Lương Ngọc Quyến Và Cuộc Khởi Nghĩa Thái Nguyên 1917

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III. CUỘC MẬT-HỘI Ở LONG-XUYÊN

❊ ❊ ❊

Ông và những bạn Việt-Nam đồng thời, từng có giáo-dục quân-sự như ông, sở dĩ hăm-hở đem cánh tay khối óc và sự học-vấn binh-nhung của mình ra tận trung hiệu-lực ở chốn cương trường Trung-Hoa, không phải vì sự sống bắt-buộc, hay cầu lấy danh-vọng gì đâu. Kỳ thật chỉ vì ôm-ấp hai điều mong-mỏi.

Một là được thực-nghiệm sở học, như trên đã nói. Có học mà không được thực-hành, không được kinh-nghiệm, một khi cờ phất đến tay, chẳng khỏi bỡ-ngỡ. Bởi vậy, các ông muốn nhờ trận-địa Trung-Hoa làm chỗ tập-rèn thực-tế cho thật tinh-thục, hầu có một mai về đất nước nhà, thao-luyện anh em xung sát với thực-dân là quân cường địch tử thù của mình, mới khỏi những điều thất thố. Chỗ dụng tâm của các ông thật xa mà cũng thật khổ vậy.

Hai là muốn đem máu mình đổi lấy cho Tổ-quốc sự cứu giúp của Trung-Hoa đối với bà-con. Điều mong-mỏi ấy tuy quá tin-cậy vào tình-cảm, nhưng mà thâm vọng của phần nhiều chí-sĩ Đông-du ba, bốn chục năm trước là thật như thế.

Nó phát ra tự cái kiến-giải này, duy-tâm mà cũng có duy-vật. Hai dân-tộc Hoa, Việt ở kề lưng sát nách nhau trên góc Đông Á này, trải bốn nghìn năm liên-lạc khăng khít về chủng-tộc, về văn-hóa, về lịch-sử, về phong-tục lễ-nghĩa, đến nỗi Việt-Nam như là một phần Trung-quốc chia ra, mà sự thực cũng quả như vậy. Một khi Trung-quốc cách-mạng thành công, chẳng lẽ không nghĩ đến người hàng xóm miền Nam ; hơn nữa, người bà-con, em út, đang bị xiềng-xích nô-lệ mà không ra tay tháo gỡ cứu giúp cho nhau ?

Thử xem bể Đại-tây cách-trở mênh-mông, thế mà cuối thế-kỷ có người hiệp-sĩ Pháp là Lafayette đứng lên mộ hàng nghìn chiến-sĩ, sang tận Mỹ-châu giúp sức cho Hoa-thịnh-đốn đánh đuổi quân Anh.

Xây-dựng Mỹ-quốc độc-lập. Ấy là một giai-thoại anh-hùng, thế-giới đều biết. Báo-đáp cái nghĩa-cử ấy, trong trận Âu-chiến 1914-1918, trước khi Mỹ-quốc gia nhập đồng-minh, đã có vô số người Mỹ tự nguyện đầu quân sang đánh giúp Pháp ; họ đến viếng mộ Lafayette đặt vòng hoa và nói câu vắn-tắt thâm tình này : « Chúng tôi đã đến đây, Lafayette ! » (Nous voici, Lafayette !)

Các chí-sĩ Đông-du nhà ta, nhất là những người đã tốt-nghiệp quân-sự như ông Lập Nham, người có tài cao thì cầm quân như ông, kẻ có sức khỏe thì đăng lính khá nhiều, hoặc biết chữ thì sung vào việc bí-thư trong quân-đội ; ai nấy sốt-sắng đóng góp chút ít hơi sức vào buổi đầu Trung-hoa cách-mệnh là trông cho đào trả mận sẽ thấy một ngày rất gần có những hiệp-sĩ Trung-hoa vác súng qua đây mà nói :

« Chúng tôi đã đến đây, hỡi bạn Việt-nam ! »

Huống chi, môi hở răng lạnh, Việt-nam bị Pháp chiếm-cứ tức là các tỉnh Vân, Quảng nước Tàu luôn luôn bị dòm-ngó, uy-hiếp. Trái lại, Việt-nam độc-lập tức là hàng rào miền nam Trung-quốc được kín-đáo, chắc-chắn ; thế thì Trung-quốc giúp Việt-nam được giải-phóng cũng là một việc tự cứu vậy.

