Người Vợ Và Những Câu Chuyện Khác

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bàn Về Tình Yêu

❊ ❊ ❊

Buổi trưa hôm sau, bữa ăn có mấy món bánh nướng rất ngon, tôm sông và sườn cừu; và trong lúc chúng tôi đang ăn, Nikanor, người đầu bếp, bước đến hỏi xem các vị khách muốn dùng món gì cho bữa tối. Anh ta là một người có chiều cao trung bình, mặt sưng húp và đôi mắt nhỏ; anh ta cạo râu nhẵn nhụi, trông có vẻ như ria mép của anh ta không phải được cạo đi, mà là bị nhổ trốc cả gốc. Alehin kể cho chúng tôi nghe rằng Pelagea xinh đẹp đang đem lòng yêu gã đầu bếp này. Vì gã hay uống rượu và có bản tính vũ phu, nên cô không muốn lấy gã, nhưng lại sẵn sàng sống chung không cần giá thú. Nikanor lại là một người rất sùng đạo, những niềm tin tôn giáo không cho phép anh ta “sống trong tội lỗi”; anh ta khăng khăng bắt cô phải cưới mình chứ nhất quyết không chịu cách nào khác, và mỗi khi say rượu, anh ta thường lăng mạ thậm chí còn đánh đập cô. Cứ hễ gã say xỉn là cô lại trốn lên lầu nức nở, và trong những dịp như thế, Alehin cùng đám gia nhân ở lại trong nhà để sẵn sàng bảo vệ cô khi cần thiết.

Chúng tôi bắt đầu câu chuyện về tình yêu.

Alehin nói: “Tình yêu nảy sinh thế nào, tại sao Pelagea lại không yêu một ai đó có phẩm chất tinh thần và bề ngoài tương đồng với mình hơn, mà lại đi yêu cái mõm gớm ghiếc của Nikanor đó — chúng tôi toàn gọi hắn là ‘Mặt Mõm’ — và những vấn đề về hạnh phúc cá nhân có tầm quan trọng đến mức nào trong tình yêu — tất cả những điều đó ai cũng rõ; người ta muốn nhìn nhận thế nào cũng được. Cho đến nay, chỉ có một chân lý không thể chối cãi được thốt lên về tình yêu: ‘Đây là một mầu nhiệm lớn lao.’ Mọi thứ khác đã được viết hay được nói ra về tình yêu không phải là một kết luận, mà chỉ là sự nêu lên những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ. Lời giải thích có vẻ phù hợp với trường hợp này lại chẳng áp dụng được cho mười mấy trường hợp khác, và theo ý tôi, điều hay ho nhất là hãy giải thích từng trường hợp riêng biệt mà không mưu cầu khái quát hóa. Chúng ta nên, như các bác sĩ vẫn nói, cá thể hóa từng trường hợp một.”

Burkin đồng tình: “Hoàn toàn đúng.”

“Chúng ta, những người Nga thuộc tầng lớp trí thức, có một sự ưu ái kỳ lạ dành cho những câu hỏi bỏ ngỏ ấy. Tình yêu thường được thi vị hóa, được trang hoàng bằng hoa hồng và sơn ca; còn chúng ta, người Nga, lại trang điểm cho tình yêu của mình bằng những câu hỏi trọng đại đó, mà lại toàn chọn những câu tẻ nhạt nhất mới tài. Ở Moskva, hồi còn là sinh viên, tôi có một người bạn gái sống chung, một phụ nữ duyên dáng, và mỗi lần tôi ôm cô ấy vào lòng là cô ấy lại nghĩ xem tôi sẽ cho cô ấy bao nhiêu tiền chi tiêu mỗi tháng và giá thịt bò một cân là bao nhiêu. Cứ như thế, khi yêu, chúng ta không bao giờ mỏi mệt khi tự đặt ra những câu hỏi cho chính mình: rằng điều đó là vinh dự hay ô nhục, khôn ngoan hay ngốc nghếch, tình yêu này rồi sẽ đưa đến đâu, vân vân và vân vân. Nó là điều tốt hay xấu thì tôi không biết, nhưng tôi biết chắc rằng nó thật vướng víu, không thỏa đáng và đầy khó chịu.”

