Già Anchise đợi tôi ở ga. Tôi nhìn ra già ngay khi con tàu vào khúc ray uốn dài men theo vịnh, chậm lại rồi gần như ăn lấy những cây bách cao mà tôi rất yêu, qua nơi này tôi luôn bắt gặp khung cảnh biển biếc chào đón mình về. Tôi hạ cửa sổ, để gió thổi vào mặt, thoáng thấy chiếc xe chở gỗ của chúng tôi phía xa, xa tít. Tôi luôn vui khi về B. Việc này khiến tôi nhớ lại những lần về vào đầu tháng Sáu, lúc trường nghỉ vào mỗi năm học. Gió, sức nóng, mặt sân ga xám bóng với cái bót của trưởng ga mãi đóng kể từ Thế chiến I, sự tịch mịch đến lạnh người, tất thảy hóa phép vào mùa ưa thích của tôi, vào thời điểm hoang vắng và dễ chịu nhất trong ngày. Mùa hè chỉ mới chớm bắt đầu, có lẽ vậy, mọi sự vẫn chưa xảy ra, đầu tôi vẫn còn ong ong sách vở trước những bài thi, nhưng năm nay thì đây là lần đầu tôi đang ngắm biển. Oliver nào?
Con tàu dừng lại vài giây, thả xuống năm hành khách. Tiếng ầm ầm quen thuộc, theo sau là tiếng máy tàu xoành xoạch. Rồi cứ dễ dàng như lúc dừng lại, các toa tàu rin rít ra khỏi ga, từng toa một, rồi trượt đi mất. Thinh lặng hoàn toàn.
Tôi đứng một lúc dưới rầm gỗ sấy. Toàn bộ nơi này, kể cả căn nhà bằng ván sực mùi xăng, nhựa đường, sơn tróc, và nước tiểu.
Và như thường lệ: chim sáo, những cây thông, bọn ve sầu.
Mùa hè.
Tôi chẳng mấy khi nghĩ về năm học sắp tới. Tôi thấy biết ơn, vì mùa tựu trường dường như còn cách những vài tháng nữa, bởi tiết trời hè ấm áp biết bao.
Vài phút sau khi tôi tới, chuyến tàu đi thẳng tới Rome lao vút theo đường ray ngược lại – con tàu ấy luôn luôn đúng giờ. Ba ngày trước, chúng tôi đã lên chính con tàu đó. Tôi nhớ khi ấy mình nhìn ra ngoài cửa sổ con tàu, nghĩ: Vài ngày nữa, mi sẽ trở lại, mi sẽ một mình, mi sẽ ghét điều ấy, thế nên hãy chuẩn bị cho bất kỳ thứ gì. Hãy nhớ lấy. Tôi đã tập dượt chuyện mất anh, một mặt là bằng cách đón nhận từng chút một từ sớm để tránh sự đau lòng quá đỗi, nhưng một mặt khác, như những người mê tín, cũng là để xem sự sẵn lòng đón nhận điều kinh khủng nhất có thể không khiến cho số phận bớt khắc nghiệt đi. Giống như những người lính rèn luyện để chiến đấu ban đêm, tôi sống trong bóng tối để không bị mù khi bóng tối đến. Tập cơn đau để làm dịu cơn đau. Theo phép vi lượng đồng căn.
Xem lại lần nữa nào. Tầm nhìn ra vịnh: xong.
Mùi cây thông: xong.
Căn buồng của trưởng ga: xong.
Những dấu hiệu trên đồi xa xa gợi nhớ lại buổi sáng chúng tôi đạp xe trở về B. , xuống đồi, suýt nữa va phải một cô gái gypsy: xong.
Mùi nước tiểu, xăng, nhựa đường, sơn bóng: xong, xong, xong và xong.
Già Anchise túm lấy ba-lô, đòi mang giúp tôi. Tôi không chịu, ba-lô là để chủ nó tự mang. Già không hiểu được, đưa trả tôi.
Già hỏi Signor Ulliva đã đi khỏi rồi sao.
Phải, sáng nay.
“Triste, buồn,” già nhận xét.
“Vâng, một chút.”
“Anche a me duole, tôi thì buồn hết sức.”
Tôi tránh ánh mắt của già. Tôi không muốn khuyến khích già nói bất cứ gì hay thậm chí là nhắc đến.
Khi tôi về đến, mẹ tôi muốn biết tất tật về chuyến đi. Tôi kể rằng chúng tôi chẳng làm gì đặc biệt, chỉ đi xem khu Capitol, Villa Borghese và San Clemente. Ngoài ra thì đi bộ loanh quanh nhiều. Có nhiều đài phun nước. Nhiều chốn lạ về đêm. Hai bữa ăn tối. “Ăn tối à?” Mẹ tôi hỏi, có ý đắc thắng ngầm thấy-chưa-đã-bảo-mà. “Với ai thế? ”
“Người ta. ”
“Người ta nào? ”
“Nhà văn, nhà xuất bản, bạn bè của Oliver. Bọn con đêm nào cũng thức khuya. ”
“Chưa đầy mười tám mà cậu nhà đã biết hưởng la dolce vita, cuộc sống ngọt ngào,” dì Mafalda châm biếm. Mẹ tôi đồng ý.
“Ở nhà mọi người đã dọn lại phòng con như trước đây, nghĩ là con thích có lại căn phòng.”
Lập tức tôi cảm thấy vừa buồn vừa tức phát điên. Ai cho họ quyền đó chứ? Chắc là họ đã xoi mói đủ thứ, không cùng nhau thì từng người.
Tôi luôn biết rằng rốt cuộc mình sẽ lấy lại căn phòng. Nhưng tôi đã mong sự chuyển đổi chậm hơn, lâu hơn, trở về tình trạng trước khi Oliver đến. Tôi đã mường tượng mình nằm trên giường, cố gom can đảm để bước qua phòng anh. Điều tôi không ngờ đến là dì Mafalda đã thay ga trải giường của anh – của chúng tôi. May mà sáng hôm đó tôi đã đòi anh đưa tôi Dợn-sóng lần nữa, sau khi bảo đảm là anh mặc nó suốt kỳ nghỉ ở Rome. Tôi đặt nó vào cái túi nhựa trong phòng khách sạn, và nhiều khả năng là sẽ phải giấu nó đi để tránh bất cứ ai tọc mạch trong suốt phần đời còn lại. Có những đêm tôi lấy Dợn-sóng ra khỏi túi, xem nó có bị ám mùi bao nhựa hay mùi đồ của tôi không, giữ nó cạnh mình, vẫy hai tay áo dài quanh mình, và thì thào tên anh trong bóng tối. Ulliva, Ulliva, Ulliva – đó là Oliver gọi tôi bằng tên anh khi anh bắt chước cách gọi biến âm của dì Mafalda và già Anchise; nhưng cũng là cách tôi gọi anh bằng tên anh, thầm mong anh sẽ gọi tôi bằng tên tôi, tôi nói ra với mình để anh biết, và trở lại với anh: Elio, Elio, Elio.
Để tránh vào phòng ngủ của mình từ ban công rồi thấy anh không còn, tôi dùng cầu thang trong. Tôi mở cánh cửa nối vào phòng mình, thả ba-lô xuống sàn, rồi nằm lên chiếc giường ấm áp, ngập nắng của mình. Biết ơn một điều. Họ chưa giặt tấm phủ giường. Bỗng nhiên tôi thấy vui vì đã về nhà. Tôi có thể ngủ đi ngay lúc ấy, ngay nơi ấy, quên hết về Dợn-sóng và mùi hương, quên cả chính Oliver. Ai có thể cưỡng nổi cơn buồn ngủ lúc hai ba giờ chiều ở những vùng đất ngập nắng xứ Địa Trung Hải?
Kiệt sức, tôi quyết định để chiều hẵng lấy cuốn sổ cải biên nhạc ra, rồi mở ra đúng ngay bản Haydn mà tôi dang dở. Hoặc là thế, hoặc vào sân quần vợt, ngồi trong nắng trên một trong những băng ghế chắn chắn sẽ mang lại cảm giác khỏe khoắn khắp thân người tôi, để xem có ai để chơi cùng. Lúc nào cũng có ai đó.
Tôi chưa từng đón đợi giấc ngủ đến trong yên bình đến thế. Rồi sẽ có thì giờ để tiếc nhớ, tôi nghĩ. Nó sẽ đến, rất có thể là thầm lặng, tôi từng nghe những chuyện thế này luôn tới trong thầm lặng, và sẽ không thể dứt bỏ dễ dàng. Trông đợi nỗi sầu để làm giảm bớt nỗi sầu – như thế là tầm thường, hèn nhát, tôi tự bảo, biết rằng mình là tay lão luyện trong chuyện này. Mà nếu nó tới mãnh liệt thì sao? Lỡ như nó tới rồi không chịu đi, một nỗi sầu cứ vương mãi, rồi khiến tôi lại như lúc bị nỗi khát khao anh giằng xé vào những đêm nọ, khi dường như có gì đó rất thiết yếu bị thiếu trong cuộc đời mình, hay như thiếu trong thân thể mình, cho nên giờ đây mất anh cũng giống như mất đi một bàn tay – ta có thể thấy điều này trong mọi bức hình trong nhà, nhưng không có thì ta không thể còn là mình nữa. Ta mất nó, ta luôn biết là sẽ như thế, thậm chí là sẵn sàng đón nhận mất mát, nhưng ta không thể khiến mình chung sống với sự mất mát. Và hi vọng không phải nghĩ đến, giống như cầu nguyện là sẽ không mơ đến, đau khổ cũng ngang nhau cả thôi.
Rồi một ý tưởng kỳ lạ choán lấy tôi: Nếu thân thể tôi – chỉ thân thể tôi, trái tim tôi – thổn thức đòi hỏi thân thể anh, trái tim anh, thì phải làm sao?
Nếu đêm đêm tôi không thể chịu nổi chính mình trừ khi tôi có anh kề bên, trong tôi? Vậy thì sao?
Nghĩ đến nỗi đau trước khi nó tới.
Tôi biết mình đang làm gì. Ngay cả trong giấc ngủ, tôi biết mình đang làm gì. Cố gắng tự miễn, đó là cái ta đang làm – rốt cuộc ta sẽ kết liễu tất cả chuyện này – thằng nhóc lén lút, ranh ma, đó là mi đấy, lén lút, vô tâm, xảo quyệt. Tôi cười với giọng nói ấy. Mặt trời đang soi vào tôi, tôi yêu mặt trời bằng thứ tình yêu gần như ngoại giáo đối với tất cả vạn vật của trần gian. Ngoại giáo, là mi đấy. Tôi chưa từng biết mình yêu mặt đất, mặt trời, biển cả – con người, vạn vật, dường như nghệ thuật cũng chỉ xếp thứ hai. Hay là tôi đang tự lừa mình?
Giữa chiều, tôi nhận ra mình thích ngủ, và không chỉ tìm chốn trú ẩn trong nó – giấc ngủ bên trong giấc ngủ, giống như giấc mơ bên trong giấc mơ, còn gì tuyệt hơn nữa? Một cảm giác ngây ngất thuần khiết vương vào tôi. Hôm nay hẳn là thứ tư, tôi nghĩ, quả vậy, khi người mài dao kéo dựng quầy trong sân chúng tôi, rồi bắt đầu mài từng mặt dao lưỡi kéo trong nhà, dì Mafalda luôn tán gẫu với anh ta khi đứng bên cạnh, tay cầm bình nước chanh cho anh trong khi anh tỉ mẩn làm việc với viên đá mài. Tiếng ken két mài xát cứ canh cách, rin rít trong cái nóng ban chiều, gửi đi những làn sóng âm hoan hỉ lên đến tận phòng tôi. Tôi chưa từng đủ sức thừa nhận với lòng mình Oliver đã khiến tôi vui sướng thế nào cái ngày anh nuốt trái đào của tôi. Tất nhiên việc ấy khiến tôi cảm động, và tự mãn nữa, dù cho cử chỉ của anh như nói rằng, Bằng từng tế bào trong thân thể mình, anh tin rằng từng tế bào của em không bao giờ được chết đi, mà nếu có phải chết đi, hãy để nó chết trong thân thể anh. Anh đã tháo chốt cánh cửa ban công mở hé từ bên ngoài, rồi bước vào – hôm ấy chúng tôi chả nói chuyện; anh không xin phép vào phòng gì cả. Tôi làm sao đây? Nói là, anh không được vào? Đó là lúc tôi giơ cánh tay lên chào anh, cho anh biết tôi đã thôi hờn dỗi, không bao giờ hờn dỗi nữa, và để anh nhấc tấm chăn ra mà vào giường tôi. Giờ đây, khi vừa nghe thấy tiếng đá mài giữa tiếng bầy ve, tôi biết mình hoặc sẽ thức dậy hoặc tiếp tục ngủ, cả hai đều tốt, mơ hoặc ngủ, cái này cũng như cái kia, tôi sẽ đón nhận một hoặc cả hai.