Ấy trong ba năm 1911, 1912, và 1913, ông Lập Nham phục dịch trong quân-đội Trung-hoa, là cốt vì tiền-đồ tổ-quốc, chứ không phải vì mình. Những chiến-sĩ cách-mệnh như ông chẳng phải cầu lấy vinh-dự đóng quan ba, quan tư bên Tàu, hòng sau về nước huyễn-diệu khoe-khoang với bà-con ; ví như lắm bạn thanh-niên sau này được học qua năm, bảy tháng hay một năm ở trường võ-bị Hoàng-phố, rồi khi về gặp ai cũng tự phô-trương : ta là cựu học-sinh Hoàng-phố đây !

Nhưng rồi ông chán-chường thất vọng, bởi thấy nội-tình Trung-hoa rối bét, mình chẳng trông mong gì được. Điều tin-cậy chất-chứa trong tâm-não ông và các bạn đồng-chí, lúc trước nồng-nàn bao nhiêu, bây giờ nguội-lạnh đi bấy nhiêu.

Nội-tình Trung-hoa lúc này thật nát-bét như tương. Quần hùng, cát cứ, nam bắc phân tranh, cảnh tao loạn không khác gì thời đại Xuân-Thu, Chiến-Quốc. Tiếng là chính thể Cộng-hòa, có tổng-thống, có quốc-hội, nhưng tổng-thống, quốc-hội chỉ ngồi hư vị, ôm hư danh, hiệu-lệnh chẳng thi-hành với ai được. Trung-ương tập quyền biến ra địa-bàn chuyên chế. Mỗi vị đốc-quân có mấy chục vạn quân trong tay, chiếm giữ một vài tỉnh làm chủ : thu thuế, bổ quan, trị dân, xử kiện, tha hồ làm mưa làm gió, tác oai tác phước, không thuộc quyền Trung-ương, mà Trung-ương cũng chẳng làm gì được họ. Đã thế, họ còn lại sinh sự nội chiến, khói lửa tứ tung, làm cho đời sống của dân điêu-đứng khổ-sở vô cùng.

Thấy nội tình Trung-hoa như thế, ông Lập Nham sinh chán, vì mình phục dịch hy-sinh, là cốt mong họ trả lại nước ta bằng sự giúp-đỡ, nay bản-thân họ xem ra tự cứu không xong, còn cứu giúp được ai ?

Thôi chẳng trông-cậy được người, vận-mệnh mình, tự mình phải lo lấy, cứ việc kiệt tận nhân lực với tổ-quốc đồng-bào, dù chết cũng cam.

Ông bèn từ chức ở Hán-khẩu, trở về Quảng châu, tìm kiếm đồng-chí Việt-nam đã lập thành cơ-sở ở đó, chính do Sào Nam tiên-sinh phụ trách.

Không ngờ cơ-quan đã bị phá vỡ, do cuộc giao-thiệp khôn-khéo của toàn-quyền Sarraut với Long tế Quang, đô-đốc Quảng-đông lúc ấy. Nguyên-nhân từ hai vụ ném bom ở Thái-bình và Hà-nội mùa hạ năm 1913 mà thủ-phạm đều là người ở ngoài phái về. Long tế Quang vừa được hối lộ nhiều, vừa sợ Pháp uy hiếp, liền hạ giải tán cơ-quan cách-mệnh Việt-nam tại Quảng châu, và bắt giam những tay trọng-yếu. Vì thế, trước đó tám ngày, hai ông Sào Nam và Mai Lão Bạng bị tống giam vào ngục tối ; nỗi lo họ Long giao trả về Đông-dương cho người Pháp kết án luận tội, lúc nào cũng ngơm-ngớp như có lưỡi gươm kề cổ. Còn các đồng-chí thì tan-tác mỗi người một nơi tìm phương đào thoát.

