Tới đây thì thần Sông Achéloüs im lặng. Câu chuyện về cái phép lạ đó đã làm xúc động mọi người có mặt. Nhưng có chàng trai trẻ tên là Pirithoüs, con trai của Ixion, chế nhạo sự cả tin của họ; anh thường có những ý tưởng ngông cuồng và hay tỏ ra khinh miệt thần linh. “Achéloüs này, đó chỉ là những chuyện thần tiên mà bạn đem ra kể,” anh nói, “và bạn gán cho các ông thần đó quá nhiều quyền năng, nếu bạn tin là họ có thể ban cho và lấy đi hình dạng của các sự vật.”
Mọi người thấy sốc và không tán thành những lời lẽ như thế, nhất là Lélex, một người chín chắn cả tuổi tác lẫn đầu óc; ông lên tiếng: “Quyền năng của Trời quả thật là không có giới hạn, không thể tính toán được, và bất kể thứ gì mà chư vị thần linh quyết định thì nó được thực hiện. Và đây là câu chuyện có thể chấm dứt những mối nghi hoặc của bạn: ở vùng Phrygie[1] nhiều đồi có một cây sồi và một cây đoạn đứng bên cạnh nhau, được bao quanh bởi một bức tường thấp. Chính tôi đã thấy chỗ ấy, vì vua Pitthée của thành Trézène[2] gởi tôi đến vùng Phrygie đó, nơi mà Pélops, cha của ông ấy, từng trị vì. Không xa chỗ mà tôi nói đến có một cái bãi lầy, ngày xưa người ta còn ở được chứ giờ chỉ có nước, nơi tụ tập của các con chim lặn và sâm cầm. Jupiter, giả dạng làm người phàm, có đến đó cùng với con trai mình là Mercure, và đứa cháu ngoại của Atlas[3] này chỉ mang theo cái quyền trượng còn hai cánh thì bỏ sang một bên[4]. Một ngàn nhà họ đến xin trú qua đêm thì cả một ngàn nhà đóng sập cửa trước mũi họ. Riêng chỉ có một nhà là chịu mời họ vào; và nó quả là nhỏ thật, mái lợp tranh và sậy lấy từ các đầm lầy; nhưng ở đó có hai vợ chồng già sùng đạo cùng tuổi là bà Baucis và ông Philémon, lấy nhau từ thời trẻ, và cũng ở trong cái nhà nhỏ này họ đã cùng nhau đi đến tuổi già; họ nghèo thật nhưng họ chịu đựng cái nghèo bằng cách chấp nhận nó mà không thấy cay đắng gì cả. Dĩ nhiên, không có ích gì khi ta muốn tìm chủ hay tớ trong cái nhà này. Chỉ hai người họ là cả nhà rồi, họ ra lệnh và họ làm lấy, cùng nhau.
Vậy là, khi hai người khách từ thiên giới đặt chân đến cái nhà nghèo nàn đó, và cúi đầu bước qua cái cửa thấp để vào trong nhà, ông già Philémon vội vàng kéo ra cái ghế dài mà trên đó Baucis trải một cái mền xù xì, và mời họ ngồi xuống nghỉ chân. Rồi bà gạt đám tro còn ấm trong lò sang một bên, nhen lên ngọn lửa của ngày hôm qua bằng cách đẩy thêm vào nào lá khô, nào vỏ cây, hơi thở tuy yếu vì tuổi tác vẫn thổi được nó bùng lên. Xong, bà lấy từ trên mái nhà xuống vài khúc củi đã được chặt nhỏ trước đó cùng với những cành khô, còn ra tay bẻ chúng cho nhỏ thêm, rồi đặt chúng dưới một cái nồi đồng nhỏ. Tiếp đó, bà cầm lên cái bắp cải mà người chồng đã mang vào từ mảnh vườn được tưới nước đầy đủ, và lột bỏ lớp lá bên ngoài của nó. Trong khi đó, Philémon dùng một cái chĩa hai răng lấy miếng thịt thăn xông khói treo ở rường nhà bị ám đen xuống, rồi sau khi cắt ra một miếng nhỏ từ cái phần thịt heo được để dành lâu ngày này, ông thả nó vào nước đang sôi.
