Tôi cũng quen biết ông Ibrahim gần như cùng thời gian ấy.
Ông Ibrahim lúc nào trông cũng già. Khi nghĩ đến phố Bleue và phố Faubourg- Poissonnière, ai cũng đều nhớ ra hình ảnh ông Ibrahim trong cửa hàng tạp hóa của ông, từ tám giờ sáng đến nửa đêm, ngồi lì giữa cái quầy thu tiền và những sản phẩm tẩy rửa, một chân ngáng lối đi, một chân đút dưới mấy thùng đựng diêm, mặc một cái áo cánh màu ghi bên ngoài áo sơ mi trắng, hàm ràng trắng ngà lộ ra dưới hàng ria gọn gàng, mắt ông màu hạt dẻ, xanh lá pha nâu, sáng hơn làn da nâu có điểm những vết đồi mồi của trí tuệ thông thái.
Bởi ai cũng thấy ông Ibrahim là một nhà thông thái. Chắc hẳn là vì từ ít nhất bốn mươi năm nay, ông là người Ả Rập trên một con phố Do Thái. Chắc hẳn là vì ông cười nhiều và nói ít. Chắc hẳn là vì dường như ông đã thoát khỏi sự bận rộn hằng ngày của người trần mắt thịt, nhất là người trần mắt thịt ở Paris, ông không bao giờ di chuyển, như thể một cành cây được ghép vào chiếc ghế đẩu, không bao giờ dọn hàng trước mặt bất kỳ khách hàng nào và biến mất ở đâu không ai biết trong thời gian từ nửa đêm tới tám giờ sáng.
Ngày nào cũng vậy, tôi đi chợ và nấu ăn. Tôi chỉ mua đồ hộp. Sở dĩ ngày nào tôi cũng đi chợ, không phải là để mua đồ tươi, chẳng phải vậy, mà bởi vì bố tôi chỉ đưa tôi khoản tiền đủ cho mỗi ngày, vả lại, như thế thì dễ nấu ăn hơn!
Khi bắt đầu ăn bớt tiền của bố để trừng phạt ông vì đã nghi ngờ tôi, tôi cũng bắt đầu ăn trộm của ông Ibrahim. Tôi có hơi xấu hổ, nhưng để chống lại nỗi hổ thẹn ấy, tôi đinh ninh trong đầu, vào lúc trả tiền:
Nói cho cùng, ông ấy cũng chỉ là một người Ả Rập!
Ngày nào cũng vậy, tôi nhìn thẳng vào mắt ông Ibrahim và điều đó làm tôi trở nên bạo dạn.
Nói cho cùng, ông ấy cũng chỉ là một người Ả Rập!
“Ông không phải là người Ả Rập, Momo ạ, ông đến từ vùng Lưỡi Liềm Vàng.”
Tôi quơ mớ hàng vừa mua rồi đi ra phố, choáng váng. Ông Ibrahim nghe được ý nghĩ của tôi! Như vậy, nếu nghe được điều tôi đang nghĩ, có lẽ ông ấy cũng biết là tôi ăn trộm đồ chăng?
Ngày hôm sau, tôi không lấy trộm hộp thức ăn nào mà hỏi ông:
“Lưỡi Liềm Vàng là gì ạ?”
Thú thật là cả đêm, tôi đã tưởng tượng ông Ibrahim ngồi trên đầu nhọn của một cái lưỡi liềm vàng và bay trên bầu trời đầy sao.
“Đó là một vùng trải dài từ Tiểu Á đến tận Ba Tư, Momo ạ.”
Hôm sau, tôi vừa lấy ví tiền ra vừa nói thêm:
“Tên cháu không phải là Momo, mà là Moïse.”
Hôm sau nữa, ông là người bổ sung:
“Ta biết cháu tên là Moïse, chính vì thế ta mới gọi cháu là Momo cho đỡ gây chú ý.”
Hôm sau nữa nữa, lúc đang đếm tiền lẻ, tôi hỏi:
“Chuyện đó thì có ảnh hưởng gì tới ông không? Moïse là một cái tên Do Thái, đâu phải tên Ả Rập.”
“Ta không phải người Ả Rập, Momo ạ, ta là người Hồi giáo.”
“Vậy sao người ta lại bảo ông là người Ả Rập của phố này, nếu ông không phải là người Ả Rập?”
“Momo à, là người Ả Rập có nghĩa là ‘mở cửa từ tám giờ sáng đến tận nửa đêm và cả ngày Chủ nhật’ trong giới bán tạp hóa.”
Đối thoại đã diễn ra như vậy đó. Mỗi ngày một câu. Chúng tôi có thời gian mà. Ông ấy có thời gian vì ông ấy già rồi, tôi có thời gian vì tôi còn trẻ. Và cứ hai ngày một lần, tôi lấy trộm một hộp đồ ăn.
Tôi nghĩ là chúng tôi sẽ phải mất một hay hai năm để có câu chuyện kéo dài một tiếng đồng hồ nếu chúng tôi không gặp Brigitte Bardot.
Cả phố Bleue náo động. Giao thông bị ngưng trệ. Đường bị chặn. Người ta đang quay phim.
Tất cả những ai có bộ phận sinh dục ở phố Bleue, phố Papillon và Faubourg-Poissonnière đều nhốn nháo cả lên. Đám phụ nữ muốn xem xem cô có đẹp như người ta đồn không; cánh đàn ông thì chả nghĩ gì trong đầu nữa, ngôn từ của họ kẹt cứng sau khóa quần cả rồi. Brigitte Bardot đang ở đây! Mà này, Brigitte Bardot thật đấy!
Còn tôi, tôi ngồi bên cửa sổ. Tôi nhìn cô và cô làm tôi nghĩ đến con mèo cái nhà hàng xóm tầng năm, một con mèo nhỏ xinh thích nằm dài sưởi nắng trên ban công, trông nó như chẳng còn sống, chẳng còn thở, chỉ nháy mắt để làm người ta ngưỡng mộ. Nhìn kỹ hơn, tôi phát hiện ra rằng cô thật sự giống với đám gái bán hoa trên phố Paradis, mà không nhận ra rằng, trên thực tế, chính đám gái bán hoa trên phố Paradis đã cải trang thành Brigitte Bardot để lôi kéo khách. Cuối cùng, trong tột cùng ngạc nhiên, tôi nhận thấy ông Ibrahim bước ra đứng trên ngưỡng cửa. Lần đầu tiên - ít ra là từ khi tôi tồn tại - ông rời cái ghế đẩu của mình.
Sau khi quan sát con thú nhỏ Bardot uốn éo trước ống kính, tôi nghĩ đến người đẹp tóc vàng đang giữ con gấu của mình và tôi quyết định xuống nhà ông Ibrahim, lợi dụng lúc ông không chú ý để thó vài hộp đồ ăn. Thật là một tai họa! Ông đã quay lại ngồi sau quầy thu tiền. Mắt ông tính nghịch ngắm nhìn Bardot, qua kệ bày xà phòng và kẹp quần áo. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông như thế.
“Ông có vợ không, ông Ibrahim?”
“Có chứ, đương nhiên là ta có vợ.”
Ông không quen với việc người khác đặt câu hỏi cho mình.
Vào đúng lúc ấy, tôi có thể thề là ông Ibrahim không già như mọi người vẫn nghĩ.
