Gần tới ngày cuối tháng Bảy, mọi chuyện đòi hỏi tôi phải có hành động. Dường như sau Chiara, anh có một loạt cotte, say nắng, say nắng ngắn, say nắng một đêm, rồi chơi bời, ai mà biết được. Đối với tôi, tất cả kết đọng lại ở một điều: cái ấy của anh đã tung tăng khắp B. Mỗi cô gái đều đã chạm vào cái của quý của anh. Nó đã giao lưu với biết bao nhiêu là âm đạo, bao nhiêu mồm miệng. Tôi thấy hình dung đó thú vị. Chưa bao giờ tôi buồn bực khi nghĩ tới cảnh anh ở giữa cặp chân một cô gái, cô ta nằm đối mặt anh, đôi vai rộng, rám nắng, lấp lánh của anh cứ lên xuống như tôi đã tưởng tượng vào buổi chiều đó, lúc tôi cũng kẹp chiếc gối của anh giữa chân mình.
Chỉ cần nhìn vào đôi vai anh trong khi anh đang xem bản thảo trong cái thiên đàng của anh là tôi thắc mắc đêm qua đôi vai đó đã ở chốn nào. Mỗi lần anh dịch người, cặp xương bả vai chuyển động thật thoải mái, tự do, và thật vô tư chúng bắt lấy ánh nắng mặt trời. Có phải người đàn bà nằm bên dưới anh đêm qua đã cắn vào, thấy đôi vai đó có vị biển? Hay là vị kem rám nắng của anh? Hay có mùi chăn gối lúc tôi nằm vào?
Tôi ước ao mình có đôi vai như vậy. Có lẽ tôi sẽ không khao khát, nếu tôi có?
Muvi star.
Tôi có muốn giống anh không? Tôi có muốn mình là anh không? Hay tôi chỉ muốn có anh thôi? Hay “hiện hữu” và “sở hữu” là những động từ hoàn toàn sai bét khi nói về mớ bòng bong của sự khao khát, theo đó chuyện có được thân xác một người để mà sờ nắm và chuyện ta là người mà ta khao khát chạm vào là cùng một chuyện, chỉ như đôi bờ một con sông chảy từ ta đến người đó, trở lại ta và rồi trở sang người đó trong vòng mạch vĩnh cửu, trong đó những tâm thất, giống như những cánh cửa lật của khao khát, và những lỗ thông thời gian, và cái ngăn kéo có đáy giả mà ta gọi là nhân thân có cùng một logic lừa dối, tùy thuộc vào đó mà khoảng cách ngắn nhất giữa cuộc đời thực và cuộc đời ta không sống, giữa con người thật của ta và con người ta mong muốn, là một cái cầu thang xoắn xít được thiết kế với sự tàn ác quỷ quái của M. C. Escher. Tự khi nào chúng đã chia rẽ hai ta, anh và tôi, hở Oliver? Và tại sao tôi biết, còn anh lại không? Có phải thân thể anh là cái tôi muốn, khi tôi nghĩ tới cảnh nằm bên cạnh thân thể đó mỗi đêm, hay tôi muốn lẻn vào đó và chiếm lấy cứ như nó là của chính mình, như tôi đã làm khi tôi mặc đồ tắm của anh rồi lại cởi ra, lúc nào cũng thèm muốn, khi tôi chẳng thèm muốn gì hơn trong đời mình vào buổi chiều đó hơn là cảm nhận anh trượt vào trong tôi như thể cả thân người tôi là bộ đồ tắm của anh, nhà của anh? Anh trong tôi, tôi trong anh...
Rồi ngày đó tới. Chúng tôi ở trong vườn, tôi nói với anh về cuốn tiểu thuyết ngắn mà tôi vừa đọc xong.
“Sách về gã hiệp sĩ không biết nên nói hay là chết quách đi. Cậu có kể rồi.”
Rõ là tôi có kể, và đã quên.
“Phải.”
“Thế nào, hắn biết hay là không biết?”
“Nàng bảo, nói ra thì tốt hơn. Nhưng nàng cảnh giác, nàng cảm thấy như có bẫy.”
“Rồi hắn có nói không?”
“Không, hắn lảng tránh.”
“Biết mà.”
Khi đó là ngay sau bữa điểm tâm. Cả hai đều không có hứng làm việc.
“Này, tôi cần vào thị trấn lấy một thứ.”
Một thứ luôn là những trang mới nhất từ người biên dịch.
“Nếu anh muốn thì tôi đi cho.” Anh ngồi im lặng một lát.
“Không, đi chung đi.”
“Bây giờ à?” Thật ra tôi có ý hỏi là, Thật chứ?
“Hở, cậu có gì khác để làm à?”
“Không.”
“Vậy thì đi.” Anh đặt vài trang giấy vào cái ba-lô xanh lá cũ sờn rồi quảy nó lên vai.
Kể từ lần cuối chúng tôi đi xe tới B. , anh chưa từng hỏi tôi đi bất cứ đâu với anh.
Tôi đặt cây viết mực của mình xuống, gập cuốn sổ cải biên nhạc, đặt cái ly còn nửa nước chanh lên trên mớ giấy, vậy là sẵn sàng đi.
Trong lúc ra nhà kho, chúng tôi đi ngang ga-ra.
Như thường lệ, chú Malfredi, chồng dì Mafalda, đang cãi nhau với già Anchise. Lần này chú tố rằng ông đã tưới quá đẫm cây cà chua, như vậy là sai cả, bởi vì cà chua đang lớn nhanh quá. “Rồi cà xanh ẻo cho mà xem,” chú phàn nàn.
“Này, tôi lo cà chua, anh lo lái xe, vậy là vui vẻ cả nhé.”
“Ông không hiểu. Ngày xưa có lúc ông dời mấy cây cà chua từ một chỗ qua chỗ khác, từ chỗ này qua chỗ kia” – chú nhấn mạnh – “rồi ông trồng húng quế gần bên nữa.
À phải rồi, ai từng đi lính thì biết tuốt. ”
“Đúng đấy.” Già Anchise phớt lờ.
“Tất nhiên tôi đúng. Cho nên họ giữ ông lại trong quân đội làm gì.”
“Đúng luôn. Họ không giữ tôi lại trong quân đội.”
Cả hai chào chúng tôi. Ông thợ vườn trao chiếc xe đạp cho Oliver. “Tối qua tôi nắn thẳng lại bánh xe, cũng tốn chút công. Tôi còn bơm thêm hơi vào lốp nữa.” Chú Malfredi cáu hết chỗ nói.
“Từ rày trở đi, tôi sửa bánh xe, còn ông trồng cà chua,” chú tài xế bực tức.
Già Anchise cười nhăn nhở. Oliver cười lại.
Khi tới lối đi bên hàng cây bách dẫn vào con đường chính ra thị trấn, tôi hỏi Oliver, “Ông ấy không làm anh rờn rợn sao?”
“Ai?”
“Già Anchise.”
“Không, sao chứ? Bữa nọ lúc về tôi bị ngã, trầy xước khá nặng. Ông Anchise bắt tôi uống thứ rượu phù thủy gì đó, còn sửa xe cho tôi nữa.”
Một tay trên thanh ghi-đông, anh nhấc áo lên, để hở ra một vết xước lớn cùng mảng bầm bên hông trái.
“Vậy mà tôi vẫn rờn rợn,” tôi nói, lặp lại nhận định của người cô.
“Chỉ là một linh hồn lạc lối thôi mà.”
Tôi những muốn chạm vào, mân mê, tôn thờ vết xước ấy.
Trên đường đi, tôi nhận thấy Oliver đang thong thả. Anh không vội, không phi nhanh, không chia đoạn con đồi ra với lòng hăng hái của vận động viên như thường lệ. Có vẻ anh cũng chẳng vội gì trở về với công việc giấy tờ, hay gặp bạn trên bãi biển, hay bỏ tôi, như thường lệ. Có lẽ anh chẳng có gì hay hơn để làm. Đây là giây phút tôi ở thiên đàng. Tôi còn trẻ tuổi, tôi biết điều ấy sẽ không được lâu, và tôi nên tận hưởng thực tại chứ đừng phá hỏng bằng giải pháp thường là kỳ cục nhằm để thắt chặt tình bạn giữa chúng tôi hoặc đẩy nó lên một trạng thái khác. Sẽ không bao giờ có tình bạn, tôi nghĩ, lúc này không là gì cả, chỉ là một phút ân huệ mà thôi. Zwischen Immer und Nie. Giữa luôn luôn và không bao giờ. Celan.
Khi chúng tôi tới quảng trường trông ra biển, Oliver dừng để mua thuốc lá. Anh đã bắt đầu hút Gauloise. Tôi chưa từng thử Gauloise, nên hỏi anh cho thử. Anh lấy một que diêm ra khỏi hộp, cúp tay lại sát cận mặt tôi rồi châm điếu thuốc. “Không tệ, nhỉ? ”
“Không tệ chút nào.” Tôi nghĩ, những điếu thuốc này sẽ nhắc tôi nhớ về anh, nhớ về ngày hôm nay, chợt nhận ra rằng chưa đầy một tháng nữa anh sẽ hoàn toàn biến mất không dấu vết.
Đây rất có thể là lần đầu tiên tôi cho phép mình đếm số ngày anh còn ở lại B.
“Nhìn mà xem này,” anh nói trong lúc chúng tôi dắt xe bước thong thả dưới mặt trời giữa buổi sáng về phía rìa quảng trường trông xuống những ngọn đồi nhấp nhô bên dưới.
Xa hơn bên dưới là cảnh biển tuyệt vời, chỉ có vài dải bọt đánh dấu bờ vịnh như những con cá heo khổng lồ phá những cơn sóng vỗ. Một chiếc xe buýt tí hon đang bò lên dốc, trong khi ba người đi xe máy mặc đồng phục tụt lại đằng sau nó, hẳn là đang cằn nhằn vì hửi khói. “Chắc cậu biết lời đồn về người chết đuối gần chỗ đây,” anh nói. “Shelley.”
“Chắc cậu cũng biết người vợ Mary cùng thân hữu đã làm gì khi tìm thấy xác ông?”
“Cor cordium, tim của những trái tim,” tôi đáp, ý nói tới giây phút một thân hữu nắm lấy trái tim của Shelley trước khi lửa hoàn toàn phủ trùm thi thể trương phình của ông đang được hỏa táng trên bờ biển. Tại sao anh lại bóp chặt trái tim tôi?
“Sao cái gì cậu cũng biết hết vậy?”
Tôi nhìn anh. Đây là khoảnh khắc của tôi. Tôi có thể nắm lấy nó hoặc để mất nó, nhưng dù chọn cách nào thì tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ vượt qua được. Hoặc tôi có thể hả hê vì lời khen của anh – nhưng rồi sống hối tiếc mọi điều khác. Đây có lẽ là lần đầu trong đời tôi nói chuyện với một người lớn mà không tính trước điều mình sắp nói. Tôi quá căng thẳng, chẳng tính toán được gì.
“Tôi không biết gì cả, Oliver. Không gì hết.”
“Cậu biết nhiều hơn bất kỳ ai trong vùng này.”
Tại sao anh đáp lại giọng điệu gần như bi kịch của tôi bằng một câu tâng bốc nhạt thếch như vậy?
“Giá mà anh biết rằng tôi biết rất ít về những điều thật sự quan trọng.”
Tôi đang đi xuống nước, không phải để chìm hay để bơi vào chốn an toàn, chỉ là đứng yên chỗ, bởi vì sự thật là thế này – ngay cả khi tôi không thể nói ra sự thật hoặc gợi ý về nó, tôi dám thề là nó nằm quanh chúng tôi thôi, giống như cách ta nói về một cái vòng cổ rớt mất khi ta bơi: Tôi biết nó ở đâu đó dưới kia. Ước gì anh biết, giá mà anh biết được rằng tôi đang cho anh cơ hội để suy ra từ những điều đã biết, và hiểu được tất cả.
Nhưng nếu anh hiểu thì hẳn anh đã nghi ngờ, và nếu anh nghi ngờ thì chính anh đã đến đó, nhìn tôi từ một đường song song bằng ánh mắt sắt đá, thù địch, trong veo, sắc sảo và biết tuốt.
Hẳn anh đã phát hiện ra gì đó, dù chỉ có trời mới biết là gì. Có lẽ anh đang cố tỏ ra điềm nhiên.
“Những điều gì mới quan trọng?”
Có phải anh đang không thành thật?
“Anh biết điều gì mà. Tới lúc này thì hơn ai hết, anh nên biết mới phải.” Im lặng.
“Tại sao cậu nói với tôi tất cả những chuyện này?”
“Bởi tôi nghĩ anh nên biết.”
“Bởi cậu nghĩ tôi nên biết.” Anh chậm rãi nhắc lại câu đó, cố hiểu trọn nghĩa, cứ lật đi lật lại, lần lữa bằng cách lặp lại những chữ ấy. Tôi biết là tình thế đang gay go.
“Bởi vì tôi muốn anh biết,” tôi buột miệng. “Bởi vì tôi chỉ có thể nói với một mình anh thôi, không ai khác.” Đó, tôi nói ra rồi.
Lời ấy có ý nghĩa chăng?
Tôi sắp sửa cắt lời và đánh trống lảng bằng cách nói gì đó về biển, về thời tiết ngày mai và có nên đi thuyền tới E. như cha tôi hứa hẹn vào thời điểm này mỗi năm.
Nhưng thừa biết là anh không tha cho tôi.
“Cậu biết cậu đang nói gì không?”
Lần này tôi nhìn ra biển, bằng một giọng mơ hồ và mệt mỏi là sự đánh lạc hướng, chốn ẩn náu, đường thoát duy nhất của mình, nói rằng, “Vâng, tôi biết mình đang nói gì, và anh không nhầm lẫn một chút gì cả. Tôi không giỏi mấy chuyện ăn nói. Nhưng anh định không bao giờ nói với tôi nữa cũng không sao.”
“Khoan. Cậu nói điều mà tôi nghĩ cậu đang nói đó à?”
“Vâ-âng.” Vì tôi đã thốt ra điều bí mật, tôi có thể dùng đến cái kiểu cách thoải mái và hơi cáu tiết mà một tên tội phạm vốn đã đầu thú cảnh sát lại thú tội lần nữa với một viên cảnh sát khác nữa chuyện hắn đã cướp cửa tiệm như thế nào.
“Chờ tôi đây nhé, tôi phải lên lầu lấy vài giấy tờ. Đừng đi đâu.”
Tôi nhìn anh và cười cả tin.
“Anh biết rõ là tôi sẽ không đi đâu cả.”
Tôi nghĩ, nếu đó không phải là một lời thú nhận thì còn là gì nữa?
Trong khi chờ, tôi dắt cả hai chiếc xe về phía đài tưởng niệm chiến tranh tôn vinh những thanh niên của thị trấn đã hi sinh trong trận chiến Piave hồi thế chiến thứ nhất. Mỗi thị trấn nhỏ ở nước Ý đều có một đài tưởng niệm tương tự. Hai chiếc xe buýt nhỏ vừa dừng gần đó và thả khách xuống – những bà cụ trọng tuổi tới từ làng mạc lân cận để mua sắm trong thị trấn. Quanh quảng trường nhỏ, người già gồm hầu hết là đàn ông ngồi trên những chiếc ghế nhỏ ọp ẹp, lưng bọc cói hoặc trên ghế băng công viên, mặc những bộ đồ tẻ nhạt, cũ kỹ màu xám. Tôi tự hỏi có bao nhiều người nơi đây còn nhớ về những thanh niên đã chết đi trên dòng Piave. Nếu biết họ thì bạn phải chí ít là tám mươi tuổi. Và ít nhất là một trăm tuổi, có khi hơn, để lớn tuổi hơn họ ngày ấy. Ở tuổi bách niên, chắc hẳn bạn học được cách vượt qua mất mát và đau khổ – hay những điều đó vẫn săn đuổi bạn cho tới tận phút chót? Trăm tuổi, anh chị em quên, các con trai quên, những người thân thương quên, không ai còn nhớ bất cứ gì, kể cả những ai cõi lòng tan nát nhất cũng quên nhớ nốt. Những bậc cha mẹ đã khuất bóng từ lâu. Hãy còn ai nhớ?
Một ý nghĩ vụt đến: Liệu con cháu tôi sẽ biết được những lời trên chính quảng trường này hôm nay chăng? Liệu có ai biết không? Hay lời nói sẽ tan vào thinh không như một phần trong tôi muốn vậy? Liệu đám con cháu ấy có biết số phận của chúng gần kề vực thẳm thế nào vào hôm nay trên quảng trường này? Ý nghĩ thú vị ấy cho tôi khoảng cách cần thiết để đối diện với phần còn lại của ngày hôm nay.
Sau ba mươi, bốn mươi năm nữa, tôi sẽ trở lại đây, hồi tưởng về cuộc trò chuyện tôi biết mình sẽ không bao giờ quên, dù ngày nào đó tôi có muốn quên đến mức nào đi nữa. Tôi sẽ tới đây với vợ tôi, con tôi, cho họ thấy phong cảnh, chỉ ra vịnh, những quán cà phê trong vùng, Le Danzing, và khách sạn Grand. Rồi tôi sẽ đứng đây, đòi bức tượng cùng những chiếc ghế lưng bọc cói cũng như những chiếc bàn gỗ lung lay nhắc tôi nhớ về người có tên Oliver.
Lúc trở lại, câu đầu tiên anh thốt ra là, “Mụ Milani ngốc ngếch đó lẫn trang, nên phải gõ lại toàn bộ. Chiều nay tôi không có gì để mà làm, chậm cả một ngày trời.”
Đến lượt anh viện cớ để đánh trống lảng. Tôi có thể để anh thoát nếu anh muốn. Chúng tôi có thể nói về biển, về dòng Piave, hoặc những triết đoạn của Heraclitus, ví dụ như “Thiên nhiên ưa thích trốn tránh” hay “Tôi đi tìm bản thể mình.” Và nếu không phải những điều ấy thì còn chuyến đi tới E. mà chúng tôi đã bàn bạc nhiều ngày qua. Còn có một đoàn nhạc thính phòng có thể tới bất cứ ngày nào.
Trên đường, chúng tôi đi qua một cửa hiệu mẹ tôi vẫn đặt mua hoa. Khi còn nhỏ tôi thích ngắm cái cửa kính ở mặt trước luôn có một màn nước chảy xuống chầm chậm khiến cho cửa hiệu trở nên thần tiên, bí ẩn, điều này gợi cho tôi nhớ tới những cảnh trong phim khi màn ảnh mờ đi báo hiệu sự hồi tưởng.
“Ước gì tôi chưa nói ra,” rốt cuộc tôi nói.
Tôi biết ngay khi nói vậy mình đã phá vỡ điều màu nhiệm mong manh giữa chúng tôi.
“Tôi sẽ vờ là cậu chưa bao giờ nói.”
Chà, đó là một cách đối đãi mà tôi chưa từng mong ở một con người ổn thỏa đến vậy với thế gian. Tôi chưa từng nghe một câu như thế trong ngôi nhà mình.
“Ý anh là chúng ta vẫn có thể nói chuyện – nhưng không hẳn?”
Anh ngẫm nghĩ.
“Này, chúng ta không thể nói những chuyện như vậy.
Thật sự không thể.”
Anh quàng túi lên người, rồi chúng tôi đi xuống đồi.
Mười lăm phút trước tôi trong trạng thái đau khổ cùng cực, đầu óc tôi quay cuồng, tâm tư bầm dập, tả tơi, bị nghiền nát như trong chiếc cối giã của dì Mafalda, tất cả tan ra cho đến khi ta chẳng thể phân biệt nổi sợ hãi và tức giận hay một tí ti ham muốn. Nhưng khi ấy hãy còn gì để mà mong mỏi. Bây giờ chúng tôi đã ngửa hết bài, sự bí ẩn, nỗi hổ thẹn đã qua, nhưng đồng thời niềm hi vọng không lời vốn giữ cho mọi thứ sống động mấy tuần qua cũng đã biến mất.
Giờ đây chỉ còn phong cảnh và khí hậu có thể nâng đỡ tinh thần tôi. Còn có chuyến đi cùng nhau dọc con đường vắng, lúc này trong ngày chỉ có mỗi chúng tôi, và đến nơi mặt trời bắt đầu dội từng vệt nắng lên đường những chỗ không có cây cối. Tôi bảo anh theo tôi, tôi sẽ chỉ anh một chỗ mà hầu hết khách du lịch cũng như người lạ chưa từng thấy qua.
“Nếu anh có thì giờ,” tôi nói thêm, lần này không muốn tỏ ra thúc bách.
“Tôi có thì giờ,” anh nói mà trong giọng có chút mập mờ êm dịu, cứ như anh thấy lời tôi khéo một cách cường điệu nên thành ra hơi khôi hài. Nhưng có lẽ đây chỉ là một nhượng bộ nhỏ để đền bù chuyện không bàn về vấn đề trước mắt.
Chúng tôi rẽ khỏi đường lớn, hướng về rìa vách đá.
“Đây,” tôi nói như mở đầu một lời giới thiệu nhằm khiến anh quan tâm, “là nơi Monet đến để vẽ.”
Những cây cọ tí hon, còi cọc cùng những cây ô-liu cong vẹo rải rác khắp trảng xanh. Rồi xuyên qua cây cối, trên một lối dốc nhỏ dẫn ra ngay rìa vách đá là một cái gò, phần nào được phủ bóng bởi những nhành thông. Tôi tựa xe vào một cái cây, anh cũng vậy, rồi tôi chỉ anh lối lên gò. “Giờ hãy nhìn mà xem,” tôi nói, cực kỳ hài lòng, như thể đang tiết lộ điều gì hùng hồn hơn bất cứ gì tôi có thể nói trong lúc cao hứng.
Một vịnh nhỏ tĩnh lặng, yên bình nằm bên dưới tầm mắt chúng tôi. Không một dấu hiệu nào của nền văn minh quanh đây, không nhà, không cầu tàu, không thuyền câu. Xa hơn luôn là những đường nét của N. , và xa hơn nữa dường như là ngôi nhà của chúng tôi cùng những biệt thự kế cận, nơi Vimini sống, và nhà của gia đình Moreschi, họ có hai đứa con gái mà Oliver rất có thể đã ngủ cùng, một mình hay cả hai, ai mà biết được, lúc này ai mà quan tâm.
“Đây là nơi của tôi. Hoàn toàn của riêng tôi. Tôi tới đây để đọc. Tôi không đếm xuể những cuốn sách mà tôi đã đọc ở đây.”
“Cậu thích ở một mình à?” Anh hỏi.
“Không. Đâu ai thích ở một mình. Nhưng tôi đã học cách chịu đựng điều đó.”
“Lúc nào cậu cũng khôn ngoan đến thế sao?” Anh hỏi. Có phải anh sắp sửa lên giọng bề trên trước khi thuyết giảng, để rồi cũng vào hùa với mọi người bảo tôi nên ra ngoài nhiều hơn, kết bạn nhiều hơn, và nếu đã kết bạn thì đừng có ích kỷ với họ quá? Hay đây là mở đầu cho anh nhận vai trò bác sĩ trị điênbạn-hữu-tạm-thời-của-giađình? Hay một lần nữa tôi lại hoàn toàn hiểu sai anh?
“Tôi chẳng khôn ngoan gì cả. Nói với anh rồi mà, tôi đâu biết gì. Chỉ biết sách, và cách xâu chữ nghĩa lại với nhau – như vậy đâu có nghĩa là tôi biết nói về những gì quan trọng nhất với mình.”
“Nhưng giờ cậu đang nói đó thôi – theo một cách nào đó.”
“Ừa, theo một cách, đó là cách tôi luôn nói về mọi chuyện: theo một cách nào đó.”
Trông ra ngoài khơi để khỏi nhìn anh, tôi ngồi xuống cỏ và để ý anh đang nhón chân nhích đi một vài mét khỏi tôi, cứ như anh sẽ đứng phắt dậy rồi trở lại chỗ để xe bất cứ lúc nào.
Trong tôi chưa hề có ý nghĩ rằng tôi đưa anh tới đây không chỉ để cho anh thấy thế giới nhỏ của tôi, mà cũng để thế giới nhỏ của tôi cho anh vào, sao cho nơi tôi đến để được một mình vào những chiều hè cũng làm quen với anh, xét đoán anh, xem anh có hợp không, đón nhận anh vào, sao cho tôi có thể trở lại đây mà nhớ nhung. Nơi đây tôi sẽ tới để thoát khỏi thế gian và tìm kiếm một thế giới mình tự sáng tạo nên; tôi đơn giản là giới thiệu anh với điểm xuất phát của mình. Tôi chỉ cần nêu ra danh sách tác phẩm tôi đã đọc ở đây, thế là anh sẽ biết tất cả những nơi tôi đã đi tới.
“Tôi thích cách cậu nói chuyện. Sao cậu luôn tự hạ thấp mình vậy?”
Tôi nhún vai. Có phải anh đang chỉ trích tôi vì tôi chỉ trích chính mình?
“Tôi không biết. Có lẽ để anh khỏi làm vậy.”
“Cậu sợ chuyện người khác nghĩ gì đến mức đó sao?”
Tôi lắc đầu. Nhưng tôi không biết câu trả lời. Hoặc có lẽ lời đáp rõ ràng tới nỗi tôi chẳng cần thốt lên. Những giây phút thế này khiến tôi cảm thấy mình rất đỗi dễ tổn thương, rất đỗi trần trụi. Hãy thúc ép tôi, khiến tôi căng thẳng, và trừ khi tôi thúc ép lại anh, anh đã hiểu ra tôi rồi đó. Không, tôi chẳng có gì để đáp lại. Nhưng tôi cũng không nhúc nhích. Ý định bốc đồng của tôi là để anh chạy xe về nhà một mình. Còn tôi sẽ về sau, kịp giờ bữa trưa.
Anh đang chờ tôi nói điều gì. Anh nhìn tôi chằm chằm.
Tôi nghĩ, đây là lần đầu mình thách thức bản thân nhìn lại anh. Thường thì tôi chỉ liếc một cái rồi nhìn đi chỗ khác, bởi tôi không muốn chơi vơi trong ánh mắt đáng yêu, trong vắt của anh trừ khi mình được mời đón, và tôi không bao giờ chờ đủ lâu để biết được người ta có muốn mình nhìn không; nhìn lảng đi bởi tôi quá sợ hãi nhìn lại ai đó; nhìn lảng đi bởi tôi không muốn để lộ điều gì; nhìn lảng đi bởi tôi không thể xác thực là anh có ý nghĩa thế nào. Nhìn lảng đi bởi ánh mắt sắt đá của anh luôn khiến tôi nhớ lại anh cao ngạo đến thế nào, và tôi đứng cách xa bên dưới anh đến mức nào. Giờ đây trong phút giây im lặng, tôi nhìn lại, không phải để thách đố anh hay để chứng tỏ tôi không còn ngượng ngùng nữa, mà là để đầu hàng, để nói anh biết đây là con người tôi, đây là con người anh, đây là điều tôi muốn, giờ đây giữa chúng mình không có gì khác ngoài sự thật, và nơi sự thật thì không có rào cản nào, không có cái liếc lừa dối nào, và nếu đã vậy không có gì xảy ra, hãy đừng bao giờ nói rằng có ai đó trong chúng tôi không biết điều có thể xảy ra. Tôi chẳng còn hi vọng nào sót lại. Và có lẽ tôi nhìn lại bởi giờ đây chẳng còn gì để mà mất. Tôi nhìn lại với ánh mắt biết-tuốt, tôi-thách-anh-hôn-tôi của một người vừa thách thức vừa trốn chạy trong cùng một cử chỉ.
“Cậu đang làm khó tôi quá.”
Có lẽ nào anh đang nói tới chuyện nhìn nhau đăm đăm?
Tôi không lùi bước. Anh cũng không. Vâng, anh đang nói tới cái nhìn của hai đứa.
“Tại sao tôi lại làm khó?”
Tim tôi đập quá nhanh nên nói chẳng được liền lạc nữa. Thậm chí tôi cũng chẳng ngại cho anh thấy tôi đỏ mặt tới mức nào. Vậy thì cứ để anh thấy, cứ để anh.
“Vì như vậy sẽ rất sai trái. ”
“Sẽ?” Tôi hỏi.
Vậy, phải chăng đã có một tia hi vọng?
Anh ngồi xuống cỏ, rồi nằm ngửa ra, gác tay gối đầu trong khi nhìn lên bầu trời.
“Phải, sẽ. Tôi sẽ không làm bộ là chuyện này chưa từng nảy ra trong đầu tôi.”
“Tôi sẽ là người biết sau cùng.”
“Thì nảy ra rồi. Chứ khi nãy, cậu nghĩ chuyện gì đã xảy ra?”
“Xảy ra?” Tôi lóng ngóng thốt lên như hỏi. “Không có gì.” Tôi nghĩ thêm chút nữa. “Không có gì,” tôi lặp lại như thể điều tôi vừa lờ mờ bắt được một điều gì đó vô định tới nỗi nó có thể bị gạt đi bằng cái “không có gì” tôi lặp lại và do đó lấp vào khoảng trống im lặng đớn đau. “Không gì cả.”
“Tôi hiểu,” rốt cuộc anh đáp. “Bạn tôi ơi cậu hiểu lầm rồi,” giọng anh có vẻ kẻ cả quở trách. “Nếu nó làm cậu thấy tốt lên chút nào thì tôi phải kềm lại. Đến lúc cậu cũng phải học rồi.”
“Điều tốt nhất tôi làm được là giả vờ không quan tâm.”
