Hồi Ức Của Nhím

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Làm thế nào mà tôi đã đến được chân anhtrong tình trạng thảm bại như vậy

vậy tôi chỉ là một con vật, một con vật chẳng danh phận gì, con người sẽ nói một con vật hoang như thể ngườỉ ta không coi chúng tôi là ngốc hơn và hoang dã hơn trong chủng tộc họ, đối với họ, tôi chỉ là một con nhím, và do chỉ tin vào những gì họ nhìn thấy, nên họ suy ra rằng tôi chẳng có gì đặc biệt, rằng tôi thuộc về hàng động vật có vú được trời phú cho những chiếc lông dài lởm chởm, họ sẽ còn nói thêm rằng tôi không thể chạy nhanh bằng một con chó săn, rằng sự chây lười buộc tôi không thể sống xa nơi tôi được nuôi dưỡng

thật ra mà nói, tôi chẳng có gì ganh ghét với con người, tôi coi thường trí thông minh hợm hĩnh của họ bởi lẽ chính tôi đây, trong một thời gian dài đã là phó-bản của người đàn ông có tên Kibandi và ông ta mới chết ngày hôm kia, còn tôi thì, phần lớn thời gian, cứ chui lủi không xa ngôi làng, và chỉ đến gặp người đàn ông ấy trong đêm muộn khi phải thực thi những nhiệm vụ cụ thể mà ông ấy trao cho tôi, tôi ý thức được đòn giáng trả mà tôi hẳn sẽ phải chịu đựng từ ông ta, nếu như hồi còn sống mà ông ta nghe được câu chuyện tôi đang thổ lộ như bây giờ, với một phong thái tự do mà ông ta hẳn sẽ coi đó là bội bạc, bởi lẽ, vẻ như không, trong suốt đời mình ông ta sẽ tin rằng tôi chắc phải nợ ông ta cái gì đó, rằng tôi chỉ là một kẻ làm vì tội nghiệp, rằng ông ta có thể quyết định cuộc đời tôi theo ý ông, thế thì, không hề muốn giành phần hơn về mình, tôi cũng có thể nói cùng một ý ấy với ông ta, bởi lẽ không có tôi thì ông ta chắc cũng chỉ là một thứ rau tồi tàn, cuộc đời làm người của ông ta thậm chí còn chẳng đáng giá bằng ba giọt nước tiểu của cụ nhím, người trị vì chúng tôi ở thời kỳ mà tôi vẫn còn ở trong thế giới loài vật

hôm nay tôi bốn mươi hai tuổi, tôi cảm thấy mình hãy còn rất trẻ, và nếu như tôi là một con nhím hệt như những con vẫn lê la trong các cánh đồng của ngôi làng này thì có lẽ tôi chẳng có được cuộc sống thọ nhường ấy, bởi đối với loài nhím chúng tôi trong vùng này, thời kỳ thai nghén kéo dài từ chín mươi ba đến chín mươi tư ngày, chúng tôi có thể sống thọ nhất đến tận hai mươi mốt tuổi khi bị người bắt về nuôi, nhưng hứng thú gì khi sống suốt đời mình trong cảnh tội đồ như là một tên nô lệ, hứng thú gì khi hình dung ra cảnh tự do đằng sau dây kẽm gai nhỉ, tôi biết rằng có một số con vật lười biếng hẳn sẽ thích thú ở đấy, đến tận mức quên đi rằng vị dịu ngọt của mật ong sẽ không bao giờ làm dịu được vết ong đốt, tôi thì tôi thích những điều bất ngờ của cuộc sống nơi trảng bụi hơn là ở cũi mà nơi đó nhiều bạn đồng loại của tôi bị nhốt để rồi ngày một ngày hai sẽ được chế biến thành thịt viên trong các nồi ninh của con người, đúng là tôi đã có đặc quyền đánh bại kỷ lục trường thọ của chủng loại tôi, đặc quyền hưởng thọ cùng số tuổi như ông chủ tôi, tôi không hợm hĩnh mà cho rằng là phó-bản của ông là một chức vụ nhàn rỗi, đó là một công việc thực sự, các giác quan của tôi bị thúc giục, tôi tuân lệnh ông mà không tỏ ý phản đối dẫu rằng trong suốt những nhiệm vụ mới đây tôi bắt đầu lùi lại suy nghĩ, bắt đầu tự nhủ rằng chúng tôi đang đào hố cho chính mình, dẫu vậy tôi vẫn phải vâng lệnh ông, tôi tự giác chịu thần phận của phó-bản hệt như là con rùa mang vác cái mai của mình, tôi là con mắt thứ ba, lỗ mũi thứ ba, cái tai thứ ba của ông chủ tôi, điều có nghĩa là những gì ông không nhìn thấy, những gì ông không ngửi thấy, những gì ông không nghe thấy, thì tôi truyền cho ông bằng các giấc mộng, và khi ông không trả lời những thông điệp của tôi, thì tôi xuất hiện trước mặt ông vào lúc mà đàn ông đàn bà của làng Séképembé ra đồng làm việc

tôi đã không mục kích lúc Kibandi chào đời như những phó-bản sinh cùng ngày với đứa trẻ mà chúng sẽ nhìn thấy lớn lên, những phó-bản đó là những phó-bản-thiện, chúng không lộ diện trước mặt ông chủ của chúng, mà chỉ can thiệp vào những trường hợp cụ thể, ví dụ như khi người đã thụ pháp của chúng bị ốm hoặc khi cậu ta là nạn nhân của một rủi ro nào đó, những phó-bản-thiện sống một cuộc sống buồn tẻ, tôi vả lại không biết làm thế nào mà chúng chịu đựng được một sự tồn tại như vậy, chúng èo uột, chậm chạp, mối bận tâm đầu tiên của chúng là chạy trốn ngay khi có tiếng động, thái độ ngốc ngếch này thậm chí đẩy chúng đến chỗ ngờ vực chính cái bóng của mình, tôi đã nghe nói rằng phần lớn trong số chúng bị điếc, bị mù, rằng tuy nhiên người ta không thể đột kích đánh lừa được cảnh giác của chúng do tài đánh hơi không lầm của loài này, công nhận rằng chúng bảo vệ con người, hướng dẫn con người, vạch ra các tuyến đường đời cho con người, rồi cũng chết hệt như chúng tôi, cùng ngày với ông chủ của mình, sự chuyển đổi khả năng như vậy được người ông trong gia đình đảm nhiệm ngay sau sự chào đời của con người sắp được thụ pháp kia, ông già ấy đoạt ngay lấy đứa trẻ sơ sinh sau khi hỏi ý kiến cha mẹ nó, ông ta biến mất cùng thằng bé ra đằng sau chiếc lều, ông nói chuyện với nó, nhổ lên người nó, liếm nó, lắc nó, cù buồn nó, tung nó lên trên không, hứng lấy nó trong khi tinh thần của phó-bản thiện rời khỏi cơ thể của ông già để nhập vào trong cơ thể của đứa bé, kẻ đã được thụ pháp kia sẽ chuyên tâm vào làm việc tốt, nó sẽ nổi trội hơn người do sự hào hiệp không bờ bến, nó sẽ cho tiền những người bị liệt, người mù lòa và kẻ ăn mày, nó sẽ tôn trọng đồng loại, sẽ nghiên cứu cỏ cây trong mục đích chữa khỏi những con bệnh và sẽ chăm chú truyền những thiên tư của mình cho các thế hệ tương lai ngay khi những sợi tóc xám đầu tiên xuất hiện trên đầu, đó là một cuộc sống còn hơn chán ngắt nếu không nói là đơn điệu, tôi hẳn sẽ chẳng có gì để kể cho anh nghe ngày hôm nay nếu như tôi cũng từng là một trong những phó-bản thiện không tai tiếng, chẳng có gì đặc biệt ấy

tôi đúng hơn thuộc về nhóm những phó-bản-ác, chúng tôi phiến động nhất trong các loài phó-bản, đáng gờm nhất nhưng cũng ít dàn trải nhất, và hệt như anh có thể đoán ra kiểu truyền pháp của một phó-bản như vậy là phức tạp hơn, hạn chế hơn các sự truyền pháp khác, nó được tiến hành năm thằng bé lên mười tuổi, và còn phải bắt nó uống bằng được thứ nước nhập môn được gọi là mayamvumbi, kẻ đã thụ pháp sẽ uống thứ nước ấy một cách đều đặn để cảm nhận được tình trạng say sưa cho phép nó nhị hóa phân cách, cho phép giải phóng khỏi Con Trùng, một con vật dòng vô tính ăn vô độ không ngừng chạy, không ngừng chuồn đi, băng qua những con sông, giấu mình trong lớp lá khi nó không ngáy khò khò trong lều của kẻ đã thụ giới, còn tôi ấy à, tôi ở giữa hai sinh vật sống ấy, không phải là khán giả bởi lẽ, nếu không có tôi thì Con Trùng của chủ tôi sẽ chết do thỏa mãn thói phàm ăn của nó, tôi có thể nói thật với anh rằng nếu như cha mẹ những đứa trẻ mà người ta truyền cho một phó-bản thiện biết được lễ thụ pháp ấy và khuyến khích chúng, thì điều ấy cũng không hề giống như khi người ta truyền cho chúng một phó bản ác, ở đây sự chuyển đổi đó chống lại ý muốn của thằng nhỏ, diễn ra mà bà mẹ, các anh trai và các chị gái không hề hay biết, những con người được tụi tôi khi ấy trở thành hiện thân phần con vật của họ thì sẽ không để cho những thứ tình cảm xâm chiếm mình như tình thương hại, lòng trắc ẩn, sự ân hận, lòng khoan dung, họ coi bóng tối cứ như không và, một khi sự chuyền tiếp kết thúc thì phó-bản ác sẽ phải rời bỏ thế giới loài vật để đến sống gần kẻ đã được thụ pháp, nó sẽ phải hoàn thành mà không được phản đối những sứ mệnh mà kẻ đã được thụ pháp đó trao cho, hơn nữa đã từ khi nào người ta nhìn thấy một phó-bản ác phủ nhận con người mà nó nắm giữ mạng sống chưa hả, theo trí nhớ của nhím tôi thì đúng là chưa bao giờ có hết, và không chỉ loài voi mới có một trí nhớ đáng tin đâu nhé, đấy vẫn còn là một trong những định kiến của thế giới loài người

rất lâu trước khi chủ tôi mạo hiểm chơi với lửa thì tôi đã thưởng thức vài tháng nghỉ hè vui vẻ, tôi tận dụng chúng để nhìn ngẫm cuộc sống đang trải ra xung quanh, khí mát tràn đầy phổi tôi, niềm hoan hỉ đẩy tôi đi đó đi đây và tôi chạy, lúc nào tôi cũng chỉ chạy, tôi dừng lại trên đỉnh một quả đồi, từ đó tôi có thể đưa mắt quét một lượt, nhìn loài động vật náo động, tôi khoái quan sát những con vật khác, cuộc sống hàng ngày của chúng, có nghĩa là tôi quay trở lại với rừng rú, tôi có thể biến đi mất tiêu không gửi tin tức gì đến cho chủ tôi nữa, tôi nhìn ngắm mặt trời đang lặn, rồi sau đó nhắm mắt để nghe những con dế mèn cất tiếng trước khi bị chói tai nhức óc do đám ve sầu đánh thức vào sáng hôm sau, và kéo dài suốt những ngày tháng vô công rồi nghề, nhàn rỗi xả hơi này thì tôi lại rất hay ăn vặt, càng ăn tôi lại càng cảm thấy đói, vả lại tôi cũng chẳng nhớ con số những cánh đồng khoai củ mà tôi đã lui tới gây ra niềm bất hạnh vô tận cho những người nông dân ở Séképembé nữa, những người này đã nhầm lẫn quy kết một con quỷ nửa người nửa ngợm có cái bao tử cũng sâu như cái giếng mà họ chưa từng biết, rồi ngay từ rạng sáng tôi đã ra rình những con vịt trời bì bõm rúc bùn dưới sông, đám lông sặc sỡ của chúng phản chiếu trên sóng, tôi thấy thinh thích khi nhìn chúng xênh xang trên mặt nước mà không bị chết đuối, chúng vụt cánh bay sang khoảng trời khác ngay khi một trong số chúng gióng lên hồi còi báo hiệu hết giờ chơi hay có một tay thợ săn nào đó vừa lảng vảng đến nơi, cuối buổi sáng mở ra màn trình diễn của những chú ngựa vằn, đàn hươu cái, những chú lợn lòi, kế đến là những con sư tử qua lại theo đàn dọc con sông ấy, những con nhỏ đi trước, những con già động tí đã gầm lên, thế giới động vật ấy không đụng mặt nhau, hệt như có một sự phân chia tự nhiên về thời gian, chỉ mãi rất muộn sau đó, khi mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, thì mới thấy đội quân khỉ xuất hiện, tôi đã chứng kiến nhiều trận ẩu đả giữa các chàng lông lá này, có lẽ vì một vấn đề quyền lực hay gái gú gì đó, tôi coi chuyện đó như là một sự giải trí, những động tác của chúng khiến tôi nhớ đến cách làm của loài người, nhất là khi lũ khỉ dạng người ấy tiêu khiển với những cục cứt mũi của chúng, gãi gãi bộ phận sinh dục rồi lại đưa tay lên mũi ngửi trước khi biểu thị sự ghê tởm mùi của chính mình, và tôi tự hỏi trong số chúng liệu có con nào lại chẳng phải là phó bản ác của loài người, rồi tôi trấn tĩnh lại ngay khi biết rằng một phó bản ác thì ắt bị buộc phải xa rời cuộc sống cộng đồng

đúng, tôi là một con nhím hạnh phúc trong thời gian này, và tôi khiến đám lông lởm chởm của mình dựng đứng lên khi khẳng định điều đó, đó là một cách thề độc của giới chúng tôi đấy, nếu không thì chúng tôi cũng có thể nâng cẳng phải lên và lắc lư nó ba lần liên tiếp, tôi biết rằng loài người, họ ấy mà thì hay có thói quen đưa đầu những người quá cố ra mà thề bồi hoặc lôi Chúa trời mà họ chưa bao giờ nhìn thấy, mà họ tôn thờ với cặp mắt nhắm nghiền, như vậy họ dành cả đời để đọc Kinh thánh được gói gọn trong một cuốn sách bự mà những người da trắng đã mang tới đây vào thời kỳ xa lắc, thời kỳ mà những người dân trên xứ sở này che bộ phận sinh dục của họ một cách rất nực cười bằng da báo hay những tàu lá chuối và không hề biết rằng đằng sau phía chân trời xa kia còn tồn tại những dân tộc khác đang sinh sống, rằng thế giới còn trải dài phía bên kia biển và đại dương, rằng khi màn đêm buông xuống nơi đây thì nơi khác sẽ là ngày, rằng khi ở đây trời mưa thì ở chỗ khác lại nắng, và có thể là Kibandi, chủ tôi có cuốn sách Kính ấy, trong đó có vô vàn những câu chuyện mà con người cứ buộc phải tin rằng họ có nguy cơ không xứng đáng để có một chỗ trong thế giới mà họ gọi là thiên đường, anh hẳn nghi ngờ rằng tôi đã nhúng mũi vào chuyện này do tò mò bởi tôi có thể đọc trôi chảy hệt như thầy tôi, và lại còn có chuyện tôi đọc thay ông ta khi ông ấy mệt mỏi quá, vậy là tôi đã lướt hết cả cuốn sách Chúa ấy, cả nhiều trang liền, rất hồi hộp và thống thiết lắm, tôi nói với anh rồi mà, tôi đã dùng lông mình gạch dưới những đoạn lý thú, tôi đã được nghe bằng chính đôi tai nhỏ xíu của mình nhiều chuyện trong đám chuyện như thế từ miệng những người nghiêm túc nhất, những người có bộ râu xám ấy, những người thường đi đến nhà thờ làng vào các ngày chủ nhật, họ kể lại những câu chuyện ấy với một sự chính xác như thế, với một lòng tin như thế đến độ ta có thể suy ra rằng chính họ đã mục kích sở thị những sự kiện được nêu như vậy, anh nên biết rằng giai đoạn được kể nhiều nhất bởi loài đi bằng hai chân được trời phú cho ngôn ngữ ấy là giai đoạn kể về một gã huyền bí, một kiểu lang thang có phép màu, con trai của Chúa trời, họ công nhận vậy, hắn đã đến trần gian này theo một kiểu rất phức tạp, mà người ta thậm chí còn không nói chi tiết xem cha mẹ hắn đã ngủ với nhau như thế nào, đó chính là gã có thể đi trên mặt nước, và vẫn là gã ấy có thể chuyển đổi nước thành rượu vang đỏ, vẫn là hắn đã nhân rộng những mẩu bánh mỳ nhỏ để nuôi dưỡng muôn dân, vẫn chính là gã, kẻ tôn trọng loài đĩ điếm mà bọn này thường bị dân chúng quở trách, vẫn là gã đem lại đôi chân cho những kẻ bị bại liệt tuyệt vọng nhất, ánh sáng cho những người mù, và gã đã đến trần gian để cứu nhân độ thế cho toàn thể nhân loại, bao gồm cả những loài động vật như chúng ta, bởi vì, anh nghe này, đã có một thời kỳ xa xưa, để gìn giữ ít nhất là một vật thể mẫu cho mỗi loại chúng sinh trên mặt đất, thì họ đã không quên chúng ta, họ đã xếp chúng ta vào trong chiếc lồng có tên là Arche de Noé (Con tàu huyền thoại của Noé) để chúng ta có thể sống sót qua một cơn mưa ròng rã kéo dài bốn mươi ngày và bốn mươi đêm liền, đó là trận mưa Déluge, người ta đã gọi nó như vậy, nhưng rồi bỗng nhiên, rất lâu trong những giai đoạn sau này, thái tử duy nhất mà Chúa trời đã phái xuống trần gian này đã trở thành mục tiêu của những con người vô thần vô đạo, những kẻ không tôn giáo đã đánh đòn roi Người, đóng đinh câu rút trên cây hình chữ thập, để mặc giữa trời nắng chói chang, và vào hôm Người bị lũ man dại ấy xét xử, những tên này cáo buộc Người đã làm xáo trộn trật tự công cộng do những điều kỳ diệu gây ấn tượng mạnh, khi đến lúc phải chọn giữa Người với kẻ bị kết tội khác, một nhân vật tầm thường không đức tin, không luật pháp mà người ta đặt cho biệt hiệu Barabas, thì người ta đã thích xá tội chết cho tên trộm cướp quan lộ ấy, và bọn họ đã hạ sát Người, chàng thái tử đáng thương ấy, nhưng khó tin lắm, Người đã từ cõi chết trở về hệt như một người tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa ngắn ngủi chẳng đáng kể gì, và nếu như tôi nói với anh về gã huyền bí ấy, thì không phải để tôi tránh xa những lời xưng tội của mình, mà đó là bởi - tôi tin chắc rằng gã ấy không phải là một kẻ tầm thường đâu, chàng thái tử ấy ý mà, Người cũng là một kẻ am hiểu biết hệt như ông chủ tôi, dẫu ông ta lẽ ra phải được một phó bản thiện phù trợ, ông chưa bao giờ hủy hoại bất kỳ ai, chỉ có những kẻ khác cứ bới lông tìm vết nơi ông mà thôi, có thể nói nếu Kibandi không còn đọc các câu chuyện như thế này nữa, nếu như thầy tôi thích những cuốn sách bí truyền hơn, thì đó là bởi ông đánh giá rằng cuốn sách của Chúa chê trách mọi tín ngưỡng của chính ông, phê bình những lễ nghi tôn giáo của ông, đưa ông rời xa dần với lời dạy của tổ tiên ông, vậy nên ông chẳng tin gì vào Đấng Tối cao trong chừng mực Người này mỗi lần lại cứ lần lữa chấp thuận lời thỉnh cầu đến ngày hôm sau, trong khi thầy tôi mong muốn những kết quả cụ thể và tức thì, ông chẳng thèm đếm xỉa đến những lời hứa về một thiên đường nào đó, chính vì chuyện đấy mà thầy tôi đôi khi, với mục đích cắt ngang thẳng tuột cuộc tranh luận của các kẻ tín ngưỡng nhất làng này, ông thổ ra, "nếu anh muốn Đấng Tối cao cười bò ra ấy mà, thì hãy kể cho Người nghe những dự định của anh đi", và con người cứ uổng công lấy đầu những người quá cố của họ ra mà thề nguyền hay nhân danh Đấng Toàn Năng, và đó chính là điều họ thường làm từ thủa hồng hoang đến giờ, rồi cũng có ngày họ sẽ phản lại lời nói của họ thôi bởi họ biết rằng lời nói gió bay, chẳng là cái khỉ khô gì cả, nó chỉ cam kết những kẻ nào tin vào điều đó mà thôi

ngay khi rút vào rừng sau mỗi một sứ mệnh, thì tôi bình tâm suy ngẫm tỉ mỉ trong một hang đất, đôi khi trên một ngọn cây hay trong một cái hốc cây nào đó, thậm chí còn đi dọc theo dòng sông, xa nơi lũ vịt diễu qua diễu lại hoặc những con vật khác đàn đàn lũ lũ kéo nhau qua, tôi điểm lại những hoạt động của tôi với thầy tôi, ông ngủ một giấc ngủ dài và sâu, ông lấy lại sức khỏe sau một đêm rã rời, suy ngẫm của tôi có thể kéo dài cho đến tận tối hôm sau, điều ấy không khiến tôi kiệt quệ gì, tôi đúng ra thấy vui vẻ hơn khi điều khiển mọi việc một cách trừu tượng và, vào thời kỳ ấy, tôi đã kịp học phân định rất nhanh mọi vật, tìm kiếm giải pháp phù hợp nhất cho một chướng ngại, con người thật nhầm lẫn khi cứ huênh hoang về chuyện này, tôi dám quả quyết rằng chẳng phải họ đã thông minh ngay khi vừa chào đời đâu, chắc chắn họ được hưởng một khả năng nào đó trong chuyện này, trí thông minh là một cái hạt mà con người ta phải tưới tắm cho nó để đến một ngày nào đó sẽ được nhìn thấy nó đâm chồi nảy lộc, trở thành một cây ăn quả cành cao bóng tỏa có rễ ăn sâu vào lòng đất, vả lại một số sẽ vẫn cứ dốt đặc như thế, cũng khó bảo hệt như một đàn cừu lao mình nhảy xuống một con suối bởi vì có một con trong số chúng đã nhảy xuống dưới đó rồi, một số khác sẽ vẫn cù lần như nhà chiêm tinh ngu si kia để bị ngã xuống một cái giếng hay thậm chí là con quạ bất hạnh này khi nó bắt chước một con đại bàng sà xuống cắp đi một con cừu, một số khác lại cứ khăng khăng trong sự xuẩn ngốc của mình theo cách một con thằn lằn châu Phi đang lên cơn kích động, ngẩng dài cổ suốt cả ngày dưới nắng mặt trời, những con người ấy sống trong bóng tối, niềm an ủi duy nhất của họ sẽ chỉ là được làm người, ông già nhím - người đã từng trị vì chúng tôi hẳn sẽ thổ ra khi nói về họ như sau, "đó toàn là những kẻ ngu muội hết, làm người là lý lẽ cuối cùng của họ, ấy thế mà không phải bởi ruồi biết bay mà có thể biến nó thành chim được đâu", qua chuyện này để nói với anh rằng trong những nghĩ suy của mình, tôi tìm cách học hiểu những gì ẩn náu đằng sau mỗi ý tưởng, mỗi khái niệm, hiện giờ thì tôi biết rằng suy nghĩ là điều cốt yếu, chính nó đã tạo cho con người nỗi phiền muộn, lòng thương hại, những hối hận, thậm chí là ác độc hay lòng tốt, nếu như thầy tôi quét bỏ mọi tình cảm này bằng một cái phẩy tay, thì chính tôi, tôi lại cảm nhận được chúng sau mỗi một nhiệm vụ mà tôi hoàn thành, đã nhiều lần tôi cảm nhận được dòng lệ chảy dài trên mắt tôi, bởi lẽ, mồ cha nhà con nhím chứ, khi con người ta bị nỗi phiền muộn hay lòng trắc ẩn xầm chiếm trong lòng thì người ta có cảm tưởng như có một cục gì đó ứ lại ở vùng tim, những nghĩ suy trở nên tăm tối, ta tiếc nuối những hành động của mình, cách cư xử tồi tàn, nhưng do tôi chỉ là một kẻ thừa hành công vụ, tôi dành cả đời mình cho vai trò phó bản của mình, tôi đã vượt qua được những ý tưởng đen tối của mình rồi sau đó tự an ủi bằng cách thì thầm với chính mình rằng trên trần gian này còn có những hành động kém trung thực hơn thế, thế là khi ấy tôi hít một hơi thật dài, tôi nhấm nhắt vài rễ cây sắn hay hạt thốt nốt, tôi cố gắng chợp mắt, cố gắng tự nhủ rằng ngày mai sẽ là một ngày khác, và rất nhanh, một sứ mệnh mới lại được trao cho tôi, tôi phải chuẩn bị, rời khỏi nơi ẩn náu của mình, đến gần nhà hay xưởng của thầy tôi, nghe những lệnh ông đưa ra, đương nhiên là tôi có thể nổi loạn, đương nhiên là tôi cũng nghĩ đến việc né tránh khỏi áp lực của thầy tôi, thi thoảng tôi nghĩ đến điều đó, ý muốn đó đôi khi rất lớn, chí ít thì hẳn có thể loại bỏ được một số hành động, nhưng tôi lại như bị tê liệt và tôi chẳng làm gì cả, và hôm kia tôi thậm chí đã không hề làm gì, ngày mà chỉ có một giải pháp duy nhất là giải pháp của thằng hèn mạt, giải pháp trốn chạy theo kiểu của một phó-bản thân thiện trong khi thầy tôi trút hơi thở cuối cùng mà nó sẽ đưa thầy tôi về thế giới bên kia còn tôi thì chứng kiến, bất lực trước cơn hấp hối của ông, trước cảnh tượng mà nó sẽ khắc sâu vào tâm khảm tôi, xin anh thứ lỗi cho cảm xúc của tôi nhé, giọng tôi đang run lên đây này, tôi phải dừng lại một chút để thở mới được