“Ông Ibrahim! Hãy tưởng tượng ông đang ở trên một con tàu, cùng với vợ ông và Brigitte Bardot. Con tàu bị chìm. Ông sẽ làm gì?”
“Ta cá là vợ ta, bà ấy biết bơi.”
Tôi chưa bao giờ nhìn thấy đôi mắt nào vui như thế, đôi mắt ông Ibrahim như đang cười ha hả, như đang vui hát.
Đột nhiên, như chuẩn bị chiến đấu, ông Ibrahim đứng nghiêm: Brigitte Bardot bước vào của hàng.
“Chào ông, ông có bán nước uống không?”
“Tất nhiên rồi, thưa cô.”
Và lúc đó, điều không thể tưởng tượng đã xảy ra: ông Ibrahim đích thân đi lấy một chai nước trên kệ hàng và mang đưa cho Bardot.
“Cảm ơn ông. Của tôi hết bao nhiêu tiền?”
“Bốn mươi franc thưa cô.”
Thoáng giật mình, cái cô Brigitte ấy. Tôi cũng thế. Hồi đó, một chai nước chỉ có giá hai franc, không phải là bốn mươi.
“Tôi không biết là ở đây, nước lại hiếm đến thế.”
“Không phải là nước hiếm, thưa cô, nhưng những ngôi sao thực sự thì ở đây rất hiếm.”
Ông nói điều ấy với nét quyến rũ và một nụ cười khó cưỡng đến mức Brigitte Bardot thoáng đỏ mặt, rút ra bốn mươi franc và bước ra khỏi cửahàng.
Tôi choáng váng.
“Dù gì, ông đúng là cả gan thật đấy, ông Ibrahim ạ.”
“Này nhóc Momo, ta cũng phải bù lại tất cả số đồhộp mà cháu đã thó của ta chứ.”
Chính từ ngày hôm đó, chúng tôi trở thành bạn.
Đúng là, bắt đầu từ ngày hôm đó, lẽ ra tôi đã đi ăn trộm đồ hộp ở nơi khác, nhưng ông Ibrahim lại bắt tôi thề:
“Momo, nếu cháu phải tiếp tục ăn trộm, thì hãy đến trộm ở chỗ ta.”
Thế rồi, những ngày sau đó, ông Ibrahim dạy cho tôi vô khối mánh lới để lấy tiền của bố mà không để bố nhận ra: cho bánh mì từ hôm qua hay hôm kia vào lò quay lại rồi cho ông ăn; thêm dần bột rễ diếp xoăn vào cà phê của ông; dùng lại các túi trà nhúng; trộn rượu Beaujolais quen thuộc của ông với rượu rẻ tiền loại ba franc, và ý tưởng chói sáng nhất, ý tưởng thực sự cho thấy ông Ibrahim là bậc thầy trong việc quấy rối người khác, đó là thay pa tê đồng quê bằng pa tê dành cho chó.
Nhờ vào sáng kiến của ông Ibrahim, thế giới của người lớn đã rạn nứt, nó không còn là bức tường liền khối nơi tôi thường đập đầu vào, mà đã có một bàn tay thò ra qua một khe hở.
Tôi lại tiết kiệm được hai trăm franc, tôi lại có thể chứng minh rằng mình là đàn ông.
Phố Paradis, tôi đi thẳng về phía ô cửa vòm nơi chủ nhân mới của con gấu của tôi đang đứng. Tôi mang cho cô một cái vỏ sò mà người ta đã tặng tôi, vỏ sò thật, lấy từ biển, biển thật ấy.
Cô nàng mỉm cười với tôi.
Đúng lúc ấy, từ một con hẻm, một người lao ra nhanh như chuột, rồi một cô gái bán hoa chạy theo và hét lớn:
“Ăn cắp! Túi của tôi! Ăn cắp!”
Không chút chần chừ, tôi đưa chân ra ngáng. Tên trộm ngã nhào, lăn ra cách đó mấy mét. Tôi nhảy đè lên hắn.
Tên kẻ cắp nhìn tôi, hắn đã nhận ra tôi chỉ là một đứa trẻ, hắn cười và sẵn sàng đập tôi một trận, nhưng vì cô gái đã lao hẳn ra phố và kêu càng lúc càng to, hắn liền bật dậy bỏ chạy. May mắn thay, tiếng kêu của cô gái điếm đã cho tôi sức mạnh.
Cô lại gần tôi, lảo đảo ừên đôi giày cao gót. Tôi đưa cho cô chiếc túi, cô sung sướng ôm chặt lấy nó, sát vào bộ ngực đồ sộ rất biết rên rỉ của mình.
“Cảm ơn, cậu bé. Tôi có thể làm gì cho cậu nhỉ? Hay cậu chơi một phát nhé?”
Đó là một cô gái già. Phải đến ba mươi rồi. Nhưng ông Ibrahim vẫn thường bảo tôi, không nên làm phật lòng phụ nữ.
“OK.”
Và thế là chúng tôi lên phòng. Chủ nhân con gấu của tôi tỏ vẻ bực bội vì bị đồng nghiệp cướp khách. Khi chúng tôi đi ngang qua, cô thì thầm vào tai tôi:
“Mai lại đến nhé. Tôi cũng thế, tôi cho cậu miễn phí.”
Tôi đã không đợi đến tận hôm sau...
Ông Ibrahim và đám gái điếm đã khiến việc tôi sống cùng bố trở nên khó khăn hơn. Tôi bắt đầu làm một việc khủng khiếp và quá đáng: so sánh. Khi ở cùng bố, lúc nào tôi cũng lạnh lẽo. Với ông Ibrahim và đám gái điếm, mọi thứ đều ấm áp hơn, sáng sủa hơn.
Tôi nhìn cái giá sách gia truyền vừa cao vừa sâu, với tất cả những cuốn sách được cho là chứa đựng tinh hoa trí tuệ của nhân loại, ghi chép lại các quy luật, tinh túy của triết học, tôi nhìn chúng trong bóng tối - Moïse, đóng cửa chớp lại kẻo ánh sáng mặt trời làm hỏng gáy sách mạ vàng - rồi nhìn bố ngồi đọc sách trong chiếc ghế bành, cô độc giữa quầng sáng tròn do bóng đèn tỏa ra, như một quầng sáng kiến thức tỏa trên những trang giấy. Ông bị nhốt trong những bức tường kiến thức của riêng ông, chú ý tới tôi không hơn gì một con chó - vả lại, ông ghét lũ chó - thậm chí ông còn không có ý định quẳng cho tôi một khúc xương từ mớ kiến thức của ông. Tôi mà gây một tiếng động nhỏ thì...
“Ôi, con xin lỗi.”
“Moïse, im đi. Bố đang đọc. Bố đang làm việc đấy...”
Làm việc, đó là một từ to tát, một lời biện minh triệt để...
“Con xin lỗi bố.”
“Ái chà, may mà anh Popol của con không như thế.”
Popol là một từ khác để chỉ sự vô dụng của tôi. Bố tôi lúc nào cũng ném vào mặt tôi những kỷ niệm về anh cả tôi, Popol, khi tôi gây ra chuyện gì đó tồi tệ. “Popol ấy à, nó rất chăm chỉ ở trường. Popol ấy à, nó thích học toán, nó không bao giờ làm bẩn bồn tắm. Popol ấy à, nó không bao giờ đái chệch ra ngoài bồn cầu. Popol ấy à, nó cũng rất thích đọc sách như bố.”
