Tiếng Gọi Vĩnh Cửu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Thứ Ba
Cuộc Đối Kháng Vĩ Đại

❊ ❊ ❊

Cuộc chiến tranh xảy ra bất ngờ đã tác động một cách lạ lùng đến quan hệ giữa Xê-mi-ôn và Vê-ra. Chiến tranh như thể vạch ra giữa hai người một đường ngăn cách vô hình mà họ, cả Xê-mi-ôn và Vê-ra đều không thể, hoặc cũng có thể là không muốn vượt qua. Bây giờ họ ít gặp nhau, và hình như cũng chẳng có gì để nói với nhau cả. Thầm cảm thấy điều đó, họ tìm cách chia tay nhau càng nhanh càng tốt.

Một lần, trước khi đi ngủ, Xê-mi-ôn bước ra sân đứng hút thuốc.

- Xê-mi-ôn... - Vê-ra đứng bên kia bờ giậu khẽ gọi.

- A-a... Chào Vê-ra, - Xê-mi-ôn đi lại phía cô.

- Em đứng chờ đây đã lâu, nghĩ là có thể anh sẽ ra. Ta đi xem chiếu bóng chứ? Đã lâu rồi anh và em chẳng đi đâu cả.

- Thì đi, - Xê-mi-ôn đồng ý một cách không lấy gì làm hào hứng lắm.

Họ im lặng đi tới câu lạc bộ, im lặng xem phim và rồi cũng im lặng ra về. Vê-ra không nói gì, vẻ nghĩ ngợi.

Trước khi chia tay, cô bỗng áp sát người vào Xê-mi-ôn, thì thào:

- Còn việc cưới thì thế nào đây, anh Xê-mi-ôn? Trước ta hẹn đến mùa thu này, bây giờ mùa thu đã đến... Rồi chiến tranh... Người ta có thể gọi anh ra trận. Thậm chí anh đang định ghi tên tình nguyện, em nghe thế... Phải không?

- Cứ cho là thế đi, còn gì nữa? - Xê-mi-ôn nói nhanh, hơi né người ra.

- Thế em sẽ ra sao, nếu chúng ta cưới nhau? Có thể em phải ở lại một mình với con...

- Thế nghĩa là bây giờ chẳng nên cưới xin gì cả, chỉ thế thôi.

Và trong người anh lại cảm thấy cái cảm giác khó chịu đối với Vê-ra như một lần nào trước đây, anh khẽ đẩy tấm thân đang áp chặt vào anh ra. Vê-ra lặng lẽ khóc không thành tiếng.

- Em biết anh đang nghĩ: thì ra cô ả thế đấy, vừa muốn ăn, nhưng lại vừa sợ. Vê-ra thút thít nói, lấy khăn tay lau nước mắt. - Vâng, em sợ... em sợ chưa kịp lấy chồng đã phải chịu ở góa... Súng đạn nó đâu có chừa ai...

- Im đi! - Xê-mi-ôn nói gay gắt. - Tôi đã chết đâu mà cô đã khóc tang sớm thế?

- Anh tha lỗi cho em... - Cô úp khuôn mặt ướt đẫm vào ngực anh. - Em là đàn bà mà, và em đang nghĩ theo cách của đàn bà... Nhưng em yêu anh, Xê-mi-ôn, em yêu...

Câu chuyện đêm ấy của họ kéo dài, lộn xộn và nặng nề. Họ thỏa thuận với nhau là sẽ hoãn cưới lại cho đến khi chiến tranh kết thúc. Thỏa thuận xong với nhau như thế, cả hai đều thở dài nhẹ nhõm, như thể vừa trút được một gánh nặng khỏi vai. Lại áp chặt người vào Xê-mi-ôn, Vê-ra nói:

- Nếu anh ra trận, Xê-mi-ôn, em sẽ chờ anh... Em sẽ giữ mình. Dù một năm, dù mười năm, em sẽ chờ anh...

Tối hôm ấy lại càng làm lớn thêm cái vạch ngang ngăn cách giữa hai người, biến nó thành một vết nứt rạn mỗi ngày một rộng thêm. Sẽ chờ đợi mười năm à? - Xê-mi-ôn nghĩ về Vê-ra. Tất cả chỉ là những lời nói rỗng tuếch, bởi vì... bởi vì trong quan hệ của họ bao giờ cũng thiếu một cái gì đấy cơ bản, và bây giờ cũng chẳng ai hiểu vì sao trước đó họ hôn nhau, thậm chí còn định cả ngày tháng tổ chức lễ cưới...

Sau này, Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin báo tin là A-lây-nhi-cốp đến dạm hỏi Vê-ra. Cả việc này cũng chẳng làm cho Xê-mi-ôn lo lắng. Anh chỉ ngạc nhiên. Thật khó mà tin nổi rằng A-lây-nhi-cốp, một người cau có, ảm đạm mà chỉ bằng sự có mặt của mình cũng có thể làm cho người khác, trong đó có Xê-mi-ôn, phải cảm thấy buốt lạnh khó chịu trong ngực, lại có thể đi hỏi vợ, hơn nữa lại là Vê-ra, một cô gái ít hơn ông những ba mươi tuổi. Dù sao chăng nữa, Xê-mi-ôn cũng chẳng có ý muốn phải chạy ngay đến gặp Vê-ra để hỏi kỹ về sự việc lạ lùng này. «Được, để rồi xem», - anh tò mò tự bảo mình.

Ba tuần sau, trên đường đi làm, Xê-mi-ôn gặp Vê-ra. Cô đang đi thong thả dọc phố, ngắm nhìn những thân cỏ dại khô héo phủ đầy sương nhô ra dưới bờ giậu. Anh lên tiếng chào trước. Vê-ra chớp chớp đôi hàng mi, những chấm màu vàng trong mắt cô khẽ nhảy lên run rẩy.

- Sao... em sao thế? - Xê-mi-ôn hỏi và thầm ngạc nhiên khi thấy giọng nói của mình thoáng vẻ buồn và nghi ngờ.

- Gì cơ?

- Hình như em sợ thì phải?

- Em không biết. Anh đột ngột quá...

Phố lúc ấy còn vắng người, mặt trời còn nằm sau chân trời phía xa chưa lên. Nhưng không khí đã ấm, sương đêm trên cây và trên mái nhà đã bắt đầu tan, nhỏ từng giọt xuống đất.

- Xê-mi-ôn, anh hoàn toàn quên em mất rồi, - Vê-ra vừa nói vừa sửa chiếc khăn trên đầu. - ít ra nửa tháng một lần anh nên rủ em đi đâu đó... Đi nhảy hay xem chiếu bóng chẳng hạn.

Xê-mi-ôn cảm thấy Vê-ra nói thế chỉ là vì phải nói một cái gì đấy, chứ thực ra là cô mừng thầm là anh đã để cô yên, không rủ cô đi đâu cả. Và anh lại thấy buồn và khó chịu.

- Còn sức đâu mà nhảy với nhót nữa, - Xê-mi-ôn đáp. - Ngày nào cũng mệt rã rời, tay chân nhức nhối. Bây giờ anh làm việc hẳn ở nhà máy, cùng một lúc lái cả máy kéo lẫn xe tải.

- Làm hẳn là thế nào? - Vê-ra tò mò hỏi.

- Là... ông giám đốc nhà máy một hôm tới trạm máy kéo, giở sổ chọn lấy tất cả các thợ máy kéo, thợ nguội và thợ cơ khí trẻ. Thậm chí người ta cũng chẳng thèm hỏi xem bọn anh có đồng ý hay không nữa.

- Khoan... Nếu vậy thì... Đấy là nhà máy quân sự. Người ta có thể hoàn toàn miễn cho anh khỏi phải ra mặt trận. -Vê-ra dừng lại, nói.

- Tất nhiên là thế. Nhưng dù sao anh cũng tình nguyện xin đi. Anh đã gửi hai đơn lên phòng quân vụ và sẽ viết đơn thứ ba nữa.

Vê-ra cúi đầu bước đi tiếp.

Vẫn như thường lệ, ông cụ Ép-xây đang quét dọn cạnh cửa ra vào của trụ sở huyện ủy. Thấy Vê-ra đến, ông ngừng tay.

- Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích đang chờ cô, nghe nói có giấy tờ gì gấp lắm, - ông già nói khi thấy cô đi ngang qua.

- Vâng, cháu đến ngay bây giờ, - cô buông một câu, không ngoái đầu lại.

Tới chỗ ngoặt, Vê-ra dừng lại, nắm lấy cổ chiếc áo vét- tông nhàu nát, nhón chân, đặt đôi môi giá lạnh hôn lên má anh.

- Ít ra, thỉnh thoảng được gặp nhau thế này cũng tốt.

- Mà cũng có thể, chẳng được ích gì? - Xê-mi-ôn nói mát. - Nhi-cô-lai bảo anh là A-lây-nhi-cốp đã đến hỏi em làm vợ.

Đôi lông mày mảnh của Vê-ra khẽ nhíu lại, những đốm vàng trong mắt cô lại lay động một cách buồn bã.

- À, nói làm gì! Thật đến buồn cười với cái ông A-lây-nhi-cốp ấy... Em sẽ kể cho anh nghe tất cả, tha hồ mà cười...

Cô nói rồi đột nhiên dừng lại. Đôi lông mày mảnh lại run rẩy, mặt nổi lên các vết đỏ. Cô buông thõng hai tay, lùi lại một bước.

Lúc đầu Xê-mi-ôn hoàn toàn không hiểu chuyện gì xảy ra với cô. Anh chỉ cảm thấy từ chỗ ngoặt một người nào đấy vừa bước ra, đang đứng sau lưng anh. Anh quay lại và nhìn thấy A-lây-nhi-cốp. A-lây-nhi-cốp đầu đội mũ lưỡi trai cứng kéo sụp tận mắt, hết nhìn Vê-ra lại nhìn Xê-mi-ôn.

- Ông cần gì? - Xê-mi-ôn hỏi gay gắt.

- Không, hoàn toàn không cần gì cả. Xin lỗi. Chào cô Vê-ra.

Vê-ra mấp máy môi nhưng không thành lời, mặt đỏ lựng như bốc lửa.

- Xin lỗi, - A-lây-nhi-cốp nhắc lại rồi bỏ đi.

- Em nói là buồn cười à? - Xê-mi-ôn đút hai nắm tay vào túi.

- Xê-mi-ôn! Xê-mi-ôn!

- Ừ, mà buồn cười thật!

Rồi anh quay người, bước nhanh, không hề ngoái lại, mặc dầu vẫn nghe tiếng chân Vê-ra đang chạy theo.

- Xê-mi-ôn, em sẽ kể cho anh nghe tất cả, em sẽ nói hết...

- Thế cũng đã rõ lắm rồi!

Vê-ra dừng lại, không chạy theo nữa.

«Rõ, rõ lắm rồi!» - cái cảm giác bị xúc phạm và sự giận dữ quay cuồng, nhức nhối trong đầu Xê-mi-ôn. Nhưng khi kéo mạnh cần lái, đưa máy kéo ra khỏi sân nhà máy, cài số ba chạy đến ga, anh bỗng nghĩ: thế nhưng rõ cái gì mới được chứ? Tại sao mình lại giận dữ như vậy? Vì chuyện gì? Chẳng lẽ Vê-ra lại có lỗi khi A-lây-nhi-cốp bỗng nảy ra cái ý định kỳ quặc là đến hỏi cô ta làm vợ? Quả là cần phải nói chuyện với Vê-ra về tất cả một cách thật bình tĩnh.

Ngay tối hôm đó, vừa bước ra khỏi nhà, Xê-mi-ôn đã gọi ngay Nhi-cô-lai lúc ấy đang thơ thẩn ngoài đường, bảo:

- Ê, Nhi-cô-lai, gọi chị ra đây!

- Ha-ha, gọi à?... Chị ấy không có nhà. Bây giờ phải đến quá nửa đêm mới đi làm về. Anh hiểu chứ? - Nhi-cô-lai hỏi một cách đầy ý nghĩa. - Thế đấy, đừng tưởng.

Cái «đừng tưởng» ấy làm cho Xê-mi-ôn nóng mặt, như có ai lấy roi quất vào người. Bây giờ thì anh đã hiểu tại sao Vê-ra lại hoảng sợ rướn cặp lông mày khi A-lây-nhi-cốp xuất hiện, tại sao đôi mắt màu nâu của cô lại tròn ra như vậy! Cô ta đã... cô ta đã xỏ mũi anh, Xê-mi-ôn! Đã tìm cớ thuyết phục anh hoãn cưới lại, đến khi chiến tranh kết thúc! Đơn giản là cô ta đã tìm cách thoát khỏi tay anh...

Giây phút ấy Xê-mi-ôn hoàn toàn quên hẳn là chính anh đã hàng tuần lễ tìm cách tránh gặp mặt Vê-ra, là khi nghe Vê-ra lúng ta lúng túng đề nghị hoãn cưới, anh đã cảm thấy nhẹ hẳn người đi. Cảm thấy mình bị xúc phạm, Xê-mi-ôn chạy đến văn phòng huyện ủy, thậm chí chính mình không biết để làm gì.

Khu nhà huyện ủy chìm trong bóng tối, chỉ ở tầng hai, cửa sổ căn phòng bé nhỏ của Vê-ra là còn sáng: Ngước nhìn ô vuông có ánh sáng vàng nhợt, Xê-mi-ôn thở một cách nặng nhọc, tựa mình vào bờ rào được đóng bằng những tấm gỗ dày bao quanh nhà bí thư huyện ủy Cru-gi-lin, rồi để lưng trượt theo những tấm gỗ nhám, anh ngồi bệt xuống mặt đất ướt lạnh.

Dần dần, anh thở đều đều hơn, và khi bình tĩnh trở lại, sự buồn bực và tức giận cũng biến mất. Chỉ ở trong lồng ngực, sâu trong tim, anh cảm thấy một cái gì đấy âm ỉ buồn, chán nản, một cái gì đầy luyến tiếc, như cảm giác của một ước mơ hoặc hy vọng không thành đạt. Khi lần đầu tiên trong anh xuất hiện cảm tình đối với Vê-ra, anh đã nghĩ rằng những ước mơ và hy vọng không rõ ràng từng làm anh hồi hộp, xao xuyến từ ngày còn học ở trường phổ thông hình như đang bắt đầu trở thành hiện thực. Đã có những ngày, những tuần hay cả những tháng liền anh thấy mình lâng lâng như người say; còn đêm đêm, như giữa ban ngày, anh luôn thấy trước mắt mình đôi mắt có những chấm vàng đang nheo cười một cách huyền bí của Vê-ra, bộ ngực phập phồng thở gấp và đôi chân khỏe, đẹp của cô. Anh nhìn thấy cô - uyển chuyển, xinh đẹp, mà không thể đạt tới được.

Sau đó hóa ra đối với anh, cô là người hoàn toàn có thể đạt tới được. Có thể ve vuốt mái tóc mềm, xoăn thành từng túm nhỏ của cô, có thể hôn vào mắt cô. Và điều này lúc đầu cũng đã gây nên trong anh cả một cơn lốc tình cảm trong sáng và hạnh phúc. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh cũng biết thêm là anh có thể dễ dàng cởi cúc áo của cô, đưa tay mơn trớn cơ thể trần truồng của cô, như anh chàng lái buôn người Di-gan vuốt ve con ngựa cái ở chợ. Và cô, Vê-ra, cũng như con ngựa cái kia, đứng im, chỉ thỉnh thoảng rùng mình và thì thào không thành tiếng: «Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn... đừng». Miệng thì thầm, nhưng chính mình lại áp chặt người vào anh hơn. Chẳng phải giấu giếm gì, những lúc ấy Xê-mi-ôn rất thích thú khi cảm thấy cô run rẩy và thì thào như vậy. Tất cả những cái đó làm máu anh nóng rực, lý trí anh bị mờ dần. Và chỉ khi cảm thấy hai người đã mất hết mọi sự tỉnh táo, cô mới lấy hết những nghị lực cuối cùng, vùng khỏi tay anh. Nhưng bây giờ, khi hôn mắt cô và vuốt tóc cô, anh không còn cảm thấy những tình cảm hạnh phúc và trong sáng xưa kia nữa. Và chẳng bao lâu sau, mỗi lần, theo thói quen, cô áp chặt mình vào người anh, lồng ngực cô phập phồng một cách hồi hộp, anh đã bắt đầu cảm thấy một sự khó chịu mơ hồ và cuối cùng là một sự chán chường, khinh bỉ thật sự.

Bây giờ anh không còn lâng lâng đi khắp làng như người say, đêm đêm không còn mơ mộng gì nữa. Trong anh, một cái gì đấy đã sụp đổ, tan thành bụi, và đám bụi đó lắng xuống, bám vào tim anh. Kể ra, nhiều khi anh cũng có ý muốn không thể nào cưỡng nổi là được gặp Vê-ra, được ôm, được cảm thấy cái thân thể nóng bỏng của cô run rẩy dưới bàn tay ve vuốt của mình. Nhưng đó chỉ là một mong muốn thô bạo, và anh, Xê-mi-ôn, cũng hiểu như thế.

Dù sao anh vẫn không thể nào hiểu rõ Vê-ra. Anh thấy và biết rõ là Vê-ra, mặc dù cho phép anh cởi cúc áo ngực, vẫn sẵn sàng cấu xé anh để giằng thoát khỏi tay anh, dù phải bỏ lại các mảnh rách của áo quần mình trên tay anh, chứ nhất định không cho anh làm gì hơn. Nghĩa là cô ta là một cô gái trọng danh dự và nề nếp. Nhưng cái danh dự và nề nếp ấy, đối với anh, anh vẫn cảm thấy sao như hơi lạ lùng, nhơ bẩn và không tự nhiên lắm. Và thậm chí cả vào cái ngày đáng nhớ ấy, khi cùng với Vê-ra nằm trên đảo, giữa những bụi cây ngưu bàng, nghĩ: «Và cũng có thể đúng là chúng mình không thể sống thiếu nhau?» - anh đã mơ hồ biết trước rằng anh hoàn toàn có thể sống thiếu cô, và thậm chí có lẽ chắc chắn sẽ như thế, bởi vì... bởi vì Vê-ra cũng như một cốc nước ấm, có thể uống no được, nhưng không thể làm đỡ khát.

Bây giờ, ngồi trong bóng tối dưới bờ rào, Xê-mi-ôn nhớ lại sự so sánh kỳ lạ giữa Vê-ra và cốc nước ấm. Anh nhớ lại, cười khẩy và thầm trách mình: «Mình thật là một thằng ngốc, dẫn xác đến đây làm gì? Cô ta quan hệ với A-lây-nhi- cốp thì có việc gì đến mình?» Giữa anh, Xê-mi-ôn, và Vê-ra, tất cả đã kết thúc. Việc đó đã rõ ràng rồi. Anh chỉ tò mò muốn biết một điều là nếu Vê-ra có một ý định gì đó nghiêm túc với A-lây-nhi-cốp, tại sao cô ta lại giận dỗi khi Xê-mi-ôn ít gặp cô ta? Cô ta cần gặp để làm gì? Hay cô ta chưa thật tin chắc là A-lây-nhi-cốp định đặt vấn đề nghiêm túc, vì vậy mà không muốn cắt đứt cả với ông ta lẫn với Xê-mi-ôn?

Anh thấy ý nghĩ này khá thú vị. Chính Vê-ra, chứ không phải một người nào khác, có lần đã nói với Xê-mi-ôn: «Cuộc đời sẽ dễ dàng đối với những ai biết chiếm lấy những gì mình muốn mà không cần suy nghĩ. Phải tóm lấy thật chắc...» Vâng, chính cô ta là người như thế, và có lẽ đó là điều mà anh luôn luôn không thích trong cô, chính cái tính toán trên và những tính toán tương tự đã dần dần đầu độc, phá sụp những ước mơ và hy vọng trong sáng, hồi hộp sinh ra trong mối tình đầu của anh. Và nếu... nếu quả đúng như thế, nếu Vê-ra vì sợ con cá rô lớn có thể tuột khỏi tay, mà chưa muốn quẳng con cá chép nhỏ hơn bắt được trước đó xuống nước, thì tâm hồn của cô ta đê tiện và nhỏ bé đến chừng nào! Thế mà anh, một thằng ngốc, cho đến bây giờ vẫn chưa hoàn toàn phanh phui được nó ra! Đúng, cần phải tìm hiểu kỹ xem sự thể như thế nào. Nhưng bằng cách nào? Theo dõi cô ta và A-lây-nhi-cốp? Không, làm mật thám thì đốn mạt quá! Nếu vậy, làm thế nào để biết được? Hỏi Nhi-cô-lai à? Thằng nhãi ấy khéo lại phịa ra đủ chuyện! Vả lại, nếu chỉ nghe lời người khác thì có bao giờ biết được sự thật?

Trong bóng tối của đường phố xuất hiện một hình người. Có tiếng bước chân đang đi lại. «A-lây-nhi-cốp», - Xê- mi-ôn chợt nghĩ, người nóng rực. Anh ép chặt lưng hơn nữa vào bờ rào. Nhưng một giây sau anh đã biết đó không phải là A-lây-nhi-cốp. Người kia vừa đi dọc phố vừa vui vẻ huýt sáo. Còn A-lây-nhi-cốp, anh biết, sẽ không bao giờ huýt sáo - ông ta là người quá nghiêm túc đối với việc đó...

Xê-mi-ôn thu mình dưới bờ rào, hy vọng người kia sẽ không nhận thấy, mà nếu có nhận thấy thì cũng vội vã đi ngay. Trời đã tối và vắng vẻ, trong làng, từ khi có những người sơ tán đến ở, trở nên bất an.

Tới ngang chỗ Xê-mi-ôn ngồi, người kia ngừng huýt sáo.

- Ê, anh kia, - anh ta khẽ gọi, - làm gì ở đấy? Say à? Nào, đứng dậy!

Xê-mi-ôn nhận ra giọng nói của I-u-ri Xa-vê-li-ép. «Can đảm đấy...» - anh nghĩ. Thấy ngồi im lúc này là một sự ngu ngốc, anh đứng dậy.

Xê-mi-ôn làm quen với I-u-ri một tuần hay mười ngày gì đấy, sau khi anh ta đến đây. Một hôm, đang bốc gỗ chở từ ga về sân nhà máy, Xê-mi-ôn thấy một cậu thanh niên mũi quặp, mái tóc màu sáng như của anh, đang đứng cạnh máy kéo.

- Này, anh kia, đi khỏi đây đi kẻo gỗ lăn xuống gãy chân bây giờ! - Xê-mi-ôn kêu to.

- Còn anh, nghe nói là Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép phải không? - anh chàng kia lại gần, đưa cặp mắt xanh chăm chú nhìn Xê-mi-ôn.

- Thì sao? Lui ra nào, nghe không?

- Tớ cũng họ Xa-vê-li-ép, tên là I-u-ri. Chúng ta là anh em họ hàng với nhau đấy. Giám đốc nhà máy là bố tớ. Nào, ta làm quen với nhau.

Rồi họ bắt tay nhau, người này tò mò nhìn người kia. Lúc đấy I-u-ri đang vội vì ca đêm sắp bắt đầu. Trước khi chia tay, I-u-ri bảo Xê-mi-ôn là anh rất mừng được gặp nhau, và thế nào họ cũng sẽ còn gặp nhau, nói chuyện. Nhưng từ đấy đến giờ hai người vẫn chưa gặp lại. Suốt thời gian ấy, họ chỉ thoáng thấy nhau hai ba lần, cũng ở bãi bốc dỡ gỗ nọ, và lần nào I-u-ri cũng muộn giờ, vừa chạy vừa vẫy tay chào Xê-mi-ôn. «Người đâu mà lúc nào cũng vội vội vàng vàng, - Xê-mi-ôn nghĩ bụng. Và anh, không hiểu sao, đi đến kết luận: - Những con người như thế sẽ sống lâu, vì cả khi chết họ cũng đến muộn».

Rời bờ rào, Xê-mi-ôn bước lại gần I-u-ri. I-u-ri khẽ lùi lại, đứng thủ thế cản thận.

- Tôi, Xê-mi-ôn đây, đừng sợ...

- À, - I-u-ri khẽ kêu lên sung sướng, - cậu làm gì ở đây?

- Ngồi nghỉ. Chơi thế thôi...

- Thế mà mình cứ nghĩ: anh quái nào lại bám lấy bờ rào nhà bí thư huyện ủy Cru-gi-lin thế này? Lúc đâu mình tưởng con bê hay con chó. Nhìn kỹ hóa ra không phải - người...

- Tôi thấy anh cũng không phải nhát gan lắm.

I-u-ri đi ủng, quần bó trong thắt lưng hơi phồng lên, áo khoác ngoài mỏng để hở ngực, người thoảng mùi nước hoa. Xê-mi-ôn lấy làm lạ là cuối cùng cũng có lúc I-u-ri không phải đi đâu vội, mà có thể bình tĩnh đứng nói chuyện.

- Anh đi đâu đấy? - Xê-mi-ôn hỏi.

- À, có chút việc, - I-u-ri nhếch mép cười. - Đằng kia, Un-đi-na sống một mình. Một cô ả tuyệt diệu, khỉ thật. Nhất là khi ả để xõa tóc. Ôi! - I-u-ri thậm chí còn lắc đầu, chắc là vừa nhớ lại một điều gì đó. - Dễ đến ngợp trong mái tóc ấy mất. Ngợp, cậu biết không, và chết lịm trong đó.

I-u-ri đứng sang bên cạnh, giữa vệt sáng của ánh điện hắt ra từ cửa sổ, nhìn đồng hồ.

- Mải nói chuyện với cậu, quên mất, - anh ta nói, vẻ vội vã. - Cô ả, đúng là một mụ phù thủy tóc dài, rất thích đúng giờ. À mà này, hay cậu đi với mình? Cô ả còn có một cô bạn gái nữa.

- Không, I-u-ri ạ. Tôi ở đây, anh biết không, cũng đang đợi...

- À, ra thế... Mình cũng đoán vậy... Thôi được, mình đi nhé. Thế nào ta cũng phải gặp nhau nữa, Xê-mi-ôn ạ, để chuyện gẫu về cuộc sống. Cậu tranh thủ lại mình chơi. Nhà mình - mình, bố mình và mẹ mình - sẽ rất mừng được đón cậu. Cuối cùng thì cũng phải có lúc làm quen với nhau chứ...

Câu cuối cùng I-u-ri đã phải vừa đi vừa ngoái lại kêu to. Anh ta cố chạy nhanh để bù lại số thời gian vừa để mất, và chẳng bao lâu đã mất hút trong bóng tối. «Người anh em này của mình sống có vẻ dễ dãi đấy», - Xê-mi-ôn nghĩ bụng, chẳng phê phán cũng chẳng ác cảm, mà với một vẻ lãnh đạm, hờ hững.

Xê-mi-ôn quay lại bờ rào, ngồi xuống chỗ cũ, suy nghĩ xem nên làm gì tiếp - về hay chờ Vê-ra? Và trong khi anh đang phân vân, ánh đèn trong cửa sổ tầng hai bỗng tắt. Lập tức, ngoài đường phố trở nên tối hẳn... «Thế... thế... thế đấy... - một cái gì đó đau nhói, đầy lo âu gõ mạnh trong đầu anh. - Để xem từ văn phòng huyện ủy, Vê-ra đi ra một mình hay có người tiễn?..»

Chiếc cánh cửa dẫn vào phòng rít lên rồi hé mở. Trên bậc cửa cao bằng gỗ, có tay vịn của ngôi nhà đứng bên kia đường, đối diện ngay với chỗ Xê-mi-ôn ngồi, có một người nào đấy đang đứng giẫm chân tại chỗ.

- I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích đấy à? - Vê-ra khẽ gọi.

«Thế đấy, thế đấy, - tiếng gõ trong đầu của Xê-mi-ôn càng mạnh hơn trước. - Đấy, đấy, đã biết mà...»

Một người nào đấy bước vội, gần như là chạy, ngang qua khu vườn nhỏ trước văn phòng huyện ủy. Đồng thời có tiếng gót giày của Vê-ra chạy xuống các bậc cầu thang của cửa ra vào.

- Thế mà em cứ nghĩ là anh đã đứng đợi từ lâu, -Vê-ra nói giọng hơi khô khan. - Từ khi em gọi điện đã được nửa giờ rồi.

- Xin lỗi, Vê-ra ạ, - A-lây-nhi-cốp nói. - Khi em gọi, anh có mấy việc gấp cần làm. Nhưng dù sao, anh cũng đã kịp làm xong. Và đấy, em xem... Anh vội chạy lại đây, như một cậu bé.

- Còn em thì không biết phải làm gì - đi về nhà hay ngủ luôn tại văn phòng. Thôi ta đi. Hôm nay quá nhiều việc thật...

Và họ, vừa đi vừa thì thầm nói chuyện với nhau.

Xê-mi-ôn đứng trầm ngâm nhìn về phía tiếng nói của Vê-ra và A-lây-nhi-cốp vừa im bặt. Thật kỳ lạ - anh cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm và thoải mái, đúng như đêm anh và Vê-ra thỏa thuận với nhau hoãn lễ cưới cho đến khi chiến tranh kết thúc.

* * *

Đôi với Vê-ra, Xê-mi-ôn không cảm thấy căm thù cũng như khinh bỉ. Tất cả những tình cảm trước đây có lúc tràn ngập lòng anh, bây giờ đã lắng xuống, đã chết hẳn, như thể những sợi khói yếu ớt cuối cùng của đống lửa sắp tàn bị gió thổi bay đi, tan biến. Anh trở nên vui hơn, yêu đời hơn, thường ngồi trong ca-bin máy kéo ầm ừ hát một bài gì đó. Thỉnh thoảng, trên đường đi làm về nhà hoặc ra ga, anh vẫn gặp Vê-ra. Đôi khi bước ra sân, anh còn nhìn thấy cô đội khăn đứng bên kia bờ giậu ngăn cách hai khu vườn nhà họ. Anh vẫy tay chào cô, vui vẻ nói:

- Vê-ra, chào... chào...

Rồi bỏ đi ngay hay vào khuất trong nhà.

Lúc đầu Vê-ra cũng mỉm cười chào lại, cũng vẫy tay, nhưng sau nhận thấy trong cách cư xử của Xê-mi-ôn có một cái gì đấy không bình thường, cô bắt đầu trở nên đề phòng, và trong đôi mắt hơi dài của cô thoáng có vẻ lo lắng.

- Xê-mi-ôn... Xê-mi-ôn! - mấy lần cô định giữ anh lại.

- Bận quá, bận quá, Vê-ra ạ... - Xê-mi-ôn nói, vẫn không dừng lại.

Vào cái ngày, khi Nhi-cô-lai chạy bổ từ ngoài phố về báo tin An-đrây Xa-vê-li-ép đã trốn ra mặt trận, còn Đi-ma thì chạy ra ga với hy vọng đuổi kịp em, Vê-ra cũng liền vội vàng chạy theo.

Việc cô xuất hiện ở nhà ga làm Xê-mi-ôn bực mình.

- Cô ra đây làm gì? - anh hỏi, gần như quát lên sỗ sàng.

- Không làm gì cả... Em muốn giúp mọi người tìm...

- Hừm, bây giờ có mà đi tìm nó!

Họ lục lọi khắp nhà ga, tìm kiếm nhiều lần tất cả các toa tàu, xem xét hết các bãi để hàng, nhìn vào tận từng hòm hàng, từng đống gạch, từng hộp giấy đựng xi-măng, gỗ dán. Mệt lử, họ ngồi xuống nghỉ trên chiếc ghế dài cũ đã đen bóng lại trong ngôi nhà ga vắng người,

- Thằng bé láo thật, - anh công an A-nhi-cây Ê-li-da-rốp lò dò đi đi lại lại trên sân ga như một con cò, nói. - Với tôi nó cũng... không sao, đừng hòng thoát khỏi tay cổng an.

Và vươn dài cổ trên chiếc cổ áo quân phục rộng, Ê-li-da-rốp bước ra đường xe.

Vê-ra và Xê-mi-ôn ngồi cạnh nhau trên chiếc ghế dài. Vẻ mặt Xê-mi-ôn cau có.

- Anh Xê-mi-ôn... - Vê-ra thận trọng nói, cô gỡ chiếc khăn trùm trên đầu xuống, quấn quanh bàn tay để người ngoài không thấy những ngón tay đang run lên. -Em biết rằng anh giận vì cái lão A-lây-nhi-cốp này... Nhưng em thì có lỗi gì ở đây?.

- Thiếu gì lúc để nói! - Xê-mi-ôn cau có nói to,

- Nhưng làm sao em tìm được lúc nào... tốt hơn, nếu anh cứ tránh mặt em hoài thế?

- Thôi, đủ rồi! - Xê-mi-ôn gay gắt nói và đứng dậy, nhưng Vê-ra đã ôm chặt lấy, bám treo trên vai anh. - Cô làm cái gì thế. Mọi người kìa...

- Mặc mọi người... Em không cho anh đi đâu... Để em kể đã. Em cần phải kể.

- Thôi được, - Xê-mi-ôn nói khẽ và giận dữ. – Kể đi, hứa từ lâu...

Hai người lại ngồi xuống. Vê-ra mân mê vò nát chiếc khăn trong tay như muốn xé nát nó ra từng mảnh.

- Đấy... A-lây-nhi-cốp đến nhà em, xin hỏi... Chẳng lẽ em có lỗi à, anh Xê-mi-ôn? Thì ra ông ta đã từ lâu chú ý đến em... Đầu tiên như thế nào à? Gặp nhau ở huyện ủy, ông ấy như đốt cháy em bằng đôi mắt dưới đôi lông mày rậm. Rồi cứ hay lui tới phòng em. Đến rồi đứng im lặng cạnh cửa sổ, em lo hết hồn: em nghĩ, không biết cái ông này muốn gì? Và đấy, ông ta đến nhà. Tim em như bị cóng lại...

Vê-ra nói, mắt không nhìn Xê-mi-ôn, hấp tấp nuốt cả lời. Má và tai cô đỏ lựng lên màu huyết dụ.

- Thế... sau đó rồi sao! - Xê-mi-ôn nhìn đôi tai đỏ lựng của cô, hỏi.

- Đấy, cái chính là sau đó rồi sao? Nói thẳng vào mặt ông ta, rằng ông hóa rồ, rằng ông là một thằng già à? Nói thế à?

- Thì cứ cho là như vậy.

- Nhưng em sợ, anh Xê-mi-ôn ạ... - Và cô thở dài, - Lạy Chúa, em sợ. Phải biết ông ta là ai mới được chứ?! Em còn nhớ ông ta bắt chú I-van của anh ở Mi-khai-lốp-ca đi như thế nào, cả cha của Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va nữa... Em còn nhớ hết. Và khi... khi ông ta tiễn em lúc đi làm về, em đi dở sống dở chết...

- A-a... Thế nghĩa là vẫn gặp nhau à?

- Vâng, - Vê-ra thản nhiên nói. - Thỉnh thoảng ông ta cũng có đưa em về khi em phải làm việc muộn. Hình như ông ta đoán được, hôm nào em về muộn. Đứng đợi ngoài đường. Ngượng, không muốn vào văn phòng huyện ủy.

- Đợi... Thế khi đi, nói những chuyên gì?

- Không nói gì cả. Ông ta im lặng, em cũng im lặng. Cứ thế đi.

- Thế còn... ông ta có biết chúng mình... Ông ta có biết về anh không?

- Có biết... Có lần em nói: «Tôi có một người bạn, chúng tôi chuẩn bị cưới».

- Ông ta bảo sao?

- Ông ta im lặng, anh Xê-mi-ôn ạ.

- Đúng là em có một ông chồng chưa cưới kỳ quặc thật đấy, - Xê-mi-ôn giễu cợt nói.

- Đúng là kỳ quặc thật. Em đã nói với anh mà, việc này chỉ là một trò cười. Mà nó cứ kéo dài. Em như bị vướng vào một mớ rối tinh lên.

- Thế em định gỡ cái mối đó ra như thế nào? - Xê-mi-ôn tò mò hỏi.

- Chẳng thế nào cả... Tự ông ta không bao lâu nữa sẽ thôi. Em cảm thấy ông ta càng ngày càng ngượng nghịu với em. Em thì vừa đôi phải lứa gì với ông ta? Chẳng lẽ ông ta không hiểu à? Thế mà anh lập tức tránh xa em... Làm sao anh có thể nghĩ rằng em lại đổi anh để lấy một ông già?

- Cứ cho là như vậy đi, - im lặng một lát, Xê-mi-ôn nói. - Nào, nhìn thẳng vào mắt anh đi...

Vê-ra ngẩng đầu lên. Màu đỏ trên má, trên tai cô đã tan hết. Cô nhìn Xê-mi-ôn bằng một ánh mắt trong trẻo, hơi ngạc nhiên.

- Thế nghĩa là ông ta đoán được khi nào em phải về muộn? Hay là em cố ý về muộn?

- Anh nói gì vậy, Xê-mi-ôn?! - Đôi lông mày mỏng và dài của cô bắt đầu uốn cong lại.

- Hay là em tự mình gọi điện cho ông ta đến để... đưa em về?

- Xê-mi-ôn, anh nói sao? - cô giận dữ kêu lên, đôi lông mày đã uốn thành hình vòng cung, nhưng rồi lại giãn thẳng ra, cặp môi mím lại hờn dỗi.

Xê-mi-ôn muốn hét to lên rằng cô ta nói dối, rằng quan hệ của cô với A-lây-nhi-cốp hoàn toàn không như cô ta nói, muốn kể lại việc cách đây ít lâu anh ngồi ở bên hàng rào và nghe được câu chuyện của cô ta với A-lây-nhi-cốp. Nhưng, bắt gặp ánh mắt ngạc nhiên và đôi lông mày cong, cặp môi hờn dỗi của cô, anh bỗng quyết định rằng không cần thiết phải nói những chuyện ấy làm gì; rằng như vậy sẽ lại phải nghe một sự giải thích rối rắm, dài dòng? Và anh khẽ nói, thản nhiên, và tự anh ngạc nhiên bởi sự thản nhiên, rõ ràng của những lời anh nói:

- Tôi không yêu cô đâu, Vê-ra ạ.

Cô chớp mắt một-hai lần. Đôi lông mày của cô lại uốn cong lên, trong đôi mắt những đốm vàng lấp lánh.

- Sao?

- Thế đấy. Và chưa bao giờ yêu.

- Anh... Anh nói gì vậy? - Vê-ra mở to mắt, cuối cùng trong đôi mắt đó cũng hiện ra vẻ ngơ ngác.

- Tôi tưởng rằng yêu. Nhưng thực ra tôi không yêu. Mà cô cũng không yêu.

Anh đứng dậy. Vê-ra lùi ra tận cuối ghế như thể đợi Xê-mi-ôn đánh. Đôi tay cầm chiốc khăn vò nhàu ép sát trước ngực.

- Và cô, Vê-ra ạ, không bao giờ cô có thể yêu ai được. Cô không yêu tôi, không yêu A-lây-nhi-cốp hoặc bất cứ một ai khác... Vì rằng cô chẳng có gì để yêu.

- Không có gì là thế nào? Tại sao lại không có gì?!

- Tại sao thì tôi không biết... Tôi chưa thể giải thích được điều này...

Và anh đi ra ke ga, để cô ngồi lại trên chiếc ghế đi-văng bẩn thỉu của nhà ga. Vê-ra vẫn ngồi trong tư thế của đôi tay ép sát vào ngực, cặp mắt dài có những đốm màu vàng mở to ngơ ngác.

* * *

I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích A-lây-nhi-cốp làm cho Ki-ri-an I-nhi-u-chin và vợ là An-phi-xa sợ hết hồn khi ông bất ngờ xuất hiện ở nhà họ:

«Thế là hết!.. Ông ta đến hỏi mình về tội của cha...» - I-nhi-u-chin lạnh toát người nghĩ.

Cha của anh, lão Đê-mi-an cụt chân, hồi nội chiến đi vào rừng cùng toán phỉ của Mi-khai-in Cáp-ta-nốp, làm quản lý, theo lời kể của những tên phỉ bị bắt làm tù binh, bị một người nào đó ban đêm dùng búa hoặc đầu rìu đánh vào thái dương giết chết và ném xác vào nhà kho. Việc xảy ra ở làng Lu-nhe-vô nằm sâu trong rừng tai-ga hoang vắng. Ki-ri-an nghe những câu chuyện này với một tình cảm lẫn lộn giữa sự nhẹ nhõm và lòng thương tiếc, nhưng nói với mọi người: «Thế cũng đáng đời ông ta». Nhưng từ ngày I-van Xa-vê-li-ép bị bắt, anh bắt đầu lo lắng thật sự là người ta có thể hỏi tội anh về cha, và nhiều năm dài anh sống trong nỗi sợ hãi: nếu bỗng nhiên I-a-cốp A-lây-nhi-cốp đến thì sao?

Phê-đô Xa-vê-li-ép biết nỗi sợ hãi thường xuyên này của Ki-ri-an, ông không vừa ý, nhiều lúc nói gay gắt nhưng với vẻ thông cảm, bao dung:

- Việc gì mà cậu run thế.., Có ai hỏi tớ về chuyện của thằng I-van đâu? Chúng ta thì có liên quan gì tới chuyện thằng em tớ và cha cậu đầu toàn phân ngựa? Chẳng lẽ anh ta, A-lây-nhi-cốp ấy, không hiểu hay sao? Nếu như cha cậu còn sống, ông ta sẽ phải tự mình chịu tội, như thằng I-van ấy...

Ki-ri-an đồng ý với Phê-đô, nhưng anh vẫn đợi I-a-cốp. Và giờ đây ông ta đã đến...

- Chào cả nhà. Tôi chỉ đến chơi... tức là chẳng phải đến chơi... Tôi muốn nói chuyện về Vê-ra, - A-lây-nhi-cốp vụng về ngồi xuống chiếc ghế đẩu, nói.

Ki-ri-an, An-phi-xa và cả Vê-ra mãi rất lâu không hiểu A-lây-nhi-cốp nói gì. Họ nghe lời của ông ta, nhưng không đủ sức để hiểu được nghĩa của chúng. Cuối cùng Vê-ra kêu lên một tiếng như bị ai chẹt ngang cổ, hai tay ôm lấy mặt, chạy vụt từ ngoài bếp vào phòng mình, dùng then cửa khóa chặt cửa lại, tựa lưng vào cánh cửa. Đầu cô nóng bừng như bốc lửa, khắp người co giật, trống ngực đập thình thình. Mỗi tiếng tim đập lạI-vang lên trong đầu như chuông gõ bên tai, nhức nhối.

Khi cảm thấy A-lây-nhi-cốp đã ra về (cô không nghe tiếng, mà đúng là chỉ cảm thấy) cô liền mở toang cánh cửa. Cha cô đang lấy tay lau mồ hôi đẫm trên trán, còn mẹ ngồi như đang trong cơn mê trên chiếc ghế đẩu mà A-lây-nhi-cốp vừa mới đứng dậy, hai má ửng một màu hồng nhợt, bệnh hoạn, đôi mắt buồn rầu, sợ sệt. Không nói lời nào, Vê-ra chạy đến bên mẹ, úp mặt vào ngực mẹ, khóc nấc lên.

- Đấy, đúng hệt như trong phim, - Ki-ri-an nói. - Và không hiểu anh ngạc nhiên bởi cuộc ăn hỏi bất ngờ hay vì thấy hai mẹ con ôm nhau.

Đêm ấy, An-phi-xa nằm ngủ cùng con gái, Vê-ra im lặng dịch ra lấy chỗ cho mẹ.

Gần như đến tận sáng họ không ngủ, nằm im nhìn vào bóng tối, thay phiên nhau thở dài.

- Làm sao bây giờ, con? - cuối cùng người mẹ hỏi.

- Con không biết, - Vê-ra nói bằng một giọng thản nhiên một cách bất ngờ.

An-phi-xa rùng mình như bị ai phun một tia nước lạnh lên người. Còn Vê-ra vẫn tiếp tục nói, bình tĩnh, không vội vàng, như thể đang cân nhắc xem nên may áo mới bằng loại vải nào:

- Ông ta, A-lây-nhi-cốp ấy, đã già rồi, và... Và nói chung con sợ ông ta. Khi ông ta đến huyện ủy, khắp người con cứ nổi hết gai ốc lên. Con nghĩ, không hiểu sao cái ông này cứ nhìn mình thế này? Hóa ra ông ta ngắm đích... Nhưng con còn có Xê-mi-ôn, mẹ ạ... Chúng con đã bàn với nhau về chuyện cưới rồi.

- Thế con có yêu anh ta, Xê-mi-ôn ấy không? - An-phi- xa hỏi bằng một giọng thì thầm rin rít và giận dữ.

- Còn sao nữa? Chúng con đã quyết định xong cả rồi mà.

- Thế thì sao lại còn tính toán? Và thở dài... Và nói chung?

- Con thở dài cái gì? Nói chung cái gì?

- Thì mẹ cũng hỏi: cái gì?

Vê-ra trở mình, chống tay ngồi dậy, như thể cô nằm không tiện.

- Con không hiểu mẹ nói gì.

An-phi-xa chỉ nặng nề hít không khí vào và nằm im lặng rất lâu.

Mảnh trăng cuối tháng ló lên, ánh trăng nhợt nhạt chiếu qua cửa sổ, những núm tròn mạ kền trên đầu chiếc giường sắt hắt sáng mờ mờ, yếu ớt như có thể tắt bất cứ lúc nào.

-Tình yêu, nó có nhiều loại khác nhau lắm, con ạ, - An-phi-xa bỗng đột ngột nói. Bây giờ giọng nói của mẹ lại làm cho Vê-ra ngạc nhiên. Nó buồn, như nuối tiếc một cái gì đó. Và Vê-ra nghĩ rằng con mắt của mẹ giờ chắc cũng rầu rĩ như lúc chiều, khi mẹ ngồi trên chiếc ghế đẩu sau khi A-lây-nhi-cốp đi khỏi. - Khi mặt trời chiếu vào cửa sổ, những núm sắt này phải sáng chói nhìn đến nhức mắt. Thế mà bây giờ, con nhìn xem, chỉ sáng lên mờ mờ, nhợt nhạt như sắp tắt.

- Mẹ định nói chuyện gì vậy?

- Mẹ đang nghĩ xem tình yêu của con đối với Xê-mi-ôn là loại tình yêu nào? Nó có chân thực hay là...

- Thôi đi! - Vê-ra kêu lên. - Con có hỏi tình yêu của mẹ đối với cha như thế nào đâu...

An-phi-xa lại nặng nề thở dốc, ngực dâng cao lên rồi lại xẹp xuống như quả bóng lúc bơm.

- Và cha của ai nữa, của con hay của anh Xê-mi-ôn, - Vê-ra nói tiếp một cách cay độc.

- Mày... ngu lắm! - An-phi-xa quay phắt lại, đưa tay sờ lên mặt con gái và lấy bàn tay khô nóng bịt miệng Vê-ra lại.

- Mẹ tưởng con không biết gì hết đấy à? - cô giận dữ hất tay mẹ ra. - Còn bé dại gì nữa!

Giường bắt đầu khẽ rung lên, và Vê-ra hiểu rằng mẹ đang khóc không thành tiếng. Cơn tức của Vê-ra biến mất, và cô lại cảm thấy thương hại mẹ.

- Thôi đi, mẹ... Con xin lỗi mẹ, con không muốn thế...

An-phi-xa nín khóc, và hai mẹ con lại nằm im lặng rất lâu.

- Mẹ biết rằng con không còn nhỏ dại nữa, và con biết hết... - An-phi-xa bắt đầu nói bằng một giọng đau khổ. - Nhưng con biết gì về tình yêu của mẹ? Con không biết tí gì cả... Và không một ai biết... Người ta thường nói về mẹ... «Con mẹ An-phi-xa nhẹ dạ...» Nhưng mẹ đâu phải người như thế. Mẹ biết làm gì, nếu như... nếu như không thể xua đuổi được anh ta, cái con người đáng nguyền rủa ấy, ra khỏi tim mình? Mẹ xấu hổ với mọi người, với các con, với con cái của mình. Mẹ không thể...

An-phi-xa lại khóc thút thít, và họ dường như đổi vai cho nhau: An-phi-xa trở thành con gái của Vê-ra, và ngược lại, Vê-ra trở thành mẹ. Vê-ra vừa an ủi, vừa lấy tay xoa lên mái đầu nóng bừng, lên đôi vai trần của mẹ.

- Và anh ta, cái đồ ăn bám ấy, lợi dụng cái đó, - An-phi- xa nói tiếp. - Và vì vậy mà cả ba người: mẹ, vợ Phê-đô- An-na và Ki-ri-an sống khốn khổ. Sống để làm gì, đau khổ về cái gì? Không ai biết. Mà An-na là một người đàn bà tốt. Và cha của con cũng là một người tốt. Vê-ra ạ, thậm chí con không biết cha của con tốt đến như thế nào đâu... Phê-đô không xứng một ngón tay út của cha con.

- Con không biết, mẹ ạ... Con không nhận thấy thế, Vê-ra thành thật thú nhận. -Còn con cứ nghĩ rằng cha là một người đần độn, chè rượu.

- Ở với mẹ, cha con may mà mới chỉ trở nên đần độn, rượu chè... Mẹ vẫn còn lấy làm ngạc nhiên là cha con chưa hóa điên lên. Bởi vì cha con yêu mẹ đến mất trí.

- Mẹ nói sao?! - Vê-ra thậm chí còn phá cả ra cười. - Điều này thì con không tin được,

- Mẹ biết là cha con yêu... Vì vậy mới chịu đựng những sự... hư đốn của mẹ. Vì sự chịu đựng đó, mẹ hứa: tôi sẽ chỉ đẻ con với anh, điều này không phải nghi ngờ gì cả. Còn ngoài ra - xin hãy lượng thứ! Và không được động đến Phê-đô. Nếu anh động đến Phê-đô, dù chỉ một ngón tay - tôi sẽ bỏ anh ngay. Và cha con không động đến. Và với mẹ, lúc đầu cũng tha thứ cho hết, cắn răng lại, nhưng chịu đựng. Rồi sau đó bắt đầu đánh. Cha con uống rượu say, rồi đánh mẹ đến nửa sống nửa chết. Nhưng mẹ chịu đựng. Bởi vì mẹ hiểu cha con phải chịu như thế nào...

Vê-ra nằm nghe, mỗi lúc một kinh ngạc bởi những mối quan hệ phức tạp, sâu sắc vô cùng của con người.

- Nhưng tại sao lại thế, mẹ? - cô khẽ thì thào hỏi. - Mẹ yêu như vậy từ bao giờ? Tại sao? Vì cái gì?

- Bao giờ? Tại sao? Vì cái gì? - An-phi-xa lặp lại câu hỏi. - Chẳng lẽ có thể giải thích được điều này ư? Tất cả chằng buộc xoắn xuýt với nhau thành một cục rối tinh lên, bây giờ không thể nào tháo gỡ, chặt đứt ra được nữa. Và cũng chẳng làm thế để làm gì. Nếu như Phê-đô cưới mẹ thì chắc mọi việc đã tốt đẹp. Nhưng anh ta lại lấy An-na. Và mẹ cũng không biết nữa, vì tức giận hay vì thất vọng mà lấy Ki-ri-an.

- Thế khi mẹ lấy cha, mẹ có... yêu cha không? - Vê-ra khe khẽ, trầm ngâm hỏi. Và cảm thấy như mẹ đang ngập ngừng, có lẽ để suy nghĩ về câu hỏi của mình vừa đặt ra, Vê-ra tiếp: - Dù ít nhưng có yêu không?

- Một ít thì có lẽ có. Nhưng mẹ còn chưa biết là mình yêu Phê-đô đến như vậy. Họặc là có thể mẹ nghĩ rồi nó sẽ qua đi, vết thương trong tim chảy máu ít nhiều rồi sẽ lên sẹo, phủ tro bụi... Nhưng không ngờ nó lại cháy bùng lên to hơn. Nếu không thì sao mẹ lại đi lấy cha con? Và nói chung, lấy một người nào khác...

Hai mẹ con đều nằm ngửa, nói chuyện thì thầm, và cả hai đều nhìn những núm sắt mạ kền đầu giường hắt ánh trăng sáng lên mờ mờ trong bóng tối. Nhưng bỗng nhiên, chúng theo nhau tắt đi rất nhanh - có lẽ mặt trăng đã xuống quá thấp và ánh trăng bây giờ không còn chiếu vào cửa sổ nữa.

- Con ạ, mẹ chưa bao giờ nói với con những chuyện như thế, - An-phi-xa nói tiếp khi những núm sắt mạ kền đã tắt hẳn. - Còn bây giờ, mẹ thấy con cứ nằm thở dài.

- Thì sao nữa? Nhưng dù sao vẫn buồn cười - già mà còn yêu...

- Đừng nói dối, Vê-ra! - An-phi-xa nghiêm giọng nói, - Ông già này lại là A-lây-nhi-cốp! Khắp trong huyện này không có ai đáng sợ hơn ông ta. Và mẹ cảm thấy trong lòng con đang dao động trước một sự cám dỗ.

- Dao động nào? Cám dỗ nào? - Vê-ra kêu lên gần như với một sự tức giận thật sự. - Mẹ bịa ra cái gì thế?

- Mẹ không bịa đâu, Vê-ra ạ, - An-phi-xa thở dài. -Nói chung trong lòng con nhiều quanh co lắm.

- Lạ thật... Con không biết trong lòng con thẳng hay quanh co. Mà mẹ lại biết...

- Người ngoài bao giờ cũng rõ hơn. Nói chung, con coi chừng đấy... Đừng có mờ mắt, rồi sau lại hối tiếc, nếu như quả thật tình yêu của con đối với Xê-mi-ôn là chân chính.

- Thế có tình yêu chân chính à?

An-phi-xa dường như nín cả thở. Vê-ra vẫn tiếp tục nói, mỉa mai, cay độc:

- Và thế nào là chân chính? Mẹ chạy theo cha của Xê-mi-ôn và cho rằng đấy là tình yêu chân chính... Nhưng thực ra không phải thế, thực ra đơn giản hơn nhiều. Đó chỉ là mẹ bị quyến rũ bởi một người đàn ông khỏe mạnh, may mắn và khôn ngoan hơn trong cuộc sống mà thôi. Mẹ chạy theo người ta vì cáu giận rằng đã lấy phải một kẻ nhu nhược nào đó, chứ không phải đàn ông. Để mà trả thù...

- Vê-ra! - An-phi-xa ngồi bật dậy trên giường.

- Vê-ra cái gì? - Và Vê-ra cũng ngồi dậy. - Gì mà kêu ầm lên thế, cả nhà dậy hết bây giờ.

An-phi-xa ngồi im một lúc, lặng lẽ ngả người xuống gối, kéo chăn lên đến tận cổ.

- Thì ra mày đã lớn lên thành người như thế đấy? Thế mà tao ngốc nghếch, chẳng biết gì cả...

- Thì bây giờ biết đi, - Vê-ra thản nhiên nói.

An-phi-xa nằm im lặng thêm chừng mươi - mười lăm phút, rồi bỏ chân xuống giường.

- Thế... mày sẽ làm sao với Xê-mi-ôn bây giờ?

- Cái gì với Xê-mi-ôn? Nếu như có gì thì cũng chẳng chết đâu... Nhưng con đã nói rồi, còn chưa biết, để còn xem.

An-phi-xa lại thút thít.

- Lại khóc... - Vê-ra cười nhạt nói. - Việc gì mà mẹ phải xúc động thế? Đâu phải việc của mẹ...

- Sao mày có thể... Sao mày có thể? - An-phi-xa không nói hết câu, nấc lên rồi im lặng, nhưng Vê-ra đã hiểu ngay ý mẹ.

- Con có thể thế đấy... Vì rằng Xê-mi-ôn... Trước đây con nghĩ rằng anh ta giống cha... Anh ta cũng có vẻ giống cha, nhưng lại giống cha con... Khi hiểu được điều này, con nghĩ có lẽ cần phải hoãn cưới lại... Hơn nữa, lại đang chiến tranh. Nói chung đã thỏa thuận hoãn. Nhưng dù sao con cũng không muốn cắt đứt hẳn với anh ta... Hiện tại chưa muốn, Và bây giờ lại còn cần phải xem kỹ hơn, A-lây-nhi-cốp là con người như thế nào...

An-phi-xa đợi cho con gái nói xong, im lặng, rồi đứng dậy đi vào bếp, về giường của mình. Nhưng đến cửa, An-phi-xa dừng lại, nói bằng một giọng xa lạ, như của người khác:

- Xem thì cứ việc xem... Nhưng tao không để cho mày làm hư đời của thằng Xê-mi-ôn đâu. Tao sẽ nói cho nó biết tâm hồn mày như thế nào, để nó...

- Không được! Mẹ nghe không?! - Vê-ra hét lên, nhảy xuống giường, chân không chạy đến bên mẹ, túm chặt lấy vai. - Không được nhúng tay vào, hiểu chưa? Nếu không... Nếu không...

- Nếu không cái gì?

- Không biết. Nhưng chẳng lành đâu... Suốt đời sẽ trở thành kẻ thù của nhau đấy. Mẹ còn chưa biết con đấy, mẹ ạ...

- Quả đúng thế đấy, tao còn chưa biết hết mày đấy, - An-phi-xa nói và bước ra.

* * *

Sau hôm xảy ra sự việc trên, Vê-ra suốt ngày ngồi một chỗ trong phòng làm việc của mình. Không hiểu sao cô có cảm tưởng như tất cả các nhân viên ở huyện ủy đều biết về lời đề nghị khác thường của A-lây-nhi-cốp, đều nhìn cô ngạc nhiên và tò mò. Khi có người mang đến cho cô giấy tờ để đánh máy, cô im lặng cầm lấy, đầu không ngẩng lên, các ngón tay run run khe khẽ.

Và cô còn cảm thấy, nhất là cuối buổi chiều, rằng phút nào A-lây-nhi-cốp cũng có thể vào. Và mỗi lần, khi cánh cửa kẹt mở, mặt cô lại đỏ bừng lên, thậm chí cả cổ cũng đỏ. Và cô không biết, không tưởng tượng ra là mình sẽ làm gì, sẽ xử sự ra sao nếu như I-a-cốp vào thật.

Nhưng ông không đến huyện ủy ngày hôm ấy, ngày hôm sau và cả ngày hôm sau nữa. Vê-ra đã hơi bình tĩnh lại và thậm chí còn thầm nghĩ trong bụng với một chút tự ái: «Lạ thật...»

Mãi đến ngày thứ năm hoặc thứ sáu gì đó, lúc quá chiều, ông mới ghé vào. Vê-ra ngồi quay lưng ra cửa, và khi tiếng cánh cửa kẹt mở, cô vẫn không ngoảnh lại.

- Xin lỗi... Tôi đây mà, - A-lây-nhi-cốp nói và im lặng.

Vê-ra nhảy vụt dậy khỏi bàn máy, hai bàn tay ép sát vào ngực. Rồi cô quay đi, ngồi xuống, lại cúi đầu trên chiếc máy chữ nhãn hiệu «Un-đéc-vút» cũ kỹ. Đôi má tươi trẻ của cô đỏ bừng lên, hai tai nhỏ nhắn cũng đỏ, màu đỏ nhuộm cả chiếc cổ khuất trong mấy món tóc xoăn để rủ.

- Tôi... em nghe đây, anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích.

- Tôi muốn... Còn bây giờ tôi cần nói chuyện với cô... - A-lây-nhi-cốp ngập ngừng nói và im lặng.

Vê-ra vẫn ép tay lên ngực và cảm thấy tim mình đập đã bình tĩnh hơn, khẽ hơn. Đến bây giờ cô mới chú ý nhận thấy rằng từ trước đến nay A-lây-nhi-cốp vẫn gọi cô bằng «cháu» nay bỗng chuyển thành «cô». Nghĩ vậy, cô hơi mỉm cười, nhưng liền hoảng hốt vì nụ cười của mình, vội cắn chặt môi dưới lại.

- Anh nói đi.

- Tôi không muốn nói ở đây. Người ta có thể vào đây...

- Thế ở đâu?

- Tôi không biết nữa. Cô hãy đi đến một nơi nào đó. Đi đâu cũng được. Tôi sẽ đi theo... Tôi rất... rất tha thiết xin cô.

Vê-ra đứng nhanh dậy, liếc sang ông một cái nhìn ngạc nhiên, dò hỏi, giật chiếc áo bành-tô trên mắc xuống.

Rồi họ đi dọc theo đường phố về cuối thị trấn - Vê-ra đi trước, đầu hơi cúi xuống. Chiều yên ắng, ấm áp, bầu trời màu xám dịu, không mây, chỉ có ở đằng tây trải dài hai ba dải màu hồng lấp lánh những tia nắng của mặt trời đã khuất xuống sau chân trời.

Qua hết mấy ngôi nhà ở cuối thị trấn, Vê-ra bước ra đồng cỏ, đi giữa những gò đất nhỏ qua mùa hè cỏ mọc lút, đến biền sông Grô-mô-tu-sca, dừng lại bên một lùm cây rậm, ngồi lên mô đất, lấy vạt áo bành-tô mỏng phủ kín chân cho đến tận mắt cá.

- Trời ơi, xấu hổ quá đi thôi! - khi A-lây-nhi-cốp bước đến bên cạnh, cô khẽ thì thầm, hai bàn tay che kín mặt. - Em có cảm tưởng như trong vườn nhà nào, cửa sổ nào cũng có người nhìn theo em.

- Vâng, quả thật chúng ta cũng không tiện lắm, - A-lây-nhi-cốp nói, giọng hơi pha chút cay đắng. - Tôi không... thể nghĩ được cách nào tốt hơn để mời cô ra gặp nói chuyện...

- Em đang làm gì thế này, đúng là một con bé dại đột... Sao em lại thế này?.. - Và, cũng như khi đứng trước cửa phòng, Vê-ra lại ngước lên nhìn A-lây-nhi-cốp một cái nhìn yếu đuối, dò hỏi.

- Cô thì sao? - A-lây-nhi-cốp nhún vai. - Còn tôi, làm sao lại ở đây, tôi không hiểu nổi...

Trong giọng nói của ông lại pha chút cay đắng. Ông ngồi xuống bên cạnh và bắt đầu nghĩ về một điều gì đó. Vê-ra khẽ liếc nhìn sang ông, cắn chặt môi dưới và suy tính xem mình sẽ phải xử sự ra sao, trả lời như thế nào. Vê-ra đã đoán trước được ông ta sẽ nói chuyện gì với cô.

-Hôm trước anh đến nhà - anh làm cả nhà sợ quá, nhất là cha với mẹ, - Vê-ra nói.

A-lây-nhi-cốp ngước ánh mắt nặng nề lên, chăm chú nhìn cô gái một lúc lâu.

- Sao anh lại nhìn như thế?

- Vâng, thật đáng tiếc là mọi người lại sợ tôi.

- Thế chẳng lẽ anh lại không thích như vậy hay sao? - Vê-ra cười khẩy.

Dưới đôi lông mày rậm của A-lây-nhi-cốp chợt lóe lên một tia dò hỏi. Nhưng nó liền tắt ngay, và khuôn mặt hơi dài của ông trở nên lạnh lùng, cau có.

- Này, Vê-ra ạ, - im lặng một lúc, A-lây-nhi-cốp mấp máy cặp môi mỏng, đổi cách xưng hô, - Anh hiểu rằng anh đáng khinh, kỳ cục và... lố bịch trong tình cảnh hiện nay của mình. Tất nhiên, em đáng tuổi con anh. Em hai mươi, còn anh năm mươi. Anh cũng biết rằng sẽ không ai hiểu anh, cũng như cha mẹ em không hiểu anh. Cha em, hôm nọ nói chung không nói lời nào, mẹ thì trả lời rằng không thể làm... không muốn quyết định thay con gái, rằng anh phải hỏi em... và đây, anh quyết định hỏi...

A-lây-nhi-cốp nói, giọng run run. Ông hồi hộp như một cậu bé, mắt không biết nhìn đi đâu, tay không biết để vào đâu. Vê-ra ngồi im lặng, chống cùi tay phải lên đầu gối, cô lấy bàn tay che mặt và... hơi mỉm cười. Cô bây giờ không còn sợ A-lây-nhi-cốp nữa, cô đã bình tĩnh lại và nghĩ: năm mươi tuổi tất nhiên cũng có hơi nhiều. Nhưng nhìn bề ngoài thì ông ta cũng còn không sao, không thật đáng sợ và trẻ hơn tuổi. Không có vết sẹo trên má chắc sẽ dễ coi hơn, nhưng thực ra nó cũng không có hại lắm, thậm chí còn có vẻ ngồ ngộ. Nhưng không biết ông ta còn sống được bao lâu nữa? Nếu mười năm, cô lúc đó sẽ ba mươi tuổi. Như thế thì không sao, còn có thể đi lấy chồng được. Còn nếu hai mươi năm, lúc đó cô sẽ bốn mươi. Với đàn bà như thế cũng là đã có tuổi...

Vê-ra nghĩ như vậy và tự mình cũng hiểu rằng, những ý nghĩ của cô là đê tiện, bẩn thỉu và vì vậy cô cảm thấy không hẳn là sự xấu hổ, mà cũng không hẳn là sự khó chịu. «A-a...» - cô nhíu mày, thầm xua đuổi chúng đi. Nhưng cô muốn xua đuổi cái gì - những ý nghĩ của mình hay sự khó chịu do các ý nghĩ ấy gây ra - cô cũng không hiểu được một cách rõ ràng.

- Vâng, anh quyết định hỏi em... - A-lây-nhi-cốp lại lên tiếng, mắt không nhìn cô gái. - Mặc dù anh hiểu rằng chắc em sẽ trả lời «không». Nhưng dẫu sao anh cũng cần phải hỏi, để bằng cách này hay cách khác lìa khỏi tình cảnh hết sức bất tiện như hiện nay của anh...

Những dải mây hồng hẹp, dài trên đầu họ đã tắt, và bầu trời lập tức trở nên thấp hơn, bóng chiều lành lạnh kéo về mỗi lúc một dày đặc hơn. Khi Vê-ra và A-lây-nhi-cốp đến đây, những bụi cây bên bờ sông Grô-mô-tu-sca đứng bất động. Bây giờ tuy vẫn không có gió nhưng những ngọn cây lắc lư một cách lười biếng, các khóm lá bị khô héo qua mùa hè phát ra tiếng xào xạc nghe buồn bã, khó chịu. A-lây-nhi-cốp lắng nghe tiếng động mơ hồ đó và nghĩ ngợi một điều gì không rõ.

- Anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích ạ, em không thể trả lời dứt khoát ngay bây giờ được.

- Được thôi, được thôi, - ông nói, đầu cúi xuống. - Anh chỉ muốn một điều... Chúng ta sẽ lại gặp nhau ở đây, tại chỗ này, sau một tuần lễ nữa, cũng vào giờ này, được không? Không, không, không phải để em trả lời dứt khoát, ông nói thêm khi thấy Vê-ra mấp máy môi. – Chỉ đơn giản để... gặp nhau mà thôi. Anh sẽ chẳng giục em trả lời gấp đâu... Tự em sẽ nói, khi nào em muốn...

Nơi đây, trên đồng cỏ, cạnh biền sông Grô-mô-tu-sca hoang vắng và tĩnh mịch, chỉ có những ngọn cây xào xạc buồn bã như đang thở than về bóng tối, về sự cô đơn, về việc mùa hè đã kết thúc, cành lá đã héo hon và sắp khô rụng, và mùa đông dài với những đêm trường tối tăm, lạnh giá, với tiếng gầm rú khủng khiếp của bão tuyết, sẽ đến.

Bỗng nhiên Vê-ra nảy ra một ý muốn hoàn toàn bất ngờ- đến gặp và nói chuyện với Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va. Không phải về Xê-mi-ôn, càng không phải về A-lây-nhi-cốp, mà chỉ thế thôi... Đã lâu lắm, từ dạo mùa hè, cô không gặp Ma-ri-a. Không biết cô bạn giờ ra sao? Và có thể, cũng nhớ lại cảnh hai đứa nằm trên lò sưởi, sợ đến chết khiếp, còn A-lây-nhi-cốp mặc chiếc áo ca-pốt dài, đến để bắt cha của Ma-ri-a thì cứ đi đi lại lại trong phòng. Cuộc đời thật là vòng vèo! Lần đó thấy A-lây-nhi-cốp, cô suýt chết khiếp vì sợ, còn hôm nay, cũng con người đó đang tỏ tình với cô, như một chú bê con ngoan ngoãn.

Mấy phút sau, hai người trở về thị trấn, chia tay nhau mỗi người một ngả. Vê-ra chạy qua mấy ngõ vắng, dừng lại trước một căn nhà cũ kỹ đứng ẩn mình trông bóng tối. Những cánh cửa sổ bằng ván đóng kín, nhưng từ những khe hở lớn hắt ra ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn dầu hỏa. Như thế nghĩa là Ma-ri-a ở nhà. Mà cô ta còn có thể ở đâu vào giờ này nữa.

Vê-ra chạy vào sân, gõ vào cánh cửa chốt bằng một chiếc đinh bu-lông lớn.

- Ma-ri-a, tớ đây, Vê-ra đây. Đến thăm cậu đây. Mở cửa ra...

Qua khe hở rộng, cô thấy sau cửa kính một bóng người thấp thoáng trên tấm màn che. Hình như có người bước đến bên cửa và dừng lại.

- Ma-ri-a, tớ đây. Cậu có nghe thấy không?

Im lặng. Chỉ có bóng người trên màn vải lay động.

- Ai đấy? - cuối cùng cô nghe tiếng của Ô-gô-rốt-nhi-cô-va.

- Tớ đây mà, Vê-ra I-nhi-u-chi-na. Cậu không nhận ra hay sao?

- Thôi được... Tớ mở ngay, - và bóng người trên màn vải biến mất.

Vê-ra còn đứng một lúc lâu ngoài cửa trên một tảng đá lớn dùng làm bậc lên xuống. Có tiếng bước chân trong cửa, tiếng rút then cài.

- Cậu làm tớ sợ, - Ô-gô-rốt-nhi-cô-va khép vạt áo măng-tô khoác ngoài, ngáp rồi nói. - Cậu đi đâu cả đêm thế này?

Giọng của cô nghe như đang ngái ngủ, không bằng lòng, đầu rối tung, mấy món tóc sổ ra ngoài chiếc khăn choàng đầu.

- Tớ đi qua ghé vào một tí. Thế thôi, tán phét một lúc... Mà có thể, ngủ lại nhà cậu cũng nên. Đã lâu rồi chúng mình không gặp nhau.

- Lâu rồi, - Ma-ri-a lại ngáp. - Chỉ có điều, ngủ lại không được đâu.

- Tại sao?

- Đã có người ngủ đêm ở đây rồi.

- Ai? - Vê-ra ngạc nhiên, hơi lùi lại khỏi cánh cửa. - Cậu bảo sao? Hay là cậu đã đi lấy chồng rồi?

- Tớ đã bảo là người ngủ đêm mà. Hôm nay một người, ngày mai, có thể, lại là người khác.

- Sao... cậu sao thế, Ma-ri-a?

- Thế đấy... - Ma-ri-a cười khẩy một cách hằn học. - Các cô mới đi lấy chồng, còn tôi thì thế đấy. Số trời như thế... Bao giờ thì cậu và Xê-mi-ôn cưới đấy?

- Tớ không biết nữa... Có lẽ cũng chẳng sắp đâu... Chiến tranh mà, cưới với xin gì. Bọn mình thỏa thuận đến khi kết thúc...

- À, thế... - Ma-ri-a kéo dài giọng lạnh nhạt, - Thôi được. Còn tớ chẳng có gì để đợi chiến tranh kết thúc...

Ma-ri-a đứng im lặng thêm một lúc.

- Cậu thông cảm cho tớ nhé... Lúc khác đến. Ban ngày tốt hơn...

Và không đợi trả lời, cô đóng sập cánh cửa lại.

«Ma-ri-a giờ lại ra thế đấy! - Vê-ra vừa rảo bước về nhà, vừa ngạc nhiên nghĩ. - Trước đây gặp con trai cứ đỏ mặt lên, thế mà bây giờ. Nó trở nên như vậy từ bao giờ nhỉ?!»

Khi đã về nhà, nằm trên giường, cô nghĩ: một tuần sau phải trả lời A-lây-nhi-cốp như thế nào đây? Đồng ý à? Không, như vậy ngay không được, cần phải chứng tỏ mình là thế nào đã chứ. -Ấy, tôi không phải là loại người như vậy đâu, tôi không vội đâu, cần phải xem như thế nào đã chứ, mà tôi có yêu ông được không? Nhưng kéo dài quá cũng không nên- các ông già này chóng nóng, nhưng cũng chóng nguội lắm.

Và cô ngủ thiếp đi với ý nghĩ đó.

* * *

Một tuần sau, cô lại ngồi cạnh biền sông Grô-mô-tu-sca, cũng ở chỗ cũ, nhìn lên bầu trời đang dần tối sẫm lại, và nghĩ rằng cô cần phải tỏ ra lưỡng lự không quyết định ngay được, khóc ít nhiều, rồi sau đó làm ra vẻ trong cô bắt đầu trỗi dậy những tình cảm chân chính mãnh liệt, và đồng ý!

A-lây-nhi-cốp hiện ra trong bóng tối lờ mờ của buổi chiều muộn. Vê-ra kêu khẽ lên một tiếng, rồi chạy sâu vào biền sông.

- Vê-ra.

Cô chạy xuyên qua những bụi cây, những đám cỏ dài cho đến tận bờ sông Grô-mô-tu-sca mới đứng lại.

- Anh cứ nghĩ rằng em không đến, - A-lây-nhi-cốp dừng lại sau lưng cô, nói nhanh.

- Em cũng nghĩ cho đến tận chiều nay là sẽ không đến, - cô nói gần như là thì thầm. - Nhưng mà đấy, không hiểu vì sao lại đến để làm gì...

Cô bước ra khỏi lùm cây đi vào đồng cỏ, đầu cúi thấp xuống, men dọc theo biền sông Grô-mô-tu-sca. A-lây-nhi-cốp lặng lẽ bước theo bên cạnh. Đi được chừng năm trăm mét, cô quay ngược trở lại. Và A-lây-nhi-cốp cũng im lặng đi theo.

Họ cứ đi đi lại lại như vậy cho đến khi Vê-ra cảm thấy mệt.

- Em không biết nữa, anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích ạ, em không còn hiểu được gì nữa cả, - cô dừng lại, lên tiếng. - Tại sao em lại đến đây? Và nói chung, cái gì đang xảy ra với em như thế này?

- Anh đã nói rồi, Vê-ra ạ, là anh không giục em đâu, - ông đáp. - Anh, nếu như em không có tình cảm gì đối với anh cả, nếu như em không thể có... anh sẽ, nói chung, sẽ hiểu em và không trách em đâu. Anh có quyền gì? Và mặc dù anh sẽ đau khổ, nhưng biết làm sao được? Anh hiểu rằng không thể lấy chồng mà không yêu được. Làm thế nào để sống được với nhau lúc đó?

Vê-ra nghe những lời lộn xộn, ấp úng của ông, và tim cô đập nặng nề, một cảm giác buốt lạnh, khó chịu, bắt đầu thấm vào trong ngực. Cô lo lắng và sợ hãi không phải vì ông đòi hỏi cô phải có tình yêu. Cô có cảm giác rằng hôm nay ông có một cái gì không như một tuần trước đây, lại càng không như buổi chiều hôm ông đến nhà cô, trong ông đã có một sự thay đổi nào đó rất khó nhận thấy. Cô cảm thấy đằng sau những lời nói lộn xộn, ấp úng của ông, có một thoáng nghi ngờ, tuy rất mỏng manh: tất cả những cái này là để làm gì? Có cần như vậy không? Vê-ra nghĩ thầm: cái gì đã xảy ra với ông ta vậy? Cô phải làm gì để cho cái thoáng nghi ngờ kia - nếu quả có thật ở ông ta- phải mất đi? Không đâu, đồng chí A-lây-nhi-cốp thân mến ạ, nếu cá đã cắn mồi rồi thì ta sẽ cố gắng đừng để cho nó sổng tuột ra mất nữa.

Và cô bỗng lảo đảo, bắt đầu ngã xuống. A-lây-nhi-cốp đỡ lấy khuỷu tay cô, Vê-ra gục đầu vào vai ông, khóc nấc lên.

- Em sao... Đừng thế, - ông bối rối nói, tay đỡ lấy vai cô. Cô vẫn tiếp tục khóc, làm như vô tình chạm cặp môi vào má ông. («A, vừa mới cạo mặt xong...» - cô thoáng nghĩ.) Và cô bắt đầu hôn tới tấp vào má, vào môi ông, khuỵu người xuống, như thể chân cô không còn đứng vững nữa. Còn ông khẽ kêu lên «Vê-ra, Vê-ra...» - và túm chặt lấy vai cô, giữ không cho ngã. Vê-ra, dường như thu hết sức lực cuối cùng, vươn thẳng người lên, hất mái đầu đã tụt khăn ra phía sau, chồng hai bàn tay vào ngực ông, giằng ra vừa lảo đảo vừa chạy về phía thị trấn.

- Vê-ra... - ông kêu với theo một lần nữa.

Cô không ngoảnh lại.

Đêm cô không ngủ, nhìn vào bóng tối, lên những núm tròn mạ kền lấp lánh ánh trăng trên thành giường và cố tưởng tượng ra xem A-lây-nhi-cốp bây giờ đang làm gì, đang nghĩ gì về cô.

Buổi sáng cô không cho vào miệng tí bánh mì nào. Chiều cô cũng không ăn cơm. Và đêm thứ hai cô cũng không hề chợp mắt lấy một giây nào. Cô rất buồn ngủ và để không thiếp đi, thậm chí cô không đi nằm, mà ngồi trên giường, mở toang cửa sổ, thở hít rất lâu làn không khí ban đêm mát mẻ. Đến gần sáng quá mệt, đôi mắt tự động khép lại. Và để khỏi làm kinh động đến mẹ và Nhi-cô-lai, cô trèo qua cửa sổ, đi qua làng ra bờ sông Grô-mô-tu-kha, vốc nước lạnh như băng lên rửa mặt, rồi ngồi lên một chiếc thuyền úp ngược trên bờ nhìn mặt trời buổi sớm rất xa đang nuốt dần bóng tối trên dãy Dve-nhi-gô-ra, cảnh những ngọn đồi, hàng cây phía bên kia sông dần dần hiện rõ lên, cảnh những đám sương sớm phía trên ngọn sông đang bắt đầu nhuốm màu hồng một cách chậm chạp.

Cả lần này cô cũng từ chối không ăn sáng, lầu bầu bảo mẹ: - Con không muốn.

- Nhưng con làm sao thế? - An-phi-xa hoảng hốt thật sự, hỏi. - Trông con chẳng ra người nữa rồi đây.

- Không sao, - Vê-ra trả lời cụt lủn rồi biến vào phòng của mình.

Đứng trong phòng, cô nhìn vào gương và mỉm cười - quả thật trông cô bây giờ đã khác nhiều quá, gầy hẳn đi sau hai ngày qua, mặt hốc hác, mũi nhọn hoắt, như sau một cơn bệnh nặng, dưới hai hố mắt sâu có hai quầng đen thẫm. «Rất tốt!» - cô nghĩ và rồi cũng ngồi vào bàn; ăn một mẩu bánh mì và uống một cốc chè. Cô mặc chiếc áo váy chật căng bó sát lấy người, và không để ý đến sự lo lắng của mẹ, đi làm.

Ngồi sau máy chữ, cô gần như ngủ gật suốt buổi. Sau bữa trưa, Cru-gi-lin gọi cô lên phòng làm việc của ông nhờ đánh một tờ thông báo.

- Khoan đã, cháu ốm đây à?

