Những Nhân Chứng Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 102 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
“Ở Lằn Ranh Đó… Ở Miền Đất Đó…”

❊ ❊ ❊

Valya Brinskaya - 12 tuổi

Hiện là kỹ sư

Những con búp bê, những con đẹp nhất, chúng luôn nhắc tôi về chiến tranh.

Khi ba còn sống, khi mẹ còn sống, chúng tôi không kể về chiến tranh. Giờ đây, khi họ không còn nữa, tôi thường nghĩ tốt làm sao khi trong nhà có người lớn tuổi. Khi họ còn sống - chúng tôi vẫn còn là trẻ thơ. Kể cả sau chiến tranh chúng tôi vẫn là trẻ thơ.

Ba chúng tôi là quân nhân. Nhà tôi sống trong khu gia binh gần Belostok. Với chúng tôi chiến tranh đã bắt đầu ngay từ giờ đầu tiên, từ phút đầu tiên. Xuyên qua giấc ngủ chúng tôi nghe thấy tiếng còi hụ, giống như tiếng rền của sấm, nhưng là lạ làm sao, và hụ không ngừng. Tôi tỉnh dậy và chạy ra cửa sổ nhìn, trên những doanh trại ở vùng Grayevo, nơi tôi và em gái đi học, bầu trời đang cháy.

- Ba ơi, đó là dông ạ?

Ba nói:

- Con tránh khỏi cửa sổ đi, đó là chiến tranh.

Mẹ sửa soạn vali hành quân. Ba vẫn hay bị huy động như thế. Như không có gì bất thường. Tôi thèm ngủ. Tôi vật người xuống giường, bởi tôi chẳng hiểu gì. Đêm qua anh em tôi đi ngủ trễ vì mải đi xem phim. Trước chiến tranh, khái niệm “đi xem phim” hoàn toàn chẳng giống với hiện nay. Phim chỉ được chiếu vào trước ngày nghỉ, và không nhiều: Chúng tôi đến từ Krondstadt, Chapayev, Nếu ngày mai là chiến tranh, Những chàng trai vui vẻ. Buổi chiếu phim thường được tổ chức trong nhà ăn hồng quân. Bọn trẻ chúng tôi không bỏ qua một suất chiếu nào và thuộc lòng tất cả các phim. Thậm chí chúng tôi còn có thể nhắc tuồng cho các diễn viên trên màn ảnh, hoặc nói leo, ngắt lời họ. Trong làng không có điện, trong đơn vị cũng không, phim được “chiếu” bằng máy nổ. Máy nổ vừa kêu lạch tạch, chúng tôi đã vất hết mọi thứ chạy đi giành chỗ, có lần còn xách ghế đẩu theo.

Phim chiếu khá lâu. Cứ xong một phần, tất cả lại sốt ruột chờ thợ chiếu cuộn ống phim tiếp theo vào. Nếu phim còn mới thì tốt, còn nếu cũ, nó thường bị đứt - phải đợi ông ta dán lại rồi chờ cho nó khô. Phim mà cháy thì càng tệ hơn. Và sẽ là vô phương nếu máy nổ hỏng. Cũng có khi chưa kịp xem tới cuối phim, đã nghe quân lệnh:

- Đại đội một - ra cửa! Đại đội hai - chỉnh đốn đội hình!

Nếu có báo động, cả thợ chiếu cũng bỏ đó mà chạy. Mỗi khi giờ giải lao giữa các phần quá dài, khán giả bắt đầu hết kiên nhẫn và huýt sáo la hét, em gái tôi lại nhảy lên bàn và tuyên bố: “Âm nhạc bắt đầu”. Dạo đó em rất thích bắt chước người ta giới thiệu, quảng cáo thứ gì đó. Mặc dù em chẳng thuộc lời, nhưng lại leo lên bàn biểu diễn chẳng chút sợ sệt.