rõ ràng là tôi không nên tồn tại trên thế gian này nữa, tôi lẽ ra nên chết ngay ngày hôm kia cùng với Kibandi, quả là hoảng loạn thật anh ạ, ngỡ ngàng quá đi, chúng tôi đã bị bắt quả tang nhanh quá, chẳng hề có dự định gì trước để cự lại các sự kiện trong những tình huống như vậy, tôi đã trở thành một con nhím đớn hèn lăn lông lốc, thực ra ngay lập tức tôi đã không tin mình lại có thể sống sót được, và do hai vụ giết người xảy ra cùng ngày với thầy mình, tôi tự nhủ rằng mình chỉ còn là một con ma lưu lạc, và khi tôi đã tận mắt chứng kiến Kibandi thở hắt ra rồi lịm đi, thì tôi tức thì bị cơn sợ hãi choán lấy bởi lẽ, như viên thủ lĩnh già của chúng tôi ngày cụ còn sống thường nói, "khi người ta bị cắt mất tai rồi thì cái cổ cũng phải cầm chừng", còn tôi, tôi không biết nên phải làm gì nữa, không biết đi đâu, vậy là tôi cứ loanh quanh, không gian như thu hẹp lại xung quanh tôi, tôi ngờ trời sẽ đổ sụp xuống đầu tôi kia, tôi thở hổn hển ngắt quãng, bất kể cái gì cũng khiến tôi hãi, ngay lúc ấy tôi tự nhủ rằng phải tìm ra được chứng cớ chứng minh rằng mình còn đang sống đây, thế mà, theo anh thì làm thế nào để tin mình vẫn đang tồn tại, rằng mình không chỉ là cái vỏ ốc rỗng tuếch, một cái bóng không hồn, tôi có vài trò vặt hiệu quả để chứng minh điều này mà tôi học được từ những người dần ở đây, chỉ cần tôi tự hỏi mình điều gì khác biệt giữa một sinh linh còn sống và một bóng ma, thoạt đầu tôi nghĩ bụng rằng nếu tôi tư duy, tức là tôi tồn tại, thế mà tôi đã luôn luôn khẳng định rằng loài người không có độc quyền suy nghĩ, vả lại những người dân trong làng Kéképembé xác nhận rằng ma thì cũng suy nghĩ đấy bởi chúng quay về làm người sống sợ, chúng dễ dàng tìm thấy những con đường mòn dẫn đến làng xóm, chúng đi dạo loăng quăng trong các chợ, đến ngó nghiêng trong ngôi nhà xưa kia của chúng, đi thông báo cái chết của chúng cho các khu lân cận, đến la cà trong các quán xá, đặt mua rượu cọ, uống như một cái bọt biển hút nước, cố gắng thanh toán nợ nần mà chúng còn vướng với những người đang sống, ấy thế mà dưới con mắt người trần thì chúng đâu còn tồn tại nữa cơ chứ, thế là bỗng dưng tôi chẳng còn chắc chắn vào điều gì nữa hết, tôi phải có một bằng cớ mới, vậy nên tôi thử một mẹo khác cũng cổ xưa như trái đất này, tôi đợi cho mặt trời mọc vào thứ bảy, có nghĩa là ngày hôm qua ấy mà, tôi trườn ra khỏi nơi ẩn náu, tôi nhìn sang trái, tôi quay qua phải, tôi đến ngồi giữa một khoảng đất rộng lớn, tôi ngọ nguậy chân trước, tôi khoanh tròn chúng lại, tôi gỡ chúng ra, và thế là, mồ mả thằng nhím chứ, tôi không thể tin được, tôi đã rất mãn nguyện nhận thấy cái bóng của chính tôi động đậy, theo đúng nhịp các chi của tôi, tôi vẫn còn sống, không có chút nghi ngờ nào nữa trong chuyện này, và tôi lẽ ra nên tin chắc chuyện đó, tôi thề với anh đấy, thế mà không, tôi không được trấn an, tôi không muốn phạm phải sai lầm, tôi nhất quyết khăng khăng tìm kiếm một bằng chứng khác chứng tỏ tôi còn sống, bằng chứng mà tôi cho là hiệu quả nhất, tôi đã đến soi mình bên dòng sông, cả ở đó nữa, tôi đã ngọ nguậy các chi trước, tôi khoanh chúng lại, tôi gỡ chúng ra, tôi đã nhìn thấy bóng mình được phác ra cùng những động tác ấy, vậy là tôi không phải chỉ là một con ma bởi vì sau những gì tôi biết cho đến thời điểm hiện tại, và luôn thông qua loài người ở Séképembé, những con ma không có bóng hình, chúng mất đi sự hiện diện về thể xác, trở thành phi vật thể, dẫu vậy tôi cũng không chắc chắn cho lắm về sự tồn tại của mình mặc cho những chứng cớ hiển nhiên ấy, mà chúng hẳn sẽ là quá đủ cho bất kỳ một con người nào trong làng, tôi cần phải có một thử nghiệm khác, một lần cuối cùng, lần này thì thiên về thể xác hơn, và do hiện giờ tôi cứ lang thang dọc theo triền sông, tôi thoạt đầu lăn vào trong cát bụi, rồi sau đó lấy đà, tôi quăng mình xuống nước, tôi đã cảm nhận được độ mát mẻ của nguồn suối, tôi tự nhủ, kể từ đây là chắc chắn rồi, rằng tôi vẫn đang còn sống, điều tệ hại nhất, đó là tôi hẳn sẽ chết đuối rồi nếu như tôi đã không nhanh chóng bò lên bờ, và chỉ sau khi tôi đã đi đến gần nhà thầy tôi, chỉ là để xem qua mọi chuyện ở đó diễn ra như thế nào, tôi đã đến ẩn đằng sau xưởng, tôi đã hết sức ngỡ ngàng nhận thấy thi hài Kibandi nằm dưới một cái nhà kho lợp bằng lá cọ, ông rõ ràng đã đi về thế giới bên kia rồi, nhưng điều khiến tôi sợ nhất, đó là, từ đằng xa, tôi có cảm giác cái xác của ông lại gắn một cái đầu động vật, có thể nói đó là một cái đầu giống như cái đầu tôi, tuy nó phải to gấp chừng mười lần tôi, hay có thể đó là do sợ chính mình cũng phải chết đã gây cho tôi những ảo giác đó, cái chết rõ ràng hiện diện ở đó rồi, nó đang ở trước mặt tôi, nó đập theo đúng nhịp đập của tôi, nó có thể choán lấy tôi trong những phút hay những giờ sắp đến, nhiều câu hỏi ập đến trong tâm thức tôi, ví như "thế nhỡ một tay súng nào đó nhầm tôi là một con vật săn thì sao hả" hay "thế nếu một cơn lũ tràn đến cuốn tôi về con sông dữ Niari thì sao hả", những chất vấn này không để tôi được thanh thản, tôi trở nên bồn chồn, hoảng loạn, một tiếng động nhỏ nhất cũng khiến tôi gập người lại, tính hèn nhát của phó-bản thiện choán lấy tôi, chính vì thế mà tôi đã đến nằm dán mình trong một cái hang, đó là lần đầu tiên tôi đặt chân vào đó, nhưng các cơn hãi của tôi không phải là không có căn cứ vì chẳng bao lâu tôi đã rất lo lắng vì có những tiếng rít của một loại bò sát, tôi đã không có thời giờ để xác định rõ đó là loài nào, tôi đã chui ra khỏi hang bằng cách cuộn tròn người lại và lăn trên chính mình, cái sợ đang ngự chính trong ruột gan, tôi tự nhủ rằng một loại bò sát mà rít như con này thì chỉ có thể chứa đầy những chất độc chết người mà thôi, tôi không muốn chết bằng một cái chết như thế, cái chết vì nọc độc, vì một chất độc chết người, tôi chạy nhanh ra khỏi hang, phải băng qua con đường lớn về phía những ngôi nhà cuối làng, ở đấy nữa cũng vẫn còn những hiểm nguy rình rập, trên thực tế những chiếc xe tải chở hàng thường chạy qua con đường độc đạo này tuần một lần, tôi không nhớ ngày nào thì những cỗ máy không phanh chạy nhanh như cắt qua vùng này nữa, tôi đã chọn không băng qua đường, ai mà biết trước được có chuyện gì xảy ra kia chứ, thế là tôi lang thang trong vùng giáp ranh, hình ảnh thi thể thầy tôi với cái đầu của tôi gắn trên cổ ông cứ ảm ảnh mãi, tôi đã để rơi mất nhiều cái lông sắc nhọn trên đường, thế rồi tôi thấy xấu hổ vì mình, phần người càng ngày càng chế ngự phần vật của tôi, tôi tự sỉ vả mình là đồ tồi, đồ hèn mạt, đồ ích kỷ thảm hại, tôi tự nhủ rằng mình không thể trốn tránh như thế này, tuy tôi chẳng thấy có điều gì phải làm trong lĩnh vực này nữa, nơi mà mọi việc đã diễn ra như vậy rồi, và tôi sẽ chỉ càng khơi dậy trí tò mò của lũ chó batéké mà thôi, còn toàn thể dân làng sẽ truy đuổi để hòng hạ sát tôi, tôi đã không kháng cự lại giọng nói thì thầm đang nói với tôi, đang mắng mỏ tôi, đang đòi tôi hoàn thành một cử chỉ xứng đáng với mình, một cử chỉ sẽ làm vui lòng Kibandi quá cố, thế là sau đó ít lâu tôi liền quay trở lại ngôi nhà của thầy tôi, với nguy cơ sẽ bị lũ chó batéké đánh hơi thấy, đáng mừng là những trang anh hào có đuôi này chưa phải giờ hành sự, tôi đã có thời giờ để nhận thấy những gì đang diễn ra trong sân nhà thầy tôi, thực ra, người ta đang chuẩn bị đưa ông ra nghĩa địa, Kibandi không được hưởng lễ ma chay thường kéo dài ít nhất là năm đến sáu ngày trong làng, người ta sẽ chôn ông ngay trong chưa đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau khi ông trút hơi thở cuối cùng, tôi thoáng nhận thấy một nhóm vài người đàn ông đưa xác chết về nghĩa địa, tôi đã nhận ra gia đình Moundjoula, nguyên nhân gây ra cái chết của thầy tôi, có hai đứa trẻ nhà ấy, hai thằng con song sinh Koty và Koté, đó là một thể thức hơn là một lễ an táng thực sự, tôi thề với anh đấy, chẳng có người nào khóc cả, mồ cha nhà con nhím chứ, chỉ là thoáng qua thôi nếu như không nói là dân làng còn thì thầm với nhau "dưới gầm trời này mọi thứ đều phải trả giá, rốt cục thì tên gian ác Kibandi cũng chết, mong cho hắn bị đày xuống địa ngục", và phải chứng kiến cảnh cỗ quan tài đã bị người ta kéo lê như thế nào, tim tôi còn đau hơn cả khi nó bị băm vằm, tôi chắc chắn nếu như người ta giả vờ đến thăm viếng ông lần cuối cùng, thì đó là bởi, dù muốn hay không, người ta vẫn phải chôn cất một xác chết mặc sự gian ác của người quá cố, khi đó viên pháp sư đã đọc to một bài điếu văn cho dù ông ta không muốn, hai gã lực điền đảm nhận việc lấp cho thật nhanh huyệt mộ, đám rồng rắn lại quay về trong im lặng trong lúc tôi không rời mắt khỏi cây thánh giá được làm bằng những cành xoài khô, cây thánh giá đó hơi nghiêng về phía trái, nó nhô lên khỏi gò đất mà giờ đây được coi như nấm mồ của ông thầy quá cố của tôi, tôi đã nhận ra một chiếc đèn bão cũ kỹ mà người làng đã để lại gần ngôi mộ để cho người đã mất có thể nhìn thấy đường mà đi trong bóng tối mù lòa của cõi âm, và nhất là để họ không còn quay về làng nữa, nhập nhoạng vào trong số những người sống bằng cách lẻn vào trong bụng của một người đàn bà đang mang bầu, vả lại người trong làng quả quyết rằng người quá cố mà không có đèn bão gần mộ mình thì có nguy cơ dẫm lên những người quá cố khác, những người mà ông hay bà ta cần phải tôn trọng vì họ là người đi trước, tôi thấy hành động này rất tốt, xuất phát từ những người ý thức được rằng Kibandi đã không chỉ gây cho họ toàn điều bất hạnh, tôi nhìn thấy toán người đó trở về làng theo hàng dài, tôi nghe thấy tiếng thì thầm của họ, những phỏng đoán của họ về nguyên nhân gây ra cái chết của thầy tôi, tôi đã phải bịt chặt tai lại bởi họ kể những điều thật khó có thể tin nổi, thực ra tôi rất muốn tiến gần lại ngôi nhà cuối cùng của Kibandi, hít thở thớ đất mà ông đang yên nghỉ dưới đó, nhưng tôi đã không làm điều ấy, mà nhanh chóng rời đi và nức nở khóc, tôi đúng ra rất hận mình vì đã thích chọn sự trốn chạy hơn hệt như một kẻ đớn hèn, tôi đã quay đầu lại để nhìn nấm mồ ông lần cuối cùng, rồi cuối cùng tôi đã đi khỏi đó mà vẫn chua hề biết là sẽ đi đâu, màn đêm buông xuống trùm phủ ngôi làng, những bóng đen dựng đứng ngay trước mặt tôi, tôi chẳng còn nhìn thấy gì nữa hết, tôi đã vô tình tìm được một chỗ để qua đêm, tôi bị ép chặt giữa hai tảng đá lớn, tôi đã phải cào đất trong suốt một hồi lâu để có được chỗ nằm, tôi biết rằng đây chỉ là một noi cư trú tạm thời, rằng tôi không được ăn đời ở kiếp ở đó, bởi lẽ một số người dần trong làng tới chỗ này để mài cuốc xẻng trước khi đi ra đồng và, trong suốt đêm đó, tôi đã cố cưỡng lại cơn buồn ngủ, bởi tôi tự nhủ rằng cái chết và bóng đêm là những ngườỉ bạn vong niên của nhau và khi tôi đã hơi thiu ngủ được một lát, quên đi tình trạng đang mang án tử hình của mình và hình ảnh về xác chết có gắn cái đầu của tôi trên đó, thì tôi mơ thấy mình đã rơi xuống một cái hố khổng lồ, tôi cũng mơ thấy mình đang nằm giữa đám cháy thiêu trụi hết toàn bộ cánh rừng hoang, gieo rắc hoảng loạn đối với cả những kẻ thù muôn thủa của chúng tôi như sư tử, báo, linh cẩu đốm, chó rừng, báo có bờm, hổ hay báo vằn, tôi giật mình tỉnh giấc, tôi đã thực ngạc nhiên khi nghe thấy những chiếc lông sắc của mình va vào nhau kêu xào xạc, rất ngỡ ngàng khi phân biệt được mọi vật, "tôi vẫn sống, tôi vẫn đang còn sống, tôi không chết, mồ cha con nhím chứ", tôi nhủ thầm, bằng mọi giá tôi phải rời khỏi chốn này, và đó chính là điều mà tôi đã thực hiện ngay tắp lự

chỉ vài giờ đây thôi, ý tôi muốn nói vào lúc những tia năng bình minh đầu tiên của ngày chủ nhật này mà tôi đang nói chuyện với anh đầy, tôi đã rũ sạch bụi đất phủ đầy bụng và lưng tôi, tôi đã không nhận ra ngay lập tức tại sao lại không có một người dân nào đi qua gần hai tảng đá to nơi tôi đã rúc vào ngủ cả đêm, sau đó thì tôi mới hiểu ra rằng hôm nay là ngày nghỉ, nếu không thì tôi hẳn đã nhìn thấy những tay thợ săn, những người chắt rượu cọ hay những nông dân khác ra đồng làm việc ngay khi ngày vừa rạng lúc bình minh, thế là tôi, trước khi rời khỏi hai tảng đá, tôi đã vươn vai, đã ngáp sái cả cổ, tôi đã theo bản năng của mình, tôi cứ xiêu xiêu vẹo vẹo tiến về phía trước, tôi không biết làm thế nào mà đến được bên con sông này mà lần đầu tiên vắng bóng những con vịt giời và những loài động vật khác, tôi muốn băng qua nó ở chỗ nước nông hơn, tôi đã thích tránh nó đi vì sợ chết đuối, và chính lúc đi lòng vòng tìm kiếm mà tôi đã đến được chỗ anh đấy, thế đấy Baobab thân mến ạ, tại sao từ sáng nay tôi đến ngồi dưới chân anh, tôi nói chuyện với anh, tôi vẫn còn tiếp tục nói với anh nữa dẫu tôi chắc chắn rằng anh sẽ không đáp lời tôi đâu, ấy thế mà lời nói, tôi thấy nó hình như phóng thích cơn sợ chết, và nếu như lời nói cũng có thể giúp tôi đẩy lùi nó, thoát khỏi nó, thì khi ấy tôi có lẽ là một con nhím hạnh phúc nhất trên đời

trên thực tế, và tôi thấy xấu hổ mà thú nhận với anh, tôi không muốn chết, tôi không chắc có một cuộc sống khác tồn tại sau khi đã chết đi rồi, và nếu như có tồn tại một cuộc sống khác thật thì tôi cũng chẳng muốn biết gì hết, tôi không muốn mơ tưởng về một cuộc sống khác tốt đẹp hơn, cụ nhím già, người đã từng trị vì chúng tôi quả thật có lý khi cụ thổ lộ cho chúng tôi một trong những suy ngẫm của cụ mà cụ đã ngay lập tức đánh giá cao hiệu quả gây ra trong tập đoàn nhà nhím "do cứ hy vọng một tình thế tốt hơn, cóc lại trở về cảnh không đuôi mãi mãi", có thể nói rằng cóc không chỉ ở trong tình trạng không đuôi, mà ngoài ra người ta còn gây thêm nỗi buồn cho nó bằng một vẻ xấu xí nhường ấy đến nỗi mà nếu ban phát cho nó chút thương hại thì củng sẽ là một xúc phạm, thế nên, Baobab thân mến ơi, khi loài người nói về một cuộc sống khác thì họ chỉ tạo cho mình những ảo vọng thôi, những con người khốn khổ đó, và cuộc đời khác ấy mà, họ nhìn thấy nó dưới một bầu trời xanh trong, với những thiên thần hiện diện khắp nơi, họ chỉ nói toàn điều tốt đẹp ở đó thôi, họ thấy mình đang ở trong một vườn địa đàng, một cánh rừng an lành, ở đó sư tử không còn có răng nanh nữa, không còn móng vuốt nữa và sẽ thốt ra tiếng cười ròn thay cho những tiếng gầm, cái chết không còn tồn tại, tính ghen ghét, niềm hận thù, lòng thèm muốn sẽ tiêu tan hết, con người sẽ bình đẳng, tôi thì tôi rất muốn tin vào những điều này, điều dẫu sao cũng xác nhận rằng tôi chí ít có thể vẫn cứ là một con nhím, thật không nhỉ, có thể tôi sẽ tái hiện thành giun đất, thành bọ dừa, thành bọ cạp, thành con sứa, thành con sâu con bọ, thành con sên hay tôi không biết loài vật ghê tởm nào khác nữa và hổ danh cho hàng ngũ hiện thời của tôi mà bất kỳ con vật nào có lẽ cũng phát ghen với tôi, anh có thể sẽ chê trách tôi là một kẻ khoác lác, một kẻ phỉnh phờ, một tên thận có lông bén nhọn, ấy thế mà tôi đâu có đả kích những loài vật khác vì thích thú quá đáng đâu, khiêm tốn đôi khi là một thiểu năng, nó ngăn cản anh tồn tại, chính vì vậy mà tôi nâng tầm giá trị của mình lên kể từ khi tôi hiểu rằng để tự chấp nhận như mình vốn thế thì tốt hơn là giảm nhẹ vùng nhớ những nhược điểm của mình, ví như tôi thích những chiếc lông bén nhọn của mình hơn là những mụn ghẻ kinh niên của lũ chó trong ngôi làng này, tôi thậm chí không nói đến một số loài vật đáng được thương xót trên thế gian này, nơi mà sẽ luôn có một kẻ kém được ưu đãi hơn ta, bản danh sách thì dài, đối với tôi có lẽ sẽ dễ dàng tính đếm chừng hàng ngàn vạn cái lông nhọn của mình hơn là điều tra dân số những con vật oán hận kẻ sáng chế ra cõi đời này, tôi nghĩ đến con rùa thảm thương và cái mai cứng đỏ của nó, đến con voi và cái vòi kềnh càng của nó, đến con lợn bẩn thỉu và cái mõm rúc vào máng cám của nó, đến con rắn không chân nên phải áp bụng mà trườn đi, đến con tinh tinh đực với hai hòn tinh hoàn lủng lẳng hệt những chiếc cốc đựng đầy rượu cọ, tôi không gọi tên chỉ mặt loài vịt và những bàn chân như mái chèo của chúng, nó bắt buộc chúng phải có lớp màng chân mềm mại, như vậy ta tính có đến hàng ngàn vạn những sinh linh phải thương xót dưới gầm trời này, loài chúng tôi chẳng có gì phải ganh ghét với những loài khác cả, và chỉ tí chút thôi nếu loài người có thiện ý thì sẽ cho rằng tôi có lý, bởi vì, mả cha nhà con nhím chứ, ở điểm này, tôi xin được lượng thứ vì đã nói to tiếng, à mà không đâu nhé, tôi không đành lòng gặm nhấm những vỏ cây cách chỗ tôi ẩn náu vài mét hay còn náu mình trong các hang đất hệt như một con ngỗng con, tôi không thỏa mãn khi chén những đống xương người chết hay những quả cây rụng, và một khi nhiệm vụ của tôi hoàn thành, thì tôi nói rồi, tôi quay trở lại cánh rừng, co quắp trong cảnh đơn độc của mình, một nỗi đơn độc mà nó chưa từng đè nặng lên tôi cho đến tận ngày thứ sáu tuần trước đây, tôi suy ngẫm về ý nghĩa phải trình những bản tổng kết với thầy tôi, tôi không để anh phải tưởng tượng rằng vào những khoảng khắc đó tôi chỉ là một sinh linh bị đè nặng, đau khổ, bị rơi vào bẫy của số phận kỳ quặc của chính mình, không đâu nhé, vậy nên tôi muốn sống ở đây và ngay bây giờ, cũng trường thọ như anh, và nữa, chỉ nói riêng giữa chúng ta với nhau thôi, tôi sẽ không tự kết liễu đời mình với lý do tôi có lẽ không có quyền được sống nửa, anh hiểu tôi chứ hả, tôi cố gắng nhìn mọi vật dưới khía cạnh lạc quan, thi thoảng tôi hẳn cũng thích bỡn cợt, chứng minh rằng tiếng cười không phải luôn luôn chỉ thuộc độc quyền của con người, mồ mả cha nhà nhím chứ

33

tôi không biết liệu anh có nhận ra điều đó sáng nay không khi mà tồi bắt đầu tâm sự với anh, tôi đã không muốn thu hút sự chú ý của anh về sự kiện chưa từng có ấy, tôi đã thoáng nhận ra một con thằn lằn đã có tuổi tiến thẳng về phía tôi, đến chừng vài mét thì nó dừng lại, ngoái nhìn về phía sau, nó đã thè lưỡi ra, ngọ nguậy đuôi, và tôi đã thấy nó giương to cặp mắt do ngỡ ngàng, hình như nó bị đông vón lại như tảng muối, nó đã quá hãi trước thái độ liến láu mà không hề có bạn đối thoại của tôi đến nỗi mà nó đã khéo léo lỉnh đi, nó đã biến mất vì sợ có cơ gặp hiểm nguy và bỏ mạng trong một hang chuột cống, tôi cười ha hả như một tên gù bởi đã lâu lắm rồi tôi đã không còn cười theo cách ấy nữa, nhưng ngay tức thì tôi nén lại được bởi vì trong làng này đã có người chết vì cười rồi đấy, và khi tôi lại nghĩ về con thằn lằn đáng thương ấy thì tôi tự nhủ rằng có thể đó là lần đầu tiên nó bắt quả tang một con vật cư xử hệt như một con người, nói trong một thứ ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ, đầu cử động diễn đạt sự đồng tình, chĩa thẳng một trong hai chi trước lên trời để thề bồi, tôi đã cảm thấy thương hại con vật bò sát ấy dẫu rằng ngài thống lĩnh của chúng tôi xưa kia đã thường xuyên huênh hoang rằng tôi luôn cảm thấy sợ xanh mắt trước những con thằn lằn hồi tôi còn bé, con vật sáng nay chắc đã phải nhủ thầm rằng nó đang mơ, còn tôi thì tôi cứ tiếp tục nói chuyện với anh như thể chẳng có chuyện gì xảy ra hết

việc tôi chọn chân anh để náu mình không phải là vô tình đâu, tôi đã không hề đắn đo lấy một khắc ngay khi tôi nhận ra anh lúc đi dọc triền sông, tôi đã thầm nghĩ rằng đây chính là nơi tôi sẽ cư ngụ, thực ra tôi muốn tận hưởng kinh nghiệm tiên tổ của anh, chỉ cần nhìn những nếp nhăn chồng chéo quanh thân anh để hiểu rằng anh đã biết tung hứng với sự xen kẽ của các mùa như thế nào, ngay cả các rễ cây của anh cũng ăn xa, rất sâu trong lòng đất, thi thoảng, anh khua khoắng cành lá để áp đặt một hướng cho gió, nhắc cho thiên nhiên nhớ rằng duy chỉ có im lặng là cho phép trường thọ lâu đến thế, còn tôi, mồ ma nhà con nhím, tôi lại ở đây để luyên thuyên, để phát hãi ngay khi một chiếc lá khô vừa rụng khỏi ngọn cây anh, tuy nhiên tôi cần phải thở đôi chút trước khi tiếp tục, hơi thở tôi hổn hển ngắt quãng, càng ngày những ý tưởng càng chen lấn xô đẩy nhau, tôi cho rằng từ buổi sáng nay mình đã nói quá nhanh, tôi muốn uống tí nước, tôi hài lòng được mút mát giọt sương trên cỏ quanh tôi, tôi sẽ không liều mạng đi xa khỏi chân anh đâu, điều đó thì không đầu nhé, hãy tin tôi đi

tôi đã rời khỏi thế giới động vật như thế nào

chuyện rằng đã lâu lắm rồi, thời kỳ mà tôi buộc phải xa lìa lãnh địa tự nhiên của mình để xích lại gần một người mà khi ấy vẫn còn là một thằng lỏi con và tôi thường âu yếm gọi là "cậu Kibandi", nhiều năm tháng đã trôi qua, nhưng những kỷ niệm vẫn mạch lạc như thể mới chỉ ngày hôm qua, Kibandi và cha mẹ cậu khi ấy sống ở Miền Bắc đất nước, rất xa chốn này, ở mãi Mossaka, một vùng sông nước, cây cối sum suê khổng lồ, cá sấu và rùa to hệt như những trái núi, đã đến lúc tôi phải rời bỏ vũ trụ loài vật, bắt đầu hành sự cuộc đời phó-bản của mình, tôi phải đến trình diện với ông thầy trẻ tuổi của tôi, và cậu bé Kibandi đã cảm tôi ngay từ những ngày đầu tiên, rồi đến thời kỳ mà tôi phải bắt đầu hành động hối thúc hơn, phải giúp cậu nhìn nhận sáng tỏ hơn trong đời mình, tôi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu như sự hòa hợp giữa chúng tôi đã không diễn ra trong thời gian nhanh nhất, tôi đã xuất hiện đúng thời điểm, cậu khi ấy lên mười, tuổi đủ để đón nhận một con phó-bản ác, và khi tôi đến được cổng ngôi làng Miền Bắc ấy, tôi nhìn ngay thấy đứa con này đứng nấp sau cha nó, có thể nói rằng đó là một cái bóng, tôi đã cảm thấy thương hại đứa trẻ mà người ta vừa mới thụ pháp này, đứa trẻ không sao làm dịu đi được cơn say bí tỉ do đã bị ngấm rượu mayamvumbi, cha cậu vừa mới bắt cậu băng qua một bức tường lớn, một thế giới mới mở ra cho cậu, cậu đã trở thành một sinh linh khác, sinh linh mong manh mà những người dần trong làng Mossaka thoáng thấy đàng sau Cha Kibandi, không còn một con rối đẽo bằng gỗ nữa, một kiểu bao bì rỗng mà thứ đựng trong đó đã bị bốc hơi hết và chờ đợi giây phút gặp gỡ phó-bản của mình ở một nơi nào đó, chỉ còn đợi để hòa hợp với nó thành một khối duy nhất và cùng một thực thể, cậu nhỏ Kibandi không còn ngủ nghê gì được, cậu phải chiến đấu chống lại hiệu quả của thứ chất lỏng tập tục ấy, và trong thời gian ấy, về phía mình, tôi càng ngày càng náo động trong rừng, trảng cỏ bỗng trở thành nơi xâm lấn, một nơi mà tôi không sao chịu đựng nổi nữa, tôi tìm cách làm thế nào để ra khỏi đó được, để đi đến sống gần ngôi làng của ông thầy trẻ của tôi, khi ấy tôi không hề biết rằng mình sẽ phải chịu đựng lưỡi tầm sét của cụ nhím già, người đã từng trị vì chúng tôi, cụ, người suốt ngày vẫn thóa mạ loài người bằng đủ các loại tên

