Đêm đầu tiên sau khi trở về Sài Gòn, tôi ngủ với bà ngoại thay vì với anh Quang hay dì Thu. Tôi nghĩ rằng bà ngoại cần người ngủ chung còn dì Thu thì phải lo cho Em Bé. Ban đêm, tiếng khóc của bà làm tôi thức giấc nhiều lần. Tôi vẫn chưa biết điều gì đã khiến bà buồn đến vậy, tôi bèn lăn qua, khẽ chạm vào lưng bà, để bà biết tôi đang ở kế bên bà, để an ủi bà. Sáng hôm sau, anh Quang vẫn còn tức tối chuyện chiếc nhẫn, và dù anh không giận dai, nhưng lúc ăn sáng, anh lặng thinh. Vì thế tôi không còn việc gì khác để làm ngoài chuyện lắng nghe dì Thu và bà ngoại nói chuyện với nhau.
“Mình nên đưa tụi nhỏ đến nhà chú Thành,” bà ngoại nói. “Chú ấy là em trai duy nhất của Ba tụi nó, bây giờ lại là người đứng đầu gia đình bên nội nên sẽ biết phải làm gì với con cái của anh trai mình.”
“Mẹ nói đúng,” dì Thu ôm Em Bé trong tay, nhìn tôi và anh tôi từ trên xuống dưới như chọn cá trong chợ. “Anh ta sẽ biết phải làm gì.”
Những lời này khá lạnh lùng nhưng tôi không nghĩ ngợi gì nhiều. Dù sao thì em Thủy cũng đang ở đó, chúng tôi phải đi đón em về. Mẹ sẽ không đi lâu, khi Mẹ đi chợ về, Mẹ sẽ muốn nhìn thấy tất cả con cái của Mẹ ở nhà. Và Ba cũng vậy, khi Ba hoàn thành nhiệm vụ và trở về.
Chúng tôi đón taxi đến một doanh trại lớn nằm trên đường đến sân bay Tân Sơn Nhất. Gia đình chú Thành đang sống ở đó, trong những khu nhà dành cho gia đình của các quân nhân. Chú đã cưới vợ – thím Lan, nhưng tôi không gặp thím thường xuyên cho lắm, vì thế tôi không biết rõ tính tình thím như dì Thu, em gái của Mẹ tôi. Thím Lan rất đẹp và có tiếng là tiểu thư lá ngọc cành vàng. Bà ngoại từng phàn nàn chuyện Mẹ dùng hết tiền bán đất của ông ngoại ở Rạch Giá để sắm sính lễ đắt tiền khi chú Thành hỏi cưới thím Lan. Nếu đây là điều không hay, tại sao Ba không phản đối, nhưng lúc đó, Ba đang tại ngũ. Mẹ lo liệu chuyện tiền nong trong nhà, dù bà ngoại và dì Thu đang ở cùng chúng tôi. Nếu Mẹ nghĩ gia đình chúng tôi cần tổ chức một đám cưới linh đình cho em trai của Ba thì chuyện không cần bàn cãi nữa.
Chiếc taxi dừng ở lối vào chính của doanh trại – chỉ có xe quân đội mới được phép vào sâu hơn. Lính gác cổng gọi điện đến đồn của chú Thành và ít phút sau, chú xuất hiện đằng sau tay lái của một chiếc xe jeep của Mỹ. Tôi không biết những người lính, gồm cả Ba tôi, làm gì ngoại trừ những việc có liên quan đến súng (và thường mặc đồ giống nhau) và động tác đưa tay lên trán khi đi ngang qua người lính khác. Rõ ràng là chú Thành cảm thấy vui với công việc trong quân ngũ. Chú có nhiệm vụ lái xe jeep cho một người nào đó được gọi là “Top Brass” (“Sĩ quan cao cấp”) – mà người này thường mặc quân phục cứng nhắc, choàng khăn vàng và đi ủng bóng lộn – nên tôi nghĩ rằng ông ấy là một người quan trọng. Khi chú ra đến cổng, mọi người hành động đâu ra đó rất chỉn chu và trao đổi với nhau nhiều loại giấy tờ. Sau khi người lính canh hài lòng, ông ta mở cổng và chúng tôi lũ lượt kéo vào như mấy con chuột nhắt. Chú Thành lái xe đưa chúng tôi đến khu nhà lính, và vì quanh đó rất ồn nên tôi không nghe rõ chú nói gì với bà ngoại và dì Thu, nhưng tất cả trông rất buồn bã.