Tôi thức dậy thì đã gần năm giờ. Không còn muốn chơi quần vợt, cũng không có hứng thú làm tiếp bản nhạc Haydn nữa. Đi bơi thôi, tôi nghĩ. Tôi mặc đồ bơi vào rồi bước xuống cầu thang. Vimini đang ngồi trên gờ tường lửng cạnh ngôi nhà gia đình cô bé.
“Sao anh lại đi bơi?” Cô bé hỏi.
“Không biết. Thấy thích bơi. Đi cùng không?”
“Hôm nay thì không. Họ bắt em đội cái nón nực cười này nếu muốn ở ngoài trời. Trông em cứ như tên cướp Mexico vậy.”
“Này tướng cướp Pancho Vimini. Anh mà đi bơi thì em sẽ làm gì nào?”
“Em nhìn thôi. Trừ khi anh giúp em lên ngồi trên chỗ hòn đá, em sẽ ngồi đó, nhúng chân cho ướt, giữ nón trên đầu.”
“Vậy mình đi nào.”
Ta chẳng bao giờ cần phải hỏi để cầm tay Vimini. Bàn tay ấy chìa ra tự nhiên, cách mà người mù tự động cầm lấy khuỷu tay ta. “Mà đừng đi nhanh quá nhé,” cô bé nói.
Hai chúng tôi đi xuống cầu thang, rồi lúc tới rặng đá, tôi tìm tảng đá mà cô bé thích nhất, rồi ngồi xuống bên cạnh. Đây là chỗ ưa thích của cô bé với Oliver. Tảng đá âm ấm, và tôi thích cảm giác ánh nắng trên da mình giờ này buổi chiều. “Anh mừng là mình đã về,” tôi nói. “Các anh ở Rome có vui không?” Tôi gật đầu.
“Chúng em nhớ các anh.”
“Chúng em nào?”
“Em, với Marzia. Hôm bữa chị ấy tới tìm anh.”
“À.”
“Em kể với chị ấy các anh đi đâu. ”
“À,” tôi lặp lại.
Tôi biết rằng cô bé đang dò xét nét mặt mình. “Em nghĩ là chị ấy biết anh không thích chị lắm.” Tranh cãi chuyện này nào có ích gì.
“Rồi sao?” Tôi hỏi.
“Đâu có sao. Em chỉ thấy tội nghiệp cho chị ấy. Em kể là hai anh đi vội ghê lắm.”
Vimini rõ ràng là rất thích thú trò lừa của mình.
“Chị ấy có tin em không?”
“Em nghĩ là có. Nói vậy cũng đâu phải nói dối, anh biết mà.”
“Ý em là gì?”
“Thì cả hai anh đi mà chả thèm nói lời từ biệt.”
“Em nói phải. Mà bọn anh im lặng mà đi vậy không có ý gì đâu.”
“Ôi, anh thì em chả trách. Nhưng anh ấy thì em trách. Rất nhiều.”
“Tại sao?”
“Tại sao ư, Elio? Anh phải thứ lỗi cho em vì nói điều này, nhưng anh chả bao giờ thông minh được mấy.”
Phải một lúc tôi mới nhận ra cô bé đang nói tới chuyện gì. Rồi tôi chợt hiểu ra.
“Có khi anh cũng không bao giờ được gặp lại anh ấy nữa,” tôi nói.
“Không, anh thì vẫn có thể. Nhưng em thì không biết.”
Tôi thấy cổ họng thít nghẹn, nên tôi để cô bé ngồi trên tảng đá, rồi bắt đầu xuống nước. Đây chính là điều tôi dự đoán xảy đến. Tôi đã nhìn chằm chằm vào làn nước tối hôm ấy, và trong một phần giây tôi quên là anh không còn đây nữa, rằng chẳng ích gì khi ngoái lại nhìn lên bao lơn, nơi hình ảnh của anh vẫn còn chưa biến mất hẳn. Vậy mà mới vài giờ trước thôi, thân thể anh và tôi... Giờ đây có thể anh đã dùng bữa thứ hai trên máy bay, và sắp đáp ở sân bay JFK. Tôi biết rằng lòng anh đầy sầu khổ khi hôn tôi lần cuối trong buồng tắm ở sân bay Fiumicino, và ngay cả khi bị xao lãng bởi nước uống cùng bộ phim trên máy bay, khi anh một mình trong phòng ở New York, anh sẽ lại buồn, và tôi ghét nghĩ đến chuyện anh buồn, cũng như tôi biết anh sẽ ghét thấy tôi buồn trong căn phòng ngủ của chúng tôi, cái căn phòng đã trở lại thành phòng ngủ của tôi quá sớm.
Có ai đang tới rặng đá. Tôi cố nghĩ tới điều gì đó để xua đi nỗi u sầu, thế là vướng vào sự thật mỉa mai rằng cái khoảng cách chia rẽ Vimini và tôi chính là thứ đã chia rẽ tôi với Oliver. Bảy năm. Trong bảy năm ấy, tôi bắt đầu nghĩ, và đột nhiên nghe như vỡ òa trong cổ họng. Tôi lặn xuống nước.
Sau bữa ăn tối thì điện thoại reo. Oliver đã tới nơi an ổn. Phải, New York. Phải, cùng căn hộ, cùng những người ta, cùng tiếng ồn – không may là cùng thứ nhạc phát ra từ bên ngoài cửa sổ – em nghe thấy chứ. Anh giơ điện thoại ra ngoài cửa sổ, cho chúng tôi biết tí giai điệu Mỹ gốc Tây Ban Nha của New York. Đường Một-trăm-mườibốn, anh nói. Sắp đi ăn trưa muộn với đám bạn. Mẹ và cha tôi đều đang nói với anh bằng hai điện thoại riêng trong phòng khách. Tôi đang dùng điện thoại trong bếp. Bên này à? À, anh biết mà. Khách bữa tối như thường lệ. Mới vừa đi khỏi. Ừ, ở đây cũng nóng lắm. Cha tôi hi vọng là vụ này có kết quả tốt. Vụ này? Ở với chúng tôi, cha giải thích. Điều vui sướng nhất đời tôi. Nếu được là tôi tót lên cùng chiếc máy bay đó, chỉ mang mỗi cái áo dính lưng, đồ tắm biển, thêm cây bàn chải đánh răng. Mọi người cười vang. Rất sẵn lòng, caro, con trai à. Hai bên cười đùa qua lại. Cậu biết truyền thống của chúng tôi rồi, mẹ tôi giảng giải, cậu phải trở lại đây, dù chỉ là một vài ngày – nhưng ý mẹ đúng như thế, mà anh cũng biết. “Allora ciao, Oliver, e a presto, thôi chào nhé Oliver, nói sau,” mẹ nói. Cha tôi lặp lại gần giống câu đó, rồi nói thêm, “Dunque, ti passo Elio – vi lascio, thế nói chuyện với Elio nhé, tôi cúp đây.” Tôi nghe tiếng hai cái điện thoại cúp, không còn ai khác đang nghe. Cha tôi thật khéo. Nhưng được bất ngờ tự do với nhau xuyên qua hàng rào thời gian khiến tôi ớn lạnh. Chuyến đi của anh thế nào? Tốt. Anh có ghét đồ ăn bay không? Có. Anh có nghĩ về tôi không? Tôi hết câu hỏi, và nên thôi vồn vã hỏi thêm nữa. “Em nghĩ sao?” là câu trả lời mơ hồ của anh – như thể anh sợ ai đó có thể tình cờ nhấc điện thoại lên nghe? Vimini gửi lời. Rất buồn. Mai anh sẽ đi mua gì đó cho con bé, gửi qua đường thư khẩn. Anh sẽ nhớ Rome suốt đời. Em cũng vậy. Anh có thích phòng của anh không? Cũng được. Cửa sổ mở ra khoảng sân ồn ào, không có ánh mặt trời, chả đủ chỗ cho bất cứ gì, không biết là anh có nhiều sách tới vậy, giờ cái giường nhỏ quá. Ước gì bọn mình được bắt đầu lại trong căn phòng đó, tôi nói. Cả hai nhoài ra cửa sổ vào buổi tối, xoa vai nhau như bọn mình làm ở Rome – mỗi ngày cuộc đời em, tôi nói. Mỗi ngày cuộc đời anh nữa. Áo, bàn chải đánh răng, sổ cải biên, rồi anh sẽ bay trở lại, cho nên đừng xúi giục anh nữa. Anh đã lấy một thứ trong phòng em, anh nói. Là gì? Em không đoán nổi đâu. Gì chứ? Tự đi tìm mà xem. Rồi tôi nói điều ấy ra không phải vì đó là điều tôi muốn nói, mà là vì im lặng đang đè nặng lên chúng tôi, đây là điều dễ nhất để chen vào phút giây lưng chừng – và ít nhất tôi sẽ nói như thế: Em không muốn mất anh. Bọn mình sẽ viết thư. Tôi sẽ gọi từ bưu điện – vậy thì riêng tư hơn. Nghe nói là có tổ chức lễ Giáng sinh, rồi lễ Tạ ơn nữa. Ừa, Giáng sinh. Nhưng thế giới của anh tới khi ấy hãy còn có vẻ không cách biệt mấy với thế giới của tôi, như mảnh da mà Chiara từng tách ra khỏi vai anh thôi, bỗng nhiên vút xa diệu vợi. Đến Giáng sinh thì có lẽ không còn quan trọng nữa. Cho em nghe tiếng ngoài cửa sổ anh lần cuối đi. Tôi nghe tiếng lách cách. Cho em nghe tiếng anh khi anh... Một âm thanh khe khẽ, rón rén – bởi vì sợ người khác có mặt trong nhà. Chúng tôi bật cười. Thêm nữa, người ta đang chờ anh đi ra ngoài. Tôi ước gì anh đã không gọi. Tôi những muốn nghe anh gọi tên tôi lần nữa. Tôi định hỏi anh, giờ mình xa nhau rồi, xưa chuyện giữa anh với Chiara là thế nào. Tôi cũng quên hỏi anh đặt bộ đồ tắm màu đỏ ở đâu. Có khi anh quên lời tôi, nên mang nó theo luôn chăng.
Việc đầu tiên tôi làm sau cuộc điện thoại ấy là lên phòng mình để xem thứ anh lấy đi là gì mà có thể nhắc tôi nhớ về anh. Rồi tôi thấy chỗ trống không tô vàng trên tường. Cầu trời phù hộ anh. Anh đã lấy tấm bưu thiếp cổ, lộng khung có hình gò vẽ của Monet in hồi khoảng năm 1905. Một sinh viên Mỹ ở trọ trước đây đã moi nó ra chợ trời Paris hai năm về trước, gửi cho tôi làm kỷ niệm. Tấm bưu thiếp hoen màu được gửi lần đầu vào năm 1914 – có vài dòng chữ tiếng Đức ghi vội bằng mực nâu đỏ, gửi cho một vị bác sĩ ở nước Anh, cạnh đó anh chàng sinh viên Mỹ đề dòng chữ cho tôi bằng mực đen: Hãy nghĩ đến tôi một ngày nào đó. Bức ảnh sẽ nhắc Oliver nhớ lại buổi sáng khi tôi nói chuyện lần đầu. Hoặc cái ngày chúng tôi đi xe qua gò vẽ, vờ như không nhận ra nó. Hoặc cái ngày chúng tôi quyết định đi picnic ở đó, hứa là không chạm vào nhau, để rồi tận hưởng cảm giác nằm trên giường cùng nhau vào buổi chiều hôm ấy. Tôi muốn anh luôn có bức ảnh trước mắt anh mọi lúc, cả cuộc đời anh, trên bàn, trên giường, mọi thứ. Gắn nó vào mọi nơi anh đi, tôi nghĩ.