Trông anh ta có vẻ như đang muốn kể một câu chuyện nào đó. Những người sống cô độc lúc nào cũng ấp ủ trong lòng những điều khao khát được giãi bày. Ở thành phố, những người độc thân thường lui tới nhà tắm và nhà hàng chính là để trò chuyện, và đôi khi kể những chuyện rất thú vị cho nhân viên nhà tắm hay người phục vụ nghe; còn ở vùng quê, theo quy tắc chung, họ trút bầu tâm sự với những vị khách của mình. Lúc bấy giờ, qua khung cửa sổ, chúng tôi có thể nhìn thấy bầu trời xám xịt, những hàng cây đẫm nước mưa; trong thời tiết thế này, chúng tôi chẳng thể đi đâu được, và chẳng có việc gì làm ngoài việc kể chuyện và lắng nghe.

Alehin bắt đầu kể: “Tôi đã sống ở Sofino và làm nghề nông từ lâu lắm rồi, kể từ khi tôi rời ghế nhà trường đại học. Về mặt học thức, tôi là một quý ông nhàn rỗi, còn về bản tính, tôi lại là một người ưa nghiên cứu; nhưng khi tôi đến đây, điền trang đang gánh một khoản nợ lớn, và một phần vì cha tôi nợ nần là do đã tiêu tốn quá nhiều cho việc học hành của tôi, nên tôi quyết định không rời đi mà sẽ lao động cho đến khi trả hết nợ. Tôi đã hạ quyết tâm như vậy và bắt tay vào việc, thú thật là không tránh khỏi chút ít lòng ghẻ lạnh. Đất đai ở đây không cho thu hoạch nhiều, và nếu không muốn làm nông mà bị lỗ vốn thì người ta phải sử dụng lao động nông nô hoặc lao động làm thuê, mà điều đó cũng gần như nhau, hoặc là đưa nó về quy mô nông gia — nghĩa là tự mình và gia đình cày cấy trên cánh đồng. Chẳng có con đường nào ở giữa cả. Nhưng những ngày ấy tôi chẳng màng suy tính rạch ròi đến thế. Tôi không bỏ sót một cục đất nào; tôi tập hợp tất cả nông dân, cả nam lẫn nữ, từ các làng lân cận; công việc cứ thế tiến hành với tốc độ chóng mặt. Chính tay tôi cày bừa, gieo hạt và gặt hái, vừa làm vừa thấy chán ngấy, cau mày ghê tởm giống như con mèo hoang ở làng vì đói quá mà phải ăn dưa chuột ngoài vườn rau. Thân thể tôi đau nhức, đi dọc đường mà cũng ngủ gật. Thoạt đầu, tôi tưởng mình có thể dễ dàng dung hòa cuộc sống lao động vất vả này với những thói quen văn minh của bản thân; tôi nghĩ rằng để làm được điều đó, tất cả những gì cần thiết là duy trì một trật tự nhất định ở bề ngoài cuộc sống. Tôi chọn ở trên lầu, trong những căn phòng đẹp nhất, và ra lệnh cho họ mang cà phê cùng rượu mạnh lên đó sau bữa trưa và bữa tối, còn khi đi ngủ thì tối nào tôi cũng đọc tờ *Vestnik Evropi*. Thế nhưng, có một hôm cha xứ của chúng tôi, cha Ivan, đến và nốc cạn sạch chỗ rượu mạnh của tôi trong một lần ngồi; còn tờ *Vestnik Evropi* thì được đem cho mấy cô con gái của cha xứ; đến mùa hè, nhất là vào vụ gặt cỏ, tôi thậm chí chẳng tài nào về giường nổi, toàn ngủ trên xe trượt tuyết trong nhà kho, hoặc xó xỉnh nào đó ở nhà người giữ rừng, thì còn chút hy vọng nào mà đọc sách? Cứ thế, từng chút một, tôi dọn xuống tầng trệt, bắt đầu ăn tối ở gian bếp của người hầu, và từ sự xa hoa ngày trước chẳng còn lại gì ngoài mấy kẻ hầu người hạ từng phục vụ cha tôi, những người mà nếu đuổi đi thì thật là nhẫn tâm.”