- Không... Hình như không đâu ạ.

- Đây, cháu đem đánh máy đi. Cũng không cần ngay đâu. Nếu cháu ốm thì về nhà nghỉ đi.

Cô khó nhọc đánh được nửa tờ thông báo, rồi hấp tấp chộp lấy máy điện thoại, xin gặp A-lây-nhi-cốp.

Vê-ra thường hay gọi điện cho các nhân viên của huyện, mời họ đến phòng Cru-gi-lin đi họp đủ các cuộc họp. Các cô điện báo viên ở tổng đài San-ta-ra đã quen với việc đó nên bao giờ cũng nối dây cho cô nhanh chóng và chính xác. Vì vậy, chưa kịp nói xong tên họ người cần gọi, cô đã nghe trong ống nghe:

- A-lây-nhi-cốp đây. Tôi nghe đây...

- Em đây... - Vê-ra nói bằng một giọng yếu ớt.

Có lẽ vì bị bất ngờ nên A-lây-nhi-cốp im lặng mất mấy giây.

- Vâng, vâng... Anh nghe đây.

Bây giờ đến lượt Vê-ra im lặng, thở dài.

- Có việc gì... xảy ra à? - sợ các cô điện báo viên có thể nghe thấy, A-lây-nhi-cốp ngập ngừng hỏi.

- Em không biết nữa... Có thể... Hôm nay... bây giờ... anh có thể... ở chỗ hôm trước không?

- Ngay bây giờ? - giọng của ông có vẻ ngạc nhiên. -Tại sao lại bây giờ?

- Em không biết... Ngay bây giờ - thế thôi.

- Thôi được...

Vê-ra không hoàn toàn tin là ông sẽ đến. Nhưng ông đến... Ông đi ngang qua đồng cỏ, giữa những gò đất bị cháy sạm đen qua mùa hè nóng nực, bước đi vụng về, khó nhọc, mắt luôn luôn nhìn lại phía sau như sợ có người theo dõi. Ngày nắng ấm. A-lây-nhi-cốp mặc áo vét-tông màu xám, sơ-mi trắng, cổ bẻ ra ngoài. Trông từ xa tưởng chừng như một chàng trai mới hai mươi lăm tuổi đang đi trên đồng cỏ...

Vê-ra đứng đợi ông dưới một cây bạch dương vàng rực, thỉnh thoảng những chiếc lá lại rụng xuống phát ra tiếng xào xạc khô giòn, khe khẽ. Khi biết rằng A-lây-nhi-cốp đã trông thấy mình, cô trốn vào biền cây, chạy ra tới tận bờ sông Grô-mô-tu-sca và ngồi xuống mép một bờ dốc nhỏ phủ đầy lá khô, thu hai chân lại dưới người.

Nghe tiếng chân ông sau lưng, cô lại càng cúi thấp đầu xuống, dường như không biết giấu mặt mình đi đâu. Và chỉ khi tiếng bước chân đã im, chỉ khi cảm thấy ông đã đến đứng sát bên cạnh, im lặng không biết nói gì, cô mới chậm chạp và nặng nhọc quay đầu lại. Qua ánh mắt kinh ngạc của ông, qua đôi môi mỏng khẽ mấp máy, Vê-ra biết hai ngày đêm qua cô không ăn không ngủ quả không vô ích.

- Vê-ra?! - ông lo lắng thốt lên và làm một cử động vô tình về phía cô.

- Không, không... - cô vội nhảy lùi sang chỗ khác. - Anh... đừng đến gần... Đừng... Anh hãy ngồi xuống, đằng kia...

A-lây-nhi-cốp ngoan ngoãn im lặng ngồi xuống chỗ cô chỉ cho ông. Còn cô nằm ngửa mặt, hai tay gối dưới đầu và nhìn lên bầu trời chiều nhợt nhạt, không có gì khác ngoài một khoảng trống đã bạc màu qua mùa hè nắng lửa.

- Em có chuyện gì phải không? - ông lại lên tiếng, hỏi.

- Không... Có thể xảy ra chuyện gì được? - cô trả lời và vui mừng khoan khoái nghĩ thầm rằng hôm nay chắc sẽ được ngủ bù thỏa thích.

Con sông nhỏ Grô-mô-tu-sca róc rách chảy như đang thì thầm một điều gì đó ở dưới dốc, khẽ khàng vỗ những con sóng nhẹ vào bờ cao bằng đất sét. Vê-ra nghe những tiếng động khó phân biệt được đó và nghĩ rằng, có lẽ A-lây-nhi-cốp đang dán mắt nhìn chằm chằm lên bộ ngực của cô nổi cao dưới làn áo chật căng, lên đôi chân rất đẹp của cô, lên toàn thân hình trẻ trung, mềm mại, tuy yếu đuối, nhưng giờ đây vẫn còn là bất khả xâm phạm đối với ông. Và cô khẽ liếc mắt nhìn sang để khẳng định điều dự đoán của mình. Nhưng hóa, ra A-lây-nhi- cốp hoàn toàn không nhìn tới cô, ông ngồi trên một đống lá khô, nhìn xuống dưới dốc, đăm chiêu nghe tiếng thì thầm của con sông nhỏ Grô-mô-tu-sca. Điều này làm cho Vê-ra cảm thấy bực mình, nhưng không nhiều lắm.

- Em gọi điện, làm cho anh... hơi bất ngờ. Lúc đó trong phòng anh đang có người, ông nói nhanh.

- Anh đã đi máy bay chưa? - cô hỏi, giọng đăm chiêu.

- Cũng đã có lần...

- Còn em thì chưa. Nhưng bây giờ em nằm nhìn lên trời và cảm giác như em đang bay - phía dưới là đồng cỏ, núi rừng... Và nghe chóng mặt...

Cô im lặng và quyết định không nói nữa cho đến lúc nào tự A-lây-nhi-cốp lên tiếng trước. Cô đoán, cô biết rằng giờ A-lây-nhi-cốp đang nghĩ: cái gì đã xảy ra với Vê-ra như vậy, tại sao cô ta lại gầy đi, tại sao lại có những quầng đen dưới mắt cô ta, tại sao cô ta lại gọi điện cho mình, hẹn gặp nhau giữa ban ngày? Chẳng lẽ ở cô ta đã nảy sinh ra một tình cảm chân chính, mãnh liệt? Thì cứ để cho ông ta suy nghĩ, xét đoán. Chỉ có điều cô phải tiếp tục ra sao đây, làm thế nào để nhanh chóng kết thúc cuộc hẹn hò này? Buồn ngủ kinh khủng, hai mắt cứ díp lại. Sao mãi ông ta vẫn không nói gì...

Mà A-lây-nhi-cốp như cố ý, vẫn ngồi yên.

- Anh có một điều, Vê-ra ạ.. - cuối cùng, ông ngập ngừng nói. - Ta phải tìm cách khác để thỏa thuận, hẹn với nhau về những lần gặp mặt, đừng qua điện thoại. Và cũng không phải ban ngày. Em hiểu không, dù sao anh cũng... trong tình thế khó xử... Mà các cô điện báo viên ở tổng đài... Rồi chưa gì đã có những lời bàn tán, đặt điều...

Vê-ra hiểu tất cả những điều đó, nhưng cô làm ra vẻ không hiểu, làm như cô đang ở trong một cơn mơ màng nào đó. Và, mắt vẫn nhìn lên bầu trời quang đãng cô nói:

- Nhân viên điện báo... bàn tán... thì việc gì đến tôi?

Và cô nhổm dậy, lặng lẽ đi xa bờ sông Grô-mô-tu-sca, vào đồng cỏ, để lại một mình A-lây-nhi-cốp ngồi nghĩ tiếp tại sao cô lại gầy đi đến thế trong hai ngày qua, tại sao hôm nay cô lại hẹn gặp ông ngay giữa ban ngày, không đợi đến chiều tối, và cô muốn nói gì bằng câu: «Thì việc gì đến tôi?..»

* * *

Sau đó họ gặp nhau thường xuyên, cứ cách một ngày, cùng lắm là cách hai hoặc ba ngày một lần, và mỗi lần như vậy lại thỏa thuận về thời gian và địa điểm của cuộc hẹn hò sau. Vê-ra, như cô nghĩ, đã đóng rất đạt vai của mình, mỗi buổi chiều lại đổi khác: khi thì rất vui vẻ, khi thì đăm chiêu buồn bã, khi thì hết sức âu yếm - và cô gần như suốt buổi liên tục ôm hôn A-lây-nhi-cốp, khi thì lại lạnh lùng xa cách - vào những hôm đó thậm chí cô không cho A-lây-nhi-cốp chạm đến người mình.

Thỉnh thoảng Vê-ra lại không chịu đợi được đến ngày hẹn, gọi điện cho A-lây-nhi-cốp.

- Không phải ngày mai, mà hôm nay... Cũng ở đấy... Em không thể, - cô nói vội vã và không đợi trả lời, bỏ ống nghe xuống.

Nhiều khi cô đòi hỏi thẳng:

- Hôm nay anh phải đưa em về nhà. Em phải ở lại làm việc cho đến khuya, đi một mình về sợ lắm.

A-lây-nhi-cốp hai hay ba lần nữa yêu cầu Vê-ra đừng gọi điện, nhưng cô chỉ cười, và túm lấy tay ông, cô bắt đầu nhảy quanh như một đứa trẻ, miệng hát: «Ôi, con thỏ xám nhát gan...»

Và ông cũng phải chịu.

Sau mỗi lần hẹn hò về, nằm trên giường, Vê-ra lại phân tích kỹ lưỡng thái độ của A-lây-nhi-cốp, nhớ lại từng lời nói, từng ánh mắt, từng cử chỉ của ông. Lúc đầu hình như mọi việc đều tốt đẹp. Ông đến nơi hò hẹn với vẻ rất vui, và nếu Vê-ra hôn ông, ông ngượng nghịu như một đứa trẻ, lúc đầu đáp lại một cách dè dặt, vụng về, nhưng sau ông hăng lên, ngây ngất và cảm thấy máu trong người ông sắp sôi lên, cô vùng chạy ra xa, khuyên ông một cách ranh mãnh và nhiều hàm ý hãy bình tĩnh, nguội lạnh lại. Còn nếu cô có vẻ buồn, tư lự, ông không ngớt hỏi cô có chuyện gì xảy ra ở nhà hoặc ở nơi làm việc, cố gắng tìm cách làm cho cô vui vẻ, khuây khỏa.

- Anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích, em cần cho anh để làm gì? - một lần, Vê-ra hỏi, - Tại sao anh... anh lại yêu em? Vì cái gì?

- Vì cái gì à? Anh cũng không biết nữa, Vê-ra ạ, - ông khe khẽ trả lời. - Em, rất đẹp... - Nhưng im lặng một lúc, ông nói tiếp một cách khó hiểu: - Nhưng có lẽ không phải ở chỗ sắc đẹp. Em còn trẻ, và mỗi khi bên em, anh cũng cảm thấy mình trẻ lại. Dường như anh chỉ mới hai mươi, hăm lăm tuổi, và dường như chưa hề có những năm tháng và những sự việc, mà... về chúng... Nói chung, anh cảm thấy mình nhẹ nhàng, thoải mái như vào những năm tháng xưa, hồi còn trẻ... Và cuộc đời phía trước cũng nhẹ nhàng, thanh thản, không như quãng đời anh đã sống. Nó sẽ hoàn toàn, hoàn toàn khác...

- Hoàn toàn khác... Em không hiểu gì cả.

- Và anh cũng không thể giải thích rõ ràng hơn được nữa.

- Chẳng lẽ không phải anh đã sống một cuộc đời thú vị hay sao? Em biết là anh đã từng đi du kích với Cru-gi-lin, sau đó theo dõi và truy bắt những kẻ thù của chính quyền Xô-viết. Và bây giờ...

- Anh xin em đừng nói về điều đó. Đừng bao giờ nói cả, em nghe không? - ông nói những lời trên một cách vội vã, gần như kêu lên.

Những lời và giọng nói của ông làm cho Vê-ra hoảng sợ.

Nhưng dần dần, A-lây-nhi-cốp bắt đầu thay đổi. Không, ông vẫn như trước kia, đến chỗ hẹn hò với một vẻ sung sướng và cởi mở, nhưng càng ngày càng hay bỗng nhiên vô cớ trở nên đăm chiêu tư lự. Vê-ra càng ngày càng hay bắt gặp những ánh mắt có vẻ dò hỏi của ông nhìn mình. Ông không còn hồi hộp, ngây ngất như trước kia mỗi lần được cô hôn, và đáp lại những cử chỉ âu yếm của cô một cách gần như miễn cưỡng, đôi môi của ông uể oải, lạnh nhạt.

- Anh sao thế? - bây giờ đến lượt Vê-ra lo lắng hỏi.

- Không... Hôm nay anh phải làm việc rất mệt, - ông đáp và cô mỉm cười.

Nhưng cô, Vê-ra, hiểu rất rõ cái nụ cười đó là gượng gạo, rằng hình như sự thật không phải là vì mệt mỏi. «Chậm mất rồi, mình bỏ lỡ cơ hội rồi! Hỏng hết rồi! - cô lo lắng nghĩ thầm. - Nhưng khô-ông! Hãy chờ đấy!..»

Sự lạnh nhạt, đăm chiêu trước đây của cô giờ không còn lại một dấu vết gì. Bây giờ cô chạy đến chỗ hò hẹn với vẻ hồi hộp, và không nói một lời nào, ôm choàng ngay lấy cổ ông hôn tới tấp vào môi, vào vết sẹo trên má trái, vào đôi lông mày rậm, và chỉ sau đó ngửa mái đầu ra sau, chăm chú nhìn vào khuôn mặt ông mấy giây, rồi gục đầu vào ngực ông, thốt lên khe khẽ:

- Em mong mãi... Em khổ sở lắm mới chịu được, chờ được đến bây giờ...

- Anh cũng vui lắm, Vê-ra ạ.

Giọng của ông đều đều, bình thản, và Vê-ra, vừa thở vào ngực ông, vừa giận dữ cắn chặt đôi môi mỏng của mình.

Một lần, sau những lời đó, cô gục đầu vào ngực ông khóc nấc lên.

- Vê-ra, đừng thế em, đừng thế, - ông nói, bàn tay vuốt ve hai vai cô.

- Anh cũng vui, cũng vui à?! - cô ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt lên nhìn ông, kêu to. - Không phải, không phải! Sao anh chỉ vuốt ve vai em như... cha với con gái, thậm chí như ông với cháu... Sao anh nhăn mặt lại thế?! Vâng, như ông, như ông! Ôi, tôi ngu ngốc quá!...Này, anh nghe đây, nghe đây...

Cô chộp lấy bàn tay ông, đem áp chặt lên ngực mình. Ở đó, dưới làn da ngực con gái nở căng, nghe nhịp tim đập dập dồn, mãnh liệt.

- Anh biết, Vê-ra ạ, anh biết, - A-lây-nhi-cốp nói và khẽ cử động các ngón tay, định gỡ tay mình ra. Cô hiểu ý định của ông, hất tay ông ra và càng khóc to hơn.

- Anh biết cái gì? Anh không biết cái gì hết! - Và bỗng nhiên, mâu thuẫn với cả chính mình, cô hét lên. - Anh biết rằng anh đã làm cho đầu con bé ngu ngốc này phải quay cuồng lên, rằng em đã yêu anh như một con bé khờ dại nhất... Anh biết rằng em đồng ý.., em đồng ý... Và anh im lặng, không thèm hỏi em thêm một lời nào nữa. Anh đợi để em tự nói ra, phải không? Thì đây, em nói đấy, em đã nói ra đấy...

Buổi chiều hôm đó họ gặp nhau trên bờ sông Grô-mô-tu-kha, cách nơi mấy tháng trước đây Xê-mi-ôn và lũ trẻ đã đến câu cá không xa lắm.

Khi cô kêu to những lời cuối cùng, A-lây-nhi-cốp đã đi đến bên bờ nước, nhúng bàn tay xuống nước như thể muốn rửa chúng sau khi chạm vào thân thể Vê-ra, rồi ông ngồi xuống một hòn đá phẳng.

- Em đến đây nào.

Cô đi đến bên cạnh. Ông hôn vào đầu cô. Vê-ra nín khóc, ép sát người vào ông.

- Tất nhiên, Vê-ra ạ, anh biết hết, anh thấy hết. Anh rất hạnh phúc, có lẽ, vì... em yêu anh.

- Tại sao lại có lẽ, tại sao lại có lẽ? -Vê-ra không phải hỏi nữa, mà là rên lên. -Thế nghĩa là... anh... anh...

- Không, anh vẫn yêu em như xưa. Nhưng anh... biết nói sao cho em hiểu đây? Anh, hình như cũng chỉ bây giờ mới hiểu, mới hình dung một cách đầy đủ, rõ ràng cái tình thế mà anh đang rơi vào... Mà cũng có thể là anh vẫn còn chưa hình dung được hết đâu. Anh cần phải nghĩ thêm một ít nữa cho kỹ... Cần phải đánh giá hết, hiểu hết... Em hiểu không?

- Thế chúng ta có cưới nhau hay không đây? - Vê-ra hỏi thẳng. Đôi môi cô run lên, và vẻ mặt cô lúc đó thật thảm hại, giận dữ. «Đạt lắm!» - cô nghĩ,

- Tất nhiên, tất nhiên, Vê-ra ạ, - ông vội nói. Và qua cái sự vội vã này, Vê-ra nghĩ rằng chính bây giờ đến ngày cưới của họ còn xa hơn rất nhiều so với cái ngày ông ta đến nhà ướm hỏi cô.

Với một sự chán ngán và giận dữ điên khùng, cô ngồi nhìn những ánh trăng lạnh lẽo lấp lánh trên mặt nước. Những vệt sáng đó làm cô nhớ lại mấy núm tròn mạ kền đêm đêm vẫn ánh lên mờ mờ ở đầu giường của mình.

- Anh xin lỗi em, Vê-ra ạ, anh nghĩ rằng mọi việc rồi đâu vào đó, tốt đẹp cả.

- Anh nghĩ à!.. Anh tính toán! - Vê-ra tức giận xô ông ra. - Anh... anh làm như... làm như đang chọn mua bò cái chứ không phải vợ.

- Vâng, vâng, anh bị rối tung lên rồi, và làm cho cả em rối nữa.

- Nhưng ở đây có cái gì rối mới được chứ? - vẫn chưa thôi khóc, cô ngồi xổm xuống trước mặt ông, ngước đôi mắt ướt lên nhìn ông một cách cầu khẩn, đắm đuối. -Nhưng anh vẫn còn yêu em phải không? Nào, anh nói đi...

- Vâng, anh vẫn yêu... rất tiếc.

- Và em cũng yêu anh! Thế thì tại sao lại như thế? Anh tiếc cái gì? Đúng ra là em tiếc mới phải... Vì rằng... vì rằng... anh nhiều tuổi hơn em. Nhưng điều này thì quan hệ gì đến ai? Còn em, vẫn yêu... Bây giờ mọi người trong huyện ủy nhìn em, anh biết như thế nào không? Họ đã biết hết cả rồi mà. Nhưng em mặc!

- Vâng, mọi người biết cả. Thậm chí Cru-gi-lin đã có lần hỏi anh...

- Người ta cũng hỏi em. Em cho một trận, đến họ phải ngậm miệng lại. Nào, anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích... Anh I-a-cốp... Anh I-a-cốp... - Nghe những lời cuối cùng, ông hai lần rùng mình, kéo cô gái lại gần hơn.

- Có lẽ anh đúng là buồn cười thật, Vê-ra ạ. Lúc đầu thì đến nhà em dạm hỏi, còn bây giờ... Em trách anh là đúng lắm...

- Em không trách anh...

- Anh sẽ nói với mẹ. Và chúng ta sẽ cưới nhau. Anh còn mẹ mà. Mẹ anh già, già lắm rồi, nhưng rất hiền.

Ông ghì chặt cô vào ngực, và Vê-ra nghĩ thầm với một vẻ kinh tởm: «Lại còn bà già nữa, nếu bà ta còn sống thì cứ việc đi mà nói...»

Mặc dù ông nói: «Và chúng ta sẽ cưới nhau», Vê-ra không cảm thấy vui mừng, cô sợ hãi - việc đó còn mơ hồ lắm. Và cô lại nghĩ đến Xê-mi-ôn: «Dù sao cũng cần phải thỉnh thoảng tìm gặp anh ta».

Nhưng dạo này Xê-mi-ôn tỏ ra rất kỳ quặc. Tình cờ gặp nhau, anh vừa đi vừa vẫy tay. «Chào, xin chào Vê-ra». Không bao giờ cô dừng được anh lại, chứ đừng nói đến việc nói chuyện với anh. Và vì vậy khi Nhi-cô-lai mang về cái tin sửng sốt về chuyện An-đrây bỏ trốn ra mặt trận, cô vội vàng chạy ra nhà ga...

Rồi hôm đó cô còn ngồi rất lâu trên chiếc ghế dài bẩn thỉu ở nhà ga, nghe những lời của Xê-mi-ôn cứ vang mãi bên tai: «Tôi không yêu cô đâu, Vê-ra ạ. Và cô cũng không yêu... Cô... không bao giờ cô có thể yêu được ai cả. Cả tôi, cả A-lây-nhi-cốp, hoặc bất cứ một ai khác...»

Những lời này vang lên một cách khó chịu, và Vê-ra có cảm tưởng như cô đang bị một vật gì nặng, lạnh đánh mãi vào trán. Cô bối rối, ngơ ngác, trong thâm tâm hiểu rằng như vậy là đã mất Xê-mi-ôn. Còn A-lây-nhi-cốp, có nắm được ông ta không -hãy còn chưa biết.

Cô đứng lên khỏi chiếc ghế và rầu rĩ đi về nhà.

Sáng hôm sau, mẹ cô lại làm cho cô sửng sốt:

- Cha ra trận rồi... Trốn đi.

- Cái gì? - Vê-ra không hiểu. - Trốn đi là thế nào?

- Như thằng An-đrây ấy. - Và mẹ khóc không thành tiếng, buông người xuống chiếc giường còn chưa thu dọn chăn chiếu. Khóc một lúc, mẹ lại nói: - Nhưng con đừng nói cho ai biết cả đấy, nghe không? Mẹ đã báo cho trạm máy kéo rằng cha ốm. Rồi cha sẽ tự viết thư cho người nào cần thiết, để người ta khỏi nghĩ này nghĩ nọ.

Sau ba tuần lễ mới có tin tức về cha cô.

Hôm ấy trời lạnh, gió chiều thổi buốt da. A-lây-nhi-cốp và Vê-ra vẫn đứng dưới gốc cây bạch dương đã trụi hết lá mọc bên bờ sông Grô-mô-tu-sca, nơi diễn ra cuộc hẹn hò đầu tiên của họ. Vê-ra đứng tựa lưng vào thân cây, người choàng một chiếc khăn ấm. A-lây-nhi-cốp mặc áo bành-tô dày bằng dạ, đầu đội mũ lông, chân đi ủng, đứng bên cạnh và im lặng.

Đây là lần đầu tiên họ gặp nhau sau ba tuần qua. Mặc cho Vê-ra bao lần gọi điện, xin gặp, A-lây-nhi-cốp đều viện cớ bận việc, rồi ông đi lên tỉnh, đêm hôm qua mới trở về. Sáng nay Vê-ra gọi điện cho ông, khóc:

- Anh muốn sao thì muốn, nhưng chúng ta cần phải nói chuyện với nhau. Một cách dứt khoát.

- Thôi được, - A-lây-nhi-cốp thở dài ở đầu dây đằng kia.

Và, hôm nay Vê-ra quyết định phải nói một cách dứt khoát, vì rằng tình hình đã đến mức đáng ngại - đến A-lây-nhi-cốp cũng đã bắt đầu tránh gặp cô.

Gió thì thầm buồn bã trong những bụi cây trụi lá bên bờ sông Grô-mô-tu-sca. Trên đầu họ, những cành bạch dương xương xẩu vật vờ run rẩy, thân cây nhỏ rùng mình rít lên khe khẽ.

- Lạnh quá. Em cóng hết cả rồi đây này, - Vê-ra nói và mở cúc chiếc áo bành-tô của ông, giấu khuôn mặt lạnh cóng vì gió vào ngực ông.

A-lây-nhi-cốp lấy vạt áo choàng kín người Vê-ra, ôm lấy vai cô, hôn lên đầu qua chiếc khăn choàng và bỗng nhiên hỏi:

- Có chuyện gì xảy ra với cha em thế, Vê-ra?

- Với cha à? - Nhớ lời mẹ, cô không biết trả lời ra sao. - Cha em... cha em... ra mặt trận rồi.

- Anh biết rồi. Nhưng cha em đi rất là kỳ quặc. Như trẻ con ấy. Hôm nay giám đốc trạm máy kéo gọi điện cho anh... «Chúng tôi cho rằng công nhân lái máy kéo I-nhi-u-chin ốm nằm ở nhà, nhưng anh ta lại đang đánh nhau ngoài mặt trận».

- Ngoài mặt trận? Cha em đã ở ngoài mặt trận rồi à?

- Ngoài đó, đã gửi thư về.

- Cần phải nói cho mẹ biết... Hai tuần nay mẹ em thế nào ấy. Từ khi cha trốn đi, cứ ngồi khóc suốt.

- Tại sao cha lại trốn đi?

- Em không biết, - Vê-ra thở dài, trả lời. - Cha em luôn luôn xa lạ đối với em. Mẹ em nói cha là một người tốt. Còn em, em không biết... Cuộc sống của cha và mẹ em... khác lắm, không như mọi người, khó hiểu...

- Hai người không yêu nhau à?

- Em không hiểu được... Mẹ em... - Vê-ra đã định kể về những điều ít ỏi mà cô biết được trong quan hệ giữa cha mẹ với nhau, nhưng lại nghĩ rằng như vậy quá dài, quá phức tạp và cũng chẳng được ích lợi gì, nên thôi. - Nói chung, em không thể hiểu được hai người. Thôi, ta đi về nhà thôi chứ?

- Ừ, ta về thôi. Thời tiết khó chịu quá.

Họ đi về đến đầu thị trấn, hầu như không nói chuyện với nhau. Khi Vê-ra rẽ vào đường phố nơi A-lây-nhi-cốp ở, ông đã định nói một câu gì đỏ, thì cô đã nói trước.

- Thôi, hôm nay em sẽ tiễn anh về. Anh hôm nay mới đi về mệt nhiều rồi.

Hai người dừng lại cạnh hàng rào gỗ cao bao quanh ngôi nhà bằng gạch của A-lây-nhi-cốp.

- Có thể, anh mời em vào nhà chơi chứ? - cô hỏi và cảm thấy mình nài nỉ một cách sỗ sàng, khó coi. Không thì em cóng cả người mất rồi, muốn sưởi một tí.

- Tất nhiên, anh cũng đã nghĩ... Chúng ta cần phải nói chuyện một cách bình tĩnh về tất cả. Em vào đi. Chắc mẹ đã ngủ rồi, chúng ta sẽ không làm phiền đến mẹ nữa. - Chùm chìa khóa trong tay ông rung lên loảng xoảng.

Căn phòng mà A-lây-nhi-cốp dẫn Vê-ra vào nhỏ, chật, không có cả thảm trải lẫn đèn chùm như, không hiểu vì sao, cô vẫn tưởng tượng ra. Đúng ra, trên sàn cũng có trải một tấm thảm nhỏ, nhưng nó đã quá cũ, sờn rách. Giữa phòng là một chiếc bàn vuông phủ khăn màu xanh nhạt, cạnh tường kê một chiếc bàn viết khác; một chiếc đi-văng bọc vải sơn giống hệt chiếc để ở phòng Cru-gi-lin như hai giọt nước. Sát đó là chiếc tủ gỗ đóng rất đơn giản, thậm chí có vẻ như là hàng thủ công.

Bước vào phòng, Vê-ra bối rối dừng lại ở cạnh cửa, đưa mắt nhìn chiếc bóng đèn đơn độc dưới chiếc chao đèn bằng thủy tinh mờ treo trên trần, chiếc bàn phủ tấm vải cũ rẻ tiền, tấm thảm xơ xác và chiếc đi-văng sờn mép, những bức tường trống quét vôi trắng sạch sẽ - và trong ngực cô như có cái gì bục ra, cuộn tròn, co thắt lại và nhức buốt, nước mắt thiếu chút nữa thì trào ra. Cô cảm thấy mình như một đứa trẻ chờ đợi rất lâu một chiếc kẹo bọc giấy sặc sỡ, và cuối cùng người ta đưa cho nó kẹo, nó vội vã chộp lấy và sững người lại: trong giấy không có gì cả.

- Em bỏ áo ngoài ra, Vê-ra. Xin lỗi, vì chắc phòng anh không được ấm cúng lắm. Còn anh thì quen như vậy rồi.

A-lây-nhi-cốp đưa tay mở cúc áo bành-tô trên người Vê- ra, cô mặc cho ông cởi cả áo lẫn khăn.

- Vê-ra, em ngồi đây, anh đi pha ấm nước...

Ông đi ra bếp. Vê-ra ngồi xuống chiếc đi-văng, khép chặt đôi chân đi tất lụa dài, và lại đưa mắt nhìn quanh căn phòng xấu xí, bày biện đơn giản này. Có thể chiếc bàn phủ khăn này đóng bằng gỗ bóng? Vê-ra đứng dậy, nhắc tấm khăn trải bàn lên. Không, bàn đóng bằng gỗ mộc, phủ một lớp sơn màu vàng nhạt.

Cắn chặt môi, Vê-ra đi xuống bếp. A-lây-nhi-cốp đang dùng kìm tán đường trong một chiếc lọ thủy tinh xanh. Thấy cô, ông mỉm cười, đưa mắt chỉ về phía chiếc cửa bằng ván ghép, nói thì thầm:

- Hôm nay mẹ mới ngủ được đấy. Đã hai đêm mẹ không ngủ, bị bệnh phong thấp hành hạ đến khốn khổ... Em lên nhà đợi anh một lát, tự anh làm xong ngay bây giờ.

Thực ra Vê-ra cũng không nghĩ đến chuyện giúp ông. Cô chỉ muốn nhìn qua gian nhà bếp. Nhưng ở đấy cô cũng không trông thấy gì đáng để vui mừng cả - một chiếc bàn nhà bếp, nhỏ, bình thường, phủ vải sơn, trong góc là tủ đựng bát đĩa bằng gỗ thường, trong tủ có một bộ đồ uống chè và mấy chiếc ly rẻ tiền. Dăm vỏ đồ hộp, vài cái chai để trên bệ cửa sổ.

Vê-ra trở lên phòng, nhìn quanh, tìm cửa dẫn sang các phòng bên. Nhưng ngoài lối hai người vừa đi vào lúc nãy, cô không còn trông thấy chiếc cửa nào khác. Vê-ra lại ngồi xuống đi-văng, tim đập mạnh. «Đồ ngốc... trời ơi, sao lão ta ngốc thế! - Với một sự căm thù âm ỉ, cô nghĩ về A-lây-nhi-cốp, về đôi lông mày rậm, về vết sẹo xanh trên má trước đây cô vẫn hay hôn (nhớ đến đây, cô thậm chí còn nhăn mặt lại). - Bao nhiêu khả năng, quyền lực mà phải sống như thế này,..»

Cô lại đứng vụt dậy, bước đến bên tủ, giật mạnh cánh cửa. Trong tủ treo một chiếc áo ca-pốt của A-lây-nhi-cốp, mấy bộ quân phục, một chiếc áo bành-tô đông có cổ lông khá tốt, ngăn trên xếp mấy chiếc áo sơ-mi giặt sạch, là rất kỹ, gấp cẩn thận. Chỉ thế thôi. «Được rồi, được rồi!» - Cô giận dữ hứa thầm với một người nào đó.

Vê-ra đóng cửa tủ lại, và, không biết là lần thứ mấy, lại nhìn quanh gian phòng quá ư đơn giản này. Bây giờ cô nhận thấy rằng cả hai tấm màn cửa sổ tuy bằng lụa thật đấy, nhưng đã cũ, giặt đi giặt lại nhiều lần, cả mấy khung cửa sổ cũng đã nhiều chỗ bong sơn, cần phải quét lại, cả chân mấy chiếc ghế đứng cạnh bàn cũng đã mòn vẹt, mặt ghế cũng long hết đinh... Và, giống như bị say rượu, cô lảo đảo quay lại bên đi-văng. «Không sao, chỉ cốt mọi chuyện mình với lão ta xong xuôi, còn sau đó...»

A-lây-nhi-cốp bước vào phòng, đặt lên bàn hai bộ đĩa chén và lọ đường thủy tinh màu xanh kỳ cục kia.

- Chè cũng sắp được rồi, - ông nói, và bắt gặp ánh mắt của Vê-ra, ông bối rối xoa xoa chiếc sẹo bên má, - Đấy, anh sống như thế đấy...

- Có sao, cũng bình thường như mọi người thôi, - cô cố nói ra vẻ thản nhiên, khẽ nhún vai - Tuy nhiên, em tưởng tượng có hơi khác một chút... - Và, hơi chột dạ vì những lời của mình, cô vội nói thêm. - Nhưng điều đó thì có nghĩa gì đâu?

- Khi... em biết đấy, anh trước đây cũng đã có gia đình... Khi vợ bỏ anh đi, anh nhường ba gian phòng cho một người cùng cơ quan. Gia đình anh ta khá đông, còn anh và mẹ chừng này cũng đủ.

- Tất nhiên, nhiều hơn cũng chẳng để làm gì, - Vê-ra gật đầu đồng ý.

- Nhà đem ngăn đôi bằng bức tường này và mở thêm một cửa ở phía bên kia... Em đợi một tí nhé, hình như nước sôi rồi.

Mấy phút sau họ đã ngồi bên bàn. Vê-ra dùng thìa quấy đường trong cốc của mình, nhấp từng ngụm nước nóng bỏng, lắng nghe tiếng gió giật ngoài cửa sổ.

- Hình như bắt đầu có một cơn bão lớn,

- Không sao đâu, anh sẽ đưa em về, - A-lây-nhi-cốp nói cho cô yên tâm.

Vê-ra nhăn mặt lại, không hẳn vì tiếng rít của cây cối ngoài cửa sổ, cũng không hẳn vì những lời của A-lây-nhi-cốp, và cô tiếp tục dòng suy nghĩ của mình. «Không sao, chỉ cốt mọi chuyện xong xuôi... Rồi cái tay cùng cơ quan có gia đình đông người kia sẽ phải cuốn xéo. Sẽ đập bức tường ngăn ra. Sẽ có nhà ra nhà... Và nói chung, khắp San-ta-ra sẽ biết thế nào là vợ của I-a-cốp A-lây-nhi-cốp... của chính A-lây-nhi-cốp! Tất cả sẽ biết tay, thậm chí cả Cru-gi-lin...»

Cô nghĩ rằng mình tính toán rất chín chắn, thông minh, như một người từng trải, hiểu biết rất rõ cuộc đời và con người.

A-lây-nhi-cốp ngồi, dáng đăm chiêu bên cốc nước chè còn chưa đụng tới. Vê-ra hiểu rằng đã đến lúc phải nói câu chuyện quyết định, nhưng cô không biết bắt đầu như thế nào. Và hơn nữa, chính cô cũng sợ câu chuyện đó.

- Thế anh... chắc vẫn có giúp vợ cũ chứ? - cô hỏi và bối rối cảm thấy câu hỏi không thật đúng chỗ.

- Không, - ông như chợt tỉnh khỏi cơn trầm ngâm, đáp. - Thậm chí anh cũng không biết cô ta giờ ở đâu. Cô ta đi mà không nói đi đâu... Cũng không viết một bức thư nào về cả. Và cô ta cũng không cần giúp đỡ. Con cái không có - cô ta không muốn. Mà anh cũng còn có người cần phải được giúp đỡ...

- Ai thế? - Vê-ra hỏi, cố gắng sao cho giọng nói có vẻ âu yếm, ấm áp hơn.

- Anh có một người anh cả. Anh ấy mất cách đây sáu năm vì bệnh lao mắc phải khi ngồi tù khổ sai thời Nga hoàng. Anh ấy còn bốn người con, chị vợ anh ấy lại bị bệnh tim, chỉ ngồi ôm ngực, không làm việc được. Anh đã hứa với anh ấy trước khi anh ấy qua đời là sẽ lo lắng, chăm sóc cho các cháu. Và đấy...

A-lây-nhi-cốp đưa mắt nhìn quanh phòng, dường như muốn giải thích cho Vê-ra rằng tại sao ông lại sống nghèo nàn như thế.

- Con trai út của anh ấy giờ mới tám tuổi, còn con gái đầu mười sáu. Đang học lớp mười. Chúng hiện đang ở xa, tận Vla-đi-vô-xtốc. Anh đang định đưa cả nhà anh ấy về đây để sống cùng nhau, hoặc ít ra cũng gần hơn. Thế mà giờ...

- Mà giờ lại đi yêu em, - Vê-ra chêm vào với một nụ cười lấy lòng gượng gạo. - Nhưng cái đó thì có phiền gì đến chúng ta?.. Cần phải đưa gia đình bác ấy về đây...

- Không... Anh muốn nói giờ lại chiến tranh... - A-lây-nhi-cốp khô khan, lạnh nhạt nói. Rồi, sau một giây im lặng, khẽ ngả người ra sau lưng ghế, ông nói bằng một giọng hoàn toàn xa lạ đối với cô: - Vê-ra...

Vê-ra đứng bật dậy, suýt nữa đánh đổ cả cốc nước.

- Khoan đã, anh I-a-cốp, để cho em nói đã... - Giọng Vê-ra lạc hẳn đi, và cô không thể nói tiếp một lời nào nữa, trong ngực nhói lên lạnh buốt, kinh hoàng. Sâu trong ý thức, cô đã hiểu, đã đoán được rằng: thế là hết!

- Không cần đâu, Vê-ra ạ, em chẳng có gì phải nói đâu, - A-lây-nhi-cốp cúi đầu xuống như kẻ có lỗi. - Anh cần... anh buộc phải nói, mặc dù rất nặng nề... Anh không thể cưới em được đâu, Vê-ra ạ...

Bây giờ cô không chỉ đoán được là giữa cô và A-lây-nhi- cốp mọi việc đã kết thúc, mà cô còn nghe cả những lời của ông nói ra: «Thế là hết! Thế là hết!» - trong đầu cô vang lên nhức nhối. Nhưng cả người cô chống lại, không thể cam chịu, đồng ý với điều đó.

- I-a-cốp, anh... Anh nói cái gì?

- Anh nói rằng em tha lỗi cho anh, Vê-ra ạ. Và hãy hiểu... Chúng ta không thể... Anh không thể cưới em được nữa...

Đôi mắt cô như bị phủ một làn sương đục với vô vàn những vệt dài màu vàng. Cơn giận dữ, lòng tự ái bị xúc phạm, sự căm ghét bỗng nhiên biến toàn thân cô thành một thùng thuốc nổ, còn những ý nghĩ quay cuồng trong đầu cô như những hòn than cháy rực, bắn những tia lửa xanh ra tứ phía. Chỉ cần một hòn than nào đó chạm vào khối thuốc súng, thì - cô cảm thấy như vậy - sẽ xảy ra một vụ nổ dữ dội. Sợ hãi điều đó sẽ xảy ra, cô lùi lại hai bước, buông người xuống đi-văng, ngoảnh mặt vào tường, người co rúm lại như bị lạnh, thả sức cho nước mắt trào ra. Cô nghe thấy tiếng A-lây-nhi-cốp bước đến bên cạnh, ngồi xuống mép ghế, đặt tay lên vai cô và nói một câu gì đó. Vê-ra ngẩng phắt đầu lên, hét to, lạc cả giọng:

- Dứt khoát chưa đấy?

- Dứt khoát. Anh đã nghĩ nhiều, và phải dứt khoát như vậy.

Vê-ra hai tay ôm lấy mặt, rên rỉ trong cơn giận dữ bất lực. A-lây-nhi-cốp đứng lên và hấp tấp, vụng về đi lại trong phòng, vấp cả vào bàn ghế...

* * *

Ông, I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, đã sống năm mươi năm qua một cách rất nặng nề. Trước đây, cuộc đời của ông bắt đầu một cách đơn giản và nhẹ nhàng, cả thế giới chia ra bạn và thù rạch ròi như thời gian chia ra ngày và đêm. Ông, A-lây-nhi- cốp, biết rõ mình là ai trên trái đất này, phải làm gì và sống vì mục đích nào.

Dần dần tất cả trở nên phức tạp, tất cả trở nên rối rắm trong cuộc đời ông. Thời gian vẫn như trước chia ra ngày và đêm, mục đích vẫn rõ ràng như trước, chỉ có một điều không hiểu nổi là tại sao nhiều người trước đây là bạn, giờ lại trở nên thù.

Ông bắt đầu suy nghĩ, trầm tư, từ sau mùa đông năm ba mươi sáu, khi vợ ông bỏ ông đi sau khi nói lời chia tay:

- Tôi đi không phải vì tôi thôi yêu anh... Có thể, đến giờ vẫn đang yêu... Nhưng anh là một con người khủng khiếp. Tôi ghê sợ khi nằm một giường với anh...

Không nói hết câu, chị bỏ đi, mặt đầy nước mắt, chỉ mang theo một chiếc va-li nhỏ đựng quần áo. Từ đó, ông không bao giờ gặp lại vợ nữa, nhưng những lời của chị vẫn luôn vang lên bên tai. Lúc đầu, chúng làm cho A-lây-nhi-cốp tức giận, nổi khùng lên, nhưng dần dần ông bắt đầu bình tĩnh nghĩ lại: tại sao lúc chia tay Ga-li-na lại nói với ông những lời như vậy? Chẳng lẽ quả thật ông đã bắt giam những người vô tội? Cứ thí dụ như cái tay I-van Xa-vê-li-ép chẳng hạn. Ông đã bắt tên phỉ bạch vệ này với một lương tâm trong sạch. Hồi đó, năm mười chín, khi cảm thấy cái chết đang tới gần, cái gã I-van này mới mưu mô dùng cái đầu của tên tướng phỉ để chuộc lấy mạng sống cho mình. Sau khi bắn chết Cáp-ta-nốp, giải thoát con gái của hắn, An-na, đang bị bắt làm tù binh, I-van đã đến đội du kích để đầu thú. Và cả chỉ huy đội du kích Cru-gi-lin, cả An-na và nhiều người khác đã tin vào những dự định trong sạch của I-van. Chỉ có ông, A-lây-nhi-cốp, và anh ruột của I-van, Phê-đô, là không tin. Và thực tế đã chứng minh là họ đúng. I-van chưa chịu buông vũ khí, trong lòng vẫn chưa chịu khuất phục chính quyền mới - và đấy, câu chuyện hai con ngựa... Tất cả đều rõ ràng: dù chỉ bằng cách này, tao cũng phá hoại Chính quyền Xô-viết... Người bảo vệ hăng hái nhất cho hắn là một nông trang viên làng Mi-khai-lốp-ca, Ác-ca-đi Môn-tsa-nốp. Bảo vệ, mà cũng có thể là tòng phạm. Hơn nữa, ngồi ở phòng sơ thẩm, hắn bắt đầu nói xấu chính quyền Xô-viết. Thế nào, chẳng lẽ cứ thả hắn ra, để hắn tiếp tục bảo vệ kẻ thù của nhân dân, tiếp tay cho chúng phá hoại chính quyền Xô-viết hay sao?

TGVC (8)

Thế từ khi nào ông bắt đầu cảm thấy tất cả những chứng cớ buộc tội I-van Xa-vê-li-ép và Ác-ca-đi Môn-tsa-nốp là không vững chắc, là ngây thơ, và sau đó là ngu ngốc đến tột cùng, không tưởng?

Dù thế nào đi chăng nữa, thì với ông, A-lây-nhi-cốp, cũng đã xảy ra một cái gì đó, và ông kinh hoảng khi nhìn lại mình dưới một thứ ánh sáng khác!

Đây là một cảm giác rất kỳ lạ và rất phức tạp. Dường như bây giờ có hai A-lây-nhi-cốp, một người đứng tách riêng ra ở một nơi nào đó, được một ngọn đèn pha chiếu sáng từ trên xuống, còn người thứ hai đứng bên cạnh, trong bóng tối, nhìn người thứ nhất được chiếu sáng cả bốn phía, nhìn với một vẻ ngạc nhiên, ghê tởm và sợ hãi.

Tóc A-lây-nhi-cốp mỗi ngày một bạc nhiều thêm, bắt đầu rụng, để lộ cả một mảng da trên đỉnh đầu. Ông trở nên lầm lì, ít nói, đôi mắt trũng sâu xuống dưới đôi lông mày rậm, vết sẹo do thanh gươm của tên đại tá Du-bốp để lại trên má trái hằn lên xanh nhợt, một màu nhợt nhạt chết chóc, và trong những lúc tức giận, nó sưng phồng lên và đen thẫm lại, làm cho vẻ mặt ông vốn đã cau có lại càng thêm đáng sợ.

A-lây-nhi-cốp càng ngày càng hay có ý nghĩ rằng thực chất ông là một kẻ đểu cáng, một tội phạm, rằng rồi sẽ đến lúc mọi người sẽ nghiêm khắc hỏi tội ông về những việc làm của mình. Ngày đó nhất định sẽ đến. Sẽ đến và sẽ mang lại cho ông một sự giải thoát nhẹ người. Nhưng bao giờ ngày đó sẽ đến? Còn phải đợi bao lâu nữa? Mà có tốt hơn không, nếu tự mình giải thoát cho mình ngay bây giờ, không phải đợi đến ngày đó?

Đó là những ý nghĩ về việc tự sát.

Những ý nghĩ đó lần đầu tiên thoáng hiện vào cuối năm ba mươi tám, sau lần bắt trưởng ban cung tiêu huyện Va-xi-li Da-xu-khin và trưởng phòng tài chính Đa-nhi-lô I-va-nô-vích Cô-skin.

Sáng hôm sau đến cơ quan, ông ra lệnh dẫn Cô-skin và Da-xu-khin đến phòng làm việc của mình. Nhưng sau khi ra lệnh xong, ông liền nghĩ: «Mà để làm gì kia chứ?»

Những người bị bắt được dẫn đến, tay đeo còng, chỉ mới sau mấy giờ mà cả hai đã gầy đi, phờ phạc. Cô-skin mím chặt môi một cách khinh bỉ, nhìn A-lây-nhi-cốp như muốn nói: «Thế nào, I-a-cốp, đến thế này cơ à?» Còn Da-xu-khin thì chăm chú nhìn đôi tay của mình, dường như không hiểu tại sao chúng lại đang nằm trong còng sắt.

A-lây-nhi-cốp ra lệnh mở bỏ còng.

- Cảm ơn anh, - Cô-skin cười khẩy nói. - Nào, anh hãy giải thích đi, chúng tôi có tội gì, có những hoạt động thù địch phá hoại nào? Có thể, chúng tôi là biệt kích, định phá cầu qua sông Grô-mô-tu-kha? Hay là cái cửa hàng bị cháy là do chính tay tôi đốt?

- Cái đó thì tự các anh sẽ nói, khi người ta hỏi đến, - A-lây-nhi-cốp khó khăn lắm mới thốt lên được. - Người ta sẽ tuyên bố lời buộc tội đối với các anh như quy định thường lệ. Tôi muốn hỏi về chuyện khác... Hình như các anh, cả hai... đều biết rằng người ta sẽ bắt các anh?

- Còn sao nữa, biết chứ. Chúng tôi bây giờ là những người to miệng nhất trong huyện hiện nay, - Da-xu-khin trả lời.

- Tại sao các anh, nếu như biết trước rằng... lại to miệng như vậy?

- Biết giải thích cho anh thế nào bây giờ? - Da-xu-khin cười khẩy. - Đa-nhi-lô I-va-nô-vích, anh có thể giải thích cho anh ta rõ ràng hơn không?

- Được thôi, - Cô-skin gật đầu, tay xoa xoa nơi cổ tay - Chúng tôi, anh I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích ạ, trong nội chiến đã nhiều lần nằm kề bên cái chết. Cả đạn réo sát bên tai, cả gươm khua sát mặt. Nó sát đến nỗi da bỏng rát. Nhưng, tất cả những cái này chắc anh cũng còn nhớ. Lúc đó chúng ta không suy nghĩ, lo lắng nhiều về cuộc đời của mình, về sự sống của bản thân, vì biết mình đang chiến đâu vì cái gì, mối thù nào cần phải thanh toán... - Và bỗng nhiên Cô-skin đứng dậy khỏi ghế, vươn thẳng tấm thân cao lớn của mình lên. Và ông lại biến thành anh chàng Đa-nhi-lô-thiên lôi thuở trước, vụng về đi lại trong phòng như một con sếu cao lêu nghêu, hai tay vung vẩy. -Thế thì tại sao, I-a-cốp, anh lại nghĩ rằng bây giờ chúng tôi lại có thể trở thành những kẻ hèn nhát? Cứ để cho Pô-li-pốp phá nát cả huyện ra mà chúng tôi vẫn im lặng à? Chúng tôi còn phải tự trói mình lại à? Thế thì chúng tôi bấy nhiêu năm nằm kề bên cái chết để làm gì? Lúc đó làm sao chúng tôi có thể dám nhìn mặt mình ở trong gương? Làm sao có thể dám nhìn thẳng vào đôi mắt của chính mình?

Đa-nhi-lô I-va-nô-vích Cô-skin đi đi lại lại trong phòng, từ góc này sang góc khác, đôi tay dài vung loạn xạ, giọng oang oang, ném những lời nặng như đá lát đường vung ra khắp bốn phía. Và có cảm tưởng như chính ông mới là chủ của gian phòng rộng rãi với những chấn song cửa sổ cao này, chứ không phải A-lây-nhi-cốp đang ngồi thu người lại sau bàn làm việc của mình.

- Anh bảo là anh ta không hiểu những lời của anh à?- Cô-skin gần như thét lên, dừng lại trước mặt Da-xu-khin, bàn tay nắm chặt dứ về phía A-lây-nhi-cốp. Rồi ông chạy đến bên A-lây-nhi-cốp, khuỳnh tay ra như hai chiếc đòn gánh, túm chặt lấy hai mép bàn, như định nâng nó lên trên đầu và ném vào A-lây-nhi-cốp. - Anh không hiểu sao?! Không, anh hiểu hết, I-a-cốp ạ. Anh hiểu rằng anh đang bắt những người vô tội vào tù! Coóc-nây Ba-u-lin tội gì? Anh ấy mà là kẻ thù của nhân dân à? Đến giờ tôi vẫn còn nhớ là ở đây, ngay trong phòng này, chúng tôi đã giảng giải cho anh hiểu rằng anh ấy không phải là kẻ thù nào hết. Bây giờ thì đến lượt chúng tôi. Thế mà anh còn hỏi - tại sao các anh lại to miệng như vậy??

A-lây-nhi-cốp ngơ ngác nhìn, rồi nặng nề ngồi xuống sau bàn, đưa hai bàn tay bị mặt kính đặt trên bàn làm cho lạnh ngắt lên ôm chặt lấy thái dương.

Sau đó ông bấm chuông và nói, mắt không nhìn Cô-skin và Da-xu-khin:

- Dẫn họ đi.

...Không ai biết rồi sau đó A-lây-nhi-cốp đã phải trải qua bao nhiêu đêm không ngủ, bao nhiêu suy nghĩ đã quay cuồng trong đầu vào những đêm đó. Không ai biết bao nhiêu lần ông, khi thì giữa đêm, khi thì gần sáng, đã ngồi dậy trên chiếc giường nhàu nát, bàn tay run rẩy một cách đáng ghét, rút từ trong bao ra khẩu súng lục nòng sắt giá lạnh, nắm chặt trong tay cho đến lúc nó nóng rực lên, và rồi lại nhét nó vào trong bao, đút xuống dưới gối, để trong mọi trường hợp, nó ở gần hơn, ngay trong tầm tay.

Cái gì đã giữ ông khỏi tự tử?

Câu trả lời cho câu hỏi này đến vào một ngày tháng Tư rực rỡ, khi tuyết đã tan, mặt đất khô dần nước lũ xuân, ngoài cửa sổ, lũ quạ ngây ngất bởi mặt trời và gió ấm, kêu inh ỏi, còn trên cây những mầm non đã nhú lên, sắp sửa bật tung, xòe ra những chiếc lá đầu tiên, đầy nhựa dính. Ngày hôm đó phụ trách trực ban của phòng báo cáo với A-lây-nhi-cốp rằng, theo thông báo của A-nhi-cây Ê-li-da-rốp, ở trạm máy kéo, mặc dù đã cuối tháng Tư, hơn một nửa số máy kéo còn chưa được sửa chữa, và thợ máy Phê-đô Xa-vê-li-ép nói ầm lên với tất cả mọi người rằng cái đống đồ cũ ấy thì chẳng có gì mà chữa nữa, chẳng có ích lợi gì.

- Tức là anh ta, anh hiểu không, cố ý làm mất tinh thần công nhân cơ khí, -nhân viên trực ban kết luận, đôi môi khô cứng mím chặt. - Còn mùa hè năm ngoái cũng chính tay Phê-đô Xa-vê-li-ép này suýt nữa thì đốt cháy cỗ máy liên hợp. Rõ ràng là, có thể nói, hắn chủ trương...

- Chủ trương nào! - A-lây-nhi-cốp cau mày. - Tôi là ủy viên thường vụ huyện ủy và tôi biết tình hình ở trạm máy kéo. Số lượng máy kéo quả đã hư mòn rất nặng, nhiều máy cần phải thay toàn bộ ổ máy, mà bộ phận dự trữ không có. Tình hình là như vậy. Và Xa-vê-li-ép nói đúng, bây giờ chỉ còn là một đống đồ cũ. Còn vụ cháy máy liên hợp... Chúng ta đã xem xét vụ cháy này rồi còn gì. Chỉ mới cháy rơ-moóc.

- Vâng, vì rằng trời đổ mưa. Còn nếu như không có mưa thì cả máy gặt liên hợp cũng cháy hết, và lúa không gặt kịp, hỏng...

- Nhưng Xa-vê-li-ép thì có quan hệ gì đến việc đó? - A-lây-nhi-cốp cáu kỉnh hỏi to.

Vụ cháy mà nhân viên trực ban nhắc đến, xảy ra ngay đầu vụ gặt. Một chuyện lạ lùng xảy ra - một tia chớp đánh vào chiếc rơ-moóc của máy gặt đập chất đầy rơm lúa mạch đen đã đập xong. Hôm đó từ sớm không khí đã oi bức, nóng nực, rồi bầu trời lại phủ đầy những đám mây thấp, nặng. Xa-vê-li-ép gặt từ sáng sớm, thỉnh thoảng lại nhìn những đám mây đen từ phía dẫy Dve-nhi-gô-ra trôi về, hy vọng gió sẽ thổi tản chúng đi. Nhưng ngọn gió nhẹ vừa mới nổi lên đã tắt lặng, và trên đầu, không cao lắm, bắt đầu vang lên tiếng sấm. Bỗng nhiên bầu trời đổ sập ngay xuống cỗ máy gặt đập liên hợp, một tia chớp sáng rực quất rát vào mắt Xa-vê-li-ép và ông gập người lại trên cần lái, hai bàn tay ôm mặt. Khi bỏ tay ra khỏi má, đầu tiên Phê-đô nghe thấy tiếng kêu thất thanh của I-nhi-u-chin, rồi sau mới thấy I-nhi-u-chin đang chạy ngang qua cỗ máy gặt đập liên hợp về một hướng nào đó. Phía sau, một cột lửa bốc lên, như ông tưởng lúc đầu, ngay từ dưới phần sau của cỗ máy gặt.

Trên rơ-moóc hôm đó có hai cô gái, một cô bị đánh chết ngay, cô khác ngất đi, cả hai đều bị ném văng ra khỏi rơ-moóc. Khi Phê-đô Xa-vê-li-ép nhảy xuống đất, ông thấy Ki-ri-an I-nhi-u-chin đang kéo một trong hai cô gái trên mặt ruộng rạ đi ra xa lửa. Phê-đô, chưa kịp hiểu rõ việc gì xảy ra, cũng ôm vội lấy cô gái thứ hai, mang ra xa, miệng hét:

- Nhanh lên, lên máy kéo! Đánh ra xa ngay! Cháy mất lúa bây giờ!

I-nhi-u-chin đánh cỗ máy liên hợp chạy một quãng chừng năm chục mét, dừng lại. Xa-vê-li-ép tìm cách cắt rơ-moóc ra khỏi máy. Nhưng nó đã bốc cháy như bị tưới xăng. Che mặt khỏi hơi nóng hừng hực, Phê-đô cố gắng dùng chiếc cờ-lê nặng đánh bật đinh bu-lông nối, nhưng không được. Lúc đó I-nhi-u-chin lại tưởng Phê-đô đã tháo xong rơ-moóc, tiếp tục cho máy kéo chạy, lôi theo cả khối đuôi lửa. Xa-vê-li-ép, suýt nữa rơi vào giữa bánh xe, nhảy vội sang bên.

- Đứng la-ại! - ông thét.

Những mảng rơm bốc lửa từ trên rơ-moóc rơi xuống đất, lửa bò trên mặt ruộng rạ đã gặt, một ngọn gió thổi đến đuổi nó chạy về phía bức tường lúa chưa gặt, Xa-vê-li-ép cố sức lấy chân giẫm tắt những ngọn lửa nhỏ đỏ,

- Sao? - I-nhi-u-chin chạy đến, hét to, hỏi, - Chưa tháo ra được à?

Rồi cả hai chạy bổ đến để tháo rơ-moóc ra, nhưng họ hiểu ngay rằng không thể làm được việc đó - những ngọn lửa từ rơ-moóc lan sang đã bắt đầu liếm đến bên sườn bằng tôn thép của cỗ máy liên hợp.

Cách đấy không xa, còn có một tổ hợp máy khác đang làm việc. Trông thấy đám cháy, mọi người chạy tới: thợ máy gặt, thợ phụ rơ-moóc, và trước tất cả, là thợ lái máy kéo A-nhi-cây Ê-li-da-rốp. Chạy đến nơi, anh thò chiếc lưỡi nhọn ra liếm cặp môi khô, ném về phía Phê-đô rồi Ki-ri-an những ánh mắt dữ tợn, hứa hẹn điều chẳng lành.

- Tại sao các anh lại thế này? Tại sao các anh lại thế này?

Nhưng Xa-vê-li-ép không chú ý đến Ê-li-da-rốp, ông mải ra sức dập những ngọn lửa đang cháy tứ tung ra bốn phía trên mặt ruộng rạ, cởi vội chiếc áo khoác trên người ra đập túi bụi xuống đất.

- Máy liên hợp cháy mất thôi, Phê-đô! - Ki-ri-an I-nhi-u-chin kêu to - Xem kìa, lớp sơn trên vỏ sắt đã rộp phồng lên!

- Mặc kệ mẹ nó! - Phê-đô thở hổn hển, quát to. - Lo cứu lấy lúa! Lúa cháy mất bây giờ đấy...

I-nhi-u-chin, Ê-li-da-rốp, thợ máy gặt, mấy người phụ rơ-moóc cũng bắt đầu dập những đám lửa đã bò loang ra bốn phía.

Chưa biết rồi sự việc sẽ kết thúc ra sao, bởi vì ruộng rạ lúa mạch đen rất cao, dày, khô, cháy như thuốc súng. Mọi người bị khói xông sặc sụa, chân tay bỏng rát, nhưng vẫn không thắng nổi đám cháy. Ở một vài chỗ, những lưỡi lửa xám trắng đã bắt đầu bén vào khối lúa mì, và lập tức màu trắng xám biến thành màu đỏ thẫm, ngọn lửa bùng lên, cháy rừng rực, ngấu nghiến nuốt chửng những khóm lúa dày, dài đến hàng mét rưỡi. Khối lửa lẫn khói đen bốc lên cao, mùi khét đắng của thóc cháy xộc vào mũi mọi người.

Nhưng vừa lúc đó, từ trên trời, mưa đổ xuống như trút nước, và chỉ trong mấy giây đám cháy đã bị dập tắt.

Trận mưa rào rất to, nhưng ngắn, mấy phút sau mặt trời đã hiện ra, rọi ánh nắng xuống những rãnh trũng đen, không sâu lắm vừa bị ngọn lửa ăn khoét vào bên mép bức tường cao của ruộng lúa mạch đen, lên đống hài cốt của toa rơ-moóc bị cháy đen, lên những con người ướt sũng.

- Anh với Ki-ri-an còn gặp vận may đấy, - một chị thợ phụ rơ-moóc của tổ máy bên cạnh nói với Phê-đô. - Anh bảo chớp đánh xuống à? Ôi, khiếp quá!

- Cái này quả là cũng còn phải nghĩ - có đúng là chớp không? - Ê-li-da-rốp cười mát, nói. - Rồi sẽ có người xem xét cụ thể...

Anh chợt im bặt, vì Ki-ri-an I-nhi-u-chin đang loay hoay bên mấy cô gái thợ phụ rơ-moóc nằm trên ruộng rạ bỗng hét vang lên khắp cánh đồng:

- Phê-đô-ô! Các ông các bà ơi! Sét đánh chết Ca-chi-a rồi!

...Đầu đuôi sự việc xảy ra là như vậy. Đích thân A-lây-nhi- cốp xem xét việc này, và các bác sĩ cũng xác định rằng cô gái thợ phụ rơ-moóc chết vì luồng điện của tia chớp. Tất cả những điều này nhân viên phụ trách trực ban đều biết, thế nhưng anh ta vẫn nói về một chủ trương, âm mưu nào đó.

- Nhưng thử hỏi, Xa-vê-li-ép thì có quan hệ gì đến việc này? - A-lây-nhi-cốp lại hỏi to một lần nữa.

Nhân viên trực ban nhún vai:

- Nhưng chính anh cũng biết đấy, ở trên tỉnh họ không hiểu cho chúng ta. Phê-đô Xa-vê-li-ép lấy con gái của một tên cu-lắc trước đây. Em của anh ta bị ngồi tù vì tội phá hoại... Suốt đời Xa-vê-li-ép đánh bạn với Ki-ri-an I-nhi-u-chin. Mà cha của I-nhi-u-chin ở trong bọn phỉ...

I-a-cốp đập khẽ bàn tay lên mặt bàn, đứng dậy.

- Họ hiểu chúng ta như thế nào, điều đó tất nhiên là quan trọng. Nhưng cái quan trọng hơn, là chính chúng ta hiểu con người như thế nào! Hiểu chính Phê-đô Xa-vê-li-ép này, chính Ki-ri-an I-nhi-u-chin này như thế nào! Và nói chung, chúng ta hiểu cuộc đời như thế nào!

Nói ra những lời này, A-lây-nhi-cốp nghĩ thầm: nếu không có mình, Xa-vê-li-ép và I-nhi-u-chin chắc bây giờ phải rầy rà to. Và chính trong giây phút đó, không sớm hơn và cũng không muộn hơn, mà chính trong cái khoảnh khắc đó, ông bỗng vụt hiểu ra một cách rõ ràng cái gì đã ngăn ông không tự tử, khi hiểu ra ý nghĩa câu nói của Da-xu-khin: đó sẽ là điều ngu xuẩn nhất mà anh sẽ làm bây giờ, chính là bây giờ... Giống như một chiếc màn nào đó từ trước đến nay vẫn bịt kín trước mắt ông, bỗng nhiên biến mất, để cho từng dòng ánh sáng mặt trời rọi thẳng vào người ông, A-lây-nhi-cốp.

A-lây-nhi-cốp chậm chạp buông mình xuống ghế, ngạc nhiên đưa mắt nhìn quanh phòng mình, như thể lần đầu tiên trông thấy nó. Và quả thật, từng dòng ánh sáng của mặt trời mùa xuân vàng rực đang tuôn chảy vào phòng qua tất cả các cửa sổ, chiếu vào tận những góc tối xa nhất. Người nhân viên trực ban không còn trong phòng nữa. Anh ta đi ra lúc nào, A-lây-nhi-cốp không nghe, không nhận thấy. Ngoài đường, bầy chim sẻ kêu lích rích, một cành dương khe khẽ gõ vào cửa sổ - hình như một vài nụ đã bắt đầu xòe lá. A-lây-nhi-cốp đứng dậy, bước đến bên cửa sổ - phải rồi, lá đã xòe ra! Mới sáng đây, nụ mầm còn đen thẫm, trơn tru, mà bây giờ, dưới sức ép của dòng nhựa xuân đang trào lên, chúng đã căng phồng, hé nở, từ phía trong bí ẩn hiện ra mấy mầm lá nhọn màu xanh nhạt...

Buổi chiều hôm đó, không hiểu sao, A-lây-nhi-cốp đi ra bờ sông Grô-mô-tu-kha. Sông vẫn còn đóng băng, mặc dù trên bờ tuyết đã tan từ lâu. Lớp băng lỗ chỗ đã rộp lên, chuyển sang màu xanh, và bất cứ lúc nào cũng có thể nứt ra để lộ dòng sông phía dưới.

Giẫm lên đá sỏi lạo xạo, A-lây-nhi-cốp đi dọc bờ sông ra phía sau thị trấn mà không hiểu mình đi đâu, để làm gì. Ông vừa đi vừa thở hít cái không khí lành lạnh, hơi thô của buổi chiều tháng Tư với mùi đất mùa tuyết đang tan, mùi mầm cây đang nhú và mùi băng trên sông bị mặt trời mùa xuân đốt mềm, mắt nhìn làn sương chiều nhẹ đang bốc lên phía thượng nguồn sông, loang rộng dần ra, che phủ một hòn đảo nhỏ trên sông và những bụi cây mọc trên đảo. Còn buổi sáng, ông nghĩ, sương sẽ tan, bay ngược lên cao, chân trời sẽ được mở rộng thêm. Cây cối trên đảo sẽ hiện ra mỗi lúc một rõ như cảnh trên tờ giấy ảnh đang ngâm trong thuốc hiện hình...

* * *

A-lây-nhi-cốp vụng về đi lại trong phòng, xô vấp cả vào ghế, còn Vê-ra nằm trên đi-văng, người duỗi ra như một sợi dây. Cô nhìn A-lây-nhi-cốp với một sự căm thù hằn học, nhưng ông lại ngờ là trong mắt cô đầy đau khổ chân thành. Ngực cô thắt lại vì bực bội, giận dữ, mà ông lại ngỡ rằng trái tim cô đang nhức nhối, bầm máu vì đau buồn và thất vọng.

I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, có thể nói, không biết đàn bà. Trước đây, hồi còn trẻ, ông rất dễ làm quen với họ, và nếu như cô gái nào không tỏ ra quá kiêu kỳ, ông giữ quan hệ với cô ta cho đến lúc cô ta chưa làm cho ông phát chán. Chia tay với họ, ông không cảm thấy day dứt nhiều, khi tìm được người mới, ông nhanh chóng quên ngay người cũ.

Nhưng dần dần, khi đã có tuổi, cuộc sống độc thân, không ổn định, đã làm cho ông chán. Trong một lần đi công tác ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ, ông làm quen với nữ bác sĩ Ga-li-na Phê-đô-xê-ép-na, sau chừng năm rưỡi thư từ đi lại, tỏ tình cùng bằng thư, ông đến đón chị, đưa về San-ta-ra...

Ông nghĩ rằng mình yêu vợ, và nếu như không quan tâm được đầy đủ đến vợ, thì chỉ là vì cái công việc quá vất vả của ông đã chiếm hết thời gian, sức lực.

Nhưng khi chị bỏ nhà đi, ông mới hiểu: ông không yêu vợ, mà ông đã quen đi, chỉ cảm thấy thoải mái và tiện lợi khi trong nhà có một người phụ nữ nấu nướng, giặt giũ và ngủ với ông...

Lần đầu tiên ông yêu thật sự khi trông thấy cô đánh máy mới ở văn phòng huyện ủy.

Tại sao chuyện đó lại xảy ra vào đúng cái tuổi năm mươi? Tại sao ông lại đi yêu một cô gái ít tuổi hơn ông tới gần ba lần?

Những câu hỏi này bắt ông phải suy nghĩ nhiều, ông thường tự hỏi mình và trả lời một cách đơn giản, thậm chí thô thiển. Ông yêu, vì rằng cô ta trẻ và đẹp, còn ông đã già và mệt mỏi, ông đã lầm lạc và có trời mới biết ông đã làm những gì trong đòi. Ông có cảm tưởng rằng Vê-ra chính là người phụ nữ mà ở bên cạnh, ông có thể nghỉ ngơi cả về tâm hồn và thể xác, ở bên cạnh cô, tâm hồn câm lạnh của ông sẽ được sưởi ấm, tính cô độc, cau có của ông sẽ biến mất, tan đi,

Sự khác nhau về tuổi tác có làm cho ông băn khoăn do dự không? Có. Nhưng ông không thể làm gì được với mình, và quyết định...

Thực ra mà nói, ông không hy vọng là việc sẽ thành. Nhưng đến khi thấy là có thể hy vọng, mọi nghi ngờ, do dự của ông như tan ra, quên đi...

Quên đi, nhưng hóa ra không phải là vĩnh viễn, tan ra nhưng không phải hoàn toàn. Và càng ngày, khi quan hệ với Vê-ra càng trở nên xác định hơn, khi đám cưới hằng mong ước trở nên gần như hiện thực, thì những nghi ngờ, do dự trước kia lại trỗi dậy với một sức mạnh mới. «Mình đang làm cái gì đây? - đêm đêm ông tự giày vò, suy nghĩ, - Mình làm chồng cô ấy thế nào được? Chỉ sau năm - mười năm nữa, mình sẽ là một lão già vứt đi. Mình sẽ làm hỏng cả cuộc đời của cô ấy, cô ấy còn trẻ, nên chưa hiểu hết được điều này».

Nhưng ông cảm thấy cái đó không phải là nguyên nhân chính của những nghi ngờ, do dự của ông. «Phải chăng ở đó ta có thể tìm được sự quên lãng và sưởi ấm tâm hồn? Và nói chung có thể sưởi ấm được nó không... sau bao nhiêu chuyện... bằng cách như vậy? Thế bằng cách nào thì có thể? Ở đâu thì có thể?»

Những ý nghĩ đó một lần xuất hiện và từ đó không buông tha ông nữa. Có thể, tất cả những cái đó cộng lại mới giải thích được tại sao I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, một người nói chung không phải là kém thông minh, ít ra cũng đã trải đời, lại không thể nhìn thấy, hiểu được cái tâm hồn thật của cô bé kháu khỉnh này, trong lúc đó cậu con trai mới lớn, chưa có kinh nghiệm như Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép lại thấy được.

Cuối cùng A-lây-nhi-cốp dừng lại cạnh đi-văng, ngồi xuống bên mép, chìa bàn tay ra để xoa lên vai cô. Nhưng cô co rúm người lại, bỏ chân xuống ghế.

- Đừng động đến tôi! - cô hét lên lanh lảnh, hai tay ôm lấy đôi má đang bốc lửa.

- Anh biết rằng anh đã làm cho em phải đau khổ nhiều, - A-lây-nhi-cốp cố tìm lời, ông cảm thấy mình nói không phải những điều cần phải nói. - Anh bây giờ lại càng yêu em hơn... Nhưng biết làm sao được? Anh không thể... Em còn quá trẻ đối với anh... Nhưng đó chưa phải là cái chính, chưa phải...

Cô nhảy bật dậy khỏi đi-văng, giật chiếc áo bành-tô từ trên móc xuống, vội vã quấn khăn lên đầu.

- Để anh đưa em về, Vê-ra ạ. Anh tiễn em bây giờ...

- Không cần! - cô ném sang ông một cái nhìn hằn học cháy bỏng, ngồi phịch lại xuống đi-văng. - Tôi không cần.

Những lời nói và cái nhìn hằn học đó ông tiếp nhận như một điều tất nhiên.

* * *

Suốt ba tuần sau Vê-ra cố gắng một cách vô ích để tìm gặp Xê-mi-ôn, mặc dù tự cô vẫn không biết là gặp để làm gì, cô sẽ nói gì với anh.

Một lần, cô ngồi trong câu lạc bộ xem một bộ phim dài và chán ngắt. Khi hết một cuốn, cô chợt thấy Xê-mi-ôn, anh ngồi trước cô mấy hàng và đang khẽ thì thầm nói chuyện với một anh thanh niên nào đấy.

Sau buổi chiếu, Vê-ra đứng đợi ở cửa.

- Chào anh Xê-mi-ôn, - khi Xê-mi-ôn từ trong câu lạc bộ đi ra, cô lên tiếng ngượng nghịu, lắp bắp. – Nếu anh về nhà, cho em cùng đi.

- A-a..! Chào Vê-ra.

Họ đứng, chân giẫm mãi lên tuyết, cả hai đều cảm thấy ngượng nghịu.

- Tớ thấy là anh chàng này không dám quyết định một bước liều lĩnh như vậy, - anh thanh niên lúc nãy ngồi cạnh Xê-mi-ôn trong câu lạc bộ nói. - Còn tớ lại là một kẻ liều lĩnh. Xin phép được làm quen. I-u-ri. -Và anh chìa tay ra.

Anh thanh niên đứng trong luồng ánh sáng vàng hắt ra từ cánh cửa không đóng của câu lạc bộ, mấy mớ tóc lòa xòa sổ ra ngoài vành mũ rủ xuống gần che cả mắt.

Anh có một cái gì đó làm cho Vê-ra không thích ngay từ đầu: đôi môi gãy góc, bướng bỉnh, cặp mắt sắc, nhìn xoi mói. Và, thêm vào đó, Vê-ra đang lúc bực mình:

- Tôi cũng thấy anh đúng là kẻ liều lĩnh, - Vê-ra nói gay gắt và quay người đi.

- Ô-ô, xin lỗi, xin lỗi... - anh ta nói, không hẳn là giễu cợt, không hẳn là bối rối, rồi biến vào dòng người.

Vê-ra và Xê-mi-ôn im lặng bước đi trên đường đêm vắng vẻ. Trời có vẻ như không lạnh lắm, nhưng đôi má cóng tê. Dưới chân, tuyết ấm kêu lạo xạo,

- Thế đấy... - khi đến gần nhà, Vê-ra thốt lên. Và bỗng nhiên cô òa lên khóc, gục đầu vào lần vải áo khoác ngoài của anh. - Anh Xê-mi-ôn, anh tha lỗi cho em,..

- Này, đừng làm thế làm gì... Chúng ta đã nói với nhau hết cả rồi.

- Thì có một lúc nào đó đầu óc của em bị lú lẫn mất, như bị mây che... Đầu óc đàn bà bọn em mà. Tất cả đều là lời của em hết, anh cứ chửi mắng đi, anh cứ đánh em đi, nếu như anh muốn... Nhưng đầu óc em giờ sáng ra rồi, và em hiểu: em chỉ yêu anh, một mình anh! A-lây-nhi-cốp muốn lấy em, cứ quấn lấy dưới chân... Em là con bé ngu ngốc, lúc đầu cũng cảm thấy thích... Nhưng lão ta càng quấn lấy bao nhiêu, em càng nghĩ đến anh bấy nhiêu. Trời ơi, bao nhiêu đêm không ngủ, em đã nghĩ đi nghĩ lại, đã tự hành hạ mình! Và hơn nữa, anh đừng nghĩ rằng em đã cho lão ta động đến em...

- Tôi cũng chẳng nghĩ gì cả, - cuối cùng anh gỡ được tay cô ra. - Cô có bao giờ coi rẻ mình đâu.

- Anh cứ giễu em đi, có sao đâu, anh có quyền làm việc đó, - cô nuốt nước miếng. - Thể xác em vẫn rất trinh bạch.

- Thế còn tâm hồn? - Xê-mi-ôn hỏi.

- Tâm hồn sao? Và cả tâm hồn, nếu ai hiểu em...

- Thế thì tôi đã hiểu.

- Thế-ế đấy! - Vê-ra kéo dài giọng. - Nghĩa là mẹ em đã nói với anh về em như thế đấy. Bà ấy đã dọa mà...

Đến bên cổng, Xê-mi-ôn mở cánh cổng thấp, bước vào, rồi khép lại.

- Còn với cái anh thanh niên lúc nãy, với I-u-ri ấy, cô làm như vậy là hoài... Trong giọng nói của anh pha lẫn chút giễu cợt. - Anh ấy là con trai của giám đốc nhà máy chúng tôi đấy...

Vê-ra vô tình nhướn cặp lông mày lên. Xê-mi-ôn nhìn cặp lông mày của cô, một lần nữa cười nhạt và đi sâu vào trong sân.

Vê-ra giận dữ nhảy lên bậc thềm nhà mình, điên khùng lấy nắm tay, mũi giày đấm đá tới tấp vào cánh cửa.

- Thế nào, mày điên hay sao ấy? - mẹ cô, người chỉ mặc áo lót, hỏi. - Làm thằng Nhi-cô-lai dậy bây giờ.

Không trả lời, Vê-ra luồn qua cửa tối om vào phòng.

Rồi cô còn làm lách cách ầm ĩ rất lâu trong căn phòng nhỏ xíu của mình, xô đẩy một vật gì đó, dập mạnh hai cánh cửa tủ đựng quần áo.

- Mày không thể khẽ hơn được à? - mẹ cô nằm trên giường của mình, hỏi.

Đưa cả hai bàn tay đẩy mạnh, cô mở tung cả hai cánh cửa bằng ván vào phòng ngủ của mẹ, đứng ở ngưỡng cửa, mình chỉ mặc áo lót, tóc sổ tung.

- Mẹ đã... đã nói gì với Xê-mi-ôn hả?! - cô hét lên bằng giọng đã lạc đi, tay run bần bật gài cúc chiếc áo sơ-mi trong tuột ra trên ngực. - Mẹ đã hót cái gì với hắn? Cái gì? Cái gì?

- Rằng mày là một con đê tiện, - An-phi-xa nói một cách thản nhiên.

- Thôi được... - Vê-ra nghẹt thở vì tức giận và bất lực. - Thôi được!

* * *

Cuộc họp của thường vụ tỉnh ủy thảo luận về công tác của huyện ủy San-ta-ra trong năm qua, bắt đầu từ sáng sớm ngày 13 tháng Chạp, mãi quá trưa mới kết thúc. Trong bản nghị quyết được thông qua nêu rõ rằng tổ chức Đảng huyện San-ta-ra trong những điều kiện khó khăn của thời chiến đã hoàn thành tốt việc thu hoạch mùa và việc khôi phục đưa vào sản xuất nhà máy quốc phòng sơ tán về địa phương. Hai sự kiện này tỏ ra có trọng lượng đến nỗi việc Na-da-rốp tự tiện gieo nửa diện tích gieo trồng bằng lúa mạch đen - suốt buổi họp vẫn làm cho Cru-gi-lin lo lắng, chờ đợi - hầu như không ai nhắc đến trong cuộc họp. Đúng ra, trong lời phát biểu của mình, Pô-li-pốp cố gắng thu hút sự chú ý của các ủy viên thường vụ đến vấn đề này, tuyên bố: «Hành động kiểu du kích tương tự sẽ là một tấm gương xấu cho những người khác và sẽ chẳng đưa đến điều gì tốt đẹp». Nhưng những lời của ông ta đều bị mọi người bỏ ngoài tai. Chỉ có Xu-bô-tin trong lời phát biểu của mình, nói:

- Tôi đã đến nông trang của Na-da-rốp và xem xét kỹ việc này. Quả thật lúa mạch đen trên đất của họ cho năng suất cao gấp rưỡi, thậm chí gấp hai. Năm nay Na-da-rốp nộp lúa mì cho nhà nước nhiều nhất trong huyện là nhờ giống mạch đen. Tôi nói vậy có phải không, anh Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích?