Thế là bí ẩn đã được vén màn, theo cái cách vẫn luôn xảy ra với tôi, trong giấc ngủ đêm ấy. Chuyện ấy chưa từng hiện ra trong đầu tôi. Vậy mà nó ở đó, nhìn tôi chằm chằm suốt hai năm trời. Anh tên là Maynard. Đầu một buổi chiều, biết đó là khi mọi người đang nghỉ ngơi, anh đến gõ vào cửa sổ phòng tôi để hỏi xem tôi có mực đen không – anh hết mực, anh nói vậy, và chỉ dùng mực đen, anh biết tôi cũng vậy. Anh bước vào. Tôi đang mặc mỗi cái quần tắm, đi lại bàn rồi đưa anh hũ mực. Anh nhìn tôi chằm chằm, đứng đó một chốc lóng ngóng, rồi nhận lấy hũ mực. Đêm hôm đó anh để cái hũ mực ngay ngoài cửa bao lơn của tôi. Bất kỳ ai khác sẽ gõ cửa để đưa trả. Khi ấy tôi mười lăm tuổi. Nhưng tôi sẽ không từ chối. Có lúc đang nói chuyện với anh tôi đã kể về chỗ tôi thích trên đồi.
Tôi chưa từng nghĩ đến anh cho tới khi Oliver lấy đi bức ảnh đó.
Một lát sau bữa tối, tôi thấy cha ngồi ở chỗ thường lệ bên bàn điểm tâm, ghế xoay ra hướng biển, trong lòng là các bản thảo cuốn sách mới nhất của ông. Ông đang uống trà hoa cúc như thường ngày, tận hưởng buổi tối. Bên cạnh ông là ba cây nến hương sả lớn. Bọn muỗi đêm nay tung hoành hết cỡ. Tôi xuống lầu đến bên ông. Đây là thời gian trong ngày hai cha con ngồi với nhau, mà tháng rồi tôi đã xao lãng.
“Kể cha nghe về Rome đi,” ông nói ngay khi thấy tôi sắp sửa ngồi xuống bên cạnh. Đây cũng là lúc ông cho phép mình hút điếu thuốc cuối ngày. Ông cất bản thảo đi bằng một cử chỉ có vẻ mỏi mệt, cho thấy thái độ giờ-tabắt-đầu-phần-hay-ho-đây, rồi châm điếu thuốc một cách nghịch ngợm bằng cây nến hương sả.
Đâu có gì để kể. Tôi lặp lại những gì đã nói với mẹ: khách sạn, khu Capitol, Villa Borghese, San Clemente, các nhà hàng. “Ăn tốt chứ?” Tôi gật đầu.
“Và uống cũng tốt chứ?”
Lại gật đầu.
“Làm những chuyện ông nội con sẽ bằng lòng chứ?” Tôi bật cười. Không, cái này thì không. Tôi kể với ông chuyện xảy ra gần Pasquino. “Hay ho làm sao, đi nôn ngay trước mặt một bức tượng tranh đấu!”
“Phim ảnh, nhạc nhẽo thì sao?”
Tôi có cảm giác rờn rợn là có thể ông đang lái câu chuyện sang hướng nào đó, hình như chính ông cũng không rõ. Tôi nhận ra điều này vì khi ông cứ hỏi những câu mấp mé chủ đề, tôi thấy mình bắt đầu tránh né còn trước khi cái bất ngờ chực chờ đâu đó còn chưa lộ diện. Tôi nói về tình trạng dơ bẩn thường trực, xuống cấp của những quảng trường ở Rome. Cái nóng, thời tiết, xe cộ, quá nhiều nữ tu. Nhà thờ kia nọ dừng hoạt động. Vôi gạch đổ nát khắp nơi. Công trình phục dựng thì xác xơ. Rồi tôi phàn nàn về con người, về du khách, về những chuyến xe buýt mini nhận rồi thả ra đàn đàn lũ lũ người ta mang máy ảnh và đội mũ bóng chày.
“Có xem qua mấy sân trong nhà riêng mà cha kể với con không?”
Tôi đoán là hai chúng tôi đã không xem qua mấy sân trong nhà riêng mà ông kể với chúng tôi.
“Có thăm tượng Giordano Bruno chứ?” Ông hỏi.
Chắc chắn là có. Suýt nữa thì lại nôn bên tượng đêm ấy.
Hai cha con bật cười.
Im lặng giây lát. Ông rít thêm một hơi thuốc.
Bắt đầu đây.
“Các con có một tình bạn đẹp.”
Lời này bạo dạn hơn tôi mong đợi.
“Vâng,” tôi đáp, cố gắng để chữ “vâng” của mình lơ lửng trong không trung như được nâng bởi một phủ định từ bị kìm nén vào lúc chót. Tôi chỉ mong ông không bắt được cái sắc thái Vâng, thì sao? hơi thù địch, tránh né và dường như mỏi mệt trong giọng mình.
Dẫu vậy, tôi cũng mong ông sẽ bắt lấy cơ hội vì cái sự Vâng, thì sao? trong lời đáp của tôi để mà mắng mỏ tôi, như ông thường làm, vì cái tội khắc nghiệt, dửng dưng hoặc ưa chỉ trích đối với những người có đầy đủ lý do để tự xem là bạn bè tôi. Rồi có thể ông sẽ chua thêm cái câu cũ rích là tình bằng hữu tốt hiếm hoi đến thế nào, ngay cả khi người ta khó gần trong một thời gian, nhưng họ đều có ý tốt, và mỗi người đều có gì đó hay ho để truyền cho ta. Không có ai là một hòn đảo biệt lập, không thể tự ngăn cách ta với kẻ khác, người cần có người, vân vân.
Nhưng tôi đoán nhầm.
“Con chắc đủ khôn ngoan để biết cái mà hai đứa con có được nó quý hiếm, đặc biệt đến mức nào.”
“Oliver là Oliver,” tôi nói như để tổng kết lại.
“Parce que c’était lui, parce que c’était moi, bởi vì đó là người, bởi vì đó là tôi” cha tôi trích lời giải thích của Montaigne về tình bạn của ông với Etienne de la Boétie.
Tôi ngẫm nghĩ, nhưng là về câu của Emily Bronte: bởi vì “người là ta nhiều hơn cả ta.”
“Oliver có thể rất thông minh,” tôi bắt đầu. Một lần nữa, tôi lên giọng như thông báo một chữ nhưng đang lơ lửng vô hình giữa hai cha con. Bất cứ gì để ngăn cha tôi đưa đẩy thêm theo lối này.
“Thông minh ấy à? Anh ta còn hơn cả thông minh. Điều hai con có với nhau vừa rất mực liên quan, vừa lại không hề liên quan đến trí thông minh. Anh ta tốt, và hai con may mắn tìm được nhau, bởi vì hai con đều tốt.”
Cha tôi chưa bao giờ nói về lòng tốt cách này. Thế là tôi bị tước vũ khí.
“Con nghĩ anh ấy tốt hơn con, papa à.”
“Cha chắc chắn anh ta cũng sẽ nói vậy về con, điều đó tán dương cả hai.”
Ông sắp sửa gõ điếu thuốc, và lúc cúi người về cái gạt tàn, ông chìa tay ra chạm vào tay tôi.
“Điều sắp tới đây sẽ rất khó khăn,” ông bắt đầu nói bằng giọng khác. Giọng ấy có ý: Chúng ta không phải nói về nó, nhưng đừng giả vờ rằng chúng ta không biết điều cha đang nói.
Nói trừu tượng là cách duy nhất để bày tỏ sự thật với ông.
“Đừng sợ. Nó sẽ tới. Ít nhất thì cha hi vọng nó tới. Mà tới khi con ít ngờ nhất. Giới tự nhiên vẫn luôn tinh ranh trong chuyện tìm ra điểm yếu nhất của ta. Chỉ cần nhớ: Cha ở đây. Ngay lúc này có lẽ con không muốn cảm nhận bất cứ gì. Có lẽ con chưa từng mong ước cảm nhận bất cứ gì. Rồi có lẽ cha không phải là người con muốn chia sẻ những điều này. Nhưng hãy cảm nhận điều con đã nói.” Tôi nhìn ông. Đây là lúc tôi nên lừa dối, nên nói rằng ông hoàn toàn lạc hướng. Tôi đã sắp sửa.
“Này,” ông cắt ngang. “Con có một tình bạn đẹp. Có lẽ hơn cả tình bạn. Cha ghen tị với con. Ở địa vị của cha, hầu hết các vị phụ huynh sẽ mong toàn bộ chuyện đó biến đi, hoặc cầu nguyện rằng con trai của họ vượt qua cho chóng. Nhưng cha không phải một phụ huynh như thế. Ở địa vị của con, nếu có nỗi đau, hãy nuôi dưỡng nó, và nếu ngọn lửa bùng lên, đừng dập tắt nó, đừng tàn bạo với nó. Sự rút lui có thể là thứ kinh khủng khi nó khiến ta tỉnh thức vào đêm, và khi những kẻ khác quên ta đi nhanh hơn ý muốn của ta. Ta hi sinh bản thể quá nhiều để được chữa lành cho nhanh chóng, thế nên đến năm ba mươi tuổi ta đã cạn kiệt, chả còn gì để trao đi mỗi khi bắt đầu với một người mới. Nhưng chuyện không cảm nhận gì hết để tránh cảm nhận một điều cụ thể – thật là lãng phí!”
Tôi không thể hiểu được tất cả những lời này. Tôi chết lặng.
“Cha nói điều gì không nên à?” Ông hỏi.
Tôi lắc đầu.
“Vậy thì để cha nói thêm điều này nữa. Nó sẽ giải tỏa cảm giác khó khăn. Có thể cha đã tới gần sát, nhưng chưa từng có được điều con có. Có gì đó luôn níu cha lại, hoặc cản lối. Con sống cuộc đời con thế nào là chuyện của con. Nhưng hãy nhớ, trái tim và thân thể ta chỉ được nhận có một lần thôi. Hầu hết mọi người sống cứ như là có hai cuộc đời để sống vậy, một cuộc đời làm nháp, một cuộc đời hoàn chỉnh, rồi mọi phiên bản khác ở giữa. Nhưng chỉ có một mà thôi, trước khi con kịp nhận ra thì tim con đã mòn mỏi, còn thân thể con thì sẽ đến lúc chả ai thèm nhìn nữa chứ đừng nói là tới gần. Ngay lúc này thì có sầu khổ đó. Cha không ghen tị với nỗi đau. Nhưng cha ghen tị với nỗi đau của con.” Ông hít thở một hơi.
“Chúng ta sẽ không được nói về chuyện này nữa. Nhưng cha hi vọng con sẽ không bao giờ ghét cha vì ta đã nói chuyện. Cha sẽ là một người cha kinh khủng nếu một ngày nào đó con muốn nói chuyện nhưng lại cảm thấy cánh cửa đã đóng hoặc mở không đủ.”
Tôi muốn hỏi làm sao mà ông biết được. Nhưng rồi sao mà lại không? Sao mọi người có thể không biết? “Mẹ có biết không?” Tôi hỏi. Tôi định nói là nghi ngờ nhưng tự sửa lại. “Cha không nghĩ mẹ biết.” Giọng ông có nghĩa là, Mà có biết đi nữa, cha chắc thái độ của mẹ sẽ không khác gì cha.