Đó là thời trước khi đi nhà trẻ, khi chúng tôi còn sống ở doanh trại quân đội tại Gomel. Sau những bài thơ mà tôi và em ngâm, mọi người lại bảo chúng tôi hát bài Thiết giáp và xe tăng ta thần tốc. Những tấm kính trong nhà ăn như rung lên khi những chiến sĩ cùng hát đoạn điệp khúc:

Bập hùng ánh lửa, lấp lánh tia thép

Những chiếc xe lên đường hành quân cuồng phong

Là thế đấy, ngày 21 tháng Sáu năm 1941. Đêm trước chiến tranh. Đêm ấy có lẽ chúng tôi đã xem Nếu ngày mai là chiến tranh đến lần thứ mười. Sau buổi chiếu chúng tôi nán lại rất lâu, ba phải đuổi chúng tôi về nhà: “Hôm nay các con có ngủ không? Ngày mai là ngày nghỉ đấy”.

…Tôi dậy hẳn khi nghe có tiếng nổ ngay cạnh cửa sổ làm kính nhà bếp vỡ tan. Mẹ cuộn em trai Tolik đang còn ngái ngủ trong chăn. Em gái tôi đã mặc quần áo, còn ba thì không có nhà.

- Các con, - mẹ vội vã, - nhanh lên nào. Biên giới có động rồi.

Chúng tôi chạy vào rừng. Mẹ thở hổn hển, trên tay bà là em trai tôi, bà không chịu đưa em cho chúng tôi và không ngừng nhắc nhở:

- Các con, đừng tụt lại… Các con, khom người xuống…

Vì sao đó mà tôi nhớ mãi ánh mặt trời rọi mạnh vào mắt. Trời rất sáng - sáng rực. Chim hót. Và tiếng rền buốt thấu của những chiếc máy bay.

Tôi run rẩy, và về sau lại xấu hổ. Tôi muốn bắt chước những nhân vật dũng cảm trong Timur và đồng đội của Arkadi Gaidar, vậy mà ở đây tôi lại rùng mình run sợ. Tôi ôm em trai trong tay, đong đưa và hát: “Ôi cô gái trẻ…”. Đó là bài hát “tình yêu” trong phim Người thủ thành. Mẹ thường hay hát bài này, và nó rất “hợp” với tôi khi đó. Tôi đã… yêu! Tôi không biết các nhà khoa học hay các sách tâm lý học tuổi thiếu niên lúc đó nói gì, nhưng tôi luôn trong tình trạng say nắng. Có khi tôi thích cùng lúc vài cậu con trai. Nhưng vào lúc đó thì tôi chỉ thích một người - Vitya ở khu gia binh Grayev, cậu học lớp Sáu. Mà lớp Sáu cùng với lớp Năm chúng tôi học cùng phòng học. Dãy bàn đầu - lớp Năm, dãy bàn thứ hai - lớp Sáu. Tôi không thể tưởng tượng nổi các thầy giáo đã xoay xở giảng bài ra sao. Còn tôi thì chẳng thiết gì chuyện học hành. Tôi phải cố giữ cổ để không quay lại giương mắt ngắm nhìn Vitya!

Tôi thích mọi thứ ở cậu ta. Cả việc cậu ta nhỏ con (cỡ như tôi), việc mắt cậu ta xanh thật xanh (như mắt ba tôi), và việc cậu ta đọc rất nhiều (không phải như Alka Poddunyak chuyên búng tai rất đau nhưng cậu ta lại thích tôi), đặc biệt cậu cũng thích Jules Verne như tôi. Trong thư viện hồng quân có trọn bộ tác phẩm của ông, và tôi đã đọc hết chúng từ năm lớp Ba.

Tôi không nhớ chúng tôi đã ngồi bao lâu trong rừng. Cho đến khi không nghe thấy tiếng nổ nữa…

