Mở đầu
Những người thông thái hơn tôi đã nhìn hướng “bắc” không chỉ đơn thuần là phương hướng. Ở nhiều nơi trên thế giới, đó là biểu tượng của cuộc sống – viễn cảnh cuộc đời, một triết lý thường khác xa với những khu vực khác, thậm chí là trong cùng một đất nước; hướng bắc như một ngôi sao dẫn lối cho những người anh chị em đang ở những phương trời đối lập nhau. Điều này hoàn toàn đúng ở Việt Nam.
Anh em tôi được sinh ra ở miền Nam, nhưng điều này không biến chúng tôi trở thành người miền Nam. Ngược lại, Ba Mẹ chúng tôi được sinh ra ở miền Bắc, được những người miền Bắc nuôi dạy và những người này, qua nhiều thế hệ, là hiện thân cho các đặc tính của quê hương họ, thừa hưởng sức sống và sức mạnh từ gia đình và chòm xóm, từ quá khứ, từ bầu không khí họ hít thở và từ mảnh đất họ nương tựa. Sống trên một vùng đất đai cằn cỗi với khí hậu khắc nghiệt và mối họa xâm lăng thường trực đến từ người Hán (người Trung Quốc), người miền Bắc trở nên khô khan như thế giới xung quanh họ. Họ được coi là những người nghiêm khắc, thậm chí là khắc nghiệt; tuy nhiên, như mọi người Việt Nam khác, họ cũng tận hưởng những niềm vui nhỏ bé của cuộc đời, dù họ không ăn mừng rầm rộ như người sống ở những khu vực dễ thở hơn ở miền Nam. Sâu thẳm trong họ là niềm tin tôn giáo mạnh mẽ như bất cứ nền văn hóa Khổng Tử nào, một mầm hạt bùng cháy mạnh mẽ như lò phản ứng hạt nhân, thúc đẩy họ có được những thành tựu to lớn với sự kiên định mà thế giới ít được biết đến. Nếu miền Nam là trái tim và thân thể của quê hương cũ của tôi thì miền Bắc chắc chắn là khối óc, với đôi mắt hướng về tương lai và hàm răng nghiến chặt thể hiện quyết tâm sắt đá. Chính mảnh đất này đã sinh ra ông ngoại tôi, ông Đỗ Văn Phan, và người phụ nữ sau này ông sẽ lấy làm vợ, bà ngoại tôi, bà Mâu, bạn sẽ sớm biết đến bà trong những trang sách này.
Theo lời bà ngoại tôi kể, ông ngoại được sinh ra ở tỉnh Thái Bình trong một gia đình quan lại cấp cao và có nhiều ảnh hưởng đến triều Nguyễn, triều đại thống trị Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Ông cố của tôi qua đời trong một thời kỳ khá thanh bình và để lại cho ông ngoại hầu như toàn bộ gia tài. Ông ngoại dùng của cải thừa kế được để quản lý một đồn điền rộng lớn và thịnh vượng ở miền Bắc. Ở đó, Ông đã xây một “cung điện” cao sang để người vợ mới của mình, bà ngoại tôi, có thể sống trong nhung lụa, quyền quý, xứng tầm với một quý bà miền Bắc, một cung cách bà đã quá quen khi còn là con gái của một gia đình giàu có. Cuộc hôn nhân này như hổ mọc thêm cánh với một viễn cảnh tương lai tươi sáng – ít nhất là ban đầu.
Ba của bà ngoại làm chủ những mỏ muối ở Hải Phòng, và bà được sinh ra ở đây vào khoảng năm 1890. Những ngày đó, dù ở tầng lớp hay giai cấp nào, phụ nữ cũng ít được đi học, nên dù ba mẹ bà khuyến khích việc học nhưng họ vẫn để bà tự quyết định. Bà chọn việc nội trợ dù có thể bà không có ý định như thế, vì vậy, cho đến cuối đời mình, bà ngoại tôi vẫn không biết chữ. Thay vào đó, bà học cách quản lý một gia đình giàu có thật tiết kiệm, cai quản người ăn kẻ ở khôn khéo và cuối cùng, tạo nên một tổ ấm cho người chồng danh giá của mình.