Nói cho cùng, việc mẹ bỏ đi với anh Popol, ít lâu sau khi sinh tôi, cũng chẳng tệ cho lắm, bởi chiến đấu với một kỷ niệm đã khó rồi, huống hồ lại phải sống cạnh một hình mẫu hoàn hảo như Popol thì quả là vượt quá khả năng của tôi.
“Bố ơi, bố nghĩ liệu anh Popol có yêu con không?”
Bố nhìn trân trân vào mặt tôi, hay đúng hơn là hoảng hốt tìm cách hiểu tôi.
“Hỏi gì lạ vậy!”
Câu trả lời tôi nhận được là thế này đây: Hỏi gì lạ vậy!
Tôi đã học cách nhìn mọi người với đôi mắt của bố tôi. Nghi ngờ, khinh khỉnh... Nói chuyện với ông chủ cửa hàng tạp hóa người Ả Rập, ngay cả khi ông ấy không phải là người Ả Rập - bởi vì "Ả Rập có nghĩa là mở cửa cả ban đêm và Chủ nhật, trong giới bán tạp hóa" -, giúp đỡ các cô gái bán hoa, đó là những điều tôi cất vào một ngăn kéo bí mật trong tâm trí mình, chúng không chính thức là một phần cuộc sống của tôi.
“Tại sao cháu không bao giờ cười, hả Momo?” ông Ibrahim hỏi tôi.
Câu hỏi này, thực sự là một cú đấm, cú đấm trời giáng, mà tôi chưa hề chuẩn bị tinh thần để đón nhận.
“Cười ấy à, đó là thứ của người giàu, ông Ibrahim ạ. Cháu không có điều kiện để làm việc ấy.”
Đúng lúc đó, như để làm tôi bực mình thêm, ông nở nụ cười.
“Thế cháu tưởng ta là người giàu à?”
“Lúc nào ông cũng có tiền trong ngăn kéo. Cháu chưa từng biết ai có từng ấy tiền trước mặt cả ngày.”
“Nhưng tiền của ta là để trả tiền hàng, rồi tiền thuê nhà. Và đến cuối tháng, ta chỉ còn rất ít, cháu biết không?”
Và ông lại mỉm cười, như để chế giễu tôi.
“Ông Ibrahim, khi cháu nói đó là thứ của người giàu, nụ cười ấy, ý cháu muốn nói rằng đó là thứ của những người hạnh phúc.”
“Thế thì cháu đã sai lầm ở chỗ đó đấy. Chính nụcười làm cho ta hạnh phúc.”
“Cháu cóc tin.”
“Thử xem.”
“Cháu chả tin, cháu nói rồi mà.”
“Thế nhưng cháu là người lịch sự, phải không Momo?”
“Bắt buộc thôi, nếu không cháu sẽ ăn tát.”
“Lịch sự là tốt. Dễ thương còn tốt hơn. Thử cười xem, cháu sẽ thấy.”
Được rồi, dù gì thì được ông Ibrahim yêu cầu một cách lịch sự như thế, trong lúc khẽ khàng tuồn cho tôi một hộp bắp cải muối xúc xích loại hảo hạng, tôi sẽ thử xem sao...
Ngày hôm sau, tôi hành xử đúng là chẳng khác gì một thằng dở do bị con gì đó đốt trong đêm: tôi cười với tất cả mọi người.
“Không thưa cô, em xin lỗi, em không hiểu bài toán này.”
Bùm: mỉm cười!
“Em không làm được ạ!”
“Vậy thì, Moïse ạ, cô sẽ giải thích lại cho em.”
Chuyện chưa từng xảy ra. Không trách mắng, không đe nẹt. Không gì cả.
Ở căng tin...
“Cháu có thể xin thêm chút kem hạt dẻ không ạ?”
Bùm: mỉm cười!
“Vâng ạ, với pho mát trắng...”
Và tôi được cho thêm.
Trong phòng thể thao, tôi thừa nhận đã quên giày tennis ở nhà.
Bùm: mỉm cười!
“Nhưng giày sắp khô rồi, thưa thầy...”
Ông thầy mỉm cười và vỗ vai tôi.
Tuyệt thật. Không còn gì chống lại tôi được nữa. Ông Ibrahim đã cho tôi vũ khí tối thượng. Tôi oanh tạc cả thế giới này bằng nụ cười của mình. Người ta không còn coi tôi như một con gián nữa.
Từ trường về, tôi chạy thẳng đến phố Paradis. Tôi hỏi cô nàng bán hoa xinh nhất, một cô nàng da đen cao lớn, luôn từ chối tôi:
“Này!”
Bùm: mỉm cười!
“Lên chứ hả?”
“Mười sáu tuổi chưa?”
“Đương nhiên là mười sáu tuổi, từ đời nảo đời nào rồi!”
Bùm: mỉm cười!
Thế là chúng tôi lên phòng.
Và sau đó, tôi kể lại cho cô nghe lúc đang mặc lại quần áo rằng tôi là nhà báo, rằng tôi đang viết một cuốn sách lớn về các cô gái bán hoa...
Bùm: mỉm cười!
... và tôi cần cô kể chút ít về cuộc đời cô, nếu cô muốn.
“Có đúng cậu là nhà báo không?”
Bùm: mỉm cười!
“Ừ, thực ra là sinh viên báo chí...”
Cô nói chuyện với tôi. Tôi nhìn bộ ngực của cô phập phồng nhè nhẹ khi cô minh họa câu chuyện của mình. Tôi không dám tin vào điều đó. Một người đàn bà nói chuyện với tôi, với tôi đấy nhé. Một người đàn bà. Mỉm cười. Cô ấy nói. Mỉm cười. Cô ấy nói.
Buổi tối, khi bố tôi về nhà, tôi giúp ông cởi áo măng tô như thường lệ rồi len ra trước mắt bố, chỗ có ánh đèn chiếu vào, để chắc chắn là ông nhìn thấy mặt tôi.
“Bữa tối đã sẵn sàng rồi ạ.”
Bùm: mỉm cười!
Ông ngạc nhiên nhìn tôi.
Tôi tiếp tục mỉm cười. Mệt thật, cuối ngày rồi, nhung tôi vẫn cố.
“Này, chắc con lại mắc lỗi gì rồi.”
Nụ cười liền tắt ngấm.
Nhưng tôi không tuyệt vọng.
Vào lúc ăn tráng miệng, tôi thử lại.
Bùm: mỉm cười!
Ông chằm chằm nhìn tôi, nghi hoặc.
“Lại đây, ông bảo tôi.”
Tôi cảm thấy là nụ cười của mình đang chiến thắng. Đây rồi, một nạn nhân mới. Tôi tiến lại gần. Có thể ông muốn ôm hôn tôi? Ông đã từng nói rằng Popol, anh ấy rất thích ôm hôn ông, rằng anh ấy là một cậu bé rất dịu dàng. Có thể ngay từ khi ra đời, anh Popol đã hiểu sức mạnh của nụ cười? Hoặc là mẹ tôi đã kịp dạy cho anh ấy.
Tôi đứng sát gần bố, kề vào vai ông. Ông chớp chớp mắt. Còn tôi thì cười đến rách mép.
“Phải niềng răng cho con thôi. Trước giờ, bố chưa từng để ý thấy răng con bị hô.”
