là mảnh giấy lộn và có người đàn bà nào đó đứng cầm cây chổi la lớn, “Thằng kia! Thấy rồi nhé! Đừng tưởng tao không biết mày trốn học đâu đấy!” Macon nhận thấy cuộc sống nơi con đường này cứ tụt dốc, luôn tụt lại phía sau như thế nhưng nhờ những người phụ nữ kia - những tiếng quát tháo răn đe - mà nó như được kiềm lại, không tệ hơn.
Trở về nhà Muriel, anh làm ấm mình lên bằng một tách cà phê. Anh mang máy đánh chữ đặt lên bàn ăn và ngồi xuống bắt tay vào việc với những cuốn sổ ghi chép và cẩm nang. Cửa sổ gần bàn ăn có những ô kính lớn đùng đục cứ lách cách kêu mỗi lúc gió lùa. Âm thanh lách cách ấy khiến anh nhớ lại những chuyến đi bằng tàu lửa. Phi trường ở Atlanta chắc chắn là có tới mười dặm hành lang, anh gõ vào bàn phím, rồi một cơn gió mạnh thốc ầm vào ô cửa kính khiến anh cảm thấy như có một chuyển động kỳ quái nào đó, như thể cái sàn nhà lót vải sơn rạn nứt nhiều chỗ kia đang trượt đi bên dưới anh.
Anh gọi điện đến các khách sạn, nhà nghỉ, các trung tâm thương mại và văn phòng du lịch anh cộng tác, sắp xếp cho các chuyến đi sắp đến. Anh ghi chú các sắp xếp này vào cuốn sổ tay Julian tặng anh vào mỗi dịp Giáng sinh - một sản phẩm của Businessman’s Press, tập vở có gáy xoắn. Ở phía sau có nhiều đồ thị tham khảo tiện ích anh rất thích lật ra xem. Đá sinh nhật của tháng Giêng là ngọc hồng lựu; tháng Hai là thạch anh tím. Một dặm vuông tương đương với 2,59 ki lô mét vuông. Món quà thích hợp cho lễ kỷ niệm đầu tiên là giấy. Anh trầm ngâm suy tư về những thông tin ấy. Dường như đối với anh thê giới luôn nằm trong thế cân bằng; rằng chắc chắn sẽ có câu trả lời cho mọi thứ, miễn là ta biết cách đặt câu hỏi như thế nào.
Rồi đến bữa trưa, anh dẹp công việc sang một bên, làm cho mình một chiếc sandwich hay hầm nóng một lon xúp, thả Edward chạy nhảy trong cái sân sau bé xíu. Sau đó anh thích ngó nghiêng quanh nhà một chút. Có quá nhiều thứ cần được sửa chữa! Và hết thảy những thứ ấy là của ai đó khác, không liên quan đến anh, thế nên anh có thể tiếp cận chúng một cách thư thái. Anh huýt sáo trong lúc dò độ sâu của vết nứt. Anh ngâm nga khi dạo quanh một vòng tầng hầm, lắc đầu vì sự lộn xộn nơi đây. Ở trên lầu anh tìm thấy một cái bàn làm việc ba chân ngã tựa vào thùng cà chua, và anh bảo Edward, “Kinh thật đấy!” với giọng thỏa mãn.
Đột nhiên anh nảy ra ý nghĩ - khi đang tra dầu vào bản lề, khi đang siết chặt núm cửa - rằng ngôi nhà phản ánh cực kỳ ít ỏi về Muriel. Cô hẳn đã sống ở đây dễ chừng phải sáu hay bảy năm nay rồi, vậy mà nơi này vẫn mang một cảm giác gì đó rất tạm bợ. Đồ đạc của cô dường như được đặt để, chồng chất lên một cách hết sức vội vã, chứ không được thu xếp một cách chú tâm. Đây là một điều đáng thất vọng, Macon cảm thấy như thế khi tò mò sục sạo vào tận những ngóc ngách của căn hộ. Khi dùng cát đánh bóng một ngăn kéo tủ, anh lia mắt nhìn trộm vào bên trong nhưng chỉ tìm thấy những chiếc khăn choàng có viền tua và mấy cái găng tay lưới màu vàng từ những năm bốn mươi - những thứ thuộc về cuộc sống của một ai đó khác, chứ không phải của cô.
Nhưng điều anh muốn biết là gì chứ? Cô là một cuốn sách để ngỏ, cho anh biết hết thảy mọi điều - ngoài cả sự mong chờ của anh. Cô cũng đâu giấu giếm gì bản chất thật sự của mình, bản chất mà chắc chắn là còn lâu mới đạt đến sự hoàn hảo. Có thể thấy rằng tính khí cô chẳng mấy dễ chịu, miệng mồm thì đanh đá, và cô thường hay rơi vào cảm giác chán ghét bản thân mà không ai có thể vực cô dậy được trong nhiều giờ. Cô thiếu nhất quán trong cách đối xử với Alexander đến độ điên khùng – mới phút trước còn tỏ ra chăm chút nó hết sức, phút sau lại ơ hờ để mặc. Rõ ràng là cô thông minh, nhưng cô lại bác bỏ điều đó bằng ấn tượng như một trường hợp mê tín dị đoan nặng nhất mà Macon từng thấy. Hầu như không ngày nào cô không kể cho anh một giấc mơ nào đấy một cách tường tận đến độ khiến anh phát mệt và rồi tỉ mẩn sàng lọc để tìm cho ra điểm báo gì đó trong những giấc mơ ấy. (Giấc mơ về những con tàu màu trắng trên đại dương màu tím biến thành sự thật vào ngay sáng hôm sau, cô khẳng định vậy, khi người bán hàng tại nhà xuất hiện trong chiếc áo len tím trên có in hình những con tàu màu trắng. “Giống hệt màu tím đó rồi! Con tàu cũng hệt thế luôn!” Macon thì chỉ tự hỏi người bán hàng kiểu gì mà lại ăn mặc như thế không biết.) Cô tin mê tin muội vào tử vi, các lá bài và bảng Ouija[1]. Con số diệu kỳ của cô là số mười bảy. Kiếp trước cô là một nhà thiết kế thời trang, và cô thề rằng cô có thể hồi tưởng lại một trong những lần chết của mình. (“Chúng tôi nghĩ rằng cô ấy đã đi rồi,” họ bảo bác sĩ vậy khi ông ta đi vào, và ông lẳng lặng tháo găng tay ra.) Cô sùng đạo một cách u mê và không theo một giáo phái nào và không chút nghi ngờ chuyện Chúa đang dõi theo cá nhân cô - thật mỉa mai, Macon dường như cũng thấy vậy bởi cái cách cô phải vật lộn để có được mọi thứ dù nhỏ nhặt nhất mà cô muốn.
