Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 21 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
CON ĐƯỜNG – 1964

❊ ❊ ❊

Vào một buổi sáng ẩm thấp ở Hồng Ngự, miền Nam Việt Nam, hai đứa trẻ bơ vơ, một em gái và một anh trai, bốn tuổi và sáu tuổi, lên chuyến xe đò về Sài Gòn với hy vọng tìm đường về nhà và, bằng cách nào đó, sống sót…

Anh Quang và tôi không chợp mắt được một chút nào. Thức còn dễ hơn ngủ bởi chiếc xe đò cũ kỹ và tồi tàn cứ liên tục vấp vào ổ gà, ổ voi và máy móc rệu rạo kêu còn to hơn cả tiếng của cái động cơ đầy khói. Và xe chật ních. Khi những người lớn mỏi mệt, nhớp nhúa mồ hôi đang mang theo hơn nửa số hàng hóa, của nả của mình nhường ghế cho một con nhóc bốn tuổi ốm nhách và thằng anh đang sụt sịt của nó, họ sẽ chẳng thèm quan tâm đến chuyện hông, khuỷu tay hay túi xách của họ có va vào cạnh sườn của bạn, đập vào đầu bạn hay tiếng ngáy của họ làm ai cũng tỉnh trừ ông tài xế. Ít nhất thì ông ta cũng hiểu rõ tuyến đường từ Hồng Ngự về Sài Gòn đến nỗi có thể lái xe với đôi mắt gật gà gật gù, tôi dám chắc như vậy.

Chúng tôi đến bến xe ở Phú Nhuận vào chiều muộn. Đây cũng là chặng cuối nên những gia đình có trẻ con và người già cũng như những người đi một mình với vẻ mặt hối hả quanh chúng tôi lóc cóc xuống xe. Ông tài xế ngồi chờ như thuyền trưởng của một con tàu đang chìm. Khi mọi người xuống hết, ông đốt một điếu thuốc nữa, rồi ngó xuống dãy ghế, nhìn anh Quang và tôi, vẻ mặt thể hiện rõ ông ta đã hết nhiệm vụ rồi.

Một chiếc xe đò liên tỉnh vào những năm 1960, rất giống với chiếc xe chúng tôi đi từ Hồng Ngự lên Sài Gòn

Anh Quang cao và vững vàng hơn tôi, bất chấp những chuyện chúng tôi đã trải qua trước đó, nên tôi lẽo đẽo theo anh ra đến cửa xe. Anh lấy ra một tờ giấy có chữ viết tay từ túi áo mình. Ông tài xế đọc tờ giấy, phà khói từ mũi như một con rồng, rồi đưa lại tờ giấy cho anh Quang.

“Không biết,” ông ta nói, chỉ tay về phía cửa xuống. “Tao không có thì giờ cho mấy chuyện này. Tụi bây mau xuống xe đi.”

Chúng tôi lủi thủi xuống xe. Tấm biển “Hết Giờ” được bật lên, và chiếc xe đi khỏi, hòa vào dòng xe cộ trong giờ tan tầm, bỏ lại chúng tôi đang đứng như hai cái vòi chữa cháy trên vệ đường. Anh Quang bắt đầu khóc. Và tôi cũng thế.

Sau màn khóc lóc ỉ ôi, vì chẳng có chuyện gì xảy ra nên anh Quang nhất quyết không khóc nữa, chùi nước mắt xong, anh nhìn xung quanh. Từ biểu hiện của anh, tôi có thể đoán chắc rằng tên đường, những cửa hiệu, hay những ngôi nhà quanh đó, chẳng có gì quen thuộc cả. Anh mở tờ giấy ra và giơ nó lên cho những người đi qua như tấm biển của một người ăn mày.

“Làm ơn đi” – anh van xin. “Đây là thư của ông cảnh sát! Xin ông. Chúng cháu cần phải tìm bà ngoại! Xin bà, chúng…”

Tất cả những người qua đường đều có nhiều thứ khác phải làm, và những vệt máu khô vẫn còn lốm đốm trên áo quần của chúng tôi cũng chẳng thể giúp gì được. Tôi nắm chặt lấy tay anh Quang cho đến khi tay anh trắng bệch. Việc này tuy cũng không giúp ích được gì nhưng nhờ vậy tôi cảm thấy đỡ lạc lõng hơn một chút.

Anh Quang nghĩ chúng tôi sẽ may mắn hơn ở bên kia đường nên anh lôi tôi đi vào dòng xe cộ. Đến nửa đường thì một chiếc xe thắng két lại và bóp còi inh ỏi.

“Trời đất, tụi ngu này!” – người tài xế taxi la lên, ít nhất thì ông cũng sợ như chúng tôi vậy. “Tụi bây tính tự tử hả? Ba mẹ tụi bây đâu rồi?”

Hỏi hay lắm. Không biết vì lẽ gì mà tôi trả lời trước:

“Mẹ đang bị thương, còn Ba thì đi đâu mất rồi. Chúng cháu phải đi tìm bà ngoại.”