Chính từ tối hôm đó, tôi bắt đầu có thói quen đến thăm ông Ibrahim vào ban đêm, khi bố tôi đã ngủ.
“Đó là lỗi của cháu, nếu cháu giống anh Popol, bố cháu đã yêu cháu dễ dàng hơn.”
“Làm sao cháu biết được? Popol đi rồi mà.”
“Thế thì sao?”
“Có thể là vì anh ấy không thể chịu nổi bố cháu.”
“Ông nghĩ thế à?”
“Popol đã bỏ đi. Đó chính là một bằng chứng còn gì.”
Ông Ibrahim đưa cho tôi những tờ tiền màu vàng để tôi cuộn lại giúp ông. Việc này giúp tôi trấn tĩnh lại đôi chút.
“Còn ông, ông đã gặp anh Popol bao giờ chưa? Ông Ibrahim, ông có biết anh ấy không? Ông thấy anh ấy thế nào?”
Ông Ibrahim đóng sập ngăn kéo tiền lại, như để nó khỏi lên tiếng.
“Momo à, ta sẽ nói với cháu một điều: ta thích cháu hơn Popol cả trăm lần, cả nghìn lần.”
“Thế ạ?”
Tôi khá hài lòng, nhưng không muốn để lộ ra. Tôi nắm tay lại và tỏ ra nguy hiểm đôi chút. Phải bảo vệ gia đình mình chứ.
“Ông cẩn thận nhé, cháu không cho phép ông nói xấu anh cháu. Anh Popol làm sao mà ông không thích chứ?”
“Popol rất ngoan, rất ngoan. Nhưng, thứ lỗi cho ta, ta thích Momo hơn.”
Tôi diễn vai hoàng tử rộng lượng: tôi đã tha lỗi cho ông ấy.
Một tuần sau, ông Ibrahim bảo tôi đến gặp một người bạn của ông là nha sĩ trên phố Papillon. Rõ ràng là cái ông Ibrahim này rất có tầm ảnh hưởng. Và hôm sau ông bảo tôi:
“Momo này, cười ít đi một chút, thế cũng là đủ rồi. Không, ta chỉ đùa thôi... Bạn ta nói rằng răng cháu khồng cần niềng.”
Ông nghiêng về phía tôi, ánh mắt tinh nghịch.
“Tưởng tượng xem, mang đống sắt ấy trong mồm mà đến phố Paradis: cháu có thể làm ai tin là cháu mười sáu tuổi được nữa?”
Ở điểm này, ông Ibrahim đã ghi một bàn thắng ngoạn mục. Thành ra chính tôi là người xin được cuộn tiền để tĩnh tâm lại.
“Sao cái gì ông cũng biết hết vậy, ông Ibrahim?”
“Ta ấy à, ta có biết gì đâu. Ta chỉ biết những gì có trong kinh Coran của ta thôi.”
Tôi cuộn thêm vài cuộn.
“Momo à, dùng đội chuyên nghiệp là rất tốt. Những lần đầu tiên, bao giờ ta cũng phải đến gặp đội chuyên nghiệp, những người đàn bà thạo nghề. Sau đó, khi cháu làm phức tạp mọi việc, cho thêm tình cảm vào, cháu có thể bằng lòng với những người không chuyên.”
Tôi cảm thấy thoải mái hơn.
“Ông Ibrahim, thỉnh thoảng ông có đi chơi phố Paradis không ạ?”
“Phố Paradis mở cửa với mọi người mà.”
“Ồ ông đùa đấy ạ, ông Ibrahim, ông đừng nói với cháu là ở tuổi này mà ông còn đến phố ấy đấy nhé!”
“Tại sao không? Chỗ đó chỉ dành cho trẻ con hay sao?”
Nghe thế, tôi cảm thấy mình đã lỡ lời.
“Momo, cháu có muốn đi dạo một chuyến với ta không?”
“Hóa ra, thỉnh thoảng ông cũng đi lại ạ, ông Ibrahim?”
Và thế là tôi lại lỡ lời thêm lần nữa. Thành ra, tôi thêm vào một nụ cười thật tươi.
“Không, ý cháu là lúc nào cháu cũng nhìn thấy ông ngồi trên cái ghế đẩu này.”
Nhưng dù sao, tôi cũng cực kỳ hài lòng.
Ngày hôm sau, ông Ibrahim đưa tôi đêh Paris, Paris xinh đẹp, Paris của những bức ảnh, của những du khách. Chúng tôi đi dọc sông Seine, con sông với dòng chảy không thẳng lắm.
“Nhìn xem Momo, sông Seine rất yêu những cây cầu, như một người phụ nữ mê thích vòng đeo tay.”
Sau đó, chúng tôi đi dạo trong những khu vườn trên đại lộ Champs-Élysées, giữa những nhà hát và rạp múa rối tay. Rồi đi trên phố Faubourg-Saint-Honoré, nơi toàn là những cửa hàng mang thương hiệu lớn như Lanvin, Hermès, Saint Laurent, Cardin... thật buồn cười khi nhìn thấy những cửa hàng mênh mông và trống rỗng, so với hiệu tạp hóa của ông Ibrahim, không lớn hơn một cái phòng tắm nhưng không còn một chỗ trống nào, nơi bày la liệt từ sàn lên trần, hết giá này kệ nọ, trên ba hàng bốn lớp, tất cả các mặt hàng thiết yếu, thứ yếu... thậm chí là chả mấy cần thiết.
“Dở hơi thật ông Ibrahim, các cửa hàng của người giàu mới nghèo nàn làm sao. Chẳng có gì ở trong.”
“Xa xỉ là như vậy đó Momo, chẳng có gì trong tủ kính, chẳng có gì trong cửa hàng, tất cả nằm ở giá tiền.”
Chúng tôi kết thúc chuyến đi dạo trong những khu vườn bí mật tại Cung điện Hoàng gia, nơi ông Ibrahim mua cho tôi một ly nước chanh ép và lấy lại dáng vẻ bất động huyền thoại của mình trên một chiếc ghế quầy bar, chậm rãi nhấm nháp ly rượu Suze vị hoa hồi.
“Sống ở Paris hẳn là phải tuyệt lắm.”
“Nhưng cháu đang ở Paris mà, Momo.”
“Không, cháu sống ở phố Bleue.”
Tôi nhìn ông thưởng thức ly rượu Suze vị hoa hồi.
“Cháu tưởng người Hồi giáo thì không uống rượu.”
“Đúng, nhưng ta là sufi.”
Đến đây, tôi cảm giác mình đang trở nên tọc mạch, rằng ông Ibrahim không muốn nói với tôi về bệnh của ông ấy - nói cho cùng, đó là quyền của ông ấy; tôi im miệng đến khi chúng tôi về tới phố Bleue.
Tối hôm ấy, tôi mở từ điển Larousse của bố. Phải thực sự lo lắng cho ông Ibrahim thì tôi mới làm thế, bởi thông thường, tôi luôn thất vọng với các cuốn từ điển.
“Sufi giáo: nhánh Hồi giáo mật tông. Ra đời vào thế kỷ VIII. Chống lại với việc tuân thủ luật lệ, nhánh này nhấn mạnh vào tôn giáo nội tâm.”
Đó, lần này cũng thế! Từ điển bao giờ cũng chỉ giải thích rõ những từ mà ta đã biết.