Hai cha con tạm biệt. Lúc lên lầu, tôi nguyện là sẽ hỏi về cuộc đời ông. Chúng tôi đã nghe về những phụ nữ của ông thời trẻ, nhưng tôi chưa hề biết gì về những thứ khác.
Liệu cha tôi có phải là ai đó khác? Nếu ông là ai đó khác, thì tôi là ai?
Oliver giữ lời hứa. Anh trở lại ngay trước Giáng sinh, ở tới ngày đầu năm mới. Lúc đầu thì anh mệt rũ vì đổi múi giờ. Anh cần thời gian, tôi nghĩ. Nhưng tôi cũng vậy. Anh dành nhiều giờ đồng hồ hầu hết là với cha mẹ tôi, rồi với Vimini, cô bé vui sướng xiết bao khi thấy chẳng có gì thay đổi giữa họ. Tôi đã bắt đầu sợ chúng tôi sẽ trượt về những ngày đầu của chúng tôi – ngoại trừ những lời xã giao trong sân vườn thì chỉ có tránh mặt, dửng dưng. Vì sao cú điện thoại của anh không giúp tôi sẵn sàng cho việc này? Có phải tôi là người có lỗi trong chuyện chúng tôi lạnh nhạt? Hay cha mẹ tôi nói gì chăng? Có phải anh trở lại vì tôi? Hay vì họ, vì ngôi nhà, để rồi ra đi? Anh đã trở lại vì quyển sách của anh, vốn được xuất bản ở Anh, Pháp, Đức, và rốt cuộc sắp ra mắt ở Ý. Đó là một quyển sách trang nhã, và tất cả chúng tôi đều mừng cho anh, gồm cả người chủ hiệu sách ở B. , ông ta hứa mở tiệc sách vào mùa hè năm sau. “Có lẽ được. Chúng tôi sẽ cân nhắc,” Oliver nói sau khi chúng tôi ghé hiệu sách bằng xe đạp. Quầy bán kem đã đóng cửa theo mùa. Tiệm hoa và tiệm thuốc mà chúng tôi ghé vào lúc rời gò vẽ lần đầu tiên ấy, lần anh cho tôi xem anh bị trầy xước kinh khủng thế nào, cũng đã đóng cửa. Chúng đều thuộc về thời xửa xưa nào. Thị trấn trống trải, bầu trời xám đen. Một đêm nọ, anh nói chuyện lâu với cha tôi. Rất có thể là họ bàn về tôi, hoặc kế hoạch vào đại học của tôi, hoặc mùa hè rồi, hoặc quyển sách mới của anh. Khi họ mở cửa, tôi nghe tiếng cười trong hành lang dưới lầu, mẹ tôi hôn anh. Một lát sau có tiếng gõ cửa phòng tôi, không phải cửa chớp – vậy thì lối vào ấy phải được đóng kín vĩnh viễn. “Nói chuyện chút nhé?” Tôi đã vào giường. Anh đang mặc áo khoác len, hình như mặc vậy để đi dạo. Ngồi xuống mép giường tôi, anh trông bồn chồn như tôi lần đầu trong căn phòng khi trước thuộc về anh. “Xuân năm sau có thể anh cưới,” anh nói. Tôi chết lặng. “Nhưng chưa nghe anh nói gì cả. ”
“À chuyện cứ khi này khi khác cũng hơn hai năm rồi. ”
“Em thấy đây là tin tuyệt vời,” tôi nói. Người ta cưới nhau luôn là tin tuyệt vời, tôi vui cho họ, hôn nhân thì tốt lành, và nụ cười tươi trên mặt tôi chắc là đủ thật, ngay cả khi một thoáng sau đó tôi nghĩ ra rằng tin như thế có thể không tốt đối với chúng tôi. Tôi có phật ý chăng? Anh hỏi. “Anh ngốc quá,” tôi nói. Im lặng hồi lâu. “Giờ anh vào giường chứ nhỉ?” Tôi hỏi. Anh nhìn tôi thận trọng. “Một lát. Nhưng anh không muốn làm gì cả đâu.” Nghe như phiên bản cập nhật, bóng bẩy hơn của Có lẽ để sau. Vậy là chúng ta trở lại đó, đúng không? Tôi bỗng muốn bắt chước anh, nhưng kìm lại. Anh nằm bên cạnh tôi, trên tấm chăn, vẫn mặc nguyên áo len. Thứ duy nhất anh cởi ra là đôi giày bệt. “Em nghĩ chuyện này sẽ kéo dài bao lâu?” Anh nhăn nhó hỏi. “Hi vọng là không lâu.” Anh hôn môi tôi, nhưng đó không phải cái hôn sau chuyện bên tượng Pasquino, lúc anh ép chặt tôi vào tường ở phố via Santa Maria dell’Anima. Tôi nhận ra mùi vị này lập tức. Không nhận biết được mình đã thích nó đến thế nào, hay đã nhớ nhung nó bao lâu. Thêm một thứ nữa cho vào danh sách những gì tôi sẽ nhớ trước khi mất anh mãi mãi. Tôi sắp sửa chui ra khỏi chăn. “Anh không thể thế này,” anh nói, rồi bật ra xa. “Em thì có thể,” tôi đáp. “Ừa, nhưng anh thì không.” Hẳn ánh mắt rất sắc lạnh, bởi anh đột nhiên nhận thấy tôi giận dữ đến mức nào. “Anh rất muốn cởi quần áo em ra, rồi ít nhất là ôm em. Nhưng anh không thể.” Tôi quàng tay ôm đầu anh, giữ lấy. “Vậy có lẽ anh không nên ở lại. Họ biết chuyện của mình. ”
“Anh biết,” anh đáp. “Sao biết? ”
“Qua cách cha em nói chuyện. Em may đó. Nếu là cha anh, anh sẽ bị tống vào trường cải tạo.” Tôi nhìn anh: Tôi muốn được hôn lần nữa.
Tôi nên, tôi có thể cưỡng ép anh.
Đến sáng hôm sau, mọi thứ chính thức thành ra lạnh lùng.
Tuần đó có một sự kiện nho nhỏ xảy ra. Chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong phòng khách sau giờ ăn trưa, cha tôi mang ra một bìa hồ sơ bằng giấy manila, trong có sáu tờ đơn cùng với bản sao hộ chiếu của từng người viết đơn. Là các khách xin trọ mùa hè tới. Cha tôi muốn hỏi ý Oliver, rồi chuyền bìa hồ sơ sang mẹ tôi, tôi, và một giáo sư ghé dùng bữa trưa cùng vợ – cũng là một đồng nghiệp ở đại học, đã tới vào mùa này năm trước. “Người kế tục tôi,” Oliver nói, chọn ra một tờ đơn rồi chuyền quanh. Cha tôi theo bản năng liếc nhìn về phía tôi, rồi thôi ngay.
Gần ngày này năm trước, chuyện y hệt đã xảy ra. Pavel, người đến sau Maynard, đã tới thăm vào Giáng sinh, khi xem qua các giấy tờ đã mạnh dạn đề nghị một người từ Chicago – thực ra anh ta biết người đó rất rõ. Pavel và mọi người khác trong phòng khá lãnh đạm với vị nghiên cứu sinh sau tiến sĩ giảng dạy ở Columbia chuyên cái gì không chuyên lại chuyên về triết tiền Socrate. Tôi dành nhiều thời giờ hơn cần thiết để nhìn vào ảnh của anh ta, nhẹ nhõm khi thấy mình chẳng có cảm giác gì.
Giờ đây nghĩ lại, tôi dám chắc chắn rằng mọi thứ giữa chúng tôi đã bắt đầu trong chính căn phòng này, vào kỳ nghỉ Giáng sinh.
“Tôi đã được tuyển lựa thế này ư?” Anh hỏi, thái độ thành khẩn đến là vụng về, điều này luôn khiến mẹ tôi xiêu lòng.
“Em muốn đó là anh,” tối hôm đó tôi nói với Oliver lúc giúp anh chất đồ lên xe vài phút trước khi chú Manfredi đưa anh ra ga. “Em bảo đảm sao cho họ chọn anh.”
Đêm ấy tôi lục lọi trong tủ của cha tôi, tìm ra hồ sơ đơn xin trọ của những người năm rồi. Tôi tìm được bức ảnh của anh. Sơ-mi hở khuy cổ, Dợn-sóng, tóc dài, vẻ mặt như một ngôi sao điện ảnh bị chụp lén. Thảo nào tôi đã nhìn chằm chằm bức ảnh. Ước gì tôi nhớ được mình đã cảm nhận gì vào chính buổi chiều đó hồi năm ngoái – cơn khao khát bùng lên rồi ngay lập tức gặp phải thứ thuốc giải là nỗi sợ. Con người thật của Oliver, và mỗi Oliver ngày tiếp theo mặc một bộ độ tắm khác màu, hoặc Oliver nằm khỏa thân trên giường, hoặc là người bên bậu cửa sổ khách sạn chúng tôi ở Rome, đứng giữa cái hình ảnh rắc rối và hỗn độn mà tôi vẽ nên anh khi lần đầu nhìn vào bức ảnh chụp anh.
Tôi nhìn mặt những khách xin trọ khác. Người này không đến nỗi tệ. Tôi bắt đầu thắc mắc cuộc đời mình sẽ thế nào nếu tôi đã chọn ai khác. Tôi sẽ không đi Rome. Nhưng có thể tôi sẽ đi nơi khác. Sẽ không biết chút gì về San Clemente. Nhưng tôi có thể khám phá ra điều gì khác mà tôi đã bỏ lỡ và chẳng bao giờ biết được. Sẽ không thay đổi, sẽ không bao giờ là con người tôi hôm nay, sẽ trở thành con người khác.
Tôi tự hỏi con người khác đó giờ đây là ai. Liệu hắn có vui hơn chăng? Liệu tôi có thể nhúng mình vào cuộc đời hắn vài giờ, vài ngày để tận mục – không chỉ để kiểm tra xem cuộc đời khác ấy có tốt hơn, hay để đo đếm hai cuộc đời của tôi và hắn khác nhau diệu vợi đến mức nào bởi vì Oliver, nhưng cũng là để cân nhắc điều tôi sẽ nói với phiên bản khác của mình nhỡ khi tôi đến thăm hắn ngày nào đó. Liệu tôi có thích hắn, hắn có thích tôi, liệu có ai trong số chúng tôi hiểu tại sao người kia thành ra như thế, liệu có ai ngạc nhiên khi biết mỗi người thực ra đã tình cờ gặp Oliver theo cách này hay cách khác, là đàn ông hay đàn bà, và rằng chúng tôi rất có thể là cùng một người, bất kể người đến ở cùng với chúng tôi mùa hè ấy là ai đi nữa?
Chuyện là mẹ tôi ghét Pavel, và ép cha tôi từ chối bất kỳ ai mà Pavel đề nghị, mẹ là người xoay chuyển số mệnh. Bà nói, có thể chúng ta là người Do Thái kín đáo, nhưng tên Pavel này là kẻ bài Do Thái, mà tôi thì không muốn có thêm một kẻ như thế trong nhà.
Tôi nhớ cuộc nói chuyện đó. Nó cũng đã in hằn lên bức ảnh gương mặt anh. Hóa ra anh cũng là người Do Thái, tôi nghĩ.
Và rồi đêm đó, tôi làm điều mình đã định làm từ thuở đầu trong phòng làm việc của cha. Tôi giả vờ không biết anh chàng Oliver này là ai. Khi này là Giáng sinh năm trước. Pavel vẫn đang cố thuyết phục chúng tôi cho người bạn của hắn đến trọ. Mùa hè chưa xảy đến. Oliver rất có thể sẽ tới bằng taxi. Tôi sẽ mang hành lý cho anh, chỉ anh về phòng mình, đưa anh ra bãi biển theo lối bậc thang xuống rặng đá, và rồi nếu còn thì giờ, cho anh xem vòng quanh khu đất, xa tới tận trạm dừng đường tàu cũ, và nói gì đó về đám người gypsy sống trong các toa tàu mang huy hiệu hoàng gia của gia tộc Savoy. Vài tuần sau, nếu chúng tôi rỗi, chúng tôi có thể đi xe đạp đến B. Chúng tôi sẽ dừng để giải khát. Tôi sẽ chỉ cho anh hiệu sách. Rồi tôi sẽ chỉ anh gò vẽ của Monet. Tất cả hãy còn chưa xảy đến.