Na-da-rốp cũng được mời đến dự họp, ông từ chỗ ngồi nói vọng lên:

- Đúng thế. Nhờ nó cả đấy. Năm nay lúa mạch đen tốt lắm... - vì cố nén cơn ho, mặt ông đỏ tía lên,

- Các đồng chí thấy đấy. Đất nước bây giờ thêm được một cân bánh mì nào đều quý như vàng... Và nói chung, cũng phải một vài năm đợi xem kết quả ở chỗ Na-da-rốp ra sao, rồi sau đó...

Người giúp việc của bí thư thứ nhất tỉnh ủy bước vội, gần như chạy vào phòng họp, nói khẽ một điều gì đó vào tai ông.

- Các đồng chí! - bí thư thứ nhất tỉnh ủy vụt đứng lên giơ tay ngắt lời Xu-bô-tin. - có thông báo rất quan trọng, các đồng chí!

Cao lớn và nặng nề như đúc bằng gang, ông hất ghế, nhẹ nhàng như thanh niên, chạy đến bên bức tường, nơi có chiếc loa phóng thanh gắn cạnh khung cửa sổ cao và hẹp.

Cru-gi-lin và mọi người lắng nghe:

«Thông báo của Tổng cục thông tin Liên Xô. Kế hoạch bao vây và chiếm đóng Mát-xcơ-va của quân Đức đã bị phá sản. Quân đội Đức ở vùng phụ cận Mát-xcơ-va đã bị đánh lui».

Giọng phát thanh viên chậm rãi, nghiêm trang và trịnh trọng, rất to, âm vang khắp phòng. Không ai cử động, sự chờ đợi và niềm vui chợt ập đến làm cho mọi người như hóa đá. Còn giọng phát thanh viên vẫn chậm rãi. Đọc xong rành rọt, rõ ràng ba câu trên, anh dừng lại, như đợi cho mọi người kịp suy nghĩ để hiểu chúng. Và, cũng vẫn giọng đó, có lẽ chỉ hơi thấp hơn một tí, chừng một phần tư âm độ, anh nói tiếp:

«Từ ngày 16 tháng Mười Một năm 1941, quân đội Đức, sau khi triển khai hướng mặt trận miền Tây 13 sư đoàn xe tăng, 33 sư đoàn bộ binh, 5 sư đoàn cơ giới, bắt đầu cuộc tổng tiến công lần thứ hai vào Mát-xcơ-va. Quân địch định dùng cách đánh vu hồi và bọc sâu hai bên sườn mặt trận nhằm thọc vào hậu phương của chúng ta, bao vây và chiếm đóng Mát-xcơ-va. Quân đội Đức có nhiệm vụ chiếm Tu-la, Ca-si-ra, Ri-a-dan và Cô-lôm-na ở hướng nam, tiếp đó chiếm Klin, Xôn-nhét-nô-gô-xcơ, Rô-ga-tsép I-a-khơ-rô-ma, Đơ-mi-tơ-rốp ở hướng bắc, và sau đó đánh thẳng vào Mát-xcơ-va từ ba hướng và chiếm đóng thành phố...»

Cru-gi-lin cảm thấy vì căng thẳng đến tột độ mà trán ông rịn mồ hôi và tim bắt đầu ngưng lại. Nhưng, cũng như những người khác, ông không dám cựa mình, dường như chỉ cần một cử động nhỏ, giọng của phát thanh viên có thể biến mất.

Trong lúc đó tiếng loa phóng thanh vẫn vang lên trang nghiêm và trịnh trọng khắp phòng:

«Mồng 6 tháng Chạp năm 1941, quân ta ở Mặt trận phía tây, sau khi tiêu hao sinh lực địch trong các trận đánh trước đây, đã chuyển sang phản công các tập đoàn quân xung kích hai bên sườn của địch. Kết quả cả hai cánh quân này đã bị đánh tan và vội vã rút lui, bỏ lại nhiều trang bị và phương tiện kỹ thuật, chịu thiệt hại rất nặng nề...»

Mọi người không thể chịu được sự căng thẳng lâu hơn nữa, những lời cuối cùng của phát thanh viên bị chìm đi trong tiếng vỗ tay dữ dội. Tất cả mọi người có mặt trong cuộc họp đều đồng loạt đứng dậy, hò hét, chạy đi chạy lại.

- Các đồng chí! Các đồng chí! - bí thư thứ nhất tỉnh ủy giơ tay yêu cầu yên lặng. -Phiên họp còn chưa kết thúc...

Khi mọi người đã bình tĩnh lại, ngồi vào chỗ, bí thư tỉnh ủy nói, giọng không bằng lòng:

- Cái gì mà như trẻ con vậy?

Giọng của ông khô, gay gắt, thậm chí có vẻ tức giận, nhưng đôi mắt lại cười, và để giấu nụ cười đó, ông cố nhíu cặp lông mày lại, nhìn xuống tập giấy tờ xếp trên bàn,

Trong phòng trở lại yên lặng. Bí thư thứ nhất tỉnh ủy đưa bàn tay vuốt lên khuôn mặt có vẻ cau có của mình, nhìn lên chiếc loa phóng thanh đã tắt, mỉm cười ngượng nghịu, như có lỗi điều gì.

- Có thế chứ, các bạn... Đấy là sự bắt đầu của chiến thắng! Chúc mừng các đồng chí...

Tiếng vỗ tay lạI-vang lên.

- Quân ta đã đuổi bọn Đức ra khỏi Mát-xcơ-va! Đã đánh lui bọn chúng! - bí thư thứ nhất tỉnh ủy bỗng hét lên như trẻ con, và mọi người thấy rằng cái con người luôn luôn cau có, đăm chiêu này thực ra hãy còn trẻ lắm, và Cru-gi-lin nghĩ rằng có lẽ ông thích câu cá, thích ngắm những buổi hoàng hôn và có thể ngồi uống một ly bên cạnh những đống lửa của những đêm đi săn trong rừng.

Còn bí thư tỉnh ủy dường như xấu hổ bởi cơn sôi nổi phấn khích của mình, cầm lấy tờ dự thảo nghị quyết của hội nghị về vấn đề đang thảo luận, hỏi Xu-bô-tin:

- Anh nói xong chưa?

- Có lẽ xong...

- Vâng, chúng ta đã xua khỏi tường thành thủ đô kẻ thù hung dữ nhất của nước Nga trong suốt cả lịch sử nhiều thế kỷ của mình. Và trong đó có một phần công lao của mỗi một người chúng ta, của đồng chí Cru-gi-lin, của đồng chí Na-da-rốp... Các đồng chí đã nghe bản dự thảo nghị quyết rồi chứ? Ai có ý kiến phản đối? Bổ sung, nhận xét?

Ngoài ra không có thêm một lời nào nữa về Na-da-rốp, về «chủ nghĩa du kích» của ông.

Khi mọi người dự họp ùa ra khỏi phòng họp vào một hành lang rộng, Pô-li-pốp nói với Cru-gi-lin, mắt nhìn lảng ra hướng khác:

- Anh đã thắng. Trong keo vật này anh đã thắng... Nhưng chưa đến nỗi lấm lưng trắng bụng đâu, chỉ mới một nửa thôi...

- Này, - Cru-gi-lin nổi cáu. - Những thuật ngữ thể thao này của anh nghĩa là thế nào?

- Vấn đề không phải là ở thuật ngữ. Anh thấy đấy, bí thư thứ nhất tỉnh ủy không nói một lời nào về Na-da-rốp cả, rằng ông ta phải hay trái. Trong nghị quyết cũng vậy, không lời nào. Anh thử nghĩ xem!

- Hình như anh lại lên lớp tôi về phương pháp công tác đảng đấy à?

- Không đâu... Tôi lên lớp cho anh có được ích lợi gì đâu?

Hai người đang đi xuống cầu thang. Nghe những lời trên, Cru-gi-lin dừng lại.

- Anh không hiểu à? Hay là giả vờ như không hiểu? - Và Pô-li-pốp giật giật khóe miệng. - Không, tôi không lên lớp anh. Tôi chỉ báo trước cho anh một cách thân tình: bây giờ đi đứng phải thận trọng, lo nhìn trước nhìn sau... Bởi vì nếu sang năm lúa mạch đen của Na-da-rốp không được mùa...

- Thì lúc đó anh sẽ trả miếng lại chứ gì?

- Vâng, có thể lúc đó sẽ trả miếng lại, - Pô-li-pốp không giấu giếm nói. - Nhưng đừng lo, bây giờ hẵng khoan lo... - Và ông ta vội vàng đi xuống cầu thang, đầu rụt vào giữa đôi vai rộng.

Sau khi uống một cốc chè nóng ở quầy giải khát, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích Cru-gi-lin leo lên tầng hai, đến phòng Xu-bô-tin.

Phòng làm việc của bí thư tỉnh ủy, tuy không lớn nhưng rộng rãi, tràn đầy ánh điện. Xu-bô-tin đứng dậy đón.

- Nào, chúc mừng anh.

- Về việc gì?

- Về việc gì là thế nào? Gần như suốt cả một ngày người ta khen hắn ta, thế mà hắn ta... Nghị quyết được thông qua không đến nỗi.

- Vâng, không đến nỗi.

- Tôi hiểu rồi. Anh không bằng lòng vì trong nghị quyết không có lời nào về Na-da-rốp chứ gì?

- Không bằng lòng, - Cru-gi-lin nói thẳng. - Đấy, chúng tôi cùng Na-da-rốp đã làm như thế đấy! Nếu như thiệt hại cho nhà nước - thì cũng nói ra chứ.

- Nói chung, bây giờ còn khó mà nói là lợi hay hại. Trong cuộc họp thường vụ, tôi đã nói rồi - cần phải đợi xem một vài năm nữa... Đấy, đến lúc đó sẽ nói.

- Còn bây giờ cứ để cho Pô-li-pốp coi khinh tôi. Hắn đã báo trước: «Bây giờ đi đứng phải thận trọng, lo nhìn trước nhìn sau, vì rằng nếu năm sau Na-da-rốp mất mùa... Hắn bảo, anh đã thắng tôi, nhưng chỉ mới một nửa».

- Thế đấy... Anh đến để kêu ca, khiếu nại đấy à? - Đôi mắt Xu-bô-tin ánh lên lạnh lùng.

- Không. Nhưng tôi muốn hỏi: tại sao tôi cần phải không chỉ lo lắng cho công việc của huyện, mà hơn nữa lại còn phải lo đề phòng khỏi bị Pô-li-pốp quật ngã?

- Cần phải như thế, -Xu-bô-tin cộc lốc cắt ngang. - Nhưng không chỉ lo đề phòng mà thôi. Tự mình phải quật ngã những người như Pô-li-pốp. Mà phải ngã hẳn, lấm lưng, trắng bụng.

- Còn đến cả như thế đấy... Chỉ có điều tôi không hiểu hết...

- Tôi sẽ giải thích cho...

Một chiếc xe tải nặng chạy ngoài đường, ngang qua cửa sổ, động cơ rú ầm ầm làm rung cả cửa kính, Xu-bô-tin nghiêng tai lắng nghe tiếng xe đi xa dần rổi tắt hẳn.

- Tôi sẽ giải thích cho anh, - Xu-bô-tin nhắc lại, - Đấy, chúng ta cũng đang thở hồng hộc, cố sức kéo gánh nặng như chiếc xe tải kia, - ông hất đầu chỉ ra ngoài cửa sổ. - Còn những kẻ như Pô-li-pốp, đáng lẽ phải đẩy, phải kéo xe, thì lại ngồi một cách đàng hoàng trên xe, thậm chí còn đủ cả các tiện nghi nữa, và đi... Ngồi trên xe lại còn quát nạt: sang phải, sang trái! Họ hiểu rằng như vậy nhẹ nhàng, dễ chịu hơn nhiều.

- Nhưng nếu như vậy, nếu như chúng ta biết như vậy, thì ta còn phải đề phòng chúng làm cái gì? Chỉ việc hất những kẻ như vậy xuống, ném chúng ra khỏi xe cho quỷ sứ! Hất xuống dưới bánh xe...

- Còn chúng ta đang làm cái gì? Pô-li-pốp trước đây là ai và bây giờ là aì?

- Thế - thế... - Cru-gi-lin mỉa mai nói. - Chúng ta đang hất họ xuống, nhưng cố không gây sây sát. Không phải hất họ xuống, mà van xin một cách lịch sự và thống thiết: «Anh Pô-li-pốp, xin mời anh xuống cho ạ!» Và kiên nhẫn đợi cho đến lúc anh ta bước xuống. Còn rấ-ất lâu, tôi thấy, chúng ta phải làm cái công việc này rất lâu...

- Đúng, rất lâu! -Xô-bô-tin đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng. - Cuộc đấu tranh với những kẻ như Pô-li-pốp sẽ rất lâu dài và gian khổ, anh hãy nhớ lấy điều đó! Thế còn anh nghĩ sao? Một số người đã muốn hành động một cách vội vàng. Bây giờ họ ở đâu rồi?

Cru-gi-lin chậm chạp, rất chậm chạp, ngẩng đầu lên. Trong mắt ông, chậm chạp và nặng nề, hiện lên một vẻ ngơ ngác, ngạc nhiên.

- Nghĩa là sao? - ông hỏi rất khẽ. - Anh nói cái gì thế?

Ngoài cửa sổ trời đã tối từ lâu, trên các cột điện, những ngọn đèn hiếm hoi tỏa ánh sáng mờ đùng đục. Bí thư tỉnh ủy giật tấm rèm nặng che cửa sổ xuống. Rõ ràng là ông không định trả lời câu hỏi của Cru-gi-lin.

- Nhưng nếu thế... nếu thế thì hắn, Pô-li-pốp, là ai?

- Hắn là ai à?... Giá như trả lời cái đó được một cách đơn giản... Tôi cảm thấy hình như anh có một từ nào đó đã ở đầu lưỡi...

- Vâng, - Cru-gi-lin công nhận. - Nhưng không dám nói ra. Thật đáng sợ.

- Và cũng không cần... Không thì có thể đi quá xa đây.

Hai người cùng im lặng rất lâu, cùng suy nghĩ về một vấn đề, chỉ có điều không biết nói tiếp về việc đó ra sao và có nên nói hay không.

- Tôi nghĩ rằng hắn, Pô-li-pốp, chỉ đơn giản là một người đã bị biến chất thành một ké đê tiện mang thẻ đảng trong túi áo, - cuối cùng Xu-bô-tin nói. - Nhưng làm thế nào để chứng minh được điều đó? Hắn ta cũng thông minh theo cách của hắn. Tôi còn nhớ, mấy tháng trước đây anh tuyên bố với tôi rằng không thể bảo đảm đưa nhà máy vào sản xuất đúng thời hạn được. Có thế không?

- Có.

- Đấy... Pô-li-pốp nhiều lần thông báo cho tỉnh về điều này, chứng minh, thuyết phục những người nào cần thiết. Trong số đó có cả tôi... Riêng tôi, cứ cho là tôi biết được hắn ta làm việc đó nhằm mục đích gì... Nhưng những người khác? Bề ngoài mà nói, hắn ta đúng. Lúc đó anh thử chứng minh rằng hắn vu khống xem! Hoặc là bây giờ đây... Trong dự thảo nghị quyết tôi có đưa vào vài lời về Na-da-rốp, để... Có thể nói, để đặt mình vào thế an toàn hơn, để làm ra vẻ việc này đã được chính thức cho phép. Nhưng bí thư thứ nhất đã gạch đi hết...

- Một con người thận trọng, - Cru-gi-lin nói, giọng không vui.

- Vâng, thận trọng, - Xu-bô-tin xác nhận. - Và Pô-li-pốp lại đã nắm bắt được sự thận trọng này của bí thư thứ nhất, đã tính toán sẽ lợi dụng nó như thế nào trong những trường hợp thích hợp.

Xu-bô-tin, người cao lớn, vụng về, vẫn tiếp tục bước đi trong phòng, và bóng của ông chập chờn trên các bức tường phẳng mịn, trên cửa sổ che rèm, trên sàn nhà lát gỗ trơn bóng, mới được lau sạch, khi thì thu ngắn lại, khi thì kéo dài ra, tới tận trần nhà.

- Thế chúng là loại người gì đã sinh sôi ở ta,.. ở trong Đảng ta như vậy?

Xu-bô-tin ném một cái nhìn sắc nhọn về phía Cru-gi-lin. Trên trán ông hằn sâu mấy đường nhăn dài. Rồi những đường nhăn đó biến mất, và trong đôi mắt màu xám, trũng sâu của ông thoáng hiện ánh buồn.

- Sinh sôi... - ông lặp lại khe khẽ, dường như luyến tiếc một điều gì đó. Rồi ông ngồi xuống ghế của mình, nhưng không ngồi thẳng, mà hơi nghiêng nghiêng mắt nhìn vào một góc nhà. Dường như ông đang đợi có một con gì đó - chuột chẳng hạn - từ trong góc nhà chạy ra. -Chúng ta quên mất, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, một điều, mà đáng ra không bao giờ được quên. Đó chính là - cách mạng mới thành công cách đây không lâu, chỉ mới hai mươi bốn năm...

- Tại sao lại thế? - Cru-gi-lin toan phản đối.

- Tất nhiên, chúng ta vẫn nhớ đúng ngày tháng! Thế nhưng còn cái điều rằng từ đó đến nay mới rất ít thời gian trôi qua, rằng cách mạng hãy còn chưa kết thúc, rằng cách mạng hãy còn đang tiếp diễn... anh hiểu không, chưa kết thúc, mà còn đang tiếp diễn! - cái điều này có phải bao giờ chúng ta cũng nhớ, cũng hiểu rõ không? Cuộc sống cũ, xã hội cũ, toàn bộ chế độ xã hội cũ được hình thành đã hàng bao thế kỷ nay - năm mười bảy đã bị cách mạng nổ tung, đảo lộn. Anh hãy vận dụng ít nhiều trí tưởng tượng và hình dung ra một đầm lầy, trong đó các loài rong rêu, cành cây gãy và xác thú vật đang thối rữa. Bỗng nhiên ở chính giữa cái đầm lầy này có một mạch nước ngầm phun lên rất mạnh. Tất cả các thứ thối mục đó - những mẩu cành cây, những xác thú vật - bắt đầu chuyển động, khi thì nổi lên trên mặt nước, khi thì biến mất trong hố sâu. Các thứ rác bẩn đó còn chao đảo trong đầm nước rất lâu, cho đến khi chúng bị đánh giạt vào bờ. Ở đó trong lúc chờ thối mục hết, chúng cũng còn một thời gian lâu dài làm ô uế môi trường không khí. Và ngay khi cái đầm lầy trước đây dường như đã biến thành một hồ nước trong vắt, xung quanh bờ hoa nở, thì các thứ rác rưởi thỉnh thoảng vẫn còn. Rồi sẽ đến lúc nào đấy chúng mục thối hết, biến thành mùn, thành bụi! Rồi sẽ đến lúc nào đấy gió sẽ mang hết mùn, bụi này đi... Một cái gì tương tự hiện nay cũng đang xảy ra trong lòng sâu của xã hội loài người. Đầm lầy hãy còn chưa hoàn toàn biến thành hồ nước với hoa đẹp hương thơm ve vuốt các giác quan, những cái đê tiện của con người hãy còn chưa bị hất giạt hết lên bờ. Tóm lại, để có được một bức tranh điền viên ngoạn mục hãy còn xa lắm. Điều này, tôi nhắc lại, chúng ta có hình dung được một cách rõ ràng không? Có phải bao giờ chúng ta cũng nhớ, cũng hiểu rõ điều này không?

Cru-gi-lin nặng nề đứng dậy, ưỡn thẳng người ra một cách khó khăn, bước đến bên cửa sổ, và, không hiểu để làm gì, vén màn che lên, nhìn ra đường phố tối đen. Ngoài đó, gió thổi mạnh, những ngọn đèn điện trên các cột đèn đung đưa, những vệt sáng hắt xuống lay động trên mặt tuyết bị chân người giẫm nát.

- Vâng, anh nói đúng, - Cru-gi-lin nói, giọng trầm, khô, không quay người lại, -Chẳng phải chúng mới sinh ra đâu. Những loại người như vậy vốn đã có sẵn từ lâu trong chúng ta rồi.

- Thế chắc bây giờ anh đã hiểu, vì sao tôi, anh... tất cả chúng ta phải quật ngã chúng? - Xu-bô-tin hỏi ngay.

Ngoài đường phố, lại một chiếc xe tải nặng chạy qua. Cru-gi-lin đợi cho tiếng động cơ tắt hẳn, cũng hỏi lại.

- Anh hãy nói tôi nghe, anh I-van Mi-khai-lô-vích... Tất cả những gì xảy ra hồi đó, vào những năm ba sáu, ba bảy, chỉ là do bàn tay của những kẻ như Pô-li-pốp thôi ư?

- Thế mà cũng hỏi... Anh hỏi một điều gì đơn giản hơn có hơn không? - Xu-bô-tin vừa cau có, vừa giễu cợt hỏi.

- Vâ-âng... Tôi hiểu... - Bây giờ đến lượt Cru-gi-lin đi đi lại lại trong phòng. - Quả đúng vậy, cần phải quật ngã... Vì rằng, có lẽ, trong đó có cả bàn tay của những người như vậy... Càng ngày tôi càng tin như vậy. Nhưng mặt khác, ngược lại, cần phải giúp đỡ cho một số người đứng vững, giúp một số khác đã gục xuống đứng dậy được.

Xu-bô-tin im lặng nhìn Cru-gi-lin, chờ ông nói tiếp.

-Về chuyện đầm lầy có lẽ anh nói đúng. Còn về lòng sâu của xã hội loài người - tôi nghĩ, ở đây mọi việc phức tạp hơn nhiều, ở đây không thể đem so sánh trực tiếp như vậy được. Bên cạnh những xác chết, những vật thối rữa, ở đó còn có thể thấy những cái khác nữa, - những mảnh vỡ, những mẩu vụn của đủ loại số phận con người. Trong xã hội có những người thực chất là đứng đắn, nhưng bị choáng váng trước những chấn động xã hội, mất tinh thần, chưa hiểu được hết ý nghĩa của cách mạng, chưa hiểu được thời đại. Có rất nhiều người phạm phải sai lầm trong những năm tháng nóng bỏng, quyết liệt nhất, và bây giờ không biết sửa chữa sai lầm đó như thế nào, không biết có sửa chữa được nó không. Và cuối cùng, có những người ngay thẳng, không bị giây một vết nhơ nào, nhưng chỉ đơn giản là mãi cho đến giờ vẫn chưa đủ sức tìm cho mình một chỗ đứng trong cuộc sống mới.

Xu-bô-tin thu giấy tờ trên bàn, bỏ vào ngăn tủ, khóa lại.

- Tôi nói có gì không phải chăng? - Cru-gi-lin hỏi.

- Rất tốt là anh đã hiểu được những điều đó. Chỉ có điều chúng ta triết lý như vậy đủ rồi. Bây giờ ta sang công việc thực tế. Anh thử nói xem, ai trong số các cán bộ huyện của các anh có thể đảm đương được chức vụ chủ tịch ủy ban huyện?

- Sao?! Thế Pô-li-pốp? Các anh định chuyển đi đâu?

- Tự anh ta xin chuyển. Xin ra mặt trận. Như vậy anh có thể mừng được đấy.

- Khoan đã, khoan đã! Nhưng tôi cũng... - Cru-gi-lin đột ngột dừng lại, dường như sợ những lời vừa buột miệng thốt ra.

- Cũng cái gì? - Xu-bô-tin ngẩng đầu lên, ngả người ra sau thành ghế. - Khoan đã nào, anh bạn...

Kéo lê chân trên sàn nhà, Cru-gi-lin quay về chỗ ngồi. Dưới sức nặng của ông, chiếc ghế kêu lên cót két.

- Nào, nói đi, - Xu-bô-tin với vẻ giễu cợt, không thân thiện, bảo.

Thực ra, Cru-gi-lin đến gặp Xu-bô-tin với một mục đích chính - dò xem thái độ của tỉnh ủy sẽ ra sao nếu như ông xin ra mặt trận. Và, vừa nói chuyện về cuộc họp thường vụ vừa rồi, về Pô-li-pốp, ông vừa nghĩ: nên bắt đầu câu chuyện từ đâu và như thế nào? Bây giờ, khi câu chuyện đã được bắt đầu, ông không biết nên tiếp tục ra sao. Giọng nói lạnh lùng và ánh mắt giễu cợt của Xu-bô-tin đã nói rất rõ lời yêu cầu của ông sẽ được tiếp nhận ra sao.

- Anh hiểu cho, anh I-van Mi-khai-lô-vích, - Cru-gi-lin ngập ngừng nói, đầu vẫn không ngẩng lên. Một phút trước đây trong đầu ông còn có những lập luận có sức nặng để thuyết phục cho lời yêu cầu của mình, nhưng dường như chúng đã bị gió cuốn bay đi mất, và ông chỉ nói: - Con trai của tôi đã hy sinh...

- Có giấy báo tử rồi à?

- Không có giấy tờ nào cả. Nhưng không có nó cũng đã rõ - Va-xi-li không còn nữa...

- Còn tôi thì đã nhận được rồi, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ...

- Cái gì? - Cru-gi-lin không hiểu, hỏi lại.

- Tôi có ba đứa ngoài mặt trận. Đứa sau cùng đã hy sinh. Mùa thu vừa rồi khi tôi xuống huyện các anh, giấy báo tử con đã nằm trong túi. Tôi nhận được nó ngay trước lúc lên đường... - Xu-bô-tin nói, đôi môi hầu như không cử động, những ngón tay mân mê chiếc nắp bằng kim loại của lọ mực thủy tinh, mắt lại nhìn vào một góc phòng, ánh mắt đờ đẫn, trống rỗng.

Rồi ông như sực tỉnh, ngơ ngác nhìn chiếc nắp bằng sắt trong tay, đem đậy lên lọ mực. Tiếng thủy tinh va vào sắt phát ra một tiếng cạch khô khốc.

- Thế chúng ta sẽ đề cử ai vào chỗ Pô-li-pốp? - ông hỏi và nhìn Cru-gi-lin chằm chằm. Cru-gi-lin cảm thấy cái nhìn đó, hiểu rằng Xu-bô-tin đòi hỏi ông phải ngẩng đầu lên, Và ông từ từ ngẩng đầu lên.

- Khô-khơ-lốp. I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp. Cựu kỹ sư trưởng của nhà máy... trước đây chưa chuyển thành nhà máy quốc phòng. Một người rất tốt. Còn nhà máy bây giờ có thể thiếu ông ta cũng được...

Xu-bô-tin không nói «được», cũng không nói «không», chỉ mải nghĩ về một điều gì đó.

- Thế còn việc bổ sung vào thành phần thường vụ huyện ủy? Anh đã suy nghĩ tới việc này chưa? Người ta đã gọi mất ba người của các anh ra mặt trận...

- Tôi đã nghĩ rồi, - Cru-gi-lin nói. - Giám đốc nhà máy Xa-vê-li-ép... Bây giờ Khô-khơ-lốp nữa... Còn... còn... có thể anh cảm thấy khó hiểu... tôi đã nghĩ đến I-a-cốp A-lây-nhi-cốp.

- Thế à? - Xu-bô-tin nheo nheo mắt. - Thực ra mà nói, cũng đáng tò mò đây. Thế nào, I-a-cốp A-lây-nhi-cốp bây giờ ra sao?

- Ra sao à? Suốt ngày cau có, ủ rũ, như mây đen trước cơn dông... Tôi càng ngày càng có cảm giác rằng anh ta bị lầm lạc trong cuộc đời, đang tìm lối ra. Mà hiện nay chưa thể tìm thấy. Mùa thu vừa rồi lại vướng vào yêu đương...

- Thế à?!

- Vâng, yêu cô đánh máy của văn phòng huyện ủy chúng tôi. Cũng giấu mọi người, ban đêm đi hò hẹn như một cậu con trai, có lẽ nghĩ rằng không ai biết về điều này. Nhưng ở huyện ủy ai cũng biết hết cả... Rồi sau đó như tỉnh ngộ lại: anh ta đã năm mươi, mà cô bé mới hai mươi.

- Một thiên tình sử! - Xu-bô-tin thốt lên, vẻ phê phán.

-Anh đừng vội. Ở đây cần phải thận trọng hơn khi đánh giá. Có lẽ anh ta nghĩ đây là một lối thoát cho anh ta. Nhưng rồi anh ta hiểu ra: đấy không phải là lối thoát nào cà. Bây giờ thì hình như kết thúc cả rồi. Nhưng, tôi có cảm giác như anh ta càng nặng nề, khổ hơn.

- I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, I-a-cốp A-lây-nhi-cốp... - Xu-bô-tin chăm chú nhìn Cru-gi-lin rất lâu, - Thế nghĩa là anh không thù oán anh ta?

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích chỉ hơi nhếch mép cười khẩy, còn đôi mắt vẫn nghiêm nghị, lạnh lùng.

- Đúng, đúng, những câu hỏi ngớ ngẩn bao giờ cũng khó trả lời, - Xu-bô-tin nói. - Nhưng dù sao, trong huyện ủy người ta có hiểu anh không?!

- Dưới thời Pô-li-pốp, anh ta cũng đã là ủy viên thường vụ, như thế có nghĩa là người ta hiểu. Giọng ông pha chút mỉa mai cay đắng. Nhưng cái chính không phải ở việc đưa hay không đưa anh ta vào thường vụ. Cái chính là làm sao cho anh ta tự hiểu được mình, trở thành I-a-cốp A-lây-nhi-cốp trước kia. Anh không biết I-a-cốp A-lây-nhi-cốp trước đây là người như thế nào đấy thôi! Còn tôi - tôi biết! Và đây - làm thế nào để giúp đỡ anh ta? Nếu ta không giúp được - anh ta sẽ không tìm ra lối thoát tự lập, sẽ hỏng, sẽ ngã gục.

Cru-gi-lin nghĩ về điều gì đó một lát, rồi nói tiếp, dường như không gắn liền với ý trên:

-Về thực chất, mỗi con người suốt cả cuộc đời đi tìm chính bản thân mình. Tôi còn nhớ Va-xi-li Da-xu-khin thường hay nói về đề tài này. Bây giờ anh ta đang ở đâu, còn sống không, anh không biết à?

- Không biết, - Xu-bô-tin đáp.

- Hồi đó tôi cho cái thứ triết lý này của anh ta là... có vẻ thô thiển. Bây giờ tôi mới bắt đầu hiểu nó sâu sắc biết nhường nào. Đúng là mỗi con người đều đi tìm chính mình, nhận thức, thấu hiểu... Nhưng để làm việc này không phải dễ, nhiều khi không thể thiếu được sự giúp đỡ của người khác. Anh nhìn cái gì thế? Không đồng ý sao?

- Tại sao lại không? Rất đồng ý là khác.

- Đấy, anh hỏi tôi có oán thù A-lây-nhi-cốp không? Thành thực mà nói với anh, có. Trở về huyện, điều kiện đầu tiên tôi đặt ra - đưa A-lây-nhi-cốp ra khỏi thường vụ huyện ủy. Bây giờ tôi hiểu rằng đó là một việc ngớ ngẩn. Vâng... Trong một năm qua, tôi cũng đã trưởng thành lên gấp nhiều lần.

- Còn tôi nghĩ như vậy vẫn chưa nhiều lắm, - Xu-bô-tin nói.

Cru-gi-lin liếc sang nhìn Xu-bô-tin và lập tức biết ngay - đó là câu trả lời sự đề nghị của ông về chuyện xin ra mặt trận.

* * *

Cru-gi-lin còn nán lại ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ gần một tuần lễ nữa, cố xoay xở lấy một ít gỗ ván cho nhà máy, nhưng không được. Cau có, mệt mỏi, đêm đến, ông lên tàu, nằm dài lên hàng ghế cứng và ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy, tàu đang đi qua một cánh đồng trống trải, rộng mênh mông, mặt trời nặng trĩu, đùng đục treo rất thấp, tưới ánh nắng vàng hồng lên mặt đất. Ngoài cửa sổ, những xóm nhỏ lộng gió đồng, những đống cỏ khô phủ tuyết nối nhau chạy lùi lại phía sau, những lán trại công nhân đường sắt ám khói than đầu tàu thấp thoáng bên đường, và dọc theo chiều dài của đường là những đường dây điện kéo dài đến vô tận, nhiều chỗ bị băng tuyết dính đọng lại trông như những nút thắt lớn.

Trong toa chật cứng người đủ các thành phần. Ở tầng thấp, ngay dưới chỗ Cru-gi-lin nằm, là một ông già với bộ ria hung hung đỏ, mũi khoằm đang ngồi rít thuốc lá hôi. Khói thuốc bốc lên làm Cru-gi-lin nghẹt thở. Đối diện với ông già là một người đàn bà còn chưa già lắm nhưng rất béo, cằm hằn lên ba ngấn, choàng một chiếc khăn san bằng len và mấy chiếc khăn vuông khác. Một tay mụ ta cầm chiếc bánh ca-lát trắng, tay kia cầm cốc nước sôi. Mỗi lần cắn một miếng bánh, mụ lại hớp một ngụm nước đánh soạt, nhai rất kỹ và thỉnh thoảng lại lo lắng đưa mắt nhìn những túi xách, bao tải, bi-đông và mấy cái làn chất đống quanh mình, dường như nhẩm đếm lại chúng. Tít tận trong góc cu-pê, một cô gái chừng mười bảy - mười chín tuổi ngồi nép mình vào thành toa. Cô ta như vừa mới ở bệnh viện ra, đôi mắt hõm sâu ánh lên những tia sáng run rẩy, khuôn mặt tròn dễ thương hốc hác làm đôi gò má nhô cao kéo căng làn da nhợt nhạt, cặp môi đẹp thanh tú xanh xao khẽ mấp máy. Cô ăn mặc rất mỏng manh - một chiếc áo bành-tô mùa thu nhàu nát, trên đầu choàng tấm khăn lông cáu bẩn, chân đi một đôi giày da khá tốt nhưng đã cũ, mũi hơi rách. Cô gái có lẽ rất đói, liên tục liếc nhìn sang người đàn bà đang ăn bánh ca-lát, nuốt nước miếng và ngoảnh mặt ra cửa sổ, đút bàn tay nhỏ nhắn vào đôi ống tay áo bành-tô đã sờn, cả người co rúm lại như lên cơn rét. Mỗi lần có ai cười nói to tiếng, cô lại giật mình, trong đôi mắt đen thoáng ánh lên tia sợ hãi. Mụ đàn bà to béo liếc nhìn cô gái, rồi lại nhìn quanh đống bao túi, kéo chúng lại gần mình hơn. Ông già mũi khoằm nhìn mụ, cười khẩy trong bộ râu hung, rồi như không nói với ai cả, lên tiếng:

- Ở làng tôi có mụ nấu rượu lậu Gla-kha phàm ăn lắm. Lần nào đến kiếm cút rượu, cũng thấy mụ ta đang ăn... Thế rồi chết ngoẻo, mỡ đóng cục tắc cả tim lại...

Mụ đàn bà chủ đống bao túi trân trân nhìn ông già, hấp háy mắt:

- Ông có thôi thở khói ra không, cái đồ củi mục này, - mụ ta nói giọng rất trầm. -Cứ như một gốc cây cháy!

- Tiếc mụ Gla-kha quá. Tốt bụng lắm, bao giờ cũng sẵn sàng cho mua chịu...

Trên lối đi, một toán các ông già thợ mộc ngồi trên các hòm đồ nghề hoặc trên sàn tàu - có lẽ đấy là một đội đi làm ngoài, nay xong việc trở về. Xa hơn nữa là các ông già, phụ nữ và trẻ em. Trong toa không có đàn ông trai trẻ. Những tiếng bàn tán vang lên hòa với tiếng bánh tàu gõ đều đều:

- Bây giờ thịt người bị nghiền nát chất cả đống, thật là...

- Chiến tranh đâu phải chuyện đùa...

- Sau khi nhận giấy báo tử, thế là bắt đầu tai họa... Không khóc lóc gì, chị ta cứ im lặng, nhưng mất hết sữa. Hai đứa con sinh đôi của chị ta khóc khản cả cổ, thâm tím cả mặt mày, mà sữa mẹ thì cạn khô...

- Nước Nga có rất nhiều kẻ thù... Mà thằng Đức là hung dữ nhất. Nó là kẻ thù truyền kiếp...

- Nghe đài nói, ở ngoài Mát-xcơ-va chúng bắt đầu bị quân ta nện ra trò...

Cru-gi-lin tụt xuống sàn, lấy khăn mặt trong chiếc cặp ra.

- Bác trông giùm một lúc, tôi đi rửa mặt nhé, - Cru-gi- lin đặt chiếc cặp của mình xuống cạnh ông già.

- Đi đi, - ông già lơ đãng gật đầu. - Để đấy tôi trông cho.

- Còn chị bây giờ đem đồ xếp lên ngăn trên đi, - Cru-gi-lin nói với mụ đàn bà to béo.

Len lỏi giữa đống tay nải, bao bì và đám người để đến chỗ rửa mặt, Cru-gi-lin còn nghe mụ béo nói:

- Quân trốn việc, chiếm cả một ngăn! Người ta đang đánh nhau ngoài mặt trận, còn hắn ta xách cặp đi... Lại còn kêu đồ đạc làm vướng chân!

- Mụ ngốc lắm, - ông già lên tiếng. - Những người béo bao giờ cũng ngốc nghếch.

- Tôi bảo là quân trốn việc. Ngồi một nơi nào đó ở hậu phương, ăn cho cổ béo ú lên. Còn người của chúng tôi ở ngoài đó chết oan uổng vô ích... Chồng và con rể tôi đang ở ngoài đó...

Cru-gi-lin rửa mặt bằng nước lạnh ngắt, tanh tanh, trong tai vẫn văng vẳng những lời nói của mụ béo. Chúng làm ông đau nhói. Trong tim ông như có một cái gì rất nặng, các cạnh nhọn sắc, đè lên, cứa đi cứa lại...

- Như thế nghĩa là tôi không thể... - tối hôm qua, lúc chia tay, Cru-gi-lin lại hỏi Xu-bô-tin một lần cuối cùng.

- Nếu như anh là một thằng ngốc, có lẽ tôi đã giải thích cho anh rằng tình hình ngoài mặt trận phụ thuộc vào công việc của chúng ta ở đây, ở hậu phương, và vân vân... Nhưng... - và gay gắt gần như quát, Xu-bô-tin hỏi: - Thế lại giao huyện cho Pô-li-pốp à?

- Thế nhưng, I-van Mi-khai-lô-vích, - Cru-gi-lin nói có vẻ khẩn khoản, - có thể, không phải bây giờ, ngay lập tức... Nếu như có thể... tìm được người thay thế chẳng hạn?.. Thí dụ, một người nào đó bị thương ở mặt trận về... Tay chân tôi còn nguyên vẹn cả mà...

- Thôi đi đi, đi đi! - Xu-bô-tin nhăn mặt, túm lấy vai ông, đẩy ra cửa...

Trong phòng rửa mặt rất bẩn, các thứ rác rưởi vương vãi cả trong chậu. Bên ngoài tấm kính mờ của khung cửa sổ hẹp, cây cối, nhà cửa thấp thoáng, tiếng bánh xe gõ đều lên đường ray.

Dùng chiếc khăn bông lau khô mặt xong, Cru-gi-lin vội vã ra khỏi phòng rửa mặt, nhưng đã muộn. Lối ra vào toa chật hẹp đã bị các hành khách sắp xuống ga đổ ra lấp kín, va-li, tay nải, túi xách lỉnh kỉnh.

- Cái ông trí thức này, chen đi đâu thế?! - một ông già thợ mộc giận dữ kêu to, hai tay ông ôm khư khư hộp đồ nghề trước bụng, những lưỡi cưa, đầu đục thò ra ngoài. - Không thấy người ta đang ra à?!

- Ông ngồi tạm trong đó một lúc đã, đừng chen thế...

Cru-gi-lin lùi lại vào phòng rửa mặt. Đoàn tàu hãm phanh rít lên ken két, rồi dừng lại, lập tức, ngoài cửa toa rộ lên tiếng ồn ào, la hét, chửi rủa.

- Leo lên đâu thế, đồ cừu đực kia? - người đàn bà phục vụ toa đã đứng tuổi giận dữ quát. - Để mọí người xuống hết đã rồi hãy lên, tàu còn lâu mới chạy. Đứng dọc theo toa kia mà đợi.

- Trời ơi, đè chết tôi rồi, ôi! - một giọng đàn bà tru tréo lên.

Dần dần tiếng ồn ào, la ó ngoài cửa toa lắng xuống. Cru-gi- lin bước ra ngoài buồng rửa.

Lối đi vào toa đã trống quang người. Trong cu-pê cũng chỉ còn hai người - ông già mũi quặp và cô gái trẻ. Ông già vẫn thở khói thuốc lá tự trồng, còn cô gái ngồi buồn rầu nhìn ra cửa sổ.

- Cái bà có đống túi đi rồi à? - Cru-gi-lin hỏi.

- Xuống rồi. Mụ ta kia kìa, - ông già gật đầu chỉ ra ngoài cửa sổ.

Toa tàu đứng cạnh một quầy buôn, mụ đàn bà có cằm ba ngấn đang xếp các túi, làn, bi-đông của mình lên quầy, hết quay sang phải lại sang trái, há miệng, lắc đầu. Có lẽ mụ ta đang chửi nhau với những người đến trước để tranh một chỗ ngồi bán hàng, nhưng trong toa không nghe thấy giọng của mụ.

- Người ta nói đúng thật - đục nước béo cò: người ra trận, kẻ làm giàu, - ông già mắt vẫn nhìn ra cửa sổ, mỉa mai nói.

Cru-gi-lin, không hiểu sao, nghĩ rằng ông già ngụ ý không chỉ nói về mụ buôn, mà còn cả về mình, ông cau mặt, bỏ khăn mặt vào cặp và đóng mạnh khóa.

- Cái ga này từ bao đời nay toàn những quân đầu cơ buôn lậu, tôi biết, - ông già lại nói. - Tàu dừng lại ở đây rất lâu, Đấy, xem kìa, quỷ tha ma bắt mụ ta đi! Gớm chưa...

Mụ đàn bà vừa đi chung cu-pê với họ lấy từ trong làn ra một chiếc nồi lớn bọc trong lớp giẻ, mở nắp ra. Khói từ trong nồi bốc ra nghi ngút. Mọi người lập tức quây lại, chen lấn, xô đẩy nhau. Mụ thu tiền, nhét vào túi áo trước bụng, bốc từ trong nồi ra một thứ gì đó bỏ vào những chiếc bao giấy đã được chuẩn bị sẵn từ trước.

- Mụ ta buôn khoai tây và thịt, - ông già giải thích. - Mụ ta lên toa là tôi đoán ra ngay, toàn mùi khoai tây nấu với thịt.

Cô gái nhìn như dán mắt vào mụ buôn, trong mắt cô thoáng lên những tia ốm yếu, thèm khát.

- Tôi thấy anh là người có cặp da, - ông già bỗng nói, bàn tay đã nhão thịt xoa xoa lên đôi đầu gối nhọn hoắt, - chắc là thủ trưởng. Anh hãy nói chúng tôi nghe, quân Đức đã bị đuổi đi hoàn toàn chưa đấy?

- Hoàn toàn rồi, bố ạ...

- Thật không? - ông già có vẻ không tin tưởng. - Thế có đủ lực lượng không?

- Nhất định phải đủ.

- Phải... Để đợi xem. Thế anh hãy giải thích cho những kẻ tăm tối chúng tôi: vì cái gì mà có nó, chiến tranh ấy?

Cru-gi-lin chăm chú nhìn ông già, nhún vai:

- Vì cái gì à? Vì chúng muốn chiếm đoạt của cải của người khác. Chế độ của chúng ta làm chúng không thích...

- Chế độ à? Tức là chủ nghĩa xã hội phải không?

- Vâng, chủ nghĩa xã hội.

- Vâng, phải đấy, ở ta - chủ nghĩa xã hội, còn ở chúng - tư bản, - ông già lại quấn một điếu thuốc khác, nói. - Chỉ có điều sự việc không phải là ở đấy. Chế độ thì có việc gì đến chúng. Ở bên đấy, chúng đã chiếm Ba Lan, Pháp và nhiều nước khác... Mà ở các nước này thì cũng tư bản cả. Còn về chuyện của cải thì đúng đấy, anh nói rất phải. Con người rất tham lam. Đấy, anh xem... - ông gật đầu chỉ ra ngoài cửa sổ, nơi mụ buôn quen biết, sau khi bán xong một nồi, lại đã lôi nồi khác từ trong làn ra. Xung quanh mụ, người vẫn chen lấn nhau.

Một người nữ nhân viên đường sắt đi dọc theo toa, tay xách xô nước, tay kia cầm một chiếc chổi và nhúng chổi vào xô vẩy nước ra sàn. Những hành khách chưa lên được tàu sốt ruột đấm đá ầm ầm vào cửa toa đóng kín.

- Ở làng tôi trước đây có một lão cu-lắc, tên hắn là Đmi-tơ-ri Phô-mích Xméc-đin, - ông già lại bắt đầu nói. - Vẻ ngoài ốm yếu, da xanh tái, nhão nhoẹt, như con chim bị vặt trụi lông... Mà tham lam thì phải biết, không lời nào tả hết. Hễ ngửi thấy ở nơi nào có thể kiếm chác được tí gì là cả người hắn run lên, y như đang lên cơn sốt. Hắn độc ác bòn rút khắp thôn đến từng sợi chỉ, làm cho cả một vùng tơi tả đến không còn hơi sức nào mà kêu nữa cả... Hắn độc ác lắm, làm cho bao nhiêu người khốn khổ. Rồi sau hắn nảy ra một cái thú - bắt con gái mới lớn vào nhà tắm hơi tắm cho nó. Thế mà cái trò này của hắn thậm chí còn làm cho mọi người dễ chịu hơn - tức là, nếu gia đình nào nợ hắn, mà trong nhà có con gái mới lớn đi tắm cho hắn trong nhà tắm, Xméc-đin sẽ bớt cho một phần nợ. Hắn là đồ quỷ sứ như vậy đấy. Tóm lại, đúng là Xméc-đin, cái tên thật hợp với con người hắn. Chắc Chúa trời cũng có mắt, muốn đánh dấu cái thằng ác ôn. Thật ra, hắn không làm hỏng lũ con gái - có thể là hắn sợ, mà cũng có thể là bất lực... Và bây giờ đây, thằng Hít-le của chúng, tôi nghĩ, cũng giống như thằng Xméc-đin ở làng tôi, - ông già bỗng kết luận một cách bất ngờ.

Cru-gi-lin mỉm cười.

- Anh không tin à? - ông già tự ái hỏi.

- Tại sao lại không? Trong vùng của tôi cũng có một thằng Xméc-đin. Cũng làm những việc tương tự như thằng kia. Chỉ có họ tên khác: Cáp-ta-nốp.

-Thế đấy, thế đấy, - ông già gật đầu đồng ý. - Tất nhiên, tôi suy nghĩ một cách đơn giản, không như các nhà bác học. Quả đất, tất nhiên là rất to, có bao nhiêu là đất nước - quốc gia, bao nhiêu là người sống. Nhưng nếu như thử nghĩ xem, trái đất là cái gì? Là một làng lớn! Và Hít-le cũng như thằng Xméc-đin của chúng tôi. Chỉ khác là tay nó dài hơn, miệng rộng hơn...

- Còn tôi bây giờ đi về làng Pan-cru-si-kha, - một lúc sau ông già lại nói, - Trước chiến tranh, con trai tôi ở đó. Nó đã hy sinh một cách dũng cảm, như người ta viết trong tờ giấy tôi nhận được. Có thể, họ viết vậy để an ủi chăng? Phải thế không? -giọng ông già vang lên nghiêm khắc, gay gắt, mắt long lanh giận dữ.

- Như thế để làm gì?!.. Người ta viết đúng như sự thật.

- Hừm, đúng như sự thật... - ông già nói, ánh mắt dịu trở lại. - Có đủ mọi thứ đúng như sự thật... Tôi đã tham gia chiến tranh chống bọn Đức trước đây, tôi biết. Thằng lính chạy, chạy, gặp phải viên đạn, ngã úp mặt xuống đất - và thế là hy sinh dũng cảm. Còn thằng Pi-ốt của tôi thì nó có gì là dũng cảm? Không có gì cả! Sống hiền lành, lặng lẽ, dường như lắm lúc xấu hổ với cả chính mình. Đúng ra là hắn rất ham làm việc và sản xuất ra con thì rất khéo, rất nhanh - cứ năm một. Bây giờ nó để lại sáu đứa...

- Quả đúng vậy, bố ạ, con người ta chết trong chiến tranh theo nhiều kiểu rất khác nhau. Tôi có một đứa con trai bị mất tích ngay trong những ngày đầu tiên của chiến tranh. Nó hy sinh như thế nào, ở đâu, có lẽ tôi sẽ không biết được. Và sẽ không ai biết. Nhưng mặc dù vậy, nó vẫn là anh hùng. Và con của bố, dù anh ấy có chết như thế nào, thì vẫn là anh hùng. Bởi vì anh ấy đã phải hy sinh cuộc đời vì quê hương của mình, vì đất nước của mình. Sau chiến tranh, nhân dân sẽ đặt những bài hát về những người như vậy, về con tôi, về con của bố, về tất cả...

Cô bé ngồi nép mình vào góc cu-pê lắng nghe câu chuyện của hai người, thỉnh thoảng lại ngước đôi mắt sắc nhỏ lên nhìn Cru-gi-lin, đôi môi khô của cô run run như sắp òa ra khóc. Người nữ nhân viên đường sắt sột soạt chiếc chổi quét dọn toa tàu.

- Bài hát... - ông già đăm chiêu nhắc lại. - Nhưng bài hát không trả lại được con trai của tôi cho tôi, không trả lại cha cho lũ trẻ... Không trả lại được con cho anh, và cho bao nhiêu người khác nữa... Phải thế không?

Cru-gi-lin im lặng, không biết trả lời như thế nào.

- Vâng, chiến tranh, - ông già thở dài. - Đấy, tôi cũng thường theo cách của tôi suy nghĩ về cuộc đời nói chung. Thằng Hít-le bây giờ đang mạnh lắm, điều này chúng ta biết. Cả châu Âu đang phải nằm dưới gót giày của nó. Nhưng, nếu nhìn sâu hơn thì sao? Thằng Xméc-đin của chúng tôi trước đây cũng như một con thú dữ, cả một vùng phải nằm dưới chân nó, còn nó bám rất chắc, tưởng như không thể nào đẩy đi được. Bây giờ thằng Xméc-đin đâu rồi? Không còn thằng Xméc-đin nữa! Và những thằng Hít-le đủ loại cũng sẽ không còn! Điều này thì anh nói đúng đấy, sớm hay muộn gì rồi chúng ta cũng sẽ thắng chúng... Chỉ có điều, con người phải trả giá rất đắt, phải đổ nhiều máu.

Cửa toa bắt đầu mở, hành khách chen nhau lên tàu, chạy dọc theo toa, la hét ồn ào.

- Đồ quỷ sứ, làm rét cóng cả người!

- Đi chỉ mất một ngày, mà ngồi chực vé suốt cả một tuần...

- Ác-xi-út-ca ơi! Trời ơi, Ác-xi-út-ca đâu rồi? Mày chạy đi đâu đằng ấy, hả?

Sàn tàu rung lên dưới bước chân người chạy. Đẳng cuối toa có tiếng cãi vã tranh nhau chỗ ngồi, rồi một tiếng cười giòn giã, vô tư của một cô gái nào đó vang lên, và át tất cả, cả tiếng cãi vã, cả tiếng cười, và nói chung, cả tiếng ồn ào ầm ĩ trong toa, là tiếng đàn gió hơi rè rè vì trời quá lạnh.

Người thương tiễn em về.

Kề bên chân tường nọ...

- Cuộc đời đang tiếp diễn... - một anh thương binh chống nạng mỉm cười thốt lên.

Ôm em hôn say mê,

Nói những lời tình tứ...

Cru-gi-lin nghe những tiếng hát, tiếng ồn ào đó, đầu vẫn nghĩ về những lời của ông già: «...bài hát không trả lại được con trai của tôi cho tôi, không trả lại cha cho lũ trẻ... Không trả lại được con cho anh, và cho bao nhiêu người khác nữa...»

Ông già ngồi im lặng, nhưng những lời của ông già với cái giọng khàn khàn, ám khói thuốc lá, vẫn xoáy mãi, xoáy mãi vào tai.

Em tìm anh hẹn hò,

Đi mòn đường chết cỏ...

Cô gái vô tâm với giọng rất cao thổ lộ tâm tình với cả toa tàu, cứ sau mỗi bài tsa-xtu-sca cô lại phá lên cười lanh lảnh, và Cru-gi-lin tưởng tượng ra cảnh cô ta, người nhỏ nhắn, có lẽ có đôi mắt sắc như cô gái đang ngồi nép mình trong góc này, đang vội vàng chạy đến nơi hò hẹn với người thương. «Đúng, cuộc đời đang tiếp diễn, và nó sẽ tiếp diễn, không có sự độc ác nào, không có sự mất mát nào, không có sự đổ máu nào có thể dừng nó lại, làm tắt nó đi được...» - ông nghĩ thầm.

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích đã từ lâu chú ý đến cô gái, thấy cô đang đói và sợ hãi một điều gì đó. Khi hành khách bắt đầu lên tàu, cô càng ngồi ép sát vào góc, nhìn mỗi người mới lên với vẻ lo lắng, đút sâu thêm đôi bàn tay mảnh dẻ vào ống tay áo măng-tô.

- Cháu đi có xa không? - ông hỏi.

Lúc đầu cô gái không hiểu là ông hỏi cô, nhưng khi đã hiểu ra, cô rùng mình, liếc nhanh sang Cru-gi-lin cái nhìn sắc như dao, quay người ra phía cửa sổ.

- Tôi cũng đã thử hỏi nó, nhưng nó không nói, - ông già bảo, - chỉ đảo mắt ngó và im lặng. Có thể là không có lưỡi. Cũng có thể là câm.

Cô gái hoàn toàn không có phản ứng gì với những lời nói đó của ông già.

Cru-gi-lin xuống ga, mua ở mụ đàn bà buôn đi cùng toa lúc nãy một ít khoai tây và thịt, một chai sữa đun sôi. Lên tàu, ông lấy từ trong cặp ra một miếng bánh mì, một hộp thịt, đặt tất cả lên bàn. Rồi ông hỏi xem ai có cốc chén không. Ông già cúi xuống, kéo từ dưới gầm ghế chiếc va-li bằng gỗ, lấy ra một chiếc cốc nhôm, một mẩu mỡ lợn, mấy quả trứng.

- Tôi cùng ăn cho vui; - ông nói, nhích lại gần bạn, ép cô gái sát hẳn vào tường.

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích dùng dao con cắt bánh mì, mở đồ hộp và gói giấy đựng khoai tây ra. Ông rót một cốc sữa, đặt xuống trước mặt cô gái.

- Cháu ăn đi.

Đôi mắt cô gái đảo nhanh như người bị sốt, cô làm một cử động, toan đứng dậy đi. Ông già nói to:

- Ngồi yên đấy!

- Bỏ ra! - cô gái kêu lên khẩn khoản, yếu ớt.

- Nói được rồi, lạy Chúa, - ông già vui vẻ nói. - Nào, ngồi xuống đây... Thế, thế, - và ông già đặt xuống trước mặt cô ba quả trứng, cầm cốc sữa nhét vào tay cô, - coi chừng đánh đổ ra đấy.

- Cháu ăn đi, - Cru-gi-lin nhẹ nhàng nói, - Bác thấy cháu đang đói mà... Ăn đi.

Cô gái cố nuốt nước miếng, đôi mắt ươn ướt lóe sáng lên, và cô gái cúi đầu xuống.

- Cháu cảm ơn...

Đoàn tàu giật mạnh, rồi từ từ chuyển bánh; phía dưới, tiếng bánh tàu gõ mỗi lúc một to hơn, nhanh hơn.

Thận trọng, như sợ bỏng, mặc dù sữa đã nguội, cô gái đưa chiếc cốc lên môi, nhấp một ngụm nhỏ. Rồi bỗng nhiên, rất nhanh và thèm thuồng, cô uống một hơi cạn cả cốc, và khi uống xong, như sực nhớ ra, mới đỏ mặt lên.

- Không sao, cháu ăn đi, - ông già nói, và lại giúi vào tay cô, như cho một đứa bé, một miếng bánh mì với lát mỡ lợn dày.

Đoàn tàu qua một cánh rừng thưa, và thỉnh thoảng, khi qua những quãng đường cong, Cru-gi-lin lại thấy chiếc đầu máy đen thui qua cửa sổ. Chiếc đầu máy nhả từng luồng khói như bờm ngựa, tiếng máy âm vang như đang gọi một người nào đó, cần mẫn bò lên phía trước, để lại trên các ngọn cây những mảng khói đen.

Cô gái ăn đã chậm lại, cắn từng mẩu bánh nhỏ. Cô không nhìn Cru-gi-lin và ông già. Không hiểu vì được ăn hay vì ngượng, má cô mỗi lúc một đỏ hồng lên, trên hai cánh mũi thanh thanh đọng lại mấy hạt mồ hôi li ti.

Ông già đã lại quấn thuốc hút, còn Cru-gi-lin không vội kết thúc bữa ăn sáng của mình, vì cảm thấy cô gái ăn hãy còn chưa no.

- Cháu cám ơn, - cuối cùng cô khẽ thì thào, và lần đầu tiên ngước lên dịu dàng nhìn Cru-gi-lin bằng cặp mắt biết ơn ngây thơ như trẻ con. Thậm chí cô còn cố thử mỉm cười, nhưng quá ngượng, đôi gò má gầy của cô đỏ lựng lên.

- Tên cháu là gì? - Một lát sau Cru-gi-lin hỏi.

- Na-ta-sa, - cô khẽ đáp, - Na-ta-sa Mi-rô-nô-va.

- Cháu đi đâu thế, Na-ta-sa?

- Đi... Không đi đâu cả.

- Không đi đâu cả là thế nào?

- Đi... và thế thôi! Việc gì đến các ông? Bỏ ra... - và cô bước ra khỏi cu-pê.

- Có lẽ con bé có một điều gì đau khổ lắm, - ông già nói. - Tôi lên tàu hồi đêm, lúc trời còn tối. Khi trời bắt đầu sáng, tôi nghe thấy tiếng khóc. «Cháu làm sao thế?» - tôi hỏi. Im lặng. Chỉ có đôi mắt như bắn ra những tia lửa. Có thể, cha hoặc anh, như thằng Pi-ốt của tôi, không còn... Có thể, chồng hoặc người yêu... Bây giờ đàn bà có một nỗi khổ chung...

- Con lưu manh đấy, lạy Chúa tôi, - người đàn bà mặt rỗ ngồi trên lối đi bỗng lên tiếng. - Đưa của ra khoe với nó! Đàn ông bao giờ cũng ngốc nghếch như cừu đực... Con lưu manh đấy, mà có thể còn tệ hơn. Nhìn nó biết ngay, đã ngồi tù rồi...

Cru-gi-lin quay lại phía người đàn bà:

- Sao chị biết như vậy?

- Nhìn nó thì biết, - người đàn bà cáu kỉnh nhắc lại. - Loại người như vậy bây giờ nhiều lắm... - Và chị ta bặm môi lại một cách nghiêm khắc.

- Chị nói nghe ra có cái gì không phải, - ông già lắc mái đầu tóc hung nói.

Người đàn bà chỉ ôm chặt chiếc túi xách của mình hơn.

Mười phút trôi qua, rồi nửa giờ, mà vẫn không thấy cô gái quay lại. Cru-gi-lin băn khoăn nhìn ông già. Ông già cũng có vẻ hơi bối rối, chốc chốc lại vuốt bộ ria của mình như để gỡ những hạt nước đọng lại thành băng trên mép.

Nửa giờ nữa trôi qua, vẫn không thấy bóng dáng cô gái đâu. Tàu đã mấy lần dừng lại ở các ga xép.

- Không thể như thế được, - cuối cùng ông già lên tiếng. - Có lẽ nó đã xuống ở một ga nào đó.

«Cô bé quả là kỳ quặc thật» - Cru-gi-lin nghĩ thầm và rút tờ báo mua ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ ra đọc.

Đến San-ta-ra, tàu còn phải đi thêm mấy tiếng nữa. Ông già xuống tàu ở một ga nhỏ, miệng lẩm bẩm lo lắng sợ không kịp xin xe cùng đường về Pan-cru-si-kha khi trời còn chưa tối. Rồi người đàn bà mặt rỗ cũng lặng lẽ xuống tàu, mang theo chiếc tay nải ôm khư khư trước bụng. Một ông già nhân viên kiểm soát người gầy đét như một con dê còi cọc, vẻ mặt rất nghiêm khắc, cùng với hai người công an cao lớn đi kiểm tra vé tàu và giấy tờ hành khách. Còn Cru-gi-lin vẫn nghĩ về cô gái có tên là Na-ta-sa Mi-rô-nô-va. «Lưu manh... Lưu manh... - mấy từ khó chịu vẫn lởn vởn trong đầu ông. Ông nhìn qua cửa sổ và cau mặt. - Không, không thể thế được...».

Ông thấy lại cô gái đó chừng một giờ sau lần kiểm tra vé và giấy tờ. Cũng vẫn hai người công an cao lớn đó dẫn cô đi dọc theo toa tàu. Cô bước đi, đầu cúi xuống rất thấp.

- Na-ta-sa... Mi-rô-nô-va? - Cru-gi-lin đứng nhổm dậy.

Cô gái vấp chân và dừng lại. Mắt cô lạnh lùng, trống rỗng, khuôn mặt trắng nhợt như phấn.

- Có việc gì thế? - một người công an hỏi: - Anh biết người này à?

- Không... Cô ta đi cùng trong cu-pê này... - Và ông chợt nhớ lại từ «lưu manh», - hỏi: - Cô này là ai?

- Đi không có vé, cũng không có giấy tờ gì cả. Anh cần gì?

- Không cần gì cả...

- Cảm ơn bác, - cô gái nói. - Bác tốt bụng lắm...

Giọng của cô vang lên thản nhiên, nhưng trong câu nói có một sự mỉa mai, khinh bỉ, thậm chí hằn học mà Cru-gi-lin không hiểu nổi.

- Cô ta là ai?

- Chúng tôi sẽ xác minh.

- Họ sẽ xác minh, - cô gái gật đầu, cười khẩy một cách thách thức, quất sang Cru-gi-lin một cái nhìn nóng bỏng của đôi mắt đen và bước đi tiếp, đầu bây giờ ngẩng cao kiêu hãnh. Ông đứng nhìn cho đến lúc mấy người công an đưa cô ra khỏi toa.

«Kỳ quặc quá, rất kỳ quặc...» - Cru-gi-lin nghĩ cho đến tận San-ta-ra. Sau đó mấy lần ông còn nhớ tới cô gái nọ, nhưng vài ngày sau, vùi đầu vào những công việc bề bộn của mình, ông quên đi...

* * *

Sau khi trở về nhà, ngay ngày hôm sau, từ sáng sớm, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích gọi điện cho A-lây-nhi-cốp:

- I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích, đến chỗ tôi một tí...

A-lây-nhi-cốp im lặng mấy giây.

- Bây giờ à?

- Có thể bây giờ. Đúng lúc tôi đang rỗi.

Ông đến sau bốn chục phút, người như phờ phạc, gầy sụt xuống. Chào hỏi xong, ông cau có và cảnh giác nhìn Cru-gi-lin từ dưới đôi lông mày rậm, rồi ngồi xuống sau chiếc bàn hẹp dài, đặt hai bàn tay nắm chặt lên mặt bàn. Đôi khóe miệng của cặp môi mỏng mím chặt hơi trễ xuống, dường như ông không bằng lòng với việc mình bị gọi đến đây và không chờ mong điều gì tốt đẹp ở câu chuyện sắp tới.

- Anh sống như thế nào, I-a-cốp?

Câu hỏi nghe hơi vô nghĩa, gượng gạo, cả hai người đều cảm thấy điều đó. A-lây-nhi-cốp rướn đôi lông mày rậm lên nhìn Cru-gi-lin, vai trái khẽ nâng lên, rồi hạ xuống, những ngón tay càng nắm lại chặt hơn.

- Ở tỉnh ủy, tôi và Xu-bô-tin có nói nhiều về anh.

- Ra thế! - A-lây-nhi-cốp cười khẩy, vẻ bực bội cúi đầu xuống, vết sẹo trên má bắt đầu tái xanh. - Chắc có lẽ đã thảo luận về hành vi vô đạo đức của tôi? - và ông hất đầu ra ngoài cửa, về phía phòng của Vê-ra.

- Vâng, cũng có nói tới cả chuyện đó.

- Còn nếu như tôi yêu cô ấy? - A-lây-nhi-cốp nặng nề nói rít qua kẽ răng, cả mặt, thậm chí cả cổ, cũng bắt đầu đỏ bừng lên.

Cru-gi-lin nhìn A-lây-nhi-cốp rất lâu, vẻ hơi buồn.

- Hơn nữa, tôi yêu hay không yêu, đối với các anh thì có ý nghĩa gì: cả Xu-bô-tin, cả anh đều không hiểu được điều đó...

- Tại sao?

A-lây-nhi-cốp chậm chạp ngẩng đầu lên, lướt mắt nhìn qua bức tường, qua tấm bản đồ Liên Xô rất to cắm đầy những lá cờ nhỏ tí, qua chiếc tủ sắt cao sơn màu xanh đen, giống như một chiếc quan tài, đứng trong góc phòng. Rồi ánh mắt ông bất ngờ chạm phải ánh mắt hơi buồn của bí thư huyện ủy. Hai người im lặng nhìn nhau mấy giây và trong khoảnh khắc đó A-lây-nhi-cốp bỗng hiểu rằng Cru-gi-lin không những biết tất cả về quan hệ của ông với Vê-ra, mà còn hiểu được cái gì đã xảy ra với ông và đang xảy ra trong lòng ông ngay bây giờ.

- Đấy, tôi sống như thế đấy, - ông nói và lại cúi đầu xuống.

Ngoài cửa sổ, những bông tuyết to, lặng lẽ, nhưng không dày lắm, đang rơi. Khi đến đây, A-lây-nhi-cốp đi không vội vã, vừa nhìn những mái nhà phủ đầy tuyết trắng, vừa thở làn không khí lạnh lẽo, đượm mùi tuyết mới tinh khiết. Và bây giờ ông bỗng lại muốn đi ra đường phố, muốn đi ra ngoài thị trấn, đến bên biền sông Grô-mô-tu-kha, nơi ông đã nhiều lần gặp Vê-ra, muốn đứng ở đấy để nhìn những bông tuyết to mịn, lặng lẽ rơi xuống mặt đất, xuống các cành cây.

A-lây-nhi-cốp đứng dậy, và như lần trước đây đã khá lâu, bước đến bên cửa sổ, nhìn ra hàng rào gỗ sơn xanh phủ đầy tuyết bao quanh nhà Cru-gi-lin.

- Hàng rào vẫn đứng đây. Nhưng anh định phá nó đi cơ mà?

- Định phá. Nhưng anh phản đối, thậm chí còn cấm... «Người ta đã dựng lên thì cứ để cho nó đứng đấy. Không phải vì ý thích riêng của mình mà người ta dựng lên. Chẳng lẽ anh không hiểu hay sao?» Lời của ai thế?

- Của tôi, - A-lây-nhi-cốp nói một cách nhẫn nhục. - Mà chỉ lời không thôi à?

Ngoài cửa sổ tuyết vẫn rơi không ngớt. A-lây-nhi-cốp có cảm tưởng như những bông tuyết nhẹ đang trượt trên mặt kính cửa sổ phát ra một thứ tiếng xạc xào buồn bã. Ông lắng nghe nhưng không nghe thấy gì.

- Anh định lấy những lời ấy trở lại đấy à?

- Từ ngày anh trở về huyện đến giờ mới chỉ một năm trôi qua, - I-a-cốp lên tiếng, dường như không nghe thấy câu hỏi của Cru-gi-lin. Mà tôi có cảm giác như tôi đã sống qua nhiều, nhiều năm lắm, chứ không phải chỉ mới một năm... - Ông lại im lặng nhìn những bông tuyết xốp mịn giống như bầy bướm đêm đang lao vào mặt kính.

- Nghĩa là bị rối tung lên?

- Khi bị rối, còn có thể gỡ được. Ở đây đáng sợ hơn, khó hiểu hơn... - ông đi lại trong phòng, lưng gù hẳn xuống, dường như I-a-cốp đang cúi xuống đất. - Vâng, đáng sợ hơn, khó hiểu hơn, ở đây không thể tìm ra lời để nói...

- Đừng cố tìm chúng làm gì, I-a-cốp ạ, - Cru-gi-lin nói, giọng như khuyên bảo. Rồi đến một lúc nào đó, tự chúng sẽ đến. Bây giờ chưa thể hiểu hết được tất cả những cái gì đã xảy ra. Bây giờ chúng ta cần phải làm cái việc mà vì nó chúng ta đã chiến đấu, I-a-cốp ạ. Cần phải làm một cách mạnh mẽ, nhất trí, như trước đây chúng ta đã chiến đấu... - Và đột ngột, không hề có chuyển tiếp, chỉ có giọng hơi gay gắt hơn, ông nói tiếp.

- Tôi nghĩ cần phải đưa anh vào ban thường vụ huyện ủy. Tự anh thấy thế nào?

Những lời nói của Cru-gi-lin không làm cho I-a-cốp ngạc nhiên. A-lây-nhi-cốp chỉ liếc nhìn Cru-gi-lin từ dưới đôi lông mày rậm của mình, ngồi xuống cạnh bàn, nắm chặt tay lại. Rồi ông nói, giọng trầm vang, như qua ống loa:

- Không cần đưa tôi vào đâu cả.

- Tại sao? - Cru-gi-lin cau mày hỏi.

- Tôi xin ra trận, - A-lây-nhi-cốp nói nhanh, mắt nhìn vào một chỗ. - Với cấp trên của tôi có lẽ đã giải quyết xong, họ đang tìm người thay thế. - Ông lại cười khẩy không vui, và khi nụ cười biến mất, ông buồn bã nói tiếp. - Nói chung, người ta vui mừng để cho tôi đi. Còn nếu như không cho tôi đi, tôi cũng trốn đi, như I-nhi-u-chin. Tôi không còn cách nào khác... Kỳ cục lắm à?

Cru-gi-lin đứng dậy. A-lây-nhi-cốp đợi nghe những lời giận dữ của ông. Nhưng ông rất ngạc nhiên khi thấy Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nói một cách bình tĩnh, chỉ có trong giọng nói nghe có sự mỉa mai cay độc.

- Nói chung là kỳ cục, I-a-cốp ạ. Nhưng không phải việc anh muốn chạy ra mặt trận, mà là chuyện khác... Anh đi tìm, như tôi hiểu, cái chết à?

Trong đầu A-lây-nhi-cốp như bốc lửa, có một cái gì nhói lên ở trên sống mũi, giữa hai mắt:

- Tôi không biết... Nhưng có lẽ... - Khuôn mặt ông nhăn lại đau đớn, - Tự tôi không dám... không đủ sức, có lẽ vậy. Còn ngoài đó...

- Đồ ngu xuẩn! - Cru-gi-lin như quất roi vào mặt ông đau nhói.

A-lây-nhi-cốp đứng vụt dậy.

- Vâng, tôi biết! - ông hét to, thở hổn hển. - Da-xu-khin cũng đã nói với tôi như vậy... ba năm về trước...

- Anh ấy nói cái gì với anh? - Cru-gi-lin không hiểu, hỏi lại.

Nhưng A-lây-nhi-cốp không đáp. Thọc hai tay vào túi áo vét-tông, ông lảo đảo đi đến bên cửa, rồi dừng lại như chợt nhớ ra điều gì.

- Bằng lý trí, tôi vẫn hiểu là tôi ngu xuẩn. Nhưng tôi không thể khác được. Anh đâu có biết tất cả, đâu có biết hết mọi việc làm của tôi... Còn về ý kiến của anh, xin cảm ơn... cảm ơn anh cả việc anh hiểu tình cảm của tôi đối với cô gái kia, với Vê-ra, là chân chính. Tình cảm đó đến bây giờ vẫn còn. Tôi đã làm khổ cô ta, tôi biết vậy. Nhưng tôi cũng không thể... Nói cho cô ta hiểu điều này một cách rõ ràng, tôi cũng không thể...

Ông dừng lại, đứng thêm một lúc, nghĩ một điều gì đó. Rồi bước ra khỏi phòng, thận trọng khép cửa lại.

* * *

Bóng chiều màu xanh chậm chạp buông xuống dày đặc. An đrây ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra những đống tuyết dần đen sẫm lại nằm mấp mô như từng lớp sóng trong vườn rau, nhìn hàng rào thấp ngăn vườn nhà cậu với vườn nhà mụ Ca-sca-rô-va đang đứng ngập trong tuyết. Cậu cảm thấy buồn chán, còn vì sao - cậu không biết. Cậu muốn làm một điều gì đó thật phi thường để mọi người phải kinh ngạc - đấy xem kìa, An- đrây Xa-vê-li-ép đấy! Nhưng việc đó không xảy ra, và cậu hiểu: ở đây, ở San-ta-ra, sẽ không bao giờ có được việc như vậy.

Sau lần trốn ra mặt trận không thành công, việc đến trường với cậu là một sự tra tấn. Lúc đầu, cậu tưởng các bạn sẽ chế giễu cậu - ê, cái đồ ngốc nghếch! Nhưng mọi việc xảy ra lại ngược lại, các bạn, đặc biệt là lũ con gái, nhìn cậu với vẻ ngạc nhiên và khâm phục, trong các giờ ra chơi chúng đi theo cậu từng đoàn, và cậu có cảm tưởng như mình là một anh hùng thật sự. Chà, nếu như mình đến được mặt trận, lập được vài ba chiến công rồi sau đó, khi chiến tranh kết thúc, cậu sẽ về trường với bộ quân phục và huân chương trước ngực, thì lúc đó sẽ ra sao nhỉ?! - cậu nghĩ, và tim nghe ngây ngất ngọt ngào. Tuy thật ra, cậu chưa hình dung ra được thật rõ rằng mình có thể lập được chiến công gì ở mặt trận. Nhưng chỉ nghĩ về điều này cũng đã thích rồi.

Nhưng sau một tuần, rồi hai tuần, sự chú ý của mọi người đối với cậu và chuyến đi của cậu dần dần giảm sút và cuối cùng là mất hẳn. Điều này làm cho An-đrây hơi thất vọng tự ái, trái tim nhỏ bé của cậu khẽ nhói lên, và cậu biết rằng rồi sẽ có lúc cậu làm cho cả trường, cả đường phố, và thậm chí cả San-ta-ra phải kinh ngạc. «Được rồi, chờ đấy, chờ đấy... Đợi cho hết mùa đông này...»

Chỉ có Vích-to Ca-sca-rốp là chưa hết quan tâm đến chuyến đi của An-đrây, thường hỏi về ông nhân viên ria xồm phụ trách đường tàu, về cô bé cạnh giếng đã cho An-đrây uống nước, quan tâm tỉ mỉ từng chi tiết một và bao giờ cũng rút ra một kết luận:

- Không thể tin vào mọi người được. Không thể nào tin được...

An-đrây cũng nghĩ đúng như vậy, và mặc dù cậu không ưa, thường tránh Vích-to vì anh của Vích-to là một tên ăn trộm nổi tiếng khắp San-ta-ra, còn mùa thu vừa qua chính Vích-to đã có liên quan đến vụ án cắp xe hàng, cậu vẫn thích thú khi thấy Vích-to là người cùng ý nghĩ với cậu.

Nhưng, một mặt không ưa, tránh mặt Vích-to, mặt khác An-đrây vẫn thấy thương hại bạn. Ở trường mọi người đều xa lánh Ca-sca-rốp, gọi cậu là thằng ăn trộm, đôi lúc còn đánh cho khá đau. Lúc đầu cậu im lặng chịu đòn, không chống cự lại nhiều lắm và không mách ai cả. Nhưng dần dần cậu bắt đầu đánh trả, và vào mùa xuân vừa qua, khi bị một bọn ép vào trong góc sân trường, cậu rút từ trong túi quần ra một chiếc búa sắt nặng không có cán và mắt long lên dữ tợn, bắt đầu múa loạn xạ sang phải, sang trái. Hai ba đứa bị cậu đánh vào đầu chảy máu, bọn còn lại bất ngờ trước việc cậu đánh trả lại như vậy, bỏ chạy tán loạn.

Vì việc này, suýt nữa Vích-to bị đuổi học. Nhưng từ đó mọi người đều tránh cãi nhau với cậu, thậm chí không còn dám trêu chọc như trước nữa. Một đứa nào đó tung tin rằng từ nay Vích-to Ca-sca-rốp luôn luôn mang theo trong túi quần con dao được anh cậu, Ma-ca, tặng cho. Mọi người đều tin điều đó và hễ Vích-to đến gần một đám bạn nào đó và cho tay vào túi, tất cả lập tức tản ra, lảng đi chỗ khác. Nhưng An-đrây biết rằng trong túi Vích-to không có con dao nào cả.

- Anh làm cho mọi người sợ hết, - An-đrây nói.

- Mặc chúng, - Vích-to cau có đáp. - Lũ ngốc cả.

Vích-to học giỏi, nhưng điều này cũng không mang lại niềm vui cho cậu. Sau vụ xe hàng, cậu hoàn toàn trở nên cau có, cô độc; trong các giờ ra chơi, cậu ngồi nép vào một góc hoặc lang thang một mình trong sân trường, mắt nhìn xuống đất, tay không rút ra khỏi túi quần.

Một lần, sau hàng chục lượt hỏi tỉ mỉ về chuyến du lịch của An-đrây, Vích-to nói:

- Thế... Cậu cũng đã đến đồn công an, tớ cũng đã ở đó. Thế sao cậu không hỏi về chuyện xe hàng của chúng tớ?

- Chuyện như thế nào?

Vích-to sầm mặt lại và bỗng khóc lên nức nở.

- Anh sao thế, Vích-to? - An-đrây bối rối.

- Cái gã Ma-ca, đồ rắn độc ấy, bắt buộc tớ. Hắn bảo: «Mày đi đi, đến bảo với lão bảo vệ rằng trong xe có một cái gì đấy sột soạt. Còn chúng tao sẽ nện vào đầu...»

- Thế sao anh không nói ngay với ông bảo vệ rằng Ma-ca định...

- Hừ... Nhưng sau đó rồi sao? Cậu chưa biết Ma-ca đấy...

Và cậu lấy bàn tay quệt nước mắt trên má, bỏ đi, không hiểu sao người nghiêng nghiêng như đang lấy vai rẽ một cái gì đó.

Hôm nay ở trường, trong giờ ra chơi cuối cùng, cậu đến bên An-đrây, tay vẫn như mọi hôm, không bỏ ra khỏi túi quần:

- Tớ có việc cần nói với cậu.

- Nào, thì nói đi.

- Nói... Nhưng đâu phải đơn giản như vậy. Buổi chiều ta trượt tuyết ra ngoài gò sau thị trấn, ở đó ta sẽ bàn.

- Được rồi, sẽ đến, - An-đrây tò mò đáp.

- Tớ ở nhà còn phải giặt. Mẹ tớ ốm đã hai tuần nay. Nhưng không sao, tớ để một nửa ngày mai giặt nốt. Lúc trời gần tối, cậu nhìn tớ qua cửa sổ. Và nhớ ra ngay đấy.

Và bây giờ An-đrây ngồi bên cửa sổ, nhìn qua hàng rào sang sân nhà mụ Ca-sca-rô-va, chờ Vích-to xuất hiện.

