Đọc đầu đề này chắc chắn nhiều bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên.
Tại sao ở cõi đời này lại có cái sự kỳ khôi ấy ?
Nhưng không, các bạn hãy bình tĩnh để cùng thưởng thức chuyện sau đây :
Một buổi sáng nọ, sau khi mãn triều vua Tự-Đức họp các ngài mũ cao áo rộng để bàn chuyện văn thơ, chuyện văn thơ phù phiếm trong khi cả nước đang nhao lên vì vận mạng quốc gia chông chênh như trứng để đầu gậy, trước sự đe dọa của bọn thực dân xâm lược Pháp.
Nhà vua cùng các quan bàn chuyện, từ chuyện Tam Hoàng Ngũ Đế, chuyện Hán, Đường, Tống, Nguyên đến các chuyện văn thơ Lý-Bạch, Đỗ-Phủ… đều được đem ra thảo luận, rất mực sổi nổi. Trái lại, chuyện nước mình cả vua lẫn quan đều ù ù cạc cạc, nhất là tình hình lúc đó, các họng đại bác của giặc Tây từ ngoài biển cứ găm vào gần mãi.
Muốn thử học lực các quan, nhà vua đọc hai bài ám tả không đầu đề, bài thứ nhất gồm 4 câu thơ sau :
Lâm vũ lâm ly lý lý đường,
Minh minh bỉnh chúc chiếu âm dương,
Trì khu thượng hạ công danh quán,
Khứ thủ ly bì đắc kỷ cương.
霖雨淋漓李俚塘
冥冥秉燭照陰陽
馳驅上下攻盈貫
去首離皮得幾綱
Bài thứ hai cũng 4 câu :
Tiêu hà tá hán khởi ư phong,
Sấn nhập trùng vi nhiễu trướng trung,
Bất luận huân tiêu phàn khoái lực,
Hốt văn hàn tín tự tiêu không.
蕉荷借漢起於風
趁入重圍繞帳中
不論薫燒樊燴力
忽聞寒信自消空
Để tỏ tài mẫn tiệp, các quan già trẻ thi nhau viết lấy viết để. Sẵn cái đầu óc quá quen thuộc với các bộ sử Trung-quốc, ngài nào ngài ấy cũng tưởng bài thứ nhất có nghĩa đại khái : « Nhà Lý-Đường gặp lúc như mưa dầm đen tối, những bầy tôi cầm máy âm dương soi sáng, và những người dong ruổi đó đây đánh dẹp bọn Danh, Quán, trừ đầu trừ da hỏi được mấy kẻ ? »
Và bài thứ hai : « Ông Tiêu-Hà giúp nhà Hán ở đất Phong, không cần sức mạnh của Phàn-Khoái, chỉ nhờ tài Hàn-Tín là xong hết mọi việc. »
Với những thành ngữ nhan nhản trong hai bài như « Lý Đường, Danh, Quán, Tiêu-hà, Hàn-Tín, Phàn-Khoái », thôi đích thị nếu không phải nói về sự tích nhà Đường, nhà Hán, còn chi chi vào đó ?
Tuy vậy, trong số các ngài, cũng có nhiều tay thấy đột ngột, sinh nghi tự nghĩ : « Chẳng lẽ nhà vua lại đọc ám tả dễ thế này » ý hẳn còn mánh lới gì nữa ?… Vì thế có cụ vừa bóp trán suy nghĩ vừa viết, và có cụ không viết.
Nhà vua ngồi trên sập ngự vừa đọc vừa mỉm cười. Nhưng nào biết cười ai ? Phải chăng là cười những ngài không viết được chữ nào ?
Viết xong, các quan đệ lên. Lúc đó, những ngài viết được mới chết điếng người ra, không dè, tất cả đều sai bét sai be…
Ở bài thứ nhất, chữ « lý lý đường » là trong vườn mận, « âm dương » là tiếng kêu, « danh quán » là sâu chuỗi, không phải là nhà Lý-Đường, máy âm máy dương, tên Danh tên Quán…
Tức nó là bài thơ « soi ếch » nếu đem dịch nôm có nghĩa :
Vườn mận đêm mưa nước nhợt nhầy,
Thắp đèn soi khắp chỗ kêu đây,
Bắt trên bắt dưới sâu từng chuỗi,
Chặt thủ lột da mấy chã đầy.
Ở bài thứ hai, chữ « tiêu hà » là tàu chuối, lá sen. Phong là gió, Hán là nó, Hàn Tín là tin lạnh, hơi lạnh, Phàn-Khoái là hun đốt, không phải ông Tiêu-Hà, đất Phong, nhà Hán, ông Hàn-Tín, ngươi Phàn-Khoái.
Tức nó là bài thơ « con muỗi » nếu đem dịch Nôm, có nghĩa là :
Bẹ chuối đài sen nổi cánh bay,
Chui vào màn trướng đốt vo vay,
Chẳng cần phải tốn công hun đốt,
Hơi lạnh đòi cơn tẩu tán ngay.
Các ngài nào hạ bút thao thao, bấy giờ mới đỏ mặt lên như Quan-Công uống rượu. Và nhà vua khi chấm mới xếp làm 3 hạng : Hạng kém là hạng nghe đọc hạ bút viết liền. Hạng khá là hạng suy nghĩ rồi mới viết. Còn hạng giỏi là hạng bỏ trắng không viết chữ nào.
Các quan ai nấy đều phục tài chơi chữ của nhà vua. Chơi khăm đến thế, quả không ngờ !
Đó câu chuyện « Không viết được là giỏi » vậy đó.
Kẻ nhắc chuyện này thầm nghĩ cũng phục tài văn chương của vua Tự-Đức như các cụ đương triều đã phục. Nhưng không thích, vì chẳng thấy gì khả dĩ gọi là giúp ích cho quốc gia, dân tộc đang trong lúc dầu sôi lửa bỏng mà vua với các quan đều là những kẻ gánh trách nhiệm.
Than ôi !
Giá phỏng nhà vua giỏi thời vụ, cũng như giỏi văn-chương, biết thử tài thực dụng của các đình thần lúc đó như thử tài văn-chương thì đâu đến nỗi sau này phải ta thán não nề :
Vũ tướng tiêu sầu duy hữu tửu
Văn thần thoái lỗ cánh vô thi.
武將消愁惟有酒
文臣退虜更無詩
Nghĩa là các tướng vũ chỉ biết uống rượu giải buồn, còn các quan văn bảo làm thơ phá giặc, thì chẳng ai nghĩ được bài nào. Khá tiếc lắm vậy thay !