D'Artagnan hiểu biết thần thoại. Anh biết rằng cơ hội chỉ có một, chỏm tóc mà nắm lấy nó thì người ta mới bắt được cơ hội và anh không phải loại người để cho cơ hội chạy qua mà không tóm nó lại bằng chỏm tóc. Anh bèn tổ chức một hệ thống giao thông nhanh chóng và chắc chắn bằng cách gửi trước những ngựa thay thế đến Chantilly, để anh có thể đi tới Paris trong khoảng năm sáu tiếng đồng hồ. Nhưng trước khi đi, anh ngẫm nghĩ rằng đối với một chàng trai có trí xảo và kinh nghiệm, thì nếu dấn bước tới cái bấp bênh và để cái chắc chắn lại phía sau mình thì thật là một tư thế kỳ cục.
Cho nên lúc lên ngựa để thực hiện cái sứ mệnh nguy hiểm của mình, anh tự nhủ thầm:
“Athos là một nhân vật tiểu thuyết điển hình về lòng hào hiệp và độ lượng. Porthos là một bản chất tuyệt diệu nhưng rất dễ bị tác động. Aramis là một bộ mặt tượng hình, nghĩa là luôn luôn khó hiểu. Ba cái phần tử ấy sẽ gây ra điều gì nếu ta không có ở đây để liên kết chúng lại với nhau?… Sự giải thoát cho Giáo Chủ chăng? Giải thoát Giáo Chủ là sự đổ vỡ tan tành những kỳ vọng của chúng ta, mà những kỳ vọng của chúng ta cho đến nay là phần thưởng duy nhất của hai mươi năm lập những kỳ công mà so với chúng thì những kỳ công của Hercule chỉ là những công trình của đám người chim chích”.
Anh tìm đến Aramis và nói:
— Hiệp sĩ D'Herblay thân mến ơi, anh là phái La Fronde hiện thân. Vậy anh hãy coi chừng Athos, anh ấy không muốn làm những việc thuộc về cá nhân, ngay cả những công việc riêng tư của mình nữa. Nhất là hãy coi chừng Porthos, vì để làm vừa lòng Bá Tước mà anh ta coi như thần thánh ở dưới trần này, anh ta sẽ giúp Athos giải thoát cho Mazarin, nếu Mazarin chỉ cần khóc lóc hoặc làm ra bộ hiệp khách.
Aramis mỉm một nụ cười vừa ranh mãnh vừa quả quyết, Anh nói.
— Đừng sợ gì cả, tôi đặt ra những điều kiện. Tôi không làm cho tôi mà làm cho những người khác. Cái tham vọng nhỏ bé của tôi cũng phải thành đạt có lợi cho kẻ có quyền được hưởng chứ?
“Tốt, - D'Artagnan nghĩ, - Về mặt đó ta yên tâm”.
Anh bắt tay Aramis và đến gặp Porthos:
— Bạn thân mến ơi, - anh nói. - Cậu đã cùng với tôi đổ bao nhiêu công sức ra để xây dựng cơ đồ của mình. Cho nên vào lúc chúng ta sắp sửa thu hoạch thành quả công việc của mình, sẽ là một sự mắc lỡm kỳ cục đối với cậu nếu để cho Aramis lấn át mình. Aramis là một người tinh ranh, nhưng ta nói riêng với nhau thôi, sự tinh ranh ấy không phải lúc nào cũng không mang tính ích kỷ đâu. Hoặc chớ để Athos lấn át, anh ấy là người cao thượng và vô tư, nhưng cũng là người chán đời, chẳng còn mong muốn gì cho riêng mình nên không hiểu rằng người khác có những ao ước. Cậu sẽ nói thế nào nếu Athos hoặc Aramis đề nghị cậu để Mazarin đi?
— Tôi sẽ nói rằng chúng tôi quá cực nhọc để bắt lão ta, nên không thể thả lão ra như vậy được.
— Hoan hô, Porthos! Và cậu nói đúng đấy. Vì rằng thả lão ra là cậu buông thả luôn cả cái tước hiệu Nam Tước của mình. Ấy là chưa kể ra khỏi đây Mazarin sẽ treo cổ cậu.
— Được! Cậu cho là thế à?
— Tôi chắc chắn như vậy.
— Thế thì tôi thà giết chết lão hơn là để cho lão thoát.
— Có lẽ cậu nói đúng. Cậu biết rằng khi chúng ta làm những công việc của mình thì không phải là cốt làm những việc của những người Fronde, họ hiểu những vấn đề chính trị không giống như chúng ta là những người lính cựu đâu.
— Bạn thân mến ơi, - Porthos nói. - Đừng sợ. Qua cửa sổ tôi nhìn cậu lên ngựa và dõi theo cậu cho đến lúc khuất, rồi tôi sẽ vào ngồi ở cái cửa kính trông sang phòng Giáo Chủ. Tại đấy, tôi sẽ nhìn thấy hết, và chỉ cần thấy một cử chỉ khả nghi thôi là tôi sẽ tiêu diệt.
“Hoan hô! - D'Artagnan nghĩ bụng. - Về mặt ấy, ta tin rằng Giáo Chủ sẽ bị canh gác cẩn thận”.