Người chồng danh giá ấy chính là ông ngoại Phan, và mỗi người đều bắt đầu cuộc hôn nhân của mình với quyết tâm không làm người kia thất vọng. Dinh thự của ông bà, với sân vườn được chăm chút kỹ lưỡng và những mẫu ruộng quý giá giúp tạo ra nguồn thu nhập chính cùng với hàng trăm người làm. Qua lời kể của bà – bà kể với niềm hãnh diện – bà ngoại sống cao quý, sang cả như một nàng công chúa, có kẻ hầu người hạ từ chuyện tắm rửa cho riêng bà đến việc chăm sóc cho mười một đứa con (tám con trai và ba con gái, nhưng hơn một thế kỷ sau, chỉ có hai người còn sống sau khi bà qua đời). Nhưng bà không phải là một bạo chúa. Bà đối xử với tất cả mọi người, gồm cả tôi tớ trong nhà, bằng sự tôn trọng và bà đề cao lao động, dù cho người lao động là ai đi chăng nữa – đây cũng là một đặc tính của người miền Bắc.
Trong nửa đầu những năm 1950, Việt Minh nổi dậy và cuối cùng cũng giành chiến thắng trong trận chiến dài đằng đẵng với người Pháp, thoát khỏi ách đô hộ cả trăm năm. Ông bà ngoại kẹt giữa cuộc chiến, theo đúng nghĩa đen. Họ không về phe người Pháp, cũng không theo phe những người cộng sản, và vì vậy hiển nhiên trở thành kẻ thù của hai bên. Nhưng vào những thời khắc hiểm nguy đó, họ vẫn sống tốt một thời gian, để có thể duy trì được đồn điền ở Thái Bình, một thị trấn thuộc tỉnh Hà Nam. Và rồi, theo lời bà ngoại, một người thuộc phe Việt Minh đã gửi cho người Pháp lá thư nặc danh tố cáo ông ngoại Phan tham gia một cuộc họp bí mật với hơn hai mươi người miền Bắc khác để âm mưu chống lại chính quyền. Lời tố cáo này dĩ nhiên là bịa đặt vì cả gia đình biết rõ đứng về phe nào trong cuộc nội chiến cũng sẽ gặp nguy hiểm, và họ công khai thừa nhận sự trung lập của mình. Nỗ lực là thế nhưng con trai yêu quý nhất của ông bà, bác Đan, vừa trở về nhà từ một chuyến đi câu, đã bị một toán lính Pháp bắt đi. Chúng có nhiệm vụ trừng phạt những kẻ âm mưu mà lá thư nặc danh kia đã chỉ ra. Tôi tớ trong nhà chạy tán loạn khi đám lính ập đến, còn bác Đan thì buộc phải trốn trong ao cá sau nhà. Đám lính vẫn tìm ra bác, và sau khi trói bác sau ngựa và kéo lê quanh nhà, chúng thực hiện một cuộc tra hỏi qua quýt, ngắn gọn trong khi bác bị treo trên cây, đầu chúc ngược xuống. Rồi bác bị bắn một phát ở giữa hai mắt. Hồi đó, tuy còn nhỏ nhưng dì Thu nhớ rất rõ chuyện này, dù cho bác Gái, chị của dì đã cố gắng che chắn để dì không phải nhìn thấy cảnh tượng này. Còn bác Gái thì sau này cũng bị sát hại vì không chịu hợp tác với người Pháp – một kết cục mỉa mai cho hai anh em được học ở Paris sau Thế chiến thứ hai.