Trong lúc đó, anh Quang đưa tờ giấy cho người tài xế, chú cầm lấy và đọc, mặc kệ dòng xe đang bóp còi inh ỏi phía sau. Không chút do dự, chú nhoài người qua ghế và mở cửa hành khách phía sau.

Người tài xế taxi đã cứu tôi và anh Quang khỏi trở thành những đứa trẻ không nhà cửa

“Vào đi,” chú nói, và chúng tôi vào xe.

Cả buổi tối hôm đó, chúng tôi ngồi trên băng ghế ấm áp của chiếc taxi, đi khắp quận Phú Nhuận. Tôi phải quỳ trên ghế để nhìn ra cửa sổ. Vì tôi không biết phải nhìn cái gì, nên khi mặt trời lặn tôi cũng ngồi sụp xuống và chập chờn lúc ngủ lúc thức. Cái đầu bé nhỏ mệt mỏi của tôi chờn vờn những ký ức dai dẳng về những chuyện chúng tôi trải qua mấy ngày nay khiến chúng tôi phải đi tìm bà như thế này.

Mẹ tôi chưa bao giờ vui đến thế. “Mẹ con mình sẽ đi thăm Ba tại đồn của Ba ở Hồng Ngự!” Mẹ nói. “Không, không, em Thủy không đi được. Em còn nhỏ quá. Em sẽ ở lại với bà. Nhưng con và anh Quang sẽ đi, và Em Bé nữa – em phải được bú – và dì Thu nữa nếu dì chịu đi cùng chúng ta. Sao cơ? Không, không xa chút nào đâu con. Chưa tới một ngày đường bằng xe đò. Mẹ con mình sẽ được ở với Ba trong căn nhà bên bờ sông của Ba. Sẽ vui lắm, đúng không nào?”

Chiếc xe vấp phải ổ gà, tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi nhìn ra ngoài từ ô cửa xe, trong khi anh Quang chằm chằm ngó ra từ ô cửa còn lại. Trời đã tối, đường phố đã lên đèn, những ngôi nhà xung quanh cũng vậy. Tôi ngồi lún trong ghế và chìm vào giấc ngủ.

“Đồn Kế Sách.” Mẹ đọc tấm bảng trên cổng khi chúng tôi bước xuống thuyền và một người lính có vũ trang vẫy chúng tôi vào. Ba đang ở đó, chào đón chúng tôi – Ba thật đẹp trai với áo sơ mi và quần tây, không phải bộ đồ quân đội màu xanh lá cây với những kẻ sọc nơi ống tay áo như tôi vẫn nhớ. “Ba con là chỉ huy đấy,” Mẹ thì thầm, “Vì thế chúng ta là khách đặc biệt!.” Những đứa trẻ và những người mẹ khác đang nhốn nháo xung quanh tiền đồn, trẻ em thì chạy chơi còn người lớn nấu bữa tối. Trông như một gia đình khổng lồ vậy. Đôi tay rộng của Ba vòng quanh tôi và anh Quang, và Ba nhấc bổng chúng tôi lên. Người Ba có mùi mồ hôi, mùi cà phê và… mùi Ba…

“Dạ không… không phải…,” anh Quang lễ phép nói mỗi khi người tài xế hỏi liệu căn nhà này hay nhà kia có quen không. Xe cộ trên đường thưa dần, và chẳng còn gì để xem nữa, vì thế tôi lại ngồi xuống, tiếp tục chìm vào giấc ngủ.

Đây là căn nhà Quân đội của Ba à? Nó giống một mái nhà tranh của một người rất nghèo. Khung tre. Vách lá. Nền đất. Nồi đất nấu cơm và chum đất đựng nước. Một chiếc giường đơn trải chiếu cói. Chúng tôi sẽ ngủ ở đâu đây? “Thật như một cung điện!” – Mẹ nói với Ba rồi ôm hôn Ba lần nữa. Rõ ràng là Ba Mẹ nhớ nhau rất nhiều. Bộ quân phục được treo trong một góc nhà như một vị khách không mời, còn tôi thì tự hỏi vì sao Ba không mặc nó – nhưng, những người lính khác trong đồn, họ cũng không mặc. Họ sợ cái gì chứ? Ngay khi trời vừa tối, lúc tôi đang chuẩn bị đi ngủ, tôi nghe Ba nói với Mẹ và dì Thu. “Hai người phải về nhà ngay. Hồng Ngự không còn an toàn nữa rồi.” Tôi nhìn vào màn đêm bên ngoài cửa và cảm thấy những cặp mắt đáng sợ đang nhìn lại. “Ngày mai em sẽ đón xe về,” dì Thu quả quyết với giọng run run. Mẹ trả lời cũng với cái giọng quả quyết như vậy, “Mẹ con em đến ở với anh một tuần, và mẹ con em sẽ ở lại.”