Anh biết tất cả những điều này ấy vậy nhưng, khi tìm thấy một tờ giấy cuộn tròn để trên quầy, anh mở ra và đọc ngấu nghiến những con chữ nguệch ngoạc vội vàng của cô như thể cô là một người lạ. Nhà Pretzel. Áo lót. Nha sĩ, anh đọc. Lấy đồ giặt là của bà Arnold.
Không, không phải thế. Không phải thế.
Rồi đến ba giờ chiều và Alexander đi học về, mở cửa vào nhà bằng chiếc chìa khóa đeo nơi cổ với sợi dây buộc giày. “Chú Macon?” nó thử gọi. “Có phải chú đó không?” Thằng bé sợ trộm vào nhà. Macon nói, “Chú đây.” Edward nhảy cẫng lên và chạy đi tìm quả bóng. “Ở trường thế nào con?” Macon luôn hỏi câu đó.
“Ồ, ổn ạ.”
Nhưng Macon có cảm giác thời gian ở trường không bao giờ diễn ra suôn sẻ với Alexander. Nó bước ra khỏi cổng trường với nét mặt nhàu nhĩ hơn bao giờ hết, đôi kính thì đầy những dấu vân tay. Thằng bé khiến Macon liên tưởng tới một bài tập về nhà bị tẩy xóa và viết đi viết lại ti tỉ lần. Tuy nhiên, quần áo của nó vẫn gọn gàng y hệt buổi sáng lúc ra khỏi nhà. Ồ, vẫn chỉn chu như thế! Chiếc sơ mi polo sọc tăm màu nâu giản dị sạch tinh không một vết bẩn, chiếc quần âu cũng màu nâu với chiếc thắt lưng da to bản đeo quanh thắt lưng. Giày nâu bóng lộn. Vớ trắng đến lóa mắt. Chẳng lẽ nó đã không chơi đùa gì? Chẳng lẽ bọn trẻ không có giờ giải lao hay sao?
Macon dọn ra cho nó chút đồ ăn nhẹ: sữa và bánh ngọt. (Alexander uống sữa vào buổi chiều mà không một lời phàn nàn.) Rồi anh giúp nó làm bài tập ở trường. Ấy là loại bài đơn giản nhất - những phép cộng số học và câu hỏi môn tập đọc. “Tại sao Joe cần một hào? Bố của Joe ở đâu?”
“Ưm...” Alexander nói. Những đường gân xanh nổi lên hai bên thái dương.
Nó không phải đứa đần độn nhưng khả năng của nó có hạn, Macon cảm thấy vậy. Khả năng có hạn. Ngay cả bước đi của nó cũng bị siết lại. Ngay cả nụ cười của nó cũng không dám vượt ra khỏi hai đường ngăn vô hình giữa khuôn mặt. Giờ thì nó không cười. Nó đang nhăn trán, giương mắt nhìn Macon đầy vẻ sợ sệt.
“Từ từ nào,” Macon bảo nó. “Không có gì phải vội cả.”
“Nhưng cháu không thể! Cháu không biết! Cháu không biết!”
“Cháu nhớ Joe mà,” Macon nhẫn nại.
“Cháu không nghĩ là cháu nhớ!”
Thỉnh thoảng Macon có chịu đựng, thỉnh thoảng anh cứ thế mà bỏ qua. Dù gì, cho đến giờ Alexander vẫn xoay sở được mà không cần có anh, chẳng phải thế sao? Có một điều xa xỉ kỳ dị ở đây: Alexander không phải con anh. Macon thấy mình có mối liên hệ với thằng bé trên mọi phương diện phức tạp, nhưng không phải theo cách thân thuộc và không thể tách rời như cách anh cảm thấy với Ethan. Anh vẫn có thể thối lui khỏi Alexander; anh vẫn có thể bỏ qua chuyện của thằng bé. “Ồ, được rồi,” anh nói vậy, “trao đổi thêm với thầy giáo vào ngày mai nhé.” Và rồi anh lại để suy nghĩ của mình vẩn vơ tận đẩu tận đâu.
Anh nhận thấy sự khác nhau là, anh không phải gánh trách nhiệm gì ở đây cả. Thật nhẹ lòng bao nhiêu khi biết điều đó.
Khi Muriel trở về, cô mang theo không khí tươi mát, sự rộn ràng và hào hứng. “Lạnh quá! Gió nữa! Nghe đài báo tối nay ba độ âm đấy. Edward, yên nào. Ai muốn tráng miệng bằng bánh nhân chanh không? Hôm nay nhé: Em phải đi mua sắm cho bà Quick. Trước tiên là mua mấy tấm vải lanh cho đứa con gái sắp cưới của bà, rồi lại phải mang đi đổi vì màu không được, đưa con gái không muốn màu hồng phấn mà muốn màu trắng và bảo với mẹ mình một cách rõ như ban ngày, nó nói là... và rồi em lại phải đi lấy bánh ngọt cho bữa tiệc các phù dâu, và khi bà Quick trông thấy bánh nhân chanh bà la lối ầm ĩ, ‘Ồ, không, không phải chanh! Không phải là thứ bánh chanh cầm dính cả ra tay lúc nào cũng có vị giống như nước giải khát Kool-Aid ấy chứ!’ Em đốp lại liền, ‘Bà Quick à, không mượn bà bảo cho tôi thứ gì là dính ra tay. Đây là loại bánh trứng đường nhân chanh, vừa mới ra lò, không có hóa chất gì cả...’ Thế rồi, để kết thúc cuộc tranh cãi càng nhanh càng tốt, bà ta bảo em mang về nhà cho đứa con trai nhỏ. ‘Này, theo như bà nói thì tôi dám cá là nó không thể ăn được,’ em nói vậy. ‘Thế nào cũng bị dị ứng.’ Nhưng rồi em cũng cầm lấy mang về.”
