Gọi Em Bằng Tên Anh

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 3
Hội Chứng San Clemente

❊ ❊ ❊

Chúng tôi tới ga Stazione Termini lúc gần 7 giờ tối một hôm thứ tư. Không khí đặc sệt, oi bức, cứ như Rome vừa qua một cơn mưa bão chợt đến chợt đi, hãy còn lại nguyên bầu ẩm ướt. Một giờ sau hoàng hôn, những con đường lấp lánh qua vầng sáng đông đặc, trong khi những cửa hiệu sáng đèn dường như nhúng trong thứ sắc màu tự bùng cháy. Khí ẩm bám vào từng cái trán, từng gương mặt. Tôi muốn vuốt ve gương mặt anh. Tôi nôn nóng tới khách sạn, tắm rồi nằm phịch xuống giường, trong lòng luôn biết rằng trừ khi chúng tôi có máy điều hòa tốt, tôi có tắm cũng như không. Nhưng tôi cũng yêu cái tịch mịch nặng nề phủ lên thành đô, như một cánh tay mỏi mệt của người tình tựa lên vai ta.

Có lẽ chúng tôi sẽ có bao lơn. Tôi có thể dùng bao lơn. Ngồi trên lớp cẩm thạnh mát và ngắm mặt trời lặn ở thành Rome. Nước khoáng. Hoặc bia. Và đồ ăn vặt để nhai. Cha đã đặt phòng cho chúng tôi trong khách sạn thuộc loại sang trọng nhất Rome.

Oliver muốn bắt chiếc taxi đầu tiên tới. Tôi thì lại muốn đi xe buýt. Tôi thèm những chiếc xe buýt đông ken. Tôi muốn lên một xe buýt, vẹt đường đi giữa đám người đang vã mồ hôi, anh cũng lấn tới phía sau mình. Nhưng nhảy lên buýt rồi thì sau vài giây, chúng tôi quyết định xuống xe. Cảnh này quá sống sượng, chúng tôi đùa. Tôi lùi lại xuyên qua sức ép của những người đang về nhà, giận dữ không hiểu chúng tôi định làm gì. Tôi giẫm phải chân một phụ nữ. “E non chiede manco scusa, không thèm xin lỗi luôn chứ,” chị rít lên với những người xung quanh vừa chen lên xe buýt và không cho chúng tôi chen ra ngoài.

Rốt cuộc chúng tôi vẫy một chiếc taxi. Nghe tên khách sạn, thấy chúng tôi nói tiếng Anh, tay tài xế bắt đầu rẽ vài chỗ khó hiểu. “Inuitile prendere tante scorciatoie, không cần đi tắt nhiều vậy. Chúng tôi không vội!” Tôi nói bằng giọng Rome.

Mừng một điều là phần lớn hai phòng ngủ kề nhau của chúng tôi có cả bao lơn và cửa sổ, và khi chúng tôi mở cửa sổ tò vò, những mái vòm lấp lánh của vô số nhà thờ phản chiếu ánh mặt trời lặn giữa khung cảnh mênh mông, không giới hạn bên dưới chúng tôi. Ai đó đã gửi một bó hoa cùng một chạn đầy trái cây. Tấm thiệp là do nhà xuất bản ở Ý của Oliver gửi: “Hãy đến hiệu sách lúc khoảng tám rưỡi. Mang bản thảo theo. Có tiệc cho một trong các tác giả. Ti aspettiamo, chúng tôi đang mong chờ anh.”

Chúng tôi chưa định làm gì cả trừ đi ăn tối rồi lang thang phố phường sau đó. “Em có được mời không, nhỉ?” Tôi hỏi, cảm thấy có chút không thoải mái. “Giờ thì rồi đó,” anh đáp.

Chúng tôi ăn trái cây trong cái tô nằm cạnh tủ ti-vi, lột vỏ trái vả cho nhau.

Anh nói là sẽ đi tắm. Lúc nhìn thấy anh trần truồng tôi cũng lập tức cởi quần áo. “Chờ em chút xíu,” tôi nói khi thân thể chúng tôi chạm nhau, bởi tôi thích sự ẩm ướt phủ khắp người anh. “Ước gì anh không phải tắm.” Mùi của anh khiến tôi nhớ lại mùi của Marzia, nhớ lại dường như nàng luôn tỏa ra mùi mằn mặn của bờ biển vào những ngày vắng gió, trong khi lẽ ra những ngày ấy ta chỉ ngửi thấy mùi thô thốc của mặt cát nóng ran. Tôi thích vị mặn trên tay anh, trên vai anh, dọc những đốt xương sống của anh. Những chỗ ấy còn mới với tôi. “Nếu bây giờ mình nằm xuống thì khỏi tiệc sách tiệc vở gì hết,” anh nói.

Chúng tôi đang trong trạng thái ngây ngất mà dường như chẳng ai có thể tước đoạt được. Những lời này sẽ đưa tôi trở về căn phòng khách sạn, và buổi tối ẩm ướt một ngày giữa tháng Tám, trong khi hai chúng tôi trần như nhộng đứng tì tay vào bậu cửa sổ, trông ra ánh ráng chiều giữa cái nóng bức bất kham ở thành Rome, cả hai vẫn còn nghe mùi toa tàu ngột ngạt trên chuyến tàu về hướng nam giờ đây có lẽ đang tới gần Naples, trên đó chúng tôi đã ngủ, đầu tôi tựa vào đầu anh trước mắt bao nhiêu là hành khách. Nhoài ra hít lấy không khí buổi tối, tôi biết rằng cơ hội thế này có thể sẽ không bao giờ tới với chúng tôi lần nữa, vậy mà tôi vẫn còn chưa thể tin được. Hẳn anh cũng cùng ý nghĩ trong lúc chúng tôi ngắm nhìn quang cảnh lộng lẫy của thành phố, hút thuốc, ăn quả vả tươi, vai kề vai, ai cũng muốn làm gì đó để đánh dấu khoảnh khắc này. Rồi theo một ý muốn rất đỗi tự nhiên vào lúc đó, tôi cho tay mình xoa mông anh khi anh nói, “Em cứ thế này, thì chắc chắn không tiệc tùng gì hết.” Tôi bảo anh hãy cho tôi toại nguyện, cứ nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng nghiêng về trước một tí, cho tới khi tôi mê người đi: chúng tôi có thể bắt đầu nhưng sẽ không kết thúc. Rồi chúng tôi sẽ tắm, rồi đi ra ngoài như hai sợi dây điện tước vỏ xẹt điện vào nhau mỗi lần chạm. Nhìn những căn nhà cũ và muốn ôm lấy từng căn, gặp một trụ đèn ở góc đường rồi muốn xịt lên nó như loài chó vẫn làm, đi qua một phòng tranh và tìm cái lỗ trong bức tranh khỏa thân, phớt qua một gương mặt chẳng làm gì hơn ngoài mỉm cười hướng về chúng tôi và bắt đầu lột trần cả con người ấy, và mời cô ấy, hoặc anh ấy đi ăn tối, hoặc bất cứ gì. Cupid hiện diện khắp nơi ở Rome bởi chúng tôi đã ghìm một cánh của thần, nên thần buộc phải bay vòng vòng.

Chúng tôi chưa từng tắm cùng nhau. Thậm chí chưa từng ở trong cùng một phòng tắm với nhau. Thân thể anh, cuộc đời anh bỗng nhiên có vẻ thật mong manh, dễ vỡ. Anh bước ra, hôn môi tôi.

Tôi không muốn có bí mật, màn che, hay bất cứ gì ngăn cách chúng tôi. Tôi đâu biết rằng nếu mình tận hưởng sự chân thành khiến chúng tôi gắn bó với nhau mỗi lần chúng tôi thề rằng thân thể tôi là thân thể anh, đó cũng là vì tôi thích khơi ánh lửa trong cái ngọn đèn leo lét là nỗi ô nhục. Nó rọi sáng đúng vào nơi tôi muốn tối.

Nỗi ô nhục theo dấu tình thân mật. Có thể nào tình thân mật vẫn còn đó một khi sự không đứng đắn đã hết, và thân thể chúng tôi không còn trò mèo nào nữa?

Tôi không biết mình đã nêu câu hỏi ấy, chỉ vì tôi không chắc hôm nay mình có thể trả lời nó. Có phải tình thân mật của chúng tôi đã được mua bằng phương tiện thanh toán sai lầm?

Hay tình thân mật là sản phẩm được ao ước bất kể ta tìm ra nó ở đâu, ta đạt được nó bằng cách nào, ta trả cái gì để có nó – chợ đen, chợ xám, có thuế, không thuế, lén lút dưới gầm bàn, công khai trên quầy?

Tôi chỉ biết mình không còn gì để giấu anh. Tôi chưa từng cảm thấy tự do hay an toàn đến vậy trong đời.

Chúng tôi được ở riêng bên nhau trong ba ngày, chúng tôi không quen ai trong thành phố, tôi có thể là bất kỳ ai, nói bất cứ gì, làm bất cứ gì. Cảm giác như mình là một tù nhân chiến tranh đột nhiên được đạo quân xâm lăng phóng thích, bảo rằng hắn có thể bắt đầu về nhà, không cần điền đơn từ gì, không thẩm vấn, không câu hỏi nào, không xe buýt, không kiểm soát khi qua cổng, không cần xếp hàng chờ quần áo sạch – chỉ cần bắt đầu bước đi.

Chúng tôi tắm. Chúng tôi mặc quần áo của nhau. Chúng tôi mặc đồ lót của nhau. Là ý của tôi.

Có lẽ tất cả những điều này đã phục hồi sự ngốc nghếch, và tuổi trẻ ở trong anh.

Có lẽ anh đã sớm biết từ nhiều năm trước, và đang dừng lại chốc lát trên hành trình trở về nhà.

Có lẽ từ xưa giờ anh chỉ giả vờ thuận ý, để quan sát tôi.

Có lẽ anh chưa từng làm vậy với ai, và tôi xuất hiện vào phút chót.

Anh cầm lấy bản thảo, kính râm của anh, rồi chúng tôi đóng cửa phòng khách sạn. Cảm giác trong lòng rất phấn khích. Chúng tôi bước ra khỏi cửa thang máy. Cười tươi hết cỡ với mọi người. Với nhân viên khách sạn. Với người bán hoa ven đường. Với em gái ở quầy báo.

Ta cười, và cả thế gian cười đáp lại. “Oliver, em hạnh phúc,” tôi nói.

Anh kinh ngạc nhìn tôi. “Em hứng tình thì có.”

“Hạnh phúc chứ không phải hứng tình.”

Dọc theo con đường, chúng tôi thấy một tượng người Dante phủ màu đỏ, mũi khoằm quá mức, nét mặt lộ vẻ rất đỗi khinh miệt. Chiếc áo choàng toga, cái mũ đỏ cùng cặp kính gọng dày bằng gỗ khiến cho gương mặt ông ta vốn đã khinh khỉnh lại càng thêm khắc nghiệt, như mặt một cha đạo bất dung. Đám đông tụ lại quanh nhân vật vĩ đại ấy vốn đang đứng bất động trên vỉa hè, khoanh tay thách thức, cả thân người thẳng đuột, cứ như kẻ ấy đang đứng chờ thi hào Virgil, hoặc chờ một chiếc xe buýt đến trễ. Ngay khi một du khách ném đồng xu vào cuốn sách cổ, rỗng ruột, ông ta bắt chước thần thái mơ hồ của Dante, người vừa bắt gặp Beatrice của chàng thả bước ngang qua Ponte Vecchio, và vươn cái cổ như rắn hổ mang, ngay lập tức rên lên như một anh xiếc đường phố khạc lửa,

Guido, vorrei che tu e Lapo ed io

fossimo presi per incantamento,

e messi ad un vascel, ch’ad ogni vento

per mare andasse a voler vostro e mio.