giai đoạn này là giai đoạn rộn ràng nhất trong đời tôi bởi tôi phải chia sẻ mọi thứ giữa cậu lỏi đó và gia đình nhím nhỏ bé của mình, tôi gột rửa những trận lôi đình của viên trưởng giáo, cụ ngày càng trở nên cố chấp, như thể cụ đã đoán chừng những xáo trộn đang diễn ra trong đời sống của tôi, như thể cụ đã linh cảm được những gì sẽ xảy đến với tôi, kể từ đó, cụ liên tiếp ra lệnh tụ tập gấp bội phần, hách dịch với chúng tôi, nói to tiếng, biểu thị với những động tác giả vờ, đưa bộ móng lên vuốt vuốt chòm râu cũn cỡn để rốt cục cũng khoanh được hai chi trước lại, mõm nghểnh lên trời, bắt chước một con người thật, điều khiến ta nghĩ đến Nzambi Ya Mpungu, chúng tôi chẳng có gì để nói bởi cụ luôn là người đưa ra lời phán quyết cuối cùng, ví như cụ đảm bảo với chúng tôi rằng một con sông như vậy ngày xưa chảy qua phía bên kia, và khi người ta chất vấn cụ dòng nước đó phải mất bao nhiêu thời gian để tiến hành sự thay đổi kỳ diệu đó thì cụ khuấy khuấy đám lông nhọn già nua, giả vờ nhắm mắt ra chiều suy nghĩ, chỉ lên trời, tôi khi ấy bật cười phá lên, điều ấy khiến cụ bực mình đến nỗi cụ đe dọa chúng tôi, thốt ra tối hậu thư của mình mà chúng tôi đã biết nằm lòng, "nếu nhu vậy hả, thì ta sẽ không nói gì cho chúng bay biết về loài người và những thói quen của họ nữa, chúng bay chỉ là một lũ đốt đặc mà thôi", và do chúng tôi vẫn tiếp tục cười nữa, cụ nói thêm, vẻ bí ẩn, "khi nhà hiền triết chỉ vầng trăng, kẻ ngu muội chỉ nhìn thấy mỗi đầu ngón tay ông ta", và do tôi không còn hãm được ý muốn của mình đến thăm viếng xem điều gì xảy ra bên phía các anh em thúc bá nhà khỉ của tôi thì cụ già nhím nổi đóa, yêu cầu các người bạn khác không được rời tôi một bước chân, liệu cụ có biết tôi phải lên sàn diễn kể từ khi cậu lỏi Kỉbandi vừa mới uống thứ chất lỏng thụ pháp ấy, cụ không biết, Baobab thân mến ạ, tôi thường từ từ lỉnh đi, đôi khi với sự đồng lõa của hai hay ba anh bạn mà tôi hứa kể lại cho họ nghe những phong tục thực sự của loài người bởi cụ già nhím của chúng tôi thường thổi phồng lên khi giảng giải các chuyện ấy và coi đó gần như là lời kêu gọi ra trận của loài vật chống lại loài người, những lần trốn khỏi rừng của tôi kéo dài cả nhiều ngày nhiều đêm liền, tôi cảm thấy khỏe hơn khi ở trong vùng phụ cận ngôi làng của ông thầy tương lai của tôi, viên thống lĩnh lúc đó như không còn kìm chế nổi khi tôi quay trở về lãnh địa của mình, cụ thóa mạ tôi bằng tất cả tên tục của loài chim, và, để làm lu mờ hình ảnh tôi hơn nữa, cụ nhắc đi lặp lại với đám bạn hữu tôi rằng loài người cuối cùng rồi sẽ khiến tôi mất lý trí, rằng tôi sẽ xông thẳng vào mõm cáo cho mà xem, rằng tôi có nguy cơ quên đi những thói quen của họ nhà nhím, rằng tôi sẽ dần đi xa khỏi những gì đã biến chúng tôi thành những con vật cao sang nhất của rừng hoang, và cụ già hiền triết của chúng tôi còn thề rằng một ngày nào đó tôi hẳn sẽ bị vướng phải những chiếc bẫy mà loài người giăng ra trong trảng cỏ, tồi tệ hơn cả là tôi thậm chí hẳn sẽ có thể bỏ mạng trong những cái bẫy nực cười của lũ trẻ trong làng Mossaka, chúng học cách bắt chim nhờ cái chậu thau nhôm của mẹ chúng, những con nhím khác cứ gập người lại mà cười, với chúng cũng vậy, rơi vào một cái bẫy của một thợ săn thực thụ giăng ra còn sướng hơn là rơi vào trong cái bẫy của một con người vẫn còn đang ngậm vú mẹ, và, những chiếc bẫy của lũ trẻ này, chúng tôi nhìn thấy khắp mọi nơi, mọi chỗ ở cửa ra vào làng ở Miền Bắc, nhưng cũng phải nói rõ ra, anh bạn Baobab thân mến ạ, rằng chỉ có những con chim ở Mossaka mới để cho bị bắt sống theo cách ấy mà thôi, tôi nghĩ đến trước tiên là những con chim sẻ, chúng là loài chim ngốc nhất đất nước này, tôi không muốn khái quát hóa thói ngu dốt của chúng với những loài động vật có xương sống phủ đầy lông vũ khác, được phú cho một cái mỏ và những chi trước được sử dụng để bay, ờ không đâu nhé, tôi dám chắc có những loài thông minh trong số các loài chim, thế mà giống chim sẻ ở Mossaka lại có một độ nhanh nhạy thường nhật tồi đến thế, đến nỗi mà chúng khiến tôi động lòng thương hại, tất cả những con chim sẻ trên thế gian này có lẽ đều giống thế, tôi hiểu rằng chúng bị cắt khỏi thực tế những gì diễn ra trên trái đất do cứ mải miết bay hết chỗ này đến nơi khác, đám bẫy của lũ nhóc ở Miền Bắc đã nhắm cho chúng, ở giữa đám đất rộng bọn người nhỏ bé này đặt những cái chậu được chống bằng một mẩu gỗ, xung quanh đó chúng buộc một sợi dây dài mảnh, chỉ nhìn kỹ mói thấy, khi ấy chúng nấp trong một bụi cây, cách đó chừng trăm mét, và những con vật bất hạnh bị thu hút bởi những hạt rắc vương vãi xung quanh cái chậu, chúng xô đẩy nhau, kêu ríu rít trên các ngọn cây trước khi quyết định đồng loạt hạ cánh xuống mà không thèm cẩn trọng chỉ định vài kẻ nhanh nhạy, những con này sẽ báo động cho chúng trong trường hợp có biến động, thế rồi cả bọn trẻ kéo dây bẫy ngu dốt của mình trong khi cả lũ chim sẻ bị quây tù túng ở trong cái chậu, nhưng Baobab ạ, điều lạ lùng đó là không một con nào trong số chúng đánh hơi thấy hiểm nguy chắc hẳn phơi bày ra ngay trước mắt của bất kỳ con vật nào thậm chí dù thiếu thông minh đi nữa, những con chim này không thể tự nhủ rằng kể cũng ngạc nhiên khi thấy một cái chậu hiện diện giữa một bãi đất hoang này, rằng có điều gì đó không ổn khi có những hạt vương vãi trên mặt đất mà những loài có mỏ khác lại chẳng thèm để ý đến, tôi không bao giờ hỏng đến độ ấy, nếu không thì tôi đã chẳng có mặt ở đây để kể cho anh tất cả những điều này, ấy thế mà, bọn bạn tôi, được viên thống lĩnh của chúng tôi tuyên truyền, lại hình dung rằng tôi hẳn sẽ bị những cái bẫy kiểu này xơi tái, "trống được làm bằng da hươu non do nó cứ đi xa khỏi mẹ nó", cụ già như vượn phương nam của chúng tôi tiên đoán, quả quyết rằng tôi không nắm chắc được ý nghĩa của những câu nói này, và chuyện của cụ gây tiếng vang inh ỏi trong bầy đàn, rất nhiều bạn lặp lại ngay lập tức, chúng bắt chước những động tác của trưởng lão, hơn nữa chúng đã bắt đầu chế giễu tôi bằng cách kêu tôi là "hươu non" cho đến tận ngày, do bực mình vì những mẩu chuyện tếu mà chúng chẳng khiến tôi cười chút nào nữa, tôi đã giải thích cho chúng nghe rằng hươu non là con của một con vật hoang, của con hươu, con hoẵng, thế mà tôi, tôi là một con nhím và rất tự hào được là nó

do một con vật một khi trở thành phó-bản ác của một con người thì phải rời khỏi môi trường tự nhiên của nó, gia đình nó, thế nên ngay khi còn ở Mossaka tôi đã bắt đầu chia cách với những thành viên trong bầy, tuy nhiên chúng tôi may mắn được sống thành cộng đồng khi người ta biết rằng loài nhím có tiếng thơm là một con vật tự chủ, và viên thống lĩnh của chúng tôi tụ họp vào mỗi tối, cụ thốt ra những câu đại cương của mình, tôi thấu rõ rằng cụ đang nói về tôi với những ẩn ngữ khi cụ khẳng định rằng không một con vật nào là không thể thay thế được trong rừng hoang, rằng những con nhím huênh hoang, mà cụ đã biết một số, thì cụ biết làm thế nào để đưa chúng về khuôn khổ cũ, và do tôi chẳng có ý kiến gì nên cụ nói trắng ra hơn, lầu bầu những câu kiểu "con cá bơi xênh xang trong khúc sông nhánh không hề biết rằng nó sớm muộn gì thì cũng kết thúc đời mình hệt như con cá ướp muối được bày bán trong chợ", cụ không còn đắn đo nhắc cho tôi nhớ rằng tôi là một đứa mồ côi, rằng không có cụ thì tôi có lẽ không còn là một con nhím đang sống sờ sờ đây, cụ kể lại rằng những bậc sinh thành ra tôi thì cũng cứng đầu cứng cổ như tôi, rằng họ đã rời bỏ thế gian này một thời gian ngắn sau khi tôi chào đời, tôi khi ấy chỉ chớm độ ba tuần tuổi, và viên thống lĩnh của chúng tôi đã khoe khoang rằng đã đón nhận tôi, cụ và bà vợ quá cố của mình, cụ kể tỉ mỉ rằng tôi đã đi ị suốt cả ngày như thế nào, tôi là một đứa lười biếng ra sao, những con thằn lằn bé tí đã khiến tôi sợ hãi như thế nào, và những con khác còn cười khẩy hơn thế nữa, cũng là do cụ mà tôi đã học được những tập quán của các người sinh ra tôi, có vẻ như họ thích giao du với loài người, cứ đêm tối đến là họ lỉnh đi, lẩn quất bên đám dân làng ở Mossaka, và chỉ trở về vào ngày hôm sau khi bình minh hé rạng, họ buồn ngủ rũ rượi, mắt đỏ ngầu, các cặp vuốt dính đầy bùn đất, họ cứ ngủ li bì suốt cả ngày liền hệt như những con chuột sóc, viên thống lĩnh không hề cho tôi bất kỳ lời giải thích nào về tất cả chuyện này, tôi đã bắt đầu tái thiết lập cuộc đời của cha mẹ mình bằng những mẩu ghép nhỏ, tôi không còn chút nghi ngờ nào về họ nữa, họ chính là những phó-bản ác, tôi đã kết luận điều này vào cái ngày mà tôi cảm nhận được trong mình lời gọi của cậu trẻ Kibandi, tôi chấp nhận ý tưởng rằng tôi là hậu thế của một dòng dõi nhím mà số phận được ấn định phục vụ loài người, không phải cho điều tốt đẹp nhất, mà cho điều tồi tệ nhất, và tôi oán hận viên thống lĩnh mỗi khi cụ nói về cái chết của những người sinh ra tôi, cụ hợm hĩnh kể rằng một tối cụ đã cố gắng thử theo dõi họ để xem họ đi đâu mà hối hả như vậy, nhưng họ đã bỏ rơi cụ giữa hai bụi cây, bởi cụ già dạo ấy đã có vấn đề về mắt, một tuần trôi đi mà họ không thông báo một tin tức gì, rồi xảy đến cái ngày đen tối ấy, ngày thứ tám kể từ khi họ biến mất, cái ngày bất hạnh mà một con cú mèo có bàn chần bầm dập do các cạm bẫy của loài người, bay ngang qua địa phận của chúng tôi, hình như đến thông báo cho viên thống lĩnh tin xấu, cái tin khi ấy ngự trị trên mõm của phần lớn những con vật sống trong khu vực chúng tôi, nó đã truyền cho cụ thông tin rằng một thợ săn đã hạ gục những người sinh ra tôi ở ngay tại nơi không xa Mossaka, toàn bộ bày đàn đã phải lập tức hối hả di tản và tìm thấy một lãnh địa khác cách đó chừng vài ki-lô-mét

dù sao thì tôi cũng vẫn chẳng tính đến số phận của các đấng sinh thành ra tôi bởi vì tôi không biết họ, tôi để mặc viên thống lĩnh già kể những điều bịa đặt cho những người khác nghe, tôi tự hào vì vận mệnh của mình, càng ngày tôi càng thường xuyên biến mất khỏi khu rừng hoang, hơn nữa tôi cũng chẳng thèm để loãng khoảng cách những lần trốn đi của mình nữa, và lần đầu tiên tôi trốn đi liền trong bốn ngày và bốn đêm liền, tôi chỉ làm mỗi việc là tiến thẳng về phía trước, chẳng có gì còn có thể ngăn cản tôi nữa, điều đó còn mạnh hơn cả tôi, và bọn bạn phát hoảng, chúng tìm kiếm tôi khắp nơi, lục lọi trong các bụi cây trong những chỗ mà chúng tôi có thói quen đàn dúm cho thỏa trong khi một đứa trong nhóm giám sát xem liệu có tay thợ săn nào đó phục kích vào khu vực không, thì tôi lại không có mặt trong các chỗ đó, và, chẳng còn cách nào khác, chúng hỏi han thông tin qua những con vật khác cùng loài chúng tôi, những con này không hiểu người ta đang nói về con nhím nào, khi bọn bạn tôi đưa ra những miêu tả về hình dạng của tôi thì một số nói rằng tôi đã tiến thẳng về phía trước và đi vừa hít ngửi từng xăng-ti-mét vuông đất, một số khác lại thêm vào rằng tôi thường ẩn đằng sau các thân cây hệt như tôi liên tục ngờ có hiểm họa đang rình rập, và ngày hôm ấy viên thống lĩnh đã nói chính xác rằng tôi có bước đi của một con nhím đã bị gãy chân do vướng phải bẫy của thằng lỏi người vẫn đang còn hơi sữa mẹ, cụ khoác lác rằng tôi đi khập khiễng, rằng tôi bị thọt, rất nhiều bạn bè tôi la ó với cụ trước điều dối trá hoang dại như một cái hang ấy, chúng tiếp tục cuộc tìm kiếm bởi chúng đánh giá cao tôi, và do tôi thích vùi mình trong các hang hốc trên thân cây, đặc biệt là những cây to như anh đây, trước tiên chúng dò xét kỹ lưỡng những hầm hốc của các cây baobab, rồi sau đó đến những cây thốt nốt lân cận, khi đi ngang qua chúng quả có quấy rầy sự thân mật của đám sóc, lũ này không để lỡ dịp liền choảng những quả thốt nốt trước khi liểng cho bọn chúng những lời thóa mạ trong ngôn ngữ của loài sóc, còn tôi, trong thời gian đó, tôi đang có mặt trong những luống cày trước đông của Mossaka để thấm vào người đứa trẻ mà tôi sẽ là phó-bản của nó, tôi có một ý tưởng mơ hồ liên quan đến nó bởi tôi nhìn thấy nó đang ngủ, vào giữa đêm khi tôi thấy trong mình một sự rung động mà không biết nó đến từ đâu, và chỉ có những con vật được chuẩn bị cho sự hòa nhập với một con người mới có thể cảm nhận được điều ấy mà thôi, thế mà tôi lại muốn thật chắc chắn mình không nhầm đứa trẻ, tôi khi ấy còn lâu mới nghĩ rằng tôi sẽ ăn đời ở kiếp ở Mossaka, rằng tôi sẽ phải rời bỏ lũ bạn của mình mãi mãi

thực ra, Baobab thân mến ạ, vào thời kỳ đó tôi đã không rời khỏi sới của mình với ý tưởng không bao giờ quay về đó nữa, tôi thề với anh rằng tôi thiết tha với cuộc sống cộng đồng, tôi quả quyết mình có thể tiến hành hai cuộc đời cùng một lúc, sống một cuộc đời ban đêm, và một cuộc đời khác ban ngày, rằng tôi có thể cùng lúc ở cạnh thầy tôi và tiếp tục kề cận lũ bạn mình, đáng buồn là điều đó không phù hợp với bản chất phó-bản, và chính trong suốt cuộc du hành về phía Mossaka mà tôi cảm nhận thấy trong mình thứ chất lỏng mà người ta vừa mới cho cậu trẻ Kibandi uống, tôi bắt đầu nôn oẹ, những cơn chóng mặt khiến mắt tôi nhòa đi, những chiếc lông nhọn sắc của tôi trở thành gánh nặng khó khăn khiến tôi phải chật vật để tha theo mình, tôi chỉ còn nhìn thẳng về phía trước mặt, gần như thể cậu trẻ đang gọi cầu cứu tôi vậy, cậu ấy đang cần tôi, tôi phải có mặt ở đó, nếu không thì sự tồi tệ nhất sẽ xảy đến với cậu ấy, tôi nắm giữ vận sống của cậu ấy giữa tứ chi của tôi, tôi thở thì hơi thở sẽ quay lại với cậu ấy, tôi là cậu ấy, cậu ấy là tôi, và để tái thiết lập mọi thứ thì tôi phải hành động thật khẩn cấp, tim tôi sẽ nổ bung ra, tôi không còn biết mình là ai nữa, tôi đang ở đâu và điều mà tôi phải hoàn thành ở Mossaka, tôi phải tiến lên, đi bộ, theo con đường đầu tiên trước mặt tôi, tôi còn hàng nhiều, hàng nhiều ki-lô-mét phải trải qua, đương nhiên là tôi không thể đến cùng một ngày hôm ấy, nhưng tôi phải ra đi, và do trời hôm đó đổ mưa, đi được nửa chặng đường tôi buộc phải lui vào trong một hang đá nghỉ qua đêm cho đến tận ngày hôm sau, phải nói rằng tôi không thú cảnh trời mưa cho lắm do số bạn hữu của tôi đã bỏ mạng vì bị các dòng nước cuốn đi đến tận tâm điểm những con thác của sông Niari, ở phía trong trảng, tôi chỉ chạm mặt những con cóc và đám chuột nhắt tí tẹo mà tôi có thể khiến chúng sợ, tôi đến được bên những luống cày vụ đông của Mossaka vào lúc hoàng hôn ngày hôm sau, cuối cùng cũng đến được cửa ngô của ngôi làng, và khi ấy toàn thân rã rời, rãi đùn ra đầy miệng, mí mắt trĩu nặng, tôi ngủ ngay đằng sau một ngôi nhà không xa một con sông mà tôi khám phá ra lần đầu tiên, đó là một nhánh của sông Niari chia cắt đất nước làm hai, tôi nghỉ ngơi tại đó, tôi tự nhủ rằng sẽ bình tĩnh tìm kiếm ngôi nhà của gia đình Kibandi vào sáng hôm sau bởi vì, khi cố liều mình đi giữa đêm, tôi sẽ đụng phải những tay thợ săn hay lũ chó batéké và ngay vào lúc giữa đêm tôi cảm thấy một luồng gió mạnh, những đám lá khô bị hất tung lên cao trong không gian, rồi sau đó một tiếng động lạ hệt như cái gì đó đến từ bên trong con người tôi, "mồ mả đồ nhím, đó là một người đàn ông, chính là một người đàn ông đã nhìn thấy tôi và họ muốn hạ gục tôi, tôi phải trốn đi thôi", tôi nghĩ thầm trong cơn hoảng loạn chợt đến, tôi ngay tức thì muốn ra khỏi nơi đang ẩn náu để tự cứu mình, nhưng hỡi ôi, tôi bị tê liệt hoàn toàn, không sao đụng cựa được ngay cả một cái chân của mình, như thể người ta đã ru ngủ tôi vậy, thực ra là tôi đã nhầm, đó đúng ra là tiếng động của một con vật đang di chuyển, thế là tôi dựng đứng những chiếc lông nhọn của mình lên mà không hề xác định trước danh tánh con vật đang mỗi lúc một tiến lại gần, tôi hy vọng nó sẽ nhỏ con hơn tôi, rằng nó sẽ sợ những chiếc lông nhọn, tôi đã sẵn sàng để lao chúng đi nếu cần phải làm bởi tôi có khả năng thực hiện điều đó khác hẳn phần đông trong giới tôi, tôi không cần phải tới tận điểm đó, trò chơi không đáng giá cây nến, tôi thở phào một hơi, tự trấn an mình khi cuối cùng đã phát hiện ra con vật trước mặt mình, tôi suýt nữa cười phá lên, cho rằng viên thống lĩnh của tôi có lý, người đã khẳng định rằng trong suốt những tháng đầu tiên tôi hiện diện trên mặt đất, tôi phát hoảng ngay khi nhìn thấy một con thằn lằn nhỏ tẹo, hôm đó tôi không cần phải hoảng loạn, đó chỉ là một con chuột cống khốn khổ, nó có vẻ đã bị lạc đường và thế là bỗng dưng hiện hữu ngay trước mặt tôi, tôi cảm thấy thương hại nó, có thể nó muốn có những thông tin đường xá, tôi thì chẳng thể làm được gì cho nó, tôi không thông thuộc vùng này, và hơn nữa, tôi hồ hởi nghĩ bụng rằng con chuột cống kia tuy cũng có vẻ lạ lùng, bộ dạng chậm như sên của nó biểu lộ sức nặng tuổi tác, cuối cùng nó giữ hai chi sau bất động, con chuột cống này không phải là một con chuột cống giống như những con khác, nó có mặt ở đây vì một lý do cụ thể, có thể để tiễu trừ tôi, ngăn cản tôi đến bên cậu trẻ Kibandi, hiện giờ nó thách đố tôi bằng hai con mắt lồi của nó, nó vểnh môi lên, tôi đứng im, tôi để mặc nó tin rằng chẳng phải một con chuột cống của Mossaka khiến tôi hãi được đâu, rằng trong cuộc đời mình tôi đã chứng kiến những con khác còn gây ấn tượng hơn thế, và nó đi vòng quanh tôi, hít hít dương vật của tôi, liếm nó trước khi biến mất vào trong một cái lỗ bên cạnh ngôi nhà cách đó chừng trăm mét, rốt cục tôi hiểu ngôi nhà đó chính là địa điểm tôi tìm, con chuột cống già đó là phó-bản ác của Cha Kibandi, nó đến xác nhận vị thế của tôi là phó-bản của con trai ông ta, đó là đoạn cuối của công việc truyền gia bảo mà nó đã được bắt đầu bằng chuyện uống thứ chất lỏng thụ pháp, và công việc truyền được diễn ra theo cách này, thoạt đầu là giữa hai con người, người thụ pháp và kẻ được thụ pháp thông qua việc uống chất mayamvumbi, kế đến là những con vật, phó-bản động vật của người thụ pháp phải liếm bộ phận sinh dục của phó-bản của người được thụ pháp non trẻ, thực ra, phó-bản của Cha Kibandi muốn đảm bảo con vật sẽ sống với con trai mình là một con vật quả cảm, một con vật có thể giữ được bình tĩnh trước hiểm nguy, nếu tôi mà bộc lộ cho nó thấy những dấu hiệu hoảng loạn, nếu tôi đã tìm cách chuồn đi, thì có lẽ nó đã khử tôi mà không hề đắn đo lấy một khắc nào đâu, và nó đã được phục vụ đến nơi đến chốn, Baobab thân mến ạ

do đã là bốn ngày và bốn đêm liền kể từ khi biến mất khỏi cánh rừng hoang để đến Mossaka, vụ việc đã đến tai tất cả những con vật thuộc bộ chúng tôi, một lời đồn khi ấy lan đi về việc một con nhím chết dưới gốc một cây cọ, lũ bạn tôi chạy khẩn cấp đến đó, chúng lật đi lật lại nhiều lần xác con vật khốn khổ đã bị bọn kiến đỏ gặm nhấm, dẫu vậy chúng kết luận rằng con nhím này không hề giống gì tôi hết bởi vì nó bị tật ở mõm, chúng không còn tự gây ảo tưởng gì nữa, chúng cũng không bỏ cả đời để tìm kiếm tôi, chúng phải cúi đầu trước hiện thực, sử dụng những phương cách cần thiết, chúng đi vào trong rừng hoang theo hàng dài, tôi đã kịp hình dung ra vị thống lĩnh của chúng tôi đang thỏa thuê xác định cái chết của tôi với đám bạn hữu khác,-giải thích cho họ rằng tôi đã vướng vào bẫy của lũ lỏi con ở Mossaka, tôi nghi ngờ cụ đã thêm bớt rằng tôi vốn là một kẻ có bản tính bướng bỉnh, rằng tôi vốn cao ngạo hệt như loài người, rằng tôi nói quá nhiều, rằng thói hợm mình của tôi đã kéo theo sự hủy diệt của tôi, rằng tôi ham thích cuộc sống trang trại hơn là tự do trong trảng cỏ, tôi cũng hình dung rằng, hệt như thói thường, có lẽ với ý định giáng cho tôi một cú đạp của con vật ngu dốt mà loài người gọi là lừa ấy, cụ bắt đầu ca lên một bài diễn văn đạo đức dài lê thê và rằng, để minh họa cho những lời nói của mình, cụ đã nhắc lại một câu chuyện ngụ ngôn mà cụ đã kể cho chúng tôi nghe với vẻ khoái trá, một câu chuyện ngụ ngôn đưa chúng tôi đến suy ngẫm Chuột phố và Chuột đồng, tôi nghĩ thầm cụ đã kể cho chúng nghe rằng một hôm Chuột Phố đã mời Chuột Đồng, và hai con vật này đang ăn tại nhà Người khi chúng nghe thấy tiếng ông chủ nhà về, chúng vội lỉnh đi ngay, và khi cuối cùng tiếng động đã im hẳn và rằng hiểm nguy hình như đã tản đi, Chuột Phố lại mời người bạn đồng của mình quay lại địa điểm hồi nãy để kết thúc bữa nhậu, con Chuột Đồng đã từ chối lời đề nghị này, nó nhắc cho anh bạn thành phố của nó nhớ rằng trong trảng cỏ không một ai phá bĩnh khi nó đang ăn, và thế là, Baobab thân mến, cụ già thống lĩnh của chúng tôi có lẽ đã tiết lộ tinh thần của câu chuyện ngụ ngôn này bằng một câu điên khùng mà một lần nữa rất nhiều kẻ đồng loại của tôi đã không nắm được mặc dù những lời giải thích tôi thì thầm nói cho chúng khi cụ già kết luận bằng một thái độ dửng dưng "coi thường thú vui nên sợ hãi có thể biến chất", và cụ chắc đã thì thầm rằng "thịt ngon có ý nghĩa gì khi mất tự do chứ, đúng thế không hả", vậy nên, hãy tin tôi đi, thế nào cụ cũng đã chỉ ra rằng những gì xảy đến với tôi có thể xảy đến cho bất kỳ những ai có ý định phiêu lưu nơi loài người, "số phận của một kẻ vô ý thức đã kết thúc như thế nào rồi đấy, từ một đứa trẻ hay khốc rống mà ta đã chứng kiến khi được sinh ra, mà ta đã đón nhận, một đứa bé sợ xanh mắt trước những con thằn lằn, ị bậy khắp nơi, một đứa trẻ chẳng có lấy sự biết ơn nào hết bởi thiên nhiên đã muốn chúng ta cáng đáng tất cả những cái lông nhọn, da cừu non đã được sử dụng làm trống cho loài người, mong sao điều đó là tấm gương cho tụi bay", có lẽ cụ đã kết luận như thế, và tôi còn hình dung rằng đó là một ngày buồn thảm đối với những kẻ đồng loại của tôi, vì thế cụ nhím già lẽ ra không nên ngắt quãng bài tuyên thệ của mình bởi cụ nói liến thoắng như cụ vốn thế, cụ rất thích minh họa những câu chuyện của mình ít nhất cũng bằng hai hoặc ba cầu chuyện ngụ ngôn mà cụ lưu giữ được từ chính ông bà của mình, tôi dám chắc rằng cụ đã gợi lại câu chuyện ngụ ngôn mà lũ bạn tôi thích hơn cả, Chim Nhạn và Đàn Chim Nhỏ, có vẻ như ngày xửa ngày xưa tồn tại một con Nhạn đã từng đi du ngoạn rất nhiều nơi, chứng kiến nhiều chuyện, học hỏi được nhiều điều, ghi nhận được nhiều thứ từ những chuyến đi của mình đến độ mà nó tiên đoán bất kỳ một cơn giông nào cho các thủy thủ biển, và con Nhạn đương sự đây, chắc chắn về hiểu biết và kinh nghiệm di cư của mình, một hôm đâ nói với đàn chim nhỏ vô tư lự để cảnh báo chúng chống lại hiểm nguy mà chúng sẽ chuốc lấy vào đầu thời kỳ mùa gieo hạt của con người, con Nhạn đã báo cho chúng biết trước rằng mùa gieo hạt chẳng bao lâu sẽ dẫn đến sự hủy diệt của bầy chim nhỏ, rằng phải bằng mọi giá hủy hoại hạt phải ăn từng hạt một, nếu không thì lũ chim nhỏ kia chắc chỉ được dâng cho số mệnh duy nhất là cái lồng hay cái chảo nấu mà thôi, không một con chim nhỏ nào trong bầy nghe lời con Nhạn bác học kia, chúng dùng cánh bít tai lại để khỏi phải nghe những lời lý luận suông ấy của một sinh linh lông vũ, người, mà theo chúng, đã mất ý nghĩa của sự phân định do cứ giao du khắp nhân gian mà không có mục đích cụ thể, và khi lời tiên đoán xảy ra trước sự ngỡ ngàng cùng cực của toàn thể bầy chim nhỏ, nhiều con trong số chúng đâ bị bắt, bị biến thành nô lệ, có thể chính trong phần này của câu chuyện mà viên thống lĩnh của chúng tôi đã phải kết luận câu chuyện ngụ ngôn của mình khi nói với lũ bạn tôi "còn chúng ta chỉ tin điều bất hạnh khi nó đã xảy đến mà thôi", tôi cũng không nghi ngờ cụ đã liều trong câu chuyện để đưa vào những lời phóng dụ khác mà chẳng đứa nào luận ra được trong lúc tôi vắng mặt bởi lẽ, như tôi đã nói với anh rồi, chính tôi đã cố gắng tiết lộ cho tụi nó ẩn nghĩa của các bài ngụ ngôn và những biểu tượng của cụ nhím già, và khi cụ kể xong chuyện Chim Nhạn và Những Con Chim Nhỏ, hãnh diện về sự hiểu biết của mình, cụ thốt ra với một thái độ nghiêm trọng rằng chỉ mình cụ biết sử dụng "ta, ta là Con Chim Nhạn đương sự, còn chúng bay, chúng bay là những con chim nhỏ vô thức, chúng bay không thể hiểu được, đó là những câu nói của sự hiểu biết, chúng vượt quá trí thông minh của các người", và nếu như các bạn tôi vẫn cứ tỏ ý lúng túng thì cụ già chắc phải phóng ra một câu còn khùng điên hơn, kiểu "tụi bay chẳng hiểu cái khỉ khô gì cả, chỉ lão già hiểu biết này có thể nghe thấy châu chấu phóng tinh thôi", nhưng lần này cụ chắc đã nói, với giọng nghiêm trọng hơn, "thôi nào, ta chuyển qua chuyện khác đi, chẳng ai là không thể thay thế được trong khu rừng hoang này, mặc xác con hươu non xử sự như loài người ấy đi"