Cô lăng xăng khắp nhà bếp chuẩn bị bữa tối - bánh sandwich BTL[2], thường là như vậy, và rau củ đóng hộp. Có lúc mọi thứ không ở ngay chỗ cô mong đợi (Do Macon cả - anh không chịu được sự thiếu ngăn nắp), nhưng cô thích nghi một cách vui vẻ. Trong khi món sườn kêu xèo xèo trên chảo cô thường gọi cho mẹ và kể lại toàn bộ những điều mà cô vừa kể cho Macon và Alexander nghe. “Nhưng đưa con gái thích màu trắng cơ và... ‘ồ, không phải là thứ bánh nhân chanh cầm dính tay đấy chứ!’ bà ấy bảo...”
Nếu bà Dugan không thể nghe điện thoại (mà thường là như vậy), Muriel sẽ thao thao cùng cô em gái Claire. Có vẻ như Claire đang gặp rắc rối ở nhà. “Nói cho hai người họ biết đi!” Muriel khuyên, cứ nói cho hai người biết! Nói cho hai người biết la em không chịu đựng nổi.” Kẹp ống nghe giữa đầu và một bên vai, cô mở ngăn kéo lầy thìa nĩa ra. “Tại sao hai người phải biết mọi điều em làm dù nhỏ nhặt nhất chứ? Không có gì quan trọng cả khi em không làm bất cứ điều gì đó, Claire à. Hãy nói với hai người thế này này, ‘Con đã mười bảy tuổi nên nếu như con làm hay không làm bất cứ điều gì thì đó cũng không phải là chuyện của ba mẹ nữa. Con sắp là một phụ nữ trưởng thành rồi,’ cứ nói vậy đi.”
Nhưng sau đó, nếu bà Dugan đến nghe điện thoại thì Muriel lại giở giọng trẻ con ra, “Mẹ? Cái gì giữ chân mẹ vậy hả? Mẹ không thể nói vài lời với con gái mẹ chỉ vì bài hát ưa thích đang phát trên đài hay sao? ‘Lara’s Theme’ quan trọng hơn máu mủ ruột rà hay sao chứ?”
Ngay cả khi gác máy rồi, Muriel vẫn hiếm khi thật sự tập trung vào bữa ăn. Bạn gái của cô có thể ghé qua và ngồi nhìn họ ăn - một phụ nữ trẻ phốp pháp tên Bernice làm việc cho công ty Chất đốt và Điện. Hoặc mấy người hàng xóm sẽ sang gõ cửa nhà bếp và rồi vào luôn. “Muriel này, cô có phiếu mua vớ dài nào không đấy? Trẻ trung và mảnh mai như cô thì không cần đến thứ đó đâu nhỉ.” “Muriel ơi, sáng thứ Bảy tôi phải đến phòng răng, cô cho tôi đi nhờ xe với nhé?” Muriel là một trường hợp ngoại lệ trên con phố này - một phụ nữ có xe ô tô riêng - và họ biết rõ chuyện cô thương lượng với cậu trai sửa xe cho cô dạo nọ. Những hôm Chủ nhật, khi Dominick lấy xe đi cả ngày, chẳng ai đến phiền nhiễu cô lấy một lần; nhưng ngay khi thứ Hai vừa đến mấy con người ấy lại xếp hàng với những nhờ vả liên tu bất tận, “Bác sĩ yêu cầu tôi đến cho ông ta xem cái...” “Tôi đã hứa đưa con trai đến...”
Nếu Muriel không thể làm được, họ cũng không khi nào mở miệng nhờ Macon. Macon vẫn còn là người ngoài cuộc; họ ném vào anh những tia nhìn vội vã nhưng cứ vờ như không để ý thấy anh đang lắng nghe. Ngay cả Bernice cũng tỏ ra dè dặt với anh, và cô tránh gọi tên anh.
Trước lúc chương trình xổ số phát trên ti vi thì ai lại về nhà nấy cả. Macon phát hiện ra vấn đề là ở chỗ đó: lịch phát sóng trên ti vi. Tin tức thì có thể bỏ qua được chứ xổ số thì không; cũng không thể bỏ qua chương trình “Điểm báo buổi tối” hay bất kỳ chương trình giải trí nào theo sau đó. Alexander xem các chương trình này nhưng Muriel thì không, mặc dù cô đòi để yên kênh đó. Cô ngồi trên trường kỷ trước màn hình ti vi và nói huyên thuyên, hay sơn móng tay, hay đọc báo gì đấy hay đại loại thế. “Xem này! ‘Làm Thế Nào Để Tăng Kích Thước Bộ Ngực Của Bạn.’”
“Em đâu có muốn tăng vòng ngực lên nữa,” Macon bảo cô.
“ Lông Mi Dày Hơn Và Đẹp Hơn Chỉ Trong Vòng Sáu Mươi Ngày’”
“Em đâu có muốn lông mi dày thêm nữa.”
Anh thấy hài lòng với mọi điều theo đúng cách chúng diễn ra. Anh dường như bị treo lơ lửng, cuộc sống của anh như chững lại.
Và sau đó, khi dắt Edward đến chỗ ngủ của nó, anh thích cái cảm giác nhìn ngắm xung quanh vào ban đêm. Ở tít dưới phố kia, bầu trời như nhạt hẳn đi, xam xám và mờ đục, đến độ chẳng thể thấy một ngôi sao nào. Những tòa nhà chìm nghỉm trong bóng đêm. Những âm thanh văng vẳng ra từ đó - nhạc, tiếng súng lục, tiếng ngựa hí. Macon nhìn lên phía cửa sổ phòng Alexander và thấy Muriel đang tung tấm chăn ra, nhìn dáng cô mỏng mảnh như bức hình được cắt từ một tờ giấy đen kịt.
