Tam Thể Tập 3 - Tử Thần Sống Mãi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Chuyện Xưa Nằm Ngoài Dòng Thời Gian (Trích)

❊ ❊ ❊

TIỀN ĐỒN NGOÀI KHÔNG GIAN: HỆ THỐNG CẢNH BÁO HỆ MẶT TRỜI

Thế giới loài người mới chỉ quan sát được hai lần hạt ánh sáng xuất hiện, đó là khi ngôi sao 187J3X1 và hệ sao Tam Thể bị hủy diệt, nên hiểu biết về nó rất hạn chế, chỉ biết rằng vận tốc của nó rất gần với vận tốc ánh sáng, còn các yếu tố khác như thể tích, khối lượng ban đầu và khối lượng tương đối của nó khi tiếp cận vận tốc ánh sáng thì hoàn toàn không có bất cứ thông tin gì. Có điều, hạt ánh sáng quả thực có thể được coi là vũ khí nguyên thủy nhất để tấn công các ngôi sao, chỉ dựa vào động năng khổng lồ sinh ra từ khối lượng tương đối của nó để hủy diệt mục tiêu. Nếu như có được công nghệ gia tốc vật thể tới vận tốc ánh sáng, vậy thì chỉ cần bắn đi một “viên đạn" khối lượng cực nhỏ là đã sinh ra sức phả hủy khổng lồ, quả thực là rất “kinh tế'. Số liệu quan trắc quý báu nhất về hạt ánh sáng có được là ngay trước thời điểm hệ sao Tam Thể bị hủy diệt, các nhà khoa học phát hiện ra một hiện tượng quan trọng: do tốc độ cực cao của hạt ánh sáng, khi va chạm mạnh mẽ với các nguyên tử thưa thớt và đám mây bụi trong không gian, nó sẽ phát ra các luồng bức xạ mạnh gồm cả ánh sáng nhìn thấy được và tia gamma, bức xạ này có đặc thù rất rõ rệt. Do thể tích của hạt ánh sáng rất nhỏ nên không thể quan sát trực tiếp, còn loại bức xạ này thì có thể quan trắc được.

Thoạt nhìn thì gần như không có cách nào dự đoán được hạt ánh sáng tấn công, vì vận tốc của nó xấp xỉ vận tốc ánh sáng, gần như tiệm cận bức xạ do chính nó phát ra, đến mục tiêu cùng một lúc - nói cách khác, người quan sát nằm ở bên ngoài nón ánh sáng của sự kiện này. Nhưng tình hình thực tế lại phức tạp hơn một chút. Vì vật thể có khối lượng nghỉ khác 0 không thể nào hoàn toàn đạt đến vận tốc ánh sáng, vận tốc của hạt ánh sáng tuy đã tiệm cận vận tốc ánh sáng nhưng vẫn có sai số nhỏ, nên bức xạ mà hạt ánh sáng phát ra vẫn nhanh hơn một chút, nếu khoảng cách bay đủ dài, sai số này sẽ càng lúc càng lớn. Ngoài ra, quỹ đạo tấn công mục tiêu của hạt ánh sáng cũng không phải là đường thẳng tuyệt đối. Do khối lượng khổng lồ, nó không thể tránh khỏi tác động từ lực hấp dẫn của các thiên thể khi bay qua, quỹ đạo sẽ bị bẻ cong đôi chút, nhiều hơn hẳn mức độ tia sáng bình thường bị bẻ cong trong trường lực hấp dẫn tương đương, khi tới gần mục tiêu sẽ phải điều chỉnh lại, khiến hạt ánh sáng phải đi qua một quãng đường dài hơn bức xạ mà nó phát ra.

Do hai yếu tố trên, bức xạ mà hạt ánh sáng phát ra sẽ đến Hệ Mặt trời trước bản thân hạt ánh sáng, thời gian chênh lệch này chính là thời gian cảnh báo. Thời gian cảnh báo hai mươi tư tiếng đồng hồ được tính toán dựa trên khoảng cách xa nhất mà loài người có thể quan trắc được bức xạ của hạt ánh sáng hiện nay, trong trường hợp đó, bức xạ đi trước hạt ánh sáng khoảng 180 đơn vị thiên văn.