Và anh bắt tay vị lãnh chúa Pierrefonds, rồi đến tìm Athos. Anh nói:
— Athos thân mến ơi, tôi đi đây. Tôi chỉ có một điều nói với anh thôi. Anh biết rõ Anne D'Autriche rồi đấy. Điều bảo đảm duy nhất cho tính mạng của tôi là sự giam giữ Mazarin; nếu các anh thả hắn ra là tôi chết đấy.
— D'Artagnan thân mến ơi, - Athos nói, - chỉ cần một duyên cớ ấy thôi cũng để tôi làm cái nghề gác ngục. Tôi xin hứa là cậu để Giáo Chủ ở đâu thì cậu sẽ tìm thấy lại ông ta ở đấy.
D'Artagnan thầm nghĩ:
“Điều ấy làm ta yên tâm hơn tất cả mọi chữ ký của vua chúa. Bây giờ, đã có lời hứa của Athos rồi, ta có thể ra đi”.
Thực sự, D'Artagnan ra đi một mạch không có hộ tống nào khác ngoài thanh gươm và tờ thông hành đơn giản của Mazarin để đến chỗ Hoàng Hậu. Sau khi rời Pierrefonds sáu tiếng đồng hồ, anh tới Saint Germain.
Việc Mazarin mất tích vẫn chưa ai biết. Chỉ riêng Anne D'Autriche biết tin và giấu giếm đi nỗi lo ngại của mình với cả những người thân. Người ta đã tìm thấy ở trong phòng D'Artagnan và Porthos hai tên lính bị trói và bịt miệng. Người ta cứu cho chúng ngay, nhưng chúng chẳng biết nói gì hơn ngoài điều chúng biết, nghĩa là chúng đã bị tóm, bị trói và bị lột quần áo như thế nào. Nhưng còn sau khi D'Artagnan và Porthos đã ra ngoài bằng lối chúng vào, tình hình ra sao thì chúng cũng mù tịt như mọi người khác ở trong lâu đài.
Chỉ có Bernouin là có biết hơn những người khác chút ít. Chuông điểm nửa đêm rồi mà không thấy chủ mình trở về, hắn bèn đi vào khu vườn cam xem. Cửa đầu tiên bị chặn bằng các đồ đạc đã gây cho hắn đôi điều nghi ngờ, nhưng hắn không nói cho ai biết và kiên nhẫn dọn đường đi qua đống lộn xộn ấy. Rồi khi đến hành lang hắn thấy các cánh cửa đều mở tung. Cửa phòng Athos và cửa đi ra vườn cũng mở. Ra vườn thì dễ nhận ra những dấu chân trên tuyết nối nhau ra đến tận bức tường. Sang bên kia tường lại vẫn thấy những dấu chân ấy, rồi vết chân ngựa giẫm tại chỗ, rồi dấu tích của cả một toán kỵ binh đi xa về phía D'Enghien. Từ lúc ấy hắn không còn nghi ngờ gì nữa rằng ông Giáo Chủ đã bị ba người tù bắt cóc mang đi, và hắn vội chạy về Saint Germain để báo cho Hoàng Hậu về sự mất tích ấy.
Anne D'Autriche dặn Bernouin phải giữ kín việc đó và hắn nghiêm chính tuân theo. Tuy nhiên bà có nói cho Ngài Hoàng Thân Condé biết và ông ta đã lập tức tung ra năm sáu trăm kỵ binh với mệnh lệnh sục sạo tất cả những vùng xung quanh và dẫn về Saint Germain mọi toán người rời Rueil đi ra bất cứ hướng nào.
Do D'Artagnan không đi thành toán mà đi một mình lại đi tới Saint Germain, cho nên chẳng ai chú ý tới anh và chuyến đi của anh chẳng bị trở ngại gì. Khi vào đến sân của tòa lâu đài cổ, người đầu tiên trông thấy vị sứ giả lại chính là Bernouin, hắn ta đang đứng một mình ở ngưỡng của chờ đợi tin tức của ông chủ mất tích. Nhìn thấy D'Artagnan cưỡi ngựa nghễu nghện đi vào trong sân danh dự, Bernouin dụi mắt ngỡ mình trông lầm. Nhưng D'Artagnan gật đầu chào thân thiện, xuống ngựa và ném dây cương vào tay một tên hầu đi ngang qua. Anh mỉm cười tiến đến chỗ Bernouin.
Giống như một kẻ đang mơ một cơn ác mộng vừa ngủ vừa nói, hắn kêu lên:
— Ông D'Artagnan! Ông D'Artagnan!
— Tôi đây, ông Bernouin ạ!
— Thế ông đến đây làm gì?
— Mang đến đây tin tức của ngài Mazarin, mà tin tức mới nhất cơ đấy!
— Thế ngài ấy ra sao rồi?
— Vẫn khỏe như ông và tôi.
— Không có chuyện gì tai hại xảy đến với ngài chứ?
— Tuyệt đối không. Ngài chỉ cảm thấy cần phải làm một chuyến đi ra khỏi Ile De France và đã yêu cầu Bá Tước De La Fère, ông Du Vallon và tôi cùng đi. Là tôi tớ của ngài, chúng tôi chẳng thể nào từ chối một yêu cầu như vậy. Chúng tôi ra đi tối hôm qua và chúng tôi đây rồi.