“Những năm đầu, tôi được bầu làm thẩm phán hòa giải danh dự ở đây. Tôi thường phải vào thị trấn và tham gia các phiên họp của đại hội đồng cũng như tòa án lưu động, và đối với tôi đây là một sự thay đổi dễ chịu. Khi bạn sống ở đây hai hoặc ba tháng liền không ngơi nghỉ, đặc biệt là vào mùa đông, cuối cùng bạn sẽ bắt đầu khao khát được mặc một chiếc áo khoác đen. Và ở tòa án lưu động thì có áo khoác chít eo, quân phục, cả áo đuôi tôm nữa, toàn là luật sư, những người đã thụ hưởng nền giáo dục phổ thông; tôi có người để trò chuyện. Sau khi ngủ trên xe trượt tuyết và ăn tối ở nhà bếp, được ngồi trên chiếc bọc nệm trong bộ đồ lót sạch sẽ, đi đôi bốt mỏng, với chiếc dây xíchắt trên áo ghi lê, quả là một sự xa hoa tột đỉnh!”

“Tôi được đón tiếp nồng nhiệt ở thị trấn. Tôi hăng hái kết giao bạn bè. Và trong số mọi mối quan hệ quen biết, thì mối quan hệ thân thiết nhất, và nói thật lòng là dễ chịu nhất đối với tôi, chính là tình bạn với Luganovitch, phó chủ tịch tòa án lưu động. Cả hai anh đều biết anh ấy: một nhân cách vô cùng đáng mến. Mọi chuyện bắt đầu ngay sau một vụ án phóng hỏa đình đám; cuộc điều tra sơ bộ kéo dài hai ngày; chúng tôi kiệt sức. Luganovitch nhìn tôi và nói:

‘Này anh, tối nay sang nhà tôi ăn tối nhé.’”

“Điều này thật bất ngờ, vì tôi vốn rất ít quen biết Luganovitch, chỉ qua công việc, và tôi chưa bao giờ đến nhà anh ấy cả. Tôi chỉ vừa ghé qua phòng khác sạn để thay đồ rồi lập tức lên đường đi ăn tối. Và chính tại đây, tôi đã có cơ hội gặp Anna Alexyevna, vợ của Luganovitch. Hồi đó cô ấy hãy còn rất trẻ, không quá đôi mươi, và đứa con đầu lòng vừa mới chào đời được sáu tháng. Mọi chuyện giờ đã là dĩ vãng; và bây giờ tôi thấy khó mà định nghĩa được điều gì ở cô ấy lại đặc biệt đến thế, điều gì ở cô ấy đã thu hút tôi nhiều đến vậy; nhưng vào thời điểm đó, trong bữa ăn, mọi thứ đối với tôi đều hoàn toàn rõ ràng. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp, hiền hậu, thông minh và đầy quyến rũ, một người mà tôi chưa từng gặp bao giờ; và tôi cảm nhận ngay cô ấy là một người thân thiết và quen thuộc từ trước, tựa như gương mặt ấy, đôi mắt nhân hậu và thông minh ấy, tôi đã từng thấy ở đâu đó thời thơ ấu, trong cuốn album nằm trên chiếc tủ kéo của mẹ tôi.”

“Có bốn người Do Thái bị buộc tội phóng hỏa, bị coi là một băng đảng cướp bóc, và theo quan điểm của tôi, điều đó hoàn toàn vô căn cứ. Trong bữa ăn, tôi vô cùng kích động, tôi cảm thấy bất an và tôi không biết mình đã nói những gì, nhưng Anna Alexyevna cứ lắc đầu và nói với chồng:

‘Dmitry, thế này là sao anh?’”