Vích-to ra khi trên mái nhà của cậu hiện ra chấm sao đầu tiên, không sáng lắm. Đó có lẽ không phải là sao mà chỉ là một đốm lửa bay ra từ ống khói và sắp sửa bay đi, tắt mất. Nhưng nó không bay, không tắt, mà mỗi lúc một sáng thêm.

Vích-to ném đôi thanh trượt tuyết đã cũ, mòn xuống mặt tuyết, nhìn vào cửa sổ nhà An-đrây, vẫy tay, tin tưởng rằng An-đrây đang đợi tín hiệu của cậu. An-đrây đã vội chạy đến bên móc áo, bắt đầu mặc áo ngoài. Cửa mở, cha bước vào, mang theo cả một đám hơi nước trắng xóa.

Đám hơi nước lập tức bay vào sâu trong phòng, trượt trên những tấm ván lót sàn phẳng dưới bàn ăn, như ngửi tìm một vật gì, rồi tan ra thành từng mảng. Cha cởi áo bông sặc mùi ma-dút, ném đôi ủng dạ mòn vẹt, cũng bẩn thỉu, vào góc nhà và ngồi xuống ghế.

- Ai ở nhà?

- Không có ai, chỉ có ông thôi, - An-đrây chỉ về phía cánh cửa đóng kín.

- Mẹ mày đâu?

- Đang vắt sữa bò.

- Thế mày đi đâu đấy?

Cha bao giờ cũng cau có, như suốt đời cáu giận một điều gì đó. Trong thời gian gần đây ông trở nên hoàn toàn im lặng, không nói gì với ai cả, chỉ thỉnh thoảng hỏi vài lời như hôm nay, giọng nhát gừng. Và như đang mải suy nghĩ về một điều gì đó, thỉnh thoảng ông lại cười khẩy trong bộ ria đen nhọn hoắt. Đôi lúc ông có thể hàng giờ ngồi bất động, mắt nhìn vào một điểm và suy nghĩ, suy nghĩ...

- Không... Con đi ra ngoài đường một tí, - An-đrây đáp.

Nhưng cha dường như đã quên câu hỏi của mình, quên cả An-đrây.

An-đrây cảm thấy như trong gia đình đang xảy ra một chuyện gì đó. Mẹ trong thời gian gần đây gầy sụt hẳn xuống, da xanh xao, vàng vọt, đôi mắt hõm sâu xuống, nhợt nhạt. An-đrây nhận thấy mẹ hay ngồi khóc, nhưng cố giấu không cho ai trông thấy những giọt nước mắt của mình.

- Sao mẹ hay khóc thế? - một lần, cậu hỏi Xê-mi-ôn. - Cha cứ im lặng, mà mẹ cứ khóc suốt.

- Thì mày cứ hay trốn ra trận đi!

Nhưng An-đrây cảm thấy nguyên nhân không phải ở việc cậu trốn đi - chuyện này đã từ lâu mẹ không còn nhắc đến nữa, - nguyên nhân là ở một việc gì khác, rất người lớn và rất quan trọng, bây giờ An-đrây chưa thể hiểu nổi.

- Em biết rằng cha không thích cho những người... những người tản cư này ở, - An-đrây nói. - Thế họ biết đi đâu, khi làng của họ bị bọn Đức đốt hết rồi? Chẳng lẽ cha không biết như vậy à?

- Cái thằng này, cũng đòi triết lý! - anh Xê-mi-ôn nổi giận. - Đây không phải là việc của mày, hiểu chưa? Và nói chung...

- Nói chung - cái gì?

- Nếu mày nghĩ nhiều, sẽ sớm hói trán mất đấy.

Những lời của Xê-mi-ôn làm cho An-đrây tự ái và càng làm cho cậu thêm tin rằng giữa cha và mẹ có một chuyện gì bất hòa.

Ra đến ngoài thị trấn San-ta-ra, An-đrây mới đuổi kịp Vích-to đang đi nhanh, liên tục gập người lại, chống đôi gậy xuống mặt tuyết, đẩy mạnh.

Ngay sát thị trấn có ba - bốn ngọn gò lớn, ở đó vang lên những tiếng cười nói của lũ trẻ, nhưng Vích-to vòng qua các gò đó, đi tiếp về phía biền sông Grô-mô-tu-kha đã bắt đầu chuyển sang màu tối sẫm, phía trên các ngọn cây bốc lên một làn sương trắng đục dày đặc. Phía đông, nơi dãy núi Dve-nhi-gô-ra chắn ngang, trời đã bắt đầu tối, dường như bóng đen trôi từ trên những đỉnh núi đá phủ tuyết xuống, lấp đầy cả khoảng không gian giữa dãy núi và San-ta-ra, che ngập cả những ngôi nhà ở phía ngoài thị trấn, còn ở phía tây, bầu trời hãy còn sáng nhạt với những mảng mây bông trắng. Và không hiểu sao, An-đrây có cảm tưởng rằng mặt trời đã lặn xuống sau núi, bây giờ sẽ nghĩ lại, không đi ngủ nữa, mà lại mọc lên cao trên mặt đất, xua tan bóng tối đã bắt đầu loang ra từ phía đông như ngọn gió xua tan đám bụi trên đường phố.

Vích-to đi rất lâu, rồi đứng lại,

- Mệt chưa?

- A-ha... - An-đrây há miệng thở gấp làn không khí lạnh giá. - Chúng ta đi xa quá.

- Xa đâu mà xa! Chỉ mới chừng bốn ki-lô-mét. Tớ thương cậu đấy, một mình tớ chiều nào cũng đi xa hơn gấp hai.

- Anh đi thế để làm gì?

- Tớ tập luyện. Sẽ có lúc cần đến.

Mặt trời không mọc ngược trở lại trên mặt đất, những mảng mây trắng nơi chân trời đang tắt dần, chỉ hơi ánh lên nhợt nhạt, bầu trời như bị vẩy loang lổ những vệt sáng mờ lung linh. Đêm mùa đông thanh vắng nhanh chóng ập đến phủ khắp mặt đất.

- Anh đi một mình à? - An-đrây hỏi.

- Thế còn với ai nữa?

- Không sợ à? Bây giờ mùa chó sói ra đấy.

Vích-to nhổ nước miếng xuống tuyết, tỏ cho biết rằng cậu không thèm trả lời những câu hỏi vớ vẩn.

An-đrây và Vích-to đứng im lặng một lúc, nhìn lên bầu trời sao mỗi lúc một sáng.

- Lạnh quá, - An-đrây nói. - Nào, anh có việc gì thế?

Vích-to lấy gậy chọc chọc lên mặt tuyết.

- Bao giờ cậu lại chuẩn bị ra mặt trận?

- Cái... cái gì? Mặt trận nào? Không bao giờ...

- Đừng nói dối, An-đrây. Tớ biết là cậu đang chuẩn bị.

- Anh ngốc lắm! Làm sao anh có thể biết được?

- Tớ đoán...

- Anh ngốc lắm! - An-đrây nhắc lại. - Anh chỉ nói chuyện vớ vẩn... - Và, chống mạnh gậy xuống tuyết, cậu bỏ về thị trấn.

Vích-to đuổi kịp cậu, đứng chắn ngang đường.

- Khoan đã... Tớ biết ở nhà cậu sẽ chẳng nói với tớ, sẽ bỏ đi. Còn ở đây, tớ không cho cậu về, nếu cậu chưa chịu nói.

An-đrây định đi vòng qua, nhưng Vích-to lại chạy lên phía trước.

- Anh làm gì thế? Định đánh nhau à?

- Tớ không đánh nhau đâu. - Vích-to lắc đầu, - Tớ không thích đánh nhau. Nhưng tại sao tớ lại hỏi cậu? Tớ muốn đi với cậu. Cậu đồng ý không?

- Cái gì-ì? - An-đrây kéo dài giọng,

- Nếu cậu không đồng ý, tớ đi một mình.

- Thì cứ đi đi. Còn em không định đi nữa đâu.

An-đrây bước tránh sang bên cạnh, bỏ đi. Vích-to chạy theo sau, chừng hai ki-lô-mét, im lặng.

- An-đrây... - giọng Vích-to cầu khẩn.

An-đrây dừng lại ra vẻ thương hại,

- Tất nhiên, tớ sẽ đi một mình, - Vích-to nói khẽ, không nhìn bạn. - Tớ nhất định phải ra ngoài đó, ra ngoài mặt trận, vì tớ không thể ở đây... Không thể nào ở đây lâu hơn được nữa. Chỉ có điều tớ nghĩ, hai đứa sẽ tiện hơn, nhẹ nhàng hơn. Hai đứa nhất định sẽ đến nơi được... Còn cậu không tin tớ là uổng. Tớ không phải thằng tồi, như thằng mũi tẹt Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin, hoặc như anh Xê-mi-ôn nhà cậu. Ở đồn công an mùa thu vừa rồi, người ta hỏi tớ phải biết: đồ đạc ở xe hàng đưa đi đâu rồi? Tớ biết, nhưng tớ không nói.

- Đưa đi đâu?

- Tớ sẽ nói cho cậu nghe, nhưng cậu cũng phải nói cho tớ biết. Và cho tớ đi theo với. Được không?

- Để còn xem đã, - An-đrây đáp lơ lửng.

Vích-to ngập ngừng.

- Thôi được, tớ tin cậu. Ở ngoài thị trấn, có một cô ngực rất to, tên là Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va. Cậu không biết cô ấy đâu. Ma-ca và Lê-ô-nhít Gvô-dơ-đi-ép ban đêm đưa hết đến đó, còn xe đưa đi vứt ở một nơi nào đấy. Có lẽ đến giờ ở nhà cô ấy cũng còn đầy một gác toàn vải vóc, áo quần, giày ủng. Đấy... tớ biết, nhưng tớ không nói.

- Vì cậu sợ Ma-ca.

- Khô-ông phải, - Vích-to lắc mái đầu đội chiếc mũ lông cừu đã rách mướp. - Ma-ca là một chuyện. Nhưng chuyện khác, quan trọng hơn, là họ đã tin mình. Mặc dù họ là những kẻ xấu, nhưng nếu đã tin mình thì theo tình người, muốn hay không muốn, cũng phải im lặng. Nếu như ngay từ lúc đầu, tớ không tiếp nhận sự tin tưởng của họ, lúc đó sẽ khác... Nhưng tớ không làm như vậy được. Trong chuyện này tớ có lỗi nặng. Nhưng cứ thử trái lời Ma-ca mà xem! Giá như ai biết được hắn... hắn đánh tớ... - Và Vích-to lại thút thít.

An-đrây Xa-vê-li-ép cau có đứng im, cố nhăn trán lại một cách nghiêm trang.

- Thế nghĩa là anh muốn... đi để tránh Ma-ca?

- Đúng, đúng! - Vích-to kêu to, vung chiếc gậy trượt tuyết nắm chặt trong tay. - Đúng thế... Khi hắn ra tù về, hắn sẽ lại bắt buộc tớ phải...

Những ngôi nhà ở San-ta-ra bị đè nặng dưới lớp mái phủ tuyết dày đang nhấp nháy những ánh đèn mờ ở đàng xa, bầu trời ở trên đầu tối đen, chỉ ở một góc, phía nhà máy, là sáng bừng lên. Dường như chỉ cần một ngọn gió nhẹ thổi, là cả vầng sáng, cả những ánh lửa chập chờn, buồn bã kia sẽ tắt hết.

- Nếu không, tớ chết mất, An-đrây ạ, - Vích-to đang run run, và An-đrây nghĩ có lẽ Vích-to sẽ nguy thật.

- Hay là nói nơi cất giấu hàng ra?

- Cái gì?! -Vích-to kêu lên sợ hãi. - Tớ đã hứa rồi...

- Anh hứa với ai mới được chứ? Cứ làm như...

- Thì cũng vậy, - Vích-to bướng bỉnh nhắc lại. - Tớ đã nói với cậu rồi, cái chính không phải là hứa với ai, mà cái chính là tớ đã hứa. Chẳng lẽ cậu không hiểu à?

Vích-to càng làm cho An-đrây thêm ngạc nhiên. Cậu rất thích rằng Vích-to coi trọng lời đã hứa, nhưng đồng thời, trái tim bé nhỏ của An-đrây vẫn phẫn nộ bởi một điều gì đó.

- Anh thì ai cũng có thể tin và hứa được cả, - sau khi nghĩ một lát, cậu tiếp. - Ở ngoài mặt trận mọi việc đều có thể xảy ra. Chẳng hạn, anh bị bọn phát-xít bắt, anh cũng sợ chúng như sợ Ma-ca, và cũng...

Hai thanh trượt tuyết dưới chân Vích-to bỗng kêu rít lên, cậu loạng choạng, và An-đrây tưởng như Vích-to sắp vung gậy trượt tuyết lên đánh vào đầu cậu, rồi nổi khùng lên, quật cậu ngã xuống tuyết, im lặng đánh cậu thật lâu, thật đau... Nhưng Vích-to không đánh, cậu chỉ nhấc chân đi bàn trượt tuyết bước sang chỗ khác và khẽ thốt lên, ngắt quãng, dường như nghẹn thở:

- Mày... thằng...

Rồi bỏ đi, dáng người nhỏ bé, yếu ớt, tội nghiệp khuất vào bóng tối.

- Vích-to! Vích-to.

An-đrây hiểu rằng mình đã xúc phạm nặng nề tới bạn. Cậu chạy theo xin bạn dừng lại, nhưng Vích-to càng đi nhanh hơn. Lúc đó An-đrây cố hết sức mình đuổi kịp, cầm lấy tay Vích-to giữ lại.

- Bỏ ra! - Vích-to giật mạnh tay.

Từ phía sau dãy Dve-nhi-gô-ra, một mẩu trăng hiện ra, trôi trên mặt đất, nhưng không cao lắm. Trăng không làm cho đêm sáng hơn, chỉ có những mái nhà ở San-ta-ra ánh lên một màu xanh nhợt và những ngọn gò nhọn, nơi lũ trẻ vừa mới đua nhau trượt tuyết xuống, phát ra những đốm lửa lấp lánh.

Trong mắt của Vích-to cũng phát ra những đốm lửa giống như những đốm lửa trên gò tuyết, nhưng có lẽ sáng hơn.

- Anh tốt lắm, Vích-to ạ, em biết, - An-đrây nói vẻ hối lỗi. - Em đồng ý đấy, Vích-to ạ. Chỉ có điều bây giờ thì đi ra mặt trận thế nào được? Hoàn toàn không thể được. Mùa đông mà... Đành phải đợi đến mùa hè thôi. Anh hiểu chứ?

- Tở không phải là thằng ngốc.

- Sang mùa xuân ta sẽ bàn thêm.

- Nghĩa là cậu đồng ý cho tớ cùng đi?

- Thì đã bảo là sẽ bàn thêm, - An-đrây trịnh trọng nói. - Nhưng coi chừng đấy, chớ có hở ra...

- Nhưng nghe đài nói, quân Đức đã bị đuổi đi.

- Không sao... Anh Xê-mi-ôn bảo rằng chiến tranh sẽ còn lâu, - An-đrây nói cho Vích-to yên lòng. - Em cũng đã xem bản đồ. Chúng còn chiếm nhiều đất của ta lắm. Đuổi chúng ra ngay bây giờ đâu phải dễ.

Trăng hạ tuần mỗi lúc một lên cao, trôi trên khoảng không lạnh lẽo, tối tăm, buồn bã nhìn xuống mặt đất.

- Còn cái gã Ma-ca đáng nguyền rủa kia hoàn toàn không phải là anh của tớ, - Vích-to bỗng đột ngột nói. - Mẹ tớ cũng bảo là anh, nhưng thật ra không phải anh. Ma-ca và Lê-ô-nhít Gvô-dơ-đi-ép ngồi sau bàn uống rượu, nói chuyện, còn tớ nằm trên lò sưởi và nghe hết... Còn cậu... với cậu, hắn là cậu hay chú bác gì đấy.

- Ai bảo? - An-đrây nghĩ rằng Vích-to nói đùa. - Em chỉ có một chú và một bác -chú I-van và bác An-tôn.

- Phải rồi, - Vích-to nói một cách cay độc. - Ma-ca là em ruột của mẹ cậu.

- Ha-ha! - An-đrây phá ra cười khinh bỉ. - Cứ nói láo nữa đi! Chẳng lẽ em lại không biết...

-Nếu như Ma-ca nói dối Lê-ô-nhit Gvô-dơ-đi-ép, thì tớ mới nói dối với cậu...

Và cậu vượt lên An-đrây, đi nhanh về phía những ánh lửa đang thấp thoáng trong thị trấn. Còn An-đrây, bối rối đứng nguyên tại chỗ, ngơ ngác nhìn theo bóng Vích-to mờ dần, rồi mất hẳn vào bóng tối. Nhưng cậu có cảm tưởng như không phải Vích-to, mà chính là cậu, An-đrây đang hòa tan vào bóng tối, đang biến thành làn sương đêm đen như mực, đang biến thành hư vô...

* * *

Phê-đô vẫn ngồi yên trên ghế, suy nghĩ. Ông không nhận thấy An-đrây đi lúc nào, An-na về lúc nào. Mùi sữa tươi làm ông chợt tỉnh.

Trong nhà vắng vẻ và trống trải, chỉ có tiếng ông cụ ho ở phòng bên cạnh. Nhưng Phê-đô biết rằng ngay bây giờ Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na và Xê-mi-ôn sẽ đi làm về, Gan-na và Đi-ma cũng từ trường về, và cả ngôi nhà sẽ trở nên chật chội, ồn ào, xa lạ, sẽ biến thành một nhà ga.

- Hôm nay anh về sớm, - An-na vừa rót sữa vào vò, vừa nói. - Bữa tối còn chưa nấu.

Phê-đô hoàn toàn không quan tâm đến việc bữa tối đã xong hay chưa. Ông ngồi và nghĩ về An-phi-xa.

«Hoặc là tôi đến An-phi-xa ngay bây giờ, hoặc là không bao giờ đến, hoặc là bỏ nhà đi hẳn khỏi nơi đây», - cách đây chưa lâu lắm, dạo mùa thu, ông đã nói thẳng với An-na như vậy. Nhưng cho đến tận bây giờ vẫn chưa biết xử sự ra sao. Một sự trống rỗng sinh ra và xâm chiếm tâm hồn ông. Nó sinh ra từ bao giờ và tại sao - ông không biết, nhưng lại mừng vì có nó. Bây giờ ông dửng dưng với tất cả - cả I-van lẫn An-tôn, cả An-na lẫn An-phi-xa, cả con cái lẫn công việc, cả chuyện nhà ông giờ đã trở thành hộ tập thể. «Mặc mẹ chúng nó. Ai muốn nghĩ gì về ta thì nghĩ, - ông cười nhạt khẽ nhớ lại buổi tối ở nhà An-tôn. - Ta sẽ sống như ta thích...»

Nhưng ông thích cái gì - điều này đến bây giờ ông cũng không biết.

Sau buổi tối hôm nọ đến nay, ông không gặp lại cả An-tôn, I-van lẫn Cru-gi-lin. An-phi-xa thì thỉnh thoảng thấy thoáng qua trong cửa sổ hoặc ngoài đường; mỗi lần cất tiếng chào, giọng nói của ông lại làm cho chị giật mình, An-phi-xa hoảng hốt nhìn quanh quất và vội vã bỏ đi.

Nhưng mặc dù vậy, ông vẫn cảm thấy rằng cái trạng thái trống rỗng, dửng dưng đó cũng chỉ là tạm thời, chẳng bao lâu nữa sẽ biến mất, và ông lại bị cuốn hút đến với An-phi-xa không cưỡng được. Nếu như ông quyết định bỏ nhà đến ở hẳn với An-phi-xa, cô ta sẽ tiếp nhận ngay - điều này Phê-đô tuyệt đối không nghi ngờ gì cả. Nhưng rồi sau đó thì sao, họ sẽ sống ở đâu? Ở ngay tại đây, ngay trong ngôi nhà cũ của mình thì nhất định không được rồi. An-na và Xê-mi-ôn thì mặc xác, nhưng với lũ trẻ, với Đi-ma và An-đrây ông đã cảm thấy trước điều bất tiện. Bởi vì hàng ngày rồi ông sẽ phải đụng đầu với chúng ở ngoài đường phố. Rồi nữa, con của An-phi-xa cũng đã lớn. Nhi-cô-lai thì chưa nói đến, chứ Vê-ra từ lâu đã thành đàn bà thật sự rồi, hình như đã thỏa thuận với Xê-mi-ôn về chuyện cưới xin, nhưng sau không hiểu lại có gì trục trặc. Nhưng nếu như việc của chúng xong xuôi, Vê-ra lấy Xê-mi-ôn, mà ông lại sống với An-phi-xa, mẹ của Vê-ra - thì sẽ như thế nào? Hóa ra con trai của ông lại đi lấy ngay chính con gái của ông?! Thiên hạ họ cười cho đến thối mặt.

Nói chung, Phê-đô có nhiều điều cần phải suy nghĩ, nhưng bây giờ ông không muốn nghĩ gì cả, mà cũng chưa nhất thiết phải nghĩ ngay, cho nên ông sống cô đơn trong bản thân mình, tách biệt với mọi người, như một kẻ xa lạ trong ngôi nhà của mình. An-na vẫn loay hoay với mấy chiếc vò sữa, xoong chảo. Phê-đô nhìn vợ đang cúi gập người bên lò sưởi, nhìn những ánh lửa vàng nhợt nhảy múa trên khuôn mặt hơi ươn ướt của vợ, và chợt nhận ra, như bao lần khác, một cách thản nhiên, hờ hững: «Cô ta cũng cân đối đấy chứ...» Phê-đô đứng dậy, đi ra sân.

Ông bước ra không với một mục đích nào cả, đứng trong sân một lúc, nhìn những tia nắng cuối cùng đang tắt lịm ở phía tây. «Có lẽ xem qua chuồng bò một tí». Ông bước về phía chuồng bò, tay sờ túi tìm diêm để châm đèn. Nhưng ông chợt thấy, cũng như một đêm mùa thu cách đây chưa lâu lắm, một bóng người thấp thoáng sau cửa sổ nhà I-nhi-u-chin, và ông dừng lại...

Một phút sau, ông cúi đầu cho khỏi vấp phải thanh ngang trên cửa, bước vào nhà I-nhi-u-chin. An-phi-xa đứng thẳng người cạnh bếp lò nghiêm khắc nhìn ông, đầu ngẩng cao như đầu rắn. Vê-ra, người phờ phạc, mặc chiếc áo dài dùng trong nhà đã cũ, từ trong phòng mình thò đầu ra, nhưng không nhìn Phê-đô, mà nhìn mẹ. Trên môi cô thoáng qua một nụ cười mỉa mai trơ tráo.

- Con phải đi chứ?

- Đi ra ngoài một lúc đi, - An-phi-xa nói, mắt không nhìn con gái.

Mím môi lại một cách khinh bỉ, Vê-ra khoác chiếc áo khoác ngắn bằng lông lên vai, giật chiếc khăn san cũ treo trên móc xuống.

- Các người làm nhanh nhanh lên đấy, cô nói với một dụng ý bẩn thỉu, mắt gườm gườm nhìn Phê-đô khi đi qua chỗ ông đứng. - Không thì ngoài đường lạnh lắm, và Nhi-cô-lai cũng sắp đi học về.

Phê-đô lấy chiếc ghế đẩu, đặt xuống sát tường, cạnh cửa, và ngồi xuống.

- Anh đến làm gì? - An-phi-xa hỏi. Đôi mắt chị đen và lạnh lùng.

- Anh không biết nữa... - Quả thật, Phê-đô không biết, không hiểu tại sao mình lại đến đây. - Anh buồn lắm.

An-phi-xa vẫn đứng nguyên cạnh lò sưởi.

- Anh vẫn nghĩ, An-phi-xa ạ... Anh sẽ bỏ An-na đi.

An-phi-xa vẫn không nhúc nhích, chỉ có, như Phê-đô cảm thấy, cả người chị như căng ra, chờ những lời tiếp theo của ông. Trong phòng bốc lên mùi bột chua chua - có lẽ An-phi-xa đang nhào bột để làm bánh sáng.

Phê-đô bỗng nhiên muốn An-phi-xa quỳ xuống trước mặt mình, như mọi lần, nhìn vào mắt ông với vẻ trung thành như chó đối với chủ, nói với ông những lời tỏ tình âu yếm, rồi gục bộ mặt ướt đầm nước mắt vào ngực ông khóc nức nở, đôi vai khẽ run lên và Phê-đô khẽ thở dài, sẽ vuốt ve lên đầu, lên vai chị... Để đạt được điều đó, ông nói:

- Nhưng anh biết đi đâu bây giờ? Em chắc là không tiếp nhận anh...

- Anh sẽ tìm được chỗ thôi... Trong làng bây giờ bao nhiêu là đàn bà góa...

Sự im lặng trong phòng như bắt đầu ngân lên, mỗi lúc một to thêm, mỗi lúc một khó chịu hơn và, dường như nó sắp vỡ tung ra thành trăm mảnh ngũ sắc lấp lánh, như một tấm kính lớn bị ném từ trên cao xuống tảng đá. Nhưng nó không vỡ ra, mà vẫn tiếp tục ngân.

- Đàn bà góa - nghĩa là thế nào?-ông cười khẩy một cách đáng thương và ngây ngô, - Thế còn... còn em?

- Tôi bây giờ đâu đã phải là đàn bà góa. Ki-ri-an viết thư về: không sao, anh vẫn khỏe...

- Kha-kha! - Tiếng cườI-vang lên ngắt quãng trong sự im lặng của căn phòng, làm cho chính Phê-đô cũng cảm thấy hoảng hốt. - Thế nghĩa là... phải hiểu em như thế nào?

- Tôi, Phê-đô ạ, sẽ đợi Ki-ri-an, - An-phi-xa rành rọt nói. - Còn anh từ nay đừng đến tôi nữa...

An-phi-xa ngừng nói, nhưng những lời của chị vẫn đập mãi vào màng óc như những con nhặng nặng nề vùng vẫy lao vào mặt kính cửa sổ. Rất lâu ông không hiểu được ý nghĩa của chúng, và khi đã hiểu ra, một đợt sóng nóng, không hiểu từ đâu, dâng lên trong lồng ngực, bốc lên đầu, che phủ làm mờ cả trí óc. Ông lảo đảo đứng dậy, cảm thấy chân mình đứng không vững nữa.

- Em... em nói cái gì vậy? - ông lấy mũ lông lau mồ hôi rịn ra trên trán. - Em không yêu anh nữa sao? - cuối cùng, ông mới tìm ra được từ cần thiết.

- Tôi đã nói rồi - tôi đã có chồng của tôi.

- Thế đấy, - Phê-đô thốt lên, giọng khản đặc. - Ha-ha, thế đấy, thế đấy...

- Anh Phê-đô, anh đi đi, - An-phi-xa van xin. - Vê-ra đứng ngoài kia, nó chết cóng mất.

Phê-đô không còn nhớ mình đã ra khỏi nhà như thế nào. Vê-ra đứng cạnh cửa, mình choàng chiếc áo khoác ngắn bằng lông.

- Các người nhanh thế, - cô giễu cợt nói và định lẩn vào nhà.

Nhưng những lời của cô làm cho Phê-đô nổi cáu. Ông túm lấy vai cô gái lắc mạnh.

- Cái con này... con này?! - ông giận dữ quát to - Mày hiểu cái gì? Mày hiểu cái gì?

Chiếc khăn san quàng vội lên đầu rơi xuống vai, Vê-ra ưỡn đầu ra phía sau, hai tay chống vào ngực Phê-đô.

- Ông làm gì thế? Ông làm gì thế?!

Khuôn mặt của cô sát kề ngay mắt ông, nhưng trong bóng chiều chập choạng mọi đường nét trông không rõ; tuy vậy, trong một thoáng nào đó, Phê-đô có cảm giác rằng trước mắt mình không phải Vê-ra, mà chính An-phi-xa: cũng đôi vai gầy nhọn mà ông cảm thấy dưới lần vải áo khoác, cũng giọng nói trầm phát ra từ trong ngực, cũng đôi mắt ánh lên trong bóng tối như những đốm sáng nhỏ. Tất cả những cái này làm cho Phê-đô hoảng sợ, ông đẩy Vê-ra ra.

- Con gấu đực... Đúng là đồ gấu đực! - Vê-ra vừa giận dữ kêu to, vừa sửa lại chiếc khăn san, bàn tay khẽ vuốt lên mái tóc của mình. - Các người thì có gì mà phải hiểu? Tôi đã hiểu các người từ lâu rồi.

- Đồ ngu!

- Đó là bây giờ còn sau này khi lớn lên, có thể lúc đó... - Và, nhe hàm răng trắng nhờ nhờ trong bóng tối, cô bước vào nhà, đóng sập cửa lại.

Phê-đô chậm chạp bước ra khỏi vườn nhà I-nhi-u-chin, vừa nhớ lại dáng An-phi-xa vẫn đứng như cột cạnh lò sưởi, thậm chí không hề nhúc nhích, trong suốt cả buổi nói chuyện với ông. Ông hiểu rằng An-phi-xa đã đuổi ông đi. Chỉ mấy phút trước đây, điều này đã làm cho ông choáng váng, nổi khùng lên, nhưng bây giờ - thật kỳ lạ, - cơn giận đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại một sự ngạc nhiên nhẹ nhõm. Ông có cảm tưởng như tất cả những cái đó - cả việc ông đến nhà I-nhi-u-chin, cả những lời của An-phi-xa - tất cả đều không phải sự thật, mà chỉ là một giấc mơ. Và Vê-ra, với đôi mắt ánh lên lấp lánh, với hàm răng nhe ra trắng nhờ nhờ trong bóng tối, cũng là ở trong mơ.

Ở đâu đây bên cạnh có tiếng dây cương ngựa kêu leng keng. Phê-đô ngẩng đầu lên nhìn. Một con ngựa thắng vào chiếc xe trượt tuyết đang đứng cạnh thềm nhà ông. «Lạ nhỉ, ai đến nhà mình thế này?»

Bước vào nhà, ông trông thấy I-van đang ngồi trên chiếc ghế ông vừa ngồi lúc nãy. «A, mày dám ngồi vào chỗ của ông...» Phê-đô hậm hực nghĩ.

I-van mặc vét-tông, áo sơ-mi màu thẫm để lộ chiếc cổ gầy guộc, mũ lông đặt trên đầu gối. An-na đang dọn bữa tối ra bàn. Trong phòng ngủ của mấy đứa trẻ vang lên giọng của Đi-ma và Xê-mi-ôn, từ phòng khác vọng lại tiếng nói chuyện của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na và con gái Gan-na.

Áo bành-tô bằng dạ đã cũ và áo khoác lông của I-van đặt cạnh người anh. Ý nghĩ đầu tiên của Phê-đô là bước tới bên cạnh I-van, một tay túm lấy cổ áo, tay kia mở cửa, quẳng người em ruột ra ngoài như quẳng một con chó, ném bành-tô và áo khoác lông ra theo, rồi khóa trái cửa lại. Và làm tất cả những việc đó im lặng, không nói một lời nào. Nhưng ông không làm việc đó, vì trong khi Phê-đô cởi áo ngoài, An-na thôi không dọn bàn nữa, mà đứng canh chừng từng cử động của chồng. Rồi Xê-mi-ôn cũng từ trong phòng bên cạnh bước ra, chăm chú nhìn cha, im lặng cầm chiếc mũ lông trên đầu gối của I-van treo lên đinh móc trên tường.

- Thằng An-đrây biến đi đâu mất rồi nhỉ? - An-na hỏi, và không đợi trả lời, bắt tay vào cắt bánh mì.

Có lẽ Phê-đô vẫn sẽ thực hiện ý định của mình, nếu như không có Xê-mi-ôn và không có những giọng nói vọng ra từ phòng của những người tản cư.

- Ông khách quý hóa quá... - ông nói, gần như không mấp máy môi. - Làm sao mà dám đến đây?

- Cha là con thú gì dữ hay sao mà phải sợ? - Xê-mi-ôn hỏi.

- Người ta không hỏi mày thì mày đừng có múa mép lên.

- Thôi, tôi đi đây, - I-van đứng dậy.

- Chú ngồi đây đã, - Xê-mi-ôn đặt tay lên vai I-van. - Chú I-van, ta uống trà đã.

- Không thì ngủ lại đây cũng được. Đêm tối rồi còn đi đâu? Trời thì rét... - An-na tiếp lời.

Phê-đô nghe vợ nói và không tin ở tai của mình. An-na, ngay trước mặt ông, Phê-đô, dám mời I-van ở lại ngủ đêm?! Thế này là thế nào? An-phi-xa, và bây giờ là An-na... Cái gì đã xảy ra với An-na, sao cô ta dám nói như vậy, dường như ở đây, trong ngôi nhà này, ông bây giờ không còn là chủ, là chồng nữa?! Rồi Xê-mi-ôn nữa - trông đã hùng hổ chưa kìa!

Tất cả những cái đó làm cho Phê-đô kinh ngạc, lo ngại. Ông ngồi xuống một chiếc ghế sau giường, tay xoa xoa lên thành ghế bằng gỗ, môi mím chặt, đưa mắt hết nhìn vợ, nhìn con trai, đến nhìn em ruột...

- Không, không thể được, - I-van lắc mái tóc bạch kim. - Tôi vừa ở đằng anh An-tôn, anh chị cũng đã giữ lại... Cần phải đưa thuốc về ngay, Pan-crát Na-da-rốp đang ốm nặng, suốt đêm qua sốt rất cao.

- Sao không đưa bác ta đi bệnh viện? - An-na hỏi.

- Bác ấy không muốn, bảo: «Lão nằm ở nhà thôi». Hôm qua chính Cru-gi-lin đến thăm, định chở đi trên xe của mình, nhưng cũng không chịu đi.

Phê-đô nghe ở trạm máy kéo rằng Pan-crát Na-da-rốp, chủ tịch nông trang «Bông lúa đỏ», vừa mới đây trên đường từ tỉnh về bị cảm, ốm nặng. Ông bỗng thốt lên, đổ bao nhiêu sự giận dữ, cáu kỉnh lên đầu Pan-crát Na-da-rốp vốn không có tội tình gì:

- Đồ bệnh lao thì có bệnh viện nào chữa được?

I-van liếc nhìn người anh, thở dài:

- Chúng tôi cũng sợ không qua khỏi mùa xuân năm nay. Những người bị bệnh phổi mùa xuân càng thêm nặng.

- Chúng tôi là những ai?

- Ở nông trang, - I-van trả lời ngắn gọn.

Vừa hỏi, Phê-đô vừa lo lắng nghĩ thầm: cái gì đã xảy ra với An-na, sao cô ta dám cả gan như vậy. Và ông càng ngạc nhiên hơn khi thấy mình cũng bắt đầu nói chuyện với người em.

Rồi tiếp đó, Phê-đô hoàn toàn không hiểu được mình nữa. Khi An-na mời vào bàn, ông đứng dậy và ngồi đối diện với I-van.

Họ im lặng ăn tối. An-na không uống chè, chỉ liên tục rót vào chén cho chồng, cho Xê-mi-ôn, Đi-ma và I-van. An-na đặc biệt chú ý tới I-van hơn so với những người khác, rót tiếp ngay cho anh khi anh vừa uống cạn chén của mình. Phê-đô nhận thấy điều đó và nhếch mép cười gằn.

Đi-ma ăn xong trước hết, im lặng đứng dậy khỏi bàn. Xê-mi-ôn cũng đứng dậy tiếp. I-van đẩy chén của mình ra.

- Chú uống một chén nữa, I-van, - An-na nói.

Phê-đô lại nhếch mép cười, nhưng lần này lên tiếng:

- Đấy, cô ta thật quan tâm... Khách quý của cô ta đấy...

I-van rướn đôi mí mắt hơi sưng phù lên:

- Hình như anh cũng đã sắp đến năm chục tuổi rồi đây. Thế mà anh chả khôn ra tí nào.

Phê-đô chậm chạp ngả người ra sau thành ghế, một cơn giận điên cuồng, câm lặng ánh lên trong đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm. Tay trái ông đang nằm trên bàn, những ngón tay to run lên. Ông kéo tay về phía mình, cọ lòng bàn tay vào góc bàn nhọn phủ khăn bằng vải lanh mềm. Bỗng Phê-đô nắm chặt tay lại, túm lấy hai góc khăn, làm như sắp kéo tuột nó xuống khỏi bàn, bát đĩa sẽ rơi xuống đất loảng xoàng, Mặt An-na trở nên tái nhợt.

- A, cái thằng này... - Phê-đô như bị nghẹt thở, chiếc môi dưới dày của ông run bần bật. - Chính quyền Xô-viết đã bóp cổ mày, đè bẹp mày... Chỉ có điều là chưa chết hẳn.

- Đã để lỡ mất, - I-van nói.

- Đúng đấy.

- Ra thế... Đáng lẽ Chính quyền Xô-viết phải đè bẹp anh đi mới đúng.

Họ ngồi bất động ở hai đầu bàn, mắt nhìn nhau nảy lửa.

- Thế..ế... - Phê-đô kéo dài giọng. An-na đứng cạnh I-van, môi mím chặt, dường như sợ từ trong miệng mình bật ra tiếng kêu man rợ, thất thanh. -Vì sao, theo ý mày, chính quyền... Chính quyền Xô-viết lại cần phải đè bẹp tao?

Ông nói, nhưng các từ như không chịu nghe lời ông, cứ tuột đi, và ông phải bắt lấy chúng, vụng về sắp xếp chúng lại, đồng thời lắng nghe, ngắm nghía xem hàng lối của chúng ra sao, chúng tạo nên ý nghĩa gì. Nhưng có lẽ cuối cùng ông vẫn không hiểu gì cả, nên trên khuôn mặt rộng của ông lộ vẻ bất lực đần độn.

- Là vì rằng, như tôi hiểu, anh... cái chính quyền này... Biết nói thế nào với anh được nhỉ?..

Phê-đô vẫn nắm chặt đầu cuối tấm khăn giải bàn trong tay, nghe I-van nói những lời cuối, nắm tay ông như giật nảy lên.

- Tôi vẫn biết là anh đã chiến đấu vì Chính quyền Xô-viết. Nhưng anh không yêu nó, Phê-đô ạ. Hay ít ra anh cũng tiếc rằng chính quyền đó đã chiến thắng. Anh không chấp nhận nó...

I-van cũng diễn đạt một cách khó khăn.

Mắt Phê-đô khi nheo lại, khi mở to. Ý nghĩa của những lời I-van nói khi thì lọt được vào ý thức của Phê-đô, hiện ra rõ ràng, khi thì tan biến, trôi đi đâu mất, như nước lọt qua rổ thưa.

Cuối cùng, Phê-đô thở mạnh không khí từ trong ngực, duỗi nắm tay thả tấm khăn giải bàn ra.

- Kể ra mày cũng khéo... chắp nối đấy. Mày nghĩ ra điều này từ bao giờ đấy? Trong nhà tù à?

- Không, ở ngay đây chứ, - I-van trả lời một cách đơn giản. - Sau hôm chúng ta gặp nhau ở nhà anh An-tôn. Những lời nói của Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin về nhà cứ gõ mãi, xoáy mãi vào đầu, rồi sau đó tôi chợt hiểu ra: thật ra ông ta, lấy anh làm thí dụ chẳng hạn, chỉ mới nói được một nửa sự thật. Còn toàn bộ sự thật...

Phê-đô vội vã đứng dậy, xô ghế đánh rầm. I-van cũng đứng dậy. An-na mở miệng định kêu, nhưng từ phòng bên, có lẽ nghe tiếng xô ghế, Xê-mi-ôn đã chạy ra.

- Cái gì thế? - Anh nhìn mẹ, cha và chú.

- Bước ngay ra khỏi đây! - Phê-đô hất vai, quát. -Thế còn toàn bộ sự thật là cái gì?

- Điều đó thì tự anh biết rõ hơn, - I-van đáp và bước đến bên ghế, cầm lấy áo bành-tô của mình, bắt đầu mặc vào. - Còn tôi, anh Phê-đô ạ, đã nói hết những gì tôi nghĩ về anh.

Xê-mi-ôn không đi ra khỏi phòng, anh đứng tựa vào tường nhìn I-van mặc áo. Phê-đô đi lại trong phòng, đầu nghiêng sang một bên như đang lắng nghe một điều gì đó.

- Thế tại sao tao lại không tiếp nhận nó? - ông dừng lại, lên tiếng hỏi. Trong lúc đợi trả lời, ông đứng không nhúc nhích như cây cột, đầu vẫn nghiêng sang một bên.

- Có lẽ lúc sinh ra đã như vậy. Tôi lại nhớ, anh hồi nhỏ như thế nào...

- Như thế nào? - Phê-đô cáu kỉnh hỏi.

- Trong tính cách của anh có một vết nứt rạn. Tham lam, ghen tị, hiếu thắng, độc đoán... Và đấy, như Cru-gi-lin nói hôm ở nhà An-tôn: «Vết rạn thời trẻ, miếng mẻ lúc già».

- Thôi được... - Phê-đô giật giật bộ ria của mình, rồi lại vuốt thẳng ra, ngồi ghé xuống mép giường và cười khẩy với một ý nghĩ nào đó của mình. Cứ cho là như vậy... Nhưng làm sao mày có thể giải thích được: tại sao tao không yêu, không tiếp nhận Chính quyền Xô-viết, nếu tao đã tham gia du kích, chiến đấu vì nó không tiếc đời mình? Hả? Mày giải thích ra sao nào?

Từ «chính quyền» không hiểu sao ông nói rất khẽ.

- Trên đời không phải mọi cái đều có thể giải thích dễ dàng được, - I-van vừa nói vừa khoác áo lông lên người. - Đúng là lúc đó anh đã tham gia du kích. Nhưng tôi vẫn có cảm giác rằng, nếu bây giờ có cơ hội cho anh, thì anh cũng sẽ chống lại ngay...

Phê-đô bắt đầu điên khùng lên, trong người ông tất cả như sôi bùng ra, đầu nóng bừng, bàn tay đặt trên thành giường giật giật, trong mắt lóe lên một ánh lửa dữ tợn. Ông từ từ đứng lên. Nhưng Xê-mi-ôn đã bước đến bên I-van, tiện tay giật chiếc áo khoác từ trên tường xuống.

- Cháu sẽ tiễn chú về, chú I-van ạ.

- Này, I-van, - cố hết sức kìm mình lại, Phê-đô nặng nhọc ném từng lời ra từ cái miệng lông lá. - Mày đừng có mà... Từ nay đừng có đặt chân đến nhà tao nữa, nghe không? Mày có việc gì cần đến tao? Mày đến đây có việc gì?

- Ghê gớm chưa! Làm như anh sống ở đây một mình không bằng. Tôi không cần anh đâu. Tôi đến gặp An-na.

- Để làm gì? Để làm gì?!

- Điều đó nếu chị ấy muốn, chị ấy sẽ nói.

I-van chào An-na và bước ra cùng Xê-mi-ôn. Phê-đô ngồi xuống ghế và im lặng. Không hiểu sao ông bỗng nhớ lại cảnh Vê-ra I-nhi-u-chi-na đứng ở thềm cửa và nhìn ông, dường như muốn xô ông ngã xuống tuyết. «Đồ ngu» - Phê-đô nói với Vê-ra, còn cô ta trả lời: «Đó là bây giờ, còn sau này, tôi lớn lên, có thể lúc đó...» Cô ta nói những lời thật kỳ quặc...

- Hắn đến cô có chuyện gì thế? - Phê-đô hỏi An-na.

- Chuyển câu trả lời của bác Pan-crát Na-da-rốp. - An-na đáp.

- Câu trả lời nào?

- Tôi hỏi bác ta có nhận tôi với các con vào nông trang không?

- Thế... thế... vào nông trang là thế nào? - trong mắt của Phê-đô thoáng hiện ra vẻ ngạc nhiên.

- Thì anh đã định ly dị với tôi mà. Tôi với các con biết đi đâu bây giờ? Vào nông trang, tôi sẽ sống với mọi người...

Từ dưới đôi lông mày rậm, Phê-đô nhìn vợ với vẻ giễu cợt.

- Thế Pan-crát nói sao?

- Bảo sẽ nhận, không sao...

- Thế đấy! Nhưng lỡ tôi không ly dị nữa thì sao?

- Không sao, tôi cũng còn đang sống mà... - sau một thoáng lưỡng lự, An-na đáp. -Tự tôi sẽ xin ly dị...

- Thế... - Phê-đô lại đứng lên. - Nào, nhắc lại xem nào!

An-na đang thu dọn trên bàn, vội né người vào trong góc. Nhưng cả An-na lẫn Phê-đô đều không ai kịp nói gì thêm, lúc đó ngoài cửa có tiếng người, cửa mở, An-đrây mặt đỏ hồng lên vì lạnh, bước vào, và theo sau là Xê-mi-ôn với chiếc áo lông khoác vội trên vai.

- Đây, nhà trượt tuyết đây, - Xê-mi-ôn lấy tay xoa chiếc mũi đỏ hồng của An-đrây, nói, - Nó đi đến chảy nước mũi ra đây này.

An-na bắt đầu dọn bữa tối cho An-đrây ăn. Cậu húp canh xùm xụp, mấy lần định hỏi mẹ câu chuyện vẫn dằn vặt cậu, nhưng nhìn cha đang ngồi sầm mặt như một đám mây dông, lại không dám.

- Đi nằm ngủ đi, - khi An-đrây đã ăn xong, mẹ ra lệnh ngắn gọn.

* * *

An-đrây đi vào phòng bây giờ dùng làm buồng ngủ cho cả ba anh em cậu, Đi-ma và Xê-mi-ôn. Đi-ma ngồi xo vai bên cạnh bàn, đang làm bài tập. Xê-mi-ôn nằm trên giường đọc sách.

- Thằng Vích-to mới nói với em rằng Ma-ca không phải là anh của hắn. Mà hắn bảo Ma-ca là cậu ruột của em, - An-đrây nói. - Phải thế không ạ?

Quyển sách trong tay Xê-mi-ôn hơi giật nảy lên.

- Còn mày... đi mà nghe những chuyện vớ vẩn cho nhiều vào!

Trong đôi mắt của anh lộ vẻ bất lực, bối rối. Và An-đrây bỗng hiểu: Vích-to nói đúng sự thật.

Đi-ma quẳng chiếc bút học sinh xuống bàn, quay người lại:

- Không vớ vẩn đâu. Ma-ca là em ruột của mẹ đấy, em biết mà...

- Mày biết cái gì? Từ đâu mà mày biết? - Xê-mi-ôn quát to. - Chúng mày chẳng biết cái gì hết!

- Nhưng sao anh hét ầm lên như vậy? - An-đrây hỏi.

Xê-mi-ôn bắt gặp đôi mắt mở to của An-đrây, anh lúng túng quay đi, nhăn mặt, dường như ăn phải một cái gì rất chua, nắm chặt tay đấm xuống gối mấy đấm.

- Đấy không phải là việc của chúng mày! Đi ngủ đi. Tắt đèn...

...Một giờ sau, đèn trong tất cả các cửa sổ nhà Xa-vê-li-ép đều tắt hết. Ngôi nhà, đỡ trên mái một lớp tuyết dày, đứng im lặng trong một dãy phố dài, không có gì khác biệt so với những ngôi nhà khác. An-đrây rất lâu vẫn không ngủ được. Nằm bên cạnh Đi-ma đã ngáy đều, cậu vẫn nghĩ mãi về cái tin Vích-to mới nói lúc chiều. Nhưng rồi cậu cũng thiếp đi. Trong nhà chỉ còn lại Phê-đô và An-na là chưa ngủ.

Phê-đô nằm ngửa, mở mắt nhìn lên trần nhà chìm trong bóng tối, cảm thấy hơi ấm của vợ bên cạnh, và im lặng.

- Thế cô định bỏ tôi đi đấy à? - ông giễu cợt hỏi. - Tôi thấy cô cả gan lắm, dám mời I-van ở lại ngủ đêm.

- Tôi sẽ đi khỏi đây, - An-na kêu lên. - Không còn sức chịu đựng nữa.

- Thôi đi, - Phê-đô nói, mệt mỏi và không tỏ vẻ giận dữ. - Cô sẽ không đi đâu hết. Và chấm dứt tại đây.

- Tôi sẽ đi! Sẽ đi! - An-na như nổ bùng ra, nói mỗi lúc một to hơn. - Trời ơi, sao mà tôi nguyền rủa cái ngày giờ mà anh làm cho tôi lú lẫn đi đến thế! Và đấy, anh đã hút cạn hết máu của tôi, hết cả sức lực của tôi... I-van nói đúng, rất đúng về anh: anh không hề yêu ai cả - không yêu vợ, không yêu con, không yêu cả chính quyền, cả cái cuộc sống này - không yêu ai cả. Và có lẽ chính bản thân mình, anh cũng không yêu. Như thế anh sống để làm gì? Để làm gì?

- Hay đấy, - Phê-đô thậm chí nhổm người dậy. Ông không trông rõ khuôn mặt vợ, chỉ thấy đôi mắt ướt sáng lên mờ mờ trong bóng tối. - Thế rồi sao nữa? Hay hết cả rồi?

- Và anh muốn lấy tôi cũng chỉ vì lòng ham muốn cái tài sản giàu có của cha tôi... để... để rồi cũng sống trụy lạc trong trại như cha tôi...

- Hay thật đấy, kha-kha!.. - Tiếng cười của ông khản đặc, nghẹn lại trong cả họng như tiếng ho. - Tôi lấy cô năm mười chín, khi ở trong đội du kích. Lúc đó gia tài của cha cô chỉ còn lại mỗi khói đen...

- Đấy chẳng qua là trùng vào năm mười chín... Còn tôi nói là anh muốn trước kia. Anh yêu An-phi-xa, lúc đó đã sống với An-phi-xa, nhưng lại muốn cưới tôi làm vợ...

Phê-đô đã nằm xuống gối, lại nhỏm phắt dậy, lần này rất nhanh. An-na cảm thấy trong bóng tối ngực ông phập phồng, nâng lên hạ xuống, nhưng vẫn nói tiếp:

- Còn việc toàn bộ gia tài của cha tôi chỉ còn lại khói đen- chính việc này suốt đời đã gặm mòn anh như sâu đục thân cây.

- Im đi!.. Việc gì không biết thì đừng... - Phê-đô nói khẽ, như một tiếng rên nặng nề.

- Tôi biết! - An-na vẫn bướng bỉnh tiếp tục. Bà ngồi dậy trên giường và nói nhanh, vội vã, dường như sợ Phê-đô không để cho nói hết, lấy tay hoặc gối bịt miệng lại. - Và anh cũng tiếc cha tôi đã bị I-van bắn chết. Và anh căm thù em ruột của mình là vì vậy... vì rằng I-van đã tỉnh ngộ, lúc đó đã hiểu đâu là chân lý và đến với đội du kích... Vì cái đó mà anh suốt đời trả thù I-van, vì rằng anh không thể trả thù ai khác được nữa... hoặc vì sợ những người khác... Thế đấy! Không một ai biết anh là người như vậy, nhưng tôi biết. Bây giờ... bây giờ cả anh ấy, cả I-van, cũng đã nhìn vào tận ruột anh... Bây giờ anh ấy đã trở thành kẻ tử thù của anh.

An-na nói mỗi lúc một nhanh hơn, cảm thấy thân hình lực lưỡng của chồng đang run lên ở bên cạnh.

- Câm ngay! Mà-ày! - giọng của Phê-đô lan ra khắp phòng như một đợt sóng, đập vào ngực An-na đau nhói, hất bà ngã xuống giường.

Trong phòng những người tản cư có tiếng bà già kêu yếu ớt: «Lạy Chúa! Cầu Đức Mẹ đồng trinh...» Rồi đèn lập tức bật sáng, Xê-mi-ôn, chỉ mặc độc quần ngủ và áo may-ô, chạy vào.

- Cái gì? Cái gì thế? - từ cửa phòng khách trước đây, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na thò đầu vào. - Anh ốm hay sao thế, Phê-đô Xi-lan-chi-ê-vích?

Phê-đô ngồi trên giường, cạnh tường, người đẫm mồ hôi, mặt đỏ gay.

- Không sao... Một giấc mơ khủng khiếp - ông cười nhạt. Rồi bỗng gầm lên: - Bước cả ngay! Gì mà tròn mắt lên thế...

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na lập tức biến mất. Còn Xê-mi-ôn ngập ngừng đứng lại một lát.

- Nếu là mơ, trở người sang bên khác đi, cha ạ? - anh mỉa mai nói và tắt điện.

- Thế đấy... - Phê-đô thở ra nhẹ nhõm, nằm xuống. - Chỉ nói nhảm những chuyện không đâu... Còn về nông trang- từ nay về sau đừng có mà nhắc lại nữa...

Phê-đô nói bình tĩnh một cách không ngờ, không có vẻ giận dữ, nhưng An-na không nghe. Bên ngực trái của bà nhói lên đau đớn, như thể bị sưng. Bà xoa tay lên ngực và nghĩ rằng đó không phải là giọng nói của Phê-đô xô ngã bà, mà chính Phê-đô đánh vào ngực bà bằng nắm đấm nặng trịch.

An-na cảm thấy đau đớn, nằm khóc không thành tiếng.

Trong số các cô bạn gái cùng làng, nếu như Ki-ri-an, con trai của Đê-mi-an I-nhi-u-chin, đặc biệt chú ý đến An-phi-xa, thì I-van Xa-vê-li-ép lại luôn luôn bênh vực và bảo vệ An-na Cáp-ta-nô-va. Và An-na cũng đáp lại bằng một tình bạn trung thành, tin cậy như thế.

Con gái chỉ vừa mới lớn, Cáp-ta-nốp đã nghĩ đến chuyện gửi cô vào trường trung học ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Một tháng trước lúc cô đi, I-van bỗng trở nên buồn ủ rũ, ít nói, và khi chiếc xe mui kín, do đôi ngựa lực lưỡng kéo đưa cô đi khỏi làng Mi-khai-lốp-ca, I-van đứng sau hàng rào, nhìn An-na bằng cặp mắt buồn bã, đến nỗi cô chịu không nổi, nhảy xuống xe, chạy đến bên anh.

- Đằng ấy sao thế? Tớ chỉ đi đến mùa hè năm sau thôi mà.

- Không...! Bây giờ An-na sẽ là dân thành phố, có học...

- Đằng ấy kỳ quá... Đấy... - và bất ngờ đối với cả chính mình, An-na vươn người qua hàng giậu, hôn lên vầng trán nóng hổi của I-van. Mặt I-van lập tức như bốc lửa, thậm chí máu dồn lên cả đôi tai đỏ lựng.

Chiếc hôn của cô ngây thơ và trong trắng, là biểu hiện của lòng biết ơn và tình bạn niên thiếu. Nhưng đến mùa hè năm sau, khi An-na về nghỉ hè, I-van đối xử với cô có vẻ hơi khó hiểu, vụng về, thường vô duyên cớ đỏ mặt và làm cho cô cũng đỏ mặt theo. I-van như đang đợi ở cô một cái gì. An-na cảm thấy điều đó, và cô cũng cảm thấy lúng túng, nhưng cái chính là khó chịu.

Năm chín trăm mười bốn, mẹ An-na qua đời. Bà chết một cái chết bất đắc kỳ tử - treo cổ bằng một sợi dây da. Mùa hè năm đó An-na như mất trí, phát điên vì những cảnh nhốn nháo, những tiếng kêu khóc của những người đàn bà trong đám tang, rồi sau đó cho đến khi trở lại thành phố, cô cố ý tránh mọi người, đi lang thang trên đồng, trong rừng, dọc bờ sông Grô-mô-tu-kha. I-van thường đi theo cô.

- Vì sao, vì sao anh cứ đi theo tôi như thế?! - một lần, cô kêu lên với vẻ hằn học, nhưng liền đó lại túm lấy tay anh, gục mặt vào ngực anh.

- Đừng khóc. Giờ được ích gì nữa đâu, - I-van vuốt ve vai cô.

- Tại sao, tại sao mẹ lại như thế? Tại sao?

- Anh Phê-đô nói rằng vì cha An-na đấy. Hình như ông ấy với lũ đàn bà, ở trong trại...

Đỏ mặt ấp úng, I-van kể lại cho An-na nghe những gì mình biết.

- Nói láo, nói láo! - An-na nhảy chồm lên, hét to. - Các người chỉ bịa đặt! Cha không thể như thế... - Nhưng, khi đã bình tình lại, cô tiếp: - Tôi cần phải tận mắt nhìn xem cha làm gì ở trong trại... Anh hiểu chưa? Anh nghĩ xem bằng cách nào... Hỏi anh Phê-đô ấy.

- Làm thế nào bây giờ? Anh Phê-đô với cha cả năm nay ở biệt trong rừng, chưng nhựa.

- Không biết. Anh nghĩ đi. Thế thôi.

Rồi một lần anh dẫn An-na vào mạch nước ngầm Ô-gơ-nhép-xki.

Họ đến trại lúc trời đã tối, vừa đói vừa mệt lử. Hai người đứng rất lâu sau lùm cây, nhìn những cửa sổ sáng trưng của ngôi nhà, nơi vẳng ra những tiếng kêu, tiếng hát của bọn người say rượu, tiếng ré của đàn bà.

- Đấy, - I-van nói. - Thấy chưa...

An-na đứng vịn tay vào cây. Rồi cô rời chỗ, bước đến cạnh một cửa sổ chiếu sáng, nhìn vào phòng. Và cũng ngay lúc ấy, dường như bị ai đánh mạnh vào mặt, đầu An-na giật ngửa ra phía sau. Hai tay ôm mặt, cô bước giật lui, suýt nữa thì ngã ngửa xuống đất.

I-van dẫn cô vào rừng, hai người ngồi xuống một bãi cỏ cao. An-na lại úp mặt vào đầu gối anh, người run lên, khóc nức nở, nặng nề.

Lúc đó I-van mười lăm tuổi, anh giấu mẹ, bắt đầu hút thuốc. Quấn một điếu thuốc, I-van thò tay vào túi lấy diêm, quẹt lửa. An-na lập tức ngẩng vụt đầu lên, mái tóc hơi rối rủ xòa xuống trán, đôi mắt phản chiếu ánh trăng sáng lên nhờ nhờ.

- Đưa diêm đây! - An-na bỗng đòi và không kịp để I-van hiểu ra, cô giật lấy bao diêm, nắm chặt trong tay, chậm chạp đi về phía ngôi nhà.

- An-na, An-na...

- Cái gì? - cô kêu to và đứng lại, - Anh giúp lấy gì chẹn cửa sổ và cửa ra vào, lấy rơm chất lên...

Nhảy mấy bước, I-van đã đứng cạnh An-na, sỗ sàng túm lấy tay cô, giãn thẳng các ngón tay, tước lấy bao diêm và ném vào bụi.

- An-na làm gì thế? Nghĩ lại đi...

- A... này... này! - An-na lùi lại một bước, vung tay tát vào má anh. - Tìm diêm đây! - Lại thêm một cái tát. - Tìm đi! Tìm đi...

An-na tát vào má anh mạnh và đau. I-van không chống lại, chỉ lùi...

Trên đường về làng Mi-khai-lốp-ca, họ đi chậm, im lặng. An-na đi trước, I-van theo sau, suốt dọc đường không nói lời nào.

Ngày hôm sau An-na lên cơn sốt nặng.

Cô phải nằm hai tuần. Đến tuần thứ ba, I-nhi-u-chin Đê-mi-an đến nhà Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép.

- An-na ra lệnh gọi I-van đấy, - hắn nói, cười gằn trong bộ râu cáo. - Đi nhanh lên.

Bước vào nhà Cáp-ta-nốp, I-van nghe vẳng qua cánh cửa mỏng của phòng bên cạnh giọng của chủ nhà:

- Mày lại bày ra cái trò gì thế này? Gọi thằng I-van Xa-vê-li-ép để làm gì? Trò vớ vẩn trẻ con thế đủ rồi đấy.

- Đấy là việc của tôi. Anh ấy là bạn của tôi.

- Mày thử nghĩ xem! Mày đã là con gái lớn rồi, còn hắn cũng không phải là trẻ con nữa.

- Đấy là việc của tôi, nói rồi mà! Nếu tôi muốn - tôi sẽ lấy anh ấy làm chồng!

- Cái gì? Cái gì? Tao lại vặt chân mày mà chắp lên vai bây giờ...

Vừa lúc đó I-nhi-u-chin gõ nạng gỗ xuống sàn, và giọng nói im bặt. Cáp-ta-nốp từ trong phòng đi ra, mắt nhìn như cắt người I-van ra làm đôi, nhưng không nói gì.

An-na nằm trên giường, người xanh xao, gầy hốc hác.

- Anh không nói với ai... là chúng mình đi vào trong trại chứ?

- Không.

- Đừng nói nhé... Em cám ơn anh vì đã lấy lại diêm. Tha lỗi cho em nhé, anh I-van, rằng em đã tát anh lúc đó.

Rồi cô hỏi một câu mà anh hoàn toàn không ngờ tới.

- Có tin gì về anh cả của anh, An-tôn, không?

- Không, không biết gì cả.

Im lặng một lúc, cô lại hỏi một câu hơi kỳ quặc:

- Thế anh Phê-đô có còn vết sẹo của mũi gươm bị I-nhi-u-chin ép vào vách đá không?

- Sẹo nào nữa! Tất cả đều đã lành hết rồi, không có dấu vết gì hết.

Hai người còn nói thêm về những chuyện vặt vãnh không đâu, nhưng trong đầu I-van vẫn vang lên câu nói: «Nếu tôi muốn, tôi sẽ lấy anh ấy làm chồng... Tôi sẽ lấy anh ấy làm chồng...»

Khi I-van từ trong nhà đi ra, Cáp-ta-nốp đang đứng cạnh nhà kho vừa mới xây xong, hắn lại quất sang I-van một cái nhìn như chém, nhưng vẫn không nói gì.

Mùa thu, An-na đi ra thành phố Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. I-van đến để tiễn cô. Không ngại ngùng, ngay trước mặt cha, An-na cầm lấy cả hai tay I-van:

- Tạm biệt, tạm biệt anh nhé...

Có thể cô còn nói gì thêm nữa, nhưng cha cô đứng bên cạnh mắt nheo nheo như mắt mèo nhìn họ chằm chằm. Và khi An-na đi khỏi, Cáp-ta-nốp hỏi, mắt vẫn nheo nheo:

- Thế nào, I-van, nói tao nghe, nó chọn mày làm người yêu đấy à?

I-van nóng bừng mặt, đến cổ cũng đỏ lên. Từ miệng anh buột ra:

- Thế tôi kém gì kẻ khác? Cũng là người như thế cả.

- Ô-ô! - Cáp-ta-nốp thậm chí há hốc chiếc miệng lông lá của mình ra, - Chúng mày quả là có máu kiêu ngạo cả nòi. Nào, ngồi xuống cạnh đây.

I-van rụt rè ngồi xuống bên cạnh tấm thân phì nộn của Cáp-ta-nốp, trái tim tự nó bắt đầu đập mạnh, mừng rỡ, «Giá có ai trông thấy nhỉ! Mình ngồi với ông ta, với chính Cáp-ta-nốp!..»

Trong lúc đó Cáp-ta-nốp lên tiếng, chậm rãi, vừa nói vừa nhổ vỏ hạt hướng dương xuống đất:

- Mày là người như thế nào, kém hay hơn người khác, việc đó, xin phép, hẵng để tao quyết định. Nếu mày được lòng tao, làm cho tao bằng lòng, thì mày cũng được thỏa mãn. Đấy, chẳng hạn như Đê-mi-an I-nhi-u-chin. Hắn trước đây là ai? Chẳng là ai cả, chỉ là bụi đất, là cây cỏ bên đường. Nhưng tỏ ra trung thành với tao, tao đã cho hắn thành người. Tao cũng muốn cho thằng Phê-đô nhà mày như vậy, nhưng hắn, đồ ngu ngốc, lại nhe răng ra với tao. Tao bẻ răng nó thì chẳng khó khăn lâu la gì, nhưng tao là người... tốt bụng. Rồi còn bao nhiêu lần cha mày cùng với thằng Phê-đô quỳ lạy dưới chân tao: «Vì Chúa, xin ông cho chúng tôi một công việc nào đó. Quỷ sứ đã xui dại chúng tôi về chuyện thằng An-tôn. Nếu nó lại về nữa, chúng tôi sẽ báo ngay. Chúng tôi không biết nó chống lại chính quyền mà...» Tao biết làm sao được? Đáng ra phải đạp vào mặt, tống cổ ra khỏi cổng. Nhưng tao không, quỷ tha ma bắt chúng mày đi, thôi, cho vào rừng đẵn gỗ và chưng nhựa. Không phải vì tao tin vào những lời ăn năn đâu. Có răng đấy, tao nhớ chứ. Mà vì rằng tao là người tốt bụng. Hoặc là thằng Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin trước đây làm quản lý cho tao chẳng hạn. Tao cũng đã muốn làm cho nó nên người, thậm chí còn chạy cho nó khỏi phải ra trận, thế mà nó, tao nghe nói, có lần bảo với bọn nông dân ở ngay trong cửa hàng của tao: «Chửi rủa không thôi, không làm cho cuộc sống dễ thở hơn đâu. Các ông cứ chửi rủa lão chủ Cáp-ta-nốp của tôi, còn lão ta thì vẫn cứ hút máu các ông». Cái thằng nhảy múa lăng nhăng! Con thằng khổ sai, mang cái máu của cha nó! Cứ để cho người ta tóm cổ nó, biết đâu ở đấy nó mới mở mắt ra, còn mẹ của nó thì tao không động đến. Cứ để cho thằng Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin và Phê-đô nhà mày nếm đủ các thứ cực nhục, để rồi mà hối hận, nghĩ lại, đến bò dưới chân tao - còn đi đâu được nữa? Nhưng tao đối với chúng không còn như trước nữa đâu. Đấy, đi mà chưng nhựa, còn những công việc kiếm lợi hơn, sạch sẽ hơn - cứ đợi đấy, cho đến chết! Tao cho những đứa khác, trung thành với tao... Tóm lại, con người thật là ngu ngốc, người ta đút kẹo vào miệng cho không ăn lại nhổ ra. Phải thế không?

I-van nghe Cáp-ta-nốp, hiểu được một nửa, một nửa không. Khi Cáp-ta-nốp dừng lại hỏi, anh giật mình:

- Tôi... Tôi vẫn nghe đây...

- Mày nghe là rất tốt. Đầu tiên tao cho mày làm thằng coi ngựa. Rồi sau đó sẽ xem... Nếu xứng đáng - tao đưa vào làm quản lý. Hình như mày cũng có học ít nhiều.

- Mới hai năm, đã lên lớp ba, nhưng cha và Phê-đô vào rừng, mẹ lại ốm...

- Không sao... Cái chính không phải ở chữ nghĩa, mà ở đầu óc. Nhớ lấy!

Cáp-ta-nốp phủi vỏ hạt hướng dương mắc trên đầu gối béo múp xuống đất.

- Còn về chuyện An-na - sẽ có một câu chuyện riêng. Nếu mày tỏ ra toàn tâm toàn ý trung thành với tao - thì lúc đó... I-van ạ, tao sẵn sàng thưởng rất hâ-ậu cho những đứa trung thành tận tụy...

Thế là, hoàn toàn bất ngờ ngay với cả chính mình, I-van trở thành người coi ngựa cho Cáp-ta-nốp.

Mùa hè năm 1916, Cáp-ta-nốp bắt An-na thôi học với cớ là từ nay cô phải trông nom đứa em trai Ma-ca. An-na vừa mừng vừa không. Việc học đối với cô rất khó khăn, ở thành phố cô cảm thấy xa lạ, bất tiện, các cô bạn cùng lớp gọi cô là con cò hương quê mùa và khinh bỉ cô ra mặt. An-na, quả thực, người cao lêu đêu, gầy đét nên lại càng cao hơn; tất cả áo dài cô mặc đều như treo trên tấm ván; cô đã mười bảy tuổi, nhưng chưa có gì tỏ ra là một cô gái lớn cả: vai nhọn, gầy, chân dài ngoẵng, ngực chỉ mói hơi nhô lên và cô nghĩ rằng suốt đời mình sẽ xấu xí, vụng về như vậy, sẽ bị tất cả mọi người khinh bỉ, nhạo báng như những người bạn cùng lớp - những cô gái con các nhà buôn ngực nở, lộng lẫy. Nhưng dù sao cô cũng tiếc khi phải rời thành phố với nhà trường, nơi đã bắt đầu ít nhiều mở ra trước mắt cô những điều hiểu biết về thế giới.

Ngay trong buổi chiều đầu tiên sau khi về đến nhà, An-na quyết định đi dạo chơi; cô ra khỏi nhà, chậm chạp đi về hướng sông Grô-mô-tu-kha. Khi cô qua hết cánh đồng, mặt trời đã lặn khuất một nửa xuống con sông Grô-mô-tu-kha chảy xuôi về phía chân trời tây. Dòng sông lấp lánh màu đồng lửa, và dường như không phải mặt trời lặn xuống, mà nó tan ra, chảy thành một dòng sông ánh sáng ấm áp trên mặt đất, ngay dưới chân cô.

- An-na, - cô nghe có tiếng gọi.

I-van Xa-vê-li-ép, mặc áo sơ-mi xanh và quần vải gai nhàu nát. Anh đi đất, đôi gót chân sần sùi, lấm bùn. Thấy An-na nhìn xuống đôi chân mình, anh ngượng nghịu.

- An-na về nghỉ hè đấy à ? - anh hỏi.

- Không, có lẽ về hẳn... Cha nói, học thế đủ rồi.

- Thế à? - anh thốt lên. - Tốt lắm!

- Tốt cái gì?

Rồi I-van và An-na ngồi trên bờ sông cao, nhìn những con sóng nhẹ yếu ớt và lười biếng vỗ vào bờ, hôn lên những hòn cuội còn ấm. Mặt trời lặn xuống dòng nước Grô-mô-tu-kha, rồi biến mất; con sông lập tức chuyển sang màu tối sẫm. Phía tây, hơi trệch sang bên trái nơi mặt trời vừa lặn, một đám mây đen chợt hiện lên, rồi loang ra rất nhanh. Một chốc sau, những tiếng sấm đầu tiên vọng đến. An-na đứng dậy và lặng lẽ đi về phía Mi-khai-lốp-ca. I-van cũng đi theo cô.

Cơn mưa đuổi kịp họ ở ven làng. Mưa ập xuống rất bất ngờ. Mây đen dường như hãy còn rất xa, đâu ở phía bên kia sông Grô-mô-tu-kha, mà bỗng nhiên trời tối sầm lại, một luồng không khí lạnh bao trùm lấy I-van và An-na, và ngay lập tức một cơn mưa rào rất lớn quây lấy họ, làm họ ướt đến không còn một sợi chỉ.

An-na kêu to lên và chạy vội đến ngôi nhà đất từ lâu bỏ không, mất cả mái, đứng ở bìa làng, người ướt sũng. Trần ngôi nhà đất đã bị sụt mấy chỗ, mưa quất xối xả vào những lỗ hổng trên mái, vào cửa sổ không có cánh cửa. An-na chọn một chỗ tương đối khô ráo, ép người vào bức tường đã mốc xanh. I-van đứng cạnh sát vai cô cảm thấy cả người An-na đang run lên vì lạnh.

-Ré-ét quá, - cô nói, và I-van cảm thấy như cô nép sát vào người anh hơn. I-van liền đứng ra trước mặt cô, lấy người mình ép An-na sát vào tường.

- Anh... I-van! - cô kêu thốt lên.

- Anh sưởi cho em, - anh nói thì thầm, ôm lấy vai cô, cúi người xuống... Chiếc hôn rơi vào một bên khóe miệng.

- I-i-van! - An-na xô anh ra, chạy tránh sang chỗ khác, hai tay ôm mặt, khóc nấc lên đau đớn.

- Em sao thế? Anh có làm... làm gì đâu?

- Sao anh lại thế? Sao anh lại thế?

- Anh không biết nữa, thật đấy, anh...

- Anh định trêu chọc tôi! Tôi xấu xí, vụng về...

- Ai bảo thế? Em đẹp lắm. Anh thấy mà. Em sẽ còn đẹp hơn.

An-na bỏ tay ra khỏi mặt.

- Anh thấy là thế nào?

- Thì anh thấy - và thế thôi. Và anh sẽ cưới em, nếu như em... Còn cha em đã hứa rồi…

Trong mùa đông và mùa xuân vừa qua Cáp-ta-nốp quả có mấy lần đến chuồng ngựa, hai tay vuốt ve những con ngựa giẫm chân đứng không yên, nửa đùa, nửa thật bảo I-van:

- Tao thấy mày làm việc cố gắng, chăm chỉ đấy. Không khéo thì mày lấy được con An-na thật... Khá lắm, không như các anh mày. Cố gắng lên nhé, tao không quên lời của tao đâu. Hay là mày không yêu nó nữa? Không à? Gì mà thẹn thò như con gái ấy thế! Xem kìa, mặt đỏ lựng lên rồi.

Đôi khi I-van có ý ghĩ rằng Cáp-ta-nốp đang đùa với anh như với một đứa bé. Tất nhiên, chẳng bao giờ ông ta gả An-na cho anh đâu. Nhưng hôm qua, khi ra lệnh cho anh thắng ngựa vào xe, Cáp-ta-nốp nói có vẻ như nghiêm chỉnh:

- Này, I-van, nghe đây... Tao có việc phải đi ít lâu, ở nhà coi chừng, đừng có làm hỏng con An-na đấy. Nếu mày dám làm việc gì chưa đến lúc của nó, tao lấy kéo cắt lông cừu mà cắt phăng đầu mày đi đấy, như cắt củ cải. Trên trái đất này tao chẳng sợ gì đâu, còn khi lên trời, tao sẽ có cách để thanh minh. Hiểu chưa?

...Cơn mưa rào to nhưng ngắn, mây dông lướt qua làng Mi-khai-lốp-ca, rồi đi mất, bầu trời chiều nhưng hãy còn sáng hiện ra từng mảng xanh qua các lỗ thủng trên trân nhà, những giọt nước nặng nề thỉnh thoảng lại nhỏ xuống sàn gỗ đã bắt đầu mục nát.

- Cha em hứa là thế nào? - An-na hỏi, hai cùi tay khép lại che bộ ngực chưa kịp nở nang. Đôi mắt của cô màu xám, to và hơi dài, rất sáng và lúc đó đã khá xinh đẹp, ánh lên dò hỏi, ngạc nhiên, - Hứa với ai?

- Với anh...

- Với anh?! - An-na rướn đôi lông mày dài như hai cánh chim, đứng trầm ngâm một lát. Rồi cô đi ra khỏi ngôi nhà đất, sau khi dặn I-van: - Anh ra sau một lát, không có người ta thấy chúng mình cùng nhau...

Rồi vẫn với dáng trầm ngâm nghĩ ngợi, An-na đi dọc theo đường làng ướt sũng nước mưa.

Năm 1914, Đê-mi-an I-nhi-u-chin bỗng nảy ra ý muốn làm hương trưởng.

- Ông cần để làm gì? - Cáp-ta-nốp cau mặt lại, - Hay là tôi trả ít? Mà ông còn ăn trộm bao nhiêu nữa?!

- Chúa tha lỗi cho ông, ông Mi-khai-in Lu-kích! Ông nói oan quá đấy...

- Ông thử nghĩ xem, đồ cụt chân ngu ngốc, chúng ta bây giờ còn bao nhiêu là việc! Chiến tranh, tôi đã nhận thầu bán một số lượng lớn lúa mì và các thứ thực phẩm khác. Cần phải xây gấp một loạt kho, nhà chứa...

- Nhưng hương trưởng thì phải làm những việc gì?!- I-nhi-u-chin cố thuyết phục ông chủ của mình. - Đấy là tôi chỉ muốn thỏa mãn về mặt tinh thần thế thôi. Còn tôi vẫn sẽ hầu hạ ông như trước đây mà.

- Quỷ tha ma bắt các người đi! Thì cứ việc mà thỏa mãn, - Cáp-ta-nốp khoát tay.

Một lần, vào cuối mùa thu, khi tuyết sắp rơi, lúc chập choạng tối, Phê-đô Xa-vê-li-ép chạm trán với hương trưởng Đê-mi-an I-nhi-u-chin trên đường làng.

-A, con người đáng mến đây rồi, - Đê-mi-an cười nhạt. - Nào, đến nhà tao một tí. Gió ghê quá... - Thấy Phê-đô còn lưỡng lự, hắn nghiêm giọng nói tiếp. - Đến để bàn về việc của mày đấy !

Hồi đó Ki-ri-an đang học ở San-ta-ra, ở nhà chỉ còn vợ của I-nhi-u-chin. Trước đây mụ ta gầy khô như một que củi, nhưng sau khi chồng trở về từ cuộc chiến tranh Nga- Nhật, mụ mỗi ngày một béo ra, và chỉ sau mấy năm mụ đã béo ra một cách không tưởng tượng được, vào cửa phải đi nghiêng, mùa hè dở sống dở chết vì nóng. Trong làng mọi người đều biết rằng vào những ngày nóng nực, oi bức nhất, mụ phải ngồi trong hầm lạnh, nằm trên các gối nước mát, thở dốc như lợn thiến nằm trong cũi.

Lạch bạch như vịt bầu, mụ mang ấm xa-mô-va đang sôi vào, và cũng lạch bạch như vậy, đi ra.

- Sắp chết rồi, - Đê-mi-an I-nhi-u-chin thông báo. - Mày thấy đấy, bị phù mà. Hầu như không ăn gì cả, mà vẫn béo. Đó là một thứ bệnh, gọi là phù. Nào, ta uống chè cho ấm đi. Uống đi!

Ngạc nhiên, Phê-đô ngoan ngoãn kéo cốc nước chè lại gần mình.

Hai người ngồi im lặng uống chè chừng nửa tiếng. Thỉnh thoảng, đôi đồng tử như hai hòn lửa của Đê-mi-an I-nhi-u-chin lại xoáy vào người Phê-đô; anh co rúm người lại, toát mồ hôi, không hẳn vì chè và cũng không hẳn vì những cái nhìn đó.

Rồi Đê-mi-an đứng dậy, lọc cọc chiếc nạng gỗ, đến bên chiếc áo khoác ngoài treo trên giá, thò tay vào túi lục lọi một lúc, quay trở lại bên bàn, giúi cho Phê-đô một tờ giấy bạc mười rúp.

- Tiền…tiền gì thế này? - Phê-đô sợ hãi, thu tay lại giấu ra sau lưng.

- Cầm lấ-ấy! - Đê-mi-an gầm lên.

Phê-đô giật nảy người lên vì tiếng thét đó. Khi cầm lấy tiền, hai tay anh run run.

- Cái đồ mày! - Đê-mi-an tái nhợt người vì tức giận. - Thối hoắc, lại còn hỏi tiền gì! Tiền công mày hôm trước đã chỉ chỗ An-tôn, anh trai của mày, trốn.

- Tôi ấy à? - Phê-đô sửng sốt, ném tiền xuống đất. - Đấy là ông đi theo rình tôi, khi tôi đi vào dãy Dve-nhi-gô-ra thì có! Ông thiếu tí nữa thì lấy gươm đâm thủng sườn tôi, mà tôi có nói gì đâu...

- Im ngay, tao đã theo dõi mày rất lâ-âu rồi, cậu cả ạ. Cáp-ta-nốp dùng không đúng chìa để mở khóa vào lòng mày, túm lấy cổ mày. Mà mày thì không thích như vậy, tao hiểu. Khi đã hiểu rồi, tao sẽ không dùng tay để túm lấy cổ mày, hoặc bất cứ một chỗ nào khác đâu. Mà thế này thì mày cũng không thoát khỏi tao rồi. Nào, thế mày định bào chữa như thế nào, nêu tao tuyên bố với khắp làng rằng chính mày đã dẫn chúng tao đến Khe Rắn, chính mày đã chỉ chỗ An-tôn trốn. Tao làm việc đó chẳng lâu la khó khăn gì...