— Các ông đây rồi?
— Các Hạ có chuyện cần nói với Hoàng Hậu, một chuyện riêng tư và bí mật, một sứ mệnh chỉ có thể ủy thác cho một người chắc chắn, cho nên ngài đã phái tôi về Saint Germain. Vậy thì, ông Bernouin thân mến ơi, nếu ông muốn làm một điều gì đó vui lòng chủ của ông, thì hãy trình báo với Hoàng Hậu rằng tôi đến và đến vì mục đích gì.
Dù anh nói nghiêm chính hay là nói bông đùa, thì trong tình huống hiện giờ, rành rành chỉ có D'Artagnan là người duy nhất có thể gỡ mối băn khoăn lo lắng cho Anne D'Autriche, cho nên Bernouin chẳng gây khó khăn gì và vào trình với Hoàng Hậu cái chức đại sứ kỳ quặc kia và như hắn đã dự đoán, Hoàng Hậu ra lệnh đưa D'Artagnan vào ngay.
D'Artagnan tiến lại phía Nữ Chúa của mình với tất cả biểu hiện của niềm cung kính sâu xa nhất. Đến cách Hoàng Hậu ba bước, anh quỳ một chân xuống và trình bức thư.
Như chúng tôi đã nói, đó là một bức thư đơn giản, nửa là thư giới thiệu nửa là thư ủy nhiệm. Hoàng Hậu đọc, nhận thấy đúng là chữ của Giáo Chủ, mặc dầu chữ viết hơi run. Do bức thư không kể gì chuyện đã xảy ra, bà hỏi anh những chi tiết. D'Artagnan kể lại với cái vẻ chất phác và giản dị mà anh rất khéo biểu lộ trong một số trường hợp…
Càng nghe kể Hoàng Hậu càng nhìn anh với nỗi kinh ngạc tăng dần. Bà không hiểu sao một người dám âm mưu làm một việc ghê gớm như vậy và nhất là hắn ta lại cả gan kể nó ra với một Bà Hoàng đầy quyền uy và hầu như nghĩa vụ là phải trừng phạt hắn.
D'Artagnan kể chuyện xong, Hoàng Hậu tức đỏ mặt kêu lên:
— Ông dám thú nhận tội ác của ông và kể lại cho tôi nghe việc phản bội của ông à?
— Xin Lệnh Bà xá lỗi, nhưng hình như tôi đã diễn đạt tồi hoặc Lệnh Bà hiểu sai tôi, chứ trong chuyện này không hề có tội ác hoặc phản bội. Ngài Mazarin bắt giam ông Du Vallon và tôi, bởi vì chúng tôi không thể ngờ rằng ngài phái chúng tôi sang nước Anh cốt chỉ để yên lặng xem người ta chém đầu Vua Charles I, anh rể của cựu vương đã khuất là chồng Lệnh Bà, Vua Charles I là chồng của bà Henriette em chồng Lệnh Bà và hiện là khách của Lệnh Bà, và chúng tôi đã làm hết sức mình để cứu tính mạng của ông Vua tuẫn tiết. Cho nên chúng tôi tin chắc rằng trong chuyện này có điều gì lầm lẫn mà chúng tôi là nạn nhân, và một sự biện giải giữa chúng tôi với Các Hạ là cần thiết. Muốn cuộc biện giải có kết quả, nó phải tiến hành một cách lặng lẽ, xa những kẻ quấy nhiễu. Vì vậy chúng tôi đã đưa ngài Giáo Chủ đến lâu đài của một người bạn tôi, và ở đó chúng tôi biện giải với nhau. Thế đấy, thưa Lệnh Bà, điều chúng tôi dự đoán đã đến, đúng là có sự nhầm lẫn. Ngài Mazarin đã tưởng rằng chúng tôi phục vụ tướng Cromwell, chứ không phục vụ Vua Charles I vì như vậy sẽ là một điều hổ nhục từ chúng tôi lan sang ngài, và từ ngài sang Hoàng Thượng, một điều hèn nhát có thể làm hoen ố đến tận nguồn gốc vương vị của Hoàng Tộc vẻ vang. Do chúng tôi đã nêu ra chứng cớ trái ngược lại, và chứng cớ ấy chúng tôi sẵn sàng trình bày với đích thân Hoàng Thượng bằng cách kêu với bà quả phụ tôn nghiêm đang than khóc trong vùng Louvre mà lòng đại độ cao quý của Hoàng Thượng đã dung nạp. Chứng cớ ấy đã hoàn toàn thỏa mãn ngài Giáo Chủ đến mức để chứng tỏ sự hài lòng ấy, ngài đã phái tôi đến đây như Lệnh Bà thấy đấy, để thưa với Lệnh Bà về những điều sửa chữa cần thiết đối với những người quí tộc đã bị đánh giá sai và ngược đãi một cách sai lầm.
— Tôi đã nghe và khâm phục ông đấy, - Anne D'Autriche nói. - Kể ra, tôi chưa thấy một sự trâng tráo thái quá đến như vậy.