Khi chúng tôi đến, em Thủy đang chơi với con gái của chú Thành ở trước nhà. Ba cô con gái của chú cùng độ tuổi và có tính cách khá giống ba anh em tôi. Người con đầu vui vẻ và biết bênh vực em, cũng như anh Quang. Người con giữa thì ít nói và tò mò như tôi. Còn người con út thì rụt rè và nhút nhát, giống cái cách em Thủy hay bám vào chân bà ngoại khi có người lạ đến nhà. Tôi rất thích đến thăm nhà chú và cũng rất tiếc là không được đến chơi thường xuyên hơn.
“Chiến tranh,” bà ngoại trả lời khi tôi hỏi vì sao chúng tôi không được gặp họ thường xuyên. “Ba cháu và chú là lính. Không ai biết được những gì sẽ xảy ra. Cả Ba và chú đều là nạn nhân của số phận.”
Thím Lan đi ra gặp chúng tôi. Gương mặt tươi cười thường ngày của thím trở nên ủ rũ như ngày mưa. Bọn trẻ ngừng chơi ngay khi thấy những người lớn buồn bã.
“Em hãy kể cho Lan biết chuyện,” chú Thành nói với dì Thu. Dì kể bằng những từ mà tôi không hiểu chút nào, nhưng khi dì nói, bàn tay nhỏ của em Thủy nắm lấy tay tôi.
Và ngay sau đó chúng tôi đi vào nhà, lũ trẻ chúng tôi tự chơi trên sàn nhà trong im lặng.
Người lớn tiếp tục cuộc nói chuyện nghiêm túc của mình. Chuyện gì đã xảy ra với anh Tỉnh? Còn lũ trẻ thì sao? Chúng ta sẽ phải thay đổi. Làm sao chúng ta lãnh được trợ cấp khi cả hai anh chị đều không còn sống?
Câu cuối cùng làm tôi không hiểu được. Tôi không biết “trợ cấp” là gì, nhưng chắc là Mẹ sẽ biết. Tôi mong Mẹ mau đi chợ về, và Ba sẽ trở về từ chiến trường trong vài tháng nữa. Câu nói đó chẳng có nghĩa gì hết. Ngay lúc đó, một chiếc xe quân đội lớn rầm rầm đi qua, ồn ào hơn cả chiếc xe đò ở Hồng Ngự, và tôi suýt chút là nhảy dựng lên.
Tiếng pháo rền vang bên tai tôi, ngay trong đầu tôi. Đoàng đoàng đoàng. Ầmmmm. Tiếng người kêu gào trong đêm tối. Người ta đang la hét. Vì sao Ba không đến với chúng tôi? Tấm mền Ba phủ lên cửa hầm quét vào mặt tôi và tôi cảm thấy những luồng gió nóng. Mẹ đang rên rỉ và ôm chặt Em Bé vào lòng. Có lẽ cả hai người đang kêu khóc, nhưng ai nghe được chứ? Đất đá và bùn thi nhau rơi tung tóe từ mái vòm căn hầm mỗi khi màn đêm nổ tung. Khói tràn vào mũi tôi. Tôi muốn đi ra, nhưng tay anh Quang ghì chặt tôi xuống.
Tôi ôm một món đồ chơi bóng bẩy của cô em họ vào ngực và ngước nhìn anh Quang. Anh hơi nhăn mặt nhưng nhìn tôi với cái nhìn “Không sao cả” của một người anh lớn. Những người lớn ngồi ngoài phòng khách vẫn còn đang nói chuyện.