“Luganovitch là một người tốt bụng, một trong những con người đơn thuần, đinh ninh cho rằng một khi một kẻ đã bị đem ra trước tòa thì kẻ đó có tội, và việc bày tỏ sự hoài nghi về tính đúng đắn của một bản án là điều không thể làm được trừ khi theo đúng thể thức pháp luật trên giấy tờ, chứ không phải trong bữa ăn hay lúc trò chuyện riêng tư.

Anh ta dịu dàng nói: ‘Anh với em đâu có phóng hỏa, và em thấy đấy, chúng ta có bị kết án hay phải ngồi tù đâu.’”

“Và cả hai vợ chồng đều cố gắng giục tôi ăn uống thật nhiều. Từ một vài chi tiết nhỏ nhặt, chẳng hạn như cách họ cùng nhau pha cà phê, và cách họ hiểu ý nhau chỉ qua nửa lời, tôi có thể nhận ra rằng họ sống với nhau rất hòa thuận, thoải mái, và họ rất vui mừng khi có khách ghé thăm. Sau bữa tối, họ chơi đàn piano bốn tay; rồi trời tối dần, và tôi ra về. Đó là vào đầu mùa xuân.”

“Sau đó, tôi dành trọn cả mùa hè ở Sofino mà không rời đi bước nào, tôi cũng chẳng có thời gian để nghĩ đến thị trấn, thế nhưng ký ức về người phụ nữ duyên dáng tóc vàng ấy vẫn lưu lại trong tâm trí tôi suốt những ngày tháng đó; tôi không hề nghĩ về cô ấy, nhưng có cảm tưởng như chiếc bóng dịu dàng của cô ấy đang phảng phất trên trái tim tôi.”

“Vào cuối mùa thu, ở thị trấn có một buổi biểu diễn sân khấu gây quỹ từ thiện. Tôi bước vào lô ghế của ngài thống đốc (tôi được mời vào đó trong giờ giải lao); tôi nhìn sang, và kìa Anna Alexyevna đang ngồi ngay cạnh phu nhân thống đốc; và một lần nữa lại là ấn tượng rung động khôn tả về vẻ đẹp cùng đôi mắt ngọt ngào, trìu mến ấy, và lại là cảm giác thân thuộc ấy. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, rồi cùng ra ngoài sảnh.

Cô ấy nói: ‘Anh gầy đi rồi đấy; anh bị ốm à?’

‘Vâng, tôi bị thấp khớp ở vai, và cứ hễ trời mưa là tôi không sao ngủ được.’

‘Trông anh có vẻ chán nản. Hồi mùa xuân, khi anh đến ăn tối, trông anh trẻ trung hơn, tự tin hơn. Hồi đó anh tràn đầy nhiệt huyết và nói rất nhiều; anh rất thú vị, và thú thật là tôi cũng đã hơi say nắng anh rồi đấy. Không hiểu sao trong suốt mùa hè tôi cứ hay nhớ về anh, và hôm nay khi chuẩn bị đi xem kịch, tôi cứ đinh ninh là sẽ gặp lại anh.’”

“Và cô ấy mỉm cười.

Cô ấy lặp lại: ‘Nhưng hôm nay trông anh có vẻ chán nản; điều đó làm anh có vẻ già đi đấy.’”

“Ngày hôm sau, tôi đến ăn trưa nhà Luganovitch. Sau bữa trưa, họ lái xe ra biệt thự ngoại ô của gia đình để sắp xếp nhà cửa chuẩn bị cho mùa đông, và tôi đi cùng họ. Tôi trở về thị trấn cùng họ, và vào lúc nửa đêm cùng họ uống trà trong không gian gia đình tĩnh lặng, khi lò sưởi đang cháy rực, còn người mẹ trẻ cứ chốc chốc lại chạy vào xem cô con gái nhỏ đã ngủ chưa. Và kể từ đó, mỗi lần lên thị trấn, không lần nào là tôi không ghé thăm gia đình Luganovitch. Họ đã quen với tôi, và tôi cũng quen với họ. Theo thói quen, tôi cứ thế bước vào nhà không cần báo trước, như thể mình là người trong nhà.