Cuối cùng thì sufi không phải là một căn bệnh, điều này làm tôi an tâm hơn một chút, đó là một cách nghĩ - mặc dù bản thân một số cách nghĩ cũng là những căn bệnh, ông Ibrahim thường nói vậy. Sau đó, tôi lao vào một trò truy tìm kho báu, để cố hiểu tất cả các từ trong định nghĩa. Qua các từ này, tôi rút ra rằng ông Ibrahim với ly rượu Suze vị hoa hồi tin vào Thượng đế theo cách của người Hồi giáo, nhưng cách đó lại gần giống với buôn lậu, bởi nó “chống lại việc tuân thủ luật lệ”, và điều đó khiến tôi bối rối... bởi nếu tuân thủ luật lệ chính là “chăm lo tuân thủ luật pháp một cách nghiêm ngặt” như người ta nói trong từ điển... thì sufi xem ra là những điều khó chấp nhận, có nghĩa ông Ibrahim là người không trung thực, vậy thì việc tôi hay qua lại với ông là không tốt. Nhưng mặt khác, nếu tuân thủ luật pháp, tức là làm luật sư, như bố tôi, mà có cái sắc mặt xám xịt và mang về gia đình chừng ấy nỗi u ám, thì tôi thà chống lại việc tuân thủ luật lệ cùng với ông Ibrahim còn hơn. Sau đó, những người soạn từ điển thêm vào rằng, Sufi giáo được sáng lập bởi hai gã đàn ông từ xa xưa, al-Halladj và al-Ghazali, giống như tên của những người sống trong những căn phòng áp mái ở cuối sân - ít nhất là ở phố Bleue -, và họ cũng nói rõ rằng đó là một tôn giáo nội tâm, và như thế thì chắc chắn ông Ibrahim là người kín đáo, mà so với tất cả người Do Thái trong khu phố, thì ông đúng là một người kín đáo.
Trong bữa ăn, tôi không thể ngăn mình hỏi chuyện bố, ông đang ngốn ngấu món ragu cừu, nấu theo phong cách Royal Canin[1].
“Bố ơi, bố có tin vào Thượng đế không?”
Bố nhìn tôi. Rồi ông chậm rãi nói:
“Bố thấy là con đã trưởng thành rồi đấy.”
Tôi chẳng thấy sự liên quan nào. Thậm chí, trong một thoáng, tôi tự hỏi liệu có phải ai đó đã mách ông việc tôi ngủ với gái bán hoa phố Paradis. Nhưng ông đã nói tiếp:
“Không, bố chưa bao giờ tin vào Thượng đế được.”
“Chưa bao giờ tin được ư? Tại sao ạ? Phải cố gắng mới tin được ư?”
Ông nhìn vào ánh tranh tối tranh sáng trong căn phòng, xung quanh ông.
“Để t”n rằng tất cả những điều đó đều có một ý nghĩa nhất định ư? Đúng vậy. Cần phải nỗ lực rất nhiều.
“Nhưng bố ơi, chúng ta là người Do Thái cơ mà, con và bố ấy ạ.”
“Đúng.”
“Thế là người Do Thái mà lại không có bất cứ liên hệ nào với Thượng đế ư?”
“Với bố thì chẳng còn mối liên hệ nào. Là người Do Thái đơn giản chỉ có nghĩa là có một ký ức. Ký ức tồi tệ.”
Nói tới đó, ông thực sự có vẻ mặt của một gã đang cần uống nhiều aspirin. Có thể bởi ông đã nói chuyện, một ngoại lệ chẳng thể khiến ông thay đổi thói quen. Ông đứng dậy và đi ngủ ngay tắp lự.
Vài ngày sau, ông về nhà, mặt còn nhợt nhạt hơn thường lệ. Tôi bắt đầu thấy mình có lỗi. Tôi tự nhủ rằng, vì cho bố ăn mấy thứ dở tệ ấy nhiều quá, có lẽ tôi đã phá hỏng sức khỏe của ông.
Ông ngồi xuống và ra hiệu cho tôi rằng ông muốn nói điều gì đó.
Nhưng phải đến mười phút sau, ông mới cất lời được.
“Bố bị sa thải rồi, Moïse ạ. Văn phòng luật nơi bố làm không cần bố nữa.”
Thực lòng, tôi cũng không ngạc nhiên lắm khi người ta không muốn làm việc với bố tôi - hẳn là ông khiến bọn tội phạm phát chán - nhưng đồng thời, tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng một luật sư lại có thể thôi làm luật sư.
“Bố phải đi tìm việc. Ở nơi khác. Nhà mình cần thắt lưng buộc bụng, con trai ạ.”
Ông đi ngủ. Rõ ràng là ông không quan tâm tới việc tôi nghĩ gì.
Tôi đi xuống nhà ông Ibrahim, ông đang vừa mỉm cười vừa nhấm nháp mấy hạt lạc.
“Ông làm thế nào để trở thành người hạnh phúc, hả ông Ibrahim?”
“Ta biết những điều có trong kinh Coran của ta.”
“Có lẽ một ngày nào đó cháu sẽ phải thó của ông quyển kinh Coran thôi. Mặc dù người ta không làm thế khi là người Do Thái.”
“Ái chà, thế theo cháu, một người Do Thái nghĩa là thế nào, hả Momo?”
“À thì, cháu cũng chả biết. Với bố cháu thì là ủ rũ cả ngày. Với cháu thì... đó chỉ là một thứ ngăn cháu trở thành một thứ khác.”
Ông Ibrahim đưa cho tôi một hạt lạc.
“Giày của cháu không được tốt Momo ạ. Ngày mai chúng ta sẽ đi mua giày.”
“Vâng, nhưng...”
“Con người ta trải qua cuộc đời mình ở hai nơi cháu ạ: trên giường hoặc trên đường.”
“Cháu không có tiền, ông Ibrahim ạ.”
“Ta sẽ tặng cháu. Đó là quà của ta. Momo, cháu chỉ có một đôi chân, cần phải chăm sóc chúng. Nếu giày làm chân cháu đau, cháu phải thay giày. Chân ấy à, cháu không bao giờ có thể thay chân!”
Ngày hôm sau, lúc ở trường về, tôi thấy một mẩu giấy nhắn trên sàn, trong cái sảnh không đèn ở cửa ra vào. Tôi không biết tại sao, nhưng khi nhìn thấy nét chữ của bố, tim tôi lập tức đập loạn xạ:
Moïse,
Xin lỗi con, bố đi đây. Bố chẳng có gì xứng để làm cha. Popo...
Đến đó thì bị gạch. Hẳn là ông vẫn muốn ném cho tôi một câu về Popol. Kiểu như “với Popol, bố sẽ làm được, nhưng với con thì không” hoặc “Popol ấy à, thằng bé cho bố sức mạnh và nghị lực để làm cha, nhưng con thì không”, tóm lại, một câu tởm lợm nào đó mà ông xấu hổ không dám viết ra. Cuối cùng tôi cũng hiểu được ý ông, cảm ơn.
Có thể chúng ta sẽ gặp nhau, một ngày nào đó, sau này, khi con đã trưởng thành. Khi bố bớt xấu hổ, và con đã tha thứ cho bố. Vĩnh biệt.
Thế đấy, vĩnh biệt!
TB: Bố để lại trên bàn tất cả số tiền còn của bố. Đây là danh sách những người con cần thông báo về việc bố ra đi. Họ sẽ chăm sóc cho con.