“Cái đó thì chúng ta đã biết cũng lâu lâu rồi,” anh độp lại tức khắc.
Tôi tan nát. Tất cả những lần khi tôi nghĩ mình đang khinh khi anh bằng cách cho thấy rất dễ để mà lờ tịt anh đi trong vườn, trên bao lơn, ở bãi biển, anh đã luôn nhìn thấu tôi và xem động thái của tôi là dấu hiệu điển hình của tính cáu bẳn.
Lời thú nhận của anh dường như mở ra mọi ngả kênh đào giữa chúng tôi, chính xác là thứ đã đánh đắm mọi hi vọng mới nhú của tôi. Từ đây chúng tôi đi tới đâu được chứ? Còn gì để nói thêm nữa? Và lần sau chúng tôi giả vờ không nói nhưng không còn chắc là băng giá giữa chúng tôi vẫn còn là vờ vịt, thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Chúng tôi nói một chốc nữa, rồi cuộc trò chuyện vãng đi. Bởi đã ngửa hết bài trên bàn, cảm giác như cuộc tán chuyện vu vơ.
“Vậy ra đây là chỗ Monet tới để vẽ.”
“Về nhà tôi cho anh xem. Nhà tôi có một cuốn sách có những bản sao tuyệt vời phong cảnh quanh vùng này.”
“Vâng, cậu cho tôi xem mới được.”
Anh đang làm như một người học kịch trịch thượng dự bị thế vai. Tôi ghét điều đó.
Tựa người trên cánh tay, cả hai chúng tôi thả ánh mắt vào quang cảnh.
“Cậu là đứa con may mắn nhất trần đời,” anh nói.
“Anh không biết gì đâu.”
Tôi để anh suy tư về lời tôi. Rồi có lẽ để lấp đi sự im lặng đang trở nên không chịu được nữa, tôi buột miệng, “Nói vậy thì rất sai.”
“Hở? Về gia đình cũng sai?”
“Cũng sai.”
“Sống ở đây suốt mùa hè, đọc sách một mình, gặp gỡ mấy tên hầu việc mà bữa ăn nào bố cậu cũng tìm cho bằng được vào bàn mà không may à?” Anh lại đang giễu cợt tôi.
Tôi cười mỉm. Không, không phải cái đó.
Anh ngừng một lúc.
“Ý cậu là chúng ta.” Tôi không đáp lại.
“Vậy thì xem nào...” Và tôi chưa kịp gì thì anh đã lén tới bên cạnh. Chúng tôi quá gần nhau, tôi nghĩ, tôi chưa từng gần anh tới vậy trừ khi trong giấc mơ hoặc khi anh cúp tay châm thuốc hút cho tôi. Anh mà đưa tai lại gần thêm nữa là nghe tiếng tim tôi đập. Tôi đã thấy chuyện được viết trong tiểu thuyết nhưng chưa từng tin, tới lúc này. Anh nhìn thẳng vào mặt tôi, như thể anh thích gương mặt tôi và muốn ngắm nghía nó và để kéo dài việc ấy anh đưa ngón tay cầm lấy môi dưới của tôi rồi đưa sang trái sang phải rồi phải rồi trái nhiều lần trong khi tôi nằm đó, nhìn anh cười, nụ cười làm tôi sợ rằng bất cứ gì cũng có thể xảy ra lúc này và chẳng còn thể quay lại được nữa, sợ rằng đây là cách anh hỏi và đây là cơ hội để tôi từ chối hoặc nói gì đó và chần chừ, để tôi vẫn có thể đấu tranh với chính bản thân mình, bởi chuyện đã đến mức này – ngoại trừ việc tôi chẳng còn thời gian nữa, bởi anh đã áp môi vào miệng tôi, một cái hôn ấm áp, hòa giải kiểu tôi-sẽ-gặp-cậu-ở-giữa-chặngđường-không-hơn cho tới khi anh nhận ra sự đáp lại của tôi nghèo nàn tới mức nào. Tôi ước gì mình biết hôn như anh. Nhưng đam mê cho phép chúng tôi che giấu nhiều hơn, và giây phút ấy ở gò vẽ của Monet, nếu tôi có ước ao che giấu tất cả mọi thứ về bản thân trong nụ hôn ấy, tôi cũng quá mong quên nó đi bằng cách chìm đắm vào nó.
“Khá hơn chứ?” Sau đó anh hỏi.
Tôi không trả lời, nhưng ngẩng mặt lên ngang mặt anh và hôn anh lần nữa, gần như cuồng dại, không phải bởi vì tôi tràn đầy đam mê hay thậm chí vì nụ hôn của anh vẫn thiếu cái nhiệt tình mà tôi tìm kiếm, nhưng bởi tôi không chắc nụ hôn ấy đã thuyết phục tôi tin vào bất cứ gì về bản thân mình. Thậm chí tôi không chắc được là mình đã thích nó nhiều như mong đợi, và cần phải thử lần nữa, để kiểm tra lại bài kiểm tra bằng hành động của mình. Tâm trí tôi chuyển sang nghĩ tới những điều thế tục nhất. Phủ nhận nhiều vậy sao? Một môn đệ tầm thường của Freud hẳn sẽ nhận thấy. Tôi dìm tắt những nghi ngờ của mình bằng một cái hôn còn thô bạo hơn nữa. Tôi không muốn đam mê, tôi không muốn lạc thú. Có lẽ tôi thậm chí chẳng cần bằng chứng. Và tôi không muốn lời nào, chuyện vu vơ, chuyện nghiêm chỉnh, chuyện xe, chuyện sách, bất cứ gì. Chỉ có mặt trời, cỏ, làn gió biển thoảng khi cùng mùi của anh tỏa ra từ ngực và nách. Hãy lột trần, chiếm lấy tôi, và làm tôi đảo lộn hết cả, cho đến khi tôi hòa làm một với dục vọng của anh như một nhân vật trong thơ Ovid, đó là điều tôi muốn. Hãy đưa tôi khăn bịt mắt, nắm tay tôi, và đừng bảo tôi suy nghĩ – anh sẽ làm vậy vì tôi chứ?
Tôi không biết tất cả những chuyện này sẽ dẫn tới đâu, nhưng tôi đang đầu hàng anh từng chút một và hẳn là anh biết, bởi tôi cảm nhận được rằng anh vẫn giữ khoảng cách giữa chúng tôi. Ngay cả khi má áp má, thân thể kề nhau. Tôi biết rằng giờ đây mình có làm gì, cử động thế nào có thể phá đi sự hài hòa hiện tồn. Cảm nhận được rằng sau cái hôn sẽ không có gì tiếp diễn, tôi bắt đầu thử rời môi ra. Nhưng tôi lại nhận ra khi mình bắt đầu rứt ra thì lại rất không muốn dừng. Tôi muốn có lưỡi anh trong miệng mình và lưỡi tôi trong miệng anh – bởi vì sau nhiều tuần lễ ròng, sau bao nhiêu là giận hờn và thất thường mà mỗi lần lại dẫn tới băng giá, tất cả những gì chúng tôi đã trở thành chỉ là hai cái lưỡi ướt đẫm mò mẫm trong miệng nhau. Chỉ là hai cái lưỡi, tất cả mọi thứ khác đều vô nghĩa. Rồi rốt cuộc tôi nhấc một bên gối và di về phía anh để đối mặt anh, tôi biết mình đã phá hỏng thời khắc kỳ diệu ấy.
“Mình nên đi về thôi.”
“Chưa đâu.”
“Mình không làm thế này được – tôi biết mình. Cho tới giờ chúng ta đã cư xử đàng hoàng. Chúng ta đã hòa thuận. Không ai trong chúng ta đã làm bất cứ gì đáng hổ thẹn. Hãy giữ như thế. Tôi muốn mọi chuyện được tốt đẹp.”
“Đừng hổ thẹn. Tôi không quan tâm. Ai mà biết được chứ?”
Trong phút giây tuyệt vọng tôi làm một việc mà nếu anh không hồi đáp thì tôi mang nhục mãi: tôi chìa tay ra rồi đặt lên đũng quần anh. Anh không nhúc nhích. Lẽ ra tôi nên thọc bàn tay vào trong chiếc quần ngắn của anh. Hẳn anh đoán được ý định của tôi. Rất bình tĩnh, anh nhẹ nhàng nhưng cũng khá lạnh lùng đặt tay lên tay tôi một giây, rồi đan ngón tay vào ngón tay tôi để gỡ bàn tay tôi ra.
Giữa hai chúng tôi có một lúc im lặng không thể chịu nổi.
“Tôi xúc phạm anh à?”
“Đừng vậy.”
Nghe có chút giống Gặp sau! lần đầu tôi nghe vài tuần trước – chua cay, cụt lủn, chẳng chút gì hào hứng, chẳng có chút hương vị nào của niềm vui hay đam mê mà chúng tôi vừa có với nhau. Anh đưa tay để giúp tôi đứng dậy.
Bỗng nhiên anh nhăn mặt.
Tôi nhớ tới vết xước bên hông anh.
“Tôi nên chắc là nó không bị nhiễm trùng.”
“Mình ghé chỗ bán thuốc trên đường về.”
Anh không đáp. Nhưng đó gần như là điều tỉnh táo nhất mà chúng tôi có thể nói. Nó cho thế giới thực xâm phạm ào ào vào cuộc sống chúng tôi – già Anchise, chiếc xe đạp được sửa, cuộc cãi vã liên quan tới những trái cà chua, cuốn sổ cải biên nhạc bị bỏ lại vội vã dưới ly nước chanh, dường như tất cả đã lâu lắm rồi.
Thật vậy, trong lúc đạp xe rời chỗ của tôi, chúng tôi thấy hai chiếc xe khách du lịch đi về hướng nam tới N.
Hẳn là đã gần giữa trưa.
“Mình sẽ không bao giờ nói chuyện nữa,” tôi nói trong lúc chúng tôi thả xuống con dốc bất tận, gió mơn man trên tóc.
“Đừng nói vậy chứ.”
“Tôi biết mà. Mình sẽ tán vu vơ. Vu vơ, vu vơ thôi. Chỉ có vậy. Mà chuyện buồn cười là tôi có thể bơ nó đi. ”
“Cậu nói vần thì có,” anh bảo.
Tôi thích cách anh đùa bỡn với tôi.
Hai giờ sau lúc ăn trưa, tôi tự cho mình mọi bằng chứng tôi cần để chứng tỏ là tôi sẽ không bao giờ bơ đi mà sống được.
Gần tới món tráng miệng, trong khi dì Mafalda đang gom đĩa, mọi người đang chú ý tới cuộc trò chuyện về Jacopone da Todi, tôi cảm thấy một bàn chân trần âm ấm thản nhiên cạ vào bàn chân mình.
Tôi nhớ rằng ở gò vẽ, lẽ ra tôi nên nắm lấy cơ hội để xem da bàn chân anh có mịn màng như tôi tưởng tượng không. Giờ là cơ hội duy nhất tôi có được.
Có lẽ bàn chân tôi đi lạc và chạm vào anh. Tôi rụt lại, không phải tức thì, nhưng đủ sớm, như thể nó đã chờ một khoảng thời gian vừa phải để không gây ấn tượng là đã rụt lại vì hoảng sợ. Tôi cũng chờ thêm vài giây nữa, rồi không dự tính thế nào, để cho bàn chân mình bắt đầu kiếm tìm bàn chân nọ. Tôi vừa bắt đầu tìm nó thì ngón chân bỗng đâm bổ vào bàn chân anh; bàn chân anh không hề nhúc nhích, giống như một con tàu hải tặc tỏ dấu hiệu là đã bỏ chạy nhiều dặm nhưng thực ra đang nấp trong màn sương chỉ cách đâu năm mươi thước, chực chờ tấn công thình lình khi cơ hội xuất hiện. Tôi chẳng có đủ thời gian để làm gì với bàn chân mình, không có thời gian để nhích chân về phía anh hay nghỉ ở khoảng cách an toàn lần nữa thì bỗng nhiên bàn chân anh đặt lên bàn chân tôi nhẹ nhàng và bắt đầu mơn trớn nó, chà vào nó không ngừng, cái gót tròn mềm mịn của chân anh cố định bàn chân tôi, thi thoảng ấn mạnh xuống nhưng rồi lại nhẹ đi, ngón chân lại mơn trớn, chứng tỏ từ lúc đầu trò này là để vui chơi thôi, bởi vì đây là cách anh thôi giúp sức cho các khách hầu việc bữa trưa đang ngồi đối mặt chúng tôi, đồng thời cũng cho tôi biết rằng chuyện này không liên quan gì đến kẻ khác và nên được giữ kín giữa chúng tôi, bởi vì đây là chuyện của chúng tôi, nhưng tôi không nên suy diễn quá xa thực tế. Cử động mơn trớn thầm lặng và ngoan cố nơi anh khiến tôi lạnh xương sống. Một cơn chóng mặt thình lình chộp lấy tôi. Không, tôi không phải sắp khóc, đây không phải cơn hoảng loạn, cũng không phải “cơn xỉu,” và tôi cũng không xuất tinh trong quần, dù rằng tôi đang rất rất hưng phấn, nhất là khi vòm gan bàn chân anh nằm trên bàn chân tôi. Nhìn xuống đĩa tráng miệng của mình thì thấy miếng bánh sô-cô-la lốm đốm nước sốt mâm xôi, dường như ai đó đang rưới càng lúc càng nhiều sốt đỏ hơn bình thường, và nước sốt kia dường như rơi xuống từ trần nhà trên đầu tôi cho tới khi tôi chợt nhận ra là nó đang chảy ra từ mũi mình. Tôi thở hổn hển, nhanh tay vò khăn ăn lên chặn mũi, ngửa đầu ra sau hết mức có thể. “Dì Mafalda, ghiaccio, nước đá, per favore, presto, làm ơn mau mau” tôi nói từ tốn để chứng tỏ tôi đang hoàn toàn tự chủ tình huống. “Sáng nay tôi lên đồi bị trúng gió. Chuyện bình thường ấy mà,” tôi nói để xin lỗi khách khứa.
Một loạt tiếng động vang lên khi mọi người chạy ra chạy vào phòng ăn. Tôi đã nhắm mắt, cứ nhắc đi nhắc lại với mình là tự chủ lại đi. Đừng để thân thể làm lộ hết mọi chuyện.
“Có phải tại tôi không?” Anh hỏi lúc bước vào phòng ngủ của tôi sau bữa trưa.
Tôi không đáp. “Tôi thật chẳng ra làm sao, phải không?”
Anh mỉm cười, không nói gì.
“Ngồi xuống chút đi.”
Anh ngồi xuống góc xa chiếc giường. Anh sắp đi thăm một người bạn bị thương phải cấp cứu vì tai nạn lúc đi săn.
“Cậu sẽ ổn chứ?”
“Tôi cứ tưởng là mình ổn. Rồi tôi sẽ vượt qua được.” Tôi đã nghe quá nhiều nhân vật nói điều ấy trong quá nhiều tiểu thuyết. Điều ấy giải phóng người tình khỏi những vướng bận. Nó cho phép mọi người giữ thể diện. Nó phục hồi phẩm giá và đảm lược cho một người đã bị vạch trần lớp vỏ bên ngoài.
“Tôi để cậu nghỉ nhé.” Nói cứ như một y tá ân cần.
Lúc đi ra anh bảo, “Tôi sẽ ở gần thôi,” kiểu như người ta thường nói, Tôi sẽ để đèn sáng cho cậu. “Ngoan nhé.” Khi tôi cố chợp mắt thì mơ về nơi đâu đó giữa đài tưởng niệm chiến tranh Piave và chuyến đạp xe lên đồi của chúng tôi trong sợ sệt, hổ thẹn và còn gì ám tôi nữa ai mà biết được, việc xảy ra trên quảng trường dường như trở về với tôi từ những mùa hè và năm tháng trước, cứ như tôi đã đạp xe tới quảng trường khi hãy còn là một cậu bé trước thế chiến thứ nhất, lúc trở về đã là một phế binh chín mươi tuổi bị giam trong căn phòng ngủ thậm chí chẳng phải của mình, bởi vì phòng của tôi đã bị giao cho một người đàn ông trẻ tuổi là ánh sáng trong mắt tôi.
Ánh sáng trong mắt tôi, tôi nói, ánh sáng trong mắt tôi, ánh sáng của trần gian, đó là anh, ánh sáng đời tôi. Tôi không biết ánh sáng trong mắt tôi nghĩa là thế nào, và tự hỏi tôi đào đâu ra cái sáo ngữ rỗng tuếch ấy, nhưng chuyện vớ vẩn đó lại khiến nước mắt trào ra, những giọt nước mắt tôi muốn vùi vào gối anh, đẫm vào chiếc quần tắm của anh, tôi muốn anh chạm vào những giọt nước mắt bằng đầu lưỡi và xua đi nỗi sầu.
Tôi không hiểu sao anh lại đưa bàn chân đặt lên bàn chân của tôi. Có phải đó là một cú tấn công, hay là một cử chỉ tốt lành biểu thị tình tương ái và tình bạn, giống như cái ôm-xoa thân mật của anh, cái huých nhẹ vô tư của cặp tình nhân dẫu không còn ngủ chung nhưng vẫn quyết định làm bạn với nhau và thi thoảng cùng đi xem phim? Có phải điều đó có nghĩa là, Tôi chưa quên, tình cảm ấy sẽ luôn tồn tại giữa chúng ta, ngay cả khi nó chẳng dẫn tới đâu cả?
Tôi muốn đào tẩu khỏi nhà. Tôi muốn giờ đã là mùa thu sau và muốn ở càng xa càng tốt. Bỏ cái thị trấn này với quán Le Danzing ngớ ngẩn cùng gã thanh niên ngớ ngẩn mà không ai tỉnh trí lại muốn bầu bạn cùng. Bỏ cha mẹ và đám anh em họ, những người luôn ganh đua với tôi, và những khách trọ hè kinh khủng với mấy cái dự án học thuật thần bí luôn chiếm riêng tất cả các buồng tắm mé bên phòng tôi.
Lỡ tôi gặp lại anh thì chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi có chảy máu nữa, khóc, xuất tinh trong quần? Và lỡ như tôi thấy anh đi cùng ai khác thong thả dạo bước như anh vẫn thường làm quanh quán Le Danzing thì sao? Lỡ như thay vì một người đàn bà, đó là đàn ông thì sao?
Tôi nên học cách tránh anh, cắt đứt từng mối ràng buộc như một bác sĩ phẫu thuật thần kinh cắt tách từng neuron, từng ước ao cháy bỏng, thôi đi ra vườn sau, thôi nhìn trộm, thôi vào thị trấn buổi đêm, như kẻ nghiện mỗi ngày cai đi một ít, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây còn vật vã. Có thể làm được. Tôi biết chuyện mình chẳng có tương lai. Giả như anh vào phòng tôi đêm nay. Hay tốt hơn là tôi uống vài ly rồi vào phòng anh mà nói trắng ra cái sự thật vào mặt anh, Oliver: Oliver, tôi muốn anh chiếm lấy tôi. Ai đó phải làm vậy, và người đó có thể là anh. Sửa lại: tôi muốn đó là anh. Tôi sẽ cố để không phải là bạn tình tệ nhất đời anh. Hãy làm với tôi như anh muốn làm với bất kỳ ai anh mong là sẽ chẳng bao giờ tái ngộ. Tôi biết nói thế này chẳng lãng mạn chút nào nhưng tôi bị rối như bòng bong nên tôi cần tới biện pháp mạnh. Nên cứ làm vậy đi.
Chúng tôi sẽ làm. Rồi tôi trở lại phòng ngủ của mình để vệ sinh. Sau đó tôi sẽ là người thi thoảng đặt bàn chân lên bàn chân anh, để xem anh thích thú ra sao.
Kế hoạch của tôi là vậy. Đó là cách của tôi để loại anh ra khỏi hệ thống của mình. Tôi sẽ chờ mọi người đi ngủ hết. Theo dõi ánh đèn của anh. Tôi sẽ vào phòng anh từ bao lơn.
Cốc cốc. Không, không gõ. Tôi chắc là anh ngủ khỏa thân. Lỡ anh không một mình? Tôi sẽ nghe ngóng ngoài bao lơn trước khi bước vào. Nếu có ai khác cạnh anh và quá muộn để rút lui cho kịp, tôi sẽ nói, “Ối nhầm phòng.” Phải: Ối, nhầm phòng. Nói đùa chút vậy để khỏi mất mặt. Còn nếu anh ở một mình? Tôi sẽ bước vào. Pyjama. Không, chỉ quần pyjama thôi. Tôi sẽ nói, tôi đây. Sao cậu qua đây? Tôi không ngủ được. Muốn uống chút gì không?
Tôi không cần uống. Tôi phải cố lắm mới gom đủ can đảm bước từ phòng tôi tới phòng anh. Tôi tới đây là vì anh. Tôi hiểu rồi. Đừng làm khó, đừng nói, đừng viện lý do, và tỏ vẻ anh có thể gào lên kêu cứu bất cứ lúc nào. Tôi nhỏ tuổi hơn anh, nếu anh đánh động cả nhà hoặc dọa mách mẹ tôi thì anh chỉ tổ biến mình thành trò cười. Rồi tôi sẽ cởi chiếc quần pyjama và lẻn lên giường anh ngay. Nếu anh không chạm tôi thì tôi sẽ là người chạm anh, và nếu anh không đáp lại, tôi sẽ để môi mình tới những chỗ nó chưa từng tới. Cái hài hước trong những chữ ấy khiến tôi thích thú. Liên tưởng gì mà quá trớn. Ngôi sao David của tôi, ngôi sao David của anh, cổ chúng tôi áp vào nhau, hai người đàn ông Do Thái hòa vào nhau từ thời thượng cổ. Nếu bấy nhiêu vẫn chưa đủ, tôi sẽ đánh anh, anh sẽ đáp trả, rồi chúng tôi vật nhau, và tôi bảo đảm sẽ khiến anh nổi hứng trong khi anh đè tôi xuống, còn tôi thì kẹp hai chân mình quanh anh như đàn bà, thậm chí làm anh đau chỗ vết xước hồi anh ngã xe đạp, và nếu bấy nhiêu vẫn chưa đủ thì tôi sẽ làm việc nhục nhã nhất, và với sự nhục nhã ấy sẽ cho anh thấy rằng anh mới là người phải hổ thẹn chứ không phải là tôi, rằng tôi đã tới với sự thật và lòng tốt của con người trong tim mình và rằng tôi để nó lại trên chăn gối anh để nhắc anh nhớ anh đã từ chối lời cầu khẩn của một chàng trai trẻ về tình bầu bạn như thế nào. Anh mà từ chối điều ấy thì khi chết sẽ xuống thẳng địa ngục.
Lỡ như anh không thích tôi thì sao? Người ta nói trong bóng đêm thì mèo nào cũng... Lỡ như anh không thích làm chút nào thì sao? Vậy thì anh phải thử thôi. Lỡ như anh nổi cáu và thấy bị xúc phạm? “Cút đi, đồ bệnh hoạn, tồi tệ, đồ cặn bã thối tha.” Nụ hôn là bằng chứng cho thấy anh có thể bị đẩy tới mức ấy. Không nói gì về bàn chân? Amor ch’a null’ amato amar perdona.
Bàn chân. Lần cuối anh có phản ứng như vậy với tôi không phải là khi anh hôn tôi mà là anh ấn ngón tay cái vào vai tôi.
Không, còn có một lần nữa. Lúc tôi ngủ, khi anh vào phòng rồi nằm lên trên tôi, và tôi giả vờ đang ngủ. Lại sửa lần nữa: trong lúc ngủ tôi đã nhổm người lên thật khẽ, chỉ vừa đủ để cho anh biết rằng, Đừng đi, anh tiếp nữa cũng được, chỉ là đừng nói tôi biết.
Chiều ấy lúc thức dậy, tôi thèm sữa chua quá đỗi. Ký ức tuổi thơ đây mà. Tôi vào bếp, thấy dì Mafalda đang uể oải cất đồ sứ được rửa vài giờ trước. Dì hẳn cũng đã ngủ trưa, và vừa dậy. Tôi tìm được một trái đào lớn trong chạn trái cây, bắt đầu gọt nó.
“Facio io,” dì nói, cố giành cái dao trong tay tôi.
“Không, không, faccio da me,” tôi đáp, cố không làm dì phật ý.
Tôi muốn thái rồi cắt những miếng nhỏ thành các mẩu nhỏ hơn, rồi những mẩu nhỏ hơn đó thành những mẩu nhỏ hơn nữa. Cho tới khi chúng biến thành những nguyên tử. Rồi tôi lấy một trái chuối, lột vỏ nó thật là chậm, rồi thái nó ra thành những lát mỏng hết cỡ, rồi cắt hạt lựu. Rồi một trái mơ. Một trái lê. Nhiều trái chà là. Rồi tôi lấy bình sữa chua lớn từ trong tủ lạnh, đổ sữa chua cùng trái cây thái nhỏ vào máy xay. Cuối cùng để tạo màu, tôi thêm vài trái dâu tây hái trong vườn. Tôi thích tiếng vo vo của máy xay.
Đây không phải món tráng miệng mà dì quen thuộc. Nhưng dì cứ để tôi làm gì tùy thích trong bếp của dì mà không chen ngang, như thể đang trêu đùa với một người đã chịu đủ thương tổn. Mụ bếp ấy biết. Hẳn mụ đã thấy vụ bàn chân. Cặp mắt mụ dõi theo tôi từng bước một như sẵn sàng chộp lấy con dao trước khi tôi đâm nó vào mạch máu mình.
Xay xong món đồ uống đặc chế, tôi rót ra cái ly lớn, phóng một ống hút vào đó như phóng phi tiêu, rồi đi ra sân hiên. Trên đường ra tôi bước vào phòng khách và lấy cuốn sách lớn có ảnh tác phẩm của Monet. Tôi đặt nó lên cái ghế nhỏ xíu cạnh thang. Tôi sẽ không chỉ anh cuốn sách, chỉ để đó thôi. Anh sẽ biết.
Ngoài sân hiên, tôi thấy mẹ đang dùng trà với hai chị em từ tận S. tới chơi bài bridge. Còn tay chơi thứ tư sắp tới.
Ở khu ga-ra phía sau, tôi nghe tiếng tài xế của họ đang kháo chuyện cầu thủ bóng đá với chú Manfredi.
Tôi cầm ly đồ uống ra phía xa sân hiên, lấy ra một ghế nệm dài, nằm trông ra hàng rào chấn song, cố tận hưởng giờ cuối ngày mặt trời tròn trịa hãy còn soi tỏa. Tôi thích ngồi mà ngắm ngày lịm dần trải rộng ra thành màn sáng trước hoàng hôn. Đây là lúc người ta đi bơi chiều, nhưng đọc sách cũng thú.
Tôi thích cảm giác quá đỗi thư thái này. Có lẽ cổ nhân đã đúng: thi thoảng bị chảy máu thì không hại gì. Nếu tôi tiếp tục cảm nhận thế này, về sau tôi có thể thử chơi một hai bản dạo đầu hoặc fuga, có lẽ là một bản ngẫu hứng của Brahms. Tôi nuốt thêm nước sữa chua, gác chân lên ghế bên cạnh.
Phải mất một lúc tôi mới nhận ra mình đang ngồi khá đỏm dáng.
Tôi muốn anh khi về bắt gặp tôi lúc thư thái đến thế. Anh đâu biết tôi đang dự tính gì cho đêm nay.
“Oliver đâu nhỉ?” Tôi quay sang mẹ hỏi.
“Cậu ta không ra ngoài sao?”
Tôi không nói gì. Vậy mà nói “Tôi sẽ ở gần bên.”
Sau một lúc, dì Mafalda tới lấy cái ly không. Vuoi un altro di questi, tôi có muốn một ly những trái này nữa không? Dì nói mà như đang đề cập tới một món pha chế kỳ lạ mà nếu có một cái tên ngoại quốc, phi Ý đi nữa cũng chẳng làm dì bận tâm.
“Thôi, có lẽ tôi ra ngoài.”
“Nhưng giờ này cậu đi đâu chứ?” Dì hỏi, ý là sắp tới bữa tối rồi. “Nhất là cậu mới bị như vậy hồi bữa trưa. Mi preoccupo, tôi lo.”
“Tôi sẽ ổn mà.”
“Tôi thấy cậu không nên đi.”
“Đừng lo.”
“Signora,” dì gào lên, cố viện tới hỗ trợ của mẹ tôi.
Mẹ tôi cũng cho rằng ra ngoài là ý tồi.
“Vậy thì con đi bơi.”
Gì cũng được, trừ ngồi không đếm từng giờ đến đêm.
Dọc lối xuống cầu thang ra bãi biển, tôi gặp phải một nhóm bạn. Họ đang chơi bóng chuyền trên cát. Tôi muốn chơi cùng không? Không, cảm ơn, tôi bị ốm. Tôi rời đi, thong thả bước ra tảng đá lớn, nhìn chằm chằm nó một lúc, rồi nhìn ra biển. Biển dường như đang nhắm những mũi ánh sáng mặt trời vào tôi theo từng con sóng, như trong một bức tranh của Monet. Tôi bước vào làn nước ấm. Không phải là tôi không vui. Tôi muốn ở cạnh ai đó. Nhưng tôi ở một mình thì cũng không phiền.
Vimini, hẳn ai đó đã mang cô bé ra, bảo rằng nghe nói tôi không khỏe. “Những người ốm đau như chúng ta...” cô bé bắt đầu.
“Em biết Oliver ở đâu không?” Tôi hỏi.