Khoảng nửa đêm, anh Quang thúc tay tôi. Chiếc taxi đang đi ngang qua một ngôi chợ, anh Quang nhớ có lần bà ngoại đã mua trái cây ở đây nên chúng tôi dừng lại. Thay vì ném chúng tôi xuống xe ngay manh mối đầu tiên về một cảnh vật quen thuộc, người tài xế dừng xe, tắt đèn, và đi ra cùng chúng tôi. Chắc là chú thấy chúng tôi vẫn còn sợ nên nắm tay chúng tôi. Chú quay người lại, mặt lộ vẻ lo lắng khi nhìn chiếc xe của mình.

“Chiếc xe không sao chứ ạ?” tôi hỏi.

Chú nhún vai. “Đừng lo… mà cũng có thể khi chú quay lại thì nó cũng không còn.” Rồi chúng tôi lẽo đẽo theo sau chú đến quầy hàng gần nhất, người chủ hàng đang chuẩn bị đóng cửa.

“Xin cho hỏi,” chú nói, “Chị có quen hai đứa nhỏ này không?”

“Ai mà nhớ tụi con nít chớ?” bà bán hàng chẳng thèm nhìn chúng tôi.

“Còn bà của tụi nó? Thằng nhóc này nói bả hay mua hàng ở đây. Bả đội khăn đống, hút thuốc bằng tẩu. Hoặc có thể chị nhớ mẹ của tụi nó. Nó nói mẹ nó đẹp lắm.”

“Không.”

Những người bán hàng khác cũng chẳng giúp được gì, rồi tất cả những quầy hàng và xe hàng đều đóng cửa. Chú tài xế dẫn chúng tôi quay lại đường chính. Những người đi bộ đang hối hả qua lại, vội vã về nhà, chẳng mấy ai dừng lại để nghe chú hỏi. Ở tuổi đó, tôi chẳng biết gì nhiều, nhưng tôi biết rõ ở ngoài đường lúc trời tối là không khôn ngoan.

Ba ngó qua hàng rào thép gai, nhìn về phía những bụi cỏ cao. Không khí rất tĩnh lặng, nhưng đó đây, đám cỏ dại nhấp nhô lao xao. Trông Ba rất lo lắng, nên tôi cũng lo. Anh Quang đang dọn dẹp bữa tối, còn Mẹ thì cho Em Bé bú. Cả tuần nay, chúng tôi rất vui – Ba dạy anh Quang bơi, Ba cũng dạy tôi nữa nhưng tôi chỉ biết chìm chứ không bơi được. Giờ Ba quyết định chắc nịch: “Ngày mai, mấy mẹ con phải bắt xe về Sài Gòn,” Ba ra lệnh. “Không bàn cãi nữa.” Mẹ nói với đám chúng tôi, “Các con đừng lo, cả nhà sẽ sớm đoàn tụ thôi…”

Người tài xế gõ cửa mọi ngôi nhà chúng tôi đến, chúng tôi lê bước theo chú với đôi chân mềm như bún. Việc tìm bà ngoại đã trở thành một cuộc săn lùng còn vị hiệp sĩ của chúng tôi vẫn chưa chịu đầu hàng.

Cả tiếng đồng hồ sau, một bà lão mở cửa với cây đèn dầu trên tay. Lạ thay, bà không chỉ nghe người tài xế nói mà còn đọc mảnh giấy nhàu nát của anh Quang, rồi hạ cây đèn dầu xuống để nhìn mặt chúng tôi.

Bà nói: “Có, bác có biết hai đứa này. Tụi nó là cháu của bà Mâu. Bả sống cách đây vài căn. Đi, đi theo bác, bác chỉ đường cho.”

Đêm trở nên ảm đạm và lạnh hơn nên bà quay vào nhà, khoác thêm một chiếc áo choàng sờn rách, rồi dẫn chúng tôi đi với ngọn đèn của mình. Đến một cánh cửa nữa, gõ thêm một lần nữa, rồi bà ngoại xuất hiện. Thấy vẻ mặt đang sửng sốt của bà, chúng tôi lại có thêm chút sức lực.

“Lạy Chúa tôi, hai đứa đang làm gì ở đây? Các cháu phải ở Hồng Ngự chứ!”

Bà kéo chúng tôi vào lòng. Mùi thuốc lá quen thuộc tỏa ra từ quần áo của bà làm tôi chếnh choáng. Bà hỏi người tài xế: “Mẹ tụi nó đâu? Còn anh là ai?”

Người tài xế đưa tờ giấy của anh Quang ra.

“Anh đọc giúp tôi với.” Bà ngoại, một thời là tiểu thư cành vàng lá ngọc ở miền Bắc, chưa bao giờ nghĩ việc biết đọc biết viết là cần thiết.

