Kỳ Hiệp Côn Lôn Kiếm

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Chí Khổ Tâm Niên, Thập Niên Thành Tuyệt Kỹ Phong Vi Vũ Tế, Song Hiệp Hội Hoang Thôn

❊ ❊ ❊

Lúc này trời đang vào hạ. Bình nguyên rộng lớn bênngoài Hàm Cốc quan, ruộng lúa vô bờ trải dài xa tít tắp. Hoàng Hà nhưthanh long uốn lượn, hơi nóng ngùn ngụt bốc lên. Riêng trong Nhạc Tungsơn là một thế giới êm đềm, mát mẻ. Trong núi có rừng cây rậm rạp. Tráilại, dưới chân núi, từng đợt gió nóng khô thổi qua.

Dưới chân núi chỉ có một nóc nhà. Trong nhà chỉ có một người đang trú ngụ, chẳng aikhác đó chính là người đã từng đại náo Trường An, độc đấu Côn Lôn pháiVì gặp phải Kỷ Quảng Kiệt, vừa giao thủ đã thất bại, chịu thọ thươngđành phải chạy ra Hàm Cốc quan dưỡng thương.

Hắn vốn là con mộtnông gia ở Nam Cung huyện. Vì bình sinh không thích bị ràng buộc, chỉthích trau luyện văn thơ, tập tành võ nghệ. Nhưng hắn chỉ thích thơ phú, thi ca, còn bát cổ văn chương thì không màng tới. Vì thế, không thểchen chân vào chốn thi trường mà thi thố tài năng tìm cách tiến thânCòn võ nghệ hắn học là đoản kiếm, trường quyền, phi thân ... nếu bảo hắn đến võ trường mà cử thạch, đoạt thương, hắn không màng tới. Nên chi văn võ toàn tài, nhưng hai đường văn võ không thể tham gia, khiến hắn đãhơn hai mươi vẫn chưa công thành danh toại, không bằng bào đệ Lý PhụngKhanh, kém hắn một tuổi, còn có thể cày bừa, trồng trọt làm tròn bổnphận, nông phu, trách nhiệm thi tử.

Lý Phụng Kiệt bái sư phụ học võ là một đạo sĩ lúc đó đã bảy, tám mươi tuổi rồi, tự xưng là Long Sơn đạo nhân.

Vị đạo nhân này thường du sơn ngoạn thủy, đã từng cư ngụ ở Cam Đơn huyện, Lữ Tiên khách.

Khi đó lão đem võ nghệ truyền dạy cho Lý Phụng Kiệt. Về sau, lão đi về phía Bắc Kinh lại bảo Lý Phụng Kiệt theo cùng, nên sư đồ có thêm một thờigian sống chung.

Phụng Kiệt lại được sư phụ chỉ dạy phương pháp điểm huyệt.

Lão sư phụ bảo hắn phải ra giang hồ mà rèn luyện thêm. Lúc sắp chia tay, Long Sơn mới nói rõ lai lịch của mình.

Thì ra lão nhân chính là Thục Trung Long, một trong Nhị Long từng danh chấn giang hồ.

Thục Trung Long lão hiệp lúc chia tay, còn giới thiệu hai người với hắn, một là tiêu đầu Thiết Nỏ Trương Hùng ở Thường Châu - Giang Nam, hai là KimLiễn Bồ Tát Thái Vô thần sư ở Tung Sơn. Hai người này chính là thuộc hạcủa Thục Trung Long, trước kia là cánh tay đắc lực khi Thục Trung Longcòn xuôi ngược võ lâm hành hiệp trượng nghĩa, khắc chế bọn cường đạo các phương.

Lý Phụng Kiệt ở Bắc Kinh từ biệt sư phụ đến Tung Sơn gặp Thái Vô thần sư, sau đó đến Giang Nam trú ngụ trong tiêu điếm của Thiết Nỏ Trương Hùng, rồi hắn lên đường ngao du sơn thủy, khắp nơi đề thơ ghi văn, hành hiệp trượng nghĩa, thế nên danh chấn Giang Nam.

TừGiang Nam trải dài lên bắc, chí cả Trường An, Vị Thủy nơi nào cũng lưudấu chân hắn. Nào ngờ, ở Đại Nhạn tháp, gặp Bào A Loan đã khiến phátsinh ra bao sự việc như vậy.

Hắn thọ thương bên sườn phải vốnkhông nặng lắm, nhưng vì mình chiến bại nên không còn mặt mũi ở lạiQuang Trung, đành nén đau cưỡi bạch mã nhuộm đầy máu đỏ mà phi ra khỏiĐồng Quan.

Ngày đêm không nghỉ, hắn chạy đến Tung Sơn, xuống ngựa thì cơ hồ không còn đứng vững nữa. May mà Thái Vô thần sư đưa vào BạchTùng tự của người lo trị liệu vết thương.

Thái Vô thần sư có dược liệu bí chế để điều trị vết thương tên là Kim Cương canh sinh tán, rắcvào vết thương nửa tháng thương thế đã lành hẳn. Lý Phụng Kiệt muốnxuống núi vào Quang Trung để đấu với Quảng Kiệt.

Thái Vô thần sư bèn giấu bảo kiếm, hành lý và ngân lượng của hắn, đồng thời khuyên nhủ:

- Thí chủ đừng nên đi. Kỷ Quảng Kiệt là đích tôn của Long Môn Hiệp, đương nhiên hắn có kiếm pháp bí truyền, còn thí chủ chỉ học hai năm võ nghệvới Thục Trung Long, kiếm pháp đương nhiên không tinh luyện bằng. Hơnnữa, người nơi đó rất đông thí chủ đi hẳn không thắng được. Chi bằng ởlại nơi này nghiên cứu kỹ kiếm pháp, đồng thời giao hảo với những bằnghữu có nghĩa khí, sau đó mới đến tìm Kỷ Quảng Kiệt phân tranh cao thấpcũng chưa muộn.

Nghe lời phân giải hữu tình hợp lý của Thái Vô thần sư, nên Lý Phụng Kiệt bằng lòng nhàn cư ở Bạch Tùng Tự.

Miếu đình ở Tung Sơn rất nhiều, trong đó Thiếu Lâm tự lớn nhất, tăng chúngrất đông. Hương hỏa thịnh vượng có Tung Nhạc Thiên Tề miếu. Còn BạchTùng tự nhỏ nhất hương khói hiu quạnh vì Bạch Tùng tự xây trên đỉnh núicao nhất, không dễ có người leo cao đến như vậy mà dâng hương.

Thái Vô thần sư không chịu xuống núi. Tăng nhân trong miếu của thần sư chưatừng xuống núi hóa duyên, nhưng vật dụng trong miếu lại rất sang trọngquý hiếm. Điều này chỉ có Lý Phụng Kiệt nhìn thấy.

Theo Thái VôThần Sư cho biết tiền của lão sư đều do bán thuốc mà có, nhưng Lý PhụngKiệt không tin vì Kim Cương canh sinh tán lão xem như bảo vật, không dễgì chịu bán ra. Những người có giao tình sâu nặng với lão, cũng khôngphải tùy tiện mà cho.

Theo Phụng Kiệt suy đoán, ắt hẳn trước khixuất gia, lão sư đã phát đại tài, nếu không vì gặp cường địch mà thảmbại cũng là kết đại thù với kẻ khác, hoặc giả phạm vào trọng tội nên mới mượn thiền môn làm chỗ nương thân. Ẩn cư trên đỉnh núi cao trừ mấy lãobằng hữu ngẫu nhiên đến viếng, còn lại lão đều từ chối tiếp kiến.

Những việc này Lý Phụng Kiệt cũng không hỏi kỹ. Mấy ngày này, Phụng Kiệt tựmình đứng trên đỉnh núi thưởng thức lấy không khí thoáng đãng, bóng núihương hoa, chim kêu ríu rít, cảm thấy tâm hồn sảng khoái. Đọc mấy bộsách, múa mấy bài kiếm thấy mình thong dong, nhàn hạ vô cùng.

Hôm nay, Lý Phụng Kiệt chợt thấy trên núi thanh tịnh quá, nên hạ sơn đến một ngôi làng tên gọi Minh Cầm Giang.

Thôn này ở phía đông của khe suối.

Khe suối này quanh năm đều có nước từ trên vách đổ xuống, luồn lách trongđám loạn thạch, tiếng suối chảy róc rách như tiếng đàn cầm.

Bạchmã của Lý Phụng Kiệt hiện đang gửi trong nhà của một tiều phu là Hồ NhịChính. Phụng Kiệt vào Hồ gia kéo ngựa ra phi trên đại đạo dưới chân núi.

Chạy tới, chạy lui hồi lâu, dần dần thấm mệt. Ánh thái dương cũng đã dần dần lộ trên đỉnh núi. Người ngựa đi lại trên đại đạo từ từ đông đảo.

Hôm nay chính là ngày mồng một tháng năm. Khách hành hương các vùng phụ cận cũng đến Thiên Tề miếu thắp hương. Đây là ngày thứ nhất, đến năm ngàysau là ngày Đoan Dương. Nghe nói, hôm đó trong Thiên Tề miếu còn náonhiệt hơn cả ngoài thị trấn.

Lý Phụng Kiệt sợ tuấn mã dẫm phảikhách bộ hành nên nép ngựa sang bên. Nhìn thấy nam phụ lão ấu còn có mấy thiếu phụ và nữ tử trang điểm tươm tất đi tới lui.

Phụng Kiệttuy không có lòng háo sắc nhưng cũng cảm thấy phấn khởi vui vẻ trướccảnh tượng trước mắt, bất giác nhớ đến mấy bài thơ ca ngợi hương sắc của cổ nhân.

Hắn ngồi trên lưng bạch mã, rung nhẹ roi ngựa ngâm nga:

"Tử thoa, hồng tụ bích la quần Nhất vọng Tung Sơn khởi lệ vân Mã thượng,hồn tiêu du hiệp khách Kiếm phong nan trác hận phân vân".

Tronglúc hắn cao hứng dương dương tự đắc, chợt nghe bên tai vang lên tiếngleng keng từ hướng đông đi đến một con hắc mã, cổ ngựa treo một chuôngbạc, bước nhanh theo đoàn ngựa.

Trên ngựa có một thiếu niên hơnhai mươi tuổi, mi thanh mục tú, tướng mạo anh tuấn, thân thể cao lớn,tráng kiện rắn chắc đầu đội nón cỏ, hai quai nón màu đen phất phơ theogió, thân mặc thanh y, chân mang giày đỏ, dường như từ Giang Nam đếnđây.

Điều khiến Lý Phụng Kiệt chú ý là trên ngựa người này mangtheo hành lý đơn giản, bên trên yên ngựa có treo thanh bảo kiếm, baokiếm chạm vào dây cương đồng vang lên tiếng tinh tang hòa với thanh âmtiếng chuông nghe rất lạ tai.

Thấy vậy, Lý Phụng Kiệt nghĩ thầm:

"Đây chẳng phải bá tính đi dâng hương mà là kẻ giang hồ, nhưng hắn lên núi để tìm ai?".

Tuy Phụng Kiệt thắc mắc, nhưng không đuổi theo người đó, mà tiếp tục lên đường vào thôn gặp lúc Hồ Nhị Chính đang dùng cơm.

Hồ Nhị Chính ước khoảng hai mươi bảy tuổi, da đen bóng, mặt vuông ngực rắn chắc thịt cuồn cuộn cứng như thiết thạch, thân hình khôi vĩ đang ướtđầm mồ hôi, đôi tay to lớn đang cầm một ổ bánh há miệng cắn, vừa ăn vừanói:

- Tiểu ca, xin mời dùng thử bánh của mẫu thân tại hạ vừa nướng.

Lý Phụng Kiệt lắc đầu nói:

- Tại hạ không ăn để chờ về miếu hãy dùng luôn thể.

Hồ Nhị Chính cười nói:

- Thức ăn trong miếu tự sao ngon bằng nơi đây. Tiểu ca ăn đi, bên trong còn nữa mà.

Rồi Hồ Nhị Chính chỉ đống củi to nằm một góc. Bó củi này ước chừng một trăm năm mươi cân đã được Nhị Chính mang từ trên núi xuống, nếu chẳng phảicó đôi vai sắt như hắn khó ai có thể gánh xuống nổi.

Hồ Nhị Chính nói:

- Gánh củi này có thể đổi mấy quan tiền. Tại hạ sẽ mua mấy cân thịt cùng thức ăn về mời mẫu thân cùng tiểu ca ca dùng.

Lý Phụng Kiệt lắc đầu nói:

- Không cần mua thịt đâu, đệ vào ăn ít miếng bánh trước đã.

Phụng Kiệt cột ngựa xong vào nhà. Hóa ra mẫu thân của Hồ Nhị Chính là mộtngười tàn tật không thể đi lại mà ngồi trên giường. Trước giường đặt một lò đất, bà đang nướng bánh cho nhi tử.

Bánh này khô cứng, mặtbột bánh thô to. Phụng Kiệt nhìn thấy có hơi chau mày, nhưng vì đang đói bụng lại lười nhác ra ngoài mua thức ăn, nên cầm lấy bẻ nửa cái, vừa ăn vừa chuyện trò với Nhị Chính.

Hồ Nhị Chính than thở:

-Làm tiều phu thật không có ý nghĩa. Hiện giờ cây cối trong núi không của hòa thượng trong chùa, thì cũng thuộc quyền của phú hộ dưới chân núiNếu họ bắt gặp mình chặt củi không đánh cũng mắng. Ta muốn vào thành tìm việc làm, nhưng lo cho mẫu thân một thân ở nhà không ai phụng dưỡng.