Guido hỡi, ta những ước Lapo, chàng và ta

Đắm trong cơn say, ngay phút giây này

Lên con thuyền mộng ra nơi khơi xa

Cưỡi cơn gió lớn, trí ta vụt bay

Thật là đúng quá, tôi nghĩ. Oliver à, em ước sao anh và em cùng những ai ta yêu quý có thể sống mãi cùng nhau dưới một mái nhà...

Sau khi đọc đoạn thơ ấy bằng giọng thì thầm, anh ta dần dần trở lại với cái nhìn chăm chăm, thù ghét nhân loại cho tới khi một du khách khác ném cho đồng xu nữa.

Ed io, quando ‘l suo braccio a me distese,

ficcai li occhi per lo cotto aspetto,

sì che ‘l viso abbrusciato non difese

la conoscenza sua al mio ‘ntelletto;

e chinando la mano a la sua faccia,

rispuosi: “Siete voi qui, ser Brunetto?”

Khi chàng vươn sải tay chạm vào ta

Ta dán mắt nơi mặt chàng nóng bỏng

Làm sao ngăn nổi hồn ta thấu hiểu chàng

Ghé sát chàng, ta nói: “chàng có ở đây chăng, hỡi Brunetto?”

Vẫn ánh mắt khinh miệt. Vẫn hé miệng. Đám đông vãng đi. Hình như không có ai nhận ra đoạn ấy trong khổ thơ thứ mười lăm phần Hỏa ngục, khi Dante gặp người thầy trước đây của chàng, Brunetto Latini. Hai người Mỹ sau khi lục lọi trong ba-lô ném cho Dante một loạt đồng xu nhỏ tí. Vẫn nguyên cái nhìn trừng trộ, cáu tiết:

Ma che ciarifrega, che ciarimporta,

se l’oste ar vino cia messo l’acqua:

e noi je dimo, e noi je famo,

“ciai messo l’acqua e nun te pagamo.”

Ta không biết, ta không cần biết

Chủ quán trọ thêm nước vào rượu

Ta chỉ bảo:

“Ngươi thêm nước thì ta không trả tiền.”

Oliver không hiểu vì sao mọi người phá lên cười hai du khách kém may. Bởi anh ta vừa ngâm một bài hát khi rượu chè thời La Mã, trừ khi ta biết thì nó không có gì buồn cười.

Tôi nói là tôi sẽ chỉ anh một lối tắt tới hiệu sách. Anh không ngại đi lối xa. Hay là mình cứ đi lối thường đi, có gì mà vội? Anh hỏi. Lối của tôi tốt hơn. Oliver dường như đang bực, không chịu như vậy. “Có gì em cần biết không?” Rốt cuộc tôi hỏi. Tôi nghĩ đó là cách khéo léo để cho anh cơ hội nói ra bất cứ điều gì đang phiền anh. Anh đang khó chịu điều gì sao? Có phải liên quan tới nhà xuất bản? Ai khác? Hay có lẽ là sự hiện diện của tôi? Em tự lo cho mình được, nếu anh muốn ở một mình hơn. Đột nhiên tôi nghĩ ra điều đang phiền anh. Tôi là con trai của ngài giáo sư đang bám đuôi.

“Không phải vậy đâu, chàng khờ.”

“Vậy thì là gì?”

Trong lúc đang đi, anh quàng tay ngang hông tôi.

“Anh không muốn có gì thay đổi hay ngăn trở bọn mình đêm nay. ”

“Ai mới là chàng khờ?” Anh nhìn tôi thật lâu.

Chúng tôi quyết định đi theo lối của tôi, băng từ quảng trường Montecitorio tới Corso. Rồi ngược lên qua Belsiana. “Đây là nơi chuyện bắt đầu,” tôi nói.

“Chuyện gì?”

“Chuyện đó.”

“Cho nên em muốn tới đây à?”

“Với anh.”

Tôi đã kể với anh. Một chàng trai đi xe đạp ba năm về trước, rất có thể là người giao hàng tạp hóa hoặc chân sai vặt, mặc tạp dề chạy xuống con đường hẹp, nhìn chằm chằm vào mặt tôi trong khi tôi nhìn lại, không cười, chỉ là mặt mày nhăn nhó, cho tới khi anh ta đi qua tôi. Rồi tôi làm điều mà tôi luôn mong người khác sẽ làm trong những tình huống như vậy. Tôi chờ vài giây, rồi quay nhìn. Anh ta cũng ngoái lại. Theo nền nếp gia đình, tôi không nói chuyện với người lạ mặt. Anh ta thì nói. Anh ta quay ngoắt xe lại, rấn lên cho tới khi bắt kịp tôi. Vài câu chữ bâng quơ để xã giao. Không hề khó với anh ta. Hỏi, hỏi, hỏi – chỉ để cho có chuyện mà nói – trong khi tôi thậm chí chẳng à hay ừ gì nổi. Anh ta bắt tay tôi, nhưng rõ ràng là lấy đó làm cớ để nắm hoài. Rồi quàng tay áp tôi vào anh ta, như thể chúng tôi đang kể một trò đùa khiến cả hai cười, gần lại với nhau. Liệu tôi có muốn hẹn hò với anh ta trong rạp phim gần đó? Tôi lắc đầu. Tôi có muốn theo anh lại cửa hiệu – giờ này buổi tối ông chủ chắc đi rồi. Lại lắc đầu. Cậu ngượng à? Tôi gật đầu. Hỏi han bấy nhiêu trong khi vẫn nắm tay tôi, siết tay tôi, siết vai tôi, xoa gáy tôi trong khi cười cười, ra vẻ người lớn, khoan dung, kiểu như anh ta đã bỏ cuộc nhưng chưa muốn bỏ đi vội. Sao lại không? Anh ta cứ hỏi. Có lẽ tôi – tôi chưa từng.

“Tôi đã từ chối nhiều người. Chưa từng theo đuổi ai hết.”

“Anh theo đuổi tôi.”

“Cậu cho tôi theo đó chứ.”

Qua Frattina, qua Borgognova, qua Condotti, qua delle Carrozze, della Croce, qua Vittoria. Đột nhiên tôi yêu tất cả những con đường ấy. Khi gần tới hiệu sách, Oliver nói tôi cứ đi tiếp, anh chỉ gọi điện thoại một lát thôi. Anh gọi điện thoại ở khách sạn được mà. Hay có lẽ anh cần riêng tư. Nên tôi cứ bước, dừng lại ở một tiệm nọ để mua thuốc lá. Lúc tới hiệu sách có cửa kính to cùng hai bức tượng La Mã nửa người nằm trên hình như là thân cây cổ xưa, đột nhiên tôi đâm hồi hộp. Trong ấy đông ken, qua lớp cửa kính viền đồng, có thể thấy một đám người lớn đang ăn món có vẻ là bánh ga-tô nhỏ. Ai đó bắt gặp tôi đang nhìn vào cửa hiệu, bèn ra dấu cho tôi vào. Tôi lắc đầu, giơ ngón trỏ lên tỏ ý là đang chờ một người sắp tới phố này. Nhưng người chủ hiệu hoặc giúp việc của ông ta, giống như chủ nhiệm một câu lạc bộ, đứng bên trong hiệu, vươn tay hết cỡ mở rộng cánh cửa kính rồi giữ nguyên, gần như ra lệnh cho tôi tiến vào. “Venga, su, venga, mau mau vào đi!” Ông nói, cặp ống tay áo vén lên đến tận vai, ngang tàng. Buổi đọc sách hãy chưa bắt đầu, nhưng cửa hiệu đã đông nghịt, mọi người đang hút thuốc, tán gẫu náo nhiệt, lật giở những cuốn sách mới, mỗi người cầm một cốc nhựa nhỏ dường như đựng rượu scotch. Ngay cả phòng trưng bày ở tầng trên, cùng thành cầu thang cũng kín các khuỷu tay và cánh tay phụ nữ tựa vào, đông nghẹt. Tôi nhận ra tác giả cuốn sách ngay. Ông chính là người đã ký vào hai quyển thơ cho Marzia và tôi, Se l’amore. Ông đang bắt tay vài người.

Khi ông đi lại gần, tôi không kìm được nên chìa tay ra bắt tay ông, nói với ông là tôi thích đọc thơ của ông. Làm sao mà tôi đọc được thơ của tôi khi sách còn chưa kịp ra?

Ai đó nghe được câu hỏi của ông – có phải họ sắp tống cổ tôi ra khỏi hiệu như một kẻ giả mạo?

“Tôi mua nó ở nhà sách ở B. vài tuần trước, ông đã tử tế ký tặng cho tôi nữa.”

Ông nhớ ra đêm ấy. “Un vero fan, người ái mộ thật sự đây rồi,” ông nói to để những người khác trong tầm cũng nghe thấy. Thực ra mọi người đều quay sang nhìn. “Có lẽ không phải người ái mộ – ở tuổi cậu nhóc này thì nhiều khả năng là thành phần muốn nổi tiếng ké thôi,” một phụ nữ lớn tuổi có bướu cổ, mặc đồ màu chóe khiến bà ta trông như một con chim tu-can.

“Anh thích bài thơ nào nhất?”

“Alfredo à, anh cư xử cứ như thầy giáo hỏi thi vấn đáp vậy,” một phụ nữ chừng ba mươi ngoài chế giễu.

“Tôi chỉ muốn biết anh chàng này thích bài thơ nào nhất. Hỏi han tí có hại gì đâu nhỉ?” Ông phiền trách, giọng giả vờ như đang giận sôi lên.

Trong thoáng chốc, tôi tin là người phụ nữ góp lời ủng hộ đã giải thoát cho tôi. Tôi lầm.

“Nói tôi xem nào,” thi sĩ lại hỏi, “bài nào.”

“Bài so sánh cuộc đời với San Clemente.”

“Bài so sánh tình yêu với San Clemente,” ông chỉnh lại, dường như đang suy tưởng sâu sắc về hai câu vừa rồi. “Hội chứng San Clemente.” Thi sĩ nhìn tôi chằm chằm. “Tại sao thế?”

“Trời ơi, tha cho cậu nhóc tội nghiệp đi chứ. Lại đây nào,” một phụ nữ khác cắt ngang, chị đã nghe thấy người ủng hộ tôi lên tiếng. Chị nắm lấy tay tôi. “Tôi dẫn cậu lại chỗ đồ ăn, để cậu thoát khỏi tên quái nhân với cái tôi to bằng chân hắn – cậu thấy giày hắn to cỡ nào chưa? Alfredo, ông rất nên làm gì đó với đôi giày của ông đi,” chị nói vống lên giữa hiệu sách đông ken.

“Giày tôi à? Giày tôi làm sao chứ?” Thi sĩ hỏi.

“Chúng. To. Quá. Cỡ. Chẳng phải giày hắn to kềnh sao?” Chị hỏi tôi. “Thi sĩ chẳng thể nào để bàn chân to như thế. ”

“Mặc kệ bàn chân tôi.”

Ai đó nhìn thi sĩ thương cảm. “Đừng trêu bàn chân anh ấy, Lucia. Nó có bị làm sao đâu.”

“Bàn chân của người nghèo rớt mồng tơi. Đi chân trần cả đời, vậy mà vẫn mua giày to hơn một số, phòng khi bàn chân hắn lớn thêm trước kỳ Giáng sinh năm tới, lúc gia đình nghỉ lễ cùng nhau!” Người phụ nữ đanh đá bị ruồng rẫy thốt lên.