Từ một căn phòng phía xa, tôi nghe thấy giọng kéo dài mà tôi vẫn cho là vô cùng ngọt ngào vang lên: ‘Ai ở ngoài đấy thế?’”

“Người hầu gái hoặc vú em đáp: ‘Dạ thưa, là Pavel Konstantinovitch ạ.’”

“Anna Alexyevna sẽ bước ra gặp tôi với gương mặt đầy lo lắng, và lần nào cô ấy cũng hỏi: ‘Sao lâu lắm rồi anh không tới? Đã có chuyện gì xảy ra à?’”

“Ánh mắt của cô ấy, bàn tay thon thả tinh tế mà cô ấy trao cho tôi, bộ váy mặc nhà, cách cô ấy búi tóc, giọng nói, bước đi của cô ấy, luôn mang lại cho tôi cùng một ấn tượng về một điều gì đó mới mẻ, phi thường và vô cùng quan trọng trong cuộc đời tôi. Chúng tôi trò chuyện với nhau hàng giờ liền, đôi khi im lặng, ai suy nghĩ theo lối người nấy, hoặc cô ấy chơi đàn piano cho tôi nghe hàng giờ liền. Nếu không có ai ở nhà, tôi sẽ ở lại đợi, trò chuyện với vú em, chơi đùa với đứa trẻ, hoặc nằm dài trên chiếc ghế bành trong phòng làm việc để đọc sách; và khi Anna Alexyevna trở về, tôi ra tận sảnh đón cô ấy, đỡ lấy tất cả những gói đồ trên tay, và chẳng hiểu sao, lần nào tôi cũng mang những bói đồ đó với tất cả sự nâng niu và trang trọng như một cậu thiếu niên.”

“Người ta có câu tục ngữ rằng nếu phụ nữ nhà quê không có chuyện gì bận tâm thì họ sẽ đi mua lợn về nuôi. Gia đình Luganovitch chẳng có muộn phiền gì ráo, thế nên họ kết thân với tôi. Nếu tôi không lên thị trấn thì hẳn là tôi bị ốm hoặc có chuyện gì xảy ra rồi, và cả hai vợ chồng đều vô cùng lo lắng. Họ bận lòng thay cho tôi, một kẻ có học thức biết ngoại ngữ, thay vì cống hiến cho khoa học hay văn chương, lại phải sống ở chốn đồng chua nước mặn, quẩn quanh như con sóc trongồng, làm việc vất vả đến mức chẳng thu về nổi một xu. Họ tưởng tượng rằng tôi là kẻ bất hạnh, và rằng tôi chỉ nói cười và ăn uống để che giấu những nỗi thống khổ của mình, và ngay cả trong những khoảnh khắc vui vẻ khi tôi cảm thấy hạnh phúc, tôi vẫn nhận ra ánh mắt dò xét của họ đang dán chặt vào mình. Họ đặc biệt cảm động khi tôi thực sự chán nản, khi tôi bị rầy la bởi một chủ nợ nào đó hoặc không đủ tiền để trả lãi đúng hạn. Hai vợ chồng họ sẽ thì thầm với nhau bên cửa sổ; rồi anh ấy bước đến chỗ tôi và nói với vẻ mặt nghiêm nghị:

‘Nếu hiện tại anh thực sự túng thiếu tiền bạc, Pavel Konstantinovitch, vợ chồng tôi xin anh đừng ngần ngại mà vay chúng tôi.’”

“Và anh ấy đỏ bừng cả tai vì xúc động. Và cũng có khi, sau khi thì thầm tương tự bên cửa sổ, anh ấy tiến đến chỗ tôi với đôi tai đỏ lựng và nói:

‘Vợ chồng tôi tha thiết mong anh nhận món quà này.’”

“Và anh ấy tặng tôi khuy măng sét, hộp đựng xì gà, hay chiếc đèn bàn, còn tôi thì gửi tặng lại họ thịt thú rừng, bơ và hoa quả từ nông trang. Nhân tiện cũng nói luôn, cả hai người họ đều có điều kiện tài chính khá giả. Hồi đầu, tôi hay mượn tiền người khác, và cũng chẳng câu nệ gì cho cam — mượn ở bất cứ đâu có thể — nhưng có chết tôi cũng đời nào chịu mượn tiền của nhà Luganovitch. Mà nhắc lại làm gì nữa chứ?”