Phụng Kiệt nói:

- Lão bá mẫu không thể cử động. Lúc nào cũng cần huynh chăm nom săn sóc,không thể bỏ vào thành, chỉ nên đốn củi mưu sinh. Nếu thiếu thốn ngânlượng, đệ sẽ cho huynh mượn.

Hồ Nhị Chính khoát tay nói:

- Lý tiểu ca đừng nên cho ta mượn tiền, vì ta cứ phải thấp thỏm lo âu không yên.

Lý Phụng Kiệt rất thích tính thành thực của Hồ Nhị Chính. Ăn hết nửa cái bánh lại uống thêm ngụm nước, cơn đói bụng đã hết.

Hồ Nhị Chính đang cho ngựa của Phụng Kiệt ăn cỏ.

Trời đã quá trưa, Phụng Kiệt nói với Nhị Chính:

- Chính ca, ta đi đây. Ngày mai gặp lại.

Hồ Nhị Chính đáp "vâng". Lý Phụng Kiệt đi ra khỏi cửa, men theo ven suối mà đi.

Vừa đi vừa nghe tiếng suối chảy róc rách như tiếng đàn cầm. Nơi đây đá núinhấp nhô, loạn thạch không đều chồng chất lên nhau như một trái núi nhỏ, cây cối xanh um, gió núi vi vu mát mẻ. Tiếng lá reo, tiếng suối chảykhiến Phụng Kiệt sinh cảm hứng định đề thơ.

Đang dừng bước ngẩngmặt nhìn mây trắng bay trên trời cao, cúi mặt thấy nước chảy trong dòngsuối, đột nhiên thấy gần đó có một dãy đá nhỏ vắt ngang dòng suối có thể đi qua sườn núi. Sơn lộ này vừa dốc, vừa khúc khủyu quanh co, dường như bên đó còn chứa đựng một thắng cảnh nào.

Đã như vậy Phụng Kiệt không muốn làm thơ nữa, lòng nghĩ:

"Nơi này đẹp quá!

Không biết sơn lộ này có lên núi được không? Ta đến núi này khá lâu mà lại chẳng biết con đường này".

Hắn bước qua tảng đá mà đi dần lên tiểu sơn lộ. Chẳng bao lâu, Phụng Kiệtnhìn thấy có mấy sợi cỏ bị đứt. Một lát có mấy chỗ đặt bàn cúng, biếtđường này nhất định có nhiều người qua lại.

Thế nên, Phụng Kiệttiếp tục lên cao. Phía trên tùng bách che khuất cả mặt trời, gió thổimơn man vào mặt, lại thêm chim rừng bay lượn ríu rít trước mắt, tiếnghót vui tai.

Phụng Kiệt chợt nghĩ:

"Hà tất phải chen chânvào trần thế tranh danh đoạt lợi, hà tất gì tìm Kỷ Quảng Kiệt mà báothù, cùng khổ tranh đấu với bọn Côn Lôn phái, chi bằng ở lại núi này làm một ẩn sĩ, hưởng thụ cảnh thần tiên của núi non, trời đất, như vậy tốthơn không?".

Vừa đi vừa nghĩ, rồi chuyển qua đường núi vừa dốc,vừa hẹp, sơn điểu càng nhiều. Chợt trong tiếng chim ríu ra ríu rít,Phụng Kiệt nghe dường như có thanh âm khóc lóc của nữ nhân. Phụng Kiệtbất giác ngạc nhiên chăm chú nghe xem tiếng khóc phát ra từ hướng nào.

Thanh âm tiếng khóc càng lúc càng gần, tình cảnh có vẻ càng lúc càng khẩncấp. Phụng Kiệt đang tìm đường thì thấy trên núi chạy xuống một nữ tửquần áo xốc xếch, đầu tóc rũ rượi, kêu lớn:

- Cứu mạng! Phía sau có người xấu.

Quả nhiên, phía sau có một hán tử mặt vàng, khoảng tứ tuần, thân mặc áo lụa.

Người này tuy nhìn thấy Phụng Kiệt nhưng làm như chẳng gặp, vẫn cứ đuổi theo nữ lang đó mắng:

- Tặc nhân này, đại gia xem trọng mi, mi lại chống cự. Đại gia nhất thờicao hứng định đài cử mi cho mi có chốn nương thân, cho mi có áo mới,tiền xài.

Hắn đuổi xuống muốn ôm chầm lấy thiếu nữ này. Nàng vội chạy nhanh xuống nhưng vấp phải đá kêu lên một tiếng đau đớn, té ngã.

Nhìn thấy cảnh này, Lý Phụng Kiệt nổi giận đùng đùng, nhảy đến chụp lấy hán tử, phẫn nộ nói:

- Tên dâm tặc, mi muốn làm gì, định bức hiếp một nữ nhân yếu nhược à?

Hán tử nói:

- Đó là nương tử nhà ta, ngươi lo không được.

Lời chưa dứt đã bị một quyền của Phụng Kiệt đánh vào mặt. Chỉ nghe "hự" một tiếng gã đã bị nằm dài dưới đất hôn mê.

Phụng Kiệt vội chạy qua cứu nữ lang, dìu nàng ngồi dậy.

Thiếu nữ này niên kỷ chừng mười bảy, mười tám dung mạo cực kỳ mỹ lệ, PhụngKiệt bất giác cảm thấy mình hơi mạo phạm, thất lễ vội buông tay, rồinói:

- Cô nương đừng sợ, thôi đi đi.

Trên trán nữ nhân đãchảy máu chan hòa cùng nước mắt, trông nàng thảm hại, thiểu não, mộttiếng cũng không nói còn định quay trở lên núi.

Lý Phụng Kiệt vội ngăn nàng lại hỏi:

- Sao lại trở lên núi? Nhà cô nương ở trên đó à?

Thiếu nữ lắc đầu khóc nói:

- Tiểu nữ còn bỏ lại một cái giỏ.

Phụng Kiệt nói:

- Được, ta đưa nàng đi lấy.

Vừa nói đến đây, hán tử mặt vàng đã tỉnh dậy. Hắn lăn người đứng lên, rútmột đoản đao trong người ném mạnh vào Phụng Kiệt như một mũi phi tiêu.

Thiếu nữ đó sợ quá, la lên một tiếng, nhưng Phụng Kiệt đã chụp lấy được đoản đao cầm trong tay, cười nhạt nói:

- Còn phi đao nữa không?

Hán tử đó nhìn Phụng Kiệt với ánh mắt hung tàn, rồi rút ra mấy phi đaotrong thắt lưng vung tay ném liên tiếp về phía Phụng Kiệt.

Phụng Kiệt vẫn thản nhiên dùng tay chụp bắt lấy hết đoản đao. Hán tử đó kinh hoàng nhìn Phụng Kiệt, tức giận lớn tiếng mắng:

- Đồ thất phu!

Phụng Kiệt vung nhẹ tay, phi đao bay ngược cắm vào vai hán tử. Gã muốn cũngla không nổi. Máu theo vết thương chảy xuống dầm dề. Hán tử cố nén đaurút đao ra, quay người chạy, nhưng chạy chưa được mấy bước bị một tảngđá từ trên bay xuống "bụp" một tiếng, trúng vào mặt, gã "hự" lên mộttiếng té nhào xuống đất, bất tỉnh.

Phụng Kiệt lấy làm kinh ngạc,ngước mắt nhìn thấy phía trên có tiếng người cười ha hả, rồi xuất hiệnmột thiếu niên cưỡi ngựa từ trên núi đi xuống. Thiếu niên này chính làngười mà Lý Phụng Kiệt đã thấy sáng nay ở ven đường.

Chỉ thấy hắn ôm quyền mỉm cười hỏi Phụng Kiệt:

- Bằng hữu, đường này có thể xuống núi không? Có thể đi ngựa được không?

Phụng Kiệt quan sát người này giây lát, rồi vòng tay trả lời:

- Đường này dốc lắm, khó thể đi ngựa. Bằng hữu, tại hạ thấy huynh từ sườn núi phía đông đi lên, tại sao lại không từ đó đi xuống? Đường ở đó vừarộng vừa bằng phẳng mà.

Thiếu niên nói:

- Tại hạ nghe nói đường này đi xuống Nhạc Tiền thôn, trong thôn có hạ viện của Bạch Tùng tự. Tại hạ muốn đến đó tìm một người.

Phụng Kiệt ngạc nhiên, lòng nghĩ thầm:

"Bạch Tùng tự làm gì có hạ viện. Nhạc Tiền thôn ở phía bắc cách nơi này rất xa, ắt hẳn người này đã bị lừa rồi".

Hắn bèn hỏi:

- Bằng hữu tìm ai vậy?

Người đó trả lời:

- Tại hạ muốn tìm Kim Liễn Thái Vô thần sư Bạch Tùng tự Phụng Kiệt nói:

- Hay lắm! Thái Vô thần sư chính là bằng hữu của tại hạ. Ta có thể cùnghuynh đi gặp lão, nhưng trước tiên huynh chờ tại hạ làm xong việc nàyđã.

Thiếu niên mỉm cười, gật đầu nói:

- Được, được!

Phụng Kiệt đưa nữ lang đó lên tìm lại giỏ trúc rách của nàng. Trong giỏ trúccó chứa gần đầy rau rừng và mấy nhánh cây khô. Phụng Kiệt hiểu hoàn cảnh thiếu nữ này chắc rất nghèo khổ, cảm thấy đáng thương, bèn nói:

- Sau này, cô nương đừng một mình lên núi nữa. Muốn đến đây hãy đi đại lộ có đông người qua lại, nếu đi đường nhỏ gặp phải kẻ xấu thực không biết phải làm sao.

Nữ lang gật đầu có vẻ vâng lời.

Thiếu niên hỏi:

- Cô nương ở đâu?

Rồi nói với Phụng Kiệt:

- Huynh đưa nàng về đi.

Phụng Kiệt nhìn nữ lang hỏi:

- Bây giờ cô nương hãy nói gia trang để tại hạ có thể đưa về.

Nữ lang chỉ xuống núi:

- Nhà tiểu nữ ở Minh Cầm Giang.

Lý Phụng Kiệt nói:

- Tại hạ vừa từ dưới đó lên đây, giờ tại hạ sẽ đưa cô nương trở về.

Rồi nói với thiếu niên:

- Huynh đài xin chờ tại hạ giây lát sẽ về.

Thiếu niên khoát tay:

- Huynh đài cứ đi đi, tại hạ sẽ ở đây chờ đợi.

Lý Phụng Kiệt xách giỏ trúc thay nữ lang, cùng nàng đi xuống núi.

Chân nữ lang nhỏ nhắn, lại thêm vừa té khi nãy bị thương, nên trên đường gập ghềnh thế này, đi lại thật khó khăn.

Phụng Kiệt thấy tình cảnh nàng như vậy, nghĩ không thể tỵ hiềm nam nữ nên vội dìu nàng đi xuống, vất vả lắm mới xuống đến Minh Cầm Giang.

Phụng Kiệt giao giỏ trúc cho thiếu nữ lại dặn dò lần nữa:

- Cô nương ngàn lần không được nên núi nữa đó.

Dứt lời, Phụng Kiệt vội vàng đi lên núi thì gặp hảo hán mặt vàng thọ thương vừa tỉnh dậy, lại đang bị thiếu niên tra hỏi, Phụng Kiệt bước tới tátgã hai cái:

- Ta xem mi không còn trẻ nữa mà ở núi này lăng nhụcmột thiếu nữ cô thế yếu nhược, mi thật chẳng khác loài cầm thú. Đi mau,tìm đường khác mà đi, không được hoành hành nơi đây.

Gã đó chẳng dám nói một tiếng, cúp đầu như chó bị thương, cắm cúi đi lên núi.

Phụng Kiệt ôm quyền nói với thiếu niên:

- Huynh đài quý tính, đại danh là gì?

Thiếu niên vòng tay đáp:

- Tại hạ là Giang Tiểu Nhạn.

Phụng Kiệt ngẩn người dường như đã nghe ai nói đến tên này, cười nói:

- Cửu ngưỡng, cửu ngưỡng. Giang huynh từ đâu đến đây?

Tiểu Nhạn trả lời:

- Tại hạ từ Hứa Châu đến đây để gặp Thái Vô thần sư. Tại hạ đến Bạch Tùng tự hỏi thăm thì nghe các hòa thượng nói đã xuống hạ viện ở Nhạc Tiềnthôn, lại chỉ đường này bảo tại hạ xuống núi mà tìm. Vừa kịp đến đây gặp huynh đài ra tay trừng trị hung đồ, khiến lòng thầm bái phục. Xin chobiết danh tính là chi?

Phụng Kiệt báo danh tính, Tiểu Nhạn càng thêm bội phục nói:

- Thì ra huynh đài là Lý Phụng Kiệt vốn thực cao đồ của Thục Trung Long tiền bối.

Ở Giang Nam, tại hạ từng được nghe thiên hạ truyền tụng hành vi trượng nghĩa khinh tài của Lý huynh những mong gặp gỡ.

Lý Phụng Kiệt mỉm cười, Tiểu Nhạn lại tiếp:

- Lý huynh quen biết với Thái Vô thần sư xin giúp đưa tại hạ đến gặp lão. Vì bằng hữu của tại hạ ở Hứa Châu bị người đả thương, tuy không trầmtrọng nhưng trúng nhằm gân cốt, nghe nói Thái Vô thần sư có Kim cươngcanh sinh tán là thần dược. Tại hạ muốn đến diện kiến để thỉnh cầu lãora tay giúp bằng hữu này.