— Ấy, thưa Lệnh Bà, - D'Artagnan nói, - Đến lượt Lệnh Bà lại lầm lẫn về ý đồ của chúng tôi như ngài Mazarin đã mắc.
— Chính ông đang sai lầm đấy, - Hoàng Hậu nói, - Và tôi sai lầm rất ít đến nỗi trong mươi phút nữa ông sẽ bị bắt giữ và trong một giờ nữa, tôi sẽ dẫn đầu quân đội của tôi đi giải thoát cho Tể Tướng của tôi.
— Tôi chắc rằng, - D'Artagnan đáp, - Lệnh Bà sẽ không khi nào phạm điều khinh suất như thế đâu. Trước hết vì việc làm ấy không những là vô ích và nó sẽ dẫn đến những hậu quả thật nghiêm trọng. Trước khi được giải thoát, ngài Giáo Chủ sẽ chết, và Đức Ông rất tin tưởng sự thật của điều mà tôi nói với ngài, đến nỗi trái lại, ngài đã van tôi là nếu thấy Hoàng Thượng ở trong những trạng thái như thế này thì tôi phải làm mọi điều có thể để Lệnh Bà thay đổi chủ trương.
— Thế thì tôi đành bằng lòng với việc cho bắt giữ ông vậy.
— Tôi không mong gì hơn, thưa Lệnh Bà, vì rằng trường hợp bắt giữ tôi cũng được tiên liệu như trường hợp giải thoát ngài Giáo Chủ. Nếu ngày mai tới giờ đã định mà tôi chưa trở về thì ngày kia, ngài Giáo Chủ sẽ được đưa tới Paris.
— Này ông, người ta thấy rõ ràng, do địa vị của ông, ông sống xa mọi người và mọi sự, vì nếu không thì ông đã biết rằng ngài Giáo Chủ đã năm sáu lần về Paris kể từ khi chúng tôi rời khỏi đó, và ngài đã gặp các ông De Beaufort, De Bouillon, D'Elbeuf, ông Chủ Giáo và chẳng một ông nào có ý định bắt giữ ngài.
— Xin lỗi Lệnh Bà, tôi biết tất cả những điều đó. Cho nên bạn bè tôi sẽ chẳng đưa ngài Mazarin đến chỗ các vị ấy đâu. Các vị ấy làm chiến tranh là vì lợi ích của chính họ, và nếu ban cho họ cái mà họ yêu cầu thì ngài Giáo Chủ sẽ mua được rất lợi. Trái lại các bạn của tôi sẽ dẫn ngài Mazarin đến Nghị Viện mà chắc chắn người ta có thể mua lẻ, còn bản thân ngài Mazarin thì chẳng khá giàu để có thể mua cả mớ.
Với cái nhìn khinh thị ở một người đàn bà và trở thành khủng khiếp ở một Nữ Hoàng, Anne D'Autriche nói:
— Tôi ngỡ rằng ông dọa nạt người mẹ Đức Vua của ông.
— Thưa Lệnh Bà, - D'Artagnan nói - Tôi dọa nạt bởi vì người ta cưỡng bách tôi làm thế. Tôi lớn lên bởi vì tôi cần phải đứng ở tầm cao của các sự kiện và con người. Nhưng xin Lệnh Bà hãy tin một điều cũng đúng như có một trái tim đang đập vì Lệnh Bà trong lồng ngực này, hãy tin rằng Lệnh Bà là một thần tượng vĩnh hằng của cuộc đời chúng tôi mà Lệnh Bà biết đấy, lạy Chúa, chúng tôi đã đem mạo hiểm hàng chục lần vì Hoàng Thượng. Nào, thưa Lệnh Bà, phải chăng Lệnh Bà sẽ không đoái thương những bầy tôi của mình từ hai chục năm trời nay sống vất vưởng trong bóng tối, dù trong một tiếng thở dài cũng không thể lọt ra một điều bí mật thiêng liêng và trân trọng mà họ đã có vinh dự được chia sẻ với Lệnh Bà. Xin Lệnh Bà hãy nhìn tôi kẻ đang nói với Lệnh Bà đây, kẻ mà Lệnh Bà cáo buộc là lớn tiếng và buông giọng dọa nạt. Tôi là cái thá gì kia chứ? Một sĩ quan khốn khổ không có tài sản, không có nơi nương tựa, không có tương lai, nếu như con mắt Nữ Hoàng mà tôi tìm kiếm khá lâu rồi, không nhòm ngó đến tôi một lát. Xin hãy nhìn Bá Tước De La Fère, một điển hình của lòng cao thượng, một đoá hoa của tinh thần nghĩa hiệp. Ông ta đã vào phe chống lại Hoàng Hậu, không, đúng ra là chống lại Tể Tướng, và tôi tin là ông ta chẳng có đòi hỏi gì hết. Cuối cùng, xin hãy xem ông Du Vallon, tấm lòng trung thành ấy, cánh tay sắt thép ấy ông ta đợi chờ từ hai mươi năm nay từ miệng Lệnh Bà một tiếng thôi có thể bằng tấm huy hiệu khiến ông ta trở thành cái mà ông ta rất xứng đáng về tinh thần và tài năng. Cuối cùng xin hãy xem đám dân chúng kia, họ quan trọng đối với một Nữ Hoàng lắm chứ, đám dân chúng ấy yêu quí Lệnh Bà, tuy nhiên họ đau khổ. Lệnh Bà yêu quý họ, tuy nhiên họ đói rách, họ không đòi hỏi gì hơn là cầu phúc cho Lệnh Bà, tuy nhiên họ… không, tôi nói nhầm, không bao giờ dân chúng oán trách Lệnh Bà. Vậy thì xin Lệnh Bà nói một lời và mọi việc xong xuôi, hòa bình thay thế chiến tranh niềm vui thay thế nước mắt, hạnh phúc thay thế thảm họa.