Trong lúc bận tay như thế nhưng họ vẫn vui miệng tiếp chuyện với hai người khách để thời giờ chờ đợi bữa ăn qua nhanh. Rồi họ giũ tấm nệm bằng cói mềm, đặt nó trên chiếc giường có khung và chân bằng gỗ liễu. Và họ trải lên bộ khăn giường mà chỉ trong những ngày lễ hội họ mới mang ra dùng; nhưng nó thuộc loại rẻ tiền và sờn cũ, quả là hợp với cái giường gỗ liễu. Hai vị thần nằm tựa lưng ở đó. Bà cụ, váy được kéo lên cho gọn, bàn tay run rẩy, sửa soạn bàn ăn. Nhưng cái bàn ba chân này lại có một chân quá ngắn, bà phải lót vào một mảnh sành để nâng nó lên một chút. Khi thấy các chân đã đều nhau, bà bắt đầu chùi mặt bàn bằng lá bạc hà tươi. Tiếp đó, bà đặt lên bàn những quả ô-liu xanh đã chín, đúng là quả của nữ thần Minerve, và những quả thù du được hái vào mùa thu và được ngâm trong cặn rượu vang; rau cúc đắng và cải củ tía, phó mát kem và trứng được nướng sơ trong tro nóng, tất cả được bày trong những dĩa bằng đất nung. Sau những món hảo hạng này bà mang ra cái liễn pha rượu có chạm trổ, cũng đắt tiền không kém, cùng với những cái cốc bằng gỗ sồi rừng, phía bên trong được phủ một lớp sáp vàng. Chỉ một lát sau từ bếp mang lên những món cao lương mỹ vị còn nóng hổi, và rượu vang, có vẻ chưa được cất giữ lâu năm cho lắm, được uống cùng với món ăn, rồi rượu được đẩy sang một bên, dành một ít chỗ để đặt lên phần ăn thứ hai. Đây là những quả hạch, quả sung, quả chà là khô, quả mận, táo thơm để trong những cái giỏ rộng, và những chùm nho đỏ tía mới hái từ cây nho; ở giữa bàn ăn là một tầng ong có mật hơi trắng và trong.
Nhưng trên tất cả là hai bộ mặt vui vẻ ở bàn ăn, và thiện ý thì tràn đầy và sinh động.
Giữa lúc ấy thì cặp vợ chồng già nhận thấy là cái liễn pha rượu, thường được rót cạn, tự nó làm đầy lại liên tục và rượu vang cũng tự nó tuôn ra. Hai người già thấy ngạc nhiên và sợ hãi cùng lúc trước cảnh tượng lạ lùng này; và đưa hai bàn tay lên trời, họ thầm thì cầu nguyện, xin tha thứ cho bữa ăn ít ỏi và sự tiếp đãi khách quá sơ sài. Họ có một con ngỗng, chỉ một con, dùng để canh giữ cái nhà nhỏ bé này, và bây giờ họ sẵn sàng hy sinh nó để đãi hai người khách trời. Nhưng con ngỗng nhanh chân lẹ cánh khiến hai kẻ già nua chậm chạp phải mệt nhoài khi đuổi bắt nó. Nó trốn tránh được họ một đỗi lâu rồi cuối cùng tìm được chỗ trú ẩn bên cạnh hai vị thần. Đến lúc đó thì họ cất tiếng bảo hai người chủ nhà đừng giết con ngỗng nữa. ‘Chúng ta là thần đây,’ họ nói, ‘và bọn người láng giềng xấu bụng sẽ bị trừng phạt đích đáng, nhưng hai ông bà sẽ được hưởng ngoại lệ đối với sự trừng phạt này. Hãy rời khỏi nhà bây giờ và đi với chúng tôi đến ngọn núi cao đằng kia!’ Cả hai người đều tuân lệnh, và chống gậy leo một cách khó nhọc lên cái dốc dài.