Người tài xế đọc to, và đây là lần đầu tiên tôi biết lá thư có nội dung gì. Thư của một cảnh sát, người giúp chúng tôi ở Hồng Ngự viết. Tôi bắt đầu cảm thấy bồn chồn. Tôi không hiểu phần lớn nội dung thư – ông ấy viết cho người lớn đọc chứ không phải cho đám trẻ con – nhưng tôi có thể biết được từ vẻ mặt của bà ngoại, lá thư chứa những điều khủng khiếp, giống như cơn hãi hùng của tôi khi nghĩ về con quái vật đang chờ bắt mình bất cứ khi nào tôi nhắm mắt. Trông bà như sắp khóc nhưng sự kiên cường của người miền Bắc đã ngăn những giọt nước mắt lại. Con gái khác của bà – dì Thu, một người phụ nữ mạnh mẽ, xinh đẹp và nhìn rất giống Mẹ, người đã nghe theo lời cảnh báo của Ba mà rời Hồng Ngự về Sài Gòn ngay sau đêm đầu tiên – giờ đang từ sau nhà đi ra chỗ chúng tôi. Vẻ mặt của bà như đang cố kiềm lại cơn bão tố, còn mặt dì Thu thì cứng đờ như khuôn mặt của một thây ma – cũng giống như một bà thầy bói nhìn thấy được số phận khủng khiếp qua quả cầu tiên tri. Người tài xế đọc xong và đưa bức thư cho dì Thu. Bà ngoại run rẩy lục tìm mảnh khăn bà dùng để cất tiền và cảm ơn người tài xế không ngớt lời. Bà đang lo tiền taxi sẽ nhiều lắm.

“Không cần đâu bác,” chú tài xế đặt tay lên đôi vai nhỏ xíu của chúng tôi và bóp nhẹ. Chú cúi xuống, ngang tầm mắt của chúng tôi: “Tụi con phải mạnh mẽ để giúp bà và dì nhé.” Rồi chú rời đi, cánh cửa đóng lại sau lưng. Tuy chỉ quen chú trong một buổi tối thôi nhưng tôi cảm thấy như thể mình đã để vuột mất một người chú thân thiết.

Bà ngoại cho chúng tôi ăn đồ còn lại của bữa tối, tắm rửa cho chúng tôi, rồi cho chúng tôi đi ngủ, bà cố gắng nhẹ nhàng để không đánh thức em Thủy, từ nãy giờ em vẫn ngủ ngon lành trên chiếu. Tôi lắng nghe hai người lớn vừa bàn chuyện về bức thư vừa sụt sùi khóc. Tôi chẳng hiểu bất cứ điều gì họ nói trừ chuyện tất cả chúng tôi phải trở lại Hồng Ngự vào sáng hôm sau, chắc là trên chiếc xe đò ọp ẹp đó. Một chuyến xe mà tôi chẳng muốn đi lại một lần nữa.

Chúng tôi hôn tạm biệt Ba và lên thuyền vào thị trấn để bắt xe về Sài Gòn, nhưng Mẹ đau bụng và nói tài xế rằng Mẹ không chịu được năm tiếng ngồi xe, Mẹ có thể sẽ ói hoặc tệ hơn thế nữa, vì thế ông ta cho chúng tôi xuống và chúng tôi quay lại trại của Ba. Tôi biết Ba chẳng hài lòng một chút nào, nhưng mặt Ba chỉ thể hiện sự lo lắng. Mẹ và Em Bé nằm nghỉ trên giường, còn tôi và anh Quang chạy chơi bên ngoài. “Không được đi xa,” Ba ra lệnh như thể chúng tôi là lính của Ba vậy. Rồi Ba lại chĩa ống nhòm về phía bụi cỏ. “Lẽ ra mẹ con họ nên lên chuyến xe đó,” Ba nói, không với bất cứ ai.

Sau một đêm ngon giấc, chúng tôi thức dậy còn sớm hơn tiếng gà gáy. Chúng tôi ăn vội chén cháo, rồi gửi em Thủy ở nhà chú Thành, lên đường đi đón xe. Em trai của Ba tôi là người lặng lẽ và chu đáo, chú cũng mới nhập ngũ nhưng không như Ba tôi vì Ba đầu quân hai lần rồi. Lần đầu tiên Ba giải ngũ khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Giờ lại nảy sinh rắc rối giữa hai miền Nam – Bắc, nên Ba cảm thấy mình có nghĩa vụ đứng lên để phục vụ một lần nữa. Chuyện này có vẻ lạ vì ông bà của tôi đều là người miền Bắc, gia đình của bà ngoại đã sống rất vương giả với kẻ hầu người hạ xung quanh. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, họ không theo phe nào nhưng cuối cùng lại bị cả hai bên trừng phạt. Có lẽ vì thế mà ánh nhìn của chú Thành làm tôi liên tưởng tới một con cú già khôn ngoan. Nó biết lúc nào nên im lặng và lúc nào nên hú rúc. Dù vậy, điều duy nhất mà mọi người trong cả hai gia đình đều biết, đó là tránh xa rắc rối.