Với vẻ ngạc nhiên. Anne D'Autriche ngắm nhìn gương mặt võ thượng của D'Artagnan, trên đó có thể đọc được một biểu hiện xúc động lạ lùng.
— Sao ông không nói ra tất cả điều đó trước khi hành động? - bà hỏi.
— Thưa Lệnh Bà, vì cốt để chứng minh với Hoàng Thượng một điều mà Người còn nghi ngờ, hình như vậy. Ấy là chúng tôi hãy còn một giá trị nào đó, và người ta có coi trọng chúng tôi chừng nào thì cũng là đúng đắn thôi.
— Thế cái giá trị ấy. - Anne D'Autriche hỏi - Tôi xem chừng nó chẳng lùi bước trước cái gì cả, có phải không?
D'Artagnan đáp:
— Trong quá khứ nó đã không lùi bước trước bất cứ cái gì, tại sao trong tương lai nó lại không như vậy?
— Trong trường hợp bị từ chối, và do đó trong trường hợp chiến đấu, liệu cái giá trị ấy có đi đến bắt cóc cả tôi ngay giữa triều đình để nộp tôi cho La Fronde, như ông định nộp Tể Tướng của tôi không?
D'Artagnan đáp với vẻ hợm mình kiểu Gascogne mà ở anh chỉ là sự chất phác:
— Thưa Lệnh Bà, chúng tôi không bao giờ nghĩ đến điều ấy, nhưng nếu giữa bốn người chúng tôi đã quyết định, thì chắc chắn là chúng tôi sẽ làm.
— Ta cần biết điều ấy, - Anne D'Autriche lẩm bẩm, - Đó là những con người thép.
— Chao ôi! Thưa Lệnh Bà, - D'Artagnan nói, điều này chứng tỏ với tôi rằng chỉ đến hôm nay Lệnh Bà mới có một ý nghĩ đúng đắn về chúng tôi.
— Được, - Anne nói, - nhưng nếu cuối cùng tôi đã có được ý nghĩ ấy.
— Thì Lệnh Bà sẽ thừa nhận sự công bằng cho chúng tôi. Thừa nhận cho chúng tôi, Lệnh Bà sẽ không còn đối đãi với chúng tôi như những kẻ tầm thường. Lệnh Bà sẽ thấy ở tôi một vị đại sứ xứng đáng với những lợi ích cao cả mà ông ta đã được giao phó để thảo luận với Lệnh Bà.
— Bản hiệp ước đâu?
Anne D'Autriche xem qua bản hiệp ước mà D'Artagnan đưa trình. Bà nói:
— Tôi chỉ thấy những điều kiện chung thôi. Những quyền lợi của các ông De Conti, De Beaufort, De Bouillon, D'Elbeuf, và ông Chủ Giáo đều có ghi. Nhưng còn điều kiện của các ông đâu?
— Thưa Lệnh Bà, chúng tôi thừa nhận mình trong khi đặt mình vào tầm cao của mình. Chúng tôi nghĩ rằng tên tuổi của chúng tôi không đáng ghi vào bên cạnh những đại danh ấy.
— Nhưng tôi đoán rằng ông chẳng từ chối trình bày với tôi nhưng yêu sách của ông bằng lời.
— Thưa Lệnh Bà, tôi nghĩ rằng Lệnh Bà là một Nữ Hoàng vĩ đại và quyền thế, và chắc là sẽ chẳng xứng đáng với sự vĩ đại và quyền thế ấy, nếu không khen thưởng xứng đáng những cánh tay sẽ đưa Các Hạ về Saint Germain.
— Đó là ý định của tôi, nói đi.
— Xin lỗi Lệnh Bà, tôi bắt đầu bằng tôi, nhưng cần phải nêu rõ tầm quan trọng của tôi, tôi không vơ lấy nó nhưng người ta đã ban cho tôi. Đối với con người đã thương lượng việc chuộc lại ngài Giáo Chủ thì việc khen thưởng không thể dưới tầm của Hoàng Thượng và người đó phải được phong làm chỉ huy thị vệ, đại khái như là đại úy ngự lâm quân.
— Đó là chức vị của ông De Treville mà ông yêu cầu đấy.
— Chức vị ấy hiện nay khuyết, thưa Lệnh Bà, từ một năm nay ông De Treville rời bỏ nó và chưa có ai thay thế.
— Nhưng đó là một trong những chức vụ quân sự hàng đầu của Hoàng Gia.
— Ngài De Treville xưa cũng chỉ là một thiếu sinh bình thường ở xứ Gascogne như tôi thôi, và cũng giữ chức vụ đó hai mươi năm.