“Tôi vốn là kẻ bất hạnh. Ở nhà, trên cánh đồng, trong kho thóc, tôi luôn nghĩ về cô ấy; tôi cố gắng thấu hiểu cái mầu nhiệm vì sao một người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp và thông minh lại đi lấy một kẻ tẻ nhạt, gần như đã là ông già (chồng cô ấy đã hơn bốn mươi tuổi) và sinh con đẻ cái với hắn; cố gắng thấu hiểu mầu nhiệm về người đàn ông tốt bụng, đơn thuần nhưng tẻ nhạt này, kẻ luôn tranh luận với một vẻ hợp lý đến phát chán, ở những buổi dạ vũ hay tiệc tùng thì cứ lảng vảng bên những nhân vật có thế lực hơn, mang một vẻ mặt dật dờ, thừa thãi, với thái độ phục tùng, hờ hững như thể hắn được đem đến đó để bán đấu giá, vậy mà vẫn đinh ninh vào cái quyền được hạnh phúc, được có con với cô ấy; và tôi cứ trăn trở tự hỏi tại sao cô ấy lại gặp hắn ta trước chứ không phải tôi, và tại sao một sai lầm khủng khiếp như vậy lại cứ phải xảy ra trong cuộc đời chúng tôi.”

“Và mỗi lần tôi lên thị trấn, nhìn vào mắt cô ấy là tôi biết cô ấy đang ngóng chờ mình, và bản thân cô ấy cũng thú nhận rằng suốt ngày hôm đó cô ấy đã có một cảm giác kỳ lạ và đoán chắc là tôi sẽ đến. Chúng tôi trò chuyện lâu lắm, rồi lại chìm vào im lặng, thế nhưng chúng tôi không hề thổ lộ tình yêu với nhau, mà chỉ rụt rè và ghen tuông giấu giếm nó. Chúng tôi sợ hãi bất cứ thứ gì có thể vô tình làm lộ bí mật của chính mình. Tôi yêu cô ấy tha thiết, sâu sắc, nhưng tôi cũng tự chiêm nghiệm và tự hỏi tình yêu của chúng ta rồi sẽ đi về đâu nếu chúng ta không đủ sức mạnh để chống lại nó. Thật khó lòng tin rằng tình yêu dịu dàng và buồn bã của tôi lại có thể đột ngột phá nát một cách thô bạo cái nhịp sống bình lặng của chồng cô ấy, của những đứa con, và của cả gia đình nơi tôi được yêu thương và tin tưởng đến vậy. Liệu làm thế có đàng hoàng không? Cô ấy sẽ bỏ đi cùng tôi, nhưng đi đâu? Tôi có thể đưa cô ấy đi đâu? Mọi chuyện sẽ khác đi nếu như tôi có một cuộc đời đẹp đẽ, thú vị — chẳng hạn như nếu tôi đang tranh đấu cho sự giải phóng của tổ quốc, hoặc là một nhà khoa học nổi tiếng, một nghệ sĩ hay họa sĩ; đằng này, nó lại đồng nghĩa với việc lôi cô ấy từ cái cuộc sống thường nhật tẻ nhạt này sang một cuộc đời cũng tẻ nhạt không kém, thậm chí còn hơn thế. Và hạnh phúc của chúng tôi sẽ kéo dài được bao lâu? Chuyện gì sẽ xảy ra với cô ấy nếu tôi ngã bệnh, nếu tôi chết đi, hay nếu chúng tôi đơn giản là phai nhạt tình cảm với nhau?”

