Một hôm vào lúc sáng sớm có tiếng gõ cửa làm Ma-ri-na tỉnh giấc. Có ai đó kiên trì và gõ cửa đều đều. Khoác vội chiếc áo ngoài, xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà, Ma-ri-na hỏi:
-Ai đấy?
-Cô Ma-ri-na, cô có thư!
Giọng nói có vẻ quen thuộc. Vẫn không bỏ sợi xích con chằng cửa ra, Ma-ri-na chỉ hơi hé mở cánh cửa. Một cậu thanh niên lanh lợi trao cho chị chiếc phong bì và đi ngay. Ma-ri-na đã nhận ra cậu ta. Đó chính là người tháng trước đã tới trao cho chị tấm hộ chiếu và tiền của Gôn-đơ chuyển đến. Ma-ri-na mở phong bì, trong đó vẻn vẹn chỉ có một dòng chữ ngắn gọn: “Chờ gặp đúng mười giờ”.
Ma-ri-na băn khoăn nhìn mẩu giấy. Gặp ai, đi đâu? Gặp làm gì? Nét chữ lạ, chưa hề thấy bao giờ. Người này là ai? Sao lại có lời hẹn lạ lùng như vậy? Chị vò nhàu phong bì cùng mẩu giấy. Bật diêm và cũng giống như những lần chuyển xong điện, chị đốt mẩu giấy cho cháy hết mới thôi.
Tuy vậy, đúng mười giờ kém ba phút chị cũng mặc áo khoác ấm, đút khẩu súng lục vào túi và đi ra cửa. Trời hôm ấy có nắng ấm áp hơn. Chị nhìn quanh đường vẫn còn vắng vẻ nếu như không kể hai cô bé đang chơi phía bên hè phố. “Mình chỉ đợi đúng năm phút thôi”-Ma-ri-na thầm nhủ.
Từ góc phố nhô ra một chiếc xe con, thân xe dài sơn màu trắng nâu sáng khá đắt tiền. Từ trước đến nay Ma-ri-na chưa thấy loại xe này, hay đúng hơn là chưa được đi loại xe này. Nhưng sao chị bỗng cảm thấy hồi hộp: chả lẽ nó đến đón mình? Chị chậm bước lại, có ý đợi.
Chiếc xe phanh sát vỉa hè. Tiếng phanh rít lên.
Người đàn ông lạ mặt ngồi sau tay lái, vươn người mở cánh cửa trước, nói mấy tiếng Nga ngắn gọn, nhưng kiên quyết:
-Mời lên xe!
Ma-ri-na hoang mang giây lát. Một vụ khiêu khích chăng? Nhưng ngay lúc đó, như có ai thúc vào vai chị, chị chui nhanh vào xe và ngồi ngay cạnh người đàn ông, tay giữ chặt chiếc túi xách trên đùi.
Chiếc xe chồm lên và phóng nhanh trên đường phố về trung tâm Brúc-xen. Ma-ri-na liếc nhìn người đàn ông lạ mặt. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt trong, thông minh, cằm hơi lẹm và có vẻ lạnh lùng, bình tĩnh. Hàng ria mép không làm cho ngưiơì trẻ hơn mà lại có vẻ già đì. Tuy vậy cách ăn vận tỏ ra là một con người sang trọng, chiếc sơ-mi trắng mới tinh, tay áo cài măng-sét, cổ thắt chiếc cra-vát nâu nhạt kẻ sọc hài hoà với bộ com-lê cũng màu nâu sáng may bằng loại vải len đắt tiền, cổ tay long lanh chiếc đồng hồ vàng Thuỵ Sĩ và ngón tay giữa cộm lên chiếc nhân vàng. Mọi thứ đó như nói lên rằng đây là con người khá giả, biết ăn diện và lịch thiệp.