“Con khát nước!” tôi đột nhiên nói với bà ngoại.
Bà nhìn tôi với đôi mắt buồn bã.
Thím Lan nói, “Được rồi, để thím đi pha trà.”
Sau một tuần trà im lặng và căng thẳng, bà ngoại tôi với đôi mắt ráo hoảnh dắt anh Quang, em Thủy và tôi ra ngoài, rồi bà bảo chúng tôi ngồi dưới bóng một cây me.
“Được rồi,” bà nói. “Chú Thành của các cháu là người đứng đầu trong gia đình. Chú đã quyết định.”
“Quyết định gì vậy bà?” tôi hỏi.
“Quyết định xem ai sẽ đi đâu,” bà trả lời. “Quang và Em Bé sẽ ở lại đây với chú thím. Cháu và Thủy sẽ ở với bà. Nhưng chúng ta không có tiền để tiếp tục thuê căn nhà hiện tại. Bà cháu mình sẽ đi khỏi Sài Gòn. Chắc là vợ chồng bác Chiêu, anh của Mẹ cháu sẽ cho chúng ta ở nhờ. Hai bác đang sống ở một đồn điền lớn dưới Bình Dương.”
“Bác Chiêu có đồn điền ạ?” anh Quang há hốc miệng, không muốn để lỡ một điều trọng đại như thế.
Bà khẽ cốc vào trán anh. “Không phải, cậu ngốc ạ. Hai bác là người ở. Bác Chiêu là quản gia còn bác gái là hầu gái. Cả hai đang sống trong khu nhà dành cho người làm. Khu nhà này rất lớn, chắc sẽ có phòng trống cho bà cháu mình.”
Cuối cùng thì chúng tôi cũng hiểu bà cháu mình không bao gồm anh Quang và Em Bé. Tôi vẫn không biết vì sao Ba Mẹ lại đi lâu đến nỗi gia đình phải chia năm sẻ bảy như vậy, nhưng nỗi buồn đau khi phải xa anh Quang cũng nguôi ngoai phần nào bởi bà ngoại và em Thủy vẫn ở cạnh tôi. Dù gì thì chúng tôi cũng kinh qua việc dọn nhà, mà nhà nào thì cũng như nhà nào thôi – đầu tiên là lúc chúng tôi chuyển từ Rạch Giá lên Sài Gòn, Mẹ và dì Thu đã kì kèo trả giá để thuê căn phòng vách thủng lỗ chỗ, với đám chuột gặm ngón chân của chúng tôi, rồi đến Gò Vấp nơi Em Bé ra đời, còn tôi tận hưởng sự xa xỉ của nền gạch bông và nước máy ngay trong nhà. Ba Mẹ tôi sẽ sớm trở về thôi, và mọi chuyện sẽ ổn cả. Ít nhất thì tôi cũng biết chắc điều này. Và nhớ lại câu chuyện bà hay kể về miền Bắc, về cuộc sống trong một ngôi nhà lớn như ngôi nhà mà ông ngoại Phan từng làm chủ, nghe có vẻ thú vị; vì thế, tôi không khóc khi tạm biệt anh Quang và Em Bé. Dù gì thì họ cũng ở lại với chú, người rất giống Ba, và họ sẽ được chăm bẵm như ông hoàng bà chúa, mà tôi cũng chẳng màng lắm chuyện này, bởi sớm muộn gì tôi cũng được sống như một nàng công chúa vậy.
* * *
Gia đình bác Chiêu và bác Quế là phiên bản ngược lại của nhà chú Thành. Thay vì ba cô con gái, họ có ba cậu con trai, và người con lớn – anh Ngọc – chỉ hơn tôi có một tuổi. Hai bác cũng có một cô con gái, nhỏ hơn tôi một tuổi, nhưng vì em Thủy rất nhát và lúc nào cũng đòi có tôi cạnh bên nên tôi không có nhiều thời gian dành cho người chị họ này – dù tôi cho rằng chắc chị cũng vui hơn khi có thêm mấy đứa con gái trong nhà để cân bằng với đám đực rựa.