Lần này, chuyến xe từ Sài Gòn đi Hồng Ngự có vẻ nhanh hơn, nhưng bất ổn hơn. Chúng tôi xuống xe trong khung cảnh quen thuộc, dù đây là làng chài nghèo gần khu vực trung tâm Tây Nam Bộ, nhưng nó giống một khu ổ chuột hơn là thành phố. Ít nhất, Sài Gòn có công viên đẹp, đường xá rộng rãi và những tòa nhà lớn, có người châu Âu mắt to đi qua đi lại với những bộ trang phục thời thượng. Rõ ràng bà ngoại và dì Thu cũng chẳng thích nơi này, vì từ lúc chúng tôi đến, họ cứ khóc suốt, kể cả khi đi hết đường này đến đường kia để tìm căn nhà được nhắc đến trong lá thư của viên cảnh sát. Cuối cùng, dì Thu dừng lại trước một mái nhà tranh, chỉ lớn hơn nhà của Ba một chút.

“Đây rồi,” dì nói, như thể xóa đi một lời nguyền.

Một người đàn ông gầy mặc quần áo thường dân như Ba ra mở cửa. Trông chú quen quen và có vẻ hiền hậu. Chú gật đầu với tôi và anh Quang nhưng chỉ chú ý đến bà và dì. Một em bé đang la khóc sau lưng chú. Tôi nhận ra đó là tiếng khóc đói sữa của đứa em gái ba tháng tuổi của tôi. Vì tôi quen thấy em bám chặt lấy bầu vú mẹ hoặc nằm trong vòng tay mẹ, nên tiếng khóc xa vắng của em nghe thật lạ lùng và đáng sợ. Em Bé không có Mẹ cũng giống như mặt trăng không có trái đất vậy.

“Tôi là mẹ của Đỗ Thị Hiên,” bà ngoại nói một cách trang trọng, không phải kiểu chào hỏi thân thiện lắm. Bà chỉ dì Thu, rồi tới anh Quang và tôi, “Đây là em gái và các con của nó. Tôi nghe tiếng đứa con nhỏ của nó trong nhà…”

“Con có nhớ hai đứa nhỏ,” viên cảnh sát buồn bã nhìn chúng tôi, “Con rất mừng là tụi nhỏ về tới nhà. Đứa bé vẫn khỏe. Mẹ con đang chăm sóc nó.”

“Cảm ơn anh. Giờ thì tôi muốn gặp con gái tôi,” bà ngoại nói tiếp, “Ngay bây giờ, nếu không phiền gì.”

Dù có thấy phiền hà hay không thì người đàn ông tốt bụng này cũng vào một căn phòng khác, nói nhanh vài lời với mẹ của ông rồi dẫn chúng tôi đi xuống đường về phía bờ sông. Chú hạ giọng nói chuyện với bà ngoại và dì Thu. Tôi nghe tiếng được tiếng mất và hầu như không hiểu gì cả. Chú vẫn nói cho đến khi chúng tôi đi vào một căn nhà mái tôn, vách lá có hai phòng, cửa trước sơn hình chữ thập lớn màu đỏ.

Mẹ và tôi ở trạm y tế Chữ thập đỏ, Hồng Ngự

Bên trong còn khó chịu hơn chiếc xe đi Hồng Ngự. Tôi biết chỗ này, cũng như biết chiếc xe và người cảnh sát. Tôi cảm thấy buồn nôn. Trong mỗi căn phòng có kê nhiều giường khung sắt, những gia đình – gồm có trẻ con, ba mẹ, ông bà như chúng tôi – đi qua đi lại giữa mấy cái giường như đưa đám. Ở đó rất đông nên lúc bước vào, bà ngoại đẩy tôi ngồi xuống băng ghế gỗ trong một phòng chờ nhỏ. Tôi nhìn mấy cái giường. Trên giường, có người quấn băng trắng quanh đầu, có người tay, chân chỉ còn lại một mẩu cụt ngủn. Những tấm khăn trải giường từng trắng tinh giờ lốm đốm màu nâu, màu đỏ. Đi chen giữa mấy cái giường và người viếng thăm là những y tá mặc đồ trắng, tay bê những khay thuốc và dụng cụ. Nơi này có mùi rất tởm, mùi thuốc, mùi máu và mùi chua lét của thứ rượu rẻ tiền mà ông ngoại Phan thường uống bằng cốc rượu cũ.

Cuối cùng, họ tụ lại quanh một cái giường và gọi tôi vào. Vì thấp nhất nên tôi phải cố chen lấn để lên phía trước. Bà ngoại đang cúi xuống bên một người bệnh và khi bà đứng lên, tôi nhận ra người nằm ở đó là Mẹ.