chính là để nói rằng khi tôi mất tích, thì rất nhiều kẻ chắc đã sầu não, nhất là những kẻ chuộng nghe chuyện về loài người mà tôi kể cho họ nghe khi cụ già quay lưng bỏ mặc chúng tôi, huênh hoang rằng đi ngồi thiền trầm tư mặc tưởng, cụ nói với chúng tôi rằng hãy để cụ được yên trong sự nhập định của giáo trưởng, cụ yên vị trên một ngọn cây, mắt khép lại, miệng ấp úng những lời khấn khứa, tôi nghĩ đã nghe thấy những câu được chính anh em thúc bá của loài khỉ thốt ra, bởi lẽ những tiếng gầm và những tiếng lẩm bẩm của một con nhím có một sự hòa âm đáng ngạc nhiên mang tính con người, điều hoàn toàn làm nên niềm tự hào của tôi cho đến tận lúc này, đó chính là tôi quả quyết rằng rất nhiều trong số bạn bè thân hữu của tôi không mất hy vọng còn có thể gặp lại tôi một ngày nào đó, tôi quá cẩn trọng để có thể cho bọn lỏi ở Mossaka tóm sống như một kẻ ngây ngô, bọn họ chắc phải nhớ lại rằng tôi đã kể cho họ nghe cả ngàn lần về những cái bẫy mà chúng tôi vẫn luôn coi thường, chúng công nhận sự sáng suốt của tôi, tài đánh hơi của tôi, trí thông minh, tốc độ, mánh khóe của tôi, chúng biết rằng tôi, chỉ bằng một cái ngoáy cẳng, là có thể vô hiệu hóa những cái bẫy đó, thế nên những người bạn của tôi có thể đã bắt đầu tưởng tượng ra ngày tôi trở về với họ, một ngày trọng đại, họ sẽ cười vào mũi vị thống lĩnh, họ sẽ nói với cụ rằng những hăm hở hiểu biết của cụ chỉ là để lòe mắt thiên hạ mà thôi, họ sẽ hỏi tôi hàng ngàn câu tại sao tôi mất tích, sự thâm nhập của tôi vào thế giới anh em thúc bá nhà khỉ, tại sao lại chỉ giấu anh những câu hỏi đầu tiên mà có lẽ họ sẽ hỏi tôi mà có lẽ những câu hỏi ấy hẳn sẽ liên quan đến thân phận của loài người, mối quan hệ của con người với loài vật, lũ bạn tôi đã luôn luôn muốn biết liệu anh em thúc bá nhà khỉ đã bị thuyết phục rằng chúng tôi có khả năng suy ngẫm, có khả năng tiếp nhận một ý tưởng, dẫn dắt nó đến tận kết quả cuối cùng, chúng cũng luôn luôn muốn biết liệu loài người có ý thức được nỗi đau mà họ bắt các con vật phải chịu đựng không, liệu họ có thấu nhận ra sự ngạo nghễ, về đẳng cấp trên tự tuyên bố của họ, rất nhiều trong số bạn tôi thực ra chỉ biết về loài người qua những thành kiến mà cụ thủ lĩnh già của chúng tôi tuôn ra bởi họ chưa bao giờ đặt chân mình vào giữa một ngôi làng nào, vậy nên họ chỉ nhìn thấy con người từ xa mà thôi, đôi khi họ cũng cười rũ ra, gập cả người lại rồi đấy, ái ngại cho loài người, bởi những con người này không sử dụng những chi trước để di chuyển, thích cho rằng việc đi lại bằng hai chân là điều cần thiết, chỉ để minh chứng cho các loài khác rằng họ cao cấp hơn chúng, bọn bạn tôi chăm chú nghe bức biếm họa mà vị thủ lĩnh già của chúng tôi phác ra về loài người, người này tuyên bố rằng Người là không thể bênh vực được, rằng Họ không xứng đáng được hưởng bất kỳ một sự ân xá nào hết, rằng Họ là sinh linh tệ hại nhất trong đám được Đấng Tối cao tạo ra trên mặt đất này, rằng chẳng có tình tiết giảm tội, và do loài người bắt chúng ta phải chịu đựng cuộc sống khắc nghiệt, bởi Họ thù nghịch và câm điếc trước lời kêu gọi chung sống hòa bình của chúng ta, bởi chính Họ đến săn bắt chúng ta trong trảng hoang, bởi Họ chỉ hiểu sự cần thiết của một thỏa thuận sau một cuộc chiến đấu dài mà chính nó đã tàn sát họ, nó để lại những dấu vết không sao tẩy rửa được trong ký ức họ, thế nên, cần phải trả đũa lại họ hệt như vậy, thậm chí cần phải buộc tội cả con cháu họ vừa mới chào đời nữa bởi vì "không có con hổ con nào được sinh ra mà lại không mang móng vuốt cả", viên thống lĩnh của chúng tôi đã nói thế, và anh thấy đấy, Baobab thân mến, rằng cụ không hề mang hình ảnh loài người trong tim mình

cái chết của tôi chẳng mấy chốc trở nên chắc chắn trong cộng đồng chúng tôi, phỏng chừng chính viên thống lãnh đã quyết định đàn chúng tôi phải thay đổi chỗ ở càng sớm càng tốt bởi vì, Baobab thân mến ạ, khi một con trong số chúng tôi chết đi, chúng tôi tức thì di tản ngay trong hai hay ba ngày liền sau đó để đi tìm kiếm một sới mới, có hai lý do đẩy chúng tôi đến việc di cư đau đớn này, thoạt tiên chúng tôi nghĩ rằng sự thay đổi địa điểm là cách tránh né duy nhất chống lại hoảng loạn và sợ hãi của chúng tôi trong chừng mực chúng tôi ấp ủ một nỗi sợ chết đến xanh mắt, thực ra chúng tôi đã tưởng rằng thế giới bên kia chỉ là một vũ trụ chất đầy những sinh vật khủng khiếp, vả lại viên thống lĩnh đã lợi dụng chuyện đó để giải thích với chúng tôi rằng khi một con nhím chết đi thì vài ngày sau đó nó sẽ lại quay về với các đồng loại của mình dưới hình hài của một trí tuệ ranh mãnh, nó trở nên khổng lồ với những chiếc lông nhọn dựng đứng, dài hơn và sắc hơn cả những cây giáo của thợ săn, và vẫn theo lời cụ, những chiếc lông nhọn của một con nhím như vậy mơn man vươn tới cả những vầng mây, lấp kín chân trời, ngăn cản ngày mới thức dậy, thế là chúng tôi sống với nỗi lo sợ một con ma như thế, nó hẳn sẽ từ ầm phủ quay về với ý đồ làm chúng tôi thất kinh, ngăn cản chúng tôi ngủ, vặt sạch những chiếc lông nhọn xinh xắn của chúng tôi, đe dọa chúng tôi bằng đám gai dài tẩm chất độc của nó, nhưng lý do thứ hai đẩy chúng tôi phải di cư sau cái chết của một trong số đồng loại mình còn là bộc lộ bản năng muốn được sống sót thì đúng hơn, chúng tôi quả quyết rằng một con người đã hạ gục một con vật tại địa điểm nào đó thường có ý muốn quay lại chỗ đó, "một con vật lọc lõi đáng giá bằng cả hai con bình thường", viên thống lĩnh nói khi cơn sợ bóng ma một con nhím không còn đủ để thuyết phục chúng tôi phải tiến hành một cuộc di cư là cần thiết, và nếu như có chuyện chúng tôi không tuân thủ quyết định của cụ dẫu đã có những lời hăm dọa ấy, thì cụ tung ra, vẻ huyền bí, "hãy tin ta đi, ta như một kẻ điếc chạy bở hơi tai", sau đó cụ tiếp tục ngay "và nếu như chúng bay nhìn thấy một kẻ điếc chạy thục mạng, các con yêu dấu ạ, thì chớ có đặt ra câu hỏi gì cả, mà hãy theo hắn ta ngay, bởi hắn đã không nghe thấy hiểm họa, mà hắn đã nhìn thấy hiểm họa đó rồi", vậy có lẽ chính vì những lý do này mà các bạn đồng loại của tôi đã rời khỏi sới này, nơi chúng tôi đã định cư một thời gian khá lâu, họ đã không để lại bất kỳ lời chỉ dẫn nào có thể dẫn tôi đến nơi ở mới của họ, và thậm chí nếu có một vài đứa đã nghĩ đến việc hướng cho tôi về chỗ mới đó bằng những mánh khóe vặt vãnh, ví như bỏ rơi những quả cọ dọc theo một con đường mòn, những cái lông nhọn vãi vương trên đất, rải phân hay nước tiểu của chúng khắp nơi, đánh dấu một nhát móng vuốt trên mỗi thân cây, làm bầm giập các ngọn lau sậy, điều đó chẳng có tác dụng gì hết, vì cụ thống lĩnh chắc đã xóa hết những dấu hiệu này, rất có thể cụ đã chọn đi sau cùng đàn để quan sát cuộc du hành được kỹ lưỡng hơn, để khiển trách những thằng lỏi nhím ranh mãnh, và nhất là để xóa sạch những chỉ dẫn này

chính vì thế nên đến ngày thứ năm, khi tôi trở về lãnh địa với mục đích nghỉ ngơi đôi chút sau khi đã tiếp xúc được với cậu trẻ Kibandi, thì tôi đã không tìm thấy bất kỳ thành viên nào của đàn, tất cả đều yên ắng, những hốc đất trống trơn, rốt cuộc thì tôi cũng hiểu ra rằng viên thống lĩnh đã phát lệnh chuồn rồi, tôi đã bị đồng loại mình tuyên tử, tôi bắt đầu nức nở khóc trước cảnh hoang vắng đó, mỗi tiếng động trong các lùm cây đều gây hy vọng cho tôi gặp lại một trong những người bạn mình, nó tới để ôm nựng tôi, cọ những cái lông nhọn của nó vào sát lông tôi để tỏ niềm hoan hỉ tái ngộ, chọc ghẹo tôi khi kêu tôi là "hoẵng non", và cuối cùng khi tôi chợt nghe thấy một tiếng động, những chiếc lông nhọn của tôi bắt đầu náo động vui sướng thì hỡi ôi niềm phấn khởi hăng hái của tôi chỉ diễn ra rất ngắn, vì ngay sau đó tôi phát hiện ra đó chỉ là một con chuột leo cọ mà thôi, nó liều lĩnh đi qua nơi đó, tiếng cười phá ranh mãnh của nó đã nói nên nhiều điều, cho đến tận thời điểm hiện tại tôi vẫn không hiểu tại sao những kẻ say mê quả cọ này lại dành cho chúng tôi một sự thù hận nhường ấy đến mức coi bất hạnh của tụi tôi là niềm vui sướng của chúng, đương nhiên là tôi không đáp lại trò khiêu khích của nó, những trò giễu cợt mai mỉa ngớ ngẩn của nó, tôi trụ ở đó một mình trong liền sáu ngày, và chỉ đến ngày thứ bảy thì tôi mới thoáng thấy một con sóc trung niên trong vùng lân cận, và do những con sóc chí ít cùng tỏ ra thân thiện với chúng tôi hơn bởi lẽ chúng tôi không bao giờ cãi cọ với chúng, tôi hỏi liệu nó có nhìn thấy một đàn nhím rời khỏi vùng này vài ngày trước đây không, thì chính nó cũng phá lên cười, nó tăng gấp bội những cú gật lắc đầu mà chúng tôi vẫn chỉ trích những con vật trong loài nó, lũ sóc trên thực tế có khuynh hướng náo động vô tích sự, cặp mắt cứ đảo liên hồi chẳng để làm gì, cái mũi cứ động đậy, đầu lúc lắc theo kiểu người bị động kinh, những điều khiến cho vẻ bề ngoài của chúng còn nực cười hơn, nhưng cũng phải công nhận rằng, đôi khi nhờ những cú lúc lắc đầu ấy mà chúng tránh được những phát súng của con người đã bắn về phía chúng, và tôi nhận ra rằng nó kéo lê một cái đuôi đã bị thương, có lẽ nó vừa sượt khỏi một cái bẫy do loài người giăng ra, vết đứt vẫn còn há miệng, tôi không muốn nấn ná trên lý do về nỗi bất hạnh của nó, và thế là, sau tiếng cười ngả ngốn kéo theo hàng loạt những cái ngúc ngắc đầu kỳ cục ấy, nó đưa tay gãi gãi mông trước khi ấp úng "tớ theo dõi cậu từ lúc ấy rồi, tớ thầm hỏi không hiểu tại sao cậu lại khóc nhu thế chứ, vậy là tại vì cậu đang tìm kiếm những bạn đồng loại của cậu, đúng thế chứ hả, nói thật ra tớ chẳng nhìn thấy con nhím nào lẩn quất trong khu vực này từ mấy ngày nay, ở đầy dạo này đúng ra rất bình lặng, cứ nhìn vào việc chẳng còn cái khỉ mẹ gì để ăn nữa và rằng tất cả mọi người đều chuồn hết, nhung mà thôi, nếu cậu không có nơi nào trú ngụ thì bọn tớ có thể đón nhận cậu vào cộng đồng của mình, tớ sẽ rất lấy làm vui được giới thiệu cậu với những bạn đồng loài tớ, nhất là khi mùa mưa tới, cứ nhìn những đám mây thấp và nặng nề như cái dạ dày lừa kia mà xem, nó có nguy cơ rất khắc nghiệt và không khoan nhượng đâu, hãy đến với tớ đi, chúng ta phải giúp lẫn nhau chứ, phải chìa tay tương trợ cho nhau, cậu hiểu điều tớ muốn nói chứ hả", tôi không thể tưởng tượng được cảnh mình sống chung với bầy sóc, chịu đựng những cái ngúc ngoắc đầu của chúng, chia sẻ với chúng những quả cọ, phân giải những cuộc cãi lộn giữa chúng chỉ vì một quả óc chó thối, suốt ngày leo trèo, nên tôi lắc đầu từ chối, nó cố thuyết phục tôi, nhưng tôi vẫn tỏ ý vững chãi, thà chết còn hơn hạ mình đến mức ấy, tôi tự nhủ, và nó nói với tôi "cậu coi mình là ai mới được chứ hả, thói kiêu ngạo sẽ chẳng bao giờ tặng nhà ở cho kẻ lãng tử đâu", còn tôi thì tôi đáp lại "nhà ở của kẻ lãng tử là phẩm hạnh của anh ta", nó im bặt, nhìn tôi soi mói trước khi nói lời cuối cùng "nghe này, anh bạn lông nhọn ơi, tớ đã đề nghị cậu chấp nhận lòng hiếu khách của loài tớ, cậu từ chối, tớ rất muốn giúp cậu tìm lại những người thân, nhưng tớ vội quá đây này, vào lúc mà tớ đang đứng với cậu tại đây, thì lũ bạn tớ đã đợi tớ từ lâu rồi đấy, chúng cử tớ đi tìm vài quả óc chó, tớ chỉ có thể nói nhiều nhất với cậu là gia đình cậu đâ đi về hướng kia kìa, hướng đằng sau cậu ấy", và bằng cái mõm, nó chỉ cho tôi về phía chân trời, nơi mà trời và đất giao nhau, nơi mà núi nọ chạm núi kia, chỉ còn giống như một đống đá nhỏ, tôi biết ngay là nó chế nhạo tôi, rằng nó hớn hở thấy tôi ở trong tình trạng buồn thảm này, "tớ thật lấy làm tiếc, giờ tớ phải đi đây, tớ chúc cậu hây dũng cảm trong giai đoạn tới, và thói kiêu ngạo của cậu sẽ chấp thuận cho cậu một nơi để trú ngụ", nó nói, tôi nhìn nó đi khỏi mà không ngoái đầu lại, tôi đưa mắt nhìn về phía chân trời, rồi nhìn lên phía trên đầu mình, tôi đã lau sạch nước mắt, hơi loay hoay trong vài phút liền, vẫn là sự trống rỗng ấy, cái cảm giác mà cảnh yên ắng đã để mắt đến tôi, những cặp mắt đồng lõa của việc chuyển đổi nơi ở của các đồng loại tôi, hình ảnh cộng đồng mình cứ hiển hiện ra trước mắt tôi, tôi như thấy lại cảnh viên thống lĩnh đang nói, cầu nguyện, lầm bầm những mệnh lệnh, lúc đó, nước mắt tôi tuôn rơi nhiều hơn, và hít thở một hơi dài, những chiếc lông nhọn rủ xuống, tôi tự nhủ "kệ thây nó, trước mắt tôi sẽ sống một mình", và, hai ngày sau, bị đơn độc và bị nỗi buồn gặm nhấm, tôi lên đường quay trở lại ngôi làng cậu chủ trẻ của tôi

và thế đấy, Baobab thân mến ạ, làm thế nào mà tôi đã rời bỏ thế giới động vật để chuyên chú vào phục vụ cậu trẻ Kibandi, người vừa được thụ pháp ở Mossaka, cậu trẻ đó mà rất lâu sau này tôi sẽ theo tới Séképembé, cậu trẻ mà tôi sẽ chẳng xa rời nữa trong vòng nhiều chục năm ròng cho đến tận hôm thứ sáu tuần trước, ngày mà tôi đã chẳng thể làm được gì để tránh cho cậu ấy cái chết, tôi vẫn còn đang bị ảnh hưởng, tôi thật mong anh đừng nhìn thấy những dòng lệ của tôi, vậy nên do ý nhị tôi sẽ quay lưng lại phía anh và thở một chút trước khi lại tiếp tục câu chuyện

Cha Kibandi đã bán rẻ dự mưu của

ông cho chúng tôi như thế nào

chưa có một ngày nào trong đời mình trôi qua mà thầy tôi không sống lại cái đêm đó, đêm mà cha của thầy đã bán đứng dự mưu của ông cho chúng tôi, và những hình ảnh của việc thụ pháp cứ đeo nghiến lấy thầy, cậu thấy mình đang ở Mossaka, lúc lên mười tuổi, vào giữa đêm, một đêm đầy ặc lũ chim lợn, lũ dơi, cái đêm mà Cha Kibandi đã đánh thức cậu bé dậy mà mẹ cậu không hề biết, để dùng sức lôi cậu vào trong rừng, và trước khi rời khỏi nhà rất lâu thì cậu bé Kibandi chứng kiến một cảnh tượng khó tin nổi đến nỗi mà cậu dụi mắt nhiều lần liền, trên thực tế, cậu nhận thấy rằng cha cùng lúc vừa nằm cạnh mẹ lại vừa đứng ngay sát bên cậu, như vậy là có hai Cha Kibandi trong nhà, hai người giống hệt nhau như hai giọt nước, một người đang bất động, ngủ trên giường, người kia thì đứng, đang cử động, và cậu nhỏ bị cơn hoảng loạn xâm chiếm liền hét váng lên, nhưng người cha đang đứng ngay tức thì đặt một bàn tay lên miệng cậu và nói "con đã không nhìn thấy gì hết, cha là cha, và người đang nằm cạnh mẹ con kia, ờ thì..., thì cũng chính là cha, cha có thể cùng lúc là chính ta và Con Trùng của ta, đang ngủ kia, rồi chẳng mấy nữa con sẽ hiểu điều đó thôi", cậu bé Kibandi đã tức thời muốn thoát đi, nhưng người cha đang đứng đã tóm ngay được cậu chỉ bằng một bước chân "con không thể chạy nhanh hơn cha được đâu, và nếu như con có trốn thoát đi nữa, thì chính Con Trùng mà cha tung ra, nó sẽ theo dõi con", cậu trẻ Kibandi lại một lần nữa hết quay sang nhìn cha cậu đang đứng lại nhìn Con Trùng của cha mình, cậu có cảm giác đang bị người ta bắt cóc, rằng có lẽ phải đánh thức Con Trùng của cha cậu dậy, người hẳn sẽ tới cứu giúp được cậu, dẫu vậy cậu tự hỏi liệu kẻ kia có đúng là người sinh ra cậu thật không, và thấy người cha đang đứng để mặc cho cậu thỏa mãn trí tò mò trước khi gật đầu đồng tình, điều đó muốn nói rằng cậu trẻ muốn gì thì cần phải hỏi chính ông ấy, chính ông mới là cha, người cha thật sự, cậu trẻ Kibandi không sao thốt lên lời được nữa, người cha đang đứng lại ngọ nguậy đầu một lần nữa, phác họa nụ cười bí hiểm, cậu chủ trẻ của tôi ném nhanh ánh mắt cuối cùng vào giường cha mẹ cậu với vẻ tuyệt vọng, mẹ cậu lúc này đặt một bàn tay lên ngực Cha Kibandi đã ngủ, "Con Trùng của ta sẽ không thức dậy chừng nào mà mọi thứ còn chưa được hoàn thành như tổ tiên ta mong muốn, và nếu như hắn tỉnh dậy bây giờ, thì con sẽ không còn cha nữa, đi đi, đường còn xa lắm", ông ta nắm tay phải thằng bé, gần như thô bạo với nó, cửa nhà vẫn để hé mở, họ biến mất vào đêm tối, người cha không rời tay đứa con mình một khắc nào như thể ông sợ nó sẽ lỉnh đi mất, cuộc vi hành cứ như là bất tận, thỉnh thoảng điểm thêm những tiếng kêu của loài chim đêm và cuối cùng, khi họ đến được giữa rừng hoang thì vầng trăng dõi theo họ bằng cặp mắt kín đáo, người cha buông tay cậu chủ trẻ của tôi ra, ông ta biết rằng thằng bé này không thể nghĩ đến chuyện trốn chạy nữa do sợ bóng đêm trùm phủ lên nó, khi ấy Cha Kibandi vạch rộng một màng dây leo, đi về hướng một bãi tre, lấy ra một cái xẻng cũ được giấu dưới một đống lá khô, đứa trẻ không rời mắt khỏi cha nó, họ quay lại, đứng trên một khoảng rừng thưa, có tiếng nước chảy trong một con sông mạn phía dưới và Cha Kibandi, với chất giọng khàn khàn của mình, gióng lên một bài tấu, rồi bắt đầu đào đất với tài điêu luyện của những kẻ đào mộ, những tên trộm khăn liệm này, một khi đã ăn trộm và báng bổ phần mộ của xác chết xong, thì sau đó chúng giặt sạch đám khăn ấy dưới sông, gấp cẩn thận trong một chiếc túi rồi đi đến bán rất đắt trong các ngôi làng bên cạnh, nơi đang có đám tang mới, Cha Kibandi vẫn đang đào, những nhát xẻng phá tan sự yên tĩnh của khu rừng và chừng hai mươi phút trôi qua, gần như là vĩnh cửu đối với cậu chủ trẻ của tôi, người cha ném cái xẻng lên đống đất, phả ra một hơi sảng khoái nhẹ nhõm, "đây rồi, tuyệt lắm, chúng ta đã đến nơi rồi đấy, chẳng mấy chốc nữa con sẽ được giải phóng thôi", ông nằm sấp xuống, thò tay vào trong hố để lôi từ đó ra một vật được quấn trong một mảnh váy cáu bẩn, đứa trẻ phát hiện ra một cái bình và một cái cốc bằng nhôm, Cha Kibandi thoạt đầu lắc lắc cái bình nhiều lần trước khi rót chất mayamvumbi vào trong cái cốc, chính ông uống trọn một ngụm, tróc lưỡi một cái, rồi sau đó chìa chiếc cốc cho đứa con trai, thằng bé lùi lại hai bước, "ô mà mày làm cái gì thế hả, đó là vì điều tốt cho con thôi, uống đi, vậy uống đi nào", ông đưa tay phải ra tóm lấy nó, "con phải uống chỗ nước này đi, đó là để bảo vệ con đấy, chớ có giả ngây giả ngô như thế", và do cậu trẻ Kibandi, tuyệt vọng, giãy giụa, ông đè nghiến xuống đất khiến nó không động cựa gì được nữa, ông bịt mũi nó lại, rồi bắt nó uống mayamvumbi, chỉ vài ngụm là đủ, phản ứng đến tức thì, thằng bé Kibandi ngay lập tức cảm thấy những cơn chóng mặt ập đến, liền ngã vật xuống đất, rồi đứng dậy, lảo đảo, nó chỉ hơi gượng đứng được, mắt nhắm nghiền, chất lỏng ấy cùng lúc vừa có vị rượu cọ mốc, vừa có mùi bình ngấm bùn, chất lỏng ấy làm cháy họng, và khi mở mắt ra, thì cậu chủ trẻ của tôi thoáng thấy một thằng lỏi giống hệt mình, và cậu chỉ đủ thời giờ phân định được những đường nét của đứa trẻ này thì hắn đã biến mất giữa hai lùm cây, "con đã thấy nó rồi chứ, con đã thấy Con Trùng của con rồi chứ hả, con đã nhìn thấy nó chưa hả", Cha Kibandi hỏi, "nó đứng đây, ngay trước mặt con, đó không phải là ảo tưởng đâu, con trai ạ, bây giờ con là một người đàn ông rồi, cha vui quá, con sẽ tiếp tục điều mà ta đã nhận được từ chính cha ta và điều mà ông ấy đã nhận được từ chính cha của ông", còn thằng bé Kibandi thì ngóng tai về phía mà đứa trẻ ấy đã vừa mới biến đi hơn, Con Trùng của nó ấy, nó vẫn còn nghe thấy tiếng thằng bé ấy xéo nát những chiếc lá khô trong lúc chạy, một bước chạy gần như của kẻ điên, cứ như có người đuổi theo đến chỗ nó ẩn vậy, rồi sau đó là yên lặng, cha cậu cuối cùng đã có thể thở phào, ông chờ đợi khoảng khắc giải phóng này từ lâu, khoảng khắc mà ông rốt cuộc hẳn đã trả được món nợ giao truyền lại của mình

thằng bé Kibandi không có mối quan hệ thường xuyên với Con Trùng của nó, kẻ này thích theo dõi tôi hơn, ngăn cản tôi ngủ, tôi nghe thấy nó đi trên lá khô, chạy hụt cả hơi, thở trong các bụi rậm, uống nước trong một dòng sông, đôi khi có lúc tôi tìm thấy đồ ăn thức uống chất đống gần nơi tôi ẩn náu, tôi biết ngay rằng đó chính là Con Trùng của cậu Kibandi đã đặt chúng ở đó, tôi lấy đó là niềm tự hào, vậy là có ai đó chăm nom đến tôi, và có thể vào những khoảng khắc đó mà tôi cảm thấy được củng cố thêm, tôi vui sướng là một kẻ được ưu đãi, tôi lên cần, những chiếc lông nhọn của tôi trở nên dẻo dai hơn, tôi có thể nhìn thấy chúng lấp lóa khi mặt trời đến ngang đỉnh đầu, tôi quen dần với trò chơi trốn tìm với Con Trùng của cậu chủ trẻ của tôi, hắn trở thành kẻ trung gian giữa hai chúng tôi, và khi tôi không nhìn thấy hắn hay không nghe thấy tiếng hắn trong liền hai ba tuần thì tôi cảm thấy lo lắng, tôi khẩn cấp chạy ngay về phía ngôi làng, tôi chỉ cảm thấy được trấn an khi nhận thấy cậu bé Kibandi đang chơi trong sân ở phần đất nhà nó, thế là tôi trở về chỗ náu của mình, bình thản, và tôi đã trải qua nhiều năm liền như thế, Con Trùng của chủ tôi nuôi tôi ăn, tôi chẳng thiếu thốn thứ gì, tôi không phải lo lắng cho ngày hôm sau, đồ ăn thức uống đợi ngay trước cửa chỗ tôi ngủ, ngay khi tôi thò mũi ra ngoài là động vào, và nếu như một con vật nào đó dám đến thó các đồ ấy của tôi, thì Con Trùng của cậu chủ trẻ của tôi sẽ xua đuổi chúng bằng hàng loạt trận ném đá, lần đầu tiên tôi có thể hợp với con người cũng là lúc tôi bắt đầu một cuộc sống lười biếng