Nhưng tôi không buông tay chị ra. Chị cũng không. Tình bạn trong thành phố. Thật dễ chịu khi nắm tay một phụ nữ, nhất là khi ta không biết gì về chị. Se l’amore, tôi nghĩ. Và tất thảy những cánh tay và khuỷu tay rám nắng thuộc về mọi phụ nữ nhìn xuống từ phòng trưng bày. Se l’amore.

Người chủ hiệu sách cắt ngang pha tranh cãi dễ trở thành xích mích giữa chồng và vợ. “Se l’amore,” ông gào lên. Mọi người bật cười. Không rõ cái cười ấy là tín hiệu nhẹ nhõm vì dẹp yên được màn cãi vặt giữa vợ chồng thi sĩ, hay bởi cách dùng mấy chữ Se l’amore, nếu đây là tình yêu, thì...

Nhưng người ta hiểu rằng đây cũng là tín hiệu buổi đọc sách bắt đầu, thế là mỗi người tìm một góc thoải mái hoặc mảng tường để dựa vào. Góc của chúng tôi là tốt nhất, ngay trên cầu thang xoắn ốc, mỗi người ngồi trên một bậc cầu thang. Vẫn nắm tay. Người của nhà xuất bản sắp giới thiệu thi sĩ thì cửa kẹt mở. Oliver cố gắng chen vào, theo cùng là hai cô nàng cực xinh có vẻ là người mẫu hay diễn viên thích chưng diện. Dường như anh đã chộp được họ dọc đường tới hiệu sách, một nàng cho anh, một nàng cho tôi. Se l’amore.

“Oliver! Anh đây rồi!” Ông nhà xuất bản kêu lên, giơ cao ly rượu. “Chào mừng, chào mừng anh tới.” Mọi người quay sang nhìn.

“Một trong những triết gia trẻ nhất, tài ba nhất nước Mỹ,” ông nói, “tháp tùng là hai cô con gái của tôi, không có họ thì Se l’amore sẽ không bao giờ được chào đời.”

Thi sĩ gật gù. Vợ ông quay sang tôi, thì thầm, “Hai cô em hấp dẫn quá nhỉ?” Ông xuất bản xuống khỏi cái thang gấp nho nhỏ, ôm lấy Oliver. Ông nắm vào cái bìa to mà Oliver đựng các trang giấy. “Bản thảo? ”

“Bản thảo,” Oliver đáp. Ông lấy cái bìa, đưa lại cho Oliver cuốn sách ra mắt tối nay. “Ông đưa tôi một cuốn rồi. ”

“Đúng nhỉ.” Nhưng Oliver lịch sự, nhìn bìa sách với vẻ trầm trồ, rồi nhìn quanh, sau cùng nhận ra tôi ngồi cạnh Lucia. Anh bước lại chỗ tôi, khoác vai tôi, rồi nhoài qua hôn chị. Chị nhìn tôi lần nữa, nhìn Oliver, đánh giá tình hình: “Oliver, sei un dissoluto, anh đúng là đồi bại.”

“Se l’amore,” anh đáp, trưng cuốn sách ra như để nói rằng bất cứ gì anh làm trong đời đều được nêu trong sách của chồng chị, và do đó khá là trong khuôn khổ.

“Se l’amore ma bắt anh đi.”

Tôi chẳng biết anh bị gọi là đồi bại bởi hai cô nàng hấp dẫn mà anh vào cùng, hay vì tôi. Hay cả hai.

Oliver giới thiệu tôi với hai nàng. Hẳn nhiên anh biết rõ các nàng, và cả hai đều thích anh. “Sei l’amico di Oliver, vero? Anh là bạn của Oliver nhỉ?” Một nàng hỏi. “Anh ấy có kể về anh.”

“Kể gì cơ?”

“Kể điều tốt.”

Nàng dựa vào tường cạnh chỗ tôi đứng với vợ của thi sĩ. “Anh chàng này sẽ không đời nào bỏ tay tôi ra đâu nhỉ?” Lucia nói như đang nói với một người nào khác vắng mặt. Có lẽ chị muốn hai nàng kia để ý.

Tôi không muốn buông tay chị ngay nhưng biết rằng mình phải thế. Nên tôi cầm lấy bằng cả hai bàn tay, nâng lên môi, hôn vào rìa gần lòng bàn tay, rồi buông ra. Tôi có cảm giác như mình đã có chị cả một buổi chiều, giờ đây thả chị về với chồng như người ta thả một con chim bị thương ở cánh mãi không lành.

“Se l’amore,” chị nói, lắc đầu luôn như bày tỏ ý quở trách. “Chẳng kém đồi bại hơn tên kia, có điều ngọt ngào hơn. Chị để lại cho hai em.”

Một trong hai nàng khúc khích khá gượng. “Để bọn em xem làm được gì.”

Tôi sướng như lên thiên đàng.

Nàng biết tên tôi. Tên nàng là Amanda. Em của nàng là Adele. “Còn một em gái thứ ba nữa,” Amanda nói, như để giảm bớt số lượng. “Bây giờ chắc em ấy phải đâu đây rồi.”

Thi sĩ hắng giọng. Theo thông lệ, phần trước tiên, tôi xin có lời cảm ơn quý vị. Phần sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi cảm ơn ánh sáng trong mắt nàng, Lucia. Tại sao nàng chịu đựng thi sĩ? Tại sao lại như thế? Người vợ rít lên, gửi nụ cười yêu thương cho thi sĩ.

“Bởi vì đôi giày của hắn,” ông nói.

“Nữa rồi.”

“Tiếp đi, Alfredo,” bà tu-can có bướu nói.

“Se l’amore. Se l’amore là tập thơ được sáng tác dựa theo một học kỳ giảng dạy về thơ Dante ở Thái Lan. Như các bạn đã biết, tôi yêu Thái Lan trước khi tới, và ghét nó sau khi tới. Tôi nói lại nhé: Tôi ghét nó khi tôi ở đó, và vừa rời khỏi nó thì tôi yêu nó ngay.” Tiếng cười.

Thức uống đang được chuyền ra.

“Ở Bangkok tôi cứ nghĩ về Rome – còn gì nữa? Nghĩ về cửa hiệu nho nhỏ bên đường này, về những con phố quanh đây ngay trước lúc mặt trời lặn, về tiếng chuông nhà thờ vào chủ nhật lễ phục sinh, và vào những ngày mưa gió bất tận ở Bangkok, tôi gần như khóc nấc. Lucia, Lucia, Lucia, sao em chưa từng nói lời ngăn cản trong khi em biết anh nhớ em nhiều thế nào những ngày anh thấy mình còn trống rỗng hơn cả Ovid khi người ta đày chàng ra cái tiền đồn heo hút để chết? Khi ra đi tôi là một tên khờ, lúc trở lại tôi cũng chẳng khôn ngoan hơn. Con người Thái Lan thật đẹp – thế nên nỗi cô đơn là cực hình khi bạn rủng rỉnh để uống rượu rồi gần như chạm vào kẻ lạ mặt đầu tiên tới với bạn – nơi ấy, tất cả họ đều đẹp đẽ, nhưng bạn uống một ly thì được thấy họ cười một lần.” Ông dừng lại, như đang gom ý nghĩ. “Tôi gọi những bài thơ này là ‘Tristia.’”

“Tristia” chiếm gần trọn hai mươi phút. Rồi đến tràng vỗ tay. Một trong hai nàng dùng tới một chữ là forte. Molto forte, rất đỗi hùng hồn. Bà tu-can có bướu quay sang một phụ nữ khác cứ gật đầu liên hồi gần như sau mỗi một vần thơ mà thi sĩ đọc lên, giờ đây đang lặp đi lặp lại straordinario-fantastico, kỳ diệu đến xuất thần. Thi sĩ bước xuống, cầm ly nước, nín thở giây lát – để cho dứt cơn nấc cụt. Tôi đã nhầm cơn nấc cụt này là tiếng khóc kìm nén. Thi sĩ, sau khi lục tìm hết trong các túi áo khoác thể thao mà không có gì, kẹp ngón trỏ và ngón giữa rồi huơ huơ trước miệng, ra dấu với ông chủ hiệu sách là ông muốn hút thuốc và có lẽ là chuyện trò chốc lát. Cô straordinario-fantastico bắt gặp cái ra dấu kia, lập tức chìa ra một bao thuốc lá. “Stasera non dormo, đêm nay em không ngủ được, hậu quả của thi ca,” cô nói, trách tài làm thơ của ông khiến cho cô mất ngủ vì thổn thức đêm nay.

Bấy giờ ai ai đều vã mồ hôi, không khí bên trong và bên ngoài hiệu sách trở nên nóng ẩm không chịu được. “Vì tình yêu của Chúa, mở cửa ra,” thi sĩ kêu lên với chủ hiệu sách. “Chúng ta đang ngộp cả thở trong này.” Ông Venga gỡ một miếng nêm gỗ bé xíu ra, mở cửa, rồi chốt nó lại giữa bức tường và khung đồng.

“Đỡ chưa?” ông hỏi một cách kính cẩn.

“Không. Nhưng ít nhất ta biết là cửa đang mở.”

Oliver nhìn tôi tỏ ý, Em có thích không? Tôi nhún vai, như bảo rằng sẽ bình luận sau. Nhưng tôi đang không thật; tôi thích nhiều lắm.

Có lẽ tôi thích phần buổi tối hơn. Mọi thứ suốt buổi tối đều làm tôi phấn khích. Mỗi cái liếc nhìn đáp lại cái liếc nhìn của tôi như là lời tán dương, hoặc giống như lời mời hoặc lời hứa cứ lơ lửng trong không trung giữa tôi và thế giới xung quanh. Tôi bị kích thích bởi bầu không khí sôi nổi trong cửa hiệu khiến cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ: từ cửa kính, món bánh ga-tô nhỏ, những ly nhựa màu hoàng thổ đầy rượu scotch, ống tay áo xắn lên của ông Venga, cả ngài thi sĩ, xuống theo cầu thang xoắn ốc nơi chúng tôi tụ lại bên cặp chị em nóng bỏng – tất cả dường như tỏa ra ánh huy hoàng làm mê hoặc, phấn chấn lòng người.

Tôi ghen tị với những cuộc đời ấy, và nghĩ về cuộc đời quá đỗi khổ hạnh của cha mẹ tôi, với những bữa ăn trưa gây mụ mị, những bữa tối nhàn đàm, căn nhà bé như lỗ mũi, và năm học sắp tới của tôi. Mọi thứ ở nhà chỉ là trò trẻ con so với cuộc sống ở nơi này. Vì sao năm sau lại đi Mỹ trong khi tôi có thể dễ dàng sống xa nhà bốn năm để được dự những buổi đọc sách thế này, ngồi lại và nói chuyện như người ta đang làm ngay lúc này? Có nhiều thứ để học trong hiệu sách đông nghịt này hơn bất cứ định chế hùng mạnh nào quanh Đại Tây Dương.

Một ông lớn tuổi với hàm râu quai nón xồm xoàm không đều cùng cái bụng phệ của nhân vật Falstaff mang đến cho tôi một ly rượu.

“Ecco.”

“Cho tôi à?”

“Tất nhiên là cho cậu. Cậu có thích các bài thơ không?”

“Thích lắm ạ,” tôi nói, cố ra vẻ châm biếm và giả dối, chẳng hiểu sao.

“Tôi là bố đỡ đầu thi sĩ, tôi tôn trọng ý kiến của cậu,” ông nói như đã nhìn thấu được trò lừa đầu tiên của tôi nhưng không truy cứu. “Nhưng tôi tôn trọng tuổi trẻ của cậu hơn.”

“Tôi chắc là một vài năm nữa sẽ chẳng còn mấy tuổi trẻ,” tôi nói, cố ra vẻ chua chát và cam chịu như những người đã trải đời và hiểu mình.