Có điều, đây chỉ là trường hợp lý tưởng, nếu hạt ánh sáng được phóng từ phi thuyền ở khoảng cách gần thì gần như không có cơ hội cảnh báo trước, giống như số phận của thế giới Tam Thể vậy.

Hệ thống cảnh báo Hệ Mặt trời dự kiến sẽ xây dựng ba mươi lăm đơn nguyên quan trắc, giám sát chặt chẽ sự xuất hiện của bức xạ hạt ánh sáng trong không gian từ tất cả các hướng.

***

Hai ngày trước sự kiện cảnh báo giả, đơn nguyên quan trắc số 1 thuộc hệ thống cảnh báo Hệ Mặt trời.

Đơn nguyên quan trắc số 1 thực ra chính là trạm quan trắc Ringier-Fitzroy hồi cuối kỷ nguyên Khủng hoảng, hơn 70 năm trước, chính trạm quan trắc này đã phát hiện ra đầu tiên thiết bị thăm dò vũ trụ lực tương tác mạnh hay còn gọi là Giọt Nước bay tới Hệ Mặt trời. Hiện nay, trạm quan trắc vẫn ở rìa ngoài vành đai tiểu hành tinh, chỉ khác là các thiết bị đều đã được nâng cấp. Lấy ví dụ như bộ phận quan trắc ánh sáng nhìn thấy được, diện tích thấu kính của kính viễn vọng đã tăng lên rất nhiều, đường kính của thấu kính đầu tiên từ 1.200 m tăng lên đến 2.000 m, bên trên có thể đặt được cả một thị trấn nhỏ rồi. Vật liệu chế tạo ra những thấu kính khổng lồ này được lấy trực tiếp từ vành đai tiểu hành tinh. Đầu tiên, người ta chế tạo thấu kính cỡ trung trong bộ thấu kính, đường kính chừng 500 m, sau đó dùng luôn nó để tập trung ánh sáng Mặt trời lên tiểu hành tinh làm tan chảy nham thạch, làm ra thủy tinh có độ tinh khiết cao, từ đó chế tạo ra các thấu kính khác. Các thấu kính này được sắp thành một hàng lơ lửng trong vũ trụ, cả bộ thấu kính dài đến 25 km, khoảng cách giữa các thấu kính đều rất xa, thoạt nhìn đều như những vật thể riêng rẽ chẳng liên quan gì tới nhau vậy. Trạm quan trắc đặt ở cuối bộ thấu kính, đó là một trạm không gian cỡ nhỏ chỉ chứa được hai người.

Nhân viên thường trú trong trạm quan trắc vẫn là một tổ hợp hai người gồm quân nhân và nhà khoa học, người đầu tiên phụ trách quan trắc cảnh báo, người thứ hai lo việc nghiên cứu thiên văn và vũ trụ, chính vì vậy, cuộc tranh chấp thời gian sử dụng trạm quan trắc mà tiến sĩ Ringier và tướng Fitzroy khơi ra hồi ba trăm năm trước vẫn cứ tiếp diễn đến tận ngày nay.

Khi kính viễn vọng lớn nhất trong lịch sử này hoàn thành việc vận hành thử nghiệm, lần đầu tiên thu được hình ảnh một ngôi sao ở cách xa 47 năm ánh sáng, Widnall, nhà thiên văn học của trạm quan trắc đã kích động như thể nhìn thấy con mình ra đời vậy. Không giống như tưởng tượng của người bình thường, trước đây, khi dùng kính thiên văn quan sát các ngôi sao ngoài Hệ Mặt trời, điều duy nhất làm được chỉ là tăng cường độ sáng chứ không thể nhìn rõ được hình dạng của chúng, cho dù kính thiên văn mạnh cỡ nào, cũng chỉ thấy các ngôi sao là một điểm, chẳng qua là độ sáng hơn kém nhau mà thôi. Nhưng lúc này, qua bộ kính thiên văn siêu cấp này, lần đầu tiên một ngôi sao đã hiện ra hình tròn, tuy là rất nhỏ, giống như một quả bóng bàn cách vài chục mét, không thể nhìn ra bất cứ chi tiết nào, nhưng đối với việc quan trắc thiên văn trong khoảng ánh sáng nhìn thấy được thì đây vẫn là một bước ngoặt có giá trị lịch sử.