Chiếc xe vẫn bon bon trên đường. Trung tâm thành phố hình như ở đya phía bên trái xe. Người lạ mặt lái xe với tốc độ vừa phải. Xem qua cũng biết ông ta không thạo đường phố Brúc-xen. Họ đã ra vùng ngoại ô, đến sát sông đào. Phía xa một chiếc tàu đang nhả khói kéo theo hai chiếc sà-lan chờ nặng hạng. Bóng tàu in hình trên mặt nước bồng bềnh, gợn sóng. Ma-ri-na biết đang đi về phía bắc thành phố, có lẽ về phía An-véc-pen.
Người đàn ông bỗng lái xe sang phía sông đào rồi cho xe dừng lại ngay cạnh bờ sông. Ma-ri-na cảnh giác, tay nắm chặt nòng súng giấu trong túi áo khoác.
-Xin lỗi,-người đàn ông nói và mắt nhìn vào chiếc kính con quan sát phía sau.-Thế nào? Chị không thấy gì ở sau chứ.
-Hình như không… Không thấy gì cả…,-Ma-ri-na khẽ thì thầm trả lời, mặc dầu chẳng hiểu ông ta định nói gì.
-Cô chờ cho một lát, tôi phải thay biển số… Người lạ mặt nói và mở cửa xe.
Người đàn ông thay số xe xong và Ma-ri-na sung sướng hiểu rằng đây là “người mình”. Nếu không phải là người mình thì việc gì phải thay đổi biển số để đánh lừa quân Đức, khi chúng đang làm chủ ở nước Bỉ này?
-Xin chuyển lời chào của “Cô-xchi-a nhảy dù”,-người đàn ông nói khi cho xe tiếp tục chạy. Đó là người đã dạy cô học thuộc các chữ số của bài hát? Còn nhớ chứ, cô còn nhớ tín hiệu số hai-tức là hai chấm và số ba là-ba gạch chứ. Cô còn nhớ caâ hát của Cô-xchi-a “Tôi đi lên bầu trời…” chứ?
Ma-ri-na mỉm cười sung sướng. Người mình thực rồi! Chỉ có ai đã được học ở trường tình báo mới biết bí danh “Cô-xchi-a nhảy dù”.
Ma-ri-na chợt nhớ lại lần đầu tiên chị bước chân vào phòng điện đài và đã từng nghĩ rằng có lẽ chẳng bao giờ chị học thuộc được những ký hiệu chấm gạch chán ngán này. Chị cũng còn nhớ sau nhiều lần thực tập không đạt lắm chị có vẻ chán nản thì phía sóng bên kia lại vang lên trong tai câu nói “xin nhận lời chào của Cô-xchi-a nhảy dù” nhé.
-Thế chữ “F” có nghĩa là gì?-Ma-ri-na chợt nhớ và hỏi lại.
-Thím Ca-chi-a!-Người đàn ông đáp ngay.
-Đúng rồi!
Ma-ri-na ngẩng đầu vui mừng nhìn người chủ chiếc xe sang trọng này. Thế là sau ba tháng cô đơn chờ đợi, thấp thỏm, hôm nay bỗng xảy ra cuộc gặp gỡ thực sự nhưng chị vẫn hồi hộp chưa tin là thật.
-Cứ gọi tôi la An-đrây, hay theo như tiếng Pháp là An-đrê, ông nói vẫn không quay sang nhìn Ma-ri-na. Tên tôi chính là An-đrây. Còn họ, thì xin lỗi, như người ta nói là, bỏ quên mất ở nhà cùng với hộ chiếu rồi.
-Còn tôi là Ma-ri-na, đây là tên chính của tôi,-chị nói và không kìm được, liền thốt lên: Ôi, đã bao lâu nay không được nói mẹ đẻ. Tôi đang được nói tiếng Nga nhưng lại không tin là như vậy… Anh biết không, thật là nặng nề. Đêm đến cứ phải đọc thầm một bài thơ Nga đã học từ thời còn ở trường phổ thông…
-Tôi cũng có tâm trạng như vậy đấy,-An-đrây thú nậhn, và dấn ga vượt chiếc xe tải chờ đàn bò lơ đãng nhìn ra thế giới xung quanh qua tấm lưới thép phía sau xe.-Đặc biệt là những lúc mất liên lạc với Trung tâm. Nhưng rồi dần dà cũng phải quen đi… Thôi chúng ta vào công việc nhé. Hôm kia, Trung tâm thông báo rằng cô được tặng thưởng Huân chương Ngôi Sao đỏ. Tôi xin chúc mừng đồng chí!…
-Anh nói gì vậy?-Ma-ri-na hỏi lại,-Chị rất muốn nghe An-đrây nhắc lại lần nữa câu nói làm chị xao xuyến và tự hào. Chị mà lại được phần thưởng chiến đấu cao quý này hay sao?