Phụng Kiệt khẳng khái nói:

-Nhất định là được rồi, Kim cương canh sinh tán quả là thần dược. Thángtrước tại hạ bị thương khá nặng, nhờ thần dược này mà chóng hồi phụcTuy nhiên lão thần sư đối với dược vật này thật trân quý, không dễ đemcho người khác, dù muốn tung tiền ra mua cũng không được. Thế nhưng, tại hạ sẽ nói giúp huynh, hy vọng lão sẽ cho một ít.

Tiểu Nhạn nói:

- Bằng hữu của tại hạ là người giang hồ, lão thần sư trước kia cũng làngười giang hồ, hiện giờ làm hòa thượng cũng phải từ bi bác ái, quảngđại khoan hòa, chứ sao lại tính toán quá vậy?

Vừa nói, Tiểu Nhạn vừa dẫn ngựa theo Phụng Kiệt đi dần lên núi.

Hai người vừa đi vừa chuyện trò. Phụng Kiệt hỏi lai lịch Tiểu Nhạn, nhưng chàng không muốn nói rõ nên cười nói:

- Tại hạ cô thân độc mã, một mình đi lại giang hồ, võ nghệ cũng chẳngbiết bao nhiêu, nhưng phiêu bạt khắp nơi cũng chưa từng bị người khuấtphục. Tại hạ từ Giang Nam đến Hứa Châu gặp bằng hữu thọ thương, nên tìmđến chốn này xin thần dược đem về trị thương. Sau đó, tại hạ định đếnQuang Trung gặp vài người quen.

Lý Phụng Kiệt ngạc nhiên hỏi lại:

- Quang Trung? Không biết bằng hữu của Giang huynh ở Quang Trung là ai vậy?

Tiểu Nhạn thờ ơ nói:

- Chỉ là mấy tiêu đầu thôi.

Phụng Kiệt nói:

- Tiêu đầu ở Quang Trung đa phần đều là môn đồ Côn Lôn phái. Giang huynh lẽ nào là bằng hữu của chúng.

Tiểu Nhạn gật đầu nói:

- Biết sơ, nhưng không phải thâm giao.

Phụng Kiệt vừa nghe lập tức thay đổi thái độ, nghĩ:

"Tiểu Nhạn cũng là đồng đảng của Côn Lôn phái".

Nên tỏ ý không vui, cười nhạt nói:

- Côn Lôn phái toàn là bọn vô năng, âm hiểm thâm độc, chỉ dựa vào ngườiđông mà hoành hành. Giờ đây lại có đích tôn của Long Môn Hiệp là KỷQuảng Kiệt, người này kiếm pháp vô song, hắn đến Quang Trung giúp bọnCôn Lôn phái. Bọn Chí Cường, Chí Trung xem hắn như thiên thần.

Tiểu Nhạn dường như rất kinh ngạc, hỏi:

- Đích tôn của Long Môn Hiệp?

Phụng Kiệt cười nhạt nói:

- Người này thực là đích tôn của Long Môn Hiệp. Kiếm pháp tinh diệu khônlường tương đương với ta. Là một kiếm khách trẻ tuổi lại trợ uy cho CônLôn phái, thật đáng chê cười.

Tiểu Nhạn lại hỏi:

- Huynh từng giao thủ với hắn, thấy người này võ nghệ ra sao?

Phụng Kiệt do dự một lát mới nói:

- Đấu qua mấy hiệp, tại hạ bại dưới tay hắn.

Thoáng chốc, cả hai gần đến đỉnh núi cao nhất của Tung Sơn, ngựa của Tiểu Nhạn hết cách đi lên. Lý Phụng Kiệt nói:

- Ngựa này cột ở đây không ai bắt đâu.

Tiểu Nhạn cột xong ngựa, lấy hành lý và bảo kiếm giắt vào mình cùng theoPhụng Kiệt bám vào vách núi đá leo lên như hai con vượn.

Hôm nay, Tiểu Nhạn đến Bạch Tùng tự mây khói mang mang này lòng có chút bâng khuâng.

Phụng Kiệt mời Tiểu Nhạn vào phòng mình nghỉ ngơi. Phụng Kiệt bèn vào phòng phương trượng mà gặp Thái Vô thần sư.

Thái Vô thần sư đang niệm kinh, Phụng Kiệt nói:

- Có tên Giang Tiểu Nhạn đến đây xin thuốc.

Thái Vô thần sư sầm mặt:

- Tại sao lại đến nữa? Vừa rồi hắn đến đây một lần, ta đã cho người bảohắn đi đi. Kim cương canh sinh tán của ta vốn chỉ cho người lên xuốngnúi này, còn bọn giang hồ cho chúng trị lành thương, lại tìm đánh nhau,làm toàn việc ác.

Phụng Kiệt nói:

- Tại hạ nghĩ đại sư cho hắn một chút là được rồi. Tại hạ thấy người đó tuy là bọn Côn Lôn, nhưng hắn từ rất xa đến đây.

Thái Vô thần sư vừa nghe Tiểu Nhạn là người Côn Lôn phái càng lắc đầu từ chối:

- Người Côn Lôn phái ta càng không cho. Nói tóm lại, Kim cương canh sinhtán của ta không cho kẻ giang hồ. Còn thí chủ nếu không quen trước vớita, thì lần bị thương đó ta cũng chẳng thèm màng tới.

Phụng Kiệt nói:

- Nếu vậy, tại hạ bảo hắn đi là xong.

Thái Vô thần sư dặn:

- Thí chủ nói ta vân du bốn bể rồi, chưa rõ lúc nào về, thuốc cũng chẳng biết để đâu.

Phụng Kiệt nói:

- Hà tất phải nói như vậy, cứ bảo hắn là thuốc đã hết rồi.

Thái Vô thần sư gật đầu nói:

- Vốn thuốc của ta cũng không còn được bao nhiêu.

Lý Phụng Kiệt bước ra ngoài.

Tiểu Nhạn ngồi chờ ở phòng của Phụng Kiệt hồi lâu, lòng đang lo lắng, càngthêm sinh nghi. Chàng thấy bảo kiếm của Phụng Kiệt đang treo trên vách,cùng mấy bộ sách đặt trên bàn, thầm nghĩ:

"Người này văn võ toàn tài".

Lý Phụng Kiệt trở vào phòng nói:

- Giang huynh đến thật không đúng lúc, thần dược của Thái Vô thần sư đã hết rồi.

Tiểu Nhạn vừa nghe giật mình, hỏi:

- Thần dược đã dùng hết rồi sao?

- Nhưng mà ... có thể cầu đại sư cho tại hạ mượn toa thuốc được không?Giang Tiểu Nhạn này thề không để lưu truyền ra ngoài, chỉ quyết cầu cứuđược bằng hữu đang bị thương thôi.

Phụng Kiệt khuyên nhủ:

- Tại hạ khuyên Giang huynh nên đi đi. Bốn phương đều có danh y, mau đitìm người khác mà trị liệu, đừng để vết thương của bằng hữu thêm nghiêmtrọng. Thái Vô thuốc cũng từ người khác đem về mà thôi.

Tiểu Nhạn vừa nghe chớp mắt, khoát tay nói:

- Lý huynh, tại hạ đến đây không phải hỏi thuốc của huynh, vả chăng thuốc cũng không có trong tay huynh, mà huynh cũng chẳng phải người trongmiếu thì vô can với huynh rồi. Tại hạ đi tìm hòa thượng đây.

Dứtlời, chàng đứng dậy đẩy Phụng Kiệt rồi đi ra ngoài. Phụng Kiệt bị TiểuNhạn đẩy, cảm thấy nội lực chàng thật thâm hậu, bất giác kinh hãi.

Tiểu Nhạn chạy vào trong viện hét lớn:

- Thái Vô đừng trốn nữa. Hãy mau ra đây nói chuyện với ta. Hòa thượng kia cũng là người giang hồ, bằng hữu của ta cũng là người giang hồ, lẽ raphải cho thuốc mới đúng. Người đã làm hòa thượng, người xuất gia nóichuyện từ bi bác ái, chỉ mỗi chút thuốc cũng cất giấu thì sao trở thànhPhật Tổ?

Lý Phụng Kiệt đuổi theo ngăn Tiểu Nhạn lại, nói:

- Giang huynh, tại hạ đưa huynh đến đây, huynh đại náo như vậy thì ta còn gì thể diện?

Tiểu Nhạn nói:

- Lý huynh, xin thứ lỗi, đây không phải là việc của huynh đâu. Trước khigặp huynh tại hạ cũng đã đến đây một lần, nhưng họ lại gạt ta đi nơikhác. Hiện giờ, tại hạ không phải đến gây hấn mà chỉ muốn mời Thái Vôthần sư để nói chuyện. Thần sư mau ra đây!

Chàng dậm chân nói lớn, chợt thấy trong phòng phương trượng bước ra một hòa thượng, thân thể cao lớn, Tiểu Nhạn hỏi:

- Lão là Thái Vô chăng?

Thái Vô thần sư trợn mắt giận dữ nói:

- Tiểu tử, ngươi dám náo loạn như vậy sao? Thần dược ta có, nhưng không cho kẻ võ lâm.

Tiểu Nhạn nói với Phụng Kiệt:

- Ậy! Lão nói vậy mà huynh đài giúp lão gạt ta.

Chàng bước lên gần hai bước, nói với Thái Vô:

- Đừng nóng nảy! Giang Tiểu Nhạn ta hiện không muốn gây hấn với mọi người lão mắng người giang hồ chẳng phải là khách giang hồ ư?

Thần sư nói:

- Trước kia ta vào chốn giang hồ để hành hiệp trượng nghĩa, còn giờ đâybọn các ngươi chỉ là lũ người gian ác tà dâm. Cho bọn ngươi thuốc, trịthương xong, là các ngươi đi tạo ác.

Tiểu Nhạn dậm chân, nóng nảy hỏi:

- Tóm lại lão có cho hay không? Nếu không cho, ta sẽ không đi mà làm huyên náo cả vùng này lên.

Thái Vô thần sư cười nhạt, đột nhiên một quyền tống thẳng vào người Tiểu Nhạn.

Tiểu Nhạn đứng yên không thèm tránh né, chờ quyền của thần sư gần đến, chàng xòe tay nhanh như điện chộp lấy cổ tay của Đại sư nói:

- Được rồi! Kim Liễn Bồ Tát muốn đấu với ta.

Chàng nắm cổ tay Thái Vô quật qua một bên, thân của đại sư như một chiếc tháp lật nghiêng sang bên rồi bị đẩy lùi mấy bước.

Phụng Kiệt kinh hoàng vội kéo thần sư lại nói:

- Sư phụ! Đừng vội. Tại hạ xem người này tất có lai lịch, nếu bại dưới tay hắn thì thật không đáng.

Thái Vô thần sư nói:

- Ta dù bại dưới tay hắn cũng nhất quyết không cho hắn thuốc đâu.

Dứt lời, lão cởi trường bào liệng ra, như mũi tên vọt tới đấm một quyền vào Tiểu Nhạn.

Tiểu Nhạn cũng phi thân lên, hai nắm tay như hai quả thiết chùy đỡ lấy quyền của Thái Vô.

Thái Vô thần sư trước kia vốn là cánh tay đắc lực của Thục Trung Long, làhảo hán đứng đầu ở tỉnh Hà Nam. Thân thể lão rắn chắc, sức lực dũngmãnh. Với người khác chỉ chịu nổi một, hai quyền đã bị đánh ngã, nhưngTiểu Nhạn chẳng chút khẩn trương, thân thể nhẹ nhàng linh hoạt né trái,né phải như chim ưng bay lượn.

Thái Vô thần sư thì trầm ổn, vững chắc quyền cước. Qua lại mười mấy chiêu, Phụng Kiệt khoát tay nói:

- Đừng đánh nữa!

Tiểu Nhạn chỉ muốn xin thuốc, không muốn đánh, nên vội thu quyền, đang định nói lời hòa nhã.

Đại sư thừa cơ một quyền đấm tới. Tiểu Nhạn không còn nhịn được, tay phảigạt ngang đỡ quyền của thần sư, tay trái cung quyền đấm mạnh vào ngựccủa Thái Vô.

"Hự" một tiếng, thân lão hòa thượng như một tòa tháp loạng choạng thoái lui, may có Phụng Kiệt đỡ lại, nếu không đã ngã dàixuống đất.

Tiểu Nhạn nhảy đến không đánh tiếp, mà xòe tay hỏi:

- Muốn đánh nữa không hay là giao thuốc cho ta?

Thái Vô thần sư gượng đứng thẳng người, mặt càng vàng thêm, nhìn Tiểu Nhạn từ đầu đến chân, rồi hỏi:

- Võ nghệ mi là ai truyền cho?

Tiểu Nhạn đáp:

- Ta học võ với sư phụ mười năm nhưng đến giờ vẫn chưa biết danh tính của sư phụ là gì.

Phụng Kiệt thấy Tiểu Nhạn quyền cước tinh diệu mà tông tích có vẻ thần mật, hắn bèn khuyên giải:

- Đừng đánh nữa! Võ nghệ của Giang huynh tuyệt không phải học ở Côn Lôn phái mà đây là nội gia công phu.

Tiểu Nhạn phẫn hận nói:

- Côn Lôn phái bọn chúng đều là cừu nhân của ta. Ta khổ luyện mười năm là vì muốn tiêu diệt hết bọn chúng.

Nói ra câu này, chàng hậm hực thở mạnh, rồi hòa nhã nói với thần sư:

- Đại sư, chúng ta vô thù vô oán, hôm nay nếu người nghĩ chút tình lý cho chút thuốc thì tại hạ thực cảm kích. Giang Tiểu Nhạn không phải là kẻkhông biết lý lẽ.

