Li-đa Mi-cla-sô-va ngồi cạnh chiếc giường trẻ con và khóc nức nở, hai tay ôm gối. Chị khóc trong cảnh thất vọng và bất lực. Chị không biết làm gì hơn để cứu chữa cho con trai thân thương của mình. An-đriu-sa đang sốt mê man, người nóng hầm hập. Chú cứ hất chăn đi, miệng lảm nhảm nói mê đòi uống nước liên hồi.
Ngay từ tối, khi rảo bước trên đường phố phủ một lớp tuyết mỏng, chị đã linh cảm thấy điều gì đó. Chị về muộn cố nhấc đôi chân mỏi nhừ để được gặp con. Gió lạnh phả vào người, buốt như gai chích. Sau bữa trưa tưởng được nghỉ nhưng ông quản đốc yêu cầu chị em ở lại có việc “đột xuất, khẩn cấp”. Mà quả vậy, có mấy đoàn tàu cùng đến, rất nhiều toa do vậy đội bốc xếp chuyên nghiệp không thể nào đảm đương nổi việc chuyển một núi hòm đạn nặng lên các toa… Lạnh dưới hai mươi độ, lại còn gió mạnh nữa… Vừa mở cổng, Li-đa đã thốt lên sợ hãi. Trên bậc thềm nơi cánh cửa đang đóng chặt, chú bé An-đriu-sa của chị đứng im lìm, lạnh ngắt. Chị vội lao vào ôm chầm lấy con.
-Sao lại thế này ? Sao lại đứng đây, con ? Sao không ở chỗ bà Ca-chi-a ?
-Con trốn. Co-on Trô-ốn and run cầm cập, lưỡi líu lại ôm chặt lấy mẹ, vừa thở vừa nói-Co-on trốn mà…
Bà Ca-chi-a, bà láng giềng tốt bụng, hiền lành gầy như cây sào ở cách vài ba nhà, mới nhận được giấy báo tử của anh Ni-cô-lai con trai duy nhất của bà hy sinh ở mặt trận. Chị con dâu được bà Mác-pha nhận vào đội bốc xếp của nhà máy. Còn bà vẫn ở nhà, trông mấy đứa cháu nội, hai đứa lớn đã đi học, đứa thứ ba lớn hơn An-đriu-sa một chút. Li-đa thường nhờ bà trông nom hộ An-đriu-sa cho tiện và thằng bé cũng vui hơn. Thế mà hôm nay lại đến nông nỗi này…
-Ai cho phép con trốn, hả ?-Bế co vào phòng, Li-đa vừa cởi áo măng tô, vừa bỏ mũ ra cho nó-Nói đi, sao lại im lặng?
-Con với nó cãi nhau…
-Thế có đánh nhau không?-người mẹ nhìn vào mắt con hỏi.
-Có đánh chút ít thôi, thằng bé đáp, vẫn tỉnh khô.
-Ôi thật khổ thân tôi.-Chị rên lên , thở dài, vừa nói vừa xoa xoa đầu vào tay, vào má con cho ấm lên.
-Nó làm gãy cái bút chì của con, An-đriu-sa cãi lại cái bút chì xanh đỏ mẹ cho ấy mà…
Vừa cởi quần áo cho con, vừa nghe nó lý lẽ, Li-đa định đi nhóm bếp, hâm lại thức ăn, nướng bánh mì để ăn tối, chị đã đói cồn cào rồi và lại còn bao nhiêu việc nữa. Giặt giũ quần áo cho con, chuẩn bị bữa mai… Khi cởi quần cho thằng bé chị thấy quần ướt sũng đến tận dây rút, thấm vào cả phần dưới áo may-ô.
-Sao lại ướt thế này? Chơi trượt tuyết ngoài trời hả?
-Không phải đâu mẹ ạ. Chúng con chơi đắp núi đấy.
Chị hiểu ngay thế nào là “chơi đắp núi” của lũ trẻ. Cũng là một thứ trò chơi ngoài tuyết lạnh.
-Thế xe trượt đâu, không mang về à?
-Con cãi nhau với anh Va-xca. Con không muốn về nhà anh ấy nữa nên… phân trần
-Cái gì cũng làm hỏng hết, quần rách và ướt thế này? Làm sao mẹ có thể mua cho con mãi được, hả?
