Khoảnh Khắc Vĩnh Hằng Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I - Khí Cầu

❊ ❊ ❊

Hãy tưởng tượng, nếu có thể, một căn phòng nhỏ hình lục giác, giống như tổ ong. Nơi đây không có cửa sổ cũng chẳng có đèn, vậy mà vẫn ngập tràn một thứ ánh sáng dịu nhẹ. Không hề có lỗ thông gió, thế nhưng không khí vẫn rất trong lành. Chẳng có lấy một nhạc cụ nào, thế mà ngay lúc tâm tưởng tôi bắt đầu khởi sự, căn phòng này đang rung lên những âm thanh du dương. Một chiếc ghế bọc nệm nằm ở chính giữa, bên cạnh là một chiếc bàn đọc sách—đó là toàn bộ đồ đạc. Và trên chiếc ghế ấy ngồi một khối thịt quấn kín mít—một người phụ nữ cao chừng năm thước, với khuôn mặt trắng bệch như cây nấm. Căn phòng nhỏ này là của chính bà ta.

Một tiếng chuông điện reo lên.

Người phụ nữ chạm vào một công tắc và tiếng nhạc vụt tắt.

"Chắc mình phải xem ai thế nhỉ," bà nghĩ ngợi, rồi cho chiếc ghế chuyển động. Chiếc ghế, cũng giống như âm nhạc, được vận hành bằng máy móc, liền lăn đưa bà sang phía bên kia căn phòng, nơi tiếng chuông vẫn đang réo gọi thúc giục.

"Ai đấy?" bà cất tiếng gọi. Giọng bà đầy vẻ bực bội, bởi bà đã bị làm phiền liên tục từ lúc tiếng nhạc vang lên. Bà quen biết tới mấy ngàn người; ở một vài phương diện, sự giao thiệp giữa con người đã tiến bộ vượt bậc.

Nhưng khi bà áp tai vào ống nghe, khuôn mặt trắng bệch của bà liền nheo lại thành những nụ cười, và bà nói:

"Được rồi. Chúng ta hãy trò chuyện đi, tôi sẽ tự cách ly đây. Tôi không nghĩ có chuyện gì quan trọng xảy ra trong năm phút tới—vì tôi có thể dành cho anh trọn năm phút đấy, Kuno. Sau đó tôi phải giảng bài về đề tài 'Âm nhạc thời kỳ Úc châu'."

Bà chạm vào nút cách ly để không ai khác có thể nói chuyện với mình. Rồi bà chạm vào thiết bị chiếu sáng, và căn phòng nhỏ chìm ngập trong bóng tối.

"Nhanh lên!" bà giục giã, sự bực bội lại trỗi dậy. "Nhanh lên, Kuno; ta đang phải ở trong bóng tối để lãng phí thời gian đây này."

Nhưng phải mất tròn mười lăm giây, chiếc đĩa tròn bà đang cầm trên tay mới bắt đầu phát sáng. Một tia sáng xanh mờ ảo quét qua bề mặt, chuyển dần sang màu tím, và chẳng mấy chốc bà đã có thể nhìn thấy hình ảnh đứa con trai đang sống ở nửa bên kia trái đất của mình, và anh cũng nhìn thấy bà.

"Kuno, sao con chậm chạp thế."

Anh mỉm ơn điềm đạm.

"Mẹ thực sự tin là con thích la cà đấy."

"Con đã gọi cho mẹ từ trước, nhưng mẹ cứ bận rộn hoặc cách ly suốt. Con có chuyện cụ thể muốn nói."

"Chuyện gì thế, con yêu? Nói nhanh đi. Sao con không gửi nó qua đường bưu điện khí nén?"

"Vì con thích trực tiếp nói điều đó hơn. Con muốn——"

"Sao nào?"

"Con muốn mẹ đến thăm con."

Vashti đăm đăm nhìn nét mặt con trong chiếc đĩa xanh.

"Nhưng mẹ đang nhìn thấy con đây thôi!" bà thốt lên. "Con còn muốn gì nữa?"

"Con muốn gặp mẹ chứ không phải qua Cái Máy," Kuno đáp. "Con muốn nói chuyện với con người của mẹ chứ không qua Cái Máy mệt mỏi này."

"Ồ, im ngay!" mẹ anh nói, có chút hoang mang chấn động. "Con không được phép nói gì chống lại Cái Máy cả."

"Tại sao lại không?"

"Không được phép là không được phép."

Người kia kêu lên: "Mẹ cứ nói cứ như Cái Máy là do một vị thần tạo ra vậy. Con tin rằng mẹ cầu nguyện với nó mỗi khi bất hạnh. Con người làm ra nó, xin mẹ đừng quên điều đó. Những vĩ nhân, nhưng vẫn chỉ là con người. Cái Máy rất quan trọng, nhưng nó không phải là tất cả. Con nhìn thấy một thứ giống như mẹ trong chiếc đĩa này, nhưng con không thấy mẹ. Con nghe thấy một thứ giống như mẹ qua chiếc điện thoại này, nhưng con chẳng nghe thấy tiếng mẹ. Đó là lý do con muốn mẹ đến. Hãy đến và ở lại với con. Hãy ghé thăm con, để chúng ta có thể gặp nhau mặt đối mặt, và bàn về những hoài bão trong tâm trí con."

Bà đáp rằng mình hầu như không thể sắp xếp thời gian cho một chuyến đi.

"Khí cầu bay giữa con và mẹ chỉ mất vỏn vẹn hai ngày."

"Mẹ không thích khí cầu."

"Tại sao ạ?"

"Mẹ không thích nhìn thấy mặt đất màu nâu gớm ghiếc, rồi biển cả, và cả những vì sao khi trời tối. Chẳng có ý tưởng nào nảy ra nổi khi ngồi trên khí cầu cả."

"Con chẳng bao giờ có ý tưởng ở nơi nào khác."

Khí trời có thể mang lại cho con loại ý tưởng gì chứ?"

Anh chần chừ trong chốc lát.

"Mẹ có biết bốn ngôi sao lớn hợp thành một hình chữ nhật, và ba ngôi sao nằm sát nhau ở chính giữa hình chữ nhật đó, rồi treo lơ lửng bên dưới những ngôi sao này là ba ngôi sao khác nữa không?"

"Không, mẹ không biết. Mẹ không thích các vì sao. Nhưng chúng mang lại cho con một ý tưởng ư? Thật thú vị; kể mẹ nghe xem nào."

Con có ý tưởng rằng chúng trông giống như một người đàn ông."

"Mẹ không hiểu."

"Bốn ngôi sao lớn là đôi vai và đầu gối của người đàn ông. Ba ngôi sao ở giữa giống như chiếc thắt lưng mà người ta từng đeo ngày xưa, và ba ngôi sao treo bên dưới thì giống như một thanh gươm."

"Một thanh gươm?"

"Ngày xưa con người thường mang theo gươm bên mình để giết loài vật và đồng loại."

"Mẹ thấy đó không phải là một ý tưởng hay ho gì cho cam, nhưng quả thực rất độc đáo. Nó đến với con từ khi nào thế?"

"Trên khí cầu——" Anh bỗng ngưng bặt, và bà có cảm giác anh có vẻ buồn rầu. Bà không thể chắc chắn, bởi Cái Máy không truyền tải được những sắc thái biểu cảm. Nó chỉ cung cấp một ý tưởng chung chung về con người—một ý tưởng đủ tốt cho mọi mục đích thực tế, Vashti nghĩ thế. Vẻ đẹp mong manh bay bổng mà một triết học lỗi thời từng tuyên bố là bản chất thực sự của sự giao thiệp, đã bị Cái Máy loại bỏ một cách chính đáng, giống như lớp phấn phủ mỏng manh trên quả nho từng bị những nhà sản xuất trái cây nhân tạo gạt bỏ vậy. Một thứ gì đó "đủ tốt" đã từ lâu được giống nòi chúng ta chấp nhận.

"Sự thật là," anh tiếp lời, "con muốn được ngắm lại những vì sao ấy. Chúng là những vì sao kỳ lạ. Con muốn ngắm chúng không phải từ trên khí cầu, mà từ chính bề mặt trái đất, giống như tổ tiên chúng ta đã làm từ hàng ngàn năm trước. Con muốn đặt chân lên mặt đất."

Bà lại bị sốc.

"Mẹ ơi, mẹ phải đến đây, chí ít là để giải thích cho con nghe việc lên thăm bề mặt trái đất thì có hại gì."

"Chẳng có hại gì cả," bà đáp, cố nén sự bất bình. "Nhưng cũng chẳng có lợi lộc gì. Bề mặt trái đất chỉ toàn bụi với bùn, chẳng còn chút sự sống nào sót lại ở đó, và con sẽ cần đến một thiết bị trợ thở, bằng không cái lạnh của bầu khí quyển bên ngoài sẽ giết chết con. Người ta sẽ chết ngay lập tức ở bầu không khí bên ngoài."

"Con biết chứ; đương nhiên con sẽ chuẩn bị mọi biện pháp phòng ngừa."

"Và vả lại——"

"Sao ạ?"

Bà trầm ngâm suy nghĩ, cẩn trọng lựa chọn từng lời. Con trai bà vốn có tính khí thất thường, và bà muốn thuyết phục anh từ bỏ chuyến thám hiểm này.

"Nó đi ngược lại với tinh thần của thời đại," bà quả quyết.

"Ý mẹ là, đi ngược lại với Cái Máy sao?"

"Theo một nghĩa nào đó, nhưng mà——"

Hình ảnh của anh trong chiếc đĩa xanh mờ dần.

"Kuno!"

Anh đã tự cách ly.

Trong chốc lát, Vashti cảm thấy cô độc.

Rồi bà bật đèn lên, và khung cảnh căn phòng ngập tràn ánh sáng cùng chi chít các nút bấm điện đã giúp bà hồi phục tinh thần. Khắp nơi toàn là nút bấm với công tắc—nút gọi đồ ăn, gọi nhạc, gọi quần áo. Có cả nút gọi nước nóng, chỉ cần ấn nhẹ là một bồn rửa bằng đá cẩm thạch (nhân tạo) trồi lên từ sàn nhà, ngập đến tận vành bởi một thứ chất lỏng ấm áp đã được khử mùi. Có nút gọi nước lạnh. Có nút tạo ra văn chương. Và dĩ nhiên là cả những nút để bà liên lạc với bạn bè của mình. Căn phòng, dẫu chẳng chứa đựng gì bên trong, vẫn kết nối với mọi thứ mà bà quan tâm trên thế giới này.

Thao tác tiếp theo của Vashti là tắt công tắc cách ly, và toàn bộ những tin nhắn dồn ứ trong ba phút qua liền ùa đến dồn dập. Căn phòng tràn ngập tiếng chuông réo và ống nghe điện thoại. Món ăn mới vị ra sao? Bà có giới thiệu nó không? Dạo này bà có ý tưởng gì mới không? Có ai được phép chia sẻ ý tưởng của riêng họ với bà không? Bà có đồng ý hẹn gặp ở nhà trẻ công cộng vào một ngày gần đây không?—ví dụ như đúng ngày này tháng tới.

Hầu hết những câu hỏi ấy đều được bà đáp lại với nỗi bực dọc—một phẩm chất ngày càng gia tăng trong thời đại cuồng tốc ấy. Bà bảo rằng món ăn mới thật kinh tởm. Rằng bà không thể ghé thăm các nhà trẻ công cộng vì bận quá nhiều lịch hẹn. Rằng bà chẳng có ý tưởng nào của riêng mình cả, nhưng vừa được nghe kể một ý tưởng—rằng bốn ngôi sao và ba ngôi sao ở giữa trông giống hệt một người đàn ông: bà nghi ngờ chẳng có bao nhiêu ý nghĩa trong đó đâu. Rồi bà ngắt kết nối với các bạn liên lạc, bởi đã đến lúc bà phải thực hiện bài giảng về âm nhạc Úc châu.

Hệ thống tụ họp đông người cồng kềnh từ lâu đã bị vứt xó; cả Vashti lẫn thính giả của bà đều chẳng ai rời khỏi phòng mình. Ngồi trên chiếc ghế bọc nệm, bà cất tiếng giảng bài, trong khi họ ngồi trên ghế của mình nghe bà nói khá rõ, và nhìn thấy bà cũng khá rõ. Bà mở đầu bằng một bài điểm xuyết đầy hài hước về âm nhạc trước thời đại Mông Cổ, rồi tiếp tục miêu tả cao trào ca hát vĩ đại sau cuộc chinh phạt của người Trung Hoa. Dù các phương pháp của I-San-So và trường phái Brisbane có xa xôi và nguyên thủy đến đâu, bà vẫn cảm thấy (bà nói thế) việc nghiên cứu chúng có thể mang lại lợi ích cho nhạc sĩ ngày nay: chúng có sự tươi mới; và trên hết, chúng có những ý tưởng.

Bài giảng kéo dài mười phút của bà được đón nhận nồng nhiệt, và ngay khi nó kết thúc, bà cùng nhiều thính giả đã lắng nghe một bài giảng về đại dương; có rất nhiều ý tưởng rút ra từ biển cả; diễn giả đã đeo thiết bị trợ thở và vừa mới đến đó thực tế mục kích. Sau đó bà ăn uống, trò chuyện với nhiều bạn bè, tắm rửa, lại trò chuyện tiếp, và gọi chiếc giường của mình đến.