Chúng tôi hay tin đám cưới của anh vào mùa hè năm sau. Chúng tôi gửi quà, tôi thì góp một câu dí dỏm. Mùa hè tới rồi qua đi. Tôi thường bị xúi giục kể với anh về “người kế tục” của anh và thêu dệt đủ chuyện về người hàng xóm mới ở lầu dưới. Nhưng tôi không gửi gì cho anh cả. Lá thư duy nhất tôi gửi hồi năm ngoái là để kể với anh Vimini đã chết. Anh viết cho tất cả chúng tôi, nói rằng anh rất tiếc. Anh đang du lịch ở Á châu, thế nên khi lá thư tới chỗ chúng tôi, phản ứng của anh với cái chết của Vimini thay vì xoa dịu một vết thương há hốc dường như lại cào xới vào vết thương đã tự lành. Viết cho anh kể về cô bé giống như vượt qua cây cầu cuối cùng giữa chúng tôi, nhất là sau khi đã rõ rằng chúng tôi sẽ chẳng bao giờ nhắc đến cái đã từng tồn tại giữa chúng tôi, hoặc thậm chí là chuyện sẽ không nói về nó. Viết thư cũng là cách tôi báo cho anh đại học mà tôi theo học ở Mỹ, phòng khi cha tôi, vốn giữ liên lạc thư từ thường xuyên với các khách trọ cũ, chưa kể với anh. Mỉa may là Oliver hồi âm về địa chỉ của tôi ở Ý – thêm một lý do chậm trễ nữa.
Rồi đến những năm trống rỗng. Nếu tôi chấm phẩy cuộc đời mình bằng những người mà tôi ngủ chung giường, và nếu những người này có thể được chia thành hai mục – trước và sau Oliver – thì món quà tuyệt vời nhất mà cuộc đời có thể ban cho tôi đó là dời người làm mốc phân chia ấy lên trước. Nhiều người đã giúp tôi chia cuộc đời thành Trước X và các phần Sau X, nhiều người mang tới niềm vui cùng nỗi sầu, nhiều người khiến cuộc đời tôi chệch hướng, trong khi những người khác chả làm nên thay đổi gì, thế nên Oliver, người từ đời thuở nào đã sừng sững như điểm tựa cán cân cuộc đời, rốt cuộc có những người kế tục khiến anh lu mờ, hoặc biến anh thành một biển chỉ đường xa xưa, một ngã ba không tên trên đường, Hải Vương Tinh trên hành trình tới Diêm Vương Tinh và xa hơn nữa. Tưởng tượng xem nào, tôi có thể nói: vào thời điểm tôi biết Oliver, tôi vẫn chưa gặp người này-người nọ. Vậy mà cuộc sống không có người này-người nọ thì tôi không tưởng tượng ra được.
Một mùa hè, chín năm sau lá thư cuối của anh, tôi đang ở Mỹ thì nhận được một cú điện thoại từ cha mẹ. “Con không đoán nổi ai đang ở với chúng ta hai ngày đâu. Trong phòng ngủ cũ của con đó. Người đó đang đứng ngay trước mặt chúng ta đây.” Tất nhiên tôi đoán ra, nhưng vờ như không. “Con đoán ra rồi mà không chịu nói, điều này nhiều ý nghĩa,” cha tôi cười thầm trước khi chào. Cha mẹ tranh giành nhau ai phải chuyền máy cho người kia. Rốt cuộc thì giọng anh vang lên. “Elio,” anh nói. Tôi có thể nghe tiếng cha mẹ và đám trẻ con phía xa. Không ai có thể nói tên tôi cách ấy. “Elio,” tôi lặp lại để cho biết tôi đang nghe máy, nhưng cũng để nhắc nhớ về trò chơi ngày xưa, và rằng tôi không quên gì cả. “Oliver đây,” anh nói. Anh quên rồi.
“Họ cho tôi xem hình, cậu không thay đổi gì,” anh nói. Anh kể về hai đứa con trai đang chơi đùa trong phòng khách cùng mẹ tôi, tám và sáu tuổi, tôi phải gặp vợ anh, anh rất vui khi tới đây, cậu không biết đâu, không biết đâu. Đó là chốn đẹp nhất thế gian, tôi nói, vờ tỏ ý rằng anh vui là vì nơi chốn. Cậu không hiểu được tôi vui đến thế nào khi đến đây. Lời nói của anh lủng củng, anh đưa điện thoại lại cho mẹ tôi. Mẹ trước khi quay sang tôi vẫn nói với anh những từ âu yếm. “Ma s’è tutto commosso, nó vui đến nghẹn lời,” rốt cuộc bà nói với tôi. “Ước gì con được bên cạnh mọi người,” tôi đáp, trong lòng khổ sở vì một người tôi đã gần như không còn nghĩ đến. Thời gian làm cho ta thành ra đa cảm. Có lẽ đến lúc cuối ta khổ là do thời gian.
Bốn năm sau, lúc đi ngang qua khu đại học của anh, tôi làm một chuyện khác thường. Tôi quyết định lộ diện. Tôi ngồi trong giảng đường lớp chiều của anh, rồi sau giờ học, lúc anh đang cất sách vở, xếp giấy tờ vào bìa, tôi bước lại gần. Tôi sẽ không bắt làm khó, bắt anh đoán tôi là ai, nhưng cũng sẽ không dễ dầu gì.
Một sinh viên muốn hỏi anh gì đó. Thế nên tôi đợi lượt mình. Rồi thì sinh viên kia đi khỏi. “Chắc là anh không nhớ tôi đâu,” tôi mở lời, anh liếc nhìn cố nhớ ra. Bỗng nhiên anh trở nên xa xôi, cứ như vì sợ chúng tôi đã gặp nhau ở một nơi anh chẳng thèm nhớ. Anh làm vẻ mặt dò xét, mỉa mai, chất vấn, thêm nụ cười không thoải mái, nhăn nhúm, giống như đang nghĩ trong đầu, Tôi e là anh nhầm tôi với ai rồi. Rồi anh dừng. “Ôi trời, Elio!” Anh nói hàm râu quai nón khiến tôi trông lạ hoắc. Anh ôm tôi, rồi vỗ nhẹ vài cái vào gương mặt lông lá của tôi như thời tôi còn non dại mùa hè xa xưa ấy. Anh ôm tôi cái cách anh không thể ép mình ôm cái đêm anh bước vào phòng tôi để báo là anh sắp cưới. “Bao nhiêu năm rồi nhỉ?”
“Mười lăm. Tôi đếm trên đường tới đây.” Rồi nói thêm: “Thực ra, không đúng. Tôi luôn biết là bao lâu.”
“Mười lăm năm rồi. Nhìn cậu mà xem!”
“Này,” anh nói, “đến chơi uống rượu, dùng bữa tối, ngay đêm nay, ngay bây giờ, gặp vợ tôi, các con tôi, nhé. Đi, đi, đi mà.”
“Tôi muốn lắm...”
“Tôi phải cất chút đồ ở văn phòng tôi, rồi ta đi. Đi bộ ra bãi đậu xe thú lắm.”
“Anh không hiểu. Tôi muốn. Nhưng tôi không thể.”
Hai chữ “không thể” có nghĩa là tôi rỗi để đến thăm nhà nhưng tôi không thể khiến mình làm việc ấy.
Anh nhìn tôi trong lúc vẫn đang cất giấy tờ vào cặp da.
“Cậu chưa từng tha thứ cho tôi, có phải không?”
“Tha thứ gì? Đâu có gì để mà tha thứ. Tôi biết ơn về mọi chuyện thì có. Tôi chỉ nhớ những chuyện tốt thôi.” Tôi đã nghe người ta nói vậy trong phim ảnh. Có vẻ như họ tin điều ấy.
“Vậy thì là gì?” Anh hỏi.
Chúng tôi rời phòng học, bước vào khu học đường chung, nơi ánh hoàng hôn mùa thu uể oải trên bờ biển phía đông ném sắc dạ quang màu cam lên những ngọn đồi kề nhau.
Làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho anh hiểu, hoặc cho tôi hiểu lý do tôi không thể đến nhà anh, gặp gia đình anh, dù trong lòng tôi rất muốn? Vợ Oliver. Các con trai Oliver. Các thú nuôi Oliver. Phòng làm việc, bàn, sách, thế giới, cuộc đời Oliver. Tôi đã mong đợi gì? Một cái ôm, một cái bắt tay, câu nói chiếu lệ này-gặp-nhau-vui-quá, rồi câu Sau nhé!? không thể tránh khỏi ư.
Cái khả năng gặp gỡ gia đình anh bất chợt khiến tôi hoảng sợ – quá thật, quá đột ngột, quá sỗ sàng, chưa tập dượt gì cả. Qua nhiều năm, tôi đã đẩy anh vào cái quá khứ miên viễn của mình, người tình thời quá khứ hoàn thành, để yên anh đấy, nhét đầy anh bằng ký ức và long não giống như một vật phẩm trang trí làm từ thú săn, và lấy đó tin là thật, giống như bóng ma hằng đêm. Thi thoảng tôi sẽ gỡ anh xuống phủi bụi, rồi đặt trả lại mặt lò sưởi. Anh không còn thuộc về cõi này, cuộc đời này. Điều có lẽ lúc này tôi khám phá ra không phải là con đường chúng tôi chọn quá cách xa nhau, mà là biện pháp mất mát sắp sửa hại tôi – sự mất mát mà tôi không ngại khi nghĩ đến một cách trừu tượng, nhưng lại gây đau khi nhìn trực diện vào, cái cách mà hoài niệm vẫn gây khổ đau rất lâu sau khi ta đã thôi nghĩ về những điều mất mát và có thể xưa ta cũng chẳng quan tâm.
Hay đó là vì tôi ghen tị với gia đình anh, ghen với cuộc đời anh đã tạo ra cho mình, hay với những gì tôi chưa từng chia sẻ và không thể nào biết tới? Những điều anh khát khao, yêu, và mất, và sự mất mát của ai đã khiến anh tan vỡ, nhưng sự hiện diện của ai trong đời anh khi anh có họ, tôi không có mặt để chứng kiến, và không hề biết tí gì. Tôi không có mặt khi anh đoạt được họ, không có mặt khi anh từ bỏ họ. Hay nó đơn giản hơn rất nhiều? Tôi đã tới để xem liệu mình có cảm nhận gì chăng, xem chút tình xưa còn vương vấn chăng. Rắc rối là tôi cũng chẳng muốn còn vương vấn gì hết.
Tất cả những năm qua, bất cứ khi nào nghĩ đến anh, tôi nghĩ về hoặc là thị trấn B. hoặc là những ngày cuối chúng tôi ở Rome, hai điều ấy dẫn tới hai cảnh: bao lơn cùng nỗi thống khổ đi kèm, và con phố Santa Maria dell’Anima, nơi anh đã ép chặt tôi vào bức tường cũ kỹ và hôn tôi rồi sau cùng để tôi vòng một chân quanh chân anh. Mỗi lần tôi trở lại Rome, tôi trở lại điểm ấy. Nó vẫn còn vương vấn trong tôi, vẫn còn vang vọng thứ gì đó rất đỗi hiện hữu, cứ như một quả tim bị đánh cắp khỏi câu chuyện kinh dị của Poe còn đang đập dưới viên đá hoa lát đường từ thời cổ đại kia để nhắc tôi nhớ rằng, nơi đây, rốt cuộc tôi đã gặp được cuộc đời đúng đắn cho mình, nhưng không có được nó. Tôi chẳng thể nghĩ tới anh khi ở New England. Khi sống ở New England được một dạo, và cách xa anh không quá tám mươi cây số, tôi tiếp tục tưởng tượng anh vẫn còn kẹt lại đâu đó ở nước Ý, như mộng ảo, như bóng ma. Bây giờ, hóa ra không chỉ các thị trấn ở New England rất đỗi sống động, mà anh cũng vậy. Tôi có thể dễ dàng xông vào chiếm lấy anh nhiều năm về trước, mặc kệ anh có cưới hay không cưới ai kia – trừ khi ngược đời ở chỗ người từ đầu đã mờ ảo như hình như bóng lại là tôi.