-Trung tâm thông báo cho biết, đồng chí được tặng Huân chương Ngôi Sao đỏ và đề nghị tôi chuyển lời chúc mừng nồng nhiệt của các đồng chí ấy tới chị.
-Xin cảm ơn. Tôi chưa bao giờ dám mơ tới điều này!-Ma-ri-na hơi ngượng nghịu, chị im lặng và cảm thấy khuôn mặt đỏ ửng. Thế còn Van-te? Anh ấy chả lẽ không được tặng thưởng gì hay sao?
-Đồng chí Van-te Cu-ra-cốp được tặng Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất.
-Huân chương gì?
-Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất. Tháng Năm vừa qua Đoàn Chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô đã ra Sắc lệnh tặng thưởng loại huân chương mới này. Có hai hạng: hạng nhất và hạng hai.
-Thế Van-te còn sống?
-Xin lỗi, không!!! Đồng chí ấy được truy tặng.
Ma-ri-na cắn môi. Chị hiểu rằng nhờ có tinh thần anh dũng của Van-te mà chị còn được sống đến bây giờ… Ôi thật là một con người đáng quý! Chị bỗng nhớ tới những giây phút cuối cùng khi đang tuyền tin về Trung tâm thì ngoài hành lang thang gác vang lên tiếng súng. Mấy viên đạn bắn trúng kính cửa sổ làm vỡ những mảnh tưởng vôi bắn cả vào đầu, vào vai chị. Lúc đó Ma-ri-na vừa kịp kết thúc nội dung chính của bức điện và quyết định truyền thêm trực tiếp bằng lời báo tin Van-te đang chiến đấu bảo vệ chị. Thay cho mật hiệu TB (tạm biệt), Ma-ri-na đã đánh mật hiệu VB (vĩnh biệt).
Con đường nhựa trải rộng hun hút chạy về phía họ.
-Toi không thể tin được là…-Ma-ri-na khẽ nói.-lúc nào tôi cũng cứ nghĩ, anh ấy vẫn còn sống đâu đây…
-Chiến tranh là như vậy đấy,-An-đrây nói và thở dài, im lặng.
Anh cũng đã phải chịu đựng nhiều tổn thất riêng của mình. Anh đã vĩnh viễn mất đi những người bạn chiến đấu anh dũng. Anh vẫn mang trên vai mình gắnh nặng của sự mất mát không thể bù đắp được. Trong đầu óc anh không thể xoá nhoà được dòng tin kinh khủng: Ở Li-ông họ đã bị thất bại lớn… Còn anh, An-đrây Xtar-cốp, người hiện mang hộ chiếu công dân Pháp Anđrê Mô-roa thoát được nhờ một sự may rủi hoàn toàn tình cờ.
… Trong những ngày cuối tháng Tám vừa qua, trên báo chí xuất hiện một nguồn tin ngắn về cuộc đấu quyền Anh mà anh chờ đợi từ lâu. Các báo địa phương đưa tin về “Một võ sĩ quyền Anh Nga I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát đã tự nguyện chạy sang hàng ngũ nước Đức vĩ đại, hiện đang phục vụ trong tiểu đoàn lê dương thuộc quân đội Đức, đã được tặng thưởng huy chương theo như nhận xét của viên đại uý chỉ huy anh ta, “người võ sĩ này đã lập công xuất sắc trong trận chiến đấu với quân du kích Nga”.
Từ lâu người ta chờ đợi nguồn tin này. Mát-xcơ-va đã mấy lần hỏi về anh ta. Thế là cần phải đến ngay thành phố biển Bu-lông.