❀ ❀ ❀
Vào thư Tư, có trận bão tuyết dữ dội, bắt đầu vào buổi sáng và kéo dài suốt cả ngày. Tuyết rơi thành từng bông lớn giống như những chiếc găng tay len trắng tinh. Tuyết xóa lấp những lớp băng nham nhở từ trận bão trước đó; tuyết làm mềm những góc thô ráp của con đường và che phủ mấy thùng rác bằng những vòm bông trắng xóa. Thậm chí những người phụ nữ cặm cụi quét hiên nhà hàng giờ cũng không quét kịp, và đến tối họ đành phải chịu thua bỏ vào nhà. Cả đêm ấy thành phố bừng sáng màu hoa tử đinh hương. Và không gian im ắng hoàn toàn.
Sáng hôm sau, Macon tỉnh giấc muộn. Phía bên Muriel nằm trống trơn nhưng chiếc radio của cô vẫn ra rả nói. Một phát thanh viên giọng mệt mỏi thông báo những hoạt động bị đình trệ. Trường học đóng cửa, nhà máy đóng cửa, dịch vụ giao thức ăn tại nhà không hoạt động được. Macon bị ấn tượng bởi số lượng các hoạt động người ta định làm trong chỉ một ngày - những bữa tiệc trưa, những bài thuyết giảng và những lễ mít tinh phản đối. Thật giàu năng lượng, thật giàu tinh thần! Anh cảm thấy khá tự hào, mặc dù bản thân anh không hề có kế hoạch tham dự vào bất kỳ công việc nào nói trên.
Rồi anh nghe thấy có giọng nói dưới lầu. Alexander chắc đã dậy rồi thì phải, thế mà anh vẫn còn mắc kẹt tại đây, trên chiếc giường của Muriel.
Anh len lén mặc quần áo, nắm chắc không còn nguy hiểm gì nữa trước khi băng qua hành lang đến nhà tắm. Anh cố không gây ra tiếng cọt kẹt nào trên ván lót sàn khi bước xuống lầu. Phòng khách sáng lên một cách thiếu tự nhiên, do phản chiếu tuyết ở bên ngoài. Trường kỷ đã được mở ra thành giường nằm lổn nhổn những khăn trải và chăn mền; Claire ngủ lại mấy đêm nay. Macon men theo tiếng nói đi vào nhà bếp. Anh thấy Alexander đang ăn bánh kếp, còn Claire thì đang đứng bên lò nướng thêm bánh, Muriel cuộn người trong nét u sầu như mọi sáng bên tách cà phê. Ngay bên trong cửa sau Bernice đang đứng, người bám đầy tuyết, quấn mình trong nào là khăn choàng, nào áo khoác len sọc to sụ. “Thế đấy,” Claire đang nói với Bernice, “Mẹ hỏi, ‘Claire, đứa con trai mày đi cùng là đứa nào đấy hử?’ Em bảo, ‘Có đứa con trai nào đâu, con Josie Tapp với đầu tóc mới cắt xấu xí chứ ai,’ và mẹ lại bảo, ‘Tao mà tin được cái chuyện hoang đường đấy à!’ Thế nên em mới nói, ‘Đủ rồi đấy mẹ! Nào là tra hỏi! Nào là giờ giấc! Nào là nghi ngờ!’ Thế là em ra khỏi nhà rồi đón xe buýt xuống đây.”
“Ba mẹ chỉ lo em sẽ giống Muriel thôi mà,” Bernice bảo cô. “Nhưng đó đúng là Josie Tapp mà! Thề có đấng Tối cao đấy!” Ai nấy ngoảnh về hướng Macon đang đi đến. Claire nói, “Anh Macon đấy à. Ăn bánh kếp nhé?”
“Cho anh ly sữa thôi, cảm ơn.”
“Thơm ngon và nóng hôi hổi đây này.”
“Macon nghĩ ăn chất đường lúc đói sẽ gây loét dạ dày,” Muriel giải thích. Cô ôm cốc cà phê bằng cả hai bàn tay.
Bernice nói, “À, tôi thì không từ chối đâu,” rồi cô đi vào kéo ghế ngồi. Đôi ủng của cô để lại những vệt tuyết sau mỗi bước đi. Edward lốc thốc theo chân cô, liếm lấy liếm để. “Hai cô cháu mình phải đắp một người tuyết mới được,” Bernice nói với Alexander. “Ngoài kia tuyết chắc phải dày đến hơn cả mét đấy chứ.”
“Đường thông chưa nhỉ?” Macon hỏi.
“Anh đùa đấy à?”
“Thậm chí người ta còn không thể mang báo đến được. Con Edward sắp phát rồ lên vì cứ băn khoăn không biết báo đi đằng nào rồi.”
“Xe hơi không người thì bỏ đầy khắp thành phố. Đài phát thanh cho hay không ai đi đâu ra ngoài cả.”
Nhưng Bernice không nói được gì thêm vì con Edward phóng về phía cửa sau và bắt đầu sủa nhặng xị. Một bóng người lấp ló bên ngoài. “Ai đấy?” Bernice hỏi.
Muriel dậm chân nạt con chó. Nó nằm bẹp xuống nhưng vẫn còn sủa, và Macon ra mở cửa. Anh thấy mình mặt đối mặt với ông anh Charles - xù xì bất thường trong chiếc mũ lưỡi trai có tai che. “Anh Charles?” Macon ngạc nhiên hỏi, “Anh đi đâu đấy?”
Charles bước vào, mang theo mùi tuyết mới tươi mát. Edward chuyển giọng gầm gừ sang tiếng rên ư ử chào đón. “Anh đến đón chú,” Charles nói. “Không sao liên lạc với chú qua điện thoại được.”
“Đón em làm gì?”
“Ông hàng xóm của chú, Garner Bolt, gọi đến bảo ống nước hay gì đấy trong nhà chú bị vỡ, nước lênh láng cả. Anh cố liên lạc với chú bằng điện thoại từ sáng giờ nhưng đường dây bận suốt.”