Phần lớn chạy về Quế-lâm, thủ-đô Quảng-tây giáp giới đất nhà.

Ông Lập Nham cũng đi Quế-lâm và Nam-ninh tìm gặp đồng-chí để mưu hành-động. Lúc này việc lớn có cơ làm được. Cuộc diện Âu-châu bắt đầu sôi nổi, Đức ngầm tổng động-viên, sắp-sửa đánh Pháp đến nơi.

Đồng-chí ta ở Quế-lâm đọc báo thấy tin Âu-châu như thế, nhận là cơ-hội khả thừa cho tổ-quốc. Các ông bàn-định nhau kinh-doanh một số tiền to, phần mua phần mượn khí-giới của các đảng cách-mệnh Tàu, mộ dân Tàu ở biên-giới, tổ-chức thành mấy đội quân phục-quốc, đã có ông Lập Nham và mấy đồng-chí nữa có học-thức, có kinh-nghiệm quân-sự, lĩnh việc huấn-luyện, chỉ-huy. Rồi ta khởi binh tự biên-giới đánh sang thượng-du Bắc-bộ, chiếm lấy mấy nơi làm căn-cứ, hô hào dân-chúng dấy lên, nội ứng ngoại hợp, cùng đánh kẻ thù, trong khi chúng phải bối rối về việc tổ-quốc bị công-kích nguy-ngập.

Công-cuộc đảng ta đang bố-trí tiến-hành, ai nấy đều đem hết tâm-lực, cầm chắc thế nào cũng sẽ thi-thố như nguyện ; ngờ đâu lại bị thủ-đoạn ngoại-giao của người Pháp làm cho việc ấy thành ra giấc mộng.

Người cầm quyền ở Quảng-tây hồi bấy giờ – hình như đốc-quân Lục vinh Đình nếu không phải chúng tôi nhớ sai – đã hứa giúp-đỡ cách-mệnh Việt-nam, rồi trở mặt nhận hối-lộ của người Pháp mà thẳng tay bắt bớ chí-sĩ ta, phá-hoại mưu-đồ ta, có lẽ chỉ còn gang tấc cách xa thực-hiện.

Nhiều người may-mắn hay tin trước, vừa kịp thoát hiểm ; trong số ấy chính ông Lập Nham là một.

Vào khoảng giữa năm giáp-dần (1914) ông lẻn về nước, trong ý quyết-định thủ-xướng một cuộc khởi-nghĩa ngay ở đất nước nhà.

*

Đổi tên khách, ông đáp tàu ở Hương-cảng thẳng về Sài-gòn, vào Chợ-lớn ở trà trộn giữa xã-hội Hoa-kiều dọ-thám tung-tích đồng-chí.

Hồi này có nhiều nhà cách-mệnh Bắc-hà bị người Pháp an trí ở Nam-bộ : ông Nguyễn Quyền tức Huấn Quyền nguyên giám-đốc trường Đông-kinh nghĩa-thục bị an trí ở Bến-tre, sau khi ở Côn-lôn được thả về ; ông cử Dương bá Trạc ở Long-xuyên, Võ Hoành ở Sa-đéc ; còn nhiều người khác tản-mát ở khắp Lục-châu : tiếng là mỗi người được ở một nơi tự-do, nhưng con mắt cú-vọ của ty trinh-thám luôn luôn giám thị gay-gắt.

Chính cụ cử Nhị-khê đã bị đưa qua Nam-vang an trí hơn một năm vì những việc bạo-động xẩy ra ở Bắc-bộ năm 1913 ; cụ bị bắt rồi đày sang kinh-đô Cao-miên giữa lúc sắp-sửa lên đường khứ-quốc Đông-du.