Nhưng các sự kiện cứ quay như chong chóng. Vừa mới bắt liên lạc được với chàng võ sĩ lừng danh thì lại được tin nhóm tình báo của anh vừa bị tan vỡ. Ngay đêm hôm sau anh nhận được tin báo từ Pa-ri. Lướt mắt qua bức điện công khai, anh giật bắn người, tỉnh ngủ hẳn: “Thím La-roa bị chết đột ngột, các con cháu về đưa tang đông đủ. Hãy đến ngay Ma-đơ-len”.
Xtar-cốp gấp bức điện lại và không tin. Anh hi vọng rằng có lẽ nó gửi cho người khách thuê phòng trước anh trong khách sạn này. Anh trả lại và đóng sầm cửa trước con mắt ngạc nhêin của nhân viên bưu điện. Nhưng trong óc lại loé lên ý nghĩ. Nhóm Li-ông là nhóm của anh. Chính anh đã mất bao công sức thành lập nhóm này. Về sau, theo chỉ thị của Trung tâm, anh bàn giao lại cho đồng chí khác và lên Pa-ri sống. Thế mà, bỗng nhiên bị thất bại!… Toàn văn bức điện phải hiểu theo nghĩa sau đây “Thím La-roa”-tức hiệu thính viên, “chết đột ngột”-đã không chịu để bắt sống và đã tự sát… “Các con cháu”-toàn bộ nhóm Li-ông, “đã về đưa tang”-đã bị vây bắt… Chữ ký “Ma-đơ-len” mật hiệu quy ước báo động khẩn cấp có nghĩa là, “hãy trốn đi anh đang bị truy lùng”.
Xtar-cốp đã đến Li-ông hai tuần trước khi nhóm này bị lộ. Anh đã ở đây mấy ngày. Trong những lúc rảnh rỗi anh tranh thủ dạo thăm các đường phố nổi tiếng vẫn còn in lại dấu vết cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân thành phố. Tám năm trước, ở đây đã diễn ra cuộc đình công lớn và công nhân đã xung đột với bọn cảnh binh. Giai cấp công nhân đã bị đàn áp nhưng tiếng vang và vết tích của cuộc đấu tranh vẫn còn giữ mãi đến ngày nay.
Chính trong khu công nhân này là nơi hoạt động của trung tâm nhóm tình báo Li-ông. Họ đã làm được nhiều việc quan trọng… Đó là những chiến sĩ dũng cảm, dày dạn kinh nghiệm… Thế mà bỗng nhiên…
An-đrray Xtar-cốp còn nhớ như in hai chiếc lều bạt lụp xụp bẩn thỉu tjư nhiên xuất hiện ngay giữa đường phố, trên miệng giếng cống gần ngay ngôi nhà ba tầng, nơi đặt điện đài của nhóm. Đây là loại lều bạt thông thường của công nhân nạo vét các giếng cống hoặc sửa chữa đường điện thoại trong thành phố. Chả có ai trong nhóm chú ý đến chúng cả. Chỉ có hiệu thính viên Pi-e nhún vai khó hiểu, càu nhàu: “Họ sửa chữa gì mà lâu vậy?”. Nhưng thật ra trong hai chiếc lều bẩn thỉu đó bọn giét-ta-pô đã đặt máy định vị tìm sóng vô tuyến, phục kích hiệu thính viên. Nhưng chúng không bắt ngay mà cứ từ từ, sự từ từ thận trọng của người Đức, chờ đợi, theo dõi bám sát và phát hiện được những người hay lui tới để cất một mẻ lưới tóm gọn cả nhóm.