— Cái gì ông cũng đối đáp được cả, - Anne D'Autriche nói.
Và cầm một tấm bằng ở trên bàn giấy bà điền vào rồi ký. D'Artagnan đỡ lấy tấm bằng, cúi mình thi lễ và nói:
— Thưa Lệnh Bà, tất nhiên đây là một phần thưởng đẹp đẽ và cao quí; nhưng mọi việc ở trên đời này đều đầy bất trắc, và một người khi rơi vào sự thất sủng của Hoàng Thượng thì hôm sau mất luôn cái chức vụ đó.
Đỏ mặt lên vì cái trí não kia cũng tinh tế như trí não của bà và thấy suốt tâm địa bà, bà nói:
— Vậy thì ông muốn gì nào?
— Một trăm nghìn livres cho cái gã đại úy ngự lâm quân khốn khổ này, được trả ngay mà công việc phục vụ của hắn không vừa lòng Hoàng Thượng nữa.
Anne ngập ngừng, D'Artagnan nói tiếp:
— Tôi xin phép Lệnh Bà hãy lưu ý rằng, hôm nọ theo phán quyết của Nghị Viện dân chúng Paris treo giải thưởng sáu trăm nghìn livres cho ai đem nộp ngài Giáo Chủ còn sống hay chết, sống thì đem treo cổ, chết thì kéo ra bãi đổ rác?
— Thôi được, thế cũng là phải chăng, - Anne D'Autriche nói, - Vì rằng ông chỉ đòi ở một Hoàng Hậu có một phần sáu số tiền mà Nghị Viện đề ra.
Và bà ký một điều ước cấp một trăm nghìn livres.
— Rồi sao nữa, - bà hỏi.
— Thưa Lệnh Bà, ông bạn Du Vallon của tôi giàu có, do đó không ao ước của cải, nhưng tôi nhớ rằng giữa ông ấy và ngài Mazarin có bàn vấn đề phong Nam Tước cho lãnh địa của ông ấy. Tôi còn nhớ rõ đó là một điều đã hứa hẹn.
— Một tên nông dân thô lỗ ấy à? - Anne D'Autriche nói, - Người ta sẽ cười cho.
— Được - D'Artagnan nói. - Nhưng tôi tin chắc một điều, ấy là kẻ nào cười trước mặt ông ấy sẽ không cười được hai lần đâu.
— Thôi được, cho cái tước vị ấy, - Anne D'Autriche nói và ký luôn.
— Bây giờ còn hiệp sĩ hoặc Tu Viện Trưởng D'Herblay, xin tùy Lệnh Bà gọi.
— Ông ta muốn làm giám mục à?
— Không ạ, ông ta mong muốn một điều dễ dãi hơn.
— Điều gì?
— Ấy là Đức Vua hạ cố làm cha đỡ đầu cho con trai bà De Longueville.
Hoàng Hậu tủm tỉm cười.
— Thưa Lệnh Bà, - D'Artagnan nói, - Ông De Longueville là dòng dõi Hoàng Gia.
— Phải, nhưng con ông ta?
— Thưa Lệnh Bà, đứa con trai ấy… cũng thế chứ ạ, bởi vì chồng của mẹ nó đã như vậy.
— Thế bạn của ông không yêu cầu thêm gì cho bà De Longueville à?
— Thưa Lệnh Bà, không ạ, bởi vì ông ấy đoán rằng Đức Vua khi nhận làm cha đỡ đầu cho đứa trẻ, không thể không tặng cho mẹ nó nhân lễ mừng giải cữ một món quà dưới năm trăm nghìn livres, và tất nhiên vẫn giữ cho cha nó quyền cai trị xứ Normandie.
— Về quyền cai trị xứ Normandie, tôi nghĩ có thể cam kết, - Hoàng Hậu đáp, - Nhưng về khoản năm trăm nghìn livres, thì ngài Giáo Chủ không ngớt nhắc nhở tôi rằng không còn tiền bạc trong các quỹ của Nhà Nước nữa.
— Thưa Lệnh Bà, nếu Người cho phép, chúng ta sẽ cùng đi tìm kiếm và chúng ta sẽ tìm thấy.
— Còn gì nữa.
— Dạ, hết rồi ạ.
— Ông chẳng có một người bạn đồng đội thứ tư nào?
— Có chứ ạ; Bá Tước De La Fère.
— Ông ta xin gì.
— Không xin gì cả.
— Không xin gì ư?
— Không.
— Trên đời này có một người có thể đòi hỏi mà không đòi hỏi gì ư?
— Thưa Lệnh Bà, có Bá Tước De La Fère; ông ta không phải là một con người.
— Vậy là gì?
— Bá Tước De La Fère là một nửa của Thánh.
— Ông ta chẳng có một con trai, một cậu thiếu niên, một người họ hàng, một đứa cháu đấy ư? Ông Comminger đã nói với tôi về cậu ta như một chàng trai dũng cảm, cậu ta đã cùng ông De Châtillon mang về những lá cờ ở mặt trận Lens mà.
— Như Lệnh Bà nói, ông ta có một đứa con nuôi tên là Tử Tước De Bragelonne.