Khi cặp vợ chồng già chỉ còn cách đỉnh núi độ chừng một tầm tên bay, họ quay đầu nhìn lại và thấy cả một vùng đồng quê bị ngập chìm dưới nước, chỉ có ngôi nhà của họ là còn đứng thấy được. Và trong khi họ ngạc nhiên về việc này, trong khi họ khóc cho số phận của những người láng giềng thì ngôi nhà cũ kỹ của họ, từng quá nhỏ đối với ngay cả hai người ở, giờ đây được biến thành một ngôi đền. Các cột nhà chia nhánh ở chân bằng gỗ thì bây giờ bằng đá cẩm thạch, và tranh trên mái từ từ ngả vàng cho tới khi cả mái nhà có màu vàng kim óng ánh; các cánh cổng thì được chạm trổ công phu và nền đất thì được phủ đá cẩm thạch. Rồi người con trai của Saturne, tức Jupiter, lên tiếng một cách điềm đạm:
‘Này ông già tốt bụng, và bà nữa, xứng đáng là vợ của người chồng tử tế này, hãy nói cho chúng tôi biết hai ông bà muốn được tặng gì?’ Sau khi nói chuyện một chút với Baucis, Philémon đưa ra trước các vị thần cái quyết định chung của hai người: ‘Chúng tôi muốn thành người tế lễ và trông coi ngôi đền của ngài; và bởi vì vợ chồng tôi đã đồng cam cộng khổ từ xưa tới nay, cả đời vui buồn có nhau, chúng tôi xin được chết cùng lúc - tôi sẽ không phải thấy nấm mồ của vợ, và bà ấy sẽ không phải chôn cất tôi.’
Lời thỉnh cầu của họ được chấp thuận. Họ được giao việc chăm lo cho ngôi đền chừng nào họ còn sống. Rồi cuối cùng khi họ lìa đời vì quá cao tuổi thì họ bất ngờ thấy mình đứng trước ngôi đền thiêng nói chuyện về những ngày xưa cũ. Và Baucis thấy cả người Philémon mọc đầy lá, và Philémon cũng thấy y chang vậy nơi người Baucis; và trong khi các ngọn cây bắt đầu thành hình trên hai khuôn mặt, họ dịu dàng nói lên cùng một lời lúc còn có thể mở miệng: ‘Vĩnh biệt, hỡi người yêu dấu’ vừa kịp trước khi vỏ cây phủ kín đôi môi họ.
Cho tới tận ngày nay dân quê vùng Bythinie đó vẫn chỉ cho thấy hai cây đứng sát nhau ở đó, xuất phát từ hai cơ thể của cặp vợ chồng già. Những cụ già đáng tin đã kể cho tôi những chuyện này, họ đâu có lý do gì mà dối gạt tôi. Chính mắt mình tôi đã thấy những vòng hoa tạ ơn treo trên cành cây, và bản thân tôi khi đặt những vòng hoa tươi ở đó có nói: ‘Những người phàm nào mà được thần linh chăm sóc cho thì chính họ cũng là thần linh; hãy để cho những ai thờ phụng thần linh thì cũng được thờ phụng.’”
❀ ❀ ❀
[1] Phrygie: một vùng đất ở Tiểu Á, nơi có thành Troie xưa kia.
[2] Pitthée: vua thành Trézène ở Hy Lạp, cha của Lélex, người đang kể chuyện ở đoạn này,
[3] Mercure (Hermès): có cha là Jupiter và mẹ là Maia, một trong bảy cô con gái (được gọi là “Pléiade”) của thần Atlas.
[4] Cái quyền trượng (caduceus) và đôi cánh là hai biểu hiệu nổi bật nhất của Mercure, thần đưa tin (hay thiên sứ) thân tín nhất của vua cha Jupiter. Quyền trượng này là một thanh gỗ lấy từ cây nguyệt quế hay cây ô-liu, có hai cánh ở trên đầu và ở dưới là hai con rắn quấn quanh. Đây là phù hiệu của ngành y sau này; nhưng cũng có một phù hiệu khác dành cho ngành y, được gọi là “Cây Gậy của Asclepius”, chỉ có một con rắn và một tấm gương tượng trưng cho sự thận trọng.