“Em không biết. Tưởng là anh ấy đi câu cá với già Anchise.”
“Với già Anchise nữa sao? Điên rồi. Lần trước suýt nữa là anh ta mất mạng.”
Không lời đáp. Cô bé đang nhìn về phía không có ánh mặt trời lặn.
“Anh thích anh ấy, phải không?”
“Ừa,” tôi nói.
“Anh ấy cũng thích anh, em nghĩ là nhiều hơn anh thích anh ấy.”
Có phải đây là ấn tượng của cô bé?
Không, là của Oliver.
Anh nói với cô bé hồi nào?
Một dạo trước.
So ra thì khớp với dạo chúng tôi gần như dừng hẳn nói chuyện với nhau. Cả mẹ tôi tuần ấy cũng kéo tôi ra một góc, đề nghị tôi lịch sự hơn với chàng cauboi của chúng tôi – cứ ra vào phòng ốc chạm mặt hoài mà không có lấy một lời chào chiếu lệ, không hay.
“Em nghĩ là anh ấy đúng,” Vimini nói.
Tôi nhún vai. Nhưng trong lòng chưa từng gặp phải những mâu thuẫn nội tâm mạnh mẽ tới vậy. Đây là cảm giác thống khổ, bởi có gì đó như cơn giận chực ào ra trong tôi. Tôi cố tự trấn an, nghĩ tới trời hoàng hôn trước mặt, cách người ta thích mường tượng ra khung cảnh tĩnh lặng, thanh bình để đánh lạc hướng sự khó chịu trong lòng khi bị kiểm tra phát hiện nói dối. Nhưng tôi cũng tự ép mình nghĩ tới những chuyện khác bởi tôi không muốn chạm tới hay làm cạn kiệt những suy tư liên quan tới đêm nay. Anh có thể nói không, thậm chí có thể quyết định rời khỏi nhà chúng tôi và nếu bị gặng hỏi sẽ lý giải tại sao. Tôi chỉ cho mình nghĩ tới đó thôi.
Một ý nghĩ kinh khủng choán lấy tôi. Lỡ như ngay lúc này anh có dự định tiết lộ hoặc chỉ úp mở về chuyện đã xảy ra trong lần chúng tôi đi xe vào thị trấn giữa những người anh đã làm quen hoặc giữa tất cả những ai gào thét mời anh tới dùng bữa tối thì thế nào? Ở vị trí của anh, liệu tôi có thể giữ một bí mật như thế không? Không.
Vậy mà anh đã cho tôi thấy điều tôi muốn có thể được cho và nhận tự nhiên đến mức ta phải thắc mắc tại sao lại cần đến bấy nhiêu khổ sở và tủi nhục, dẫu biết rằng hành vi đó chả phức tạp gì hơn chuyện, ví dụ như, mua một gói thuốc lá, hay cho hút ké một điếu cần sa, hay dừng lại cạnh một trong các cô gái phía sau quảng trường lúc đêm khuya, rồi thỏa thuận giá cả xong thì đi lên lầu hành lạc vài phút?
Trở về sau khi bơi, vẫn không có dấu hiệu nào của anh. Tôi hỏi. Không, anh chưa về. Chiếc xe của anh vẫn dựng ở chỗ cũ nơi chúng tôi để ngay trước giữa trưa. Già Anchise đã về nhiều giờ trước. Tôi lên phòng mình, từ bao lơn cố len vào qua cửa sổ mái phòng anh. Cửa đóng. Nhìn qua lớp kính tôi chỉ thấy được chiếc quần ngắn anh mặc hồi dùng bữa trưa.
Tôi cố nhớ lại. Anh đang mặc bộ đồ tắm khi anh vào phòng ngủ tôi chiều đó và hứa là sẽ ở gần bên. Tôi nhìn ra bao lơn, hi vọng trông thấy chiếc thuyền lỡ khi anh quyết định lại đi thuyền chơi. Nó đang nằm cạnh cầu tàu.
Khi tôi xuống lầu, cha đang dùng cocktail với một phóng viên tới từ Pháp. Sao con không đi chơi gì đi? Ông hỏi. “Non mi va,” tôi nói, “không có hứng. ”
“E perché non ti va?” Ông lại hỏi, như đang khó chịu với âm điệu những chữ ấy. “Perché non mi va!” Rốt cuộc cũng vượt qua được rào cản chính sáng nay, dường như tôi có thể công khai bày tỏ những điều vụn vặt đang diễn ra trong tâm trí mình.
Có lẽ tôi cũng nên làm vài giọt vang, cha tôi nói.
Dì Mafalda báo bữa tối sẵn sàng.
“Không phải còn quá sớm để ăn tối sao?” Tôi hỏi.
“Hơn tám giờ rồi.”
Mẹ tôi đang hộ tống một trong những người bạn tới bằng ô tô và phải ra về.
Tôi dễ chịu vì tay người Pháp đang ngồi ở mép ghế bành như thể đang chực đứng dậy để được chỉ vào phòng ăn, nhưng vẫn còn yên vị, thế là cha tôi, vốn vừa hỏi hắn nghĩ sao về mùa opera sắp tới, ngồi yên chỗ trong khi chờ hắn xong câu trả lời.
Bữa tối bị hoãn chừng năm mười phút nữa. Nếu anh trễ bữa tối, anh sẽ không ăn cùng chúng tôi. Nhưng nếu anh trễ có nghĩa là anh đã ăn tối ở đâu khác rồi. Tôi không muốn anh ăn tối ở đâu khác trừ ở nhà chúng tôi đêm nay.
“Noi ci mettiamo a tavola, mời các vị cùng ngồi xuống,” mẹ tôi nói. Mẹ bảo tôi ngồi kế.
Chiếc ghế của Oliver trống. Mẹ tôi phàn nàn rằng ít nhất anh cũng phải báo chúng tôi biết là không về ăn tối.
Cha bảo có khi thuyền lại hỏng nữa. Nên phá bỏ quách cái thuyền đó cho xong.
Nhưng thuyền còn nguyên dưới kia, tôi nói.
“Vậy thì chắc là người dịch. Hồi tối ai nói với mẹ là cậu ta cần gặp người dịch nhỉ?” Mẹ tôi hỏi.
Không được để lộ lo lắng. Hay sự quan tâm. Hãy bình tĩnh. Tôi không muốn chảy máu cam lần nữa. Nhưng cái khoảnh khắc sung sướng tuyệt vời vì được dắt xe đạp cùng nhau trên quảng trường trước và sau cuộc nói chuyện dường như thuộc về một chiều thời gian khác, cứ như đã xảy ra với một tôi khác trong một cuộc đời khác không khác mấy so với chính cuộc đời tôi, nhưng đủ khác để biến vài giây chia cách chúng tôi thành ra như vài năm ánh sáng. Nếu tôi đặt bàn chân mình lên sàn, giả vờ rằng bàn chân anh ở ngay sau chân bàn, liệu bàn chân đó, giống như chiếc phi thuyền đã bật chế độ tàng hình, giống như một hồn ma được người sống triệu hồi, đột nhiên hiện hình từ trong không gian mà nói, Tôi biết anh đã ra hiệu. Tìm đi, sẽ thấy tôi ngay.
Không lâu sau, bạn của mẹ tôi, người đã quyết định ở lại dùng bữa tối vào phút chót, được mời vào ngồi chỗ tôi vẫn ngồi ăn cơm trưa. Dao nĩa của Oliver lập tức được dọn đi.
Chúng được dọn đi thật nhanh, không chút gì luyến tiếc hay hối hận như cái cách bạn thay một bóng đèn đã hỏng, hay rứt bộ đồ lòng khỏi một con cừu từng là vật cưng vừa bị giết thịt, hay tháo chăn chiếu khỏi một chiếc giường trên đó có người đã chết. Đây, hãy lấy những thứ này, dọn đi cho khuất mắt. Tôi nhìn đồ sứ, khay lót, khăn ăn, toàn bộ sự hiện diện của anh biến mất. Đó là điềm báo chính xác cho điều sẽ xảy tới trong chưa đầy một tháng nữa. Tôi không nhìn dì Mafalda. Dì ghét chuyện thay đổi vào phút chót trong việc chuẩn bị bữa tối. Dì đang lắc đầu với Oliver, với mẹ tôi, với thế giới của chúng tôi. Tôi nghĩ là với tôi nữa. Khỏi nhìn dì tôi cũng biết cặp mắt dì đang dò xét mặt mày tôi chỉ chờ tôi ngẩng lên nhìn, nên tôi tránh ngước mắt khỏi món semifreddo mà mình ưa thích. Dì biết tôi thích và đã đặt nó ở đó cho tôi bởi vì dù vẻ mặt dì có quở trách, có hăm he từng cái liếc mắt của tôi đi nữa, dì biết là tôi biết dì thương tôi.
Đêm đó, khi tôi đang đánh đàn piano bài gì đó, tim tôi giật thót khi nghĩ là mình vừa nghe tiếng xe máy dừng trước cổng nhà. Ai đó đưa anh về. Nhưng có thể tôi nhầm. Tôi lắng tai chờ nghe tiếng bước chân anh, từ tiếng sỏi lạo xạo cho tới tiếng lép đép bị hãm từ đế đôi giày vải của anh khi anh lên cầu thang dẫn ra ban công. Nhưng chẳng có ai đi vào nhà cả.
Rất rất lâu sau, trên giường, tôi nghe ra tiếng nhạc từ một chiếc ô tô dừng bên đường chính, mé ngoài lối đi có hàng thông. Cửa mở. Cửa đóng sầm lại. Xe chạy đi. Nhạc bắt đầu phai. Chỉ có tiếng sóng vỗ cùng tiếng sỏi lạo xạo dưới những bước chân thong thả của một người hoặc đang miên man suy nghĩ hoặc đang ngà ngà say.
Lỡ như trong lúc đi lên phòng anh, anh lại bước vào phòng ngủ của tôi, hỏi một câu như: Tính ghé qua trước khi đi ngủ xem cậu thế nào. Ổn không?
Không lời đáp.
Bực à?
Không lời đáp.
Cậu bực à?
Không, chẳng bực gì cả. Có điều anh nói là sẽ ở gần bên.
Vậy là cậu bực.
Vậy tại sao anh không ở gần bên?
Anh nhìn tôi, cách một người lớn nhìn một người lớn khác, Cậu biết chính xác tại sao mà.
Tại vì anh không thích tôi.
Không phải.
Tại vì anh chưa từng thích tôi.
Không phải. Tại vì tôi không tốt cho cậu.
Im lặng.
Tin tôi đi, cứ tin tôi đi.
Tôi nhấc góc tấm chăn.
Anh lắc đầu.
Một lát thôi mà?
Lại lắc. Tôi biết mình, anh nói.
Tôi đã nghe anh dùng chính ba chữ ấy trước đây. Có nghĩa là Tôi muốn chết đi được, nhưng hễ bắt đầu rồi là không dừng lại được, nên tốt hơn là tôi không bắt đầu. Có người thật là tự tin khi bảo rằng bạn không thể chạm vào anh ta bởi bạn biết chính mình.
Chà, anh sẽ không làm gì với tôi cả, vậy ít nhất cũng đọc truyện cho tôi nghe được không?
Tôi sẽ xem bấy nhiêu đó là đủ. Tôi muốn anh đọc một truyện cho tôi nghe. Gì đó của Chekhov, Gogol hay Katherine Mansfield. Hãy cởi đồ ra, Oliver, rồi vào giường tôi, để tôi cảm nhận làn da anh, tóc anh trên da thịt tôi, bàn chân anh trên bàn chân tôi, ngay cả khi chúng ta không làm gì cả thì hãy ôm ấp, anh và tôi khi màn đêm trải rộng khắp bầu trời, và đọc những câu chuyện về những con người không ngơi nghỉ luôn kết thúc trong cô đơn và ghét cô đơn bởi vì họ luôn luôn không chịu đựng được việc ở một mình với bản thân họ...
Đồ phản bội, tôi nghĩ trong khi chờ nghe tiếng cửa phòng ngủ của anh mở ra rồi đóng lại. Đồ phản bội. Sao mà dễ quên đến thế. Tôi sẽ ở gần thôi. Thế đấy. Dối trá.
Tôi chưa từng nghĩ rằng mình cũng là một kẻ phản bội, bởi đâu đó trên bãi biển gần nhà cô ấy, đêm nay một người con gái đã chờ tôi, như đã chờ đợi mỗi đêm, và bởi tôi giống như Oliver đã không hề mảy may nghĩ đến.
Tôi nghe tiếng anh bước lên chiếu nghỉ. Tôi đã cố tình để cửa phòng ngủ mình khép hờ, hi vọng rằng ánh sáng từ phòng giải lao sẽ len vào vừa đủ để làm lộ cơ thể tôi. Mặt tôi xoay vào tường. Tùy ở anh. Anh bước ngang phòng tôi, không ngừng lại. Thậm chí ngập ngừng cũng không. Không có gì cả.
Tôi nghe tiếng cửa phòng anh đóng lại.
Chưa tới vài phút sau, anh mở cửa. Tim tôi đánh thót. Nhưng giờ đây tôi đang vã mồ hôi ướt cả gối. Tôi nghe thêm vài tiếng bước chân nữa. Rồi tôi nghe tiếng buồng tắm đóng kịch lại. Nếu anh mở vòi sen có nghĩa là anh đã làm tình. Tôi nghe tiếng nước bồn tắm rồi vòi sen. Đồ phản bội. Đồ phản bội.
Tôi chờ anh ra khỏi buồng tắm. Nhưng anh cứ ở đó mãi.
Khi rốt cuộc quay lại nhòm ra hành lang, tôi để ý thấy phòng mình tối đen. Cửa đã được đóng lại – có ai trong phòng tôi? Tôi ngửi được hương dầu gội đầu Roger & Gallet của anh, gần sát tới nỗi tôi biết là mình mà nhấc cánh tay lên sẽ chạm vào mặt anh. Anh đang trong phòng tôi, đứng trong bóng đêm, bất động như đang quyết định xem sẽ thức tôi dậy hay chỉ tìm tôi trên giường. Ôi, đêm phước lành, đêm phước lành, tôi nghĩ. Không nói một lời, tôi cố nhận ra đường nét cái áo choàng tắm mình đã mặc biết bao lần sau khi anh dùng, dây thắt lưng bằng vải bông xù của áo lơ lửng gần sát tôi, cạ vào gò má thật nhẹ trong khi anh đứng đó, sẵn sàng thả áo xuống sàn. Anh đi chân trần qua đây? Mà anh khóa cửa phòng tôi chưa? Anh có cứng như tôi không, cái ấy của anh có phải đã đẩy lớp áo choàng ra không, vậy nên dây thắt lưng mới chỉ mơn man trên mặt tôi, có phải anh cố ý làm vậy không, làm mặt tôi nhột, đừng dừng lại, đừng dừng lại, đừng bao giờ dừng lại. Không báo trước, cánh cửa bắt đầu mở. Sao bây giờ lại mở cửa?
Chỉ là một luồng gió. Một luồng gió đã đóng nó lại. Rồi một luồng gió kéo nó mở ra. Cái dây thắt lưng tinh quái làm nhột mặt tôi hóa ra chỉ là tấm màn chống muỗi cạ vào mặt mỗi lần tôi thở. Ngoài kia, tôi nghe có tiếng nước chảy trong phòng tắm, dường như nhiều giờ đồng hồ đã trôi qua từ khi anh đi tắm. Không, không phải tiếng vòi sen mà là tiếng giật bồn cầu. Nó thi thoảng bị hư và đều đặn tự xả khi suýt tràn, để rồi tự nạp lại và xả, lần này tới lần khác suốt đêm. Khi tôi bước ra bao lơn, nhìn thấy mặt biển một màu xanh dương nhạt, tôi biết trời đã bình minh.
Tôi thức dậy một giờ sau đó.
Lúc dùng điểm tâm, theo thói quen, tôi giả vờ không để ý tới anh. Mẹ tôi là người khi nhìn anh đã thốt lên, Ma guardi un po’ quant’è pallido, trông cậu hốc hác quá chừng! Dù nhận xét thẳng tuột như vậy nhưng mẹ tôi vẫn dùng cách nói trịnh trọng với Oliver. Cha tôi ngẩng lên, tiếp tục đọc báo. “Cầu trời là đêm qua anh kiếm bộn, bằng không tôi phải báo cho bố anh biết.” Oliver đập vỡ quả trứng chần bằng cán cái muỗng nhỏ. Anh vẫn chưa học được cách. “Tôi chẳng bao giờ thua cả, chuyên gia.” Anh đang nói chuyện với quả trứng như cách cha tôi nói vào tờ báo. “Bố anh có ưng bụng không? ”
“Tôi tự xoay sở. Tôi đã tự xoay sở kể từ hồi học dự bị đại học. Bố tôi ưng quá đi chứ.” Tôi ghen tị với anh. “Đêm qua anh có uống nhiều không?”
“Có, và những thứ khác nữa.” Lần này anh đang phết bơ lên bánh mì.
“Tôi nghĩ là mình không muốn biết,” cha tôi nói.
“Bố tôi cũng không. Mà nói hoàn toàn thành thật, tôi nghĩ mình cũng chẳng thèm nhớ.”
Có phải là vì lợi ích của tôi? Nghe này, sẽ không bao giờ có chuyện gì giữa chúng ta, cậu càng sớm hiểu ra thì chúng ta càng đỡ khổ.”
Hay tất cả chỉ là làm bộ làm tịch một cách tàn nhẫn?
Tôi rất đỗi hâm mộ những người nói về tật xấu của họ như thể đó là những họ hàng xa mà họ đã học được cách chịu đựng bởi chẳng thể từ mặt. Thứ ấy và những thứ khác nữa. Tôi chẳng buồn nhớ – giống như câu Tôi biết mình – gợi ra thế giới trải nghiệm con người mà người khác có thể vào được, tôi thì không. Tôi rất đỗi ao ước mình nói được như thế một ngày nào đó – rằng sáng bạch ra thì tôi chẳng buồn nhớ mình đã làm gì đêm trước. Tôi tự hỏi còn những thứ gì khác khiến cho anh cần tắm táp. Anh đi tắm để làm mình phấn khích bởi nếu không anh sẽ đổ bệnh? Hay anh đi tắm để quên, để gột rửa đi mọi dấu vết nhơ bẩn và đồi bại đêm qua? À, công khai những thói tật của mình bằng cách lắc đầu phủ nhận chúng rồi cho trôi hết mọi chuyện bằng nước mơ do dì Mafalda làm bằng những ngón tay viêm khớp, rồi sau đó chép môi!
“Anh có để dành tiền thắng được không?”
“Để dành và đầu tư, thưa chuyên gia.”
“Ước gì tôi khôn ngoan thế ở tuổi anh, được vậy tôi đã tránh được nhiều bước đi lầm lỗi,” cha tôi nói.
“Ông mà lầm lỗi sao chuyên gia? Thực tình, tôi thậm chí không hình dung nổi ông có thể tưởng tượng ra một bước đi lầm lỗi.”
“Đó là bởi anh nhìn tôi như nhìn một nhân vật, chứ không phải một con người. Tệ hơn nữa: một nhân vật già nua. Nhưng có đấy. Những bước đi lầm lỗi. Mỗi người đều qua một giai đoạn là traviamento – khi chúng ta chọn một bước ngoặt khác biệt trong đời, không thì thông qua nó. Chính Dante đã trải qua. Vài người thì hồi phục, vài người giả vờ hồi phục, vài người không bao giờ được như xưa, vài người bỏ chạy ngay trước khi kịp bắt đầu, và vài người khác vì sợ chọn bất kỳ bước ngoặt nào, sau này nhận ra là họ đã sống cả cuộc đời lầm lạc.”
Mẹ tôi thở dài nhè nhẹ, đó là cách bà cảnh báo những người ngồi cùng rằng chuyện cỏn con này có thể dễ dàng biến thành cả một bài giảng bất chợt của con người vĩ đại ấy.
Oliver tiếp tục đập một cái trứng nữa.
Bọng mắt của anh sưng lên. Và đúng là anh trông hốc hác.
“Thi thoảng cái traviamento hóa ra lại là đường đúng ấy chứ, chuyên gia. Hoặc là một con đường tốt như bất kỳ đường nào khác.”
Cha tôi đang hút thuốc, gật đầu trầm ngâm, dấu hiệu cho thấy ông không am tường về những chủ đề như vậy, và rất mong nhường lời cho ai khác tường tận. “Ở tuổi anh tôi đâu biết gì. Nhưng ngày nay thì người ta biết mọi thứ, và ai cũng nói, nói, nói.”
“Có lẽ cái Oliver cần là ngủ, ngủ, ngủ.”
“Signora P. , tôi hứa đêm nay sẽ không bài poker, không nhậu nhẹt gì hết. Tôi sẽ mặc quần áo sạch sẽ, xem bản thảo, rồi sau bữa tối chúng ta sẽ cùng xem tivi và chơi bài canasta như người già ở đất Tiểu Ý.”
“Nhưng trước hết,” anh nói thêm, mặt như đang cười mỉm, “Tôi cần gặp Signora Milani một lát. Nhưng tôi hứa đêm nay tôi sẽ là chàng trai cư xử đúng mực nhất toàn vùng Riviera.”
Chuyện xảy ra như vậy đấy. Sau cuộc trốn thoát chóng vánh tới B, anh là Oliver “xanh lá” cả ngày, một đứa trẻ chẳng lớn hơn Vimini là mấy, với tất cả sự trong sáng và không chút nào chua ngoa của cô bé. Anh cũng đặt tiệm hoa trong vùng gửi đến bao nhiêu là hoa. “Cậu mất trí rồi,” mẹ tôi bảo. Sau bữa ăn trưa, anh nói sẽ ngủ chút – lần đầu và lần cuối suốt thời gian anh ở với chúng tôi. Rồi đúng là anh ngủ trưa, bởi lúc thức dậy chừng năm giờ chiều, trông anh tươi tắn như trẻ lại cả chục tuổi: gò má hồng hào, mắt trong, vẻ hốc hác biến mất. Trông cứ như trẻ ngang tuổi tôi vậy. Đúng như đã hứa, đêm đó chúng tôi đều ngồi với nhau, xem phim lãng mạn trên truyền hình, không có khách khứa nào nữa. Cái hay nhất là tất cả mọi người gồm Vimini, cô bé sang chơi, và dì Mafalda đang ngồi trong “chỗ” gần cửa phòng khách bình phẩm về từng cảnh phim, dự đoán kết cuộc, từng chặp lại nổi cáu và chế giễu sự ngu xuẩn của câu chuyện, các diễn viên, các nhân vật. Sao, nếu là cô ấy thì làm gì? Là tôi thì tôi bỏ phắt hắn đi. Còn dì, Mafalda? À, theo ý tôi, tôi thấy cô ta nên chấp nhận chàng ngay từ lần đầu chứ không phải trù trừ mãi thế. Chính xác là vậy chứ gì nữa! Cô ta bị thế là đáng thôi. Đáng lắm.
Chúng tôi chỉ bị ngắt ngang đúng một lần. Một cuộc gọi từ Mỹ. Oliver thích nói rất ngắn, hầu như là cộc lốc trên điện thoại. Chúng tôi nghe anh thốt lên cái câu không tránh khỏi Gặp sau!, cúp máy, rồi thoắt một cái đã trở lại, hỏi anh đã lỡ những gì. Mọi người xung phong kể với anh cốt truyện cùng một lúc, gồm cả cha tôi, lời ông kể kém chính xác hơn của dì Mafalda. Thế là ầm ĩ cả lên, kết quả chúng tôi bỏ lỡ còn nhiều cảnh hơn Oliver lúc anh nhận cuộc gọi ngắn gọn kia. Nhiều tiếng cười. Tới một lúc, khi chúng tôi đang chăm chú theo dõi một đoạn kịch tính cao độ, già Anchise bước vào phòng khách, mở ra một cái áo thun cũ đẫm nước, trình ra thứ bắt được hồi tối: một con cá mú biển to đùng, thế là nó được định đoạt dùng cho bữa trưa và tối ngày mai, sẽ dư dùng cho mọi người tham dự. Cha quyết định rót cho mỗi người chút rượu nho Ý, Vimini cũng được uống một ít.
Đêm đó chúng tôi đi nghỉ sớm. Ai nấy đều mệt lử sau ngày dài. Hẳn tôi đã ngủ rất ngon, bởi lúc dậy thì bữa điểm tâm đã được dọn khỏi bàn.
Tôi thấy anh đang nằm trên bãi cỏ, bên trái là cuốn từ điển, ngay dưới ngực là cái bìa màu vàng. Tôi đang hi vọng anh trông hốc hác hoặc đang trong tâm trạng như suốt ngày hôm qua. Nhưng anh đang chăm chú làm việc. Tôi thấy phá vỡ bầu tĩnh lặng thì kỳ khôi quá. Tôi những muốn trở lại thói quen giả vờ không trông thấy anh, nhưng bây giờ thì khó quá, nhất là vì hai ngày trước anh đã thấu suốt cái tiểu xảo vờ vịt của tôi.
Liệu rằng chuyện biết chúng tôi đang giả vờ có thay đổi mọi thứ giữa chúng tôi khi chúng tôi trở lại tình trạng không nói chuyện với nhau nữa?
Có thể là không. Nó có thể khiến cho hố ngăn cách thêm sâu, bởi sẽ khó cho một trong hai chúng tôi tin rằng chúng tôi ngu ngốc tới mức giả vờ chính cái điều chúng tôi chỉ là giả vờ. Nhưng tôi không kìm được.
“Có một đêm tôi đã chờ anh.” Giọng tôi nghe như lúc mẹ tôi phiền trách bố tôi lúc ông về trễ tới mức vô lý. Tôi chưa từng biết rằng giọng mình có thể cáu kỉnh tới vậy.
“Sao cậu không vào thị trấn?” Anh trả lời.
“Chả biết.”
“Chúng tôi đã đi chơi rất thú. Cậu cũng vậy. Ít nhất cậu cũng ngủ được chứ?”
“Theo cách nào đó. Không ngủ, nhưng ổn.”
Anh trở lại nhìn chằm chằm vào trang giấy anh đang đọc và đánh vần các âm tiết, có lẽ để cho thấy rằng tâm trí anh đang rất tập trung vào đó.
“Sáng nay anh có vào thị trấn không?”
Tôi biết mình đang quấy rầy, và đâm ghét chính mình.
“Có lẽ để sau.”
Lẽ ra tôi nên hiểu ý ngầm, có, tôi hiểu. Nhưng một phần trong tôi từ chối tin rằng bất kỳ ai có thể thay đổi nhanh đến vậy.
“Tôi thì định vào thị trấn đây.”
“À vậy.”
“Một cuốn sách tôi đặt mua đã tới. Tôi định sáng nay đi nhà sách lấy về.”
“Sách gì?”
“Armance.”
“Tôi sẽ lấy giúp cậu nếu cậu muốn.”
Tôi nhìn anh. Cảm giác như một đứa trẻ dù đã được người ta dỗ dành, gợi ý bao nhiêu đi nữa vẫn thấy không thể nhắc nhở bố mẹ việc họ đã hứa đưa nó tới hiệu đồ chơi. Không cần đánh trống lảng gì cả.
“Tôi mong là hai chúng ta đi cùng nhau.”
“Ý cậu là giống hôm trước à?” Anh nói thêm như thể giúp tôi nói ra điều tôi không thể tự khiến mình thốt ra, nhưng chẳng làm cho việc dễ dàng hơn bằng cách giả vờ quên ngày chính xác.
“Tôi nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ làm bất cứ gì tương tự nữa.” Tôi cố lấy giọng cao quý và nghiêm nghị dẫu thất bại. “Nhưng phải, giống vậy.” Tôi cũng có thể mơ hồ.
Một thiếu niên cực kỳ nhút nhát như tôi có can đảm để thốt ra những điều ấy là nhờ một lý do duy nhất: một giấc mơ trong hai, có lẽ ba đêm liên tiếp. Trong giấc mơ tôi, anh nài xin tôi, nói rằng, “Cậu mà dừng lại là giết tôi.” Tôi ngỡ mình nhớ bối cảnh, nhưng tôi ngượng tới nỗi tôi đâm ra ngần ngừ, thậm chí là tự ngăn chính mình thú nhận. Tôi đã chụp lên nó một lớp màn rồi chỉ có thể lén lút trộm nhìn vào.
Ngày hôm ấy thuộc về một chiều không gian khác. Chúng tôi nên gợi lại quá khứ...
Oliver lắng nghe.
“Điểm dễ khiến người ta cảm tình nhất ở cậu là giọng nói khôn ngoan này đây.” Anh rời mắt khỏi tấm bìa, ngẩng lên nhìn đăm đăm vào mặt tôi, khiến tôi cảm thấy bối rối kinh khủng. “Cậu thích tôi nhiều vậy sao, Elio?”