- Ông bảo sao? Anh An-tôn về sẽ vạch trần ra hết... Tất cả sự đặt điều của các ông...

- Bao giờ hắn về còn chưa biết, chứ bây giờ mày phải chịu đã. Mà nó có còn về được nữa không chứ? Vừa rồi hắn mới vượt ngục, nhưng lại bị bắt. Dây thòng lọng cho nó người ta đã bện rồi đấy.

Phê-đô ngồi phịch xuông ghế đẩu. Đê-mi-an cúi nhặt tờ giấy bạc từ dưới đất lên, giúi vào bàn tay đẫm mồ hôi của Phê-đô. Rồi hắn cà nhắc đi lại trong phòng, nói như không có chuyện gì xảy ra:

- Đúng, cái tính tình của mày làm hỏng cả con đường công danh của mày đấy, chàng trai ạ. Cáp-ta-nốp có thể làm cho mày nhiều lắm đấy, thế mà mày lại nhe răng ra. Ông ấy chỉ ưa những đứa hiền lành như tao thôi. Bây giờ mày đối với ông ấy là đồ vứt đi rồi... Còn tao... tao đã chú ý đến mày từ lâu. Mắt mày nhìn dữ tợn, tham lam lắm. Tao còn nhớ khi ông Cáp-ta-nốp mở tiệc ăn uống với các cô nương ở trại, mũi mày phập phồng vì thèm muốn, ganh tị. Vắt mũi còn chưa sạch, mà đùi đã run rẩy...

Phê-đô nhảy chồm dậy, mặt đỏ bừng, khắp người trào lên một sự căm ghét vô cùng đối với lão già một chân này. Đồng thời, Phê-đô cảm thấy mình bất lực trước mặt hắn.

- Ông đừng động đến tôi, lão già ạ - anh nặng nề rít lên. Đừng có động đến, kẻo hối không kịp... Tôi nói thật đấy.

- Chứ còn sao nữa... Tính mày tao biết mà. Còn bé tí đã dọa lấy nạng chọc sườn tao ra... - Rồi hắn nói gay gắt hơn, nụ cười ngon ngọt trên môi vụt biến mất: -Chỉ có điều, cậu hai ạ, mày chưa tính đến, là bây giờ ngoài tao ra, mày không thể dựa vào ai được nữa. Mày chưa tính đến, nhưng tao thì đã nghĩ kỹ cả rồi...

Ngoài sân, gió thổi từng đợt, các cánh cửa sổ rung lên bần bật. Trước nhà Đê-mi-an I-nhi-u-chin có hai cây thông cao lớn, cành lá của chúng đập sột soạt lên mái nhà lợp gỗ, dường như có một người nào đó chậm chạp, nặng nề, cũng một chân gỗ, đang đi trên đó.

- Còn mày nghe đây, những gì tao nói với mày bây giờ... cũng rất thật lòng. Nghe và ngẫm cho hết những điều lợi cho mình. Tao tính, sau này rồi mày sẽ trở thành người có ích cho tao. Ông Cáp-ta-nốp quẳng đi thì tao nhặt. Vì rằng tao cũng cần những người tin cẩn. Tất nhiên tao không phải là Cáp-ta- nốp, nhưng trong làng này tao cũng là người thứ hai sau ông ta, mà có đôi lúc thậm chí là người thứ nhất. Thế đấy... Và tao cũng cần biết bọn đàn ông trong làng bàn tán gì với nhau về tao và về ông Cáp-ta-nốp, nghĩa là trong đầu chúng có những ý nghĩ gì. Cứ cho là tao chẳng cần gì việc đó, nhưng dù sao cũng tò mò muốn biết…

- Khéo lắm! - Phê-đô thốt lên. - Ông định thuê tôi làm do thám à? Với mười đồng này à?

Nhưng Đê-mi-an I-nhi-u-chin không chú ý đến những lời đó của Phê-đô, dường như không nghe thấy chúng, vẫn nói tiếp:

- Vì thằng An-tôn, thằng anh cả của mày, mà tao không ưa cả gia đình nhà mày, làm tình làm tội chúng mày từ lâu. Như vậy là không phải, đây cũng là nhược điểm thường tình của con người mà nghĩ cho sâu, đấy còn là một việc làm ngu ngốc. Thôi được, tao sẽ cho bố mày một công việc nào đó. Cả mày nữa. Tuy nhiên, ông Cáp-ta-nốp vẫn còn tức giận bố mày lắm, ông ấy bảo: hắn làm việc tốt thế, mà đẻ ra một bầy toàn chó sói con. Không sao, tao đã bớt giận hơn, và tao sẽ khuyên can ông ta... Thế đấy... Còn mày, tao sẽ trả cho mày ba rúp một tháng... ngoài tiền lương của mày. Còn tờ giấy đỏ này là cho cuộc thỏa thuận hôm nay.

Và, bước đến sát người Phê-đô, phả cả hơi vào mặt anh, hắn gầm lên hai tiếng như ném ra hai hòn đá nặng:

- Thế nào?

Phê-đô lùi lại, lắc đầu!

- A, cái đồ rắn độc đểu giả! Ông làm trò gì thế? Ông định thỏa thuận cái gì, hả cái đồ gốc cây mục kia?

- Đối với ai là mục, nhưng đôi với mày có thể là vàng đây, -Đê-mi-an I-nhi-u-chin cười nhạt. Và bỗng nhiên, khi thấy Phê-đô lại định quẳng tờ giấy bạc đi, hắn méo xệch miệng, người run lên trong cơn giận dữ. - Mà-ày nghĩ kỹ đi đã, đồ nhãi ranh kia! Đã một lần há miệng đánh rơi mất hạnh phúc, lần sau nhớ ngậm lại cho chặt, nếu như mày không phải là thằng ngu! Mà đừng có ý làm phản tao đấy, không tao đóng dấu nhục nhã suốt đời lên trán như đóng dấu sắt nung lên lưng ngựa! Tao không tha chuyện An-tôn cho đâu. Đi đi! Đi về mà suy nghĩ đi! Chiều chủ nhật đến đây trả lời có đồng ý không. Và tao cho ba rúp đầu tiên, - Rồi, đẩy anh ra khỏi cửa, hắn thì thầm, giọng dịu hẳn xuống: - Việc của mày là nghe và báo lại... Sẽ có thưởng. Tao không để cho những ai mà tao cần bị thiệt bao giờ đâu. Về nghĩ đi, Phê-đô ạ, mày là thằng không phải ngốc nghếch gì. Tao đợi, tao đợi mày vào chủ nhật...

* * *

Chủ nhật, Phê-đô đến nhà Đê-mi-an I-nhi-u-chin và, mặt đỏ bừng lên, nhưng rồi vẫn nhận ba đồng rúp đầu tiên.

* * *

Đứa con trai của mình, Ki-ri-an, một đứa bé ốm yếu vàng vọt như ngọn cỏ héo trong đầm lầy, Đê-mi-an I-nhi-u-chin không cho học lâu. Cùng với An-na Cáp-ta-nô-va, Ki-ri-an đi học mấy năm ở trường dòng xứ San-ta-ra, và Đê-mi-an cho như vậy là đã đủ rồi. Đã từ lâu hắn dự định cho con kế tục cái chỗ của mình, mà như vậy thì chẳng cần nhiêu chữ nghĩa lắm, chỉ cần khôn ngoan và táo bạo.

Thế nhưng, hắn chỉ để cho con trai của hắn giữ cái chỗ của hắn trong trường hợp cuối cùng, bất đắc dĩ. Trong thâm tâm, hắn mong muốn trước hết những điều khác, bây giờ còn rất thầm kín. Thì sao nhỉ, - hắn trăn trở - trên giường trong những đêm không ngủ, -An-na Cáp-ta-nô-va và Ki-ri-an cùng một tuổi. Rồi sẽ đến một lúc nào đó, An-na cần một người chồng...

Nằm vùi đầu vào tấm chăn bông dày, trong đêm tối ngột ngạt, Đê-mi-an I-nhi-u-chin vạch ra hết kế hoạch này đến dự định nọ. Ki-ri-an sẽ lấy An-na làm vợ, rồi... Cáp-ta-nốp bắt đầu già đi rất nhanh, những cuộc truy hoan túy lúy làm cho ông ta sút đi trông thấy. Đáng lẽ ông ta phải thôi đi, thì bây giờ lại cùng với con trai cả là Di-nô-vi thường xuyên tụ tập những «ổ chó» - như lời của Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép nói. Thì cứ mặc cho họ tụ tập lại đây, biết đâu rất có thể uống quá chén, và... Bởi vì thỉnh thoảng trong trại cha con Cáp-ta-nốp say túy lúy, nằm thẳng cẳng như những súc gỗ, chẳng còn biết trời đất gì nữa. Vào một buổi chiều mùa đông nào đó đốt lò cho thật nóng, rồi đem đóng nắp ống khói lại sớm hơn mọi ngày, khi ngọn lửa tàn có thán khí màu xanh còn chưa tắt hẳn trong đống than... Cử để cho họ kêu la một lúc trong cơn mơ say rượu nặng nề, rồi tất cả sẽ im lặng... Sau đó tha hồ mà điều tra! Bị chết ngạt hơi than, mà chết ngạt hơi than vì say rượu là chuyện rất bình thường. Lúc đó thì sẽ ra sao? Ngoài An-na ra, cả họ của Cáp-ta-nốp chỉ còn lại một mình Ma-ca. Thằng bé thì thiếu gì nguyên nhân để mà chết? Vì vô ý làm đổ chảo nước sôi lên người chẳng hạn, hay ngược lại, bị cảm lạnh... Đúng vậy, mọi chuyện đều có thể xảy ra... Có họ Cáp-ta-nốp đấy, nhưng rồi chết mất cả. Chỉ còn lại họ I-nhi-u-chin. Bắt đầu một dòng họ mới...

Những ý nghĩ đó làm cho người hắn phát cuồng lên trong chăn, bộ râu hung hung màu lửa ướt đẫm, hắn thò đầu ra ngoài chăn thở dốc.

Những ước mơ này thật ngọt ngào hấp dẫn, nhưng Đê- mi-an I-nhi-u-chin hiểu rằng còn rất lâu, rất lâu mới thực hiện được... Cũng có thể chúng không bao giờ thực hiện được. Cái nguyên nhân chính là vì thằng Ki-ri-an quá yểu tướng, ốm yếu, xấu xí. Nó yểu tướng đến nỗi có lần Cáp-ta-nốp bảo «Thằng con của ông mồm nó chỉ là chỗ để cho ruồi ỉa là tiện...»

Nhiều khi Đê-mi-an cảm thấy căm ghét thằng con trai độc nhất của mình vì nó quá quặt quẹo. Nhưng hắn vẫn bướng bỉnh nghĩ: «Không sao, nó sẽ lớn lên, khỏe ra...» Và gần như ngày nào Đê-mi-an cũng khuyên con:

- Tao thấy mày cứ cặp kè nghịch đất với con An-phi-xa con mụ Na-xta-xi-a. Mày chơi với con bé ăn mày ấy làm gì? Con nên chơi với An-na nhà Cáp-ta-nốp ấy.

- An-na nó hay cấu đau lắm, - Ki-ri-an vừa thọc tay vào mũi ngoáy, vừa đáp. - Còn An-phi-xa rất hiền.

Nhưng nói chung bây giờ Đê-mi-an cũng chưa bận tâm lắm về việc con của hắn chơi thân với An-phi-xa-một cô bé gầy gò, mắt đen, tay chân dài, trông giống như một con thú nhỏ bị săn đuổi.

Hắn lo lắng thật sự khi Cáp-ta-nốp cho con gái đến Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ học. Nhưng hắn không để lộ ra ngoài mặt, chỉ gặp những lúc thuận tiện, thở dài nói:

- Cầu trời cho cô nhà học hành tiến tới, thành một tiểu thư thật sự. Chỉ có điều Mi-khai-in Lu-kich ạ, cô nhà ta là con gái nhà quê, chất phác, thật thà, mà trong thành phố biết bao nhiêu là bọn lêu lổng, bạt mạng, không cẩn thận chúng làm hỏng cô nhà như chơi... Lúc đó thì làm thế nào? Sẽ phải mang tiếng xấu suốt đời, cho đến tận lúc chết không tha. Chẳng phải sống nữa, mà là quá khổ sai... Hay là ông định cho cô nhà ở luôn trong thành phố? Nếu vậy thì không sao...

Cách đây ít lâu, Ma-ca, sau khi mẹ chết, được Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va chăm nom, bỗng lăn ra ốm gần như suốt cả mùa đông. Cáp-ta-nốp lo lắng cho số phận của thằng bé, đến nỗi thôi không uống rượu nữa.

- Trông nom con người khác thì làm sao cho chu đáo được, -mấy lần Đê-mi-an I-nhi-u-chin nói. - Cẩn thận đấy, ông Mi-khai-in Lu-kích... Giận hay không là quyền ông, nhưng tôi vẫn nói thật. Không phải hạt máu của mình thì không quý. Mà ông cũng còn có người trông nom, cô An-na đấy...

Có lẽ chính điều này đã quyết định công việc. Cáp-ta-nốp thân chinh vào thành phố đưa An-na về.

Cả mối quan hệ giữa An-na và I-van cũng không lọt khỏi mắt của lão Đê-mi-an I-nhi-u-chin một chân. Nhưng ở đây hắn tin chắc rằng Cáp-ta-nốp thà tự tay bóp chết con gái mình còn hơn là gả cho I-van.

Và cuối cùng, tình bạn thân mật của đứa con trai và An-phi-xa làm cho Đê-mi-an I-nhi-u-chin lo lắng thật sự. An-phi-xa, đứa con gái của mụ góa Na-xta-xi-a, năm mười bốn tuổi bỗng bắt đầu lớn phổng, nở nang ra, cặp vú nhọn nhú lên dưới làn áo mỏng, mắt lấp lánh những đốm lửa nóng hổi màu đen thẫm, biêng biếc. Ki-ri-an nhiều hơn cô hai tuổi, cũng bắt đầu có dáng, vai hơi nở thêm ra, tóc từ lâu đã chải ngược ra sau gáy và tay thôi không ngoáy mũi nữa. Đê-mi-an I-nhi-u-chin nhận thấy mỗi lần gặp con trai mình; đôi má tròn trịa của An-phi-xa đỏ ửng lên vì máu dồn lên mặt, và chính Ki-ri-an cũng bối rối, mắt nhìn ngơ ngác, đờ đẫn như vừa uống xong một cốc rượu ngang.

- Mày là thằng ngốc, thằng ngốc! - Đê-mi-an I-nhi-u-chin vừa nhảy loi choi bằng chiếc chân gỗ, vừa hét. - Trước đây thì bảo là còn con nít ngu dại, chứ bây giờ... Nó là cái thá gì, cái con bé chết đói ấy? Tao bảo mày phải tránh xa con ấy ra!

Ki-ri-an ngồi nghe, im lặng, lấy bàn tay hẹp lau chiếc trán dô. Nhưng Đê-mi-an I-nhi-u-chin biết rằng rồi đứa con của mình vẫn sẽ đi theo An-phi-xa như một cái bóng.

Khoảng một tuần trước khi An-na về, Đê-mi-an I-nhi-u-chin, một buổi chiều đi tập tễnh qua căn lều đổ nát của mụ góa Na-xta-xi-a, chợt nghe giọng nói của con trai sau hàng giậu đổ nghiêng:

-An-phi-xa ạ, em đừng chê anh bề ngoài xấu xí... Bên trong anh đẹp hơn nhiều, anh biết. Rồi em sẽ hiểu, sẽ thấy... Anh... Anh bao giờ cũng sẽ quý mến em, như bây giờ. Trong tình bạn anh rất trung thành.

- Ôi, xấu hổ quá, xấu hổ quá đi mất, - cô bé thì thầm, và hình như lấy tay che mặt lại, giọng cô nghe trầm bé hơn: - Anh nói cái gì vậy? Anh bảo em phải nghĩ về đám cưới nào?

- Anh không bảo em là ngay bây giờ... Có thể sau một năm, sau hai, ba năm nữa... Nhưng anh nói để em biết...

Đê-mi-an I-nhi-u-chin đứng ngây ra một chỗ, chiếc chân gỗ của hắn như cắm chặt xuống đất.

- Cha của anh suốt đời... sau một hai năm hoặc mười năm nữa cũng không đồng ý cho anh lấy em đâu. - Sau một lúc im lặng, An-phi-xa nói hoàn toàn như người lớn. Và mẹ em cũng bảo vậy.

- Nhưng cha làm gì được anh?... Anh ngang bướng lắm. Chưa có ai biết anh ngang bướng như thế nào đâu. Nếu cha không đồng ý, cũng không cần. Anh sẽ đưa em đi San-ta-ra. Hoặc là đến một nơi khác. Chúng ta sẽ làm việc để sống.

Sau hàng giậu, hai người đứng im lặng một lúc lâu.

- Thế em có thích anh không? - Ki-ri-an bỗng hỏi. - Dù là ít thôi?

- Em không biết nữa, - An-phi-xa trả lời tin cẩn. - Khi thì hình như có, khi lại như không... - Rồi cô thở dài và nói tiếp, vẫn bằng giọng tin cẩn như cũ. Không hiểu sao tất cả bọn con trai lớn tuổi hơn em đều thích. Gặp họ là em thấy ngượng. Nhất là anh bạn của anh, Phê-đô Xa-vê-li-ép. Nhưng em lại sợ anh ta hơn cả. Mùa đông vừa rồi, khi anh ta từ trong rừng về lấy thức ăn, em gặp trên đường làng. Anh ta rung rung bộ ria, còn em nghe lạnh cả người. Anh ấy để ria như một người đàn ông thật sự như vậy để làm gì? Anh bảo với anh ấy đừng để ria như vậy, nom dữ lắm.

- Cô đi mà nói với anh ấy, - Ki-ri-an phật ý lẩm bẩm.

- Ôi, có ai đứng bên kia... - An-phi-xa hốt hoảng kêu lên.

Đó là Đê-mi-an I-nhi-u-chin đổi chân, kéo lê chiếc giày duy nhất trên mặt đất. Phía bên kia bờ giậu có tiếng bước chân của Ki-ri-an và An-phi-xa đi nhanh ra xa. Đê-mi-an I-nhi-u-chin đứng thêm một lúc, cười gằn cau có trong bóng tối, rồi đi tiếp. Bây giờ hắn đã biết cách làm thế nào để tách con trai ra khỏi An-phi-xa rồi.

* * *

Cuộc chiến tranh xảy ra ở một nơi xa xôi nào đó gần như không động đến làng Mi-khai-lốp-ca, nếu như không kể đến việc lần lượt cựu hương trưởng Pan-crát Na-da-rốp, anh thanh niên gầy gò nhưng suốt ngày đứng không yên một chỗ Ép-xây Ga-lan-sin và anh Mu-gích rậm râu Pê-tơ-rô-van Gô-lốp-lép và chừng dăm người nữa bị gọi ra trận. Những người thân thích khóc lóc đưa tiễn họ đến San-ta-ra, trở về im lặng, mặt nặng trĩu như vừa ở nghĩa địa về, và cuộc sống lại tiếp tục trôi đi, vẫn như trước kia, đơn điệu và buồn bã.

Và quả không phải mọi người chỉ tiễn họ đến San-ta-ra, mà dường như đã đưa họ sang thế giới bên kia thật, bởi vì một năm, hai năm, rồi năm thứ ba sắp trôi qua, mà những người ra trận vẫn bặt tin tức. Trong suốt thời gian đó chỉ có Pan-crát Na-da-rốp viết hai lá thư về nhà, nhưng anh không hề nhắc đến những người cùng làng khác.

Ngoài ra, còn ba - bốn lá thư nữa của người con trai bà góa A-ri-na Cru-gi-li-na. Nhưng anh quản lý của nhà Cáp-ta-nốp trước đây viết gì - không ai rõ. Tuy không biết chữ, A-ri-na không cho ai ở Mi-khai-lốp-ca đọc những bức thư của con, mà để làm việc đó, bà đến nhờ cô con gái trẻ của ông giáo già Cu-li-tsen-cô ở tận thị trấn San-ta-ra. Mỗi lần từ đó trở về, mặt bà đều rạng rỡ lên, nhưng càng thêm ít nói, nghiêm khắc hơn, và ai hỏi cũng trả lời như nhau:

- Không sao, nó vẫn bình yên, khỏe mạnh.

Gia đình Cru-gi-lin vốn từ nơi khác đến trú ngụ ở đây, và nói chung họ là những người khó hiểu. Những người dân làng Mi-khai-lốp-ca ngày nay hầu như không ai còn nhớ Mát-vây - chồng của A-ri-na - nữa, ông đã chết hơn hai mươi năm về trước. «Anh ấy chết vì ho, ho đến rỗng cả ngực ra» - lúc đó A-ri-na giải thích nguyên nhân cái chết của chồng như vậy. Bà ngồi, tay ôm chặt cậu bé Pô-li-các-pơ vào lòng như sợ bị ai sắp cướp mất. Còn những người già hồi đó - bây giờ họ đã chết hết cả rồi - nói rằng Mát-vây Cru-gi-lin là một người tù khổ sai. Trước đây, ông ta sống ở Nga, nơi lúc đó còn tồn tại chế độ nông nô. Người ta kể rằng Mát-vây xúi giục nông dân nổi loạn, họ đốt cháy trang trại của địa chủ, vì vậy Mát-vây Cru-gi-lin bị đóng còng sắt vào cổ và đày đi Xi-bi-ri. Ông phải mang xiềng xích hơn mười hai năm, sau đó một thời gian dài sống ở nơi phát vãng, tận Na-rưm, cuối cùng, vào năm 1890, mới cùng với người vợ mặt rỗ đang có thai đến Mi-khai-lốp-ca, đào ở cuối làng một hầm đất làm chỗ ở, và một năm sau thì mất.

Sau khi chồng chết, A-ri-na hầu như liên tục làm thuê cho nhà Cáp-ta-nốp - lúc đó hắn mới bắt đầu phát giàu. Bà cùng với con trai Pô-li-các-pơ vẫn sống ở trong nhà hầm cũ, con trai bà lớn lên thành một chàng trai vạm vỡ, khỏe mạnh. Anh học hút thuốc và uống rượu rất sớm, thỉnh thoảng lại nhập với các đoàn Di-gan đến trú ở trong vùng, đi theo họ suốt cả mùa hè, nhưng đến mùa thu, khi trời bắt đầu lạnh, bao giờ cũng trở về làng, người ngợm bẩn thỉu, đầy chấy rận, nhưng áo quần lại tốt lành, tiền giấy, tiền xu xủng xẻng trong túi. Ít lâu sau, hai mẹ con Cru-gi-lin đã rời bỏ căn hầm đất ẩm ướt tôi tăm, mua một ngôi nhà đã cũ ở đầu làng.

Cũng vào thời gian đó, lần đầu tiên Cáp-ta-nốp chú ý tới Pô-li-các-pơ.

- Cậu khá đấy, kiếm ở đâu ra tiền để mua cả ngôi nhà như thế này? - hắn hỏi Cru-gi-lin khi anh đi ngang qua cửa hàng của hắn. -Làm ra hay ăn cắp?

- Nửa nọ nửa kia, - Pô-li-các-pơ đáp một cách xấc xược.

- Hừ… - Cáp-ta-nốp cười khẩy. - Thế mày có biết nhảy theo kiểu Di-gan không?

- Cũng có biết một ít.

- Thử xem nào, - Cáp-ta-nốp ra lệnh.

- Nhảy không à? Ông về mà bắt vợ nhảy không trước lúc lên giường ấy.

- Hừ... - Cáp-ta-nốp lại thốt lên cười gằn, rút ví, lấy ra đồng hai chục cô-pếch.

- Giá có một tí cay cho vui vẻ hơn... để chân nhảy lẹ hơn.

- Cái thằng ranh này! Mày cũng đã học cả uống rượu rồi à?

- Cũng chỉ một ít thôi, chú Mi-kha-in ạ. Hay là chú tiếc?

Nhiều người tò mò đã tụ tập lại trên thềm cửa hàng. Cáp-ta-nốp ra lệnh mang chai rượu ra.

Pô-li-các-pơ mặc áo sơ-mi lụa màu xanh -loại áo những người Di-gan vẫn thích mặc - thắt lưng cũng bằng lụa đã cáu bẩn, đi đôi ủng da còn tốt. Anh cầm lấy từ tay Cáp-ta-nốp cốc rượu gần đầy, uống mấy hơi hết, không hề nhăn mặt, làm cho Cáp-ta-nốp và những người đứng xung quanh rất ngạc nhiên. Rồi, ném chiếc cốc cho một người nào đó, anh uể oải đi một vòng trước thềm nhà như yêu cầu mọi người đứng rộng ra, dừng lại một chốc ra vẻ lưỡng lự, thậm chí còn đưa tay vào mũi ngoáy như trẻ con.

- Nhảy mà không có nhạc thì ra cái gì?! - anh nói to.

Có tiếng cười giễu, và một người nào đó nói:

- Thằng nhảy tồi thì bao giờ cũng hoặc là thiếu nhạc, hoặc là chân đau.

Vừa lúc đó Pô-li-các-pơ hét lên một tiếng lanh lảnh, lắc mạnh mái tóc quăn dài, nghiêng người cúi đầu đi một vòng giãn mọi người đứng rộng thêm ra. Đến trước mặt Cáp-ta- nốp, anh lùi lại một bước, gõ mạnh gót giày, đập mạnh hai bàn tay lên ngực, lên đầu gối, lên hai ống giày. Tiếng cười nói lập tức im bặt, thậm chí Cáp-ta-nốp đang ngồi trên bậc thềm cũng đứng nhổm dậy. Còn Pô-li-các-pơ lại hét lên lanh lảnh như những người Di-gan, rồi quay tít như con quay, chân quấn bụi bốc mù mịt.

Pô-li-các-pơ nhảy khá lâu, phải đến chừng năm phút, hết nghiêng người, nhảy ngồi trên đôi đầu gối, lại nhảy giật lùi, làm những động tác quay tít đến chóng mặt, vỗ rất mạnh, rất kêu hai bàn tay lên người mình. Cuối cùng, anh nhảy lên thềm, xô mạnh vào người Cáp-ta-nốp, đập mạnh chân đến nỗi như muốn làm sập cả thềm, hét lên một tiếng, chống hai tay vào mép thềm, chổng chân lên trời, đập hai gót giày vào nhau tiếng kêu như súng nổ, rồi lộn qua đầu đứng thẳng hai chân xuống đất như bị chôn chặt vào sân. Anh hít mạnh vào hai ba lần, sửa chiếc thắt lưng bị sổ tung ra, nhìn tất cả mọi người, và nói:

- Nhảy mà không có nhạc thì ra cái gì? Cũng như xúp không có thịt. Có thể ăn được, nhưng chẳng ngon lành gì cả.

Và đi qua đám đông im lặng đứng giãn ra lấy đường, anh khuất vào sau cửa hàng.

- Hừ, thằng quỷ con! - Cáp-ta-nốp thốt lên thán phục.

Nửa năm sau, hắn lấy Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin làm quản lý cửa hàng, nơi anh đã nhảy điệu Di-gan cho hắn xem, sau chuyển anh về San-ta-ra, trả cho anh một số tiền công cao hơn nhiều so với những người quản lý khác, và điều này không làm cho ai ngạc nhiên. - Và cũng không ai ngạc nhiên khi hắn cho anh thanh niên trai trẻ này làm người «quản trại» cho hắn ở mạch nước ngầm Ô-gơ-nhép-xki. Khi chiến tranh bắt đầu, nhiều người nói:

- Ai không biết chứ Pô-li-các-pơ, thằng cưng của Cáp-ta-nốp, sẽ được lão ta chạy cho khỏi phải đi lính.

- Chứ còn sao nữa... Lão ta sẽ biến hắn thành con chó... Nhất định thế...

Và vì vậy mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin cũng bị gọi ra trận cùng với những người khác.

Nhưng khác với mọi người, không ai khóc tiễn đưa anh đi. Tạm biệt mẹ, anh đi đến San-ta-ra không phải một mình, mà là với cô con gái của ông giáo già ở San-ta-ra Cu-li-tsen-cô, tên là A-na-xta-xi-a. Cô rất gầy, mảnh dẻ, cặp mắt to tròn như hai đồng xu lớn, đôi bím tóc dài nặng.

- Mẹ ơi, đây là A-na-xta-xi-a, - anh nói với mẹ. - Nếu như con còn sống trở về, chúng con sẽ tổ chức cưới ngay. Bố mẹ của A-na-xta-xi-a là những người tốt và cũng đã đồng ý. Còn A-na-xta-xi-a sẽ chờ đợi con. Em có đợi không?

- Anh Pô-li-các-pơ, em sẽ đợi anh cho đến già, - cô gái nói, rơm rớm nước mắt.

- Nào! - Pô-li-các-pơ nhăn mặt lại. - Đừng thế. Ta đã nói với nhau rồi mà.

Buổi chiều ngày hôm đó, Cru-gi-lin và cô con gái người giáo viên già Cu-li-tsen-cô đi khỏi làng Mi-khai-lốp-ca, và bây giờ bà A-ri-na thường đến nhà cô ở San-ta-ra để đọc thư con trai.

Nhưng rồi nửa năm nay cả Pô-li-các-pơ cũng không viết thư về nữa. A-ri-na hầu như tuần nào cũng đi đến San-ta-ra, nhưng trở về với dáng điệu mệt mỏi, rầu rĩ. Như vậy là cả cô con gái mắt to của ông giáo già Cu-li-tsen-cô cũng không nhận được thư của Pô-li-các-pơ.

Rồi bỗng nhiên một hôm Pô-li-các-pơ xuất hiện ở Mi-khai-lốp-ca.

Anh về vào lúc quá trưa, đi nhờ một chiếc xe cùng đường. Người gầy, đen, tóc cắt ngắn, mặc chiếc áo ca-pốt đã mòn rách hết các mép, một cánh tay bó băng đến tận khuỷu treo lên cổ bằng chiếc khăn hoa đội đầu. Khăn có lẽ là của A-na-xta-xi-a Cu-li-tsen-cô và chính cô cũng về theo anh, đỡ anh xuống xe, rồi chạy bổ vào nhà đón A-ri-na Cru-gi-li-na. Bà vừa chạy vừa vấp từ trong nhà ra, chân như sắp khuỵu xuống, ngã lăn ra đất, nhưng A-na-xta-xi-a đã kịp đỡ lấy.

- Con ơi! Con... Con đã về... - A-ri-na nức nở.

- Anh ấy đã về đây, mẹ! Anh ấy đã về đây... Không sao đâu mẹ ạ, tay chỉ bị nhẹ, sẽ khỏi ngay! - A-na-xta-xi-a kêu lên qua những giọt nước mắt sung sướng.

Nửa giờ sau, căn nhà chật hẹp của Cru-gi-lin đã chật cứng người. Các ông già trịnh trọng ngồi trên các tấm phản kê làm ghế, lũ trẻ chen chúc đứng trước cửa, từ ngoài đường, người vẫn tiếp tục vào - anh lính đầu tiên ở ngoài mặt trận về làng Mi-khai-lốp-ca mà! Mọi người vào nhà, làm dấu trước bức tượng thánh ám khói đặt trong góc nhà, chào hỏi, rồi vừa tò mò, vừa nể sợ nhìn Pô-li-các-pơ...

* * *

Từ rửng tai-ga trở về nhà theo lời nhắn gọi của Đê-mi-an I-nhi-u-chin, nửa đêm Phê-đô mới tắm rửa sạch sẽ xong, anh uống gần hết cả chai rượu ngang, nằm xuống giường và ngủ một mạch cho đến tận trưa ngày hôm sau.

Ngủ dậy, Phê-đô uống nốt chỗ rượu còn lại ngày hôm qua, đến bên cửa sổ và trông thấy An-na Cáp-ta-nô-va đang từ cuối đường đi lại. An-na dắt tay đứa em Ma-ca ba tuổi. Đứa bé làm nũng, khóc thút thít, cô gái dừng lại và nói với em một câu gì đó.

Tay vân vê mấy sợi ria thưa trên mép, Phê-đô nhìn An-na đang đi đến và nhớ lại trước đây, đã lâu lắm, khi còn làm người trông trại ở mạch nước ngầm Ô-gơ-nhép-xki, trong đầu anh đã bắt đầu quanh quẩn một ý nghĩ hãy còn chưa rõ nét lắm: giá được Mi-khai-in Lu-kích Cáp-ta-nốp đem cô con gái An-na gả cho anh. Sau chuyện An-tôn, những ý nghĩ đó tan biến như làn khói và không bao giờ trở lại, không làm cho anh bận tâm nữa; hơn nữa An-na có triển vọng lớn lên thành một cô gái không cân đối, ngực lép. «Thực là phí của giời, ăn tốn bao nhiêu cơm gạo, - Phê-đô mỉa mai nghĩ thầm trong bụng mỗi lúc tình cờ gặp cô ngoài phố. - Có thể đặt cô ta vào hàng rào thay mấy tấm ván được…»

Trong mấy năm gần đây, Phê-đô cũng chú ý tới tình bạn khăng khít giữa I-van, em trai của mình, với An-na. Thỉnh thoảng anh lại trêu:

- Người ta bảo trong làng này xuất hiện mấy cây si - mày và Ki-ri-an I-nhi-u-chin - phải không? Thằng kia cũng lăng xăng quanh con An-phi-xa như gà trông choai.

I-van đỏ mặt, sừng sộ :

- Anh đi đi... Cứ nói nhảm.

Nhưng khi Cáp-ta-nốp lấy I-van về làm người coi ngựa, trong lòng Phê-đô bắt đầu lo lắng, anh cảm thấy cáu kỉnh với cả chính mình. Thỉnh thoảng, ngoài cả ý muốn, anh lại nghĩ: «Không thể có chuyện gì giữa An-na và I-van được... Nhưng dù sao, biết đâu đấy? Lão Cáp-ta-nốp này điên lắm. Biết đâu bỗng lại... Mà An-na có xấu xí đi nữa... thì sắc đẹp để làm gì, có mài nó ra ăn được đâu? Vợ của lão Cáp-ta-nốp đấy, cũng có khác gì một que củi khô, mà lão ta có sao đâu... Cái ông tướng An-tôn này làm mình hỏng hết việc, ma quỷ nào lúc đó dẫn ông tướng đến trại không biết...»

Mùa xuân năm nay Phê-đô bỗng quyết định: «Cần phải thử với An-na. Nếu như xong, thì Cáp-ta-nốp có gặm nát cùi tay của mình cũng phải chịu, lúc đó làm gì được nữa? Còn nếu như không được gì, lúc đó mình sẽ tung tin bêu xấu. Mình đâu có quên việc con rắn độc này bóp cổ mình... Mình sẽ không bao giờ quên cả».

Quyết định của Phê-đô về việc An-na không phải nảy sinh ra một cách bỗng nhiên và không có cơ sở. Anh lớn lên thành một thanh niên đẹp trai, cân đối, và anh biết rõ điều này. Đã từ lâu, những cô gái làng liếc nhìn anh với vẻ vừa tò mò, vừa sợ hãi. Và cô con gái của ông Cáp-ta-nốp cũng đã bắt đầu ném sang anh những cái nhìn vừa ngượng nghịu, vừa tò mò như thế. Anh nhận thấy ngay điều đó và những lúc tình cờ gặp nhau, anh nheo mắt, im lặng nhìn cô từ đầu đến chân. An-na vội vã chạy trốn khỏi cặp mắt của anh.

Vừa nhớ lại tất cả những điều đó, Phê-đô vừa nhìn An-na đang đi đến gần. Rồi anh đứng dậy, bước ra sân, nép vào bóng râm cạnh tường để An-na không trông thấy anh ngay. An-na chậm chạp đi theo con đường làng, thỉnh thoảng lại vô tình nhìn về phía ngôi nhà của gia đình Xa-vê-li-ép. «Tìm I-van à?» - Phê-đô khó chịu nghĩ.

- I-van đi vào rừng từ sáng rồi, - anh lên tiếng và bước ra khỏi chỗ khuất.

Trông thấy Phê-đô, An-na ép chặt đôi cùi tay nhọn lên trước ngực, cặp lông mày khẽ rướn cong lên. Cô đứng bất động, nghiêm khắc nhìn Phê-đô.

- Còn em, An-na ạ, đừng héo hon nhiều vì hắn thế, - Phê-đô mỉm cười, nói. - Ở trong rừng tai-ga, anh cũng nghĩ về em suốt... Em có một mình, hai anh em làm sao mà chia bây giờ?..

Đôi tay cô buông thõng xuống dọc thân, cô vội vàng hít mạnh không khí, như sắp khóc nức lên, bế xốc lấy thằng bé Ma-ca, rồi chạy biến vào một ngõ nhỏ bên cạnh.

Cô chạy rất nhanh, không ngoái lại, vạt váy dài màu xanh quấn tròn quanh bắp chân.

Vừa đưa mắt nhìn theo An-na, Phê-đô vừa nghĩ cách làm thế nào và ở đâu để gặp được An-na, chỉ riêng hai người với nhau.

Chiều đến, trên đường đi tới nhà hương trưởng, anh bỗng nghe có tiếng gọi:

- Phê-đô Xa-vê-li-ép đây à?

Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin đang đứng sau hàng rào bằng cọc gỗ thấp. Phê-đô đã nghe mẹ nói rằng Pô-li-các-pơ vừa mới từ ngoài mặt trận về hôm trước, nhưng mấy giây đầu không nhận ra anh ta ngay. Mái tóc đen bướng bỉnh bị cắt ngắn, mắt trũng sâu, đôi lưỡng quyền nhô cao. Người anh vốn không cao lắm, nhưng giờ sạm đen, gầy xọp đi, mặc chiếc áo lính màu xanh bạc thếch, trông dài ngoẵng, xa lạ.

TGVC (9)

Pô-li-các-pơ nhìn Phê-đô không chớp mắt, và không hiểu sao, Phê-đô nhớ lại lời của Cáp-ta-nốp nói một lần đã khá lâu: «Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin tắm hơi nóng khá lắm... Đuổi nó đi cũng tiếc, nhưng trong mắt nó bắt đầu xuất hiện một cái gì như dao cứa. Bình thường thì không sao, nhưng đôi lúc hắn nhìn -Và người mình cảm thấy như bị cắt làm đôi...» Anh nhớ một cách rõ ràng, rành rọt, dường như mới nghe hôm qua. Bỗng nhiên, Phê-đô tưởng như mình cũng cảm thấy cái ánh mắt sắc như dao cứa ấy. Và anh còn cảm thấy Pô-li-các-pơ rất giống một người nào đó cũng có cái ánh mắt nhìn chăm chú, sỗ sàng xuyên sâu, xoi mói trong lòng người khác. Anh nghĩ một lúc và đoán ra giống người anh cả của mình, An-tôn.

- Vào đây chơi, Phê-đô, - Pô-li-các-pơ mở rộng cổng vườn, mời.

Phê-đô bước vào. Một chiếc bàn gỗ đặt dưới gốc cây bạch dương già. Trên bàn, chiếc ấm xa-mô-va đánh bóng loáng, một cô gái mắt to, bím tóc dài, đang thu dọn cốc chén.

- Em A-na-xta-xi-a, đây là Phê-đô Xa-vê-li-ép, - Cru-gi-lin nói với cô gái. - Anh ta cũng suốt đời còng lưng làm cho lão Cáp-ta-nốp. Bây giờ ai làm chức «quản trại» cho lão ở trong đó?

- Tôi không biết. Tôi mới ở trong rừng tai-ga về hôm qua.

Cô gái mỉm cười với Phê-đô, rồi mang ấm xa-mô-va đi.

- Thế các anh ở trong rừng tai-ga như thế nào?

- Bình thường, vẫn làm.

- Các tay mu-gích ra sao?

- Cái gì ra sao?

- Họ nghĩ gì?

- Làm sao mà tôi biết được họ nghĩ gì? Nếu phải ăn bánh tồi, họ chửi rủa đủ thứ. Chửi Cáp-ta-nốp. Nhưng mu-gích nào? Ở đây chỉ toàn ông già và đàn bà.

- Mọi người nghĩ về chiến tranh như thế nào?

- Thế nào à? Không thế nào cả. Nhà ai có người bị bắt đi lính, thời gian đầu thường hay kêu khóc, sau rồi cũng thôi. Bây giờ chỉ cầu nguyện.

- Thế thôi?

- Thì còn gì nữa?

Pô-li-các-pơ im lặng, mắt nhìn về hướng khác, dáng tư lự. Những ngón tay gõ gõ nhẹ lên bàn.

- Thế đấy, Phê-đô ạ... Cuộc sống ở đây cứ như một bãi lầy nước đọng, không lối thoát. Ở đây chỉ có Cáp-ta-nốp là sướng.

- Ông ta thì ở đâu cũng chẳng khổ. Lắm tiền mà.

- Thế à? - Pô-li-các-pơ vụt quay sang nhìn Phê-đô. - Biết nói thế nào...

Phê-đô muốn hỏi tại sao ở chỗ khác Cáp-ta-nốp lại có thể không sung sướng, nhưng anh không dám.

- Có tin gì về ông anh cả An-tôn không? - Pô-li-các-pơ hỏi.

- Không.

Mặt trời đã xuống khuất sau dãy Dve-nhi-gô-ra, như chui tọt vào một lỗ hổng trong lòng đất ở ngay sát chân núi, những tia nắng giờ lại từ sau núi đá chiếu ngược lên trời. Một ngọn gió nhẹ thổi về, trời chiều hơi lành lạnh, cây bạch dương già xạc xào tán lá héo khô, đầy bụi.

- Anh lại làm cho Cáp-ta-nốp à? - Phê-đô hỏi.

- Chẳng lẽ bây giờ hắn lại cho tôi làm à? - Pô-li-các-pơ cười khẩy. Và im lặng một lát, anh tiếp: - Mà tôi cũng không thiết lắm. Thế nào rồi cũng có việc làm. - Thế còn ở ngoài đó, ở ngoài mặt trận ấy, ra sao?

- Quan tâm à?

- Người ta bảo, có thể sắp tới tôi cũng bị gọi đi.

-Cậu ấy à? - Pô-li-các-pơ nheo nheo mắt, im lặng một lát. -Chắc gì người ta đã gọi cậu bây giờ. Không kịp.

- Tại sao? Sắp kết thúc rồi à ?

- Sắp kết thúc rồi. Xem tình hình thì biết, - Cru-gi-lin gật đầu.

Phê-đô bước ra khỏi nhà Cru-gi-lin, người như co rúm lại, cảm thấy ánh mắt sắc nhọn của anh ta đang nhìn theo. Anh vừa đi vừa nghĩ, rằng cái «như dao cứa» quả thật là có trong cặp mắt của Pô-li-các-pơ, rằng trong suốt thời gian anh ngồi bên bàn, Cru-gi-lin cứ nhìn anh như muốn lột trần, muốn nhìn xuyên qua người anh.

... Sau đó, đáng lẽ phải đến nhà hương trưởng, Phê-đô ngồi rất lâu, cho tận lúc trời tối hẳn, trong bãi rừng thưa dưới gốc một cây thông già xơ xác, nhìn những ngọn núi đá trên dãy Dve-nhi-gô-ra mỗi lúc một trở nên đen thẫm, chìm dần vào bóng tối đang tràn đến.

Một ngọn gió nhẹ bay lang thang đâu trên cao, khẽ lay động cây thông già gần như đã khô chết hẳn và ngọn cây thông xào xạc khe khẽ, buồn bã, dường như đang than thở về bóng đêm, về sự già nua và cô đơn của mình. Mấy con quạ, không hiểu sao, cứ bay vòng mãi trên ngọn thông.

Cái ý nghĩ rằng bây giờ phải đi đến gặp Đê-mi-an I-nhi-u-chin, phải thấy bộ râu cáo, cặp mắt tròn không màu, lỗ miệng lông lá, và cũng tròn như vành móng ngựa của hắn, làm cho Phê-đô khó chịu, kinh tởm. Nhưng cuối cùng anh cũng đứng dậy, bước đi. Trên đầu, gió thổi tan những đám mây nhẹ ra bốn phía, và bầu trời hiện ra từng mảng sao lung linh như những bãi cỏ nhỏ với những chấm hoa vàng trên đồng nội.

Trong làng không đâu có ánh lửa, - từ khi chiến tranh bắt đầu, dầu hỏa trở nên rất hiếm. Chỉ có trong cửa hiệu và trong nhà Cáp-ta-nốp, sau một cửa sổ tầng hai, là có ánh đèn. «Phòng của ai đây nhỉ? của An-na à?» - Phê-đô nghĩ, để khỏi phải nhớ đến lão Đê-mi-an I-nhi-u-chin cụt chân.

Và anh đi về phía ánh đèn, mặc dù đáng ra cần phải đi theo hướng ngược lại.

Chừng mười phút Phê-đô đi lang thang quanh khu nhà Cáp-ta-nốp, đứng cạnh hàng rào gỗ, nhìn lên cửa sổ có ánh đèn. Bây giờ anh biết rằng đấy là cửa sổ phòng An-na: đã hai, ba lần anh thấy bóng cô in trên tường, rồi sau đó chính cô đi đến bên cửa sổ, kéo tấm màn che bằng vải hoa sang một bên. Phê-đô, tự mình cũng không ý thức được mình đang làm gì, nhảy qua hàng rào gỗ, chạy đến tận chân tường, nhặt một hòn đất pha cát, bẻ đôi, ném lên cửa sổ. Tiếng mặt kính rung lên khe khẽ, bóng người lướt qua cửa sổ, và ánh đèn tắt phụt. Phê-đô lại ném thêm một nắm cát nữa. Rồi anh đứng yên lắng nghe, chờ đợi một cái gì đó. Nhưng anh không nghe thấy gì cả, hoàn toàn không nghe thấy gì cả, chỉ có tiếng chó sủa rộ lên ở cuối làng. Rồi, chậm chạp, anh qua sân nhà Cáp-ta- nốp.

Vườn rất rộng. Ngôi nhà đứng ở một chỗ xa, tận sát bìa làng, cửa sổ nhìn thẳng vào làng. Hai bên phải và bên trái trước đây là những bãi đất hoang, nhưng sau những người trong làng cày lên để trồng rau, còn phía sau nhà, cách chừng trăm rưỡi xa-gien, trong khoảng rừng thưa, là chuồng bò, chuồng ngựa, kho lúa, và nói chung, các thứ nhà kho, chuồng trại khác. Chỗ này để xây chuồng trại, quả là rất tiện. Ngay phía sau chuồng bò và chuồng ngựa là rừng, tuy không dày lắm. Những con đường nhỏ xuyên qua rừng chạy thẳng đến khu vườn nhà Cáp-ta-nốp. Khoảng giữa chuồng trại và nhà là vườn rau, vườn cây lưu niên, vườn cây quả dại. Mụ vợ đã quá cố của Cáp-ta-nốp rất thích các loại mứt quả, mùa hè năm nào cũng bắt người làm phát sạch những khoảng đất mọc đầy cây dại, đào hố trồng dã anh, phúc bồn tử, thanh lương trà, táo dại... Qua mấy năm đã có được một vườn cây tươi tốt. Sau khi vợ Cáp-ta-nốp chết đi, các vườn cây bắt đẩu bị bỏ quên, trở nên hoang dại. Ít lâu sau Cáp-ta-nốp ra lệnh chặt trụi một phần vườn cây hai bên nhà để dựng mấy dãy nhà kho dài. Trong khi làm nhà kho, hầu như cả phần vườn còn lại cũng bị giẫm nát, bây giờ chỉ trơ trọi mấy bụi cây đứng cô đơn côi cút.

«Thế cũng đòi là ông chủ! - Phê-đô giận dữ nghĩ về Cáp-ta-nốp. -Trước đây chỗ này đẹp biết bao nhiêu, và cái chính là nó mang lại bao nhiêu của! Người ta bảo chỉ riêng mứt đã nấu được hàng mấy chục pút, nào đũm hương, nào dã anh... Nêu không ăn hết thì đem bán đi. Còn nhà kho thì có thể xây ở sau dãy chuồng bò kia cũng được. Chỗ có phải thiếu đâu...»

Phê-đô tiếc cái vườn bị phá như của chính mình, nhưng anh không nhận thấy điều đó.

Phê-đô lại đứng bên thềm nhà. Trăng đã lên, chiếu sáng bậc thềm cao với hai hàng tay vịn, những cánh cửa gỗ dày với vòng khóa sắt. Đột nhiên vòng khóa sắt khẽ động đậy. Phê-đô lập tức nhảy sang bên, nép sau bụi dã anh. Tim anh đập mạnh, và không hiểu sao, anh tin rằng An-na sẽ đi ra...

Quả nhiên, cánh cửa hé mở và An-na bước ra. Cô vẫn mặc áo khoác ngoài và chiếc váy xanh như lúc ban chiều, chỉ có tóc để xõa, dường như cô vừa mới ngủ dậy, chỉ mặc áo, còn tóc chưa kịp chải.

Cử chỉ của cô hơi kỳ quặc. Đầu tiên, cô ló đầu ra khỏi cửa, lắng nghe một cái gì đó. Rồi cô bước ra thềm, đứng tựa lưng vào tường, người thẳng căng như một sợi dây đàn. Cô thở gấp, dường như trong ngực không đủ không khí.

Ngập ngừng một lát, cô bước ra cửa vườn, dừng lại, nhìn dọc theo hàng rào gỗ về phía con đường vắng khuất trong bóng tối. Khi Phê-đô nhón chân, thận trọng bước lại gần, anh nghe thấy cô đang hát, rất khẽ:

Cành anh đào lắc lư

Suốt đêm ngoài cửa sổ,

Còn em lòng tương tư

Đang đợi chờ ai đó...

Phê-đô thì thầm hỏi:

- Có phải đợi anh không?

- Ôi!

Giá như bị người nào lấy roi quất ngang lưng, chắc An-na cũng không quay lại nhanh như vậy.

-Gì mà em sợ thế? Đừng sợ.

- Đi đi.., - cô khẽ thốt lên, trượt lưng theo hàng rào gỗ, dường như muốn ngã nghiêng xuống đất.

Phê-đô không để cho cô ngã. Anh túm chặt lấy người cô, ép sát vào hàng rào, cảm thấy đôi đầu gối cô đang run lên bần bật. Rồi bàn tay anh từ vai cô luồn xuống dưới: và khi cảm thấy gò vú nhỏ của cô trong lòng bàn tay mình, anh liền bóp mạnh, còn tay kia ôm lấy cổ An-na, kéo đầu cô lại gần, hôn vào giữa đôi môi khô, nóng hổi. Trong lúc anh hôn, cô vùng vẫy, rên rỉ, nhưng rồi người bỗng trở nên mềm nhũn, im bặt. «Thế là xong», - Phê-đô thầm cười khẩy, bế xốc cô lên, mang qua thềm, qua mấy dãy nhà kho, đến một chỗ vắng vẻ, rậm rạp, trong lùm cây. Anh bế cô đi, mớ tóc dày nặng quấn lấy đầu gối anh. Hai tay An-na ôm lấy cổ anh, và không hiểu sao, cô cứ nhắc đi nhắc lại:

- Thế mà em nghĩ anh đi rồi.. Em cứ nghĩ là anh đi rồi...

Khi Phê-đô đặt cô xuống đất, cô nằm yên, không chống cự lại, chỉ nói bằng một giọng khe khẽ và hơi trầm ngâm:

- Anh muốn biến tôi thành đàn bà à? Nào, cứ làm đi. Nhưng nên nhớ rằng ngay đêm nay tôi sẽ thắt cổ tự tử. Như mẹ tôi ấy...

Và, lật nghiêng người lại, cô òa ra khóc nức nở, úp mặt xuống bãi cỏ ẩm, cay cay.

Cô nằm khóc, tóc sổ vương ra trên mặt đất, và những lời của cô làm Phê-đô hoảng sợ thật sự; anh liền nguội đi, nhìn cô và nghĩ: «Thắt cổ... Đúng, hệt như mẹ... Còn mình sau đó giơ đầu ra mà chịu. Rồi Cáp-ta-nốp không cần xét xử gì cả, sẽ rút ruột mình ra ngay. Không được…»

Trong ngực anh, tim đập thình thịch như người nhờ một phép lạ nào đó vừa qua được một cơn nguy hiểm chết người. «Không được, mình sẽ không làm thế... Không cần thế, bây giờ cũng không chạy đi đâu được nữa rồi. Đấy, nếu như mọi việc sẽ xong xuôi theo ý nguyện của cả hai, lúc đó thì ông thử làm gì tôi xem, ông Mi-khai-in Lu-kích ạ...»

An-na ngổi nhổm dậy, bò sang một bên, ra xa, vào sau bụi cây.

-Anh đi đi! - cô hét lên, đôi mắt ướt lấp lánh. - Anh đến đây để làm gì? Muốn làm nhục tôi à?

- Không đâu, An-na ạ. Anh đến với ý định tốt đẹp.

- Nói láo! Nói láo!

- Nếu với dụng ý xấu, thì anh nghe những lời của em để làm gì? Anh đã... - Phê-đô dừng lại, ngồi im một lúc, tay ôm gối, đầu cúi xuống. - Thôi được, anh đi đây. - Và anh đứng dậy. - Có thể chúng ta lại gặp nhau ở một nơi nào đó nữa? Bao giờ? Nào, em nói đi... Quyền của em đấy, An-na...

Anh đứng đợi một lúc. An-na vẫn im lặng. Phê-đô bèn chậm chạp bỏ đi.

- Khoan đã... - cô khẽ thì thầm. Anh dừng lại. An-na lại thì thầm, còn khẽ hơn, như làn gió thoảng: - Anh ngồi xuống...

Và khi Phê-đô đã ngồi xuống chỗ cũ, cô nấc lên nghẹn ngào như bị người nào bóp lấy ngang cổ, lảo đảo bước đến bên Phê-đô, ngã vào lòng anh, nức nở!

- Tôi là con ngu, con ngu! Trời ơi, tôi là con ngu ngốc trơ trẽn!

Phê-đô đưa bàn tay vuốt ve lên đôi vai nhọn của cô và mỉm cười.

An-na và Phê-đô ngồi rất lâu, gần một tiếng đồng hồ, trong góc vắng vẻ của khu vườn cũ giờ mọc đầy những cây ngưu bàng và loài tầm ma đụng vào bỏng rộp da. Họ ngồi, không nói gì thêm. Phê-đô vẫn vuốt ve đôi vai gầy của An-na, cô dần dần bình tĩnh lại, nằm im như một đứa bé.

- Em không tin rằng anh... đến với em với ý định tốt. Đấy, xung quanh bao nhiêu là con gái... đẹp, - cô lên tiếng.

- Con gái thì nhiều. Nhưng anh chỉ muốn đến với em... Còn I-van với em thì sao? Làm thế nào bây giờ? Anh không chịu nhường đâu...

- I-van thì sao? I-van là cái gì? - An-na thốt lên hai lần.

Trăng đã lên cao, Phê-đô chợt nhớ ra là Đê-mi-an I-nhi-u-chin đang chờ anh.

- Không phải em, mà là anh không tin, An-na ạ, - Phê-đô nói.

- Không tin cái gì?

- Không tin vào... những chuyện sau này. Chúng ta thì tìm đến với nhau, nhưng đâu có được môn đăng hộ đối. Đời nào cha em lại chịu gả con gái cho... thằng đi làm thuê của mình?

- Em sẽ chẳng cần sự đồng ý của cha lắm đâu... nếu như...

Phê-đô không thích câu trả lời của cô. Hoàn toàn không thích. Anh nói:

- Không, như vậy không được đâu. Chúng ta chứ có phải cái bọn vô đạo nào mà không cần sự đồng ý và ban phúc của cha mẹ?

- Rồi sẽ đồng ý thôi. Trốn đi đâu được!

Có thế chứ, như vậy là đã khá hơn...

* * *

Thấy Phê-đô đến, Đê-mi-an I-nhi-u-chin gầm gừ ra vẻ không bằng lòng.

- Tao đã nghĩ hôm nay mày sẽ không đến. Xem kìa, sắp hết đêm rồi còn gì. Vẫn chạy theo lũ con gái đấy à?

- Thì tôi còn làm gì nữa? Chẳng lẽ cấm à?

- Hê-hê, đúng đấy. Ở đây có một con bé khá lắm... con gái mụ góa A-na-xta-xi-a...

- Con An-phi-xa ấy à?

- Nó đấy.

- Còn non lắm.

- Ấy - ấy, cái bọn non ấy mà ngọt, sướng hơn bọn đã chín đấy. Mày không biết à?

- Chưa thử, - Phê-đô ngồi xuống cạnh bàn.

- Thì thử đi.

- Tự ông đi mà thử lấy.

- Tự tao thì đã có râu rồi. Mà râu càng dài thì cái thử càng ngắn...

Hai người nói bằng một giọng đùa cợt, và Phê-đô không hề để ý đến ý của Đê-mi-an trong câu chuyện. Chiếc chân gỗ của I-nhi-u-chin nằm lăn lóc cạnh giường, hắn nhảy lò cò trên đôi nạng gỗ, chiếc ống quần không lủng lẳng kéo lê trên sàn. Hắn nhảy đến bên chiếc áo treo trên tường, rút ra một chiếc ví, lục tìm một lúc.

- Cầm lấy, - I-nhi-u-chin nói, ném bốn tờ giấy bạc mười rúp lên bàn. - Cho mày đấy.

- Cái... cái gì thế này? - Phê-đô ngơ ngác hết đưa mắt nhìn mấy tờ giấy bạc trên bàn đến hố miệng vàng khè lông lá của Đê-mi-an I-nhi-u-chin, rồi lại nhìn xuống bàn. - Cái gì mà nhiều thế này?

- Vì cái việc mà hôm nay tao gọi mày từ trong rừng về ấy. Đây mới chỉ một phần. Làm xong, tao sẽ cho chừng ấy nữa.

Những ngón tay của Phê-đô run run. Anh đã thò tay định cầm lấy tiền, nhưng vội rụt lại. Trong đầu anh có một cái gì - không hẳn nóng mà cũng không hẳn lạnh - quay cuồng.

- Nhưng tôi cần phải làm cái gì đây? - anh khàn khàn hỏi.

- Cái thằng! - I-nhi-u-chin cau có, cáu kỉnh, lắc đầu, - Tao đã nói với mày rồi đấy. Về chuyện con An-phi-xa...

- An-phi-xa sao? - Phê-đô ngơ ngác, đờ đẫn nhìn I-nhi-u-chin chằm chằm.

- Tao đã bảo là phải thử nó, cho nó hỏng đi. Cái đồ đầu gỗ ngu ngốc này, - I-nhi-u-chin đã bình tĩnh lại nói, hắn ngồi xuống bàn phía đầu đằng kia.

Phê-đô bắt đầu chậm chạp đứng dậy. Anh đứng lên một cách nặng nề, hai tay chống lên bàn, cảm thấy từng đợt sóng dâng lên trong ngực - không hẳn là máu nóng, cũng không hẳn là một cái gì đó không rõ.

- Ông... ông có điên không đấy? Con bé ấy... nó... còn trẻ con, không... - Phê-đô không chỉ cảm thấy hoảng sợ! - một sự phẫn nộ và kinh tởm đối với lão I-nhi-u-chin một chân chợt dâng lên trong người anh.

- Nó còn trẻ con, mà vú đã chật căng cả áo ra rồi.

- Dù sao... nó vẫn chưa đầy mười bốn tuổi.

- Vào tuổi mười lăm từ lâu rồi. Mẹ nó bảo thế.

- Dù sao cũng không thể, - Phê-đô bướng bỉnh nhắc lại. - Cứ để cho nó lớn lên đã. Lúc đó...

- Không phải lúc đó, mà ngay bây giờ... Ngay bây giờ, hiểu chưa? - I-nhi-u-chin rít lên: Đôi nạng hắn để cạnh đầu gối gõ lọc cọc lên sàn nhà. - Ngồi xuống! Ngồi xuống, tao bảo mày! - Hắn hét lên, cặp mắt tròn nhưng nhỏ tí, như hạt đậu, long lên...

Đôi chân của Phê-đô như tự mình khuỵu xuống, anh ngồi xuống và cảm thấy mồ hôi túa ra trên trán, bèn đưa lòng bàn tay lên lau.

- Đồ ngu, - I-nhi-u-chin nói và nhặt mấy tờ giấy bạc trên bàn lên, nhảy một chân đi quanh bàn đến bên Phê-đô, nhét những đồng rúp đã nhàu nát vào ngực áo anh. - Tao trả công cho mày để làm gì? Ba rúp một tháng để làm gì?

- Nhưng không phải làm việc này.

- Tao biết rồi. Vì vậy mới trả thêm đặc biệt cho mày đây.

Phê-đô cúi đầu im lặng. Và Đê-mi-an I-nhi-u-chin cũng im lặng, lạnh lùng và khinh bỉ nhìn Phê-đô, mím chặt đôi môi khô, mỏng dính.

- Không, tôi không thể... ông để cho tôi thôi việc này, - Phê-đô khẽ nói.

Nhưng I-nhi-u-chin chỉ cười nhạt.

- Chúng ta đừng cãi nhau làm gì, Phê-đô ạ. Tao đối với mày như vậy là còn hơn cha ruột. Nếu chửi nhau rồi mỗi người mỗi ngả - hỏi được ích gì? Nếu tao ở một nơi nào đó nói lộ ra với mọi người rằng vì sao mày nhận ba rúp một tháng của tao, thì lúc đó sẽ ra sao nào?

Trong ngực, trong đầu Phê-đô lại nghe như có một luồng sóng nóng chạy qua. Anh đỏ bừng mặt lên, dường như bốc lửa thật sự, đứng vụt dậy khỏi chỗ ngồi, bước đến bên I-nhi-u-chin, giơ đôi cánh tay run run lên phía trước:

- Lúc đó? - anh nặng nhọc, giận dữ thốt lên từng lời. - Lúc đó tôi sẽ bóp cái cổ nhão nhệu của ông bằng những ngón tay này này... Tôi sẽ túm lấy bằng hai tay này và xé đôi ra làm hai mảnh. Tôi sẽ vặt đầu ông ra như vặt một bông hoa hướng dương ra khỏi cây!

- Khe-khe-khe... - I-nhi-u-chin khẽ cười, hệt như tiếng chó sủa. - Mày làm tao sợ đấy.

Và tiếng cười đó, và bộ râu rung rung của lão hương trưởng làm cho Phê-đô nhụt hết khí thế, dập tắt cơn giận của anh. Hai cánh tay Phê-đô buông thõng xuống.

- Mày làm tao sợ quá! - I-nhi-u-chin nhắc lại. - Thì mày cứ việc bóp cổ đi - mày được lợi gì? Tao, nhờ Chúa, trên đời này sống thế cũng đã đủ rồi, thấy hết mọi chuyện rồi. Còn mày thì đi đày khổ sai. Gặp thằng anh cả của mày ở đó...

Phê-đô buông người xuống ghế, hiểu rằng không còn cách nào thoát khỏi tay lão già này cả.

- Hay là còn cuộc chiến tranh này nữa, - I-nhi-u-chin lại nói tiếp, như không có chuyện gì xảy ra. - Đấy, người ta sắp lấy mày ra trận – như thế mày được lợi gì? Cần phải nghĩ cách cho mày hoãn, nếu mày là người cần, có ích cho tao. Tao cũng đã nghe ngóng được ít nhiều ở trên quận, và còn đang nghĩ cách xem .

- Tôi phải làm gì, hiếp con An-phi-xa hay sao? Lúc đó các bà sẽ nguyền rủa tôi, các ông già sẽ đón đường đánh chết tôi ngay.

- Lạy Chúa, không thể như thế được, - I-nhi-u-chin nghiêm khắc nói. - Cái con bé ngu ngốc ấy sẽ tự mình nằm ra cho mày, tao biết. Tao đã có lần nghe nó nói về mày. Nó nói với thằng Ki-ri-an nhà tao. Chỉ có nó không thích bộ ria của mày.

Và lão già kể lại tất cả những gì nghe trộm được hôm đứng bên bờ giậu.

- Tôi hiểu là ông định bằng cách như vậy tách thằng Ki-ri-an nhà ông ra khỏi An-phi-xa chứ gì? - Phê-đô nói với nụ cười tuyệt vọng.

-Tao thích những thằng thông minh, sáng ý.

- Thế ông nhắm con bé nào cho Ki-ri-an?

- Đó là việc của tao, cậu hai ạ...

...Phê-đô lảo đảo buớc ra khỏi nhà lão hương trưởng. Đêm sáng trời, những đám mây đen che kín bầu trời đầu hôm giờ không còn để lại một dấu vết nào. Từ trên bầu trời cao rắc đầy những ngôi sao lóng lánh dường như có một tiếng vang mơ hồ, rất khẽ vọng xuống. Mà cũng có thể, tiếng vang đó ở ngay trong đầu anh.

Về tới nhà, Phê-đô đi đến cạnh đống gỗ còn lại sau mùa đông. Hôm qua anh mua của một bà già nấu rượu ngang nổi tiếng khắp làng hai chai, một chai giấu vào trong đống củi để dành. Bây giờ anh lôi chai rượu ra, dùng răng mở nút chai bằng giẻ, ngước đầu ra sau, nhắm mắt, hút một lúc lâu. Hút đến một nửa, Phê-đô nặng nề ngã vật xuống đống củi. Nằm nghỉ một lúc, anh vừa thở ngắt quãng, vừa uống nốt chỗ còn lại, rồi ném chai đi...

Anh nằm rất lâu, không dám mở mắt, nghe tiếng vang trong đầu, thấy những vòng đen, xanh quay tròn trước mặt, như những xoáy nước nặng nề quay, đào những phễu tròn khủng khiếp trong các đầm sâu không đáy trên sông Grô-mô-tu-kha. Nếu như quăng một mẩu gỗ vào xoáy nước đó, nó sẽ bị quay tròn, rồi hoặc là bị văng ra bên rìa xoáy nước, được dòng nước cuốn xuôi theo dòng, hoặc là nó sẽ bị cuốn ngay vào trung tâm phễu nước, và mẩu gỗ sẽ chìm xuống, biến mất trong lòng sâu tối tăm, lạnh lẽo, vô định. Phê-đô bỗng có cảm tưởng rằng chính mình là mẩu gỗ nhỏ đó, và anh đang bị một sức mạnh nào đó cuốn mang theo vào vòng nước xoáy.

Anh rên rỉ và khó nhọc, dồn hết sức lực, mở cặp mắt nặng trịch ra. Nhưng trước mắt vẫn những vòng tròn đen xanh ấy quay tít. Bây giờ chúng lại được bao quanh trong những tia sáng rực rỡ. Và anh vẫn cảm thấy mình như một mẩu gỗ bị ném, đang bay vào xoáy nước khủng khiếp trên vực sâu, và ngay bây giờ, anh sẽ chạm mặt nước, sẽ bị một sức mạnh khó hiểu, vô hình quay tít. «Chỉ có điều, không biết mình sẽ rơi vào xoáy nước, vào cái hố sâu đen ngòm ấy, hay bị văng ra ngoài?» - một ý nghĩ thoáng qua trong đầu.

Rồi trong đầu anh như có một cái gì chảy loang ra, hơi rượu làm mờ cả ý thức, và anh thiếp ngủ...

* * *

Vào những ngày cuối cùng của năm 1941, ở San-ta-ra trời lạnh khủng khiếp, nhưng sang đầu tháng Giêng, thời tiết bắt đầu ấm hơn.

Anh công an A-nhi-cây Ê-li-da-rốp cùng với chuyến tàu hàng đêm đang trên đường về thị trấn từ làng An-đrây-ép-ca, ở tận nơi cuối cùng hẻo lánh nhất của huyện, nơi có cửa hàng bách hóa vừa bị mất trộm. Anh bị lạnh cóng cả người, nên tàu vừa mới dừng lại, đã vội chạy vào nhà ga.

Gian phòng đợi nhỏ bé hầu như không có người. Trong góc phòng, một chiếc lò sưỏi tròn, cao đang cháy rừng rực, khét lẹt. Một cô gái mặc áo bành-tô mỏng đã cũ sờn nằm khoanh người ngủ trên chiếc ghế dài đặt cạnh lò sưởi. Mái tóc dài của cô từ trên ghế buông xuống gần chạm sàn đất, đôi má ửng hồng lên vì hơi ấm, nước miếng chảy ra từ trong khóe miệng của đôi môi khô nẻ của cô. Có lẽ cô ngủ đã lâu và rất say.

Khi đã sưởi ấm người lại, Ê-li-da-rốp bước đến cạnh cô gái, túm lấy vai lắc. Cô không tỉnh dậy ngay, nhưng khi mở mắt, vội vã đứng lên, nhét tóc vào dưới khăn, rồi sợ hãi ngồi ép sát vào tận góc chiếc ghế dài, kéo vạt áo bành-tô che kín đôi chân đi tất đã rách mấy chỗ.

- Đề nghị cho xem giấy tờ, - Ê-li-da-rốp nghiêm giọng nói.

- Tôi không có giấy tờ nào cả. Bị cháy hết rồi... ở trong toa ấy.

- Trong toa nào? Cô là ai? Đi đâu?

- Chẳng đi đâu cả. Hãy để cho tôi yên!

Cô gái còn trẻ và xinh đẹp. Đôi mắt to, cũng đen như mái tóc, rưng rưng nước mắt, ánh lên những tia hằn học.

- Gì mà tôi suốt ngày cứ phải giải thích tôi là ai và đi đâu?! Tôi đã phải nói ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ. Lại ở một đồn công an mới đây… Mà có ai tin tôi đâu! Tôi đang đi xin việc. Mà không có giấy tờ người ta không nhận...

Ê-li-da-rốp chớp chớp hàng mi dài, đưa tay xoa chiếc mũi to tướng còn đỏ hồng vì lạnh.

- Hừm... Còn tôi, có thể tôi sẽ giúp. Nếu tôi tin thì tôi sẽ giúp.

Những lời này làm cho cô gái dịu lại, những tia hằn học trong mắt cô liền tắt đi, và cô bỗng khóc lên nức nở, lấy tay quệt nước mắt trên má như trẻ con.

- Chú giúp cháu với, chú ơi, giúp cháu với! Cháu là Na-ta-sa... Na-ta-sa Mi-rô-nô-va... Cháu cùng với mẹ tản cư từ Mát-xcơ-va. Đi được một ngày, đoàn tàu của chúng cháu bị ném bom. Chú không thể hiểu nó khủng khiếp như thế nào đâu...

- Thế cô là dân tản cư?

- Nó khủng khiếp lắm!.. Nó... - nước mắt làm cô nghẹn ngào không nói được. - Ở một ga nhỏ, cháu chạy xuống toa cuối cùng, nơi những người già yếu, ốm đau nằm, rồi tàu chạy, cháu chưa kịp quay lại toa của mình. Thế rồi... rồi…

Cô gái thôi khóc, đôi mắt khô đi rất nhanh. Bây giờ trong mắt cô không còn gì cả - không còn cả sự thất vọng lẫn hằn học. Đôi mắt đen to của cô chỉ lạnh lùng, đờ đẫn, trông như hai hòn than đã nguội lạnh.

- Rồi sau đó... Đầu tiên là những tiếng nổ khủng khiếp, rồi sau đó không còn phân biệt được gì nữa. Tiếng nổ, khói lửa. Mặt đất như ngả nghiêng... Khi máy bay đi khỏi, cháu liền chạy về toa của mình ở sát ngay đầu máy, chỗ của cháu và mẹ cháu. Nhưng...

Cô gái lại khóc nấc lên. Hai ba người đàn bà hành khách đi tàu và một nông dân râu quai nón, vừa nằm ngủ trên các ghế trong phòng đợi, ngồi dậy và lo ngại nhìn Ê-li-da-rốp.

- Những nơi trước đây là toa của cháu, bây giờ không còn gì nữa cả... Chỉ có những thanh đường ray bị oằn cong và một hố bom sâu hoắm. Những toa khác ở bên cạnh còn nguyên, chỉ bị hất ra khỏi đường tàu, người ta kéo từ trong đó ra cả người còn sống lẫn người đã chết. Và đầu tàu cũng nằm đổ nghiêng dưới chân nền đường, bốc khói. Còn toa của cháu không còn nữa. Đó là toa tàu khách duy nhất của đoàn tàu và mọi người vẫn ganh tị với bọn cháu. Thế mà nó không còn nữa, chỉ còn lại một đống sắt cháy đen thui. Cả toa bị cháy trụi!

- Lạy đức Chúa Giê-su! - một người đàn bà thốt lên.

- Thế nghĩa là mẹ bị bom chết, - Ê-li-da-rốp nói. - Thế còn cha ở đâu? Ngoài mặt trận à?

Và lại có một điều gì khó hiểu xảy ra ở cô gái. Cô ngẩng phắt đầu lên, đôi môi mím chặt khinh bỉ, trong mắt lại ánh lên vẻ thù địch.

- Tôi không có cha, - cô nói khẽ nhưng rõ ràng.

- Chết rồi à?

- Chết rồi.

Ê-li-da-rốp nhìn cô gái một lần nữa, rồi cài cúc chiếc áo ca-pốt lại.

- Thôi, đi nào. Ê-li-da-rốp tốt bụng lắm. Anh ta sẽ nghĩ ra cách gì đó cho cô.

Đã quá nửa đêm. Trên nhà ga, bầu trời đen kịt, lạnh lẽo. Đây đó, trong làn sương giá buốt, thấp thoáng những ánh lửa màu sữa đục nhợt nhạt. Thỉnh thoảng lại có tiếng tàu vào ga rú còi buồn bã.

Ê-li-da-rốp và Na-ta-sa Mi-rô-nô-va im lặng đi ngang qua mấy đoàn tàu hàng, về thị trấn San-ta-ra.

- Thế Ê-li-da-rốp là ai? - Na-ta-sa lên tiếng hỏi.

- Ê-li-da-rốp ấy à? Chú đây chính là Ê-li-da-rốp.

* * *

Na-ta-sa không đoán ngay được rằng Ê-li-da-rốp không đưa cô đến đồn công an, mà dẫn về nhà. Một người đàn bà to béo, thấp lùn, mặt hơi sưng phù, mặc chiếc áo ngủ nhàu nát, ra mở cửa, hoảng hốt nhìn cô gái chằm chằm.

- Cô bé mồ côi, dân tản cư, - Ê-li-da-rốp giải thích ngắn gọn. - Còn đây là vợ chú, Nhi-na.

- Anh mang nó về làm gì? - Nhi-na giận dữ hỏi.

- Tôi không cần phải xin phép cô. Cần phải kiếm cho nó một chỗ ở đâu đó. Người ta không nhận vào làm, vì không có giấy tờ gì cả.

- Bây giờ nhiều người không có việc làm, không có giấy tờ.

- Đúng vậy. Còn việc của tôi là phải lo lắng cho mọi người. Cởi áo ngoài ra.

- Không... cháu đi đây, - cô gái nói, - Hoặc là đưa cháu đến đồn công an.

- Thế cháu nghĩ là đến đó tốt hơn à? Không sao, cởi áo ra. Cô Nhi-na này, cũng như chú, tốt bụng lắm. - Và Ê-li-da-rốp gần như dùng sức cởi chiếc áo bành tô trên người Na-ta-sa ra.

Cởi áo ngoài ra, cô gái nom thật thảm hại. Chiếc áo váy bằng vải len đắt tiền nhàu nát, vạt áo mấy chỗ bị cháy thủng, vai rách, cổ quàng chiếc khăn cũng nhàu nát, cáu bẩn, chân đi đôi ủng hỏng đế, tất dài cũng thủng mấy chỗ.

- Trời ơi, anh nhặt nó ở hố rác nào về vậy? - mụ vợ Ê-li-da-rốp kêu lên. - Người thối hoắc.

- Thối hoắc! - Na-ta-sa cũng giận dữ kêu to. -Tôi đã ba tháng nay không tắm, kể từ khi đi khỏi Mát-xcơ-va. Ông đưa tôi đến đây để làm gì? Thả cho tôi đi!

Cô túm lấy áo bành-tô của mình, chạy ra cửa. Nhưng cửa đã đóng chặt.

- Chúng tôi sẽ để cho cô đi, việc gì mà sợ, - Nhi-na bỗng dịu giọng nói. Mụ bước đến bên cửa, nhưng không mở ra, chỉ đưa mắt nhìn Na-ta-sa chằm chằm từ đầu đến chân. Còn cô gái bỗng nhiên xỉu xuống, đầu choáng váng, chóng mặt. Để khỏi ngã, cô tựa lưng vào tường, dửng dưng với tất cả, đứng nhìn mụ vợ Ê-li-da-rốp dọn thức ăn ra bàn, lục lọi trong hòm lấy ra mấy miếng giẻ nào đó.

- Anh ăn trước đi, - mụ nói với chồng. - Còn tôi đưa nó đi tắm. Nhà bên cạnh hôm nay hình như có đốt lò nhà tắm hơi, có thể còn nóng...

...Một giờ sau, Na-ta-sa lại trở về nhà Ê-li-da-rốp, ngồi xuýt xoa uống chè nóng, nghe ngây ngất vì đã được tắm rửa sạch sẽ, mặt đỏ ửng lên. Sau rất nhiều, rất nhiều ngày đêm, lần đầu tiên cô mới được ăn no, sưởi ấm, và giờ chỉ muốn ngủ, ngủ thật thỏa. Nhưng chủ nhà không chỉ cho cô chỗ nào có thể nằm xuống nghỉ. Cả hai người ngồi ở cuối bàn đằng kia và im lặng nhìn chằm chằm, không rời mắt khỏi người cô, như nhìn một vật mà họ định mua. Đôi mắt Ê-li-da-rốp đờ đẫn bởi một cốc rượu vốt-ca, còn mụ vợ chốc chốc không hiểu sao lại thở dài. «Thì cứ mặc cho họ nhìn, chỉ đừng có đuổi ra ngoài trời lạnh là được», - Na-ta-sa nghĩ thầm.

- Bây giờ kể đi, - Ê-li-da-rốp nói, khi cô uống xong chén nước.

- Kể gì? - cô gái giật mình. - Cháu đã kể hết rồi.

- Đừng nói dối, không lừa được Ê-li-da-rốp đâu. Tại sao không ở đâu nhận vào làm cả?

- Cháu nói rồi - không có giấy tờ.

- Cô gái xinh xắn ơi, - Ê-li-da-rốp đứng dậy, cười to. - Ở đất nước ta không ai bỏ mặc con người cho số phận một cách vô duyên cả đâu. Thế tức là ở đây phải có nguyên nhân. - Và nghiêm mặt lại, Ê-li-da-rốp hỏi khô khốc, ngắt quãng: - Trong gia đình... có ai... bị xử là kẻ thù của nhân dân?

Na-ta-sa đứng vụt dậy, màu hồng trên má cô dần dần biến mất.

- Ai? Cha à? - Giọng Ê-li-da-rốp tàn nhẫn, đầy hăm dọa.

- Vâng, cha, cha! - Và cô gái nức nở.

- Ta đã hiểu ngay khi còn ở ngoài ga mà, - Ê-li-da-rốp lau tay, nói.

- Nhưng cha tôi không có tội, hoàn toàn không có tội! - Na-ta-sa ngẩng khuôn mặt đẫm nước mắt giờ không còn vẻ xinh đẹp nữa, kêu lên.

- Nhưng tất cả những cái đó đều là thứ yếu.

Cô gái như bị một vật gì nặng đánh vào đầu, cô im bặt, người lảo đảo.

- Sao... sao lại thứ yếu?

Nhưng Ê-li-da-rốp không trả lời, ngáp một lần nữa, bỏ ra khỏi phòng. Nhi-na cau mặt lại, im lặng thu dọn bát đĩa

- Đi rửa giúp bát đi, - mụ cau có nói. - Còn sáng mai chúng tôi nghĩ xem phải làm gì với cô. Lên trên lò sưởi mà ngủ.