Chiếc giường không làm bà vừa ý lắm. Nó quá lớn, trong khi bà lại thích những chiếc giường nhỏ hơn. Than phiền cũng vô ích, bởi giường ngủ ở khắp nơi trên thế giới đều có chung một kích thước, và nếu muốn có một kích thước khác thì sẽ phải đại tu toàn bộ Cái Máy. Vashti tự cách ly—điều này là cần thiết, bởi dưới lòng đất chẳng có khái niệm ngày hay đêm—và điểm lại mọi chuyện xảy ra kể từ lần cuối cùng cô gọi giường. Ý tưởng ư? Hầu như chẳng có gì. Sự kiện—liệu lời mời của Kuno có phải là một sự kiện không?

Ngay bên cạnh bà, trên chiếc bàn đọc sách nhỏ, là một vật sót lại từ thời đại của những đống bừa bộn—một cuốn sách. Đó chính là Cuốn Sách của Cái Máy. Trong đó chứa đựng những chỉ dẫn đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Nếu cô cảm thấy nóng hay lạnh, khó tiêu hay bí từ, cô chỉ việc tìm đến cuốn sách, và nó sẽ mách cho cô biết phải nhấn nút nào. Ủy ban Trung ương là đơn vị xuất bản nó. Theo một thói quen ngày càng lan rộng, nó được đóng bìa rất lộng lẫy.

Ngồi thẳng người trên giường, cô cung kính nâng nó lên bằng cả hai tay. Cô liếc nhìn xung quanh căn phòng rực ánh sáng như thể có ai đang lén theo dõi mình. Rồi nửa hổ thẹn, nửa vui sướng, cô thì thầm: "Hỡi Cái Máy! Hỡi Cái Máy!" và đưa tập sách lên môi. Ba lần cô hôn nó, ba lần cúi đầu, ba lần cô cảm nhận được sự ngây ngất của lòng quy thuận. Hoàn tất nghi lễ xong, cô lật đến trang 1367, nơi ghi lại thời gian khởi hành của những chiếc khí cầu từ hòn đảo ở bán cầu nam—nơi cô đang sống dưới lòng đất—đến hòn đảo ở bán cầu bắc, nơi con trai cô cư ngụ.

Cô thầm nghĩ: "Mình không có thời gian."

Cô tắt đèn phòng và đi ngủ; cô thức giấc và bật đèn sáng; cô ăn uống, trao đổi ý tưởng với bạn bè, nghe nhạc và tham dự các buổi giảng; rồi lại tắt đèn đi ngủ. Phía trên cô, dưới chân cô, và xung quanh cô, Cái Máy vĩnh viễn vo ve; cô chẳng mảy may để ý đến tiếng động ấy, bởi cô sinh ra đã có sẵn thứ âm thanh đó văng vẳng bên tai. Trái đất, mang theo cô, gầm gù lao đi trong cõi tĩnh lặng, lúc xoay cô về phía mặt trời vô hình, lúc hướng cô về những vì sao vô hình. Cô thức giấc và bật sáng căn phòng.

"Kuno!"

"Con sẽ không nói chuyện với mẹ cho đến khi mẹ đến đây," anh đáp.

"Con đã lên bề mặt trái đất từ lần nói chuyện trước tới giờ chưa?"

Hình ảnh của anh mờ dần.

Cô lại lật xem cuốn sách. Cô trở nên vô cùng căng thẳng, ngả người ra ghế với trái tim đập thình thịch. Hãy hình dung cô chẳng có lấy một cái răng hay cọng tóc nào. Chẳng mấy chốc, cô điều khiển chiếc ghế tiến sát bức tường và ấn vào một nút bấm lạ hoắc. Bức tường từ từ tách ra. Qua ô cửa mở, cô nhìn thấy một đường hầm uốn khúc nhẹ đến mức chẳng thể thấy được điểm cuối. Nếu cô muốn đi thăm con trai mình, thì đây chính là điểm khởi đầu của hành trình.

Dĩ nhiên là cô biết rõ về hệ thống giao thông này. Chẳng có gì là huyền bí ở đó cả. Cô sẽ gọi một cỗ xe và nó sẽ lướt đi cùng cô dọc theo đường hầm cho đến khi tới trạm thang máy kết nối với bến khí cầu: hệ thống này đã được đưa vào sử dụng từ rất, rất nhiều năm trước, từ lâu trước khi Cái Máy được thiết lập trên toàn cầu. Và dĩ nhiên là cô đã từng nghiên cứu nền văn minh ngay trước thời đại của mình—nền văn minh từng hiểu lầm chức năng của hệ thống này, khi đã dùng nó để đưa con người đến với sự vật, thay vì mang sự vật đến với con người. Những ngày tháng ngớ ngẩn làm sao, khi người ta chịu khó đi xa để đổi gió thay vì làm sạch không khí trong phòng mình! Thế nhưng—cô vẫn thấy sợ đường hầm: cô chưa từng đặt chân tới đó kể từ khi đứa con cuối cùng ra đời. Nó uốn lượn—nhưng không hoàn toàn giống như trong trí nhớ của cô; nó rực rỡ—nhưng không rực rỡ bằng những gì một giảng viên từng miêu tả. Vashti bị bao trùm bởi nỗi kinh hoàng khi phải trải nghiệm trực tiếp. Cô rụt rè lùi trở lại căn phòng, và bức tường khép lại như cũ.

"Kuno," cô nói, "mẹ không thể đến thăm con được. Mẹ không được khỏe."

Lập tức, một cỗ máy khổng lồ từ trên trần nhà sà xuống người cô, một chiếc nhiệt kế tự động được nhét vào miệng cô, một chiếc ống nghe tự động áp lên ngực cô. Cô nằm bất động. Những miếng đệm mát lạnh làm dịu trán cô. Kuno đã đánh điện cho bác sĩ của cô rồi.

Thế đấy, những cảm xúc nhân tính vẫn cứ lóng ngóng va vấp bên trong Cái Máy. Vashti uống thứ thuốc mà bác sĩ phun vào miệng, và hệ thống cơ khí rút ngược lên trần nhà. Tiếng của Kuno vang lên hỏi cô cảm thấy thế nào.

"Khá hơn rồi." Rồi cô cằn nhằn đầy bực dọc: "Nhưng sao con không đến chỗ mẹ đi cho rồi?"

"Vì con không thể rời khỏi nơi này."

"Tại sao?"

"Bởi vì bất cứ lúc nào, một điều khủng khiếp cũng có thể xảy ra."

"Con đã lên bề mặt trái đất lần nào chưa?"

"Chưa ạ."

"Thế thì đó là chuyện gì?"

"Con sẽ không nói qua Cái Máy đâu."

Cô tiếp tục cuộc sống thường nhật.

Nhưng cô cứ nghĩ mãi về Kuno hồi còn là một đứa trẻ sơ sinh, về lúc chào đời của nó, việc chuyển nó đến các nhà trẻ công cộng, lần duy nhất cô ghé thăm nó ở đó, những chuyến nó thăm cô—những chuyến thăm đã chấm dứt khi Cái Máy phân cho nó một căn phòng ở tận nửa bên kia trái đất. "Cha mẹ, nghĩa vụ của," cuốn sách của Cái Máy viết, "chấm dứt ngay tại thời điểm đứa trẻ chào đời. Trang 422327483." Đúng là vậy, nhưng Kuno có điểm gì đó rất đặc biệt—thực ra tất cả các con của cô đều có điểm đặc biệt nào đó—và suy cho cùng, cô đành phải liều mình thực hiện chuyến đi nếu anh ta đã có nguyện vọng. Hơn nữa "điều gì đó khủng khiếp có thể xảy ra" là thế nào chứ? Chắc hẳn chỉ là những lời vô nghĩa của một thanh niên bồng bột, nhưng cô buộc phải đi. Cô lại bấm nút lạ hoắc lần nữa, bức tường lại mở ra, và cô nhìn thấy đường hầm uốn lượn khuất tầm mắt. Ôm chặt cuốn sách, cô đứng dậy, lảo đảo bước lên bệ và gọi xe. Căn phòng khép lại sau lưng cô: hành trình đến bán cầu bắc đã chính thức bắt đầu.

Dĩ nhiên mọi chuyện vô cùng dễ dàng. Cỗ xe tiến đến và bên trong cô tìm thấy những chiếc ghế bọc nệm y hệt chiếc ghế của mình. Khi cô ra tín hiệu, nó dừng lại, và cô lảo đảo bước vào thang máy. Có một hành khách khác trong thang máy, đó là đồng loại đầu tiên mà cô giáp mặt sau nhiều tháng trời. Những ngày này rất ít người đi lại, bởi nhờ sự tiến bộ của khoa học, trái đất ở đâu cũng giống hệt nhau. Sự giao lưu chớp nhoáng, thứ mà nền văn minh trước từng đặt bao kì vọng, cuối cùng lại tự chuốc lấy thất bại. Đi Bắc Kinh làm gì khi nó chẳng khác gì Shrewsbury? Quay về Shrewsbury làm gì khi nó cũng tựa Bắc Kinh? Con người hiếm khi di chuyển thể xác; mọi sự bất an đều dồn nén hết vào tâm hồn.

Dịch vụ khí cầu là một di tích từ thời đại trước. Nó vẫn được duy trì, bởi việc duy trì dễ dàng hơn là chấm dứt hay thu hẹp nó, nhưng giờ đây nó đã vượt xa nhu cầu của dân số. Chiếc tàu này nối tiếp chiếc tàu khác bay lên từ các cửa hầm ở Rye hay Christchurch (tôi dùng những cái tên cổ xưa), bay vào bầu trời đông đúc, rồi đậu xuống các bến cảng ở miền nam trong trạng thái—trống rỗng. Hệ thống được tinh chỉnh hoàn hảo đến mức, hoàn toàn không phụ thuộc vào thời tiết, bầu trời dù quang mây hay u ám trông chẳng khác nào một chiếc kính vạn hoa khổng lồ nơi những hoa văn y hệt cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ. Con tàu chở Vashti khởi hành lúc hoàng hôn, khi thì lúc bình minh. Nhưng lúc nào cũng vậy, khi bay qua Reims, nó sẽ sớt cánh bên con tàu chuyên tuyến giữa Helsingfors và Brazil, và cứ mỗi lần vượt qua dãy Alps, hạm đội Palermo sẽ cắt ngang đường bay của nó ở phía sau. Ngày và đêm, gió và bão, thủy triều và động đất, chẳng còn cản trở nổi con người. Anh ta đã thuần hóa được quái vật Leviathan. Toàn bộ nền văn chương cổ xưa, với những lời ca tụng Thiên nhiên và nỗi sợ hãi Thiên nhiên, bỗng trở nên giả tạo như tiếng nhảm nhí của trẻ thơ.

Thế nhưng khi Vashti nhìn thấy sườn tàu khổng lồ, sờn cũ vì dãi dầu sương gió ngoài trời, nỗi khiếp sợ trải nghiệm trực tiếp trong cô lại trỗi dậy. Nó không hoàn toàn giống chiếc khí cầu trên màn ảnh động. Một là nó có mùi—không hẳn nồng nặc hay khó chịu, nhưng quả thực nó có mùi, và nếu nhắm mắt lại thì cô cũng thừa biết một thứ xa lạ đang ở sát bên mình. Rồi cô phải đi bộ từ thang máy ra tàu, phải chịu đựng những ánh nhìn từ các hành khách khác. Người đàn ông đi trước làm rơi cuốn sách—chẳng phải chuyện lớn lao gì, nhưng nó khiến tất cả bọn họ chộn rộn. Trong các căn phòng, nếu cuốn sách bị rơi, sàn nhà sẽ tự động nhấc nó lên, nhưng lối đi lên khí cầu lại không được chuẩn bị chu đáo như vậy, và báu vật cứ thế nằm im bất động. Họ dừng lại—sự cố này nằm ngoài dự liệu—và người đàn ông kia, thay vì cúi xuống nhặt đồ của mình, lại đứng bóp bóp cơ bắp tay để xem chúng đã rệu rã đến mức nào rồi. Rồi có người thực sự cất tiếng nói thành lời: "Chúng ta sẽ muộn mất"—và họ ùn ùn bước lên tàu, Vashti dẫm cả lên những trang sách trong lúc di chuyển.

Bên trong tàu, sự lo âu của cô càng tăng lên. Mọi bố trí đều thô kệch và lỗi thời. Thậm chí còn có một nữ nhân viên phục vụ, người mà cô sẽ phải cất tiếng thông báo nhu cầu trong suốt chuyến hải trình. Dĩ nhiên là có một tấm băng chuyền xoay tròn chạy dọc theo chiều dài con tàu, nhưng cô vẫn phải tự đi bộ từ đó về cabin của mình. Có những cabin tốt hơn những cabin khác, và cô không được xếp vào loại tốt nhất. Cô nghĩ nữ nhân viên đã đối xử bất công với mình, và những cơn giận dữ bùng lên bóp nghẹt cô. Các van kính đã khép lại, cô không thể quay lại được nữa. Ở cuối hành lang, cô nhìn thấy chiếc thang máy mà cô vừa dùng để lên tàu đang lặng lẽ di chuyển lên xuống, trống rỗng. Bên dưới những hành lang lát gạch sáng loáng ấy là các căn phòng, tầng nối tầng, vươn tít sâu vào lòng đất, và trong mỗi căn phòng đều có một con người đang ngồi ăn uống, ngủ nghỉ, hoặc tạo ra ý tưởng. Và ẩn sâu trong cái ổ ong ấy chính là căn phòng của cô. Vashti cảm thấy sợ hãi.

"Hỡi Cái Máy! Hỡi Cái Máy!" cô thì thầm, vuốt ve cuốn sách của mình và được an ủi phần nào.

Rồi những bức tường hành lang dường như tan chảy vào nhau, giống như những lối đi ta thường thấy trong những giấc mơ, chiếc thang máy biến mất, cuốn sách bị đánh rơi trượt sang trái rồi biến mất, những viên gạch men bóng loáng lướt vút qua như dòng nước chảy, có một cú xóc nhẹ, và chiếc khí cầu, trồi lên từ đường hầm, vút bay trên vùng nước của đại dương nhiệt đới.

