Lương Ngọc Quyến Và Cuộc Khởi Nghĩa Thái Nguyên 1917

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII. HAI BÀI HỊCH CỦA CÁCH-MẠNG-QUÂN

❊ ❊ ❊

Từ hồi nửa đêm bắt đầu khởi-nghĩa, qua ngày hôm sau, Thái-nguyên cách-mạng-quân công bố hai bản tuyên-ngôn có tính-cách như hai bài hịch-văn kể tội-trạng Pháp thực-dân và kêu gọi đồng-bào ủng hộ cách-mạng.

Theo lời những người có dự vào cuộc khởi-nghĩa lúc bấy giờ – và sau người Pháp điều-tra cũng thế, – bản tuyên-ngôn thứ nhất phát biểu vào hồi nửa đêm, nghĩa là lúc Thái-nguyên Quang-Phục Quân tuyên-bố thành lập. Người khởi thảo hình như ông tú Hồi-xuân, ông Ba Quyến nhuận sắc lại, từ trong đề-lao hôm trước ? Bản tuyên-ngôn thứ nhì, sáng hôm sau công bố ; công sứ Darles bảo là tác-phẩm riêng của ông Ba Quyến. Song có thuyết nói cũng là một bạn chính-trị-phạm trong khám đã phụ-trách thảo ra, chứ không phải là ông Ba Quyến, vì sau lúc khởi-nghĩa, công-việc chăm chú của ông là lo nghĩ kế-hoạch tác chiến, không có thì giờ bụng dạ nào viết văn.

Chúng tôi thiết nghĩ phải vì sự thật mà ghi lấy cả hai thuyết như vậy, đợi sau có dịp chất chính.

Hai bản tuyên-ngôn cùng đứng tên Đại-đô-đốc Trịnh Cấn và có lẽ nguyên-văn đều viết bằng quốc ngữ, cốt để cho tất cả đồng-bào dễ xem, nay chỉ còn bản dịch ra chữ Pháp mà chúng tôi dịch lại sau đây.

Sau cuộc đảo chính mồng 9 tháng 3, chúng tôi đã nhờ người tìm lấy nguyên-văn ở trong kho văn-thư của chính-phủ đô-hộ, nhưng cũng không thấy. Có lẽ lâu ngày lẫn-lộn đâu mất, hay là đã bị tiêu-hủy đi rồi.

Có người biết rõ mỗi bản tuyên-ngôn lúc ấy Quang-phục-quân có dịch ra Hán-văn, sai chép nhiều bản để gửi đi các tỉnh, cốt hiệu-triệu sĩ-phu. Không biết có ai giữ được bản ấy, tức là một tài-liệu quý-hóa để góp vào Việt-nam cách-mạng sử.

1.

TUYÊN NGÔN THỨ NHẤT,

PHÁT HỒI NỬA ĐÊM,

LÚC MỚI KHỞI-NGHĨA.

Đại Hùng đế-quốc

năm thứ nhất,

tháng 7, ngày 14

Thái-nguyên tỉnh, Quang-phục-quân Đại-đô-đốc Trịnh, bố-cáo cho dân-chúng đồng-bào được biết :

Nước Việt-nam nhà ngày nay gồm trong cõi Đông-dương, nguyên xưa là đất Tương-quận (?). Dân-tộc ta vốn dòng dõi rồng tiên. Ruộng đất ta phì-nhiêu, dài mấy trăm muôn dặm, đầy những núi non linh tú. Kể từ Hồng Bàng lập quốc đến giờ, lịch-sử truyền nối hơn 4.000 năm, trải qua các triều-đại Kinh-dương-vương, Đinh tiên Hoàng, Lê đại Hành, Lý, Trần, Hậu Lê rồi đến bản-triều Nguyễn-thị, mỗi đời kế tiếp mở-mang bờ cõi thêm to, điểm tô non-sông thêm đẹp. Phải biết tổ-tiên ta đã tốn bao nhiêu thông-minh, bày-tỏ biết bao nhiêu nghị-lực, hy-sinh bao nhiêu máu thịt, mới xây-dựng lên được giang-sơn gấm vóc này để lại chúng ta.

Chẳng may đến giữa thế-kỷ thứ XIX vừa rồi, Pháp-tặc ở Âu-châu, giả lấy danh-nghĩa thông thương truyền giáo cướp mất hương-hỏa quí-hóa của ta.