chẳng có gì được bắt đầu một cách cụ thể trong giai đoạn niên thiếu của thầy tôi, chúng tôi học cách sống cùng với nhau, trao đổi cho nhau những suy nghĩ của mình, học cách biết rõ nhau hơn, và chính thông qua Con Trùng này mà tôi gửi những bức thông điệp cho cậu trẻ Kibandi, rồi đến một hôm, tôi lê la gần một nhánh sông cụt, tôi bất chợt gặp hắn ngồi trên một tảng đá, hắn quay lưng lại phía tôi, tôi đã không muốn cả động cựa lẫn gây ra tiếng động, nếu không thì hắn sẽ lại lỉnh đi thêm một lần nữa, hắn quan sát những con hạc và đàn vịt trời, tôi bỗng như bị một cơn xúc động mãnh liệt choán lấy đến độ nhủ thầm rằng chính cậu Kibandi thật đang quay lưng lại với tôi như thế, tôi đã tiến lên thêm vài mét, hắn đã nghe thấy tiếng tôi, ngay lập tức hắn ngoái đầu lại, và đã quá muộn, tôi đã phân biệt được những đường nét của khuôn mặt, nếu như tất cả trên con người hắn đều tới từ thầy tôi, thì điều khiến tôi thấy có vẻ kỳ quặc nhất đó là nhận ra Con Trùng của Kibandi không có miệng, hắn cũng chẳng có mũi, không có gì ngoài hai con mắt, hai cái tai và một chiếc cằm dài, tôi chỉ vừa kịp có đủ thời giờ biểu thị sững sờ của mình thì hắn đã chạy dạt xuống nhánh sông cụt, những con hạc và vịt trời bay tóe lên như là một bức màn che cho hắn chạy tán loạn, chẳng còn lại gì trước mặt tôi cả, chỉ là con sông nhánh đang xôn xao, đó là một trong những hình ảnh hiếm hoi mà tôi nhìn thấy ở Con Trùng của cậu chủ trẻ của tôi, hình ảnh cuối cùng đó là khi sinh vật không miệng này đến thông báo cho tôi biết chuyến đi sắp diễn ra của thầy tôi và mẹ cậu về Séképembé, vài ngày trước khi Cha Kibandi qua đời

lúc về già, tất cả diễn ra như thế, Cha Kibandi quay về tình trạng động vật, lão không còn cắt sửa móng tay nữa, lão làm những động tác ngúc ngắc đầu của loài chuột cống già khi cần phải ăn, lão gãi người mình bằng ngón chân cái, và đám dân làng Mossaka vẫn thường lấy trò chơi của ông già đần độn làm chuyện đàm tếu tục tằn, thì bắt đầu lo lắng, lão già kể từ đó bắt đầu mọc những chiếc răng dài sắc nhọn, đặc biệt là đám răng cửa, đám lông màu xám dài mọc lên trong tai lão nay bò đến tận chần quai hàm của lão, và khi Cha Kibandi biến mất vào quãng nửa đêm, thì Mẹ Kibandi thậm chí chẳng nhận ra được, bà thấy Con Trùng của chồng mình nằm ngủ trên giường, bên cạnh bà, còn cậu chủ trẻ tôi khi ấy chợt phát hiện thấy hàng đàn chuột cống đi đi lại lại từ phòng chính đến phòng ngủ của cha mẹ cậu, cậu biết rằng con to nhất trong đám gặm nhấm này, con chuột có một cái đuôi dài nặng nề, tai cụp xuống và các chi bị oằn lại, con đó chính là phó-bản của cha cậu, nhất là chớ lấy gậy mà đánh gục nó, nhưng dẫu sao một hôm cậu cũng đùa cợt bắt lão vật già ấy chịu thống khổ, cậu đã rắc thuốc diệt chuột lên một mẩu củ ăn được và đặt ngay ở lối vào nhà, nơi bọn gặm nhấm đó thường xuất hiện, vài giờ sau đó có chừng khoảng mươi con chuột cống chết, cậu chủ trẻ tôi vội vàng thu gom lũ chuột chết này, quấn vào tàu lá chuối trong lúc cha mẹ cậu vẫn còn đang ngủ, cậu ra đi ném gói đó ở rất xa sau nhà, nhưng khi bình minh vừa hé rạng, trước sự ngỡ ngàng sửng sốt của cậu, Cha Kibandi véo tai con trai, "nếu con muốn ta chết, thì hây lấy dao và giết ta vào ban ngày, con đã đạt được điều như ta vẫn mong muốn cho con có được như ngày hôm nay, bội bạc là một sai lầm không thể tha thứ được, ta hy vọng sẽ không còn phải tranh luận gì với con về điều đó nữa", Mẹ Kibandi không hề biết gì về vụ việc đó, nhung hai cha con họ thì biết rõ họ đang nói về chuyện gì

ở Mossaka có những cái chết cứ tăng nhiều mãi lên, những cái chết không còn cách nhau quá xa nữa, những vụ chôn cất cứ nối tiếp nhau, người ta chỉ vừa đổ nước mắt vì một người chết thì đã có ngay một người khác đang chờ đến lượt mình, Cha Kibandi không tới dự các lễ an táng này, điều đó gợi ra những câu hỏi trong một ngôi làng mà hầu hết mọi người đều quen biết nhau, lão thấy ánh mắt của dân chúng đổ dồn lên mình, người ta đổi lối đi khi chạm phải cái dáng dấp chuột cống của lão, thế rồi cũng có các bà các cô nói luyên thuyên về chủ đề này trên bờ sông, còn đàn ông thì nhắc tên lão trong mỗi lần tụ tập trong ngôi nhà của làng, bọn trẻ thì khóc, chúng bám chặt lấy váy mẹ ngay khi lão già thấp thoáng đâu đó trong khu lân cận, đấy là còn chưa tính đến lũ chó batéké, chúng thận trọng sủa váng ngay từ xa hay ở trước ngôi nhà của chủ chúng, toàn bộ Mossaka giờ đây đều mang một tiếng nói duy nhất rằng Cha Kibandi có sở hữu một cái gì đấy, mỗi chi tiết của cuộc đời lão đều được phân tích tỉ mỉ dưới kính lúp, dưới chiếc lược dày, giờ đầy người ta trách cứ lão đã không có nhiều con, rằng chỉ có một đứa duy nhất than khóc vào lúc lớp khăn liệm phủ lên đầu lão, lão đứng trong tầm ngắm đối với bất kỳ một cái chết nào trong số những người quá cố ấy, ví như chuyện người em trai ruột của lão là Matapari chết khi đang cưa một thân cây trong rừng trong khi ông ta là một trong những người đốn gỗ giỏi nhất Mossaka, sao hả, đúng là người em trai này đã thay đổi cách thức làm việc, đã trang bị cho mình một chiếc cưa máy, mà đối với vật dụng này người ta cần phải biết rõ cách sử dụng, ông ta đã sử dụng nó trong khu vực mà người dân vẫn còn thường xuyên dùng rìu để đốn gỗ, liệu Cha Kibandi có phải đã ganh ghét với ông ấy về dụng cụ làm việc này không hả, liệu phải chăng lão hiềm tị với kinh tế của em trai mình, người đã biết làm ra lợi nhuận từ cái cưa máy ấy, cho dân chúng thuê nó, rồi đến cái chết của người em gái út Maniongui của ông ta nữa, người ta tìm thấy cô ấy bất động, hồn lìa khỏi xác, cặp mắt lồi ra vào ngay hôm trước khi tiến hành hôn lễ đám cưới của mình chứ hả, tất cả mọi người đều biết rõ rằng Cha Kibandi phản đối cuộc hôn thú này do chuyện về con người xứ sở, "một cô gái Miền Bắc thì không thể lấy một gã Miền Nam được, chỉ một điểm ấy thôi, chấm tạch", lão nói, cũng còn chuyện về cái chết của Matoumona nữa, người đàn bà mà Cha Kibandi đã muốn lấy làm lẽ, người đàn bà chỉ bằng nửa tuổi lão ấy, hả, chẳng phải bà ta đã chết khi bị nghẹn cháo ngô đó sao, và còn cả cái chết của Mabiala, người bưu tá mà lão ta nghi ngờ có tình ý gì đó với Mẹ Kibandi, hả, và của Loubanda, người sản xuất trống tam-tam, người mà lão ta trách cứ vì rất được phụ nữ ưa chuộng, hả, và của Senga nữa, người thợ làm gạch đã từ chối làm việc cho lão, hả, và của Dikamona đội viên của giàn hợp xướng, chuyên coi sóc túc trực trong các đám tang lễ, người đã không chào hỏi lão, cô ấy đã dám công khai kêu lão là tên phù thủy già, hả, và của Loupiala, nữ y tá có bằng cấp gốc người làng Mossaka, người phụ nữ trẻ này, theo như Cha Kibandi, chỉ chuyên nói huyên thuyên, nói để chẳng phải nói gì cả, cô gái trẻ này đã bịa ra bằng cấp của mình, hả, và của Nkélé, nhà nông nghiệp lớn nhất vùng, con người ích kỷ này đã từ chối nhượng cho lão một mảnh đất gần sông hả, còn có tất cả đám người không có họ hàng gì với lão nữa, những người dân ấy chết dần, người nọ sau người kia hả, thế là Baobab thân mến ơi, người ta đổ hết trách nhiệm cho Cha Kibandi về các cái chết ấy, còn lão khi ấy lại đảo mắt nhìn về phía chân trời với vẻ thanh thản, như thể lão chẳng thể thay đổi được dòng chảy của vạn vật, như thể lão còn đứng trên cả cái mà chính lão đã quy cho là "những trận va chạm cãi cọ vớ vẩn của thằn lằn", và do người dân không còn trò chuyện gì với lão nữa thì lão co quắp lại trong niềm kiêu hãnh của mình, nói với con trai và vợ lão không được chào ai, còn chính lão thì khạc nhổ xuống đất khi chạm mặt một người dân nào đó, lão thóa mạ trưởng thôn bằng đủ các loại tên, một tên biến chất hèn mạt chỉ bán đất cho chính gia đình mình, thế rồi có sự kiện tiền định này, một vụ mâu thuẫn gia đình mà nó sẽ đánh dấu vào trong ký ức của những người dần Miền Bắc, mối bất hòa với cô em gái lão, cô em gái út ít nhất, ấy vậy mà người ta chưa biết rõ Cha Kibandi bởi lão lại một lần nữa sẽ lại xáo bài, gieo rắc nghi ngờ trong tâm thức dân làng, lão sẽ lại quay ngược điều tuy có vẻ như là thời khắc cuối cùng tồn tại của lão trên dương gian này, chỉ có Cha Kibandi mới có khả năng thu được một chiến tích như vậy, hãy tin tôi đi Baobab thân mến ạ, và cho đến tận bây giờ tôi vẫn không sao hoàn hồn được khi chứng kiến lại cảnh lão ta đã xoay vần cái thế giới nhỏ bé này như thế nào

bất hạnh đó xảy ra vào chính trong suốt mùa khô năm ấy, nước sông Niari chỉ lên đến ngang mắt cá chân những kẻ đi bơi lội, người ta tìm thấy thi thể bất động của Niangui-Bousina nằm dài lúc hoàng hôn trên hữu ngạn sông, phía bên kia ngôi làng, bụng cô bé trương phình lên, cổ phồng to hệt như thiếu nữ ấy đã chết sau khi bị một tên tội phạm có bàn tay khổng lồ bóp cổ, thiếu nữ trẻ đó không ai khác mà chính là đứa cháu gái ruột của Cha Kibandi, con của người em gái Etaleli mà bấy giờ tôi gọi là Cô Ataleli hệt như chính chủ tôi vẫn gọi bà như thế, thiếu nữ Niangui- Bousina đã đến Mossaka nghỉ hè cùng với mẹ, làng họ ở cách đó vài cây số, Cô Etaleli cho rằng con gái mình không thể bị chết đuối được, không, chẳng đời nào có chuyện đó được, con bé đó được sinh ra và lớn lên bên bờ sông nổi tiếng nguy hiểm nhất nước, bờ sông Loukoula, cả tuổi thơ của nó trôi qua trong sông nước, vậy nên đó là một câu chuyện có điều ám muội, cái tên của Cha Kibandi đương nhiên được nêu ra, Cô Etaleli đe dọa sẽ không rời khỏi Mossaka chừng nào mà vụ chết đuối của con Cô vẫn còn chưa được đưa ra ánh sáng, và, sự căng thẳng mỗi lúc một tăng, Cô đi khỏi nhà anh trai mình, đến ở trong nhà của một trong đám bạn gái của Cô, và chỉ ra khỏi đó vào cái ngày mà người ta phải đưa xác thiếu nữ về Siaki, ngôi làng mà Cô Etaleli sống với chồng mình, và dẫu sao lần này Cha Kibandi cũng nghe thấy từ "phù thủy" ngay khi lão thò chân ra khỏi nhà, người ta gọi lão là "chuột cống mắc dịch", người ta không để cho lão có thời gian giải thích, lão hẳn đã muốn nói chuyện đó với đứa em gái mình, chứng minh cho Cô thấy rằng người ta có thể kết tội lão về đủ các thứ chuyện trên đời trừ việc đã xơi tái đứa cháu gái của lão, và khi tôi nói đã bị xơi, Baobab thân mến thì phải hiểu rằng đó là nói đến chuyện kết liễu đời sống của một cá nhân nào đó bằng những phương tiện không thể nhận ra được đối với những ai không chấp nhận sự tồn tại song song của một thế giới khác, đặc biệt là đối với loài người vô thần này, và thế là, mồ cha nhà nhím chứ, ngày an táng Niangui-Bousina, người ta đã đợi Cha Kibandi với những ngọn giáo tẩm thuốc độc, người ta dự định sẽ công khai đâm xuyên xác Lão tại ngôi làng mà lão chuẩn bị tới để tưởng niệm đứa cháu gái mình, lão đã đổi ý vào khắc cuối cùng, con chuột cống mà lão phái đi dò sát địa hình đã nghe phong thanh về những gì thêu dệt nên để chống lại lão, một cái bẫy lớn đã đuợc Cô Etaleli sắp đặt cùng với đồng lõa của một số người dân trong làng Siaki và Mossaka, dù sao một tuần sau buổi an táng, cũng vẫn là Cô Etaleli đã xuất hiện ở Mossaka từ rất sớm cùng với một đoàn gồm bốn người đàn ông, rất bất nhã với Cha Kibandi, Cô nói thẳng với lão "chính anh, anh đã xơi tái Niangui-Bousina, chính anh đã ăn thịt nó, mọi người ai cũng đều biết cả, mọi người ai cũng đều nói thế, anh hãy nhìn thẳng vào mắt tôi mà thú nhận điều đó đi", Cha Kibandi bẻ lại luận điệu kết tội, "ta không ăn thịt nó, làm sao mà ta lại có thể ăn thịt đứa cháu gái của chính mình chứ hả, ta thậm chí còn không biết làm thế nào mà người ta lại có thể ăn thịt một ai đó chứ, con bé bị chết đuối, chỉ vậy thôi, chấm tạch", và người em gái lên giọng, "nếu anh là một thằng đàn ông, thế thì hãy đến Lekanna với chúng tôi, đạo sĩ Tempé-Essouka sẽ đối chứng với anh trước bốn nhân chứng đang đi cùng tôi đây, tôi đã chọn họ trong bốn làng khác nhau, vả lại một trong bốn họ là người Mossaka", và trước sự ngỡ ngàng của tất cả, có lẽ cũng do đám đông cứ hối hả chen lấn xung quanh họ, Cha Kibandi không hề biểu thị sự kháng cự nào, lão xỏ dép cao su, khoác chiếc áo thụng dài trùm chân, nói như để thách đố "ta đã sẵn sàng, đi thôi, cô chỉ mất thời giờ thôi, em gái của ta", Cô Etaleli đáp lại "đừng gọi tôi là em gái nữa, tôi không là em gái của một kẻ ăn thịt người"

81

nếu như bốn nhân chứng có mặt được chọn đi cùng Cô Etaleli đã được chọn đều trong bốn làng khác nhau, thì đó là do truyền thống, nó đòi hỏi nhu cầu phải để tâm tới tính trung lập và xác thực của những điều mà các nhân vật này sẽ truyền lại trong cộng đồng của mỗi người bọn họ, nhóm người ít ỏi đó cuốc bộ suốt nửa ngày đường đến tận Lekana, đây chính là nơi ẩn dật của đạo sĩ nổi tiếng Tempé-Essouka, một ông lão già mù lòa ngay từ thủa chào đời, với cặp chân tong teo gầy guộc, chòm râu bạc quét sát đất sau mỗi động tác ngúc ngắc của đầu lão, có vẻ như những nhà chức trách của đất nước này đều đến hỏi ý kiến vị đạo sĩ này, sùng bái các ma thuật của lão, lão không bao giờ tắm rửa, nếu không lão sẽ bị mất các uy lực của mình, lão kéo lê đống áo quẩn bẩn thỉu đỏ rực, đi đại tiểu tiện ngay đầu giường dựng bằng tre của mình, lão có tài thuần dưỡng mưa, gió và nắng, lão chỉ đòi được trả công sau khi đã chứng thực kết quả, và còn nữa, người ta phải thanh toán cho lão bằng tiền cauris, thứ tiền thông dụng vào thời kỳ đất nước này vẫn còn là một vương triều, lão không tin tưởng vào tiền quốc gia, lão nghĩ rằng thời gian chẳng thay đổi, rằng thứ tiền chính thức là một con chim mồi, rằng thế gian được lập nên bởi những triều thần, mỗi triều thần có đạo sĩ riêng của họ, và trong số các đạo sĩ đó, lão là người giỏi nhất, và ngay khi người ta đặt chân đến trước nhà lão được dựng trên một quả đồi thì lão phát ra một nụ cười khẩy làm tê liệt những vị khách, lão bắt đầu bằng việc nói trắng ra những chi tiết về quá khứ của bạn, lão nói chính xác ngày tháng năm sinh và nơi bạn chào đời, tên họ tên tục của cha mẹ bạn, sau đó lão lật tẩy động cơ chuyến viếng thăm của bạn, lúc lắc những chiếc mặt nạ ghê rợn treo lủng lẳng liểng xiểng trên đầu lão và lão liên hệ với chúng qua tâm linh, con người đó sẽ phân giải phải trái cho cha và cô của Kibandi, cả bốn nhân chứng đã cố gắng bằng tất cả mọi phương tiện để giảng hòa giữa em gái và anh trai, nhưng hai người này vẫn không nói với nhau một lời trong suốt chặng đường xuyên qua trảng rừng, nhóm người đến được ngưỡng cửa làng Lekana vào quãng giữa trưa

Baobab thân mến, người dân làng Lakana đã quen thuộc với cảnh tới lui của những vị khách luôn đi về hướng quả đồi để xin ý kiến Tembé-Essouka, và người này, khi vừa mới nghe thấy tiếng bước chân của khách, thì đã hét toáng lên đến độ gần như rủ ra từ trong ngôi nhà của mình, "các người, đây này, các người đến nhà ta như vậy để làm gì chứ hả, Tembé- Essouka không phải ở đây để giải quyết ba cái vụ việc vụn vặt mà chính các người có thể thương thảo được với nhau, chớ có đến quấy rầy ta một cách vô bổ nhé, ta không cần tiền cauris của các người, thủ phạm đã không ra khỏi chỗ trú của hắn, ta nhìn thấy nước, đúng thế, ta nhìn thấy nước, ta thấy một thiếu nữ đang bị chết đuối, thiếu nữ này là cháu gái của một ông lão già đang bị một bà kết tội, nếu các người cố nài, nếu các người không tin ta, vậy thì vào đi và các người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đấy nhé", do Cô Etaleli đã dứt khoát hơn bao giờ hết, cả nhóm người bước vào trong nhà, không phải mùi hôi thối khiến sáu người vừa tới khó chịu mà đúng ra là những cái mặt nạ, chúng hình như bị xúc phạm bởi tính ngoan cố và liều lĩnh của nhóm người lạ này, cái nhìn của Tembé-Essouka ướt át và tắt lạnh, lão ngồi trên một miếng da báo, lúc lắc một chuỗi tràng hạt bằng xương trăn mà đầu nó ngự ngay trên cửa ra vào, các vị khách chọn chỗ ngồi ngay trên nền đất, còn vị đạo sĩ, dáng vẻ nghĩ ngợi lẩm bẩm "băng vô thần, ta đã báo trước rõ ràng cho các người rằng thủ phạm không có mặt trong số các ngươi, tại sao các ngươi còn bước vào nhà ta hả, các người nghi ngờ tiếng nói của Tempé-Essouka hay sao chứ", Cô Etaleli bỗng quỳ sụp xuống, bắt đầu khóc nức nở dưới chân vị đạo sĩ, bà đưa gấu váy buộc túm ngang người lên lau nước mắt, vị đạo sĩ đẩy bà ra "chúng ta hãy nhận định cho rõ ràng nhé, ngôi nhà này không phải nơi dành cho nước mắt đâu, có một bãi tha ma nhỏ ở phía dưới kia kìa, các người chỉ cần lựa chọn sao cho để tìm thấy một niềm an ủi cho những ai mà tiếng khóc của các người sẽ làm vừa lòng họ thôi", Cô Etaleli dẫu sao vẫn lẩm bẩm "Tembé-Essouka à, cái chết của con gái tôi không phải là cái chết bình thường, một người dẫu có phải chết thì cũng không chết như vậy đâu, tôi xin cụ, hãy nhìn cho rõ mà xem, tôi chắc chắn là cụ sẽ giúp được tôi, sự thông hiểu của cụ đáng gờm nhất nước này", bà lại rũ rượi trong nước mắt mặc cho viên đạo sĩ bực mình, "mẹ kiếp nó chứ, im lặng nào, ta đã nói rồi, bà muốn ta đuổi bà ra khỏi đây ư, bà muốn ta tung một đàn ong vào mông cho chúng đốt bà hả, chuyện này là thế nào, bà coi ta là ai chứ, bà vẫn còn chưa hiểu lão già này đang ngự ở đây và bà còn kết tội kẻ bất hạnh này à, người không phải là kẻ đã xơi tái con gái bà, ta sẽ còn phải nói cho bà bao nhiêu lần nữa đây chứ, chó chết thật, và bây giờ nếu bà cứ dứt khoát muốn biết sự thật, thì ta sẽ tiết lộ cho bà biết bởi ta thì ta nhìn thấy tất, ta là ta biết tất, và để thuyết phục bà tin rằng người đàn ông đang có mặt tại đầy là vô tội, vậy thì tất cả các người sẽ qua thử thách chiếc vòng bạc, mặc kệ các người, ta đã báo trước cho các người biết rồi, ta cho các người ba mươi giây suy nghĩ trước khi quyết định liệu có đồng ý hay không để ta phải tiến hành thử thách"

anh chắc sẽ không tin đâu, Baobab thân mến ạ, Cha Kibandi đã ngay tức thì đồng ý chịu qua thử thách chiếc vòng bạc ấy trong khi những người thậm chí được đánh giá rằng chẳng có gì phải trách cứ lại nghĩ suy đến hai lần lận trước khi chịu phục tùng thử thách ấy, thoạt tiên do Tempé-Essouka còn mù lòa hơn cả một con chuột chũi, sau đó là cơn hoảng loạn có thể làm sai lệch kết cục của bằng chứng, Cha Kibandi sẽ không lùi bước, Cô Etaleli lau sạch ngay nước mắt, và vội mừng rỡ trước trước ý tưởng sẽ được nhìn thấy anh trai mình bị bẽ mặt trước con mắt chứng kiến của bốn nhân chứng, lửa làm rạng căn nhà, reo tí tách hệt như những đám cháy thiêu rụi cánh rừng vào mùa khô, những chiếc mặt nạ có vẻ như động đậy những cặp môi dầy trễ dài của chúng, thì thầm cho đạo sĩ những câu nói bí hiểm mà lão đáp lại bằng những cái gật đầu dữ dội, lúc này khói bốc lên làm nhòa khuôn mặt những vị khách, họ mạnh ai người ấy húng hắng ho, một mùi oi khét tỏa ra, sau đó là mùi cao su cháy làm đám cử tọa ngạt thở, và cuối cùng khi khói ngừng bốc lên, Tembé-Essouka đặt lên bếp lửa một chiếc chảo đổ đầy dầu cọ, ném vào đó một chiếc vòng bạc, để mặc cho chảo dầu đó sồi rất lâu trước khi thò tay lão vào trong mà không hề đắn đo lấy một khắc, dầu sôi dâng tới tận khuỷu tay lão, lão lấy được chiếc vòng ra mà không hề bị bỏng, chìa cho nhóm người vẫn còn đang bị choáng xem, rồi lão lại thả chiếc vòng đó vào trong chảo, "giờ đến bà, thưa bà, hãy làm y hệt như vậy, hãy tìm cho ta chiếc vòng trong chảo dầu sôi này", sau một lát lần chần tránh né, Cô Etaleli thò tay mình vào chảo, kêu to gần như chiến thắng, và các nhân chứng, được trấn an, cũng làm được với sự thành công lớn, vị đạo sĩ khi ấy quay về phía Cha Kibandi, "giờ đến lượt ông, ta để ông làm cuối cùng bởi chính ông là đương sự bị nghi ngờ là kẻ ăn thịt người", Cha Kibandi tiến hành ngay lập tức, hân hoan trước thử thách dưới cái nhìn sửng sốt của Cô Etaleli trong khi bốn nhân chứng kia, hết sức sững sờ, đặt ánh mắt họ lên kẻ bị kết tội, viên đạo sĩ nói "bốn nhân chứng và người bị kết tội một cách bất công sẽ ra khỏi nhà và đợi ngoài kia, tôi sẽ tiết lộ cho bà biết, thưa bà, ai là người đã xơi tái con gái bà", Cô Etaleli ngồi lại một mình trước những cái mặt nạ, và lần này với vẻ mặt thật đã chán ngấy trước viên đạo sĩ đang chìm sầu vào cơn trầm tư mặc tưởng bất tận, cặp mắt nhắm nghiền, và khi lão mở choàng ra thì Cô Etaleli chợt tưởng rằng vị đạo sĩ không phải là một người mù, lão nhìn chằm chằm thẳng vào mắt bà, phát ra một tiếng sủa bắt chước một con chó batéké, lửa bốc lên bỗng tức thì phụt tắt, sau đó lão bắt đầu lần đếm những mẩu xương trong chuỗi tràng hạt của lão, lẩm nhẩm một bài hát mà Cô Etaleli không hiểu, cặp mắt lão đảo liên hồi, lần này thì như không hồn, ngón cái và ngón trỏ lão nắm chặt lấy một trong những mẩu xương to nhất, lão bồn chồn vuốt ve nó, rồi ngừng hát, cầm bàn tay phải của người cô, và hỏi bà vậy ai là gã mà người ta thường gọi là Nkouyou Matété hả và ta không ngừng nhìn thấy hắn trong lúc ngồi thiền", Cô Etaleli bỗng giật thót người, nhưng kịp thời ngồi xuống lắp bắp đáp lại "Nkouyou Matété ư, ngài đã nói là Nkouyou Matété hả", bà hỏi, "bà đã nghe rõ rồi đấy, gã này là ai hả, hắn rất khỏe, hắn che lấp khuôn mặt không cho ta thấy, tuy nhiên ta vẫn có thể luận ra được cái tên của hắn, gã này được rất nhiều người vây quanh, họ hình như đang cãi nhau, tung ra những lời đe dọa chết người", còn Cô Etaleli, vẻ hoài nghi, miệng lắp bắp "không thể nào là ông ấy được, dẫu sao đó cũng là chồng tôi, đó là cha đứa con quá cố của tôi, cụ muốn nói rằng chính ông ấy, ơ, cơ mà, không thể được, tôi nói với cụ rồi rằng ông ấy không thể xơi tái đứa con gái của chính mình được đâu mà", "chính hắn đã xơi tái đứa con gái ấy, hắn là thành viên của một Hội đêm trong làng Siaki, và mỗi năm một trong những thành viên của Hội phải hy sinh cho cộng đồng những kẻ thụ pháp một người thân của anh ta, mùa này đến lượt chồng bà, và do người này có một phó-bản ác là cá sấu, chính vì vậy mà con gái bà phải chết dưới nước, bị hút xuống nước do con vật của cha nó, giờ đây bà là người quyết định, hoặc ta gọi bốn nhân chứng và người anh trai mà bà đã quy kết, hoặc bà chọn im lặng và giữ điều ta vừa tiết lộ cho riêng mình", không cần thời gian suy nghĩ Cô Etaleli đề nghị ngay "tôi muốn cụ làm một cái gì đó đánh lại chồng tôi, tôi muốn cụ kết cho hắn ta một lời nguyền, tôi muốn hắn phải chết trước khi tôi về đến Siaki, đó là một thằng đểu, một kẻ đại bất lương, một thằng phù thủy", Tembé-Essouka thiếu chút nữa thì tìm được cặp mắt sáng dưới ảnh hưởng của cơn tức giận, "bà coi ta là aỉ hả, ta chưa bao giờ kết lời nguyền cho mọi người, ta hài lòng nhìn thấy, giúp đỡ những ai gặp khó khăn, phần còn lại thì đi mà xem, mà tra cứu, hỏi lũ vô lại và những kẻ lường gạt khác trong chính ngôi làng của bà ấy, ta không thuộc hạng ấy đâu, bà coi ta là thế nào hả", "tôi xin cụ, Tembé-Essouka, chí ít thì cũng đừng nói gì với những người đang đợi ngoài kia nhé, tôi nhất định không muốn anh trai tôi biết chuyện này, tôi đã quy kết nhầm cho anh ấy nhất là do những người dần ở Mossaka, họ nói rằng anh ấy có một phó- bản-ác là chuột cống, vậy nên cụ hiểu cho tôi chứ hả, xin hãy ở vào vị trí của tôi", viên đạo sĩ đứng dậy, đối với lão buổi xem thế là chấm dứt, và, trước khi chỉ cửa ra cho Cô Etaleli, lão kết luận "đây là chuyện của bà, ta sẽ chẳng nói gì cho ai biết hết, Tembé-Essouka đã làm xong phần việc của mình, chớ quên khép cửa lại sau khi ra khỏi nhà nhé và để vài đồng cauri để cúng cho tổ tiên vào trong cái giỏ đặt ở ngay lối ra vào đó"