Trời đã tối. Thoáng chốc cô nhìn thấy bờ biển Sumatra được viền bằng ánh lân tinh của những con sóng và điểm xuyết bởi các ngọn hải đăng, vẫn đang miệt mài phát đi thứ ánh sáng chẳng ai thèm ngó ngàng tới. Những thứ này cũng vụt biến, và chỉ còn các vì sao làm cô xao lãng. Chúng không đứng yên, mà cứ tròng trành lắc lư trên đầu cô, len lỏi từ ô ánh sáng này sang ô ánh sáng khác, cứ như thể cả vũ trụ chứ không phải chiếc khí cầu mới là kẻ đang chao đảo. Và, như thường thấy trong những đêm trời quang mây tạnh, chúng lúc thì có vẻ như xếp theo chiều không gian xa gần, lúc lại phẳng lì trên cùng một mặt phẳng; lúc thì chất chồng hết lớp này đến lớp khác tột cùng vào bầu trời vô tận, lúc lại che khuất cả sự vô tận ấy, tựa như một mái nhà kìm hãm tầm nhìn của con người đến muôn đời. Dù ở trạng thái nào thì chúng cũng thật không tài nào chịu nổi. "Chúng ta cứ phải đi trong bóng tối thế này sao?" các hành khách phẫn nộ kêu lên, và nữ nhân viên phục vụ, người vốn dãi dầu lơ đễnh, đành phải bật đèn lên và kéo rèm che bằng kim loại dẻo xuống. Vào thời điểm những chiếc khí cầu được chế tạo, khát vọng nhìn ngắm trực tiếp vạn vật vẫn còn vương vấn trên thế gian này. Do đó mới có số lượng khổng lồ các khung cửa kính và cửa sổ trên trần, gây ra sự bất tiện tương ứng cho những ai đã được văn minh hóa và tinh tế hóa. Ngay cả trong cabin của Vashti cũng có một ngôi sao đang lén lút nhìn qua một khe hở trên tấm rèm, và sau vài giờ ngủ ngáy không yên giấc, cô bị làm phiền bởi một thứ ánh sáng lạ lẫm, chính là ánh bình minh.

Dù con tàu có phóng nhanh về hướng tây đến đâu, trái đất vẫn cuộn mình về hướng đông còn nhanh hơn thế, và kéo giật Vashti cùng các bạn đồng hành ngược trở lại hướng mặt trời. Khoa học có thể kéo dài màn đêm, nhưng chỉ được một chút ít, và những kỳ vọng cao cả về việc vô hiệu hóa vòng quay nhật trình của trái đất đã trôi đi, cùng với những kỳ vọng có lẽ còn cao cả hơn thế. "Đuổi kịp mặt trời," hay thậm chí vượt qua nó, từng là mục tiêu của nền văn minh trước thời đại này. Những chiếc máy bay đua đã được chế tạo ra vì mục đích đó, sở hữu tốc độ phi thường và được điều khiển bởi những bộ óc vĩ đại nhất thời đại. Chúng bay vòng quanh quả địa cầu, vòng qua vòng lại, hướng tây, hướng tây, cứ thế vòng quanh giữa những tràng pháo tay vang dội của nhân loại. Vô ích thôi. Quả địa cầu quay về hướng đông còn nhanh hơn thế, những tai nạn khủng khiếp đã xảy ra, và Ủy ban của Cái Máy, lúc bấy giờ đang dần nắm quyền lực tối cao, đã tuyên bố cuộc đua này là phi pháp, phi cơ giới và sẽ bị trừng phạt bằng hình phạt Trôi dạt Tha hương.

Về tội Trôi dạt Tha hương, chúng ta sẽ bàn chi tiết hơn sau.

Chắc chắn Ủy ban đã đúng. Tuy nhiên, nỗ lực "đánh bại mặt trời" ấy lại khơi gợi nên mối quan tâm chung cuối cùng mà giống nòi chúng ta từng trải qua đối với các thiên thể, hay thực ra là đối với bất cứ thứ gì. Đó là lần cuối cùng con người xích lại gần nhau nhờ suy ngẫm về một quyền năng nằm ngoài thế giới. Mặt trời đã chiến thắng, dẫu đó cũng là hồi kết cho sự thống trị tinh thần của nó. Bình minh, ban trưa, hoàng hôn, quỹ đạo hoàng đạo, chẳng còn chạm đến cuộc sống hay trái tim con người nữa, và khoa học rút lui vào lòng đất, tập trung toàn lực vào những vấn đề mà cô chắc chắn sẽ giải quyết được.

Thế nên khi Vashti thấy cabin của mình bị xâm nhập bởi một ngón tay ánh sáng hồng rực, cô cảm thấy vô cùng khó chịu và cố gắng chỉnh lại tấm rèm che. Nhưng tấm rèm vụt tung lên tuốt trần và cô nhìn thấy qua khung cửa sổ trên trần những đám mây hồng nhỏ xíu đang đung đưa trên nền trời xanh thẳm, và khi mặt trời nhô lên cao hơn, ánh sáng rực rỡ của nó tràn trực tiếp vào, tuôn trào xối xả xuống vách tường như một dòng biển vàng. Nó dâng lên rồi hạ xuống theo chuyển động của chiếc khí cầu, tựa như những con sóng dâng trào, nhưng tiến bước một cách đều đặn như thủy triều lên. Nếu không cẩn thận, nó sẽ chiếu thẳng vào mặt cô. Một cơn kinh hoàng chấn động tâm can khiến cô phải bấm chuông gọi nhân viên phục vụ. Nữ nhân viên cũng hoảng hốt chẳng kém nhưng chẳng thể làm gì được; việc sửa rèm cửa không thuộc phận sự của cô ta. Cô ta chỉ có thể gợi ý vị quý bà nên đổi cabin, và cô ta bắt đầu chuẩn bị thực hiện việc đó.

Con người ở khắp nơi trên thế giới đều giống nhau y đúc, nhưng nữ nhân viên phục vụ khí cầu nọ, có lẽ do những nhiệm vụ đặc biệt của cô ta, đã trở nên hơi khác thường một chút. Cô ta thường xuyên phải trực tiếp giao tiếp với các hành khách, và điều này đã tạo cho cô ta sự xù xì và độc đáo nhất định trong phong thái. Khi Vashti thét lên một tiếng rồi lùi phắt khỏi những tia nắng, cô ta hành động đầy vẻ thô kệch—cô ta đưa tay ra định đỡ lấy vị khách.

"Cô dám thế à!" vị hành khách thét lên. "Cô quên mất mình là ai rồi sao!"

Người phụ nữ bối rối, lí nhí xin lỗi vì đã không kịp đỡ cô ngã. Con người chẳng bao giờ chạm vào nhau cả. Thói quen đó đã trở nên lỗi thời nhờ có Cái Máy.

"Chúng ta đang ở đâu rồi?" Vashti kiêu kỳ hỏi.

"Chúng ta đang bay qua châu Á," nữ nhân viên đáp, tỏ vẻ muốn lấy lòng.

"Châu Á?"

"Xin quý bà lượng thứ cho cách ăn nói thông tục của tôi. Tôi đã nhiễm thói quen gọi những vùng đất mình bay qua bằng những cái tên phi cơ giới của chúng."

"Ồ, ta nhớ châu Á rồi. Người Mông Cổ xuất phát từ đó."

"Bên dưới chúng ta, ở chốn thiên nhiên hoang dã, từng có một thành phố tên là Simla."

"Cô từng nghe nói về người Mông Cổ và trường phái Brisbane chưa?"

"Chưa ạ."

"Brisbane cũng nằm ở ngoài trời đấy."

"Những ngọn núi bên phải kìa—để tôi vén cho quý bà xem." Cô ta đẩy tấm rèm kim loại ra. Dãy Himalaya hùng vĩ hiện ra trước mắt. "Người ta từng gọi những ngọn núi đó là Nóc nhà Thế giới."

"Thật là một cái tên ngốc nghếch!"

"Quý bà phải nhớ rằng, trước buổi bình minh của nền văn minh, chúng trông giống như một bức tường kiên cố chạm đến tận những vì sao. Người ta từng cho rằng chẳng có ai ngoài các vị thần có thể tồn tại trên đỉnh của chúng. Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ có Cái Máy!"

"Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ có Cái Máy!" Vashti lặp lại.

"Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ có Cái Máy!" vị hành khách làm rơi cuốn sách tối hôm trước, đang đứng ngoài hành lang, cũng cất tiếng phụ họa.

"Còn thứ trắng xóa nằm trong các khe nứt kia là gì thế?"

"Tôi quên mất tên của nó rồi."

Làm ơn che cửa sổ lại đi. Những ngọn núi này chẳng mang lại cho ta chút ý tưởng nào cả."

Sườn phía bắc của dãy Himalaya chìm trong bóng râm sâu thẳm: trên sườn dốc Ấn Độ, ánh mặt trời vừa chiến thắng. Những khu rừng đã bị tàn phá sạch sành sanh trong thời đại văn chương để làm bột giấy làm báo, nhưng những chỏm tuyết đang bừng tỉnh trong vẻ đẹp rực rỡ buổi sớm, và những đám mây vẫn còn lững lờ vắt ngang ngực núi Kinchinjunga. Dưới đồng bằng thấp thoáng tàn tích của những thành phố, với những con sông cạn kiệt lững lờ bò sát vách thành, và đôi chỗ bên cạnh chúng là dấu hiệu của các cửa hầm, đánh dấu những thành phố của ngày hôm nay. Phía trên toàn bộ quang cảnh ấy, những chiếc khí cầu lao đi vùn vụt, cắt ngang và đan chéo vào nhau với sự tự tin đến kinh ngạc, rồi thản nhiên vút bay lên cao khi muốn tránh khỏi sự nhiễu loạn của tầng khí quyển thấp hơn để vượt qua Nóc nhà Thế giới.

"Quả thực chúng ta đã tiến bộ, nhờ có Cái Máy," nữ nhân viên lặp lại, và che khuất dãy Himalaya đằng sau tấm rèm kim loại.

Ngày dài lê thê trôi qua. Các hành khách ngồi lỳ trong cabin của mình, tránh mặt nhau bằng một thứ sự ghê sợ gần như mang tính thể xác và khao khát được trở lại dưới lòng đất. Có khoảng tám hoặc mười hành khách như vậy, hầu hết là nam giới trẻ tuổi, được cử đi từ các nhà trẻ công cộng để đến tiếp quản những căn phòng của những người vừa qua đời ở các vùng khác nhau trên trái đất. Người đàn ông làm rơi cuốn sách đang trên đường trở về nhà. Anh ta được cử đến Sumatra với mục đích duy trì giống nòi. Chỉ có Vashti là đi lại theo ý muốn cá nhân.

Đến giữa trưa, cô liếc nhìn trái đất lần nữa. Chiếc khí cầu đang băng qua một dãy núi khác, nhưng cô chẳng thấy được mấy vì vướng mây. Những khối đá đen sì lững lờ trôi bên dưới, hòa lẫn mờ ảo vào sắc xám. Hình thù của chúng thật kỳ dị; một trong số đó trông giống hệt một người đàn ông đang nằm phủ phục.

"Chẳng có ý tưởng nào ở đây cả," Vashti lẩm bẩm, và che khuất dãy Caucasus đằng sau tấm rèm kim loại.

Đến chiều tối, cô lại nhìn ra ngoài. Họ đang băng qua một vùng biển vàng, nơi có rất nhiều hòn đảo nhỏ và một bán đảo.

Cô lại lặp lại, "Chẳng có ý tưởng nào ở đây cả," và che khuất Hy Lạp đằng sau tấm rèm kim loại.

Qua một tiền sảnh, qua một thang máy, qua một tuyến đường sắt hình ống, qua một sân ga, qua một cánh cửa trượt—bằng cách đảo ngược tất cả các bước của cuộc hành trình rời đi, Vashti cuối cùng đã đến được căn phòng của con trai mình, nơi trông y hệt như phòng của chính cô. Cô hoàn toàn có quyền tuyên bố chuyến thăm này là thừa thãi. Các nút bấm, núm vặn, bàn đọc sách có đặt cuốn sách, nhiệt độ, bầu không khí, hệ thống chiếu sáng—tất cả đều chuẩn xác đến từng chi tiết. Và nếu bản thân Kuno, máu thịt của cô, cuối cùng đang đứng sát ngay cạnh cô thì có ích gì chứ? Cô quá ư lịch sự để mà bắt tay anh.

Tránh nhìn thẳng vào mắt con, cô cất lời:

"Mẹ đã ở đây rồi. Mẹ đã có một chuyến đi khủng khiếp nhất và nó làm chậm trễ nghiêm trọng quá trình phát triển tâm linh của mẹ. Thật không đáng chút nào, Kuno, chẳng đáng chút nào đâu. Thời gian của mẹ quá quý giá. Ánh sáng mặt trời suýt chút nữa đã chạm vào mẹ, và mẹ lại phải chạm trán với những con người thô lỗ nhất. Mẹ chỉ có thể dừng lại vài phút thôi. Con muốn nói gì thì nói đi, rồi mẹ phải quay về đây."

"Con bị đe dọa trục xuất bằng hình phạt Trôi dạt Tha hương," Kuno nói.

Bấy giờ cô mới nhìn thẳng vào anh.

"Con bị đe dọa Trôi dạt Tha hương, và con không thể nói chuyện đó qua Cái Máy được."