“Tôi có thích anh không ấy à?” Tôi muốn ra giọng hoài nghi, như tỏ ý hỏi cớ sao anh lại có thể nghi ngờ điều ấy. Nhưng rồi tôi nghĩ kỹ, sắp sửa hạ giọng đáp lại bằng một câu lảng tránh Có lẽ vốn nên có nghĩa là Nhất định rồi, rồi tôi buột miệng: “Tôi thích anh hay không ấy à, Oliver? Tôi tôn thờ anh.” Đấy, tôi nói ra rồi. Tôi muốn hai chữ ấy khiến anh giật mình, như bị một cái tát vào mặt, để có thể lập tức dẫn tới những mơn trớn ủy mị nhất. Đã gọi là tôn thờ thì thích có nghĩa lý gì. Nhưng tôi cũng muốn cái động từ của tôi hàm chứa một đòn kết liễu thuyết phục không phải đối với người thích ta, mà là đối với bạn thân của người đó, người bạn thân đó sẽ kéo ta ra mà nói, Đấy, tôi nghĩ là anh phải biết người-như-vậy-đó tôn thờ anh. Hai chữ “tôn thờ” dường như nói nhiều hơn bất kỳ ai có can đảm nói ra trong nhiều tình huống; nhưng đó là điều an toàn nhất, và tối nghĩa nhất mà tôi nặn ra được. Tôi tự công nhận là đã hắt sự thật khỏi lồng ngực mình, trong khi luôn tìm kiếm một lối thoát để rút lui lập tức trong trường hợp mình đã liều đi quá xa.
“Tôi sẽ cùng đi với cậu vào B. ,” anh nói. “Nhưng không diễn văn gì cả nhé.”
“Không diễn văn gì cả, không gì hết, một từ cũng không.”
“Nửa tiếng nữa mình lấy xe đi được không?”
Ôi Oliver, tôi tự nhủ trong lúc vào bếp tìm nhanh gì để ăn, tôi sẽ làm bất cứ gì vì anh. Tôi sẽ đạp xe lên đồi với anh, rồi tôi sẽ đua với anh trên con đường vào thị trấn, và sẽ không chỉ ra biển khi cả hai tới gò vẽ, và tôi sẽ chờ ở quán bar trên quảng trường trong khi anh gặp cô biên dịch của anh, và tôi sẽ chạm vào đài tưởng niệm người chiến sĩ vô danh đã hi sinh trên dòng Piave, và tôi sẽ không nói một lời, tôi sẽ chỉ anh đường tới hiệu sách, rồi cả hai sẽ để xe trước cửa hiệu, cùng đi vào, cùng rời đi, và tôi hứa, tôi hứa, tôi hứa rằng sẽ không có bất kỳ gợi ý nào về Shelley hay Monet, tôi cũng sẽ không bao giờ hạ mình mà nói với anh rằng hai đêm trước anh đã thêm một vòng sinh trưởng vào hồn tôi.
Tôi sẽ tận hưởng điều này vì nó đáng tận hưởng, tôi cứ tự nhủ như vậy. Chúng tôi là hai thanh niên đi xe đạp, và chúng tôi sẽ đi vào thị trấn rồi trở về, và chúng tôi sẽ bơi, chơi quần vợt, ăn, uống, và khi đêm buông sẽ tình cờ gặp nhau ở chính cái quảng trường mà hai buổi sáng trước giữa hai chúng tôi đã có thật nhiều điều nhưng thực ra là không có gì được nói ra. Anh sẽ cùng đi với một cô gái, tôi sẽ cùng đi với một cô gái, và chúng tôi sẽ vui vẻ. Mỗi ngày, nếu tôi không làm mọi thứ rối lên, chúng tôi có thể đạp xe vào thị trấn rồi trở về, và ngay cả khi anh chỉ cho đi được có vậy, tôi sẽ nhận lấy – ít hơn nữa cũng được, nếu chỉ để sống bằng những mẩu miếng xác xơ ấy.
Sớm hôm đó chúng tôi đạp xe vào thị trấn, mau chóng xong việc với cô biên dịch, nhưng sau ly cà phê vội vàng ở quán bar, hiệu sách vẫn chưa mở cửa. Thế nên chúng tôi nhẩn nha trên quảng trường, tôi ngó đăm chiêu vào đài tưởng niệm, anh ngó ra cảnh vịnh nhuốm nắng, không ai nói lời nào về bóng ma của Shelley ám từng bước chân chúng tôi trong thị trấn và vẫy gọi còn ầm ĩ hơn cả phụ thân của chàng Hamlet. Không nghĩ ngợi gì, anh hỏi biển như vậy thì sao người ta lại chết đuối được. Tôi lập tức mỉm cười, bởi tôi bắt gặp ý muốn trở lại đối thoại của anh, điều này liền mang lại nụ cười đồng lõa trên mặt chúng tôi, giống như cái hôn ướt át thắm thiết giữa cuộc nói chuyện của hai con người đã vô tư lự tìm đến môi nhau qua một sa mạc đỏ bỏng cháy mà cả hai đã cố ý đặt ở giữa để khỏi sờ soạng nhau trong trần trụi.
“Cứ tưởng mình sẽ không nhắc tới,” tôi bắt đầu.
“Không diễn văn. Tôi biết.”
Khi trở lại hiệu sách, chúng tôi để xe bên ngoài rồi bước vào.
Cảm giác thật đặc biệt. Giống như cho ai thấy nhà thờ riêng của mình, nơi lui tới bí mật, nơi giống như gò vẽ, ta tới để được một mình, để mơ về những kẻ khác. Đây là nơi tôi mơ về anh trước khi anh bước vào đời tôi.
Tôi thích phong thái của anh trong hiệu sách. Anh tò mò nhưng không hoàn toàn tập trung, quan tâm nhưng lại hờ hững, đảo qua đảo lại giữa hai thái cực Xem tôi tìm được gì này và Tất nhiên là nhà sách phải có những quyển thế này thế đó!
Người bán sách đã đặt hai cuốn Armance của Stendhal, một cuốn bìa mềm và một cuốn bìa cứng đắt tiền. Một cơn bốc đồng khiến tôi nói là tôi sẽ lấy cả hai và ghi tên cha tôi vào hóa đơn. Rồi tôi hỏi mượn người phụ việc của ông ta một cây viết, mở cuốn bìa cứng ra, viết vào, Zwischen Immer und Nie, dành cho anh trong im lặng, đâu đó ở nước Ý giữa những năm tám mươi.
Nhiều năm tới, nếu cuốn sách vẫn còn thuộc về anh, tôi muốn anh đau khổ. Tốt hơn cả, tôi muốn ai đó một ngày nọ đọc những cuốn sách của anh, mở cuốn Armance tí hon này ra rồi hỏi, Nói tôi biết ai im lặng ở đâu đó ở nước Ý giữa những năm tám mươi? Và rồi tôi muốn anh có một cảm giác trỗi dậy thật nhanh như sầu khổ và mãnh liệt hơn hối tiếc, thậm chí có lẽ là thương cảm tôi, bởi trong hiệu sách sáng hôm ấy tôi cũng sẽ nhận lấy lòng thương cảm, nếu thương cảm là tất cả anh có thể trao, nếu thương cảm có thể khiến anh ôm lấy tôi, và bên dưới cơn thương cảm cùng hối tiếc lơ lửng một dòng ngầm mơ hồ, dục cảm mà sau bao nhiêu năm trời, tôi muốn anh nhớ về buổi sáng ở gò vẽ của Monet, khi tôi hôn anh không phải lần đầu mà là lần thứ hai và cho nước bọt vào miệng anh bởi vì tôi muốn có của anh trong mình đến mức tuyệt vọng.
Anh nói gì đó đại ý món quà là điều tốt đẹp nhất anh nhận được trong cả năm. Tôi nhún vai để làm nhẹ đi lời tri ân xã giao. Có lẽ tôi chỉ muốn anh lặp lại câu đó.
“Vậy tôi vui rồi. Tôi chỉ muốn cảm ơn anh vụ sáng nay.” Và trước khi anh kịp nghĩ tới chuyện ngắt lời, tôi nói thêm, “Tôi biết rồi, không diễn văn, không bao giờ.”
Trên đường xuống đồi, chúng tôi đi qua điểm quen thuộc của tôi, và lần này người nhìn đi hướng khác là tôi, cứ như bị lơ đãng. Tôi chắc rằng nếu lúc đó mình nhìn anh, chúng tôi sẽ cười với nhau cái nụ cười dễ lây mà chúng tôi sẽ lập tức tắt đi khi nhắc tới cái chết của Shelley. Nó có thể mang chúng tôi lại gần nhau hơn, giá như chỉ để nhắc nhớ chúng tôi phải xa cách đến mức nào. Có lẽ khi nhìn hướng khác và biết rằng chúng tôi đã nhìn hướng khác để tránh “diễn văn,” chúng tôi đã tìm ra một duyên cớ để cười với nhau, bởi tôi chắc anh biết tôi biết là anh biết tôi đang lảng tránh chuyện nhắc tới gò vẽ của Monet, và rằng sự tránh né này, điều này là dấu hiệu khiến chúng tôi xa cách nhau, thay vào đó, lại là một khoảnh khắc đồng bộ tuyệt vời của tình thân mật mà cả hai chúng tôi đều không muốn xua tan đi. Cũng như vậy trong cuốn sách tranh, tôi có thể nói như vậy, nhưng lại cắn lưỡi lặng im. Không diễn văn gì cả.
Nhưng nếu trong lúc chúng tôi đạp xe cùng nhau những buổi sáng kế tiếp, anh mà hỏi là tôi sẽ phun ra tất cả.
Tôi sẽ nói với anh rằng dù cả hai chạy xe đạp mỗi ngày lên tới tận quảng trường, nơi tôi nhất quyết không nói trừ khi tới lượt mình, nhưng hàng đêm, khi tôi biết anh nằm trên giường, tôi vẫn mở rèm và bước ra bao lơn, hi vọng anh sẽ nghe tiếng rung kính từ cái cửa sổ mái, theo sau là tiếng bản lề cũ cót két không lẫn vào đâu được. Tôi sẽ chờ anh ở đó, chỉ mặc chiếc quần pyjama, nếu anh hỏi tôi ở đó làm gì, tôi sẵn sàng thừa nhận rằng vì đêm quá nóng, mùi hương sả nồng không chịu nổi, và tôi thích thức chứ không ngủ, không đọc, chỉ thao láo, bởi tôi không khiến mình ngủ được. Rồi nếu anh hỏi tại sao tôi không ngủ được, tôi sẽ nói đơn giản rằng, Anh không muốn biết đâu, hoặc nói vòng vo là tôi đã hứa sẽ không bao giờ băng qua mé bao lơn của anh, một phần là vì tôi rất sợ làm anh phật ý, nhưng cũng là vì tôi không muốn thử sợi dây gài vô hình giữa chúng tôi – Cậu đang nói dây gài gì vậy? – Cái dây gài mà đêm nọ, nếu cơn mơ của tôi quá mãnh liệt hoặc tôi uống nhiều rượu hơn bình thường, tôi đã có thể dễ dàng vượt qua, để đẩy mở cửa sổ kính của anh mà nói, Oliver, là em đây, em không ngủ được, cho em ở với anh. Là sợi dây gài đó!
Sợi dây gài ấy cứ lù lù hiện ra suốt buổi đêm. Tiếng một con cú, tiếng cửa chớp bên phòng Oliver cót két theo gió, tiếng nhạc văng vẳng từ một sàn nhảy thâu đêm bên thị trấn trên đồi kế cận, tiếng mèo cào lúc đã rất khuya, hoặc tiếng kẽo kẹt của rầm gỗ trên cửa phòng ngủ, bất cứ gì cũng có thể thức tôi dậy. Nhưng tôi đã biết những thanh âm này từ ấu thơ, và giống như con nai biết vẫy đuôi đuổi loài côn trùng quấy rầy rồi lập tức ngủ lại. Dẫu vậy, đôi khi có một thứ mơ hồ, ngỡ như cảm giác sợ hãi hoặc xấu hổ sẽ thoát ra khỏi giấc ngủ rồi lơ lửng quanh tôi, nhìn tôi ngủ, cúi xuống tai tôi rồi rốt cuộc thì thầm, Ta không thức mi dậy đâu, thật vậy, ngủ lại đi, Elio, cứ ngủ đi – trong khi tôi cố hết sức nối lại giấc mơ tôi sắp mơ ngay lúc này và gần như có thể viết lại nó nếu cố thêm chút nữa.
Nhưng giấc ngủ không chịu đến, lại có không chỉ một mà là hai ý nghĩ xáo động, như cặp bóng ma hiện thân ra từ màn sương mộng mị, đứng đó nhìn tôi: là ham muốn – nỗi khát khao muốn bung mở cửa sổ và không nghĩ ngợi gì, trần truồng chạy bổ vào phòng anh, và ô nhục – tôi không thể nào đánh liều làm vậy. Chúng đứng đó, huyền thoại của tuổi xuân, hai phúc vật của đời tôi là đói khát và sợ hãi, dõi theo tôi mà nói, Biết bao người trước mi đã nắm lấy cơ hội và được tưởng thưởng, sao mi lại không thể? Không lời đáp. Bao nhiêu kẻ đã ngần ngại, vậy thì cớ sao mi lại ngần ngại? Không lời đáp. Rồi câu đó cất lên như để nhạo báng tôi mãi: Nếu không phải là sau này thì khi nào hở Elio?
Một lần nữa, câu trả lời đến vào đêm đó, dù là đến trong giấc mơ, giấc mơ này lại nằm trong một giấc mơ. Tôi thức dậy với một hình ảnh cho tôi biết nhiều hơn tôi muốn biết. Dường như tôi có thành thật đến đâu khi thừa nhận với bản thân về điều mình muốn từ anh, và muốn đến mức nào, tôi vẫn còn né tránh một vài góc khuất. Trong giấc mơ này, rốt cuộc tôi biết rằng thân thể mình hẳn đã nhận biết kể từ ngày đầu tiên. Chúng tôi ở trong phòng anh, và trái ngược với tất cả những gì tôi tưởng tượng, không phải tôi nằm ngửa trên giường, mà là Oliver; tôi nằm trên anh, ngắm nhìn. Trên gương mặt anh có nét gì đó đột nhiên phấn khởi, chực chờ nhu thuận, và ngay trong giấc ngủ tôi, điều này rứt hết tình cảm ra khỏi tôi mà nói cho tôi biết rằng tôi không tài nào biết hoặc đoán được: rằng việc tôi không trao cho anh thứ tôi khát khao dâng hiến dù bất cứ giá nào có lẽ là tội ác lớn lao nhất tôi từng phạm phải trong đời. Tôi muốn dâng cho anh gì đó, muốn đến tuyệt vọng. Ngược lại, việc nhận lấy có vẻ nhạt nhẽo, giả tạo, máy móc. Rồi tôi nghe ra lời đó, như tôi biết, đến lúc này tôi sẽ nghe ra. “Cậu dừng lại là giết tôi đó,” anh đang thở gấp, biết rằng anh đã nói ra lời y hệt với tôi vài đêm trước trong một giấc mơ khác, nhưng một khi đã nói ra, anh cũng tự do lặp lại nó bất cứ khi nào anh vào giấc mơ tôi, dẫu hình như cả hai đều không biết đó là giọng nói của anh vang lên bên trong tôi hay ký ức của tôi về nó vang lên trong anh. Gương mặt anh, với vẻ vừa chịu đựng vừa xúi bẩy niềm đam mê của tôi, khiến tôi nghĩ đến sự bao dung và ngọn lửa mà tôi chưa từng thấy và chẳng bao giờ tưởng tượng ra trên gương mặt ai đó trước đây. Chính hình ảnh này về anh sẽ trở thành ngọn đèn trong đêm tối đời tôi, mãi soi tỏa những ngày tôi đã gần như bỏ cuộc, nhen nhóm lại niềm khát khao anh khi tôi muốn nó chết đi, khơi lại đốm lửa can đảm khi tôi sợ rằng sự hắt hủi có thể xua tan bất cứ thứ gì tương tự lòng tự trọng. Vẻ mặt anh trở thành tấm ảnh tí hon của người thương mà những người lính mang theo ra chiến trường, không chỉ để nhắc nhớ rằng trên đời có điều tốt đẹp và hạnh phúc đón chờ họ, mà cũng là để nhắc nhớ rằng gương mặt này có thể chẳng bao giờ tha thứ cho họ nếu họ trở về trong túi đựng xác.
Những lời này khiến tôi thèm khát và thử làm nhiều thứ tôi chẳng bao giờ nghĩ mình có thể.
Bất kể anh muốn dứt khỏi tôi đến mức nào, bất kể những kẻ mà anh đã bầu bạn và chắc chắn là ngủ cùng hằng đêm, bất cứ ai đã hé lộ toàn bộ nhân tính với tôi khi trần trụi nằm dưới tôi, cả khi trong giấc mơ, không thể nào khác đi trong đời thật. Đây là con người thật của anh; những thứ còn lại chỉ là sự tình cờ.
Không: anh là con người khác, người trong bộ đồ tắm màu đỏ.
Có điều tôi không thể tự cho phép mình hi vọng sẽ có dịp thấy anh không mặc bộ đồ tắm nào.
Nếu như buổi sáng ngày thứ hai, sau khi tới quảng trường, tôi gom hết can đảm để nài cho được cùng đi vào thị trấn với anh dù rõ là anh chả thèm nói chuyện với tôi, nguyên nhân chỉ là vì lúc tôi nhìn anh và thấy anh đọc to những từ anh vừa viết trên tấm bìa vàng, tôi cứ nhớ đến những từ khác, van vỉ của anh: “Cậu dừng lại là giết tôi đấy.” Khi đưa cho cuốn sách cho anh trong hiệu sách, rồi sau đó thậm chí còn nài để được trả tiền kem vì đi mua kem có nghĩa là đẩy xe cùng nhau qua những lối đi phủ bóng râm của B. và do đó được bên nhau lâu thêm chốc lát, cũng là để tôi cảm ơn anh đã nói ra câu “Cậu dừng lại là giết tôi đấy” – bây giờ càng quý giá hơn bất kỳ lời thú nhận nào từ anh. Sáng hôm ấy, tôi viết vào nhật ký nhưng bỏ đi câu tôi đã mơ. Tôi muốn nhiều năm sau đọc lại và tin, dù chỉ một khoảnh khắc, rằng thực sự anh đã nói lời van nài ấy với tôi. Điều tôi muốn lưu giữ là tiếng hổn hển của anh còn vang trong tôi mãi nhiều ngày sau, và cho tôi biết, nếu tôi có thể đêm nào cũng có anh trong mơ suốt đời mình, tôi sẽ đặt cược cả đời mình vào những giấc mơ và thây kệ những thứ khác.
Trong khi thả dốc xuống đồi qua chỗ của tôi, qua những lùm ô-liu và hướng dương đưa gương mặt hốt hoảng nhìn ra, chúng tôi lướt đi ngang qua những cây thông biển sao, qua hai toa tàu cũ đã mất bánh từ mấy đời rồi nhưng vẫn còn mang huy hiệu hoàng gia của gia tộc Savoy, ngang qua chuỗi quầy bán hàng của người gypsy, họ gào đòi giết chúng tôi vì tội suýt quẹt vào các cô con gái của họ, tôi quay sang anh mà nói, “Giết tôi đi nếu tôi dừng lại.”
Tôi nói câu đó để đặt lời của anh vào miệng mình, thưởng thức nó một chốc lâu hơn trước khi gom nó trở vào nơi lẩn trốn của mình, giống như cách những người chăn cừu đưa cừu lên đồi khi trời nóng nhưng khi trời mát đi, lại vội lùa cừu trở vào nhà. Bằng cách thét lên lời anh, tôi tô vẽ thêm chi tiết cho nó, cho nó sống lâu hơn, giống như giờ đây nó có cuộc đời riêng, một cuộc đời dài lâu và ầm ĩ hơn mà chẳng ai chi phối được, giống như sự sống của những tiếng vang vọng bật khỏi vách đá của B., lặn xuống bãi cạn nơi con thuyền của Shelley gặp nạn. Tôi trả lại Oliver điều thuộc về anh, trả lại những lời của anh với mong ước ngầm là anh lặp lại những lời ấy với tôi, giống như trong giấc mơ, bởi vì giờ đây tới lượt của anh cất tiếng.
Bữa ăn trưa, không một lời. Sau đó anh ngồi trong bóng râm ngoài vườn để làm phần việc của hai ngày theo như anh thông báo trước khi uống cà phê. Không, tối nay anh không vào thị trấn. Có lẽ mai. Cũng chẳng chơi bài poker. Rồi anh đi lên lầu.
Vài ngày trước bàn chân anh nằm trên bàn chân tôi. Giờ đây, một cái liếc nhìn cũng không có.
Gần giờ ăn tối, anh trở xuống uống nước. “Tôi sẽ nhớ tất cả những điều này, thưa Signora P. ,” anh nói, mái tóc lấp lánh sau khi tắm vào chiều muộn, nét mặt của “ngôi sao” ngời ngời. Mẹ tôi mỉm cười; la muvi star rất được hoàn nghênh ennnni taim. Rồi anh đi bộ một chốc như thường lệ với Vimini để giúp cô bé tìm con tắc kè hoa cưng. Tôi không bao giờ hiểu nổi hai người họ nhìn ra điều gì ở nhau, nhưng có cảm giác là nó tự nhiên và ngẫu hứng hơn nhiều so với bất cứ gì anh và tôi sẻ chia. Nửa giờ sau, họ về. Vimini đã bóc vỏ một cây vả, và bị mẹ nó bảo đi rửa tay trước khi ăn tối.
Lúc ăn tối không lời nào. Sau bữa tối anh biến mất lên lầu.
Tôi chắc mẩm là tới chừng mười giờ anh sẽ chuồn ra, vào thị trấn. Nhưng tôi thấy ánh sáng hắt ra từ đoạn cuối bao lơn của anh, dải sáng màu cam xiên ra phía chiếu nghỉ cạnh cửa phòng tôi. Thi thoảng tôi lại nghe tiếng anh di chuyển.
Tôi quyết định gọi một người bạn để hỏi xem cậu ấy có vào thị trấn không. Mẹ cậu ta bảo cậu đã đi rồi, và đúng, rất có thể là tới cùng nơi đó. Tôi gọi một đứa khác. Cậu ta cũng đã đi rồi. Cha tôi hỏi, “Sao con không gọi con bé Marzia? Con đang tránh mặt nó sao?” Không phải tránh mặt – nhưng nàng lúc nào cũng có vẻ nhiều rắc rối. “Chứ còn gì nữa!” Ông nói thêm. Khi tôi gọi, nàng bảo rằng tối nay nàng không đi đâu cả. Giọng nàng lạnh nhạt, u ám. Anh gọi để xin lỗi em. “Nghe nói anh bị bệnh.” Không có gì. Tôi đáp. Tôi có thể tới đón nàng bằng xe đạp, rồi hai đứa sẽ đạp xe vào B. Nàng bảo sẽ đi cùng.
Cha mẹ tôi đang xem ti-vi lúc tôi bước ra khỏi nhà. Tôi nghe tiếng chân mình trên lối sỏi. Tôi chẳng ngại tiếng động, vì nó bầu bạn cùng tôi. Tôi nghĩ anh cũng sẽ nghe thấy.
Marzia gặp tôi trong vườn. Nàng ngồi trên cái ghế cũ bằng sắt uốn, hai chân xoãi ra trước, gót chạm đất. Nàng mặc cái áo khoác len. Anh bắt em đợi lâu quá, nàng nói. Hai đứa rời nhà nàng bằng lối tắt, dốc hơn, nhưng dẫn tới thị trấn rất nhanh. Ánh sáng và âm thanh nhộn nhịp của cuộc sống về đêm từ quảng trường tràn ra cả những ngõ phố kế cận. Có một nhà hàng thường hay đặt những chiếc bàn gỗ bé xíu trên vỉa hè khi hết cả chỗ cho đám khách quen trên quảng trường. Lúc vào quảng trường, sự nhộn nhịp, huyên náo khiến trong lòng tôi dâng đầy cái cảm giác quen thuộc – lo lắng, bất thỏa đáng. Marzia sẽ gặp phải bạn bè, những người khác rồi sẽ chòng ghẹo. Ngay cả chuyện ở bên nàng cũng thách thức tôi cách này hay cách khác. Tôi không thích bị thách thức.
Thay vì ngồi cùng với những người quen ở bàn trong quán ăn, hai đứa đứng xếp hàng để mua kem. Nàng cũng bảo tôi mua thuốc lá nữa.
Tay cầm kem ốc quế, hai đứa bắt đầu dạo thong thả qua quảng trường đông đúc, đi thẳng dọc theo một con phố, rồi một con phố nữa, rồi lại một con phố nữa. Thôi thích ánh đá cuội lấp lánh trong bóng tối, giống như cách nàng và tôi thả bước một cách lười nhác, tay dắt xe đạp đi qua thị trấn, lắng nghe tiếng ti-vi vặn nhỏ lẻn ra từ đằng sau những cánh cửa sổ mở. Hiệu sách vẫn còn mở, thế là tôi hỏi nàng có phiền nếu ghé vào chăng. Không, nàng không phiền, nàng sẽ vào cùng tôi. Hai đứa gá xe đạp vào tường. Sau tấm rèm tràng hạt là căn phòng mốc meo vương khói thuốc, đây đó những gạt tàn đầy ứ. Ông chủ hiệu tính đóng cửa sớm, nhưng bản tứ tấu của Schubert hãy còn vang, và có một cặp chừng hai mươi mấy, là khách du lịch, đang lật xem vài quyển trong góc sách tiếng Anh, có lẽ đang tìm một tiểu thuyết mang âm hưởng địa phương. Thật là khác với buổi sáng nọ, chẳng có bóng người nào, chỉ có ánh mặt trời chói lóa cùng mùi cà phê mới ngập tràn hiệu sách. Marzia nhìn qua vai tôi, trong khi tôi cầm lấy một quyển thơ trên bàn rồi bắt đầu đọc một bài. Tôi sắp sang trang thì nàng bảo còn chưa đọc xong. Tôi thích thế này. Nhìn thấy cặp đôi bên cạnh sắp mua một tiểu thuyết dịch từ tiếng Ý, tôi cắt ngang cuộc chuyện trò của họ, khuyên đừng mua. “Quyển này hay hơn nhiều, rất nhiều. Bối cảnh ở Sicily, không phải vùng này, nhưng chắc đây là cuốn tiểu thuyết Ý hay nhất được viết ra trong thế kỷ này. ”
“Bọn tôi xem phim rồi,” cô gái nói. “Có hay như Calvino không chứ?” Tôi nhún vai. Marzia vẫn còn hứng thú với bài thơ đó, đang đọc lại lần nữa. “Calvino làm sao mà so được – hào nhoáng mà rỗng ruột. Nhưng tôi chỉ là một đứa nhóc thôi, tôi biết gì chứ?”
Có hai thanh niên khác mặc áo khoác thể thao mùa hè sành điệu, không cà vạt đang bàn luận văn chương với chủ hiệu sách, cả ba đều đang hút thuốc. Trên bàn, cạnh quầy thu tiền có một mớ ly rượu vang gần như cạn, và cạnh đó là một chai porto lớn. Tôi để ý thấy mấy người khách du lịch đang cầm ly đã cạn. Rõ ràng là họ được mời rượu trong buổi tiệc ra mắt sách. Chủ hiệu sách nhìn sang chúng tôi, cái liếc mắt lặng lẽ tỏ ý cáo lỗi vì đường đột và hỏi xem hai đứa tôi có muốn nhấm chút porto chăng. Tôi nhìn Marzia rồi nhún vai đáp lại, tức là, Nàng dường như không muốn. Chủ hiệu sách, vẫn im lặng, chỉ vào cái chai rồi lắc đầu kiểu như không ưng bụng, tỏ ý bỏ phí chai rượu porto ngon thế này tối nay thật là uổng, vậy sao không giúp ông ta uống cạn trước khi đóng cửa hiệu. Rốt cuộc tôi chấp nhận, Marzia cũng vậy. Theo phép lịch sự, tôi hỏi tối nay ra mắt quyển sách nào. Một người đàn ông khác mà tôi chưa thấy, bởi ông đã đọc gì đó trong kẹt tường, nêu tên quyển sách: Se l’amore. Nếu tình yêu. “Nó hay không?” Tôi hỏi. “Đồ bỏ đi thôi.” Ông ta trả lời. “Tôi biết mà. Tôi viết nó chứ ai.”
Tôi ghen tị với ông. Tôi ghen tị với ông về chuyện đọc sách, về tiệc ra mắt sách, về bạn bè và những kẻ ái mộ đến từ quanh đây để chúc mừng ông trong cái hiệu sách nho nhỏ cạnh cái quảng trường nho nhỏ trong cái thị trấn nho nhỏ của chúng tôi. Họ đã để lại hơn năm mươi cái ly cạn đằng sau. Tôi ghen tị với ông cái đặc quyền hạ mình.
“Ông ký tặng tôi một quyển nhé?”
“Con piacere, rất vui lòng” ông đáp, rồi trước khi chủ hiệu sách kịp chìa ra một cây bút nỉ, tác giả đã rút ra cây Pelikan của ông. “Tôi không chắc quyển sách này là dành cho anh, nhưng...” Ông bỏ lửng để câu nói trượt vào thinh lặng, với thái độ pha lẫn giữa cực kỳ khiêm nhường và một tí ti khoa trương kiểu cách, được diễn dịch ra là, Anh yêu cầu tôi ký tên, và tôi quá là vui sướng được đóng vai của thi sĩ trứ danh mà hai ta đều biết rằng tôi không phải.
Tôi quyết định mua một quyển cho Marzia nữa, và nài nỉ ông ta ký tặng nàng, ông thuận ý, thêm vào hình loằng ngoằng bất tận gì đó cạnh tên ông. “Tôi cũng không nghĩ rằng nó là dành cho cô, nhưng...”
Rồi một lần nữa, tôi bảo ông chủ hiệu sách ghi thanh toán bằng tên cha tôi.