“Phải, nhưng khi ấy tôi đâu còn để mà thấy nữa.” Có phải lão này đang muốn ngủ với tôi?

“Nên cứ nhận lấy,” lão nói, trao cho tôi cái cốc nhựa. Tôi ngần ngừ rồi mới nhận. Trong đó là cùng loại rượu mà cha tôi uống ở nhà.

Lucia bắt gặp màn đối đáp này, bảo: “Uống đi, thêm một cốc whisky nữa cũng chả giúp cậu bớt đồi bại đi đâu.”

“Tôi ước gì mình đồi bại,” tôi nói, quay sang chị và phớt lờ lão Falstaff.

“Sao chứ, đời cậu còn thiếu gì chăng?”

“Đời tôi thiếu gì à?” Tôi định nói là mọi thứ, nhưng tự sửa lại. “Bạn bè – kiểu bạn bè mà người ta mau chóng làm quen ở nơi này – tôi ước ao mình có bạn như chị, như bạn của chị.”

“Sẽ có khối thì giờ cho mớ bè bạn này. Họ sẽ cứu cậu khỏi sự đồi bại à?” Hai chữ ấy cứ trở lại như tố cáo một khiếm khuyết sâu xa và xấu xí trong tính cách của tôi.

“Tôi ước chi mình có một người bạn mà tôi không phải mất.”

Chị nhìn tôi, nở một nụ cười trầm ngâm.

“Cậu đang nói tới một chủ đề sâu sắc viết đầy vô khối sách, bạn à, mà đêm nay ta chỉ bàn tới những bài thơ ngắn thôi.”

Chị vẫn nhìn tôi. “Tôi cảm nhận được cậu.” Chị đưa bàn tay lên vuốt nhẹ mặt tôi vừa âu yếm vừa âu sầu, như tôi đã đột nhiên biến thành đứa con của chị.

Tôi cũng thích điều ấy.

“Cậu còn quá trẻ, không biết tôi đang nói gì đâu. Nhưng sớm thôi, một ngày nào đó tôi hi vọng ta sẽ lại chuyện trò, rồi ta sẽ xem tôi có đủ lớn để rút lại lời tôi nói đêm nay. Scherzavo, tôi đùa thôi.” Một cái hôn lên má tôi.

Thật là một thế giới diệu kỳ. Chị gần gấp đôi tuổi tôi, nhưng tôi có thể làm tình với chị ngay phút này, và rơi lệ cùng chị.

“Chúng ta nâng ly đi nhỉ?” Ai đó hét lên từ một góc khác.

Rồi đến một tràng thanh âm chỏi nhau.

Rồi nó đến – một bàn tay trên vai tôi. Là tay Amanda. Một tay nữa bên hông tôi. Ôi, tôi biết bàn tay kia quá rõ. Cầu mong nó đừng bao giờ rời xa tôi đêm nay. Tôi tôn thờ từng ngón trên bàn tay ấy, từng cái móng tay trên từng ngón tay mà anh cắn vào, Oliver thân thương của em – đừng buông em ra vội, em cần bàn tay anh ở đó. Cơn rùng mình chạy xuống dọc sống lưng tôi.

“Còn tôi là Ada,” ai đó nói mà như xin lỗi, dường như nàng hiểu mình đã dền dứ mãi mới tới góc hiệu sách chỗ chúng tôi, giờ đang để chúng tôi định đoạt bằng cách tỏ cho mọi người quanh đây biết nàng chính là Ada mà mọi người hẳn đã kháo nhau. Giọng nàng có gì đó khàn khàn, ngông nghênh, hay đó là do nàng thong thả nói ra cái tên Ada, hoặc cách nàng dường như xem nhẹ mọi thứ – tiệc sách, lời giới thiệu, ngay cả tình bạn – bỗng nhiên tôi dám chắc là đêm nay mình đã thực sự bước vào một thế giới đầy mê hoặc.

Tôi chưa từng du hành trong thế giới này. Nhưng tôi yêu nó. Và tôi sẽ càng yêu nó hơn một khi tôi học được cách nói ngôn ngữ của nó – bởi đó là ngôn ngữ của tôi, thể thức xưng hô nơi những khao khát sâu kín nhất của ta được lén đưa vào trong lời bông đùa, không phải bởi an toàn hơn thêm nụ cười vào sau câu nói mà ta e là sẽ gây sốc, nhưng bởi cái uyển chuyển của lòng ham muốn chỉ có thể được diễn đạt bằng kịch.

Mọi người đều sẵn sàng, sống một cách sẵn sàng giống như thành phố này, và giả sử mọi người khác cũng đều muốn như vậy. Tôi ước ao được giống như họ.

Ông chủ hiệu sách reng cái chuông nhỏ cạnh quầy thu tiền, thế là mọi người im lặng.

Thi sĩ cất tiếng. “Tôi không định đọc bài thơ này đêm nay, nhưng bởi có người” – đây, ông đổi giọng – “có người nhắc đến nó, nên tôi không kìm được. Bài thơ có tựa “Hội chứng San Clemente.” Nếu một người làm thơ được phép nói về tác phẩm của mình thì tôi phải thừa nhận mình thích nhất bài này.” (Sau này tôi phát hiện ra là ông ta chưa từng tự xưng là nhà thơ, hay chưa từng gọi tác phẩm của ông là thơ.) “Bởi vì đó là bài thơ khó viết nhất, bởi nó làm tôi nhớ nhà khủng khiếp, bởi vì nó đã cứu tôi ở Thái Lan, bởi nó cắt nghĩa tất cả đời tôi. Tôi đếm ngày, đếm đêm với ý nghĩ về San Clemente trong tâm trí. Ý tưởng quay trở về Rome lúc bài thơ chưa xong khiến tôi sợ còn hơn chuyện bị kẹt lại ở sân bay Bangkok thêm một tuần nữa. Vậy mà khi ở Rome, nơi chúng ta sống chưa tới hai trăm mét cách thánh đường San Clemente, nơi tôi trau chuốt lại bài thơ lần cuối, mỉa may thay, tôi đã bắt đầu nó tự bao nhiêu niên kỷ trước ở Bangkok bởi cảm giác như giữa tôi và Rome cách nhau biết bao dải ngân hà.

Trong khi ông đọc bài thơ, tôi bắt đầu nghĩ là mình không giống như ông, tôi luôn tìm ra cách để tránh đếm ngày trôi. Ba ngày nữa chúng tôi rời đi – và rồi bất cứ gì tôi đã có với Oliver sẽ phải biến mất. Chúng tôi có bàn chuyện gặp nhau ở Mỹ, bàn chuyện viết lách, và điện thoại – nhưng tất cả như có gì đó siêu thực, và chúng tôi cố ý làm cho chúng mờ mờ ảo ảo – không phải bởi chúng tôi muốn bị bất ngờ trước các sự kiện để chúng tôi có thể đổ lỗi cho hoàn cảnh chứ không phải bản thân, mà bởi vì bằng cách không lên kế hoạch trước để giữ cho tình cảm ấy sống, chúng tôi tránh cái viễn cảnh nó có thể chết đi. Chúng tôi đã đến Rome cũng với tinh thần né tránh như thế: Rome là cuộc tiệc tùng cuối trước tựu trường, và du hành choán hết tâm trí, chỉ là một cách trì hoãn mọi thứ, và kéo dài buổi tiệc lâu thêm sau giờ nghỉ. Có lẽ vô hình trung, chúng tôi đã nhận nhiều hơn một kỳ nghỉ chóng vánh; chúng tôi đang trốn đi cùng nhau với vé khứ hồi tới những điểm đến riêng biệt.

Có lẽ nó là món quà anh dành cho tôi.

Có lẽ nó là món quà của cha dành cho hai chúng tôi.

Liệu tôi có sống được khi không có bàn tay anh trên bụng, quanh hông mình? Không hôn, không liếm lên vết thương trên hông anh tốn nhiều tuần liền để lành lại, nhưng giờ đây đã xa? Rồi tôi sẽ gọi ai khác bằng tên mình đây?

Tất nhiên sẽ có những người khác, và những người khác sau những người khác, nhưng gọi họ bằng tên tôi lúc cao trào cảm xúc sẽ chỉ mang lại cái phấn khích phái sinh, cái giả vờ.

Tôi nhớ cái tủ trống không cùng va-li đã gói đồ cạnh giường anh. Rồi chóng thôi, tôi sẽ ngủ trong phòng Oliver. Tôi sẽ ngủ với áo của anh, nằm cạnh nó, mặc nó lúc ngủ.

Sau buổi đọc, thêm tiếng vỗ tay, thêm phần vui vẻ, thêm rượu chè. Chẳng mấy chốc đã tới giờ đóng cửa hiệu. Tôi nhớ Marzia lúc hiệu sách ở B. sắp đóng cửa. Thật là xa xôi, thật là khác biệt. Nàng đã trở nên hoàn toàn phi thực.

Ai đó nói tất cả chúng tôi nên đi dùng bữa tối cùng nhau. Có khoảng ba mươi người. Ai đó đề nghị một nhà hàng ở hồ Albano. Một nhà hàng trông lên bầu trời đêm đầy sao bật ra trong trí tôi, giống như một bản viết tay thời trung cổ được soi sáng. Ai đó nói không, xa quá. Xa, nhưng ánh đèn đêm trên hồ thì thật... Ánh đèn đêm trên hồ sẽ phải chờ lần tới. Sao không đi đâu trên khu Cassia? Được, nhưng như vậy không giải quyết được vấn đề số xe: không có đủ xe. Chắc chắn là đủ. Nếu phải ngồi chồng lên nhau một chút thì đã sao? Tất nhiên là không phiền. Nhất là khi tôi được ngồi giữa hai cô gái xinh đẹp này. Nhưng lỡ như lão Falstaff được ngồi trên người hai nàng thì sao?

Chỉ có năm chiếc xe, mỗi chiếc đậu ở các hẻm ngách tí hon không xa cửa hiệu. Bởi không thể xuất phát cùng nhau, chúng tôi sẽ phải gặp ai đó gần Ponte Milvio. Từ đó đi lên qua Cassia tới nhà hàng Ý có khăn trải bàn ca-rô và nến chống muỗi trải ra vuông vắn giữa các thực khách. Nhưng bây giờ hẳn đã mười một giờ. Không khí vẫn còn rất ẩm. Cái ẩm thấp hiện ra trên gương mặt, quần áo chúng tôi, chúng tôi có vẻ ủ rũ, ướt át. Ngay cả các tấm trải bàn cũng có vẻ ủ rũ và ướt át. Nhưng nhà hàng nằm trên đồi, thi thoảng một cơn gió thoảng xào xạc qua hàng cây, chứng tỏ ngày mai trời sẽ lại mưa nhưng trời vẫn oi bức không đổi.

Cô phục vụ bàn, một phụ nữ gần sáu mươi tuổi nhanh chóng đếm xem có bao nhiêu người, rồi nhờ người xếp bàn thành hình móng ngựa hai mặt, việc ấy lập tức xong ngay. Rồi cô bảo chúng tôi các món sẽ được phục vụ. Tạ ơn trời chúng tôi chả phải quyết định, bởi theo như vợ của ông thi sĩ, khi để ông quyết định món ăn, chúng tôi sẽ ở lại đây thêm một giờ nữa, rồi họ sẽ hết sạch thức ăn trong bếp. Chị đọc nhanh một danh sách dài gồm món nguội khai vị – vừa gọi là đã có ngay, sau đó là bánh mì, rượu vang, nước khoáng, vang sủi tăm và vang tự nhiên. Đạm bạc thôi nhỉ, chị giải thích. Chúng ta dùng đạm bạc thôi, ông giám đốc nhà xuất bản vọng lại. “Năm nay chúng ta lại bội chi rồi.”