Hay tôi đã tới vì một mục đích hèn mọn hơn nhiều? Để thấy anh đang sống một mình, chờ đợi tôi, khao khát được đưa trở về B. ? Phải, cuộc đời hai chúng tôi lay lắt, chờ thời khắc rốt cuộc chúng tôi gặp lại nhau rồi tìm đường về lại tượng đài Piave.
Thế rồi câu nói vang lên từ miệng tôi: “Sự thật là tôi không chắc mình sẽ không cảm thấy gì. Và nếu tôi gặp gia đình anh, tôi muốn là mình không cảm thấy gì cả.” Sau đó là im lặng đáng sợ. “Có lẽ nó chưa bao giờ mất đi.”
Đó có phải sự thật? Hay vì khoảnh khắc ấy mong manh và căng thẳng khiến tôi thốt nên những lời tôi chưa từng thừa nhận, và vẫn không thể đoán chắc là thật? “Tôi nghĩ chuyện xưa chưa bao giờ mất đi,” tôi lặp lại.
“Ra vậy,” anh nói. Hai chữ ra vậy là cách duy nhất để tổng kết lại những điều không chắc chắn trong tôi. Nhưng có lẽ anh cũng có ý nói Ra vậy, rồi sao? như để chất vấn rằng có gì sốc khi sau bao nhiêu năm tôi vẫn còn muốn anh nhiều đến vậy.
“Ra vậy,” tôi lặp lại, như đang đề cập đến những cơn đau, những nỗi sầu khổ thất thường của một bên thứ ba nhặng xị là tôi.
“Vậy, đó là lý do cậu không thể tới làm vài ly sao?”
“Phải, đó là lý do tôi không thể đến làm vài ly.”
“Đúng là tên ngốc!”
Tôi đã quên hẳn chữ anh dùng.
Chúng tôi vào văn phòng anh. Anh giới thiệu tôi với hai hoặc ba đồng nghiệp tình cờ đang ở trong phòng lúc ấy, khiến tôi ngạc nhiên vì anh rất đỗi quen thuộc với từng khía cạnh trong sự nghiệp của tôi. Anh biết mọi thứ, biết tin tức mới nhất cả những chi tiết chẳng quan trọng gì. Trong vài trường hợp, chắc chắn anh đã sục sạo được những thông tin chỉ có trên mạng. Điều ấy khiến tôi cảm động. Tôi cứ ngỡ anh đã quên bẵng tôi rồi.
“Tôi muốn cho cậu xem một thứ,” anh nói. Văn phòng của anh có một chiếc sofa da to kềnh. Sofa Oliver, tôi nghĩ. Vậy đây là chỗ anh ngồi và đọc. Giấy tờ vương vãi trên sofa, trên sàn, ngoại trừ chỗ ngồi ở góc dưới một cây đèn thạch cao tuyết hoa. Đèn Oliver. Tôi nhớ lại những tấm lát sàn trong phòng anh ở B. “Nhận ra nó chứ?” Anh hỏi. Trên tường có một bức bích họa bong tróc hình thần ánh sáng Mithras có râu quai nón. Mỗi người chúng tôi mua một cái như thế vào buổi sáng thăm San Clemente. Tôi đã lâu lắm không thấy bức của mình. Cạnh đó trên tường là tấm bưu thiếp gò vẽ của Monet lộng khung. Tôi nhận ra nó lập tức.
“Nó từng là của tôi, nhưng anh đã sở hữu nó lâu hơn nhiều so với tôi.” Chúng tôi từng thuộc về nhau, nhưng đã sống xa nhau đến nỗi giờ đây chúng tôi thuộc về những người khác. Chúng tôi thuộc về nhau, đích thực chẳng qua chỉ là nhờ sự chiếm hữu phi pháp.
“Nó có cả một lịch sử dài,” tôi nói.
“Tôi biết. Khi tôi nhờ người lộng khung nó mới thấy những câu đề tặng sau lưng, thế nên bây giờ cậu cũng đọc được sau lưng thiếp. Tôi thường nghĩ tới người tên là Maynard này. Hãy nghĩ về tôi một ngày nào đó.”
“Vị khách trọ trước anh,” tôi trêu đùa. “Không, chẳng có chuyện ấy. Rồi sau này anh sẽ tặng nó cho ai?”
“Tôi hi vọng ngày nào đó sẽ để cho một trong các con trai đích thân mang tới khi xin lưu trú. Tôi đã ghi lời đề tặng rồi, nhưng giờ thì cậu không được xem. Cậu ở lại phố chứ?” Anh hỏi để đổi chủ đề lúc mặc áo đi mưa vào.
“Phải. Một đêm. Tôi sẽ gặp vài người ở đại học vào sáng mai, rồi rời đi.”
Anh nhìn tôi. Tôi biết anh đang nghĩ đến cái đêm dạo kỳ nghỉ Giáng sinh, và anh biết là tôi biết. “Vậy là tôi được tha thứ.”
Anh mím môi như kìm lại lời xin lỗi.
“Đến khách sạn chỗ tôi uống nước nhé.” Tôi cảm nhận được sự băn khoăn ở anh.
“Tôi nói là uống nước, chứ có phải phang phịch gì.”
Anh nhìn tôi, mặt đỏ bừng. Tôi đang chằm chằm ngó anh. Anh vẫn đẹp không ngờ, không rụng tóc, không béo, vẫn chạy bộ buổi sớm – theo lời anh, làn da vẫn mịn như xưa. Chỉ có hai bàn tay thêm vài vệt cháy nắng. Vết cháy nắng, lạ nhỉ, và tôi cứ nghĩ mãi. “Những vết này là sao?” Tôi hỏi, chỉ rồi chạm vào tay anh. “Tôi bị khắp cả.” Vết cháy nắng. Những vết ấy làm tôi đau lòng quá đỗi, tôi muốn hôn lên từng cái một. “Phơi nắng quá nhiều hồi thời trẻ. Mà cũng đâu có gì đáng ngạc nhiên. Tôi đang sống tiếp đời mình. Ba năm nữa, đứa con trai lớn của tôi sẽ bằng tuổi cậu khi nào – thật ra thằng nhóc gần với con người cậu khi chúng ta bên nhau hơn là cậu gần với Elio mà tôi biết khi đó. Ấy là nói về sự kỳ lạ.”
Hóa ra anh gọi thời gian ấy như thế, khi chúng ta bên nhau?
Bên quầy bar khách sạn New England cũ, chúng tôi tìm được một chỗ yên tĩnh trông ra sông cùng một vườn hoa lớn, tháng ấy đang khoe sắc rực rỡ. Chúng tôi gọi hai ly martini – rượu gin xanh ngọc bích, anh dặn – rồi ngồi gần nhau trong căn buồng có hình móng ngựa, như hai ông chồng buộc phải gượng gạo ngồi sát nhau trong khi các bà vợ vào phòng vệ sinh.
“Tám năm nữa, tôi sẽ bốn bảy, cậu bốn mươi. Rồi năm năm nữa, tôi lên năm hai, cậu bốn lăm. Khi đó cậu tới dùng bữa nhé?”
“Vâng. Tôi hứa.”
“Vậy ý cậu là cậu chỉ đến khi quá già để mà bận tâm. Khi bọn trẻ nhà tôi đã đi khỏi. Hoặc khi tôi lên chức ông. Tôi thì chỉ có thể hình dung chúng ta – vào tối đó, chúng ta sẽ ngồi cùng nhau, cùng uống eau-de-vie, giống như loại grappa cha cậu thường phục thi thoảng lúc đêm.”
“Và giống những người già ngồi quanh quảng trường nhỏ đối diện tượng đài Piave, ta sẽ nói về hai thanh niên đã hạnh phúc xiết bao trong vài tuần ngắn ngủi, để suốt phần đời còn lại cứ nhúng mẩu bông hút vào cái bát hạnh phúc ấy mà uống, cứ sợ rồi sẽ cạn, chỉ dám uống mỗi lần từng ngụm nhỏ vào những dịp lễ kỷ niệm tinh thần.” Nhưng tôi muốn nói với anh, điều gần như chưa từng ấy vẫn còn vang vọng. Hai thanh niên ấy không bao giờ có thể xóa bỏ, lãng quên, phủ nhận, hay sống lại cái hạnh phúc ấy – nó cứ mắc kẹt lại trong tâm tưởng, cứ như hình ảnh bọn đom đóm bay trên cánh đồng mùa hè khi trời tối, cứ nhắc đi nhắc lại, Thay vào đó, hai người có thể đã thế này. Nhưng trở lại là sai. Bước tiếp cũng là sai. Nhìn hướng khác là sai. Cố chỉnh sửa tất cả những điều ấy, hóa ra cũng là sai nốt.
Cuộc đời họ giống như tiếng vang bị chẹn, vùi chôn mãi mãi trong một căn hầm bít kín thờ thần Mithras.
Im lặng.
“Ôi trời, nhớ lại cách người ta đố kỵ với bọn mình từ bên kia bàn đêm đầu ở Rome,” anh nói. ”
“Cứ ngó chằm chằm, người trẻ, kẻ già, đàn ông cũng như đàn bà – từng người họ bên bàn ăn tối – cứ há hốc nhìn chúng ta, bởi chúng ta quá đỗi vui sướng.”
“Và rồi đêm ấy khi ta già đi, chúng ta sẽ vẫn nói về hai chàng thanh niên như thể họ là hai kẻ xa lạ ta gặp trên tàu, những kẻ mà ta ngưỡng mộ, muốn giúp đỡ. Và ta sẽ muốn gọi đó là nỗi đố kỵ, bởi vì lòng ta sẽ rất đau khi gọi đó là sự nuối tiếc.”
Lại im lặng.
“Có lẽ tôi chưa sẵn sàng nói về họ như những kẻ lạ,” tôi đáp.
“Nói điều này có lẽ làm cậu dễ chịu hơn chút, tôi nghĩ hai chúng ta sẽ không bao giờ sẵn sàng.”
“Tôi thì nghĩ ta nên làm ly nữa.”
Anh nhượng bộ ngay khi chưa kịp thốt lên lời phản đối nào, liên quan đến chuyện về nhà.
Chúng tôi loại bỏ những chuyện mào đầu. Cuộc đời anh, cuộc đời tôi, anh đã làm gì, tôi đã làm gì, cái gì tốt, cái gì không. Anh đã mong điều gì, tôi đã mong gì. Chúng tôi tránh nhắc tới cha mẹ tôi. Tôi nghĩ là anh biết. Mà anh không hỏi tôi, tức là anh đã biết.
Một tiếng trôi qua.
“Khoảnh khắc vui nhất của cậu?” Rốt cuộc anh cắt ngang.
Tôi nghĩ một lúc.
“Đêm đầu tiên là lúc tôi nhớ rõ nhất – có lẽ bởi tôi lúng túng nhiều. Nhưng cũng vì Rome. Có một chỗ trên phố Santa Maria dell’Anima mà mỗi khi thăm Rome tôi đều ghé. Tôi nhìn chằm chằm vào đó một lát, rồi đột nhiên tất cả sẽ ùa về. Là tôi nôn ói đêm đó, trên đường trở về quán bar nơi anh hôn tôi. Người ta qua lại nhưng tôi chả bận tâm, anh cũng không. Tạ ơn trời, cái hôn vẫn còn in hằn nơi đó. Đó là tất cả những gì tôi có từ anh. Nó, và cái sơ-mi.”
Anh còn nhớ.
“Còn anh, là lúc nào?” Tôi hỏi.
“Cũng là Rome. Hát cùng nhau cho tới tận sáng trên quảng trường Piazza Navona.”