“Và rõ ràng là cô ấy cũng suy luận như vậy. Cô ấy nghĩ đến người chồng, những đứa con, và người mẹ vô cùng yêu quý người con rể như con đẻ của bà. Nếu cô ấy buông thả theo cảm xúc của mình, cô ấy sẽ phải nói dối, hoặc là nói ra sự thật, và ở vị trí của cô ấy, lựa chọn nào cũng đều khủng khiếp và bất tiện như nhau. Và cô ấy bị dằn vặt bởi câu hỏi liệu tình yêu của mình có mang lại hạnh phúc cho tôi hay không — liệu cô ấy có làm phức tạp thêm cuộc đời vốn đã đủ khó khăn và ngập tràn rắc rối của tôi hay không. Cô ấy tự cho rằng mình không còn đủ trẻ trung đối với tôi, rằng mình không đủ chăm chỉ hay năng nổ để bắt đầu một cuộc sống mới — và cô ấy thường bàn với chồng về tầm quan trọng của việc tôi nên kết hôn với một cô gái thông minh, đức hạnh, người có thể trở thành một người nội trợ tháo vát và là chỗ dựa đắc lực cho tôi — và cô ấy sẽ lập tức nói thêm rằng thật khó để tìm được một cô gái như thế ở cả cái thị trấn này.”

“Trong khi đó, năm tháng cứ trôi đi. Anna Alexyevna lúc này đã có hai mặt con. Mỗi khi tôi đến nhà Luganovitch, đám gia nhân đều mỉm cười niềm nở, lũ trẻ reo lên rằng chú Pavel Konstantinovitch đã đến rồi ào vào ôm cổ tôi; ai nấy đều vui mừng khôn xiết. Họ chẳng tài nào hiểu được những giông bão trong tâm hồn tôi, và cứ đinh ninh rằng tôi cũng đang hạnh phúc. Mọi người đều nhìn nhận tôi như một nhân vật cao quý. Và cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều cảm thấy rằng có một con người cao quý đang bước đi giữa những căn phòng của họ, và điều đó mang lại một vẻ quyến rũ kỳ lạ cho thái độ của họ đối với tôi, tựa như có sự hiện diện của tôi mà cuộc sống của họ cũng trở nên thanh khiết và tươi đẹp hơn. Anna Alexyevna và tôi hay cùng nhau đi xem kịch, lúc nào cũng đi bộ; chúng tôi ngồi cạnh nhau ở dãy ghế khán phòng, vai kề vai. Tôi lặng lẽ cầm chiếc ống nhòm từ tay cô ấy, và cảm nhận rõ khoảnh khắc ấy rằng cô ấy đang ở rất gần tôi, rằng cô ấy là của tôi, rằng chúng tôi không thể sống thiếu nhau; thế nhưng do một sự hiểu lầm kỳ lạ nào đó, cứ mỗi khi bước ra khỏi nhà hát là chúng tôi lại chào nhau và rẽ ngang rẽ ngửa như những kẻ xa lạ. Chúa mới biết người ta trong thị trấn đã xì xào những gì về chúng tôi rồi, nhưng chẳng có lấy một lời nào là sự thật cả!”

“Những năm về sau, Anna Alexyevna bắt đầu thường xuyên đi vắng để thăm mẹ hoặc em gái; cô ấy bắt đầu rơi vào trạng thái u uất, bắt đầu nhận ra rằng cuộc đời mình đã hỏng bết và chẳng được thỏa nguyện, và có những lúc cô ấy chẳng mảy may muốn nhìn mặt chồng hay con cái nữa. Cô ấy đã bắt đầu phải điều trị bệnh suy nhược thần kinh.”

“Chúng tôi cứ im lặng và mãi im lặng, và trước mặt người ngoài, cô ấy bỗng tỏ ra cáu kỉnh một cách kỳ lạ đối với tôi; bất kể tôi nói về đề tài gì, cô ấy cũng phản đối, và nếu tôi tranh luận cái gì thì cô ấy lại đứng về phía đối thủ của tôi. Nếu tôi làm rơi vật gì, cô ấy sẽ lạnh lùng nói: ‘Xin chúc mừng anh nhé.’

Nếu tôi quên mang ống nhòm lúc đi xem kịch, lát sau cô ấy sẽ bảo: ‘Tôi biết ngay là anh thể nào cũng quên mà.’”