...Ngày hôm sau là chủ nhật, nhưng Ê-li-da-rốp vẫn đi làm từ lúc trời còn chưa sáng, còn mụ vợ, vẫn cau có như hôm qua, nói:

- Hai vợ chồng tôi đêm qua đã bàn nhau... Bây giờ thế này: cô sẽ ở lại nhà chúng tôi, trông nom nhà cửa sao cho mọi cái đều sạch sẽ, gọn gàng, cả hai vợ chồng tôi đều suốt ngày đi làm: A-nhi-cây ở đồn công an, còn tôi làm cấp dưỡng ở nhà trẻ. Nhà không rộng lắm, chỉ một bếp và một phòng ở, trẻ con không có... Đừng trông mong vào tiền công nào, chỉ riêng nuôi ăn và áo quần cũng đã quá lắm rồi. Còn sau đó A-nhi-cây sẽ kiếm cho cô một tờ hộ chiếu.

Mụ đàn bà lôi thôi lếch thếch, đầu bù tóc rối, khiến Na-ta-sa thấy kinh tởm. Cô cắn chặt răng, nghe mụ nói.

- Nghĩa là thuê tôi làm con ở?

- Cô phải cảm ơn số phận nữa đấy, - mụ Nhi-na to béo nói. -Tôi giữ cô trong nhà cũng như để than củi cạnh đống cỏ khô. Lão A-nhi-cây nhà này là một con chó đực không biết chán...

- Sao? - Na-ta-sa không hiểu, chỉ hơi đoán ra và người lạnh toát bởi cái ý nghĩ đó.

- Thế đấy... Tôi nói thẳng với cô, như đàn bà với nhau, để biết trước. Sớm hay muộn gì rồi A-nhi-cây cũng mò đến chỗ cô. Còn tôi hoàn toàn không có ý định chia chung đâu. Nếu có chuyện gì xảy ra; tôi móc mắt ra đấy. Nghe chưa?

- Tôi thà…. Tôi sẽ đi ngay bây giờ! - cô gái lắp bắp nói.

- Đi đi! - mụ Nhi-na khoát cánh tay núng nính những thịt. -Chúng tôi có bắt ép cô đâu? Nhưng cô đi đâu bây giờ? Đấy, ngoài đường trời rét như cắt thịt ra, - mụ hất đầu chỉ ra ngoài cửa sổ qua một đêm đã đóng một lớp băng dày cộm.

Na-ta-sa không có nơi nào để đi nữa cả, ít ra, cô không biết mình phải đi đâu. Cô ngồi xuống ghế, hai tay ôm mặt, đôi vai run lên...

- Thôi, đủ rồi, - mụ vợ Ê-li-da-rốp nói, và điều này Na-ta-sa hoàn toàn không ngờ tới, - lấy tay vuốt lên mái tóc cô. - Đồng ý đi và ở lại đây. Còn chồng... A-nhi-cây ấy... Chẳng dám làm gì đâu, nếu như tự cô không... Hắn ta dơ đáy như mèo, nhưng lại nhát gan như thỏ. Cô hãy nhớ lấy điều đó. Nếu có chuyện gì, cô đập vào mõm, đập vào mõm ấy. Và nói với tôi. Hoặc tốt hơn là dọa sẽ báo cáo với ông phụ trách công an, hắn ta sẽ lủi đi ngay như phải bỏng. Hắn quý cái chỗ làm của mình lắm, sợ phải ra mặt trận hơn sợ chết mà. Cô đồng ý đi.

- Bà thì cần gì sự đồng ý của tôi? - Na-ta-sa hét lên. - Bà biết rằng tôi không còn biết đi đâu nữa mà! Nhưng bà phải biết rằng - tôi căm ghét các người. Tôi rất căm ghét!

- Thôi được rồi, được rồi, - Nhi-na bỗng đồng ý. - Như thế nghĩa là tôi sẽ yên tâm hơn về chuyện A-nhi-cây.

* * *

Na-ta-sa sống ở nhà Ê-li-da-rốp đã được một tuần và suốt cả tuần qua cô chỉ nói chừng dăm chục từ tất cả. Cô nhanh chóng nắm được nhiệm vụ của mình, dậy sớm, nhóm lò, chuẩn bị bữa sáng. Khi vợ chồng A-nhi-cây đi làm rồi, cô quét dọn nhà cửa, lau sàn, giặt giũ. Chiều đến lại nhóm lò và chuẩn bị bữa tối.

Đêm đêm, nằm trên lò sưởi ấm áp, nghe tiếng vợ chồng nhà chủ ngáy trong phòng, cô nghĩ: sang năm, đến mùa xuân ấm áp, mình sẽ phải làm gì đây? Cô chưa biết mùa xuân đến sẽ làm gì, nhưng biết rằng nhất định cô sẽ không ở lại đây. Càng ngày cô càng cảm thấy kinh tởm lão A-nhi-cây với đôi mắt như mắt cừu khá đẹp - cô biết rằng hắn rất tự hào với đôi mắt của hắn. Và đặc biệt là cô kinh tởm mụ vợ Nhi-na của hắn. Mỗi buổi chiều mụ mang về một túi đầy bánh mì, thức ăn, nhìn Na-ta-sa với vẻ ngờ vực, đôi lông mày sưng phù hấp háy: có xảy ra chuyện gì giữa cô với A-nhi-cây không đấy? «Con mụ ăn trộm! - Na-ta-sa khinh bỉ, căm ghét nghĩ. - Mụ ta ăn trộm cả của trẻ em».

Đôi lúc cô nghĩ: chẳng lẽ trên đời này không còn có ai là người thông minh, tốt bụng để tin cô, để hiểu hết tất cả mọi điều? Để tin rằng cha cô không có tội, để chú ý quan tâm đến cô, cho cô một việc làm nào đó... Dù chỉ là việc như của mụ Nhi-na đáng kinh tởm này. Trời ơi, lúc đó cô sẽ làm việc thật tốt, nấu thật ngon cho lũ trẻ, và sẽ không lấy trộm một tí gì, dù chỉ là một mẩu bánh mì con! Hay là giấu kín, không nói gì về cha, đổi họ tên? Hay là mùa xuân đến tìm cách đi thật xa, sâu vào rừng tai-ga, đến một nông trường nào đó, lấy một họ khác, rồi bắt đầu sống, rồi sau đó ra sao hẵng hay? Và đến đây, lần nào cũng vậy, cô giận dữ gạt bỏ cái ý nghĩ ấy đi: «Không, không, dù thế nào đi chăng nữa, mình vẫn tự hào về cha... Không bao giờ, không bao giờ mình che giấu mình là con ai...»

Ê-li-da-rốp hoàn toàn không tỏ ra chú ý gì đến Na-ta-sa. Chỉ có một lần, không hiểu để làm gì, hắn hỏi cô:

- Đã học hết lớp mấy ở trường rồi?

- Lớp mười, - Na-ta-sa trả lời cụt lủn.

- À, khá đấy, - hắn dài giọng.

Những nỗi lo sợ mà Nhi-na gợi nên, cũng dần dần qua đi. Hơn nữa, Ê-li-da-rốp bao giờ cũng về nhà rất khuya, khi mụ vợ đã ở nhà từ lâu và đang nằm ngáy khò khè trên giường.

Nhưng một lần hắn trở về lúc sáu giờ chiều, say rượu, cởi áo ngoài xong, hắn ngồi lên chiếc hòm đặt trong bếp, hai chân doãng rộng:

- Nhi-na chưa về à?

- Chưa.

- Và cũng không cần. Xem có gì ăn được không. Tiễn một người quen ra trận, cái uống thì nhiều mà cái ăn chẳng có gì.

Lúc đầu Na-ta-sa cảm thấy lo lắng việc hắn về sớm hơn mọi ngày, lại say rượu, nhưng nghe hắn nói, cô hơi yên tâm lại, mặc dù vẫn cảnh giác đề phòng. Cô dọn ra bàn bữa tối đã chuẩn bị sẵn. Ê-li-da-rốp đứng dậy, lặp lại một lần nữa:

- Mà cũng không cần Nhi-na...

Và bất ngờ, như một con thú, hắn vồ lấy Na-ta-sa.

- Bỏ ra! Bỏ ra... - Na-ta-sa đấm túi bụi vào mũi, vào mắt hắn. Nhưng hắn chỉ thở phì phò, phả hơi rượu nồng nặc và cố đè cô xuống sàn nhà. - Tôi... tôi sẽ kiện lên đồn công an của ông! - cô chợt nhớ lại lời khuyên của Nhi-na.

Nhưng không hiểu là vì Nhi-na đánh giá quá cao lời đe dọa đó, hay là vì Ê-li-da-rốp không nghe ra những lời của Na-ta-sa, hắn không vội lủi đi như phải bỏng, mà ngược lại, càng thở hổn hển hơn. Trong lúc giằng co với hắn, Na-ta-sa túm tay vào mép bàn, cô cảm thấy chiếc dĩa trong lòng bàn tay, liền cầm lấy. Và không kịp nghĩ ngợi, đâm mạnh vào bộ mặt hôi hám, kinh tởm của hắn.

-A-a!... - Ê-li-da-rốp rên lên, ngã sấp xuống sàn, hai tay ôm lấy má.

Na-ta-sa đứng bất động mấy giây, nhìn Ê-li-da-rốp lăn lộn trên sàn nhà, máu nhỏ giọt qua các kẽ ngón tay: «Trời ơi, nếu như phải mắt hoặc cổ họng thì sao?!» - cô hoảng hốt nghĩ. Và chộp vội chiếc áo bành-tô, khăn choàng, cô chạy bổ ra đường.

-Đứng lại! Đứng lại! - Ê-li-da-rốp nhổm dậy, hét.

Hắn chạy theo cô ra hiên, rồi ra sân, định chạy cả ra đường, nhưng rồi chợt nhớ ra, dừng lại.

- Trước sau gì rồi cũng không đi khỏi! Mày còn đi đâu được nữa? Rồi sẽ phải trở về đây!

Na-ta-sa còn chạy rất lâu, rồi dừng lại, đứng thở dốc. Đường tối, vắng vẻ, những hàng cây phủ băng đứng câm lặng. Cô tựa người vào một gốc cây và lặng lẽ khóc.

Có lẽ đây là những giọt nước mắt cuối cùng, và chúng không nhiều lắm, một lúc đã cạn khô. Cùng với những giọt nước mắt cuối cùng này, trong lòng cô cũng khô cạn, tan biến mất tất cả những cái gì còn lại - cả niềm hy vọng mỏng manh rằng cuộc đời của cô vẫn chưa kết thúc, rằng sẽ có lúc nào đó nó sẽ lại được bắt đầu mới mẻ, cả sự căm ghét đối với Ê-li-da-rốp và mụ vợ to béo của hắn, đối với tất cả những con người không muốn hiểu và giúp đỡ cô. Tâm hồn cô trở nên trống rỗng và dửng dưng đối với tất cả, như mặt trăng đang treo lạnh lẽo trên trời.

Vừa nhìn lên chiếc đĩa vàng lạnh lẽo, buồn bã đó, Na-ta-sa vừa đi dọc theo đường làng và một lúc sau, cô đã ra đến ngoài thị trấn. Đi đâu - đối với cô bậy giờ không quan trọng, và cô hoàn toàn không nghĩ gì về điều đó. Cái giá lạnh thấu xương đã làm cho cả người cô cóng hết - bàn tay không găng, chân đi đôi giày rách nát, đầu đội chiếc khăn mỏng dính. «Bây giờ sẽ chết cóng mất thôi», - dường như có người nào thì thầm vào tai cô. «Cóng, cũng mặc», - cô thầm trả lời cái «người nào» đó. «Hãy trở với vợ chồng Ê-li-da-rốp, sống qua ngày đoạn tháng cho đến mùa xuân, khi trời ấm lên, lúc đó sẽ hay», - «Không đời nào!» - cô trả lời. «Nào, hãy gõ vào một nhà bất kỳ nào đó, xin ngủ nhờ, dù chỉ là một đêm nay... Ở đây là con người, chứ có phải thú dữ đâu». - «Không muốn!» - «Cả cuộc đời mày còn phía trước, mày còn sống kia mà... Nếu không, bây giờ mày sẽ chết cóng, - và tất cả sẽ là hết». - «Mặc! Thế càng dễ chịu! »

Quả nhiên, cô bỗng thấy mình như dễ chịu, ấm áp hơn. Cô nhìn quanh - bên đường có mấy bụi cây đen đen mọc cạnh gò đất thấp phủ tuyết ánh lên màu ngọc bích biêng biếc. Trên cao là mặt trăng, to, tròn và dịu dàng, âu yếm.

Na-ta-sa muốn nằm xuống đống tuyết và thiếp đi...

* * *

Một buổi tối tháng Giêng năm 1942, trong nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va có ba người ngồi quanh bàn: Ma-ca Cáp-ta-nốp, Lê-ô-nhít Gvô-dơ-đi-ép cũng mới vượt ngục với hắn và một gã đàn ông cao lớn hơi gầy với vết sẹo mờ trên má, đôi mắt mệt mỏi, sắc nhọn như mắt mèo. Đó là Pi-ốt Du-bốp, con trai của đại tá Du-bốp, người năm 1919 săn lùng đội du kích của Cru-gi-lin. Tháng Mười năm ngoái, quân Đức đã chiếm thành phố Cuốc-xcơ, thả hắn ra khỏi nhà tù, đề nghị hắn làm ở sở cảnh sát thành phố. Hắn đồng ý, nhưng lấy cớ sức khỏe, xin nghỉ mấy tuần. Và hắn sống hai tuần ở thành phố, tận hưởng tự do, rồi biến mất. Hắn xuất hiện ở San-ta-ra ngay trước Tết, đang đêm gõ vào cửa sổ nhà Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va. Mụ già Ca-sca-rô-va rất lâu làm ra bộ không nhận ra hắn, rồi sau bảo đã từ lâu không có tin tức gì về thằng con nuôi lêu lổng Ma-ca. Chỉ đến khi tin chắc rằng Du-bốp quả không bị ai theo dõi, mụ mới chỉ cho hắn chỗ ở của Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va.

Du-bốp không chịu trả lời những câu hỏi của Cáp-ta-nốp rằng hắn đã thoát ra khỏi tù như thế nào, về San-ta-ra với mục đích gì. Hắn thường cau có, lầm lì, suốt ngày nằm dài trên giường, đọc những cuốn sách tình cờ tìm thấy ở nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, hoặc mắt nhắm nghiền, nghe đài. Chỉ có một lần hắn hỏi Ma-ca!

- Trong trại của cha cậu ở Ô-gơ-nhép-xki bây giờ ra sao?

- Ra sao nữa? Những khúc gỗ cháy đang mục nát hết. Cỏ dại mọc đầy. Cậu hỏi làm gì?

- Cha tớ bị chém chết ở đó.

- Ra thế đấy! - Ma-ca thốt lên. - Muốn đến đó à? Đã tìm ra người nào đưa ông cụ nhà cậu lên thiên đàng rồi à?

Du-bốp, như thường lệ, vẫn im lặng.

Tối nay ba đứa ngồi đánh bạc ăn điểm. Một đống tiền giấy nhàu nát, hai chai rượu đã uống dở nằm ngổn ngang trên bàn. Các cửa sổ đóng chặt, bên trong treo màn che kín. Ma-ri-a cũng có mặt ở đây, cô nằm co quắp trên giường, mặt ngoảnh vào tường.

Đến lượt Ma-ca Cáp-ta-nốp đặt cửa. Hắn vừa chia bài vừa khe khẽ hát: «Ngày xưa có một cô Ma-ri-a»...

- «Mang mấy con dao trong túi áo», - Gvô-dơ-đi-ép hát tiếp. - Mở bài! Đây! Một quân nữa...

- Trời ơi, buồn quá! - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va thở dài nặng nề nói, rồi ngồi dậy trên giường, buông thõng hai chân xuông đất.

- Buồn vì đầu óc quay cuồng đấy. Và cả vì thua bài nữa, - Gvô-dơ-đi-ép trầm ngâm nói. - «Nằm ngủ, cô Ma-ri-a...» Nào, một quân nữa! «Áo quần trên người đem cởi ráo...» Thắng rồi!

-Đồ quỷ! - Cáp-ta-nốp ném bộ bài xuống bàn.

- Thế nào là «số đen» và làm thế nào để chống lại nó... hê-hê! - Gvô-dơ-đi-ép vơ tiền cho vào túi. - Làm một ván nữa chứ?

Du-bốp rót một cốc vốt-ca, uống cạn, rồi đứng dậy. Trên tường treo một tấm biểu ngữ: «Hôm nay bạn đã làm gì cho tiền tuyến?» Hắn bước đến gần tấm biểu ngữ, chăm chú xem, miệng vẫn rên rỉ bài hát của lũ trộm cướp.

- Đừng có rên rỉ nữa! Tởm lắm, - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va kêu lên.

- Đánh ván nữa! - Ma-ca hét to. Tớ đặt cược Ma-ri-a đấy! Nào! - Gvô-dơ-đi-ép vội vã đổ tiền ra bàn.

- Ma-ca! Ma-ca! - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va hốt hoảng chạy bổ đến bên Cáp-ta-nốp.

- Đừng làm ồn lên! - Ma-ca gạt cô ra và vẫn thản nhiên chia bài, miệng vẫn khe khẽ hát: - «Ba nhát dao vào lưng Ma-ri-a...» Nữa không? «Mang mấy con dao trong túi áo...» Đủ chưa?

- Thôi, đủ rồi.

- «Và suốt đêm, dưới ánh trăng mờ - Cáp-ta-nốp thận trọng rút bài ra, - xác Ma-ri-a rập rờn trên suối...» Tiền đâu?

- Cậu lại không gặp may rồi. Tớ những hai mươi cơ! - Và Gvô-dơ-đi-ép đứng dậy. - Ê, Ma-ri-a! Thường thường thì tớ chỉ gặp vận đỏ hoặc là cờ bạc, hoặc là tình. Thế mà hôm nay cả hai. Ta sẽ nhớ lại tình xưa chứ? Nào, xin mời lên giường tân hôn. Để thay đổi, cho khỏi buồn.

- Không, khô-ông! - Ô-gô-rốt-nhi-cô-va lùi lại. - Tôi không thể đâu.

- Tại sao? -Du-bốp đột nhiên hỏi cô.

- Tôi kinh tởm lắm! Cả bức tường này, cả bài hát của các anh... cả chính các anh nữa!?

- Còn gì nữa! - Gvô-đơ-đi-ép cười nhạt. - Luật yêu cầu phải thi hành. Nào, vào đây, vào đây! - Và Gvô-dơ-đi-ép xô cô ra sau cửa.

- Tôi sẽ dẫn đến cho anh một con bé... nếu như cần. Ngay bây giờ...

Pi-ốt Du-bốp đã từ lâu chán không xem biểu ngữ nữa, vừa uống cạn một cốc vốt-ca đầy, đang định rót nữa, nghe Ô-gô-rốt-nhi-cô-và nói, liền ngẩng đầu lên:

- Con bé nào? Nó ở đâu? Khoan đã, Gvô-đơ-đi-ép.

- Một con bé mồ côi, tản cư đến đây. Còn trẻ lắm. Tôi nhặt được ở sau làng cách đây không lâu, nằm trong đống tuyết, sắp chết cóng. Tôi nhờ mụ hàng xóm: A-cu-li-na trông coi hộ.

- Nào, dẫn đến đây xem thử.

Ô-gô-rốt-nhi-cô-va bước ra ngoài. Ma-ca Cáp-ta-nốp nhìn theo, vẻ không bằng lòng.

Nói chung Ma-ca có nhiều điều không bằng lòng, về việc Lê-ô-nhít Gvô-dơ-đi-ép chỉ là một thằng ngu ngốc, thiển cận và khoác lác, đến bây giờ vẫn tự hào với một việc là đánh bạn với những kẻ đã phạm tội. Còn Cáp-ta-nốp, bằng kinh nghiệm dày dạn của mình, biết rằng, nếu như vậy, hắn sẽ là thằng bạn không đáng tin cậy, trong bất cứ phút nào cũng có thể làm hại bạn. Ma-ca còn không bằng lòng với việc Du-bốp xuất hiện ở San-ta-ra. Tất nhiên, hắn cùng Du-bốp là bạn bè, thậm chí gần như là anh em cùng một dòng sữa. Trong thời gian nội chiến và sau đó khá lâu nữa, cả ba người -hắn, Pi-ốt và Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va mà hai người vẫn gọi là mẹ - sống cùng nhau ở trại sâu trong rừng tai-ga vắng vẻ, một thời gian dài không biết thiếu thốn là gì. Rồi sau đó bắt đầu những ngày đói khát, rét mướt. Năm mười tám tuổi, hình như lúc đó vào năm hăm lăm thì phải, Du-bốp bẻ khóa lấy trộm một cửa hàng ở một làng nào đó, và bị xử tù. Mấy năm sau đến lượt Ma-ca cũng đi theo con đường đó. Sau một thời gian dài xa cách, năm ba sáu hắn cùng Du-bốp tình cờ gặp nhau ở trong trại cải tạo. Du-bốp đã trở thành một chuyên gia đào tường, bẻ khóa lớn, tổng cộng có đến bốn mươi hai năm án tù giam. Ở trong trại, Cáp-ta-nốp kể cho hắn nghe rằng mẹ nuôi sống ở San-ta-ra, cho hắn địa chỉ, nhưng không hy vọng rằng có một lúc nào đấy Du-bốp sẽ đến được đó. Thế mà bỗng nhiên hắn xuất hiện ở đây và hành động rất kỳ quặc, khó hiểu. Ma-ca sợ rằng Ma-ri-a chịu không nổi, sẽ đi báo hết về chúng. Hoặc thằng nhãi ranh Vích-to, con đẻ của «mẹ» hắn. Mặc dù Ma-ca đã tìm mọi cách để rủ rê, thu phục, nhưng không có kết quả gì cả. Thằng bé, như con dím con, cứ xù lông ra, thở phì phì trong mũi. Mà cả «mẹ», cách đây không lâu, khi Ma-ca định đưa Vích-to đi theo đến An-đrây-ép-ca, bỗng nói: «Con đừng động đến nó, đừng làm hỏng đời nó đi. Con thấy đấy, nó không muốn, nó không đủ sức làm những việc của con đâu...» Mà hắn thì rất cần Vích-to. An-đrây-ép-ca là một làng nhỏ, hẻo lánh, cửa hàng đặt trong một ngôi nhà xây dựng sơ sài, không được canh giữ cẩn thận. Mụ bán hàng to béo hàng ngày hết giờ làm việc chốt cửa sổ duy nhất bằng một đinh bu-lông dài, cửa ngoài khóa bằng hai khóa ổ lắp vào cửa và thêm một khóa treo to tướng, rồi đi về nhà. Trong hành lang cửa hàng, những hộp gỗ, thùng gỗ không chất thành đống. Ma-ca nghĩ: nếu từ chiều cho thằng bé vào nấp kín trong một chiếc thùng nào đó, đêm đến (cửa giữa hành lang dẫn vào phòng chứa hàng hoàn toàn không có khóa), nó sẽ rút thanh bu-lông cài cửa ra. Còn việc tháo cánh cửa lúc đó - dễ như trở bàn tay. Nhưng Vích-to dứt khoát từ chối không tham gia vào việc đó. Những móc sắt mở khóa mà trước đây Ma-ca sử dụng với một nghệ thuật không ai vượt nổi, sau khi trốn nhà tù ra, hắn còn chưa kiếm lại được.

Vì vậy, hắn buộc phải cùng Gvô-dơ-đi-ép cưa rất lâu thanh bu-lông đáng nguyền rủa này...

Nhưng «mẹ» và Vích-to thì hãy còn không sao, bây giờ hắn chưa lo lắng gì về họ lắm. Và Ma-ca nói chung cũng đang có thể yên tâm. Nhưng đấy, từ đâu bỗng xuất hiện Du-bốp và bắt đầu ngày nào cũng rượu chè say sưa. Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va cứ than thở «buồn» suốt. Và bây giờ lại sắp có một con bé nào đó nữa đến đây. Rồi sau đó làm gì với nó, đưa nó đi đâu? Hơn nữa, Ma-ca hiểu rằng công an đã đoán được ai là thủ phạm trong vụ An-đrây-ép-ca và đang tìm hắn. Không, phải chuồn khỏi đây ngay, khi còn chưa muộn.

Ma-ca muốn sáng hôm sau sẽ đi sớm. Vì vậy hắn mới «thua» cuộc Ma-ri-a. Gvô-dơ-đi-ép sẽ nằm với con bé, Du-bốp, như thường lệ, sẽ uống say. Cáp-ta-nốp sẽ rút từ dưới gối của hắn ra khẩu súng ngắn kiểu Đức (Ma-ca không có vũ khí, mà có nó chắc cũng không thừa) - và lúc đó tha hồ cho chúng tìm! Nhưng khi Ma-ri-a đi ra khỏi nhà, một linh cảm bên trong nào đó bỗng mách hắn: không phải sáng mai mới đi, mà đi ngay bây giờ, ngay giây phút này. Hơn nữa, lần này món hàng An-đrây-ép-ca không giấu ở nhà Ma-ri-a, mà ở chỗ khác chắc chắn hơn. Nếu sau một giờ - một giờ rưỡi nữa chắc sẽ chậm mất. «Còn Ma-ri-a thế nào? Trung thành đấy chứ! - Hắn nghĩ thầm. - Còn súng lục thì thôi, mặc mẹ nó». Hơn nữa, nếu sau này gặp lại Du-bốp ở đâu đó, - quả đất, như Ma-ca đã nhiều lần được tận mắt thấy, quả là tròn, - thằng này sẽ vặt đầu hắn ngay, vì chuyện súng... Và Ma-ca lấy áo lông trên giá xuống, chụp mũ lên đầu.

- Đi đâu? - Du-bốp gay gắt hỏi. Hôm nay hắn uống nhiều hơn mọi ngày, nhưng không hiểu sao lại không say.

- Đi thăm đồng, - Cáp-ta-nốp thản nhiên đáp. - Để đêm khỏi vung vãi cả ra.

- Nhưng Ma-ri-a đã khóa cửa rồi cơ mà? - Du-bốp cười nhạt. - Đợi một tí.

Mỗi lần đi làm hoặc bất kỳ đi đâu ra khỏi nhà, Ma-ri-a đều khóa tất cả mọi người lại trong nhà. Vì hồi hộp vội vàng, Cáp-ta-nốp quên mất điều đó.

- Quỷ thật... Thôi, gắng chịu một lúc vậy. - Hắn cởi áo, đặt lên bàn một chai mới. - Uống nữa đi. Cha của tớ rất trọng cái của này. -Và hắn bắt đầu kể: - Cậu, Lê-ô-nhít, không biết cha của tớ đâu. Còn Pi-ốt thì chắc còn nhỏ. Còn nhớ không hả? Ở thị trấn San-ta-ra này trước đây có hiệu buôn «Cáp-ta-nốp và các con trai». Cáp-ta-nốp tức là cha tớ - cầu trời cho ông cụ yên giấc ngàn thu. Còn các con trai tức là tớ và Di-nô-vi, anh cả của tớ. I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, bây giờ phụ trách cơ quan nội vụ của huyện này, đã bắt được anh ấy... Rồi chúng xử bắn… Chuyện đã lâu rồi. Cậu còn nhớ cha tớ nữa không?

Cáp-ta-nốp vừa nói, vừa nghĩ: «Chẳng lẽ thằng Du-bốp đáng nguyền rủa này đã đoán ra là mình định chuồn rồi à?»

- Từ nhỏ, tớ đã không thích những lão chủ hiệu bụng phệ, -Du-bốp nói và mở đài nghe.

Phát thanh viên, bằng giọng mệt mỏi, khàn khàn, đang đọc bức công hàm của Bộ dân ủy Ngoại giao Liên Xô «Về những vụ cướp bóc và tàn phá khắp nơi, cùng những tội ác man rợ của các nhà cầm quyền Đức tại các vùng lãnh thổ Liên Xô bị chúng chiếm đóng». Du-bốp đứng nghe, hai cánh tay bắt chéo khoanh trước ngực. Trong mắt hắn vẫn lấp lánh một đốm sáng mờ mờ vô nghĩa và khó hiểu, cái đốm sáng bao giờ cũng làm cho Cáp-ta-nốp cảm thấy lo lắng, sợ hãi.

- Cha cậu tớ còn nhớ, Ma-ca ạ, - Du-bốp bỗng đột ngột lên tiếng, - Râu của ông ta hung hung đỏ. Tớ còn nhớ cả ông anh Di-nô-vi của cậu nữa. Hình như một mắt thì phải?

- Sao lại một mắt? Cả hai mắt chứ. Nhưng một mắt bị nhài quạt che, - hình như Ma-ca phật ý.

- Và cái tay cần vụ cho cha cậu, I-van ấy mà, tớ chẳng bao giờ quên. Dù sao thì cũng đã cứu tớ thoát chết. - Và Du-bốp quay phắt lại về phía Ma-ca: - Hình như hồi ở trong trại cậu vẫn định giết anh ấy à?

- Tớ sẽ giết chết, nếu như gặp dịp thuận tiện. Thù cha, tớ không thể tha cho hắn được. Người ta bảo giờ hắn đang ở đây, ở làng Mi-khai-lốp-ca.

- Hệt như thằng Tséc-két[1]! - Du-bốp cười nhạt. - Tớ một thời đã ở Cáp-ca-dơ. Ở đó chuyện lấy máu rửa thù là việc bình thường.

- Thì cậu cũng thế... cũng tìm người nào đã giết cha cậu...

- Cũng thế, vâng! - Du-bốp đỏ tía mặt vì một cơn giận dữ không rõ nguyên cớ. Hắn ngoảnh mặt đi và nói nhỏ hơn: - Con rắn nước trông cũng giống rắn thật. Cũng có răng, nhưng lại không có... nọc độc.

Hồi đó ở trại cải tạo, khi thấy I-van Xa-vê-li-ép bất ngờ xuất hiện, Cáp-ta-nốp đã vui mừng đến tái người đi. Nhưng Du-bốp cấm hắn không được, dù chỉ là một ngón tay, động đến người I-van. Trái lời hắn, Ma-ca không dám và hắn chỉ còn lại một thỏa mãn là dọa cho I-van phải một phen chết khiếp. Ma-ca đã làm như vậy, I-van trốn vào xà-lim cá nhân. Thật là ngu, cứ tưởng xà-lim có thể cứu hắn thoát được, nếu như không có Du-bốp! Đến bây giờ I-van Xa-vê-li-ép vẫn chưa biết ơn ai cứu sống mình...

- Tớ đã bảo rồi, không được động đến I-van, - Du-bốp khẽ nói. - Không bao giờ được động đến!

- Thế đấy... - Cáp-ta-nốp đổ vốt-ca vào miệng, răng va vào cốc thủy tinh lách cách. - Thì ra cậu về đây là vì lo cho hắn ta?

- Đúng vậy, - Du-bốp gật đầu đồng ý. - Và vì tò mò nữa. Tớ muốn nhìn thằng Cru-gi-lin, đội trưởng đội du kích đã đánh nhau với cha tớ, cả thằng I-a-cốp A-lây-nhi-cốp nào đó, cái lão công an ấy, nhờ hắn mà bọn du kích đã giết chết cha tớ ở trại Ô-gơ-nhép-xki. Và cả thằng anh của I-van Xa-vê-li-ép, thằng Phê-đô ấy... Chính hắn... đã chém chết cha tớ đấy.

- Phê-đô à?! - Ma-ca trợn tròn mắt nhìn Du-bốp. - Làm sao... cậu biết được?

- Biết được cái gì? Trước mắt tớ, thằng Phê-đô... thoạt đầu bắn vào cha tớ, sau đó dùng kiếm chém cho chết hẳn... Tớ hồi ấy còn bé, nhưng vẫn nhớ hết cả. Chuyện đó khắc sâu vào tâm trí tớ đến suốt đời.

- Ra thế-ế-ế đấy!

Gvô-dơ-đi-ép lắng nghe câu chuyện của hai đứa, cố hiểu, và làm ra vẻ hiểu, nhưng kỳ thực không hiểu gì cả.

- Thế bây giờ biết rồi cậu sẽ làm gì? - Cáp-ta-nốp hỏi. - Còn câu «Cũng có răng nhưng lại không có nọc độc» nghĩa là thế nào?

- Bây giờ phải làm gì? Nghĩa là thế nào? - con trai cựu đại tá bạch vệ lặp lại câu hỏi và im lặng.

«Hắn kỳ cục thế nào ấy, - Cáp-ta-nốp nghĩ bụng. - Có trời mới biết được chuyện gì đang xảy ra với hắn, hắn muốn gì... Không, phải chuồn ngay, giấu hết tung tích...»

Trong phòng trở nên im lặng, và trong sự im lặng đó, giọng phát thanh viên càng vang lên rành rọt. Một giọng nữ rất vang đang kể về sự tàn bạo dã man của quân đội phát-xít trong thành phố Ki-ép bị chiếm đóng, nêu lên số người bị bắn, bị treo cổ.

- Tớ cũng đã ngồi tù ở Ki-ép rồi, - Du-bốp bỗng nói. - Ở đó nhà tù tốt lắm.

- Nhà tù nào cũng tốt cả. Chắc chắn, - Gvô-dơ-đi-ép cũng chêm vào.

- Có tiếng khóa ở cửa ra vào lách cách, tiếng chân người ngoài hiên, và Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va bước vào, kéo theo cả Na-ta-sa.

- Đừng sợ, không ai ăn thịt đi đâu, - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va nói. - Họ toàn là những người tốt cả.

- Ôi chà! - Gvô-dơ-đi-ép thốt lên. Đôi mắt ngựa lấp lánh của hắn sáng lên. - Phải thay thế mới đáng chứ! Em muốn ăn kẹo không? - Và hắn đứng dậy.

- Ngồi xuống! - Du-bốp đưa bàn tay nặng trịch ấn hắn ngồi xuống ghế, nhìn kỹ cô gái. Na-ta-sa vẫn mặc chiếc áo bành-tô cũ, nhưng chân đi đôi giày mới, đôi tất dài ấm cũng đang còn mới. Đôi mắt cô sợ sệt hết nhìn người này đến người khác. Gặp ánh mắt của Du-bốp, cô rùng mình.

- Cậu hãy nói cho tớ nghe, Gvô-dơ-đi-ép, - Du-bốp chậm rãi nói từng từ một, mắt vẫn không rời cô gái: - Cậu hãy nói: cậu có phải là người Nga không?

- Phải, - Gvô-dơ-đi-ép gật đầu và lại định đứng dậy. Nhưng Du-bốp lại ấn hắn ngồi xuống. Gvô-dơ-đi-ép liền hét lên tức tối: - Phải, tớ là người Nga, người Nga! Kể hết lý lịch à? Sinh năm hai mươi ba, một lần phải ra tòa, đã vượt ngục...

Nghe đến đó, Na-ta-sa lùi vội ra cửa.

- Đi đâu? -Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va giận dữ hỏi, rồi quay về phía Gvô-dơ-đi-ép: - Gì mà anh ba hoa làm cho cô bé sợ thế? Anh ta đùa đấy, đừng sợ.

Du-bốp đứng dậy, tắt đài, lại ngồi xuống chỗ cũ.

- Ở Cuốc-xcơ, tớ cũng đã thấy treo cổ người như thế nào rồi.

- Thế thì đã sao? - Gvô-dơ-đi-ép ngồi không yên trên ghế. -Quân Đức đã chiếm được rất nhiều thành phố, và ở đâu cũng có treo cổ cả. Và còn treo nữa. Chúng ta thì việc gì?

- Cái đó còn tùy người, - Du-bốp bình tĩnh đáp. - Tớ thì tớ cám ơn chúng - hạn tù của tớ vừa tròn nửa trăm. Sau lần vượt ngục cuối cùng, tớ bị xử thêm tám năm nữa, - hắn giải thích cho Cáp-ta-nốp. - Đúng, năm mươi năm, tròn nửa thế kỷ. Có lẽ đến chết vẫn còn trong tù. Còn mày, Gvô-dơ-đi-ép ạ, tao không hiểu. - Hắn bỗng lấy hết sức đập mạnh tay xuống bàn. - Tao không hiểu!

- Cậu sao thế? Sao thế? - Gvô-dơ-đi-ép nhảy bật dậy như lò-xo. - Cậu say rồi à, Du-bốp? Đi nằm nghỉ đi, đi nằm đi.

- Ừ, tớ say. Tớ đi ngủ đây, - cũng đột ngột như lúc nổi khùng lên, Du-bốp xẹp xuống, nặng nề đứng dậy, bước đến bên Na-ta-sa Mi-rô-nô-va. - Cô là ai?

Na-ta-sa đứng cạnh tường, hai tay buông thõng. Mặt cô tái nhợt không còn giọt máu, trông, chẳng khác gì xác chết. Có lẽ chỉ cần xô nhẹ một cái là cô ngã ngay ra đất.

- Không là ai cả, - cô thì thào.

- Cha mẹ cô là ai?

- Không là ai... Không biết.

- Cha nó là kẻ thù của nhân dân, - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va nói. - Hình như năm ba sáu bị bỏ tù. Trước đây làm một cấp cao ở Mát-xcơ-va. Có lẽ ăn béo đẫy lên, rồi phản bội.

- Không phải, không phải! - cô gái run lên.

- Còn mẹ chết ở dọc đường, khi đoàn tàu bị ném bom.

- Tớ cũng đã thấy… những trận ném bom, - Du-bốp trầm ngâm chêm vào. - Có sợ không?

- Không biết. Sau đó sợ hơn - đói rét, tối tăm, bọn du côn.

- Đói rét nào? Du côn nào?

- Nó không có nơi nào để ở cả, - Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va lại giải thích. - Tôi đã nói là tìm thấy nó trong đống tuyết.

- Lạy các anh, thả cho em đi... - Và Na-ta-sa bỗng quỳ xuống trước mặt Du-bốp. - Chị Ma-ri-a, thương em với!

- Cô bé ơi, đừng thế! - Gvô-dơ-đi-ép lảo đảo bước đến bên cạnh cô. - Anh sẽ chẳng để ai động đến em đâu. Anh sẽ là cha của em. Tuy nhiên, người ta cũng có thể bỏ tù anh.

- Đúng đấy, đừng khóc nữa! - Du-bốp nói. - Và đi ngủ đi. Thả cô bé này ra.

- Du-bốp! Du-bốp! Cậu không có quyền. Tớ được cuộc cơ mà.

- Cậu được Ma-ri-a.

- Tớ đổi...

- Không đổi gì cả! - Du-bốp dữ tợn gầm lên. Và, thấy Gvô-dơ-đi-ép thò tay vào túi, liền quay cả người lại phía hắn. - Mày làm gi đấy? Đồ nhãi ranh! Bỏ tay ra! Tao bẻ gãy cả ngay lập tức bây giờ! - Và cúi xuống người Na-ta-sa: - Đứng lên đi!

Trong lúc mọi việc trên đang diễn ra, Ma-ca lặng lẽ mặc áo lông, luồn xuống nhà bếp, mở then, bước ra ngoài. Bỗng nhiên hắn kêu lên thất thanh:

- Công an! Các cậu ơi! Công...

Tiếng kêu bị tắc nghẹn lại. Du-bốp vụt ngẩng đầu lên. Gvô-dơ-đi-ép tái mặt, nhảy vào góc phòng chộp vội con dao găm. Ngay lúc đó, hai người công an cầm súng ngắn nhảy vào phòng. Ê-li-da-rốp trợn mắt, tay lăm lăm khẩu súng, hét:

- Giơ tay lên. Đứng im không được động đậy! A, Gvô-dơ-đi-ép đấy à? Đồng chí Xa-ra-pu-lốp, tước lấy con dao găm của hắn.

Mặc cái dáng dữ tợn và những lời của Ê-li-da-rốp, Du-bốp không vội vã, từ từ quay lưng lại phía anh ta, bước đến bên bàn, ngồi xuống, rót rượu vào cốc và uống cạn.

- Mày... đứng dậy! - Ê-li-da-rốp sửng sốt, quát.

- Đừng làm ồn lên, - Du-bốp vẫn không để ý đến nòng súng đen ngòm đang vung lên trước mặt, rút từ trong túi quần ra một khẩu súng ngắn, im lặng ném lên bàn.

- Du-bốp, cậu sao thế? - Gvô-đơ-đi-ép kêu lên. - Chúng chỉ có hai người thôi mà.

Nhưng thực ra tốp công an có bốn người. Hai người khác dẫn Cáp-ta-nốp từ dưới bếp lên, bắt ngồi xuống cạnh Du-bốp. Gvô-đơ-đi-ép, Na-ta-sa và Ô-gô-rốt-nhi-cô-va cũng bị dồn đến cạnh bàn.

- Lục khắp nhà! Đào hết lên! - Ê-li-da-rốp ra lệnh. Chợt trông thấy Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép từ ngoài đường bước vào, hắn hét: - Đi khỏi đây ngay, đã bảo rồi!

- Tôi xem một tí, - Xê-mi-ôn mặc áo trượt tuyết, đi ủng da, cổ quấn khăn len. - Không được à?

- Không được! Không có gì để xem cả... Nhưng Ê-li-da-rốp đang lúc phấn khởi vui mừng vì cuộc vây bắt thành công, liền quên ngay Xê-mi-ôn, quay lại phía những người bị bắt: - Nào, xin chào! Tôi nghĩ chỉ một mình Ma-ca, thế mà hóa ra bao nhiêu là khách! Chào cậu, Ma-ca Mi-khai-lô-vích. Cả cậu nữa, Gvô-dơ-đi-ép. Không nhận ra à?

- Nhận ra chứ, Gvô-dơ-đi-ép lẩm bẩm; - Được thăng quan rồi à? Sao lại đổi nghề thế?

- Tổ quốc yêu cầu, - Ê-li-da-rốp đáp. - Đối với người cộng sản, đến nơi nào khó hơn là chuyện bình thường.

- Anh đã là cộng sản đấy à? Thế mà tôi không đoán ra.

- Chứ còn sao nữa, mặc dù chưa phải là đảng viên. Bây giờ chắc sẽ được kết nạp. Vì cậu, Ma-ca Mi-khai-lô-vích ạ, tớ đã nhận được quân hàm trung sĩ rồi đấy. Thấy chưa? - Và Ê-li-da-rốp chỉ lên ve áo của mình. - Còn bây giờ thì sao? Cần phải được chuẩn úy, hoặc biết đâu, có thể còn hơn nữa... Hoặc là được đi học một trường nào đó -và thế là sẵn sàng! Còn cậu này là ai? - hắn quay sang hỏi Du-bốp - Không nói à? Không sao, rồi chúng tớ sẽ biết thôi, sẽ biết cả thôi. Ma-ca, sao cậu cũng im lặng? Tớ chộp các cậu đột ngột quá à? Việc ở An-đrây-ép-ca cũng là do tay của cậu chứ gì? Tớ đoán ra ngay mà. Nếu hắn đã đến đây, tớ nghĩ, chắc cũng còn lâu mới đi khỏi đây, đang ẩn ở một nơi nào đó. Tớ nhìn, tớ ngửi. Và lại còn cô bé này nữa...

Ê-li-da-rốp ba hoa luôn miệng, đi đi lại lại trước bàn với khẩu súng ngắn trong tay.

Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép có mặt ở đây một cách ngẫu nhiên. Trong tháng vừa qua anh làm việc không có ngày nghỉ; hôm nay được nhận hai ngày phép bù, anh từ nhà máy ra về với một tâm trạng phấn khởi. Không đợi ăn cơm tối, anh vớ vội đôi thanh trượt tuyết, rồi chạy ra sau làng. Dưới ánh trăng, anh trượt rất lâu từ trên các ngọn đồi xuống, hít thở bầu không khí lạnh giá và tinh khiết, thưởng thức sự cô đơn, vắng vẻ bốn bề. Trên đường về nhà, anh trông thấy ở ven làng có bốn người công an đang đứng thì thầm trao đổi với nhau về một điều gì đó cạnh nhà của Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va.

- Các anh làm gì ở đây? Bắt bọn cướp à? - Xê-mi-ôn hỏi.

- Bắt cướp, - Ê-li-da-rốp khẽ rít lên. Đi đi!

- Có cần giúp không?

- Đã bảo đi đi mà! Đừng làm ồn lên! - Ê-li-da-rốp gầm gừ.

Xê-mi-ôn đã bỏ đi một quãng, ngoái nhìn lại thấy cả bốn người đi vào sân nhà Ô-gô-rốt-nhi-cô-va. Anh tò mò, đứng đợi xem, rồi bỗng nghe có tiếng kêu: «Công an!» - anh vội vã chạy đến.

Giờ anh đứng sửng sốt nhìn Ma-ca, Gvô-dơ-đi-ép (anh nhận ra chúng ngay khi vừa bước vào nhà), nhìn Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va («Làm sao mà cô ta lại đi đàn đúm với chúng nó thế này?»), nhìn gã đàn ông lạ mặt, người cao gầy với vết sẹo trên má, nhìn cô gái trẻ măng trong chiếc áo bành-tô mỏng đã cũ, mà lúc mới vào trên khuôn mặt cô anh chỉ nhận thấy đôi mắt đờ đẫn vì khiếp sợ. «Nước mũi còn chưa khô mà đã đầu trộm đuôi cướp» - anh khó chịu nghĩ về cô gái. Bây giờ anh mới nhận thấy đôi môi cong sắc nét, cặp lông mày dài thanh mảnh. «Mà kể cũng đẹp đấy chứ, - anh thoáng nghĩ. - Thế mà hư hỏng, mục xương trong tù». Và trong ngực anh bỗng trỗi dậy một cảm giác vừa khó chịu, vừa tò mò nhức nhối đối với số phận của cô gái này.

- À, mà lại còn cô bé Na-ta-sa Mi-rô-nô-va này nữa... - Ê-li-da-rốp nói tiếp, («Xem kìa, họ tên cũng dễ nghe lắm», - Xê-mi-ôn nhận xét.) Tớ thấy mụ A-cu-li-na mua đôi ủng da con gái ngoài chợ, tớ mới hỏi: «Mụ thì cần gì những thứ này, già rồi...» - «Trời mới cho tôi một đứa con gái. Còn tiền, Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va cho... » - «Con gái nào?» - Thế đấy, dần dần tớ biết được cô tìm được Na-ta-sa trong đống tuyết và mang đến cho mụ A-cu-li-na như thế nào. - Ê-li-da-rốp quay sang phía Ô-gô-rốt-nhi-cô-va. - Và tớ nảy ra một câu hỏi rất đơn giản: tại sao cô không đưa về nhà? Cô chỉ có một mình thôi mà? Thế đấy! Cái khó, hóa ra đôi lúc lại thật đơn giản! Tớ bắt đầu theo dõi nhà... Không thấy gì khả nghi cả. Hôm nay quyết định chỉ kiểm tra bình thường thôi. Thế mà, như người ta nói, con mồi tự tìm đến người đi săn. Còn chưa kịp bước lên thềm, thì đã thấy Ma-ca đi ra...

Ê-li-da-rốp nói, líu cả lưỡi lại vì vui mừng và tất cả mọi người đều hiểu là hắn nói gì, chỉ riêng Xê-mi-ôn là không hiểu, và anh càng tò mò nhìn kỹ Na-ta-sa Mi-rô-nô-va.

- Anh quả đúng là Séc-lốc Hôm-xơ[2], - Du-bốp cười khẩy.

- Hôn hít gì ở đây? - Ê-li-da-rốp im bặt, tài hùng biện của anh ta như bị cắt ngang. - Nhảm nhí quen miệng!

Việc lục soát gần như không mang lại một kết quả gì, ngoài khoảng tám trăm đồng rúp trong mấy túi áo vét-tông đàn ông.

- Thôi được, - Ê-li-da-rốp khoát tay.. - Như thế nghĩa là hàng đã được giấu ở nơi khác, hoặc là đã đẩy đi rồi. Sẽ tìm được thôi. Nào đi! Để giữ thủ tục, bọn đàn ông phải trói tay lại. Và tớ báo trước - đừng có giở trò ra đấy, không thì Ê-li-da-rốp cho đi thăm ông vải ngay. Từng người một đứng dậy, đưa tay ra sau lưng. Cậu này, hắn nói với Du-bốp, - đứng dậy trước hết. Đưa tay ra.

- Tôi thấy anh quá cẩn thận đấy, - Du-bốp đưa tay ra, nói.

- Xong rồi, nào đi! - Ê-li-da-rốp ra lệnh sau khi tất cả đã bị trói tay.

- Tôi không đi! Tôi không muốn - Na-ta-sa Mi-rô-nô-va kêu lên. - Tôi không có lỗi, tôi không biết ai cả... Tôi chỉ vừa mới đến đây... Chị này dẫn tôi đến. Chị ấy bảo: «Đến đây, chơi một lúc với các bạn của chị...»

- Biết rồi, biết hết cả rồi, - Ê-li-da-rốp dẩu môi nói. - Rồi chúng tôi sẽ thả. Chỉ xin cô chữ ký, rồi sẽ thả ngay ra. Này, cái gì đấy? - hắn quát Du-bốp khi thấy tên này đang đi ra cửa bỗng dừng lại bên cạnh Na-ta-sa Mi-rô-nô-va.

- Này, cô bé, nghe ta nói đây, - Du-bốp nói, không chú ý đến tiếng quát dữ tợn của Ê-li-da-rốp. - Hãy nhớ lấy điều này: là người, không bao giờ được quỳ gối. Nếu đã quỳ gối, khi đó sẽ không còn là người nữa. Hiểu không?

- Không hiểu, - cô gái lắc đầu.

- Rồi sau sẽ hiểu. Nhưng hãy nhớ lấy điều đó. Và - vĩnh biệt. Khó lòng mà chúng ta còn gặp lại nhau...

* * *

Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép, không hiểu để làm gì, đi theo những người bị bắt cho đến tận đồn công an. Anh vừa đi vừa suy nghĩ về cô gái có cái tên Na-ta-sa. Cô ta là ai, có thật là cô ta không có lỗi, và cô ta ở đâu đến?

Khi bước ra khỏi phòng, Ma-ca dừng lại cạnh Xê-mi-ôn, nói khẽ nhưng giọng đầy dữ tợn:

- Này, ông cháu họ vô sản, nói hộ với cô chị gái An-na của tớ, là tớ có lời chào. Nói hộ là ông em ruột chẳng quên chị đâu...

Rồi hắn quay lại phía người cao lớn có vết sẹo, nói:

- Phê-đô thì chắc cậu khó lòng gặp được, nhưng cứ thử nhìn con trai hắn một tí xem...

Và quả thật, người có vết sẹo trên má tò mò và nặng nề, chăm chú nhìn Xê-mi-ôn từ dưới đôi lông mày cau có nhíu sát vào nhau.

«Hắn cần cha mình để làm gì? Hắn là ai? Trông đúng là tướng cướp...»

Những ngày ấm trời đã kết thúc, tuyết trở nên khô giòn, kêu cót két dưới chân. Trên đầu, những ngôi sao trắng nhợt lặng lẽ lấp lánh, cái lạnh buốt thấm qua cả lần áo len ấm áp và áo trượt tuyết khoác ngoài.

Na-ta-sa đi giữa đám người, đôi bàn tay giấu vào trong ống tay áo chiếc bành-tô đã cũ sờn. Thỉnh thoảng, Xê-mi-ôn thấy thấp thoáng mái đầu cúi thấp trùm trong chiếc khăn kẻ ô vuông và đôi vai gầy nhọn của cô. Suốt quãng đường đi, cô chỉ nhìn xuống dưới chân như sợ bị vấp. «Đấy, bây giờ cô ta sẽ quay lại nhìn», - Xê-mi-ôn bỗng nghĩ, khi họ đi đến cạnh ngôi nhà dài như một cửa hàng của đồn công an. Và quả nhiên, trước khi vào khuất sau cánh cửa bọc vải sơn, Na-ta-sa dừng lại trên bậc cửa thấp và ngoái nhìn về phía sau. Đôi mắt cô lấp lánh dưới ánh trăng mờ, cái nhìn buồn bã, thất vọng và bất lực như đang cầu khẩn một điều gì…

...Mấy phút sau, Xê-mi-ôn gõ vào cánh cửa ván xiêu vẹo của ngôi nhà với bốn bức tường bằng đất trát của bà già A-cu-li-na.

- Đợi tí, đợi tí, con gái ạ, - tiếng bà già A-cu-li-na vừa ho vừa khàn khàn lắp bắp sau cánh cửa, rồi tiếng then cửa lách cách. - Già cứ đợi, không ngủ, lo mãi... Khách nào ở nhà Ma-ri-a thế?

Cuối cùng, khi biết người gõ cửa không phải là Na-ta-sa, bà già im lặng, nhưng không sợ hãi, mà chỉ ngạc nhiên:

- A… Anh là ai, cần gì?

Xê-mi-ôn nói tên, bà già lẩm bẩm: «A-a... con trai cả của Phê-đô Xa-vê-li-ép à? » - Rồi đi vào nhà. Nghe Xê-mi-ôn kể lại chuyện xảy ra ở nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, bà già móm mém đôi môi khô héo, lắc đầu nói bằng một giọng không có tí gì là ngạc nhiên:

- Ra thế... thế đấy... Thế mà già cứ thắc mắc mãi: Ma-ri-a có khách đêm nào thế? Nhưng rồi lại nghĩ: việc của bọn trẻ mà, chắc lại hội họp liên hoan gì đấy. Thế mà - thì đấy... Làm sao bây giờ?

- Thế cái cô Na-ta-sa này là ai? - Xê-mi-ôn hỏi thẳng.

- Cô gái mồ côi, tản cư đến, Ma-ri-a dẫn đến cho già này, nói tìm thấy nằm trong đống tuyết, bảo già chăm sóc hộ, còn cô ta thì bận, phải đi làm ca đêm, rồi sau sẽ tìm hiểu xem là người như thế nào. Già này thì còn gì bằng nữa, vì nhà chỉ có một mình với mấy con dê sau lò sưởi. Trước đây còn có người ở trọ, cả một gia đình lớn, nhưng vừa chuyển đến nhà mới mà nhà máy phân cho. Già đã định đến ủy ban xã, xin cho người khác đến ở. Vừa lúc đó Ma-ri-a mang cái cô này, cái cô Na-ta-sa ấy đến. Hai ngày đêm không nói gì, chỉ khóc, sau bắt đầu nguyền rủa già với Ma-ri-a: tại sao lại không để cho cô ta chết trong đống tuyết ấy?!

- Thế tại sao... cô ta lại muốn chết?

Bà già kể lại cho Xê-mi-ôn nghe về Na-ta-sa tất cả những gì mình biết qua lời của cô. Xê-mi-ôn ra về trong tiếng lẩm bẩm của bà già: «Lạy Chúa, làm sao bây giờ đây, làm gì bây giờ đây...»

Hình như cả cha, cả mẹ đều không biết về sự có mặt của Ma-ca Cáp-ta-nốp ở San-ta-ra, và Xê-mi-ôn cũng không kể về hắn. Quan hệ giữa cha mẹ đã căng thẳng đến tột độ, họ sống trong nhà như những người xa lạ, suốt cả tuần chỉ nói với nhau được vài lời. Và Xê-mi-ôn cũng biết trước phản ứng của hai người khi anh báo tin về Ma-ca: mẹ chắc sẽ tái mặt đi, cả người căng ra như một sợi dây đàn, còn cha sẽ uốn cong cặp môi mọc đầy râu ria thành dấu ngoặc kép và nói đại loại: «Thế bao giờ người ta mới bẻ đùi cái thằng thổ phỉ này đi?» Những lời đó, Xê-mi-ôn biết, sẽ như dao cứa vào sợi dây đàn căng thẳng trong người mẹ, mẹ sẽ đau đớn kêu thét lên, nhưng không bằng âm thanh của giọng nói, mà chỉ bằng ánh mắt, câm lặng và khủng khiếp. Và Xê-mi-ôn không nói gì. Ăn tối xong, anh vào giường nằm, cầm lấy quyển sách, cố đọc, nhưng không vào; trước mắt anh cứ hiện ra cô gái có đôi mắt to, đen, hoảng hốt, bất lực, trong tai anh vang lên tiếng kêu cầu khẩn: «Tôi không đi đâu! Tôi không có tội!» Nếu quả thật cô ta không có tội, - Xê-mi-ôn nghĩ - nếu quả thật tất cả đúng như bà già A-cu-li-na kể, thì cô gái này sẽ ra sao? Và nói chung, tại sao lại như vậy, tại sao lại không ở đâu nhận vào làm việc cả? Cha cô ta thì đã sao, nếu quả thật là như thế... Bởi vì đồng chí Xta-lin đã nói: con cái không phải chịu trách nhiệm cho cha. Và nói chung... chẳng lẽ để con người hư hỏng cả cuộc đời?

Xê-mi-ôn còn nằm rất lâu không ngủ, trăn trở và suy nghĩ. Chỉ đến gần sáng, anh mới hiểu ra là cần phải làm gì. Và cái việc cần làm, hóa ra thật đơn giản, tự nhiên, đến nỗi Xê-mi-ôn phải ngạc nhiên: tại sao mình lại không nghĩ ngay ra được? Anh tự rủa mình là thằng ngốc, úp mặt xuống gối và lập tức thiếp đi.

Buổi sớm mùa đông màu xanh nhợt chậm chạp và nặng nề kéo về San-ta-ra. Na-ta-sa Mi-rô-nô-va bước ra khỏi căn phòng có cánh cửa bọc vải sơn, hít mạnh làn không khí mát lạnh, vội vã đi xa ngôi nhà của đồn công an, rồi ngồi xuống một chiếc ghế gỗ dài dưới gốc cây đã đóng băng và bắt đầu những ý nghĩ chán chường, buồn bã.

Cô nhớ lại lời của tên cướp có vết sẹo tên là Du-bốp: «Hãy nhớ lấy điều này: là người, không bao giờ được quỳ gối. Nếu đã quỳ gối, khi đó sẽ không còn là người nữa». Lúc đầu cô cho những lời này là trống rỗng, ngu ngốc, không hiểu nói ra để làm gì, nhưng rồi sau chúng bắt đầu khoan vào trong não, mỗi lúc một đau hơn, sâu hơn. Không, trong những lời này có một ý nghĩa, một sức mạnh nào đó mà bây giờ cô còn chưa hiểu được. Cô không hiểu hết ông đồn trưởng công an với hai sao trên ve áo hỏi gì, và không còn nhớ mình đã trả lời như thế nào.

Mải suy nghĩ về những điều đó, Na-ta-sa không nhận thấy Ê-li-da-rốp đã đi đến bên cạnh. Cô đứng phắt dậy, nhưng không bỏ chạy, mà chỉ cau mày khinh bỉ nhìn hắn.

- Chạy chán rồi chứ? - hắn hỏi: - Bây giờ đi về nhà.

- Còn chữ ký? Tôi đã ký là sau hai bốn giờ phải rời khỏi San-ta-ra của các người cơ mà.

- Đấy là tôi cho cô một bài học để mà nhớ... Không sao, tôi bắt cô ký, tôi cũng có thể hủy bỏ được, nếu như cô đồng ý trở lại nhà... Dễ không thôi mà, làm xong ngay. Còn về cái chuyện kia… tôi có lỗi, đang say mà. Sẽ không bao giờ có chuyện... như thế nữa, mọi cái sẽ tốt đẹp. Sẽ trả tiền công cho cô. Còn cô, thử nghĩ xem, đi đâu bây giờ? Mùa đông rét thế kia, chết cóng ngay.

- Có thể, không phải tên cướp kia, mà anh nói đúng? - Na-ta-sa trầm ngâm nói. - Có thẻ bây giờ, trước mắt, phải quỳ gối xuống cái đã? Quỳ một ít lâu, rồi đứng dậy?

- Đúng thế! - Ê-li-da-rốp mừng rỡ nói, - Thế mới là biết sống, như người ta nói. Nhà tôi sẽ là nơi cô ở yên tâm nhất. Sau rồi sẽ còn cám ơn nữa.

- Ôi, đồ đểu... đồ đểu giả!

- Thôi, đủ rồi! Đã thế nghe đây: đến sáng mai mà không đi khỏi San-ta-ra, lúc đó đừng trách, - hắn rít lên như ngỗng đực và bỏ đi.

Na-ta-sa lại ngồi xuống ghế và suy nghĩ: mình phải làm gì đây? Từ giờ đến chiều có thể ở nhà bà già A-cu-li-na tốt bụng. Có thể ở đó một tuần - nếu không đi ra ngoài thì ai biết được? Nhưng rồi sau đó? Bà già không thể nuôi không cô mãi được, bà ta cũng chỉ sống bằng một số tiền hưu ít ỏi. Lại còn ngày mai thế nào Ê-li-da-rốp cũng mò đến kiểm tra... Làm gì bây giờ? Làm gì?

Màn sương xám buổi sớm dần dần tan, để lộ con đường làng chạy dài ra phía xa. Na-ta-sa ngồi bất động, mắt đờ đẫn nhìn ra phía trước mặt. Đã bắt đầu có người đi ngang qua, ngạc nhiên nhìn cô. Na-ta-sa hiểu rằng cần phải đứng dậy và đi đến một nơi nào đó, nhưng cô vẫn ngồi yên. Cô muốn òa ra khóc, muốn hét thật to, tuyệt vọng, như một con thú, để tất cả mọi người nghe thấy, dừng lại và hỏi, dù chỉ một câu: cô làm sao thế, tại sao lại ngồi một mình ngoài trời lạnh thế này? Hoặc dù chỉ là cái anh mặc áo khoác lông cổ dựng ngược kia...

Nhưng khi anh thanh niên chạy ngang qua, như nghe được ý nghĩ của cô, bỗng quay lại, đứng trước mặt cô và vui vẻ chào hỏi: «Ô, chào cô! » - Na-ta-sa vội giạt ra xa như gặp một người bị bệnh hủi:

- Anh cần gì? Đi đi, đi đi!..

- Có thể, đầu tiên ta làm một cuộc họp báo đã? - anh thanh niên vẫn vui vẻ hỏi, chăm chú nhìn cô bằng đôi mắt xanh tinh nghịch. - Tôi còn có ba bốn phút để dự trữ. Cho lần gặp đầu tiên thế là đủ. Tên tôi là I-u-ri. Nhưng có thể gọi tôi là Ghê-oóc-ghi, hoặc Gô-sa, hoặc A-ga-phôn. Hoặc A-ga-phôn-tsích. Thế còn cô?

Anh thanh niên nói nhanh và hóm hỉnh, nhưng cô không cảm thấy buồn cười.

- Xin anh hãy để cho tôi yên, - cô nói và cảm thấy đầu bỗng trở nên nặng trĩu, trong tai có tiếng vang nhức nhối.

- Còn họ của tôi lại còn hay hơn: Xa-vê-li-ép, - anh thanh niên tiếp tục, co một chân đi ủng gõ vào chân kia. - Đây là họ hay nhất ở nước Nga đấy. Tôi chưa vợ, trong gia đình không có ai bị ra tòa. Tất nhiên là dưới Chính quyền Xô-viết. Còn dưới thời Nga hoàng, cha đã thử hết mọi nhà tù khổ sai, vì vậy bây giờ là giám đốc nhà máy kia kia, thấy chưa? Mẹ trước đây cũng là anh hùng hoạt động bí mật, còn bây giờ phụ trách nội trợ. Tôi làm việc ở nhà máy của cha. Nhưng than ôi, chỉ là thợ tiện, giai cấp công nhân, như người ta nói. Là chủ nhân ông của đất nước.

- Tôi cũng chưa chồng, - bất ngờ với cả chính mình, Na-ta-sa bỗng thốt lên. - Trong gia đình có người phải ra tòa. Cha bị ngồi tù. Còn tôi không làm việc ở đâu cả, và... nói chung, mới ở đồn công an ra đây.

- Khá lắm! - Xa-vê-li-ép phá ra cười. - Thế cô... thế em có tin vào tình yêu nảy sinh ngay từ phút đầu gặp gỡ không?

- Tin, - cô vội vã gật đầu. Rồi cô hét mỗi lúc một to hơn, hằn học: - Tin, tin! Tin đã từ lâu rồi!

- Cái cô này, tâm thần à? - I-u-ri hơi lùi lại. Cũng vừa lúc đó còi nhà máy rúc lên khàn khàn, kéo dài. - A, quỷ thật, hôm nào cũng muộn! Mà tôi còn phải chạy về nhà thay quần áo. Hôm qua đi nhảy về quá khuya, phần còn lại của đêm, cô hiểu không, nằm ở nhà một người bạn. Chúng ta sẽ tiếp tục buổi họp báo... vào chiều nay, được không? Đến câu lạc bộ, khiêu vũ nhé! - Và anh vội vã chạy đi, ngoái lại kêu to: - Hẹn đến chiều! Em phải biết rằng anh rất thích em đấy...

Anh thanh niên vui vẻ chạy khuất, để lại một cảm giác trống trải. Và anh thanh niên này, và những lời của anh ta - câu lạc bộ, khiêu vũ, nhà máy, thay áo - tất cả những cái đó như từ một thế giới nào đó thuộc về quá khứ, xa xôi, giờ không thể nào đạt tới và cũng không có ý nghĩa gì đối với cô. Đầu cô choáng váng, mặt nóng bừng, còn toàn thân ớn lạnh. Suốt đêm qua cô không ngủ, và bây giờ mắt như muốn díp lại. Nhưng ngủ ở đây không được, mọi người nhìn thấy. Và cũng không cần đến nhà bà già A-cu-li-na làm gì, cứ đi ra sau làng. Ở đó có những bụi cậy rậm rạp, và sẽ chẳng ai tìm thấy cô, nếu như đi vào thật sâu…

Lại có người nào chạy vội trên đường, hai tay vung vẩy. Cô liền nhận ra ngay - đó là anh thanh niên hôm qua mặc áo trượt tuyết im lặng đứng cạnh cửa nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va nhìn những người công an dẫn họ đi. Sau đó anh ta, không hiểu đi làm gì, đi theo họ đến tận đồn công an.

Na-ta-sa khó chịu với sự xuất hiện của anh, cô không muốn anh nhận ra cô. Cô cúi thấp mái đầu nặng trịch, nóng như lửa xuống, hy vọng rằng anh sẽ chạy ngang qua, không nhận ra cô. Nhưng anh đã chạy tới bên, sỗ sàng túm lấy tay cô.

- A, đây rồi! Tôi biết ngay mà, chưa thể kịp đi xa được, - anh vừa thở hổn hển vừa nói. - Đi thôi, tôi đã thu xếp xong rồi. Nào, đi, đi...

- Đi đâu nữa? Bỏ tay tôi ra!

- Tôi bảo là đi mà! - anh kêu lên giận dữ. - Thế này mà cũng định tự tử đấy!

- Anh có bỏ tôi ra hay không? Tôi căm thù, căm thù tất cả các người!

Nhưng Xê-mi-ôn, không để ý đến những lời của cô, túm chặt tay cô kéo gần như chạy dọc theo con đường làng.

* * *

Một giờ trước đây, chợt giật mình tỉnh giấc sau giấc ngủ ngắn, Xê-mi-ôn đưa mắt nhìn ra cửa sổ và thấy ngoài trời vẫn tối đen, liền thở ra nhẹ nhõm, vội vã mặc quần áo. Cha còn ngủ, mẹ đang nhóm lò. Bắt gặp ánh mắt ngạc nhiên của mẹ, anh chỉ khoát tay:

- Con sẽ về ngay, - và chạy bổ ra đường.

Mấy phút sau anh đã ở cạnh nhà Cru-gi-lin được bao bọc trong một lớp hàng rào bằng gỗ, mạnh dạn đưa tay đẩy mạnh vào hai cánh cổng cao và hẹp, nhưng cổng khóa bên trong. Không nghĩ ngợi gì nhiều, anh nhảy lên bám lấy mép trên của hàng rào, kéo người lên, nhảy vào bên trong, chạy lên thềm và đấm mạnh vào cửa.

Cru-gi-lin, mặt ngái ngủ, ngáp liên tục, mặc chiếc áo ngủ dày, ngạc nhiên nhìn Xê-mi-ôn và nghe anh hấp tấp, lộn xộn nói, mãi vẫn không hiểu nổi là anh muốn gì.

- Đừng vội, cứ bình tĩnh lại từ đầu xem nào, - ông khẽ ho, nói, - Về chuyện Cáp-ta-nốp, đêm qua người ta đã gọi điện cho bác biết rồi. Còn cô Na-ta-sa nào, bác chưa biết gì cả. Đầu đuôi ra sao nào?

- Cháu cũng mới trông thấy cô ta lần đầu vào tối qua. Hình như họ của cô ta là Mi-rô-nô-va. Rồi sẽ ra sao? Cô ta muốn tự tử! Làm thế nào bây giò'?

- Cháu bảo sao? Khoan đã nào, hình như bác đã nghe thấy cái họ này ở đâu rồi... - Đôi mắt ngái ngủ của Cru-gi-lin linh động hẳn lên. - Nào, nào, kể tiếp đi!

Lần này Cru-gi-lin nghe Xê-mi-ôn nói im lặng, không cắt ngang, rồi ông bước đến bên máy điện thoại, xin nối với trực ban công an.

- Có cô gái nào mà hôm qua các anh bắt giữ cùng với Cáp-ta-nốp đấy? Mi-rô-nô-va à? - Cru-gi-lin hỏi. Ông im lặng nghe một lúc lâu. - Thả ra là thế nào? Tại sao? -Và lại nghe thêm chừng nửa phút, cuối cùng ông nói: - Các anh phải tìm ra cô ta ngay.

Bí thư huyện ủy bỏ ống nghe xuống, quay lại phía Xê-mi-ôn:

- Thế đấy… Bác nghĩ là cháu đến quá sớm, nhưng hóa ra vẫn muộn. Họ đã thả cô ta ra hai mươi phút trước đây. Không sao, sẽ tìm thấy.

- A-a... đợi đến khi họ tìm được, - Xê-mi-ôn đứng nhanh dậy. - Cháu sẽ dẫn cô ta đến cho bác ngay bây giờ. Cháu ngay bây giờ... Bao giờ thì bác đi làm?

- Ngay bây giờ… Rửa mặt, rồi uống một cốc chè thôi...

* * *

Khi Cru-gi-lin đến văn phòng huyện ủy, Xê-mi-ôn và Na-ta-sa đã ngồi ở hành lang cạnh phòng tiếp khách. Chị lao công huyện ủy đang dùng giẻ ướt lau các bệ cửa sổ.

- Đây... - Xê-mi-ôn đứng vụt lên. - Người ta đã bắt cô ta ký giấy hai mươi bốn giờ sau phải đi khỏi San-ta-ra.

- Vào đây, - Cru-gi-lin liếc nhanh qua người cô gái.

Xê-mi-ôn túm lấy bàn tay nóng như lửa của Na-ta-sa, kéo đứng dậy, đẩy vào phòng đợi, rồi vào phòng làm việc. Na-ta-sa đứng tựa lưng vào tường, hai tay giấu ra sau lưng, người căng thẳng như chờ đợi bị tra tấn. Cru-gi-lin vẫn nặng nề giẫm chân ở trong góc phòng, cạnh chỗ treo áo.

- Nào, chào cháu Na-ta-sa Mi-rô-nô-va. Có nhận ra bác không?

- Sao lại không? Nhận ra ngay. Bác là người tốt bụng.

- Đúng đấy, cháu còn nhớ. Kể cho bác nghe xem việc gì đã xảy ra với cháu lúc đó nào?

- Không cần đâu. - Giọng nói của Na-ta-sa vừa buồn, vừa giễu cợt. - Cháu đã kể bao nhiêu lần rồi. Được ích gì đâu?

- Thế à? - Cru-gi-lin dường như tỏ vẻ đồng ý. - Cháu không muốn à?

- Cháu cũng là đoàn viên thanh niên... trước đây. Cháu đã đến thành đoàn ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ để kể hết. Lúc đây hình như người ta cũng nghe, nhưng sau quay đi hết, có người còn giấu cả mặt nữa. Và bác chắc cũng sẽ quay mặt đi, nếu biết rằng...

I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, không gõ cửa, bước vào. Ông mặc quân phục. Na-ta-sa nhìn lên ve áo đỏ của ông và im lặng.

- Bác sẽ biết gì nào? Rằng cha cháu đang ở tù à?

- Vâng, ở tù! Ở tù! - Na-ta-sa hét lên. - Nhưng việc gì đến tôi? Tôi có tội gì? Tại sao bây giờ tôi không còn chỗ đứng nào trên mặt đất này? Tôi trước đây cũng là một người dân Xô-viết chứ? Hay là, nói chung, không phải là ng ười nữa? Còn Ê-li-da-rốp - hắn là người... Hãy nói cho tôi hiểu... Ông là người lớn tuổi. Và ông, - cô quay sang A-lây-nhi-cốp. - Ông hãy giải thích đi, cái gì đang xảy ra thế này? Hãy giải thích đi!

A-lây-nhi-cốp cởi áo ca-pốt, treo lên móc áo và bước đến bên cạnh Na-ta-sa. Đôi má cô ửng lên một màu đỏ thẫm ốm yếu, nặng nề, cặp mắt bừng bừng một ngọn lửa đen lạnh lùng, làm cho khuôn mặt cô trở nên đanh lại, xấu xí...

Gặp cái nhìn chằm chằm của A-lây-nhi-cốp, ngọn lửa đen trong mắt cô không tắt đi, thậm chí không lay động, mà hỉnh như còn trở nên đen hơn.

- Ông có cần con ở không? - Na-ta-sa bỗng hỏi bình tĩnh hơn, nhưng bằng một giọng làm cho A-lây-nhi-cốp phải rùng mình. - Tôi có thể. Tôi có thể làm con ở, cả làm con hầu nữa. Tôi có thể! Ông thấy thế nào? - Giọng cô rít lên, đứt quãng.

- Điều đó... hiểu như thế nào? - A-lây-nhí-cốp hỏi. Vết sẹo chéo trên má ông trở nên tái xanh, ông lấy bàn tay xoa lên.

- Hiểu thế đấy. Hoặc các ông cứ hỏi đi - rằng tôi có yêu Tổ quốc không? Hỏi đi! Sao các ông im lặng?

Bây giờ cô đứng khom người xuống như chuẩn bị nhảy bổ vào I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, cắn xé ông ra từng mảnh. Chiếc khăn bịt đầu rơi xuống vai, trán và má ướt đẫm mồ hôi. Cru-gi-lin đứng dậy khỏi bàn mình, bước vội đến bên cô gái như sợ cô ta nhảy vào A-lây-nhi-cốp thật.

- Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích! - Xê-mi-ôn, không hiểu để làm gì, thốt kêu lên.

Cru-gi-lin bước đến bên Na-ta-sa, túm lấy vai cô lắc mạnh.

- Rồi chúng tôi sẽ hỏi về điều đó... Chỉ có không phải ngay bây giờ, - ông nói nhanh. - Còn bây giờ hãy nói đi: cô có tin là cha cô có tội không?

- Cái đó thì có ý nghĩa gì?!

- Có. Đặc biệt là cho chính cô. Có tin không?

Na-ta-sa cố sức nuốt một cục gì nặng nề trào lên cổ. Mấy giây cô còn sợ sệt nhìn vào đôi mắt bình tĩnh của Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích Cru-gi-lin, thậm chí định hất tay ông xuống khỏi vai. Nhưng ông túm rất chặt.

- Nếu như các ông biết cha tôi là người như thế nào! Giá như các ông biết được... - Và cô òa ra nức nở.

- Thôi, thôi đi... - Cru-gi-lin bối rối, bất lực nói. - Khoan đã, cháu ốm phải không? Người như lửa.

- Không, - cô lắc đầu.

Một lúc sau, Na-ta-sa ngồi trong chiếc ghế mềm đối diện với Cru-gi-lin và kể cho ông nghe về chuyện của mình, tử đầu đến cuối. Thỉnh thoảng, cô lại lấy tay xoa thái dương, cố làm dịu bớt cơn đau trong đó (trong đầu cô như có ai lấy búa gõ không ngớt), cô khóc, lấy chiếc khăn tay nhàu nát, ướt đẫm lau khô nước mắt, rồi lại kể tiếp. Cru-gi-lin, Xê-mi-ôn, A-lây-nhi-cốp ngồi nghe im lặng. Xê-mi-ôn liên tục cựa quậy trên ghế, không biết giấu đôi tay của mình đi đâu, còn A-lây-nhi-cốp chống hai tay lên đầu gối, ngồi bất động, mắt nhìn xuống đất.

- Thôi đủ rồi! - Cru-gi-lin đột ngột ngắt lời, - Ôi, Ê-li-da-rốp, đồ đểu cáng! Rồi sẽ xét sau. Còn cháu… - Ông nghiêm khắc nhìn cô gái. - Mới gặp một - hai thằng đểu trong đời mà đã kết luận rằng tất cả mọi người đều như vậy.

- Không phải hai! Chúng rất nhiều.

- Thì cứ cho là hai mươi! Thì cứ cho là hai trăm! - Cru-gi-lin nói to, dữ tợn nhìn A-lây-nhi-cốp, rồi cúi đầu nhìn xuống, khẽ tiếp: - Mặc dù đôi khi chỉ cần một thằng cũng đủ làm cho hỏng cả đời người. Bởi vì còn tùy theo thằng đểu đó có sức mạnh nào. Có chỗ ở chưa?

- Có, - Xê-mi-ôn vội đáp. - Bây giờ có thể ở tạm nhà bà già A-cu-li-na.

- Thế thì tốt rồi. Còn công việc sẽ tìm ra thôi, ở ta có cả một nhà máy kia mà. Cháu muốn làm ở nhà máy không?

- Ở đâu cũng được... Ở đâu cũng được và làm gì cũng được! -Na-ta-sa vội vã nói . - Và các bác sẽ thấy cháu làm việc như thế nào! Cháu...

- Được rồi, được rồi... Còn bây giờ về nghỉ đi, cho bình tĩnh lại. Xê-mi-ôn, đưa tiễn Na-ta-sa đi.

Na-ta-sa đứng lên, bước ra cửa, ngoảnh lại nói:

- Cảm ơn các bác...

* * *

Na-ta-sa và Xê-mi-ôn đi khỏi, Cru-gi-lin và A-lây-nhi- cốp vẫn còn ngồi nguyên tại chỗ rất lâu và im lặng.

- Bao giờ thì đi đấy, I-a-cốp? - Cuối cùng, Cru-gi-lin lên tiếng.

- Bây giờ việc này không còn phụ thuộc vào tôi nữa, mà vào phòng quân vụ. - A-lây-nhi-cốp nặng nhọc ưỡn thẳng người ra. -Công việc đã bàn giao gần xong. Người thay thế tôi có vẻ được việc lắm, chắc sẽ làm việc hợp với anh.

- Cái gì thế? Để trả thù cho những quan hệ trước đây của chúng ta à?

- Trả thù nào, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích! - A-lây-nhi-cốp thở dài và như thường lệ, ông lại đứng dậy, nhìn qua cửa sổ đầu vẫn như đang nghĩ ngợi về một điều gì đó. - Vâng, tôi sẵn sàng đổi rất nhiều thứ để không có cái thời kỳ... khi mà... khi mà tôi không thể làm việc được với anh. Và để bây giờ không phải nghe tiếng kêu như lúc nãy: «Hãy giải thích cho tôi nghe, cái gì đang xảy ra thế này?»

Phía dưới vết sẹo trên má A-lây-nhi-cốp nổi lên một cục u lớn. Cru-gi-lin vẫn ngồi trong chiếc ghế đệm cạnh bàn, tay đặt trên thành ghế mềm, mắt nhìn I-a-cốp, nhìn đôi thái dương đã bạc trắng, tấm lưng chắc chắn chật căng trong chiếc áo quân phục của ông.