Ba và lính của Ba vội vội vàng vàng dựng một căn hầm nhỏ trước căn nhà lá của Ba. Ban đầu chỉ là cái rãnh vừa đủ cho ba người đứng, rồi bùn đất được chất lên xung quanh như một mái vòm. Họ đặt vỏ dừa xung quanh – không phải để trang trí, mà theo lệnh Ba: “Vỏ dừa giúp chắn đạn,” tôi nghe Ba nói thế. Sau bữa tối căng thẳng và im lặng, mặt trời bắt đầu lặn và pháo sáng lóe lên. Khi đèn pha bên kia hàng rào tắt, ba hối hả giục chúng tôi xuống hầm – Mẹ xuống trước, rồi đến Em Bé, anh Quang và tôi. Ba nhìn chúng tôi với vẻ mặt đau khổ tột cùng, rồi gương mặt đó biến mất khi Ba phủ tấm mền màu xanh hình con rồng lên miệng hầm.

Mẹ là người đẹp nhất trên đời. Kỳ lạ là Mẹ vẫn đẹp, dù Mẹ đang phải đeo tấm gạc ướt sũng máu trên vai trái. Trông mẹ như thiên thần bị đóng vào thập giá.

Đột nhiên, tôi nhớ ra lần cuối tôi thấy Mẹ là ở đâu và lúc nào. Đây chính là nơi anh Quang và tôi bỏ Mẹ lại hai ngày trước. Cơn buồn nôn bắt đầu trào lên cổ họng tôi. Tôi không muốn ở đây! Tôi không muốn Mẹ ở đây! Chỉ khi trông thấy gương mặt nhỏ của anh Quang, mạnh mẽ và cương quyết, tôi mới có thể kiềm nén, không để mình nôn ói hay bật khóc.

Như thể cảm động trước những ý nghĩ chưa thốt thành lời này của tôi, một y tá nắm lấy cánh tay tôi, nhấc tôi lên giường, đặt tôi ngồi cạnh chiếc cánh thiên thần lành lặn của Mẹ. Cặp mắt ngấn nước của tôi mở to như để thâu lấy tất cả hình ảnh của Mẹ, nhưng cái cổ họng khô khốc không bật ra được tiếng nào. Mẹ mỉm cười với tôi qua cơn đau, và dùng bàn tay không bị thương vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trước trán tôi ra sau.

“Bé Hiền,” Mẹ nói, “Mẹ sẽ sớm khỏe lại và sẽ đi chợ. Con muốn Mẹ mua gì cho con nào?”

Tâm trí tôi như đang gào thét. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ tới là xôi và tôi thì thào từ này.

“Được rồi, Mẹ sẽ mua xôi. Còn gì nữa không con?”

Tôi biết chắc chắn mình muốn gì, nhưng không thốt ra được từ nào khác. Mắt Mẹ ngấn nước, rồi Mẹ nhìn cô y tá.

“Xin hãy mang con tôi đi,” Mẹ nói, “Tôi không muốn con bé nhìn thấy tôi như thế này.”

Cô y tá bế tôi lên và áp tôi lên vai. “Chị có cần gì không?” cô hỏi Mẹ tôi.

“Tôi… tôi không nhìn thấy,” Mẹ tôi nói.

Người y tá đặt tôi xuống và cúi xuống gần Mẹ tôi. Cô kéo mí mắt Mẹ lên, bóp chặt cổ tay Mẹ, đặt hai ngón tay lên cổ Mẹ và tôi không biết còn gì nữa không. Lúc đó, bà ngoại đã nắm tay tôi, và giường của Mẹ khuất sau những tấm lưng của người lớn.

“Tôi không thấy gì hết,” giọng Mẹ trở nên yếu hơn, “Tôi nghĩ đã đến lúc rồi.”

Một y tá khác chen tới, tay cầm nửa quả chanh rồi vắt nước chanh vào mắt Mẹ, nhưng Mẹ không chớp mắt. Cảnh tượng lại biến mất sau bức tường người.

“Nó sắp đi rồi,” ai đó nói. Tôi nghĩ đó là bà ngoại.

“Nếu được truyền máu, cô ấy có thể vẫn còn cứu được,” người y tá nói, “nhưng máu này chỉ dành cho quân nhân mà thôi.”

Ngay lúc này, người cảnh sát nhấc bổng tôi lên và vác tôi như vác một bao cát ra khỏi nơi khủng khiếp đó. Tôi cứ chờ Mẹ và người nhà của tôi đi theo, bởi vì rõ ràng có cái gì đó không đúng – nhưng không ai theo tôi cả. Nhìn qua vai chú, tôi thấy người ta đến gần giường Mẹ, bước chân của các y tá hối hả hơn. Khi đã ra ngoài với bầu không khí của miền sông nước, người cảnh sát đặt tôi xuống. Thật kỳ lạ là chú không nói lời nào mà chỉ nắm lấy bàn tay ướt nhẹp mồ hôi của tôi. Chú nhìn ngang qua căn phòng chờ u tối và cứ quay ra quay vào khi có người đi vào hay ra.