Trôi dạt Tha hương có nghĩa là cái chết. Nạn nhân bị vứt ra ngoài trời, nơi bầu không khí sẽ cướp đi sinh mạng họ.

"Con đã ra ngoài đó kể từ lần nói chuyện trước với mẹ. Điều khủng khiếp đã xảy ra, và họ đã phát hiện ra con."

"Nhưng sao con lại không thể ra ngoài đó chứ!" cô thốt lên. "Việc lên thăm bề mặt trái đất hoàn toàn hợp pháp, hoàn toàn mang tính cơ giới mà. Gần đây mẹ đã tham dự một buổi giảng về đại dương; chẳng có sự phản đối nào đối với việc đó cả; người ta chỉ đơn giản gọi một thiết bị trợ thở và lấy Giấy phép Xuất cảnh. Đó không phải là việc mà những người theo đuổi tâm linh thường làm, và mẹ đã cầu xin con đừng làm thế, nhưng chẳng có điều khoản pháp lý nào cấm cản cả."

"Con đâu có xin Giấy phép Xuất cảnh."

"Thế thì con ra ngoài bằng cách nào?"

"Con tự tìm ra một lối đi riêng."

Cụm từ ấy chẳng mang lại ý nghĩa gì với cô, và anh buộc phải lặp lại nó.

"Một lối đi của riêng con?" cô thì thầm. "Nhưng như thế là sai trái."

"Tại sao ạ?"

Câu hỏi ấy làm cô sốc đến tận óc.

"Con đang bắt đầu tôn sùng Cái Máy rồi đấy," anh lạnh lùng nói. "Mẹ nghĩ việc con tự tìm ra lối đi riêng là điều báng bổ. Đó cũng chính xác là những gì Ủy ban đã nghĩ, khi họ đe dọa trục xuất con bằng hình phạt Trôi dạt Tha hương."

Nghe vậy, cô nổi giận. "Mẹ chẳng tôn sùng thứ gì hết!" cô thét lên. "Mẹ là người vô cùng tiến bộ. Mẹ không nghĩ con báng bổ, bởi chẳng còn thứ gọi là tôn giáo nào tồn tại nữa. Mọi sự sợ hãi và mê tín từng có trước đây đã bị Cái Máy xóa sổ hoàn toàn. Mẹ chỉ muốn nói rằng việc tự tìm ra lối đi riêng là—Vả lại, làm gì có lối đi nào khác ngoài kia."

"Mọi người vẫn luôn mặc định là như thế."

"Ngoại trừ qua các cửa hầm, nơi người ta bắt buộc phải có Giấy phép Xuất cảnh, còn lại thì không đời nào ra ngoài được. Sách đã ghi rõ thế."

"Chà, Sách đã sai rồi, bởi con đã đi ra ngoài bằng chính đôi chân của mình."

Bởi vì Kuno vốn sở hữu một thể lực nhất định.

Vào thời đại này, có cơ bắp là một điểm trừ. Mỗi đứa trẻ sơ sinh đều được kiểm tra kỹ càng, và những đứa bộc lộ thể lực vượt trội đều bị tiêu hủy. Những nhà nhân đạo chủ nghĩa có thể lên tiếng phản đối, nhưng việc để một vận động viên sinh tồn thì chẳng phải lòng nhân ái thực sự gì cả; anh ta sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc trong trạng thái đời sống mà Cái Máy đã gọi mời anh ta vào; anh ta sẽ khao khát những tán cây để trèo, những dòng sông để tắm, những thảm cỏ và ngọn đồi để đọ sức vóc cơ thể. Con người phải thích nghi với môi trường xung quanh chứ, phải không nào? Vào buổi bình minh của nhân loại, những kẻ yếu ớt của chúng ta phải bị bỏ lại trên núi Taygetus, còn vào buổi hoàng hôn của nó, những kẻ khỏe mạnh sẽ được ban cho cái chết êm ái, để Cái Máy có thể tiến bước, để Cái Máy có thể tiến bước, để Cái Máy có thể tiến bước đến vĩnh hằng.

"Mẹ biết không, chúng ta đã đánh mất ý thức về không gian. Chúng ta nói 'không gian đã bị tiêu diệt,' nhưng thứ chúng ta tiêu diệt không phải là không gian, mà là cảm nhận về không gian. Chúng ta đã đánh mất một phần của chính mình. Con quyết tâm tìm lại nó, và con bắt đầu bằng việc đi qua đi lại trên sân ga đường sắt ngay ngoài phòng mình. Đi qua đi lại cho đến khi mỏi nhừ, và nhờ thế con đã tái chiếm được ý nghĩa của từ 'Gần' và 'Xa'. 'Gần' là một nơi mà con có thể nhanh chóng đặt chân đến bằng đôi chân của mình, chứ không phải nơi mà tàu hỏa hay khí cầu sẽ đưa con đến một cách chớp nhoáng. 'Xa' là nơi con không thể đến nhanh bằng đôi chân; cửa hầm chính là nơi 'xa', mặc dù con có thể đến đó chỉ trong ba mươi tám giây bằng cách gọi tàu. Con người chính là thước đo. Đó là bài học đầu tiên của con. Đôi chân của con người là thước đo cho khoảng cách, đôi tay là thước đo cho quyền sở hữu, cơ thể là thước đo cho tất cả những gì đáng yêu, đáng khao khát và mạnh mẽ. Rồi con tiến xa hơn thế: chính là lúc đó con đã gọi cho mẹ lần đầu tiên, và mẹ đã từ chối không đến."

"Thành phố này, như mẹ biết đấy, được xây dựng sâu tận dưới lòng đất, chỉ có các cửa hầm là nhô lên. Sau khi đã đi dạo mòn mỏi trên sân ga ngay ngoài phòng mình, con bắt thang máy lên sân ga kế tiếp và cũng đi dạo ở đó, cứ thế cho đến tầng cao nhất, nơi phía trên nó là mặt đất bắt đầu. Tất cả các sân ga đều y hệt nhau, và tất cả những gì con thu được từ chuyến viếng thăm chúng chỉ là phát triển cảm giác không gian và cơ bắp của mình. Con nghĩ lẽ ra mình đã có thể thỏa mãn với chừng đó—đó không phải là chuyện nhỏ đâu—nhưng khi con vừa đi vừa trầm ngâm suy nghĩ, con chợt nhận ra rằng các thành phố của chúng ta được xây dựng vào thời kỳ con người vẫn còn hít thở bầu không khí bên ngoài, và chắc chắn phải có các giếng thông gió dành cho những công nhân thời đó. Con chẳng thể nghĩ về điều gì khác ngoài những giếng thông gió ấy. Liệu chúng đã bị hủy diệt bởi tất cả các ống dẫn thức ăn, ống dẫn thuốc men, ống dẫn âm nhạc mà Cái Máy tạo ra gần đây chưa? Hay vẫn còn sót lại chút dấu tích nào? Chỉ có một điều chắc chắn. Nếu con bắt gặp chúng ở bất cứ đâu, thì đó chỉ có thể là trong các đường hầm xe lửa ở tầng cao nhất. Ở mọi nơi khác, toàn bộ không gian đều đã được quản lý chặt chẽ."

"Con đang kể chuyện rất nhanh, nhưng đừng nghĩ là con không hề hèn nhát hay những câu trả lời của mẹ chưa từng làm con nhụt chí nhé. Việc đi dọc theo một đường hầm xe lửa chẳng phải là việc đúng đắn, chẳng mang tính cơ giới hay đàng hoàng gì sất. Con không sợ mình sẽ dẫm phải đường ray đang chạy điện mà bỏ mạng. Con sợ một thứ vô hình vạn trạng hơn nhiều—làm điều mà Cái Máy chưa từng trù tính đến. Rồi con tự nhủ với bản thân, 'Con người là thước đo,' và con cứ thế đi, để rồi sau nhiều lần ghé thăm, cuối cùng con đã tìm thấy một ô cửa mở."

"Dĩ nhiên các đường hầm đều được thắp sáng. Mọi thứ đều ngập tràn ánh sáng, ánh sáng nhân tạo; bóng tối mới là ngoại lệ. Thế nên khi nhìn thấy một khoảng trống màu đen trên lớp gạch men, con biết đó là một ngoại lệ và vô cùng sung sướng. Con thọc cánh tay vào—lúc đầu con chỉ nhét được đến thế—và quơ quàng khắp nơi trong niềm ngây ngất. Con cạy lỏng thêm một viên gạch nữa, nhét cả đầu vào, rồi thét lớn vào không gian tối thẳm: 'Con đến đây, con sẽ làm được thôi,' và tiếng vọng của con vang dội dọc theo những lối đi vô tận. Con dường như nghe thấy linh hồn của những người công nhân quá cố từng quay trở lại với ánh sao và người vợ của họ mỗi chiều hoàng hôn, và tất cả các thế hệ từng sống dưới bầu trời rộng mở đã gọi giật lại với con rằng: 'Cậu sẽ làm được thôi, cậu đang đến rồi đây.'"

Anh dừng lại, và dù có vẻ ngớ ngẩn đi chăng nữa, những lời cuối cùng ấy vẫn làm trái tim cô rung động. Bởi Kuno dạo trước từng xin được làm cha, và thỉnh cầu của anh đã bị Ủy ban từ chối. Anh không thuộc tuýp người mà Cái Máy muốn lưu truyền huyết thống.

"Rồi một đoàn tàu lao qua. Nó lướt sượt qua người con, nhưng con vẫn cố rúc đầu và tay sâu vào trong lỗ thủng. Con đã làm đủ việc cho một ngày, thế nên con bò ngược về sân ga, đi thang máy xuống và gọi giường. Ồ, những giấc mơ tuyệt vời làm sao! Và con lại gọi mẹ, và mẹ lại từ chối."

Cô lắc đầu nói:

"Đừng. Đừng nói về những chuyện kinh khủng này nữa. Con làm mẹ thấy khốn khổ quá. Con đang vứt bỏ cả nền văn minh đấy."

"Nhưng con đã lấy lại được cảm giác về không gian và một khi đã thế thì con người không thể đứng yên được nữa. Con quyết tâm chui qua cái lỗ đó và trèo lên ống thông gió. Và thế là con tập luyện cơ bắp tay. Ngày qua ngày con thực hiện những động tác kỳ quặc, cho đến khi thịt da đau nhức, và con có thể bám tay treo lơ lửng, nâng chiếc gối trên giường duỗi thẳng ra trong rất nhiều phút. Sau đó con gọi một thiết bị trợ thở và bắt đầu lên đường."

"Lúc đầu thì mọi chuyện rất dễ dàng. Lớp vữa không hiểu sao đã mục nát, và con nhanh chóng đẩy thêm vài viên gạch nữa, leo qua chúng vào bóng tối, và những linh hồn người chết đã an ủi con. Con chẳng biết ý mình là gì khi nói thế đâu. Con chỉ nói lên những gì con cảm nhận được. Lần đầu tiên trong đời, con cảm thấy một lời kháng án đã được đệ trình chống lại sự suy đồi, và cũng giống như những người quá cố đang an ủi con, con cũng đang an ủi những sinh linh chưa ra đời. Con cảm thấy nhân loại thực sự tồn tại, và nhân loại tồn tại trong trạng thái không mảnh vải che thân. Sao con có thể giải thích nổi điều này chứ? Nó trần trụi, nhân loại trông thật trần trụi, và tất cả những ống dẫn, nút bấm cùng máy móc kia vốn dĩ không hề đến thế giới này cùng chúng ta, cũng chẳng theo chân chúng ta ra đi, và chúng cũng chẳng có ý nghĩa tối thượng nào trong lúc chúng ta đang ở đây cả. Giá mà khỏe mạnh hơn, con đã xé rách mọi thứ quần áo trên người và lao ra bầu không khí bên ngoài trong trần trụi hoàn toàn. Nhưng điều đó không dành cho con, hay có lẽ cũng chẳng dành cho thế hệ của con. Con leo lên với chiếc thiết bị trợ thở, bộ quần áo vệ sinh và những viên thuốc dinh dưỡng! Thà như thế còn hơn là không bao giờ."

"Có một chiếc thang, làm bằng một thứ kim loại nguyên thủy. Ánh sáng từ đường sất rọi xuống những bậc thang thấp nhất, và con thấy nó dẫn thẳng lên phía trên từ đống đổ nát dưới đáy giếng thông gió. Có lẽ tổ tiên chúng ta từng leo lên leo xuống nó cả chục lần mỗi ngày trong lúc xây dựng. Khi con leo lên, những cạnh sắc cứa rách đôi găng tay khiến tay con rớm máu. Ánh sáng giúp con một lúc, rồi bóng tối ập đến và, tệ hại hơn nữa, là sự tĩnh lặng đâm xuyên màng tai con nhọn hoắt như lưỡi gươm. Cái Máy vo ve! Mẹ có biết điều đó không? Tiếng vo ve của nó thấm sâu vào huyết quản chúng ta, và thậm chí có thể dẫn dắt suy nghĩ của chúng ta nữa. Ai mà biết được chứ! Con đang dần vượt ra ngoài tầm kiểm soát của nó. Rồi con nghĩ: 'Sự tĩnh lặng này có nghĩa là mình đang làm sai.' Nhưng con nghe thấy những giọng nói trong cõi tĩnh lặng ấy, và chúng lại tiếp thêm sức mạnh cho con." Anh cười lớn. "Con đã rất cần chúng. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, con đập đầu phập vào thứ gì đó."

Cô thở dài.