Mọi người nâng ly mừng thi sĩ lần nữa. Rồi đến nhà xuất bản. Đến chủ hiệu sách. Đến người vợ, các cô con gái, ai nữa nhỉ?

Có tiếng cười, và tình hữu hảo. Ada phát biểu ứng tấu một bài ngắn – à không ứng tấu cho lắm, nàng thừa nhận. Lão Falstaff và bà tu-can nói là có giúp tí đỉnh.

Hơn nửa giờ sau, món hoành thánh dùng với sốt kem được dọn lên. Tới lúc ấy tôi không uống rượu, bởi hai ly scotch uống vội giờ bắt đầu thấm. Ba chị em gái ngồi giữa chúng tôi, và mọi người trên cùng băng ghế ngồi áp sát vào nhau. Thiên đàng.

Mãi mới tới món thứ hai: thịt om, đậu Hà Lan. Rau trộn.

Rồi đến phô-mai.

Chuyện liên miên không dứt, rồi chúng tôi bắt đầu nói về Bangkok. “Ai ai cũng đẹp, nhưng đẹp theo kiểu lai dị chủng khác thường, cho nên tôi muốn tới đó,” thi sĩ nói. “Họ không mang thần thái Á châu, cũng không phải Âu châu, và cụm từ Á-Âu thì quá đơn giản. Họ kỳ lạ theo nghĩa thuần túy nhất của hai chữ đó, vậy mà không xa lạ. Ta lập tức nhận ra họ dù chưa từng thấy họ trước đây, và không thể diễn tả điều họ khơi gợi lên trong ta, hay điều họ muốn từ ta.

“Mới đầu tôi ngỡ họ suy nghĩ khác. Rồi tôi nhận ra họ cảm nhận sự vật khác. Và họ thật là ngọt ngào, theo cái kiểu mà ta không tưởng tượng nổi một người nào ở đây như thế. Ôi, ta có thể tử tế, có thể quan tâm, và ta có thể rất rất nồng ấm theo kiểu ấm nắng, nhiệt thành Địa Trung Hải, nhưng họ mới là ngọt ngào, bất vị lợi, ngọt ngào tự trong tim, ngọt ngào trong thân thể, ngọt ngào mà không hề có chút u buồn hay oán hận, ngọt ngào như trẻ thơ, không chua cay hay ngượng nghịu. Tôi xấu hổ vì điều mình cảm nhận về họ. Đây có lẽ là thiên đường như tôi mơ. Viên tiếp tân hai mươi bốn tuổi ở cái khách sạn cũ mèm chỗ tôi ở, đội một chiếc mũ không có lưỡi trai, đã từng chứng kiến đủ hạng người đến rồi đi, nhìn tôi chằm chằm, và tôi nhìn lại. Nét mặt cậu ta như con gái.

Nhưng cậu ta trông giống một cô gái trông giống một cậu trai. Cô nhân viên chuyển tiền American Express nhìn tôi chằm chằm, và tôi nhìn lại. Cô ấy trông giống một cậu trai có vẻ giống một cô gái cho nên đó chỉ là một cậu trai. Những người trẻ tuổi hơn, cả đàn ông lẫn đàn bà luôn khúc khích khi tôi nhìn ngó họ. Ngay cả cô gái ở lãnh sự quán thạo tiếng Milan cùng các sinh viên đại học đứng chờ vào đúng một giờ mỗi buổi sáng để bắt xe buýt nhìn tôi chằm chằm và tôi nhìn lại – có phải cái sự nhìn chằm chằm này bổ nghĩa cho điều tôi nghĩ, bởi vì dù thích hay không, khi ta nói tới tri giác, mọi con người đều nói chung thứ ngôn ngữ thô lỗ.”

Thêm tua thứ hai grappa và sambuca.

“Tôi muốn ngủ với mọi thứ Thái Lan. Và hóa ra mọi thứ Thái Lan cũng đang tán tỉnh tôi. Hễ bạn bước đi một bước là luôn có khả năng sa vào ai đó.”

“Đây, uống chút grappa này đi, rồi nói tôi nghe điều đó không phải là trò phù thuỷ,” ông chủ hiệu sách cắt ngang. Thi sĩ để cho bồi bàn rót thêm ly nữa. Lần này ông nhấm nháp chậm rãi. Lão Falstaff ực cạn một hơi. Cô straordinario-fantastico cũng ực cạn một phát. Oliver chép môi. Thi sĩ bảo thứ rượu ấy làm ta trẻ lại. “Tôi thích uống grappa ban đêm, nó tiếp sinh lực cho tôi. Nhưng cậu thì” – ông đang nhìn tôi – “sẽ không hiểu đâu. Ở tuổi cậu thì có trời biết, cậu chẳng cần đến tiếp sinh lực.”

Ông nhìn tôi uống một chút rượu trong ly. “Cậu có cảm nhận được không?”

“Cảm nhận gì cơ?”

“Sự tiếp sinh lực.”

Tôi lại nốc thứ rượu ấy. “Không hẳn.”

“Không hẳn à,” ông lặp lại, ánh mắt bối rối và thất vọng.

“Đó là vì ở tuổi cậu ấy, cái sinh lực luôn có sẵn rồi,” Lucia nói thêm.

“Phải,” ai đó nói, “cái gọi là sinh lực của anh chỉ cần ở những ai không còn nó nữa mà thôi.”

Thi sĩ nói: “Sinh lực không hiếm gặp ở Bangkok. Một đêm nọ trong phòng khách sạn, tôi tưởng mình sẽ lên cơn mất trí. Có thể là do cô đơn, hay do tiếng người ở bên ngoài, hay là thế lực tà ác tác động. Nhưng đó là khi tôi bắt đầu nghĩ tới San Clemente. Đó là một cảm giác không xác định, mù mờ, có phần kích thích, có phần nhớ nhà, có phần ẩn dụ. Ta du hành tới một nơi vì ta có bức ảnh của nó, rồi ta muốn kết đôi với cả đất nước đó. Rồi ta nhận ra giữa ta và người bản xứ chẳng có điểm chung nào. Ta không hiểu những tín hiệu cơ bản mà ta luôn ngộ nhận rằng mọi con người đều chia sẻ. Ta cả quyết rằng tất thảy là sai lầm, chỉ là ý nghĩ trong đầu chứ không phải thực tế. Rồi ta nghĩ sâu hơn, nhận ra rằng dù ta có nghi ngờ một cách hợp lý, ta vẫn thèm muốn tất cả họ, nhưng ta không biết đích xác mình muốn thứ gì từ họ, hay họ có vẻ muốn gì từ ta, bởi vì hóa ra chính họ cũng đang nhìn vào ta, vẻ mặt phản ánh điều duy nhất trong tâm trí họ. Nhưng ta tự nhủ rằng mình đang hoang tưởng. Rồi ta sẵn sàng gói ghém đồ đạc trở lại Rome vì tất cả những tín hiệu chạm-rồi-đi làm cho ta phát điên. Nhưng rồi có gì đó đột nhiên xuất hiện, giống như một lối đi ngầm bí mật, thế là ta nhận ra là họ cũng khao khát ta đến đau đớn. Mà điều tệ hại nhất là dù ta có bao kinh nghiệm, có óc mỉa mai, có khả năng vượt qua sự ngượng ngùng giỏi đến mấy khi nó xuất hiện, ta thấy hoàn toàn lạc lối. Tôi không biết tiếng của họ, không biết tiếng nói con tim họ, thậm chí chả biết của chính mình. Tôi thấy màn che ở khắp nơi: điều tôi muốn, điều tôi không biết là mình muốn, điều tôi không muốn biết là mình muốn, điều tôi luôn biết là mình muốn. Đó hoặc là thiên đường, hoặc địa ngục.

“Giống như từng trải nghiệm khắc ghi vào ta cả đời, tôi thấy mình bị lộn ngược, rồi phanh thây. Tổng kết mọi điều tôi đã cảm nhận trong đời là vậy: tôi là ai khi tôi vừa hát vừa xào rau cải cho gia đình, bè bạn vào chiều chủ nhật, tôi là ai khi thức dậy vào những đêm lạnh cóng, chỉ muốn mặc thêm cái áo khoác len, chạy tới bên bàn, viết về con người mà chỉ có mình tôi biết đó là tôi; tôi là ai khi tôi thèm muốn được trần truồng với một thân thể trần truồng khác, hay khi tôi thèm muốn được một mình trên thế gian; tôi là ai khi mọi phần trong tôi dường như phân tách ra cách nhau hàng dặm, hàng thế kỷ và mỗi phần ấy đều thề rằng nó mang tên tôi.

“Tôi gọi đó là hội chứng San Clemente. Thánh đường San Clemente của hôm nay được xây trên nền của nơi từng là chốn trú ẩn cho dân công giáo bị đàn áp. Nhà của quan chấp chính tối cao La Mã, Titus Flavius Clemens, nó bị thiêu rụi dưới quyền cai trị của hoàng đế Nero.

Cạnh bên tàn tro ngôi nhà ấy, trong nơi có thể là hầm mộ lớn, cao như hang động, người La Mã xây một đền thờ đa thần giáo ngầm thờ Mithras, thần ban mai, ánh sáng của thế gian, rồi trên đó những người công giáo thuở sơ khai xây một nhà thờ khác thờ một vị có họ Clement khác là Giáo hoàng St. Clement – có trùng hợp hay chăng thì đây là vấn đề cần khảo cứu thêm, rồi trên đỉnh của nó lại là một nhà thờ khác bị cháy rụi, và vị trí này hôm nay là thánh đường. Cứ đào sâu thêm sẽ thấy nhiều nữa. Giống như tiềm thức, giống như tình yêu, giống như ký ức, giống như chính thời gian, giống như mỗi một người trong chúng ta, nhà thờ được xây trên tàn tích của hoạt động phục hồi về sau, không có nền đá dưới cùng, không có gì là đầu tiên, không có gì là cuối cùng, chỉ là nhiều lớp xây và hành lang bí mật cùng những căn phòng đan cài vào nhau, giống như khu hầm mộ công giáo, và ngay dọc theo nó là khu hầm mộ Do Thái.

“Nhưng các bạn của tôi ơi, như Nietzsche từng nói, tôi đã báo cho các bạn biết bài học trước khi kể câu chuyện ngụ ngôn rồi.”

“Alfriedo, tình yêu của em, làm ơn ngắn gọn thôi.”

Lúc này quản lý của nhà hàng đã nhận ra chúng tôi còn lâu mới rời đi, nên lần nữa lại phục grappa và sambuca cho từng người.

“Thế là cái đêm nồng nàn khi tôi tưởng mình đang mất trí, tôi đang ngồi ở quầy bar ọp ẹp của cái khách sạn ọp ẹp, và người ngồi ở bàn bên cạnh tôi chẳng có ai ngoại trừ người phục vụ đêm, đầu đội cái mũ không lưỡi trai kỳ quặc nọ. Hết giờ à? Tôi hỏi. Hết giờ, cậu ta nói. Vậy sao cậu không về nhà? Tôi sống ở đây, chỉ uống chút trước khi đi ngủ.

“Tôi nhìn cậu ta chằm chằm. Và ngược lại.

“Không để phí phút giây nào, cậu ta một tay cầm ly đồ uống, tay kia cầm cái bình thon – tôi tưởng mình đã xâm phạm, làm phiền cậu ta, và rằng cậu ta muốn được một mình nên sắp đi lại một bàn xa tôi – nhưng này nhìn mà xem, cậu ta tới ngay bàn tôi, ngồi xuống ngay trước mặt. Muốn thử chút này không? Cậu ta hỏi. Sao lại không, cứ thử, tôi nghĩ, khi nhập gia Rome thì, à khi nhập gia ở Thái Lan thì... Tất nhiên tôi đã nghe đủ thứ chuyện đời, nên tôi thấy có gì đó mờ ám và trái đạo, nhưng cứ tiếp xem thế nào.