“Tại em đấy,” Claire nói, dọn ra một đĩa bánh kếp. “Em để kênh máy để ba mẹ em khỏi gọi đến rầy la.”
“Em gái Muriel đấy, Claire,” Macon nói, “và kia là cháu Alexander, và kia nữa là Bernice Tilghman. Anh trai tôi, Charles.”
Charles tỏ vẻ bối rối.
Xem nào, đây chẳng phải là một nhóm dễ phân loại chút nào. Claire thì mặc kiểu trang phục lộn xộn thường thấy của mình - áo choàng tắm màu hồng và quần jean bạc màu, bốt da đanh có tua lên tới đầu gối. Bernice có lẽ đã từng là dân buôn gỗ. Alexander thì quần áo tề chỉnh và bóng lộn, trong khi Muriel mặc chiếc váy lụa lùng nhùng chẳng có vẻ gì là tinh tươm cả. Thêm nữa, nhà bếp thì quá nhỏ đến độ như thể có nhiều người hơn số người thật sự có mặt. Và Claire đang ve vẩy chiếc xẻng lật bánh, làm nhỏ xuống mấy giọt mỡ. “Bánh kếp nhé?” cô hỏi Charles. “Nước cam được không? Hay cà phê?”
“Không, cảm ơn,” Charles nói. “Tôi thật sự phải...”
“Em cược là anh muốn dùng sữa,” Muriel bảo. Cô đứng lên, may sao vẫn còn nhớ túm gấu váy lại. Em cược là anh không muốn ăn gì có chất đường vào lúc đói.”
“Không, thật sự thì tôi...”
“Không sao đâu mà!” Cô lấy hộp sữa ra khỏi tủ lạnh. “Anh đến đây bằng gì?”
“Tôi lái xe.”
“Em tưởng đường sá kẹt hết cả rồi.”
“Không tệ đên thế đâu,” Charles nói, đón lấy ly sữa. “Tìm ra chỗ này mới khó làm sao.” Anh nói với Macon, “Anh đã xem kỹ bản đồ rồi mà vẫn bị lệch.”
“Lệch?” Muriel hỏi.
“Ý anh ấy là lạc đường,” Macon giải thích. “Thế chính xác thì ông Garner nói thế nào anh Charles?”
“Ông ta bảo thấy nước chảy xuống bên trong cửa sổ phòng khách. Từ ngoài nhìn vào ông ta thấy trần nhà rỏ nước. Ông ta bảo chắc cũng phải mấy tuần rồi; chú nhớ đợt lạnh Giáng sinh không.”
“Nghe có vẻ tệ đấy nhỉ,” Macon nói.
Anh đến tủ quần áo lấy áo khoác. Khi anh trở ra, Muriel đang nói, “Giờ thì dạ dày hết rỗng rồi nhé anh Charles, sao không thử mấy cái bánh kếp Claire làm đi?”
“Tôi đã làm cả nửa tá rồi đấy,” Bernice nói với anh. “Không phải tự nhiên mà người ta gọi tôi là Bernice Bé Bự.”
Charles nói, “ừm, à...” và nhìn Macon cầu cứu.
“Chúng tôi phải đi bây giờ,” Macon nói với những người khác. “Charles, anh đậu xe ở sau hả?”
“Không, đằng trước. Rồi anh phải đi bộ ra đằng sau vì chuông cửa không chịu reo.”
Có một nốt dè dặt và chê bai trong giọng Charles khi anh nói ra điều đó, nhưng Macon chỉ nhẹ nhàng bảo, “Ồ, đúng đấy! Nơi này đúng là tệ thật.” Anh đi về phía cửa trước. Anh thấy mình giống như một người đang minh họa cách làm thế nào để hòa thuận với dân bản địa.
Họ khó nhọc đẩy cánh cửa ra và loạng choạng bước xuống mấy bậc tam cấp vùi sâu trong tuyết đến độ cả hai anh em ít nhiều đã cảm nhận được độ sâu của tuyết và tin chắc thể nào chân cũng ngập cả trong đó cho mà xem. Ánh mặt trời lấp lóa. Hai anh em lập cập bước xuống đường, chẳng mấy chốc tuyết tràn cả vào giày Macon - một cảm giác mát lạnh nhanh chóng chuyển sang nhức buốt.
“Em nghĩ ta nên đi hai xe,” Macon bảo ông anh.
“Sao phải thế?”
“À, anh không muốn lại phải lái quay trở lại đây chứ.”
“Nhưng nếu ta đi một xe, thì một trong hai sẽ lái còn người kia sẽ xuống đẩy nếu xe có bị mắc kẹt đâu đó.”
“Vậy đi xe của em nhé.”
“Nhưng xe anh chưa bị ngập trong tuyết.”
“Nhưng nếu đi xe em, em có thể đưa anh về nhà và anh đỡ phải quay trở lại.”
“Nhưng như vậy thì phải để xe anh lại ở phố Singleton này hử.”
“Bọn em sẽ mang nó về cho anh sau khi họ quét sạch tuyết.”
“Nhưng xe của anh động cơ vẫn còn ấm!”
Bao nhiêu năm qua họ vẫn luôn tranh cãi vì những chuyện như thế, có phải không nhỉ? Macon cười cười, nhưng Charles thì chăm chú chờ nghe câu trả lời của anh. “Được rồi, đi xe anh vậy, Macon nói với anh. Cả hai lên chiếc VW của Charles.
Đúng là có rất nhiều xe bị bỏ lại trên đường. Chẳng thấy được xe nào ra xe nào cả, chỉ là những ụ tuyết to tướng trắng xóa ngổn ngang không có nét gì tiêu biểu, thế nên giờ này nhìn con đường trông giống như một dòng sông đầy những tàu thuyền trôi lững lờ. Charles len lỏi qua những ụ tuyết ấy một cách điệu nghệ. Anh giữ tốc độ đều đều chầm chậm, và nói chuyện về đám cưới của Rose. “Bọn anh bảo nó tháng Tư thời tiết còn xấu lắm. Tốt hơn là đợi thêm ít nữa, bọn anh bảo nó vậy, nếu nó muốn tổ chức tiệc ngoài trời. Nhưng Rose không chịu, nó sẽ phó mặc cho số phận. Nó cam đoan là thời tiết sẽ thật hoàn hảo.”