Hiện giờ đừng nói chuyện khác, đại sư mau cho ta chút thuốc đi.

Thái Vô thần sư sầm mặt, suy nghĩ hồi lâu mới gật đầu nói:

- Được rồi, bần tăng sẽ cho ngươi thuốc.

Nói rồi, quay người đi vào phòng phương trượng. Thoáng mắt, cầm ra bốn nămbao dược liệu, đồng thời ném xuống đất, chau mày, hai mắt lộ ra tia lửaphẫn hận, lão nói:

- Đây là tất cả thuốc của ta cho mi. Tùy mi muốn cho ai thì cho ...

Thái Vô thần sư đưa một tờ giấy trong tay trái ra, nói:

- Đây là toa thuốc. Nếu không có toa thuốc ta cũng không thể pha thuốc,giờ ta hủy nó đi coi như không còn dính đến chuyện bào chế thuốc cho bọn võ lâm nữa.

Dứt lời vò nát tấm giấy toa thuốc đó, nói:

- Mang hết thuốc đi mau. Xem như bản lãnh mi cao cường rồi.

Tiểu Nhạn biến sắc, nhưng nén giật cười nhạt nói:

- Ta không cần nhiều thuốc như vậy chỉ cần một bao là đủ rồi. Còn lão, lão có thể đổ trong gió núi cũng được.

Nói rồi, chàng cầm lấy một bao thuốc đi vào phòng Phụng Kiệt lấy hành lý khỏi Bạch Tùng tự đi xuống chân núi.

Lúc này, Thái Vô thần sư vô cùng ảo não, trở vào trong phòng phương trượng thở dài không dứt.

Phụng Kiệt đem mấy bao thuốc còn lại vào phòng, rồi lấy bảo kiếm chạy xuống núi.

Đến giữa núi, đã nhìn thấy Tiểu Nhạn leo lên hắc mã vung roi phi ngựa chạyxuống. Phụng Kiệt muốn gọi đuổi theo cũng không kịp vội chạy nhanh đếnmấy vách đá, vượt qua con suối, chạy về Minh Cầm Giang, đến nhà Hồ NhịChính lấy ngựa.

Lúc này, Hồ Nhị Chính đi bán củi chưa về nên Phụng Kiệt tháo ngựa mình ra chạy về phía đông.

Chưa ra khỏi thôn, chợt thấy phía sau một hàng rào xiêu vẹo, có một nữ langđứng đó, thì ra chính là thiếu nữ mà mình đã cứu trong núi. Vết máu trên mặt đã rửa sạch trông nàng thật vô cùng diễm lệ. Nàng vẫn mặc chiếc áorách dựa vào hàng rào xiêu vẹo đó nhìn Phụng Kiệt ra vẻ cảm tạ.

Phụng Kiệt không kịp nói gì thúc ngựa chạy nhanh đi trên đại đạo phóng vềhướng đông, vượt qua Đăng Phong huyện lại đuổi theo hơn hai mươi dặm mới đuổi theo kịp con hắc mã.

Phụng Kiệt vẫy tay gọi lớn:

- Tiểu Nhạn huynh, chờ một chút.

Tiểu Nhạn phía trước lập tức thu cương ngựa ngoảnh lại nhìn.

Phụng Kiệt phi ngựa đến cách hai, ba trượng ôm quyền nói:

- Giang huynh, để đuổi theo huynh là muốn xin lỗi huynh. Vừa rồi trongBách Tùng tự đệ không phải giúp Thái Vô mà vì dược vật trong tay khôngcó, lão nói không cho đệ cũng hết cách. Vả lại lúc đó nghi ngờ huynh làngười của Côn Lôn phái nên có chút bực tức nhưng giờ thấy võ nghệ củahuynh, tiểu đệ mới rõ huynh chẳng phải người của bọn chúng, nhất định là được chân truyền của một danh sư.

Lúc ngựa của Phụng Kiệt sắp gần ngựa của Tiểu Nhạn, thấy chàng vòng tay cười nói:

- Lý huynh quá khách sáo rồi! Huynh đài là hiệp khách nổi tiếng ở GiangNam tại hạ ngưỡng vọng từ lâu. Hôm nay gặp nhau trên núi lại chứng kiếnvõ nghệ cao cường của huynh, tại hạ vốn muốn được cùng huynh hàn huyêntâm sự, chỉ vì bằng hữu ở Hứa Châu đang trông chờ thuốc trị nên phải vội vã lên đường. Nhất định sẽ có ngày tương kiến, không chừng trong mườingày nữa sẽ trở lại, khi đó mong rằng chúng ta sẽ kết thâm giao. Lýhuynh không biết Giang Tiểu Nhạn này rất thích được kết giao bằng hữu.

Phụng Kiệt nghe vậy vô cùng hoan hỉ nói:

- Nếu lần sau huynh đến đừng lên núi để tránh Thái Vô thần sư nổi giậnGiang huynh hãy đến phía nam của Minh Cầm Giang, trong thôn có một tiềuphu tên Hồ Nhị Chính nhờ người này đến kiếm đệ.

Tiểu Nhạn vòng tay nói:

- Được! Xin tạm biệt.

Dứt lời, chàng phi ngựa về cuối chân trời bụi tung mờ, vó ngựa thẳng đường chạy đến Hứa Châu.

Đối với phong thái, cử chỉ, võ nghệ của Lý Phụng Kiệt, Tiểu Nhạn thầm tándương. Nhớ đến Kim Liễn Bồ Tát Thái Vô thần sư danh chấn nam bắc tàinghệ lại kém như vậy chàng bất giác cười thầm.

° ° °

Lại nói Giang Tiểu Nhạn, mười năm trước tại Thái Lãnh Sơn gặp được lão tiên sinh. Người thấy chàng niên thiếu thành khẩn lạihiểu được tình cảnh khốn đốn của Tiểu Nhạn nên đi theo chàng cố ý lộtuyệt kỹ. Sau đó, trong Thái Lãnh, Tiểu Nhạn bị Chí Cường, Chí Lâm ...vây đánh, lão sinh lòng bất bình, tức giận chế phục bọn Chí Cường mà cứu chàng.

Tiểu Nhạn đang quyết tâm tầm sư học nghệ, thấy lão tiênsinh tài ba xuất chúng nên đâu dễ bỏ qua, chàng hết lòng van cầu khẩnthiết xin người nhận làm đồ đệ.

Dường như giữa lão tiên sinh và Tiểu Nhạn có duyên sư đồ nên lão mỉm cười gật đầu nói:

- Vậy thì tiểu tử hãy theo lão.

Thế là, lão tiên sinh đưa Tiểu Nhạn rời khỏi Thái Lãnh qua Trường An vượtHàm Cốc đi về Trường Giang. Qua Trường Giang đến Trì Châu Cửu Hoa Sơn.

Lão tiên sinh có một túp lều tranh trong chốn thâm sơn trên đỉnh núi, lạicó mẩu đất núi trồng trà. Lão có một gia nhân vừa câm vừa điếc lo lắngtrong ngoài. Lão tiên sinh sống cô thân, người giúp việc không nói được, người lại chẳng chịu xưng danh nên trước sau Tiểu Nhạn cũng không biếtdanh hiệu của sư phụ mình là gì.

Chàng biết lão tiên sinh là kỳnhân tuyệt thế đời này, không chỉ vượt qua Thục Trung Long và Long MônHiệp mà còn hơn cả thần tiên nữa. Nếu đem Bào Chấn Phi so với Lão tiênsinh giống như đem một hòn đá nhỏ nhoi đặt bên cạnh tòa núi Thái Lãnhsừng sững.

Lão tiên sinh đối đáp với Giang Tiểu Nhạn rất thântình thương yêu, nhưng một năm dài lão không chỉ dạy chút võ nghệ mà chỉ bảo chàng ngày ngày đốn củi, gánh nước, hái trà còn không việc gì thìbảo chàng vận chuyển đá núi gom góp lại thành đống. Ngày qua ngày, suốtmột năm đống đá núi đã tích lũy thành một tòa tiểu sơn nho nhỏ. Thế rồi, người lại bảo đống đá này quá chiếm chỗ nên hẹn chàng phải di chuyển đi nơi khác trong vòng mười ngày.

Đá núi tích lũy trong một năm giờ chỉ chuyển dời đi trong mười ngày, thật không phải chuyện dễ! Nhưng giờ đây Tiểu Nhạn đã luyện được đôi tay rắn chắc như thép, tay ôm tảng đáhơn trăm cân chẳng hề gì. Lại nữa, ngày đêm gắng công thu dọn nên chỉtám ngày chàng đã hoàn thành việc sư phụ giao phó dẹp sạch tòa tiểu sơn.

Lão tiên sinh lấy làm hoan hỉ mới truyền thụ khinh công, bắt chàng nhảy lên nhảy xuống trên đỉnh núi. Lúc trời nóng bức thì dạy chàng học chữ.

Trải qua một năm nữa, lão tiên sinh mới dạy chàng mấy bộ quyền pháp.

Đến năm thứ ba, lão tiên sinh rời khỏi núi mà đi. Trong một năm này, TiểuNhạn hết lòng tập luyện quyền pháp. Chiêu số của bộ quyền này khôngnhiều nhưng cực kỳ ảo diệu phải cố tâm khổ luyện. Qua hai tháng, TiểuNhạn nhận ra quyền pháp này biến hóa khôn lường.

Nếu đem quyền pháp này giao thủ cùng quyền pháp của Côn Lôn phái mà trước kia Mã Chí Hiền đã dạy thì nó hóa giải thật dễ dàng.

Ngày đêm, Tiểu Nhạn càng cố công rèn luyện, nghiên cứu quyền pháp này tinh diệu hơn.

Một năm sau, lão tiên sinh trở về mang cho chàng một thanh bảo kiếm rấtnặng và mấy cuốn sách. Trên sách đều có ghi chép bí quyết rèn luyện kiếm pháp.

Lão tiên sinh bảo Tiểu Nhạn ban ngày phải học thuộc mấy bộ sách, còn ban đêm thì luyện kiếm dưới ánh trăng sao, gió núi.

Chỉ một tháng, Tiểu Nhạn đã thuộc làu mấy bộ sách này. Lão tiên sinh lại thu dọn sách mà đi.

Tiểu Nhạn dựa vào kiếm quyết mà mình ghi nhớ đêm ngày ôn luyện.

Lão tiên sinh chợt đến chợt đi. Khi đến thì chỉ điểm những khiếm khuyết, sai sót để Tiểu Nhạn sửa chữa.

Khi trời nóng nực thì đến khe sâu bơi lội.

Cứ như vậy, đến năm thứ bảy, kiếm pháp cùng quyền pháp đã tinh thục. Chàng tự tin tài nghệ của mình đã tiến triển cao siêu hơn trước rất nhiều vàhơn cả Trung Hiệp, Bào Côn Lôn.

Đến năm thứ tám, thứ chín, lãotiên sinh không còn ra ngoài du ngoạn mà đích thân truyền thụ khí côngvà phép điểm huyệt, cùng những tuyệt kỹ thất truyền trên giang hồ, vềđêm lại bảo Tiểu Nhạn chuyên tâm đọc sách.

Đến mùa thu năm thứ mười, lão tiên sinh mới gọi Tiểu Nhạn hỏi:

- Hài tử, con thấy võ nghệ của mình ra sao rồi?

Tiểu Nhạn vì nóng lòng hạ sơn báo thù nên nói:

- Những gì sư phụ dạy đồ đệ đã học hết rồi.

Lão tiên sinh nói:

- Võ nghệ của mi chỉ mới học được nửa phần của ta. Tên câm điếc kia đã học được sáu phần.

Tiểu Nhạn vừa nghe đổ mồ hôi lạnh, lòng nghĩ:

"Người câm điếc này, mười năm nay trừ việc nấu cơm, hái trà ra thì có luyệntập gì. Xem dáng vẻ hắn thì hòn đá nhỏ cũng không lay chuyển được vậy mà võ nghệ cao hơn ta sao?".

Lão tiên sinh nói:

- Hắn là sưca của tiểu đồ đó. Hài tử phải theo hắn học tập. Xem hắn yếu ớt như vậyvì nội công ngoại gia không để lộ ra ngoài nhưng đồ đệ thì không giốngTiểu đồ vì lúc nhỏ gặp nhiều gian khổ giờ muốn đi báo phụ thù, ta khôngthể ngăn cản con nhưng phải nhớ chỉ trừ kẻ sát phụ ra, bất luận là aicũng không được sát hại. Cùng người tỷ võ thì được nhưng không được tựđấu. Phải phò yếu, trợ nhược thương kẻ cô thế. Võ nghệ là để giúp ngườichứ không phải để tự tư, tự lợi mà tạo việc ác. Thôi ta cũng chẳng nóinhiều, đồ đệ hãy hạ sơn đi.

Tiểu Nhạn chợt thấy lòng bồi hồi, lưu luyến không nỡ rời xa lão sư phụ đáng kính nên chàng quỳ xuống nói:

- Sư phụ, đồ đệ sẽ không xuống núi, mà muốn học thêm mấy thành võ nghệ của sư phụ nữa.

Lão tiên sinh cười nói:

- Nếu đồ đệ ở lại học thêm mấy thành võ nghệ nữa khó ai có thể chế phụcđược con, nhưng hiện tại tài nghệ của đồ đệ cũng áp chế cả Thục TrungLong, Long Môn Hiệp, Bào Chấn Phi ... họ giờ như đứa trẻ trong tay con,những người còn lại chỉ như con sâu cái kiến thôi, đồ đệ không biết sao? Thôi con hãy đi đi.