Tôi quên bẵng mất. Đêm đó chúng tôi đã cùng hát không chỉ mỗi bài ca xứ Naples. Một nhóm thanh niên Hà Lan rút đàn guitar ra, hát liền tù tì mấy bản của Beatles, rồi mọi người gần đài nước tới nhập bọn, chúng tôi cũng vậy. Thậm chí gã Dante lại xuất hiện, cùng hát bằng thứ tiếng Anh méo mó. “Bọn họ đã hát dạ khúc cho ta nghe, hay tôi tưởng tượng ra?” Anh nhìn tôi, hoang mang.
“Người ta hát dạ khúc cho cậu – cậu say tới mất trí. Cuối cùng thì cậu giằng lấy một cây guitar, bắt đầu gảy đàn rồi bỗng dưng hát lên. Bọn họ đều sững sờ. Rồi thì tất cả đám nghiện trên đời đồng loạt lắng nghe nhạc Handel. Một trong các cô gái người Hà Lan phát cuồng lên. Cậu muốn đưa cô nàng tới khách sạn. Cô nàng cũng muốn đi. Thật là một đêm hết biết. Rồi bọn mình ngồi ở mặt tiền vắng lặng của một quán cà phê đóng cửa, sau quảng trường, mỗi cậu với tôi và cô nàng kia, ngồi sụp trên ghế cùng ngắm bình minh.”
Anh nhìn tôi. “Tôi vui vì cậu đã đến.”
“Tôi cũng vui vì anh đã đến.”
“Tôi hỏi cậu cái này nhé?”
Sao bỗng dưng tôi lại căng thẳng. “Hỏi đi.”
“Nếu có thể, cậu có bắt đầu lại như đã từng?”
Tôi nhìn anh. “Sao anh hỏi vậy?”
“Thì hỏi. Trả lời đi.”
“Nếu có thể thì tôi có bắt đầu lại như thế? Trong một giây. Nhưng tôi đã nốc hai ly như thế, và sắp sửa gọi ly thứ ba.”
Anh mỉm cười. Hẳn là tới lượt tôi hỏi lại chính câu đó, nhưng tôi đâu muốn khiến anh bối rối. Đây là Oliver mà tôi ưa thích: con người suy nghĩ hệt như tôi.
“Gặp lại cậu nơi này giống như tỉnh dậy sau cơn hôn mê hai mươi năm. Cậu nhìn quanh, thấy vợ cậu đã bỏ đi, con cái mà tuổi thơ vắng ta đã trở thành người lớn, vài đứa kết hôn, cha mẹ chết đã lâu, cậu chẳng có bạn bè, rồi cặp mắt trên gương mặt nhỏ tí nhìn chăm chăm vào cậu của đứa cháu trai được đưa tới để chào đón người ông sau giấc ngủ dài. Gương mặt cậu trong gương trắng bệch như Rip Van Winkle. Nhưng lưu ý này: cậu sẽ vẫn trẻ hơn hai mươi năm so với những người vây quanh cậu, thế nên tôi có thể về lại tuổi hai mươi bốn trong tích tắc – tôi hai mươi bốn. Rồi nếu cậu lùi phép tính lại vài năm trước nữa, tôi có thể thức dậy, thành ra trẻ hơn cả con trai cả của mình.”
“Như vậy thì liên quan thế nào đến cuộc đời anh đã sống?”
“Một phần – chỉ một phần cuộc đời tôi – là cơn hôn mê, nhưng tôi thích gọi nó là cuộc đời song song. Nghe khá hơn. Vấn đề là hầu hết chúng ta có, hoặc nói đúng hơn là sống nhiều hơn hai cuộc đời song song.”
Có lẽ là do rượu, có lẽ đó là sự thật, có lẽ tôi không muốn mọi thứ trở nên trừu tượng, nhưng tôi cảm thấy nên nói ra điều này, bởi đây chính là giây phút để mà nói, bởi vì tôi chợt hiểu ra đây là lý do tôi đã tới – để nói với anh: “Anh là người duy nhất tôi muốn từ biệt khi tôi chết đi, bởi vì chỉ khi ấy cái mà tôi gọi là cuộc đời này mới có ý nghĩa gì đó. Và nếu tôi hay tin anh chết, cuộc đời tôi như tôi vốn biết, con người tôi đang nói chuyện với anh đây sẽ không còn tồn tại nữa. Đôi lần tôi hình dung ra cảnh thức dậy trong ngôi nhà của chúng tôi ở B. rồi nhìn ra biển, hay tin dữ từ những con sóng, Anh chết đêm qua. Chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội. Là do cơn hôn mê kia. Ngày mai tôi trở về cơn hôn mê của mình, và cậu cũng vậy. Xin thứ lỗi, tôi không có ý xúc phạm – tôi chắc chắn ở anh thì không phải là cơn hôn mê.”
“Không, là cuộc đời song song.”
Có lẽ từng nỗi sầu khổ tôi biết trong đời mình bỗng nhiên quyết định đồng quy về điểm này. Tôi phải chống lại cảm xúc dâng trào. Và nếu anh không thấy, rất có thể là vì chính anh cũng không miễn nhiễm với nó.
Tùy hứng, tôi hỏi anh có từng đọc một cuốn tiểu thuyết của Thomas Hardy tựa là The well-beloved. Không, chưa đọc. Nói về một nhân vật nam phải lòng một nhân vật nữ, nàng chết sau nhiều năm rời bỏ chàng. Chàng đến thăm nhà nàng, rồi gặp con gái nàng, phải lòng người con gái, rồi khi mất luôn cả người con gái đó nhiều năm sau, gặp được con gái của người đó, và chàng lại yêu nàng. “Những yêu thương này tự chết đi, hay có gì đó cần tới nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời mới tự kết liễu?”
“Tôi không muốn bất kỳ đứa con trai nào lên giường cậu hoặc ngược lại – giả sử cậu có một đứa con trai nào trên giường con trai tôi.”
Chúng tôi cười lặng. “Dẫu vậy, tôi thắc mắc về các ông bố của chúng ta.”
Anh nghĩ một lát, rồi mỉm cười.
“Điều tôi không muốn, đó là nhận một bức thư từ con trai cậu mang tin dữ: Và tiện thể, xin đọc bưu thiếp đính kèm mà bố tôi nhờ chuyển trả lại cho bác. Tôi cũng không muốn phải trả lời đại loại như: Cháu cứ đến bất cứ khi nào thích, bác chắc là thằng nhóc sẽ muốn cháu ở lại trong phòng nó. Hãy hứa với tôi là chuyện như thế sẽ không xảy ra.”
“Hứa.”
“Anh viết gì sau tấm bưu thiếp vậy?”
“Phải bí mật mới ngạc nhiên chứ.”
“Tôi quá già cho trò ngạc nhiên rồi. Hơn nữa, sự ngạc nhiên thường có cái sắc bén làm ta đau. Tôi không muốn bị đau – nhất là do anh. Nói tôi nghe đi.”
“Chỉ hai chữ thôi.”
“Để tôi đoán nhé: Nếu không phải sau này thì khi nào?”
“Đã nói là hai chữ mà. Mà nói ra thì ác.”
Tôi ngẫm nghĩ một lúc.
“Tôi chịu thua.”
“Cor cordium, trái tim của những trái tim, tôi chưa từng nói điều gì chân thật hơn trong đời với bất kỳ ai.” Tôi chăm chăm nhìn anh.
Thật tốt vì chúng tôi đang ở chốn công cộng.
“Ta nên đi thôi.” Anh với lấy áo đi mưa xếp bên cạnh chỗ ngồi, rồi bắt đầu sửa soạn đứng dậy.
Tôi định bụng đi cùng anh ra hành lang khách sạn rồi đứng đó nhìn anh ra đi. Chúng tôi sẽ nói lời từ biệt bất cứ phút giây nào từ đây. Đột nhiên một phần cuộc đời tôi như sắp sửa bị tước đoạt và sẽ chẳng bao giờ được hoàn nguyên.
“Thế, tôi đưa anh ra xe nhé,” tôi nói.
“Thế, cậu đến dùng bữa nhé.”
“Thế, hãy xem như tôi đến.”
Bên ngoài, đêm buông nhanh. Tôi thích sự bình yên, tĩnh mịch của vùng quê, ánh hồng trên đỉnh núi mờ dần, và con sông đang dần tối đi. Miền quê Oliver, tôi nghĩ. Những vệt sáng lốm đốm từ bên kia bờ sông chiếu lên mặt nước, khiến tôi nhớ đến bức họa Ánh sao trên dòng Rhone của Van Gogh. Rất đẫm sắc thu, rất đẫm không khí tựu trường, rất đẫm tiết trời khô ấm miền đông Mỹ, và luôn luôn vào buổi chiều tà cuối thu như thế, bầu không khí lơ lửng của công việc còn dang dở, bài tập còn dang dở và luôn là ảo tưởng về những tháng ngày sắp tới hao mòn đi thành thinh không ngay khi ánh mặt trời tắt hẳn.
Tôi cố mường tượng cảnh gia đình anh vui vầy, các cậu con trai mê mải làm bài tập, lếch thếch về nhà sau buổi tập muộn, tiếng đôi ủng lem bùn cáu kỉnh, gắt gỏng giậm thình thịch, từng hình ảnh khuôn sáo hiện lên trong trí tôi. Đây là người mà cha đã ở nhờ nhà lúc sống bên Ý, anh sẽ nói vậy, rồi đến tiếng đằng hắng cộc cằn của hai thanh niên trưởng thành chả bận tâm tới ông người Ý hay căn nhà ở nước Ý, nhưng sẽ giãy lên vì sốc nếu được kể thế này, À tiện thể giới thiệu, khi xưa người này cũng trạc tuổi các con, cứ sáng sáng lại lặng lẽ cải biên bản nhạc Bảy lời cuối của Chúa, rồi tối tối thì lẻn vào phòng cha, và rồi chúng ta phịch nhau cho ra bã. Thế nên hãy bắt tay người ta rồi ngoan nhé.
Rồi tôi nghĩ đến chặng xe về giữa đêm khuya, dọc theo con đường ánh sao cặp con sông đến khách sạn cổ kính ở New England bên mép nước mà tôi hi vọng sẽ nhắc cả hai về bờ vịnh ở B. , về bức họa đêm đầy sao của Van Gogh, và về cái đêm tôi đến bên anh trên tảng đá, hôn cổ anh, và về đêm qua khi chúng tôi thả bước cùng nhau trên bờ biển, cảm thấy chúng tôi sẽ hết mất những nhiệm màu phút cuối để ngăn anh ra đi. Tôi tưởng tượng mình ngồi trong xe anh, tự hỏi lòng: Ai mà biết được, tôi có muốn, hay anh có muốn chăng, có lẽ một ly rượu cuối ngày ở quán bar sẽ quyết định, biết rằng, suốt bữa ăn tối hôm đó, anh và tôi sẽ lo lắng về cùng một điều, hi vọng nó có thể xảy ra, nguyện cầu nó không xảy ra, có lẽ một ly rượu cuối sẽ quyết định – tôi đọc được điều ấy trên mặt anh trong khi hình dung anh nhìn đi chỗ khác lúc vặn mở chai rượu vang và đổi nhạc, bởi anh cũng sẽ bắt gặp ý nghĩ ấy lướt qua tâm trí, và muốn tôi biết rằng anh đang giằng xé bởi cùng điều ấy, bởi vì khi anh rót rượu vang cho vợ mình, cho tôi, cho chính anh, cả hai chúng tôi rồi sẽ nhận ra rằng anh là tôi còn hơn tôi là chính mình, bởi nhiều năm trước vào đêm anh trở thành tôi và tôi trở thành anh, anh đã và sẽ mãi là người anh em, là bạn, là cha, là con trai, là chồng, là người tình, là chính bản thân tôi, ngay cả sau khi anh đã đi hết những ngã rẽ cuộc đời mình. Trong những tuần lễ bên nhau mùa hè ấy, cuộc sống của chúng tôi chẳng mấy chạm vào nhau, nhưng chúng tôi đã vượt quá giới hạn, khi thời gian dừng lại, thiên đường cúi chạm trần gian và cho chúng tôi thưởng thức điều thiêng liêng vốn thuộc về chúng tôi tự thuở chào đời. Chúng tôi đã nhìn lảng đi. Chúng tôi nói về mọi thứ trừ điều ấy. Nhưng chúng tôi đã luôn biết, và giờ đây thinh lặng càng xác quyết việc này thêm nữa. Chúng ta đã tìm được những vì sao, anh và tôi. Và điều ấy chỉ được ban mỗi một lần.