Lúc hai đứa đứng gần quầy thu tiền, nhìn ông chủ hiệu mải mê bao từng quyển sách lại bằng giấy bóng vàng, sau cột một dải ruy-băng, rồi trên ruy-băng là cái nhãn dính màu bạc của cửa hiệu, tôi rụt rè lại gần nàng, rồi có lẽ đơn giản là vì nàng đứng đó quá gần bên tôi, hôn vào sau tai nàng.
Hình như nàng rùng mình, nhưng không cử động. Tôi hôn nàng lần nữa. Rồi lấy lại được bình tĩnh, tôi thầm thì, “Có sao không? ”
“Đâu có sao,” nàng thì thầm đáp lại.
Ra ngoài, nàng không kiềm chế được nữa. “Tại sao anh mua cuốn sách này cho em?”
Trong một thoáng tôi cứ tưởng nàng sắp hỏi tại sao tôi hôn nàng.
“Perché mi andava, bởi vì anh muốn như thế.”
“Ừ, nhưng tại sao anh mua nó cho em – tại sao mua cho em một cuốn sách?”
“Anh không hiểu sao em hỏi vậy.”
“Tên ngốc nào cũng hiểu được tại sao em hỏi. Nhưng anh thì không. Phải rồi!”
“Anh vẫn chưa hiểu.”
“Anh đúng là hết thuốc chữa.”
Tôi nhìn chằm chằm vào nàng, hoàn toàn bất ngờ thấy những run rẩy vì cơn giận và phật ý trong giọng nàng.
“Anh mà không nói, em sẽ tưởng tượng ra đủ chuyện – rồi em sẽ thấy kinh khủng.”
“Em đúng là ngốc. Đưa anh điếu thuốc đi.”
Đâu phải tôi không dò được ý nàng nói gì, nhưng chẳng ngờ mình không tin nổi nàng nhìn thấu tôi rõ đến vậy. Có lẽ tôi không muốn tin điều nàng ám chỉ, vì sợ phải cắt nghĩa hành vi mua sách. Có phải tôi đã cố ý không thành thật? Liệu tôi có thể tiếp tục diễn giải sai điều nàng nói mà không cảm thấy hoàn toàn gian dối?
Rồi tôi đạt được một sự thấu thị. Có lẽ tôi đã phớt lờ từng tín hiệu một từ nàng có chủ ý – để đẩy nàng đến chỗ thổ lộ – tức là tôi đã dùng sự ngượng nghịu cũng như bất lực của mình như một chiến lược.
Chỉ khi đó, một ý nghĩ nảy bật ra khiến tôi ngạc nhiên. Có phải Oliver đã và đang làm điều tương tự với tôi? Tức là lúc nào cũng cố ý phớt lờ tôi để thu hút tôi lại gần?
Có phải đây là điều anh ám chỉ lúc nói rằng đã nhìn thấu hết nỗ lực của tôi nhằm phớt lờ anh?
Hai đứa rời hiệu sách, châm hai điếu thuốc. Một phút sau thì nghe thấy tiếng kim loại rầm rập. Chủ hiệu đang hạ cửa kéo. “Anh thích đọc nhiều vậy sao?” Nàng hỏi trong khi cùng tôi đi nhẩn nha trong bóng tối về phía quảng trường.
Tôi nhìn nàng, cứ như nàng vừa hỏi tôi có yêu âm nhạc không, hay bánh mì, bơ muối, hay trái cây chín mọng vào hè. “Đừng hiểu lầm em,” nàng nói. “Em cũng thích đọc. Nhưng không kể với ai cả.” Rốt cuộc mình cũng gặp người nói sự thật, tôi nghĩ. Tôi hỏi nàng sao lại không kể với ai. “Em chẳng biết...” Đây là cách nàng trì hoãn, hoặc rào đón trước khi trả lời, “Người đọc là người giấu giếm. Họ giấu con người thật. Mà đã giấu thì họ không phải lúc nào cũng thích con người thật của mình.”
“Em có giấu con người thật không?”
“Thi thoảng. Anh có không?”
“Anh ấy à? Cũng có.” Và rồi hoàn toàn không phải bốc đồng, tôi thấy mình đang nghĩ tới một câu hỏi mà trong trường hợp khác tôi sẽ chẳng bao giờ dám hỏi. “Em có giấu anh không?”
“Không, không giấu anh. Hay có lẽ, ừ, một chút.”
“Như là gì?”
“Anh biết chính xác như là gì mà.”
“Sao em lại nói vậy?”
“Sao ấy à? Bởi em nghĩ anh có thể làm em tổn thương, mà em thì không muốn bị tổn thương.” Rồi nàng nghiền ngẫm một lúc. “Không hẳn là anh có ý làm hại ai, nhưng anh thì hay đổi ý lắm, hay trốn tránh, nên chẳng ai biết tìm anh ở đâu cả. Anh làm em sợ.”
Cả hai đang bước đi chậm rãi đến nỗi khi dừng xe lại, không ai nhận ra. Tôi nhoài sang hôn nhẹ lên môi nàng. Nàng đẩy chiếc xe tới dựa vào cửa một tiệm đã đóng, rồi dựa vào tường, nói, “Hôn em lại đi?” Bật chống xe, tôi dựng nó giữa lối đi, rồi khi bên cạnh nhau, tôi áp hai bàn tay vào mặt nàng, gần lại nàng bắt đầu hôn, tay tôi dưới áo nàng, tay nàng luồn vào tóc tôi. Tôi thích sự đơn giản, thật thà của nàng trong từng từ từng chữ nàng nói với tôi đêm đó – thẳng thắn, đầy tình người, không kìm nén – và cái cách hông nàng đáp lại tôi mà không ức chế hay cường điệu, như thể giữa cặp môi và hông ở nàng là mối liên kết tức thời không ngừng biến đổi vậy. Nụ hôn môi không phải là khúc dạo đầu cho sự tiếp xúc toàn phần, bản thân nó đã là tiếp xúc toàn phần. Chẳng có gì ngăn cách giữa thân thể hai đứa trừ lớp quần áo, nên tôi không ngạc nhiên khi nàng chen bàn tay vào giữa rồi xuống dưới, vào trong quần tôi, rồi nói, “Sei duro, duro, anh cứng quá.” Và chính sự thẳng thắn, tự nhiên, không giới hạn của nàng lại khiến tôi càng cương thêm nữa.
Tôi muốn nhìn sâu thẳm vào trong mắt nàng trong khi nàng nắm tay tôi, nói với nàng tôi muốn hôn nàng từ lâu rồi, nói gì đó để chứng tỏ rằng con người đã đến nhà rồi đưa nàng đi không còn là cậu nhóc lạnh lùng, vô hồn nữa – nhưng nàng cắt ngang: “Baciami ancora, hôn em lần nữa đi.”
Tôi hôn nàng lần nữa, nhưng tâm trí lại vụt nghĩ về gò vẽ. Tôi có nên đề nghị chỗ đó? Hai đứa sẽ phải đạp xe năm phút nữa, nếu đi theo con đường tắt của nàng, chạy thẳng qua rừng ô-liu. Tôi biết hai đứa sẽ chạm mặt các cặp tình nhân khác quanh vùng. Nếu không thì bãi biển. Tôi từng dùng chỗ đó. Ai cũng vậy. Tôi có thể mời về phòng mình, ở nhà sẽ chẳng ai hay biết, mà có biết chuyện cũng chẳng quan tâm.
Một hình ảnh vụt qua trong đầu tôi: nàng và tôi cùng ngồi trong vườn mỗi sáng, sau bữa điểm tâm, nàng mặc bikini, cứ giục tôi xuống lầu để đi bơi với nàng.
“Ma tu mi vuoi veramente bene, anh thích em thật chứ?” Nàng hỏi. Sao bỗng dưng lại hỏi thế – hay có phải vì ánh mắt tổn thương, cần vỗ về đã ám vào từng bước chân hai đứa từ khi rời khỏi hiệu sách?
Tôi không hiểu nổi làm sao sự bạo dạn cùng nỗi u sầu, làm sao mà anh cứng quá và anh thích em thật chứ? lại có thể gắn với nhau khắng khít tới vậy. Tôi cũng không lường được làm sao một người có vẻ rất dễ tổn thương, ngần ngại, và háo hức thổ lộ biết bao điều bất an về bản thân mình lại có thể cùng lúc đó thọc tay vào quần tôi một cách táo bạo, rồi nắm lấy cái ấy của tôi mà bóp chặt.
Trong khi hôn nhau say đắm, và tay chúng tôi đi lạc khắp trên thân thể nhau, tôi lại thấy mình soạn ra lời nhắn mà tôi quyết tâm luồn vào khe cửa phòng anh đêm đó: Không chịu nổi im lặng nữa. Tôi cần nói với anh.
Đến lúc sẵn sàng luồn mẩu tin dưới khe cửa phòng anh, trời đã bình minh. Marzia và tôi làm tình ở một chỗ vắng ngoài bãi biển, chỗ đó có biệt danh là Hồ-cá, nơi mớ bao cao su trong đêm sẽ tụ lại rồi bập bềnh giữa những hòn đá, như bọn cá hồi quy cố hương bị kẹt lại trong vùng nước. Hôm đó hai đứa định còn gặp nhau nữa.
Bây giờ, lúc trên đường về nhà, tôi thích mùi hương nàng trên thân thể, trên tay mình. Tôi sẽ không làm gì cả, để giữ nguyên. Tôi sẽ giữ như vậy đến lúc chúng tôi gặp nhau vào buổi tối. Một phần trong tôi vẫn đang đắm mình trong cơn sóng dửng dưng mới nổi lên, gần như là chán ghét đối với Oliver, nó vừa khiến tôi vui dạ, vừa chứng tỏ rốt cuộc tôi là con người thoắt nắng thoắt mưa thế nào. Có lẽ anh đã cảm giác được rằng điều tôi muốn ở anh chỉ là được ngủ với anh, rồi chấm dứt. Cho nên theo bản năng anh đã quyết định không liên can gì với tôi nữa. Mới vài đêm trước tôi còn nghĩ rằng mình bị thúc giục mạnh mẽ muốn giữ thân thể anh trong tôi, suýt nữa tôi đã nhảy ra khỏi giường mà sang phòng tìm anh. Giờ đây ý nghĩ đó chẳng mảy may khiến tôi hứng thú. Có lẽ tất cả chuyện với Oliver chỉ là cơn động cỡn kỳ đại thử, và nó qua rồi. Ngược lại, tôi chỉ cần ngửi mùi hương Marzia trên tay mình, và tôi yêu sự nữ tính ở mọi phụ nữ.
Tôi biết cảm giác ấy sẽ không bền, và như với mọi kẻ nghiện, thật dễ thề thốt bỏ tật ngay sau một cơn phê.
Rồi chưa đầy một giờ sau, Oliver hộc tốc trở lại với tôi. Rồi lại ngồi trên giường với anh, giơ lòng bàn tay ra mà nói, Đây, ngửi đi. Rồi nhìn anh hít bàn tay mình, cầm nó thật nhẹ nhàng bằng cả hai tay anh, rồi tôi đưa ngón giữa lên môi anh, rồi đột nhiên đẩy nó vào trong miệng anh.
Tôi xé một tờ giấy trong cuốn vở đi học.
Xin đừng tránh né tôi.
Xong tôi sửa:
Xin đừng tránh né tôi. Tôi chết mất.
Lại sửa thành:
Anh im lặng là giết tôi đấy.
Gì mà dữ thần vậy.
Không chịu nổi khi nghĩ là anh ghét tôi.
Thảm thiết quá. Thôi, bớt sướt mướt đi, nhưng vẫn giữ kiểu nói chết chóc sáo mòn.
Tôi sẽ chết ngay khi biết anh ghét tôi.
Vào phút cuối tôi trở lại nguyên bản.
Không chịu nổi sự im lặng. Tôi cần nói với anh.
Tôi gấp tờ giấy kẻ hàng, rồi nhét nó dưới cửa phòng anh, ngầm hiểu rằng hành động này tựa như Caesar vượt qua dòng sông Rubicon. Không thối lui được nữa. Iacta alea est, lời Caesar đã nói, phóng lao phải theo lao.
Tôi thấy thú vị khi nghĩ rằng động từ “ném,” iacere trong tiếng Latin có cùng gốc với động từ “xuất tinh.” Vừa nghĩ đến đây, tôi nhận ra thứ mình muốn mang đến cho anh không chỉ là mùi của nàng trên ngón tay mình, mà còn là dấu vết tinh dịch đã khô đi.
Mười lăm phút sau tôi bị giằng xé bởi hai tình cảm đối nghịch nhau: nuối tiếc vì đã gửi thông điệp, và nuối tiếc vì thông điệp đó chẳng có chút mỉa mai nào.
Lúc ăn sáng, anh xuất hiện sau khi chạy bộ, chẳng thèm ngẩng đầu lên, hỏi mỗi câu là đêm trước tôi có vui không, ám chỉ việc tôi vào giường rất trễ. “Mất ngủ, tạm tạm,” tôi trả lời mù mờ hết sức có thể, đây cũng là cách tỏ ý rằng tôi nói vậy là để tóm gọn một bản báo cáo rất dài. “Vậy thì chắc là mệt nhỉ,” cha tôi chích vào một câu mỉa mai. “Hay là dạo này con cũng chơi poker? ”
“Con đâu chơi poker.” Cha tôi và Oliver liếc nhau, thần sắc nghiêm trọng. Rồi hai người bắt đầu bàn công việc trong ngày. Thế là tôi mất anh. Thêm một ngày khổ ải nữa.
Lúc trở lên lầu lấy sách, tôi thấy mảnh giấy tập kẻ ngang trên bàn. Hẳn anh đã đi cửa bao lơn vào phòng tôi, đặt nó ở chỗ tôi thấy. Nếu bây giờ tôi đọc thì hỏng cả ngày mất. Nhưng nếu tôi trì hoãn đọc nó, cả ngày sẽ thành ra vô nghĩa, và tôi chẳng thể nghĩ tới gì khác. Chắc là anh ném trả lại tôi mà chẳng viết gì thêm, như để nói: Tôi thấy cái này dưới sàn. Chắc là của cậu. Sau nhé! Hoặc là cộc cằn hơn: Không hồi đáp.
Trưởng thành đi chứ! Nửa đêm tôi gặp cậu.
Đó là những gì anh thêm vào dưới dòng của tôi.
Anh đã đặt nó trước bữa điểm tâm.
Vài phút sau tôi mới nhận ra, nhưng trong lòng vừa nôn nóng, vừa mất hết can đảm. Tôi có muốn điều này chăng, khi mà có người trao cho tôi gì đó? Và thực sự có gì được trao không? Và nếu tôi muốn hay không muốn nó đi nữa, làm thế nào sống được tới nửa đêm đây? Còn chưa tới mười giờ sáng: còn mười bốn tiếng nữa... Lần sau cùng tôi chờ lâu đến vậy là chờ sổ liên lạc. Hay một ngày thứ bảy hai năm về trước, một đứa con gái hứa là sẽ cùng đi xem phim, mà tôi không chắc là cô ả nhớ hay quên cái hẹn. Nửa ngày trời cuộc đời mình bị treo. Tôi quá ghét đợi chờ và phụ thuộc vào ý thích bất chợt của kẻ khác.
Có nên đáp lại lời nhắn của anh?
Lẽ nào lại đi trả lời một câu trả lời.
Xem lại lời nhắn: có phải giọng điệu cố tình nhẹ nhàng không, hay nó có vẻ là ý nghĩ muộn mằn ngoáy vội chỉ vài phút sau khi chạy bộ và vài giây trước bữa điểm tâm? Tôi bắt gặp cái ý châm chọc tính ủy mị sướt mướt của mình, theo sau là giọng tự tin, nói-thẳng-vào-vấn-đề gặp cậu lúc nửa đêm. Hai thứ ấy có phải điềm lành, và cái nào trong hai thứ rốt cuộc sẽ thắng thế, là cú đập của châm biếm, hay là câu vui nhộn Tối nay mình hãy tới với nhau thử xem chuyện thế nào? Rồi chúng tôi sẽ nói chuyện – chỉ nói chuyện mà thôi? Đây là một mệnh lệnh hay là lời thuận lòng gặp tôi vào cái thời khắc hay được nói tới trong tiểu thuyết và vở kịch? Rồi giữa đêm chúng tôi sẽ gặp ở đâu? Liệu anh có rảnh phút nào trong ngày để nói tôi biết nơi đó? Hay bởi biết rằng tôi đã bực bội cả đêm nọ, và cái dây gài chia cách hai gờ bao lơn giữa chúng tôi chỉ là đồ giả, liệu anh có cho rằng một trong hai chúng tôi rốt cuộc sẽ băng qua cái phòng tuyến Maginot vốn chưa từng ngăn được ai cả?
Và chuyện này sẽ ảnh hưởng thế nào tới việc đạp xe gần-như-nghi-lễ của chúng tôi vào buổi sáng? Liệu “giữa đêm” có kéo theo đạp xe vào buổi sáng? Hay chúng tôi tiếp tục như trước, dù chẳng có gì thay đổi ngoại trừ chuyện giờ đây có một cái hẹn “giữa đêm” để trông chờ? Nếu bây giờ tình cờ gặp anh, liệu tôi có cười thật tươi với anh, hay tiếp tục như trước, và thay nụ cười tươi kia bằng ánh nhìn chằm chằm lạnh lùng, lén lút kiểu Mỹ?
Trong số những điều tôi muốn cho anh thấy vào lần tới gặp anh, hãy còn thứ nữa là lòng biết ơn. Người ta có thể bày tỏ lòng biết ơn mà không bị xem là ép buộc và độc đoán. Hay lòng biết ơn, dù cho có được kiềm chế thế nào, luôn mang theo một chút đường mật khiến cho mọi đam mê ở xứ Địa Trung Hải không tránh khỏi tính chất ủy mị, kệch cỡm? Không thể để yên mọi thứ, không thể xem nhẹ, phải kêu la lên, phải tuyên bố, phải diễn thuyết...
Nếu không nói gì thì anh sẽ nghĩ là mình hối hận vì đã nhắn.
Nói bất cứ gì thì sẽ thành ra hỏng bét.
Vậy làm sao?
Chờ.
Tôi biết ngay từ đầu. Chỉ đợi thôi. Tôi sẽ làm việc cả sáng. Đi bơi. Có lẽ chơi quần vợt buổi chiều. Gặp Marzia. Trở lại vào giữa đêm. Không, mười một rưỡi. Tắm? Không tắm? A, từ thân xác này sang thân xác khác.
Chẳng phải anh cũng đang làm vậy sao? Từ thân xác này sang thân xác khác.
Và rồi một cơn hoảng loạn chiếm lấy tôi: liệu tối nay có phải chỉ là một cuộc nói chuyện để hóa giải cảm xúc, kiểu như trong cách nói phấn chấn lên, vui vẻ lên, trưởng thành lên!
Nhưng sao lại phải chờ đến giữa đêm? Ai đời lại chọn giờ đó để nói chuyện như vậy?
Hay giữa đêm sẽ là giữa đêm như thế?
Giữa đêm thì mặc gì đây?
Ngày trôi qua như tôi đã lo sợ. Oliver tìm được cách lẻn đi mà không nói với tôi, từ ngay sau bữa điểm tâm mãi đến tận bữa trưa. Anh ngồi ở chỗ thường lệ cạnh tôi. Vài lần tôi cố gợi chuyện vui vẻ nhưng nhận thấy dịp này sắp thành chuỗi ngày đừng-nói-gì-với-nhau-cả nữa của chúng tôi lúc cả hai cố làm rõ rằng chúng tôi không còn giả vờ im lặng nữa.
Sau bữa trưa, tôi đi ngủ. Tôi nghe tiếng anh đi theo lên lầu rồi đóng cửa phòng anh.
Sau đó tôi gọi Marzia. Hai đứa gặp ở sân quần vợt. May là ở đó chẳng có ai, nên yên tĩnh. Hai đứa chơi bóng nhiều giờ liền dưới ánh mặt trời thiêu đốt, điều cả hai cùng thích. Thi thoảng hai đứa ngồi trên băng ghế cũ trong bóng râm, nghe tiếng dế gáy. Dì Mafalda mang nước giải khát, rồi cảnh báo rằng dì già quá cho chuyện này rồi, rằng lần tới hai đứa muốn dùng gì thì tự đi mà phục vụ. “Nhưng tụi con có nhờ vả dì làm gì đâu,” tôi phản đối. “Vậy lẽ ra cậu đừng nên uống.” Thế là dì rề rà đi khỏi, thắng thế.
Hôm ấy cô bé Vimini vốn thích nhìn người ta chơi quần vợt lại không đến. Hẳn cô bé đã ở cạnh Oliver nơi họ ưa thích.
Thời tiết tháng Tám thật tuyệt. Thị trấn im lìm hơn thường lệ vào những tuần cuối hè. Lúc ấy mọi người đã rời đi hưởng kỳ nghỉ, và khách du lịch vãng lai cũng thường biến mất trước bảy giờ tối. Tôi thích những buổi chiều nhất: mùi hương thảo, cái nóng, lũ chim, bọn ve sầu, lá cây cọ trông như cái lược, sự tĩnh mịch rơi xuống như mảnh khăn choàng vải lanh nhẹ rơi vào ngày nắng rực đến không ngờ, tất cả những điều này đều tuyệt nhưng còn thua cuộc thả bộ xuống bờ biển rồi trở lên lầu tắm táp. Tôi thích nhìn lên nhà mình từ sân quần vợt, thấy các bao lơn trống trải phơi ra trong ánh mặt trời, biết rằng từ bao lơn nào bạn cũng có thể bắt gặp mặt biển mênh mông. Đây là bao lơn của tôi, thế giới của tôi.
Từ nơi tôi đang ngồi đây, tôi có thể nhìn quanh mình mà nói, Đây là sân quần vợt của chúng tôi, kia là khu vườn, cây trái, nhà kho, nhà chính, và bên dưới kia là cây cầu tàu của chúng tôi – mọi người và mọi thứ tôi mến thương đều ở đây. Gia đình tôi, nhạc cụ của tôi, sách của tôi, dì Mafalda, Marzia, Oliver.
Buổi chiều ấy, lúc ngồi cùng Marzia, tay đặt lên đùi và gối nàng, lòng tôi chợt nghĩ mình là một trong những kẻ diễm phúc nhất trên đời, theo lời Oliver. Không thể biết tất cả những điều tốt đẹp sẽ kéo dài bao lâu, và ngày hay đêm sẽ diễn ra thế nào lại càng khó đoán. Mỗi phút giây đều như vô thường. Mọi thứ có thể đột biến trong tích tắc.
Nhưng ngồi đây, tôi biết mình đang trải nghiệm cái diễm phúc vừa phải của những người quá mê tín để mà nói rằng họ có thể đạt được mọi điều mơ ước, nhưng vì quá thành kính nên chẳng biết những điều ấy có thể dễ dàng mất đi.
Sau khi chơi quần vợt và ngay trước khi ra bãi biển, tôi đưa nàng lên lầu theo lối bao lơn vào phòng ngủ. Buổi chiều thì chẳng có ai qua lại. Tôi đóng cửa chớp nhưng để cửa sổ mở để ánh nắng dịu ban chiều vẽ bóng lam lên giường, lên tường, lên Marzia. Hai đứa yêu nhau trong im lặng vô cùng, không ai nhắm mắt.
Phần nào trong tôi muốn hai đứa bập nhau vào tường, hoặc nàng không kìm được một tiếng kêu, thế là Oliver sẽ biết được chuyện gì đang xảy ra bên kia bức tường. Tôi tưởng tượng ra anh đang ngủ, nghe tiếng lò xo giường tôi, rồi khổ sở.
Lúc đi tới vòm, tôi lại thấy vui sướng khi thấy mình không quan tâm chuyện anh biết về hai đứa tôi hay không, chỉ bởi tôi không quan tâm chuyện đêm nay anh không xuất hiện. Thậm chí tôi chẳng quan tâm anh hay đôi vai anh hay làn da trắng dưới cánh tay anh. Lòng bàn chân anh, lòng bàn tay anh, phần dưới thân thể anh – không quan tâm. Tôi thà ở cạnh nàng đêm nay còn hơn chờ đợi anh rồi nghe anh hùng biện về cái sự sùng kính nhạt phèo đối với thời khắc giữa đêm. Hồi sáng lúc nhét mảnh giấy cho anh tôi đã nghĩ gì không biết?
Phần khác trong tôi biết rằng nếu đêm nay anh xuất hiện và tôi không thích sự khởi đầu của bất cứ thứ gì tôi có trong lòng mình, tôi vẫn sẽ làm tới, cho đến nơi đến chốn, bởi tốt nhất là tìm hiểu cho ra một lần và mãi mãi, còn hơn là mãi đấu tranh với thân xác này suốt những ngày hè còn lại, hoặc có lẽ là cả cuộc đời.
Tôi lạnh lùng ra quyết định. Và nếu anh có hỏi, tôi sẽ nói. Tôi không chắc mình muốn tiến tới trong chuyện này, nhưng tôi cần biết, mà với anh thì tốt hơn với bất kỳ ai khác. Tôi muốn biết thân thể anh, tôi muốn biết anh cảm nhận thế nào, tôi muốn biết anh, và thông qua đó, là tôi.
Marzia rời đi ngay trước bữa tối. Nàng đã hứa đi xem phim. Mấy đứa bạn, nàng nói. Sao tôi không đi cùng? Lúc nghe tên mấy đứa đó tôi nhăn nhó. Tôi bảo, anh ở nhà tập thì hơn. Em tưởng anh tập mỗi sáng. Sáng nay anh bắt đầu trễ, nhớ không? Nàng hiểu ra ý ngầm của tôi, mỉm cười.
Còn ba tiếng nữa.
Chúng tôi đã im lặng với nhau cả buổi chiều. Thật buồn. Nếu tôi không nhận được lời anh là sẽ nói chuyện sau, tôi chẳng biết cách gì để qua nổi một ngày thế này.
Lúc ăn tối, khách khứa gồm một giáo sư kiêm nhiệm dạy nhạc, và một cặp đồng tính nam quê Chicago cứ một mực nói thứ tiếng Ý tệ hại. Hai gã ngồi cạnh nhau, đối mặt với mẹ và tôi. Một gã quyết định trích dẫn vài đoạn thơ của Pascoli – dì Mafalda bắt gặp ánh mắt của tôi, thế là làm ra vẻ mặt quạu quọ thường có để khiến tôi bật cười. Cha tôi cảnh báo rằng không được vô phép khi có mặt các học giả từ Chicago. Tôi bảo mình sẽ mặc cái sơmi tía của một người anh họ ở Uruguay cho. Cha tôi cười ngất, bảo tôi lớn rồi mà không chịu chấp nhận bản tính người khác. Nhưng ánh mắt ông lấp lánh khi cả hai xuất hiện, cùng mặc áo màu tía. Họ bước ra khỏi hai bên chiếc taxi cùng lúc, mỗi người cầm một bó hoa trắng. Hẳn cha tôi cũng nhận ra được họ trông cứ như phiên bản hoa lá, bảnh chọe của cặp song sinh Thomson và Thompson trong truyện Tintin.
Tôi tự hỏi cuộc chung sống của họ thế nào.
Có vẻ lạ khi đếm từng phút tới bữa tối, trong lòng nặng trĩu ý nghĩ rằng đêm nay tôi có nhiều tương đồng với cặp đôi truyện Tintin hơn là với cha mẹ tôi hay bất kỳ ai trên đời.
Tôi nhìn họ, tự hỏi ai là top và ai là bottom, là người này hay người kia.
Gần tới mười một giờ, tôi xin kiếu đi ngủ, chào cha mẹ tôi và khách khứa. “Marzia thì sao?” Cha tôi hỏi, trong mắt ánh lên tia dí dỏm không lẫn vào đâu được. Ngày mai, tôi đáp.
Tôi muốn ở một mình. Tắm. Một cuốn sách. Có lẽ là một bài vào nhật ký. Giữ tập trung vào cái hẹn nửa đêm, nhưng giữ tâm trí tôi không nghĩ tới bất cứ gì về nó.
Lúc lên cầu thang, tôi cố mường tượng mình đi xuống chính cái cầu thang này vào sáng mai. Nhưng khi ấy có thể tôi đã thành người khác. Liệu tôi có thích con người khác mà mình chưa biết đó, và ai sẽ không muốn nói lời chào hay không muốn dính líu gì với tôi vì đã mang anh tới mức độ này? Hay tôi vẫn sẽ là cùng một con người đang bước lên cầu thang, không thay đổi chút gì, và chả giải quyết được mối nghi ngờ nào trong lòng?
Hoặc chả có gì xảy ra hết. Anh có thể khước từ, và ngay cả khi không một ai biết chuyện tôi đã mời anh, tôi vẫn sẽ bị sỉ nhục, mà sỉ nhục chả có lý do. Anh sẽ biết; tôi sẽ biết.
Nhưng tôi xong với chuyện sỉ nhục rồi. Sau biết bao tuần lễ đợi chờ – cứ đối mặt đi – van nài, hi vọng rồi chuyển sang chống lại chính hi vọng, tôi tan nát cả rồi. Xong xuôi rồi thì làm sao về phòng để mà ngủ? Lẻn về phòng mi rồi vờ mở sách ra đọc để cho buồn ngủ à?
Hoặc: làm sao có thể ngủ lại khi đã mất trinh? Đâu còn đường thối lui! Những gì tôi nghĩ bấy lâu nay sẽ hòa vào đời thật, không còn lơ lửng trong cái miền mơ hồ vĩnh cữu của tôi nữa. Cảm giác như một người bước vào tiệm xăm hình rồi nhìn lần cuối thật lâu vào một bên vai còn trống của mình.