Tuy nhà đương-cục Pháp khéo dùng cách phân quần ly cư, bắt mỗi người ở một chỗ và xem-xét nhất cử, nhất động rất nghiêm, nhưng các nhà cách-mệnh ta có tai mắt xếp-đặt các nơi, vẫn có những phương-pháp mật-nhiệm khôn-ngoan để cùng nhau trao-đổi tin-tức thanh khí. Chẳng những trao-đổi giữa đám quản thúc hay các đồng-chí ở Nam-bộ mà thôi, lại thường giao-thông âm tín với các bạn ở hải-ngoại không lúc nào đến nỗi đoạn-tuyệt.

Ví-dụ, ông Ba Tiêu – cũng là người bị an trí – mở hiệu thợ giặt ở cầu Khánh-hội, gần bến tàu tức là bộ giao-thông cho các đồng-chí trong nước với hải-ngoại, do những đám người làm việc dưới tàu biển phụ-trách tin đi mối về. Ngay trong ty mật-thám Pháp ở Sài-gòn đảng ta cũng đặt người tâm-phúc xen-lộn vào làm việc, bề ngoài rõ là viên chức trung-thành, mà bề trong chính là tay phản-gián-điệp và là tai mắt của đảng ta đấy. Nhiều hiệu khách ở Chợ-lớn và Lục-tỉnh cũng sẵn lòng tiếp thu hay phát đệ thư-tín hải-ngoại hộ ta.

Nhờ có những cuộc xếp-đặt như thế các ông Kỳ-ngoại-Hầu, Võ mẫn Kiến, Phạm cao Đài v…v… từ bên Nhật, bên Tàu đi về Nam-bộ nhiều phen đều được an toàn vô sự. Những bạn đồng-chí ở Côn-lôn vượt ngục trốn về, miễn là bám chưn lên đất Nam-bộ, tức thì chắc-chắn có chỗ nương thân, có người bao bọc. Hễ nắm được đầu mối là lần ra tất cả sợi dây liên-lạc.

Cũng nhờ có những cuộc xếp-đặt bí-mật như thế, ông Lập Nham từ hải-ngoại trốn về ở Sài-gòn, Chợ-lớn có mấy hôm, liền tìm ra tung-tích ông Dương bá Trạc hiện bị an trí tại châu-thành Long-xuyên.

Họ Dương, sau khi tiễn bạn Lập Nham ở Móng-cáy xuất-dương, như ta đã biết, trở về Hà-nội tham gia một phần đắc lực vào phong-trào Đông-kinh nghĩa-thục, hồi 1907, và các cuộc hoạt-động phản-đối ở Bắc mấy năm kế đó. Đến năm 1909 bị kết án và bị đày ra Côn-đảo ; chung vào một đoàn dài Văn-thân Trung, Bắc như các ông Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế, Nguyễn Quyền, Lê Đại v.v… Hơn một năm sau, Dương và mấy bạn đồng án vì việc Đông-kinh nghĩa-thục, cùng được thích-phóng ở Côn-đảo, nhưng về an-trí ở Nam-bộ, cũng như giam lỏng mỗi người một nơi ; chứ không được về Bắc.

Đến năm giáp-dần (1914), có vụ đánh phá khám lớn Sài-gòn, Dương ở trong số tình nghi, bị bắt giam mấy tháng, sau được tha về an-trí ở Long-xuyên như cũ. Có điều lần này phải ở một căn nhà gần kề sở cảnh-sát cho họ tiện canh-gác đêm ngày và bị cấm tuyệt giao-du đi lại với bất cứ ai.

Ấy thế mà ông Lập Nham xuống Long-xuyên gặp mặt bạn cũ và cùng các đồng-chí cách-mệnh Nam-bộ luôn mấy đêm ngày thảo-luận kế-hoạch cứu-quốc.

Ông đến ở nhà đồng-chí Nguyễn thượng Khách ở làng Mỹ-phước gần châu-thành Long-xuyên. Nhà ở tỉnh này, phía sau đều có ngòi lạch thông nhau, lính-kín chẳng khi nào đi tuần-phòng tới ; ngòi lạch ấy là đường giao-thông rất tiện cho nhà cách-mệnh.