Bác Chiêu và bác Quế làm thuê cho một cặp vợ chồng người Pháp giàu có trông như bước ra từ bìa một tờ tạp chí bóng loáng. Họ nói tiếng Pháp – đây không phải là điều lạ lẫm gì ở miền Nam, nên bác Chiêu và bác Quế cũng nói thứ tiếng này. Tuy nhiên, những người mới đến như chúng tôi không biết tiếng Pháp, và rào cản ngôn ngữ là một khó khăn nữa phải vượt qua. Bác Chiêu là quản gia chính trong nhà, còn bác gái là “chủ nhân” của các tủ chén, chổi, đệm và khăn trải giường. Ban đầu, những kẻ ăn nhờ ở đậu chúng tôi được giao một vài nhiệm vụ quanh nhà như quét dọn khu nhà của người ở, nấu nướng cho hai gia đình để bác Quế không phải nấu. Sau này, bà ngoại bắt đầu làm ăn buôn bán rất phát đạt với người Mường khi họ xuống núi để đổi bắp tươi, khoai lang, khoai mì lấy những thứ họ không mua được ở nhà như báo chí (họ dùng để nhét mấy cái lỗ trong căn nhà thô sơ của mình), nồi niêu xoong chảo bằng kim loại vì chúng không dễ vỡ như đồ bằng đất mà họ tự làm. Đàn ông và đàn bà Mường đều rất rắn chắc, có nước da ngăm đen và nghiêm nghị. Nói thật là em gái tôi và tôi không thể phân biệt được đâu là đàn ông, đâu là đàn bà. Đây là một dấu hiệu nữa cho thấy rằng có một thế giới rộng lớn xung quanh chúng tôi với nhiều điều chúng tôi không thể hình dung nổi. Chỉ có giọng nói của Mẹ, cất lên dịu dàng trong đêm tối khi có lần tôi gặp phải ác mộng, mới có thể làm tôi yên tâm rằng một thế giới như thế không chỉ chất chứa những điều bí ẩn mà còn tràn đầy yêu thương.

Cả gia đình ở Sở Thú Sài Gòn – Bà ngoại (hàng sau, đứng giữa) với bác Quế và họ hàng của bác. Thủy và Vân (hàng trước, thứ hai và thứ ba từ trái qua) với các con của bác Quế (Ngọc, Liên, Đức, Thắng)
Một ngày nọ, lúc bà chủ đi khỏi, bác Quế dẫn tôi vào dinh thự để nhìn một chút. Tôi chưa từng thấy cái gì đẹp đẽ như vậy, cứ như trong chuyện cổ tích. Bên trong nhà còn rộng lớn hơn cả phần mặt tiền nhiều cột trụ, sàn gỗ bóng loáng dưới những chùm đèn pha lê và trần mái vòm. Chỉ rèm cửa không thôi cũng đủ để lợp mái cho cả dãy nhà nơi tôi sống lúc trước. Bác Quế lo rằng tôi sẽ làm dơ ly tách hay làm xước đồ gỗ nên trong khi bác cầm chổi lông gà phủi bụi, thì tôi lù đù theo sau. Tất cả như có phép màu. Và rồi, cô chủ thình lình trở về, chót vót trên đôi giày cao gót, và nhướng mắt qua cặp kính mát hàng hiệu nhìn chúng tôi – hai con nai đang sợ cứng người dưới tia nhìn của cô.
“Et qui est cette jeune femme?” cô hỏi, nhã nhặn hất mái tóc vàng chải chuốt cầu kỳ.
Tim tôi đập mạnh. Tôi không biết cô nói gì nhưng giọng cô nghe có vẻ ngờ vực.