Ngay ngày hôm sau, An-đrây đi Pa-ri. Anh được đón ngay ở sân ga, nhận tiền và giấy hộ chiếu khác, rồi tiếp tục đáp tàu lên biên giới và hai ngày sau đã ở trong khu vực an toàn. Anh đã sang Thuỵ Sĩ. Xtar-cốp sống ở đây gần hai tháng, lúc đầu ở Lô-dan về sau chuyển tới Giơ-ne-vơ. Từ Giơ-ne-vơ anh được lệnh sang Béc-lin để gặp nhóm Béc-lin và tiếp đấy sang Tiệp Khắc. Tại đây anh sống ở Pra-ha, nơi anh đã từng ở lâu trước chiến tranh và có mối liên hệ chặt chẽ với những nhóm kháng chiến Tiệp, hoạt động bí mật trong lòng địch. Anh nhận một nhiệm vụ khẩn cấp nhưng cũng khá mạo hiểm. Mang điện đài xách tay của các đồng chí Tiệp để sang Bỉ giao cho Ma-ri-na.
Bề ngoài Pra-ha hầu như không thay đổi. Nhà ga trung tâm thấp và khang trang ẩn mình trong những vòm cây xanh. Nó hoàn toàn không giống các nhà ga khác ở các nước châu Âu, là những khu nhà lớn lợp mái kính nhưng lại rất nhốn nháo và lúc nào cũng như bị phủ trong làn khói các đầu tàu. Còn ga Pra-ha đập vào mắt mọi người với vẻ đẹp riêng và sạch sẽ của nó. Tất cả như đều được lau chùi, không tìm thấy một mẩu rác, thậm chí một que diêm cháy dở… Chỉ có những lá cờ nhỏ của phát xít Đức và ảnh Hít-le dán trong các tủ kính là cái khó chịu duy nhất đập vào mắt mọi người.
Sân ga có nhiều người Đức, đặc biệt là lính. Vừa bước ra khỏi toa, Xtar-cốp nhận ra ngay trong số những người ra đón có người bạn cũ là Ia-rô-xláp Đốp-gích. Đã năm năm nay họ chưa gặp nhau và đấy cũng là những năm nặng nề đối với đất nước Tiệp. Năm 1938, sau sự kiện Muy-ních, chính phủ tư sản Tiệp Khắc đã tự nguyện nhường cho nước Đức vùng Xu-đét giàu có. Và đến tháng Ba năm 1939 quân đội Hít-le đã tràn vào Tiệp Khắc, chiếm đóng nước này. Vùng Séc và Mô-ra-vi-a được tuyên bố là vùng bảo hộ của nước Đức, còn Xlô-va-ki thì thành lập chính phủ bù nhìn… Dấu vết nặng nề của những năm qua còn in rõ trên khuôn mặt vốn lúc nào cung vui tươi của Ia-rô-xláp. Hai bên thái dương tóc đã điểm bạc, những vết nhăn hằn sâu trên má. Chỉ có đôi mắt là vẫn như trước đây.
Hai người bạn không hề tỏ thái độ vồ vập, không chào hỏi nhau một lời nào. Họ chỉ lặng lẽ đưa mắt cho nhau, tỏ niềm vui được gặp lại. Trong thời đại đầy sóng gió và giông tố này, không dễ gì sống nguyên vẹn được. Đốp-gích đi ngay ra cửa ga. Anh bước đi đường hoàng và mọi thái độ của anh như chỉ cho Xtar-cốp biết rằng “Pra-ha vẫn an toàn”, rằng từ Béc-lin có lệnh “ra đón một đồng chí” và anh, Ia-rô-xláp sẵn lòng làm việc này. Cứ như vậy, họ ra quảng trưởng nhà ga. Tại đây Ia-rô-xláp kín đáo ra hiệu và Xtar-cốp hiểu rằng: “Tôi đi trước, anh cứ theo tôi đúng cự ly như thế này”. Đi một lúc hai người lại cùng lên một toa tàu điện nhưng khác cửa, đến bến đỗ ở quảng trường Xta-rô-mét-nôi. Hôm nay trời không đẹp, có mưa nhỏ. Đến quảng trường nhà thờ Tun-xki, Xtar-cốp chậm bước lại, đưa mắt nhìn bức tượng đồng của Jan-gút đang phơi mình trong mưa. Người anh hùng nước Tiệp này đứng đầu trần dưới trời mưa sụt sùi, những dòng nước mưa lả tả, lăn trên mắt ông, tựa như những giọt nước mắt. Họ cứ tiếp tục đi cách quãng xa như vậy đến một ngôi nhà cũ kỹ ẩn mình trong hàng cây xanh. Và mãi tới khi vào đến trong nhà, khi cánh cửa đã khép lại, hai người bạn mới biểu lộ tình cảm vui mừng của mình trước cuộc gặp gỡ này. Họ ôm chầm lấy nhau, vỗ vai nhau đôm đốp.