“Ngành thiên văn học từ đây đã thoát khỏi chứng đục thủy tinh thể rồi!” Widnall nước mắt rưng rưng nói.

Nhân viên quan trắc cảnh báo là trung úy Vasilenko lại không đồng tình, “Tôi bảo này, anh cần phải hiểu rõ nhiệm vụ của chúng ta, chúng ta là lính gác ở tiền tiêu. Trong quá khứ, chúng ta hẳn đang đứng trên vọng gác bằng gỗ nơi biên cương, xung quanh là vùng đất tuyết hoặc sa mạc không một bóng người. Chúng ta đứng trong gió lạnh nhìn về phía nước địch, một khi phát hiện trên đường chân trời có xe tăng hay kỵ binh, thì lập tức đánh điện hoặc đốt khói báo hiệu cho hậu phương biết kẻ địch sắp xâm nhập... Anh nhất định phải bắt được cái tâm thế lính canh này, đừng coi đây là đài quan sát thiên văn như thế.”

Ánh mắt Widnall tạm rời khỏi màn hình đang hiển thị hình ảnh kính viễn vọng quan sát được, nhìn ra cửa sổ trạm không gian, chỉ thấy xa gần có mấy khối đá hình dạng bất quy tắc đang lơ lửng. Đó là những mảnh vỡ của tiểu hành tinh còn lại sau khi lấy thủy tinh làm thấu kính, chúng chầm chậm chuyển động trong ánh Mặt trời lạnh lẽo, càng làm nổi bật vẻ hoang vắng của vũ trụ, thành ra lời viên trung úy vừa nói cũng có chút cộng hưởng.

Widnall nói: “Nếu thật sự phát hiện ra hạt ánh sáng, không phát đi cảnh báo có lẽ lại là lựa chọn tốt hơn, đằng nào thì cũng chẳng có tác dụng gì. Vốn dĩ, đột nhiên tiêu tùng mà chẳng hay biết gì cũng là một thứ may mắn, vậy mà anh lại muốn giày vò mấy tỷ con người trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, đây có khác nào là tội ác chống lại loài người đâu.”

“Nếu vậy, hai chúng ta há chẳng phải là những kẻ bất hạnh nhất hay sao?”

Trạm quan trắc nhận được lệnh từ bộ tổng tham mưu hạm đội, yêu cầu điều chỉnh hướng kính viễn vọng, tiến hành quan trắc hệ sao Tam Thể, lần này Widnall và Vasilenko không có tranh cãi gì, nhà thiên văn cũng rất hứng thú với cái thế giới bị phá hủy ấy.

Các thấu kính lơ lửng bắt đầu điều chỉnh vị trí, các thiết bị đẩy động cơ ion gắn ở rìa thấu kính phát ra ánh sáng màu xanh lam, chỉ có những lúc thế này mới nhận ra được những thấu kính ở xa, những điểm sáng màu xanh cũng vẽ nên toàn thể bộ kính viễn vọng siêu cấp này trong không gian. Bộ thấu kính dài 25 km chầm chậm chuyển hướng, khi kính viễn vọng đã quay về phía hệ sao Tam Thể, vị trí các thấu kính được cố định, sau đó, mỗi thấu kính bắt đầu di chuyển trên trục thẳng để chỉnh tiêu cự, cuối cùng, hầu hết các điểm sáng đều đã tắt, chỉ còn lại số ít lập lòe chớp tắt như lũ đom đóm, tinh chỉnh tiêu cự lần cuối cùng.

Trong hình ảnh ban đầu truyền về từ kính viễn vọng, hình ảnh hệ sao Tam Thể trông có vẻ rất bình thường, chỉ là một mảng trắng nhỏ trên nền vũ trụ, tựa như một cái lông vũ trên bầu trời đêm, nhưng sau khi qua xử lý phóng đại toàn màn hình, một tinh vân tráng lệ hiện ra trước mắt họ. Ngôi sao đã phát nổ bảy năm trước, giờ họ đang nhìn thấy cảnh tượng ba năm sau vụ nổ. Dưới tác dụng của lực hấp dẫn và mô men động lượng sót lại của ngôi sao ban đầu, tinh vân dần dần chuyển từ trạng thái phóng xạ mạnh sang mơ hồ và êm dịu, sau đó dẹt ra dưới tác động của lực ly tâm tự quay, trở thành hình xoáy ốc rõ nét và tinh xảo. Phía trên tinh vân, còn có thể trông thấy hai ngôi sao còn lại, một ngôi hiện lên hình mâm tròn, ngôi còn lại là một điểm sáng ở xa hơn, chỉ có thể nhận ra qua chuyển động của nó trên nền biển sao lấp lánh.