Ít phút sau, bà ngoại, dì Thu và anh Quang đi ra với gương mặt trắng bệch, theo sau là hai người hộ lý đang vác một cuộn chiếu. Chiếu được cuộn lại thì không có gì là lạ cả, chúng tôi vẫn thường cuộn chiếu lại để quét dọn bên dưới hoặc để có chỗ làm việc khác. Nhưng lần này, cuộn chiếu nặng nề được treo dưới một đòn gánh tre, lắc lư qua lại. Khi họ đi ngang qua, người cảnh sát thả tay tôi ra, và tôi lén nhìn qua cửa một lần cuối để xem thử Mẹ có còn nằm trên giường không. Mẹ không còn trên giường nữa. Ngay tức khắc, tôi tự bảo mình chắc Mẹ đã đi chợ để mua xôi cho tôi, như Mẹ đã hứa.

Rồi người cảnh sát đẩy nhẹ vai tôi, và chúng tôi hòa vào đoàn người tiễn đưa buồn bã.

Đoạn đường đi bộ đến sông Cửu Long khá ngắn – chỉ một vài bước qua con đường đất đến mé sông bùn lầy lội, nơi có mấy con đò cột bên cọc tre. Chẳng nói năng gì nhiều, hai người lái đò bước xuống dòng nước sâu tới gối, đẩy hai chiếc đò vào bờ, rồi kéo mũi đò lên. Như một đàn kiến, đoàn người chúng tôi lũ lượt lên một chiếc, còn viên cảnh sát cùng hai người hộ lý với thanh tre dài và cuộn chiếu nặng trĩu của họ lên chiếc đò còn lại. Không ai nói lời nào, người lái đò lặng lẽ chèo đi, khua mái chèo qua bên này, bên kia cho tới khi chúng tôi đến một cù lao thấp và dài ở giữa sông. Đó là một nơi xinh xắn với cánh đồng cây thân cỏ mọc ở giữa – ít nhất thì chỗ đó trông có vẻ như vậy cho đến khi chúng tôi đến đủ gần để nhìn thấy bia mộ quấn đầy dây leo và thập giá bằng đá cắm trên mặt đất màu mỡ. Chúng tôi xuống thuyền, và kỳ lạ thay, gió sông ngừng thổi để lại không khí quanh đảo tĩnh mịch và có mùi cá.

Người lái đò chở chúng tôi qua sông Cửu Long để đến Cù lao Mả

Hai người hộ lý bắt đầu đào một rãnh đất nông trên mặt đất ướt gần bờ. Khi xong việc, họ đặt cuộn chiếu vào trong, rút đòn gánh tre ra, lấp đất vào lại chỗ vừa đào, và quay trở lại đò. Lúc họ làm việc, bà ngoại chỉ nhìn chăm chăm vào đám cây cối, tay vòng qua người dì Thu, một, hai lần gọi anh Quang khi anh đi quá xa. Tôi đứng ở rìa nghĩa địa và nhìn hai người đàn ông làm việc, âm thầm tự hỏi không biết khi nào Mẹ sẽ đi chợ về.

Khi rãnh đất được lấp xong và dẫm phẳng, bà ngoại và dì Thu quỳ bên cạnh, nước mắt rơi lã chã xuống má. Đột nhiên, bà ngoại nhìn quanh như đang bối rối, rồi bảo anh Quang và tôi đi nhặt mấy nhánh cây khô ở nghĩa địa. Chúng tôi rất vui khi làm chuyện này. Chúng tôi chỉ tìm được hai cành non hơi có vẻ vừa ý bà (“Chắc hai đứa chỉ kiếm được bấy nhiêu,” bà lẩm bẩm). Như một ngư phủ đang sửa lưới chài, bà nhổ sậy bên bờ sông và buộc hai cành cây lại thành hình thập giá và nhẹ nhàng cắm xuống đất, ở đầu mương đất. Mặc ai nấy ủ ê buồn khổ, tôi khá hãnh diện với sự đóng góp của mình.

“Con phải khoe với Mẹ,” tôi nói, vẫn mong chờ Mẹ trở về trên một con đò, hai tay Mẹ ôm đầy rau củ và quà bánh. Lời của tôi làm mọi người khóc nhiều hơn nên tôi cũng bắt đầu khóc, dù tôi không hiểu vì sao. Tôi biết bà ngoại và dì Thu buồn vì Mẹ không tham gia nghi lễ này, nhưng tôi cũng buồn nữa vì tôi phải chờ lâu hơn nữa để được ăn xôi.

Chúng tôi đón đò qua lại sông để trở về nhà người cảnh sát, ai nấy sụt sùi như trẻ con. Chúng tôi không hẳn là khách trong nhà nên người cảnh sát bảo chúng tôi đứng trước cửa chờ người mẹ có bộ mặt khó chịu của chú trả Em Bé lại. Bà ta đưa em cho bà ngoại cứ như thể đang đưa một củ khoai thối. Bà ngoại ngửi ngửi em để xem có cần thay tã cho em không, rồi quấn em lại trong tấm khăn cũ kỹ.