Thừa cơ lúc đó triều-đình ta còn miệt-mài trau-dồi lối học khoa-cử từ-chương, không lo gì võ-bị, chúng giở ngay thủ-đoạn bạo-ngược xâm-lăng nước ta. Thoạt tiên chiếm đoạt sáu tỉnh Nam-kỳ, rồi sau dần dần sinh truyện cướp nốt Trung, Bắc. Chúng ra tay tàn sát những người có nhiệt tâm yêu nước, phá-hủy đền-đài thành-quách ta, bóc lột tiền-tài sản-nghiệp ta.

Cũng may, ta còn có những bậc anh-hùng chí-sĩ, những người danh-vọng tài-năng, biết đồng tâm hiệp lực, kháng-cự lũ giặc ngoại xâm. Binh-lực chẳng có mấy, khí-giới rất tầm-thường, thế mà các nhà cách-mạng tiên-phong ấy đã từng chiếm giữ được ít nhiều chỗ hiểm-yếu để làm căn-cứ mà đương đầu với giặc khá lâu. Ta kể ví-dụ như ông Hoàng Hoa Thám một thời oanh-liệt ở Nhã-nam, hay ông Phan Đình Phùng mười năm kháng chiến ở Hà-tĩnh, ấy là chứng-cớ hiển-nhiên.

Có điều, các vì dân-tộc ấy có chỗ thủ hiểm vững-vàng mà không gặp được thời-cơ may-mắn ; đến nỗi ngoại viện là thứ rất cần dùng thiết-yếu mà cũng không có. Thành ra khí-giới thiếu-thốn, lực-lượng yếu dần, trước sau đều bị quân địch tiêu-diệt. Từ đó tới nay, tấm gương anh-dũng của các cụ tiền-bối, không thấy người nào có đủ tài-lực nối chí làm theo.

Ngoài những hạng người lỗi-lạc hy-sinh như thế, trong xứ ta còn lại toàn là anh em quê mùa, chất phác, vô học, nhắm mắt chịu ép một bề. Thực-dân không còn trở-lực gì phải kiêng-kỵ nữa, tha hồ hoành-hành bạo-ngược, thôi thì phá-hoại ngay những luật lệ tự chúng đặt ra ; áp-dụng những thói bán quan buôn chức ; tìm đủ cách làm cho nòi-giống ta càng ngày càng đi đến họa diệt chủng ; kết án cực nặng ; hành-vi tột bực dã man ; luôn luôn nói truyện hứa hẹn khi trả. Lại còn tàn-nhẫn đến nỗi khai quật cả lăng tẩm một vị tiên-đế bản triều [1] để lấy vàng bạc châu báu, truất ngôi hai vị vua hoàng-đế ta, đưa đi an trí ở một hoang đảo thật xa [2].

Kể từ khi hạ thành Hà-nội tới giờ, chúng đã tự-do thay-đổi ngôi vua nước Nam ba lần trong khoảng ba chục năm, mà không đếm-xỉa gì đến dân tâm dư-luận.

Thuế-má thì mỗi ngày một tăng lên mãi, bà-con ta chỉ lo đóng góp cũng đủ chết. Mỗi người dân Việt-nam, như phải tròng cổ vào sợi giây, càng ngày càng xiết chặt thêm ; mười nhà hết chín lâm vào cảnh khốn-cùng ghê-gớm.

Vạn nhất có người nhiệt tâm với quốc-gia, hơi ra mặt chống chính-sách đô-hộ, liền bị tố-giác với quân thù, làm cho sở-nguyện phải bị đè-nén chôn vùi tức tốc.

Chao ôi ! Mỗi khi tưởng-nhớ cơ-nghiệp tổ tiên đã đổ bao nhiêu máu đào mới xây-dựng được nên, mỗi khi nghĩ đến tình-cảm nước nhà bấy lâu gian-truân khốn-khổ, chúng ta thấy bầm gan tím ruột, thương-xót vô cùng.

Chúng ta nhẫn-nhục đã tới cực điểm, tấc lòng bi thống giang-sơn chủng-tộc sôi nổi như nung như đốt.

Kẻ thù ta hiện đang bị công kích ở Âu-châu ; chúng bắt người mình đem sang bên Tây làm bức tường đỡ đạn ; chúng bóc-lột tài-sản xứ sở mình để tiếp-tế quân-nhu. Bà-con ta bị bắt đem sang Tây từ mấy năm nay, tội-nghiệp người sống phải trần lực ra làm-lụng vất-vả, người chết cũng chẳng được chôn cất tử-tế. Thương-hại con côi vợ góa ngồi trong nhà kêu van, ông già bà lão ra ngoài đường khóc lóc. Tình-cảnh nước nhà đau-khổ không thể tưởng-tượng. Những nỗi đau đớn kể sao cho xiết. Tóm lại, cái kiếp sống của dân ta điêu-đứng đến nông-nổi này, không tài nào cam chịu được nữa.