nhóm người rời Lekana, bốn nhân chứng nã tới tấp những câu hỏi vào Cô Etaleli, bà cứ câm như hến, và do bà hình như vẫn luôn oán hận Cha Kibandi, người này trưng ra một nụ cười rạng rỡ đầy mãn nguyện, và đi về hướng đối diện, lão cuốc bộ trong liền hai giờ đồng hồ, không hề ngoái lại lấy một khắc, chỉ mãi sau đó lão mới thể hiện niềm vui của mình ra ngoài, thốt lên cầu ví von, người ta hẳn nhầm lão với một người điên, lão vừa hút chết, vừa từ cõi chết trở về, và, trong những suy nghĩ của lão, do lão không thể ngăn mình sống lại cảnh trải qua thử thách chiếc vòng bạc mà nó vừa rũ sạch tội cho lão, lão phá lên cười, lẩm bẩm điều gì đó, nho nhỏ như thể lão đang cảm ơn ai đó, lão đi sâu vào rừng, nhìn vội xung quanh mình, chẳng có ai hết, thậm chí không có cả một con chim, chính lúc ấy lão mới kéo cái áo thụng dài trùm chân lên tới ngang lưng, lão quỳ mọp xuống như thể lão sẽ đi đại tiện, thở một hơi hắt ra thật mạnh, giữ hơi, rặn mạnh, lại rặn mạnh lần nữa, có một tiếng động như đánh rắm, một hạt cọ tòi ra khỏi hậu môn lão, lão nắm lấy, xem xét nó cẩn thận rồi đưa lên gần mũi, mỉm cười và nghĩ bụng "Tembé-Essouka thần mến của ta, mi đúng là một thằng mù", Cha Kibandi có những lý do chính đáng để chế giễu viên đạo sĩ nổi tiếng này như thế, khi ấy lão đã trở thành người đầu tiên lừa được sự cẩn trọng của một lão phù thủy đáng gờm như Tembé-Essouka, lão đã nhầm khi hát khúc ca chiến thắng quá sớm

nói vị phù thủy Tembé-Essouka bị lạc đường, Baobab thân mến, thì đúng là chưa biết rõ về lão ấy đấy thôi, bởi lẽ hai tháng sau đó, lão đã cặp bến tại Mossaka trước sự ngỡ ngàng cực độ của dân chúng, nỗi sợ hãi tràn vào các ngôi nhà, những con vật nuôi náu mình mỗi khi thoáng thấy nhân vật này, lão phù thủy có một tin mới cần thông báo, các phán đoán càng nhân rộng lên, câu hỏi mà người ta tự vấn nhiều nhất là làm thế nào mà con người mù lòa này đã có thể một mình định hướng được trong vùng rừng núi hoang dã chứ, và rồi người ta lại tự nhủ rằng sự mù lòa của lão thực ra chỉ là một trò giả dối, bởi lão có thể nhìn thấy tất cả, lão được trưởng thôn đón tiếp hệt như một quý nhân thực thụ, lão thú nhận đây là lần đầu tiên các quỷ kế ma thuật đã bỏ rơi lão, lão chỉ ra rằng Cha Kibandi là một mối đe dọa cho cả làng, và thế rồi lão tiết lộ những việc làm của lão già, gán cho lão này phần lớn những cái chết ở Mossaka, lão chứng thực rằng cho đến đúng ngày hôm đó Cha Kibandi đã xơi tái đến cả chín mươi chín người lận, "ta đến đây là vì các người, ta đến đây để giải tỏa cho các người khỏi nỗi bất hạnh bởi con người này đúng là kẻ nguy hiểm nhất vùng, hắn sẽ không xơi thịt được người thứ một trăm đầu", lão nói, và để cam kết chính thức những câu nói của mình, lão xướng to thuộc lòng tên của chín mươi chín nạn nhân theo thứ tự ABC, chỉ có một người duy nhất cư trú ở ngoài Mossaka, đó chính là thiếu nữ Niangui- Boussina, Tembé-Essouka thuật lại cái chết của cô bé, đó là một sự trao đổi giữa Cha Kibandi và một kẻ đã được thụ pháp của làng Siaki, nhưng trên thực tế chính Cha Kibandi đã tổ chức và tiến hành mọi chuyện, chính lão ta đã xơi tái đứa cháu gái ruột của mình, "ta đến đây để trao con quỷ dữ Kibandi Cha cho các người, đây là lần đầu tiên ta rời khỏi nhà và để những cái mặt nạ của ta ở lại một mình, chuyện rõ mười mươi và các người nên biết, sẽ không phải chính ta đi tiễu trừ con người này đâu, Tembé-Essouka không bao giờ giết người mà lão chỉ vạch tên chỉ mặt kẻ ác ra thôi, giờ đến lượt các người xem xét mọi chuyện, chỉ cần bắt được con phó-bản ác của hắn, con vật đó hiện thời đang náu trong rừng, do nó đã linh cảm thấy ngày tận thế của mình đang đến gần, bằng uy lực của ta, ta đã bắt nó nằm im, nếu các người tìm được con vật này, thì khi đó các người có toàn quyền xử lý ông chủ nó, trong tiềm thức, các người sẽ không hề có ý nghĩ gì về cái chết của con người này đầu, bởi thực ra các người chỉ tấn công một con vật mà thôi", lão chỉ rõ chính xác nơi con chuột cống già đang ẩn náu, người ta cảm tạ lão, dâng tặng lão một con lừa trắng, một con gà trống đỏ và một túi tiền cauri, lão phù thủy già từ chối ngủ lại qua đêm tại làng, lão sẽ trở về Lekana vào giữa đêm, trưởng làng cố giữ lão lại "xin hãy ngủ lại đây đi, Tembé-Essouka khả kính, trời tối rồi, chúng tôi tha thiết kính trọng ngài lẫn những hiểu biết của ngài nữa", viên đạo sĩ đáp lời "thủ lĩnh đáng kính, những lời nói đó khiến ta rất cảm động, nhưng nên biết rằng đối với những kẻ mù lòa như ta thì ánh sáng ban ngày cũng vô nghĩa thôi, ta phải trở về túp lều tranh của mình ngay bây giờ, những chiếc mặt nạ của ta đang đợi, chớ có lo lắng gì cho ta hết, cám ơn đã tặng những món quà này", nói rồi lão nắm chặt đôi chân con gà trống, buộc túi tiền cauri lên lưng lừa và quay lại con đường dẫn đến làng của lão

ngày hôm sau, người đứng đầu Mosaka triệu tập một cuộc họp, một phiên họp đặc biệt gồm những người già cả, họ đã đưa ra một quyết định khẩn, phải bí mật bắt sống Cha Kibandi, thế là người ta ủy nhiệm cho chừng mười hai chàng trai lực điền sứ mệnh đi truy lùng con chuột cống già trong rừng, những chàng trai này trang bị nào súng ca-líp mười hai ly, nào lao tẩm thuốc độc, họ bao vây khắp vùng rừng núi hoang mà Tembé-Essouka đã chỉ định, vô hiệu đám chuột cống trong các vùng phụ cận, rồi họ phát hiện ra dưới một gốc cây sum suê một cái hang chuột được đám lá rụng che khuất, thế là họ đào, họ cứ đào mãi trong suốt nửa tiếng đồng hồ trước khi tóm được con vật đã bị lão hóa, gần như không còn cử động được nữa, có thể nó biết giờ tận thế của mình đã điểm, rằng lần này nó không thể thoát được nữa, nó bành rộng vành môi, phô ra những chiếc răng cửa nhằm hăm dọa, điều đó không còn khiến ai sợ hãi nữa, nó khiến người ta thương hại thì đúng hơn, một thứ chất lỏng màu hổ phách từ mõm nó nhểu ra nhỏ từng giọt xuống đất, chính lúc đó thì một chàng lực điền, tay nắm chắc cây lao của mình, phóng nhanh một nhát về phía con vật, nó kêu rít lên trong lúc một thứ chất lỏng cũng trắng nhờ nhờ như rượu cọ bắn phọt ra, một cây lao thứ hai bay vút đi làm óc con vật bắn tung tóe, và như thể điều đó vẫn chưa đã, cả mười hai gã lực điền xả súng bắn hết cả băng đạn trong các khẩu ca-líp của mình vào con thú, mà dẫu rằng nó đã ngẻo từ đời nảo đời nào rồi

khi đám lực điền kia trở về làng, họ rất ngạc nhiên nghe thông báo rằng Cha Kibandi đã chết, không một ai đến viếng nhà người quá cố, xác lão già nằm sõng xoài trong phòng khách, cặp mắt lồi ra, trợn ngược, và cái lưỡi mang màu xanh chàm thò dài lòng thòng đến tận mang tai phải, cơ thể đã thối rữa, một mùi tởm lợm tỏa ra khắp vùng lân cận, và vào chừng cuối ngày, khi màn đêm bắt đầu buông xuống, Mẹ Kibandi và ông thầy trẻ của tôi cuộn xác chết trong vào trong một đám lá cọ, đưa vào sâu trong rừng, an táng trong một cánh đồng chuối, rồi bí mật quay trở về làng, thu dọn chút đồ đạc và bỏ đi ngay khi trời vừa rạng mà không hề để lại một dấu vết gì, họ cứ thẳng đường chân trời mà tiến, thế rồi trôi dạt đến đây, tại Séképembé này, nơi tôi đã có mặt từ trước đó, tôi đã đi trước họ ngay khi tôi nhìn thấy Con Trùng của thầy tôi lẩn đến để thông báo cho tôi biết chuyến đi khỏi ngôi làng Miền Bắc đó sắp diễn ra, như vậy là tôi biết phải lao về phía Nam, về một ngôi làng có tên Séképembé, thế đấy, toàn bộ câu chuyện đã giải thích rõ làm thế nào mà mặc dù không muốn chúng tôi đã trở thành người dân của ngôi làng này, một ngôi làng chìa tay đón nhận, nơi mà tuy chúng tôi lẽ ra đã có thể sống một cuộc đời bình thường

Mẹ Kibandi đã đến đoàn tụ cùng Cha Kibandi

ở thế giới bên kia như thế nào

quả là kỳ lạ khi chứng kiến ông thầy trẻ của tôi nghiến vụn những rễ cây với hàm răng cửa của mình, nó còn sắc nhọn hơn nhiều so với những chiếc răng của một con người bình thường, tôi thậm chí tự hỏi phải chăng cậu sẽ dành cả thời niên thiếu của mình chỉ để mà ăn không gì khác ngoài những củ cây, cuối cùng thì cậu đành chấp nhận rằng cha mình đã chết, phải sống ở Séképembé cùng với Mẹ Kibandi, những chân trời mới mở ra trước mắt họ, sống xa xứ Bắc cũng cho phép quên đi quá khứ ấy, quá khứ với hình ảnh một Cha Kibandi bị người dân Mossaka tẩy chay tiệt nọc dưới sự trợ giúp của đạo sĩ Tembé-Essouka, thì rõ ràng là Mẹ Kibandi và thầy tôi mong muốn kể từ đây có một cuộc sống khác, tôi như vẫn còn sống lại thời kỳ họ đến lập nghiệp ở đây, những người dân đón tiếp họ hệt như đón tiếp bất kỳ những người lạ sa cỡ lỡ vận nào dạt đến, họ được các cánh cửa nhà ở Séképembé mở toang đón chào, họ để khách ở trong một ngôi nhà bằng gỗ trám hồng có lợp mái rạ, có thể nói nếu như họ sống trong ngôi nhà nằm phía cuối làng, thì đó là bởi không còn đất trống tại trung tâm làng Séképembé nữa, và phải tìm một công việc nào đó để kiếm sống, thầy tôi trở thành thợ học việc nghề mộc tại nhà một ông già mà Mẹ Kibandi trả cho ông ta số tiền rất còm, ông thợ mộc già này gần nhu trở thành một người cha đối với Kibandi, cậu gọi ông này là "Cha", cậu đã không bao giờ dám xướng tên tục của ông ấy lên, Mationgi, người đàn ông này khiến cậu nhớ lại chính người cha ruột của mình, có lẽ do vóc người còng còng, dáng đi như tắc kè hoa, "Cha" Mationgi đã nhận thấy nơi thầy tôi một con người thông minh, ham học hỏi, Kibandi mau chóng học hỏi được những tinh tế trong nghề mộc, ông già không cần phải nhắc cậu đến mười lần cho một công việc nào đó, tuy nhiên cũng có lúc ông ấp ủ những hoài nghi đối với cậu học việc này, người mà, vẫn theo rất sát những chỉ thị của ông, thì khiến ông ngạc nhiên mỗi ngày, cậu thiếu niên xem xét lại những phương pháp cổ hủ của "Cha" Motiongi, cậu leo lên các mái nhà với một vẻ. thành thục hiếm có, ông già chỉ còn biết sững sờ khi một hôm, do bị ốm, ông đã để mặc thầy tôi cáng đáng dựng toàn bộ phần khung sườn nhà của một trang trại, cậu trẻ Kibandi đã thành công chế tạo những cái chốt, những lớp mè rui, những điểm nối đòn móc, những hỏng hóc của mái, những lớp mè, những kèo đỡ gờ mái nhà, phần sau nhà, phần lửng, những thứ không thể được giao cho bất kỳ thợ học việc nào, và thậm chí chính thầy tôi đã chỉ cho ông già làm thế nào dựng một sườn nhà bằng kim loại, "Cha" Mationgi cho đến tận thời điểm ấy đã chỉ chuyên làm những khung nhà bằng gỗ, trên thực tế tất cả đều diễn ra hết sức suôn sẻ giữa hai con người này, chính tôi đã đến đánh động, gây những ngờ vực nơi "Cha" Mationgi, và tôi biết ông già ấy đã chết với niềm tin tưởng rằng người thợ học việc của mình có cái gì đó, thực ra một hôm tôi đã tự cho phép mình đi lang thang đằng sau xưởng mộc, thầy tôi bận cưa một tấm ván, tôi bất chợt nghe thấy "Cha" Mationgo đi đến với những bước chân ngập ngừng, ông tháo cúc quần, và bắt đầu tè bậy ngay sát tường xưởng, và khi ông quay lại, ánh mắt ông va phải ánh mắt tôi, thế là ông nắm một hòn đá to vương dưới chân và suýt nữa thì đả chết tôi, viên đá rơi chỉ cách tôi vài xăng-ti-mét, ông già đã có tuổi rồi, tôi chạy dạt về phía sông, và lát sau, ông thổ lộ với thầy tôi rằng những con nhím ở Séképembé không còn sợ người nữa rồi, rằng loài này xuất hiện quá nhiều, rằng những thợ săn nên quét sạch bọn này, rằng một trong những ngày gần đây ông rồi cũng sẽ tự chính tay mình hạ được một con cho mà xem và ăn thịt nó kèm với chuối xanh, lúc đó ông thề sẽ đóng một cái bẫy để làm chuyện này, Kibandi bất ngờ dừng ngay tay đang cưa tấm ván và trả lời ông ta bằng một giọng bình tĩnh "Cha Mationgo à, con nhím mà cha nhìn thấy không phải là con nhím của Séképembé đâu, xin hãy tin con đi", còn ông già, bỗng trở nên nghi ngờ, nhìn cậu chăm chú, rồi lắc đầu, để mặc hai cánh tay buông thõng dọc theo thân người trước khi tiếp tục với một vẻ cam chịu "ta hiểu rồi, ta hiểu rồi, con trai Kibandi của ta ạ, ta thấy rồi, dẫu sao thì ta đã có ngờ vực đôi chút, nhưng ta sẽ chẳng nói gì cho ai biết hết, dẫu sao đi nữa ta chỉ là một con tàu mục, một đống phế thải, ta không muốn sinh chuyện với những người dân trước khi rời khỏi dương thế này bởi ngày một ngày hai nữa thì ta cũng sẽ chết thôi"

vài năm sau, trước khi rời khỏi dương gian bằng một cái chết thanh thản, "Cha" Mationgo để lại cho thầy tôi những dụng cụ làm việc của mình, Kibandi có cảm giác như chính cha ruột mình vừa mới qua đời lần thứ hai, vào thời kỳ đó, cậu đã mười bảy tuổi, và mặc dù còn trẻ, những việc dựng nóc nhà không còn là điều bí mật đối với cậu nữa, cậu trở thành tay thợ thủ công hay được mời nhất khu vực, vả lại chính cậu ấy được mời tới dựng phần lớn những khung nhà cho các khu mới ở Sékétempé, và khi cần, thường thường vào ngày thanh minh, cậu ra nghĩa địa tưởng niệm trước phần mộ của "Cha" Mationgo, khi ấy tôi thấy cậu nấc lên như thể đó chính là cha ruột cậu vậy, tôi có mặt cách nghĩa địa chừng vài trăm mét, tôi cũng biết tiếng động vẳng tới từ phía sau là do Con Trùng của thầy tôi gây ra, tôi không ngoái lại vì sợ động phải sinh vật không miệng ấy, Con Trùng càng ngày càng kích động khỏe, hắn ngủ trong xưởng, sụt sùi dọc theo dòng sông, leo lên cây, thi thoảng tôi cũng tự hỏi hắn xoay xở thế nào để ăn bởi hắn không có miệng, và, chưa bao giờ tôi bắt gặp hắn đang ăn, từ đó mà tôi suy ra rằng hoặc do thầy tôi ăn hộ hắn, hoặc Con Trùng này chắc phải ăn thông qua một lỗ khác, và tôi để cho anh hình dung xem đó là lỗ nào, Baobab thân mến ạ

Mẹ Kibandi khốn khổ sẽ phải đan dệt những chiếc chiếu rồi bán cho dân chúng trong vòng mười hai năm liền, một công việc rất trôi chảy, và vào những ngày chợ phiên trong các làng bên cạnh như Louboulou, Kimandou, Kinkosso hay Batalébé, hai mẹ con đi đến đó để chào hàng, Kibandi nghỉ hè trong cõi hoang vu ấy gần những người bạn gái của Mẹ Kibandi, họ là tiểu thương giống như bà, cậu để mặc tôi một mình với Con Trùng của cậu, tôi không thích những lần vắng mặt đó lắm, chúng có thể gây tổn hại cho mối hài hòa giữa chúng tôi, tôi không ra khỏi chỗ náu của mình, tôi đành hài lòng xơi những đồ ăn mà Con Trùng của thầy tôi mang đến, nhiều ngày nhiều đêm trôi qua như vậy, những suy nghĩ của tôi chỉ quay qua đảo lại về Kibandi, tôi thực ra chẳng có gì phải lo ngại cả, tôi biết hết những việc làm và hành động của cậu trong suốt kỳ vắng mặt kéo dài vài tuần ấy, Con Trùng của cậu chẳng giấu tôi điều gì hết, ví như tôi biết chính tại Kinkosso mà thầy tôi đã biết làm tình lần đầu tiên với bà nàng tuyệt diệu Biscourri, một người đàn bà lớn gấp đôi tuổi cậu, một bà góa chồng béo tròn ngồn ngộn, mông to kềnh càng và là người có một lối nghĩ suy vô độ đối với bọn trai tân, ngay khi vừa chạm mặt một đứa thì bà ta đã nhảy sấn vào nó, rồi chẳng rời ra nữa, bà ta nổi tiếng ở Kinkosso vì chuyện này, những lúc như thế bà ta đi vòng quanh thằng trai mới lớn, ve vuốt nịnh nọt nó, nấu nướng cho nó ăn, dâng tặng nó kiểu đón tiếp nồng hậu hiếu khách của mình, một số các bậc cha mẹ thậm chí còn cổ vũ bà góa Biscourri trong việc làm ấy, nhưng bà chẳng thích thú gì lắm khi bị người ta áp đặt cho một thằng trai tân nào đó, bà thích tự mình chọn con đực giống cho mình hơn, chẳng quan trọng gì nếu gã ấy gày nhẳng như thầy tôi, mụ ấy có kỹ thuật của riêng mình để tóm được những kẻ ngây thơ ấy, thoạt đầu mụ ta giả vờ bắt chuyện theo kiểu "mẹ của mi là một người đàn bà dũng cảm đấy, đó là một trong những bạn gái của ta", và mụ ghì chặt chàng trai trẻ, bằng một động tác bất ngờ thọc mạnh tay mình vào giữa hai đùi của chàng, tóm lấy phần kín của chàng trước khi kêu lên "Chúa ơi, mi đã thực sự có cái ấy rồi cơ à, mi ấy mà, ta nói rồi, với chừng này thì mi bắt đầu cuộc đời xán lạn đấy", và mụ cười tếu táo vì chuyện đó, sau đó cải chính ngay tầm ngắm của mình "không sao đâu, ta đùa đấy, con trai ạ, đi nào, đến đây đến đây, ta sẽ nấu cho ăn món ngon nhất của Kinkosso, món ngul' mu mako", dẫu sao người ta cũng đánh giá rằng Biscouri là giải pháp ít thảm họa nhất để khắc sâu vào trí não một thằng nhãi con mới lớn những tư thế làm tình, thế mà thầy tôi đã thất vọng vì trải nghiệm này, cậu cho rằng Biscouri đã khiến cậu tê liệt do sự hừng hực quá độ của mụ đến mức mà cậu đã luôn phải ở thế bị động như thể mụ ta hãm hiếp cậu vậy, sau đó, cậu học thói quen qua lại với bọn nhà thổ trong khu ấy, kể từ đó cậu hình dung rằng người đàn bà chỉ hoàn thiện tốt động tác giao cấu với sự êm ái khi đã được trả tiền mà thôi, và mỗi khi đi nghỉ hè ở những ngôi làng này, thầy tôi đập ống tiết kiệm của đời làm mộc của mình, cậu lẩn quất trong những khu phố thối nát, thay đổi bạn tình mỗi tối, say sưa với lũ con gái làm tiền ấy và túi rỗng tuếch khi trở về Séképembé, thế nhưng Mẹ Kibandi đâu có khờ, bà nghi ngờ con trai mình từ đây đã qua lại với đàn bà, bà chờ đợi một ngày thấy con trai mình đem về giới thiệu cho mẹ một cô con dâu tương lai hay thảng như có người đến gõ cửa nhà họ với một cô gái đang mang bầu

tôi cũng nghĩ đến cái ngày Mẹ Kibandi bất ngờ bắt gặp con trai mình đang ngồi trước cửa nhà đọc cuốn Kinh Thánh, một người nào đó ở Kinkosso đã tặng nó cho cậu, đó chính là một thầy tu muốn thuyết phục cậu dấn vào con đường của Chúa bởi lẽ ông ta bắt quả tang cậu trong các khu phố gái điếm, dấu hiệu chứng tỏ thầy tôi là một con cừu đang bị lạc lối, một kẻ phạm tội mà ông phải tránh cho con đường đi xuống địa ngục, Kibandi đã cầm cuốn sách và biến mất trước khi kẻ phục dịch Đấng Tối cao ấy kịp phát hiện rằng cậu trên thực tế là một người mù chữ, con người khoác áo chùng tu ấy đã không hiểu được việc mà ông ta vừa làm cho thầy tôi, người này chẳng thèm rờ đến cuốn sách trong nhiều tuần liền, cậu đã bỏ mặc nó trên bàn ngủ đầu giường mình đến độ bụi bặm phủ đầy trên bìa sách, và một buổi tối mất ngủ, cuối cùng thì cậu cũng vớ lấy cuốn Kính ấy, giở đến giữa cuốn, đưa lại gần mũi mình, mắt nhắm lại, hít vào rất sâu, cậu cảm nhận được mùi vị thật dễ chịu của trang sách, và khi cậu mở mắt ra, ánh sáng của ngọn đèn bão tỏa sáng lung linh trên các con chữ, vén bức màn bí ẩn của chúng, tạo nên xung quanh mỗi câu từ một kiểu như vầng hào quang, và những con chữ động đậy, chảy tràn như một dòng sông, cậu không biết tự lúc nào đôi môi cậu bắt đầu mấp máy để đọc, và cậu cũng không hề nhận ra rằng mình đang lật nhanh các trang, rằng ánh mắt cậu lia từ trái sang phải mà cậu cũng không biểu thị tí chóng mặt, những con chữ bỗng nhiên sống động, chúng đại diện cho chân lý thực tế, và cậu bất ngờ hình dung ra Thượng Đế, và cậu hình dung kẻ lãng tử huyền bí kia chính là Jésus, thế là cậu không thể ngừng đọc được nữa, và những ngày sau đó, cậu không ngủ, cậu vớ ngay lấy cuốn sách ấy khi vừa đi làm ở xưởng về, cái xưởng mà cậu dựng lên ngay sau nhà, Mẹ Kibandi không giấu giếm sự ngạc nhiên của mình, thái độ của con trai khiến bà thấy vui vui, bà tự hỏi điều gì thúc đẩy chàng trai trẻ muốn che đi sự ngu muội của mình theo kiểu ấy, chẳng phải cứ có cuốn sách trên tay là đủ để chứng tỏ cho mọi người thấy mình là người có học, và bà lấy điều ấy làm chuyện đùa tếu trong cái tình cảnh thầy tôi chưa bao giờ đặt chân tới trường học, thì không thể biết đọc được, và một hôm khác, bực mình do niềm say mê mới này của thầy tôi, bà đưa mắt ngó vào cuốn sách mà cậu đang đọc, cứ tưởng như chính bà cũng có thể nghiến ngấu đọc được nó vậy, con trai bà hình như rất tập trung, thì thầm những câu chữ, để cho ngón trỏ của mình chạy thẳng theo những dòng chữ trên trang giấy, có lẽ chính vào ngày hôm đó bà đã hiểu ra rằng Kibandi chắc phải sở hữu một con phó-bản và rằng cha nó rốt cục đã cho nó uống thứ rượu mayamvumbi ờ Mossaka

thầy tôi không thể bỏ qua việc đọc sách được nữa, từ rày cậu lôi về tất cả các loại sách mà cậu mua ở những phiên chợ trong các làng bên, cậu xếp chúng vào một góc trong xưởng, cúng có cả trong phòng ngủ của cậu nữa, và như vậy cậu tạo nên một thư viện nho nhỏ, phần lớn những cuốn sách không còn bìa, một số cuốn khác thì chẳng có trang đầu lẫn trang cuối, cậu ngồi lì cả nhiều giờ liền trong thư viện Saint-Joseph của làng Kimandou, và khi cậu không đến xưởng hay đến một làng nào đó để dựng nhà, thì cậu ngồi đọc sách cả ngày, chính vào thời kỳ này mà tôi cũng đã bắt đầu phân biệt được những ký tự, chúng cứ diễu qua diễu lại trong ý nghĩ của tôi, những con chữ, kể cũng thấy hay hay khi nhận ra những hình thái của các chữ viết, khám phá ra rằng lời nói có thể được ghi khắc lại ở một nơi nào đó, kể từ đầy tôi có thể đọc thuộc lòng những gì thầy tôi đọc, nhiều lần tôi bất ngờ thấy mình đang độc thoại, thế rồi từ đó tôi đi đến kết luận rằng con người, chỉ một lần thôi, đã có bước tiến rất dài so với loại động vật chúng tôi, bởi họ có thể ghi lại những suy nghĩ, trí tưởng tượng của họ trên mặt giấy, cũng vẫn trong thời kỳ đó mà trí tò mò của tôi đã thúc tôi chui ra khỏi nơi ẩn náu của mình, tôi lẻn vào trong xưởng của thầy tôi trong lúc cậu đang đi chợ Séképembé cùng mẹ, tôi nhảy bổ lên chồng sách, tôi muốn thật chắc chắn rằng mình có khả năng nhận ra những chữ ấy, những con chữ cứ bay xập xòe trong trí óc tôi hệt như những con chuồn chuồn có cánh mỏng bàng bạc, và tôi tiện tay mở những trang cuốn Kinh thánh mà thầy tôi đã đặt gần những dụng cụ làm việc của cậu cứ như là để tôn phong chúng, tôi đọc nhanh nhiều chương liền, tôi khám phá ra những điều kỳ diệu như chuyện mà tôi đã kể với anh ngay từ đầu cuộc tâm tình của tôi, tôi cũng rờ tới những cuốn sách khác nữa, tôi không cần phải đọc hết tất cả, thầy tôi sẽ thay tôi làm điều đó, tôi lỉnh đi trước khi đêm buông xuống, nếu không Kibandi và mẹ cậu chắc sẽ bắt quả tang tôi mất, và khi ấy tôi không biết sẽ có chuyện gì xảy ra