“C’est ma nièce. Elle reste avec nous dans la petite maison. Son nom est Hien Nguyen.” Bác Quế kính cẩn cúi mặt xuống, và tôi cũng thế. Rồi tôi lén nhìn lên.
“Ah!.” Mặt cô chủ sáng bừng lên. Cô bước tới và đưa tay ra để bắt tay tôi. Giờ thì mắt tôi mở to, tôi bắt tay cô. Móng tay sơn đỏ, bàn tay mềm như nhung và đeo nhiều nhẫn, vòng tay đến nỗi có thể chất đầy một cửa hàng trang sức. “Bonjour, Hien Nguyen. Vous êtes serez toujours le bienvenue ici!”
Cô mỉm cười và nháy mắt với tôi, rồi quẩy túi xách qua vai và đi lên lầu.
“Cô chủ nói gì vậy bác?” tôi hỏi bác Quế. “Chúng ta có gặp rắc rối gì không?”
“Không. Mày nên cảm ơn thiên thần hộ mệnh của mày! Cô chủ chỉ hỏi mày là ai, và tao bảo mày là cháu tao. Cô bảo mày có thể ở đây. May mà mày mặc đồ sạch sẽ! Giờ thì mau về với bà mày đi, đừng có gây chuyện đấy.”
Hẳn là bộ đồ sạch sẽ của tôi không chỉ tạo nên ấn tượng tốt như thế. Tối hôm đó, khi chúng tôi đang dọn chén dĩa, cô chủ đến trước cửa của khu nhà người ở và nhờ bác Quế đi gọi tôi. Khi tôi tới, cô đưa cho tôi một cái hộp chứa nhiều chiếc váy trẻ con rất đẹp, tất cả đều may kiểu châu Âu. Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Những chiếc váy này cho tôi ư? Cô xoa xoa đầu tôi, nhéo má tôi và nói điều gì đó bằng cái giọng du dương mê hoặc của mình rồi trở lại căn nhà chính. Khi cô đi khỏi, tôi bày toàn bộ váy áo ra cho mọi người chiêm ngưỡng, không thể tin được những chiếc váy này là của mình.
“Bà ấy nói gì vậy bác?” tôi hỏi bác Quế.
Bác Quế nhướng mày rồi sờ soạn chất vải như thể kiểm tra dấu mối cắn. “Ồ, không có gì. Bà ấy chỉ nói mấy cái váy này trước đây của con gái bà ấy, bà cho rằng mày sẽ thích.”
Tôi cảm thấy thật kinh ngạc và vinh dự, bởi một quý bà như vậy lại nghĩ rằng những chiếc váy đẹp đẽ này có thể dành cho đứa trẻ tầm thường như tôi. Sau đó, bà ngoại kéo tôi ra một bên, bà nói bác Quế không vui vẻ gì chuyện này vì bác cũng có con gái nhỏ nhưng chưa bao giờ được cho những món quà như vậy, dù đã phục vụ trong nhà này bao năm nay. Đây là một bài học nhớ đời – như cái tát vào mặt, bà ngoại nói như vậy – mà một số người phụ nữ sẽ không bao giờ bỏ qua.
* * *
Ba, bốn tháng sống ở đồn điền là khoảng thời gian khá yên ổn và vui vẻ. Tôi vẫn không hiểu gì về cái chết, và bà ngoại thường khóc khi tôi hỏi khi nào Mẹ đi chợ về. Mỗi lần như vậy bà lại nói “tội nghiệp cháu tôi,” nhưng bà vẫn không giải thích chuyện đã xảy ra. Gần đó không có trường học và cũng không có chiến tranh – thật ra là chưa có – thường khi xong việc, tôi chơi với em gái và mấy người anh chị họ vòng quanh khu nhà người ở, hoặc cũng có lúc liều đi vào rừng cao su, chỗ có con đường đất ngoằn ngoèo chia thành hai ngả. Một ngả đường sẽ vòng trở lại đồn điền, con đường vòng này làm tôi man mác nhớ tới những lần ông ngoại cõng tôi trên vai đi vòng quanh khu vườn của chúng tôi ở Rạch Giá.