Một chiếc jeep phủ đầy tuyết ở ngay phía trước xe họ, chiếc xe duy nhất họ gặp, đang chạy bỗng dưng đảo sang một bên. Charles vượt qua nó một cách gọn đẹp theo một đường cung dài và hẹp. Macon bảo, “Rồi hai đứa sống ở đâu?”
“À, nhà Julian, chắc vậy.”
“Trong một tòa nhà dành cho người độc thân?”
“Không, cậu ấy chuyển đến chỗ khác rồi, một căn hộ gần Belvedere.”
“À ra vậy,” Macon nói. Nhưng anh không sao hình dung được Rose lại sống trong một căn hộ, hay bất cứ nơi nào, mà không phải là ngôi nhà của ông bà con bé với những đường gờ trang trí kiểu trứng-và-lao và những tấm màn che cửa sổ nặng trình trịch.
Khắp thành phố người ta đang đào tuyết - giải phóng cho những chiếc xe hơi của họ, cào tuyết ra khỏi kính chắn gió, dọn vỉa hè. Trông họ có gì đó giống như đang trong ngày nghỉ vậy; họ vẫy chào nhau và gọi nhau ơi ới. Một người đàn ông, dọn dẹp không chỉ lối đi nhà mình mà còn cả một phần đường nữa, đang nhảy điệu gì đấy trong đôi giày nhỏ đế mềm trên nền bê tông ẩm ướt, và khi xe hai anh em đi qua ông dừng lại la lớn, “Này hai anh kia có điên không đấy hử? Đi đâu với đường sá thế này chứ?”
“Anh phải công nhận là chú cực kỳ bình tĩnh trong tình huống như thế,” Charles nói với Macon.
“Tình huống gì anh?”
“Ý anh là nhà chú đó. Nước chảy xuống từ trần nhà ai biết bao lâu rồi.”
“Ồ, chuyện đó hả,” Macon nói. Ừ, cũng có lúc anh đã thấy lo lắng về chuyện đó.
Giờ họ đang trên đường Bắc Charles, con đường đã được dọn sạch. Macon bị choáng ngợp trước sự rộng lớn nơi đây - những tòa nhà tọa lạc cách xa nhau, những vạt cỏ lớn thoai thoải. Trước đây anh chưa bao giờ để ý đến. Anh chồm người về phía trước nhìn ra hai bên đường. Xung quanh vẫn toàn một màu trắng xóa. Và chỉ thêm vài dãy nhà nữa thôi, khi Charles quẹo xe vào khu phố Macon sinh sống, hai người trông thấy một cô bé đang trượt tuyết.
Ngôi nhà của anh vẫn như hồi nào tới giờ, mặc dù trông có hơi bẩn trong sự tương phản với màu tuyết trắng tinh. Họ ngồi trong xe một lúc xem xét tình hình rồi Macon nói, “Nào, em nghĩ mình nên ra thôi,” và cả hai ra khỏi xe. Họ có thể biết chắc ông Garner Bolt đã lội qua sân nhà, vì vẫn còn nguyên mấy dấu chân ở chỗ ông ta đã bước lại gần để nhòm vào cửa sổ.
Nhưng vỉa hè thì chẳng có lấy một dấu vết nào, và Macon thấy khó mà bước nổi với đôi giày đế trơn của mình.
Ngay lúc mở cửa họ đã nghe thấy tiếng nước chảy. Phòng khách chìm trong tiếng nước nhỏ đều đặn, mát lạnh, giống như một ngôi nhà kính sau khi cây cối được phun nước. Charles bước vào trước và la toáng lên, “Ôi, Chúa ơi.” Macon đứng chết lặng ngay lối vào phòng lớn đằng sau anh trai.
Chắc chắn là một ống nước trên lầu (trong phòng tắm nhỏ xíu lạnh lẽo sát bên phòng cũ của Ethan, Macon dám cược như vậy) đã đóng băng và vỡ toác ra, chỉ có ông trời mới biết đã bao lâu rồi, và nước chảy mãi cho đến khi thấm cả vào trần nhà và bắt đầu rỉ xuống. Nước nhỏ giọt khắp phòng. Từng mảng thạch cao bong ra rơi xuống đồ đạc, tạo nên những vệt lem trắng trên tường. Ván sàn cũng nhuốm màu trắng lốm đốm. Tấm thảm, khi Macon dẫm lên, nhèm nhẹp nước dưới chân anh. Anh kinh ngạc trước tình trạng hư hỏng hoàn toàn thế này; không chừa chỗ nào cả. Cái gạt tàn nào cũng đầy tàn ướt và tờ tạp chí nào cũng sũng nước. Một thứ mùi lạnh lẽo bốc lên từ tấm nệm.
“Thế chú định làm gì bây giờ?” Charles thở ra.
Macon nhún vai, “Sao à, tắt van nước chính đi, dĩ nhiên là vậy rồi.”
“Nhưng cái phòng khách của chú kìa!”
Macon không trả lời. Phòng khách của anh... thành ra thế này là hợp lý đấy chứ, anh muốn nói như vậy. Thậm chí còn hợp lý hơn nữa nếu nó bị cuốn đi sạch trơn. (Anh hình dung căn nhà ngập dưới hơn ba mét nước, biến mất một cách kỳ bí, giống như một tòa lâu đài ở dưới đáy của một bể cá vàng vậy.)
Anh đi xuống tầng hầm, đóng chặt van nước chính, rồi kiểm tra bồn giặt. Nó khô ráo. Bình thường anh vẫn để vòi nước chảy suốt cả mùa đông dài, chảy ít thôi để mấy cái ống khỏi bị đông cứng, nhưng năm nay anh không nghĩ đến điều đó và hai ông anh cũng vậy nốt, rõ ràng là thế, khi mấy anh em qua nhà nhóm lò sưởi hôm nào.