Sau đó là danh sách bốn cái tên mà tôi không hề biết.
Tôi đã quyết định. Tôi phải giả vờ.
Không đời nào tôi thừa nhận là mình đã bị bỏ rơi. Bỏ rơi hai lần, một lần là mẹ bỏ rơi khi ra đời; lần khác là bố bỏ rơi, vào tuổi thiếu niên. Nếu người ta biết chuyện, sẽ chẳng còn ai cho tôi cơ hội nào nữa. Tôi có cái gì kinh khủng đến vậy? Tôi có cái gì mà không ai có thể yêu tôi? Quyết định của tôi là không thể thay đổi: tôi sẽ giả vờ như bố tôi vẫn ở đây. Tôi sẽ khiến mọi người tin rằng ông vẫn sống ở đây, ăn ở đây, vẫn chia sẻ với tôi những buổi tối dài chán chường.
Nói là làm, tôi không đợi một giây nào nữa: tôi xuống cửa hàng tạp hóa.
“Ông Ibrahim à, bố cháu bị khó tiêu. Cháu cho bố uống cái gì đây?”
“Uống Fernet Branca, Momo ạ. Này, ta còn một liều nhỏ.”
“Cảm ơn ông, cháu về cho bố uống luôn đây.”
Với số tiền ông để lại, tôi có thể trụ được một tháng. Tôi tập bắt chước chữ ký của ông để ký các thư từ cần thiết, để trả lời thư của nhà trường. Tôi tiếp tục nấu ăn cho hai người, tối nào tôi cũng bày đồ ăn của ông trước mặt tôi; đơn giản, đến cuối bữa, tôi đổ phần của ông vào bồn rửa bát.
Vài đêm mỗi tuần, để che mắt những nhà hàng xóm đối diện, tôi ngồi vào ghế bành của ông, mặc áo chui đầu của ông, đi giày của ông, rắc bột lên tóc và cố đọc một cuốn kinh Coran đẹp đẽ mới tinh mà ông Ibrahim tặng tôi, bởi tôi đã năn nỉ xin ông.
Ở trường, tôi tự nhủ là không được mất thời gian: tôi cần phải yêu. Không có nhiều lựa chọn vì trường học không dạy lẫn con trai con gái, nên tất cả chúng tôi đều yêu cô con gái của ông gác cổng, tên là Myriam, dù mới mười ba tuổi nhưng con bé đã nhanh chóng hiểu ra rằng mình là bà hoàng của ba trăm thằng trai mới lớn đang thèm khát. Tôi bắt đầu tán tỉnh nó với sự cuống cuồng của kẻ chết đuối.
Bùm: mỉm cười!
Tôi phải chứng minh rằng người ta có thể yêu tôi, tôi phải cho cả thế giới biết điều đó trước khi người ta phát hiện ra rằng ngay cả bố mẹ tôi, những người duy nhất buộc phải chịu đựng tôi, cũng thà chọn cách chạy trốn.
Tôi kể với ông Ibrahim về công cuộc chinh phục Myriam. Ông nghe tôi nói và khẽ mỉm cười, dáng vẻ của người biết trước câu chuyện sẽ kết thúc ra sao, nhưng tôi giả tảng không nhận ra điều đó.
“Thế bố cháu ra sao rồi? Ta không nhìn thấy ông ấy nữa, vào buổi sáng,...”
“Bố cháu nhiều việc lắm. Ông ấy phải đi rất sớm, với công việc mới...”
“Thế à? Mà ông ấy không nổi giận vì cháu đọc kinh Coran sao?”
“Cháu phải giấu, dù gì đi nữa... với lại cháu cũng không hiểu gì mấy.”
“Khi muốn học cái gì đó, người ta không cầm sách. Người ta nói chuyện với ai đó. Ta không tin vào sách vở.”
“Thế nhưng, ông Ibrahim, chính ông lúc nào cũng nói rằng ông biết...”
“Đúng, ta biết những gì có trong kinh Coran... Momo à, ta muốn đi ra biển. Hay là chúng ta đi Normandie nhỉ. Ta đưa cháu đi nhé?”
“Ồ, thật ạ?”
“Đương nhiên, nếu bố cháu đồng ý.”
“Ông ấy sẽ đồng ý.”
“Cháu chắc chứ?”
“Cháu đã nói là ông ấy sẽ đồng ý rồi mà!”
Khi chúng tôi đến sảnh của khách sạn Grand Hotel de Cabourg, tôi không kiềm chế được nữa: tôi bắt đầu khóc. Tôi khóc suốt hai giờ, ba giờ, đến mức không thể thở bình thường được nữa.
Ông Ibrahim nhìn tôi khóc. Ông kiên nhẫn đợi đến khi tôi mở miệng. Cuối cùng, tôi cũng nói được thành lời:
“Chỗ này đẹp quá ông Ibrahim, quá đẹp. Nơi này không dành cho cháu. Cháu không xứng đáng.”
Ông Ibrahim cười.
“Cái đẹp ở mọi nơi, Momo ạ. Ở nơi cháu để mắt đến. Điều đó được nói trong kinh Coran của ta.”
Sau đó, chúng tôi đi dạo dọc bờ biển.
“Cháu biết đấy Momo, nếu Thượng đế không trực tiếp tiết lộ về cuộc sống với người nào thì một cuốn sách cũng không thể cho anh ta biết điều đó.”
Tôi kể với ông về Myriam, tôi càng có lý do nói chuyện ấy vì không muốn nhắc đến bố tôi. Sau khi xếp tôi trong số những kẻ cầu hôn, Myriam bắt đầu ruồng bỏ tôi như một ứng cử viên không đủ điều kiện.
“Chả sao cả, ông Ibrahim nói. Tình yêu cháu dành cho cô ấy thuộc về cháu. Cho dù có từ chối thì cô ấy cũng chẳng thay đổi được gì. Cô ấy không tận hưởng nó, thế thôi. Momo ạ, cái mà cháu cho đi sẽ thuộc về cháu mãi mãi; cái mà cháu giữ lại, sẽ mất đi mãi mãi!”
“Nhưng ông có vợ cơ mà.”
“Đúng.”
“Thế tại sao ông không ở với bà ấy, ở đây?”
Ông chỉ tay ra biển.
“Đây đúng là biển nước Anh[2], xanh lá cây và xám, không phải những sắc màu bình thường của nước, cứ như thể nước cũng bị nhiễm giọng vậy.
“Ông còn chưa trả lời cháu, ông Ibrahim, về vợ của ông? Về vợ của ông ấy?”
“Momo à, không trả lời, đó chính là một câu trả lời.”
Mỗi sáng, ông Ibrahim đều là người thức dậy đầu tiên. Ông lại gần cửa sổ, hít lấy ánh sáng và tập thể dục, thật chậm rãi - sáng nào cũng vậy, cả đời, ông đều tập thể dục. Ông dẻo dai đến mức kinh ngạc, và vẫn nằm trên gối, mắt nhắm mắt mở, tôi như nhìn thấy bóng dáng trẻ trung, cao lớn và uể oải ông hẳn có thời trẻ, cách đây rất lâu rồi.
Một hôm, trong phòng tắm, tôi vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra ông Ibrahim có cắt bao quy đầu.
“Ông cũng thế ư, ông Ibrahim?”