-Không cần mẹ nữa, bố sẽ gửi từ mặt trận về cho con. An-đriu-sa đáp giọng nghiêm trang.
-Con nhớ bố lắm hả ? Li-đa khẽ hỏi lòng nhẹ nhõm, sẵn sàng tha thứ cho con tất cả.
-Con nhớ, lúc nào cũng nhớ đến bố đấy…
Li-đa ôm chầm lấy con, ghì vào lòng, lặng đi. Bao giờ bố mẹ, vợ chồng mới được gặp nhau ? Họng chị khô đắng hai dòng nước mắt từ từ lăn trên má. Chỉ cần một lá thư hay chỉ một vài lời nhắn nhủ để biết tin tức về anh ấy thôi cũng đủ an ủi rồi. Nhng vẫn biệt vô âm tín. Đã hơn một năm trôi qua kể từ cái ngày người đai uý vui tính đó đến thăm và trao quà, hàng quý người ta vẫn tiếp tục gửi thực phẩm và một ít tiền đến cho chị.
Như vậy là anh ấy vẫn sống. Có lẽ anh ấy đang chiến đấu ở đâu đó trong vùng du kích, vùng hậu phương quân thù. Còn mình thì héo hon, lo lắng vì mù mịt tin tức. Anh thân yêu, anh thương nhớ, giờ đây anh ở đâu? Anh đang làm gì? Thật vất vả cho em khi không có anh bên cạnh. Anh có biết em sống khó khăn và buồn nhớ, lo lắng ra sao không ? Mặc dầu quanh em là những con người tốt bụng, những đồng chí thân yêu vùng U-ran hết lòng hết sức chăm sóc mẹ con em. Biết đến bao giờ mới diệt hết được loài rắn độc, đuổi hết chúng đi để mẹ con em được trở về nhà, về thủ đô quê hương, thành phố mẹ hiền của chúng ta. Biết đến bao giờ…
Củi ướt không chịu cháy cứ bốc khói xèo xèo cay cả mắt. Li-đa càng thổi khói càng nhiều, mắt mũi giàn giụa nước mắt. Chị phải nhóm lò để hong quần áo ướt cho An-đriu-sa, hâm thức ăn và nấu nước… Chị nhìn đồng hồ. Và ngoái nhìn An-đriu-sa. Sao nó ngồi bất động thế kia. Chị giật mình. Nó đang ngồi trên ghế xoay lưng lại với bếp lò. Bỗng nó thều thào nói:
-Mẹ, đắp áo cho con, con rét lắm ! Rét quá…
Li-đa nhìn con, lạnh cả người! Thằng bé xỉu xuống run lên bần bật, chị hầu như cũng run theo. Chị không còn sức lực để chịu đựng thêm nữa. Biết làm sao đây?
-Mẹ ơi, con lạnh lắm… lạnh lắm…-thằng bé mấp máy môi!
Li-đa vội áp tay lên trán con. Trán nóng rực. Chị vội đo nhiệt kế một phút sau rút ra và không còn tin ở mắt mình nữa-ba chín độ rưỡi.
-Tôi đã biết mà. Tôi đã biết mà,-chị nói như rên, vội vã chạy đến chiếc tủ con, mở ngăn kéo lục tìm hộp thuốc.
Đút vội viên thuốc đắng vào miệng con, rồi cho nó uống ngụm nước nóng. Chị bế nó lên giường, đắp kín chăn lại.
-Con nằm ngủ đi. Nhắm mắt lại ngủ đi, con bé bỏng của mẹ. Sáng mai con sẽ khỏi thôi.
Nhưng đến nửa đêm bệnh tình có vẻ nặng hơn. An-đriu-sa mê sảng, vật vã. Còn Li-đa thì chả biết xoay xở ra sao nữa. Chị cảm thấy bất lực. Không biết làm gì hơn, chị lại nhét thêm thuốc vào miệng nó nhưng nó lại nôn ra. Chị đành ôm con ngồi khóc nức nở. Lúc đầu còn khóc thầm nhưng về sau càng khóc to hơn và cuối cùng, dường như không chịu nổi, chị gào lên: “Trời ơi, biết bao giờ mới chấm dứt được nỗi khổ này… Bao giờ”…