“Cậu ta búng tay, rồi dứt khoát gọi cho tôi một ly nhỏ tí. Vừa gọi xong rót liền.

“Uống một tí đi.

“Có khi tôi không thích, tôi nói.

“Thì cứ uống đi. Cậu ta rót một ít cho tôi rồi một ít cho mình.

“Món này ngon nhỉ. Ly này chả lớn hơn mấy so với cái đê khâu của bà tôi, bà dùng nó để mạng vớ.

“Làm ngụm nữa đi – cho chắc.

“Tôi uống ly thứ hai. Khỏi phải nói. Nó có chút giống grappa, mạnh hơn nhưng không chát bằng.

“Trong khi đó, người trực đêm cứ nhìn tôi chằm chằm. Tôi không thích bị nhìn căng như thế. Khó mà chịu nổi ánh mắt cậu ta. Tôi gần như phát hiện ra tiếng cười khúc khích sắp sửa cất lên.

“Cậu đang nhìn tôi chằm chằm đấy, rốt cuộc tôi nói.

“Tôi biết.

“Sao cậu nhìn chằm chằm vậy?

“Cậu ta nhoài qua phía bàn tôi: Bởi vì tôi thích anh.

“Này... Tôi bắt đầu phản đối.

“Làm ly nữa đi. Rồi rót cho cậu ta một ly, tôi một ly.

“Để tôi nói thế này: Tôi không phải...

“Nhưng cậu ta không để tôi dứt lời.

“Vậy thì càng có lý do cho anh uống ly nữa.

“Đầu óc tôi đang chớp chớp đèn đỏ báo động khắp nơi. Bọn họ chuốc cho ta say, đưa ta tới nơi nào đó, cướp sạch, rồi khi ta trình báo cảnh sát, bọn này thì chả tốt lành hơn bọn trộm cướp bao nhiêu, sẽ dựng lên mọi điều xằng bậy về ta, có cả hình ảnh để làm bằng chứng. Một mối lo khác ùa qua tôi: tiền hóa đơn quầy bar sẽ cao ngút trời trong khi cái người gọi thức uống tợp nước trà rồi giả vờ say. Trò cũ xưa nhất quả đất – tôi là gì, con nít sao?

“Tôi thấy mình không có hứng thú. Vui lòng...

“Thêm ly nữa đi.

“Mỉm cười.

“Tôi sắp sửa lặp lại lời phản đối, nhưng tôi đã nghe cậu ta nói, Thêm ly nữa đi. Tôi gần như bật lên cười.

Cậu ta thấy thế, nhưng không quan tâm lý do, chỉ quan tâm tới nụ cười của tôi.

“Bấy giờ cậu ta rót cho mình một ly.

“Này bạn hiền, tôi hi vọng cậu hiểu là tôi không trả mấy ly này đâu.

“Gã tư sản nhỏ nhen trong tôi rốt cuộc cũng cất tiếng. Tôi biết mọi mánh khóe đường mật để moi tiền khách nước ngoài.”

“Tôi không đòi anh trả tiền thức uống, hoặc trả tiền cho tôi vì điều kia.”

“Lạ lùng là cậu ta không phật ý. Hẳn cậu ta biết rồi điều này sẽ tới. Hẳn đã làm vậy cả triệu lần rồi – nghề kèm theo nghiệp mà.

“Đây, ly nữa – nhân danh tình bạn.

“Tình bạn à?

“Anh không phải sợ tôi đâu.

“Tôi không ngủ với cậu đâu.

“Có thể anh sẽ không. Có thể anh sẽ. Mới vào đêm thôi mà, tôi vẫn chưa bỏ cuộc.

“Tới lúc này, cậu ta gỡ nón ra, thả ra bao nhiêu là tóc, tôi không thể hiểu được sao người ta có thể ém giấu bao nhiêu là tóc dưới cái mũ không vành nhỏ tí thế kia. Cậu ta là một phụ nữ.

“Thất vọng à?

“Không, ngược lại thì có.

“Hai cổ tay tí hon, thái độ e lệ, làn da mềm mại nhất đời, sự ngọt ngào tỏa ra từ đôi mắt cô ấy – không phải kiểu bạo dạn của kẻ từng trải mà là lời hứa hẹn sự ngọt ngào và trinh bạch nhất trên giường. Tôi có thất vọng chăng? Có lẽ, bởi vì tình huống chẳng còn gì mơ mộng nữa.

“Một bàn tay chìa ra chạm vào má tôi, ở yên đó, như xoa đi cái sốc, cái sững sờ. Khá hơn chưa?

“Tôi gật đầu.

“Anh cần ly nữa.

“Em cũng vậy, tôi nói, lần này tôi rót cho nàng.

“Tôi hỏi nàng vì sao nàng cố tình lừa người ta tin nàng là đàn ông. Tôi trông chờ lời đáp kiểu như, Vậy thì làm ăn an toàn hơn – hoặc gì đó có chút phóng đãng kiểu như, Vì những lúc thế này đây.

“Rồi có tiếng khúc khích, lần này là thật, cứ như nàng vừa phạm một tội lừa đảo tinh quái nhưng không hề phật ý hay ngạc nhiên khi bị lộ. Nhưng em là đàn ông mà, nàng nói.

“Nàng gật đầu để xua đi nỗi ngờ trong tôi, cứ như cái gật đầu kia là một phần của trò lừa.

“Em là đàn ông? Tôi hỏi, thất vọng hệt như lúc phát hiện ra nàng là phụ nữ.

“Em e là vậy.

“Rồi đặt hai khuỷu tay lên bàn, cậu ta nhoài tới, gần như chạm vào mũi tôi bằng mũi của cậu mà nói: Em thích anh rất rất nhiều, Signor Alfredo. Mà anh cũng thích em rất rất nhiều – hay ở chỗ là cả hai ta đều biết điều đó.

“Tôi nhìn cậu ta, cô ta chằm chằm, ai mà biết là cô hay cậu. Thôi tìm người khác đi, tôi nói.

“Em vừa định hỏi anh, người bạn quỷ quái của tôi nói.

“Anh muốn em là đàn ông hay đàn bà? côcậu ta hỏi, cứ như người ta có thể truy ngược lên theo hệ cây phát sinh loài vậy.

“Tôi không biết trả lời sao. Tôi muốn nói, tôi muốn nàng là đâu đó giữa hai phái. Cho nên tôi nói, tôi muốn em như cả hai, hoặc là như ở giữa.

“Cậu ta có vẻ sửng sốt.

“Bậy quá, bậy quá, cậu ta nói, cứ như lần đầu tiên tôi có thể khiến cậu sốc vì thứ gì đó thực sự đồi bại.

“Lúc cậu ta đứng dậy vào phòng vệ sinh, tôi để ý nàng thực ra là một phụ nữ mặc váy, đi giày cao gót. Tôi không thể đừng được, cứ ngó trân vào làn da yêu kiều nhất nơi mắt cá chân yêu kiều nhất của nàng.

“Nàng biết mình đã bắt được tôi lần nữa, nên lại bắt đầu cười rộ hết cỡ.

“Anh trông hộ cái ví cho em nhé? Nàng hỏi. Hẳn nàng đã linh tính là nếu không nhờ tôi trông chừng cái gì giúp nàng, rất có thể tôi sẽ trả hóa đơn rồi rời bar.

“Nói ngắn gọn, đây là cái mà tôi gọi là hội chứng San Clemente.”

Một tràng vỗ tay, và đó là tràng vỗ tay đầy cảm mến. Chúng tôi không chỉ thích câu chuyện, mà cả người kể câu chuyện ấy.

“Evviva il sindromo di San Clemente, hội chứng San Clemente muôn năm,” cô straordinario-fantastico nói. “Sindromo không phải giống đực mà là giống cái, cho nên phải là la sindrome, ai đó ngồi cạnh cô giải thích.

“Evviva la sindrome di San Clemente,” tiếng một người đang rõ là thèm gào lên cái gì đó. Anh này cùng với vài người khác đã tới bữa tối quá trễ, gào lên bằng giọng Rome chuẩn mấy tiếng Lassatece passà, cho chúng tôi qua – với chủ nhà hàng, như để thông báo là anh ta nhập hội. Mọi người đã bắt đầu dùng bữa từ lâu. Xe của anh rẽ sai đường ở Ponte Milvio. Rồi anh ta không tìm ra nhà hàng, vân vân. Cho nên anh ta bỏ lỡ hai món đầu. Bây giờ anh ngồi ở tít cuối bàn, cũng như những người đi cùng từ hiệu sách được dọn cho mấy mẩu phô-mai cuối cùng còn sót lại. Thêm hai bánh flan cho mỗi người, bởi vì tất cả chỉ còn bấy nhiêu. Anh ta bù lại phần thức ăn đã lỡ bằng quá nhiều rượu vang. Anh nghe được hầu hết bài diễn văn của thi sĩ về San Clemente.

“Tôi nghĩ rằng tất cả những điều về clemente-hóa này khá là duyên dáng, dù tôi chẳng biết cái ẩn dụ của anh có giúp chúng tôi nhìn nhận chúng tôi là ai, chúng tôi muốn gì, chúng tôi đi về đâu hay hơn là mớ rượu vang mà chúng tôi đã uống. Nhưng nếu lợi ích của thi ca, như lợi ích của rượu vang, là giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn gấp đôi, thì tôi đề nghị nâng ly lần nữa cho tới khi chúng ta đủ say để nhìn thế gian này bằng bốn con mắt – và nếu không khéo thì có khi là tám con mắt.”

“Evviva!” Amanda cắt ngang, nâng ly mừng người đến muộn, tuyệt vọng mong anh ta câm miệng.

“Evviva!” Ai khác hô lên.

“Nên viết thêm một quyển thơ nữa đi – mau mau vào,” cô straordinario-fantastico nói.

Có người đề nghị tới một quán kem không xa nhà hàng. Thôi, bỏ qua kem đi, đi uống cà phê thôi. Tất cả chúng tôi dồn vào ô tô, đi dọc phố Lungotevere về phía điện thờ Pantheon.

Trong xe, tôi thấy hạnh phúc. Nhưng tôi cứ nghĩ về ngôi thánh đường, và thật giống như buổi tối của chúng tôi, thứ này dẫn tới thứ kia, thứ kế tiếp, tới thứ gì đó hoàn toàn ngoài dự đoán, và ngay khi ta ngỡ là chu kỳ đã khép thì lại có gì đó mới bật lên, và sau đó là thứ gì khác nữa, cho tới khi ta nhận ra ta có thể dễ dàng trở lại nơi ta bắt đầu, ngay trái tim thành Rome cổ. Một ngày trước chúng tôi đi bơi dưới ánh trăng. Giờ chúng tôi ở đây. Vài ngày nữa rồi anh sẽ ra đi. Giá mà anh trở lại đúng một năm kể từ hôm nay. Tôi vòng tay quanh Oliver, và tựa vào Ada. Tôi chìm vào giấc ngủ.