Cứ như thể cái chết của hai người con còn chưa đủ, thế giới của ông bà tôi bắt đầu đổ vỡ thật sự vào năm 1954 sau khi những người yêu nước Việt Nam đánh bại người Pháp. Hiệp định hòa bình đã chia cắt thuộc địa cũ của người Pháp thành hai phần, miền Bắc và miền Nam, ở hai bờ của vĩ tuyến 17. Theo hiệp định thì đây chỉ là một thỏa thuận tạm thời, sẽ bị bãi bỏ khi cuộc bầu cử toàn dân – vào năm 1956 – thống nhất hai miền Nam – Bắc dưới một chính quyền duy nhất. Cho đến lúc đó, miền Bắc là một quốc gia cộng sản, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người theo chủ nghĩa Marx-Lenin và đã học hỏi nhiều kỹ năng chính trị từ Liên Xô và nước cộng sản Trung Quốc, trong khi miền Nam được giao phó cho Ngô Đình Diệm, vị Thủ tướng được chính vua Bảo Đại tín nhiệm là người bảo hộ trong thời kỳ gián đoạn này. Tuy nhiên, việc chuyển đổi đã không bao giờ diễn ra.[…]
Vốn đã quá tuyệt vọng trước cái chết của hai người con – bác Đan và bác Gái, tình hình ở miền Bắc mỗi lúc một trở nên căng thẳng vì chiến tranh, ông bà nhận ra rằng gia đình mình không còn an toàn trên mảnh đất của tổ tiên nữa. Cuối cùng, ông bà ngoại đi đến một quyết định khó khăn – trốn chạy về miền Nam. Sau sự chia cách vào năm 1954, người Việt ở bất cứ nơi đâu cũng được cho 300 ngày để quyết định di chuyển đến miền Nam hoặc miền Bắc của vĩ tuyến 17. Đối với một số người, chẳng hạn như ông bà ngoại của tôi, sự áp bức ở quê nhà đã làm cho việc này trở nên cấp bách. Còn đối với những người khác, nó liên quan đến việc quyết định nơi đâu là đất lành để an cư: ở miền Bắc, nơi thù ghét phương Tây, hay ở miền Nam, nơi cởi mở hơn với tôn giáo, tư tưởng và tự do kinh doanh.
Như bất cứ điều gì khác ở thời kỳ loạn lạc này, việc trốn chạy không hề dễ dàng. Con đường đến miền Nam nương náu là một chặng đường dài và lắm chông gai. Ông ngoại tôi dẫn theo những người con trai còn sống sót của mình là bác Thắng, bác Chiêu, và cậu Hải đến thành phố cảng Hải Phòng. Ở đây, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã cho họ nơi nương thân dù chính giáo hội cũng là mục tiêu của chính quyền lúc đó. Bà ngoại cùng với hai người con gái của mình là Mẹ Hiên và dì Thu ở lại với bạn bè và người thân ở làng Ô Trinh gần đó, cầu nguyện cho những chuyện ở miền Bắc trở lại với nếp sống trước đây. Tại đây, họ làm việc ở những ruộng lúa như những người khác và thường xuyên nhịn đói vì chính quyền yêu cầu đóng góp thêm lương thực cho những khu vực đói nghèo hơn hoặc để cung cấp cho Quân đội miền Bắc Việt Nam. Có một lần, tình hình trở nên tồi tệ khi bà ngoại lén trở về đồn điền cũ để lấy giạ lúa mà bà đã giấu để phòng cho những trường hợp khẩn cấp như thế này. Tuy nhiên ngôi nhà chính bây giờ đã trở thành tổng hành dinh của một tổ chức địa phương. Bà bị bắt khi đang tìm cách trốn thoát và bị giam vì tội ăn trộm. Bạn bè và những người làm công cũ gom góp đủ lúa để trả cho chính quyền và chuộc bà về. Thật không may, giờ thì nơi ăn chốn ở của các con gái bà đã bại lộ và tất cả họ cũng bị bắt, bị kết án phải làm việc gấp đôi trên những mẫu ruộng công. Mẹ tôi không để yên chuyện này vì giờ Mẹ đã lớn và biết bộc lộ suy nghĩ của mình. Mẹ tuyên bố với mọi người rằng Mẹ “hết chịu nổi” những tội danh mà gia đình mình bị quy kết, vì thế mà Mẹ cũng bị bắt giam nhiều ngày liền. Một lần nữa, những người bạn và họ hàng ở đó phải mua chuộc để cứu Mẹ ra. Mẹ đã được thả ra, nhưng với một lời răn đe nghiêm khắc rằng nếu tái phạm sẽ bị trừng phạt nặng nề hơn.