Tiểu Nhạn khấu đầu làm lễ bái kiến sư phụ rồi lên ngựa xuống núi.

Mới đi lưng chừng núi chợt nghe tiếng "a ... a ...". sau lưng. Tiểu Nhạnngoảnh đầu nhìn xem thì ra là Á Tử sư huynh. Hắn vội dừng bước, quayngười lại ôm quyền.

Á Tử dùng hai ngón tay chỉ vào huyệt điểmđiểm rồi khoát khoát tay. Tiểu Nhạn hiểu lão sư huynh muốn bảo chàng khi hạ sơn không được tùy tiện sử dụng điểm huyệt.

Á Tử lại rút bảokiếm trong hành lý Tiểu Nhạn ra, vung tay múa kiếm. Hắn huy động thanhkiếm như rồng bay, phượng múa. Những thế này Tiểu Nhạn chưa học qua lãotiên sinh. Thế là, chàng nhận kiếm học qua một lượt.

Á Tử thấy chàng học được rồi bèn cười. Hai người chia tay nhau.

Tiểu Nhạn đi theo đại lộ. Chàng vốn sẵn có hắc mã lấy được từ lúc ở Xuyêntỉnh nhưng mấy năm trước nó đã chết rồi. Hiện những ngân lượng mà TiểuNhạn thắng được lúc mới đến tiêu điếm của Tiểu Đức Xuân chưa dùng đếnnên chàng quyết định khi qua sông sẽ tìm mua một con tuấn mã.

Lúc này trời đang xuân. Khắp nơi, ruộng nước của Giang Nam đều có nhiều thiếu nữ đang gieo trồng.

Nhìn họ, Tiểu Nhạn chợt nhớ đến Bảo A Loan, khi còn bé hai người từng chungsống một mái nhà. Nàng bây giờ cũng đã hơn hai mươi, có lẽ đã thành giathất, chuyện hôn ước thủa ấu thơ chắc đã quên mất rồi. Chàng lại khôngbiết mẫu thân và bào đệ nay sống ra sao, vì thế chàng chân bước đi màluôn miệng thở dài.

Tuy tuổi thơ truân chuyên nhưng chàng cũng đã học xong võ nghệ xuất chúng, chữ nghĩa cũng đã làu thông, không phải là một tên Tam Đầu Hổ Giang Tiểu Nhạn lưu lạc mười năm trước kia. Nghĩ đến đây lòng lại cảm thấy phơi phới, tinh thần sảng khoái, mau chân cấtbước.

Vừa qua sông chàng đã vội mua ngay một con hắc mã rồi hành lý, ngân lượng bảo kiếm đều treo trên lưng ngựa phi dồn về phía bắc.

Trước tiên, đến Tương Dương giao đấu với Hoa Châu Long Nhị rồi đến Tín Dươngchâu, đấu với Trại Hoàng Trung Lưu Khuông đồng thời ở Tín Dương, chàngviết một phong thư tìm một khách thương bán thuốc nhờ giao cho huynh đệhọ Long rồi lên Thương Sát tỉ thí với Lý Bá Hùng đến Dịch Thủy giao thủvới Lưu Thanh Khổng nhưng tất cả chỉ là tỷ võ kết giao. Sau khi đánhnhau chàng lại cùng họ kết bằng hữu.

Tiểu Nhạn cũng đã nghe danhtiếng của Lý Phụng Kiệt và Kỷ Quảng Kiệt. Chàng đang định đi về phía tây báo thù Côn Lôn phái. Nào ngờ, lại nghe có một tiêu đầu đến Dịch ThủyLưu Thanh Khổng ra mời chàng. Thì ra đó là người bạn cũ mười năm trướcĐoản Đao Dương Tiên Thái.

Người này vốn ở Hồ Nam, năm năm trướcrời Xuyên tỉnh trở về cố hương mở tiêu điếm, chỉ vì cạnh tranh với đồngnghiệp nên thọ trọng thương. Nghe người ta nhắc tới Giang Tiểu Nhạn mớiphái người rước chàng muốn được gặp mặt.

Tiểu Nhạn chợt nhớ đếnhảo bằng hữu mà mười năm trước đã từng cùng chàng du ngoạn ở hẻm mỹnhân. Cho nên, chàng vội đến Hứa Châu vào khách điếm nơi ở của DươngTiên Thái.

Tiên Thái nằm trên giường bệnh nhưng cố nén đau tròchuyện cùng chàng nhắc đến chuyện mười năm trước và kể những chuyện xảyra mười năm sau, cuối cùng mới nhắc tới thương thế của mình. Nói là chỉcần có Kim cương canh sinh tán của Kim Liễn Bồ Tát Thái Vô thần sư ởTung Sơn nhưng không ai dám đi.

Tiểu Nhạn không nỡ nhìn bằng hữu phải chịu đau đớn khổ sở vì vết thương nên đã quyết định cưỡi ngựa lên Tung Sơn tìm thuốc.

Cũng chẳng ngờ chàng đã đánh bại Thái Vô thần sư và may mắn kết giao được với Lý Phụng Kiệt.

Trời càng lúc càng nóng bức. Tiểu Nhạn phi ngựa nhanh về Hứa Châu.

Đến nơi, Tiểu Nhạn vội cột ngựa vào gặp Tiên Thái một mặt chàng thoa thuốccho Tiên Thái, một mặt kể qua chuyện mình gặp Phụng Kiệt và đánh nhauvới Thái Vô mà kể qua một lượt.

Dương Tiên Thái có chút e dè nói:

- Huynh đệ đã gây chuyện cho ta rồi. Lý Phụng Kiệt thì ta không biếtnhưng Kim Liễn Bồ Tát Thái Vô thần sư là anh hùng nổi tiếng ở Giang Namđó. Huynh đệ đánh lão thì thật là phiền hà.

Tiểu Nhạn nói:

- Huynh an tâm, khi ta lấy thuốc không có nhắc đến danh tính của huynh,lão quyết không biết huynh đâu. Hiện giờ thuốc đã có rồi, thương thế của huynh sớm tối cũng sẽ trị lành. Ta chẳng thể ở đây lâu, phải gấp rút đi Quang Trung tìm đến Trấn Ba và Tử Dương mà lo việc của mình. Chúng tasẽ gặp lại sau.

Tiên Thái cứ nài ép chàng ở lại. Khó thể từ chối, Tiểu Nhạn lưu lại đó hai ngày.

Đến ngày thứ ba, Tiểu Nhạn thấy thương thế của Tiên Thái đã gần như bìnhphục thì biết thần dược đã kiến hiệu bèn không từ biệt mà lên đường.

Trước tiên đi về Tung Sơn.

Lần nầy đến Tung Sơn trời đang lất phất mưa. Tiểu Nhạn đầu đội nón cỏ, thân khoác áo cỏ che mưa nhưng mình ngựa thì ướt nhòa, bóng lên trong ánhsáng. Núi trước mặt ruộng lúa ven đường bị chìm dưới làn mưa, dày đặcnhư sương mù. Cảnh vật không còn trông rõ.

Vì mưa lớn nên trên đường không có ai qua lại chỉ một mình Tiểu Nhạn đơn độc nên thầm nghĩ:

"Phải tìm đường hỏi thăm Minh Cầm Giang ở đâu?".

Chàng lại lấy chuông bạc đeo lên cổ ngựa, cưỡi ngựa đi về phía tây.

Đang tìm người hỏi thăm, chợt trước mặt trong làn mưa đó chạy đến một bóng trắng. Có người cao giọng gọi:

- Giang huynh! Giang Tiểu Nhạn.

Lúc bạch mã xông đến gần. Tiểu Nhạn mới nhìn ra, người này đội nón cỏ rộng vành chính là Phụng Kiệt.

Lý Phụng Kiệt nói:

- Từ hôm chia tay đến nay, đệ ngày ngày ở ven đường mong ngóng chờ đợihuynh. Đệ nghĩ phải chờ vài ngày nữa, có lẽ huynh mới đến. May sao, trời mưa gió thế này mà huynh cũng đã đến.

Tiểu Nhạn nói:

-Khi tạm biệt đến nay, lòng tại hạ lúc nào cũng nôn nóng sớm gặp lại đểcùng nhau đàm đạo. Tuy nhiên, tại hạ đến đây rồi lại phải đi ngay.

Lý Phụng Kiệt thăm hỏi:

- Thương thế của bằng hữu huynh thế nào?

Tiểu Nhạn nói:

- Sắp lành hẳn rồi. Thần dược của Thái Vô thần sư quả thật linh diệu. Tại hạ định lên núi đa tạ lão sư, còn chuyện đánh nhau đừng nhắc đến nữa mà cùng kết thâm giao.

Lý Phụng Kiệt tán đồng:

- Giang huynh thực là người sảng khoái. Được! Chúng ta cùng nhau lên Bạch Tùng tựViệc hôm đó coi như không có gì. Giang huynh, đệ còn một việc muốn nóivới huynh. Ở đây, đệ có bằng hữu tên Hồ Nhị Chính. Khi huynh đi, đệ đãdọn vào nhà hắn trú ngụ. Trong thôn của hắn có một nhà họ Trần, nhưngchỉ có một mẫu thân và một nữ tử nghèo khó. Nữ tử này huynh đoán xem làai?

Tiểu Nhạn cười lắc đầu:

- Tại hạ không đoán ra đâu.

Phụng Kiệt:

- Là thiếu nữ mà chúng ta đã cứu trên núi đó. Mẫu thân nàng nhất địnhmuốn gả nàng cho đệ. Đệ nghĩ mình đã phiêu bạt nhiều năm rồi, giờ cũngđã trên hai mươi nên cưới thê tử là thỏa đáng.

Tiểu Nhạn cười nói:

- Vậy tại hạ xin có lời chúc mừng huynh. Giờ tại hạ phải vào thành tìmkhách điếm trú tạm rồi tại hạ sẽ đến tìm huynh và đại tẩu.

Dứt lời, chàng ôm quyền muốn đi, Phụng Kiệt vội ngăn lại, nói:

- Giang huynh, huynh còn chưa nghe hết. Đệ tuy đính ước rồi nhưng đếnngày tám mới làm lễ. Từ đây đến đó, bất luận thế nào huynh cũng phải đến uống chúc mừng rồi mới được đi. Hiện giờ, tiểu đệ đã cất thêm hai giannhà cỏ ở nhà Hồ Nhị Chính, có hắn giúp đỡ nấu nướng cơm rượu. Đệ đãchuẩn bị rượu ngon đón huynh rồi. Hôm nay trời mưa, chính là Tế vũ hoàng hôn tuế đáo môn, huống hồ huynh là một giang hồ hiệp khách, nhất địnhphải đến tệ xá của đệ nghỉ ngơi, uống rượu mà đàm đạo. Đêm nay, huynhquyết phải lưu lại đây. Giang huynh thấy thế nào?

Tiểu Nhạn nói:

- Tại hạ đến đây chỉ định vui chơi cùng huynh nửa ngày. Ngày mai thì phải đi rồi vì tại hạ có việc gấp bên mình.

Phụng Kiệt:

- Bất luận huynh đi lúc nào thì bây giờ cũng phải đến nhà đệ.

Tiểu Nhạn thấy y phục của Phụng Kiệt đã ướt sũng nên chàng cười cười đi theo hắn. Hai con ngựa sánh bước đi vào trong tiểu thôn mờ mịt bởi làn mưa.

Đến trước nhà Hồ Nhị Chính, Phụng Kiệt xuống ngựa mở cổng rồi dắt hai contuấn mã vào sân, cột vào gốc cây. Tiểu Nhạn cầm hành lý cùng theo PhụngKiệt vào gian nhà cỏ mới cất, cởi y phục ướt ra mà mang đến gần bếp lửa.

Bên trong nhà có một cái bàn và hai cái ghế. Phụng Kiệt mời Tiểu Nhạn ngồixuống. Người giúp việc đem rượu đến cũng không có chung rượu, chỉ có một cái bát, hai người luân lưu mà uống, đồ nhắm cũng chỉ là mấy quả dưamuối.

Phụng Kiệt phân trần:

- Vì đệ không ngờ hôm nayhuynh đến nên không có chuẩn bị thức ăn. Một chốc, đệ sẽ bảo người nhàlên trấn mua thêm rượu và thức ăn, để làm tiệc tẩy trần.

Tiểu Nhạn nói:

- Như vậy cũng đã tốt rồi. Năm xưa tại hạ xông pha giang hồ từng uống rượu nhưng không hôm nào vui vẻ như hôm nay.

Phụng Kiệt hỏi:

- Giang huynh! Gia trung huynh ở đâu?

Tiểu Nhạn đáp:

- Thiêm Nam, Trấn Ba.

Phụng Kiệt nghe nói biến sắc nhưng lại bình tĩnh, cười nhạt nói:

- Ra huynh là đồng hương với Bào Côn Lôn?

Tiểu Nhạn thình lình nổi giận, đấm xuống bàn một cái, bàn cơ hồ vỡ ra, rượu trong bát chấn động văng tung tóe, phẫn hận nói.

- Đừng nhắc đến lão.

Phụng Kiệt càng kinh ngạc. Tiểu Nhạn nốc một hơi rượu, thở dài nói:

- Lý huynh, huynh chưa rõ, tại hạ ở Giang Nam, mười năm dùi mài luyện võ, mới hạ sơn hai tháng. Tuy đánh với Long Nhị, Lưu Khuông, Lỗ Bá Hùng,Lưu Thanh Khuông ở Hà Nam đã có chút tiếng tăm nhưng còn nhiều ngườichưa biết ta, nhưng nếu huynh đến Trấn Ba hoặc Xuyên Bắc Lang Trung phủhỏi xem thì mười năm trước tại hạ đã nổi danh rồi. Lúc đó, tại hạ chỉmới mười bốn, mười năm tuổi nhưng đã dùng đao đả thương huynh đệ họLong.