Sự tĩnh lặng quay về. Những người phụ nữ thở phào nhẹ nhõm: “Quân ta đã đẩy lui”. Nhưng đột ngột, giữa sự tĩnh lặng đó bỗng vang lên tiếng gầm rú của máy bay. Chúng tôi nhào ra đường. Máy bay bay về hướng biên giới. “U-ra!”. Nhưng có gì đó không đúng ở những chiếc máy bay đó: Đôi cánh không phải của phe ta và tiếng gầm cũng không phải của phe ta. Đó là máy bay ném bom Đức, chúng bay sát nhau, chậm chạp và nặng nề. Có cảm tưởng như vì chúng mà bầu trời không còn chút khe sáng. Chúng tôi bắt đầu đếm, lẫn lộn hết cả. Sau này, trong sách biên niên những năm tháng chiến tranh, tôi đã thấy tấm hình chụp những chiếc máy bay này, nhưng ấn tượng không mạnh như thế. Những tấm ảnh đó được chụp ngang tầm máy bay. Còn khi ấy nhìn chúng từ mặt đất, xuyên qua vòm cây rậm rạp, lại bằng đôi mắt thiếu nữ - đó là một cảnh tượng ghê hồn. Về sau tôi hay mơ thấy những chiếc máy bay này. Nhưng giấc mơ ấy còn tiếp diễn - bầu trời sắt ấy chậm chạp rơi xuống và đè nặng lấy tôi. Tôi tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa, và một lần nữa cơn lạnh run bắt đầu tấn công. Thật hãi hùng!

Ai đó nói chúng đã đánh bom cây cầu. Chúng tôi hoảng sợ: Vậy thì ba thế nào đây? Ba không bơi qua được, ông không biết bơi.

Bây giờ tôi không thể nói chính xác chuyện gì đã xảy ra, nhưng tôi nhớ ba đã chạy đến chỗ mẹ con tôi: “Nhà ta sẽ được chở đi tản cư”. Ông chuyển cho mẹ tôi quyển album dầy và một tấm chăn bông: “Quấn cho bọn trẻ, gió lắm”. Chúng tôi chỉ mang theo người bấy nhiêu thứ đó. Vội đến thế. Không giấy tờ, không hộ chiếu, không một xu dính túi. Chúng tôi chỉ kịp mang nổi thịt băm viên mà mẹ làm sẵn cho ngày nghỉ, và đôi giày cho em trai. Còn em gái tôi (thật kỳ diệu) vào phút cuối đã chộp mang theo cái túi gì đó, trong đó hóa ra là chiếc đầm lụa và một đôi giày của mẹ. Thật tình cờ. Bằng cách nào đó. Có thể, mẹ và ba chuẩn bị đi thăm ai đó vào ngày nghỉ? Tôi không nhớ. Cuộc sống thời bình biến mất trong thoáng chốc, lùi lại rất xa.

Chúng tôi tản cư như thế…

Chúng tôi di chuyển rất nhanh đến nhà ga, nhưng ở nhà ga chúng tôi phải ngồi chờ lâu. Mọi thứ rung chuyển và vang rền. Đèn tắt. Người ta bắt đầu đốt giấy, báo… Rồi một chiếc đèn lồng được thắp lên. Từ ánh sáng của nó, những cái bóng khổng lồ của người ngồi xung quanh hắt cả lên tường, lên trần. Những cái bóng lúc tĩnh lúc động. Và khi đó trí tưởng tượng của tôi bắt đầu nổi loạn: Bọn Đức tiến vào thành lũy, bắt quân ta làm tù binh. Tôi quyết định thử xem mình có chịu nổi đòn tra tấn hay không. Tôi đút ngón tay vào giữa các thùng, nhấn xuống và thét lên vì đau. Mẹ hoảng hốt:

- Chuyện gì vậy, con gái?

- Con sợ mình không chịu nổi đòn tra tấn khi bị hỏi cung.

- Con sao thế, ngốc ạ, hỏi cung gì? Quân ta sẽ không để bọn Đức vào đâu.

Bà xoa đầu, rồi hôn lên trán tôi.

Đoàn tàu chúng tôi lúc nào cũng chạy dưới màn bom. Cứ khi nào có bom, mẹ lại nằm che cho chúng tôi: “Nếu có chết, thì nhà mình cùng chết. Hoặc chỉ mình mẹ thôi…” Người chết đầu tiên mà tôi thấy là một cậu bé. Cậu ta nằm nhìn lên trời, và tôi cố đánh thức cậu dậy. Tôi không thể hiểu là cậu đã không còn nữa. Tôi có một mẩu đường trong túi, tôi đưa cậu để cậu ngồi dậy. Nhưng cậu ấy không ngồi dậy.