tôi phải tìm cho ra những từ chính xác để giải thích cho anh rõ Mẹ Kibandi bị đau tim như thế nào, bà đã chưa bao giờ muốn con trai mình biết về căn bệnh này của bà, thầy tôi chỉ biết chuyện đó khi đã ở Séképembé mà thôi, căn bệnh càng trở nên tồi tệ hơn sau mười hai năm chúng tôi trú ngụ ở đây, Mẹ Kibandi mỗi lần đau lại hút chết, bà chết lịm trong nhiều giờ liền, rồi bất ngờ mở bừng mắt đúng vào lúc mà người ta chắc đã cá cược bà rốt cuộc đã lìa đời, bà nín thở, rồi thở hắt ra một hơi, thì thầm những câu kiểu "căn bệnh chó chết này sẽ không thắng nổi ta đâu, ô không đâu nhé, ta là một con người trong trắng, tổ tiên ta bảo vệ ta, ngày nào đêm nào mà ta chẳng nhẩm khấn tên họ kia chứ, ta nghĩ đến Kong-Dia-Mâm, đến Moukila-Massengo, đến Kengué-Moukila, đến Mam' Soko, đến Nzambi Ya Mpungu, đến Tata Nzambi, họ sẽ cho ta một trái tim mới tinh, một trái tim đập nhanh hơn khối thối rữa kia mà ta đang bao bọc trong lồng ngực mình", nhưng tổ tiên thì làm được gì trước một quả tim đang trượt đi, đang trục trặc, làm nhịp đập giảm dần, họ có thể làm được gì trước cơ thể sống đang bị co lại, nó chỉ còn cung cấp được lượng máu cho một nửa cơ thể nữa thôi, tổ tiên chẳng thể làm được gì hết, Baobab thân mến ạ, cùng lắm thì họ có thể đến khi có một cơn sốt, một căn bệnh lậu, bệnh sán máng, một vết thương, một cơn đau đầu, còn tim là một vụ việc khác hẳn, Mẹ Kibandi biết rõ điều ấy, sau mỗi một cố gắng nhỏ nhoi thì bà đã kiệt sức ngay, bà không còn đi bán chiếu từ hơn một năm nay, thầy tôi cũng ngừng làm việc, và khi tôi lẻn vào xưởng thì tôi nhận thấy ngay những lớp mạng nhện, những lớp bụi bặm bám đầy các cuốn sách, những đồ dùng làm việc kể từ đó được xếp vào một xó, điều đó chứng tỏ Kibandi đã không leo lên mái một ngôi nhà nào đó kể từ nhiều tháng nay, Mẹ Kibandi thúc cậu bắt tay trở lại với công việc, cậu chủ tôi chỉ lừng chừng nghe lấy lệ, cậu không qua lại với những cô gái điếm ở Kinkosso nữa, cậu trông nom mẹ rất chu đáo, cho mẹ uống sinh tố, đến nỗi mà, qua nhiều ngày, môi bà phát đỏ lên, Kibandi không rời khỏi nhà cho đến tận ngày mẹ cậu đi theo Cha Kibandi sang thế giới bên kia, thế mà rất nhiều tuần trước đó, như thể bà đã biết được ngày, giờ chính xác cho chuyến viễn du của mình, có lẽ do bà ngạc nhiên vì thái độ kỳ quặc của con trai mình bỗng dưng trở thành một kẻ miệt mài đọc sách, có thể nói như một học giả thực thụ vậy, bà nhắc thầy tôi không được trái lời bà, không được theo con đường của Cha Kibandi quá cố, rủi có ngày lại kết thúc giống ông ấy, và chàng trai đã hứa ngay tức thì, nhân danh tổ tiên mà thề ba lần liền, dối trá quá, có lẽ cậu ấy nên nói sự thật cho bà biết thì hơn, bởi vào lúc cậu cất lời thề bồi nhân danh tiên tổ thì một quả rắm kêu to nhất mà cậu chưa từng đánh bao giờ trườn ra khỏi đít cậu, và họ, bà già đang hấp hối và cậu, phải bịt ngay mũi lại, một hơi thối của xác chết lan tỏa đi khắp gian phòng đến mức họ phải để cửa nhà và cửa sổ mở liền ba mươi ngày ba mươi đêm, mùi xông lên chỉ biến đi vào ngày bà già đó qua đời, hôm thứ hai đầu tuần xám xịt ấy, một ngày thứ hai mà thậm chí bọn ruồi cũng chật vật để cất cánh bay, Séképembé hình như vắng lạnh, bầu trời xuống rất thấp, thấp đến nỗi mà một người có thể bốc được vài đụn mây mà không cần phải với tay lên, thế rồi vào lúc đồng hồ điểm mười một giờ sáng, một đàn cừu gầy guộc không biết từ đâu đến đi một vòng quanh xưởng của thầy tôi, rồi dừng lại trước cửa nhà họ, phủ đầy sân nhà lớp cứt nhão nhoét trước khi xếp thành hàng đi về phía sông sau khi con già nhất đàn rống lên một tiếng kêu như tiếng của con vật bị cắt tiết trong lò mổ, Kibandi chạy nhanh vào phòng mẹ cậu, cậu thấy bà nằm bất động, những đường nét trên khuôn mặt co rúm lại, bàn tay phải đặt lên ngực trái, chắc bà đã đếm những nhịp đập cuối cùng của con tim mình trước khi vĩnh viễn khép mắt lại, thầy tôi chạy đi khắp làng Séképembé như một thằng điên để báo hung tin, Mẹ Kibandi được mai táng trong một khu đất dành cho dân ngụ cư, chỉ có vài người dân có mặt trong lễ an táng, nhưng không đủ bởi bà và con trai mình vẫn bị người làng xem như là "những kẻ từ nơi khác đến, từ bụng núi chui ra" dẫu cho cả hai đã ở đó từ rất nhiều năm rồi, và Baobab thân mến ơi, theo những gì tôi thấu hiểu, ngộ ra được thì quá khứ là điều quan trọng nhất trong việc xích lại gần nhau của loài người, nó không giống như những gì tôi đã nhận thấy trong thế giới của loài chúng tôi, tuy rằng một đàn súc vật có tôn ti trật tự hẳn hoi nhất chắc sẽ vẫn nhìn với con mắt ác cảm khi một con vật lạ xâm nhập vào đàn, theo kinh nghiệm tôi biết rằng những con vật sống cũng có tổ chức, chúng có sới riêng của chúng, có thủ lĩnh, có những con sông, cây cối và những con đường riêng, không phải chỉ có voi mới sở hữu một nghĩa địa, loài vật nào thì cũng tha thiết với vũ trụ của chúng, ấy thế mà nơi anh em thúc bá với loài khỉ kia thì thật kỳ quặc, một sự trống rỗng, một bóng đen, một vẻ mập mờ về quá khứ lại đẻ ra sự ngờ vực, thậm chí tẩy chay, chính vì điều đó mà không có nhiều người đến đưa ma Mẹ Kibandi, xác bà nằm lại cả ba ngày ba đêm liền trong một cái lán bằng lá cọ được thầy tôi dựng lên gần cái xưởng của cậu

Baobab thân mến, tôi mong muốn anh chí ít thì cũng giữ lại từ Mẹ Kibandi một hình ảnh người phụ nữ quả cảm, một người đàn bà yêu thương con mình, một người đàn bà nhún nhường đã sống trong ngôi làng ấy, một ngựời đàn bà đã yêu quý biết bao ngôi làng này và người đã ngồi đan chiếu trong nhiều ngày liền không ngưng nghỉ, một người đàn bà có thể sẽ chẳng ngủ được trong thế giới bên kia bởi thầy tôi đã không giữ lời, Kibandi hiện giờ sẽ sống một mình ở đây, cậu quyết định lại bắt tay vào công việc thợ mộc của mình, tôi lang thang vật vờ gần xưởng của cậu, tôi nghe thấy tiếng tay cậu thao tác dụng cụ với vẻ cuồng điên, cưa những tấm ván thật lực, tôi nhìn thấy cậu đi đến làng bên cạnh, làm việc trong một lán gỗ, rồi trở về nhà vào buổi tối, nằm dài trên giường, lật những trang của một cuốn sách ra, và trong ngôi nhà âm thầm ấy ta có thể tưởng tượng ra hình bóng của Mẹ Kibandi, nhất là khi một con mèo cất tiếng kêu meo meo rất muộn trong đêm vắng hay một quả cây rụng tõm xuống sông, Con Trùng của thầy tôi càng ngày càng đến thăm tôi nhiều hơn, hắn quay lưng lại phía tôi như thường lệ, tôi thoáng thấy một cái bóng buồn bã, thất lạc, hiện giờ tôi biết rằng chúng tôi đang tới gần, rất gần buổi đầu những hoạt động của tụi tôi, chúng tôi kể từ đây có thể bắt đầu ra tay rồi, Mẹ Kibandi không còn ở đây nữa để thầy tôi còn lần chần trước một vài điều đắn đo

Làm sao mà thứ sáu vừa rồiđã trở thành một thứ sáu bất hạnh

Tôi mong được kể cho anh nghe cái ngày hôm đó khi Kibandi từ mộ mẹ cậu trở về, cái ngày mà tôi quyết định đi vòng quanh nhà cậu vào khoảng mười giờ tối, Con Trùng của thầy tôi đã ám ảnh tôi suốt cả chiều hôm ấy, tôi nghe thấy tiếng hắn chạy khắp nơi, đảo lộn cả cây cối, xuống lặn ngụp dưới sông, biến đi một chặp, rồi quay về sau đó chừng nửa giờ, tôi biết rằng Con Trùng này muốn gửi tới tôi một bức thông điệp, vậy là giờ ra tay hành động đầu tiên của chúng tôi đã điểm, tôi sốt sắng náo động trong tổ của mình, tôi không thể ngồi im được nữa, Kibandi muốn gặp tôi, muốn cảm thấy tôi, và thế là, đến được gần xưởng khi màn đêm đã đặc quánh đến nỗi tôi không sao nhìn xa hơn được chóp mũi của mình, tôi nhận thấy không có ánh sáng trong nhà, thường thường thầy tôi đọc sách rất khuya, tôi cũng nhận ra rằng cửa nhà để hé mở, tôi đã có thể nhẹ nhàng lách nhanh vào, tôi nhìn thấy Kibandi nằm dài trên tấm chiếu cuối cùng mà mẹ cậu đã dệt, một tấm chiếu mới dệt được một nửa khiến cậu tha thiết hơn bất kỳ thứ gì, tôi bắt đầu gặm những móng chân cậu, gặm cả gót chân nữa, do cậu thích thú những cử chỉ biểu hiện tình trìu mến này nên cậu trở dậy, đứng thẳng lên, tôi thấy cậu mặc quần áo, quay lưng lại phía tôi để tôi không nhìn thấy bộ phận sinh dục của cậu, và chính lúc đi qua gian phòng nhỏ được dùng làm phòng khách mà tôi chạm phải Con Trùng đang nằm ngủ trên đất, chúng tôi rời khỏi nhà trong khi Con Trùng xê dịch đến nằm dài trên tấm chiếu cuối cùng được Mẹ Kibandi dệt, tôi nhè nhẹ tiến lên đằng sau thầy tôi, người cứ đi với cặp mắt nhắm hờ, có thể nói như một người mù vậy, và chúng tôi đến cách phần đất nhà Cha Louboto-thợ làm gạch - chừng vài trăm mét, thầy tôi ngồi bệt trên gốc một cây xoài, tôi thấy cậu run rẩy, nói một mình, xoa bụng như thể cậu cảm thấy bị đau, "giờ thì đi làm việc đi, đến phần mi rồi đấy", cậu nói với tôi, cậu đưa tay chỉ cho tôi ngôi nhà nằm ở phần cuối khu đất, và do tôi lưỡng lự nên cậu nhắc lại mệnh lệnh theo cách uy lực hơn, tôi thực thi liền, và khi đi đến đằng sau ngôi nhà, tôi phát hiện ra một cái lỗ hổng to tướng, có lẽ là tác phẩm của loài gặm nhấm sống quanh đây, tôi đi qua ngay mà không lần chần tránh né gì cả, lẻn vào trong phòng ngủ của con gái Cha Louboto, thiếu nữ Kiminou, đó là một thiếu nữ có làn da sáng trắng, khuôn mặt tròn, người ta kể rằng cô là đứa con gái xinh nhất Séképembé, bốn chàng ngấp nghé đã nộp hồ sơ ứng cử cho người cha để được thành hôn với cô, và chỉ còn đợi đến năm tới khi thiếu nữ đã đủ tuổi trưởng thành là Cha Louboto sẽ phát biểu sự lựa chọn cuối cùng của ông, thiếu nữ Kiminou đang ở trước mặt tôi, tôi lặng ngắm trong giây lát vẻ đẹp của cô, chiếc váy chỉ phủ hờ đến phần háng, ngực cô trong tầm tay tôi, tôi bỗng cảm thấy một kiểu ham muốn mãnh liệt, cồn cào, tôi thấy sợ chính phần sinh dục của mình, tôi, kẻ chưa bao giờ làm điều xằng bậy với bất kỳ một con thuộc giống cái nào, thậm chí còn chưa bao giờ làm với một vật con trong chính đồng loại mình, tôi thề với anh đấy, vả lại điều đó chưa bao giờ đã khiến tôi rậm rịch cả, tôi không để ý đến sự khác nhau của một số thành viên trong đàn chúng tôi vào thời kỳ đó, chúng lao vào những chuyện tầm thường này ngay khi viên thủ lĩnh già xoay lưng đi, bọn chúng nhiều tuổi hơn tôi, những người bạn đồng loại ấy, và thế rồi bỗng dưng vào ngày thực hiện sứ mệnh đầu tiên thì có sự tăng trưởng vượt bậc bất ngờ của bộ phận nằm giữa hai cẳng sau của tôi, dương vật của tôi cương cứng lại, cho đến tận lúc đó thì tôi vẫn tin là nó chỉ được dùng để đi tè hệt như dải trực tràng tôi chỉ dùng để thanh lọc, cơn xấu hổ bỗng xâm chiếm người tôi, và tôi xin thề với anh rằng cho đến tận hiện giờ tôi thậm chí không biết tôi liệu có thể làm được gì nếu như tôi đứng đối diện với một con nhím giống cái, và nó tán tỉnh tôi hay đưa cẳng vẫy gọi theo ý này, có thể tôi phải dành trinh trắng cho số phận phó-bản của mình, và khi những thành viên khác trong cộng đồng chúng tôi mưu mô với những con cái thì tất cả diễn ra đối với tôi cũng hệt như thể tôi chứng kiến cảnh không người, chuyện đó kể ra thì cũng chật vật thật, nhưng rồi thì chúng nó cũng kết thúc mãn nguyện, chúng nó rít róng, rên xiết, bấu víu vào những chiếc lông nhọn sắc của bạn tình, khi ấy tôi tự hỏi chúng cảm thấy gì khi cứ uốn éo theo kiểu hệt như chúng bị vướng phải cơn động kinh, và ngoài ra tôi nên nói gì với anh đây nhỉ, tiếng động va chạm của đám lông sắc nhọn do chúng gây ra khiến tôi bực mình, ấy thế mà những người bạn hình như lại rất thích thú trước khi thốt ra tiếng rên dài và đổ xuống trong một tình trạng ngây ngất đến nỗi cả một thằng nhóc tì vẫn còn tè trong nôi cũng có thể tay không tóm gọn được chúng, vậy nên chính vào ngày xuất trận đầu tiên mà tôi khám phá ra rằng, nếu cái bộ phận của tôi vẫn cứ trơ gan thờ ơ trước thu hút của một con nhím cái, thì nó lại phản ứng ngay tức thì khi nhìn thấy sự lõa lồ của một con người thuộc giới nữ, tuy nhiên sứ mệnh của tôi không phải để rắp rem thử một kinh nghiệm nào đó với thiếu nữ này, chỉ do đó mà sau khi đã lần chần tránh né, tôi vội quét sạch mọi ý tưởng thoáng qua trong tiềm thức tôi, tôi tự nhủ rằng tôi sinh ra không phải để cho các thứ ấy, rằng thứ này chỉ được thực thi giữa các thành viên trong cùng một chủng loại, và thế là để xua đuổi những ý nghĩ đó ra khỏi đầu được nhanh hơn, tôi nghĩ đến chuyện khác, đến mục đích sứ mệnh của tôi, tôi tự hỏi điều gì đã đẩy thầy tôi đổ tội lên người đẹp Kiminou, có lẽ tại cơ thể có vóc hình tuyệt hảo ấy, và thêm một lần nữa, tôi phẩy cẳng xua đuổi ra xa những chất vấn này do có nguy cơ bị yếu mềm vào đúng lúc mà tôi phải chuyển qua hành động, nhưng thực chất, dẫu tôi cố gắng khiến cho óc mình trống rỗng, thì dẫu sao tôi cũng bắt đầu suy nghĩ, và tôi nhớ rằng Kibandi thuộc nhóm bốn ứng cử viên đến cầu hôn, lời thỉnh cầu của cậu đã khiến cả làng cười lăn lóc đến mức thầy tôi lấy làm hối hận về hành động của mình, tôi đã chứng kiến cậu tranh luận hai ba lần gì đó với Cha Louboto ấy ở phía bãi chợ, một hôm họ đã uống rượu cọ cùng với nhau, ông ta đã rất xúc động khi nghe nói về Mẹ Kibandi, ông ta nói "đó là một phụ nữ tốt, thậm chí sau nhiều năm, và nhiều năm nữa, cả làng sẽ còn nhớ đến bà ấy, hãy tin ta đi, mi có thể tự hào về mẹ mình đấy, và ta biết bà ấy bảo vệ mi", chẳng có tí chân thành nào trong giọng nói của lão, ngoài chuyện đó ra thì Kibandi còn nhớ rõ rằng Cha Louboto đã không đến dự tang lễ của mẹ mình, vậy nên lão ta giả vờ tử tế với thầy tôi trong hy vọng nhận được những món quà của một kẻ si tình mà lão ta chắc sẽ vứt bỏ lời cầu hôn con gái lão ngay khi đến lúc, hơn nữa, khi tất cả những ứng cử viên này đã tranh luận xong với nhạc phụ tiềm tàng, thì kẻ nào kẻ nấy ra về đều mang một niềm tin vững chãi là người cầm chắc phần thắng, là người chồng mà Cha Louboto hẳn sẽ nhắm mắt mà trao thân gửi phận đứa con gái cho mình, thế nhưng thầy tôi không ngây thơ thế, cậu biết rằng cậu chẳng có cơ may nào hết, tuy nhiên cậu vẫn cho tên lừa đảo ấy tất cả những gì mình có, tất cả những gì mà mẹ cậu đã nhượng lại cho, những tấm chiếu lễ, những làn hạt cọ, những vốn kinh tế thợ mộc của cậu, cậu cũng đã làm lại phần mái cho người đàn ông này mà không đòi hỏi lão lấy một xu, và ta có thể đọc được trong ánh mắt Cha Louboto một kiểu chờ đợi những món quà một cách hừng hực nóng bỏng không gì có thể khiến cho lão ta dịu đi được, lão làm ra vẻ ta đây khắp trong làng ngoài ngõ, chính lão đã ngồi lê đôi mách nói ra rằng Kibandi xấu như một con rệp, gầy nhỏng như một cái đinh đóng khung ảnh, lão còn nói thêm rằng một cô gái sáng giá như vậy thì sẽ không đời nào chịu chấp nhận lời cầu hôn của thầy tôi, người có thể vẫn cứ luôn luôn mơ tưởng, rằng lão sẽ làm cho cậu khánh kiệt, khuynh gia bại sản, sẽ lấy của cậu đến tận cái quần cộc, đến tận cái khăn lau mồ hôi, những đôi dép xăng đan bằng cao su của cậu, có lẽ chính vì bị tước đoạt và nổi loạn đã đưa thầy tôi đến chỗ muốn thanh toán gia đình này bởi vì, tôi phải nói cho thật cụ thể chính xác, anh bạn Baobab thân mến ạ, để cho một con người xơi tái một con người khác thì phải có những lý do tổng thể, niềm ganh ghét, nỗi tức giận, sự ghen tuông, bị nhục mạ, bị thiếu tôn trọng, tôi thề với anh rằng tụi tôi không đời nào xơi một ai đó chỉ vì thích thú được xơi đâu, thế nên, trong cái đêm đáng ghi nhớ ấy, thiếu nữ Kiminou nằm ngủ như một thiên thần, hai tay cô ấy khoanh trên ngực, tôi hít một hơi thật sâu trước khi chuẩn bị cho mình một trong những cái lông nhọn cứng nhất, rồi bắn nó thẳng vào ngay giữa thái dương bên phải của cô, cô ấy không có thời gian để hiểu điều gì đã xảy đến, thì tôi đã tiếp tục lao tiếp một cái lông nhọn khác, cô ấy rùng mình, cố vùng vẫy nhưng vô vọng, cô ấy đã bị tê liệt, tôi tiến gần lại chỗ cô, tôi nghe thấy tiếng cô ấy thì thào những câu chẳng đầu không đuôi, khi ấy tôi bắt đầu liếm dòng máu rịn ra dưới thái dương cô, tôi như hân hoan nhận thấy vết thủng do hai cái lông nhọn của tôi gây ra đã biến mất, thế nên đối với những kẻ không được trang bị những bốn con mắt hẳn sẽ chẳng thể nhận ra bất kỳ dấu vết nào, tôi đi loanh quanh một vòng trong căn phòng khác, nơi cha mẹ thiếu nữ đang nằm ngủ, người cha gáy khò khò ầm ĩ hệt như một chiếc xe hơi rách, người mẹ thả tay lủng lẳng bên giường, tôi không có nhiệm vụ xử lý họ, vậy nên tôi tự đẩy lùi giọng nói đang thì thầm bên tai là nên phóng ngay hai ba cái lông nhọn vào thái dương của cha mẹ Kiminou

ngày hôm sau, cơn sửng sốt lan rộng khắp Séképembé, Kiminou rõ ràng đã chết, nếu người ta chấp thuận rằng cô đã bị xơi tái, thì người ta lại nói về một kẻ kình địch giữa dòng họ cha và dòng họ mẹ của người quá cố hơn, đã có ngay một trận cà khịa dữ dội giữa hai dòng họ này, họ lôi ra nào là dao đốn cây, nào là ngọn lao, rìu rựa, trưởng làng Séképembé đã thành công xoa dịu cả hai bên, ông đề nghị, trong ngày an táng, người ta sẽ tiến hành thử thách tuyệt kỹ của xác chết, nó sẽ lôi ra kẻ táng tận lương tâm, Kibandi đã ít nhiều chờ đợi điều này, Baobab thân mến ạ, do vậy cậu đã chuẩn bị hết, Cha Kibandi đã dạy cho cậu cách lật ngược thế cờ như thế nào, thầy tôi khi ấy đã nhét một hạt cọ vào trong dạ tràng của mình hệt như dạo cha cậu đã cố gắng lừa được sự cẩn trọng của đạo sĩ Tembé-Essouka, và thế là xác chết của thiếu nữ Kiminou đã đi đến chỉ định thủ phạm là một trong bốn ứng cử viên của cuộc hôn thú, kẻ vô tội khốn khổ ấy bị người ta chôn sống cùng với người quá cố, mà không có một thể thức kiện tụng nào khác, bởi đó là lễ thường tập tục