Có nên đúng giờ không?
Đúng giờ, rồi nói: Hô hô, nửa đêm đã điểm.
Không lâu sau tôi nghe tiếng trò chuyện của hai vị khách trong sân. Họ đứng bên ngoài, có lẽ đang chờ vị giáo sư kiêm nhiệm đưa về phòng. Vị kiêm nhiệm còn đang thư thả, thế là cặp đôi trò chuyện bên ngoài, một người cười khúc khích.
Đúng nửa đêm, phòng anh hoàn toàn tĩnh lặng. Có phải anh lại cho tôi leo cây? Như vậy thì quá lắm. Tôi chưa nghe tiếng anh về. Vậy thì anh sẽ phải vào phòng tôi. Hoặc tôi vẫn nên sang phòng anh? Đợi chờ thật là khổ sở.
Tôi sẽ sang.
Tôi bước ra bao lơn giây lát, hé nhìn về phía phòng anh. Tối đen. Tôi vẫn sẽ gõ cửa.
Hoặc tôi có thể chờ. Hoặc không sang gì cả.
Không sang nữa – điều này bật ra trong trí tôi như thứ tôi muốn có nhất trên đời. Nó cứ níu kéo, dằn ép tôi thật dịu dàng ngay lúc này, giống như ai đó đã thì thầm một hai lần trong lúc tôi ngủ, nhưng bởi thấy tôi không thức dậy, rốt cuộc gõ vào vai tôi, rồi lúc này đang khuyến dụ tôi lắng nghe từng tiếng xúi giục trì hoãn gõ cửa sổ anh đêm nay. Ý nghĩ ấy ùa qua tôi như nước buông xuống trên cửa sổ tiệm bán hoa, như một lớp kem dịu mát sau khi ta tắm rồi dành cả ngày sưởi nắng, yêu mặt trời nhưng yêu hương nhựa cây balsam hơn. Giống như khi ta bị tê cứng, đầu tiên là ý nghĩ về những thái cực của ta, rồi thứ ấy xuyên qua toàn bộ thân thể, làm nảy ra đủ kiểu lý lẽ, bắt đầu là những lý lẽ ngớ ngẩn – giờ này trễ tràng quá rồi – cho tới những lý lẽ nghiêm chỉnh – rồi mi còn mặt mũi nào gặp những người khác, mi còn mặt mũi nào đối diện chính mình?
Sao trước đây tôi không nghĩ điều này? Bởi tôi muốn từ từ thưởng thức nó nên để dành? Bởi tôi muốn những lời phản biện tự chúng bật ra, tôi không liên quan gì đến việc triệu gọi chúng, để khỏi bị oán trách? Đừng vậy, Elio, đừng vậy. Là giọng của ông tôi. Tôi được đặt tên theo tên ông, và ông đang nói với tôi từ trên chính chiếc giường nơi ông đã vượt qua một ranh giới còn kinh khiếp hơn nhiều ranh giới giữa phòng tôi và phòng Oliver. Quay lại đi. Ai mà biết con sẽ tìm được gì khi vào căn phòng đó. Không phải là khám phá bổ ích gì, mà là nỗi tuyệt vọng u ám khi sự tỉnh ngộ mang đến hổ thẹn tràn ngập lòng con. Năm tháng đang quan sát con, từng ngôi sao con thấy đêm nay đều đã biết nỗi khổ tâm trong con, tiền nhân của con tụ họp lại đây và chẳng có gì để nói hoặc trao gửi, Non c’andà, đừng đi vào đó.
Nhưng tôi thích nỗi sợ hãi – nếu đúng đó là sợ hãi – và họ, tổ tiên của tôi không biết điều này. Tôi thích cái mặt khuất của sợ hãi, giống như lớp len mịn nhất dưới bụng của con cừu sần sùi nhất. Tôi thích sự táo bạo đang đẩy tôi lên phía trước, nó khiến tôi nổi hứng, bởi bản thân nó sinh ra từ đam mê. “Cậu dừng lại là giết tôi đấy” – hay là: “Anh dừng lại thì tôi chết mất.” Mỗi lần tôi nghe những lời này, tôi không cưỡng lại được.
Tôi gõ nhẹ lên lớp cửa kính. Tim tôi đập điên dại. Tôi không sợ gì hết, vậy thì hốt hoảng làm chi? Tại sao? Bởi vì mọi thứ đều khiến tôi run rẩy, vì cả hai, nỗi sợ và khát khao đang lập lờ nước đôi với chúng, với tôi, tôi thậm chí không phân biệt nổi ước muốn anh ra mở cửa và hi vọng anh sẽ cho tôi leo cây.
Nhưng tôi vừa gõ lên lớp cửa kính thì nghe gì đó cựa quậy bên trong, giống như ai đó đang tìm dép. Rồi tôi nhận ra ánh đèn yếu ớt đi ra. Tôi nhớ là đã mua cây đèn ngủ này ở Oxford với cha vào một buổi tối đầu xuân rồi, khi phòng khách sạn quá tối, cha đã xuống lầu rồi trở lên, nói là người ta bảo có một cửa hiệu bán đèn ngủ gần đó mở suốt đêm. Chờ đây nhé, cha trở lại ngay. Nhưng tôi nói là sẽ đi cùng ông. Tôi mặc áo mưa ngoài chính bộ pyjama tôi đang mặc đêm nay.
“Cậu tới tôi mừng quá,” anh nói. “Tôi nghe tiếng cậu đi lại trong phòng, cứ tưởng là cậu đổi ý, chuẩn bị đi ngủ mất rồi.”
“Tôi mà đổi ý à? Tất nhiên tôi tới chứ.”
Thật lạ khi thấy anh vòng vo ngượng nghịu thế này. Tôi đã mong đợi một trận những lời châm chích, bởi thế tôi căng thẳng. Nhưng tôi lại được chào đón bằng lời quanh co, giống như ai đó xin lỗi vì không có thì giờ để mua bánh quy hoặc trà chiều ngon hơn vậy.
Tôi bước vào chính căn phòng ngủ của mình, ngay lập tức ngạc nhiên vì mùi hương mà tôi không thể gọi tên, bởi nó là sự kết hợp của quá nhiều thứ, thế rồi tôi nhận ra cái khăn tắm cuộn lại nhét dưới cửa phòng. Anh đã ngồi trên giường, cái gạt tàn đầy một nửa trên cái gối bên phải.
“Vào đi,” anh nói, rồi đóng cửa sổ mái lại. Hẳn tôi đã đứng đực ra đó, vô hồn và ngây dại.
Hai chúng tôi đang nói thì thầm. Một dấu hiệu tốt.
“Tôi không biết là anh hút thuốc.”
“Thi thoảng.” Anh tới giường, ngồi ngay ngắn chính giữa.
Không biết nói gì khác, tôi lẩm bẩm, “Tôi căng thẳng quá.”
“Tôi cũng vậy.”
“Tôi căng hơn anh.”
Anh gượng cười để xóa đi sự ngượng ngùng giữa hai người, rồi đưa tôi điếu thuốc quấn cần sa.
Thế là tôi có việc để làm.
Tôi nhớ mình đã suýt ôm anh ngoài bao lơn, nhưng tự ghìm lại được, vì cho rằng một cái ôm sau những lúc lạnh lùng giữa chúng tôi cả ngày trời là không thích hợp. Chỉ bởi vì ai đó nói rằng sẽ gặp mình nửa đêm không có nghĩa là ta tự động phải ôm lấy anh ta khi cả hai chẳng tay bắt mặt mừng gì cả tuần lễ rồi. Tôi nhớ là đã nghĩ vậy trước khi gõ cửa. Ôm. Không ôm. Ôm.
Giờ đây tôi đang ở trong phòng.
Anh đang ngồi trên giường, xếp bằng. Anh trông nhỏ người hơn, trẻ hơn. Tôi thì đang đứng thừa thãi ở cuối giường, không biết làm gì với đôi tay. Hẳn anh thấy tôi loay hoay áp tay vào hông, rồi xọc vào túi, rồi lại áp bên hông.
Dáng vẻ tôi tệ hại, tôi nghĩ. Đã vậy còn thêm cái-ômchưa-thành mà tôi đã kìm nén, và cứ hi vọng là anh chưa nhận ra.
Cảm giác mình như đứa trẻ một mình lần đầu với giáo viên trong phòng hội đồng. “Nào, ngồi đi.” Ý anh là ngồi vào ghế, hay ngồi vào giường?
Ngập ngừng, tôi rón lại giường, ngồi đối mặt với anh, xếp bằng giống anh, như thể đây là giao thức đồng thuận giữa đàn ông với nhau khi gặp lúc giữa đêm. Tôi không để cho đầu gối chúng tôi chạm nhau. Bởi vì anh sẽ phiền nếu đầu gối chạm nhau, cũng như anh sẽ phiền nếu ôm, cũng như anh sẽ phiền tôi đặt tay vào đũng quần anh khi muốn thổ lộ rằng tôi muốn ở lại lâu hơn bên gò vẽ hôm nọ.
Nhưng tôi chưa kịp phóng đại khoảng cách giữa chúng tôi, tôi có cảm giác như bị làn nước trượt xuống trên cửa kính hiệu hoa quét đi, sạch sẽ mọi ngượng ngùng và kềm chế. Căng thẳng hay không căng thẳng, tôi không còn quan tâm chuyện chất vấn mỗi một xung động của mình nữa. Nếu tôi ngu ngốc, cứ để tôi ngu ngốc. Nếu tôi chạm vào gối anh, thì tôi sẽ chạm vào gối anh. Nếu tôi muốn ôm, tôi sẽ ôm. Tôi cần dựa vào điểm nào đó, thế nên tôi nhích lại đầu giường, tựa lưng vào ốp đầu giường, cạnh anh.
Tôi nhìn chiếc giường. Bây giờ thì nhìn nó được rõ. Đây là nơi tôi qua bao đêm mơ mộng thời khắc như thế này. Bây giờ tôi đang ở đây. Vài tuần nữa, tôi sẽ trở lại chính trên chiếc giường này. Tôi sẽ bật cái đèn ngủ Oxford rồi nhớ lại lúc đứng ngoài bao lơn, lúc nghe được tiếng sột soạt của đôi chân anh tìm dép. Tôi tự hỏi liệu mình có buồn rầu khi hồi tưởng chăng. Hay xấu hổ. Hay dửng dưng, hi vọng là vậy.
“Cậu ổn chứ?” Anh hỏi.
“Tôi ổn.”
Tuyệt chẳng có chuyện gì để mà nói. Tôi đưa mấy ngón chân ra với sang chạm vào ngón chân anh. Rồi không nghĩ ngợi, tôi xỏ ngón cái vào giữa ngón cái và ngón kế của anh. Vì đang ngồi bên trái anh, đây rất có thể không phải là những ngón chân đã chạm vào tôi trong bữa trưa hôm nọ. Thủ phạm là bàn chân phải của anh. Tôi cố chạm vào nó bằng chân phải của mình, luôn tránh chạm vào cả hai đầu gối anh, cứ như có gì đó ngăn hai đầu gối tôi vượt giới hạn. “Cậu đang làm gì vậy?” Rốt cuộc anh hỏi. “Đâu có gì.” Tôi không biết mình, nhưng thân thể anh dần đáp lại cử động ấy, có vẻ như lơ đãng, vô tư, cũng ngượng ngập chẳng kém gì thân thể tôi, như muốn nói, Khi có người chạm vào ngón chân mình bằng ngón chân họ thì biết phản ứng thế nào, ngoài chuyện đáp lại tương tự? Sau đó, tôi nhích lại gần, rồi ôm anh. Một cái ôm như của con trẻ mà tôi mong anh sẽ hiểu là vòng tay âu yếm. Anh không phản ứng. “Bắt đầu thế đấy,” rốt cuộc anh nói, có lẽ pha chút đùa tếu nhiều hơn tôi mong muốn. Tôi không muốn chúng tôi nói gì. Càng nói ít thì cử động càng ít bị ngăn trở. Tôi thích ôm anh.
“Em thích như vầy sao?” Anh hỏi.
Tôi gật đầu, lần nữa hi vọng là anh sẽ cảm nhận được tôi gật đầu, không cần nói năng gì.
Sau cùng, tư thế của tôi như thúc giục anh làm tương tự, anh đưa tay sang ôm tôi. Cánh tay không ập vào tôi, cũng chẳng siết chặt. Lúc này tôi chẳng muốn nhận tình anh em. Cho nên tôi vẫn ôm anh, nhưng thả lỏng ra một lát, đủ thời gian để đưa cả hai cánh tay vào trong lớp áo rộng của anh rồi ôm lại. Tôi muốn có làn da anh.
“Em chắc là muốn thế này?” Anh hỏi, cứ như anh đã ngần ngại đến nay vì nỗi nghi ngờ.
Tôi gật lần nữa. Tôi đang nói dối. Lúc đó tôi không chắc được. Tự hỏi khi cái ôm của tôi đã dứt thì bao lâu sau tôi, hoặc anh sẽ chán. Nhanh? Chậm? Ngay bây giờ?
“Mình chưa nói chuyện,” anh nói.
Tôi nhún vai, tức là, Không cần nói.
Anh đưa hai tay nâng mặt tôi lên, nhìn tôi chăm chú như hôm nọ bên gò vẽ, lần này còn chăm chú hơn, bởi chúng tôi biết mình đã vượt quá giới hạn. “Anh hôn em được chứ?” Hỏi thật lạ, sau cái hôn bên gò vẽ! Hay chúng tôi đã quên sạch quá khứ, đang bắt đầu lại lần nữa?
Tôi không cho anh câu trả lời. Không gật đầu. Tôi liền cúi sang miệng anh, như tôi đã hôn Marzia đêm trước. Dường như giữa chúng tôi có gì đó đã rút lui, và trong một giây, ngỡ như chúng tôi tuyệt đối không khác nhau về tuổi tác, chỉ là hai gã đàn ông hôn nhau, và ngay cả điều này dường như mờ nhạt đi, khi tôi bắt đầu cảm thấy chúng tôi không phải là hai gã đàn ông nữa mà là hai sinh thể. Tôi yêu cái chủ nghĩa bình quân của giây phút này. Tôi thích cảm giác trẻ hơn và già hơn, con người với con người, đàn ông với đàn ông, Do Thái với Do Thái. Tôi thích cái đèn ngủ. Nó khiến tôi thấy ấm cúng, an toàn, giống cảm giác đêm nọ trong phòng khách sạn ở Oxford. Thậm chí tôi cũng thích cảm giác cũ kỹ, nhợt nhạt gợi lên bởi phòng ngủ trước là của mình, giờ đây toàn đồ của anh nhưng nhờ đó mà trở nên sống động hơn lúc tôi ở: một bức tranh ở đây, cái bàn con, sách, thiệp, nhạc.
Tôi quyết định vào trong chăn. Tôi thích mùi này. Tôi muốn mình thích mùi này. Thậm chí thích cả sự thật rằng có những thứ trên giường còn chưa được dời đi, tôi quỳ lên đó và chẳng phiền gặp phải, khi xỏ một chân vào trong, bởi vì chúng là một phần của giường anh, cuộc đời anh, thế giới của anh.
Anh cũng vào chăn, rồi chưa kịp gì đã bắt đầu cởi đồ tôi. Tôi đã lo chuyện phải cởi đồ thế nào, hoặc lỡ như anh không giúp, tôi sẽ làm điều mà biết bao cô gái đã làm trong phim, cởi áo, thả quần, rồi chỉ đứng đó, trần truồng, tay buông thõng, ý nói: Đây là con người em, em được sinh ra như thế, đây, hãy chiếm lấy em, em là của anh. Nhưng anh đã giải quyết vấn đề đó rồi. Anh thì thầm, “Ra này, ra này, ra này, ra này,” khiến tôi bật cười, rồi đột nhiên tôi trần trụi, cảm thấy sức nặng của lớp chăn trên cái ấy, chẳng còn bí mật nào trên đời, bởi bí mật duy nhất của tôi là được trên giường cùng anh, và tôi đang chia sẻ nó với anh. Thật tuyệt vời khi cảm nhận bàn tay anh khắp trên người tôi dưới lớp chăn, như thể một phần của chúng tôi là toán tiền trạm đã tới trước được chốn thân thương, trong khi phần còn lại lộ ra ngoài lớp chăn vẫn còn đang vật vã với những nghi thức, giống như những kẻ đến muộn phải giậm chân trong tiết trời lạnh giá, trong khi mọi người khác đang hơ tay trong một hộp đêm đông đúc. Anh vẫn còn mặc, tôi thì không. Tôi thích trần trụi trước mắt anh. Rồi anh hôn tôi, hôn tôi lần nữa, lần sau nồng nàn hơn, như thể anh rồi sau cùng cũng buông lơi. Đến một lúc, tôi nhận ra anh đã khỏa thân tự khi nào, dù tôi không nhận ra lúc anh cởi, nhưng anh đây rồi, toàn thân thể áp vào tôi. Tôi đã ở đâu vậy chứ? Ý tôi muốn nêu câu hỏi tế nhị về an toàn sức khỏe, nhưng dường như cả điều đó cũng được giải đáp một lúc trước rồi, bởi khi tôi gom đủ can đảm để hỏi thì anh đáp, “Anh nói với em rồi, anh ổn. ”
“Em có nói với anh là em cũng ổn chưa? ”
“Có.” Anh mỉm cười. Tôi nhìn chỗ khác, vì anh đang nhìn tôi trân trân, và tôi biết mình đỏ mặt, và tôi biết mình sẽ nhăn nhó, dù tôi vẫn muốn anh nhìn mình ngay cả khi cái nhìn ấy khiến tôi bối rối, và tôi cũng muốn nhìn anh lâu khi chúng tôi vào thế như đang vật nhau, vai anh cạ vào đầu gối tôi. Chúng tôi đã đi bao xa kể từ buổi chiều khi tôi cởi quần lót của mình, đặt lên cái quần bơi của anh và nghĩ đây là khoảng cách gần nhất mà thân thể anh sẽ tiếp xúc với thân thể tôi. Giờ thì thế này. Tôi đang ở điểm bắt đầu của điều gì đó, nhưng tôi cũng muốn nó kéo dài mãi mãi, bởi tôi biết sẽ chẳng còn đường trở lui nữa. Khi nó xảy ra, nó xảy ra không hẳn như tôi đã mơ, nhưng sự không thoải mái buộc tôi để lộ về mình nhiều hơn mức tôi muốn bày tỏ. Tôi chực ngăn anh, và khi anh nhận ra, anh hỏi, nhưng tôi không trả lời, hoặc không biết trả lời ra sao, và có khoảng thời gian gần như vô tận trôi qua giữa sự ngần ngừ của tôi và ở anh là bản năng bù đắp cho tôi. Tôi nghĩ từ giây phút này trở đi, từ giây phút này trở đi, lần đầu tiên trong đời tôi có cảm giác đến được bến bờ rất đỗi thân thương, mong muốn được thế này mãi mãi, được là tôi, là tôi, là tôi, là tôi, chứ không phải ai khác, chỉ là tôi thôi, tìm thấy trong từng cơn run rẩy chạy dọc cánh tay mình thứ gì đó hoàn toàn xa lạ nhưng lại quen thuộc, cứ như nó đã là một phần cuộc đời tôi tự thuở nào, tôi đã đặt nó sai chỗ, và rồi anh giúp tôi tìm lại. Giấc mơ ấy đã đúng – thế này giống như trở về nhà, như khi ta hỏi, Ta đã ở những đâu cả cuộc đời? Tức là một cách khác để hỏi, Thời em thơ ấu anh ở đâu hở Oliver. Lại là một cách khác để hỏi, Không có nó thì cuộc đời sẽ thế nào? Cho nên rốt cuộc là tôi, chứ không phải anh, thốt lên không phải một lần mà nhiều lần, Anh dừng lại là giết em đấy, anh dừng lại là giết em đấy, bởi vì đây cũng là cách tôi khép lại vòng tròn của mộng và ảo, tôi và anh, những từ ngữ được mong chờ từ miệng anh trở lại miệng tôi, lời nói từ miệng sang miệng, đó là lúc tôi bắt đầu dùng tới ý nghĩ tục tĩu rằng anh lặp lại theo tôi, ban đầu nhẹ nhàng, cho tới khi anh bảo, “Hãy gọi anh bằng tên em, và anh sẽ gọi em bằng tên anh.” Tôi chưa từng làm vậy trong đời, và ngay khi tôi nói tên mình như tên anh, tôi như được đưa vào một cõi mình chưa từng chia sẻ với ai trước giờ, hoặc cả sau này.
Chúng tôi có gây ra tiếng động?
Anh mỉm cười. Không có gì phải lo cả.
Tôi nghĩ có khi mình đã nức nở, nhưng không chắc. Anh lấy áo anh lau cho tôi. Bà dì Mafalda cứ chăm chăm tìm dấu vết. Dì ấy sẽ không thấy gì đâu, anh nói. Em gọi cái áo này là “Dợn-sóng,” anh mặc nó ngày đầu tới đây, nó có nhiều anh hơn em có. Anh không tin, anh đáp. Anh còn chưa buông tôi ra, nhưng khi thân thể chúng tôi rời ra, hình như tôi nhớ lại dù là rất mơ hồ, rằng một lúc trước tôi lơ đãng đẩy một cuốn sách lạc vào dưới lưng tôi khi anh vẫn còn trong tôi. Bây giờ nó nằm trên sàn. Khi nào tôi đã nhận ra đó là cuốn Se l’amore? Đang lúc cao trào sao tôi còn đủ thì giờ để tự hỏi có phải anh đã tới dự bữa tiệc ra mắt sách cái đêm tôi tới đó cùng Marzia? Những ý nghĩ lạ lùng dường như trôi dạt về từ lâu, lâu lắm, không lâu hơn nửa giờ trước.
Cảm giác đó đã tới với tôi một lúc sau khi tôi vẫn còn trong vòng tay anh. Nó thức tôi dậy ngay cả trước khi tôi nhận ra mình đã thiếp đi, khiến tôi tràn ngập nỗi sợ hãi và bấn loạn mà tôi không lường được. Tôi nghe nôn nao, cứ như đã ngã bệnh và cần không chỉ tắm nhiều lần để rửa sạch mọi thứ, mà còn cần tắm trong nước súc miệng nữa. Tôi cần phải rời xa – khỏi anh, khỏi căn phòng này, khỏi điều chúng tôi làm cùng nhau. Cứ như tôi đang từ từ thức dậy sau một cơn ác mộng tồi tệ nhưng vẫn chưa tỉnh hẳn, và không chắc là mình muốn tỉnh, bởi điều đợi chờ ta sẽ không tốt lành hơn, dù tôi biết mình không thể cứ bám víu lấy giấc mơ vô định, giấc mơ ấy cứ như đám mây u tối nhất chứa những căm ghét bản thân và hối tiếc từng lạc vào cuộc đời tôi. Tôi sẽ không bao giờ như cũ. Sao tôi lại để anh làm những chuyện ấy với tôi, mà tôi đã háo hức dự phần tới vậy, lại còn khuyến khích nữa chứ, rồi chờ anh, rồi van vỉ anh, Đừng dừng lại. Tôi đã vượt qua một giới hạn khủng khiếp, không phải liên quan đến những ai tôi thương quý nhất, thậm chí chẳng liên quan đến tôi, hay bất cứ gì thiêng liêng, hay chính cuộc đua đã mang chúng tôi tới gần mức này, thậm chí không liên quan đến Marzia, người giờ đây như một tiếng hát ma mị trên dải đá ngầm đang chìm xuống trùng khơi, xa xôi và lạc lõng, bị phủi sạch bởi những làn sóng mùa hè nối nhau trong khi tôi cố sức vừa bơi vừa hét ra với nàng, trong lòng ngập tràn lo lắng, hi vọng rằng nàng có mặt trong những hình ảnh nâng đỡ tôi tái tạo lại chính mình vào lúc hừng đông. Tôi không xúc phạm đến những người ấy, mà là những người chưa được sinh ra, chưa được gặp, và những ai tôi sẽ không bao giờ có thể yêu đương mà không nhớ lại mớ nhục nhã cùng sự đột biến nảy ra giữa cuộc đời tôi và cuộc đời họ. Nó sẽ ám ảnh và làm hoen ố tình thương của tôi dành cho họ, và giữa chúng tôi, bí mật này có thể phá hỏng mọi điều tốt đẹp trong tôi.
Hay tôi đã phạm đến điều gì còn sâu thẳm hơn? Nó là gì?
Có phải sự căm ghét trong tôi luôn có sẵn đó, dù được ngụy trang, và chỉ cần một đêm thế này là nó lộ ra?
Có cảm giác gần như buồn nôn, gần như hối tiếc – nó là gì vậy? Nó bắt đầu túm lấy tôi, rồi dường như tự định nghĩa nó càng lúc càng rõ khi tôi chớm nhận ra ánh sáng ban ngày xuyên qua cửa sổ.
Nỗi hối tiếc, giống như ánh sáng, nếu đúng nó là hối tiếc, dường như phai đi một lúc. Nhưng khi tôi nằm trên giường, người không thoải mái, nó hộc tốc trở lại như để chứng minh sự hiện diện mỗi lần tôi nghĩ mình không còn cảm thấy nó nữa. Tôi đã biết là sẽ đau khổ. Điều tôi không mong đợi là nỗi đau lại cuộn xoắn thành từng cơn tội lỗi. Chưa từng có ai nói với tôi điều này.
Bên ngoài trời đã sáng rõ.
Sao anh lại chằm chằm nhìn tôi? Anh đã đoán được cảm giác của tôi?
“Em không được vui,” anh nói.
Tôi nhún vai.
Không phải là tôi ghét anh – tôi ghét điều chúng tôi đã làm. Tôi chưa muốn anh nhìn vào tận sâu tim tôi. Thay vào đó, tôi muốn dứt mình ra khỏi mớ lầy lội chán ghét bản thân mà không biết phải làm sao. “Em thấy chuyện đó tệ quá phải không?” Tôi lại nhún vai để lờ đi.
“Anh biết lẽ ra mình không nên. Anh biết mà,” anh lặp lại. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy anh ngại ngần, chịu đựng mối hoài nghi về bản thân. “Lẽ ra mình nói chuyện thôi...”
“Có lẽ,” tôi đáp.
Trong tất cả những gì tôi đã nói ra buổi sáng hôm ấy, thì hai chữ “có lẽ” nhỏ nhoi này là độc ác nhất.
“Em ghét nó à?”
Không, tôi không ghét nó. Nhưng điều tôi cảm nhận còn tệ hơn là ghét. Tôi không muốn nhớ, không muốn nghĩ tới nó. Chỉ bỏ qua một bên. Nó chưa từng xảy ra. Tôi đã cố cách ấy, không hiệu quả, giờ đây tôi muốn được hoàn tiền, tua lại bộ phim, đưa tôi về lại giây phút tôi suýt bước chân trần ra bao lơn, tôi sẽ không tiến xa hơn, tôi sẽ chỉ ở yên đó, quằn quại và không bao giờ biết được – thà là tranh đấu với thân xác mình còn hơn phải cảm thấy như lúc này. Elio, Elio, chúng ta đã cảnh báo mi rồi mà?
Đây tôi nằm trên giường anh, anh thì nhã nhặn đến mức cường điệu. “Nếu muốn thì em ngủ đi,” anh bảo, có lẽ đây là lời nói nhân từ nhất anh từng nói với tôi, tay đặt lên vai tôi, trong khi tôi cứ như Judas, lặp đi lặp lại với bản thân, Giá mà anh biết được. Giá mà anh biết được tôi muốn tránh ra càng xa anh càng tốt. Tôi ôm anh. Tôi nhắm mắt. “Anh đang nhìn em,” tôi nói, trong khi mắt vẫn nhắm. Tôi thích có người nhìn mình lúc mình nhắm mắt.
Tôi cần anh đi càng xa càng tốt nếu tôi muốn cảm thấy khá hơn, và quên lãng – nhưng tôi cần anh cạnh bên phòng khi cảm giác này tệ hơn và chẳng có ai để tôi tâm tình.
Trong khi đó, phần khác trong tôi thật ra lại vui vì chuyện đó đã qua rồi. Anh đã ra khỏi hệ thống của tôi. Tôi sẽ trả giá. Câu hỏi là: Anh có hiểu không? Và có tha thứ không?
Hay đây chỉ là một trò nữa để ngăn chặn sự trở lại cảm giác chán ghét cùng ô nhục?
Sáng sớm, chúng tôi đi bơi cùng nhau. Tôi có cảm giác đây là lần cuối cùng chúng tôi bên cạnh nhau thế này. Tôi sẽ về phòng mình, ngủ, thức dậy, ăn điểm tâm, lấy cuốn sổ biên nhạc, rồi dành nhiều giờ buổi sáng tuyệt vời chuyên chú cải biên bản nhạc Haydn, thi thoảng bất chợt cảm thấy nôn nao, trông chờ sự bẽ mặt của anh ở bàn điểm tâm, rồi lại nhớ ra rằng chúng tôi đã qua giai đoạn đó rồi, rằng mới vài giờ trước thôi tôi có anh bên trong mình, và tôi phấn khích khi nhìn anh đê mê, lên đỉnh ngay trước mắt mình.
Bây giờ anh bước đi, nước tới đầu gối, người vẫn mặc áo. Tôi biết anh đang làm gì. Nếu dì Mafalda hỏi, anh sẽ chối rằng cái áo gặp rủi nên ướt.