“Người Hồi giáo cũng như người Do Thái, Momo ạ. Đó là sự hy sinh của Abraham: ông đưa con của mình cho Thiên Chúa và nói rằng Người có thể lấy đứa trẻ. Mẩu da cắt ra từ chúng ta chính là dấu ấn của Abraham. Để cắt bao quy đầu, người cha phải giữ con trai, người cha ông tặng nỗi đau của chính con trai mình để tưởng nhớ đến sự hy sinh của Abraham.”
Đi với ông Ibrahim, tôi mới nhận ra rằng người Do Thái, người Hồi giáo và thậm chí cả người Công giáo đều có những vĩ nhân chung trước khi nện nhau vỡ mặt. Điều này chả liên quan gì tới tôi, nhưng khiến tôi cảm thấy thoải mái.
Từ Normandie về, lúc bước vào căn phòng tối và trống rỗng, tôi không cảm thấy mình khác biệt, không, tôi thấy rằng thế giới có thể khác đi. Tôi tự nhủ rằng tôi có thể mở cửa sổ, rằng những bức tường có thể sáng màu hơn, tôi tự nhủ rằng có lẽ tôi không buộc phải giữ những đồ đạc đượm mùi quá khứ này, không phải quá khứ đẹp đẽ, không, mà là cái quá khứ già cỗi, hôi hám, một quá khứ bốc mùi như một miếng vải lau nhà cũ kỹ.
Tôi chẳng còn đồng nào. Tôi bắt đầu bán sách, từng lô một, cho những người mua sách cũ ở kè sông Seine mà ông Ibrahim đã giúp tôi phát hiện ra lúc chúng tôi đi dạo. Mỗi lần bán một cuốn sách, tôi lại thấy tự do hơn một chút.
Đến bây giờ, đã là ba tháng kể từ khi bố tôi biến mất. Tôi vẫn chơi trò đánh lừa, nấu ăn cho hai người và kỳ lạ thay, ông Ibrahim càng ngày càng ít hỏi về bố tôi. Quan hệ của tôi với Myriam càng lúc càng thất bại, nhưng lại biến thành một chủ đề nói chuyện rất thú vị, vào ban đêm, giữa tôi với ông Ibrahim.
Một vài tối, tôi thấy nhoi nhói trong tim. Đó là bởi vì tôi nghĩ đến Popol. Bây giờ khi bố tôi không còn ở nhà, tôi lại rất muốn biết mặt anh Popol. Chắc chắn là tôi sẽ có thể chịu đựng được anh tốt hơn, bởi không còn ai ném anh vào mặt tôi như một thứ đối nghịch với sự vô dụng của tôi. Tôi thường đi ngủ với suy nghĩ rằng ở nơi nào đó trên thế giới, có một người anh đẹp trai và hoàn hảo, người không biết đến tôi và rằng một ngày nào đó, tôi sẽ gặp anh.
Một buổi sáng, có cảnh sát tới gõ cửa. Họ gọi ầm lên như trong phim:
“Mở cửa ra! Cảnh sát đây!”
Tôi tự nhủ: Thôi rồi, tiêu đời rồi, tôi nói dối nhiều quá, họ tới để bắt tôi.
Tôi mặc áo choàng ngủ vào rồi mở cửa. Họ không đến nỗi ghê gớm như tôi tưởng tượng, họ thậm chí còn tử tế hỏi tôi xem họ có thể vào nhà không. Đúng là tôi cũng muốn ăn mặc tử tế trước khi đi tù.
Trong phòng khách, viên thanh tra nắm tay tôi và ân cần bảo:
“Này cậu bé, chúng tôi có một tin buồn cho cậu. Bố cậu đã chết.”
Tôi không biết vào lúc đó, điều gì làm tôi ngạc nhiên hơn, cái chết của bố tôi hay việc viên cảnh sát xưng hô trịnh trọng với tôi. Dù sao, tôi cũng ngồi phịch xuống ghế.
“Ông ấy đã lao mình vào một đoàn tàu, đoạn gần Marseille.”
Cả điều ấy cũng kỳ lạ: ai lại đi làm chuyện đó ở tận Marseille! Tàu thì ở đâu chả có. Ở Paris cũng có từng ấy tàu, thậm chí còn nhiều hơn. Rõ ràng là tôi không bao giờ hiểu nổi bố tôi.
“Mọi chuyện đều cho thấy rằng bố cậu đã tuyệt vọng và ông ấy đã chủ động kết liễu đời mình.”
Một ông bố tự tử, điều này sẽ không giúp tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Cuối cùng, tôi tự hỏi không biết mình có thích một ông bố bỏ rơi mình hơn không; ít ra tôi còn có thể cho rằng ông ấy đang bị nỗi ăn năn giày vò.
Mấy viên cảnh sát có vẻ thấu hiểu sự im lặng của tôi. Họ nhìn vào giá sách trống trơn, căn hộ tồi tàn và tự nhủ rằng ôi chà, chỉ vài phút nữa thôi, họ sẽ rời khỏi đây.
“Cần phải báo tin cho ai, hả cậu bé?”
Đến đây, cuối cùng tôi cũng có một phản xạ phù hợp. Tôi đứng lên tìm danh sách bốn cái tên mà ông đã để lại cho tôi trước lúc bỏ đi. Viên thanh tra bỏ tờ giấy vào túi.
“Chúng tôi sẽ giao phó việc tiến hành các thủ tục cho bên Bảo trợ xã hội.”
Rồi ông ta lại gần tôi, ánh mắt đầy thương cảm, và lúc đó, tôi cảm thấy rằng ông ta sẽ làm một điều kỳ quái với tôi.
“Bây giờ, tôi phải yêu cầu cậu làm một việc tế nhị: cậu phải đến nhận dạng cái xác.”
Câu nói đó có tác dụng như một tín hiệu báo động. Tôi bắt đầu la hét, như thể người ta vừa bấm vào cái nút nào đó. Mấy viên cảnh sát cuống quýt quanh tôi, họ tìm nút tắt. Chỉ có điều, thật không may, nút tắt chính là tôi và tôi không thể dừng lại được nữa.
Ông Ibrahim thật tuyệt vời. Ông lên nhà khi nghe tiếng kêu của tôi và ngay lập tức hiểu ra tình thế, ông nói rằng ông, chính ông, sẽ đi Marseille để nhận dạng cái xác. Mấy viên cảnh sát ban đầu còn nghi ngờ vì ông có bộ dạng thực sự của một người Ả Rập, nhưng tôi tiếp tục la hét và họ đã chấp nhận lời đề nghị của ông Ibrahim.
Sau lễ tang, tôi hỏi ông Ibrahim:
“Ông hiểu ra chuyện của bố cháu từ bao giờ, ông Ibrahim?”
“Từ khi ở khách sạn Cabourg. Nhưng cháu biết đấy Momo, cháu không nên giận bố.”
“Thế à? Tại sao chứ? Một ông bố làm cuộc đời cháu nát bét, bỏ rơi cháu và tự tử, thật là một khoản vốn liếng lòng tin chết tiệt cho cuộc đời. Ấy thế mà, cháu lại còn không nên giận ông ấy?”
“Bố cháu không có ai làm gương trong cuộc đời cả. Bố cháu đã mồ côi cha mẹ từ khi còn rất nhỏ, bởi vì ông bà cháu bị bọn Quốc xã bắt giam rồi chết trong trại tập trung. Bố cháu không thể nào bình thường trở lại sau khi thoát khỏi tất cả những chuyện đó. Có thể ông ấy cảm thấy có tội vì vẫn còn sống. Không phải tự nhiên mà ông ấy lại kết thúc đời mình dưới một đoàn tàu.”