Ngả đường còn lại dẫn đến một tháp nước cũ hoen rỉ, chênh vênh nghiêng về phía con đường mòn. Các anh chị họ của tôi đã quen với cái tháp nước nghiêng này nên thường chạy nhanh qua và đi tiếp. Nhưng tôi không thể làm vậy. Tôi bắt đầu gọi nó là Con Quái Vật vì dù nhìn từ xa, trông nó vẫn rất ghê rợn – một cỗ máy đồ sộ có thể đổ sụp xuống bất cứ lúc nào và đè bẹp tôi, bỏ tôi lại đó không toàn thây trên đường, và ngay cả giọng nói của Mẹ cũng không thể cứu được tôi. Tôi thường quay đầu lại chạy biến đi, nhưng hình ảnh kinh khủng này – và những thứ khác – quay trở lại trong những giấc mơ.
Có tiếng gà gáy bên ngoài căn hầm của chúng tôi. Trời đã sáng và không còn ai la hét nữa. Không còn những vụ nổ. Không còn “Đoàng đoàng đoàng.” “Đi ra tìm Ba các con đi,” Mẹ bảo tôi và anh Quang. “Nói với Ba là Mẹ cần Ba.” Tôi ngồi gần tấm mền quân đội đang trùm miệng hầm nên anh Quang đẩy tôi. “Em lên đi,” anh nói, “Em ngồi gần nhất mà!.” Tôi cố gắng hết sức nhưng có cái gì đó đang chắn tấm mền làm nó không động đậy được. Anh Quang phụ tôi đẩy, và toàn bộ đổ sụp xuống. Tấm mền, tôi và anh Quang ở trên. Anh lăn qua và dùng chân mình đẩy tôi ra. “Đi đi! Mau tìm Ba!.” Trời chưa sáng hẳn và trong không khí mờ mờ, khung cảnh trông lổn nhổn. Tôi bước một bước, rồi một bước nữa. Thật khó giữ thăng bằng – cứ như tôi đang đi trên nệm ấy. Tôi cảm thấy mấy ngón chân mình trơn ướt và nhớp nháp. Tôi nhìn xuống. Tôi đang đứng trên ngực của ai đó, không phải là Ba. Tôi cúi xuống gần hơn để nhìn mặt. Không có mặt. Không có đầu! Đó chỉ là cái cổ áo quấn quanh một cái cổ như giấy gói thịt. Tôi nhìn ra chỗ khác cách đó vài bước chân, và cái đầu đang trừng trừng nhìn tôi bằng cặp mắt mờ đục, tóc và má phủ đầy cát. “Anh Quang! ANH QUANG!!!!.”
Đôi lần, tôi kể cho các anh chị họ nghe về giấc mơ này của tôi, nhưng họ đều nghĩ tôi bị điên. Tuy vậy, bà ngoại lại lắng nghe một cách chăm chú và nói với tôi rằng một số người có thể thấy những thứ mà người khác không thấy được. Bà nói chính vì vậy mà những người ngoan đạo, dù là đạo Phật hay đạo Thiên Chúa, đều cầu nguyện. Tôi nhớ có lần, cách đây khoảng một năm, khi Mẹ đang ở trong bếp, em Thủy gọi tôi “Đến nhanh lên!” và tôi chạy ra ngoài, vừa kịp lúc thấy Đức Mẹ Maria trong bộ váy dài màu xanh dương và trắng bay qua nhà của chúng tôi, theo sau là hai thiên thần mặc đồ màu trắng kem với dây thắt lưng bằng vàng. Họ tạo ra một tiếng ồn lớn như tiếng kèn trumpet rồi biến mất. Chuyện đó cũng không mang nhiều ý nghĩa lắm, nhưng, như giấc mơ của tôi, mọi thứ trông rất thật – và tôi không thể làm ngơ được. Hẳn là thế giới đang nói với tôi một điều gì đó quan trọng hoặc cũng không phải vậy. Có thể là tôi điên rồi.