Mỗi đêm, thượng Khách sai gia-đinh chèo một chiếc xuồng con đi đón Dương đến nhà mình hội đàm với Lập Nham và nhiều đồng-chí khác.

Cuộc hội-đàm kéo dài luôn bốn năm ngày chỉ bàn-soạn có một vấn-đề mà ai nấy cùng ôm-ấp trong lòng, là phương-châm khởi-nghĩa đánh thực-dân.

Các ông bàn xét với nhau vấn-đề trọng-yếu ấy đủ các phương-diện.

Về cơ-hội, anh em đồng ý rằng lúc này chính là lúc ta nên thừa thế phấn khởi. Quân thù ta hiện đương vướng chưn vào họa chinh-chiến ở đất nước họ, mà xem thế càng ngày càng nguy, hẳn không thể nào khuynh tâm tận lực đàn-áp ta được như trước. Ta cứ phất cờ độc-lập, nổi hiệu tranh-đấu, khua động tất cả tầng lớp xã-hội trong nước dấy lên ủng-hộ ; trước hết tự mình tỏ-bày ý-chí tự-do, tinh-thần kháng chiến của mình ra, rồi hãy trông-mong thiên-hạ giúp-đỡ. Chừng ấy, chính những địch-quốc của Pháp sẽ vì chiến-thuật có lợi cho họ mà phù-trợ ta cũng nên.

Nhưng hiện-thời liệu ta có đủ lực-lượng để khởi-nghĩa không ?

Trước câu hỏi này, có ông nói từ ngày khởi lên chiến-tranh ở châu Âu, người Pháp đã đem và sẽ phải đem nhiều binh lực của họ về Tây, ở đây không còn mấy chút, có lẽ nào ta không đương đầu nổi ư ?

Trái lại, ông Lập Nham là người từng được học việc binh tân-thời, từng có kinh-nghiệm về quân-sự, chiến-trận, cho nên ông hiểu rõ năng-lực của mình đến đâu và lực-lượng quân thù ra sao ?

Ông nói : « Chúng ta phải tri bỉ tri kỷ trước khi bắt tay vào việc ; chớ có khinh thường lực-lượng kẻ thù ta ! Tuy chúng có đưa bớt binh-lực về Pháp cũng còn dư quân-lính khí-giới để phòng-thủ Đông-dương. Quân-lính khí-giới ấy chắc không địch nổi một cường-quốc như họ, đến đây xâm-lăng thì có ; chứ không khó-khăn tiêu-diệt những đạo binh ô-hợp và không luyện-tập của ta. Bởi vậy, nói khởi-nghĩa tức là giải quyết vấn-đề quân-sự. Cố-nhiên phải lo nhiều phụ-thuộc ; khí-giới, tài-chính ; lương-thực, tuyên-truyền, v.v… nhưng cần nhất là chiến-sĩ phải có luyện-tập thuần-thục mới được ! Đến quân-sự thủa xưa, người ta chỉ cốt có bắp thịt sai khiến nổi ngọn mác, thanh gươm, thế mà còn phải rèn-tập công-phu mới thành tên lính, mới đi ra trận được ; huống chi với chiến-thuật đời nay ! »

Cử tọa đều nhận ý-kiến ông là xác-thực. Vậy phải tính kế chắc-chắn, rồi hãy cử sự ; nhất là về binh-lực cần phải luyện-tập, nếu không thì lại hóa ra chuyện sương mai hoa đèn như những lớp trước. Âu-chiến chưa thế kết-thúc ngay được đâu, tất còn kéo dài năm ba năm nữa, ta cứ dự-bị hẳn-hoi, sẽ có dịp xướng nghĩa diệt thù mong đến thắng lợi.

Kết-luận, đồng-chí dự hội đều tán-thành kế-hoạch (« khẩn điền, luyện quân ») ở bên Xiêm, giao cho ông Lập Nham phụ trách huấn-luyện.