"Con đã chạm tới một trong những chiếc van khí nén dùng để bảo vệ chúng ta khỏi bầu không khí bên ngoài. Chắc mẹ đã nhận ra chúng trên khí cầu rồi đấy. Tối như hũ nút, đôi chân đặt trên những bậc của chiếc thang vô hình, đôi bàn tay tươm máu; con không thể giải thích nổi làm sao mình sống sót qua đoạn đó, nhưng những giọng nói vẫn tiếp tục an ủi con, và con sờ soạng tìm các mối nối. Chiếc van đó, con đoán rộng khoảng tám thước. Con quơ tay qua nó xa nhất có thể. Nó hoàn toàn nhẵn nhụi. Con sờ thấy gần đến chính giữa. Không hẳn đến chính giữa, vì tay con hơi ngắn. Rồi giọng nói cất lên: 'Nhảy đi. Rất đáng đấy. Sẽ có một cái tay cầm ở chính giữa, và cậu có thể chộp lấy nó để đến với bọn tao theo cách của riêng mình. Và nếu không có tay cầm nào cả, để cậu rơi xuống và tan xương nát thịt—thì vẫn đáng lắm: cậu vẫn sẽ đến được với bọn tao theo cách của riêng mình.' Thế là con nhảy. Có một cái tay cầm, và——"

Anh khựng lại. Nước mắt ngấn đầy trong mắt người mẹ. Cô thừa biết anh đã bị định đoạt số phận. Nếu hôm nay anh không chết thì ngày mai anh cũng bỏ mạng. Chẳng có chỗ cho một kẻ như thế tồn tại trên đời này. Và sự thương xót hòa lẫn với niềm ghê tởm trong lòng cô. Cô cảm thấy xấu hổ vì đã rứt ruột đẻ ra một đứa con trai như thế, cô—người luôn vô cùng đáng kính và tràn ngập những ý tưởng. Liệu anh có thực sự là đứa bé trai ngày xưa từng được cô dạy cho cách sử dụng các nút bấm và núm vặn, người được cô truyền cho những bài học đầu tiên trong Cuốn Sách đó không? Chính lớp râu lún phún làm biến dạng bờ môi anh đã cho thấy anh đang thoái hóa về một giống loài man rợ nào đó. Cái Máy không bao giờ khoan nhượng trước sự lại giống.

"Có một cái tay cầm, và con đã tóm được nó. Con treo lơ lửng ngây dại giữa không gian tối thẳm và nghe thấy tiếng vo ve của guồng máy vận hành như tiếng thì thầm cuối cùng trong một giấc mơ sắp tắt. Tất cả những thứ con từng quan tâm và tất cả những con người con từng trò chuyện qua ống nghe bỗng trở nên nhỏ bé vô hạn. Trong khi đó cái tay cầm bắt đầu quay. Sức nặng của con đã làm cho một thứ gì đó chuyển động và con xoay tít chậm rãi, rồi——"

"Con không thể tả lại nổi. Con đang nằm ngửa mặt đón ánh ban mai. Máu trào ra từ mũi và tai con và con nghe thấy một tiếng gầm rú đinh tai nhức óc. Chiếc van, cùng với con đang bám chặt lấy nó, vừa bị thổi tung khỏi lòng đất, và bầu không khí mà chúng ta tạo ra dưới này đang luồn qua lỗ thông để phóng vút lên bầu trời phía trên. Nó bùng nổ lên như một đài phun nước. Con bò ngược trở lại chỗ đó—vì không khí bên trên làm con đau buốt—và, ví von thế nhé, con hớp từng ngụm lớn bầu không khí từ mép miệng hố. Thiết bị trợ thở của con đã bay đi đằng nào chẳng rõ, quần áo rách tơi tả. Con chỉ nằm áp môi sát vào lỗ hổng, và hớp từng ngụm cho đến khi máu ngừng chảy. Mẹ không thể tưởng tượng nổi điều gì kỳ thú đến thế. Lô đất trũng mọc đầy cỏ này—con sẽ kể về nó ngay đây,—ánh mặt trời chiếu rọi vào đó, không hề chói lọi mà xuyên qua những đám mây cẩm thạch,—sự bình yên, nét thản nhiên, cảm giác về không gian, và mơn man bên má con là dòng suối phun ngút ngàn thứ không khí nhân tạo của chúng ta! Chẳng mấy chốc con phát hiện ra thiết bị trợ thở của mình, đang bập bồng trồi sụt theo luồng không khí cao tít trên đầu, và cao hơn nữa là rất nhiều khí cầu. Nhưng chẳng ai thèm ngó ngàng ra ngoài khí cầu cả, và trong trường hợp của con, họ cũng chẳng thể vớt con lên được. Con cứ thế mắc kẹt ở đó. Ánh mặt trời rọi xuống giếng thông gió một quãng ngắn, để lộ ra bậc thang trên cùng của chiếcếc thang, nhưng mọi cố gắng với tới nó đều vô vọng. Con sẽ hoặc bị sức ép phun trào hất văng lên lần nữa, hoặc rơiõm xuống đáy và bỏ mạng. Con chỉ có thể nằm bẹp trên thảm cỏ, hớp từng ngụm, từng ngụm một và chốc chốc lại đảo mắt nhìn xung quanh."

"Con biết mình đang ở vùng Wessex, vì con đã cẩn thận tham dự một bài giảng về đề tài đó trước khi lên đường. Wessex nằm ngay phía trên căn phòng chúng ta đang nói chuyện lúc này. Nơi đây từng là một bang trọng yếu. Các vị vua của nó kiểm soát toàn bộ bờ biển phía nam từ Andredswald đến Cornwall, trong khi bức tường Wansdyke bảo vệ họ ở phía bắc, chạy dọc theo vùng đất cao. Người giảng bài chỉ tập trung vào sự trỗi dậy của Wessex, thế nên con không biết nó duy trì vị thế cường quốc quốc tế trong bao lâu, mà kiến thức đó cũng chẳng giúp ích gì cho con cả. Thật lòng mà nói, trong suốt đoạn này con chẳng làm gì ngoài việc cười phá lên. Nào là con, với một chiếc van khí nén ở bên cạnh và chiếc thiết bị trợ thở bập bồng trên đầu, tất cả chúng ta đều bị giam cầm trong một hố trũng cỏ mọc um tùm viền xung quanh bởi dương xỉ."

Rồi giọng anh trở nên nghiêm nghị trở lại.

"Thật may cho con là nó nằm trong một hố trũng. Bởi vì không khí bắt đầu rơi ngược trở lại vào đó và lấp đầy nó như nước đổ đầy chậu. Con có thể bò trườn được. Chẳng mấy chốc con đứng dậy được. Con hít thở một hỗn hợp không khí, trong đó thứ không khí gây đau buốt chiếm ưu thế mỗi khi con cố trèo lên các sườn dốc. Thế vẫn còn đỡ chán. Con vẫn mang theo các viên thuốc dinh dưỡng và vẫn giữ được tinh thần lạc quan một cách kỳ cục, còn về phần Cái Máy, con quên bẵng nó đi mất. Mục đích duy nhất của con lúc bấy giờ là lên được đến đỉnh, nơi có đám dương xỉ, và ngắm nhìn bất cứ vật thể gì nằm bên kia."

"Con lao dốc. Bầu không khí mới vẫn quá cay nồng đối với con và con lăn cù lộn trở xuống, sau chớp mắt nhìn thoáng qua một thứ gì đó màu xám. Mặt trời trở nên vô cùng yếu ớt, và con nhớ ra là nó đang ở chòm sao Bọ Cạp—con cũng từng học một bài giảng về cái đó đấy. Nếu mặt trời ở chòm Bọ Cạp và cậu đang ở Wessex, điều đó có nghĩa là cậu phải khẩn trương hết sức có thể, nếu không trời sẽ tối sầm lại đấy. (Đây là mẩu thông tin hữu ích đầu tiên con từng thu lượm được từ một bài giảng, và con đoán nó cũng sẽ là cái cuối cùng.) Nó khiến con điên cuồng tìm cách hít thở bầu không khí mới, và tiến xa nhất có thể khỏi vũng nước của mình. Hố trũng được lấp đầy quá chậm chạp. Có những lúc con nghĩ dòng suối phun đang yếu dần đi. Thiết bị trợ thở của con dường như nhảy múa sà sát mặt đất hơn; tiếng gầm rú đang nhỏ dần."

Anh ngắt lời.

"Con không nghĩ chuyện này làm mẹ hứng thú đâu. Phần còn lại sẽ càng làm mẹ chán ngắt hơn. Chẳng có ý tưởng nào trong đó cả, và con ước gì mình đã không làm phiền mẹ cất công đến đây. Chúng ta quá khác biệt, mẹ ạ."

Cô bảo anh tiếp tục kể.

Đó là buổi chiều tối trước khi con trèo lên bờ đắp. Mặt trời lúc này đã gần như trượt khỏi bầu trời và con chẳng thể ngắm nghía cho ra hồn. Mẹ, người vừa mới vượt qua Nóc nhà Thế giới, chắc chắn sẽ không muốn nghe kể về những ngọn đồi nhỏ xíu mà con đã thấy đâu—những ngọn đồi thấp lè tè không màu sắc. Nhưng đối với con chúng thực sự sống động và thảm cỏ phủ trên mình chúng tựa như một lớp da, bên dưới là những thớ cơ đang cuồn cuộn gợn sóng, và con cảm thấy những ngọn đồi ấy từng vẫy gọi con người trong quá khứ bằng một lực hút không tài nào đong đếm nổi, và con người từng yêu thương chúng. Giờ đây chúng đang ngủ say—có lẽ là vĩnh viễn. Chúng chuyện trò với nhân loại trong những giấc mơ. Hạnh phúc thay người đàn ông, hạnh phúc thay người phụ nữ đánh thức được những ngọn đồi Wessex. Bởi dẫu chúng có ngủ vùi, chúng sẽ chẳng bao giờ chết đi."

Giọng anh trỗi lên đầy nhiệt huyết.

"Mẹ không thấy sao, tất cả các giảng viên của mẹ không thấy sao, rằng chính chúng ta mới là kẻ đang chết dần chết mòn, và thứ duy nhất thực sự sống dưới lòng đất này chính là Cái Máy? Chúng ta tạo ra Cái Máy để phục vụ ý chí của mình, nhưng giờ đây chúng ta không thể bắt nó tuân theo ý chí ấy được nữa. Nó đã tước đoạt của chúng ta cảm giác về không gian và xúc giác, nó làm mờ nhạt mọi mối quan hệ con người và thu hẹp tình yêu thành một hành động xác thịt, nó làm tê liệt thể xác lẫn ý chí của chúng ta, và giờ đây nó bắt chúng ta phải tôn sùng nó. Cái Máy tiến triển—nhưng không phải theo hướng đi của chúng ta. Cái Máy tiến bước—nhưng không phải tới đích đến của chúng ta. Chúng ta chỉ tồn tại như những tế bào máu lưu thông qua các động mạch của nó, và nếu nó có thể vận hành mà không cần chúng ta, nó sẽ để mặc chúng ta chết. Ồ, con chẳng có phương dược nào—hoặc chí ít, chỉ có một cách duy nhất—là cứ liên tục nhắc nhở mọi người rằng con đã tận mắt ngắm nhìn những ngọn đồi Wessex hệt như cách Ælfrid từng chiêm ngưỡng khi ông đánh tan quân Đan Mạch."

"Thế rồi mặt trời lặn. Con quên không nhắc rằng có một dải sương mù vắt ngang giữa ngọn đồi của con và những ngọn đồi khác, và nó mang màu của ngọc trai."

Anh ngắt lời lần thứ hai.

"Kể tiếp đi," người mẹ mệt mỏi lên tiếng.

Anh lắc đầu.

"Kể đi. Không gì con nói có thể làm mẹ phiền lòng nổi nữa đâu. Mẹ đã chai sạn rồi."

"Con định kể nốt phần còn lại, nhưng con không thể: con biết là mình không thể: tạm biệt."

Vashti đứng chần chừ. Mọi dây thần kinh trong người cô đều đang rần rần trước những lời báng bổ của anh. Nhưng cô vốn dĩ cũng là kẻ tò mò.

"Thật không công bằng," cô phàn nàn. "Con đã gọi mẹ băng qua nửa vòng trái đất để nghe câu chuyện của con, và mẹ phải nghe cho bằng hết. Hãy nói cho mẹ nghe—ngắn gọn nhất có thể, vì đây là sự lãng phí thời gian tồi tệ—nói cho mẹ nghe làm thế nào con quay trở lại thế giới văn minh đi."

"Ồ—chuyện đó á!" anh giật mình thốt lên. "Mẹ muốn nghe về thế giới văn minh cơ à. Chắc chắn rồi. Con đã kể đến đoạn chiếc thiết bị trợ thở của con rơi xuống chưa nhỉ?"

"Chưa—nhưng mẹ hiểu mọi chuyện rồi. Con đeo thiết bị trợ thở vào, tìm cách đi bộ trên bề mặt trái đất đến một cửa hầm, và ở đó hành vi của con đã bị báo cáo lên Ủy ban Trung ương."

"Hoàn toàn không phải thế."

Anh đưa tay lên trán, như thể đang xua đi một ấn tượng mạnh mẽ nào đó. Rồi tiếp tục câu chuyện, anh dần hăng hái trở lại.

"Thiết bị trợ thở của con rơi xuống vào khoảng hoàng hôn. Con có nhắc rằng dòng suối phun có vẻ yếu đi rồi cơ mà nhỉ?"

"Rồi."