Phụng Kiệt thừa thế hỏi tiếp:

- Giang huynh có thù với Côn Lôn phái sao?

Tiểu Nhạn thở dài. Rượu vào thì lời ra, chàng đem thù hận mười mấy năm trước ra kể lại cho Phụng Kiệt nghe qua, rồi nói:

- Tại hạ hận mình không chắp được cánh mà bay về Trấn Ba để báo thù. Lẽra tại hạ phải từ Tín Dương châu đi vào Thiên Nam nhưng tại hạ đi vòngmột chuyến nhằm muốn tạo chút danh tiếng cho Bào Chấn Phi biết ta đangmuốn tìm lão để chiêu tập môn đồ tìm cách chống lại ta. Lúc đó tại hạ có thể cùng lượt đấu với đồ tử, đồ tôn của lão bằng không thiên hạ chorằng tại hạ ức hiếp lão già Bào Chấn Phi.

Lý Phụng Kiệt hiểu được lai lịch của Tiểu Nhạn hắn càng ngạc nhiên thêm bái phục. Hắn cởi áochỉ vết thương bên sườn phải ra rồi nói:

- Huynh xem đây, vếtthương này vừa lành. Tháng trước tiểu đệ ở Tây An đã độc đấu với bọn Côn Lôn phái, đả thương sáu, bảy tên trong bọn chúng. Tuy chưa gặp Bào CônLôn nhưng bọn Chí Cường, Chí Trung võ nghệ toàn thấp kém. Chỉ có mộtngười, chúng ta cần lưu ý đó là Kỷ Quảng Kiệt tôn tử của Long Môn Hiệp. Ở Đăng Môn hắn đã liên thủ với một nữ lang thuộc Côn Lôn phái vây đánhtiểu đệ. Vết thương này do bảo kiếm của Kỷ Quảng Kiệt đâm đó.

Tiểu Nhạn nghe, lòng kinh dị. Chàng không hỏi về Kỷ Quảng Kiệt mà hỏi thăm về nữ lang kia:

- Nữ tử của Côn Lôn phái họ tên gì?

Phụng Kiệt lắc đầu:

- Đệ không biết! Có lẽ là nữ nhi của môn đồ trong Côn Lôn phái. Đao pháp hơn hẳn bọn Chí Cường, Chí Trung.

Tiểu Nhạn thăm dò:

- Vóc dáng nàng thế nào? Niên kỷ nàng ta khoảng bao nhiêu?

Phụng Kiệt đáp:

- Nàng ta ước khoảng hai mươi, dung mạo thật mỹ miều, diễm lệ. Đệ vìkhông muốn giao thủ với nữ tử nên đã cố tránh nàng nên cũng không rõràng lắm.

Tiểu Nhạn nghĩ thầm:

"Nhất định đây là Bào A Loan rồi".

Tiểu Nhạn lòng buồn bã nên càng thở vắn than dài, rồi hớp mấy ngụm rượu.

Lúc này, mưa rơi càng lúc càng nặng hạt. Phụng Kiệt bảo người làm đội mưa ra trấn mua rượu thịt thêm.

Hắn lại rót rượu vào bát, hai người vừa uống vừa đàm đạo. Tiểu Nhạn nói:

- Dù mai trời còn mưa, tại hạ cũng nhất định lên đường.

Phụng Kiệt nói:

- Giang huynh gấp đi báo phụ thù, đệ cũng biết khó giữ được huynh. Đệcũng muốn tìm Kỷ Quảng Kiệt để trả thù kiếm này. Đệ định ngày mai sẽđồng hành cùng huynh.

Tiểu Nhạn khoát tay, nói:

- Khôngnên! Huynh đang sắp có hỷ sự đâu thể theo tại hạ. Hơn nữa, tại hạ vốn là kẻ cao ngạo quyết không để người khác giúp đỡ. Huynh muốn tìm Kỷ QuảngKiệt cũng phải chờ tại hạ giải quyết việc của mình xong đã. Vả chăng nếu thắng được Kỷ Quảng Kiệt, thì đồng đạo võ lâm cũng sẽ chê cười.

Phụng Kiệt trầm ngâm suy nghĩ một hồi rồi nói:

- Ngày mai nếu trời tạnh mưa. Giang huynh cứ đi bằng như mưa vẫn chưatạnh huynh hãy lưu lại thêm một ngày hầu chúng ta trút cạn tâm tư cùngnhau, được không?

Tiểu Nhạn gật đầu.

Lúc này, trời đã xế chiều.

Hai người vừa kể chuyện giang hồ, vừa đàm luận võ nghệ. Thoáng chốt bát rượu đầy đã uống cạn.

Phụng Kiệt còn muốn châm rượu thêm, Tiểu Nhạn khoát tay nói:

- Chúng ta hãy ngừng ở đây. Tối uống tiếp.

Phụng Kiệt ra khỏi phòng vào nhà Hồ Nhị Chính, thì thấy trong phòng có mộtlão bà đang nằm trên giường say ngủ. Hồ Nhị Chính không có ở nhà.

Nhìn gánh củi của hắn còn để đó, Phụng Kiệt thầm nghĩ:

"Trời đang mưa to gió lớn thế này, Nhị Chính đi đâu đến giờ chưa thấy về".

Phụng Kiệt trở về phòng của mình thấy Tiểu Nhạn nằm trên giường, tay cầm tập thơ của mình xem.

Phụng Kiệt hỏi:

- Giang huynh chắc cũng giỏi làm thơ?

Tiểu Nhạn lắc đầu nói:

- Không biết! Tại hạ vốn một chữ cũng không biết. Từ ngày bái sư phụ,người rất giỏi văn chương nên có dạy tại hạ đọc sách nên có biết chút ít nhưng thực còn kém xa Lý huynh. Tại hạ biết một số chữ đi lại trêngiang hồ cũng đủ.

Nói đến đây, chàng bất giác nhớ đến chuyện cũ ở Lang Trung, nên nói:

- Người không biết chữ thật khổ. Ngày còn ở Lang Trung chỉ vì hai phong thư mà tại hạ bị Lang Trung Hiệp nghi ngờ là gian tế.

Lý Phụng Kiệt đã nghe đại danh của Lang Trung Hiệp. Tiểu Nhạn lại kể đến những chuyện lúc còn ở nhà Lang Trung Hiệp.

Phụng Kiệt nghe Lang Trung Hiệp từng bại trong tay của Bào Chấn Phi, hắn nghĩ võ nghệ của Bào lão tất phải cao thâm hơn đồ đệ rất nhiều. Năm nay, tuy lão tuổi hạc đã cao nhưng không dễ khinh thường. Tiểu Nhạn tuy tài nghệ tuyệt luân, tuổi trẻ cường tráng nhưng chàng ta có địch nổi Bào lão hay không còn là nghi vấn.

Hai người nằm trên giường đối mặt nhau mà trò chuyện. Càng trò chuyện càng cao hứng.

Chợt cửa phòng bật mở. Làn mưa lạnh thổi tạt vào. Phụng Kiệt đứng dậy nhìnra người làm đã trở về. Tay hắn tuy cầm dù nhưng toàn thân đã sũng nướcmưa như con vịt nước.

Hắn đặt một con cá to còn sống mua trên trấn cùng rượu thịt lên bàn. Mặt mày tái mét hồi lâu mới run rẩy nói:

- Hồ Nhị Chính gặp họa rồi. Trên trấn hắn đã bị người ta đánh chết.

Phụng Kiệt kinh hoảng hỏi:

- Tại sao?

Tiểu Nhạn cũng ngồi bật dậy thì người làm đã kể:

- Trời mưa, Hồ Nhị Chính không lên núi, hắn vào trấn tìm việc làm. Làmviệc xong có ít tiền, hắn gặp tên Vưu Thốc Tử của Hách gia trang kéo đến tiểu phố đánh bạc. Nhị Chính thua sạch hết bạc này nên hắn nóng nảy đòi Vưu Thốc Tử trả bạc vì vậy cãi nhau. Nhị Chính đánh Thốc Tử một quyềnThốc Tử bị đánh trúng chỗ nghiệt, lăn ra chết tốt. Bọn đánh bạc đều làtráng đinh của Hắc gia trang nhất tề xông lên đánh Nhị Chính. Nhị Chínhđả thương bảy, tám người. Hách nhị lão gia của Hách gia trang Hách HổCâu kéo tráng đinh đến bắt được Nhị Chính đem về Hách gia trang.

Người ta nói lần nầy Nhị Chính nhất định phải đánh chết.

Phụng Kiệt nghe nói phẫn nộ:

- Ta phải đi xem không để bọn Hách gia trang ép bức Nhị Chính.

Dứt lời, hắn đội nón rộng vành, cầm dù.

Tiểu Nhạn cũng mang hài cỏ vào rồi hỏi:

- Bọn chúng làm gì? Làm ác bá ở đây à?

Phụng Kiệt lắc đầu nói:

- Chưa hẳn là ác bá nhưng chu vi mười dặm ở Đăng Phong huyện, không aidám chạm vào hắn. Hách gia có hai huynh đệ. Hách đại làm tướng quân ởQuang Trung, Hách nhị làm tài chủ ở gia trung. Mấy huyện phụ cận ở TungSơn là hắn giàu nhất đó.

Hắn biết võ nghệ, ở Bạch Tùng tự đệ gặp qua hắn một lần.

Tiểu Nhạn nói:

- Huynh biết hắn một lần cũng tốt rồi. Hai người có lẽ không đánh nhau, tại hạ bất tất phải theo huynh.

Phụng Kiệt nói:

- Giang huynh bất tất theo đệ. Đệ đi một lát sẽ trở về.

Tiểu Nhạn dặn dò:

- Lý huynh hãy lấy chiếc áo cỏ này mà khoác.

Phụng Kiệt khoát tay nói:

- Không cần đâu.

Rồi cầm dù đi ra ngoài.

Tiểu Nhạn nằm xuống, nghĩ ngợi một hồi, cảm thấy vô vị quá. Hơn nữa rượuuống vừa rồi bốc lên đầu khiến chàng nóng nực muốn ra ngoài cho mát mẻbèn khoác áo cỏ đi ra.

Chàng thấy thôn xa chìm trong mưa mù mịt. Cảnh này khiến chàng nhớ chuyện xưa, ngày đó chàng khoảng mười tuổi.

Trời mưa, nghe mẫu thân cười nói trong phòng. Tiếng cười chưa dứt thì phụthân Chí Thăng đội nón cỏ từ Bào gia luyện võ trở về. Phụ thân đã lấynón cỏ to đó mà đội lên đầu hắn, cả nhà vui đùa. Cảnh tượng đó như hiểnhiện trước mắt chàng khiến chàng càng căm hận Bào lão đầu sát tử phụthân khiến mẫu tử huynh đệ ly tán. Đầu chàng đã nóng vì rượu càng nónghơn vì hận thù. Mưa xối ướt cả đầu nhưng như có lửa bốc lên.

Người làm của Phụng Kiệt đem ra một cái nón cỏ cho Tiểu Nhạn rồi chỉ về hướng đông, trong làn mưa lắc lư một cây dâu to, nói:

- Ây da! Đại gia xem, túp lều nhỏ dưới gốc dâu là của Trần cô nương. Phụthân của Trần cô nương là thợ săn vì rượt theo thú bị trượt chân téchết. Hoàn cảnh mẫu tử hai người thực đáng thương. Hai ngày nữa Trần cônương gả cho Lý gia là tốt rồi.

Tiểu Nhạn tuy qua lại đây bốn lần nhưng chưa ghé vào đây. Lúc này vào trong thành thấy điếm phổ đông đúc. Trời đang mưa, nhưng có nhiều người cầm dù qua lại trên đường.

Tiểu Nhạn nhìn điếm phổ hai bên cảm thấy khó khăn nghĩ thầm:

"Biết mua lễ vật gì cho Phụng Kiệt đây. Son phấn thì có vẻ nữ nhi quá. Hay là ta mua cái gì cho Phụng Kiệt. Hắn thích sách và kiếm. Trời mưa thế nàymua sách thì ướt hết. Kiếm? Hắn cũng có rồi".

Đứng trong mưa suy nghĩ hồi lâu, sực nhớ mua một số gia cầm cho Phụng Kiệt.

Dẫu gì, ngày thành thân hắn cũng phải mổ gà vịt đãi khách, nếu không có khách thì để lại mà nuôi cũng được.

Nghĩ vậy, chàng hỏi thăm nơi bán gà vịt. Người ta chỉ cho chàng phải đi qua hai con đường mới đến phố bán gà vịt.

Tiểu Nhạn đi tìm quả nhiên gặp được. Ở đây có bốn, năm nhà bán gà vịt. Tiếng vịt gà kêu la vang động nghe đinh tai nhức óc. Có một con ngỗng tronglồng, trông vừa to vừa béo.

Tiểu Nhạn vui mừng:

"Có Ngỗng đã tốt rồi".

Thế là chàng mua một con ngỗng, gà mái hai con, một con gà trống. Ba con gà dùng dây buộc lại mắc vào yên ngựa. Còn con ngỗng chẳng biết làm sao,hai cánh ngỗng quá to, còn con ngỗng lại ngắn, nó vừa vỗ cánh đã khiếnlông ngỗng, lông gà bay phất phới. Tiểu Nhạn đành phải dùng tay ômngỗng. Chàng lên ngựa, một tay cầm cương một tay ôm ngỗng, đi qua haicon đường định đi ra phía tây môn.