- Chân lý - quả là một điều kỳ lạ, - trong giọng nói của A-lây-nhi-cốp vang lên một sự cay đắng thật sự. - Tưởng như bao giờ tôi cũng đã hiểu được chân lý. Thế mà hóa ra... - Ông quay sang phía Cru-gi-lin: - Không biết rồi những người sống sau chúng ta có hiểu được rằng chúng ta... dù có phạm phải những sai lầm như thế nào chăng nữa, vẫn không phải là những kẻ đểu giả? Rằng chúng ta nghĩ là đã hành động theo chân lý và vì chân lý:..

Cru-gi-lin không vội nói ngay. Ông im lặng một lúc lâu.

- Có hiểu không à? Thứ nhất là anh đừng nói gộp, khái quát như thế. Chữ «chúng ta» không dùng ở đây được đâu. Vì rằng trong số những «chúng ta» đó đã có và đang có những người rất chân thật với bản thân mình, đã có và đang có những kẻ không chân thật, tức là bọn đểu giả, hám danh. Và ngoài ra, đã có và đang có những kẻ thù thực sự, có ý thức, của chân lý, của sự nghiệp chúng ta.

- Chẳng hạn như Pô-li-pốp? - A-lây-nhi-cốp bỗng hỏi thẳng.

- Tôi không biết! - Cru-gi-lin cáu kỉnh nói to và đứng dậy. -Anh thử đi mà tìm hiểu xem cái gì đang xảy ra trong lòng hắn ta. Bây giờ hắn cũng đang tìm cách xin ra mặt trận. Cái gì xảy ra trong lòng anh - tôi thấy, tôi hiểu, và cái chính - tôi tin. Còn trong lòng hắn ta - bây giờ tôi chưa biết, chưa hiểu... Còn thứ hai là... Vâng, hậu sinh sẽ hiểu... Nhất định sẽ hiểu những ai đã chân thực với chính mình. Và sẽ tha lỗi. Thế hệ hậu sinh bao giờ cũng rộng lượng. Và nói gì đến hậu sinh, ngay cả những người đương thời cũng sẽ thứ lỗi, nếu như... - Cặp mắt Cru-gi-lin bỗng lóe lên tia chớp tàn nhẫn sắc nhọn như thời còn trẻ, và cũng tàn nhẫn như vậy, ông nói tiếp, không chọn từ, không dịu giọng xuống: - Nếu như những kẻ «chân thực với chính mình» này chứng tỏ được sự chân thực đó bằng quãng đời còn lại của mình, chứ không hèn nhát và không tìm cách tự tử bằng cái chết ra vẻ anh hùng ngoài mặt trận» như những kẻ làm bậy...

- Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích!

- Thế nào, không thích à?! - Cru-gi-lin cũng quát to, đôi môi của ông run bần bật. - Không, chúng ta sẽ nói thẳng, không xã giao một tí nào cả. Đấy, anh đã làm bậy trong đời mình... Đừng có nhăn mặt như thế, dù có ra sao thì anh cũng đã làm bậy rồi, - và bây giờ định lủi vào bụi? Lại còn rộng lượng để cho chúng tôi cái khả năng giải thích cho cô bé kia rằng tại sao trong cuộc đời lại xảy ra những việc như vậy? Mà cần phải giải thích cho cô ta hiểu, vì cô ta còn phải sống trên mảnh đất này. Và cô ta sẽ sống như thế nào, sống và sinh con đẻ cái vì mục đích gì? Vì cái gì mà nuôi chúng lớn, đem cái lý tưởng đạo đức nào mà gieo vào lòng chúng nó?

- Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích! - A-lây-nhi-cốp lại thu hết sức kêu lên cầu khẩn.

- Không đâu, đồng chí thân mến của tôi ạ! Việc đã vậy, bây giờ ta hãy cùng nhau giải thích cho cô ta rõ chuyện gì đã xảy ra. Không thì, tôi thấy, anh tìm ra cho mình lối thoát quá dễ dàng đấy...

Cru-gi-lin dừng lại, nhìn đồng hồ, ngồi vào bàn của mình, cau mày giận dữ gạt mấy tờ giấy trên mặt kính sang một bên. I-a-cốp chậm chạp bước đến bên móc áo, bắt đầu khoác áo ca-pốt lên người. Cru-gi-lin im lặng nhìn theo ông.

- Anh chờ câu trả lời của tôi chứ gì? - Khi đã ra đến cửa, A-lây-nhi-cốp hỏi. Cru-gi-lin chỉ nhún vai. - Còn tôi trả lời như thế này: lúc đầu tôi không hiểu tại sao anh lại mời tôi đến gặp cô bé này, còn bây giờ thì đã rõ rồi.

- Thế thì sao? - Cru-gi-lin lạnh lùng mím chặt môi, hỏi.

- Chiến tranh vẫn là chiến tranh, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ. Và tôi, như anh biết đấy, không phải là thằng nhát gan. Nếu tôi còn sống trở về - tôi sẽ nghĩ rằng đây là nhờ anh. Còn nếu tôi không trở về nữa - anh cũng đừng nghĩ rằng tôi hèn nhát. Đấy, tất cả những gì tôi có thể trả lời anh.

Đôi môi Cru-gi-lin nứt nẻ vì lạnh (trong thời gian gần đây ông đi xuống huyện rất nhiều) khẽ giật nảy lên, những nếp nhăn nghiêm khắc trên trán giãn ra. Nhưng ông vẫn không nói gì cả.

* * *

Bước từ ngôi nhà văn phòng huyện ủy ra ngoài sân tuyết kêu lạo xạo dưới chân, Xê-mi-ôn vui mừng nói:

- Thế đấy! Tất cả đều bình thường rồi. Thế mà - tôi căm thù... Khoan đã, hình như cô đang bị sốt thì phải? - anh muốn sờ tay lên trán cô.

- Đừng! - Na-ta-sa kêu lên và hất tay anh ra.

- Thôi, đi nhanh lên, tôi dẫn cô đến nhà bà A-cu-li-na.

- Không có anh, tôi cũng đi được.

-Thật ư? Thế nhà bà ta ở đâu, hướng nào? Thế đấy. Đi theo tôi

Anh bước đi trước, Na-ta-sa ngập ngừng, rồi cũng bước theo sau. Cô vừa đi vừa nghĩ rằng mình ăn nói sỗ sàng với anh thanh niên này thật không phải, anh ta đã... Ý nghĩ đó vừa hiện ra đã tan đi ngay, vì một cơn nóng từ bên trong đã bốc lên đầu, nổ tung, nhức buốt, mọi vật trước mắt quay cuồng. Anh thanh niên mà bí thư huyện ủy gọi là Xê-mi-ôn lúc ẩn lúc hiện, hỏi một câu gì đó cô nghe không rõ. Và anh bỗng nhiên nhỏ dần, nhỏ dần lại, rồi như chui tọt xuống đất. Anh đã biến mất hẳn, và xung quanh cô cũng không còn cái gì nữa, cả Na-ta-sa cũng không còn...

...Cô tỉnh lại trong một căn phòng có những bức tường bằng gỗ. Cô trông thấy cửa sổ: với lớp kính đóng băng dày, lò sưởi trắng toát - chắc vừa mới quét vôi lại. Bên cạnh lò sưởi cháy hừng hực, một bà già có bộ mặt đen sạm, miệng móm mém, đang ngồi gọt khoai tây. Sau chiếc bàn con cạnh cửa sổ, một cô bé chừng mười ba tuổi, tóc tết thành bím vểnh ra như đôi sừng non, đang ngồi viết hoặc vẽ một cái gì đó, đầu lưỡi hồng thè ra vì tập trung căng thẳng. Giữa nhà, một chiếc nồi treo trên móc sắt buông từ trần xuống.

«Mình đang ở đâu thế này?» - Na-ta-sa hỏi thầm và thở dài.

Bà già với khuôn mặt sạm đen, ngẩng đầu, bước đến bên cạnh, cúi xuống, mớ tóc bạc gần như chạm vào mặt cô, hỏi:

- Cháu có thấy gì không?

- Có thấy. Bà là ai?

- Tỉnh rồi, lạy Chúa... Gan-na, đưa cốc sữa đây.

Cô bé tóc tết bím, đáng lẽ phải mang sữa đến, lại chạy đến bên giường, ngạc nhiên và dò hỏi nhìn Na-ta-sa. Rồi trong đôi mắt của cô bé hiện lên một tia vui mừng, cô chạy đến bên bếp lò và quay lại giường với cốc sữa trong tay.

- Này, cháu uống đi, - bà già nói.

- Cháu không muốn.

- Không muốn cái gì?! Uống đi!

Và bà luồn bàn tay khô cứng như thanh củi xuống dưới gáy Na-ta-sa, đỡ đầu cô dậy, đưa cốc sữa đến bên miệng. Mùi sữa nóng xộc vào mũi, làm cho đầu cô ngây ngất, choáng váng. Trong lúc uống, đầu vẫn còn quay, Na-ta-sa cảm thấy mình như say... Sau đó bà già lại ngồi gọt khoai tây, còn cô bé tóc tết bím đến ngồi bên giường và nói luôn mồm, khi líu lưỡi, lắp bắp vì quá vui, khi sợ sệt hạ thấp giọng xuống thì thầm:

- Đấy, thế mà bác Phê-đô bảo rằng chị sẽ không khỏi... «Sẽ chết mất ở đây thôi», - bác ấy nói. Bác ấy mắng anh Xê- mi-ôn mới khiếp chứ, vì rằng anh ấy mang chị về đây. Anh Xê-mi-ôn bế chị trên tay về đây mà, mang vào nhà như thế này này… Mọi người sợ quá. Cô An-na bảo: «Đặt cô ấy lên giường trong phòng này này, mau lên». Cô An-na tốt lắm. Anh Xê-mi-ôn cũng vậy. Và tất cả đều tốt. Chỉ có bác Phê-đô là không tốt thôi, bác ấy suốt ngày tức giận, em sợ bác ấy lắm. Còn tên em là Gan-na. Đúng ra là Ga-li-na, nhưng mọi người đều gọi là Gan-na, Gan-na. Chúng em tản cư đến đây, trước chiến tranh sống ở U-cra-i-na. Nhà em có một khu vườn, táo mọc to-o-o như thế này này. Vườn của ông em và bố em trồng đấy. Rồi sau em thấy một quả đạn của quân phát-xít nổ trong vườn, nhà bốc cháy - mái lợp bằng rạ mà. Chúng em chạy ra ga, còn nhà thế là cháy hết. Cha em giờ đang ở ngoài mặt trận, còn chúng em ở đây, cha em cũng không biết rằng chúng em đang ở đây, rằng ông nội của em vừa mới chết. Ông nội em xây cái lò này - ông em là thợ xây lò giỏi lắm - và chết. Mẹ em mỗi khi nhóm lò lại khóc. Mẹ em bảo người xây lò thì đã chết, mà lò do tay người xây để lại, vẫn cháy... Đây là gian nhà kho của nhà chủ ở đây, bác Phê-đô Xa-vê-li-ép, ông em và mẹ em chữa thành nhà ở. Không thì chật lắm. Cô An-na nói: «Đem trát vách lại là sẽ tốt thôi». Thế chị sẽ sống ở đâu? Ở với chúng em nhé? Chị cứ ở đây, bây giờ thì tha hồ chỗ. Cô An-na cho nhà chúng em hai phòng, anh Xê-mi-ôn, Đi-ma và An-đrây ở phòng thứ ba, còn cô An-na và bác Phê-đô thì ngủ ở dưới bếp...

Na-ta-sa không hiểu được gì qua những lời hấp tấp lộn xộn của Gan-na, chỉ đoán ra rằng cô đang ở trong nhà của chính anh thanh niên đã bất ngờ xuất hiện ở nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, rồi sau đó đưa cô đến gặp bí thư huyện ủy.

- Chị ở đây đã lâu chưa? - Na-ta-sa hỏi.

- Đã bốn ngày rồi. Anh Xê-mi-ôn chắc phải mừng lắm khi thấy chị khỏe lên. Anh ấy buổi sáng, buổi chiều nào cũng ghé vào hỏi chị ra sao rồi. Bây giờ anh ấy đang đi làm việc, mẹ em cũng đang đi làm việc, ai cũng đi vắng cả. An-đrây đi học, Đi-ma đi trượt băng. Và chú I-u-ri cũng sẽ rất vui. Hôm qua chú ấy đến, nhìn chị rất lâu, rồi nói: «Thế mà mình lại đợi mãi cô ta ở câu lạc bộ...»

Gan-na kể hết tên này, tên nọ, và tất cả rối tung cả lên, Na-ta-sa không thể hiểu được cô An-na, bác Phê-đô, Đi-ma, An-đrây là ai. Trong đầu cô nghe như búa gõ, bất cứ một cử động nào cũng dội lên hai bên thái dương nhức buốt.

- Khoan đã, chú I-u-ri nào?

- Chú ấy là anh họ của anh Xê-mi-ôn nhà này: Chú ấy buồn cười lắm.

- Họ chú ấy là gì?

- Cũng là Xa-vê-li-ép. Bố của chú ấy là giám đốc to nhất của nhà máy mẹ em làm việc.

Na-ta-sa nhớ lại anh thanh niên vui tính mặc áo lông đi ủng và những lời buồn cười của anh ta, «Có thể gọi tôi là Ghê-oóc-ghi hoặc Gô-sa. Hoặc A-ga-phôn, hoặc A-ga-phôn-tsích». Lúc đó những lời của anh không làm cho cô buồn cười, còn bây giờ cô lại mỉm cười. Nụ cười của cô ngượng nghịu, chỉ hơi thoáng qua trên đôi môi khô gầy của cô. Và bỗng nhiên cô cảm thấy như bên cạnh mình không có cô bé Gan-na nào cả, không có và chưa hề có trên đời này cả I-u-ri, cả Xê-mi-ôn, cả bí thư huyện ủy Cru-gi-lin, tất cả những cái đó chỉ là chiêm bao, và bây giờ cô sẽ tỉnh dậy, sẽ thấy chỉ có Ê-li-da-rốp và những người công an cùng với Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, mấy tên cướp Du-bốp, Gvô-dơ-đi-ép, Cáp-ta-nốp. Đấy, chúng đang từ bốn phía đi đến vây lấy cô, tiếng ủng giẫm thình thịch. Đôi mắt cô mỗi lúc một mở to. Na-ta-sa nhổm người dậy, hốt hoảng nhìn ra cửa. Cánh cửa bỗng mở tung, Xê-mi-ôn bước nhanh vào, theo sau là anh thanh niên mắt xanh hôm nọ.

- A-a, đúng là tỉnh lại rồi, - Xê-mi-ôn nói to. - Chào Na-ta-sa.

- Xin chào, Na-ta-sa, - I-u-ri mỉm cười. - Xin chào và cũng xin hỏi ngay: cô có quyền gì mà ốm thế này? Thế mà có một anh chàng A-ga-phôn, cô hiểu không, cứ đợi mãi cô ở câu lạc bộ, phải bỏ cả buổi họp báo.

- Khoan đã nào, - Xê-mi-ôn lấy vai hích anh ra. - Trong người ra sao, Na-ta-sa?

- Cậu không thấy à, tất cả đều bình thường, - I-u-ri trả lời thay cô. - Sau vài ngày nữa là chúng ta sẽ quay một điệu phốc-xtơ-rốt đến chóng mặt ở câu lạc bộ rồi!

- Tôi chẳng muốn quay gì với anh cả, - Na-ta-sa nói. Cô không thích những lời của anh, không thích thái độ suồng sã, và không hiểu sao, cả giọng nói của anh.

Bà già xách chiếc xô không bước vào phòng.

- Đi ra đi, đi ra khỏi đây ngay, lũ quỷ này! Nó còn chưa tỉnh lại, chúng mày đã vào làm ồn lên cả đây rồi.

- Bà ơi, đâu có thế, - I-u-ri để lộ hàm răng trắng lóa. - Xem kìa, cô ta đang mỉm cười đấy.

- Thì chỉ cần trông thấy anh là tim đứa nào mà chẳng cuống lên, - bà già lẩm bẩm một cách ác ý và xô hai người ra khỏi cửa.

Xê-mi-ôn ngoan ngoãn bước ra, đến cửa vẫy tay chào Na-ta-sa, còn I-u-ri giả vờ chống cự lại, miệng không ngớt đùa tếu. Khi ra khỏi cửa, anh còn hét to:

- Cô hãy nhớ là tôi được lệnh đặc biệt nghiêm khắc của chính đồng chí giám đốc nhà máy là phải đưa cô càng sớm càng tốt đến nhà máy trong tình trạng tuyệt đối khỏe mạnh, phấn khởi để bố trí công tác đấy!

- Hừ, cái đồ quỷ sứ này, Chúa tha tội cho con, - bà già lẩm bẩm, rồi đóng chặt cửa lại.

Còn Na-ta-sa nằm mỉm cười mà tự mình không biết vì sao. Xê-mi-ôn và I-u-ri mặc áo quần lao động, từ người họ thoảng ra mùi tuyết lạnh, mùi dầu mỡ và sắt thép. Hai người đi rồi, nhưng những mùi đó vẫn quanh quẩn quanh giường Na-ta-sa, cô hít mạnh chúng vào ngực - và mỉm cười.

* * *

Từ ngày hai mươi tháng Giêng trở đi, ở San-ta-ra ngày nào cũng có tuyết rơi dày đặc nhưng lặng lẽ, những bông tuyết lớn tướng quay tròn trong không khí, rồi nặng nề, chậm chạp và không tiếng động đậu xuống mặt đất, lên mái nhà, cây cối. Trong các vườn rau, tuyết chất thành từng đống; mỗi khi mặt trời hiện ra, tuyết trắng tinh khiết cháy lên rực rỡ, chói chang đến chảy nước mắt. Bốn phía đâu cũng tuyết, tinh khiết, yên lặng và ngọt ngào.

Trong lòng Na-ta-sa cũng tinh khiết, yên lặng và ngọt ngào. Tất cả những gì vừa mới xảy ra với cô cách đây không lâu, dường như chỉ là một giấc mơ lạ lùng, khủng khiếp, và thỉnh thoảng cô có cảm giác như chúng hoàn toàn không có, và về tất cả những cái đó cô đọc ở trong một cuốn sách nặng nề đáng sợ nào đó mà thôi…

Đã mấy ngày nay Na-ta-sa làm người phục vụ trong nhà ăn của nhà máy, ở phòng ăn (nếu như có thể gọi cái ngăn con được quây lại bằng những tấm ván dựng vội này là phòng) dành riêng cho các nhân viên kỹ thuật và kỹ sư.

Hôm đầu tiên, Xê-mi-ôn và I-u-ri đưa cô đến nhà máy. Thực ra không phải đến nhà máy, mà đến phòng quản lý của nhà máy nằm trong một ngôi nhà nhỏ hai tầng cũng được cấu trúc theo kiểu nhà lán. Họ đi lên tầng hai và dừng lại trước cửa phòng có treo tấm biến «Giám đốc nhà máy».

- Ôi, đến gặp giám đốc cơ à? - Na-ta-sa hốt hoảng kêu lên.

- Đúng thế, - I-u-ri xác nhận. -Và ông ta sẽ ăn thịt cô ngay. - Rồi anh biến vào sau cánh cửa.

Na-ta-sa nhìn ra cửa sổ. Từ đây có thể trông thấy hầu hết khu vực của nhà máy - ba hay bốn dẫy nhà gạch vừa mới xây xong cách đây không lâu, những tấm kính cửa sổ bị đóng băng ánh lên lấp lánh, mấy dãy nhà khác đang xây dở - cái thì được một nửa, cái thì mới một hai mét nổi cao trên mặt đất. Nhưng cả bên trong những bức tường xây dở này, máy móc đã đứng thành từng hàng thẳng tắp và mọi người đang làm việc bên máy.

- Họ... công nhân... đang làm việc đấy à? - Na-ta-sa ngạc nhiên hỏi Xê-mi-ôn.

- Thì cô thấy đấy, - anh cau mày đáp.

- Ngay... ngay ngoài trời thế à? Rét chết.

- Cũng không nóng.

Trên khắp khu vực nhà máy ngổn ngang những túp lều gỗ xây tạm, đây đó một vài ống khói đang nhả khói, những đám hơi nước cuộn thành từng cục bốc lên từ một ngôi nhà nào đó. Khắp nơi, những đám lửa hàn rải rác lóe lên, bắn tia tung tóe. Xung quanh các ngôi nhà xây dở, người đông đặc, họ đào lớp đất đóng băng rắn như đá, chở đi bằng xe tay, bốc dỡ các chuyến xe tải chạy đến, rồi chạy đi không ngớt.

- Thôi, tôi đi đây. Mọi việc I-u-ri sẽ làm nốt, - Xê- mi-ôn, không hiểu sao, cáu kỉnh nói và bỏ đi thật.

- Anh Xê-mi-ôn! Xê-mi-ôn! - Na-ta-sa khẩn khoản kêu lên, nhưng anh không dừng lại.

Giám đốc nhà máy, một người không to lắm, mặc quân phục còn mới, trán rộng, im lặng nhìn Na-ta-sa mấy giây, khi I-u-ri đẩy cô vào phòng làm việc của ông.

Na-ta-sa không thích cặp mắt của ông, màu xám và lạnh lùng.

- Cháu muốn làm gì ở nhà máy bây giờ, Na-ta-sa?

Và thật là kỳ lạ: giám đốc nhà máy vẫn ngồi với tư thế cũ, vẫn nhìn cô bằng cái nhìn chăm chú như thế, nhưng Na-ta-sa không còn cảm thấy đôi mắt xám của ông là trống rỗng, lạnh lùng nữa, bây giờ Na-ta-sa thấy rất rõ rằng đó là một đôi mắt rất hiền và rất thông minh.

- Cháu không biết nữa... Làm gì cũng được... Cháu chưa làm việc bao giờ.

- Có thể cho vào xưởng của con. Học nghề thợ nguội, - I-u-ri nói.

- Với ai? Với mày à? - giám đốc nhà máy cau mày hỏi.

- Với con cũng được chứ sao?

- Cũng được thôi, nghề thợ nguội không phải là nghề tồi. Nếu cháu muốn, cũng có thể trở thành thợ nguội. - Giám đốc bấm nút điện ở bàn. - Còn bây giờ, Na-ta-sa ạ... Ở nhà máy chưa có xưởng nào có lò sưởi cả, lò sưởi chỉ mới có ở đây và nhà ăn thôi...

Một ông già nhanh nhẹn, bộ ria cứng ám khói thuốc lá, cặp kính ngất ngưởng trên sống mũi nhăn nheo, bước vào phòng.

- Thế này, bác Phi-líp Phi-li-pô-vích ạ, đây là Na-ta-sa Mi-rô-nô-va, tản cư từ Mát-xcơ-va đến. Dọc đường bị ném bom, mẹ chết, giấy tờ cháy sạch («Bác ấy biết hết, biết hết! - Na-ta-sa nhẹ nhõm nghĩ thầm. - Ai kể cho bác ấy? I-u-ri? Hay bí thư huyện ủy?») Bác làm thủ tục cho cô ta, không được để giấy tờ phiền phức, dây dưa, chỉ theo lời khai của cô ấy, vào làm nhân viên phục vụ ở nhà ăn, cấp cho cô ta giấy ra vào và những thứ khác... cả giấy chứng nhận là cô ta làm việc ở nhà máy chúng ta, - để sau này làm hộ chiếu. Thế, từ sáng mai cháu sẽ đi làm, - ông quay sang phía Na-ta-sa và lần đầu tiên hơi mỉm cười...

...Bây giờ Na-ta-sa thức dậy cùng với tiếng còi nhà máy buổi sáng, cô không làm kinh động đến Gan-na (cô bé cùng nằm ngủ với cô trên một giường), mặc quần áo, rửa mặt, chào bà già Phê-nhi-a và bác Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đang chuẩn bị bữa sáng cho gia đình mình bên bếp lò, rồi chạy đến nhà máy.

«Phòng ăn dành riêng cho các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật» được ngăn cách với phòng ăn chung bằng một bức vách mỏng, phía bên kia suốt ngày tiếng ồn ào, huyên náo, tiếng bát đĩa bằng sắt chạm nhau loảng xoảng. Trong «phòng ăn» chỉ có hai dãy bàn mộc dài, phủ vải gai thô thay cho khăn trải bàn, hai dãy ghế băng dài, cũng bằng gỗ mộc đóng rất vụng, từ lâu không lau chùi, cáu bẩn. Phụ trách nhà ăn Ru-phi-na I-va-nốp-na, một người đàn bà có khuôn mặt rộng, lưng gù, giảng giải cho Na-ta-sa biết cô không chỉ mang thức ăn cho «khách», mà còn phải quét dọn phòng, giặt vải phủ bàn và màn treo trên cửa sổ.

- Vì rằng cả nhà ăn chỉ có hai người lao động, họ không thể làm cả ở đây được nữa, - bà ta nhìn Na-ta-sa, cáu kỉnh nói. Im một lát, sỗ sàng tiếp: -Ăn ở đây cho chán thì thôi, nhưng nếu mang gì về nhà - coi chừng đấy, tôi báo trước.

- Ôi, cô nói gì thế? - Na-ta-sa phật ý kêu lên.

- Thôi, chúng tôi biết rồi, lúc đầu ai cũng làm ra vẻ... thật thà cả.

Trong ngày đầu tiên, Na-ta-sa giặt hết tất cả vải phủ bàn, màn che cửa sổ, dùng con dao nhà bếp nạo kỹ mặt bàn, mặt ghế băng, lấy nước nóng và xà-phòng rửa sạch, lau những tấm kính bám đầy bụi và bệ cửa sổ. Hàng ngày, trước lúc về, cô lau sàn rất lâu, rất kỹ.

Phụ trách nhà ăn chăm chú theo dõi những việc làm của Na-ta-sa, nhưng không nói gì, đôi lông mày cau lại dường như không bằng lòng với những cố gắng của cô. Nhưng một lần bà nhấc tấm vải phủ bàn lên, đưa bàn tay xoa xoa mặt gỗ sạch lì, ngồi xuống ghế, khép đầu gối lại, hỏi:

- Vất vả lắm à?

- Bình thường thôi ạ...

- Cô có nghe, hình như mẹ của cháu bị bom chết?

- Vâng, mẹ cháu chết bom.

- Cháu gầy lắm, - bà thở dài. - Cháu ăn thêm vào cho có sức.

Và thật là kỳ lạ, bây giờ tất cả mọi người cô gặp, cô phục vụ ở đây, ở nhà ăn này, đều gợi lên trong cô những mối cảm tình, những niềm vui trong sáng.

Công việc rất nhiều. Suốt ngày cô phải chạy đi chạy lại từ bàn đến chỗ phân phát thức ăn, mang những đĩa sành đựng thức ăn đến cho mọi người, thu dọn bát đĩa bẩn, lau bàn, còn chiều về lại làm vệ sinh toàn bộ «phòng». Nhưng cô không cảm thấy mệt, chỉ có sau mỗi ngày làm việc, hai cánh tay hơi mỏi ở nơi khuỷu.

Dần dần cô biết hết tất cả ban lãnh đạo nhà máy, tất cả các xưởng trưởng, kỹ sư, thậm chí cả đốc công. Người đủ các loại; vui tính, cau có, sôi nổi, lầm lì... Kỹ sư I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp chẳng hạn, người lùn, tròn như quả bóng, vào cửa chiếc bụng đi trước, sau đó đến bộ mặt luôn luôn bằng lòng, tươi cười và vui vẻ hỏi: «Nào, hôm nay bữa trưa chúng ta có gì đây hở Na-ta-sa?», - mặc dù ở nhà ăn ngoài món thịt ninh và xúp cải chua không bao giờ có gì khác. Bí thư đảng ủy nhà máy người U-cra-i-na Xáp-tsúc lặng lẽ đi vào gật đầu chào Na-ta-sa, rửa tay rất lâu ở chiếc chậu đặt trong góc sau tấm màn che, ngồi xuống chỗ của mình ở cuối bàn - nơi những người khác không bao giờ ngồi - và ngay lập tức rút báo ra. Đôi lúc ông đọc chúng rất lâu, quên cả bữa ăn đã nguội lạnh, rồi như sực tỉnh, vội vội vàng vàng húp bát xúp, ăn món thịt ninh và hấp tấp đi ra ngay. Kỹ sư trưởng Phê-đô Phê-đô-rô-vích Nhê-tsa-ép không bao giờ cười và cũng không bao giờ đọc báo sau bàn ăn. Người cao, gầy, hơi giống Đdéc-gin-xki, trong lúc đợi Na-ta-sa mang suất ăn đến, ông ngồi thẳng người sau bàn, những ngón tay gầy và dài quay tròn chiếc thìa đặt ngửa trước mặt, đầu mải nghĩ về một điều gì đó. Na-ta-sa có cảm tưởng rằng nếu cô không mang bữa trưa đến cho ông, có lẽ ông cứ ngồi như vậy một giờ, hai giờ và không nhớ là mình đến nhà ăn để làm gì.

Thường thường ba người này đến nhà ăn vào những lúc khác nhau, nhưng một lần họ cùng đến một lúc. Vừa cởi chiếc áo bành-tô rất dài treo lên móc, Nhê-tsa-ép vừa nói to, giận dữ:

- Còn tôi nói là không! Không và không! Pô-li-pốp đi ra mặt trận thì có việc gì đến tôi? Cứ mặc cho ông ta đi, cứ mặc cho họ tìm chủ tịch ủy ban huyện mới nơi khác. Còn Khô-khơ-lốp rất cần cho nhà máy.

- Còn tôi, anh Phê-đô Phê-đô-rô-vích ạ, sẽ rất mừng... sẽ rất mừng nếu như anh giữ được tôi lại, - Khô-khơ-lốp thấp béo quay tròn quanh Nhê-tsa-ép dài lêu đêu như cây sào. - Tôi không biết, tôi không hình dung ra là tôi sẽ làm được gì ở đó, ở cái công tác này. Suốt đời tôi làm việc ở nhà máy...

- Nhưng hình như Cru-gi-lin đã làm việc xong với tỉnh rồi, - Xáp-tsúc vừa khua chậu rửa mặt loảng xoảng vừa nói.

- Thì việc gì đến tôi? Thì việc gì đến tôi?! - Nhê-tsa-ép đã nổi giận thật sự. - Từ mùa xuân tới, chúng ta sẽ phải sản xuất súng cối. Và lập tức cả ba cỡ. Lúc đó sẽ ra sao? Trong điều kiện của chúng ta hiện nay...

- Anh đừng nóng, Phê-đô Phê-đô-rô-vích, - Xáp-tsúc can.

- A-a, thế ra anh cũng? Anh cũng theo Cru-gi-lin à? Và cả Xa-vê-li-ép, như tôi hiểu, cũng theo Cru-gi-lin.

- Không phải chúng tôi theo, mà đây là việc rất quan trọng! - Xáp-tsúc cũng cao giọng. Và Na-ta-sa ngạc nhiên là ông cũng có thể tức giận. - Anh chỉ nghĩ vì một mình nhà máy, còn Cru-gi-lin - vừa về nhà máy và còn vừa về cả huyện nữa! Cần phải hiểu anh ấy.

- Còn tôi không muốn hiểu! Và cũng sẽ không hiểu!

- Rồi sẽ phải hiểu, Phê-đô Phê-đô-rô-vích ạ...

Cuộc tranh luận này của những người lãnh đạo nhà máy đã để lại trong lòng Na-ta-sa một cảm giác sảng khoái. Đó chính là cuộc sống, và cuộc sống này bây giờ, bằng một góc cạnh nào đó, cũng đã chạm vào, cuốn cô theo.

Hai ngày trước đó, lần đầu tiên cô trông thấy Pô-li-pốp, người vừa được nhắc đến. Ông và bí thư huyện ủy đến dự một cuộc họp nào đó ở nhà máy, rồi cùng với giám đốc Xa-vê-li-ép ghé vào nhà ăn. Na-ta-sa mang đến cho ba người món xúp và thịt ninh thường lệ. Cru-gi-lin mỉm cười và hỏi cô tình hình công việc thế nào, mọi chuyện đã ổn cả chưa. Còn Pô-li-pốp thậm chí không nhìn cô, gục đầu vào đĩa ăn và khi nhai, đôi tai của ông khẽ động đậy. Hôm đó, đôi tai động đậy và đôi vai rộng núc ních mỡ gợi lên trong cô một ấn tượng khó chịu, còn bây giờ, khi cô biết Pô-li-pốp sắp sửa đi ra mặt trận, cô lại thấy đôi vai và đôi tai của ông hoàn toàn bình thường, và cô thầm rủa mình về cái cảm giác không tốt đẹp nảy sinh ra ở cô đối với con người này.

Thêm ba ngày nữa Khô-khơ-lốp vẫn đến nhà ăn với những lời chào hỏi thường lệ, nhưng trong suốt bữa ăn, anh hầu như không nói gì. Một lần Na-ta-sa đánh bạo hỏi có phải anh sắp đi khỏi nhà máy không.

- Đúng thế đấy, Na-ta-sa ạ. Nhưng chú không muốn, rất không muốn, - anh đáp một cách hơi khó hiếu.

- Và cháu cũng không muốn, - cô bỗng nhiên nói.

-Thế à? - anh vui mừng hỏi, - cảm ơn cháu, Na-ta-sa ạ, cảm ơn cháu!

Rồi sau đó không thấy ông đến nhà ăn nữa, và Na-ta-sa biết rằng cuối cùng I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp cũng được bầu làm chủ tịch ủy ban huyện, còn Pô-li-pốp thì đã đi ra mặt trận.

Trong ngày làm việc đầu tiên của Na-ta-sa, I-u-ri đến «phòng ăn dành cho các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật», anh vẫn ồn ào, vui vẻ như mọi khi.

- Thế nào, tình hình của Na-ta-sa ở đây ra sao? Không bị ai trêu chọc chứ? Hãy cho người con trai độc nhất và yêu quý của đồng chí giám đốc nhà máy Xa-vê-li-ép ăn với.

Na-ta-sa không biết có thể cho I-u-ri ăn không, cô vào bếp hỏi trưởng phòng nhà ăn.

- Cứ cho ăn đi, - bà ta nói.

Rồi sau đó I-u-ri đến khá thường xuyên; vẫn đùa cợt như trước, và Na-ta-sa càng ngày càng cảm thấy những lời của anh nông cạn, không đúng chỗ. Thêm vào đó, có lần phụ trách nhà ăn nhìn theo, anh, nói:

- Đúng là con dê đực.

-Tại sao? - Na-ta-sa hỏi.

- Đầu nó hệt như con lật đật, rỗng không.

Sự so sánh này quả là chính xác, và Na-ta-sa bất giác mỉm cười..

Đã mấy lần I-u-ri rẽ vào nhà ăn đúng lúc cô vừa kết thúc công việc, và lần nào cũng nói:

- Nào, ta cùng đi, tôi cùng về nhà đây. Xin phép được tiễn cô, không phản đối chứ?

Mỗi lần I-u-ri tiễn cô về, Na-ta-sa cảm thấy khó chịu và như có lỗi với một người nào đó. Dọc đường họ nói đủ thứ chuyện, về công việc, về nhà máy. Chỉ khi dừng lại cạnh nhà Xa-vê-li-ép, I-u-ri hỏi:

- Em định chuyển sang ở nhà bà A-cu-li-na đấy à?

- Có lẽ cũng cần phải chuyển, ở đây chật quá. Nhưng em sợ một cái gì đó...

- Sợ gì, chuyển đi. Bà già kia sống có một mình...

Những lời của I-u-ri luôn luôn làm cho Na-ta-sa cảm thấy ớn lạnh. Cô có cảm giác là cuối cùng cô cũng đã từ xoáy nước khủng khiếp vượt lên được một chỗ ít nhiều khô ráo và vững vàng, như người sắp chết đuối leo lên được một tảng băng trôi trên sông, cô đứng trên tảng băng đó, không dám cử động, sợ trượt ngã, sợ lại rơi vào làn nước lạnh, còn I-u-ri, tự mình không biết điều đó, lại muốn làm nghiêng tảng băng...

* * *

Tuy vậy, Na-ta-sa càng ngày càng hay nghĩ rằng cần phải đi khỏi nhà Xa-vê-li-ép. Xê-mi-ôn, kể từ ngày cô đi làm, không hiểu sao nét mặt thường cau có, anh cố ý tránh mặt cô, còn mẹ anh, An-na, cứ im lặng như đá, buổi sáng lặng lẽ gật đầu chào Na-ta-sa, khi cô đi làm - và chỉ có thế thôi. Cả Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na trước đây hay nói, bây giờ không hiểu sao cũng im lặng, đấy là chưa nói đến bà Phê-nhi-a từ khi Na-ta-sa khỏi ốm đến giờ hầu như không nói lời nào. Tất cả những người phụ nữ trong nhà đều hay thở dài, dường như họ bị một cái gì đó vô hình đè nặng. Còn giọng nói của Phê-đô Xa-vê-li-ép, cha của Xê-mi-ôn, nói chung Na-ta-sa chưa lần nào nghe thấy. Buổi sáng khi cô đi làm, ông chủ nhà còn ngủ trong bếp, khuôn mặt đầy râu úp vào tường. Buổi chiều, khi Na-ta-sa đi làm về, thường thường ông cũng đã nằm ngủ với tư thế như buổi sáng, hoặc nếu không ngủ thì cũng chỉ im lặng, hằn học nhìn cô, khi cô đi qua bếp, bộ ria mép khẽ rung rung với vẻ không bằng lòng.

Nhưng cô không biết đi đâu. Đến nhà bà A-cu-li-na, cô sợ: Ma-ri-a Ô-gô-rốt-ni-cô-va ở ngay bên cạnh. Có lần Na-ta-sa nghe loáng thoáng là Ma-ri-a đã được công an thả về. Lần đấy, mới cách đây không lâu, Xê-mi-ôn và mẹ anh đang nói chuyện với nhau về điều đó, nhưng khi Na-ta-sa bước vào phòng, cô cảm thấy như hai người đều giật mình im lặng. Na-ta-sa hiểu rằng mình phải chịu ơn Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va đã cứu sống cô, nhưng sau những sự việc đã diễn ra ở nhà Ma-ri-a, cô cảm thấy căm ghét và sợ hãi người đàn bà to béo có cặp vú nặng trĩu này, kẻ đã chứa chấp bọn cướp trong nhà, «Tại sao họ lại thả chị ta ra? - Na-ta-sa nghĩ. - Thế còn mấy tên cướp kia, người ta đã làm gì với chúng? Chẳng lẽ cũng đã thả ra à? Không, không, không thể đến nhà bà A-cu-li-na được, không thể đến được! Bỗng nhiên ban đêm Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va lại mò đến và lôi cô đi thì sao? Cần phải tìm một chỗ nào đó ở cuối làng mới được...»

- Bây giờ thì đào đâu ra chỗ! - bà phụ trách nhà ăn bảo cô khi cô nói với bà ta về việc này. - Đâu cũng chật cứng như nêm cối cả rồi. Có thể xin một góc hầm đất nào chăng? Nhưng cần phải nói với giám đốc nhà máy.

Nói với giám đốc nhà máy đối với Na-ta-sa là việc hết sức đơn giản - ông thường đến nhà ăn để ăn. Đã mấy lần ông hỏi cô xem mọi việc có ổn không, cô đã nhận được hộ chiếu chưa?

- Cháu chưa nhận được, nhưng cũng sắp... Cần phải có ảnh... Đến kỳ lương cháu sẽ đi chụp...

Giám đốc nhà máy rút ra mười rúp đặt lên bàn.

- Đi chụp đi.

- Không cần đâu ạ...

- Cầm lấy, - ông nói, rồi đứng lên bước ra khỏi phòng, để tiền lại trên bàn.

Sau sự việc đó, Na-ta-sa không dám nói với ông về chuyện nhà cửa.

Mấy buổi tối liền, mặc dù sợ gặp phải Ê-li-da-rốp, Na-ta-sa vẫn đi khắp làng hỏi nhà, nhưng không kết quả. Về đến nhà, cả người rét cóng, cô ngồi sưởi rất lâu bên bếp lò. Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na im lặng nhìn cô, nhưng không hỏi gì.

Một lần, khi Na-ta-sa cũng về nhà rất muộn như mọi hôm và đang ngồi sưởi bên bếp lò, thì An-na Mi-khai-lốp-na bước vào, tay cầm một chiếc áo bành-tô cổ lông thỏ hầu như vẫn còn mới.

- Này, cháu mặc thử xem.

- Không, không! Cháu không mặc đâu ạ.

- Cháu đi đâu mà hôm nào cũng đến nửa đêm mới về?

- Không... Cháu hiểu là ở đây quá chật. Cháu cám ơn các cô vì tất cả... Cháu sẽ không quên, sẽ không bao giờ quên ơn... - và Na-ta-sa rơm rớm nước mắt.

- Nào, cứ khóc nữa đi, nếu cảm thấy khóc chưa đủ, - An-na nói. - Cháu ngốc lắm, cứ bày trò vớ vẩn. Cứ ở lại đây và mặc áo bành-tô này vào.

- Cháu quả là ngốc lắm, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na cũng nói, khi An-na Mi-khai-lốp-na ra khỏi phòng. - Chẳng lẽ ở đây mọi người không hiểu hay sao? Cháu nghĩ sao lại như vậy?

- Cháu không biết nữa. Cháu thấy như... Ông chủ, cha của Xê-mi-ôn, luôn luôn nhìn như là... và các cô cũng im lặng, dường như...

- Im lặng... - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na thở dài, - nhưng chẳng lẽ lại là vì cháu đến ở đây, hở đồ ngốc nghếch. Cô An-na là một người bất hạnh. Và cả các con của cô ta.

- Vì sao lại bất hạnh? Cô kể đi.

- Đấy không phải là việc của cô. Mà cô cũng không biết gì cả. Dù có cố nhìn sâu vào cuộc đời người khác đi bao nhiêu chăng nữa, cũng không thể thấy hết, hiểu hết.

Na-ta-sa ngồi im một lúc lâu, những nếp nhăn trên trán khi nhíu lại, khi giãn ra.

- Cháu nghe nói hình như cha của anh Xê-mi-ôn và giám đốc nhà máy là anh em.

Theo gốc gác gia đình là anh em, nhưng thực ra là hai người xa lạ...

- Tại sao ạ?

- Làm sao mà cô biết được? Cuộc đời có những chỗ lắt léo, đến nỗi... Chính họ, người trong cuộc, cũng không lần gỡ ra được, huống hồ người ngoài... Họ nhà Xa-vê-li-ép còn có một người em út, I-van, giờ đang sống ở nông trang. Hình như là người tốt nhưng cũng bất hòa với người anh ruột Phê-đô. Cứ thử đi mà tìm hiểu xem, tại sao, vì cái gì?! Cuộc đời của I-van cũng thật là cay đắng. Phải ngồi tù khá lâu vì một chuyện gì đó.

Trong đôi mắt to của Na-ta-sa thoáng lên một tia sợ hãi.

- Sao lại thế, nếu như là một người tốt, như cô bảo. Vì sao?

- Ôi, cái cô bé này. - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na chỉ lắc đầu thốt lên thay cho câu trả lời, rồi bắt đầu trải giường.

Bà Phê-nhi-a đã lên nằm trên lò sưởi từ lâu, thỉnh thoảng lại thì thầm một điều gì đó. Từ phòng bên cạnh vọng sang tiếng trẻ con kêu hét ầm ĩ.

- Bây giờ Đi-ma, bây giờ để cho anh Đi-ma làm phát- xít! - An-đrây hét lên lanh lảnh. - Nào, anh Đi-ma, anh giống lắm!

- Tại sao tao lại giống?

- Anh cao lêu nghêu, mắt lại trắng nhợt.

- Tao cắt cổ mày, mày dám nói như vậy.

-Đi-ma, Đi-ma. - Gan-na hét lên. - Nhưng cậu có phải phát-xít thật đâu. Đây là trò chơi mà...

- Anh cắt cổ à? - An-đrây kêu lên như gà trống choai. - Em cho... một miếng võ này... Hôm qua anh Xê-mi-ôn bày cho em một miếng võ... Nào, đánh đi!

Trong câu chuyện trẻ con này có một cái gì đó làm cho Na-ta-sa tò mò. Nhưng cái gì - chính cô cũng chưa hiểu rõ, vì đầu đang mải nghĩ về một chuyện khác.

- Thế nhưng làm sao chú I-van lại phải ngồi tù? - cô hỏi.

- Cô không biết, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nhún vai. - Cô An-na nói rằng hình như chú ấy không có lỗi.

Na-ta-sa ngồi im lặng rất lâu, hai bàn tay mệt mỏi đặt trên bàn. Những nếp nhăn trên trán vẫn hết nhíu lại rồi giãn ra. Bỗng nhiên, môi cô khẽ run run.

- Càng ngày cháu càng thấy rối bời... Cháu không còn hiểu ra sao nữa cả! Đấy, cả cha cháu... cả cha cháu...

- Cô cũng đã có nghe nói về cha cháu. Xê-mi-ôn kể. Không sao, cháu ạ, tất cả, rồi sẽ được rõ ràng, công bằng...

- Nhưng bao giờ? Bao giờ?!

- Rồi sẽ đến lúc, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na trầm ngâm nói. - Cô chỉ là một người đàn bà bình thường, gần như không biết chữ, nhưng cô biết: cuộc đời nhất định sẽ phân chia mọi thứ rạch ròi – tốt ra tốt, xấu ra xấu. Cuộc đời rất chuộng sự công bằng.

- Rồi sẽ đến lúc…

Na-ta-sa đưa tay gạt những giọt nước mắt đã trào ra trên mi, ngồi trầm ngâm im lặng. Rồi cô thở dài khe khẽ:

- Cô Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ạ, có lẽ cháu tin vào điều đó, - cô gần như nói thầm. - Nếu như không tin làm sao mà sống được? Và sống để làm gì?

- Tất nhiên, cháu ạ, tất nhiên là thế.

- Nhưng cháu lại nghĩ: tại sao trên đời vẫn còn nhiều cái xấu như vậy? Nó do đâu? Chiến tranh - điều đó đã đành - quân phát-xít muốn chiếm đất đai, thành phố của chúng ta, bắt tất cả các dân tộc phải quỳ hàng làm nô lệ, để chúng thống trị, hưởng những thứ chúng chiếm được... Nhưng trong cuộc sống của chúng ta tại sao vẫn còn nhiều những cái ác? Đây, cha của cháu, rồi chú I-van này, như cô nói... và chính cháu cũng suýt nữa thì chết. Mặc dù là tại cháu hèn nhát, nhưng quả thật là không còn sức lực nữa. Tại sao? Do đâu?

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ngồi xuống ghế đẩu, đặt chiếc gối bông lên đầu gối, đưa bàn tay gầy, gân guốc khẽ xoa đi xoa lại.

- Cô có hiểu cháu muốn nói gì không ạ?

- Sao lại không hiểu? Hiểu thì dễ, nhưng trả lời mới khó. Cái ác là do đâu? Do sự ngu ngốc của con người. Với cái đầu óc kém cỏi của mình, cô vẫn nghĩ: nếu như nói gộp lại, con người là cái gì? Chỉ là một lũ trẻ chưa biết nghĩ. Mà một đứa trẻ chưa biết nghĩ thì việc dại dột gì mà chả làm, nếu như nó nghĩ ra được...

Hơi nheo mắt lại, Na-ta-sa nhìn Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na chằm chằm:

- Tức là cô muốn nói rằng xã hội loài người còn chưa hoàn thiện?

- Cũng có thể nói như vậy. Thế đấy, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na khẽ gật đầu. - Con người còn chưa đủ thông minh.

- Về cả loài người thì không nói đến, nhưng ở nước ta thì sao? Đấy, thế hệ cha cháu... đã làm cách mạng, bao nhiêu máu đã đổ vì cái thiện, cái tốt đẹp, cái công bằng. Nhưng chúng ở đâu?

- Chẳng lẽ chúng bây giờ hoàn toàn không có hay sao? - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ngừng tay xoa gối, hỏi, đôi mắt chăm chú nhìn thẳng vào mặt Na-ta-sa: - Đúng, chính cháu cũng suýt nữa thì chết. Bởi vì cũng có thể một đám kiến bị bánh xe đè phải. Hoặc bị một dòng nước mưa cuốn đi. Và lúc đó chúng, lũ kiến ấy, tưởng rằng thế giới đã đến ngày tận số. Nhưng thực ra xung quanh mặt trời vẫn chiếu sáng rực rỡ và mặt đất vẫn nở hoa. Cuộc đời rộng lắm.

- Cô nói gì vậy, cô Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na? Chẳng lẽ người cũng như con kiến à? Chẳng lẽ cháu là kiến à?

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na lại thở dài, đưa tay xoa lên mặt gối.

- Không, không, cô không muốn nói như vậy. Và với đầu óc như của cô, không thể giải thích nổi những câu hỏi của cháu... Nhưng đấy, mọi người đã không để cho cháu chết…

- Nhưng đấy chính là do một sự hoàn toàn ngẫu nhiên. Tình cờ Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va vấp phải cháu trong đống tuyết, tình cờ...

- Bằng lời, có thể nói thế này thế nọ, Na-ta-sa ạ. Và lời nào cũng có vẻ như là đúng. Và điều này nữa cũng đúng: cái tốt thường khó nhận ra, niềm vui có thể không được lâu. Còn cái ác thì khó mà quên được, nó cứ gặm mòn, gặm mòn cả cuộc sống. Và vì vậy người ta mới tưởng rằng cái ác trên trái đất này rất nhiều, nhiều hơn cái tốt. Và con người xấu trên đời cũng nhiều hơn. Nhưng không phải thế đâu, cháu ạ. Trên đời này rất nhiều những con người tốt, hiền lành, và cái tốt vì vậy cũng nhiều hơn. - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đứng dậy, vỗ mạnh tay lên gối! - Còn về chuyện cách mạng, cháu kết luận quá sớm đấy. Cháu đã thấy những tên phú hào thật sự chưa? Chắc là chỉ thấy trên phim hoặc đọc trong sách mà thôi. Làm sao mà cháu biết được hồi đó có bao nhiêu là cái ác, cái tàn bạo? Vì vậy cháu không thể so sánh lúc đó với bây giờ. Còn cô, cô có thể so sánh được.

- Tất nhiên là ít hơn, cháu hiểu. Nhưng với cháu thì cũng đủ.

- Còn với cô thì còn thừa. Nhưng với các con cô thì đã ít hơn nhiều. Con của cháu - lại càng ít hơn..

Nghe những lời này, Na-ta-sa cảm thấy mặt mình đỏ bừng dậy, cô ngẩng đầu lên kêu to:

- Cô Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, cô nói gì thế? Cháu lấy đâu ra con?! - Và càng đỏ mặt hơn, cô quay ngoắt người đi, để lộ chiếc cổ gầy mảnh khảnh.

- Đồ ngốc, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nói, lấy bàn tay xoa nhẹ lên mái tóc cô. - Làm sao lại không có con khi cháu xinh đẹp, khỏe mạnh thế này? Xê-mi-ôn nhà này đã chấm rồi...

- Chấm… cái gì? - Na-ta-sa đứng phắt dậy, đôi má cô như bốc lửa, trong đôi mắt cô một cái gì đó khó hiểu bừng lên - vừa ngạc nhiên, vừa sự hãi, vừa giận dữ, căm ghét. - Tức là đã chấm?!

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đứng bối rối, khuôn mặt hiền hậu lộ vẻ hối hận, biết lỗi.

- Ấy cháu... Đúng là như người ta nói, phải cắt lưỡi đàn bà ngay từ khi mới đẻ ra. Lạy Chúa...

Na-ta-sa lảo đảo bước đến bên móc áo, nơi vẫn thường treo chiếc áo bành-tô cũ của cô, nhưng bây giờ nó không còn ở đấy nữa. Cô liền chạy ra đường, mình chỉ mặc áo sơ-mi mỏng. Cái giá lạnh lập tức bao trùm lấy người cô, Na-ta-sa dừng lại trên thềm nhà. Tim đập mạnh như bị ai đuổi. Cô cảm thấy kinh tởm, xấu xa, gớm ghiếc, muốn chạy đến một nơi nào đó thật xa, nhảy vào trong đống tuyết, tự chôn vùi trong đó để không còn trông thấy ai, để không ai bao giờ có thể tìm thấy cô.

- Coi chừng cảm lạnh đấy, rồi lại bắt người ta mất công lo lắng... Cháu sao thế? - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na khoác chiếc áo bành-tô ấm lên vai cô, nói.

- Hãy để cho tôi yên! Anh ta chấm rồi à? Và cha của anh ta, cái người có đôi mắt quàu quạu ấy, cũng chấm rồi à? Phải không?

- Ông ta thì có liên quan gì đến đây?

- Có liên quan! Người ta đã chấm tôi rồi mà! Lão công an Ê-li-da-rốp đã muốn... Rồi ở nhà Ô-gô-rốt-nhi-cô-va... Bảo con bé mồ côi mà, còn chạy đi đâu?!

- Khoan đã, khoan... Ra thế-ế-ế đấy! - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na kéo dài giọng kinh ngạc. - Nhưng cháu có điên không đấy? Cháu nghĩ gì vậy? Đây là cô nói về Xê-mi-ôn... Mà Xê-mi-ôn... Hoàn toàn ngược lại...

Người đàn bà đã đứng tuổi diễn đạt rất khó khăn, các từ dùng không đúng ý mình, nhưng những từ khác, cần thiết thì lại không tìm ra. Nhưng Na-ta-sa bỗng bắt đầu hiểu ý nghĩa những lời nói đó, và trong đầu cô gái như có cái gì ngân lên, nổ tung ra.

- Không thể... người ta đối với cháu... ngược lại. Không thể!

- Thế mà có thể đấy. Na-ta-sa ạ, bằng trái tim của phụ nữ, cô nhìn thấy và hiểu hết những gì đang xảy ra ở cậu ta. Mặc dù chính cậu ta cũng chưa hiểu được điều đó. Và cậu ta sợ vì thấy mọi việc xảy ra quá nhanh và bất ngờ. Vì thế mà bối rối, vụng về như vậy. Chính cậu ta đã mang cháu dở sống dở chết về đây, còn bây giờ… Và cũng vì vậy mà cậu ta tránh gặp cháu. Rồi lại còn I-u-ri quấn lấy cháu... Cháu ơi, cháu ngốc ơi, sao cháu lại có thể hiểu những lời của cô như vậy?

Na-ta-sa đứng nghe và cảm thấy trong ngực có một cái gì đó nóng ấm trào lên, chảy khắp toàn thân, làm cho cô ngây ngất, ngăn không cho cô hiểu hết những lời nói không có gì là khó hiểu của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na. Mà sao cô ấy cứ nói mãi thế. Cô ấy thì có liên quan gì đến mình, Na-ta-sa, đến Xê-mi-ôn, đến việc mình hiểu những lời của cô ấy như thế nào?

- Cậu ấy muốn xin tình nguyện ra mặt trận, cứ chạy mãi đến phòng quân vụ...một vài mẩu ngắt quãng lọt vào tai Na-ta-sa. - Cậu ta nén lại trong mình cái tình cảm mới trỗi dậy... Khác hẳn I-u-ri... Xê-mi-ôn trong cuộc sống lặng lẽ, khiêm nhường, vụng về, nhưng tâm hồn vững vàng, thẳng thắn. Còn cháu, bỏ qua những lời của cô...

- Ôi, cháu không biết gì hết... Cháu không hiểu gì cả. Cô để cho cháu đứng đây một mình một lúc...

Khi Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đã vào nhà, Na-ta-sa vẫn còn đứng rất lâu, tựa lưng vào cánh cửa ra vào, nhìn lên vầng trăng tròn, nặng đã lên cao, hít mạnh làn không khí lạnh giá, để làm dịu ngọn lửa trong ngực. Cô không nghĩ gì cả, chỉ đứng vậy...

Cô không nhận thấy Xê-mi-ôn đi làm về bước đến bên cạnh từ lúc nào, chỉ nghe tiếng anh chào:

- Chào Na-ta-sa.

Na-ta-sa rùng mình, lùi lại, rồi chạy xuống thềm.

- Na-ta-sa? - Anh định bước đến gần cô.

- Đừng! Đừng!.. Anh đi đi! - cô kêu to, chân vẫn tiếp tục lùi lại phía sau.

Anh ngập ngừng một thoáng, không nói gì, lặng lẽ đi vào nhà. Na-ta-sa ngồi xuống bậc thềm, và không hiểu vì sao, gục đầu xuống khóc. Những giọt nước mắt lặng lẽ, không cay đắng, làm dịu lòng...

...Đêm hôm đó, cô lại một lần nữa khóc, những giọt nước mắt nhẹ nhàng, ngọt ngào.

Nằm trên giường, cô bỗng nhớ lại câu chuyện của mấy đứa trẻ chơi ở phòng bên cạnh, và hiểu ra cái gì đã gợi nên sự tò mò của cô. Thứ nhất, Đi-ma Xa-vê-li-ép - cậu cậu bé lầm lì, cau có mà cô vốn không có cảm tình vì cho cậu ta ranh mãnh, độc ác, sau này sẽ lớn lên thành một người giống như cha cậu, - bỗng tự ái vì An-đrây bảo cậu giống phát- xít. Thứ hai, là chuyện Xê-mi-ôn học võ xam-bô - võ tự vệ. Điều này thì quả là cô không bao giờ nghĩ đến. Và Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nói về anh toàn những lời tốt đẹp. Cô ta nói như thế nào nhỉ? «Xê-mi-ôn trong cuộc sống lặng lẽ, khiêm nhường, vụng về, nhưng tâm hồn vững vàng, thẳng thắn». Đúng, lặng lẽ. Còn I-u-ri lại khác, anh này hoàn toàn không lặng lẽ. Phụ trách nhà ăn nói về anh ta... Thế nhưng Xê-mi-ôn thẳng thắn và vững vàng ở chỗ nào? Mà thôi, mặc kệ họ, cả I-u-ri lẫn Xê-mi-ôn, việc gì đến mình! Những người trong họ Xa-vê-li-ép này ai cũng có tính cách thật khó hiểu, quan hệ của họ thật phức tạp, rối rắm, cuộc đời của họ thật lạ lùng, có lẽ cô không bao giờ hiểu nổi. Mà cũng không ai yêu cầu cô phải hiểu, sớm muộn gì rồi cô cũng tìm được nhà và sẽ đi khỏi nơi đây. Cô sẽ cảm ơn tất cả - Xê-mi-ôn, An-na, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, bà Phê-nhi-a và đi...

Cô nằm mãi vẫn không ngủ được. Bện cạnh, Gan-na thở phì phò, trăn trở, ép sát người vào người cô, hơi thở phả ấm cả vai cô.

- Chị Na-ta-sa không ngủ à? - Gan-na bỗng thì thào hỏi.

- Không. Sao em cũng không ngủ đi?

- Em nằm nghĩ.

Na-ta-sa vui mừng là cô bé bắt chuyện với cô, làm cho cô quên đi. Cô choàng tay ôm lấy đôi vai gầy của Gan-na ghì sát vào mình.

- Em nghĩ gì thế?

- Không... Về tất cả... Chị ơi, chị thấy Đi-ma có tốt không?

- Chị không biết, - Na-ta-sa ngập ngừng nói. - Có thể...

- Tốt, tốt lắm, - cô bé thì thào một cách chắc chắn. - Hôm nay Đi-ma… - Không nói hết, cô bé rúc rích cười, úp mặt vào ngực Na-ta-sa.

Cũng có thể Đi-ma quả thật là người tốt - Na-ta-sa nghĩ - chứ không phải như cô tưởng trước đây. - Chị Na-ta-sa ơi, chị Na-ta-sa ơi, - Gan-na lại thì thào bên tai, - Chị đã bao giờ hôn chưa?

- Cái gì? Em... em bảo gì?

- Không, em không bảo gì cả, - Gan-na vội vã đáp. - Chỉ có em tò mò... muốn biết... có thích không?

Cô bé ngượng nghịu rúc rích cười, xấu hổ rúc đầu vào trong chăn. Một lát sau, Gan-na lại thò đầu ra.

- Em hỏi thế là không... không tốt hả chị?

- Không, không sao đâu. Chỉ có chị không biết nó có thích hay không. Chị còn chưa hôn với ai cả.

Nghe những lời của chính mình, tim Na-ta-sa bỗng nhói lên, rất đau, lạnh toát trọng lồng ngực, nước mắt trào ra. Nhưng cũng liền ngay đó, tim bình thường trở lại, cơn đau biến mất, chỉ có nước mắt là trào ra mạnh hơn. Những giọt nước mắt to và ấm cứ chảy, chảy mãi, nhỏ giọt ướt đẫm cả gối.

- Chị Na-ta-sa, sao thế? Chị Na-ta-sa? - Gan-na lo lắng thì thào hỏi. - Sao chị lại khóc?

- Nhưng không đợi Na-ta-sa trả lời, và có lẽ đã đoán hiểu được một điều gì đó, cô bé se sẽ lùi ra xa và nằm im.

Na-ta-sa ngủ thiếp đi với những giọt nước mắt trên gối.

* * *

Sáng hôm sau cả ba người - Na-ta-sa, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na và Gan-na - đều cảm thấy ngượng nghịu, như thể họ biết được những điều bí mật không tốt đẹp của nhau. Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na dậy khua xoong nồi rất sớm, im lặng chuẩn bị bữa sáng. Gan-na cũng im lặng sửa soạn đi học, thỉnh thoảng lại ném sang phía Na-ta-sa những cái nhìn sợ sệt. «Chẳng lẽ nó mới mười bốn tuổi mà đã có chuyện gì với Đi-ma! - Na-ta-sa nghĩ thầm. - Còn trẻ con mà».

Nhưng khó xử, ngượng nghịu hơn cả là Na-ta-sa. Bây giờ cô không còn hiểu tại sao tối qua mình lại hiểu một cách ngu ngốc những lời của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na về Xê-mi-ôn và xử sự một cách cũng ngu ngốc như vậy, với cả Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, với cả Xê-mi-ôn.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na hình như hiểu được tâm trạng của Na-ta-sa. Trước lúc ra khỏi nhà đi làm, thím dừng lại ở cửa, nhìn Na-ta-sa và nói: «Không sao, không sao...» Trước đây họ thường cùng nhau đi đến nhà máy, nhưng hôm nay Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na không gọi cô cùng đi. Và Na-ta-sa cảm thấy biết ơn thím về điều đó.

Sau mười phút nữa cô cũng đi làm. Trời hãy còn tối, gió lạnh thổi mạnh từng đợt, đẩy vào lưng cô. Na-ta-sa dựng chiếc cổ lông thỏ của áo bành-tô lên, bước đi chầm chậm, nhìn những hạt bụi tuyết quay cuồng trong các vệt sáng chiếu từ trên các ô cửa sổ xuống đường và nghĩ về Xê-mi-ôn, vẫn với một sự khó chịu: «Ra thế, anh ta đã chấm mình! Anh ta... tất nhiên anh ta đã làm nhiều điều tốt cho mình. Đã đưa mình đến gặp bác Cru-gi-lin. Lúc đó mình sẽ đi đâu, nếu như không có Xê-mi-ôn? Nhưng điều đó không có nghĩa là mình sẽ nhảy bổ đến ôm chầm lấy anh ta. Cứ để cho anh ta đừng có chờ đợi và hy vọng. Mình hoàn toàn không thích anh ta. Hoặc có thể, anh ta làm như vậy để mà… Và anh ta mang mình về nhà để làm gì, khi mình bị ngất đi? Đáng lẽ nên mang đến nhà bà A-cu-li-na...»

Nhưng nghĩ như vậy, cô vẫn mơ hồ hiểu rằng trong ý nghĩ của mình có cái gì không đúng, và thậm chí hoàn toàn không đúng. Thứ nhất, đến nhà bà A-cu-li-na còn xa, bà ta sống ở đâu tận cuối làng. Thứ hai, anh hoàn toàn không đợi, mà tránh gặp cô. Chỉ có I-u-ri, anh này... anh này không tránh, mà cứ tìm cách gặp cô, và nói chung làm ra vẻ cô đã nợ anh ta một cái gì đó. Thứ ba... ừ, thì cô hờ hững với Xê-mi-ôn, mặc dù biết ơn anh, nhưng... nhưng anh ta cũng không đến nỗi, mắt xám, sâu thăm thẳm và hiền lành, tóc mềm và sáng, mặt trắng trẻo, da mịn như con gái. Vai rộng, tay khỏe, cổ chắc chắn, bướng bỉnh. Và cả người anh toát ra vẻ khỏe mạnh, rắn chắc, có lẽ lần đó anh mang cô về đến nhà nhẹ nhàng, không mệt chút nào...

Tự nhiên, suốt ngày Na-ta-sa chỉ nghĩ đến Xê-mi-ôn, phân tích anh cặn kẽ từng tí một và khi I-u-ri chạy vào nhà ăn, cô vừa mang bữa trưa cho anh ta, vừa bất giác so sánh anh ta với Xê-mi-ôn, cô nghĩ: không, Xê-mi-ôn hơn, mũi của I-u-ri hơi quặp, dữ tợn như của loài thú ăn thịt.

- Có một sáng kiến rất vĩ đại, - sau khi ăn xong, I-u-ri nói với cô.

- Sáng kiến nào? Đi nhảy ở câu lạc bộ chứ gì? Em không đi được.

- Lại còn vĩ đại hơn nữa kia! Sông Grô-mô-tu-kha đã đóng băng.

- Thì sao? - Na-ta-sa không hiểu.

- Sao à? Ngày mai băng sẽ phẳng như mặt gương. Xin mời đi trượt băng.

- Anh nói gì? Em làm gì có giày trượt băng.

- Mọi việc đã tính hết rồi. Anh sẽ cho em...

- Em bận không đi được, - cô ngắt lời lạnh nhạt nói

- Ôi, em làm cho đồng chí A-ga-phôn phải thất vọng đấy, - I-u-ri nói nhanh và bước ra khỏi phòng. Anh nói một cách vô tâm và vui vẻ, nhưng giọng có vẻ buồn rầu.

Sau bữa trưa, ngoài đường trời ấm lại, băng đọng trên cửa sổ bắt đầu tan nhanh, Na-ta-sa luôn tay lau nước đọng trên bệ cửa sổ, mắt nhìn ra sân nhà máy, mong trông thấy Xê-mi-ôn. Những chiếc máy kéo và xe tải thường hay chạy ngang qua cửa sổ nhà ăn, mỗi lần nghe tiếng động cơ, cô lại đưa mắt nhìn ra ngoài...

Đến chiều, khi đi làm về, cô mới gặp Xê-mi-ôn. Chiếc máy kéo của anh cùng rơ-moóc chất đầy những thùng gỗ màu da cam đứng cách một gian nhà xây bằng gỗ súc - mà mọi người đều gọi là «kho số 8» - chừng hai chục mét.

Căn nhà kho được bọc trong lớp hàng rào dây thép gai, một nhân viên bảo vệ mang súng trường luôn luôn đứng canh ở cổng. Na-ta-sa biết rằng đây là kho thuốc nổ.

Một toán người đang dỡ các thùng nặng từ rơ-moóc xuống trong ánh đèn điện sáng rực và thận trọng mang chúng vào kho. Xê-mi-ôn mặc chiếc áo khoác đã cũ lấm dầu ma-dút đang lúi húi đào bới trong ổ máy của chiếc máy kéo, tay cầm đèn pin soi kỹ từng bộ phận. Rồi, không trông thấy Na-ta-sa, anh leo vào ca-bin, nhấc đệm ngồi lên, tìm gì đó trong đống sắt thép kêu loảng xoàng.

Khi trông thấy Xê-mi-ôn, tim Na-ta-sa bỗng dưng đập mạnh. Cô ngạc nhiên, bực bội với cả chính mình và bỗng nhiên vô cớ nhớ lại câu hỏi của Gan-na tối hôm qua, cô hoàn toàn bối rối, dừng lại ngay bên cạnh ca-bin.

- A-a, - Xê-mi-ôn kêu lên, nhảy xuống đất. Một tay anh cầm cờ-lê, tay kia cầm miếng giẻ lấm dầu. - Đã về rồi cơ à? Tôi còn phải ra ga một lần nữa.

- Không sao, - cô buột miệng, và lập tức hiểu rằng mình nói một câu ngớ ngẩn. Nhưng không hiểu sao anh lại mỉm cười. - Anh chở gì đấy?

- Chở... đủ thứ. Tôi cũng không biết nữa.

«Anh ấy biết, nhưng không muốn nói... Mà cũng có thể, anh ấy không được phép nói». Na-ta-sa nghĩ hoàn toàn không có tí gì tự ái, và càng bối rối hơn, nói:

- Em xin lỗi anh.

- Về chuyện gì?!

- Về tất cả. Về chuyện tối qua.

- Nhưng tối qua có chuyện gì mà phải xin lỗi?

Nghe những lời của anh, cô cảm thấy người lâng lâng, nhẹ nhàng. Quả thật, anh ta rất hiền, không để bụng tự ái - cô thoáng nghĩ. Cô mỉm cười và bước đi, không hiểu sao, cứ sợ trạng thái nhẹ nhàng lâng lâng đó sẽ biến mất ngay bây giờ. Nhưng nó không biến mất cho đến khi cô về đến tận nhà, nó cũng không rời cô cả khi giữa đường cô vấp phải cô gái sống ở nhà bên cạnh, hình như tên là Vê-ra I-nhi-u-chi-na thì phải.

- Mù à? - Vê-ra kêu lên, đôi mắt long lên như mắt mèo.

- Xin lỗi, tôi đang mải nghĩ.

- Nghĩ thì nghĩ, nhưng mắt phải mở to ra mà nhìn chứ.

Trước đây Na-ta-sa đã hai-ba lần trông thấy I-nhi-u-chi-na, cô ta nhìn cô rất kỳ quặc, dường như muốn định giá cô. Và có lẽ cô ta định giá không cao lắm, vì rằng mỗi lần gặp nhau, I-nhi-u-chi-na khinh bỉ mím chặt đôi môi mọng ướt và nheo nheo cặp mắt hơi dài.

Lũ trẻ - Đi-ma, An-đrây, Gan-na, cậu em của Vê-ra I-nhi-u-chi-na là Nhi-cô-lai - đang đùa nghịch, la hét ầm ĩ cạnh nhà. Khi Na-ta-sa còn ốm, mấy lần Nhi-cô-lai xuất hiện ở nhà Xa-vê-li-ép, tò mò nhìn cô đang nằm im trên giường, khịt khịt chiếc mũi quặp bị lạnh và lấy ngón tay bê bết mực quệt ngang. Một lần, khi Na-ta-sa đã đỡ, cô hỏi tên cậu là gì.

TGVC (10)

- Tên em ấy à? Các-ca - Xô-côn, - cậu trả lời.

- Gì? Gì?

- Không gì, mà khỏe mau lên.

Na-ta-sa ngượng nghịu, và cậu bé cũng đỏ mặt, khịt mũi, biến mất, rồi từ đó không thấy sang nữa.

Bây giờ lũ trẻ đang bò lê trong tuyết, cố thắng một con chó lông xồm vào xe trượt tuyết.

- Đừng nên thế, Đi-ma, An-đrây... Nhi-cô-lai! - Gan-na the thé. - Nó đau đấy.

- Đau gì? Nó quen rồi, hiểu chưa? - Nhi-cô-lai hét to. - Hôm qua nó kéo tớ đi trượt băng đấy...

- Đúng đấy, sao các em lại làm tội nó thế? - Na-ta-sa đi đến bên, nói.

Bọn trẻ im lặng. Nhi-cô-lai, đầu gối quỳ lấp trong tuyết, ngước nhìn Na-ta-sa:

- Việc gì đến chị? Chó của chị à?

- Đừng nên thế.

- Tớ đã bảo rồi, đã bảo rồi mà, - Gan-na lại kêu lên the thé.

- Im đi! - Nhi-cô-lai lầu bầu, nhưng cũng thả chó ra. Con chó vui mừng vẫy đuôi bỏ chạy và mất hút vào cánh cổng vườn để ngỏ của nhà I-nhi-u-chin.

- Đừng thế, Nhi-cô-lai ạ, đừng làm tội nó nữa nhé. Em hứa đi, - Na-ta-sa nói.

- Chị đi đi! - cậu lầu bầu và bắt đầu quấn dây lại.

Cái trạng thái lâng lâng đến với cô ở nhà máy, suốt cả buổi tối cũng không mất đi. Nhớ lại lần gặp và những lời thô lỗ của Vê-ra, Na-ta-sa cau mày lại: «Tại sao cô ta lại luôn luôn nhìn mình như vậy nhỉ?» Nhưng rồi liền đó cô quên ngay Vê-ra và không bao giờ nhớ lại nữa.

Chiều hôm đó, An-na đang giặt áo quần. Na-ta-sa bước vào nhà, nhìn thoáng qua Phê-đô đã nằm ngủ trên giường, cám ơn An-na về chuyện áo bành-tô và nói sẽ trả tiền dần, nếu như An-na đồng ý bán.

-Đừng nói nhảm nữa, - An-na bảo. - Nếu như không mệt, cháu đem phơi giúp áo quần này lên.

Hai người đi ra sân và phơi rất lâu, lần mò trong bóng tối, mớ áo quần ướt, lạnh như băng, tay cóng đờ lại. - Rồi Na-ta-sa giúp Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na cho đứa bé nhất ăn cháo và đặt nó vào nôi. Làm những việc này, cô càng thấy mỉnh thêm nhẹ nhõm, và có cảm giác như cô đang đợi chờ một điều gì đó rất vui, cái niềm vui đó sẽ sắp sửa xảy ra ngay bây giờ.

Chỉ đến lúc lên giường đi ngủ, cái cảm giác trong sáng nhẹ nhàng đó mới bắt đầu bị pha trộn một sự lo lắng mơ hồ và khó hiểu. Sự lo lắng này do đâu mà có và về chuyện gì - cô không biết, nhưng Na-ta-sa mãi vẫn không ngủ được, cô nằm lắng nghe những tiếng động đang tắt dần trong ngôi nhà. Và cô càng lắng nghe bao nhiêu, sự lo lắng càng rõ, càng lớn dần bấy nhiêu. Bỗng nhiên cô nhớ lại lần gặp gỡ hôm nay của cô với Xê-mi-ôn, và cô nghĩ, tất nhiên là anh ấy biết mình đang chở «hàng» gì từ sân ga về nhà máy. Đấy, các công nhân hết sức thận trọng dỡ từng hòm màu da cam từ rơ-moóc xuống, còn anh, Xê-mi-ôn, ngày nào cũng phải chở thứ hàng đó từ nhà ga về, đường không bằng phẳng, nhiều ổ gà, xe xóc, các hòm xô vào nhau... Chở chúng có nguy hiểm không? Hai bên thành hòm... đúng, trên thành hòm người ta vẽ những hình đầu lâu đen trông thật đáng sợ!

Tim cô bỗng nhói lên, lạnh buốt. Cô lấy bàn tay xoa nhẹ lên ngực, nhưng cái cảm giác đau nhói vẫn không mất đi. «Cái gì thế này, mình làm sao thế này? Nếu người ta để anh ấy chở, thì chắc là không nguy hiểm…

Cuối cùng, có tiếng cửa phòng ngoài kẹt mở, tiếng sàn nhà kêu cót két dưới bước chân người, tiếng Xê-mi-ôn khe khẽ:

- Hôm nay mệt quá, đứng không vững nữa. Mà máy kéo lại còn trục trặc thế nào ấy.

- Con có ăn tối không? - mẹ anh hỏi.

- Nếu có gì nóng, cho con một tí.

Chỉ vừa nghe thấy giọng nói của Xê-mi-ôn, cảm giác đau nhói ở trong tim Na-ta-sa lập tức biến mất, sự lo lắng cũng tan ngay, và người cô trở nên nhẹ nhõm, lâng lâng. Nhưng tất cả những cái đó bỗng làm cho cô giật mình hoảng hốt, cô ngồi phắt dậy trên giường. Trong ngực nghe nóng ran, như không đủ không khí. «Cái gì với mình thế này? Anh ấy là gì với mình?» - mấy từ này không hiểu từ đâu hiện ra cứ vang lên một cách vô nghĩa trong đầu. Cô từ từ ngả người nằm xuống, - đúng hơn, cô muốn nằm xuống, nhưng chiếc giường dưới lưng cô bỗng biến đâu mất, và cô bắt đầu rơi, rơi mãi, rơi mãi vào một nơi nào đó không cùng...

* * *

Có những giấc mơ giống như sự thật, và có những sự thật chẳng khác gì trong chiêm bao...

Và Na-ta-sa không hiểu điều đó bắt đầu từ bao giờ. Vào cái đêm khi cô ngồi trên giường và nghe những tiếng vang ngân mãi trong đầu: «Anh ấy là gì với mình?» Hay là vào một ngày trước đấy, khi Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nói với cô: «Xê-mi-ôn của nhà này đã chấm rồi đấy.» Hay là khi bên tai cô vang lên giọng thì thầm bí mật và xấu hổ của Gan-na: «Chị Na-ta-sa, chị đã bao giờ... hôn chưa ?»

Mà cũng có thể, điều đó bắt đầu từ mấy ngày sau đó, khi Na-ta-sa đón nhận quyển hộ chiếu được đưa ra cho cô từ một cửa sổ hẹp, nhìn lướt qua ba chữ được viết bằng mực đen rất đẹp, rõ ràng: «Mi-rô-nô-va Na-ta-li-a A-lếch-xan-đrốp-na», ngửi thấy mùi giấy mới thơm ngọt, bước ra khỏi đồn công an, người lảo đảo như say rượu?

Không ai, không ai trên đời này có thể nói cho cô biết được điều đó bắt đầu từ bao giờ. Mà như thế cũng chẳng sao...

* * *

Trên đường đi nhận hộ chiếu, cô vừa đi vừa sợ rằng đồn công an, ngay trong phút cuối cùng, lại có người nào đó nghĩ lại, thay đổi ý định và không cấp hộ chiếu cho cô nữa. Nhưng một người phụ nữ trẻ đẹp mặc áo quần công an in lặng chìa sổ cho cô ký nhận, rồi cũng im lặng trao cho cô một quyển hộ chiếu nhỏ màu xám nhạt. «Tất cả những cải này đều do bác ấy, bí thư huyện ủy Cru-gi-lin... Bác ấy lo cho mình được nhận vào làm việc, cho nên ở đây không ai hỏi gì mình, cấp ngay hộ chiếu chỉ dựa theo tờ khai của mình! Nếu như không có bác ấy...» - trên đường về, cô vừa đi vừa cảm động nghĩ.

Bỗng nhiên cô thấy dưới hàng cây chiếc ghế dài, nơi cô đã ngồi một tháng trước đây trong buổi sáng ảm đạm, lạnh lẽo. Cô đã ngồi ở đây mà không biết sẽ phải làm gì. Rồi lão Ê-li-da-rốp đáng căm ghét đi đến, sau đó I-u-ri xuất hiện, nói ba hoa một lúc rồi chạy đi, và cô bỗng hiểu rõ là cần phải đi ra cuối làng, nơi có những bụi cây rậm, chui vào thật sâu, để không ai có thể tìm thấy cô. Có lẽ cho đến tận mùa xuân sẽ không ai tìm thấy cô, mà có thể qua cả mùa hè nữa cũng không ai đến đấy, và thế là không ai trên đời này biết cô biến đi đâu mất, không ai còn nhớ là cô, Na-ta-sa, đã từng sống, trên trái đất này... Nhưng rồi anh ấy xuất hiện... Anh ấy xuất hiện, đầu tiên là ở nhà Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, rồi sau đó ở đây, cạnh chiếc ghế dài này...

Đôi chân bỗng không chịu theo sự điều khiển của Na-ta-sa nữa, trở nên nặng trịch, mắt tối sầm lại. Không còn trông thấy gì trước mắt nữa, cô lảo đảo, ngã ngồi xuống ghế...