Hai ngôi sao may mắn tồn tại sau thảm họa đã hiện thực hóa giấc mơ bao đời của thế giới Tam Thể, tạo thành một hệ hai sao ổn định, nhưng hiện giờ không sự sống nào có thể hưởng thụ ánh sáng của chúng được nữa. Hệ sao này đã hoàn toàn không còn thích hợp cho sự sống. Giờ nghĩ lại, đòn tấn công từ khu rừng đen tối chỉ hủy diệt một trong ba ngôi sao không hoàn toàn chỉ vì lý do kinh tế, mà còn có mục đích nham hiểm hơn nhiều. Khi trong hệ sao vẫn còn một đến hai ngôi sao, vật chất tinh vân liên tục bị ngôi sao hút về mình, quá trình này sẽ sinh ra lượng bức xạ khổng lồ, khiến hệ sao Tam Thể lúc này trở thành một lò luyện bức xạ, có thể nói là một vùng đất chết đối với văn minh và sự sống. Chính sự bùng phát bức xạ này mới khiến mảng tinh vân đó tự phát sáng, trông rực rỡ và rõ nét đến thế.

“Cảnh này làm tôi nhớ đến biển mây trên núi Nga My đêm đó.” Vasilenko nói, “Đó là một ngọn núi ở Trung Quốc, ngắm trăng trên đỉnh núi đó là đẹp nhất. Đêm đó, dưới núi toàn là biển mây, không thấy đầu là bờ bến, trăng tròn trên bầu trời chiếu xuống tạo thành cả một mảng màu bạc, rất giống cảnh tượng chúng ta đang thấy lúc này.”

Nhìn nghĩa địa màu bạc ở ngoài xa 40 ngàn tỷ kilômét, Widnall cảm khái vô vàn, “Kỳ thực, từ góc độ khoa học, từ ‘hủy diệt’ này không hề chính xác, không có cái gì thực sự bị hủy, lại càng không có thứ gì bị diệt đi cả, tổng lượng vật chất vẫn còn nguyên đó không bớt đi chút nào hết, mô men động lượng cũng vẫn còn, chỉ là cách tổ hợp vật chất thay đổi đi mà thôi, giống như một bộ bài poker, chỉ xào bài lại mà thôi... Nhưng sự sống là một dãy sảnh đồng hoa, xào một cái là chẳng còn gì nữa.”

Widnall lại chăm chú xem xét hình ảnh, liền có một phát hiện quan trọng. “Trời đất, cái gì kia?!” Anh ta chỉ vào khoảng không gian cách tinh vân một quãng trên hình ảnh, theo tỷ lệ, chỗ đó cách trung tâm tinh vân chừng ba mươi đơn vị thiên văn.

Vasilenko nhìn chằm chằm vào chỗ đó, xét cho cùng, anh ta không có cặp mắt được huấn luyện lâu dài như nhà thiên văn học, thoạt đầu chẳng thấy gì, nhưng sau đó vẫn nhìn ra được đường nét lờ mờ trên nền đen kịt như mực, một hình tròn, kiểu như một bong bóng xà phòng trên trời đêm vậy.

“Trông có vẻ rất to, đường kính chừng... mười đơn vị thiên văn, bụi vũ trụ à?”

“Tuyệt đối không phải, bụi vũ trụ không có hình dạng này.”

“Trước đây anh chưa từng thấy à?”

“Chưa ai từng thấy nó cả. Thứ này trong suốt, rìa mép rất nhạt, trước đây dù dùng kính thiên văn lớn nhất cũng không thể thấy nó được.”