Chúng tôi cùng bơi tới tảng đá lớn. Chúng tôi nói chuyện. Tôi muốn anh nghĩ rằng mình hạnh phúc khi bên anh. Tôi đã muốn biển rửa trôi đi mớ lầy nhầy trên ngực mình, vậy mà không thành. Một lúc sau khi tắm bằng xà phòng, mọi hoài nghi về bản thân tôi, bắt đầu ba năm về trước khi một chàng trai trẻ vô danh chạy xe đạp dừng lại, xuống xe, khoác vai tôi, rồi cử chỉ đó đã khuấy động hoặc thúc đẩy cái gì đó mà nếu không có cái khoác vai hẳn sẽ tốn nhiều thời gian hơn để được nhận thức rõ ràng – tất cả những điều này giờ đây cũng có thể được rửa trôi đi, tan biến như một lời đồn ác độc hoặc một niềm tin sai trái về tôi, được giải thoát như vị thần đã chịu phạt xong và giờ đang được thanh tẩy bằng mùi xà phòng mềm thơm mùi hoa cúc có trong mọi phòng tắm nhà tôi.
Chúng tôi ngồi trên một trong các tảng đá, nói chuyện. Vì sao trước đây chúng tôi không chuyện trò thế này? Nếu chúng tôi có được tình bạn thế này vài tuần sớm hơn thì tôi đã không khát khao anh đến tuyệt vọng. Có lẽ chúng tôi đã tránh được chuyện ngủ với nhau. Tôi muốn kể với anh là tôi đã làm tình với Marzia đêm nọ cách nơi chúng tôi đang ngồi chưa tới hai trăm mét. Nhưng tôi im lặng. Chúng tôi nói về bản “It is finished” của Haydn mà tôi vừa cải biên xong. Tôi có thể nói chuyện này và không cảm thấy mình làm vậy là để gây ấn tượng hay thu hút chú ý của anh hay dựng lên một cây cầu bộ hành chòng chành giữa chúng tôi. Tôi có thể nói về Haydn hàng giờ liền – thật là một tình bạn đáng yêu.
Ý nghĩ ấy chưa từng xảy đến, trong khi tôi đang trải qua cảm giác đoạn tuyệt, chấm dứt với anh và thậm chí một chút thất vọng vì tôi đã dễ dàng hồi phục sau vài tuần như bị bùa mê, rằng mong muốn được ngồi xuống mà bàn luận Haydn một cách quá ư thư thái đến bất thường như chúng tôi bây giờ là điểm yếu nhất của tôi, bởi nếu khát khao có tái hiện, nó có thể dễ dàng lẻn vào qua chính cánh cổng này, cánh cổng mà tôi cho là an toàn nhất, ví dụ như khi trông thấy anh khỏa thân một phần cạnh bể bơi.
Đến một lúc, anh cắt ngang.
“Em ổn chứ?”
“Ổn, ổn mà,” tôi đáp.
Rồi anh cười ngượng ngịu, như đang sửa lại câu hỏi ban đầu: “Em ổn khắp người chứ?”
Tôi cười lại mơ hồ, biết rằng mình đã khép lòng lại, đóng hết cửa nẻo giữa chúng tôi, thổi tắt nến bởi rốt cuộc mặt trời đã mọc lần nữa, và nỗi ô nhục vẽ ra những cái bóng dài.
“Nhưng lúc anh... thì em có phiền không?”
Tôi quay mặt đi hướng khác, như thể một luồng gió lạnh vừa chạm vào tai và tôi không muốn để nó thổi vào mặt mình. “Mình có cần nói chuyện đó không?” Tôi hỏi.
Tôi đã dùng chính lời của Marzia thốt lên khi tôi muốn biết nàng có thích điều tôi làm với nàng không.
“Nếu em không muốn thì thôi.”
Tôi biết chính xác anh muốn nói về điều gì. Anh muốn xóa bỏ cái khoảnh khắc khi tôi suýt bảo anh dừng lại.
Giờ đây lúc chúng tôi nói chuyện, tôi chỉ nghĩ tới chuyện ngày hôm nay tôi sẽ tản bộ cùng Marzia, và mỗi lần hai đứa ngồi lại đâu đó tôi sẽ bị đau. Cả một sự sỉ nhục. Ngồi trên bờ thành lũy của thị trấn – nơi mọi người đồng trang lứa tụ tập hàng đêm lúc chúng tôi không ở trong các hàng quán – và bị lúng túng cũng như nhắc nhớ về điều tôi đã làm đêm qua. Câu đùa cửa miệng của lũ nam sinh. Nhìn Oliver nhìn tôi quằn quại rồi nghĩ, Tôi đã làm với cậu, nhỉ?
Tôi ước chi chúng tôi chưa ngủ với nhau. Ngay cả thân thể anh, tôi cũng hết hứng. Trên tảng đá nơi chúng tôi đang ngồi, tôi nhìn vào thân thể anh mà như người ta nhìn vào những áo quần dơ bẩn bị đóng thùng chờ Độiquân-cứu-thế tới thu gom.
Vai: xong.
Chỗ da giữa trong và ngoài khuỷu tay mà tôi từng tôn thờ: xong.
Đũng: xong.
Cổ: xong.
Gờ cong quả mơ: xong.
Bàn chân – à, bàn chân đó: nhưng mà, ừ, xong.
Mỉm cười khi anh nói, Em ổn khắp người chứ: ừ, cái đó cũng xong. Không được bỏ sót thứ gì cho may rủi.
Đã có lúc tôi tôn thờ tất cả. Tôi đã chạm vào chúng theo cách con cầy hương cạ mình vào vật mà nó thèm muốn. Chúng đã là của tôi trong một đêm. Giờ tôi không muốn chúng. Điều tôi không thể nhớ chứ đừng nói gì hiểu được, là làm thế nào tôi lại khiến mình muốn chúng, khiến mình làm tất cả những gì tôi đã làm để được gần chúng, chạm vào chúng, ngủ với chúng. Sau cuốc bơi chung tôi mong mau đi tắm. Quên đi, quên đi.
Lúc cả hai bơi trở vào bờ, anh hỏi, có vẻ như sau một hồi ngẫm nghĩ, “Em định hờn giận anh vì đêm qua sao?”
“Không,” tôi đáp. Nhưng dù trong lòng thật sự có ý vậy, tôi đã đáp quá nhanh. Để làm dịu đi cái mập mờ của chữ không đó, tôi bảo rất có thể tôi muốn ngủ cả ngày. “Chắc bữa nay em không đạp xe nổi.”
“Tại vì...” Anh không phải đang hỏi, mà là đang đưa ra câu trả lời.
“Phải, tại vậy.”
Chợt nghĩ rằng một trong những lý do khiến tôi quyết định xa cách anh mau chóng tới vậy không chỉ là tránh làm anh tự ái hoặc cảnh giác hoặc gây ra một tình huống sượng sùng, khó xử ở nhà, mà là vì tôi không chắc trong vòng vài tiếng đồng hồ nữa mình lại không lên cơn thèm khát anh.
Nhưng rồi tôi nhớ tới lòng tự tin của mình, cái danh sách của mình, cùng nỗi thèm khát kết thúc với anh. Giỏi lắm. Tôi lau khô mình, mặc cái quần pyjama đêm qua, nằm phịch lên giường, rồi ngủ mãi tới lúc dì Mafalda gõ cửa phòng hỏi có muốn dùng trứng điểm tâm không.
Cái miệng sắp đi ăn trứng này đã chu du khắp nơi đêm qua.
Như bị say rượu, tôi cứ tự hỏi tới chừng nào mới hết cảm giác buồn nôn.
Thi thoảng, cái đau bất chợt làm tôi nổi cơn khó chịu, nhục nhã. Kẻ nào nói linh hồn và thể xác gặp nhau ở tuyến quả thông là kẻ ngốc.
Lúc anh xuống dùng điểm tâm, anh mặc bộ đồ bơi của tôi. Không ai để ý chuyện đó, vì mọi người luôn đổi đồ mặc trong nhà, nhưng đây là lần đầu tiên anh làm vậy, nó là bộ tôi mặc vào chính buổi bình minh mà chúng tôi đi bơi cùng nhau. Nhìn anh mặc đồ của mình gợi lên cơn hứng không chịu nổi. Và anh biết vậy. Cả hai chúng tôi đều nổi hứng. Tôi nghĩ đến cái ấy của anh cạ vào lớp vải lưới chỗ cái của tôi đã ở. Nhưng cái làm tôi nổi hứng không phải là điều này. Nó là độ rỗng cũng như tính khả hoán của thân thể chúng tôi – những gì của tôi bỗng nhiên thành của anh, cũng như cái thuộc về anh có thể thành của tôi bây giờ. Có phải tôi đang bị cám dỗ trở lại? Anh quyết định ngồi cạnh tôi bên bàn, rồi khi không ai nhìn thấy, đút bàn chân anh không phải lên trên mà là vào bên dưới bàn chân tôi. Tôi biết bàn chân mình sần sùi vì lúc nào cũng đi trần; bàn chân anh thì láng mịn; đêm qua tôi đã hôn bàn chân anh, mút ngón chân anh, giờ đây chúng rúc vào bàn chân sần sùi của tôi và tôi cần phải bảo vệ người bảo vệ của mình.
Anh không cho tôi quên anh. Tôi nhớ tới câu chuyện một mệnh phụ đã có chồng, sau khi ngủ với một viên tùy tướng đã lệnh cho vệ binh lâu đài bắt ông ta vào buổi sáng hôm sau, rồi hành hình ông ta ngay tức khắc trong ngục tối vì những tội danh bịa đặt, không chỉ để triệt mọi chứng cớ của cái đêm gian dâm giữa họ và ngăn ngừa kẻ tình nhân trẻ tuổi hơn trở thành mối phiền phức bởi ông ta nghĩ mình được hưởng đặc ân của bà, mà còn để gây ra sự cám dỗ tìm đến ông vào đêm hôm sau. Có phải anh đang trở thành mối phiền phức đeo bám lấy tôi? Và tôi phải làm gì – nói với mẹ sao?
Sáng ấy anh đi một mình vào thị trấn. Bưu điện, Signora Milani, như thường lệ. Tôi thấy anh đạp xe xuống dọc hàng cây bách, vẫn mặc cái quần tắm của tôi. Chưa từng có ai mặc đồ của tôi. Có lẽ ý nghĩa vật lý và hàm ngôn là những cách thức vụng về để hiểu chuyện xảy ra khi hai người cần không chỉ là ở gần bên nhau mà là trở thành hoàn toàn hòa thuận, người này trở thành người kia. Tôi là tôi vì anh. Anh là anh vì tôi. Anh là cái ống dẫn bí mật vào chính tôi – giống như chất xúc tác cho phép chúng ta trở thành chúng ta, cái thân thể được ghép, máy điều hòa nhịp tim, mảnh mô ghép, miếng dán gửi đi tất cả những xung nhịp đúng đắn, cái kim ghim thép giữ xương một người lính lại với nhau, trái tim của người đàn ông kia khiến cho chúng ta là chúng ta hơn lúc trước khi phẫu thuật cấy ghép.
Ý nghĩ này đột nhiên khiến tôi muốn buông bỏ mọi thứ tôi sẽ làm ngày hôm nay, để chạy đến với anh. Tôi chờ mười phút, lấy xe ra rồi dù đã hứa là không đi xe hôm ấy, phóng đi qua ngả nhà Marzia, rồi lao lên con đường đồi dốc nhanh hết tốc lực. Khi tới quảng trường, tôi nhận ra mình tới sau anh vài phút. Anh đang dựng xe, đã mua tờ Herald Tribune, và đang đi lại bưu điện – việc cần làm đầu tiên. “Em phải gặp anh,” tôi nói lúc chạy ào tới. “Sao vậy, có gì không ổn à? ”
“Chỉ là em phải gặp anh. ”
“Em không chán anh sao?” Em nghĩ em định – em định nói là – và em muốn được – “Chỉ là em muốn được ở bên anh,” tôi nói. Rồi chợt nghĩ: “Nếu anh muốn thì em về vậy,” tôi nói. Anh đứng yên, thõng bàn tay cầm mớ thư chưa gửi, rồi chỉ đứng đó nhìn tôi chăm chú, lắc đầu. “Em có biết là anh vui xiết bao khi mình ngủ với nhau?”
Tôi nhún vai như để xua đi một lời bình phẩm. Tôi không đáng lời bình phẩm nào cả, nhất là do anh nói ra. “Em không biết.”
“Có vẻ như là em không muốn biết. Anh không muốn hối tiếc bất cứ gì – kể cả điều em không cho anh nói sáng nay. Anh chỉ sợ ý nghĩ là đã làm cho em rối loạn. Anh không muốn ai trong chúng ta phải trả giá cách này hay cách khác.”
Tôi biết chính xác anh đang nói tới điều gì nhưng giả vờ như không. “Em không nói với ai. Sẽ chẳng có rắc rối nào hết.”
“Anh không nói chuyện đó. Chắc chắn là anh sẽ trả giá thế nào đó.” Lần đầu tiên giữa ban ngày tôi bắt gặp một Oliver khác. “Đối với em, dù em có nghĩ gì đi nữa thì cái chính vẫn là chuyện vui chơi thôi, nên như vậy. Còn với anh thì nó là thứ gì khác mà anh chưa hình dung ra. Không hình dung ra nổi, nên anh sợ.”
“Bộ anh không thích em tới đây?” Có phải tôi đang cố ý đần độn?
“Nếu được thì anh sẽ ôm hôn em ngay.”
“Em cũng vậy.”
Tôi gần lại tai anh lúc anh sắp sửa bước vào bưu điện, và thì thầm, “Ấy em đi, Elio.”
Anh nhớ ra, ngay lập tức rên lên tên mình ba lần, như chúng tôi đã làm đêm ấy. Tôi thấy mình đã bắt đầu hứng. Rồi để trêu anh, tôi bảo, “Để dành sau nhé.”
Rồi tôi nói với anh hai chữ Gặp sau! sẽ luôn nhắc tôi nhớ tới anh. Anh bật cười, đáp, “Gặp sau!” – ý nghĩa chính xác như tôi muốn: không chỉ là tạm biệt, anh xéo đi, mà còn là lời hẹn làm tình vào buổi chiều. Tôi quay lại, lập tức lên xe, phóng vù trở về xuống đồi, cười toe toét, hát được cũng đã hát rồi.
Tôi chưa từng vui sướng đến vậy trong đời. Không thể có gì bất ổn, mọi thứ diễn ra như ý, tất cả các cửa đều mở ra từng cái một, và cuộc đời rực rỡ hơn bao giờ hết: nó đang chiếu sáng vào tôi, rồi khi tôi rẽ xe sang trái hay phải hoặc cố tránh khỏi ánh sáng của nó, nó theo tôi như bóng đèn chiếu theo diễn viên trên sân khấu. Tôi thèm muốn anh nhưng tôi có thể dễ dàng sống mà không anh, và cách nào cũng được.
Trên đường về, tôi quyết định ghé nhà Marzia. Nàng đang ra bãi biển. Tôi cùng đi, rồi hai đứa xuống bãi đá, nằm phơi nắng. Tôi yêu mùi hương nàng, miệng nàng. Nàng cởi phần trên, rồi nhờ tôi thoa kem rám nắng lên lưng, biết rằng tay tôi thể nào cũng sẽ ôm lấy vú nàng. Gia đình nàng có một căn nhà nhỏ mái tranh cạnh bãi biển, nàng nói sẽ vào đó. Không ai qua lại. Tôi khóa trái cửa, đặt nàng lên bàn, cởi bộ đồ tắm của nàng ra, áp miệng vào nơi nàng có mùi biển cả. Nàng ngửa ra sau, nâng hai chân để lên vai tôi. Mới nửa tiếng đồng hồ trước tôi bảo Oliver ấy tôi, mà bây giờ tôi sắp làm tình với Marzia. Vậy mà hai việc ấy chẳng liên quan gì tới nhau, ngoại trừ đều thông qua Elio, tình cờ là cùng một người.
Sau bữa trưa Oliver bảo anh phải trở lại B. để giao Signora Milani bản chỉnh sửa mới nhất. Anh liếc nhanh về phía tôi, nhưng khi thấy tôi không phản ứng liền rời đi ngay. Sau hai ly vang, tôi nôn nóng đi ngủ. Tôi cầm theo hai trái đào lớn trên bàn, tạt ngang hôn mẹ. Lát nữa con ăn, tôi nói. Trong căn phòng ngủ tối, tôi đặt chúng lên mặt bàn cẩm thạch. Và rồi cởi hết. Những tấm trải sạch, mát, mới cứng, thơm nắng xếp căng trên giường tôi – Chúa phù hộ dì, Mafalda. Tôi có muốn ở một mình? Có. Một người đêm qua; rồi lần nữa lúc bình minh. Rồi buổi sáng, một người nữa. Giờ đây tôi nằm trên tấm trải, vui sướng như một cây hướng dương cứng cáp, mới mọc lên, tràn đầy sinh lực trong buổi chiều nắng rực rỡ nhất mùa hè. Giấc ngủ đến rồi đây, tôi có vui khi một mình? Có. À, không. Có. Nhưng có lẽ là không. Có, có, có. Tôi đang vui, và chỉ mỗi điều này là quan trọng, dù ở với người khác hay không ai cả, tôi đang vui.
Nửa giờ sau, hoặc sớm hơn, tôi thức dậy khi ngửi thấy mùi cà phê lạ lùng, nồng nàn phảng phất khắp nhà. Dù cửa đóng, tôi vẫn ngửi được, và biết rằng đây không phải là cà phê của cha mẹ tôi. Của họ đã được pha và uống một lúc rồi. Đây là lần cà phê thứ hai trong chiều, được pha bằng máy pha expresso Naples mà dì Mafalda, chồng dì, cùng già Anchise pha sau khi họ ăn trưa. Không lâu nữa họ cũng nghỉ. Bầu không khí uể oải buông xuống – cả thế gian đang chìm vào giấc ngủ. Tôi rất muốn anh hoặc Marzia đi ngang cửa bao lơn phòng tôi, qua cánh cửa chớp khép hờ nhận ra thân thể trần truồng của tôi trên giường. Anh hoặc Marzia – nhưng tôi muốn ai đó đi ngang qua, thấy tôi, rồi tự quyết định làm gì. Tôi có thể ngủ tiếp, hoặc nếu họ nhích lại gần bên, tôi sẽ dành chỗ cho họ, rồi chúng tôi sẽ ngủ cùng nhau. Tôi thấy một trong số họ vào phòng mình, với lấy trái đào, cầm nó trong tay, tới bên giường, đưa nó lại cái ấy. Tôi biết cậu chưa ngủ đâu, họ sẽ nói vậy, rồi nhẹ ấn trái đào chín rục xuống nó cho tới khi tôi xuyên qua cái chỗ nẻ quá giống với mông của Oliver. Ý tưởng ấy choán lấy tôi, không buông.
Tôi dậy, lấy một trái đào, ấn ngón cái vào khe cuống, đẩy mở hạt ra đặt lên bàn, rồi nhẹ nhàng đặt trái đào ửng đỏ, lốm đốm lông tơ vào giữa hai chân, bắt đầu ấn vào nó cho tới khi cái ấy của tôi xuyên qua hẳn. Lỡ như già Anchise biết được, giá mà già Anchise biết điều tôi đang làm với trái đào mà chú chăm chút nâng niu từng ngày, ông già đội nón rơm có ngón tay chai sần lúc nào cũng nhổ cỏ trên mảnh đất khô nóng. Những trái đào của chú giống mơ hơn là đào, có điều to hơn, mọng nước hơn. Tôi lục trong trí hình ảnh của thần Ovid – chẳng phải có một nhân vật biến thành trái đào hay sao, mà nếu không có, tôi bịa ra ngay bây giờ được chứ, xem nào, một chàng thanh niên phận hẩm cùng một cô gái trẻ, cả hai đẹp đẽ ngời ngời xuân xanh, đã hắt hủi một vị thần nên bị biến thành cây đào, và giờ đây, sau ba ngàn năm, họ được trao trả thứ đã bị tước đoạt một cách bất công, trong khi họ thì thầm với nhau Ta sẽ chết khi người thôi, mà người đừng thôi, không bao giờ được thôi? Câu chuyện làm tôi nổi hứng tới nỗi suýt nữa tôi đột ngột đạt cực khoái. Cảm giác tôi có thể ngừng lại ngay lúc đó, hoặc chỉ cần một cú trượt nữa tôi sẽ ra, rốt cuộc tôi ra, cẩn thận nhắm vào lõi đỏ của trái đào như một nghi thức thụ tinh vậy.
Chuyện này thật là điên rồ. Tôi ngửa người ra, hai tay cầm trái đào, mừng vì nước và dịch đều chưa kịp rơi xuống làm bẩn tấm trải giường. Trái đào bầm dập, tả tơi như một nạn nhân bị hiếp nằm nghiêng trên bàn, tủi thẹn, cương nghị, đau đớn, và bối rối, cố giữ thứ tôi đã để lại trong nó. Nó khiến tôi nhớ lại có lẽ dáng vẻ tôi cũng chẳng khác mấy trên giường anh đêm qua sau khi anh vào trong tôi lần đầu tiên.
Tôi mặc áo thun cộc tay vào, nhưng rồi quyết định khỏa thân, chui xuống dưới lớp chăn.
Tôi thức dậy khi nghe tiếng ai mở chốt cửa chớp, rồi cài chốt lại. Như trong giấc mơ nọ, người này nhón chân lại chỗ tôi, không phải để làm tôi giật mình mà là để tránh thức tôi dây. Tôi biết đó là Oliver, và vẫn nhắm mắt, tôi đưa tay về phía anh. Anh vồ lấy, hôn nó, rồi mở chăn ra, có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi trần trụi. Lập tức anh đưa đôi môi đến nơi mà sáng nay chúng đã hứa hẹn.
Anh thích cái vị dinh dính nọ. Tôi đã làm gì vậy?
Tôi kể với anh, rồi chỉ vào cái tang chứng bị bầm dập nằm trên bàn.
“Để anh xem nào.”
Anh đứng dậy, hỏi tôi có chừa lại cho anh không.
“Nào, anh đâu cần phải làm vậy. Em là người theo đuổi anh, em tìm ra anh, mọi chuyện xảy ra là do em – anh không phải làm vậy.”
“Nhảm nhí. Anh muốn em từ ngày đầu tiên. Có điều anh giỏi giấu hơn.”
“Chứ gì nữa!”
“Dù có gì xảy ra giữa chúng ta, Elio, anh chỉ muốn em biết là đừng bao giờ nói rằng em không biết.” Tình cảm dâng trào là một chuyện. Nhưng lúc này không phải thế. Anh đang đưa tôi đi cùng anh.
Lời anh nói chẳng có nghĩa gì. Nhưng tôi biết chính xác ý nghĩa ấy.
Tôi đưa lòng bàn tay vuốt ve mặt anh. Rồi không rõ lý do vì sao, tôi bắt đầu liếm mí mắt anh.
“Hôn em đi, khi nó vẫn còn,” tôi nói. Miệng anh có vị của đào và của tôi.
Tôi ở lại phòng khá lâu sau khi Oliver đi khỏi. Khi tỉnh dậy đã là gần tối, tôi đâm cáu bẳn. Không còn đau nữa, nhưng cơn khó ở lúc bình minh lại trỗi dậy. Tôi không rõ đây có cùng là cảm giác đó không, nổi lên sau quãng gián đoạn dài, hay cảm giác trước đó đã lành lặn, còn giờ đây là cái hoàn toàn mới theo sau pha làm tình hồi chiều. Liệu tôi luôn phải chịu đựng cảm giác tội lỗi trong đơn độc sau những giây phút mê say bên nhau hay không? Tại sao với Marzia tôi không bị vậy? Có phải đây là cách tạo hóa nhắc nhở tôi rằng tôi nên ở bên nàng?
Tôi đi tắm, mặc quần áo sạch vào. Dưới lầu, mọi người đang dùng cocktail. Hai người khách đêm qua lại có mặt, cười đùa với mẹ tôi, trong khi một người mới đến là phóng viên đang bận tai nghe Oliver mô tả cuốn sách anh viết về Heraclitus. Anh đã hoàn thiện nghệ thuật thảo ra một bản tóm tắt chỉ năm câu cho một người xa lạ, dường như được phác nên một cách ngẫu hứng vì một thính giả cụ thể. “Con ở lại chứ?” Mẹ hỏi tôi.
“Không, con đi gặp Marzia.”
Mẹ nhìn tôi có vẻ thông hiểu, rồi thật kín đáo bà lắc đầu, tức là, Ta không cho phép gặp riêng, con bé tử tế quá, các con nên đi chơi chung một nhóm. “Để nó yên, bà với cái khái niệm chơi chung nhóm của bà,” cha tôi phản bác, thế là tôi thoát. “Thấy không, thằng nhỏ im ru trong nhà suốt cả ngày. Nó muốn gì cứ để nó như ý. Để nó như ý!” Giá mà cha biết.
Mà nếu cha đã biết thì sao?
Cha tôi sẽ không phản đối. Có thể mới đầu ông nhăn nhó, nhưng rồi thôi.
Tôi chưa từng nghĩ tới chuyện giấu Oliver chuyện tôi với Marzia. Tôi thấy hai chuyện với hai người là hoàn toàn khác nhau. Mà anh cũng chẳng nghĩ ngợi gì chuyện tôi với nàng.
Đêm đó Marzia và tôi đi xem phim. Hai đứa ăn kem trên quảng trường. Rồi lại lần nữa ở nhà cha mẹ nàng.
“Em muốn tới nhà sách lần nữa,” nàng nói lúc đưa tôi tới cánh cổng vào vườn nhà. “Nhưng em không thích đi xem phim với anh.”
“Mai, lúc tiệm sắp đóng mình tới nhé?”
“Sao lại không?” Nàng muốn lặp lại đêm hôm nọ.
Nàng hôn tôi. Thực ra điều tôi muốn là hai đứa tới hiệu sách khi nó mới mở vào buổi sáng, có thể tối lại ghé lần nữa.
Lúc tôi về nhà khách khứa sắp rời đi. Oliver vắng mặt. Đáng đời cho tôi lắm.
Tôi lên phòng mình, rồi vì chẳng có gì để làm, tôi mở nhật ký.
Viết đêm qua: “Nửa đêm nay gặp nhau.” Mi đợi mà xem, anh ta sẽ chẳng ở nhà. “Trưởng thành lên” có nghĩa là “Biến đi.” Ước gì mình chưa từng nói.
Nhìn những nét khoanh tròn quanh dòng chữ này trước khi đi về phòng anh, tôi đang cố hình dung lại nỗi phấp phỏng đêm qua. Có lẽ tôi muốn sống lại tâm trạng lo âu đêm qua, vừa để ngụy trang cho nỗi lo âu đêm nay, vừa để tự nhắc rằng nếu những nỗi sợ tệ hại nhất trong tôi đã đột nhiên tan biến sau khi vào phòng anh, thì có lẽ đêm nay chúng cũng kết thúc y hệt, bởi chúng sẽ dễ dàng nhẹ vơi đi khi tôi nghe thấy tiếng bước chân anh.
Nhưng tôi không thể nhớ lại những lo âu đêm qua. Chúng bị phủ lấp bởi những việc xảy đến sau đó, và dường như thuộc về một chiều thời gian mà tôi không vào được. Mọi thứ về đêm qua đột nhiên biến mất. Tôi chẳng nhớ gì. Tôi cố thì thầm “Biến đi” cho mình nghe như để xốc lại trí nhớ. Đêm qua hai chữ này nghe rất thật. Giờ đây chỉ là hai chữ cố gắng nặn ra ý nghĩa nào đó.
Rồi tôi nhận ra. Điều tôi trải nghiệm đêm nay không giống với bất kỳ điều gì khác tôi từng trải nghiệm trong đời.
Tệ hơn nhiều nữa là khác. Tôi thậm chí không biết gọi tên nó là gì.
Nghĩ đi nghĩ lại, tôi thậm chí cũng không biết gọi tên nỗi phấp phỏng đêm qua là gì.
Đêm qua tôi đã tiến một bước dài. Nhưng rồi giờ tôi đây, chẳng khôn ngoan hơn, cũng chẳng chắc chắn hơn về mọi thứ so với trước khi tôi cảm nhận anh bằng trọn vẹn thân mình. Có khi đêm qua chúng tôi chẳng ngủ với nhau.
Ít nhất, đêm qua còn có nỗi sợ thất bại, nỗi sợ mình bị tống cổ ra ngoài hoặc bị gọi bằng cái tên tôi đã dùng gọi những kẻ khác. Vì tôi đã vượt qua nỗi sợ ấy, có phải tâm trạng lo âu này đã luôn hiện diện, dù là tiềm tàng, giống như linh cảm, lời cảnh báo mơ hồ về bãi đá ngầm chết người trước cơn náo loạn?
Và tại sao tôi quan tâm chuyện anh ở đâu? Chẳng phải tôi muốn chuyện với hai người là hoàn toàn khác nhau? Sao lại chới với chỉ vì anh vắng mặt hoặc anh biến mất, sao lại thấy như tất cả những gì tôi đang làm lúc này là chờ đợi anh – chờ, chờ, chờ?
Sao chuyện chờ đợi lại bắt đầu tạo cảm giác như tra tấn?
Nếu anh đang cùng ai đó, Oliver, giờ đã đến lúc về nhà rồi. Em hứa sẽ không hỏi gì cả, chỉ cần đừng bắt em đợi.
Nếu mười phút nữa mà anh không xuất hiện, tôi sẽ làm gì đó.