"Khoảng hoàng hôn, nó để rơi thiết bị trợ thở. Như con đã nói, con đã hoàn toàn quên bẵng đi sự tồn tại của Cái Máy, và lúc đó con chẳng mấy chú tâm vì đang bận bận rộn rộn với những thứ khác. Con có một vũng không khí của riêng mình, nơi con có thể hớp lấy khi cái lạnh bên ngoài trở nên quá quắt, và nó có thể sẽ duy trì được trong nhiều ngày, miễn là không có cơn gió nào nổi lên thổi bay nó đi. Mãi cho đến khi quá muộn, con mới nhận ra việc đài phun nước ngừng phun ngụ ý điều gì. Mẹ thấy đấy—lỗ thủng trong đường hầm đã được vá lại; Thiết bị Sửa chữa; Thiết bị Sửa chữa đang lùng sục con."

"Con còn một lời cảnh báo khác, nhưng đã phớt lờ nó. Bầu trời đêm lúc đó quang đãng hơn ban ngày, và mặt trăng, nằm cách mặt trời chừng một nửa bầu trời, chiếu rọi vào hũng trũng đôi lúc sáng rực. Con đang ở vị trí quen thuộc—ranh giới giữa hai bầu khí quyển—thì tưởng chừng nhìn thấy một vật gì đó tối sẫm di chuyển qua đáy hũng trũng và biến mất vào đường hầm. Trong sự ngu ngốc của mình, con chạy nhào xuống. Con cúi người áp tai lắng nghe, và tưởng chừng nghe thấy một tiếng cạo lạo xạo mờ ảo vang lên từ tận sâu thẳm."

"Đến lúc này—nhưng đã quá muộn—con mới hoảng sợ. Con quyết tâm đeo thiết bị trợ thở vào và đi bộ thẳng ra khỏi hũng trũng. Nhưng chiếc thiết bị trợ thở của con đã biến mất. Con biết chính xác nó rơi ở đâu—giữa chiếc van chặn và cửa khẩu—thậm chí con còn sờ thấy vết lõm mà nó để lại trên thảm cỏ. Nó đã không còn nữa, và con nhận ra một thế lực tà ác đang hành động, tốt hơn hết là mình nên trốn sang bầu không khí bên kia, và nếu có phải chết, thì hãy chết trong lúc đang chạy về phía đám mây mang màu ngọc trai kia. Con chưa kịp bắt đầu chạy. Từ trong đường hầm—thật quá ư kinh hoàng. Một con giun, một con giun trắng dài, đã bò ra từ đường hầm và đang trườn qua thảm cỏ ngập ánh trăng."

"Con thét lên. Con làm mọi thứ lẽ ra không nên làm, thay vì chạy trốn con lại giẫm đạp lên sinh vật ấy, và nó lập tức cuộn tròn lấy cổ chân con. Thế rồi chúng ta giao chiến. Con giun để con chạy khắp hũng trũng, nhưng nó cứ trườn ngược lên ống chân con mỗi khi con chạy. 'Cứu với!' con kêu lên. (Phần đó quá ư hãi hùng. Nó thuộc về phần mà mẹ sẽ chẳng bao giờ biết được đâu.) 'Cứu với!' con kêu lên. (Tại sao chúng ta không thể chịu đựng trong im lặng cơ chứ?) 'Cứu với!' con kêu lên. Rồi đôi chân con bị trói chặt lại với nhau, con ngã quỵ, con bị kéo lê rời xa đám dương xỉ thân thương và những ngọn đồi sống động, vượt qua chiếc van kim loại lớn (đoạn này con có thể kể cho mẹ nghe), và con nghĩ nếu mình tóm lấy cái tay cầm thì biết đâu nó lại cứu mạng mình lần nữa. Nó cũng bị siết chặt, cả cái tay cầm cũng thế. Ồ, toàn bộ hũng trũng đặc quánh những thứ đó. Chúng đang lùng sục khắp mọi ngõ ngách, chúng đang cạo sạch nơi này, và những cái mõm trắng phau của những con khác ngó ngoáy thò ra từ lỗ hổng, sẵn sàng ra tay khi cần. Bất cứ thứ gì có thể di chuyển được chúng đều lôi tuột đi—cành khô, từng bó dương xỉ, mọi thứ, và tất cả chúng ta quấn chặt lấy nhau rơi thẳng xuống địa ngục. Những thứ cuối cùng con nhìn thấy trước khi chiếc van sập xuống khép lại sau lưng mình, chính là một vài vì sao, và con cảm thấy một người như con vẫn tồn tại đâu đó trên bầu trời. Vì con đã chiến đấu, con chiến đấu đến tận giây phút cuối cùng, và chỉ có cái đầu đập mạnh vào chiếc thang mới đánh ngất được con. Con tỉnh dậy trong căn phòng này. Những con giun đã biến mất. Con được vây quanh bởi không khí nhân tạo, ánh sáng nhân tạo, sự bình yên nhân tạo, và bạn bè đang gọi con qua các ống nghe điện thoại để hỏi xem con có vừa tình cờ chộp được ý tưởng mới nào không."

Câu chuyện của anh khép lại tại đây. Tranh luận về nó là điều bất khả thi, và Vashti quay người định bước đi.

"Mọi chuyện sẽ kết thúc bằng hình phạt Trôi dạt Tha hương mà thôi," cô bình thản nói.

"Con ước là thế đấy," Kuno đáp trả.

"Cái Máy vô cùng khoan dung nhân hậu."

"Con thích sự khoan dung của Thượng đế hơn."

"Bằng câu nói mang màu sắc mê tín đó, ý con là con có thể sinh tồn ở bầu không khí bên ngoài ư?"

"Đúng vậy."

"Con đã từng tận mắt nhìn thấy xương cốt của những kẻ bị trục xuất sau cuộc Đại Nổi dậy nằm quanh các cửa hầm chưa?"

"Rồi chứ."

"Họ bị bỏ mặc tại nơi họ ngã xuống để làm bài học cho chúng ta. Vài kẻ bò đi được, nhưng rồi họ cũng bỏ mạng—còn ai nghi ngờ điều đó nữa? Những kẻ Trôi dạt Tha hương thời đại chúng ta cũng vậy thôi. Bề mặt trái đất không còn duy trì sự sống nữa."

"Thật thế sao."

"Dương xỉ và một chút cỏ may ra còn sót lại, nhưng mọi dạng sống cao cấp hơn đều đã tuyệt diệt. Có chiếc khí cầu nào phát hiện ra chúng không?"

"Không."

"Có giảng viên nào đề cập đến chúng không?"

"Không."

"Thế thì sao lại cứ cố chấp thế nhỉ?"

"Vì con đã nhìn thấy họ," anh bùng nổ.

"Nhìn thấy cái gì?"

"Vì con đã nhìn thấy cô ấy trong hoàng hôn—vì cô ấy đã đến cứu con khi con gọi—vì cô ấy cũng bị lũ giun quấn lấy, và may mắn hơn con, cô ấy đã thiệt mạng khi bị một con đâm thủng cổ."

Anh ta điên rồi. Vashti bỏ đi, và trong những biến cố xảy ra sau đó, cô chẳng bao giờ nhìn thấy mặt anh nữa.

Trong những năm tháng tiếp theo cuộc phiêu lưu của Kuno, hai bước ngoặt quan trọng đã diễn ra trong lòng Cái Máy. Nhìn bề ngoài chúng mang tính cách mạng, nhưng thực chất tâm trí con người đã được chuẩn bị từ trước, và chúng chỉ là sự biểu hiện của những xu hướng vốn đã tiềm ẩn sẵn.

Thứ nhất là việc bãi bỏ các thiết bị trợ thở.

Những tư tưởng gia tiên tiến, như Vashti, vẫn luôn cho rằng việc lên thăm bề mặt trái đất là một hành động ngớ ngẩn. Khí cầu có lẽ vẫn cần thiết, nhưng việc tò mò mò mẫm ra ngoài chỉ để bò trườn dăm ba dặm trên một cỗ xe địa thế thì có ích gì chứ? Thói quen đó thật thô tục và có lẽ hơi bất lịch sự một chút: nó chẳng đem lại ý tưởng nào, và chẳng có chút liên hệ nào với những thói quen thực sự quan trọng. Thế là các thiết bị trợ thở bị bãi bỏ, và dĩ nhiên đi kèm với chúng là các xe cơ giới mặt đất, ngoại trừ một vài giảng viên than vãn rằng họ bị tước quyền tiếp cận nguồn đề tài nghiên cứu, còn lại thì sự phát triển ấy được đón nhận trong tĩnh lặng. Những ai vẫn muốn biết trái đất trông ra sao rốt cuộc chỉ cần lắng nghe vài chiếc máy hát, hoặc nhìn vào màn hình điện ảnh. Và ngay cả các giảng viên cũng xuôi theo dòng khi nhận ra rằng một bài giảng về đại dương vẫn kích thích trí tuệ chẳng kém gì khi được tổng hợp từ những bài giảng đã từng thuyết trình trước đó về cùng một đề tài. "Hãy cảnh giác với những ý tưởng nguyên bản!" một trong những giảng viên tân tiến nhất thốt lên. "Ý tưởng nguyên bản thực ra chẳng hề tồn tại. Chúng chỉ là những ấn tượng thể xác do tình yêu và nỗi sợ hãi sinh ra, và trên nền tảng thô thiển này thì ai có thể dựng lên nổi một thứ triết lý cơ chứ? Hãy để ý tưởng của các vị là ý tưởng phái sinh, và nếu có thể là ý tưởng đời thứ mười, bởi khi đó chúng đã được tách biệt khỏi yếu tố gây nhiễu loạn—sự quan sát trực tiếp. Đừng học hỏi bất cứ điều gì về chủ đề này của tôi—Cuộc cách mạng Pháp. Thay vào đó, hãy học những gì tôi nghĩ rằng Enicharmon nghĩ rằng Urizen nghĩ rằng Gutch nghĩ rằng Ho-Yung nghĩ rằng Chi-Bo-Sing nghĩ rằng Lafcadio Hearn nghĩ rằng Carlyle nghĩ rằng Mirabeau đã nói về Cuộc cách mạng Pháp. Thông qua lăng kính của tám bộ óc vĩ đại ấy, dòng máu đổ xuống ở Paris và những khung cửa sổ vỡ tan ở Versailles sẽ được tinh luyện thành một ý tưởng mà các vị có thể áp dụng hiệu quả nhất trong đời sống thường ngày. Nhưng hãy nhớ rằng các khâu trung gian phải thật nhiều và đa dạng, bởi trong lịch sử luôn tồn tại một cơ quan quyền lực này để triệt tiêu sự hoài nghi của cơ quan quyền lực khác. Urizen phải dung hòa sự hoài nghi của Ho-Yung và Enicharmon, bản thân tôi phải dung hòa sự bồng bột của Gutch. Các vị ngồi đây lắng nghe tôi đang ở vị thế đánh giá về Cuộc cách mạng Pháp tốt hơn cả tôi đấy. Con cháu các vị thậm chí còn ở vị thế tốt hơn các vị nữa, bởi chúng sẽ học những gì các vị nghĩ rằng tôi nghĩ, và cứ thế lại có thêm một khâu trung gian nữa được ném vào chuỗi xích đó. Và rồi sẽ đến lúc"—giọng ông ta cao vút lên—"sẽ xuất hiện một thế hệ vượt qua cả các sự kiện, vượt qua cả những ấn tượng, một thế hệ tuyệt đối vô sắc,

'thanh tao tự do

Khỏi mọi vẩn đục của bản ngã,'

một thế hệ sẽ nhìn nhận Cuộc cách mạng Pháp không phải theo cách nó đã xảy ra, cũng chẳng phải theo cách họ muốn nó xảy ra, mà theo cách nó lẽ ra phải xảy ra, nếu nó diễn ra vào thời đại của Cái Máy."

Những tràng pháo tay vang trời chào đón bài giảng này, thứ vốn chỉ nói lên cảm giác đã tiềm ẩn sẵn trong tâm trí con người—cảm giác cho rằng những sự kiện trần thế cần phải bị phớt lờ, và việc bãi bỏ các thiết bị trợ thở là một lợi ích thực sự. Thậm chí người ta còn đề xuất nên dẹp bỏ luôn cả khí cầu. Việc đó không diễn ra, bởi vì khí cầu đã vô tình len lỏi vào hệ thống của Cái Máy. Nhưng năm này qua năm khác, chúng ít được sử dụng hơn, và ít được những con người tư duy nhắc đến hơn.

Sự phát triển lớn thứ hai chính là sự phục hưng của tôn giáo.

Điều này cũng đã được cất lên trong bài giảng nổi tiếng kia. Không ai có thể nhầm lẫn giọng điệu cung kính mà phần kết luận đã khơi gợi, và nó đánh thức một tiếng vang đồng điệu trong tâm hồn mỗi người. Những kẻ từng âm thầm tôn sùng nay bắt đầu cất lời. Họ miêu tả cảm giác bình yên kỳ lạ tràn ngập khi chạm tay vào Cuốn Sách của Cái Máy, niềm vui sướng khi đọc đi đọc lại những con số nhất định trong đó, dẫu những con số ấy chẳng hề mang lại ý nghĩa gì cho thính giác bên ngoài, sự ngây ngất khi chạm vào một nút bấm, dẫu chẳng mấy quan trọng, hay khi bấm một tiếng chuông điện, dẫu thừa thãi đến đâu.