“Thế ạ, tại sao?”
“Ông bà cháu đã bị đưa lên tàu để đi đến chỗ chết. Còn bố cháu, có thể ông ấy vẫn luôn tìm kiếm đoàn tàu của mình... Nếu ông ấy không đủ dũng khí để sống, thì không phải tại cháu Momo ạ, mà bởi tất cả những điều đã hoặc không xảy ra, trước khi có cháu.”
Sau đó, ông Ibrahim nhét mấy tờ tiền vào túi tôi.
“Này, lên phố Paradis đi. Các cô gái đang băn khoăn không biết cuốn sách cháu viết về họ đến đâu rồi...”
Tôi bắt đầu thay đổi mọi thứ trong căn hộ trên phố Bleue. Ông Ibrahim cho tôi những thùng sơn, những cái chổi sơn. Ông cũng cho tôi những lời khuyên để cô nhân viên bảo trợ xã hội phát điên và có thêm thời gian.
Một buổi chiều, khi tôi đang mở tung tất cả các cửa sổ để bay bớt mùi acrylic thì một người đàn bà bước vào căn hộ. Tôi không biết tại sao, nhưng trông vẻ ngại ngần, ngập ngừng của bà, cái cách bà không dám bước qua những chiếc ghế nhỏ và tránh những vết sơn trên sàn, tôi lập tức hiểu ra bà là ai.
Tôi giả bộ đang toàn tâm toàn ý tập trung vào công việc.
Cuối cùng, bà phải khẽ đằng hắng.
Tôi giả bộ ngạc nhiên:
“Bà tìm ai?”
“Cô tìm Moïse,” mẹ tôi nói.
Thật kỳ lạ khi bà khó khăn lắm mới phát âm được cái tên đó, như thể nó không tài nào thoát ra khỏi cổ họng bà.
Tôi tự tặng cho mình sự xa xỉ khi được chế giễu bà.
“Bà là ai?”
“Cô là mẹ nó.”
Người đàn bà tội nghiệp, tôi thấy thương bà. Bà đang trong một trạng thái khác thường. Có lẽ bà đã phải đấu tranh rất nhiều để đi đến tận đây. Bà nhìn tôi thật kỹ, cố gắng giải mã các đường nét trên mặt tôi. Bà sợ, rất sợ.
“Thế cháu là ai?”
“Cháu ấy à?”
Tôi muốn cười bò ra. Ai mà nghĩ một ngày mình sẽ rơi vào cảnh này, nhất là sau mười ba năm.
“Người ta gọi cháu là Momo.”
Vẻ mặt bà như vỡ ra.
Tôi vừa cười vừa bồi thêm:
“Đó là cách gọi ngắn gọn của Mohammed.”
Mặt bà trở nên nhợt nhạt hơn cả màu sơn ở chân tường nhà tôi:
“Vậy à? Cháu không phải là Moïse?”
“Không ạ, không nên nhầm như thế thưa bà. Cháu là Mohammed.”
Bà nuốt nước bọt. Dù sao, bà cũng không phật ý.
“Nhưng không phải ở đây có một cậu bé, tên là Moïse sao?”
Tôi muốn trả lời: Cháu không biết, bà là mẹ nó thì bà phải biết chứ. Nhưng vào phút cuối, tôi kìm lại, bởi người phụ nữ tội nghiệp có vẻ không còn đứng vững được nữa. Thay vào đó, tôi cho bà một lời nói dối nho nhỏ hay ho, dễ chịu hơn.
“Moïse đi khỏi đây rồi thưa bà. Cậu ấy chán ở đây rồi. Cậu ấy không có kỷ niệm vui vẻ nào ở đây.”
“Thế à?”
Xem nào, tôi tự hỏi không biết bà có tin tôi không. Bà có vẻ không tin. Có lẽ rốt cuộc bà không ngốc đến thế.
“Vậy bao giờ cậu ấy về?”
“Cháu chịu. Khi đi, cậu ấy bảo muốn đi tìm anh trai.”
“Anh trai ư?”
“Vâng, Moïse có một người anh.”
“Thế à?”
Bà có vẻ vô cùng choáng váng.
“Vâng, anh Popol của cậu ấy.”
“Popol á?”
“Vâng thưa bà, Popol, anh trai của cậu ấy!”
Tôi không hiểu bà có đang cho tôi là một thằng điên không. Hay bà thực sự tin rằng tôi là Mohammed?
“Nhưng cô thì chưa bao giờ có đứa con nào khác ngoài Moïse. Cô chưa từng có đứa con nào tên là Popol cả.”
Đến lúc này, chính tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng.
Bà nhận ra điều ấy, bà lảo đảo đến mức phải nương mình trên chiếc ghế bành, còn tôi cũng ngồi phịch xuống cái ghế bên cạnh.
Chúng tôi yên lặng nhìn nhau, ngạt thở vì mùi acrylic chua lòm. Bà ngắm nghía tôi, không bỏ qua cái chớp mắt nào của tôi.
“Nói xem nào, Momo...”
“Mohammed chứ.”
“Nói xem, Mohammed, cháu sẽ gặp lại Moïse chứ?”
“Có thể.”
Tôi nói câu ấy bằng giọng dửng dưng, chính tôi cũng ngạc nhiên vì mình lại có cái giọng dửng dưng đến thế. Bà nhìn sâu vào đáy mắt tôi. Bà muốn xét nét tôi bao lâu mặc kệ, bà sẽ chẳng moi được gì ở tôi, tôi tin vào chính mình.
“Nếu một ngày nào đó cháu gặp lại Moïse, hãy nói với cậu ấy là cô cưới bố cậu ấy khi cô còn rất trẻ, rằng cô lấy ông ấy chỉ để được ra khỏi nhà. Cô chưa bao giờ yêu bố của Moïse. Nhưng cô sẵn sàng yêu Moïse. Chỉ có điều cô đã quen một người đàn ông khác. Bố của con...”
“Gì cơ?”
“À cô muốn nói là bố của cậu ấy, bố Moïse ấy, đã nói với cô: Đi đi và để lại Moïse cho tôi, nếu không... Cô đã ra đi. Lúc ấy, cô muốn làm lại cuộc đời mình, một cuộc đời hạnh phúc.”
“Rõ là thế thì tốt hơn rồi.”
Bà cụp mắt xuống.
Bà xích lại gần tôi. Tôi cảm thấy bà muốn ôm hôn tôi. Tôi giả đò không nhận ra điều ấy.
Bà hỏi tôi, giọng van lơn:
“Cháu sẽ nói với Moïse chứ?”
“Có thể.”
Tối hôm ấy, tôi đi gặp lại ông Ibrahim và vừa cười vừa bảo ông:
“Thế nào, khi nào thì ông nhận cháu làm con nuôi đây, ông Ibrahim?”
Ông cũng cười cười đáp lại ngay:
“Ngay ngày mai nếu con muốn, Momo bé nhỏ ạ!”
❀ ❀ ❀
[1] Một nhãn thức ăn cho chó mèo.
[2] Normandie nằm ở Tây Bắc nước Pháp, bên bờ eo biển Manche – là eo biển giữa Anh và Pháp.