Tình thế ngặt nghèo của ông bà ngoại cuối cùng cũng được giải quyết khi con trai của ông bà – bác Thắng, người đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp – vào ngày 20 tháng 10 năm 1954 được cho phép tái định cư ở miền Nam cùng với toàn bộ trung đoàn của mình bởi Quân đội miền Bắc Việt Nam cho rằng họ không đáng tin. Hầu hết những người lính này – một phần tham gia vào cuộc di cư lớn theo Hiệp định Paris – đã dời đi cùng toàn bộ gia quyến của mình. Nhờ Chúa phù hộ và nhờ sự kiên cường của bác Thắng, ông bà tôi và những người con còn sống sót của mình đã thoát khỏi cái chết cận kề và tiến về miền Nam, bắt đầu một cuộc hành trình kéo dài trong hai năm.
* * *
Vì cả gia đình rời đi chỉ với manh áo trên người và một ít lương thực, nên cuộc hành trình bị ngắt quãng với những lần dừng chân tại nhiều làng mạc và thị thành khác nhau. Ở những nơi đó, họ làm việc như những người lao động bình thường – trong vài tuần hoặc có khi vài tháng – để kiếm đủ tiền và lương thực cho chuyến đi.
Như lúc ở Đà Lạt chẳng hạn, ông ngoại tôi làm thợ mộc, còn cậu Hải theo việc học. Bà ngoại, Mẹ tôi và dì Thu tham gia hái trà bên những sườn đồi và còn kiếm thêm việc này việc nọ để trang trải trên đường. Những người miền Bắc thực thụ, từ ngàn xưa đã không nề hà bất cứ công việc chân chính nào có thể giúp họ kiếm tiền để có cái ăn và một mái nhà che đầu cho người thân.
Cùng với nhau, cả gia đình đã kiếm đủ tiền để trang trải cho cuộc hành trình. Họ đi mãi cho đến khi tới được Rạch Giá ở cực Nam của chế độ cộng hòa Ngô Đình Diệm. Ông ngoại kết bạn với một linh mục Công giáo – người đã cho phép Ông cư ngụ tại một khu đất thuộc nhà thờ. Cảm kích trước hành động này cũng như trước lòng tốt Ông nhận được từ những người Công giáo khác ở miền Bắc, ông ngoại và cả gia đình (gồm cả bác Thắng và bác Chiêu, dù trên đường đi, hai bác thất lạc và phải ít lâu sau mới đến miền Nam) cải đạo sang đạo Thiên Chúa giáo. Không lâu sau đó, ông ngoại mua thêm đất đai, bắt đầu trồng lúa và rau màu, rồi sống rất sung túc.

Ông bà ngoại kính yêu của tôi
Tôi được sinh ra ở Rạch Giá và những anh em khác của tôi cũng vậy, vì thế đây là nơi phù hợp để gợi nhớ lại cuộc sống của Ba Mẹ tôi ở miền Bắc, chuyện tình và cuộc hôn nhân của Ba Mẹ, cũng như những nhọc nhằn mà cả hai đã phải chịu trên đường đến miền Nam.