Con ngỗng chốc chốc kêu quangquác. Ba con gà treo bên yên ngựa, bị chân của Tiểu Nhạn thúc phải cũngkhông ngừng giãy giụa kêu lên inh ỏi. Hắc mã dường như cũng cảm thấy khó chịu nên chốc chốc ngừng lại hay giật lùi không nghe theo lời điềukhiển của chủ, khiến Tiểu Nhạn phải dùng sức vào tay giữ cương ngựa,miệng hét lớn bảo người bên đường tránh né.

Chàng vốn muốn ghìmngựa, đi ra tây môn mà về Minh Cầm Giang. Không ngờ, con ngựa này như đã phát khùng chạy loạn lên. Hơn nữa, trời mưa mù mịt khiến chàng không rõ đường đi.

Chợt bên đường đi ra một người mặc áo tơi, nhìn xa xanhư một con nhím khiến con ngựa kinh hoàng nhảy dựng lên quăng Tiểu Nhạn xuống đất còn con ngựa tiếp tục quay về phía tây mang theo ba con gàCon ngỗng cũng đập mạnh cánh muốn thoát ra.

May mà thân thủ của Tiểu Nhạn linh hoạt nên không bị té ngã. Chàng vừa bực tức vừa giận dữ.

Có tiếng người cười ha hả. Tiểu Nhạn nhìn xem thì ra đó là người mặc áo tơi.

Chàng giận dữ nắm quyền bước đến mắng:

- Mi còn cười ta à? Nếu không phải vì cái áo tơi rách rưới này khiến ngựa ta kinh hoảng bỏ chạy.

Vừa nói đã nắm quyền đánh tới. Người mặc áo tơi né qua một bên, thân thủ cực kỳ linh hoạt.

Rồi phân thủ, hai ngón tay phải điểm vào sườn của Tiểu Nhạn.

Tiểu Nhạn giật mình vội thoái lui một bước, nói:

- Ây da! Mi muốn thi triển phép điểm huyệt sao?

Rồi chàng nhảy lên một bước.

Người đó cởi áo tơi liệng ra, thi triển quyền pháp. Chốc chốc lại thi triển thuật điểm huyệt.

Nhưng Tiểu Nhạn vốn thành thục về môn này, đâu để hắn đắc thủ.

Qua lại bốn năm hiệp, thình lình nghe "oạch" một tiếng, người đó té nhào trong vũng bùn.

Tiểu Nhạn cười ha ha, đạp một cước nói:

- Mi đứng dậy đi.

Đồng thời xem kỹ, thấy dung mạo người này có nét quen quen, dường như đã gặp ở nơi nào, bèn hỏi:

- Ây da! Dường như ta có gặp mi. Mi họ gì?

Người đó vừa ốm vừa thấp, ước khoảng hai mươi. Hắn bò dậy, y phục cũng ướtbùn. Hắn bèn cầm áo tơi lên, giận dữ nói với Tiểu Nhạn:

- Mikhông biết ta sao? Còn ta thì biết mi. Lang Trung Hiệp không thèm thutên đồ đệ rút đầu rút cổ như mi vậy mà mi còn dám đến đây xưng hùng sao?

Nói xong, hắn ôm áo tơi mà chạy.

Tiểu Nhạn bị hắn mắng nhưng không nổi giận, lòng thầm thắc mắc:

"Gã này là ai lại biết ta?".

Lúc này, mấy đứa bé nghèo trong thành chạy theo dắt ngựa về cho chàng, con ngỗng bay cũng được chúng bắt được.

Tiểu Nhạn tạ ơn, cho mỗi đứa mấy trăm tiền rồi bảo một tên đi mua dây. Chàng tức tối cột chặt con ngỗng lại. Lên ngựa ra roi phóng về phía tây.

Trên đường, chàng cứ cố công suy nghĩ, không nhớ ra mình đã gặp tên vừa rồi ở đâu nên vô cùng buồn bực.

Mưa đã bớt nhiều. Trong mây mù ẩn hiện núi Tung Sơn.

Tiểu Nhạn nghĩ thầm:

"Hay tên đó là đệ tử của Bạch Tùng tự Thái Vô thần sư.

Nhưng hắn làm sao biết mười năm trước Lang Trung Hiệp không chịu nhận ta làm đồ đệ?".

Nghĩ mãi không ra, lòng vô cùng nóng nảy.

Chàng trở về Minh Cầm Giang đã thấy Lý Phụng Kiệt về rồi, lại cứu được Hồ Nhị Chính.

Hôm nay, Hồ Nhị Chính đả thương mấy người trong Hách gia trang nên bị Háchnhị trang chủ bắt về đánh cho một trận. Nếu Lý Phụng Kiệt không đến nóichuyện tình lý thì Hách nhị gia chưa chắc đã tha hắn.

Mình mẩy hắn đầy vết bầm, đầu tay hắn tuôn đầy máu tươi. Hắn đang ngồi dưới gốc cây trong sân không ngừng chửi mắng.

Tiểu Nhạn kéo ngựa vào, hắn cũng không thèm lý đến, Phụng Kiệt bước đến nói:

- Giang huynh vào thành làm gì vậy?

Tiểu Nhạn nói:

- Vì mai tại hạ phải đi nên vào thành mua chút quà tặng, chúc Lý huynh.

Nói xong, chàng gỡ mấy con gà, ngỗng trên lưng ngựa ném xuống đất. Mấy con vật lảo đảo đứng lên dường như sắp chết.

Phụng Kiệt thấy vậy mỉm cười. Tiểu Nhạn nói:

- Chắc phải làm thịt đãi khách rồi, nuôi e rằng không sống nổi. Vì mấy con gà, ngỗng này mà tại hạ gây gổ với một người.

Phụng Kiệt trợn mắt ngạc nhiên hỏi:

- Cái gì? Huynh lại đánh nhau? Ở Tung Sơn này huynh không nên đắc tội với người ta. Kim Liễn Bồ Tát Thái Vô thần sư thì không sao nhưng bọn tăngnhân biết võ nghệ trong Thiếu Lâm tự hơn năm trăm người, hơn nữa quy củtrong chùa của họ rất nghiêm, không dễ xuống núi mà gây chuyện.

Tiểu Nhạn nói:

- Không sao, hắn cũng biết tại hạ.

Nói xong, chàng cột ngựa cầm nón, áo cỏ đi vào trong. Phụng Kiệt cũng đi theo hỏi:

- Tại sao huynh và người đó đánh nhau?

Tiểu Nhạn nói:

- Người nầy ốm yếu, tại hạ cảm thấy hắn có vẻ quen thuộc, hình như hơnmười năm trước, khi lưu lạc giang hồ có gặp qua nhưng lại không nhớ raQuyền pháp của người này khá lắm. Trừ tại hạ ra, hiện nay chưa chắc mấyai đánh được hắn, lại còn biết điểm huyệt nữa.

Phụng Kiệt trầm tư, nói:

- Điểm huyệt?

Hắn chớp mắt một hồi, rồi nói tiếp:

- Theo đệ biết, những người hiểu được phép điểm huyệt chỉ có ba nhà, mộtlà tệ sư Thục Trung Long, hai là tổ phụ Long Môn hiệp của Kỷ Quảng Kiệtnhưng hai lão này không có truyền nhân. Đệ tử học võ với Thục Trung Long sư phụ cũng chỉ biết sơ lược thôi chứ không học môn võ công này. KỷQuảng Kiệt cùng đệ giao thủ mấy lần, cũng không thấy hắn sử dụng phépđiểm huyệt. Còn một người nữa là Cao Khanh Húy ở Khai Phong phủ là giatruyền nhưng chỉ biết vài chiêu thôi. Ngoài ra không biết còn ai nữa.

Tiểu Nhạn nghe xong bất giác cười thầm. Sư phụ và Á huynh mình đều là ngườitinh thông thuật này. Phụng Kiệt làm sao biết được nên Tiểu Nhạn ngồilắc lắc đầu.

Phụng Kiệt lại nói thêm mấy câu nhưng Tiểu Nhạn như không nghe thấy cứ trầm tư nhớ đến người ốm nhỏ gương mặt quen đó.

Lý Phụng Kiệt bước ra gọi:

- Hồ Nhị Chính!

Nhị Chính lên tiếng nhưng không đứng lên Phụng Kiệt lại kêu:

- Nhị Chính, vào đây ta dẫn kiến một bằng hữu.

Nhị Chính mới chậm rãi đứng lên đi đến trước cửa Phụng Kiệt chỉ Tiểu Nhạn nói:

- Đây là Giang Tiểu Nhạn, bằng hữu của ta. Võ nghệ của người này còn cao hơn ta nhiều lắm.

Nhị Chính cũng không vào trong, ngẩng mặt nhìn thấy Tiểu Nhạn thân thểcường tráng, mi thanh mục tú, anh tuấn đởm lược, hắn không dám coithường, vòng tay chào rồi lại quay người đến gốc cây ngồi nữa.

Tiểu Nhạn nhìn thấy Nhị Chính thân thể thảm hại, trán còn đang chảy máu. Tiểu Nhạn tức giận nói:

- Nhất định hắn là ác bá.

Phụng Kiệt vội nói:

- Nhưng Nhị Chính đánh tráng đinh người ta không nhẹ. Hắn thường ra ngoài đánh người lắm.

Tiểu Nhạn nghe vậy không nói nữa.

Mưa bên ngoài tuy nhỏ hạt nhưng không dứt hẳn, trời đã sắp tối rồi.

Nhị Chính đứng dậy cho hai con ngựa ăn.

Người làm cũng đã làm món ăn bưng rượu thịt vào phòng, xong đốt hai ngọn đènlên. Tiểu Nhạn kéo Nhị Chính vào phòng cùng nhau uống rượu.

Tiểu Nhạn ngày mai đã khởi hành nên Phụng Kiệt cứ bát lớn mà rót cho chàng:

Giang huynh, đệ tuy xuất thân là người đọc sách nhưng rất khâm phục nhữngnhân vật hào sảng như huynh. Đệ nghĩ dẫu võ nghệ cao cường đến thế nàomà tính tình không phóng khoáng thì không đáng xem là hiệp khách. Đệ hận ở Trường An Tây Môn một lần ở Bá kiều khi giao thủ với đệ bọn chúng dựa vào thế đông, mấy chục người đồng loạt tấn công. Đệ cảm thấy bọn chúngthật đáng chê cười. Đệ hối hận đã gây chuyện với bọn tiểu nhân này.

Tiểu Nhạn vừa nghe lòng đã lại nổi lên phiền não, uống cạn rượu, âm thầm thở dài rồi chàng truy vấn Phụng Kiệt về nữ nhân đã giao thủ với hắn.

Nhưng Phụng Kiệt cứ nói là không thấy rõ dung mạo người này, lòng Tiểu Nhạn càng phiền muội, thở dài cảm thán nghĩ thầm:

"Chắc là A Loan, có lẽ nàng đã gả cho người khác rồi. Nếu nàng đã có gia thất và đang hận ta thì ta không đến nỗi thương tâm, lòng nhung nhớ sẽ phôipha. Nhưng nếu nàng vẫn chờ đợi ở khuê trung, thì thật khiến ta khó xửMuốn báo thù thì không thể báo thù, mà vì nàng ta phải xin tội với bọnCôn Lôn phái. Ây! Chuyện này Tiểu Nhạn ta dứt khoát không thể làm đượcrồi".

Nghĩ đến đây chàng càng não phiền, uống liền mấy ngụm rượu rồi buông đũa nói với Lý Phụng Kiệt:

- Tại hạ đã say rồi. Sớm mai dù mưa tại hạ cũng phải lên đường đến TườngAn, Tử Dương, Trấn Ba mà đấu với bọn Côn Lôn phái để báo thù. Cũng cóthể tại hạ sẽ bỏ mạng nơi đó.

Phụng Kiệt kinh ngạc hỏi:

-Giang huynh sao lại nói vậy? Nếu huynh cảm thấy khó đấu lại Côn Lôn phái và Kỷ Quảng Kiệt đệ sẽ giúp huynh một tay. Việc hỷ sự của đệ cũng không cần gấp đâu.

Tiểu Nhạn cười nhạt nói:

- Tám Côn Lôn phái, mười sáu Kỷ Quảng Kiệt cũng chẳng đáng quan tâm, chuyện báo thù vàtranh đấu nào khiến tại hạ lo ngại sầu não mà là việc khác. Suốt mườinăm nay tại hạ không lúc nào quên học võ nghệ, lưu lạc giang hồ, chịukhó nhọc không chỉ vì muốn báo thù. Việc này còn khó giải quyết hơn việc báo thù.

Lý Phụng Kiệt thành khẩn nói:

- Việc gì saohuynh không chịu nói ra. Hai chúng ta tuy mới quen nhau nhưng coi nhaunhư tri kỷ. Chỉ vì huynh ngày mai phải khởi hành nếu không đệ sẽ lưuhuynh ở lại nơi này. Nếu huynh không chê đệ muốn cùng huynh kết sinh tử.

Tiểu Nhạn nói:

- Được! Nói câu nói ấy coi như chúng ta là huynh đệ kết giao rồi nhưngviệc phiền não của tại hạ một lời không thể nói hết, dẫu nói ra huynhcũng không giúp gì được ta đâu hay chờ sự tình làm xong rồi sẽ nói rõra.

Dứt lời, chàng gục đầu xuống bàn mà ngủ. Phụng Kiệt nhìnchàng ngơ ngẩn hồi lâu, đột nhiên hắn có chút minh bạch, nhớ là TiểuNhạn mấy lần hỏi mình về dung mạo của nữ tử ở Côn Lôn phái, tám, chínphần thiếu nữ là tình nhân mười năm trước của Tiểu Nhạn, nhưng mười nămtrước họ đều là ấu nhi mà! Thiếu nam, ấu nữ chỉ mới mười hai, mười batuổi chẳng lẽ lại có tư tình gì sao, điều này thật khó tin!