Khi chúng đánh bom, em gái nói khẽ với tôi: “Nếu chúng ngưng đánh bom, em sẽ nghe lời mẹ. Sẽ luôn nghe lời mẹ”. Và quả thật, sau chiến tranh Toma rất ngoan. Mẹ luôn nhắc chúng tôi nhớ rằng trước chiến tranh chúng tôi đã gọi em là “nhỏ quậy”. Còn Tolik nhỏ bé của chúng tôi… Trước chiến tranh em đã đi được, nói được. Còn giờ đây em hầu như không nói, lúc nào cũng lấy tay ôm đầu.

Tôi đã thấy tóc em gái tôi bạc trắng thế nào. Tóc em vốn dài thật dài và đen nhánh, vậy mà chúng đã bạc chỉ sau vài ngày. Sau một đêm.

Lần đó, con tàu dừng lại một lúc rồi bất ngờ lăn bánh đi tiếp. Tamara đâu rồi? Không có em trên toa. Chúng tôi thấy em chạy theo tàu với bó hoa bắp trên tay. Ở đó có một cánh đồng lớn, lúa mì cao hơn đầu chúng tôi, và trong đó có cả hoa bắp. Gương mặt em tôi… Đến bây giờ gương mặt em vẫn còn hiển hiện trước mắt tôi. Đôi mắt đen mở to, em im lặng chạy. Thậm chí còn không gọi mẹ. Chạy và im lặng.

Mẹ như hóa điên. Bà muốn lao ra khỏi toa khi con tàu đang chạy. Tôi ôm Tolik, cả hai chúng tôi cùng kêu gào. Thế rồi một người lính xuất hiện. Ông đẩy mẹ khỏi cửa, nhảy xuống, chạy tới chỗ Tamara và lấy đà ném em lên toa. Buổi sáng hôm đó chúng tôi thấy tóc em bạc đi. Suốt vài ngày sau chúng tôi không nói gì với em, và giấu gương soi đi, cho đến khi em tình cờ nhìn vào gương người khác và khóc:

- Mẹ, con đã là bà già rồi sao?

Mẹ trấn an:

- Cắt ngắn rồi tóc đen sẽ mọc ra thôi con.

Sau việc đó mẹ nói:

- Thế nhé. Chúng ta sẽ không rời khỏi toa. Chúng giết cứ giết. Còn nếu ta còn sống, đó là số phận!

Mỗi khi có tiếng hô to: “Máy bay đến, mọi người ra khỏi toa!” - Bà lại nhét chúng tôi xuống đệm, và nói với người trực toa:

- Bọn trẻ chạy rồi, còn tôi không đi được.

Phải nói là mẹ rất hay dùng cái từ bí ẩn “số phận” khiến tôi cứ hỏi mãi:

- Số phận là gì? Là Chúa ạ?

- Không, không phải là Chúa. Mẹ không tin Chúa. Số phận, đó là con đường sống của chúng ta. - Mẹ đáp. - Các con, mẹ luôn tin vào số phận các con.

Dưới làn bom rơi, tôi khiếp hãi. Sau đó, ở Siberia, tôi đã căm thù mình vì tính nhút nhát. Tình cờ, tôi thoáng thấy những dòng thư của mẹ. Bà viết cho ba. Những ngày đầu chiến tranh chúng tôi còn liên hệ thư từ được với nhau, và tôi quyết định đọc xem mẹ viết gì. Và mẹ đúng là đã viết Tamara bặt tiếng khi bom rơi, còn Valya thì khóc lóc hoảng sợ. Với tôi thế là đủ. Mùa xuân năm bốn bốn, khi ba đến thăm chúng tôi, tôi đã không thể ngước mắt nhìn ba, tôi xấu hổ. Thật đáng sợ! Nhưng cuộc gặp gỡ đó tôi sẽ kể sau. Khi ấy hãy còn rất xa…

Tôi nhớ những trận tập kích ban đêm. Vốn thường ban đêm không có tập kích, và con tàu lao nhanh. Nhưng giờ thì chúng tấn công. Đạn vãi xuống nóc tàu. Tiếng máy bay gầm gào. Những dải lóe sáng của đường đạn bay. Và những mảnh đạn. Cạnh tôi, một người phụ nữ bị giết. Mãi sau tôi mới biết bà bị giết bởi bà không ngã xuống. Chẳng có nơi nào để ngã, cả toa tàu chật ních người. Bà ngồi giữa chúng tôi và thở khò khè. Máu bắn cả sang mặt tôi, ấm nóng và nhơm nhớp. Rồi áo quần tôi ướt máu. Khi đó mẹ đã hét lên, bà sờ nắn khắp người tôi:

- Valya, con bị trúng đạn rồi sao? - Tôi không sao trả lời mẹ được.