Trên bàn ăn đã bày sẵn một chai rượu vang ướp lạnh, bánh rán nhân thịt tựa như bánh rán Ga-lu-ca ở U-crai-na, thường ăn với nước sốt cà chua, thịt rán, rau quả… Vừa tiếp bạn, chủ nhân vừa báo cáo tình hình, về những con người cụ thể, về thành công, tổn thất và những công việc tương lai.
-Thế còn kỹ sư vô tuyến điện của chúng ta ra sao?-Xtar-cốp hỏi.
-Anh định hỏi về kỹ sư Đô-tan-trích?
-Đúng đấy, anh Ia-rô-xláp ạ.
-Anh ấy không còn nữa, hi sinh rồi… Anh còn nhớ lần gặp gỡ đầu tiên với anh ấy, chính anh đã nhận xét rằng, con người này có thể tin cậy được. Và anh ấy đã xứng đáng với lời nhận xét đó của anh.
Xtar-cốp đặt cốc vang xuống. Kỹ sư Đô-ta-trích đã hi sinh! Xtar-cốp nhớ lại buổi tối hôm anh được gặp người kỹ sư trẻ, dáng đâm đà, cao như con sếu. Hôm ấy Xtar-cốp quyết định gặp riêng anh ta để nói chuyện vì, anh được biết kỹ sư vô tuyến điện I-a Đô-tan-trích là người có tài năng và là một trong những “chuyên gia điện tử tương lai”. Mới ba chục tuổi nhưng anh đã tỏ rõ khả năng lớn của mình trong lĩnh vực này. Đô-tan-trích đã cải tiến loại máy thu phát cũ và thiết kế ra loại máy thu phát mới cỡ nhỏ. Đây là thế hệ máy hoàn toàn mới. Anh luôn luôn nghĩ đến nền quốc phòng của Tổ quốc. Thế nhưng chẳng bao lâu sau anh lai phải sửng sốt và căm giận chứng kiến sản phẩm của mình bị bọn chủ xưởng lợi dụng làm món hàng thương mại. Họ đã bán cho người Anh, người Mỹ và người Pháp với giá cao gấp mấy lần các loại máy thu phát thường. I-an Đô-tan-trích thất vọng và tức giận. Anh định thủ tiêu bản vẽ, phá huỷ loại máy sản xuất thử đầu tiên nhưng các bạn bè anh khuyên can và sau đó, giới thiệu anh với những người lãnh đạo phong trào kháng chiến bí mật của Tiệp.
Đó là câu chuyện trước đây. Hôm ấy I-an đến rất đúng giờ, mặc hợp thời trang. Khuôn mặt thông minh kiên nghị, chỉ ánh mắt mệt mỏi đã nói lên những ngày chịu đựng và cuộc đấu tranh thầm lặng của anh. Khi chia tay ra về, Đốp-gích hỏi: “Thế nào?” thì Xtar-cốp đã trả lời giọng khẳng định: “Con người này có thể tin được”.
Từ ngày ấy, anh ta thường lén mang linh kiện ở phòng thí nghiệm về lắp ráp được năm chiếc điện đài. Và cũng chính anh đã điều chỉnh, viết vắn tắt bản hướng dẫn sử dụng. Ia-rô-xláp kể lại.-Nhưng có một tên phản bội nào đó trong xưởng thí nghiệm đã báo với bọn Đức.-Bị bắt, anh vẫn im lặng trước các đòn tra tấn của bọn giét-ta-pô, không hề khai cho ai hoặc để lộ một địa điểm liên lạc nào. Lúc đầu chúng còn thuyết phục, dỗ dành, hứa thưởng tiền nhưng về sau chúng đã tra tấn anh rất dã Ma-ri-na. Nhưng anh vẫn trung thành với lí tưởng. Bọn chúng đành phải xử bắn anh vì tôi “phản bội” nước Đức.