"Cái Máy," họ reo lên, "nuôi dưỡng chúng ta, mặc áo cho chúng ta và che chở cho chúng ta; thông qua nó chúng ta trò chuyện với nhau, thông qua nó chúng ta nhìn thấy nhau, bên trong nó chúng ta hiện hữu. Cái Máy là bạn của những ý tưởng và là kẻ thù của mê tín dị đoan: Cái Máy là tối cao, là vĩnh hằng; tôn vinh thay Cái Máy." Và chẳng bao lâu sau, lời hiệu triệu này được in trên trang đầu tiên của Cuốn Sách, và trong các ấn bản tiếp theo, nghi lễ đã phình lớn thành một hệ thống phức tạp gồm những lời ca tụng và cầu nguyện. Từ "tôn giáo" được né tránh một cách cẩn trọng, và trên lý thuyết Cái Máy vẫn là sự sáng tạo và công cụ của con người. Nhưng trên thực tế, tất cả mọi người, ngoại trừ một nhúm kẻ thụt lùi, đều tôn sùng nó như một vị thần. Nó cũng chẳng được tôn sùng một cách đồng nhất. Tín đồ này sẽ ấn tượng sâu sắc nhất bởi những chiếc đĩa quang học màu xanh, qua đó anh ta nhìn thấy những tín đồ khác; tín đồ khác lại ấn tượng bởi thiết bị sửa chữa, thứ mà Kuno tội lỗi từng ví von với những con giun; người khác nữa thì ấn tượng bởi thang máy, hoặc Cuốn Sách. Và mỗi người sẽ cầu nguyện với thứ này hoặc thứ khác, xin nó chuyển lời cầu khẩn của mình lên Cái Máy theo một thể thống nhất. Sự bức hại—điều đó cũng hiện hữu. Nó chưa bùng nổ, vì những lý do sẽ được trình bày ngay sau đây. Nhưng nó tiềm ẩn, và tất cả những ai không chấp nhận tiêu chuẩn tối thiểu được gọi là "Cơ giới phi hệ phái" đều sống trong mối đe dọa Trôi dạt Tha hương, thứ đồng nghĩa với cái chết, như chúng ta đã biết.

Quy chụp hai bước ngoặt vĩ đại này cho Ủy ban Trung ương là một cái nhìn rất phiến diện về nền văn minh. Ủy ban Trung ương đã công bố các bước ngoặt đó thật đấy, nhưng họ chẳng phải là nguyên nhân gây ra chúng, cũng giống như các vị vua thời kỳ đế quốc không phải là nguyên nhân gây ra chiến tranh vậy. Đúng hơn là họ phải đầu hàng trước một sức ép vô hình nào đó, xuất phát từ đâu chẳng ai hay, và khi được thỏa mãn, nó lại bị kế thừa bởi một sức ép mới cũng bất kham không kém. Gán cho trạng thái sự việc ấy cái tên tiến triển quả là một sự thuận tiện. Không ai thú nhận Cái Máy đã vượt ngoài tầm kiểm soát. Năm này qua năm khác, người ta phục vụ nó với hiệu quả gia tăng nhưng trí tuệ lại suy giảm. Một người càng hiểu rõ nhiệm vụ của mình trên cỗ máy bao nhiêu, thì anh ta càng ít hiểu về nhiệm vụ của hàng xóm bấy nhiêu, và trên toàn thế giới chẳng có lấy một ai hiểu nổi con quái vật này một cách toàn diện. Những bộ óc siêu việt ấy đã thiệt mạng. Đúng là họ đã để lại những chỉ dẫn vô cùng tỉ mỉ, và những kẻ kế nhiệm mỗi người chỉ nắm vững một phần các chỉ dẫn đó. Nhưng Nhân loại, trong khát vọng tìm kiếm sự thoải mái, đã tự chuốc lấy thất bại khi với tay quá tầm. Họ đã khai thác tận diệt nguồn tài nguyên của thiên nhiên. Lặng lẽ và mãn nguyện, họ đang trượt dốc vào thời kỳ suy đồi, và sự tiến bộ lúc này đã đồng nghĩa với sự tiến bộ của Cái Máy.

Về phần Vashti, cuộc đời cô trôi qua êm đềm cho đến thảm họa cuối cùng. Cô tắt đèn phòng và đi ngủ; cô thức giấc và bật sáng căn phòng. Cô giảng bài và tham dự các buổi giảng. Cô trao đổi ý tưởng với vô số bạn bè và tin rằng mình đang ngày càng trở nên thanh tao hơn. Thỉnh thoảng một người bạn được ban cho Cái chết êm ái, và rời bỏ căn phòng của họ để đến với cõi trôi dạt tha hương vượt ngoài mọi trí tưởng tượng của con người. Vashti chẳng bận tâm lắm. Sau một bài giảng thất bại, thỉnh thoảng cô cũng tự xin được ban cho Cái chết êm ái. Nhưng tỷ lệ tử vong không được phép vượt quá tỷ lệ sinh, và Cái Máy từ trước đến nay vẫn từ chối yêu cầu đó của cô.

Những rắc rối bắt đầu nhen nhóm trong lặng lẽ, từ lâu trước khi cô kịp nhận thức được chúng.

Một ngày nọ, cô vô cùng ngạc nhiên khi nhận được một tin nhắn từ con trai mình. Bọn họ vốn chẳng bao giờ liên lạc với nhau, vì chẳng có điểm gì chung, và cô chỉ nghe phảng phất qua người khác rằng anh ta vẫn còn sống, và đã được thuyên chuyển từ bán cầu bắc—nơi anh ta từng cư xử đầy ngỗ ngược—xuống bán cầu nam—thực chất là đến một căn phòng không cách phòng cô là bao.

"Nó muốn mình đến thăm à?" cô nghĩ thầm. "Không bao giờ, chẳng bao giờ có chuyện đó. Hơn nữa mình đâu có thời gian."

Không, đó là một thứ điên rồ kiểu khác.

Anh ta từ chối hiển thị khuôn mặt mình trên chiếc đĩa xanh, và cất giọng trang nghiêm vọng ra từ bóng tối:

"Cái Máy đang dừng lại."

"Con đang nói cái gì thế?"

"Cái Máy đang dừng hoạt động, con biết rõ điều đó, con biết rõ những dấu hiệu."

Cô phá lên cười ngặt nghẽo. Anh nghe thấy và nổi giận, và họ chẳng nói thêm câu nào nữa.

"Cậu có thể tưởng tượng được điều gì ngớ ngẩn hơn thế không?" cô kêu lên với một người bạn. "Một kẻ từng là con trai tôi lại tin rằng Cái Máy đang dừng lại. Thật là báng bổ nếu nó không điên rồ."

"Cái Máy đang dừng lại á?" người bạn đáp lời. "Điều đó có nghĩa là gì? Cụm từ ấy chẳng mang lại chút ý nghĩa gì với tôi cả."

"Tớ cũng thế."

"Ý anh ta không phải là sự cố rắc rối với âm nhạc dạo gần đây chứ?"

"Ồ không, dĩ nhiên là không rồi. Chúng ta hãy nói về âm nhạc đi."

"Cậu đã phàn nàn với nhà chức trách chưa?"

"Rồi, và họ bảo nó cần phải được sửa chữa, đồng thời hướng dẫn tớ liên hệ với Ủy ban Thiết bị Sửa chữa. Tớ phàn nàn về mấy tiếng thở hắt kỳ lạ làm hỏng các bản giao hưởng của trường phái Brisbane. Chúng nghe cứ như có ai đang oằn mình chịu đau đớn ấy. Ủy ban Thiết bị Sửa chữa bảo rằng nó sẽ được khắc phục trong thời gian sớm thôi."

Mang trong lòng nỗi bận tâm mơ hồ, cô tiếp tục sống cuộc đời mình. Một mặt, trục trặc trong âm nhạc làm côirritated. Mặt khác, cô không tài nào quên nổi câu nói của Kuno. Nếu anh ta biết âm nhạc đang gặp sự cố—thực ra anh ta chẳng thể biết được, vì anh ta căm ghét âm nhạc—nếu anh ta biết nó bị hỏng, thì "Cái Máy đang dừng lại" chính xác là kiểu phát ngôn đầy cay độc mà anh ta sẽ thốt ra. Dĩ nhiên anh ta chỉ nói bừa thế thôi, nhưng sự trùng hợp ấy làm cô chướng tai, và cô bực bội cằn nhằn với Ủy ban Thiết bị Sửa chữa.

Họ đáp lại như mọi khi, rằng khiếm khuyết đó sẽ sớm được khắc phục.

"Sớm ư! Phải là ngay lập tức chứ!" cô đanh đá đáp. "Tại sao tôi phải chịu đựng thứ âm nhạc lỗi lỏng này cơ chứ? Mọi thứ vẫn luôn được khắc phục ngay lập tức cơ mà. Nếu các người không sửa nó ngay, tôi sẽ khiếu nại lên Ủy ban Trung ương."

"Không có khiếu nại cá nhân nào được Ủy ban Trung ương tiếp nhận cả," Ủy ban Thiết bị Sửa chữa đáp lại.

"Thế tôi phải thông qua ai để nộp đơn khiếu nại đây?"

"Thông qua chúng tôi."

"Vậy tôi khiếu nại đấy."

"Khiếu nại của quý vị sẽ được chuyển tiếp theo đúng trình tự."

"Có ai khác phàn nàn nữa không?"

Câu hỏi này mang tính phi cơ giới, và Ủy ban Thiết bị Sửa chữa từ chối trả lời.

"Thật là quá đáng!" cô kêu lên với một người bạn khác. "Chẳng có người phụ nữ nào bất hạnh như tôi trên đời này. Giờ đây tôi chẳng bao giờ có thể chắc chắn nổi về âm nhạc của mình nữa. Nó ngày càng tệ hơn mỗi lần tôi gọi nó."

"Tớ cũng gặp rắc rối của riêng mình," người bạn đáp. "Thỉnh thoảng ý tưởng của tớ bị ngắt quãng bởi một tiếng lạo xạo nhỏ."

"Nó là cái gì thế?"

"Tớ chẳng biết nó phát ra từ trong đầu tớ, hay từ bên trong bức tường nữa."

"Dù là trường hợp nào thì cũng cứ khiếu nại đi."

"Tớ đã khiếu nại rồi, và đơn của tớ sẽ được chuyển tiếp theo đúng trình tự lên Ủy ban Trung ương."

Thời gian trôi qua, và họ không còn cảm thấy khó chịu trước những khiếm khuyết nữa. Các lỗi lỏng chưa từng được sửa chữa, nhưng các mô tế bào của con người trong thời đại hậu kỳ ấy đã trở nên ngoan ngoãn đến mức chúng dễ dàng thích nghi với mọi tính khí thất thường của Cái Máy. Tiếng thở dài ở khúc cao trào của bản giao hưởng Brisbane không còn làm Vashti bực bội nữa; cô chấp nhận nó như một phần của giai điệu. Tiếng lạo xạo, dù trong đầu hay trong tường, cũng không còn bị người bạn của cô bài bác nữa. Và cứ thế với những quả trái cây nhân tạo mốc meo, với làn nước tắm bắt đầu bốc mùi hôi thối, với những vần thơ lủng củng mà cỗ máy thi ca bắt đầu nhả ra. Tất cả đều bị phàn nàn kịch liệt lúc đầu, rồi sau đó được dung túng và lãng quên. Mọi thứ cứ trượt từ tồi tệ đến tồi tệ hơn mà không vấp phải bất kỳ sự kháng cự nào.

Mọi chuyện hoàn toàn khác với sự cố của hệ thống giường ngủ. Đó là một sự đình trệ nghiêm trọng hơn nhiều.

Đã đến một ngày mà trên toàn thế giới—ở Sumatra, ở Wessex, ở vô số thành phố vùng Courland và Brazil—những chiếc giường, khi được chủ nhân mệt mỏi của chúng gọi tên, đã trơ trơ không xuất hiện. Nó có vẻ là một vấn đề nực cười, nhưng từ đó chúng ta có thể đánh dấu sự sụp đổ của nhân loại. Ủy ban chịu trách nhiệm về sự cố này bị bủa vây bởi những lời khiếu nại, và họ lại tống khứ chúng, như thường lệ, sang Ủy ban Thiết bị Sửa chữa, đơn vị mà qua đó lại đảm bảo với họ rằng khiếu nại sẽ được chuyển tiếp lên Ủy ban Trung ương. Nhưng sự bất mãn ngày càng dâng cao, bởi loài người vẫn chưa đủ tính thích nghi để có thể sống thiếu giấc ngủ.

"Có kẻ đang táy máy can thiệp vào Cái Máy——" họ bắt đầu gầm gừ.

"Có kẻ đang mưu đồ xưng vương, tìm cách tái thiết lập yếu tố cá nhân."

"Trừng phạt kẻ đó bằng hình phạt Trôi dạt Tha hương."

"Cứu tinh! Trả thù cho Cái Máy! Trả thù cho Cái Máy!"

"Chiến tranh! Giết kẻ đó đi!"

Nhưng Ủy ban Thiết bị Sửa chữa lúc này đã bước ra, xoa dịu cơn hoảng loạn bằng những lời lẽ được chọn lọc kỹ càng. Họ thú nhận rằng bản thân Thiết bị Sửa chữa cũng đang cần được sửa chữa.

Hiệu ứng của lời thú nhận thành thật này thật tuyệt vời.

"Dĩ nhiên rồi," một giảng viên nổi tiếng cất lời—ông thầy chuyên giảng về Cuộc cách mạng Pháp, kẻ luôn dát vàng lên mọi sự mục rữa bằng vẻ lộng lẫy—"dĩ nhiên chúng ta sẽ không thúc ép các khiếu nại của mình lúc này nữa. Thiết bị Sửa chữa đã đối xử quá tốt với chúng ta trong quá khứ nên tất cả chúng ta đều cảm thông với nó, và sẽ kiên nhẫn chờ đợi nó bình phục. Đến thời điểm thích hợp của nó, nó sẽ lại tiếp nhận nhiệm vụ. Trong lúc này, hãy chịu đựng việc không có giường, không có viên thuốc dinh dưỡng, và những nhu cầu nhỏ nhặt khác của chúng ta. Tôi chắc chắn đó cũng là nguyện vọng của Cái Máy."