Sau sự kiện đó một khúc ngoặt đã đến với đời tôi. Tôi biết là sau chuyện đó… Vâng… Tôi không còn run sợ nữa. Tôi bắt đầu phó mặc. Không sợ sệt, không đau đớn, không thương tiếc. Tất cả chỉ còn một sự ngây độn, dửng dưng.

Tôi nhớ, chúng tôi không đến Ural ngay mà dừng lại ở làng Balanda của tỉnh Saratov. Họ chở chúng tôi đến đó vào buổi tối, khi chúng tôi đã thiếp ngủ. Sáu giờ sáng hôm sau, người chăn gia súc quất roi lùa bò, tất cả phụ nữ chồm dậy, chụp lấy con mình và gào thét chạy xuống đường: “Bom!”. Họ la hét cho đến khi trưởng tàu đến trấn an chỉ là người chăn gia súc lùa bò thôi. Khi đó mọi người mới hoàn hồn.

Chỉ cần nghe tiếng thang máy, Tolik của chúng tôi đã sợ hãi run rẩy. Không một giây nào em chịu rời khỏi chúng tôi, và chỉ khi em ngủ, chúng tôi mới có thể đi ra phố hỏi thăm. Mẹ dắt chị em tôi đi lên Ủy ban Quân vụ để dò hỏi tin tức ba và xin trợ giúp, ủy viên Quân vụ hỏi:

- Hãy cho chúng tôi xem giấy tờ chứng minh chồng bà là chỉ huy hồng quân.

Chúng tôi không có giấy tờ gì, chỉ có mỗi tấm ảnh chụp ba trong bộ quân phục. Ông ta cầm lên và nghi ngại nói:

- Biết đâu ông ấy không phải là chồng bà. Bà chứng minh bằng cách nào?

Tolik thấy ông ta cầm ảnh ba, em không hài lòng:

- Trả ba lại đây!

Ủy viên Quân vụ cười:

- Tôi không thể tin vào ‘giấy tờ” này được.

Em gái tôi đầu vẫn lốm đốm dù mẹ đã cắt tóc cho em ấy. Sáng sáng, chúng tôi lại kiểm tra xem tóc em thế nào: Đen hay bạc? Em trai tôi an ủi: “Đừng khóc, Toma. Đừng khóc, Toma”. Tóc em gái tôi vẫn bạc như thế. Những đứa con trai chòng ghẹo em, chế nhạo em. Em không bao giờ cởi khăn trùm đầu xuống, kể cả trong giờ học.

Một hôm đi học về, chúng tôi không thấy Tolik ở nhà.

- Mẹ ơi Tolik đâu rồi? - Chúng tôi chạy lại chỗ mẹ làm việc.

- Tolik trong bệnh viện.

…Tôi và em gái mang vòng hoa đi trên đường, vòng hoa được bện từ hoa xuyên tuyết. Và bộ quần áo lính thủy của em trai. Mẹ đi cùng chúng tôi, bà nói Tolik đã mất rồi. Đến cổng nhà xác mẹ đứng lại, bà không thể bước vào. Bà không đủ can đảm. Tôi vào một mình và nhận ra em ngay. Em nằm trần truồng, lạnh lẽo. Tôi không nhỏ một giọt lệ nào, tôi đã là gỗ đá.