“Ôi, kinh thật, kinh quá,” Charles nói khi Macon trở lại. Nhưng Charles đang ở nhà bếp, nơi đâu có trục trặc gì. Anh cứ mở mở đóng đóng mấy cái tủ bếp, luôn mồm, “Kinh thật. Kinh thật.”
Macon không biết anh mình càm ràm về chuyện gì. Anh nói, “Để em tìm đôi ủng rồi ta đi.”
“Đi hả?”
Anh nghĩ chắc đôi ủng ở trong tủ đồ. Anh lên lầu vào phòng ngủ. Mọi thứ thật thê thảm – tấm đệm lột trần với chiếc túi ngủ chỏng chơ, tấm gương phủ đầy bụi, tờ báo đã ố vàng cuộn tròn đặt trên tủ ngăn kéo. Anh cúi lom khom xuống đống đồ trong ngăn tủ dưới cùng. Đôi ủng nằm ở đó, cùng với cái móc áo kim loại và một cuốn sổ tay gì đó. Nhật ký người làm vườn, 1976. Anh lật nhanh mấy trang. Lần cắt cỏ đầu tiên vào mùa xuân, Sarah viết theo lối ngắn gọn. Cây đầu xuân vẫn nở. Macon gấp cuốn nhật ký lại, vuốt bìa cho thật phẳng và đặt nó sang một bên.
Với đôi ủng cầm trên tay, anh trở xuống lầu. Charles đã ra phòng khách; anh đang vắt nước mấy cái gối ôm. “Đừng để ý đến mấy cái đó,” Macon nói. “Chúng lại ướt nhẹp nữa ấy mà.”
“Công ty bảo hiểm sẽ lo vụ này chứ?
“Em nghĩ vậy.”
Bọn họ sẽ gọi vụ này là gì nhỉ? Thiệt hại do lụt lội? Thiệt hại do thời tiết?”
“Em chả biết. Đi nào anh.”
“Chú nên gọi điện đến cho ông thầu của mình đi, Macon. Có nhớ người đã làm hàng hiên cho nhà mình không?”
“Có ai sống ở đây nữa đâu mà.”
Charles vẫn cầm chặt một chiếc gối ôm, căng thẳng, “Nói vậy ý là sao?”
“Ý sao?”
“Có phải chú bảo là chú cứ để y nguyên như thế này?”
“Có lẽ vậy,” Macon nói với ông anh.
“Mọi thứ sũng nước và hư hết thế này ư? Không làm gì cả ư?”
“Ồ, cứ để vậy thôi,” Macon nói, khoát tay. “Đi nào, Charles.”
Nhưng Charles ngần ngừ, vẫn đứng tần ngần nhìn đăm đăm khắp phòng khách. “Kinh thật. Ngay mấy cái rèm cửa cũng ướt sũng cả. Sarah thấy mà không thất kinh mới lạ.”
“Em không tin cô ấy sẽ quan tâm đến vụ này đâu,” Macon nói.
Anh dừng lại nơi hiên nhà để đi ủng. Đôi ủng cũ kỹ và cứng đơ, cái loại có móc cài bằng kim loại. Anh nhét gấu quần ướt sũng vào trong ủng rồi bước ra đường.
Khi họ đã yên ổn trong xe, Charles không chịu nổ máy mà cứ ngồi thừ ra đó, chìa khóa cầm trên tay, nhìn Macon một cách điềm tĩnh. “Anh nghĩ đã đến lúc ta cần nói chuyện rồi,” anh bảo.
“Chuyện gì?”
“Anh cần biết chú nghĩ gì khi ở cùng với cái người tên Muriel đó.”
“Đó là cách anh gọi cô ấy sao? ‘Cái người tên Muriel’ ư?”
“Không ai chịu nói chuyện này với chú,” Charles nói. “Bọn họ bảo đó không phải việc của bọn họ. Nhưng anh không thể cứ đứng ngoài mà nhìn thế được, Macon. Anh phải nói ra điều anh nghĩ. Chú bao nhiêu tuổi rồi - bốn mươi hai? Bốn mươi ba rồi chứ? Còn cô ta... mà không chỉ thế, cô ta không phải loại đàn bà dành cho chú.”
“Anh thậm chí chưa biết cô ấy mà!”
“Anh biết kiểu người ấy.”
“Em phải về bên nhà đây, Charles.”
Charles nhìn xuống chìa khóa. Rồi anh khởi động máy và lái đi, nhưng vẫn không chịu thôi câu chuyện vừa rồi. “Cô ta như một loại triệu chứng gì đấy, Macon à! Dạo này chú không còn là chú nữa rồi và cái người tên Muriel kia là một triệu chứng. Ai cũng bảo thế cả.”
“Em đang là chính em hơn lúc nào hết trong cả cuộc đời dài dằng dặc của mình,” Macon nói với ông anh.
“Nói vậy là sao? Chẳng có nghĩa gì cả!”
“Anh nói ‘Ai cũng bảo thế cả’ là những ai?”
“À, Porter, Rose, anh...”
“Toàn là chuyên gia cả nhỉ.”
“Bọn anh chỉ lo lắng cho chú thôi, Macon.”
“Mình đổi đề tài được không?”
“Anh phải nói cho chú biết điều anh nghĩ,” Charles nói.
“Được rồi mà. Anh đã nói với em rồi còn gì.”
Thế nhưng Charles vẫn thấy chưa thỏa.
Chiếc xe lại đầm mình trong vũng tuyết đang tan, với những dải nước sáng chói chảy thành dòng từ trên nóc xe xuống kính chắn gió. Rồi khi ra đến đường lớn, xe tăng tốc. “Nghĩ đến tất cả chỗ tuyết kia đang làm gì với cái gầm xe mà bực quá,” Macon nói.
Charles bảo, “Anh chưa bao giờ nói với chú điều này trước đây, nhưng theo như anh thấy thì sex được đánh giá quá cao.”
Macon nhìn anh trai.
“Ồ, khi còn ở độ tuổi thanh xuân anh cũng thích thú như ai đấy chứ,” Charles nói. “Ý anh là lúc nào trong đầu anh cũng có suy nghĩ ấy. Nhưng đó chỉ là hình dung về sex thôi, chú hiểu chứ? Thế nào thì thế, nếm trải thực sự rồi mới thấy đâu có to tát đến vậy... Anh không có ý phản đối, nhưng nó không giống như anh mong đợi. Vì một nỗi nó khá là dơ dáy. Và rồi chuyện thời tiết cũng là cả một vấn đề nữa.”