Người Việt-nam ta sang kiều-ngụ đất Xiêm vốn đông, chia ra nhiều hạng, mỗi hạng sinh-tụ riêng một khu, gọi là xóm.

Những người ở xóm Bang-pho gần kinh-thành Bangkok, hầu hết là con-cháu đám dân đi tránh nạn Tây-sơn, theo vua Gia-long sang tự cuối thế-kỷ XVIII. Trừ ra ông già bà cả còn nhớ gốc-tích cũ, kỳ dư đã đồng hóa với người Xiêm. Họ ở riêng thành mấy làng, nhiều người kinh-doanh buôn-bán trở nên giàu-có.

Người ở xóm Kinh là người di-cư sang sau người xóm Bang-pho. Trong đó có một số là bộ-hạ cụ Phan Đình Phùng kéo sang từ 1895. Sau khi cụ Phan qua đời, nghĩa-binh tan rã, họ không chịu hàng-phục người Pháp, đưa nhau qua Xiêm sinh-tụ từ đó đến nay, vẫn nói tiếng mẹ đẻ.

Còn người ở xóm Xiêm là tín-đồ Thiên-chúa ; trải mấy triều vua Minh-mệnh, Thiệu-trị Tự-đức, họ trốn nạn cấm đạo trong nước mà chạy sang Xiêm, phần nhiều sinh-nhai về nghề chài lưới.

Đến khoảng 1908–1909, Sào Nam tiên-sinh xin được nhà đương-cục Xiêm cho khai-khẩn một sở ruộng ở Ban-thầm, tụ-họp những thanh-niên cường-tráng không chịu làm nô-lệ Pháp, sang đấy ở phá rừng làm ruộng để đợi thời cơ. Có lúc Sào Nam tiên-sinh bất đắc chí ở Nhật và ở Tàu, đã sang Xiêm ở đồn-điền Ban-thầm một độ, cùng anh xem chia xẻ khó-nhọc, cuốc đất, trồng cây, khi rảnh thì viết văn cổ-động cách-mệnh gửi về nước. Cho đến năm tân-Hợi (1911) cách-mệnh Tàu thành công, tiên-sinh mới trở về Trung-quốc.

Nay cuộc hội-nghị cách-mệnh ở Long-xuyên cũng quyết-định theo-đuổi kế-hoạch ấy, nhưng mở-mang rộng lớn hơn nhiều.

Các đồng-chí cử ông Lập Nham chuyến này ra ngoài, đi ngay sang Xiêm, lập một nơi làm ruộng đốn cây to-tát, chiêu-tập hết anh em các nơi về ở cả đấy ; lại chọn-lựa những dân mình hiện kiều-ngụ ở Xiêm, có ai còn nhớ tới tổ-quốc thì cùng quy-tụ lại tất cả lấy năm ba ngàn người ; bề ngoài chuyên việc thực-nghiệp mà bề trong thì huấn-luyện quân-sự. Số tiền cần dùng để kinh-doanh, đồng-chí Nam-bộ sẽ quyên góp, vận sang bao nhiêu cũng có.

Ông Lập Nham cùng mấy đồng-chí nữa cùng có quân-sự học-thức như ông, sẽ ở bên Tàu đưa sang, cùng ra sức rèn-tập cho năm ba ngàn người ấy thành một toán quân cường-kiện, xứng đáng là những chiến-sĩ tiên-phong. Rồi thì rình-mò cơ-hội sẽ mưu với người Đức hoặc một cường-quốc khác, bán khí-giới cho mình, bấy giờ nhất cử kéo về, nổi hiệu cờ quang phục.

Kế-hoạch nhất định với nhau thế rồi, ông Lập Nham từ-giã anh em, lên đường đi Xiêm.

Đánh máy : kn1tinhyeu, minhhai1768, searatsuki, thuhang1319, chau_la_la, butterflyfairy, mientay2012
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.