Thư của ba theo chúng tôi tới Siberia. Mẹ ngồi khóc khi viết cho ba rằng con trai đã chết. Buổi sáng ba người chúng tôi ra bưu điện đánh điện tín: “Các cô gái còn sống. Toma vẫn bạc đầu”. Và ba sẽ đoán ra là không còn Tolik nữa. Tôi có một cô bạn gái, cha cô ấy đã chết, nên ở cuối những bức thư của mình tôi luôn viết thêm, vì cô đề nghị: “Ba ơi, gởi ba lời chào của con và của bạn con, Lera”. Ai cũng muốn có cha.

Chẳng bao lâu thư của ba đã tới. Ông kể mình làm nhiệm vụ đặc biệt ở hậu phương và sau đó thì bị ốm. Trong bệnh viện người ta bảo chỉ có gia đình mới giúp ông khỏi bệnh: Gặp lại người nhà, ông sẽ đỡ hơn.

Ba phải đợi vài tuần. Mẹ lấy từ vali ra món đồ quý báu của mình: áo lụa và đôi giày. Mẹ con tôi có một thỏa thuận - không bán chiếc áo và đôi giày dù khó khăn đến mức nào. Với một niềm tin dị đoan. Chúng tôi sợ rằng nếu bán chúng, ba sẽ không trở về nữa.

…Chúng tôi nghe giọng ba qua cửa sổ và tôi vẫn không thể tin: Chẳng lẽ đó là ba? Tôi không tin mình có thể gặp lại ba, chúng tôi đã quen đợi chờ ông rồi. Với chúng tôi, từ lâu ông đã là người cần phải đợi và chỉ có thể chờ. Ngày hôm ấy, cả trường được nghỉ - tất cả kéo đến xem ba chúng tôi. Đó là người cha đầu tiên trở về từ chiến tranh. Thêm hai ngày tiếp theo tôi và em gái cũng không học hành gì. Mọi người không ngừng ghé đến hoặc viết giấy hỏi han: “Ba thế nào rồi?” Mà ba chúng tôi rất đặc biệt - ông được thưởng huy chương Lenin. Ông là anh hùng Liên Xô Anton Petrovich Brinsky.

Ba, cũng giống Tolik thuở nào, không thích ở một mình. Ông không thể. Ở một mình ông cảm thấy rất tệ hại. Đi đâu ông cũng đưa tôi theo cùng. Có lần tôi nghe ông kể cho ai đó nghe chuyện các du kích đến một làng nọ và thấy có nhiều đất mới vừa được đào lên. Họ dừng lại sau đống đất đó. Bỗng dưng có một cậu bé vừa chạy vừa kêu, báo đó là nơi chúng bắn chết cả làng. Không còn một ai.

Ba quay lại và thấy tôi quỵ xuống. Từ đó không bao giờ ông kể về chiến tranh trước mặt chúng tôi.

Chúng tôi ít nhắc đến chiến tranh. Ba mẹ tôi tin rằng cuộc chiến khủng khiếp như thế sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Rất lâu, họ tin vào điều đó. Dấu ấn duy nhất mà tôi và em gái còn lại từ chiến tranh là việc mua búp bê. Tôi không biết tại sao. Có lẽ vì chúng tôi không có tuổi thơ. Niềm vui tuổi thơ. Tôi vào đại học, và em gái biết món quà tốt nhất cho tôi là búp bê. Khi em gái sinh con, tôi đến thăm và hỏi:

- Chị tặng em gì đây?

- Búp bê.

- Chị hỏi để tặng em, không phải cho con em.

- Thì em đáp rồi đấy. Hãy tặng em búp bê.

Những đứa con của chúng tôi lớn lên - chúng tôi lại tặng chúng búp bê. Chúng tôi tặng búp bê cho tất cả, tất cả những người quen của mình.

Người đầu tiên ra đi là mẹ tuyệt vời của chúng tôi, sau đó ba tôi cũng không còn. Chúng tôi cảm nhận được mình là những người cuối cùng. Ở lằn ranh đó… Ở miền đất đó… Chúng tôi - những nhân chứng cuối cùng. Thời của chúng tôi đang kết thúc. Và chúng tôi phải nói.

Những lời của chúng tôi sẽ là cuối cùng…

1978-2004

CÙNG LAST WITNESSES: UNCHILDLIKE STORIES ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup NXB Phụ Nữ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Svetlana Alexievich

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.