Cách đó hàng ngàn dặm, thính giả của ông ta tung hô nhiệt liệt. Cái Máy vẫn liên kết họ lại với nhau. Dưới đáy đại dương, bên dưới rễ của những dãy núi, là hệ thống dây điện chạy chằng chịt qua đó họ nhìn thấy và nghe thấy, đôi mắt và đôi tai khổng lồ chính là di sản của họ, và tiếng vo ve của muôn vàn guồng máy đã khoác lên suy nghĩ của họ một tấm áo thuần phục duy nhất. Chỉ có những kẻ già nua và ốm đau là vẫn giữ thái độ oán hận, bởi râm ran lời đồn đại rằng ngay cả Cái chết êm ái cũng đang hỏng hóc, và sự đau đớn đã tái xuất hiện trong nhân loại.

Việc đọc sách trở nên khó khăn. Một lớp sương mai bệnh hoạn bao trùm bầu khí quyển và làm lu mờ độ sáng của nó. Có những lúc Vashti hầu như chẳng nhìn nổi qua căn phòng của mình. Không khí cũng trở nên ô uế. Tiếng khiếu nại vang lên inh ỏi, các biện pháp khắc phục thì vô dụng, còn giọng điệu của vị giảng viên thì đầy anh hùng ca khi ông ta gào lên: "Can đảm lên, can đảm lên! Xá gì vài chuyện nhỏ nhặt miễn là Cái Máy vẫn tiếp tục vận hành? Đối với nó, bóng tối và ánh sáng là một." Và dẫu mọi thứ có khá hơn sau một thời gian, độ rực rỡ thuở ban đầu chẳng bao giờ tái lập được nữa, và nhân loại chẳng bao giờ hồi phục nổi sau cú sa chân bước vào chạng vạng. Những cuộc bàn tán cuồng loạn về các "biện pháp", về "chính quyền độc tài lâm thời" nổ ra, và cư dân ở Sumatra được yêu cầu làm quen với cơ chế vận hành của trạm phát điện trung ương, trạm phát điện ấy tọa lạc tại Pháp. Nhưng phần lớn thời gian là sự thống trị của cơn hoảng loạn, và con người dồn hết sức lực để cầu nguyện trước Cuốn Sách của họ, những minh chứng hữu hình cho quyền năng tối cao của Cái Máy. Có những cấp độ kinh hoàng khác nhau—thỉnh thoảng những tin đồn về niềm hy vọng lại ló dạng—rằng Thiết bị Sửa chữa gần như đã được sửa xong—rằng kẻ thù của Cái Máy đã bị khuất phục—rằng những "trung tâm thần kinh" mới đang hình thành và sẽ vận hành công việc còn tráng lệ hơn trước. Nhưng rồi đã đến một ngày, không một lời cảnh báo trước, không một dấu hiệu mỏi mệt nào hé lộ từ trước, toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc đã sập nguồn trên toàn cầu, và thế giới, theo cách họ hiểu về nó, đã chính thức chấm dứt.

Vashti đang giảng bài vào thời điểm đó và những phát ngôn ban đầu của cô được chấm phá bởi những tràng pháo tay. Khi cô tiếp tục nói, thính giả chìm vào tĩnh lặng, và đến phần kết luận thì chẳng còn lấy một âm thanh nào. Hơi khó chịu, cô gọi một người bạn vốn là chuyên gia về sự đồng cảm. Không một tiếng động: chắc hẳn người bạn đó đang ngủ. Và rồi với người bạn tiếp theo mà cô thử gọi, và cứ thế cho đến khi cô sực nhớ đến câu nói đầy ẩn ý của Kuno, "Cái Máy đang dừng lại."

Cụm từ ấy vẫn chẳng mang lại ý nghĩa gì. Nếu cõi vĩnh hằng đang dừng lại thì chắc chắn nó sẽ được khởi động lại sớm thôi.

Chẳng hạn như, vẫn còn một chút ánh sáng và không khí—bầu khí quyển đã cải thiện vài giờ trước đó. Vẫn còn Cuốn Sách, và khi còn Cuốn Sách là còn sự an toàn.

Rồi cô sụp đổ, bởi đi kèm với sự chấm dứt hoạt động chính là một nỗi kinh hoàng bất ngờ—sự tĩnh lặng.

Cô chưa từng biết đến sự tĩnh lặng, và sự xuất hiện của nó suýt cướp đi sinh mạng cô—nó thực sự đã cướp đi mạng sống của hàng ngàn con người ngay tức khắc. Kể từ khi lọt lòng, cô đã luôn được bao bọc bởi tiếng vo ve đều đặn. Đối với tai nó cũng giống như không khí nhân tạo đối với phổi vậy, và những cơn đau nhói quặn thắt xé ngang đầu cô. Và dường như chẳng biết mình đang làm gì, cô lảo đảo lao về phía trước và bấm vào chiếc nút lạ hoắc, chiếc nút mở cánh cửa căn phòng của cô.

Lúc này cánh cửa phòng hoạt động dựa trên một bản lề đơn giản của riêng nó. Nó không hề kết nối với trạm phát điện trung ương đang chết dần chết mòn ở tận nước Pháp xa xôi. Nó mở ra, thắp lên niềm hy vọng vô bờ bến trong lòng Vashti, vì cô nghĩ rằng Cái Máy đã được sửa chữa rồi. Nó mở ra, và cô nhìn thấy đường hầm mờ ảo uốn khúc kéo dài tít tắp về phía tự do. Chỉ một cái liếc nhìn, rồi cô lùi phắt lại trong sợ hãi. Bởi đường hầm nghẹt thở những người—cô gần như là kẻ cuối cùng ở thành phố đó hoảng loạn.

Con người ở bất cứ thời điểm nào cũng làm cô ghê tởm, và đám đông này trông chẳng khác nào những cơn ác mộng tồi tệ nhất đời cô. Người ta đang bò trườn, người ta đang thét gào, thút thít, thở hồng hộc, va chạm vào nhau, biến mất trong bóng tối, và chốc chốc lại bị xô đẩy khỏi sân ga rơi thẳng xuống đường ray đang chạy dòng điện. Vẻ tranh giành đang diễn ra quanh những chiếc chuông điện, cố gọi những chuyến tàu vốn chẳng thể gọi được. Những kẻ khác thì gào thét đòi Cái chết êm ái hoặc thiết bị trợ thở, hoặc báng bổ Cái Máy. Số khác nữa đứng trơ trọi trước cửa phòng, sợ hãi giống cô, không biết nên ở lỳ bên trong hay bước ra ngoài. Và đằng sau tất cả sự hỗn loạn ấy chính là sự tĩnh lặng—sự tĩnh lặng mang tiếng nói của trái đất và của những thế hệ đã khuất.

Không—nó còn tồi tệ hơn cả sự cô độc. Cô đóng sập cửa lại và ngồi xuống chờ đợi hồi kết. Sự phân rã tiếp diễn, đi kèm với những tiếng răng rắc và ầm ầm kinh hoàng. Các van khóa kìm hãm Thiết bị Y tế chắc đã bị suy yếu, khiến nó vỡ toác và thõng thung lủng thượt một cách ghê rợn từ trên trần nhà xuống. Sàn nhà chao đảo nhô lên sụt xuống hất văng cô khỏi ghế. Một đường ống uốn lượn trườn về phía cô như một con rắn. Và cuối cùng thảm họa tối hậu cũng cận kề—ánh sáng bắt đầu lụi tàn, và cô biết rằng ngày dài đằng đẵng của nền văn minh đang đi đến hồi kết.

Cô quay cuồng van xin được cứu rỗi khỏi kiếp nạn này, bằng mọi giá, hôn lấy cuốn sách, bấm hết nút này đến nút khác. Sự hỗn loạn bên ngoài ngày càng gia tăng, và thậm chí xuyên thủng cả bức tường. Từng chút một, độ rực rỡ trong căn phòng của cô lu mờ dần, những phản chiếu trên các công tắc kim loại phai nhạt. Giờ đây cô chẳng thể nhìn thấy nổi giá đọc sách, chẳng thấy nổi cuốn sách dù vẫn đang cầm nó trên tay. Ánh sáng nối gót âm thanh vụt bay, không khí đang nối gót ánh sáng, và khoảng không nguyên thủy đã quay trở lại căn hầm nơi nó từng bị trục xuất suốt bao lâu nay. Vashti tiếp tục quay cuồng, hệt như những tín đồ cuồng tín của một tôn giáo cổ xưa, thét gào, cầu nguyện, đấm đập vào các nút bấm với đôi bàn tay rớm máu.

Chính bằng cách đó mà cô đã mở lồng giam của mình và trốn thoát—trốn thoát trong tâm hồn: ít nhất thì tôi có cảm giác là như vậy trước khi dòng tâm tưởng của tôi khép lại. Việc cô thoát được bằng thể xác ư—tôi không thể nhận thức được điều đó. Cô đã vô tình chạm phải công tắc mở cửa, và luồng không khí ngột ngạt lùa vào da thịt, những lời thì thầm gầm rít vang vọng bên tai đã báo cho cô biết rằng cô đang đối mặt với đường hầm một lần nữa, và với sân ga khổng lồ nơi cô từng nhìn thấy con người chém giết lẫn nhau. Giờ đây họ không còn chém giết nữa. Chỉ còn lại những tiếng thì thầm và những tiếng rên rỉ thút thít nhỏ nhoi. Họ đang chết hàng loạt ngoài chốn tối tăm.

Cô bật khóc nức nở.

Tiếng khóc đáp lời cô.

Họ khóc cho nhân loại, hai con người ấy, chứ không phải cho bản thân mình. Họ không thể chịu nổi việc đây lại là đoạn kết. Trước khi sự tĩnh lặng hoàn toàn bao trùm, trái tim họ đã rộng mở, và họ thấu hiểu được điều gì mới thực sự quan trọng trên cõi đời này. Con người, đóa hoa của mọi loại thịt da, sinh linh cao quý nhất trong số những loài hữu thể, con người từng tạc tượng thần theo hình ảnh của chính mình, từng phản chiếu sức mạnh của mình lên các chòm sao, con người trần trụi đẹp đẽ đang chết dần, bị bóp nghẹt trong những tấm áo y phục do chính mình dệt nên. Hết thế kỷ này qua thế kỷ khác anh ta đã nhọc nhằn lao động, và đây là phần thưởng nhận được. Quả thực tấm áo choàng trông có vẻ thần thánh biết bao vào thuở ban đầu, được dệt đan bằng màu sắc của văn hóa, được khâu vá bằng những sợi chỉ vị tha. Và nó đã thực sự thần thánh chừng nào nó chỉ là một chiếc y phục thuần túy, chừng nào con người còn có thể cởi bỏ nó theo ý muốn và sinh tồn nhờ bản chất chính là tâm hồn mình, và phần bản chất thiêng liêng không kém, chính là thể xác. Tội lỗi chống lại thể xác—đó mới là điều họ khóc thương trên hết; những thế kỷ lầm lạc chống lại cơ bắp và các dây thần kinh, cùng năm giác quan duy nhất giúp chúng ta nhận thức—che đậy nó bằng những lời bàn tán về sự tiến hóa, cho đến khi thể xác trở thành một nhúm bột nhão nhoét, là ngôi nhà của những tư tưởng nhạt nhẽo vô hồn, tàn tro lay động cuối cùng của một tâm trí từng vươn tới các vì sao.

"Cậu đang ở đâu?" cô thút thít hỏi.

Giọng anh vang lên trong bóng tối: "Ở đây."

"Còn chút hy vọng nào không, Kuno?"

"Chẳng còn hy vọng nào cho chúng ta."

"Cậu đang ở đâu?"

Cô bò về phía anh qua những thây ma nằm ngổn ngang. Máu của anh phọt cả lên đôi tay cô.

"Nhanh lên," anh hổ hển, "anh sắp chết rồi—nhưng chúng ta đang chạm vào nhau, chúng ta đang trò chuyện, chứ không thông qua Cái Máy."

Anh hôn cô.

"Chúng ta đã trở về với cội nguồn của chính mình. Chúng ta ngã xuống, nhưng chúng ta đã tái chiếm được sự sống, hệt như thời ở Wessex, khi Ælfrid đánh tan quân Đan Mạch. Chúng ta thấu hiểu những gì ngoài kia đang thấu hiểu, những kẻ từng cư trú trong đám mây mang màu của ngọc trai."

"Nhưng Kuno, có thật thế không? Vẫn còn con người trên bề mặt trái đất ư? Có phải—có phải đường hầm này, bóng tối bị đầu độc này—thực sự không phải là hồi kết?"

Anh đáp lời:

"Anh đã nhìn thấy họ, đã trò chuyện với họ, đã yêu thương họ. Họ đang ẩn mình trong sương mù và dương xỉ cho đến khi nền văn minh của chúng ta dừng lại. Hôm nay họ là những kẻ Trôi dạt Tha hương—còn ngày mai——"

"Ồ, ngày mai—thế nào cũng có một kẻ ngốc nào đó khởi động lại Cái Máy vào ngày mai cho mà xem."

"Không bao giờ," Kuno nói, "không bao giờ đâu. Nhân loại đã học được bài học của mình rồi."

Ngay khi anh vừa dứt lời, toàn bộ thành phố vỡ vụn ra như một chiếc tổ ong. Một chiếc khí cầu đâm xuyên qua cửa hầm lao vào một bến cảng hoang tàn. Nó cắm đầu rơi xuống, phát nổ dọc đường, xé toạc từng tầng hành lang bằng những đôi cánh bằng thép. Thoáng chốc họ nhìn thấy những đoàn quân của người chết, và trước khi nhập hội với họ, là những mảnh trời trong xanh tinh khôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.