Nước ta khổ-sở kiệt-quệ, sống giở chết giở, cảnh-ngộ có khác gì một sợi chỉ mong-manh sắp đứt ; chịu-đựng đau-đớn nhiều quá, bà-con nhà ta như kẻ nằm liệt trên giường bệnh, hấp-hối tắt hơi.

Phen này chúng ta ra sức phấn-đấu để khôi-phục độc-lập cho tổ-quốc, nếu bất hạnh mà mục-đích không đạt, đại công không thành, thì cuộc đời hết cả sinh thú, chúng ta cũng chẳng thiết sống làm gì cho nhục-nhằn, khốn-khổ.

Bản chức, Thái-nguyên Quang-Phục quân Đại-đô-đốc, từ trước tới nay không hề có giây-phút nào quên lãng nỗi khổ của đồng-bào dân-chúng ; ngay những khi còn sống lam-lũ ở chốn thôn quê làm nghề cày ruộng, lòng hằng băn-khoăn tức-tối về thảm họa vong-quốc. Nhiều lần ta đã lập tâm xướng nghĩa khởi binh, tuốt gươm giết giặc ; nhưng rồi lại phải ngậm hờn khoanh tay, là bởi ta chưa gặp thời cơ nào thuận-tiện cho được thực-hành chí muốn. Vì thế ta đành ẩn nhẫn ra đi lính tập ; hơn mười năm trường được sống chung chạ với bao nhiêu anh em cường-tráng nước nhà mà phải ngậm miệng làm thinh, nhưng lúc nào ta cũng nuôi hoài-bão cừu thù Pháp-tặc, chớ hề biến tâm thoái chí. Từ trước tới đây, chỉ bởi lực lượng chưa đủ ; ngoại viện chưa có, theo như ý ta mong-mỏi, cho nên ta chưa muốn mưu toan đại sự một cách chơ vơ tháo thứ.

Hôm nay thời cơ đã đến, trong nước thì có những bạn đồng tâm đồng-chí cùng ta tuốt gươm chĩa súng, đánh chết quân thù ; bên ngoài thì có những nhà cách-mệnh ta bấy lâu trú-ngụ bên Tàu, bên Nhật, giờ này sắp-sửa đem quân-nhu khí-giới về giúp ta, hợp lực với ta đánh đuổi Pháp-tặc.

Ta chiêu-tập những anh em có tinh-thần tự-do độc-lập, có nhiệt tâm yêu nước thương nòi, lập thành những đạo binh cứu-quốc, và hôm nay ta bắt đầu khôi-phục lấy tỉnh Thái-nguyên. Lá cờ năm ngôi sao đã kéo lên phấp-phới trên kỳ đài, ta đã tuyên-bố Thái-nguyên độc-lập.

Cùng là con dân nước Việt-nam, chúng ta phải coi nhau như anh em ruột thịt một nhà. Vậy ai là người thông-minh, học-thức, có thể đến đây vì ta trù mưu hoạch sách, làm những việc lợi-ích chung, ai là người có sức khỏe-mạnh thì mau mau đem bắp thịt cánh tay đến giúp-đỡ ta trong cuộc chiến đấu.

Anh em ta cố sức phấn khởi phen này, đồng tâm hiệp lực, đả đảo quân thù.

Những ai đứng vào hàng ngũ ta, cùng ta tuốt gươm giết giặc, ta rất hoan nghênh, ta để cho mỗi người được thi-thố tài-năng sáng-kiến trong cuộc tranh đấu tự-do độc-lập chung.

Còn những kẻ nào vẫn manh tâm nô-lệ, phò tá quân thù, thì hãy coi chừng, ta sẽ lấy đầu không tha !

Nay bố cáo,

(Ký tên và đóng dấu son)

2.

TUYÊN NGÔN THỨ NHÌ,

SÁNG HÔM LẤY XONG TỈNH-THÀNH,

CÔNG BỐ ĐỘC-LẬP

Đại-Hùng đế quốc

năm thứ nhất

tháng 7 ngày 14

Thái-nguyên tỉnh Quang-Phục quân Đại-đô-đốc Trịnh… bố cáo đồng-bào Việt-nam được biết :

Than ôi ! Trời giáng tai-họa, nước Nam nghèo-nàn. Trận gió xâm-lược từ Tây-phương thổi tràn sang Đông, nhiều thế-hệ ta bị lôi cuốn tiêu-diệt bởi nó.