— Nếu người ta ban cho cậu ta một trung đoàn, thì người cha đỡ đầu sẽ nói gì?
— Có thể ông ấy sẽ đồng ý.
— Có thể à?
— Vâng, nếu như đích thân Hoàng Thượng yêu cầu ông ấy nhận.
— Đúng như ông nói, đấy là một con người kỳ lạ. Được rồi, chúng tôi sẽ suy nghĩ thêm và chúng tôi có thể nói với ông ta. Ông hài lòng chứ?
— Vâng, thưa Lệnh Bà. Nhưng có một điều mà Người chưa ký.
— Điều gì?
— Mà điều ấy lại là quan trọng nhất.
— Việc chấp thuận bản hòa ước?
— Vâng.
— Để làm quái gì? Ngày mai tôi sẽ ký.
— Có một điều mà tôi ngỡ có thể khẳng định với Lệnh Bà, - D'Artagnan nói, - Đó là nếu như Hoàng Thượng không ký phê chuẩn bản hiệp ước hôm nay thì sau này sẽ không có dịp để ký nữa. Vậy tôi van xin Lệnh Bà ký, ở dưới bản hiệp ước đó có câu hoàn toàn do ngài Mazarin viết, như Lệnh Bà thấy đấy: “Tôi bằng lòng phê chuẩn bản hiệp ước do nhân dân Paris đề nghị”.
Anne bị tiến tới rồi không thể lùi, đành phải ký. Nhưng vừa ký xong, thì lòng kiêu hãnh nổ ra ở bà như một cơn giông tố, và bà bưng mặt khóc nức nở. Nhìn những giọt nước mắt ấy, D'Artagnan rùng mình. Ngay từ thời ấy các Bà Hoàng khóc lóc như những người đàn bà tầm thường.
Chàng Gascogne lắc đầu. Những giọt lệ vương hầu ấy thiếu đốt lòng anh. Anh quỳ xuống và nói:
— Xin Lệnh Bà hãy nhìn gã quý tộc khốn khổ đang quỳ dưới chân Người, hắn xin Người hãy tin rằng chỉ một cử chỉ của Lệnh Bà thôi là hắn có thể làm tất cả để vui lòng Người! Hắn tự tin ở mình, hắn tin ở bè bạn, hắn cũng muốn tin ở Nữ Hoàng của mình và chứng cớ là hắn không sợ hãi gì hết, hắn không lợi dụng gì hết, hắn sẽ dẫn ngài Mazarin trở về với Hoàng Thượng không điều kiện gì hết. Đây, thưa Lệnh Bà, đây là những chữ ký thiêng liêng của Hoàng Thượng, nếu như Lệnh Bà thấy cần phải đưa cho tôi thì Lệnh Bà sẽ làm. Nhưng từ giờ phút này trở đi, những chữ ký ấy không ràng buộc gì Lệnh Bà nữa.
Và D'Artagnan vẫn quỳ, với cái nhìn rừng rực niềm kiêu hãnh và lòng táo tợn nam nhi, anh đưa lại cho Anne D'Autriche cả mớ giấy tờ mà anh mất bao công sức mới giành giật được từng tờ một.
Nếu như ở trên đời này tất cả không phải đều tốt, và tất cả không phải đều xấu, thì có những lúc trong những trái tim khô cằn và lạnh giá nhất, nhờ được tưới bằng những giọt lệ của một nỗi xúc động cao độ sẽ nảy mầm một tình cảm khoan dung hào hiệp, mà sự tính toán và lòng kiêu ngạo sẽ bóp nghẹt ngay, nếu một tình cảm khác không chiếm lấy nó ngay khi mới ra đời.
Anne đang ở trong một lúc như thế, D'Artagnan nhượng bộ trước nỗi xúc động của bản thân mình, hòa nhịp với nỗi xúc động của Hoàng Hậu, anh đã hoàn tất công trình của một thuật ngoại giao sâu sắc. Anh lập tức được đền bù về tài khéo léo hoặc lòng tận tụy của mình, tùy theo người ta muốn làm vinh dự cho trí não hoặc con tim anh về cái động cơ nó khiến anh hành động.
Anne nói:
— Ông nói đúng. Tôi đã không biết đến ông. Đây là những văn bản đã ký mà tôi trao lại cho ông một cách tự do. Hãy đi đi và nhanh chóng đưa ông Giáo Chủ trở về.
— Thưa Lệnh Bà, - D'Artagnan nói, - Tôi có trí nhớ và nhớ rằng cách đây hai mươi năm, đứng sau tấm thảm ở tòa Đô Sảnh, tôi đã có vinh dự được hôn lên một trong hai bàn tay tuyệt mỹ kia.
— Vậy thì bàn tay kia đây, - Hoàng Hậu nói, và để bàn tay trái không kém rộng rãi như bàn tay phải (bà tháo ở ngón tay một chiếc nhẫn kim cương gần giống chiếc nhẫn ngày xưa đã ban cho D'Artagnan), - Xin ông hãy cầm lấy và giữ chiếc nhẫn này để nhớ đến tôi.