Mười phút sau, cảm giác bất lực và chán ghét chính mình vì cảm thấy bất lực, tôi quyết định chờ lần-nàyđúng-mười-phút-nữa.
Hai mươi phút sau, tôi không chịu nổi nữa. Tôi mặc áo khoác len, rời bao lơn, rồi xuống lầu. Tôi sẽ đi B. nếu cần phải thế để tự mình kiểm tra xem. Lúc đang đi ra nhà kho, trong lòng đang nghĩ hay là tới N. trước, chỗ người ta thường thức khuya tiệc tùng muộn hơn ở B. , rồi chửi rủa mình vì quên bơm bánh xe hồi sáng, tôi bắt gặp ý nghĩ khiến tôi thấy mình nên đứng yên ngay tại chỗ, không đánh thức già Anchise đang ngủ trong căn lều gần bên. Anchise hắc ám – mọi người đều bảo già là hắc ám. Có phải tôi đã luôn nghi ngờ? Hẳn là có. Lần té xe đạp, thứ thuốc mỡ của nông dân, sự chăm sóc ân cần dành cho anh, lại còn chuyện lau sạch vết xước.
Nhưng kìa chỗ bờ biển lởm chởm đá, dưới ánh trăng, tôi nhìn ra anh. Anh đang ngồi trên một tảng đá cao, mặc cái áo khoác len sọc trắng và xanh dương kiểu thủy thủ, hàng nút luôn mở dọc vai mà anh đã mua ở Sicily hồi đầu hè. Anh chẳng làm gì cả, chỉ đang ôm gối, nghe tiếng nước róc rách vỗ vào đá bên dưới. Đứng ở hàng rào chấn song ngắm nhìn anh, tôi chợt nghe một cảm giác dịu dàng dành cho anh khiến tôi nhớ lại mình đã háo hức chạy tới B. để bắt kịp anh trước khi anh còn chưa vào bưu điện. Đây là con người tốt đẹp nhất mà tôi từng biết. Tôi đã kỹ càng khi chọn anh. Tôi mở cánh cổng, đi lướt qua vài tảng đá, tới gặp anh.
“Em đã chờ anh,” tôi nói.
“Anh tưởng em định đi ngủ. Anh cứ ngỡ em không muốn.”
“Không. Vẫn chờ. Em chỉ tắt đèn thôi.”
Tôi nhìn lên ngôi nhà. Mọi cánh cửa sổ đều đã khép. Tôi cúi xuống hôn lên cổ anh. Đây là lần đầu tiên tôi hôn anh với cảm xúc này, không chỉ là lòng dục. Anh quàng tay ôm tôi. Có ai thấy chăng nữa cũng đâu hại gì.
“Anh đang làm gì?” Tôi hỏi.
“Nghĩ.”
“Về điều gì?”
“Nhiều thứ. Trở về Mỹ. Mấy khóa dạy thu này. Cuốn sách. Em.”
“Em sao?”
“Em sao?” Anh đang nhại lại sự khiêm nhường của tôi.
“Không ai khác?”
“Không ai khác.” Anh im lặng một lúc. “Đêm nào anh cũng tới ngồi đây. Có khi nhiều tiếng đồng hồ. ”
“Mỗi một mình anh thôi?” Anh gật đầu.
“Em nào có hay. Em tưởng...”
“Anh biết em tưởng gì.”
Phát hiện mới này khiến tôi vui sướng như điên. Rõ ràng là mối nghi ngờ đã phủ bóng lên mọi thứ giữa chúng tôi. Tôi quyết định không hỏi han gì thêm.
“Đây chắc là nơi anh sẽ nhớ nhất.” Rồi nghĩ lại: “Anh đã hạnh phúc ở B.”
Nghe cứ như một lời mào đầu trước lời chia ly.
“Anh đã nhìn về đó,” anh nói tiếp, chỉ về đường chân trời, “và nghĩ rằng sau hai tuần anh sẽ trở về trường Columbia.”
Anh đúng. Tôi đã cố ý không bao giờ đếm ngày. Mới đầu là vì tôi không muốn nghĩ anh sẽ ở với chúng tôi bao lâu; về sau là vì tôi không muốn đối mặt với sự thật là những ngày còn lại nơi đây của anh thật ít ỏi.
“Có nghĩa là sau mười ngày nữa khi em từ đây trông ra xa, anh không còn bên cạnh. Em không biết lúc đó mình sẽ làm gì. Ít ra thì anh sẽ ở nơi nào khác, nơi không có kỷ niệm.”
Anh siết chặt vai tôi vào vai anh. “Cách em nghĩ đôi lúc thật là... Em sẽ ổn thôi.”
“Có thể. Nhưng rồi cũng có thể không. Mình đã lãng phí biết bao ngày – biết bao tuần lễ.”
“Lãng phí à? Anh không biết. Có lẽ mình chỉ cần thời gian để biết được rằng đây là điều mình muốn.”
“Có vài người trong chúng ta gây khó dễ.”
“Anh à?”
Tôi gật đầu. “Anh biết chính xác điều mà chúng ta làm vào đêm nọ.”
Anh mỉm cười. “Anh không biết mình cảm nhận sao về chuyện đó.”
“Em cũng không chắc. Nhưng em vui là mình đã làm.”
“Em sẽ ổn chứ?”
“Em sẽ ổn.” Tôi đút một bàn tay vào quần của anh. “Em thích ở đây với anh.”
Đó là cách tôi nói, nơi đây em cũng đã hạnh phúc. Tôi cố mường tượng hạnh phúc nơi đây có nghĩa gì với anh: hạnh phúc lúc tới đây sau khi mường tượng nơi đây trông ra sao, hạnh phúc làm việc của anh vào những buổi sáng nắng như thiêu ở thiên đàng, hạnh phúc đạp xe tới lui gặp cô biên dịch, hạnh phúc lẻn vào thị trấn mỗi đêm rồi về lúc thật khuya, hạnh phúc với cha mẹ tôi cùng cái gọi là chuyện nhàm sau bữa chiều, hạnh phúc với mấy bạn chơi poker của anh và tất cả những bạn bè anh đã quen trong thị trấn mà tôi chẳng hề quen biết? Một ngày nào đó anh sẽ kể với tôi. Tôi tự hỏi mình có vai trò gì trong toàn bộ cái hạnh phúc của anh.
Trong khi đó, ngày mai, nếu chúng tôi đi bơi sớm cùng nhau, tôi có thể lần nữa vượt qua cảm giác chán ghét bản thân thừa thãi này. Liệu người ta có quen được với nó chăng. Hay người ta tích lũy cái khoản nợ khó ở nhiều tới mức người ta tìm ra cách khoanh nó lại thành một khoản nợ cảm xúc lớn, có cả thời gian ân hạn? Hay sự hiện hữu của người khác, người mới sáng qua thôi hãy còn như kẻ xâm nhập, ngày càng trở nên cần thiết bởi nó che chở chúng ta khỏi địa ngục của chính mình – để chính người gây khổ cho ta lúc bình minh lại là người sẽ giải thoát nỗi khổ ấy trong đêm?
Sáng hôm sau chúng tôi đi bơi cùng nhau. Còn chưa qua sáu giờ, sớm như vậy nên chúng tôi tập được tốt. Sau đó anh trình diễn màn nổi trên nước như người chết, tôi muốn giữ anh, giống như khi người dạy bơi giữ người ta thật nhẹ, giống như là giữ ta nổi mà gần như chẳng phải chạm một ngón tay nào. Sao trong khoảnh khắc đó tôi lại thấy mình lớn tuổi hơn anh? Sáng hôm nay tôi muốn che chở anh khỏi mọi thứ, khỏi rặng đá, khỏi bọn sứa, bởi vì giờ đang là mùa sứa, khỏi già Anchise có cái liếc mắt đáng ngại khi đi vào vườn để bật các vòi tưới, đi tới đâu là nhổ cỏ tới đó, ngay cả khi trời mưa, ngay cả khi nói chuyện với người ta, ngay cả khi ông dọa bỏ chúng tôi mà đi. Cái liếc mắt đó dường như có thể nặn ra được mọi bí mật mà ta nghĩ là đã chôn giấu gọn ghẽ khi ông nhìn tới.
“Anh khỏe không?” Tôi hỏi, bắt chước câu anh hỏi sáng hôm qua.
“Em biết mà.”
Lúc dùng bữa sáng, tôi không tin nổi mình bị gì đó nhập, đi cắt phần trên vỏ trứng chần của anh trước khi dì Mafalda can thiệp hoặc trước khi anh lấy muỗng mà đập. Tôi chưa từng làm vậy cho ai khác trong đời, vậy mà đây, đang cố sao cho không một mẩu vỏ nào rơi vào cái trứng của anh. Anh vui mừng dùng cái trứng đó. Khi dì Mafalda mang cho anh món polpo, bạch tuộc như mọi ngày, tôi thấy vui cho anh. Như vợ chồng vui cho nhau vậy. Chỉ vì đêm qua anh cho tôi được làm top.
Tôi bắt gặp cha đang ngó trân vào mình lúc tôi cắt chóp vỏ trứng chần thứ hai cho anh.
“Người Mỹ chả bao giờ biết phải làm thế nào,” tôi nói. “Ta chắc là họ có cách của mình...”, ông nói.
Bàn chân đang rúc dưới chân tôi dưới bàn tỏ ý rằng có lẽ tôi nên thôi đi, kẻo cha tôi sinh nghi. “Bác không có khờ đâu,” lúc sau anh nói với tôi khi chuẩn bị đi B.
“Muốn em đi cùng không?”
“Thôi, tốt nhất là đừng bộc lộ nhiều. Hôm nay em nên làm việc với Haydn đi. Gặp sau.”
“Gặp sau.”
Sáng ấy Marzia gọi điện lúc anh sắp sửa rời đi. Anh gần như nháy mắt khi đưa điện thoại cho tôi. Không chút mỉa mai nào, trừ khi tôi nhầm thì điều mặc nhiên được hiểu là chuyện giữa chúng tôi với nhau chỉ là tình bạn bè trong veo.
Có lẽ chúng tôi trước hết là bạn, sau là tình nhân.
Nhưng có lẽ như thế mới đáng gọi là tình nhân.
Khi tôi hồi tưởng lại mười ngày cuối chúng tôi bên nhau, tôi thấy cuộc đi bơi lúc sáng sớm, những bữa điểm tâm uể oải, chuyến đạp xe vào thị trấn, làm việc trong vườn, các bữa trưa và giấc ngủ ban chiều, chiều cũng làm việc, có lẽ là quần vợt, các bữa ăn tối muộn ở quảng trường, và mỗi đêm là kiểu làm tình càng ngày càng tuyệt. Nhớ lại những ngày ấy, tôi nghĩ chưa từng có phút giây nào chứ đừng nói tới nửa giờ hay hơn mà anh dành cho cô biên dịch, hoặc khi tôi xoay sở được vài giờ với Marzia lúc anh và tôi không ở cạnh nhau.
“Anh biết về em khi nào?” Một hôm tôi hỏi anh. Tôi hi vọng là anh sẽ nói, Khi anh bóp vai em và em suýt nữa rủn ra. Hoặc, Lúc em ướt trong cái quần tắm buổi chiều nọ, khi mình nói chuyện. Gì đó đại loại vậy. “Khi em đỏ mặt,” anh nói. “Em đỏ mặt sao?” Chúng tôi đã nói về chuyện dịch thơ, lúc đó là sáng sớm, tuần đầu anh ở với nhà tôi. Hôm ấy chúng tôi bắt đầu làm việc sớm hơn lệ thường, có lẽ là vì chúng tôi thích tán gẫu trong lúc chờ bữa điểm tâm được dọn lên dưới bóng cây đoạn, háo hức dành thời gian cho nhau. Anh hỏi tôi có từng dịch thơ chưa. Tôi đáp rằng có. Sao hỏi vậy, anh có chưa? Rồi. Anh đọc Leopardi, bắt gặp một vài đoạn không dịch nổi. Chúng tôi trao đổi qua lại, không ai biết được một cuộc đối thoại tự do có thể đi xa tới đâu, bởi càng đi sâu vào thế giới thơ của Leopardi, chúng tôi cũng thi thoảng tìm ra những ngóc ngách nơi khiếu hài hước cùng sở thích làm trò hề của chúng tôi tha hồ bộc lộ. Chúng tôi dịch đoạn thơ sang tiếng Anh, rồi từ tiếng Anh sang tiếng Hy Lạp, rồi trở lại tiếng Anh cổ quái, rồi tiếng Ý cổ quái. Mấy dòng kết bài “Đến mặt trăng” của Leopardi bị méo mó tới nỗi chúng tôi cười ngặt ngẽo trong khi lặp lại những dòng vô nghĩa bằng tiếng Ý – rồi đột nhiên im lặng, tôi nhìn lên thì thấy anh đang nhìn thẳng vào mình, cái nhìn lạnh lùng trong vắt của an luôn khiến tôi bất an. Tôi cố nói gì đó, rồi khi anh hỏi sao tôi biết nhiều thứ như vậy, tôi còn đủ trí óc để mà huyên thuyên gì đó rằng mình là con trai của một giáo sư. Tôi không phải lúc nào cũng háo hức phô ra kiến thức của mình, nhất là với người có thể dễ dàng khiến tôi chột dạ. Tôi chẳng có gì để mà đấu lại, không có gì để thêm vào, không có gì để tung hỏa mù, không có nơi nào để trốn nấp. Tôi cảm thấy lộ liễu như con cừu đi lạc trên đồng bằng Serengeti khô cằn, không một giọt nước. Cái nhìn chằm chằm không còn là một phần của cuộc trò chuyện, hay thậm chí là cái sự tán hươu tán vượn về dịch thuật; cái nhìn thay thế cho cuộc trò chuyện và trở thành chủ đề của chính nó, có điều cả hai không dám cũng như không muốn nhắc tới việc ấy. À phải, trong ánh mắt anh có gì đó quá đỗi rực rỡ khiến tôi phải lảng tránh, rồi tôi lại nhìn anh, anh vẫn không nhìn chỗ khác mà cứ chăm chăm vào mặt tôi, như muốn nói, Vậy là cậu lảng tránh rồi trở lại, chừng nào cậu lại nhìn đi chỗ khác? – thế nên tôi lại lảng tránh, ra vẻ đang suy tư, nhưng lúc nào cũng cố tìm ra gì đó để mà nói, cứ như con cá cố tìm nước trong vũng nước đang mau chóng khô đi dưới sức nóng mặt trời. Hẳn anh biết cảm giác của tôi. Điều rốt cuộc khiến tôi đỏ mặt không phải là sự bối rối tự nhiên vào lúc tôi biết được anh bắt gặp tôi cố nhìn lại anh chỉ rồi để rồi vụt trốn chạy; điều khiến tôi đỏ mặt là cái khả năng đầy phấn khích là có lẽ anh thật sự thích tôi, và anh thích tôi theo cái cách mà tôi thích anh, dẫu rằng điều đó rất khó tin.
Nhiều tuần liền tôi đã nhầm cái nhìn chằm chằm ấy với sự thù địch không giấu giếm. Tôi đã nhầm to. Đơn giản đó là cách đàn ông đáp lại cái nhìn của đối phương.
Rốt cuộc tôi hiểu ra rằng hai chúng tôi là hai kẻ nhút nhát nhất đời.
Cha tôi là người duy nhất nhìn thấu anh từ ban đầu.
“Anh thích Leopardi không?” Tôi hỏi để cho có chuyện, nhưng cũng để tỏ ý rằng chủ đề Leopardi đã khiến tôi hơi xao lãng khi cuộc chuyện trò tạm dừng.
“Có, rất thích.”
“Em cũng thích thi sĩ đó lắm.”
Tôi biết là mình không phải đang nói về Leopardi. Quan trọng là, anh có biết chăng?
“Anh biết là đã làm em bối rối, nhưng anh phải chắc về một thứ.”
“Vậy là lần này anh biết rồi chứ?”
“Có thể nói là khá chắc.”
Nói cách khác, chuyện đã bắt đầu vài ngày sau khi anh tới. Vậy lẽ nào mọi thứ kể từ đó đều là giả vờ? Rồi mọi chuyện xảy ra giữa hai thái cực bạn bè và người dưng – chúng là gì? Cách anh và tôi bí mật theo dõi đối phương trong khi một mực phủ nhận? Hay chúng đơn giản là bất cứ cách thức ranh ma nào để đẩy nhau ra xa, hi vọng rằng cái chúng tôi cảm thấy đích thực là sự dửng dưng? “Sao anh không cho em dấu hiệu nào cả?” Tôi hỏi.
“Có chứ. Ít ra thì anh có thử.”
“Khi nào?”
“Lần nọ sau khi chơi quần vợt. Anh chạm em. Chỉ là cách anh tỏ ý thích em. Em phản ứng cứ như là anh suýt nữa thì gạ gẫm em. Nên anh quyết định giữ khoảng cách.”
Buổi chiều là lúc chúng tôi có những phút giây vui sướng nhất. Sau bữa ăn trưa, tôi lên lầu nghỉ vừa đúng lúc sắp có cà phê dọn lên. Rồi khi khách dùng bữa trưa rời đi hết, hoặc lỉnh đi nghỉ trong nhà khách, cha tôi hoặc sẽ rút vào phòng làm việc hoặc chợp mắt cùng mẹ. Chừng hai giờ chiều, bức màn im lặng buông xuống ngôi nhà, và dường như phủ khắp trần gian, thi thoảng bị cắt ngang bởi hoặc là tiếng gù chim bồ câu hoặc tiếng búa của già Anchise cố sửa lại đồ nghề mà không gây ồn quá. Tôi thích nghe tiếng ông làm việc buổi chiều, và ngay cả khi tiếng đập hay tiếng cưa thoảng hoặc của ông làm tôi bừng giấc, hoặc khi gã thợ mài dao kéo cứ mỗi chiều thứ Tư lại miết dao vào thỏi đá mài của gã, những tiếng ấy khiến tôi cảm thấy trong lòng thanh thản, hòa thuận với thế gian như nhiều năm sau này tôi cảm thấy lúc giữa đêm nghe một tiếng còi tầm báo sương mù vẳng ra từ mũi Cod. Oliver thích để mở các cửa sổ và cửa chớp vào buổi chiều, chỉ có một lớp màn căng ra giữa chúng tôi và cuộc đời ngoài kia, bởi sẽ là “tội ác” nếu che hết đi bấy nhiêu ánh mặt trời, che luôn cả phong cảnh, đặc biệt là khi ta không được hưởng những điều ấy mãi. Rồi những cánh đồng uống lượn của thung lũng dẫn lên các ngọn đồi dường như ở trong một màn sương có màu xanh ô-liu: cây hướng dương, các giàn nho, những mảng màu tím oải hương, cùng những cây ô liu thấp lùn, khiêm nhường lom khom trông như những hình nộm xác xơ, cũ kỹ nhòm vào qua cửa sổ trong khi chúng tôi nằm khỏa thân trên giường tôi, có mùi mồ hôi của anh, tức là mùi mồ hôi của tôi, và bên cạnh người đàn ông-đàn bà có người đàn ông-đàn bà là tôi đây, và xung quanh chúng tôi là đồ giặt thơm mùi xà phòng hương cúc của dì Mafalda, đó chính là mùi thơm của buổi chiều nóng như thiêu trong ngôi nhà chúng tôi.
Tôi nhìn lại những ngày ấy và không hề hối tiếc về những rủi ro, về nỗi ô nhục, hay sự thiếu vắng hoàn toàn tiên báo. Ánh mặt trời tình tứ, những cánh đồng chen chúc các cây cao lớn gật gù dưới sức nóng kinh khiếp giữa trưa, tiếng ván sàn cọt kẹt, hay tiếng rít của cái gạt tàn đất nung bị đẩy thật nhẹ trên phiến đá hoa từng nằm trên bàn đầu giường của tôi. Tôi biết rằng thời khắc của chúng tôi là có hạn, nhưng tôi không dám đếm chúng, bởi tôi biết tất cả những điều này rồi sẽ đi về đâu, nhưng tôi không quan tâm đến bảng chỉ đường. Có một lúc tôi cố tình không để lại dấu vết cho chặng đường trở về; thay vì vậy tôi ăn sạch. Có thể hóa ra anh là một kẻ hoàn toàn điên khùng; anh có thể thay đổi tôi hoặc hủy hoại tôi mãi mãi, trong khi thời gian bên nhau và tán gẫu có thể rốt cuộc sẽ tước đi mọi thứ chúng tôi sẻ chia, và sẽ chẳng còn lại gì hết. Có thể tôi sẽ nhớ ngày này, hoặc tôi làm tốt hơn thế, nhưng tôi sẽ luôn nhớ rằng những buổi chiều ấy, trong phòng ngủ, tôi đã nắm bắt thời khắc của mình.
Dù sao thì khi tôi thức dậy một buổi sáng nọ, nhìn thấy toàn B. bị phủ mây đen đang thấp dần bay ngang qua trời. Tôi biết chính xác điều này nghĩa là gì. Sắp vào thu mất rồi.
Vài giờ sau, mây tan hết, và thời tiết dường như xóa sạch mọi dấu vết thu sang khỏi cuộc đời chúng tôi, ban cho chúng tôi một ngày ôn hòa nhất của mùa, như để bù đắp cho trò tinh quái trước đó. Nhưng tôi đã lưu ý lời cảnh báo kia, và giống như chuyện của các quan tòa đã nghe chứng cứ bất khả nhận trước khi nó được trích ra từ hồ sơ, tôi đột nhiên nhận ra chúng tôi đang dùng thời gian vay mượn, rằng thời gian ấy luôn là vay mượn, và người cho vay đòi tiền lãi đúng ngay lúc chúng tôi chưa kịp chuẩn bị chi trả và cần phải vay thêm. Bỗng tôi bắt đầu phác lại những ký ức tinh thần về anh, nhặt những mẩu vụn bánh mì rơi vãi khỏi bàn rồi gom lại dành khi ẩn trốn, và xấu hổ thay, tôi cũng viết nên các danh sách: tảng đá, gò vẽ, cái giường, âm thanh của cái gạt tàn. Tảng đá, gò vẽ, chiếc giường... Tôi ước mình giống như những người lính trong phim, bị hết đạn, vứt súng đi cứ như họ sẽ chẳng bao giờ dùng tới súng nữa; hay giống như những kẻ đào tẩu trên hoang mạc, thay vì chia phần nước trong bầu lại đầu hàng cơn khát và nốc ừng ực cho kỳ hết, rồi vứt bầu nước lại trên đường đi. Thay vào đó, tôi cóp nhặt những thứ nhỏ nhoi để trong những ngày tháng thiếu thốn sắp tới, chút kỷ niệm từ quá khứ có thể mang lại hơi ấm. Tôi miễn cưỡng bắt đầu đánh cắp thực tại để trả những món nợ mà mình sẽ mắc phải trong tương lai. Tôi biết điều này cũng là một tội nặng như tội đóng hết cửa nẻo vào những buổi chiều nắng đẹp. Nhưng tôi cũng biết là theo lối mê tín của dì Mafalda, chờ đợi điều tồi tệ nhất là cách tốt nhất để ngăn ngừa nó xảy ra.
Một đêm nọ khi chúng tôi đang đi bộ, anh nói là anh sắp sửa trở về nhà, tôi nhận ra sự tiên đoán ngỡ là chắc chắn của mình lại vô ích đến thế nào. Những quả bom không bao giờ rơi xuống cùng một chỗ, quả này lại rơi nhằm trúng vào chốn trú ẩn của tôi, dù tôi đã có linh cảm trước.
Oliver sẽ về Mỹ vào tuần thứ hai tháng Tám. Qua đầu tháng vài ngày, anh nói là muốn ở Rome ba ngày, dành thời gian hoàn thiện bản thảo với nhà xuất bản Ý. Rồi anh sẽ bay thẳng về nhà. Tôi có muốn đi cùng anh không?
Tôi nói rằng có. Tôi nên hỏi cha mẹ trước chứ nhỉ? Không cần, họ chẳng bao giờ từ chối. Nhưng họ sẽ...? Họ sẽ không. Khi hay tin Oliver sẽ rời đi sớm hơn dự định, và sẽ ở Rome vài ngày, mẹ tôi hỏi anh cho tôi đi cùng được không – dĩ nhiên là nếu il cauboi cho phép. Cha tôi thì không phản đối.
Mẹ giúp tôi xếp đồ. Tôi có cần áo khoác không, lỡ như nhà xuất bản đưa chúng tôi dùng bữa tối? Sẽ chẳng có bữa tối nào cả. Ngoài ra, sao tôi lại được mời dự cơ chứ? Tôi vẫn nên mang theo cái áo khoác, bà nghĩ. Tôi muốn mang theo. Con đi có hai ba ngày thôi mà. Cả Oliver lẫn tôi đều không chắc chắn về những ngày cuối bên nhau.
Mẹ sẽ chẳng bao giờ biết “hai ba ngày gì đó” của bà đã khiến tôi đau đớn thế nào. Chúng tôi có biết là sẽ ở khách sạn nào không? Pensione hay gì đó. Chưa từng nghe qua, nhưng mẹ thì làm sao biết được chứ, mẹ nói. Cha tôi thì đời nào chịu được lối càm ràm đó của mẹ. Ông tự thân đặt phòng khách sạn. Ông bảo hãy xem đây là một món quà.
Oliver không chỉ xếp đồ vào cái túi vải ngang, hôm chúng tôi bắt chuyến xe diretissimo đi thẳng tới Rome, anh cố moi ra được cái va-li rồi đặt nó đúng cái chỗ trong phòng ngủ mà tôi đã làm rơi nó xuống hôm đầu tiên anh tới. Hôm đó tôi đã tua nhanh tâm trí mình tới ngày tôi có lại căn phòng. Giờ tôi tự hỏi mình sẵn lòng từ bỏ những gì để xoay ngược thời gian về cái buổi chiều hạ tuần tháng sáu, khi tôi theo thông lệ đưa anh đi thăm thú các nơi khu nhà mình, và làm thế nào sau một chuỗi việc này việc kia chúng tôi lại tới cái khu đất khô héo trống trải cạnh đường ray bỏ hoang, nơi tôi nhận cái liều Gặp sau! đầu tiên từ anh. Bất cứ ai tuổi tôi sẽ chọn đánh một giấc trưa chứ chả thèm cuốc bộ ra tận khu đất hậu hôm đó. Rõ ràng tôi đã biết là mình đang làm gì.
Là do căn phòng anh bày trí hài hoà, hay do sự gọn ghẽ trống hoác như vừa bị đánh cướp của nó mà họng tôi nghẹn đắng? Đối với tôi nó không giống mấy với căn phòng khách sạn khi ta chờ anh bồi giúp mang đồ đạc xuống lầu sau một ngày rực rỡ kết thúc sớm hơn mong đợi, mà giống với căn phòng ở bệnh viện, sau khi mọi thứ tư trang đã bị gói ghém lại hết, trong khi bệnh nhân kế tiếp chưa được nhận vào vẫn còn đang chờ trong phòng cấp cứu như ta đã chờ đợi một tuần trước đó.
Đây là bài kiểm tra cho cuộc chia ly của chúng tôi. Giống như ai đó đang phải dùng máy thở, rồi vài ngày sau rốt cuộc nó bị tắt đi.
Tôi vui vì căn phòng sẽ trở về với tôi. Trong căn phòng của tôicủa anh, sẽ dễ hơn để mà nhớ nhung những đêm bên nhau.
Không, nên ở trong căn phòng hiện tại. Vậy thì ít ra tôi có thể vờ tin rằng anh vẫn còn đó trong phòng anh, và nếu anh không ở đó thì anh vẫn còn ở ngoài như hồi những đêm anh vắng nhà, còn tôi thì đếm từng phút, từng giờ, từng tiếng động trôi qua.
Lúc tôi mở tủ của anh, tôi để ý thấy anh để lại một chiếc quần tắm, một cặp đồ lót, vài quần dài vải bông thô, cùng một sơ-mi treo móc. Tôi nhận ra cái áo sơ-mi. Dợn-sóng. Và tôi nhận ra chiếc quần. Màu đỏ. Cái này để khi anh đi bơi lần cuối hồi sáng nay.
“Em phải kể với anh chuyện về cái quần tắm này,” tôi nói lúc đóng cửa tủ lại.
“Chuyện gì chứ?”
“Lên tàu em kể.”
Nhưng tôi vẫn kể ngay. “Chỉ cần anh hứa là để nó lại cho em khi đi.”
“Vậy thôi à?”
“À, hôm nay anh mặc nó lâu lâu vào – mà đừng có bơi.”
“Vừa bệnh vừa đồi bại.”
“Vừa bệnh vừa đồi bại, và rất rất buồn.”
“Anh chưa từng thấy em thế này.”
“Em cũng muốn có Dợn-sóng nữa, với đôi giày vải, kính râm, và anh.”
Trên tàu tôi kể với anh về cái ngày nhà tôi nghĩ là anh đã chết đuối, và tôi đã cương quyết thế nào khi bảo cha tập họp càng nhiều dân chài càng tốt để đi tìm anh, và rồi khi họ tìm ra anh, tôi những muốn đốt cái dàn thiêu trên bờ biển, trong khi tôi cầm lấy con dao bếp của dì Mafalda và rứt tim anh ra, bởi vì trái tim ấy cùng cái áo của anh là tất cả những gì tôi sẽ có được trong đời sau mọi chuyện. Một trái tim và một cái áo. Trái tim anh bọc trong cái áo ướt – như con cá của già Anchise vậy.