Baobab thân mến, thử thách xác chết lôi ra kẻ xấu được tất cả mọi người sợ hãi, đó là một phong tục lan rộng khắp vùng, ở đây mỗi khi có một người lìa đời, thì dân làng hối hả cạy nhờ đến chuyện đó, không có cái chết nào là thường tình trong tiềm thức họ, chỉ duy người quá cố có thể nói với những ai còn sống đâu là nguồn gốc gây ra cái chết của họ, anh có lẽ muốn biết mọi chuyện được diễn ra như thế nào chứ gì, thế thì đây, bốn gã trai tráng lực điền khênh cỗ quan tài trên vai, một đạo sĩ được trưởng thôn chỉ định cầm một mẫu gỗ, gõ ba cái lên hòm áo quan và cất hỏi xác chết "hãy nói cho chúng ta biết kẻ nào đã xơi tái ngươi, hãy chỉ ra cho chúng ta thấy kẻ táng tận lương tâm này sống trong ngôi nhà nào, ngươi không thể ra đi như vậy đến thế giới khác mà không báo thù, thế thì hãy động cựa đi, hãy chạy đi, bay đi, hãy xuyên qua núi cao, xuyên qua đồng bằng, và dẫu cho tên phản phúc ấy có sống bên kia đại dương, và dẫu cho hắn có sống cùng các vì sao, thì chúng ta cũng sẽ đi đến tận nơi đó để bắt hắn phải trả giá cho nỗi đau mà hắn đã gây ra cho ngươi và gia đình ngươi", cỗ quan tài bất ngờ động đậy, bốn gã lực điền trai tráng đang khênh nó trên vai thì như bị kéo lê đi trong một điệu nhảy ma quái, họ không còn cảm thấy sức nặng của xác chết nữa, họ chạy về bên trái, sang bên phải, thường thì cỗ áo quan tha họ đến giữa trảng cỏ, đưa họ quay trở về làng trong một cơn việt dã chóng mặt, và lũ lực điền ấy giẫm lên gai nhọn, mảnh sành mảnh chai vỡ mà không cảm thấy đau đớn gì hết, mà không bị thương, họ dấn vào nước mà không chết đuối, họ đi xuyên qua lửa cháy rừng mà không bị bỏng, và ngoài ra một lần bọn Da Trắng đã đến đây để quan sát việc này nhằm kể lại trong một cuốn sách, họ tự giới thiệu như là nhân danh các nhà nhân chủng học, họ thật khó khăn giải thích cho một số kẻ đần ở Séképembé hiểu một nhà nhân chủng học thì được sử dụng để làm gì, còn tôi ấy à, tôi đã cười rất đã bởi vì, để đi nhanh hơn, mồ cha con nhím chứ, tôi những muốn nói cho bọn đần này biết rằng các nhà nhân chủng học là những người chuyên kể lại những điều về phong tục tập quán của những người khác mà họ coi như là xa lạ kỳ quặc so với chính nền văn hóa của họ, chỉ có thế thôi, nhưng một trong những người Da Trắng kia đã đánh liều giải thích cho những kẻ tâm trí khờ khạo khốn khổ của ngôi làng này rằng từ "nhân chủng học" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ethno và muốn biểu thị ý nghĩa "dân tộc", vậy nên những nhà nhân chủng học chuyên nghiên cứu các dân tộc, các cộng đồng, nghiên cứu các tập tục của họ, lối suy nghĩ của họ, lối sống, ông ta nói cụ thể rằng nếu như từ "nhân chủng học" mà khiến một số người thấy lấn cấn, thì ta chỉ cần nói đơn giản là "nhân loại xã hội học", điều này vẫn còn gieo rắc bối rối mập mờ, và hơn nữa người dần ở đó thực ra vẫn tiếp tục nghĩ rằng bọn Da Trắng kia là những kẻ thất nghiệp trong đất nước họ, hay là họ đến làng này để đặt những cần ăng-ten pa-ra-bol để giám sát dân chúng, và do vậy, họ đã đến tận đây, những nhà nhân chủng học hay nhân loại xã hội học Da Trắng kia, họ đã chờ đợi một ai đó chết, và do họ thật may mắn, đã có một người bị xơi ở đầy, không phải do thầy tôi, mà do một gã sở hữu một con phó-bản ác, một con chuột chù, những nhà nhân chủng học đồng loạt cất lên một câu duy nhất "tuyệt lắm, chúng ta đã có một xác chết rồi, nó ở đầu làng đằng kia, ngày mai sẽ đem chôn, cuối cùng thì tụi ta cũng kết thúc được cuốn sách thổ tả này", và họ yêu cầu chính họ sẽ khênh quan tài trên vai mình bởi họ quả quyết rằng có cái gì đó thật không ổn trong tập tục này, rằng trên thực tế chính các gã trai lực điền đảm trách khênh quan tài kia đã khuấy động nó nhằm kết tội nhầm mọi người, nhưng vấn đề nảy sinh khi có người Da Trắng tham gia vào tập tục này, nó đã chia dân làng thành hai ý kiến trái ngược nhau, vài đạo sĩ không muốn những người lạ xen vào công việc của Séképembé, cuối cùng, trưởng thôn đành chơi trò ngoại giao, ông ta thề rằng những tập tục của tổ tiên sẽ vẫn được thực hiện suôn sẻ ngay cả khi những người Da Trắng có mặt bởi vì tổ tiên ngôi làng còn mạnh hơn cả những người Da Trắng, và ông ta đã thuyết phục tất cả làng rằng đó chính là một may mắn khi những người đến từ nơi khác tham dự vào thử thách này, ngoài ra họ sẽ nói về Séképembé trong cuốn sách của họ, ngôi làng này sẽ trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, rất nhiều dân tộc ở những vùng khác sẽ phỏng theo những tập tục này và do vậy sẽ đem đến vinh quang cho tổ tiên họ, và thế là sự bất đồng tan loãng đi, nó nín lặng trong niềm tự hào tập thể, người ta suýt nữa thì đánh lộn nhau khi đến giờ phải chọn một trong mười hai đạo sĩ của làng, ai sẽ giám sát điều khiển buổi lễ đây, tất cả đồng loạt muốn làm việc với những người Da Trắng trong khi một ý tưởng như vậy chỉ mấy giờ trước đó thôi là không thể chấp nhận được, và kể từ đó đạo sĩ nào cũng ca ngợi cây phả hệ nhà mình, ấy thế mà chỉ cần một người trong số họ thôi, trưởng làng liền tập hợp mười hai đồng cauri, ông đánh dấu một chữ thập vào một trong số đó, rồi thả nó vào một cái giỏ, đảo đều lên và đề nghị từng đạo sĩ nhắm mắt lại trước khi thò tay vào trong và lấy ra một đồng cauris bất kỳ, người nào nhặt được đồng cauris có đánh dấu, thì sẽ có vinh dự được điều hành buổi lễ, vẻ hồi hộp đi đến tận đồng cauri thứ mười một, khi nó được một người cứ không ngừng né tránh lượt mình lôi ra dưới con mắt ghen tỵ của các bạn đồng nghiệp của ông ta, và thế là, vào cuối cuộc mặc cả thương lượng này, những nhà nhân chủng học hay nhân loại xã hội học ấy rốt cục đã được nâng chiếc quan tài ấy lên trước tiếng cười vang của dân làng, họ không còn sợ bị tiếng là sỉ nhục xác chết khi biểu lộ sự vui cười như thế, và vị đạo sĩ, ngay cả ông ta cũng cố kìm cơn cười ha hả, cầm đầu mẩu gỗ của mình gõ ba tiếng ngắn gọn, ông ta phải chật vật lắm mới tìm ra câu nói của mình để cầu khẩn xác chết đi chỉ mặt vạch tên kẻ xấu ám hại nó, người chết hiểu điều người ta chờ đợi ở nó, vì lẽ rằng, trong bài khấn của mình, vị đạo sĩ nói thêm "chớ có làm chúng ta xấu hổ trước những người Da Trắng này, họ đến từ những phương trời rất xa, và coi tập tục của chúng ta đơn giản chỉ là trò cười mà thôi", xác chết chẳng đợi phải cầu khẩn đến lần thứ hai, một làn mưa nhẹ bắt đầu rơi xuống, và khi cỗ quan tài bắt đầu động đậy tiến về phía trước bằng những cú nhảy nhẹ hệt như của chuột túi sơ sinh, thì những nhà nhân chủng học đi phía sau bỗng kêu toáng lên "ô mà này, các đồng nghiệp thân mến, đừng có lắc chiếc quan tài thổ tả này nữa đi, hây để nó tự đi nếu như nó thực sự có thể tự đi được, chó chết thế", và những nhà nhân chủng học khác đáp lại "đừng nói bậy nữa đi, các chàng ạ, chính các cậu đang lắc nó thì có, chó chết", xác chết được kích động, tăng dần nhịp rung của nó lên, lôi các nhà nhân loại xã hội học vào cánh đồng cây cứt lợn, dẫn họ quay về làng, đẩy họ đến tận dòng sông, lại dẫn họ về làng trước khi dừng cuộc chạy vô độ phóng túng của nó trước nhà lão già Moubougoulou, và lấy đà, cỗ quan tài đâm thẳng vào cửa nhà, xô vào bên trong nơi trú ngụ của tên tội phạm, một con chuột chù già nua hôi rình như một con chồn hôi thoát ra khỏi nhà, xoay tròn quanh mình nó ở giữa sân rồi cắm cổ chạy thẳng về phía sông, cỗ quan tài đuổi kịp nó ngay trước bụi cây đầu tiên, đè sập lên nó, và lão già Moubougoulou đã chết như vậy đấy, anh Baobab thần mến ạ, và có vẻ như những người Da Trắng đã viết một cuốn sách đồ sộ dày những hơn chín trăm trang để kể lại câu chuyện này, tôi không biết liệu làng Séképembé đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới hay chưa, nhưng vẫn cứ có những người Da Trắng khác đã qua đây chỉ để kiểm tra những điều mà nhóm đầu tiên đã viết ra trong cuốn sách của họ, rất nhiều trong số họ đã lại ra đi mà chẳng thu hoạch được gì bởi những người dân được trang bị phó-bản ác đã dè chừng họ, để rồi tất cả diễn ra như thể dân ở đó không chết nữa mỗi khi có người Da Trắng đến lẩn quất trong vùng, cũng có trường hợp một số xác chết hờn dỗi buổi lễ, từ chối ra nhập cuộc chơi hay người dân trong làng để mặc mà không tổ chức gì cả như lời trăng trối cuối cùng cho gia đình nên họ nhất định không chịu để xác chết theo tập tục này trước sự có mặt của những người Da Trắng, những người này có nguy cơ làm mờ đi tiếng tăm của họ trên toàn thể thế giới, vậy nên anh hiểu rằng truyền thống này hiện giờ được tiến hành ở đây với rất nhiều thận trọng, nhưng về mặt cơ bản, thì tôi cần phải nói với anh thế nào nhỉ, Baobab thân mến, lý do thuyết phục nhất đến từ một gã mà mọi người đã gọi hắn là Amédée, nếu tôi nói về hắn ở thời quá khứ, là bởi vì hắn ta không còn hiện diện trên đời này nữa, cầu cho hương hồn hắn được bình yên, hắn ta là một kiểu mà loài người gọi là học giả, một nhân vật có văn hóa, hắn đã theo học rất lâu, và người ta tôn trọng hắn vì điều đó, ngoài ra hắn đã đi du lịch rất nhiều, hắn đã leo lên máy bay nhiều lần, con chim sắt ồn ã xẻ ngang dọc bầu trời mà mỗi lần cất cánh chỉ còn thiếu chuyện chưa thiến được ngọn của anh đi mà thôi, có vẻ như Amédée là kẻ thông minh nhất trong những người ở Miền Nam, nếu như không muốn nói là cả đất nước này, ấy thế mà, chúng tôi dẫu gì cũng đã xơi tái hắn như anh sắp sửa sẽ được biết đây, vậy là chính hắn đã huênh hoang rằng cuốn sách mà những người Da Trắng đầu tiên viết về vấn đề này đã xuất hiện ở châu Âu và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, hắn khẳng định rằng tác phẩm này đã trở thành một tiêu điểm không thể thiếu cho những nhà nhân chủng học, và Amédée đã đọc nó, hắn đã không gượng nhẹ những lời phê phán của mình, "chưa bao giờ tôi đã từng đọc một cuốn sách nào bịp bợm như vậy, tôi cần nói gì hơn với các người đây hả, đó là một cuốn sách đáng xấu hổ, đó là một cuốn sách sỉ nhục đối với các cộng đồng xã hội châu Phi, đó là một mớ dối trá của một nhóm người châu Âu tìm kiếm đồ ngoại và họ mong muốn bọn Mọi Đen tiếp tục ăn vận bằng da báo và ngụ trên cây

129

lúc này gió bắt đầu nổi lên, lá của anh rụng lên người tôi, đó là một cảm giác thật dễ chịu, những chi tiết nhỏ này kể từ đây cho phép tôi thưởng thức vẻ nhẹ nhàng của cuộc sống, và khi tôi ngó lên bầu trời thì tôi tự nhủ rằng anh quả thật đã cực may mắn, anh ấy mà, được sống trong một nơi như thiên đường, ở đây đâu đâu cũng có màu xanh ngắt, anh đứng trên một quả đồi, anh chế ngự hết cả vùng lân cận, cây cối xung quanh cúi rạp trong khi anh lặng ngắm tính tình cáu bẳn của bầu trời với vẻ thờ ơ của kẻ đã chứng kiến mọi thứ trong suốt cuộc đời mình, những loài cây cối khác, đứng bên cạnh anh, thì giống hệt như cây lùn trong vườn nhà, bằng ánh mắt, anh trị vì toàn bộ hệ thực vật, tôi nghe thấy tiếng nước sông chảy gần đây, đổ xuống ghềnh đá gần đó, hiếm người Séképembé phiêu lưu tới những chốn này, người ta đốn tất cả những sinh vật trên trảng cỏ này, người ta hẳn sẽ không bao giờ dám động chạm tới anh nhờ sự tôn trọng của dần làng đối với loài baobab, tôi biết rằng điều đó không phải bao giờ cũng như vậy, tôi biết người ta đã nói nhiều điều liên quan tới anh, tôi có thể đọc chúng thông qua những đường vân vỏ cây của anh, một số là những vết sẹo, có những kẻ điên trong làng đã cố triệt tiêu anh, và trong cơn điên khùng phá hoại của họ, mồ cha nhà nhím chứ, chúng đã muốn biến anh thành củi để sưởi, họ đã nghĩ rằng anh che lấp chân trời, rằng anh che mất ánh sáng ban ngày, nhưng chúng đã không sao làm được bởi lưỡi cưa của chúng đã bị bẻ gập trước kháng cự mang tính thần thoại của anh, thế rồi chúng đành hài lòng với các cây trám hồng mà chúng sử dụng những tấm ván để vừa đóng những cỗ quan tài vừa dùng để dựng nên những ngôi nhà của chúng, loại gỗ mà thầy tôi cũng đã dùng để làm mộc, và có một số người dân trong làng nghĩ rằng anh có một tâm hồn, rằng anh bảo vệ vùng này, rằng nếu anh chết thì điều đó hẳn sẽ có hại, sẽ gây lâm nguy cho khu vực, rằng nhựa cây của anh cũng rất linh thiêng như nước thánh của nhà thờ trong làng, rằng anh là người canh gác cho rừng, rằng anh đã luôn tồn tại từ thủa hồng hoang, có lẽ chính vì những điều đó mà các đạo sĩ sử dụng vỏ cây của anh để chữa bệnh cho người ốm, một số khác khẳng định rằng nói chuyện với anh thì cũng có nghĩa là nói chuyện với tổ tiên, "hây ngồi xuống gốc một cây baobab và, cùng với thời gian, ngươi sẽ thấy Vũ trụ diễn ra trước mắt ngươi", thi thoảng vị nhím già của chúng tôi nói, người này kể lại rằng xưa kia loài baobab có thể nói được, đáp lời con người, trừng phạt họ, quất đánh họ bằng cành cây của chúng khi anh em thúc bá nhà khỉ này cấu kết với nhau chống lại hệ thực vật, và trong thời gian đó, cụ nhím tiếp tục nói, những cây baobab có thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, chọn một chỗ thuận tiện hơn để trụ lại bám rễ, một vài cây trong số đó tới từ xa, rất xa, chúng lai tạo với những cây baobab khác, chúng đi tới từ hướng đối diện bởi vì người ta luôn luôn có khuynh hướng tin rằng miền đất lạ bao giờ cũng tốt hơn miền đất nơi ta sinh ra, rằng cuộc sống thường dễ chịu đựng hơn ở những nơi khác, còn tôi, tôi hình dung giai đoạn lang thang bất tận đó, thời kỳ mà khoảng không không phải là một chướng ngại, ngày hôm nay chắc chẳng ai tin những lời tôi nói, hỏi có người nào mang đầy lý trí, tích đầy thành kiến lại hình dung rằng một thân cây, rễ ăn sâu xuống đất chỉ một lần duy nhất trong đời lại có thể di chuyển được chứ hả, con người đần độn hẳn sẽ ngay tức thì bẻ lại "thế tại sao lại không phải là dãy núi trong khi chúng ta đang ở trong lòng nó chứ hả, nó cũng có thể đi lang thang chơi bời được chứ, các dãy núi chen chúc kìm kẹp nhau trên một ngã ba đường, nói chuyện ba hoa trời đất với nhau, trao đổi địa chỉ, nói cho nhau biết những tin tức gia đình mỗi đứa, đó chỉ toàn là những chuyện tầm phào thôi", còn tôi thì tôi lại tin điều đó anh ạ, chỉ một lần trong đời tôi cho rằng vị thủ lĩnh của chúng tôi có lý, những gì cụ kể cho chúng tôi nghe không phải là truyền thuyết, đó không phải là những điều tầm phào, cụ ấy nói đúng, và tôi biết rằng cả anh nữa, anh chắc đã phải di chuyển, rằng anh đã phải trốn tránh những vùng có cơ bị sa mạc đe dọa, những miền mà ta có thể đếm được những giọt mưa, anh đã rời bỏ gia đình mình, anh tiến gần tới những vùng có mưa nhiều, và không phải là vô tình nếu như anh đã chọn nơi màu mỡ nhất của đất nước này, tôi không biết liệu có một cây baobab nào khác sống ở trong các vùng lân cận đây không, tôi những muốn được đi ngược lại dòng phả hệ của anh biết bao nhiêu, biết được anh là hậu duệ của loài cây nào và tổ tiên xa xưa nhất nhà anh sống ở vùng nào, nhưng có thể tôi đã đi hơi quá xa cuộc xưng tội của chính mình mất rồi khi nói về anh, đúng vậy không hả, vẫn chính là cái phần người trong tôi đang thổ lộ đấy, thực ra, tôi đã học được từ con người khuynh hướng lạc đề, họ chẳng bao giờ đi thẳng vào mục đích, thường mở những dấu ngoặc đơn rồi lại quên đóng lại

tôi không thích kiểu đàn ông giống như chàng học giả trẻ mà người ta gọi là Amédée và là kẻ mà chúng tôi đã xơi tái, anh ta chỉ vừa chớm tuổi ba mươi, và chính anh ta là người đã đọc cuốn sách mà những nhà nhân chủng học hay nhân loại xã hội học viết về việc áp dụng xác chết để lôi ra kẻ hãm hại, tôi nói chuyện này với anh bởi nếu như có một người mà tôi thậm chí chẳng thèm hối tiếc cái chết ấy, thì đúng là chàng trai này đấy, anh ta rất cao ngạo, một kẻ huênh hoang loại một, người tự coi mình như là thông minh nhất làng này, vùng này, thậm chí cả đất nước này, hắn mặc đồ complet vải téc-gan, những chiếc cà-vạt lấp lánh, đi giầy của những người làm việc trong văn phòng, chốn biếng lười mà người ta ngồi đấy, giả bộ như đang đọc giấy tờ, đùn lại ngày mai những cồng việc đáng ra phải quyết định ngay ngày hôm ấy, Amédée đi, nửa người phía trên tiến về đằng trước, chỉ đơn giản bởi hắn đã học tập rất lâu, chỉ đơn giản bởi hắn đã từng ở trong những quốc gia có tuyết rơi, tôi nói với anh khi hắn đã tới Séképembé để thăm cha mẹ hắn, thì những cô gái đang thời động đực tới tấp chạy theo hắn, thậm chí cả những cô đã thành hôn thì lừa dối chồng mình, các cô vụng trộm đem đồ ăn tới cho hắn ở đằng sau nhà cha hắn, các cô giặt giũ quần áo bẩn cho hắn, gã làm những việc hạ đẳng này khắp nơi với các bà đã có chồng và những cô gái trẻ đang thời động cỡn, hắn làm trên sông, trên cỏ, trên các cánh đồng, đằng sau nhà thờ, gần nghĩa địa, tôi không thể tin vào mắt mình, đúng là hắn đẹp trai thật, lực lưỡng, vả lại hắn dùng nhiều thời giờ để chỉnh dưỡng vẻ đẹp ấy với những động tác của một con người thuộc giới mạnh, chưa bao giờ người ta chứng kiến một vẻ điệu đàng nhường ấy trong ngôi làng này, và khi hắn đi tắm sông, hắn soi mình xuống làn nước rất lâu, phết cây thơm lên da, mãn nguyện nhìn hình ảnh mình phản chiếu trên lớp sóng dày và gần như đồng lõa với vẻ điệu đàng ấy, khi ấy Amédée tự nhủ rằng hắn đẹp trai, rất đẹp, thế rồi một hôm hắn suýt chết đuối, bởi để ngắm bóng hình mình được trọn vẹn hơn, hắn đã giẫm lên một phiến đá phủ đầy rêu trơn, và thế là hấp, mồ cha nhà con nhím chứ, hắn sẩy chân, và rơi tõm xuống nước, nhưng ơn Chúa cho hắn, vì hắn biết bơi và với tới bờ bên kia trong hai ba sải tay vùng vẫy, hắn đã cười như một thằng đần, những kẻ đang bơi lội vỗ tay cổ vũ hắn, và để chúc mừng cái ngày mà hắn sượt qua cái chết đó, hắn đã hái một bông hoa râm bụt đỏ và ném xuống sông, nhìn nó trôi theo dòng nước, rồi biến mất trong một mớ rong rêu và hoa súng, chính vì điều đó mà người dân trong làng này không còn nói "hoa râm bụt đỏ" nữa, khi bàn luận về loài hoa này, mà họ gọi nó là "hoa Amédée"

điều tồi tệ nhất, đó là Amédée thẳng thắn công khai phê bình cách cư xử của những ông già bà cả, hắn coi họ là bọn gàn dở, ngu muội, dốt nát, chỉ có mỗi cha mẹ hắn là được trừ ra, bởi vì, theo như hắn nói, nếu cha mẹ hắn mà đã có may mắn được đến trường, thì hẳn họ cũng sẽ thông minh như hắn bởi vì trí thông minh của hắn đến từ họ, và khi ngày mới đến, kẻ kiêu ngạo của chúng ta ngồi dưới một gốc cây, đọc một cuốn sách dày được viết bằng chữ bé tí tẹo teo, như đối với phần đông những cuốn tiểu thuyết, ô hay, anh chắc chắn chưa bao giờ nhìn thấy một cuốn tiểu thuyết à, có lẽ chưa có người nào đến đọc sách dưới chân anh rồi, anh chắc chẳng mất mát đi thứ gì đâu, Baobab thân mến ạ, nhưng để đơn giản mọi thứ và không để ô uế đầu óc anh, thì tôi sẽ nói rằng cuốn tiểu thuyết là những cuốn sách mà con người viết ra với mục đích kể lại những điều không có thật, họ huênh hoang rằng điều đó tới từ trí tưởng tượng của họ, trong số các tiểu thuyết gia ấy có những người bán cha bán mẹ họ chỉ để ăn cắp của tôi định mệnh của một con nhím, mà con nhím ấy chính là tôi đấy, họ sẽ lấy cảm hứng từ nó, sẽ viết nên một câu chuyện mà trong đó tôi hẳn không phải lúc nào cũng có vai trò quan trọng nhất và sẽ bị liệt vào làm một con vật được sử dụng cho những phong tục xấu xa, tôi đảm bảo với anh rằng con người buồn chán lắm đến nỗi mà họ cần phải có những cuốn tiểu thuyết ấy để sáng tạo ra những cuộc đời khác, và trong những cuốn sách này, Baobab thân mến, khi bị chìm sâu vào trong đó rồi ấy mà, thì ta có thể chạy khắp thế giới, rời khỏi trảng cỏ rừng hoang trong nháy mắt, hiện diện trong những vùng xa lắc, ta có thể chạm mặt những dân tộc khác nhau, những loài vật xa lạ và thậm chí cả những con nhím có quá khứ còn nguy hiểm hơn cả quá khứ của tôi nữa ấy chú, tôi thường xuyên hồi hộp khi ẩn trong một bụi cây rậm để nghe Amédée nói với các thiếu nữ những điều có trong các cuốn sách của hắn, và các cô gái trẻ nhìn hắn với vẻ kính trọng và quý mến hơn nữa bởi vì, nơi bọn anh em thúc bá nhà khỉ này, khi mà người ta đọc nhiều, thì người ta có quyền huênh hoang, có quyền coi những người khác chẳng ra gì hết, và những người đọc nhiều biết nhiều này cứ nói không ngừng nghỉ, họ trích đọc những cái khó hiểu nhất có trong nội dung các cuốn sách, họ muốn những người khác biết những điều họ đã đọc, thế nên Amédée kể cho các thiếu nữ khốn khổ kia nghe số phận bất hạnh của một ông lão đi đánh cá trên vùng biển động, và cụ phải một mình tranh đấu với một con cá khổng lồ, con cá khổng lồ ấy theo tôi là một phó-bản ác của một tay thuyền chài luôn ganh ghét tị hiềm với ông lão kia và kinh nghiệm từng trải của cụ, chàng học giả trẻ của chúng ta cũng kể về một ông lão khác, người thích đọc những cuốn truyện tình và người này đi giúp một ngôi làng để vô hiệu hóa một con vật hoang chuyên gieo rắc hãi hùng trên khắp vùng, tôi quả quyết rằng con vật hoang đó là phó-bản ác của một người dân trong làng ở đất nước xa xôi ấy, vẫn cứ là Amédée kể lại nhiều lần cho họ nghe cầu chuyện về một gã đàn ông đi lại trên một tấm thảm biết bay, về một viên thống soái đã lập nên một ngôi làng có tên là Macondo và hậu duệ của ông ta đã chìm vào trong một dạng như bị trừng phạt, sinh ra nửa người nửa ngợm, có mõm, có đuôi của lợn, tôi dám quả quyết rằng nó chắc cũng lại liên quan đến chuyện về những con phó-bản ác, và, chừng như tôi có thể nhớ được ấy mà, hắn kể những cuộc phiêu lưu của một gã kỳ quặc suốt ngày chỉ chuyên quần đảo với những cái cối xay gió, và còn nữa, trong cùng một trật tự ý tưởng ấy, hắn kể chuyện về một viên sĩ quan vô vọng chờ đợi quân tiếp viện chẳng bao giờ đến trong một doanh trại mất hút trong vùng sa mạc và nói về ngài đại tá già vẫn ngày ngày chờ đợi một lá thư và số tiền trợ cấp cựu chiến binh của ông, ngài đại tá bất hạnh đó sống trong túng quẫn với người vợ đau ốm của mình và con gà trống chọi mà họ tạo niềm hy vọng của mình vào nó, con gà trống đó là nguồn ánh sáng duy nhất của họ, con vật này chắc phải là một phó-bản thiện thì đúng hơn, vậy nên tôi không đi sâu vào, và thế là, để làm các thiếu nữ sợ, bởi các cô gái này thích cảm nhận những cơn sợ rùng mình, nghe những chuyện về hiếp dâm, về máu me, về án mạng, Amédée nói với họ về một tay anh chị giang hồ bất lực về mặt tình dục, người đã phạm tội hiếp dâm bằng một bắp ngô trong một vùng hẻo lánh ở Nam Mỹ, theo hứng hắn không để lỡ cơ hội nói với họ về câu chuyện hai vụ ám sát liền tù tì trong một khu phố được gọi một cách kỳ quặc là Nhà xác, và do đó liên quan đến vụ một người đàn bà bị bóp cổ, rồi sau đó bị kẻ giết người dùng lực ấn vào trong một cái lò sưởi, đầu chĩa về phía dưới, lũ con gái thốt ra tiếng kêu sợ hãi khi Amédée nói thêm rằng đằng sau tòa nhà, nơi xảy ra tấn thảm kịch ấy, trong một mảnh sân nhỏ, có một xác chết khác của một bà cụ già nằm xoài trên mặt đất, họng bị cắt đứt, đầu rời khỏi cổ, thế nên thi thoảng một số đứa con gái rời khỏi hội, chỉ quay lại sau khi Amédée đã kể ra điều bí ẩn của vụ ám sát trụy lạc bằng cách thuật lại những phần tích sáng suốt của điều tra viên, nhưng trên thực tế, chuyện gây cho các thiếu nữ cảm giác rùng mình thật sự, là chuyện về một người phụ nữ rất đẹp có tên là Alicia, và dưới một vài khía cạnh nào đó, tôi đã nghĩ rằng Amédée chế giễu thầy Kibandi của tôi khi nói về người này với những từ úp mở, chàng trai trẻ thường xuyên nói rằng "theo như thế giới của Edgar Alan Poe, tôi sẽ dẫn các bạn đi xa, đến Uruguay, tại nhà của Horacio Quiroga", khi ấy Amédée miêu tả một cách khoái trá nhân vật Alicia, hắn nói cho các cô gái biết rằng thiếu nữ này tóc vàng, đẹp như thiên thần, hay cả thẹn, lũ con gái thốt lên những tiếng "ồ... ồ...à...à..." không ngừng, chàng học giả nói thêm rằng Alicia là một phụ nữ yêu tha thiết chồng mình là Jordan, người tuy có tính cách rất khắc nghiệt, hai người yêu nhau mặc dù tính cách họ đối nghịch nhau, họ khoác vai nhau đi dạo, cuộc hôn nhân của họ chỉ kéo dài được ba tháng, như có tiền định, bầu trời mùa thu kể từ đó vẩn mây lên khối diễm tình của họ, hơi mang dáng dấp như là bị Chúa trừng phạt vậy, Người đã ghen với duyên nợ gắn đôi của họ, tất cả chuyện đó còn trở nên mong manh hơn do một trận cúm kéo dài, Alicie bị đau, từ đó phải nằm liệt giường, ngày ngày cứ héo hon dần đi, cuộc sống hình như đang thoái thác cô, chẳng còn gì như trước đây nữa dù cho Jordan chăm sóc tận tình, và trong phần này của câu chuyện, ngay khi Amédée miêu tả, tô điểm thêm vào phần trang trí ngôi nhà của cặp vợ chồng này, thì cơn rùng mình thấp thoáng ngay sát đó, sự dịu dàng đông lại thành nỗi hoảng sợ, người ta nghe thấy Amédée nói bằng chất giọng còn trầm trọng hơn nữa, miêu tả nơi trú ngụ của cặp Jordan và Alicia, "bên trong, ánh sáng chói lạnh lẽo của chất giả đá hoa, không có lấy một vết xước trên các bức tường cao, càng gây thêm cảm giác lành lạnh đáng lo ngại", và hắn còn đọc thêm vài đoạn sau đó ít lâu, "khi đi từ phòng này sang phòng khác, cả ngôi nhà vang lên dưới những bước chần, như thể một sự bỏ hoang kéo dài đã biến nó trở nên âm vang hơn", không một ai biết Alicia đau vì nguyên nhân gì, nhiều bác sĩ chịu bó tay, người ta đã thử điều trị tất cả các loại thuốc mà không có kết quả, rốt cục Alicia đã chết, và sau cái chết của cô ấy, người hầu vào phòng cô rũ giường, cô ta sững sờ phát hiện ra hai vết máu dính trên chiếc gối bằng lông vũ, chiếc gối mà Alicia vẫn dùng để gối đầu ấy mà, cô người hầu cố gắng nâng nó lên, và trước sự ngạc nhiên cực độ của cô, chiếc gối rất nặng, cô đề nghị người chồng trẻ góa bụa Jordan đến trợ giúp, họ đặt chiếc gối ấy lên bàn, Jordan quyết định lấy dao cắt ra, "những chiếc lông vũ bay lên phía trên và cô hầu phòng, miệng há hốc, thốt ra một tiếng kêu hãi hùng đưa hai bàn tay co quắp của mình đặt lên chiếc khăn quấn tóc", Amédée đọc với vẻ u ám và chăm chú, và do các thiếu nữ ở Séképembé vẫn chưa hiểu Jordan và cô hầu phát hiện ra điều gì trong chiếc gối lông vũ ấy, cuối cùng Amédée tiết lộ điều huyền bí khi đọc nhấn mạnh lên từng từ, "dưới đáy gối, ở giữa những chiếc lông vũ, điềm đạm ngọ ngoậy những chiếc cẳng êm ái của nó, một con quái vật, một hòn tròn mang sự sống và nhớt dính", và đó chính là con vật, trong năm ngày năm đêm liền, đã hút máu của Alicia bằng chiếc vòi của nó, còn tôi, về phần mình, tôi thầm nghĩ rằng cô nàng Alicia này có lẽ là một người đã được thụ pháp, một con người đã bị xơi tái bởi chính con phó-bản ác của mình, nó núp ngay trong chiếc gối lông vũ ấy

Dịch giả: Hiệu Constant
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.