Im lặng một lát, Đốp-gích nói tiếp:
-Máy của anh ấy vẫn hoạt động tốt. Đúng ra là hai cái trong số này đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu. Bọn Đức dò ra sóng và bố trí bao vây. Đồng chí hiệu thính viên bị thương đã kịp thời tự huỷ một chiếc. Còn chiếc khác bị bọn Đức bắt được tại chỗ trong cuộc bao vây bất ngờ ngôi nhà gỗ nhỏ ở Ta-trác-ha. Hai chiếc khác vẫn đang làm việc để trả thù cho người kỹ sư đã hy sinh. Còn một cái dự trữ ở chỗ chúng tôi, đã được lệnh giao cho anh. Chúng ta cùng chung kẻ thù và chúng tôi, những người Tiệp, coi đây là nghĩa vụ đối với các đồng chí…
Ngày hôm sau Xtar-cốp lại lên đường trở về Brúc-xen cùng với chiếc máy thu phát xách tay.
Tại thành phố cảng của nước Bỉ này, ông đã tìm được căn phòng hai buồng nhỏ trong ngồi nhà năm tầng cách Sen-đơ không xa lắm. Căn phòng ở góc nhà. Cửa sổ buồng thứ nhất có một ban công đã đặt sẵn chiếc thùng gỗ dài trồng cây vạn niên thanh khá rậm, tạo cho ban công một bức mành mành xanh tự nhiên. Chẳng khó khăn gì lắm, Xtar-cốp đã lắp được dây ăng-ten bí mật mà không sợ bị nghi ngờ vì được nguỵ trạng rất tốt.
Chỉ có một việc cuối cùng nữa là chuyển hiệu thính viên tới đây. Béc-lin đã thông báo địa chỉ Ma-ri-na Rúp-xô-va đang mang hộ chiếu Ma-ri Đê-cua và cho biết rằng, chị cũng suýt bị rơi vào móng vuốt bọn giét-ta-pô… Phải hết sức cẩn thận và cảnh giác: Béc-lin nhắc là không được khinh suất, phải hết sức cảnh giác… Bọn giét-ta-pô và cơ quan an ninh đang lùng sục theo vết của họ. Cuộc vây bắt ở Béc-lin hầu như đã làm tan vỡ hoàn toàn tổ chiến đấu của anh. Công việc, dầu sao cũng không thể ngừng được, chiến tranh đã mang một tính chất khác, nó đòi hỏi phải phát hiện cho được ý đồ các kế hoạch chiến lược của kẻ thù, khả năng và tiềm lực kinh tế, công nghiệp cũng như quân sự của chúng…
Ngay trước hôm đi Brúc-xen, tình cờ Xtar-cốp chú ý tới tấm áp-phích lớn cổ động cho trận đấu quyền Anh sắp tới. Qua đó ông được biết, tối thứ bảy 21 tháng Một, có cuộc đấu quyền Anh giữa Ca-min Đi-um-ba, võ sĩ nghiệp dư vô địch nước Pháp và I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát võ sĩ quyền Anh nghiệp dư Nga.
Xtar-cốp rất vui khi đọc tên họ người võ sĩ Nga. Chỉ vừa mới bắt liên lạc được với anh ta hồi tháng Tám, thế mà giờ đây đã được nhóm Béc-lin đưa vào “đội ngũ”… Anh hiểu rằng, sự xuất hiện của Mi-cla-sốp tại đây không phải là ngẫu nhiên. Có lẽ anh ta sẽ bắt liên lạc với Ma-ri-na. Ít ngày sau, ông đã lo cho Ma-ri-na tấm hộ chiếu mới mang tên một phụ nữ đức Ma-ri Lui-da Tô-ten-béc-gờ.