“May mắn hay xui xẻo thay, chẳng có gì trên đời này là không đi đến hồi kết sớm hay muộn. Thời khắc chia ly cuối cùng cũng đến, khi Luganovitch được bổ nhiệm làm chủ tịch tòa án ở một trong các tỉnh miền tây. Họ buộc phải bán đồ đạc, ngựa xe, cả căn biệt thự ngoại ô. Khi họ lái xe ra biệt thự, rồi ngoái đầu nhìn lại lần cuối để ngắm khu vườn, mái nhà màu xanh, ai nấy đều buồn bã, và tôi hiểu rằng mình không chỉ phải nói lời tạm biệt với căn biệt thự. Người ta đã sắp xếp rằng vào cuối tháng Tám, chúng tôi sẽ tiễn Anna Alexyevna đi Krym, nơi các bác sĩ đang khuyên cô ấy đến đó điều trị, và một thời gian ngắn sau thì Luganovitch cùng các con sẽ lên đường đi nhận chức ở tỉnh miền tây.”

“Chúng tôi kéo nhau ra tiễn Anna Alexyevna rất đông. Khi cô ấy đã chào tạm biệt chồng con và chỉ còn đúng một phút nữa là đến hồi chuông thứ ba, tôi lao vào khoang tàu của cô ấy để đặt chiếc giỏ mà cô ấy suýt bỏ quên lên giá hành lý, và tôi buộc phải nói lời từ biệt. Khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau trong khoang tàu, sự kiên định trong tâm hồn cả hai bỗng chốc sụp đổ; tôi ôm chầm lấy cô ấy, cô ấy áp mặt vào ngực tôi, và những giọt nước mắt tuôn rơi. Hôn lên khuôn mặt, đôi bờ vai, đôi bàn tay đẫm lệ của cô ấy — ôi, chúng tôi mới bất hạnh làm sao! — tôi thổ lộ tình yêu với mình, và với một nỗi đau buốt giá trong tim, tôi nhận ra mọi thứ cản trở chúng ta yêu nhau bấy lâu nay thật vô nghĩa, vụn vặt và lừa dối biết bao. Tôi hiểu ra rằng khi yêu, bạn hoặc là phải xuất phát từ những điều cao cả hơn, từ những thứ quan trọng hơn cả hạnh phúc hay bất hạnh, tội lỗi hay đức hạnh theo nghĩa thông thường, hoặc là tuyệt đối đừng suy tính gì sất.”

“Tôi hôn cô ấy lần cuối, siết chặt tay cô ấy, và chúng tôi chia tay nhau mãi mãi. Con tàu đã bánhăn lăn bánh. Tôi bước sang khoang bên cạnh — lúc đó đang trống không — và cứ ngồi thút thít khóc cho đến tận ga tiếp theo. Rồi tôi đi bộ về Sofino....”

Trong lúc Alehin đang kể câu chuyện của mình, trời đã tạnh mưa và mặt trời hửng sáng. Burkin và Ivan Ivanovitch bước ra ban công, từ đây có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh khu vườn và cái đập nước của cối xay gió, giờ đây đang lấp lánh dưới ánh nắng chẳng khác nào một tấm gương. Họ trầm trồ ngợi khen, đồng thời cũng cảm thấy tiếc nuối cho con người với đôi mắt nhân hậu, thông minh, kẻ đã kể câu chuyện này với tất cả nỗi niềm chân thành ấy, lại phải quẩn quanh điên cuồng trong điền trang rộng lớn này giống như con sóc trongồng thay vì cống hiến cho khoa học hay thứ gì đó có ích để cuộc sống của anh ta trở nên dễ chịu hơn; và họ thầm nghĩ gương mặt của Anna Alexyevna hẳn phải buồn bã biết bao khi anh nói lời từ biệt với cô ấy trên toa tàu và đặt những nụ hôn lên khuôn mặt cùng đôi vai cô. Cả hai người bọn họ đều từng gặp cô ấy ở thị trấn, và Burkin thì biết rõ cô và vẫn luôn cho rằng cô rất xinh đẹp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.