“Có vẻ con bé vẫn khỏe,” bà ngoại thông báo, lịch sự gật đầu với bà già hách dịch, bà ta có vẻ vui mừng khi thấy chúng tôi bỏ đi. Tất cả chúng tôi đều quay đi, trừ anh Quang. Anh chìa bàn tay ra trước mặt bà già.

“Nhẫn của Mẹ đâu?” anh nói bằng giọng rắn rỏi. Lời anh nói như sét đánh ngang tai tôi.

Mẹ đang hoảng sợ. Tôi chưa bao giờ thấy Mẹ như vậy! Anh Quang và tôi đắp tấm mền dơ dáy lên Mẹ, chừa chỗ cho Em Bé thở, em đang gào khóc như một con thú bị thương. Mẹ có vẻ dịu lại. Dưới tấm mền, Mẹ xé vạt áo đẫm máu của mình rồi tháo hai chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay đang sưng vù. Một chiếc là nhẫn cưới của Mẹ, còn chiếc kia của Ba. Mẹ xỏ mảnh vải qua hai chiếc nhẫn, thắt gút hai đầu rồi cột vào nách tay anh Quang. Mẹ siết chặt đến nỗi anh phải la lên “Ối a!” rồi mẹ mới nới lỏng ra một chút. “Con phải giấu kỹ nó dưới áo. Hãy bán nó đi nếu con cần tiền để lo cho hai đứa hay Em Bé.” “Vâng, thưa Mẹ,” anh Quang nói. “Con sẽ lo cho các em.”

Rồi tôi nhớ lại. Sau khi chúng tôi đến nhà của người cảnh sát, mẹ của ông đã tịch thu mảnh vải có hai chiếc nhẫn của anh Quang lúc bà cởi áo anh ra để rửa ráy cho anh – dù vậy, lý do tại sao chúng tôi lại ở với người cảnh sát và vì sao chúng tôi không dùng nhẫn để mua vé xe thì tôi vẫn chưa hiểu được. Có lẽ bà ta giữ lại cặp nhẫn làm vật thế chấp, để đảm bảo rằng chúng tôi sẽ quay lại đón Em Bé. Giờ thì anh Quang muốn lấy lại vật thừa kế của mình.

Sau một lúc lặng thinh, bà lão đi vào sau nhà rồi quay lại với mảnh vải thắt gút và thả vào tay anh Quang. Anh coi kỹ chiếc nhẫn như lúc bà ngoại kiểm tra Em Bé, rồi anh nhăn mặt.

“Một chiếc không giống,” anh nói một cách tức tối.

“Mày đang nói gì vậy hả?” bà lão la lên.

“Nhìn nè – Chiếc nhẫn này nhỏ hơn chiếc kia. Đây là nhẫn của Mẹ. Nhẫn của Ba to hơn. Cả hai chiếc đều đeo vừa tay Mẹ. Chiếc này quá nhỏ. Nhẫn của Ba đâu rồi?”

“Đừng có mà than vãn nữa, nhãi ranh!” bà già quạt lại. “Hãy mừng là tao trả lại đồ cho mày.”

Anh giơ cái vòng vải lên, chuẩn bị đánh bà ta, nhưng bà ngoại đã kéo anh lại.

“Quang! Đừng có hỗn!” bà nói. “Được rồi. Người phụ nữ tốt bụng này đã chăm sóc Em Bé, còn cho cháu và em Hiền ăn. Con trai bà đã cho các cháu tiền xe, còn bỏ thì giờ ra để viết thư nữa. Chú ấy còn dẫn chúng ta vào nhà thương gặp Mẹ cháu. Mau xin lỗi bà rồi bà cháu mình về.”

Anh Quang không hề xin lỗi nhưng chúng tôi vẫn ra về sau khi bà ngoại và dì Thu cúi đầu chào lần nữa và rối rít cảm ơn người cảnh sát.

Chuyến xe về Sài Gòn gập ghềnh, dằn xóc và đầy cay đắng, còn tồi tệ hơn bởi không ai nói với ai lời nào. Trừ tôi ra thì ai cũng đang bận rộn với những mối suy tư thầm lặng. Chúng tôi về tới nhà lúc trời tối. Dù cho ai nấy đều mệt nhoài, nhưng ngoài tôi ra, không ai có vẻ vui mừng khi về tới nhà. Ngay khi chúng tôi rẽ vào khu nhà của mình, tôi chạy vượt lên trước và gọi to: “Mẹ ơi, Mẹ! Tụi con về rồi! Mẹ đi chợ có mua gì về cho con không?”

Không ai trả lời. Khi tôi đẩy cửa mở, trong nhà tối đen. Tôi đành phải chờ Mẹ thêm một chút nữa vậy.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 16 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.