Ba tôi tên Tỉnh. Ông gặp Mẹ, cô dâu tương lai của mình thông qua anh trai của Mẹ – bác Thắng – khi hai người phục vụ trong quân đội quốc gia ở miền Bắc. Họ đều là những người nhập ngũ, tuy Ba tôi là một hạ sĩ quan cao cấp và chức vụ cao hơn bác tôi một chút. Ba sinh ra trong một gia đình Công giáo và bị đẩy đến miền Nam trong cuộc đại di cư. Ông bà nội của tôi đều bị giết khi Thế chiến lần thứ hai đang đến hồi kết và cả Đông Dương đều bị quân Nhật chiếm đóng. Chị của Ba – bác Thơi – đã nuôi lớn Ba cùng với em trai của Ba – chú Thành. Là người đứng đầu gia đình, bác Thơi sắp đặt hôn nhân của Ba với Hiên – cô con gái của ông ngoại Phan, khi họ đã yên bề ở miền Nam.
Để hai gia đình kết giao, bà ngoại tôi – dựa vào quyền hành của mẹ vợ, một vị thế quan trọng trong những gia đình truyền thống Việt – đã đưa ra một điều khoản. Điều khoản trong hợp đồng hôn nhân này là Ba Tỉnh phải tham gia vào mọi chuyện trong gia đình ông ngoại và “thử” làm một anh con rể. Việc của Ba là phải gây ấn tượng với ba mẹ vợ tương lai bằng sự chăm chỉ và vâng lời, và phải cố gắng tiếp thu càng nhiều kiến thức điều hành công việc của ông ngoại càng tốt, đầu tiên với vai trò là một người nông dân, sau đó với tư cách là một người quản lý đồn điền. Như tôi đã nói, người miền Bắc là những người rất chịu khó, kỹ lưỡng và chu toàn trong bất cứ việc gì họ làm. Hôn nhân theo sắp đặt cũng không ngoại lệ.
Sau một năm thử thách, Ba Tỉnh “đậu” và được đính hôn với Mẹ Hiên. Ba Mẹ kết hôn vào năm 1957, nhưng đêm trăng mật của hai người thì chẳng thể gọi là lãng mạn được. Mẹ tôi bắt đầu đêm tân hôn bằng cách cầm chổi đánh đuổi Ba tôi chạy khắp phòng, dọa đập bể sọ Ba nếu Ba không chịu để Mẹ yên. Sau khi Ba thoát ra, Mẹ khóa cửa phòng và hét toáng lên rằng Mẹ còn quá nhỏ để kết hôn, dù rằng lúc ấy Mẹ đã 22 tuổi. Ông ngoại không hài lòng trước phản ứng của con gái mình với chàng rể được ông bà tự tay chọn lựa, vì thế, Ông mở cửa, mắng “cô con gái nhỏ” của mình một trận ra trò và nhắc nhở Mẹ rằng bổn phận bây giờ của Mẹ là trở thành một người vợ hiền. Sau vài ngày chiêm nghiệm (Mẹ tôi rất ngoan cố – một đặc điểm nữa của người Bắc), Mẹ cho phép đức phu quân được lên giường mình, đây thật là điều tốt lành cho anh Quang, tôi, Thủy và Em Bé (và cả người anh trai thứ hai của tôi sau anh Quang, người anh này đã mất khi mới sinh) – tất cả chúng tôi đều chờ đợi Ba Mẹ thai nghén ra mình trên đám mây thiên thần nào đó.
Dù đa số những cuộc hôn nhân sắp đặt đơn thuần là những vụ làm ăn, hôn nhân của Ba Mẹ tôi đã nảy nở thành tình cảm thương mến, để cuối cùng trở thành một tình yêu bền chặt và lan tỏa ra mọi mặt trong đời sống của cả hai, bao gồm cả tình yêu của Ba Mẹ dành cho những đứa con. Có lẽ đây là lý do khiến dì Thu sinh lòng đố kỵ với chị gái mình. Mẹ Hiên có một người chồng hết mực yêu thương mình và một gia đình hạnh phúc – những điều mà dường như số phận đã khước từ trao cho dì, nhưng đó chỉ là sự phỏng đoán của riêng tôi mà thôi. Trong những năm ngắn ngủi này, chúng tôi sống như một gia đình bình dị – một món quà quý giá cho bất cứ ai ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là ở những thế giới đảo lộn như thế giới của chúng tôi.