Lúc cả bọn tới quán cà phê Sant’Eustachio thì đã quá một giờ khuya. Chúng tôi gọi cà phê cho mọi người. Tôi tưởng mình hiểu tại sao ai cũng thề trên ly cà phê Sant’Eustachio; hay có lẽ tôi muốn nghĩ là mình hiểu, nhưng tôi không chắc. Tôi thậm chí không chắc là mình thích nó. Có lẽ không ai khác thích nhưng cảm thấy buộc phải đồng tình với ý kiến số đông và bảo rằng chính họ cũng không thể sống thiếu nó. Có một đám đông người uống cà phê đang đứng và ngồi chung quanh quán cà phê danh tiếng của thành Rome. Tôi thích nhìn ngắm tất cả những con người ăn mặc thanh nhã này đứng gần sát mình, tất cả họ chia sẻ cùng một điều cơ bản: tình yêu đối với màn đêm, tình yêu đối với thành phố, tình yêu với cư dân, và mong muốn cháy bỏng được cặp đôi – với bất kỳ ai. Tình yêu đối với bất kỳ thứ gì khiến cho những nhóm nhỏ con người hội tụ về đây khỏi tan rã. Sau chầu cà phê, khi nhóm nghĩ tới chuyện chia nhau ra về, ai đó nói, “Không, ta chưa thể tạm biệt nhau vội.” Ai đó đề nghị tới quán rượu gần bên. Bia ngon nhất thành Rome. Sao lại không? Thế là chúng tôi xuống một con đường nhỏ hẹp dẫn về hướng Campo de’ Fiori. Lucia đi giữa tôi và thi sĩ. Oliver đang nói với hai chị em đi phía sau chúng tôi. Ông già đã làm bạn với cô nàng straordinario-fantastico và cả hai đang tán dóc về San Clemente. “Thật là một ẩn dụ để đời,” cô straordinario-fantastico nói. “Xin đừng! Không cần phải làm quá mọi chuyện lên với cái kiểu clementehóa, clemente-biến này nọ. Nó chỉ là một lối diễn đạt kỳ quái mà thôi, các vị biết mà,” Lão Falstaff lên tiếng, có lẽ ông tràn ngập ánh vinh quang đêm nay của đứa con đỡ đầu. Để ý thấy Ada đang đi một mình, tôi lùi lại, nắm tay nàng. Nàng mặc trang phục màu trắng, và làn da rám nắng óng ánh của nàng khiến tôi muốn chạm vào từng lỗ chân lông trên người nàng. Chúng tôi không nói. Tôi nghe được tiếng gót đôi giày cao của nàng gõ lên vỉa hè lát đá hoa. Trong bóng đêm trông nàng có vẻ ủy mị.

Tôi muốn bước đi mãi không thôi. Con hẻm im ắng, không người thật là âm u, cùng với những viên sỏi lỗ rỗ lát đường cổ xưa lấp lánh trong bầu không khí ẩm, cứ như một người đánh xe thuở xa xưa đã làm rơi vãi thứ nước sền sệt từ trong cái vò hai quai rồi biến mất xuống lòng đất thành đô cổ đại. Mọi người đều đã rời thành Rome. Và thành phố trống hoang đã từng chứng kiến biết bao người, đã thấy tất cả họ, giờ đây chỉ thuộc về chúng tôi và thi sĩ đã rời bỏ nó, dù chỉ trong một đêm, trong hình ảnh thơ của ông. Đêm nay trời vẫn nóng ẩm. Nếu muốn chúng tôi có thể đi lòng vòng theo hình tròn và chẳng ai sẽ biết, mà cũng chẳng ai bận tâm.

Trong khi thả bước xuống một mê cung trống trải những con đường thiếu ánh đèn, tôi bắt đầu tự hỏi cuộc nói chuyện về San Clemente liên quan ra sao đến chúng tôi – chúng tôi xuyên qua thời gian thế nào, thời gian xuyên qua chúng tôi ra sao, chúng tôi thay đổi, tiếp tục thay đổi rồi lại lại trở về như nguyên thủy ra sao. Người ta có thể già đi mà không hề học được điều gì ngoại trừ điều này. Đây là bài học của thi sĩ, tôi nghĩ vậy. Chừng một tháng nữa, khi tôi thăm lại thành Rome, ký ức về đêm nay với Oliver sẽ có vẻ hoàn toàn không thật, cứ như nó đã xảy ra với một tôi hoàn toàn khác. Ba năm trước, anh chàng giao hàng nọ mời tôi tới một rạp phim rẻ tiền được biết là để nhằm mục đích ấy. Một điều ước đã nảy ra, nhưng không thành. Và ba tháng nữa lại có một điều ước cũng không thành. Anh ta đến. Anh ta đi. Không có gì khác thay đổi. Tôi không thay đổi. Thế gian chẳng thay đổi. Vậy mà không có gì nguyên như cũ. Còn lại chỉ là những mộng tưởng và hồi ức dị kỳ.

Khi chúng tôi tới thì quán bar đang đóng cửa. “Quán đóng cửa lúc hai giờ.”

“À vậy hẵng còn kịp làm vài ly.” Oliver gọi một ly martini, kiểu Mỹ. Thật là một ý tưởng mỹ miều, thi sĩ nói. “Tôi cũng vậy,” ai đó cắt ngang. Từ cái máy hát nhạc vẳng ra tiếng bài hát thịnh hành hồi mùa hè mà chúng tôi nghe suốt tháng bảy. Khi nghe tới món “martini,” ông già và người nhà xuất bản liền cùng gọi nó. “Ehi, taverniere! Ê này chủ quán!” Lão Falstaff gào lên. Người bồi nói là chúng tôi chỉ có thể uống bia hoặc rượu vang, bởi tay pha chế đã về trước đó rồi, nghe nói là vì mẹ anh ta lâm bệnh nặng nên phải vào bệnh viện nơi mà bà phải đến. Mọi người cười ồ vì câu nói lủng củng của anh bồi. Oliver hỏi họ tính tiền martini bao nhiêu. Anh bồi gào hỏi cô gái bên quầy thu tiền. Cô ta nói giá. “À, vậy tôi pha đồ uống, rồi các người tính tiền trừ đi công pha chế được không?”

Anh bồi và cô gái thu tiền ngần ngừ. Chủ quán đã về từ lâu rồi. “Sao lại không?” cô gái nói. “Nếu anh biết cách pha thì faccia pure, cứ việc.”

Một tràng vỗ tay cho Oliver, anh chậm rãi vào sau quầy và sau vài giây, sau khi thêm đá vào rượu gin và véc-mút thì lắc mạnh ly trộn cocktail. Không tìm thấy ô-liu trong tủ lạnh bé xíu cạnh quầy. Cô gái thu tiền tới, xem xét rồi lôi ra cả một thố. “Ô-liu đây,” cô nói, nhìn đăm đăm vào mặt Oliver như muốn nói, Ngay trước mắt mà sao không thấy, anh có nhìn không vậy? Còn gì nữa nào? “Hay là em dùng một ly martini với bọn anh nhé,” anh nói. “Đêm nay vốn đã là một đêm điên rồ. Thêm một ly nữa thì cũng chả điên rồ hơn. Làm ly nhỏ thôi nhé.”

“Muốn anh dạy em không?”

Rồi anh giải thích các bước pha món martini trong ly cao và lạnh. Anh ổn với chuyện làm người pha chế để giúp cho quán bar.

“Pha chế 101. Bản quyền Harvard. Những ngày cuối tuần, anh làm bartender kiếm sống suốt mấy năm học đại học. Rồi anh làm đầu bếp, rồi làm quản lý nhà hàng. Nhưng luôn luôn là người chơi bài poker.”

Những năm anh học đại học, mỗi lần kể lại đều như chuyện thần tiên, như thuộc về một cuộc đời khác, cuộc đời mà tôi không thể len vào bởi nó đã thành quá khứ. Bằng chứng sự hiện hữu của nó ngay lúc này đây là khả năng anh pha nước uống, hoặc phân biệt các loại rượu nho grappa bí hiểm, hoặc bắt chuyện với tất cả phụ nữ, hoặc những phong thư vuông vắn đề tên anh gửi đến nhà tôi từ khắp thế giới.

Tôi chưa từng ghen tị với quá khứ của anh, cũng như không thấy bị nó đe dọa. Tất cả những góc cạnh cuộc đời anh có cái bí ẩn của những việc xảy ra trong cuộc đời cha tôi trước khi tôi chào đời, nhưng tiếp tục vang âm vào hiện tại. Tôi không ghen tị với cuộc đời trước khi tôi hiện hữu, và tôi cũng không muốn trở về thời gian anh trạc tuổi mình.

Chúng tôi chừng mười lăm người, ngồi vào một trong những cái bàn gỗ lớn thô mộc. Anh bồi thông báo chầu rượu cuối cùng, lần này là lần thứ hai rồi. Trong vòng mười phút, khách khứa bàn khác ra về hết cả. Anh bồi đã bắt đầu hạ cánh cổng kim loại xuống, lý do là đã đến giờ chiusura, đóng cửa. Máy hát bị ngắt điện ngay lập tức.

Nếu chúng tôi cứ tiếp tục chuyện trò, rất có thể sẽ ở đây tới bình minh.

“Tôi có làm cậu sốc không?” Thi sĩ hỏi.

“Tôi ấy à?” Tôi hỏi, không chắc tại sao ông ta lại hỏi mình chứ không phải những người khác.

Lucia nhìn chúng tôi chằm chằm. “Alfredo à, em e là cậu ấy biết nhiều hơn anh về tuổi trẻ hư hỏng. E un dissoluto assoluto, và là một thanh niên phóng đãng tuyệt đối,” chị nói, tay lại áp vào má tôi.

“Bài thơ này viết về một thứ duy nhất mà thôi,” cô straordinario-fantastico nói.

“San Clemente thật ra nói về bốn thứ – ít nhất là thế!” Thi sĩ vặn lại.

Chầu cuối, lần thứ ba.

“Nghe này,” chủ hiệu sách cắt ngang lời anh bồi, “hay cứ để bọn tôi ở lại đi. Bọn này xong xuôi thì đón taxi cho quý cô. Và bọn này trả tiền luôn. Thêm chầu martini nữa nhé?”

“Cứ tự nhiên,” anh bồi nói, gỡ tạp dề ra. Anh ta chịu thua rồi. “Tôi về nhà đây.”

Oliver tới bên cạnh, bảo tôi chơi gì đó bằng piano.

“Anh thích bản nào?” Tôi hỏi.

“Gì cũng được.”

Đây là cách tôi cảm tạ cho đêm đẹp nhất đời mình. Tôi nhấp ngụm martini thứ hai, có cảm giác mình là một trong những nghệ sĩ jazz đánh piano theo trường phái suy đồi, chuyên hút thuốc nhiều, rượu chè nhiều rồi chết trong rãnh nước đoạn cuối phim thời xưa.

Tôi muốn chơi nhạc Brahms. Nhưng linh tính mách bảo tôi chơi bản gì thật khẽ khàng và sâu lắng. Thế nên tôi chơi một trong các bản biến tấu Goldberg, bản này khiến tôi khẽ khàng và sâu lắng. Có tiếng thở dài đâu đó giữa mười lăm người nghe, tôi hài lòng, bởi đây là cách duy nhất tôi đền đáp lại một đêm kỳ diệu.

Rồi người ta nhờ tôi chơi bản khác, tôi đề nghị một bản capricio của Brahms. Họ đều nhất trí đó là ý hay, cho tới khi ma xui quỷ khiến thế nào, sau vài nhịp mở đầu của bản capricio, bỗng dưng tôi đánh một đoạn stornello. Sự tương phản khiến họ bất ngờ, tất cả bắt đầu hát, dù không đồng lời, bởi mỗi người hát khúc stornello mà mình biết. Mỗi lần tới phần điệp khúc, chúng tôi đồng ý là sẽ hát cùng một khúc mà trước đó Oliver và tôi đã nghe bức tượng Dante trích ngâm. Ai nấy đều ngất ngây, tôi được nhờ chơi bản khác, rồi bản khác nữa. Các bản stornello thành Rome thường là thô tục, du dương chứ không phải tan nát, sầu thảm như các khúc aria xứ Naples. Sau bản thứ ba, tôi nhìn sang Oliver, nói là tôi muốn ra ngoài hít thở không khí.