Widnall zoom ra xa, muốn nhìn tổng quát tương quan vị trí giữa tinh vân và hai ngôi sao, đồng thời cũng muốn xem tinh vân có đang tự quay hay không. Trên hình ảnh, tinh vân lại biến thành một vùng trắng nhỏ trên không gian tối đen. Đúng lúc này, ở vùng không gian cách hệ sao Tam Thể chừng 6.000 đơn vị thiên văn, anh ta lại thấy một “bong bóng xà phòng” khác, to hơn lúc nãy nhiều lần, đường kính áng chừng 50 đơn vị thiên văn, tương đương một hệ hành tinh, bên trong đủ chỗ chứa được hệ sao Tam Thể hoặc Hệ Mặt trời. Widnall nói cho Vasilenko biết phát hiện mới này.

“Trời ạ!” Vasilenko kinh hãi kêu lên, “Anh có biết đây là vị trí nào không?”

Widnall nhìn chằm chằm vào màn hình một lúc, hỏi dò: “Vị trí mà hạm đội Tam Thể thứ hai đạt đến vận tốc ánh sáng?”

“Đúng vậy.”

“Anh khẳng định chứ?”

“Nhiệm vụ của tôi trước đây chính là quan sát vùng không gian này, tôi còn nắm rõ nó hơn lòng bàn tay ấy chứ.”

Một sự thực hiển nhiên và dễ nhận ra: phi thuyền sử dụng phương pháp truyền động bằng độ cong của không gian sẽ để lại vết đường bay khi gia tốc đến vận tốc ánh sáng.

Vết đường bay nhỏ hơn đầu tiên nằm bên trong hệ sao Tam Thể, có vài khả năng giải thích cho sự xuất hiện của nó. Có lẽ, thoạt đầu thế giới Tam Thể không biết rằng phương thức truyền động này sẽ để lại vết tích, khi thử nghiệm động cơ hoặc khi phi thuyền vận tốc ánh sáng bay thử đã vô tình để lại vết đường bay; hoặc giả bọn họ đã biết, nhưng vì sự cố ngoài ý muốn nào đó mà vẫn để lại vết tích bên trong hệ sao. Nhưng có thể khẳng định một chuyện, đây tuyệt đối không phải là điều họ mong muốn, chắc chắn họ đã tìm cách xóa bỏ vết tích này, nhưng không làm được. Mười một năm trước, hạm đội Tam Thể thứ hai đã dành một năm để bay theo phương thức thông thường, khi khoảng cách giữa hạm đội và hệ sao mẹ đạt tới 6.000 đơn vị thiên văn mới gia tốc đến vận tốc ánh sáng, chính là để vết đường bay cách xa hệ sao mẹ, mặc dù làm như vậy đã là quá muộn.

Khi ấy, hành động này vẫn luôn khiến nhân loại khó hiểu, cách giải thích hợp lý nhất là: họ làm vậy để tránh cho năng lượng giải phóng ra khi phi thuyền cùng chuyển sang vận tốc ánh sáng gây ảnh hưởng đến thế giới Tam Thể. Giờ nghĩ lại, hóa ra họ làm vậy là để tránh vết đường bay của động cơ truyền động bằng độ cong của không gian làm lộ ra vị trí nền văn minh Tam Thể. Hạm đội Tam Thể thứ hai sớm giảm tốc ở vị trí cách Hệ Mặt trời 6.000 đơn vị thiên văn cũng chính là vì nguyên nhân này.

Widnall và Vasilenko chằm chằm nhìn nhau một lúc lâu, nỗi sợ trong ánh mắt càng lúc càng hằn sâu, hai người đều có chung một suy đoán.

“Báo cáo ngay lập tức.” Widnall nói.

“Nhưng giờ vẫn chưa đến thời gian báo cáo theo quy định, báo cáo lúc này tức là tương đương với cảnh báo rồi.”

“Vậy thì cảnh báo đi! Cảnh cáo loài người đừng có tự làm lộ ra vị trí của mình!”

“Anh cả nghĩ quá rồi, loài người mới bắt đầu nghiên cứu phi thuyền vận tốc ánh sáng, năm mươi năm nữa mà chế tạo ra được đã là giỏi lắm rồi.”

“Ngộ nhỡ mới thử nghiệm sơ bộ đã tạo ra được vết tích đó rồi thì sao? Có khi người ta đang tiến hành thử nghiệm ở đâu đó trong Hệ Mặt trời rồi cũng nên!”