Mãi đến hè năm rồi, anh mới trở lại. Đó là một chuyến thăm qua đêm, dịp anh đi từ Rome tới Menton. Anh tới bằng taxi dọc theo con đường dưới bóng cây, chiếc xe đỗ lại gần đúng vị trí nó đã hai mươi năm về trước. Anh nhảy phắt ra, cầm máy tính xách tay, túi xách thể thao to kềnh, cùng một cái hộp được gói kỹ, hẳn là quà. “Dành cho mẹ cậu,” anh nói khi bắt gặp cái liếc mắt của tôi. “Tốt hơn hết là nói cho bà biết trong đó có gì,” tôi nói ngay khi giúp anh đặt đồ vào tiền sảnh. “Bà nghi ngờ mọi người.” Anh hiểu. Và anh buồn.
“Phòng cũ à?” Tôi hỏi.
“Phòng cũ,” anh xác nhận, dù chúng tôi đã sắp xếp mọi thứ qua email cả rồi.
“Vậy thì phòng cũ.”
Tôi không mấy hồ hởi chuyện lên lầu với anh, rồi nhẹ lòng khi thấy chú Manfredi với dì Mafalda lê bước ra khỏi bếp chào anh từ lúc nghe tiếng xe taxi. Những cái ôm hôn chặt tới mức gây choáng của ba người làm dịu đi phần nào sự lúng túng mà tôi biết mình sẽ cảm thấy ngay khi anh bước chân vào nhà. Tôi muốn sự tiếp đón quá nồng nhiệt của họ kéo dài suốt giờ đầu anh ở đây. Sao cũng được, miễn là chúng tôi không phải ngồi mặt đối mặt với nhau uống cà phê, và rốt cuộc thốt lên ba chữ không thể tránh khỏi: hai mươi năm.
Thay vì vậy, chúng tôi sẽ để đồ của anh ở tiền sảnh, hi vọng chú Manfredi sẽ mang lên lầu trong khi Oliver và tôi dạo nhanh quanh nhà. “Tôi chắc là anh rất muốn thấy,” tôi sẽ nói, ý nhắc tới khu vườn, hàng rào chấn song, và cảnh biển. Chúng tôi sẽ đi quanh bể bơi, trở lại vào phòng khách nơi cây đàn piano nằm cạnh cửa sổ chớp, và rốt cuộc chúng tôi sẽ trở ra tiền sảnh, nhận ra đồ đạc của anh đã được mang lên lầu. Một phần trong tôi muốn anh nhận ra chẳng có gì thay đổi kể từ lần cuối anh ở đây, chốn thiên đàng của anh vẫn nguyên đó, cánh cổng lệch nghiêng dẫn ra bãi biển vẫn cót két, thế giới này vẫn y nguyên như khi anh ra đi, trừ Vimini, già Anchise, và cha tôi. Đây là nhã ý chào mừng mà tôi muốn trao. Nhưng phần khác trong tôi muốn anh cảm nhận rằng giờ đây có cố bắt kịp thực tại cũng chẳng ích gì – chúng tôi đã đi quá xa, trải qua quá nhiều thứ mà không có nhau, để rồi chẳng còn mấy điểm chung. Có lẽ tôi muốn anh cảm thấy nỗi mất mát, rồi anh đau đớn. Nhưng cuối cùng, có lẽ như một cách thỏa hiệp, tôi quyết định rằng cách dễ chịu nhất là cho anh thấy tôi đã không hề quên gì cả. Tôi tỏ ý đưa anh tới khu đất trống vẫn khô cháy và hoang phế như lúc tôi cho anh xem hai thập kỷ trước. Tôi còn chưa kịp dứt lời thì – “Tới rồi, xem rồi,” anh đáp. Đó là cách anh chứng tỏ anh cũng chưa hề quên. “Có lẽ anh muốn ghé qua ngân hàng chút.” Anh bật cười. “Dám cá với cậu là họ chưa bao giờ dẹp tài khoản của tôi. ”
“Nếu mình có thời gian và anh có hứng thì cho tôi đưa anh đi xem gác chuông. Tôi biết anh chưa từng lên đó.”
“Đáng-để-chết à?”
Tôi mỉm cười đáp lại. Anh nhớ biệt danh chúng tôi đặt cho nó.
Khi dạo bước ở sân trong nhìn ra màu xanh thẫm trước mắt, tôi đứng lại, ngắm anh tựa vào hàng rào chấn song trông ra vịnh.
Bên dưới chúng tôi là tảng đá của anh, nơi anh ngồi buổi đêm, nơi anh cùng Vimini đã trải qua suốt những buổi chiều với nhau.
“Hôm nay cô bé được ba mươi rồi,” anh nói.
“Tôi biết.”
“Ngày nào cô bé cũng viết thư cho tôi. Ngày nào cũng như ngày nào.”
Anh đang nhìn chăm chăm ra nơi của hai người. Tôi nhớ cách họ đã nắm tay nhau, chạy vù xuống bờ biển.
“Rồi một ngày cô bé ngừng viết. Thế là tôi biết. Tôi biết ngay. Cậu biết đó, tôi giữ tất cả thư của cô bé.” Tôi nhìn anh đăm chiêu.
“Tôi cũng giữ thư cậu,” anh liền nói thêm để trấn an tôi, dù là mơ hồ, vì anh chẳng biết đó có phải điều tôi muốn nghe hay không.
Đến lượt tôi. “Tôi cũng giữ tất cả thư anh. Và thứ khác nữa. Rồi tôi sẽ cho anh xem. Để sau.”
Anh không nhớ Dợn-sóng ư, hay anh quá khiêm nhường, quá cẩn trọng, không tỏ ra anh biết chính xác tôi đang nói tới vật gì? Anh lại nhìn ra khơi xa.
Anh đến đúng ngày trời trong. Không một đám mây, mặt biển lặng ngắt, chẳng có tí gió nào. “Tôi đã quên mình yêu nơi này đến nhường nào. Nhưng tôi nhớ rõ nó như thế này. Lúc giữa trưa đúng là thiên đường.”
Tôi để anh nói. Thật tốt khi nhìn mắt anh đăm chiêu ra khơi xa. Có lẽ anh cũng muốn tránh ba chữ ấy khi mặt đối mặt.
“Già Anchise sao rồi?” Rốt cuộc anh hỏi.
“Nhà tôi mất già ấy vì bệnh ung thư, ông già đáng thương. Xưa tôi tưởng ông ấy già lắm. Nhưng ông mất lúc chưa tới năm mươi.”
“Ông ấy cũng yêu nơi này – ông ấy cứ ghép cây tỉa cành, chăm vườn cây ăn trái.”
“Già chết trong phòng ngủ của ông tôi.”
Lại thinh lặng. Tôi định nói là Phòng cũ của tôi, nhưng đổi ý.
“Anh về đây có vui không?”
Anh thấu suốt câu hỏi ấy trước cả tôi?
“Tôi về đây cậu có vui không?” Anh hỏi vặn lại.
Tôi nhìn anh, cảm thấy mình như bị nhìn thấu tâm can, nhưng không sợ hãi. Giống như người dễ đỏ mặt nhưng không ngượng ngùng vì điều ấy, tôi biết mình chẳng nên áp chế cảm giác này, mà nên thả trôi theo nó.
“Anh biết tôi vui mà. Có khi còn vui quá mức nữa ấy chứ.”
“Tôi cũng vậy.”
Bấy nhiêu đã nói lên tất cả.
“Đi nào, tôi sẽ cho anh xem chỗ nhà chôn một phần tro cốt cha tôi.”
Chúng tôi bước xuống cầu thang hậu dẫn vào vườn, nơi đặt cái bàn điểm tâm khi xưa. “Đây là chỗ của cha tôi. Tôi gọi nó là nơi có hồn ông. Anh còn nhớ thì bên kia từng là chỗ của tôi.” Tôi chỉ về chỗ cái bàn cũ mình từng nằm bên bể bơi.
“Xưa tôi có chỗ không nhỉ?” Anh hỏi, miệng kìm lại nụ cười hết cỡ.
“Anh sẽ luôn có một chỗ.”
Tôi muốn nói với anh rằng bể bơi, khu vườn, căn nhà, sân quần vợt, chốn thiên đàng, toàn bộ nơi này sẽ luôn là nơi lưu giữ hồn anh. Nhưng không, tôi chỉ lên lầu về phía cửa sổ chớp phòng anh. Ánh mắt anh sẽ mãi ở đó, tôi muốn nói vậy, mắc kẹt trong những nếp rèm, nhìn róng riết ra ngoài phòng ngủ trên lầu của tôi, nơi dạo này chẳng ai ngủ lại nữa. Khi gió thổi đến, màn đong đưa, từ đây tôi ngóng lên hoặc đứng bên ngoài bao lơn, tôi sẽ nghĩ rằng anh trong đó, phóng ánh nhìn đăm đăm từ thế giới của anh vào thế giới của tôi, ý muốn nói như cái đêm tôi tìm thấy anh trên tảng đá, Anh hạnh phúc ở đây. Anh ở cách xa hàng ngàn dặm, nhưng hễ tôi nhìn vào nơi cửa sổ ấy tôi sẽ nghĩ ngay đến một bộ đồ tắm, một cái áo mặc vội, những cánh tay tì lên lan can, và đột nhiên anh hiện ra, châm lửa điếu thuốc đầu ngày – nay thoắt đã hai mươi năm. Chừng nào ngôi nhà này còn, đây sẽ là nơi lưu hồn anh – và cả tôi nữa. Tôi muốn nói thế.
“Tôi biết cha hẳn sẽ muốn điều giống thế này xảy ra, nhất là vào một ngày hè tuyệt diệu như hôm nay.”
“Tôi chắc là ông sẽ. Phần tro cốt còn lại, nhà chôn ở đâu?” Anh hỏi.
“À, khắp nơi cả. Ở dòng Hudson, biển Aegean, biển Chết. Nhưng đây là nơi tôi tới để được bên ông.” Anh không nói gì. Đâu có gì để nói.
“Đi nào, tôi sẽ đưa anh tới San Giacomo trước khi anh đổi ý,” rốt cuộc tôi thốt. “Vẫn còn thì giờ trước bữa ăn trưa. Nhớ đường chứ?”
“Tôi nhớ đường.”
“Anh nhớ đường,” tôi vọng lại.
Anh nhìn tôi, mỉm cười. Điều ấy làm tôi vui sướng. Có lẽ vì tôi biết anh đang trêu chọc mình.
Hai mươi năm thấm thoắt như mới hôm qua, và hôm qua chỉ là sớm hơn buổi sáng nay, và buổi sáng dường như cách xa diệu vợi.
“Anh giống em,” anh nói. “Anh nhớ tất cả mọi thứ.”
Tôi dừng lại một giây. Nếu anh nhớ tất cả mọi thứ, tôi muốn nói, và nếu anh thực sự giống em, thì trước khi anh rời đi vào ngày mai, hay khi anh vừa sắp sửa đóng cửa chiếc taxi, vừa nói xong lời từ biệt với mọi người khác và chẳng còn gì để nói nữa trên đời này, khi ấy, chỉ một lần này thôi, quay nhìn em, dù chỉ là vui đùa, hoặc là thoáng nghĩ lại, những điều này có ý nghĩa biết bao với em khi ta từng bên nhau, và như ngày xưa, hãy nhìn thẳng vào mặt em, để em ngắm anh, và gọi em bằng tên anh.
HẾT