Kể có năm-chục năm nay, cơ đồ hương hỏa chúng ta trơ-trụi giống như một bãi sa mạc ; những tinh-hoa trong nước phải sống một cuộc đời nô-lệ bi-thảm ; bốn mươi triệu anh chị em đồng-bào khóc-than rền-rỉ với nhau như đang ở trong nước sôi lửa nóng ; tình-cảnh tổ-quốc đồng-bào khiến cho những chiến-sĩ ái-quốc phải động lòng xót-xa.

Bao nhiêu nỗi khổ-sở bấy lâu Trời hành chúng ta, hôm nay là hết.

Đấng Hoàng-thiên bắt chúng ta phải chịu đau-đớn để thử tinh-thần khí-tiết chúng ta, nay ngài rủ lòng đoái thương, muốn trả cho chúng ta mọi sự sung-sướng thịnh-vượng.

Bên ngoài, ta có những bậc tài-năng lỗi lạc đã hấp-thụ ánh sáng ở các nước văn-minh ngoại dương giờ đem ánh sáng về soi đường dẫn bước cho ta tiến thành ; trong nước thì có những người nhiệt tâm học-thức, đem ra áp-dụng vào việc báo thù cứu-quốc.

Năm mậu-thân chúng ta đã giết quân thù ở giữa Hà-nội [3] làm cho chúng kinh hồn hoảng vía.

Năm kỷ-dậu, cuộc khởi-nghĩa ở Lạng-sơn [4] khiến lòng phẫn-uất của người mình được hả-hơi ít nhiều.

Ngoài ra, phong-trào Đông-kinh nghĩa-thục [5] đã khích thích tinh-thần ái-quốc một độ rất sôi-nổi ; tỉnh Quảng-nam nổi lên phản kháng sưu thuế [6] ; một người học-sinh mạo-hiểm ném bom giữa thành phố Hà-nội [7] ; trong Nam-kỳ, Xích Long kéo cờ xướng nghĩa, chống-cự kẻ thù [8]. Tóm lại, chúng ta vì văn-minh vì chủ-quyền của tổ-quốc ra sức phấn-đấu hơn mười năm nay, tinh-thần ái-quốc càng ngày càng mạnh. Những việc làm nỗ lực cứu-quốc của ta đã khiến cho quân thù khiếp đảm, đồng thời lại gọi được hồn Độc-lập của quốc-dân tỉnh ngộ phấn phát.

Hiện thời cả Âu-châu đang rối-ren lục-đục, tàn sát lẫn nhau. Pháp đương nguy-khốn ở ngay trong đất nước chúng. Anh với Nga đã cùng Đức giảng hoà riêng, thế là Pháp cô lập, mất hai tay tả phù hữu bật trọng-yếu. Thổ với Áo đã chẹn ngang quân Ý để tiến binh vào đất Pháp, đánh giữa chỗ chí mạng ; thành Ba-lê không thể giữ nổi, sắp mất đến nơi.

Bản-thân Pháp đã bị nguy-ngập đến thế, làm sao còn khoe-khoang bảo-hộ chúng ta được không biết ?

Vậy ta nên nhân lúc Pháp yếu thế, thừa lấy cơ-hội hiếm-hoi thiên tải nhất thì này mà báo thù tuyết hận, khôi-phục giang-sơn.

Nay phụng mệnh hoàng-đế, ta tổ-chức quân-đội, hợp lực trong ngoài nhất quyết đánh đuổi quân thù ra khỏi đất nước. Ta đã liên kết với Trung-quốc ; võ-quan với quân-sĩ ta từng chịu huấn-luyện binh-học tân-thời ở các trường võ-bị Trung-quốc và Nhật-bản, ai nấy đã trải nhiều chiến trận, kinh-nghiệm quân-sự, phen này cùng hăm-hở đem tài học và tính-mạng về, sẵn-sàng hy-sinh cho tổ-quốc.

Với mười muôn hòm súng đạn và một ngàn phi-cơ ở ngoài đem về ta sẽ đánh quân thù những trận đòn sấm sét ; chỉ trong nay mai, ta sẽ chiến thắng thành công.