Vậy là, thông tin này liền được truyền về bộ tổng tham mưu Hạm đội bằng một chùm hạt neutrino ở cấp độ cảnh báo, sau đó lại được chuyển tiếp đến tổng bộ PDC ở Liên Hiệp Quốc. Không ngờ, thông tin lại bị hiểu lầm thành cảnh báo bị tấn công bằng hạt ánh sáng, gây ra sự náo động toàn thế giới hai ngày sau đó.

Vết tích được lưu lại khi phi thuyền chuyển sang vận tốc ánh sáng, giống như tên lửa để lại vệt nóng chảy trên bệ phóng khi bay lên từ mặt đất vậy, sau khi chuyển sang vận tốc ánh sáng, phi thuyền sẽ bay tiếp bằng quán tính, không còn để lại vết tích gì nữa. Có thể suy diễn hợp lý rằng khi phi thuyền ra khỏi vận tốc ánh sáng cũng sẽ để lại vết tích giống vậy. Hiện giờ vẫn chưa biết vết đường bay này sẽ lưu lại trong không gian bao lâu, theo suy đoán, đây có lẽ là một kiểu biến dạng không gian do phương thức truyền động bằng độ cong của không gian gây ra, có thể sẽ ở lại rất lâu, thậm chí là vĩnh cửu.

Người ta có lý do để cho rằng, trước đây Tomoko nói: nếu quan sát từ khoảng cách xa, hệ sao Tam Thể trông có vẻ nguy hiểm hơn Hệ Mặt trời, chính là vì bên trong hệ sao Tam Thể có vết đường bay đường kính lên tới 10 đơn vị thiên văn kia. Điều này khiến đòn tấn công từ khu rừng đen tối nhằm vào hệ sao Tam Thể đến rất nhanh, vết đường bay và tọa độ bị phát đi đã xác nhận lẫn nhau, khiến mức độ nguy hiểm của hệ sao Tam Thể tăng lên gấp bội phần.

Trong một tháng sau đó, đơn nguyên quan trắc số 1 lại phát hiện ra sáu vết đường bay như vậy ở các hướng khác nhau trong không gian, gần như đều có hình cầu, kích cỡ chênh lệch nhau rất lớn, đường kính từ mười lăm đến hai trăm đơn vị thiên văn, nhưng hình dạng đều rất giống nhau, trong đó có một chỗ chỉ cách Hệ Mặt trời có 6.000 đơn vị thiên văn, hiển nhiên là do hạm đội thứ hai của người Tam Thể lưu lại khi ra khỏi vận tốc ánh sáng. Những chỗ còn lại, xét phương hướng và vị trí, đều không liên quan đến hạm đội Tam Thể thứ hai. Có thể thấy rằng, vết đường bay dạng này tồn tại khá phổ biến trong vũ trụ.

Từ sau phát hiện của tàu Không Gian Xanh và Vạn Vật Hấp Dẫn trong mảnh vỡ của không gian bốn chiều, đây lại là một chứng cứ trực tiếp chứng minh rằng trong vũ trụ tồn tại rất nhiều nền văn minh có trí tuệ bậc cao.

Trong số vết đường bay, có một chỗ cách Mặt trời chỉ độ 1,4 năm ánh sáng, rất gần đám mây Oort, rõ ràng là có một phi thuyền vũ trụ từng dừng lại ở đó, sau đó lại chuyển sang vận tốc ánh sáng bỏ đi, nhưng không ai biết được chuyện này xảy ra từ bao giờ.

Phát hiện về vết đường bay khi sử dụng phương thức truyền động bằng độ cong của không gian khiến cho kế hoạch chế tạo phi thuyền vận tốc ánh sáng vốn đã bị nghi ngờ bị dứt khoát dẹp hẳn. Hạm đội Quốc tế và Liên Hiệp Quốc đều nhanh chóng đưa ra một bộ luật quốc tế, các quốc gia cũng lần lượt đưa vào luật, cấm tuyệt đối việc nghiên cứu và chế tạo phi thuyền sử dụng phương thức truyền động bằng độ cong của không gian, đây là lệnh cấm nghiêm khắc nhất đối với một hạng mục công nghệ kể từ sau điều ước không phổ biến vũ khí hạt nhân hồi ba thế kỷ trước.

Vì vậy, ba lựa chọn mà nền văn minh nhân loại phải đối diện nay rút xuống chỉ còn lại hai: dự án Boongke và dự án Hắc Vực.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.