Mẹ và anh Quang hồi bé
Ông ngoại Phan qua đời một năm sau khi tôi sinh ra, nên tôi không có nhiều ký ức về Ông, ngoài sự phấn khởi khi được cưỡi trên vai Ông và được dẫn theo khắp làng trên xóm dưới ở Rạch Giá. Giờ thì cả bác Thắng và bác Chiêu đã kết hôn và cũng đã ra riêng. Cậu Hải thì gia nhập Hải quân miền Nam Việt Nam. Những cuộc bạo động của người miền Bắc đã tạo nên sóng gió ở miền Nam và Ba phải nhập ngũ. Vì không còn đàn ông để đảm đương các công việc đồng áng ở Rạch Giá, Mẹ tôi (giờ quản lý toàn bộ công việc gia đình) bán hết đất đai và đưa mọi người – Mẹ, anh Quang, tôi, Thủy, bà ngoại và dì Thu – đến Sài Gòn để ở gần Ba hơn và sống ở quận Phú Nhuận. Tuy nhiên, trước khi chúng tôi rời đi, Mẹ đã dùng gần hết số tiền bán đất để lo cho đám cưới của em trai Ba (chú Thành), và chúng tôi chẳng còn nhiều nhặn gì khi ra đi.
Chuyến xe từ Rạch Giá lên Sài Gòn là một trong những ký ức đầu đời của tôi. Chiếc xe đò chúng tôi đi đã cũ, chật như nêm và hôi kinh khủng. Mùi xăng dầu, mùi khí thải khiến tôi nôn ói suốt. Chuyến xe đi mất khoảng năm, sáu tiếng gì đó, và khi đến nơi, chúng tôi đều đã mệt lả nhưng vẫn phải đi săn nhà ngay lập tức, bằng không chúng tôi sẽ không có nơi nào để ngủ. Mẹ tôi là một người mua hàng sành sỏi. Mẹ từ chối nhiều nơi không phải vì chúng tôi không thích mà bởi chủ nhà không chịu hạ giá. Ở Việt Nam, thậm chí cho đến nay, hầu như mua bán cái gì cũng có thể mặc cả. Cuối cùng, Mẹ gặp một người chủ nhà cũng đang cần tiền như chúng tôi cần nhà vậy, nên sau một lúc kì kèo qua lại như lẽ thường, bên thuận mua, bên vừa bán.

Dì Thu (bên trái) và Mẹ (bên phải) thời còn trẻ
Căn nhà mới của chúng tôi chỉ tầm 30 mét vuông, nối vách với nhà chủ như một cái nhà kho với một khoảng trống toang hoác giữa mái tôn và bức vách lợp bằng lá để chừa chỗ cho không khí, côn trùng, và chuột. Vật dụng duy nhất trên nền xi măng cũ kỹ và sứt mẻ là chiếc giường gỗ ọp ẹp và một cái tủ cũ đủ lớn để treo quần áo và chứa đồ đạc. Hiển nhiên, đây là một chỗ ở xuống cấp trầm trọng đối với bà ngoại và các con gái bà, và chẳng thể bì được căn nhà ở Rạch Giá dù cho nó cũng khá là nghèo nàn, nhưng Mẹ đã nói với mọi người: “Tất cả những gì chúng ta cần là một cái giường khô ráo để ngủ nghỉ và một mái nhà để che mưa che nắng cho đến khi chồng con gửi thêm tiền. Cả nhà mình sẽ xoay xở được.”
Thì đúng là vậy.