Quân-đội cách-mạng ta có nghĩa-vụ với dân với nước, quyết không sách-nhiễu và không tơ hào xâm-phạm đến tài-sản của dân ; bất cứ trong lúc hành binh hay khi đồn trú nơi nào, Quang-phục quân chỉ có một việc là thu-phục bờ cõi của tổ tiên, giết trừ quân giặc bạch-chủng, để cho toàn thể quốc dân đồng-bào được hưởng độc-lập tự-do, an cư lạc nghiệp.

Hỡi đồng-bào ! Ta phải cùng nhau gắng công ra sức phen này hầu làm cho trọn sự-nghiệp vĩ-đại, lá cờ Ngũ Tinh được phấp-phới vẻ vang khắp cả năm châu, không phụ lòng trông mong tin-cậy của tổ-quốc.

Hỡi đồng-bào ! Một Quốc-gia tân tạo, vững bền thiên thu vạn tuế, bắt đầu xây-dựng tự ngày hôm nay. Toàn thể đồng-bào cùng có trách-nhiệm tháo ách nô-lệ đè đầu đè cổ chúng ta bấy lâu.

Nay bố cáo,

(Ký tên và đóng dấu son)

❀ ❀ ❀

[1] Năm 1913, khâm sứ Huế là Mahet tự tiện đào mả vua Tự-đức, vì nghe nói mả vua chôn theo rất nhiều bạc vàng châu báo. Muốn trốn trách-nhiệm, Mahet làm giấy bảo các cụ thượng bên bộ ký tên vào. Lúc ấy duy có Nguyễn hữu Bài không ký, cũng như hồi năm 1907, Ngô đình Khả không chịu ký tên vào giấy của triều-đình xin bỏ vua Thành-thái. Nhân đấy ở kinh-đô có câu phong dao « Bỏ vua không Khả, đào mả không Bài » (Phế quân vô Khả, quật chủng vô Bài).

[2] Vua Thành-thái bị phế năm 1907, người Pháp lấy cớ nhà vua rối loạn thần-kinh, nhưng sự thật là vua không chịu ký nhượng Bắc-kỳ làm thuộc-địa. Vua Duy-tân bị phế năm 1916, sau cuộc khởi-nghĩa thất-bại. Cả hai cha con cùng bị đày sang cù-lao Réunion gần Phi-châu.

[3] Việc đầu độc ở trại lính tây Hà-nội về mùa hạ năm 1908. Đảng-viên cách-mạng hợp với Đề Thám định đánh úp lấy Hà-nội cổ-động được một số lính tập chịu làm nội ứng, đánh thuốc độc vào đồ ăn của quân lính tây, rồi quân ở ngoài sẽ kéo về tiến công. Nhưng việc không thành, vì có kẻ phản bội, chỉ thu được kết quả là ít nhiều lính tây trúng độc chết.

[4] Năm 1909, một số Đông-du học-sinh ta hợp với Đảng-viên cách-mạng Tàu nổi lên ở Lạng-sơn, giết Tây chết nhiều.

[5] Các cụ Lương văn Can, Nguyễn Quyền, Đào nguyên Phổ, Phan tuấn Phong, Lê Đại, Dương bá Trạc v.v… lập trường Đông-kinh nghĩa-thục bề ngoài là cơ-quan giáo-dục, nhưng bề trong chính là công-cuộc cách-mạng kháng thực-dân. Lúc ấy là năm 1907.

[6] Năm 1908, dân tỉnh Quảng-nam khởi lên phong-trào kháng cự sưu-thuế, kéo nhau đi hàng vạn người lên biểu tình ở trước tòa sứ. Phong-trào ấy tràn lan tới các tỉnh Bình-định, Thừa-thiên, ra đến Nghệ, Tĩnh. Người Pháp lấy võ-lực đàn áp, bắn chết lương dân vô số. Lòng người công phẫn lạ-lùng.

[7] Năm 1913, Nguyễn khắc Cần ném bom vào nhà hàng Hà-nội Hôtel, giết chết hai võ-quan Pháp là Chapuis và Montgrand.

[8] Lúc bắc đầu Âu-chiến 1914-1918, một nhóm ái-quốc ở Nam-phần, phần nhiều là người có chân trong hội bí-mật Thiên Địa hội, họp nhau khởi-nghĩa, tôn Phan xích Long làm Minh-chủ, để hiệu-triệu dân-chúng cho dễ, vì Xích Long là người tu hành nổi tiếng bùa phép. Phong-trào này đại khái cũng như phong-trào Kỳ Đồng và Thiên Binh ở Bắc, năm 1897.

Đánh máy : kn1tinhyeu, minhhai1768, searatsuki, thuhang1319, chau_la_la, butterflyfairy, mientay2012
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.