Dù vậy, ký ức về giấc mơ luôn phai mờ nhưng Con Quái Vật vẫn còn ở đó. Nó trở thành khắc tinh của tôi. Sau vài lần không được những đứa trẻ khác rủ tôi đi chơi cùng, vả lại tôi chán việc bị cho ra rìa nên quyết định phải làm gì đó.

Tháp nước nghiêng của đồn điền, “Con Quái Vật”
Một ngày nọ, sau khi ngủ trưa dậy với cơn ác mộng đẫm mồ hôi về người lính không đầu, tôi lấy một ổ bánh mì nhỏ trong giỏ bánh của bác Quế rồi đến ngả đường đó, dù hoảng sợ nhưng quyết tâm sống mái một phen với Con Quái Vật. Tôi cũng chẳng đói lắm, và bà ngoại thường luôn dạy tôi phải xin phép bác Quế trước khi lấy đồ ăn, nhưng tôi cần được giúp sức. Bằng cách nào đó, lấy ổ bánh mì là một việc làm đúng đắn – cứ như thể ổ bánh nhỏ bé chứa toàn bộ sức mạnh của gia đình tôi. Tôi cắn một miếng và bắt đầu nói với Con Quái Vật. “Xin đừng đè tao.” Tôi nhìn nó một lúc, nhưng nó vẫn thờ ơ với sự hiện diện của tôi. Có thể là nó đang ngủ. Tôi rón rén nhích lại gần hơn, rồi nhìn ra sau lưng, hy vọng thấy em gái hay các anh chị họ đến giải cứu mình, nhưng tôi đang ở một mình. Tôi cố gắng tìm nghe giọng nói của Mẹ, nhưng tất cả những gì tôi nghe thấy là tiếng gió lào xào trên cây.
Rồi tôi nảy ra một ý tưởng. Nếu nhắm mắt, tôi sẽ không thấy Con Quái Vật nữa, và vì thế nó cũng chẳng thấy tôi. Dù gì đi nữa, tôi cũng giỏi nhắm mắt trước nhiều thứ: lỗ thủng trên áo quần, bọ trong cơm, chuột trong góc nhà, và những tiếng động ngoài cửa sổ vào ban đêm. Trong khi suy nghĩ, tôi nhìn chằm chằm vào cái cây nằm bên kia đường ngoài bóng của Con Quái Vật và nhẩm tính số bước chân để đến được đó. Cắn thêm một miếng bánh để lấy thêm dũng khí, tôi nhắm nghiền mắt và bắt đầu chạy. Khi đang vội vã chạy, tôi lại đếm sai số bước, nhưng chuyện này không còn quan trọng nữa. Tôi chạy miết vì lo sợ Con Quái Vật sẽ ngã ập xuống bất cứ lúc nào. Tôi chạy cho đến khi cảm thấy cỏ cao quẹt ngang đầu gối thì dừng lại, xém đụng cái cây bên đường. Tôi mở mắt ra và nhìn lại. Con Quái Vật, to lớn và thờ ơ, giờ thì trông có vẻ bình thản – một người bạn đồng hành mà tôi sẽ không cần phải cố gắng vượt qua nữa. Tôi nhảy cẫng lên và hò reo vì chiến thắng của mình, dù không có ai chứng kiến hành động can đảm của tôi. Tôi không còn là tù binh đứng bên kia đường. Bằng việc băng qua tháp nước nghiêng, tôi đã học được cách chiến đấu một mình, cân đo rủi ro, lấy can đảm và bắt đầu chạy.
Tôi cắn thêm một miếng bánh mì và bước đi… bước đi… về phía đồn điền, lần này thì đi con đường vòng. Tôi không còn phải vội nữa. Thật tuyệt khi lủi thủi một mình, và tôi có nhiều câu chuyện mới để kể cho Mẹ nghe.