“Thời tiết,” Macon nói.
“Khi trời lạnh thì mình không muốn cởi đồ. Khi trời nóng thì người cả hai đều nhớp nhúa mồ hôi hết cả. Mà ở Baltimore này thì thời tiết dường như chỉ có hai thái cực, hoặc là quá nóng, hoặc là quá lạnh.”
“Có lẽ ta nên lưu ý đến chuyện thay đổi khí hậu,” Macon nói. Anh bắt đầu thấy hứng thú. “Anh có nghĩ rằng ai đó đã làm một cuộc khảo sát chưa? Từ thành phố này đến thành phố nọ? Có thể Businessman’s Press sẽ xuất bản một kiểu cẩm nang nào đấy.”
“Và thêm nữa, việc này lại dẫn đến chuyện có con,” Charles nói. Anh chưa bao giờ thật sự quan tâm đến trẻ con. Chúng chỉ khiến anh đau đầu thôi.”
“Ồ, nếu đó là lý do anh đề cập đến chủ đề này thì quên nó đi, Macon nói. “Muriel không thể có con được nữa.”
Charles hung hắng ho. “Nghe được đấy,” anh nói, “nhưng đó không phải lý do anh nói đến chuyện này. Anh cho rằng điều anh đang cố nói là thế này, anh chỉ không nghĩ sex là thứ quan trọng đến độ chú phải hủy hoại đời mình vì nó.”
“Sao? Ai hủy hoại đời mình?”
“Macon, tỉnh táo đi. Cô ta không đáng.”
“Làm thế nào mà anh có thể biết được điều đó?”
“Chú có thể cho anh biết một điều gì đó đặc trưng của cô ta không?” Charles hỏi. “Ý anh là một phẩm chất đặc biệt nào đó, Macon, không phải là những thứ linh tinh kiểu như, ‘Cô ấy hiểu rõ giá trị con người em’ hay ‘Cô ấy lắng nghe…’”
Cô ấy nhìn ra bên ngoài cửa sổ bệnh viện và hình dung cảnh người sao Hỏa sẽ đến thăm chúng ta, Macon muốn nói như vậy. Nhưng Charles chắc sẽ không hiểu, thế nên anh chỉ nói, “Em không phải món hời gì, anh không thấy vậy sao. Còn có thể nói em là một món hàng bị hỏng nữa kìa. Ai đó nên cảnh báo cô ấy tránh khỏi em thì có, nếu anh chịu suy xét kỹ một chút thì đúng như vậy đấy.”
“Không đúng. Không đúng chút nào. Thật ra, anh hình dung thấy người nhà cô ta đang chúc mừng cô ta vì đã hốt được một mẻ.”
“Cô ấy hốt được một mẻ!”
“Người sẽ chu cấp cho cô ta. Bất kỳ ai,” Charles nói. “Cô ta thật may phước khi tìm được bất kỳ ai đó. Ồ, cô ta thậm chí còn không nói được tiếng Anh cho ra hồn nữa! Cô ta sống trong một căn nhà tồi tàn, cô ta ăn mặc cứ như mụ ăn mày, cô ta có một đứa con trai nhìn giống như bị bệnh giun móc hay gì gì đấy...”
“Charles, anh im ngay đi không,” Macon quát lên.
Charles im bặt.
Giờ họ đã về đến khu nhà Muriel. Xe đang đi qua nhà máy sản xuất đồ dùng văn phòng với hàng rào kẽm rối tung giống như đệm lò xo cũ kỹ. Charles quẹo sai đường. “Ồ, nhìn xem,” anh nói, “Đường nào...”
Macon không chịu hé miệng chỉ.
“Anh đi đúng đường chưa ấy nhỉ? Hay sai rồi. Chẳng có vẻ gì là anh...”
Họ chỉ cách hai dãy nhà nữa là tới Singleton, nhưng Macon hy vọng ông anh cứ lái lòng vòng suốt như thế. “May thật đấy,” anh nói, mở cửa nhảy xuống xe.
“Macon này?”
Macon vẫy tay và cắm cúi đi.
Tự do rồi! Ánh mặt trời khiến những ụ tuyết không rõ hình thù lấp lóe sáng, bọn trẻ đang cưỡi trên ván trượt và những cái bàn xếp hình chữ nhật. Chỗ đậu xe đã dọn sạch tuyết được che chắn bằng những chiếc ghế xếp dài. Đám con trai hăng hái với nào cuốc nào xẻng. Rồi nhà của Muriel với lối đi vào vẫn còn ngập sâu trong tuyết, những căn phòng nhỏ đượm mùi bánh kếp, cùng tiếng cười nói thoải mái của mấy người phụ nữ trong nhà bếp. Họ đang uống ca cao. Bernice đang tết tóc cho Claire. Alexander đang vẽ một bức tranh. Muriel hôn chào Macon và ré lên vì hai má anh lạnh ngắt. “Vào sưởi ấm đi anh! Uống ca cao nhé! Xem tranh Alexander vẽ kìa,” cô nói. “Anh mà không thích nó ư? Chẳng phải thằng bé là gì ấy nhỉ? Thằng bé đúng là da Vinci rồi.”
“Leonardo chứ,” Macon chỉnh.
“Gì?”
“Không phải da Vinci. Trời ơi. Mà là Leonardo,” anh bảo cô. Rồi anh bước lên lầu thay chiếc quần ướt nhẹp.
❀ ❀ ❀
[1] Ouija: một tấm bảng phẳng hình tròn bên trên đánh dấu các chữ cái, con số, và những biểu tượng khác, được tin là có thể dùng để giao tiếp với các linh hồn.
[2] BLT là một loại bánh sandwich phổ biến tại Mỹ, tên bánh được viết tắt từ ba từ - Bacon: thịt lợn muối xông khói, Lettuce: rau diếp và Tomato: cà chua.