D'Artagnan vừa đứng lên vừa nói:
— Thưa Lệnh Bà, bây giờ tôi chỉ còn một ao ước, ấy là điều đầu tiên Lệnh Bà đòi hỏi ở tôi sẽ là tính mạng tôi.
Và với cái phong thái chỉ có ở riêng anh, anh đứng dậy và đi ra. Nhìn D'Artagnan rời chân, Anne D'Autriche lẩm bẩm:
“Ta đã quên những con người này, nhưng bây giờ ta dùng họ thì quá muộn rồi, trong một năm Nhà Vua sẽ thành niên”.
Mười lăm tiếng đồng hồ sau, D'Artagnan và Porthos đưa Mazarin trở về với Hoàng Hậu và một người lĩnh tấm bằng đại úy ngự lâm quân, một người nhận tờ sắc phong Nam Tước.
— Thế nào, các ông hài lòng chứ? - Anne D'Autriche hỏi.
D'Artagnan nghiêng mình, Porthos tay mân mê tờ sắc phong của mình, mắt nhìn Mazarin.
— Còn điều gì nữa. - Mazarin hỏi.
— Thưa Đức Ông, còn điều hứa hẹn tặng huân chương trong kỳ thăng thưởng đầu tiên.
— Ông Nam Tước ơi, - Mazarin đáp, - Ông biết rằng không thể được tặng huân chương, nếu không có những bằng chứng về tài năng.
— Ồ! Thưa Đức Ông, - Porthos nói. - Tôi xin cái dải huân chương màu xanh, có phải cho tôi đâu?
— Thế cho ai? - Mazarin hỏi.
— Cho bạn tôi, Bá Tước De La Fère.
— Ô! - Hoàng Hậu nói, - Ông ấy lại là chuyện khác. Những bằng chứng đã có rồi.
— Ông ấy sẽ có?
— Ông ấy đã có.
Cùng ngày hôm ấy, hiệp ước Paris được ký kết và khắp nơi người ta đồn rằng Tể Tướng đã ở lỳ trong nhà ba hôm để thảo bản hiệp ước cho thật kỹ. Hiệp ước ấy đã mang lại quyền lợi cho mỗi người như sau:
Ông De Conti được hưởng xứ Damvilliers, và do chứng tỏ tài năng như một vị tướng, ông được ở lại làm quân nhân và không trở thành Giáo Chủ. Hơn nữa, người ta đã buông vài lời về sự kết hôn với một người cháu gái của Mazarin. Vài lời ấy được Hoàng Thân rất hoan nghênh, đối với ông thì cưới ai cũng không can hệ, miễn là người ta cưới vợ cho ông[285] .
Ông De Beaufort trở về triều đình với tất cả những sự bồi thường về việc người ta đã lăng nhục ông và những quyền cao chức trọng mà thứ vị của ông có quyền đòi hỏi. Người ta cũng miễn xá hoàn toàn và đầy đủ cho những người đã giúp ông vượt ngục, để cho ông thừa hưởng tước vị đô đốc mà Quận Công De Vendôme cha ông đã giữ, và một khoản tiền bù cho những ngôi nhà và lâu đài của ông mà Nghị Viện xứ Bretagne đã cho phá hủy.
Quận Công De Bouillon được nhận những lãnh địa ngang giá với thái ấp của ông ở Sedan; một khoản bồi thường những lợi tức của thái ấp ấy mà ông không được hưởng trong tám năm, và danh hiệu Hoàng Thân được ban cho ông và những người trong gia đình.
Quận Công De Longueville được hưởng quyền cai trị Pont De l'Arche, năm trăm nghìn livres cho vợ và có vinh dự thấy con trai mình được ông Vua trẻ và cô công chúa trẻ Henriette Anh Quốc đỡ trên những tấm gấm trong buổi lễ rửa tội. Aramis chỉ định Bazin sẽ hành lễ trong buổi lễ long trọng và Planchet sẽ cung cấp bánh kẹo.
Quận Công D'Elbeuf được người ta cấp một số tiền cho vợ, một trăm nghìn livres cho con trai cả, còn ba đứa sau mỗi đứa được hai mươi lăm nghìn livres.
Chỉ có ông Chủ Giáo chẳng được gì cả. Người ta hứa với ông sẽ thương lượng với Giáo Hoàng về chiếc mũ Giáo Chủ cho ông, nhưng ông hiểu rõ mình sẽ xây dựng được cái gì trên những lời hứa hẹn của Hoàng Hậu và Giáo Chủ. Trái hẳn lại ông De Conti, không thể trở thành Giáo Chủ, ông buộc vẫn là người kiếm cung. Cho nên trong khi toàn thể Paris vui mừng về việc Đức Vua trở về ấn định vào ngày hôm sau nữa, thì giữa niềm hoan lạc chung ấy, ông Chủ Giáo De Gondy hết sức bực bội, đến nỗi ông sai đi tìm ngay tức khắc hai người mà ông thường có thói quen cho gọi đến khi ông ở trong những trạng thái tinh thần như vậy.
Hai người ấy, một là Bá Tước De Rochefort, người kia là gã ăn mày ở nhà thờ Saint Eustache. Họ đến rất đúng giờ như thường lệ, và ông Chủ Giáo đàm đạo với họ trong đêm hôm ấy.