Lúcnày, ngoài cửa tiếng mưa rơi nhè nhẹ, trên bàn tiệc thì ngổn ngang thứcăn, rượu uống. Mệt mỏi Phụng Kiệt đẩy bàn sang bên định sáng mai bảongười làm dọn dẹp, hắn tắt đèn chỉ chừa lại một ngọn, sau đó đóng tất cả cửa lại.

Phụng Kiệt lên giường định nhắm mắt ngủ, chợt Tiểu Nhạn quay người, nhỏ giọng nói:

- Thổi tắt ngọn đèn kia đi.

Phụng Kiệt giật mình không ngờ Tiểu Nhạn nãy giờ vẫn chưa ngủ, Phụng Kiệt nói:

- Để lại một ngọn đèn thì có sao? Sợ gì! Chẳng lẽ có người vào trộm đồ ta sao?

Tiểu Nhạn lại nhỏ giọng nói:

- Mau tắt đi. Ta nghe bên ngoài có thanh âm.

Phụng Kiệt giật mình, tắt đèn rồi bò lại vách nhà, vội lấy bảo kiếm, nhè nhẹbước đến cửa phòng, nhìn qua khe hở thấy bên ngoài trời chưa tối hẳn chỉ chập choạng tối nhưng sự vật nhìn đã nhạt nhòa không rõ. Mưa đã tạnh,gió thổi lá rụng xào xạc làm rơi những giọt nước trên lá nghe tí tách.

Phụng Kiệt định mở cửa bước ra ngoài nhưng Tiểu Nhạn đứng phía sau vội kéo lại, nói:

- Đừng đi! Đây có lẽ là người đánh nhau lúc sáng với tại hạ, chắc đến đây tìm ta.

Phụng Kiệt cười nhỏ:

- Theo đệ nghĩ chắc chẳng có thanh âm nào đâu. Giang huynh đã nghe nhầm rồi.

Tiểu Nhạn mỉm cười:

- Tại hạ nghe rõ có người đẩy cổng nhà ta. Tại hạ đoán chắc không saiMười năm ở Cửu Hoa sơn tại hạ luyện có thể nghe được rõ ràng trong vòngmười mấy bước.

Nếu Lý huynh ném một kim thêu tại hạ cũng có thể nghe được.

Phụng Kiệt mỉm cười có vẻ không tin cho rằng ngoài rào chắc là chó mèo ởtrong thôn chạy rong ngang qua chứ không có tặc nhân gì.

Tiểu Nhạn chẳng có vẻ lo lắng mà còn phấn khởi kéo bảo kiếm trong tay của Phụng Kiệt cầm lấy rồi nói:

- Hãy nghỉ đi không có việc gì đâu. Một lát tại hạ sẽ đùa vui chút võ nghệ cho huynh xem.

Phụng Kiệt cười cười nói:

- Được rồi! Để xem huynh thi thố tài nghệ.

Lòng hắn muốn biết Tiểu Nhạn đoán đúng hay sai vả lại cũng muốn xem võ nghệ của Tiểu Nhạn.

Tiểu Nhạn đứng cạnh khe cửa nhìn ra ngoài, rồi trở vào lên giường nằm, bảo kiếm đặt bên cạnh.

Phụng Kiệt vẫn như cũ nằm bên ngoài. Hai người không nói gì.

Khoảng nửa canh giờ, Tiểu Nhạn dường như ngủ say rồi. Trong viện bỗng có tiếng chân. Phụng Kiệt muốn bật người ngồi dậy Tiểu Nhạn lấy tay kéo hắnxuống:

- Đó là Hồ Nhị Chính.

Phụng Kiệt lắng nghe, quảnhiên tiếng chân người đó thật nặng nề. Một hồi, người này ngáp mộttiếng thật lớn, đúng là Hồ Nhị Chính. Chỉ vì vết thương đau nhức, trongphòng nóng nực không ngủ được nên hắn ra ngoài cho mát.

Phụng Kiệt thầm cảm phục nhận thấy Tiểu Nhạn cao minh hơn mình rất nhiều.

Nhị Chính đi lại một hồi không ngừng ngáp lớn. Phụng Kiệt lại cười nói với Tiểu Nhạn:

- Nhị Chính, hắn định tuần canh giùm bọn ta.

Tiểu Nhạn không đáp. Hồi lâu Phụng Kiệt mơ màng muốn ngủ rồi. Chợt Nhị Chính ở trong sân kinh hoảng la lên:

- Có tặc nhân.

Tiểu Nhạn như một con linh miêu, lập tức cầm lấy bảo kiếm trên người Phụng Kiệt rồi nhảy ra khỏi giường.

Phụng Kiệt cũng chạy vội lấy bảo kiếm của Tiểu Nhạn.

Bên ngoài, nghe mấy tiếng binh khí chạm nhau lại nghe tiếng nói của Tiểu Nhạn:

- Bằng hữu, đừng chạy.

Đến lúc Phụng Kiệt cầm lấy được kiếm của Tiểu Nhạn chạy ra ngoài, thì thấyTiểu Nhạn đã vượt qua khỏi rào đuổi theo người đó. Trên mặt đất nằm dàimột đại hán ra đó là Nhị Chính đã bị điểm huyệt té ngã.

PhụngKiệt bước lên giải huyệt cho Nhị Chính rồi cầm kiếm bước ra ngoài. Thếnhưng đã không thấy Tiểu Nhạn đâu, mưa vẫn còn rơi rả rích.

Phụng Kiệt ra đến ngoài đường nhìn thấy Tiểu Nhạn cùng người đó đang giao đấu.

Người đó sử dụng một cây thiết trượng rất uy vũ, chốc chốc lại dùng thuật điểm huyệt điểm vào trước ngực Tiểu Nhạn.

Cây kiếm của Tiểu Nhạn như mưa đêm rả rích, bạch quang lấp lóe theo thânhình của chàng lúc lên lúc xuống, giật trái, giật phải khiến người nàyliên tiếp thoái lui.

Phụng Kiệt thấy hai bên giao đấu chưa đếnmười hiệp thì người kia ngăn đỡ hết nổi, buông mình muốn chạy. NhưngTiểu Nhạn như cánh chim ưng, bay người đến chận trước mặt đoạt lấy thiết trượng của hắn.

Người đó lại điểm huyệt trước ngực của Tiểu Nhạn nhưng chàng đã đẩy ra.

Phụng Kiệt cũng cầm kiếm chạy đến, Tiểu Nhạn nói:

- Không cần đả thương hắn.

Sau đó, nhìn người đó mỉm cười nói:

- Lão bằng hữu, phép điểm huyệt ngươi chỉ có thể dùng với ai khác chứ khó có thể sử dụng với ta.

Người này biết không thể đối địch với Tiểu Nhạn nên không kháng cự nữa mà thở dài nói:

- Tùy mi xử trí nhưng ta đến đây đêm nay không phải để sát hại mi mà chỉmuốn phân tài cao thấp với mi. Mười năm trước lúc bọn ta gặp nhau ở NamGiang huyện, khi đó võ công của chúng ta không hơn kém nhau bao nhiêuHiện giờ, chúng ta đã học thành võ nghệ, ta muốn cùng mi tỉ thí mộtphen.

Tiểu Nhạn vừa nghe chợt nhớ đến mười năm trước, mình vàLang Trung Hiệp đến Thiên Nam đấu với Côn Lôn phái đi qua Nam Gianghuyện từng ở Viên gia một đêm.

Lúc đó, Tử Diện Sư Viên Dũng bảo nhi tử của hắn là Kính Nguyên ra gặp mặt mọi người. Tiểu Nhạn hỏi:

- Phải chăng huynh là Viên Kính Nguyên nhi tử của Viên đại trang chủ? Tại sao huynh lại đến đây?

Viên Kính Nguyên thở dài nói:

- Khi Lang Trung Hiệp bại dưới tay Bào Côn Lôn thì không xuất dương ra mặt nữa.

Phụ thân và ca ca ta bình sinh gây thù kết oán với nhiều người nay khôngđược Lang Trung Hiệp giúp đỡ nên bọn giang hồ kéo đến sát tử phụ thân và biểu ca, gia sản bị cướp hết. May mà Thiết Trượng Tăng vì phụ thân tabố thí rất nhiều tiền nên người vì ân này mà cứu ta lại thay ta báo thùrồi mang ta về miếu để luyện võ công truyền thuật điểm huyệt. Ta đượccoi như là đồ đệ của người, lại còn được cải danh là Tịnh Huyền khuyênta sau này tu hành nữa.

Tiểu Nhạn nói:

- Được rồi! Sau này tại hạ sẽ gọi huynh là Tịnh Huyền, nhưng đã biết tại hạ tại sao trongthành huynh lại không gọi mà còn thi triển thuật điểm huyệt lên ngườita.

Tịnh Huyền nói:

- Ta thực không ác ý, chỉ bởi nghethiên hạ truyền miệng rằng mấy năm nay Tiểu Nhạn đã đầu danh sư học võ,hiện giờ Kỷ Quảng Kiệt đang đến Hồ Nam tróc nã huynh, ta mới có ý địnhtìm huynh để thử võ nghệ xem sao. Kỳ thực hôm nay ta muốn tham kiếnThiếu Lâm tự và Kim Liễn Bồ Tát Thái Vô thần sư.

Tiểu Nhạn nghe Quảng Kiệt đã đến Hà Nam muốn tróc nã mình, nổi giận hỏi:

- Huynh nghe ai nói?

Tịnh Huyền đáp:

- Thì ra huynh chưa biết gì, Kỷ Quảng Kiệt giờ đã đến Lạc Dương, tùy hành có hai người. Độc Nhãn Tiên Phong Tưởng Chí Diệu, Thái Tuế Đao Lưu ChíViễn đều là cao đồ của Côn Lôn. Kỷ Quảng Kiệt còn dán cáo thị tróc nãhuynh.

Phụng Kiệt đứng bên cạnh cười nói:

- Đó là chiêu thức cũ của hắn. Ở Tây An phủ hắn cũng đã từng dán cáo thị tróc nã ta.

Tịnh Huyền nói:

- Đây là muốn kích nộ cho huynh xuất diện đấy thôi.

Tiểu Nhạn phẫn nộ, hậm hực nói:

- Cần gì hắn dán cáo thị. Hiện thời ta sẽ khởi hành tìm hắn. Chúng ta sẽcó ngày gặp nhau. Hiện giờ tại hạ có gì phạm tội xin hãy vì tình nghĩacố giao mười năm mà thứ lỗi.

Nói xong, chàng vòng tay tạ tội với Tịnh Huyền.

Phụng Kiệt mời Tịnh Huyền vào trong đàm đạo.

Tịnh Huyền nói:

- Ta không đi được. Ta xin cáo từ hẹn mấy ngày sau sẽ gặp lại nhưng tacũng báo cho huynh biết võ nghệ của Kỷ Quảng Kiệt thật tuyệt luân.

Nói xong, Tịnh Huyền cầm thiết trượng lên rồi đi khỏi.

Lý Phụng Kiệt trở về nhà đã thấy Tiểu Nhạn dẫn ngựa đi ra khỏi hàng rào, Phụng Kiệt ngăn lại nói:

- Giang huynh hà tất phải vội như vậy. Muốn đi cũng phải chờ trời sáng.

Giang Tiểu Nhạn lắc đầu:

- Tại hạ không thể chịu đựng được nỗi tức này. Tại hạ chưa đi tìm bọn Côn Lôn phái thì bọn Côn Lôn phái đã bảo Kỷ Quảng Kiệt đến tìm ta. Hơn nữacòn tróc nã tại hạ, nếu tại hạ không sớm đi gặp bọn Côn Lôn phái thìhiển nhiên Giang Tiểu Nhạn này chỉ là một tên nhát gan, thiếu đởm lược,uổng phí bao nhiêu năm khổ luyện trên Cửu Hoa sơn.

Phụng Kiệt không thể ngăn chàng, nên nói:

- Giang huynh đã muốn đi, đệ không thể can ngăn nhưng võ nghệ của QuảngKiệt thì đệ biết, kiếm pháp được chân truyền của Long Môn Hiệp thực quácao siêu. Đệ thấy hắn rất khó đối địch. Đây không phải là đệ muốn làmnguội dũng khí của huynh.

Giang Tiểu Nhạn cười nhạt:

- Tacòn mong võ nghệ hắn cao siêu, khi gặp nhau tại hạ chỉ cần dùng hai, bathành võ nghệ cũng đủ cho hắn nếm mùi thất bại. Tại hạ không cần dùngđến nội gia chân truyền. Lần này ra đi là để đánh cho hắn khâm phục, sau đó đến Côn Lôn phái báo thù. Khoảng chừng một tháng sau tại hạ sẽ trởvề.

Phụng Kiệt gật đầu:

- Được! Được! Đệ ở đây chờ huynh.

Nói xong, hai người đổi kiếm cho nhau.

Tiểu Nhạn lên ngựa vòng tay chào Phụng Kiệt rồi lên đường.

Lúc này, khắp nơi ngoài thôn, ngay cả trên đường đi chẳng thấy rõ cảnh vật.

Tiểu Nhạn mình khoác áo cỏ đi mưa, đầu đội nón rộng vành. Tiếng mưa rơi títách trên nón. Nước suối, nước mưa tràn cả ra đường. Hắc mã bì bõm trong mưa mang Tiểu Nhạn xa dần.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.