“Sao vậy, cậu ta không khỏe à?” Thi sĩ hỏi Oliver.

“Không phải, chỉ cần ít không khí. Xin cứ ở nguyên chỗ.”

Cô gái thu ngân cúi gập người dùng một tay nâng cánh cửa chớp cuốn. Tôi ra ngoài qua cửa chớp hạ một nửa ấy, bỗng một cơn gió mát lành ùa qua con hẻm vắng. “Mình đi bộ chút nhé?” Tôi hỏi Oliver.

Chúng tôi thong dong bước xuống con hẻm tối, hệt như hai bóng người trong thi phẩm Dante, một già một trẻ. Trời vẫn còn nóng lắm, ánh sáng từ một ngọn đèn đường lấp lánh trên trán Oliver. Chúng tôi đi sâu hơn vào một ngõ cực kỳ tịch mịch, rồi qua một ngõ khác, cứ như được kéo qua những lối đi ma quái, huyền ảo và dinh dính dường như dẫn tới một cõi không tưởng mà ta chỉ có thể vào khi trong trạng thái sững sờ và kinh ngạc. Tôi chỉ nghe tiếng bọn mèo trong ngõ, và tiếng nước văng gần đó. Có thể là một đài hoa cương phun nước, hoặc một trong vô số các vòi phun ở khắp nơi thành Rome. “Nước,” tôi thở gấp. “Em không hợp với martini. Say quá rồi.”

“Lẽ ra em không nên uống. Nào là scotch, rồi vang, rồi grappa, lại còn gin nữa.”

“Uống trợ hứng như đêm nay là quá nhiều.”

Anh cười thầm. “Trông em nhợt nhạt quá.”

“Chắc là em sắp ói đây.”

“Cách tốt nhất là tự làm cho ói.”

“Làm sao?”

“Cúi người, thọc ngón tay vào họng.” Tôi lắc đầu. Không đời nào.

Chúng tôi tìm thấy một thùng rác dọc lối đi. “Vào đây này.”

Thường thì tôi chống lại cơn nôn. Nhưng bây giờ mà làm vẻ trẻ con thì đáng xấu hổ. Nôn trước mặt anh cũng không thoải mái. Biết đâu Amanda đi theo chúng tôi.

“Đây, cúi xuống, anh giữ đầu cho.”

Tôi chống chọi. “Nó sẽ qua, chắc sẽ qua thôi.”

“Há miệng ra nào.”

Tôi há miệng. Chưa kịp gì thì tôi đã oẹ ra khi anh vừa chạm vào lưỡi gà trong họng tôi.

Thật là an ủi khi có người giữ đầu mình, thật là can đảm khi giữ đầu cho một người đang nôn. Tôi có dám làm vậy cho anh không?

“Chắc là xong rồi,” tôi nói.

“Chờ xem còn ra nữa không.”

Vừa dứt lời thì một cơn nữa tống thêm ra thức ăn và đồ uống đêm nay.

“Em không nhai đậu à?” Anh hỏi, mỉm cười nhìn tôi.

Tôi thích cách anh đùa như thế.

“Mong là giày anh không bị dơ,” tôi đáp.

“Không phải giày mà là xăng-đan.” Cả hai phá lên cười.

Lúc nhìn lại, tôi thấy mình đã nôn ngay bên cạnh bức tượng Pasquino. Thật chả ra làm sao, nôn ngay trước bức tượng đả kích đáng tôn kính nhất thành Rome.

“Thề với em là mấy hạt đậu còn chưa bị cắn đó đủ nuôi trẻ con xứ Ấn Độ.”

Cười nữa. Tôi rửa mặt, súc miệng ở vòi phun nước bên đường trở lại.

Ngay trước chúng tôi là bức tượng người Dante. Ông ta đã cởi áo choàng, mái tóc dài đen xõa ra hết. Đóng bộ như thế chắc là ra mồ hôi như tắm. Lúc này ông ta đang tranh cãi ầm ĩ với bức tượng nữ hoàng Nefertiti, cô ta cũng đã tháo mặt nạ, mớ tóc dài bết lại vì mồ hôi. “Thôi tôi dọn hàng đây, chào nhé, biến đi cho khuất mắt. ”

“Ông cũng biến đi cho khuất mắt, vaffanculo, đi chơi đi. ”

“Fanculo, e poi t’inculo.” Thế là Nefertiti ném một mớ đồng xu vào Dante, ông ta cúi đầu né, nhưng một đồng trúng vào mặt. “Aiiiio,” ông ta hét. Tôi thoáng tưởng họ sắp choảng nhau đến nơi.

Chúng tôi trở lại bằng một ngõ cũng tối tăm, hoang vắng và lấp lánh như lối cũ, rồi trở qua Santa Maria dell’Anima. Phía trên là một ngọn đèn vuông leo lét gắn vào tường một tòa nhà be bé cũ kỹ. Ngày xưa, có lẽ người ta dùng đèn đốt khí ga. Tôi dừng lại, anh cũng dừng. “Ngày đẹp nhất đời em, nhưng rốt cuộc em lại nôn thốc tháo.” Anh không nghe. Anh ấn tôi vào tường, bắt đầu hôn tôi, hông áp chặt vào hông tôi, tay sắp sửa nhấc tôi lên khỏi mặt đất. Mắt tôi nhắm, nhưng tôi biết anh dừng hôn tôi để nhìn quanh; có khi người ta đi ngang. Tôi không muốn nhìn. Hãy để anh là người lo lắng. Rồi chúng tôi lại hôn nhau. Rồi mắt vẫn nhắm, tôi nghĩ là mình nghe tiếng hai người – là giọng nam lớn tuổi lầm bầm rằng nhìn hai kẻ này mà xem, ngày xưa làm gì có chuyện. Nhưng tôi không muốn nghĩ về họ. Tôi không muốn lo lắng. Nếu anh không lo thì tôi cũng không lo. Tôi có thể sống đến hết đời thế này: với anh, ban đêm, ở Rome, mắt nhắm chặt, một chân cuộn qua chân anh. Tôi nghĩ đến chuyện trở lại đây trong tương lai, vài tuần hay vài tháng nữa – bởi vì đây là chỗ của chúng tôi.

Chúng tôi quay lại quán bar thì thấy mọi người đã về hết. Lúc đó hẳn đã ba giờ sáng, hoặc hơn nữa. Ngoại trừ vài chiếc ô tô, thành phố im phăng phắc. Rồi do nhầm lẫn, chúng tôi tới quảng trường Rotonda thường khi đông đúc quanh điện thờ Pantheon, nơi đây cũng trống trải lạ kỳ. Vài du khách đang kéo những ba-lô to đùng, vài kẻ say, và những tên bán ma tuý thường lệ. Oliver đứng lại bên một quầy hàng rong, mua cho tôi một chai sô-đa chanh. Vị chanh đắng thật mát, khiến tôi thấy khá hơn. Oliver mua món nước cam đắng, và một lát dưa hấu. Anh cho tôi ăn cùng, nhưng tôi từ chối. Thật tuyệt khi được thả bộ lúc say say tỉnh tỉnh, uống nước sô-đa chanh vào một đêm thế này, quanh những ngõ hẻm lát đá phiến lấp lánh của Rome, có một vòng tay ôm mình. Chúng tôi rẽ trái, rồi khi đang về quảng trường Febo, bất chợt từ thinh không, có tiếng ai gảy đàn guitar, hát một bài không phải nhạc rock. Khi lại gần hơn thì chúng tôi nhận ra đó là một giai điệu xứ Naples xưa ơi là xưa. “Fenesta ca lucive.” Phải mất một lúc tôi mới nhận ra. Rồi tôi nhớ.

Dì Mafalda đã dạy tôi bài này nhiều năm trước, hồi tôi còn nhỏ. Đó là bài hát ru của dì. Tôi đâu biết gì về xứ Naples, và ngoại trừ thông qua dì và những người đồng hương thân cận của dì, vài chuyến thăm vu vơ cùng cha mẹ tới xứ Naples, và chưa từng tiếp xúc với dân xứ ấy.

Nhưng giai điệu sầu thảm của bài hát khuấy động nỗi hoài nhớ mãnh liệt về tình yêu mất mát, và những gì mất mát dọc theo đường đời, tiếc thương những cuộc đời như cuộc đời ông tôi, vốn đã hiện hữu từ lâu trước cuộc đời tôi. Đột nhiên tôi được đưa về cái vũ trụ nghèo khổ, sầu đau khôn dứt của những con người giản dị như tổ tiên của dì Mafalda vốn từng hối hả qua lại trên những vicoli, ngõ ngách bé tí của xứ Naples xưa. Giờ đây tôi muốn chia sẻ từng từ từng chữ một cái ký ức về xứ ấy với Oliver, ngỡ là anh giống như dì Mafalda, chú Manfredi, già Anchise và tôi đều là một người đồng hương miền Nam mà tôi gặp ở một thành phố cảng xa lạ, ngay lập tức hiểu vì sao âm thanh của bài hát cũ xưa này, giống như một lời nguyện cầu tự thuở nào dành cho người chết bằng thứ ngôn ngữ đã tuyệt thế, lại có thể khiến ta nhòe lệ dù chẳng hiểu được một vần một chữ nào.

Bài hát khiến anh nhớ tới quốc ca Israel, anh bảo. Hay là khúc ca ấy được gợi cảm hứng bởi bản nhạc Moldau? Nghĩ lại, nó có thể là một khúc aria trong tác phẩm Sonnambula của Bellini. Ấm, nhưng vẫn không hợp, tôi nói, dù bản nhạc ấy thường được xem là của Bellini. Bọn mình đang clement-hóa, anh nói.

Tôi dịch lời ca từ tiếng Naples sang tiếng Ý rồi sang tiếng Anh. Bản nhạc nói về một chàng trai trẻ đi ngang qua cửa sổ nhà người yêu rồi được người chị em của nàng Nennélla báo rằng nàng đã chết. Đôi môi ngọc ngà ôi giờ đây nát tan. Vĩnh biệt cửa sổ thân thương, Nenna của lòng tôi chẳng bao giờ nhìn ra được nữa.

Một du khách Đức, hình như là say khướt, lẻ bóng đêm đó đã nghe loáng thoáng tôi dịch bài hát sang tiếng Anh bèn lại gần, nài nỉ tôi bằng thứ tiếng Anh bập bõm, nhờ tôi dịch sang tiếng Đức. Dọc đường về khách sạn, tôi dạy cho Oliver và ông người Đức cách hát phần điệp khúc, cả ba cứ lặp đi lặp lại, giọng chúng tôi vang vọng trong những ngõ hẻm chật hẹp, ẩm ướt của thành Rome trong khi mỗi người mỗi lời ca Naples. Khi về khách sạn, Oliver và tôi khẽ bắt đầu hát lại điệp khúc,

Chiagneva sempe ca durmeva sola,

mo dorme co’ li muorte accompagnata

Xưa nàng mãi khóc gối chiếc đơn côi

Thì nay nàng đã yên giấc ngàn thu đâu còn

Giờ đây dù đã sau bao nhiêu năm, tôi nghĩ mình vẫn còn nghe tiếng hai người trai trẻ hát những lời Naples này lúc đêm gần tàn, không ai nhận ra đêm ấy là đêm cuối họ tình tự bên nhau, khi cả hai ôm lấy nhau rồi hôn triền miên trên những con phố mờ tối của thành Rome cổ kính.

“Ngày mai mình đi San Clemente đi,” tôi nói.

“Ngày mai là hôm nay,” anh đáp.

(Call me by your name) Dịch giả: Nhật Khoa
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.