Xung quanh là bóng đen, nhưng ý thức vẫn làm việc rất rõ ràng, và bây giờ Na-ta-sa biết rằng đầu tiên là anh ấy, Xê- mi-ôn, rồi sau đó mới xuất hiện Cru-gi-lin và những người khác. Và nếu như không có anh ấy xuất hiện đầu tiên, thì sẽ không có chuyện Cru-gi-lin và tất cả những người khác - cả giám đốc nhà máy An-tôn Xa-vê-li-ép, cả Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, cả An-na, cả phụ trách nhà ăn Ru-phi-na I-va-nốp-na - sẽ không có ai cả.

Xung quanh là bóng đêm. Nhưng Na-ta-sa biết rằng đó chỉ là vì cô đang ngồi nhắm mắt. Chỉ cần bây giờ cô mở mắt -là bóng tối lập tức biến mất, ánh mặt trời chói chang và màu tuyết trắng tinh khiết sẽ đập vào mắt: Và có lẽ... và có lẽ cô sẽ trông thấy anh áy, Xê-mi-ôn...

Xê-mi-ôn thì cô không trông thấy; chỉ có bóng tối thì quả nhiên biến mất.

Buổi sáng êm ả, trời không mây, hơi lành lạnh, tuyết vui vẻ lạo xạo dưới chân của lũ trẻ mang xắc, mang cặp chạy đến trường, cả người lớn cũng đi ngang qua, nhưng bây giờ không ai để ý đến Na-ta-sa. Trên đầu cô, những cành cây trụi lá phủ đầy tuyết, từ ống khói của ngôi nhà đứng đối diện, một cột khói «cũng trắng muốt và tinh khiết như tuyết trên mái nhà» bốc thẳng đứng lên trời. Phía sau cột khói, phía sau những mái nhà là những đỉnh núi đá trắng bạc màu tuyết phủ của dãy Dve-nhi-gô-ra chọc thẳng vào bầu trời trong vắt. Na-ta-sa nhìn lên tất cả những cái đó và cảm thấy nước mắt ứa ra vì cái màu tuyết chói chang, cảm thấy từng giọt nước mắt âm ấm chảy xuôi theo đôi má lạnh cóng. Và cô còn cảm thấy rằng bây giờ, khi cô mở mắt ra, không chỉ xảy ra cái quá trình chuyển từ bóng tối sang ánh sáng rất quen thuộc đối với mỗi con người, mà đã xảy ra một cái gì đó phi thường, bí ẩn, không thể khám phá ra được, nó xảy ra không phải ở xung quanh, bên ngoài cô, mà ở chính ngay trong người cô. Nhưng đó là cái gì - cô không bao giờ và không bằng từ ngữ nào có thể giải thích được. «Đấy chính là anh ấy, Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn» - cô nghĩ không ngớt trong đầu...

Na-ta-sa không nhớ mình về đến nhà ăn như thế nào. Trên đường, nhiều người gặp cô, ngạc nhiên ngoái lại nhìn theo cô, nhưng Na-ta-sa không nhận thấy gì cả.

- Sao thế? Cháu sao thế? - Ru-phi-na I-va-nốp-na, đang làm thay cho Na-ta-sa khi cô đi nhận hộ chiếu, trông thấy cô liền lo lắng hỏi: - Trông cháu như người mất hồn. Họ không cấp cho à?

- Đấy chính là anh ấy, Xê-mi-ôn, - Na-ta-sa nói một câu vô nghĩa.

- Cái gì? Xê-mi-ôn nào?

- Đây này, - cô thốt lên và chìa quyển hộ chiếu ra.

- Nhờ trời thế là tốt rồi, thế là tốt rồi, - Ru-phi-na I-va-nốp-na lặp đi lặp lại mấy lần.

... Một lúc lâu, Na-ta-sa im lặng mang thức ăn đến bàn mà không phân biệt được là cho ai. Mấy lần cô đặt xuống bàn một người nào đó hai bát xúp thay cho món thịt ninh, và thường xuyên quên bánh mì. Cuối cùng, cô vấp ngay ở chỗ bằng phẳng, đánh rơi hai đĩa thức ăn đầy...

Ru-phi-na I-va-nốp-na đưa Na-ta-sa vào bếp, vào phòng làm việc của bà được ngăn ra bằng một bức vách nhỏ. Ở đó có một chiếc giường sắt phủ bằng tấm chăn xám.

- Cháu sao thế, Na-ta-sa? Ốm à ?

- Cháu không biết nữa.

- Nằm xuống đây, nghỉ đi. Bác sẽ thay cháu mang thức ăn cho họ.

Na-ta-sa nằm sau bức vách cho đến tận chiều, nghe tiếng ồn ào ngoài gian nhà bếp, tiếng bát đĩa chạm nhau lách cách, tiếng cười đùa vô tư của các cô cấp dưỡng trẻ. Chỉ sau ba-bốn tiếng đồng hồ qua mà trông cô thay đổi hẳn: đôi mắt đen như than trũng sâu xuống, long lanh như trong cơn sốt, với những quầng xanh xung quanh, mũi nhọn ra, má tóp xuống, cả khuôn mặt hốc hác. Phụ trách nhà ăn bước vào và ngạc nhiên vung tay lên trời:

- Cháu đúng là ốm thật rồi!

- Không đâu ạ, - Na-ta-sa lắc mái đầu rối bù. Và cô khẽ hỏi: -Bác Ru-phi-na ơi, bác có biết anh Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép không?

- Xê-mi-ôn? Hượm nào, có phải cái cậu tóc màu bạch kim không? Con của Phê-đô, thợ máy gặt liên hợp chứ gì?

- Vâng, anh ấy. Cháu không biết từ đâu và tại sao anh ấy xuất hiện trong đời cháu... Nhưng cháu yêu anh ấy.

Cô nói, vẫn nằm trên giường, mắt nhìn lên trần nhà không chớp. Ru-phi-na I-va-nốp-na đứng cạnh giường, ngạc nhiên trước những lời thú nhận của Na-ta-sa.

- Và anh ấy, bác Ru-phi-na I-va-nốp-na ạ, cũng yêu cháu.

- Thì ra như vậy đấy: Nhưng sao lại thế được? Bác nghe nói hình như cậu ta đã chuẩn bị cưới Vê-ra I-nhi-u-chi-na kia mà...

Na-ta-sa nghe rất chăm chú và hiểu ngay ra tất cả. Nhưng điều này hoàn toàn không làm cho cô thất vọng, lo lắng tí nào.

- Có thể trước đây anh ấy đã muốn thế, còn bây giờ thì yêu cháu. Cháu biết, - cô nói khẽ nhưng tự tin. Và trong sự tự tin này có một sức mạnh và sự thật kỳ lạ nào đó mà người đàn bà đứng tuổi này không hiểu nổi.

- Nhưng sự việc nó ra sao? Các cháu kịp như vậy bao giờ thế?

- Chúng cháu đã kịp cái gì đâu. Chúng cháu còn chưa gặp nhau lần nào.

Ru-phi-na I-va-nốp-na hoàn toàn ngơ ngác, sợ hãi nhìn Na-ta-sa.

- Hượm nào, hượm nào... Thế thì làm sao cháu khẳng định được như vậy? Cháu thì không nói nữa, nhưng còn cậu ấy?

- Cháu không khẳng định, nhưng cháu biết điều này qua đôi mắt anh ấy... Nếu được, bác Ru-phi-na I-va-nốp-na, cháu sẽ đến gặp anh ấy ngay bây giờ. Cháu cần phải đi, cháu không thể không đi gặp anh ấy được. Bác cho phép cháu đi ngay giờ nhé, anh ấy đang đợi...

- Cháu có còn bình thường nữa không đấy?! Anh ấy đợi cháu ở đâu?

- Ở ngay đây, trong nhà máy này. Anh ấy đã đến đây, cháu biết, cháu cảm thấy thế…

Và không nói một lời nào thêm, cô đứng dậy, mặc quần áo và đi ra cửa.

Na-ta-sa chậm chạp đi qua sân nhà máy, đầu cúi thấp, không để ý đến mọi người đang chạy đi chạy lại xung quanh những dãy nhà xây dở, đến tiếng la hét ồn ào, đến tiếng động cơ của những cỗ máy đang làm việc giữa bốn bức tường nhà còn chưa lợp mái, đến tiếng sắt thép loảng xoảng, tiếng những thanh gỗ ván ném từ trên cao xuống ầm ầm, tiếng còi ô-tô vận tải đủ giọng. Cô đi vòng qua những đống sắt thép bị uốn cong queo, những núi xỉ còn bốc khói, những bãi cát vàng còn chưa bị tuyết phủ hết, những đống gạch vỡ ngổn ngang. Cô bước đi theo tiếng gọi của một sức mạnh vô hình, khó hiểu nào đó. Ru-phi-na I-va-nốp-na, trong bụng hết sức lo lắng, đi theo sau, cách cô chừng mười hai mười lăm bước, khi thì dừng lại, khi rảo bước nhanh hơn để khỏi mất hút bóng cô gái.

Na-ta-sa dừng lại lần đầu tiên ở cạnh cổng kho số 8. Sau hàng rào dây thép gai vắng lặng, chỉ có một người mặc áo lông cừu vàng, súng trường khoác ngang vai đang đi lại. Na-ta-sa khẽ nhíu lông mày, cúi đầu bước đi tiếp.

...Cô tìm thấy Xê-mi-ôn ở góc xa nhất của địa phận nhà máy, nơi một đám đàn ông và phụ nữ đang dùng cuốc chim đào đống đất đã đóng băng cứng như đá, ném những cục nặng lên thùng một chiếc xe tải đứng cạnh đó. Xê-mi-ôn ngồi trong buồng lái, đầu gục xuống vô-lăng, không hiểu đang ngủ hay đang suy nghĩ điều gì. Rồi anh bỗng ngẩng nhanh đầu lên, nhìn thấy Na-ta-sa đang đi đến, nhảy xuống xe.

- Em biết thế nào anh cũng đang ở đây... là em sẽ tìm thấy, -Na-ta-sa nói và nhìn thẳng vào mắt anh.

- Anh đã ba ngày nay phải lái xe tải này - Xê-mi-ôn nói, như thanh minh điều gì. - Máy kéo đang còn phải sửa chữa.

- Xe nào mà chịu nổi cái việc khổ sai này! - một người đàn bà mặc áo bông vá, đi ủng lao động đã vẹt gót, cau có càu nhàu. - Xe nó có phải người đâu. Đầy rồi đấy, đi đi.

- Na-ta-sa đấy à? - từ sau xe, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na bước ra, hai tay cầm một chiếc xẻng to tướng. - Cháu làm gì ở đây, Na-ta-sa?

- Vì rằng cháu biết... - Na-ta-sa nhìn người đàn bà mặc áo bông vá, nhìn Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, nhìn đống lửa bên cạnh nhóm bằng những mẩu ván thừa và thùng gỗ hỏng.

Một đám người đi đến bên đống lửa, chìa tay ra sưởi, trong đó có cả Ru-phi-na I-va-nốp-na, Na-ta-sa, không hiểu để làm gì, gật đầu như chào bà, rồi bước lên cửa buồng lái, ngồi vào ca-bin. Qua tấm kính dày, cô nhìn lại một lần nữa đám người bên đống lửa. Mọi người đứng bất động và đều nhìn về phía cô. Na-ta-sa mỉm cười với họ và họ dường như cũng chỉ chờ có vậy, vì rằng tất cả bỗng nhiên biến đi đâu mất. Cả đống lửa cũng biến mất, trước mắt Na-ta-sa bây giờ thấp thoáng những bức tường gạch màu vàng, tuyết hai bên đường lẫn bùn đất, một hàng rào bằng dây thép gai, rồi sau đó là những mái nhà phủ đầy tuyết trắng, những cành cây trụi lá mang màu xanh thẫm của hoàng hôn đang kéo về, những bức tường bằng gỗ ghép, những cánh cửa sổ màu xanh lam, màu hồng, màu lục... Tất cả bay ngược trở lại, như đe dọa sẽ xô ngã, đè bẹp, lấp kín cô dưới một đống những mảnh vỡ, nhưng chúng không xô ngã, mà chỉ bay ngang qua, làm cho hoa mắt, chóng mặt.

- Dừng lại, dừng lại! - cô kêu to, túm lấy người Xê-mi-ôn. Nhựng chỉ vừa chạm tay đến vai anh, cô rụt lại như bị điện giật, ngồi lùi tít vào trong góc ca-bin.

Xê-mi-ôn dừng xe lại, quay về phía cô:

- Na-ta-sa...

- Anh… có biết là em bây giờ đến không? - đôi môi khô bỏng của cô hầu như không mấp máy.

- Không... Nhưng anh muốn là em sẽ đến. - Đôi mắt anh ánh lên những tia sáng khô, hai tay bóp chặt vô-lăng như muốn bẻ gãy nó ném ra ngoài ca-bin.

Những lời của anh như gõ trống vào tai cô, làm cho cô không hiểu được nghĩa của chúng. Nhưng rồi cô vẫn đoán ra.

- Anh Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn... - cô thì thào, úp khuôn mặt nóng hổi vào vai anh. Nhưng rồi cô lại lùi ra tận góc, hét to, gần như với một giọng thù địch: - Để cho em xuống! Mở cửa ra...

Xê-mi-ôn, cố không chạm phải người cô, vươn tay ra mở cửa xe. Na-ta-sa liền nhảy ngay xuống tuyết, bỏ đi thẳng. Xê-mi-ôn cũng bước xuống xe. Cô bỗng dừng bước, rồi quay trở lại, lúc đầu còn chậm chạp, nhưng sau mỗi lúc một nhanh hơn, nhanh hơn. Chạy đến, cô im lặng, gục đầu vào ngực anh, ghì chặt, vẻ yếu đuối, bất lực. Cô không nói gì, và Xê-mi-ôn cũng vậy...

Rồi Na-ta-sa ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt anh. Có lẽ, cô đã nhìn thấy trong anh đúng điều cô muốn thấy. Na-ta-sa mỉm cười và lặng lẽ bước đi, khuất vào ngõ nhỏ bên cạnh.

* * *

Giấc mơ đó bắt đầu vào những ngày cuối tháng Giêng kéo dài suốt tháng Hai, đã trở nên ấm áp và nhiều bão tuyết; cuối tháng đó đã xảy ra một chuyện bi thảm.

Đối với Na-ta-sa, mỗi ngày mới bắt đầu và kết thúc bằng một tên gọi, bằng một âm thanh tinh khiết như tuyết đầu mùa - Xê-mi-ôn. Sáng ngủ dậy, đó là từ đầu tiên cô nghe thấy. Và cũng trong tiếng ngân vang của từ đó, cô mỉm cười, thiếp đi; trong giấc ngủ nụ cười đó vẫn đọng trên đôi môi đẹp mọng ướt, chưa một lần hôn của cô.

Mối tình đầu đến với cô một cách bất ngờ, không báo trước, như trận mưa rào đột ngột ập đến cánh đồng khô héo, nứt nẻ vì gió nóng và lửa mặt trời thiêu đốt. Tâm hồn Na-ta-sa đã bị giày vò đến tột độ, đã hóa đá, giờ đây sảng khoái, khao khát và tin cậy mở tung ra đón nhận những điều tốt lành, ấm áp.

Vào một đêm trăng bàng bạc giữa tháng Hai, họ xem phim về, bước chầm chậm dọc theo con đường làng phủ đầy tuyết mịn. Một đoàn con gái cũng đi xem về đuổi kịp họ, rồi đi vượt lên. Từ bốn phía lúc đầu vang lên tiếng cười nói đủ giọng, sau tất cả im lặng, và trên đường chỉ còn lại hai người.

Hôm nay ở câu lạc bộ chiếu hai bộ phim tài liệu: «Cuộc diễu binh tại Quảng trường Đỏ ở Mát-xcơ-va ngày mồng 7 tháng 11 năm 1941» và «Các bạn gái, ra mặt trận!» Trên đường đến câu lạc bộ, Xê-mi-ôn luôn miệng cười đùa. Khi đèn tắt, anh liền tìm tay cô trong bóng tối, nắm chặt, rồi bỗng bỏ ra. Sau mỗi cuốn phim, đèn lại bật sáng, nhưng Xê-mi-ôn vẫn cau có nhìn lên màn ảnh. Cho đến cuối buổi chiếu, anh không nói lời nào, và bây giờ vẫn im lặng.

Hai người im lặng đi ngang qua nhà. Trời bỗng đột nhiên đổ tuyết.

- Xê-mi-ôn, anh sao thế? -cuối cùng, cô dừng lại hỏi. Ánh sáng từ cửa sổ của ngôi nhà bên cạnh chiếu thẳng vào mặt Na-ta-sa, và anh thấy trong mắt cô những tia lo lắng đang lấp lánh, tuyết bám vào đôi lông mày rướn cao.

Chưa bao giờ anh chạm tới mặt cô, còn lần này anh bỗng đưa cả hai tay ra ôm lấy má cô. Cô nắm lấy tay anh nhưng không hất ra. Những tia sáng trong mắt cô càng cháy to hơn.

- Anh yêu em, - Xê-mi-ôn thì thầm nói. - Nhưng anh lại sắp đi. Ra mặt trận. Anh không thể... Ở phòng quân vụ người ta đã hứa với anh. Có lẽ mùa xuân tới...

- Thế thì đã sao! - Na-ta-sa kêu lên. - Em biết rồi. Em sẽ đợi anh, anh muốn bao nhiêu cũng được! Dù suốt đời! Còn từ giờ đến mùa xuân còn lâu, còn lâu...

Khi hai người chậm chạp quay trở lại nhà, họ vẫn im lặng. Xê-mi-ôn có cảm tưởng như Na-ta-sa đang day dứt nghĩ về một điều gì lung lắm và hình như đang có điều gì phê phán anh.

- Thế anh đã... yêu bao giờ chưa? - khi họ dừng lại bên thềm, cô bỗng hỏi.

- Anh không biết nữa, - anh đáp. –Đấy, trong nhà này có cô gái tên là Vê-ra I-nhi-u-chi-na. Anh với cô ta đã có... quan hệ với nhau. Và trước đây anh tưởng rằng anh yêu cô ta, nhưng sau hiểu ra rằng không phải. Cô ta không có cái gì để yêu cả.

- Chẳng lẽ người ta yêu nhau vì cái gì à?

- Chứ còn sao nữa?

- Thế anh yêu em vì cái gì?

Anh im lặng, không biết trả lời ra sao.

- Đấy là nói chung... Điều này khó có thể trả lời ngay lập tức được.

- Tại sao anh không bao giờ hôn em cả? - cô nói nhanh bằng một giọng xa lạ hẳn đi. Đôi mắt cô mở to, tròn xoe, đẫm nước. Cô ngẩng đầu mỗi lúc một cao, ngả ra phía sau, bước đến sát bên anh, thở hắt ra: - Anh Xê-mi-ôn!

Anh kịp đỡ lấy cô trước khi cô ngã xuống. Anh hôn cô, lúc đầu vào cạnh tai, sau đó vào cạnh mũi, và cuối cùng vụng về tìm đôi môi khô mím chặt của cô. Nhưng khi anh vừa chạm tới chúng; cô khẽ rên lên, xô anh ra, chạy lên thềm nhà, gõ mạnh vào cửa.

- Na-ta-sa… đợi anh một tí...

- Anh đi đi! Anh im đi! Anh đi đi, im đi!... - cô nhắc đi nhắc lại mãi không ngớt, tay đấm ầm ầm vào cửa.

- Mở ngay bây giờ đây... Ai ngoài đó? - An-na hỏi ra.

- Na-ta-sa! - Xê-mi-ôn lại nói, khi cửa mở ra. - Mẹ vào đi, để...

- Anh... anh đi đi! - Na-ta-sa kêu to lên với anh.

- Có chuyện gì vậy? - An-na lo lắng hỏi. - Đi vào nhà đi.

Xê-mi-ôn, không nói thêm lời nào, bước vào nhà. Còn Na-ta-sa, đứng ngay ở hiên nhà, gục đầu vào bờ vai ấm của mẹ anh, nặng nề khóc nấc lên như bị ai làm nhục khủng khiếp.

- Cháu sẽ không đợi chờ anh ấy đâu! Cháu không chờ đâu, cháu không thể! Cháu sẽ cùng anh ấy ra mặt trận, vào lửa đạn, vào cái chết - muốn đi đâu cũng được! Cô An-na ơi...

- Nào, nào... - An-na bối rối nói, một tay đỡ lấy người cô. - Vào nhà đi, cô không mặc áo.

An-na dẫn cô vào nhà bếp tối đen. Phê-đô trở mình trên chiếc giường của mình, gầm gừ trong cổ.

- Có chuyện gì thế? - ông khẽ ho, lên tiếng hỏi, bật đèn lên. - Gì mà ồn lên thế, tôi hỏi.

- Anh ngủ đi, không có gì đâu, - An-na nói và dẫn Na-ta-sa ra khỏi bếp vào phòng cô.

Vào đến phòng, không bật đèn lên, An-na im lặng cởi áo ngoài cho Na-ta-sa đang thút thít khóc, im lặng giúp cô nằm xuống giường cạnh cô bé Gan-na đã ngủ say, lấy một chiếc ghế đẩu đến ngồi bên cạnh. Từ phòng bên, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ngó đầu vào hỏi có cần gì không. Trên lò sưởi, bà Phê-nhi-a lẩm bẩm một câu gì đó.

- Không cần gì cả đâu, tất cả đi ngủ đi, -An-na nói, tay vuốt ve lên đôi vai gầy khẽ run run của Na-ta-sa. - Và cháu cũng ngủ đi, ngủ đi.

Na-ta-sa cầm lấy tay An-na, áp chúng vào má mình.

- Con yêu anh ấy, con yêu!..

- Con đã nói rồi, mẹ biết, - An-na thở dài, không rút tay về.

Quả thật Na-ta-sa đã nói rõ điều đó với tất cả mọi người ngay vào cái ngày tháng Giêng hôm đó, khi cô nhận hộ chiếu về, khi cô tìm Xê-mi-ôn ở nhà máy và cùng đi với anh. Chia tay với Xê-mi-ôn, rất lâu, có lẽ phải đến mấy tiếng đồng hồ, cô đi lang thang khắp thị trấn San-ta-ra, đầu không nghĩ về chuyện gì cả, về đến nhà lúc đã rất khuya. Phê-đô, An-na, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na lúc đó đang ở trong nhà bếp, nói với nhau một điều gì đó, thấy cô về, họ liền im lặng, ngoảnh lại nhìn cô. Trong một giây nào đó, cô bỗng nổi cáu, mất hết bình tĩnh, nhưng cô liền lắc mạnh đầu và nói to:

- Gì mà các bác nhìn thế? Vâng, vâng, cháu yêu anh ấy!

Và trong sự im lặng tuyệt đôi, cô đi qua bếp như đi qua hàng quân. Cô nhìn thấy đôi mắt lo lắng sợ hãi của An-na, cái nhìn giễu cợt của Phê-đô, vẻ mặt như người có lỗi của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na. Cô còn nhận thấy rằng không hiểu vì sao Phê-đô lấy tay giật giật bộ ria mép, và có lẽ vì vậy mà mặt ông đỏ ửng lên.

Sau lần đó, bao giờ ông ta cũng nhìn cô bằng cặp mắt nheo nheo giễu cợt, vẻ tò mò và thường hay giật giật bộ ria mép. Còn An-na như trở nên nghiêm khắc hơn, có vẻ như không bằng lòng một điều gì đó, thường im lặng và chăm chú nhìn Na-ta-sa từ đầu đến chân, nhưng cho đến hôm nay vẫn không nói một lời nào.

Và bây giờ bà ngồi cạnh giường cô, thỉnh thoảng lại thở dài.

- Sao mẹ lại thở dài như thế? - Na-ta-sa hỏi. - Chẳng lẽ con không nên... Và anh ấy cũng...

- Không, con người yêu nhau là tốt thôi, - An-na nói trầm ngâm. - Nhưng bây giờ lại còn đang chiến tranh.

- Thì việc gì đến con? Thì việc gì đến chúng con?!

- Thế đấy. Tình yêu không biết đến chiến tranh... hay nói chung, đến cả thế giới xung quanh đang đảo lộn lên... Tình yêu đến - và chỉ thế thôi. Chỉ có điều sau đó là đau khổ. Ôi, sau đó thường bao nhiêu là đau khổ!

Na-ta-sa không hiểu mẹ Xê-mi-ôn nói với cô như vậy là để làm gì, với mục đích nào.

- Thế mẹ không muốn để con và Xê-mi-ôn…

- Không phải thế đâu, - An-na nói và nhẹ nhàng khẽ rút tay về. - Mẹ vẫn nghĩ, Na-ta-sa ạ... Thỉnh thoảng mẹ tưởng tượng ra hạnh phúc của con người là một khu vườn buổi sáng, hay đúng hơn là tiếng chim ở trong khu vườn đó. Tiếng chim hót khắp nơi, rất nhiều, trên cành cây nào cũng có. Nhưng vừa đi đến nơi - con chim liền im tiếng. Vừa mới có đấy - và bây giờ không. Không bắt được nó. Xung quanh, rất gần, cái hạnh phúc đó vẫn ngân vang khắp nơi, nhưng trước mặt chỉ là một cành cây trống không đang đung đưa trước gió.

Na-ta-sa nằm im lặng.

- Con không hiểu, tại sao lại không, khi mà nó có?

- Trời ơi, sao tôi ngu ngốc đến thế! - An-na như chợt tỉnh, đứng lên. - Thôi, ngủ đi. Sau ta sẽ nói chuyện nữa.

Rất lâu Na-ta-sa không thể ngủ được, cô nằm nghĩ về một điều gì đó chưa rõ ràng. Rồi sau cô mơ thấy cái khu vườn tràn trề ánh nắng ban mai với tiếng chim ca đủ giọng, cô nhìn thấy trên cành cây trước mặt một con chim lạ, rất đẹp, lông cánh sặc sỡ màu ngọc bích. Nhưng khi Na-ta-sa đi đến bên cạnh, chìa tay ra, con chim liền quay chiếc đầu nhỏ có mỏ hồng hồng lại, nheo nheo đôi mắt giống hệt như mắt của cha Xê-mi-ôn và vụt bay mất, để lại cành cây trống đung đưa...

...Buổi sáng, cô đi làm việc với vẻ mặt cau có, nặng nề, đôi môi thỉnh thoảng lại mím chặt cáu kỉnh. Ở cổng ra vào nhà máy cô như chợt tỉnh bởi tiếng động cơ gầm rú, trông thấy máy kéo của Xê-mi-ôn từ trong cổng đi ra. Cô liền chạy bổ tới, suýt nữa thì ngã ngay xuống dưới xích xe.

- Em điên à? - Xê-mi-ôn hét to nhảy từ ca-bin xuống đất. - Em làm cái gì thế?

Giờ đi làm, ở cửa ra vào nhà máy cả một đám đông. Na-ta-sa chạy đến, ôm chầm lấy anh.

- Tại sao lại không, khi nó có ở đây? - cô thì thầm những lời chỉ đủ cho anh nghe thấy, rồi lùi lại, rẽ vội đám người, chạy khuất vào sau cổng.

Tất cả sự việc chỉ diễn ra trong vòng mấy giây. Xung quanh vang lên những tiếng kêu ngạc nhiên, có người phá ra cười, còn một thanh niên nào đó cho hai ngón tay vào miệng huýt gió váng tai, đây đó có cả những câu đùa cợt nhả. Xê-mi-ôn quay người, bước đến bên máy kéo.

- Xê-mi-ôn!

- Cái gì? - Xê-mi-ôn thấy I-u-ri đứng trước mặt mình, mắt nhìn có vẻ lo lắng.

- Khoan đã nào... Vừa rồi tớ nhìn thấy cái gì đấy?

- Anh nhìn thấy cái mà anh nhìn thấy.

Xê-mi-ôn nhảy lên buồng lái. Chiếc máy kéo rú lên, chuyển bánh. I-u-ri đứng ngơ ngác nhìn theo cỗ máy đang đi xa dần.

- Này, con ngựa đực San-ta-ra, đấy là cậu khoe về con bé này đấy à? - một anh thanh niên mặt rỗ, mũi tẹt hỏi I-u-ri, gật đầu chỉ về phía cảng, nơi Na-ta-sa vừa đi khuất.

- Con ngựa kia chắc còn cứng vó hơn nên mới thắng, - một giọng nói khàn khàn rít lên. - Đáng lẽ phải ra mặt trận đánh nhau với thằng Đức, chúng lại giỡn nhau với đàn bà ở đây.

- Đây chính là tớ, A-ga-phôn! - I-u-ri thốt lên ngạc nhiên, như thể tất cả những gì anh trông thấy, đến giờ anh mới hiểu ra...

Còn Na-ta-sa bây giờ như sống trong một giấc chiêm bao, trong một làn sương mù dày đặc, lung linh, ở nhà, ngoài đường, ở nhà máy, những khuôn mặt cứ thấp thoáng trước mắt cô như ẩn như hiện.

Một lần, giám đốc nhà máy, Cru-gi-lin và Khô-khơ-lốp cùng đến nhà ăn ăn trưa.

- A, chào cô, chào cô Na-ta-sa! - Khô-khơ-lốp vui mừng kêu to. - Thế nào, nghe nói hình như mọi việc đều tốt đẹp cả phải không?

- Ôi, mọi việc, mọi việc đều tốt cả ạ, - Na-ta-sa bối rối đáp.

- Tôi rất vui, rất vui, - anh đưa cả hai tay ra lắc tay cô.

Qua vai anh, Na-ta-sa trông thấy mái đầu bạc của Cru-gi-lin, khuôn mặt mệt mỏi của Xa-vê-li-ép. Cru-gi-lin đang trầm ngâm giở cuốn sổ tay, còn Xa-vê-li-ép ngồi nhìn Khô-khơ-lốp và Na-ta-sa, ánh mắt ông hiền hậu, mặc dù nét mặt ông có vẻ nghiêm khắc, cau có, dường như ông không bằng lòng với những điều trông thấy.

Khô-khơ-lốp hệt như một quả cầu tròn nặng nề lăn đến bên bàn, nói:

- Vâng, vâng... Rất ít, đôi khi chỉ cần rất ít để cứu sống một con người. Cả một con người!

- Với một điều kiện không thể thiếu được: nếu như con người đó cũng muốn được cứu sống, - Xa-vê-li-ép nói.

Cru-gi-lin ngẩng đầu, gấp quyển sổ tay lại. Ông như lắng nghe một điều gì đó, rồi nói:

- Để muốn được, trước hết con người phải hiểu rằng mình sẽ chết. Và vì sao chết, chết vì bệnh gì? Và điều này thường là khó nhất, hết sức khó. Đôi lúc đến không thể làm được.

Và dù cho Na-ta-sa có hồi hộp đến mấy, những lời trên vẫn cứ in sâu vào đầu óc cô - có lẽ vì rằng, trong khi nhận xúp và thịt ninh mang đến cho mọi người, cô vẫn lắng nghe xem những người này nói gì về cô., Nhưng họ không nói về cô nữa, mà về I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, cái người có vết sẹo trên má mà cô trông thấy ở phòng làm việc của Cru-gi-lin, về cựu chủ tịch ủy ban Pô-li-pốp vừa xin ra trận. Trong câu chuyện của họ, cô bỗng nghe nhắc tới tên «Phê-đô», «I-u-ri», «I-van», và cô càng cố lắng tai nghe hơn. «I-u-ri làm sao? I-van và Phê-đô nào? Anh em với giám đốc nhà máy ấy à?» Nhưng liền lúc đó, một toán người bước vào, và cả phòng ăn lập tức ồn ào, đầy tiếng người.

Một lần, Na-ta-sa gặp Ê-li-da-rốp trên đường.

- A-a, - hắn kêu to, đôi mắt đẹp nhìn cô hằn học. - Vì cô mà người ta giáng Ê-li-da-rốp làm lính trơn đấy, suýt nữa thì phải ra mặt trận. Nhưng, cuộc đời thường lúc rộng, lúc hẹp. Nhớ lấy.

Na-ta-sa đi ngang qua. Cô không hề sợ những lời của hắn, cũng không sợ chính hắn. Lần gặp hắn chỉ làm cho Na-ta-sa nhớ đến Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, đến Gvô-dơ-đi-ép, đến gã Du-bốp cao lớn, đến Ma-ca Cáp-ta-nốp. «Không biết bây giờ chúng ở đâu? Việc gì đã xảy ra với chúng?»

Chiều hôm đó, Na-ta-sa đem chuyện này ra hỏi Xê-mi-ôn. Họ cùng nhau đi từ nhà máy về, không hẹn trước, cùng rẽ vào góc sân nhà mình, đến bên vựa cỏ khô có mái che đứng cạnh gian nhà ngang để dụng cụ gia đình. Xê-mi-ôn im lặng ôm lấy Na-ta-sa, vội vã và khao khát tìm đôi môi cô.

Rồi Xê-mi-ôn dùng nạng dọn một khoảng trống cạnh bức tường gian nhà ngang, và họ ngồi xuống chiếc hố lạnh bốc mùi cỏ thơm thơm. Vì hương cỏ đồng khô ngây ngất, vì những chiếc hôn của Xê-mi-ôn, đầu Na-ta-sa nghe choáng váng, trong ngực tim đập gấp, mạnh.

- Chúng đang ở đâu à? Đang ngồi tù, - anh đáp. - Sắp tới người ta sẽ xử. - Anh im lặng một lúc, rồi bỗng nói khẽ: - Cái gã... Ma-ca Cáp-ta-nốp này... là cậu của anh đấy.

- Anh bảo sao? - Na-ta-sa cười hỏi.

- Hắn là em trai của mẹ anh

- Sao lại em trai? Em trai nào?

- Em trai bình thường... Như người khác.

- Tại sao lại thế? Hắn ta là kẻ cướp mà?

Xê-mi-ôn nghe rõ Na-ta-sa đang thở ngắt quãng.

- Thế đấy, - Xê-mi-ôn lạnh lùng nói. Và một giây sau, anh nói tiếp, vẫn bằng cái giọng khô khan, lạnh lùng như cũ. - Còn mẹ của anh là con gái cu-lắc. Trước đây ở vùng này có một cu-lắc nổi tiếng - Mi-khai-in Cáp-ta-nốp. Thế rồi... Và mẹ anh là con gái của lão ta, còn Ma-ca là con trai. Và anh, thế nghĩa là...

- Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn... - Na-ta-sa kêu to như nghẹt thở. - Anh nói gì vậy, Không phải như vậy đâu.

- Đúng như thế đấy.

Hai người im lặng một lúc lâu.

- Đấy là cuộc sống, - cuối cùng Xê-mi-ôn nói, - Chính đấy là nguồn gốc xuất thân của anh.

- Thế anh kể đi, Anh kể hết đi! - cô yêu cầu,

- Anh biết kể gì với em nữa? Anh không biết gì hơn ngoài những điều anh đã nói. Em hỏi mẹ ấy. Mẹ... mẹ yêu em lắm, có thể mẹ sẽ kể hết với em. Với anh thì không, nhưng với em, anh cảm thấy mẹ sẽ kể hết…

- Em sẽ hỏi. Em sẽ hỏi... - Na-ta-sa hoàn toàn bối rối, đứng dậy.

Mấy ngày sau Na-ta-sa cứ ngơ ngác, nét mặt nặng nề. Cô không gặp Xê-mi-ôn, và anh cũng cố ý tránh mặt cô. Trong lòng Na-ta-sa như đang diễn ra một sự giằng co nặng nề, căng thẳng.

- Trời ơi, quỷ bắt tôi đi đâu thế này! - đã mấy lần Ru-phi-na I-va-nốp-na kêu lên với cô. - Khi thì cả người rạng rỡ lên đến cách ba ki-lô-mét cũng biết, bây giờ thì mặt như bị giội nước sôi. Cháu có chuyện gì vậy? Giận nhau với Xê-mi-ôn à?

- Không, với anh ấy mọi việc đều tốt cả. Chỉ có điều cháu đang suy nghĩ

- Về chuyện gì?

- Nói chung, về cuộc đời, - cô đáp. Ngoài ra không thể cậy thêm của cô được một lời nào nữa.

Trong cái ngày xảy ra sự kiện bi thảm ở nhà máy, Na-ta-sa đi ra khỏi nhà lúc trời đã khuya. Gió nhẹ, ấm, không khí ẩm ướt, đêm rất tối và buồn. Những cành cây trụi lá khẽ lắc lư trong bóng tối, mỗi đợt gió thổi lại kêu lên răng rắc, rầu rĩ.

Phía trước trong màn đêm, thấp thoáng một bóng người.

- Đi chơi à? - cô nghe giọng của I-u-ri.

- Em không đi chơi, em muốn đón anh Xê-mi-ôn đi làm về, - cô đáp.

- Vâng, vâng, anh biết, - I-u-ri hấp tấp nói, giọng buồn buồn. - Thậm chí, nếu suy nghĩ kỹ, anh còn mừng, nếu như... - và anh lại nói bằng giọng vô tư như ngày thường: - Nhưng dù sao, Na-ta-sa ạ, đừng quên rằng trên đời này còn có một chàng trai tên là A-ga-phôn...

Và không chào, anh bỏ đi. Na-ta-sa chợt nhớ ra là trong mấy ngày gần đây anh thôi không đến ăn ở «phòng ăn dành cho các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật» nữa. Cô ngoái nhìn lại, I-u-ri rẽ về phía nhà I-nhi-u-chin, loay hoay một lát với chiếc cánh cổng vườn, rồi biến mất vào sân. «Thế cũng tốt», - không hiểu cô đang nghĩ về chuyện gì.

Na-ta-sa gặp Xê-mi-ôn ở ngay cạnh cổng ra vào nhà máy, dưới ngọn đèn điện chiếu rất sáng, im lặng, gục đầu vào bộ áo lao động nồng nặc mùi xăng và dầu mỡ của anh.

- Không cần nói gì hết. Ta đi thôi.

Cầm tay nhau, họ đi về nhà và cũng như lần trước, không hẹn nhau, họ cùng rẽ vào góc sân, chui vào hố cỏ thơm thơm.

- Anh cần phải thay áo đã, - Xê-mi-ôn nói khi cô giấu mặt vào ngực anh. - Không thì người anh bốc mùi...

- Còn em lại yêu cái mùi ấy. - Cô càng nép sát người anh hơn. - Đó là mùi của anh...

- Em nói chuyện với mẹ chưa? - sau một phút im lặng, Xê-mi-ôn hỏi.

- Em nói rồi. Nói nhiều lần lắm... Em thật khó tin rằng mẹ trước đây đã đi du kích, cưỡi ngựa, bắn súng. Và cha anh cũng là một du kích... ngang tàng đến thế. Cru-gi-lin, bí thư huyện ủy, - điều đó dễ hiểu thôi, nhưng còn cha anh... Anh đừng giận nhé...

- Thì sao... Chính anh cũng không thật tin lắm. Có thể vì rằng anh không yêu cha anh. Trong nhà, ông vừa là cha, vừa là người dưng xa lạ...

- Thế cái làng Mi-khai-lốp-ca ấy ở đâu? - Na-ta-sa hỏi.

- Không xa lắm. Ở ngay sau dãy Dve-nhi-gô-ra này.

- Thế còn người em... của cha anh, chú I-van đang ở đấy à?

- Hiện nay đang ở đấy.

- Giá được gặp chú ấy, xem người như thế nào?

- Thế nào à? Giống như bác An-tôn. Chỉ có hơi gù và gầy. Còn tóc và mắt giống hệt. Rồi có lúc em sẽ gặp.

- Mẹ nói nhiều, nhưng em hiểu được ít lắm, -Na-ta-sa nói. - Cáp-ta-nốp này, I-van này... Có phải chú I-van bắn chết lão Cáp-ta-nốp hồi nội chiến không?

- Anh không biết, Na-ta-sa ạ. Có nghe nói hình như thế.

- Và em có cảm tưởng rằng trước đây mẹ đã có lúc yêu chú I-van. Hoặc là chú I-van yêu mẹ.

- Anh không biết. Cha anh căm thù chú ấy vì một điều gì đó, còn mẹ... Mẹ luôn luôn nói tốt về chú I-van, thương chú ấy. Có thể, giữa hai người thời trẻ đã có một cái gì đó...

- Có lần mẹ nói về hạnh phúc: nó như một khu vườn buổi sáng, như tiếng chim hót trong khu vườn đó. Đứng nghe và thấy xung quanh tiếng chim hót rộn, nhưng bước đến nơi chim bay mất. Em cứ nghĩ là mẹ nói về em, về em với anh. Nhưng bây giờ em hiểu ra mẹ nói về mình.

- Đúng là mẹ không có hạnh phúc... Chưa có được...

Ngọn gió nhẹ vẫn từ một nơi nào đó thổi lại, trên đầu họ, tiếng cỏ khô khe khẽ xạc xào, còn nơi họ ngồi kín gió, và cả hai đều nghe phía sau bức tường mỏng bằng gỗ, tiếng con bò cái thở phì phì và tiếng lũ gà mái chen chúc nhau trong chuồng.

- Trời ơi, sao cuộc đời lắm lúc phức tạp đến vậy! - Na-ta-sa thốt lên. - Em trước đây không thể nghĩ rằng nó lại phức tạp, rối rắm đến thế. - Cô hấp tấp ngồi dịch sát vào bên cạnh Xê-mi-ôn, ôm chặt lấy người anh. - Em đã trải qua bao nhiêu, đã thấy bao nhiêu... Em đã nghĩ rằng, em đã thấy hết, biết hết, và bây giờ không còn gì có thể làm cho em ngạc nhiên. Thế mà hóa ra em không biết gì cả, không hiểu gì cả! - Cô bỗng lắc mạnh vai anh. - Nói cho em nghe đi! Nói cho em hiểu đi!

- Anh sẽ nói cho em hiểu… - Xê-mi-ôn cầm lấy tay cô. - Anh sẽ nói cho em nghe, nếu như anh có thể. Em tưởng rằng anh hiểu được những gì đã và đang có hay sao? Nhưng chúng ta sống là để hiểu cái thế giới mà trong đó chúng ta đang sống này.

Một âm thanh trầm trầm, đầy lo âu, không hiểu phát sinh ra từ đâu, bỗng vang lên trên bầu trời thị trấn San-ta-ra. Nó mỗi lúc một trở nên đáng sợ, lan khắp bầu trời tối đen, ẩm ướt, rồi bỗng tắt lịm đi ở một nơi nào đó rất cao. Nhưng liền đó, nó lạI-vang lên, dập dồn như từng đợt sóng nặng nề cuốn đi tất cả. Âm thanh thứ nhất còn chưa chấm dứt, âm thanh thứ hai đã lạI-vang lên - kêu đến chói tai, mỗi lúc một to hơn, vô tận, không dứt...

- Cái gì thế? Cái gì thế? – Na-ta-sa kêu to.

- Ở nhà máy... Có chuyện gì xảy ra rồi!

Xê-mi-ôn đứng vụt dậy.

- Anh Xê-mi-ôn! Xê-mi-ôn!

Nhưng anh không ngoảnh lại, không đứng lại. Cô bò ra khỏi hố cỏ, chạy theo anh.

- Xê-mi-ôn...

Na-ta-sa chạy ra đường. Xê-mi-ôn đã mất hút đằng xa. Anh quay lại, kêu lên một câu gì đó và biến vào bóng tối. I-u-ri chạy vụt ngang qua người cô.

- Xin lỗi, anh sẽ lại ngay... Anh chỉ đến xem... - I-u-ri nói to với một người nào đó, và Na-ta-sa trông thấy Vê-ra I-nhi-u-chi-na.

Vê-ra bước vội đến bên cạnh Na-ta-sa, cặp lông mày rướn lên lo lắng.

- Cái gì thế? Cái gì thế? -cô kêu lên rất to,

Tiếng còi nhà máy báo động rúc liên hồi vẫn vang mãi trên trời San-ta-ra, làm cho mọi trái tim như thắt lại.

- Tai nạn, cô không hiểu à? Tai nạn!

Và Na-ta-sa chạy vội về hướng Xê-mi-ôn và I-u-ri vừa biến mất. Mọi người từ các ngôi nhà đổ xô ra cũng chạy về hướng đó.

* * *

Từ xa Na-ta-sa đã thấy trên khu vực nhà máy ánh điện hắt lên trời thành một vầng sáng. Bình thường vầng sáng này chiếu yên lành, êm ả, nhưng hôm nay nó bỗng đỏ thẫm, vàng rực lên một cách dữ dội, ở phía bắc vầng sáng, những cuộn khói nặng nề bốc lên cao. «Cháy! Cháy ở nhà máy! - Cô choáng váng nghĩ. - Nhưng cháy gì?»

Cháy kho số 8 hoặc một cái gì ở ngay bên cạnh kho. Na-ta-sa hiểu ra điều đó khi cô chạy đến cổng, thấy những cột khói đỏ thẫm phụt lên đúng về hướng nhà kho này. Trong ngực cô nghe nhói lên lạnh toát: bây giờ sẽ nổ tung, sẽ thổi bay đi tất cả. Còn anh Xê-mi-ôn, anh Xê-mi-ôn đâu?!

Một đám đông la hét ồn ào đang xô đẩy nhau ở cửa ra vào.

- Lùi ra! Lùi ra! Giải tán! Tránh đường mau! - một người nào đó hét to, át cả tiếng ồn ào, giọng đã khản lại.

Na-ta-sa, người ướt đẫm mồ hôi, tóc tai sổ tung, cố xô đẩy mọi người chen đến bên cánh cổng phụ bằng gỗ dày, rất chắc chắn, cửa đóng kín. Cô xô cả người vào cánh cửa. Vừa lúc đó cô thấy ngay bên cạnh cánh cổng chính mở toang ra, mấy người trong đội tự vệ xuất hiện, súng trường cầm ngang trong tay như thể sắp sửa bắn vào đám đông đang xô đến. Một người trong bọn họ vung tay, hét lớn:

- Tránh đường ra! Tránh đường ra! Các anh có phải là người nữa không đấy? Xe chữa cháy đến ngay bây giờ. Tránh ra để lấy đường!

Đám người hơi lùi lại. Giám đốc nhà máy Xa-vê-li-ép từ ngoài chen vào, mặt hốc hác, đẫm mồ hôi, chiếc áo ca-pốt nhà binh không cài cúc. Ông quay lại phía mọi người, giật chiếc mũ lông trên đầu xuống lau khuôn mặt đẫm mồ hôi.

- Các đồng chí! Các đồng chí! - ông hét rất to, tay cầm chiếc mũ vung trên đầu. - Không được nhốn nháo! Ở trong kia đã đủ người rồi... Tôi đề nghị tất cả đi xa ra!

- Bác An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích! Bác An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích! - Na-ta-sa chen vội đến túm lấy tay ông. Tay ông run run, ông nhìn lướt qua mặt cô, nhưng có lẽ không nhận ra, rút tay về, để lại chiếc mũ lông trong tay Na-ta-sa. Và, không nhận thấy điều đó, ông chạy vội vào cổng, sau khi ra lệnh cho bảo vệ:

- Không được cho ai vào cả. Đuổi mọi người lùi ra xa.

- Lùi lại hết! Lùi lại hết! Đè chết cả các người bây giờ

Mặc bảo vệ quát tháo, đám đông vẫn cứ xô vào, tiếng ồn ào mỗi lúc một lớn hơn, cố xông vào cổng. Một số người chạy dọc theo bờ rào cao bằng gỗ, tìm cách trèo qua. Nhưng bờ rào rất cao, chỉ một số rất ít người leo qua được.

Có tiếng còi xe cứu hỏa, đám đông vội giạt ra. Không hề giảm tốc độ, ba-bốn chiếc xe sơn màu đỏ chạy vụt qua, và cùng với xe, không kể nguy hiểm có thể bị bánh xe chẹt chết, mọi người cũng ùa vào theo. Đám đông cuốn theo Na-ta-sa, như dòng nước cuốn một chiếc lá, vào trong cổng.

Trên toàn bộ khu vực nhà máy, tình trạng hỗn loạn đến không thể tưởng được. Tất cả các xưởng ca đêm đều bỏ việc. Những đám người nhốn nháo đứng khắp nơi, giữa những ngôi nhà đang xây dở và các đống vật liệu xây dựng. Người chạy đi, chạy lại, quát tháo la hét - nhưng la hét cái gì, không thể nào có thể hiểu được. Tiếng còi báo động vẫn rúc lên chói tai, rền rĩ không ngớt. «Còi làm gì nữa? Còi làm gì nữa? Đủ rồi...» - Na-ta-sa nghĩ, vấp vào một vật gì mềm mềm, ngã văng ra tuyết.

- Không cần thang đâu, không cần! Câu liêm đâu? Chỉ cần câu liêm thôi! - cô nghe tiếng kêu và cảm thấy có tiếng người thở nặng nhọc ở ngay bên cạnh.

Cạnh cô, một người đàn ông đã đứng tuổi, đang giẫm chân quát tháo, khó khăn lắm cô mới nhận ra đó là Xáp-tsúc. Những ánh lửa từ xa phản chiếu đến nhảy múa trên gò má ướt đẫm của ông, trông như con mắt phải của ông đang nhấp nháy liên hồi.

- Gì mà quanh quẩn dưới chân, như... Người ta giẫm nát rồi không kêu ai được bây giờ! -ông quát to. - Đi ra khỏi đây ngay!

- Cái gì thế bác? Gì cháy thế?

- Xưởng mộc. Bên cạnh đó là kho số tám. Tàn bay sang đó.

- Tàn nào? Tại sao lại cháy?

- May là không có gió lớn. Chỉ cần giữ được kho số tám, không thì... - Xáp-tsúc lẩm bẩm như nói với chính mình, rồi ông bỗng nhảy chồm lên, quát to. - Câu liêm! Tôi bảo chỉ cần câu liêm!

Tiếng còi cuối cùng cũng đã dứt. Một người mang câu liêm chạy ngang qua Na-ta-sa. Cô vẫn ngồi trên tuyết, tiếng gõ trong đầu đã dịu bớt: «Thế mà mình nghĩ nhà kho... cái kho khủng khiếp này... Mặc dù nó ở bên cạnh, sát ngay bên cạnh cái xưởng mộc này. Nhưng nếu như nó bén lửa...» Cô lại nghe lạnh toát người.

Cô không biết mình phải làm gì, cố xông vào khu vực nhà máy để làm gì. Cô có thể làm gì, giúp đỡ gì ở đây được? Cô không còn nghĩ về Xê-mi-ôn nữa, cô quên cả anh. Na-ta-sa chợt nhận thấy chiếc mũ lông đàn ông trong tay mình và mãi không thể nào hiểu được nó từ đâu ra.

Tất cả những gì xảy ra sau đó, Na-ta-sa, không thể nào nhớ lại hết các chi tiết. Cô chỉ nhớ một đám người bất lực nhốn nháo đứng thành một vòng tròn lớn xung quanh xưởng mộc đang bốc cháy như một bó đuốc nhựa khổng lồ, Thực ra xưởng mộc - một ngôi nhà gỗ lớn - đã cháy hết. Khi Na-ta-sa chạy đến gần đám cháy, trên đầu đám người dựng lên một cột lửa lớn - mái nhà vừa đổ sập xuống. Chen xuyên qua bức tường người, Na-ta-sa thấy những bức tường gỗ, những chồng thùng đạn cao ngất đang cháy ngùn ngụt. Đặc biệt các thùng rỗng cháy rất khỏe, tỏa ra hơi nóng hừng hực. Mấy người trong đội chữa cháy đội mũ sắt sáng loáng dùng vòi phun nước lên tường và các chồng thùng gỗ, nhưng hình như họ chỉ làm cho lửa cháy to thêm, và cô còn nhớ, giám đốc nhà máy và Xê-mi-ôn, áo quần ướt sũng bốc khói ngùn ngụt chạy từ chính giữa đám cháy ra, kéo lê theo tấm thân dài ngoẵng, không còn sức sống của kỹ sư trưởng trong bộ quần áo bị cháy sém.

- Đúng là điên! - giám đốc nhà máy kêu lên khi mọi người đặt Nhê-tsa-ép xuống đất. - Chỉ cần một giây nữa là mái nhà sụp lên người! - tóc ông rối bù, ướt đẫm, những giọt nước bẩn lăn theo mặt rơi xuống đất.

- Kho số tám, ngừng phun nước kho số tám ngay - Nhê-tsa-ép thở dốc, rít lên nặng nhọc. Ông cố sức đứng dậy, nhưng khẽ bật lên một tiếng rên, rồi ngã sấp xuống đất.

- Nhê-tsa-ép! Nhê-tsa-ép! - Xa-vê-li-ép lắc mạnh vai ông. - Nếu không phun nước, kho sẽ bén lửa cháy ngay...

Xưởng mộc và kho số tám đứng sát kề nhau, hai bức tường ngang gần như nối vào nhau. Mấy người trong đội chữa cháy liên tục dùng vòi phun nước lên mái kho bằng gỗ mỏng đã uốn cong lại vì nóng và lên bức tường đen ghép bằng gỗ súc, những tia nước phun đến tận những góc xa nhất của kho. Và Na-ta-sa cũng hiểu rằng: nếu không phun nước, nhà kho nhất định sẽ bén lửa cháy, mà trước hết là mái và góc tường phía trong.

- Thế thì... hãy cắt ngay đường cáp thứ ba! - kỹ sư trưởng kêu lên yếu ớt, bằng một cố gắng quá sức ông bắt mình phải nhỏm dậy. - Phải cắt ngay...

Na-ta-sa nhìn thấy cả mặt Nhê-tsa-ép bị bỏng cháy rộp lên, da trên má bong ra từng mảng.

- Đường cáp nào? Để làm gì? - Giám đốc nhà máy quỳ xuống trước mặt Nhê-tsa-ép. - Nhê-tsa-ép, nói xem nào!

Xê-mi-ôn đứng bên cạnh họ, hai tay ôm lấy má, mặt nhăn lại như đang bị đau răng.

- Tôi đã xác định là cháy đường dây dẫn điện. Tường bị đóng băng, trở nên ẩm... - Nhê-tsa-ép nặng nhọc thở, nói từng tiếng thều thào. - Vì ẩm mà bị chập mạch. Đường dây dẫn ở nhà kho số tám cũng rất kém, làm vội cả. Nước qua mái sẽ nhỏ lên dây dẫn, và lúc đó... Còn nếu như dây dẫn chập cháy... Cần phải cắt ngay đường cáp thứ ba! Thứ ba! Đấy, ở trạm biến thế kia kìa. Tôi ngay bây giờ, ngay bây giờ...

Nhê-tsa-ep quỳ lên, cố ưỡn thẳng người ra. Nhưng khẽ kêu lên một tiếng, ông lại ngã úp mặt xuống tuyết.

Ngay lúc đó, có tiếng vang lên trong đám đông:

- Kho số tám cha-áy!

Đám người, nơi Na-ta-sa đứng, bất giác rùng mình và giạt sang một bên. Na-ta-sa còn lại một mình đứng đối diện với Xa-vê-li-ép, Xê-mi-ôn và Nhê-tsa-ép, không hiểu sao lại mỉm cười một cách ngớ ngẩn, chiếc mũ lông chìa cho giám đốc nhà máy. Nhưng ông không nhìn thấy cả mũ lẫn cả chính Na-ta-sa, ông đứng trân trân nhìn về phía nhà kho số tám. Na-ta-sa cũng quay đầu nhìn theo và thấy vẫn những người chữa cháy ấy đang phun nước lên mái, lên tường nhà kho. cả tường lẫn mái đều bốc khói, nhưng Na-ta-sa hiểu rằng đây không phải khói cháy, mà là hơi nước. «Cháy ở đâu? Nó có cháy ở đâu...» - cô nghĩ và nghe có tiếng kêu:

- Cháy bên trong!

Đến bây giờ cô mới nhận thấy những luồng khói đen ngòm đang phụt qua khe cửa bằng sắt tấm đóng kín của nhà kho như hơi nước phụt qua khe hở của chiếc vung đậy trên nồi nước sôi sùng sục. Ở cạnh cửa, trong ánh lửa nhảy múa, thấp thoáng hiện ra bóng gù gù của Xáp-tsúc và bóng một người nào đó rất quen thuộc.

- Tránh ra! Nổ tung cả bây giờ! - giọng một người nào đó lại kêu lên thất thanh.

Na-ta-sa muốn chạy đi, nhưng đôi chân như bị chôn xuống đất, không tuân theo ý cô, vì rằng cô đã nhận ra Xê-mi-ôn qua bóng người thứ hai ở cửa kho. Không hiểu nổi làm sao anh có thể đến đó nhanh như vậy. Anh vung chiếc xà-beng nặng nện mạnh vào cửa, hình như để phá khóa. Và anh phá được, hai tấm cánh cửa nặng dường như tự động mở ra, một đám mây đen đặc cuồn cuộn từ trong kho bốc ra. cả hai người - đầu tiên là Xáp-tsúc, rồi sau đến Xê-mi-ôn - nhảy lùi lại. Nhưng chỉ một giây sau, cũng lần lượt như vậy, đầu tiên là Xáp-tsúc, rồi sau đến Xê-mi-ôn, họ lại chạy bổ vào nhà kho đặc khói đen, rồi vừa ôm ngực ho sặc sụa, họ chạy ra, ngã lăn xuống tuyết. Nhưng Xê-mi-ôn lập tức nhỏm dậy, chộp lấy thanh xà beng nằm trên mặt đất, chạy vội đi một phía nào đó.

Tất cả những việc trên chỉ xảy ra trong vòng mấy giây. Tiếng thét «Kho số tám cháy!» làm cho Nhê-tsa-ép tỉnh lại. Ông chống tay lên mặt đất, bắt đầu nhỏm dậy.

- Đây chính là điều tôi sợ, - ông thều thào nói, và thấy bí thư đảng ủy nhà máy và Xê-mi-ôn chạy vào kho, rồi lại vừa ho vừa chạy ra, ông đứng thẳng người lên trên đầu gối, kêu to: - Họ làm cái gì thế? Chết ngạt mất! Chỉ cần ngắt đường cáp... An-tôn! Phải quyết định từng giây...

Nhưng giám đốc nhà máy hoàn toàn không tỏ ra phản ứng gì trước những lời nói đó. Ông vẫn đứng bất động, vẫn nhìn trân trân về kho số tám. «Sao bác ấy cứ đứng thế? - Na-ta-sa thoáng nghĩ. Cần phải làm một cái gì chứ...»

- A, cậu ta chạy đến trạm biến thế... Cậu cháu họ của anh khá lắm, đã đoán ra. Nếu kịp... Nhưng ông bỗng đột ngột dừng lại, rồi hét to. - Nhưng cậu ta không có bảo hộ điện! Và không biết cầu dao nào! Mà ở đó đến sáu nghìn vôn! Sáu nghìn! - Và ông lại ngã sấp xuống tuyết.

Chỉ những lời cuối cùng này mới làm cho giám đốc nhà máy tỉnh lại.

- Cái đường cáp ấy ở đâu?! - ông lay người Nhê-tsa-ép. – Cầu dao nào?

- Ở đằng kia... - Nhê-tsa-ép cố thốt lên, và như ngất đi, mà cũng có thể là chết hẳn. -Nhanh lên! Từng giây một... Tất cả sẽ nổ tung hết...

Rồi ông im bặt.

...Và Na-ta-sa còn nhớ mình chạy đi đâu đó theo sau giám đốc nhà máy, trong đầu như có tiếng gõ liên tục: «Nếu kịp... Tất cả sẽ nổ tung... Sáu nghìn vôn! Không có bảo hộ điện!» Đó là những lời của Nhê-tsa-ép giờ đang nằm bất động bên đồng thùng gỗ cháy rừng rực. Những lời này hình như không đe dọa ai hết, cả cô, cả những người đang chạy theo cô, và vượt cô, cả giám đốc nhà máy, cả Xáp-tsúc - trong tích tắc cuối cùng Na-ta-sa còn kịp nhận thấy ông lại xông vào kho, vào đám khói được những ngọn lửa lay động ở phía sau chiếu sáng như trong góc đen ngòm của nhà kho có người nào đó đang hàn điện. Những lời đó như một điều không thể tránh khỏi và rất khủng khiếp, chỉ đe dọa một mình Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn của cô! Nhưng cụ thể như thế nào, cô không hiểu, không nghĩ cho đến ngọn ngành được, vì không có thời giờ. Nhưng cô cảm thấy, bằng toàn bộ con người mình, rằng hiện nay cô đang có Xê-mi-ôn, nhưng chỉ sau một giây nữa, anh sẽ không còn, sẽ không còn!

- Xê-mi-ôn! - Cô kêu thét lên lanh lảnh, điên dại, vượt qua những người đang lún chân trong tuyết xốp, chạy đến bên trạm biến thế có bóng điện sáng đang lắc lư trước gió ở trên cao. Trong ánh đèn ngả nghiêng, đầu tiên cô thấy chiếc đầu lâu dữ tợn vẽ bằng sơn trắng trên cánh cửa sắt và sau đó là Xê-mi-ôn vừa quay phắt lại phía cô - Xê-mi-ôn!

- Hét cái gì thế? Im đi! - anh quát to, đôi mắt dữ tợn và xa lạ, hoàn toàn xa lạ, long lên. Rồi quay lại, anh dùng xà beng đánh vào cửa sắt. Má phải của anh cháy đen và bỏng rộp lên.

Chiếc đầu lâu người bằng sơn trắng, cái nhìn nảy lửa của Xê-mi-ôn, và cuối cùng là những lời của anh – tất cả những cái đó như những ngọn roi không thương tiếc liên tiếp quất xuống người cô. Na-ta-sa ba lần rùng mình, lảo đảo lùi lại và bắt đầu ngã xuống. Một người nào đó túm lấy cô, hất sang bên cạnh, đứng chắn giữa cô và Xê-mi-ôn. «Còn mặt... mặt anh ấy bị bỏng rộp lên hết rồi!» - cô thoáng nghĩ.

- Đi ra! Đi ra!

Đó là tiếng của giám đốc nhà máy quát ngay ở đâu đây bên cạnh. Rồi lại những tiếng xà beng nện vào cửa sắt. Tiếp đó là tiếng bản lề thép rít lên và tiếng kêu của Xê-mi-ôn, hốt hoảng và cầu khẩn:

- Bác An-tôn! Bác ơi!

Na-ta-sa mất trí đâm bổ về phía tiếng kêu. Từ trong cánh cửa mở rộng của trạm biến thế, một luồng tia lửa chói mắt hình rẻ quạt bắn ra. Trong một tích tắc, luồng tia lửa chói chang soi rõ những cầu dao của trạm biến thế hệt như hàm răng của một con quái vật đang nhe ra. Và một sự im lặng âm vang đột ngột bao trùm lấy Na-ta-sa....

- Bác An-tô-ôn! – tiếng kêu vẫn cứ đau đớn xoáy mãi, xoáy mãi vào óc Na-ta-sa, và cô không thể nào hiểu được mình lại nghe Xê-mi-ôn kêu lên liền lần nữa, hay đó chỉ là tiếng vang của tiếng kêu cũ vẫn đọng lại trong đầu cô.

«Nếu lần nữa, tức là anh ấy còn sống?» - cô nghĩ về Xê-mi-ôn như nghĩ về một người nào hoàn toàn xa lạ, thậm chí có đôi chút ngạc nhiên và nhận thấy mình đang ngồi trên tuyết.

Ngọn đèn điện trên trạm biến thế bây giờ không còn cháy nữa, và nói chung xung quanh bỗng tối đen. Đến cạnh cô, mọi người đứng bất động. Có tiếng phụ nữ khóc nấc lên, giọng một người đàn ông khuyên bảo:

- Không sao, có lẽ còn không sao. Thôi im đi!

Mọi người đứng xung quanh bỗng cử động, chạy bổ đến bên cửa trạm biến thế.

- Đứng lui ra! Để tôi mang ra, - Na-ta-sa nghe rõ ràng tiếng của Xê-mi-ôn.

«Không phải... Anh ấy hy sinh rồi mà...» - cô nghĩ và đứng lên.

Rồi cô trông thấy chính Xê-mi-ôn trong luồng ánh sáng mờ mờ của chiếc đèn pin. Anh mang một người nào đó từ trong trạm biến thế ra và đặt xuống đất. Thế nghĩa là Xê-mi-ôn còn nguyên vẹn, còn sống, nhưng cô không thể nào hiểu được điều đó. Và cô cũng không nghĩ ra được người nào đang nằm trên mặt tuyết trong luồng ánh sáng của chiếc đèn pin, mặc áo ca-pốt, đầu không mũ, mặt bỏng rộp, hai cánh tay cháy đến tận vai.

- Cha ơi... Cha-a-a!

I-u-ri mặc áo khoác cháy sém xô mọi người chạy đến và lập tức đứng sững lại như bị chôn chặt xuống đất. Từ trong bóng tối, bí thư huyện ủy Cru-gi-lin thở hổn hển chạy đến, áo bành-tô không cài cúc, phía sau thấp thoáng bộ mặt kinh hoàng của Khô-khơ-lốp.

- Kho số tám an toàn! - Khô-khơ-lốp hấp tấp nói. - Còn cái gì ở đây thế này?... An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích?! An-tôn...

Cru-gi-lin và Khô-khơ-lốp cùng một lúc cúi xuống người An-tôn Xa-vê-li-ép, nhưng liền đó họ bắt đầu đứng thẳng người lên. Họ đã đứng thẳng người lên, còn I-u-ri, ngược lại, bỗng ngồi sụp xuống như bị ai chặt phạt ngang chân, ngã úp mặt bên cạnh xác cha.

- Mẹ ơi... mẹ... Mẹ sẽ không chịu nổi, - anh kêu thốt lên và lưng anh run lên từng đợt.

Từ người An-tôn Xa-vê-li-ép bốc lên một mùi khen khét, ngòn ngọt. Na-ta-sa nhớ lại khi chôn những người bị chết sau trận đoàn tàu tản cư bị ném bom, những tử thi bị cháy sém cũng bốc mùi như thế. Và, nhớ lại điều đó, cô bỗng hiểu ra một cách rõ ràng điều gì vừa xảy ra. Có lẽ cô sắp ngất đi, nhưng từ một nơi nào đó rất sâu kín trong đáy lòng, một niềm vui bỗng trào lên, một niềm vui làm nhẹ nhõm, tỉnh táo cả người: «Không phải Xê-mi-ôn, không phải Xê-mi-ôn! Anh ấy còn sống, còn sống!..»

Na-ta-sa hiểu rằng niềm vui đó là bất kính, là xúc phạm đối với tất cả mọi người đứng ở đây, và đối với cả chính cô, Nhưng niềm vui vẫn cứ trào lên, và cô không thể làm thế nào với nó được.

- Sao lại thế? Cái gì thế này? - cô ngơ ngác thốt lên, bước đến bên Xê-mi-ôn, ôm chầm lấy vai anh - Anh còn sống, còn sống!

Cô nói và òa ra khóc nức nở. Cô có cảm giác rằng bây giờ tất cả mọi người đều thấy và đều hiểu niềm vui của cô, mọi người đều đang nguyền rủa cô và sẽ nguyền rủa cô mãi mãi.

Nhưng mọi người không ai thấy và hiểu gì cả. Họ chỉ nghe có người nào đó khóc, nhưng không hiểu là ai.

Mọi người đứng quanh xác giám đốc nhà máy, im lặng...

Đêm hôm đó, đêm hôm sau và suốt cả ngày hôm sau nữa, Na-ta-sa không ngủ, và có lẽ không ai trong gia đình Phê-đô Xa-vê-li-ép ngủ được, ngoài ông chủ. Ông ta, đi làm về, như thường lệ, nằm quay mặt vào tường, và sáng hôm sau dậy, mặt sưng đỏ, râu ria rối bù. Không ăn sáng, không nói một lời nào với ai, ông đi đến trạm máy kéo. An-na hầu như không có mặt ở nhà, suốt cả ngày đến chăm sóc vợ An-tôn - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na. Ngay trong giây đầu tiên khi biết tin chồng hy sinh, bà ngất đi. Lo lắng cho tính mạng của bà, các bác sĩ suốt ngày đêm túc trực bên giường bệnh.

Na-ta-sa không đi làm việc. Sáng hôm sau ngày xảy ra tai nạn, phụ trách nhà ăn Ru-phi-na I-va-nốp-na đuổi thẳng cô khi cô vừa xuất hiện ở nhà bếp: «Về đi, về đi! Cô làm gì được bây giờ? Trông chẳng ra người nữa...» Cả Xê-mi-ôn, cả Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na cũng không đến nhà máy. Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na im lặng lo bữa trưa, bữa sáng và bữa tối cho cả hai gia đình, cho mấy đứa trẻ trở nên lầm lì, sợ sệt ăn uống và giục chúng đi học. Xê-mi-ôn, má dán băng trắng toát, hai ngày đêm gần như nằm suốt trên giường, đôi mắt mở to nhìn trân trân lên trần nhà và suy nghĩ về một điều gì đó. Mất hết cả cảm giác thời gian, Na-ta-sa đi lang thang khắp các phòng, từ góc này sang góc nọ. Trong nhà thỉnh thoảng xuất hiện những người lạ mặt, họ nói chuyện gì đó với Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, rồi lại đi. Một lần I-u-ri đến. Anh bước vào, đứng ở cửa một lát, người hốc hác, gầy đen, rồi ngồi xuống giường.

- Tôi không thể ở nhà được... Không chịu nổi! - anh nói, gục đầu xuống thành giường, giấu mặt khóc.

- Cháu nằm xuống nghỉ đi, nằm xuống đi, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na bảo anh.

- I-u-ri, anh nằm xuống nghỉ đi, - Na-ta-sa cũng bảo anh.

Anh ngẩng bộ mặt ướt đẫm, lắc đầu. Vê-ra I-nhi-u-chi-na chạy vội vào, bắt đầu nói gì đó rất nhanh, cầm tay dìu anh đi như một đứa trẻ.

Hình như cũng vào ngày hôm sau, Na-ta-sa thấy một người hơi gù, tay dài, mặc áo lông cừu, tay cầm roi, vẻ người có một cái gì đó giống giám đốc nhà máy vừa hy sinh, đứng ở giữa bếp.

- Cô là ai? - chào xong, anh cau có hỏi.

- Chào chú, chú I-van, - Xê-mi-ôn bước vào bếp, nói. - Đây là Na-ta-sa.

- A, chú có nghe nói, - I-van vẫn không vồn vã nói và ngồi xuống.

- Và cháu... và cháu cũng biết về chú, nghe kể... - Na-ta-sa nói.

I-van Xa-vê-li-ép nhếch cặp môi đã lâu không cạo cười nhạt không vui. Na-ta-sa cảm thấy I-van Xa-vê-li-ép không thích những lời của cô, hiểu chúng không phải như cô muốn nói, vội vã tiếp:

- Nghe kể về cuộc đời của chú. - Và cô hoàn toàn luống cuống.

Rồi tất cả im lặng. I-van ngồi trên chiếc ghế đẩu, gập người xuống, cúi thấp đầu với mái tóc bạch kim đã bắt đầu trở nên thưa thớt.

- Mọi việc sao lại như vậy? - anh hỏi khẽ.

- Làm sao bây giờ có thể giải thích được? - Xê-mi-ôn đáp. – Cần phải ngắt một đường cáp thứ ba nào đó ở trong trạm biến thế. Mà bác An-tôn hình như không biết đường nào. Bác cầm xà beng đè một lúc tất cả cầu dao ở trên bảng phân phối xuống. Và bị chập...

- Chẳng lẽ không có cách nào khác sao? Để ngắt những cầu dao ấy mà?

Xê-mi-ôn sờ tay lên má dán băng, nhăn mặt.

- Cháu đã bảo, làm sao bây giờ có thể giải thích được tất cả? Chỉ phải làm thật nhanh, rất nhanh. Trong kho thuốc nổ, dây dẫn có thể chập mạch. Chỉ cần một giây - và tất cả sẽ nổ tung lên trời. Còn trạm biến thế, điện thế rất cao, không được vào đó, nếu không có bảo hộ điện. Mà cả người bác lại ướt sũng nước... Và bác ấy... bác ấy... có lẽ bác ấy nghĩ rằng trước sau gì rồi cũng phải thế...

- Còn anh? Còn anh? - Na-ta-sa bỗng kêu to. - Anh không ướt à? Anh biết đường cáp nào, cầu dao nào à?

- Cô ấy sao thế?

- Cô ấy cần phải nghỉ ngơi. - Xê-mi-ôn bước đến bên Na-ta-sa, cầm lấy bàn tay nóng như lửa của cô. - Em đã hai đêm không ngủ rồi...

Anh kéo cô ra khỏi bếp, dẫn đến bên giường, đặt cô nằm xuống. Na-ta-sa ngoan ngoãn để Xê-mi-ôn giúp cởi áo ngoài, ngoan ngoãn nằm xuống giường.

- Chính anh cũng muốn... dùng xà beng đè cầu dao xuống! - Na-ta-sa túm lấy tay Xê-mi-ôn khi anh định bước đi - Và nếu như bác giám đốc nhà máy không xô anh ra, không giành lấy xà beng...

- Không, anh không muốn...

- Không phải thế! Chính anh là người đầu tiên chạy đến trạm biến thế! Và anh cũng ướt... Và anh cũng không biết phải ngắt đường cáp đó như thế nào...

Đôi mắt cô cháy rực lên như đang cơn sốt và yêu cầu phải trả lời.

- Anh nói thật đấy, Na-ta-sa ạ, anh không muốn... - Xê-mi-ôn dùng chân kéo chiếc ghế lại gần giường và ngồi xuống.

- Không, anh không biết, không biết phải ngắt đường dây cáp đó như thế nào, - cô bướng bỉnh nhắc lại. - Và em rất lâu mãi vẫn không hiểu được, tại sao... bác ấy cháy, chứ không phải anh. Đến bây giờ, em vẫn còn tưởng... chưa hoàn toàn tin được...

Na-ta-sa không thể nói thêm được nữa, nước mắt làm cho cô nghẹn lời lại. Cả cô, cả Xê-mi-ôn đều không trông thấy I-van đang đứng ở cửa phòng và im lặng nhìn họ.

Na-ta-sa khóc khoảng nửa phút, mà cũng có thể ít hơn. Nấc lên mấy lần, cô cố hít vào thật sâu, rồi nín lặng. Một giấc ngủ rất sâu cuối cùng cũng đã kéo đến với cô, ngay lập tức.

- Thôi, chú đi đây, không cha cháu lại bắt gặp chú ở đây, - I-van nói. - Ngày mai chú sẽ cùng với thím A-ga-ta đến đám tang.

Xê-mi-ôn đi theo tiễn I-van.

Khi đã ngồi vào xe ngựa, I-van ngước cặp lông mày màu sáng, hơi nhíu lại nhìn cháu.

- Thế quả thật, cháu có biết phải ngắt đường cáp như thế nào không?

- Không ạ

- Thế nếu như bác An-tôn không chạy đến, không xô cháu ra thì sao?

- Cháu không biết, chú I-van ạ, - Xê-mi-ôn ngập ngừng một lát, đáp. - Có thể chú không tin, nhưng là như thế đấy...

- Thế cháu chạy đến trạm biến thế để làm gì? Để làm gì?

Xê-mi-ôn nhún vai:

- Mọi việc nhớ lại như trong một giấc mơ thoáng qua. Không hiểu là có hay là không nữa...

I-van chậm chạp cầm lấy dây cương.

- Thế cháu định làm gì với cô bé Na-ta-sa này? Định cưới cô ta à?

Trong lòng Xê-mi-ôn như có cái gì trỗi dậy chống lại những lời của I-van.

- Cháu chưa hề nghĩ đến chuyện cưới xin nào cả! Và giờ cũng không nghĩ. Cháu với cô ta quen nhau còn quá ít. Hơn nữa... Na-ta-sa là một cô bé tốt, lại mồ côi, không gì cũng đã phải chịu bao nhiêu đau khổ rồi.

- Tại sao? - I-van lại ngước mắt lên nhìn cháu.

- Cháu trước sau gì rồi cũng ra mặt trận. Còn ở ngoài đó... nếu như... Làm tan nát cuộc đời của cô ta để làm gì?

- A-a... Phần cháu chắc cháu rõ hơn, - I-van khô khan nói. - Đàn bà họ cũng nhiều loại, có người cuộc đời tan nát vì rằng sẽ phải góa bụa, có người lại vì chuyện khác... vì thất vọng rằng người ta không tin vào tình yêu của mình, vì rằng người ta không hiểu trái tim đàn bà cao thượng, hào hiệp, mở rộng ra để đón niềm tin đó.

- Thế, chú I-van, chú khuyên cháu cưới cô ấy đấy à? Nhưng chú đã biết gì về cô ấy đâu?

- Chú không khuyên, Xê-mi-ôn ạ, Chú nói như vậy cũng không biết để làm gì. - I-van im lặng một lúc rồi tiếp. - Còn cô ta yêu cháu đấy, Xê-mi-ôn ạ, chú thấy, yêu đến kỳ lạ đấy...

- Đừng thế, chú I-van, Chúng ta đang nói chuyện gì đây? Vào thời gian như thế này!

- Ừ, quả là không phải lúc, - I-van đồng ý. Nhưng, thời gian là cái gì? Trong giây phút này có người nào đó chết đi, nhưng cũng có người nào đó sinh ra. Bao giờ cũng vậy. Chính vì thế mà cuộc sống không bao giờ kết thúc.

I-van đi khỏi, để lại trong lòng Xê-mi-ôn một cảm giác ngượng nghịu, có lỗi vì câu chuyện vừa rồi, như anh nghĩ, nó kỳ quặc, vụng về và không phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Và nếu như lúc đó có ai nói với anh rằng ngày mai, trong ngày làm lễ an táng An-tôn Xa-vê-li-ép, sẽ xảy ra một việc còn không phù hợp, đúng lúc hơn - anh, Xê-mi-ôn, sẽ đi khỏi nhà và trở thành chồng của Na-ta-sa Mi-rô-nô-va - chắc anh sẽ cho người đó là không bình thường.

Nhưng cuộc đời lại được xếp đặt đúng như vậy...

* * *

An-tôn Xa-vê-li-ép được mai táng ở Công viên các liệt sĩ cách mạng vào ngày chủ nhật, mồng hai tháng Ba. Quảng trường nhỏ bao quanh công viên đầy người, đám đông nhấp nhô, tiếng người nói chuyện nén lại, khe khẽ.

Ngày hôm đó rất đẹp, mặt trời vui vẻ chiếu rọi trên thị trấn San-ta-ra, trên các cành cây trong công viên, lũ sơn ca hót lảnh lót đón chào ngày tháng Ba ấm áp, tuyết lấp lánh, và không hiểu là mọi người tập trung lại ở đây để làm gì, và với mục đích nào người ta đào một cái hố sâu cạnh đài kỷ niệm cao bằng gỗ, đổ những xẻng đất đen đóng băng lên mặt tuyết mịn trắng, tinh khiết.

Xê-mi-ôn và Na-ta-sa đứng ở bờ rào công viên và nhìn những hòn đất đen đó.

Từ xa, phía câu lạc bộ, nơi đặt quan tài người đã hy sinh, vẳng lại tiếng nhạc tang. Đám người ở công viên liền đứng yên, im lặng.

Quan tài do Cru-gi-lin, Xáp-tsúc và mấy người nào nữa khiêng. «Không thấy Nhê-tsa-ép, ông ta có sống được không?» - Na-ta-sa thoáng nghĩ. Kỹ sư trưởng đang nằm ở bệnh viện, đến giờ vẫn chưa tỉnh lại vì những vết bỏng nặng.

Na-ta-sa vẫn đứng cạnh hàng rào công viên cho đến tận cuối buổi tang lễ. Quan tài được đặt lên một chiếc ghế dài cạnh huyệt, mọi người đứng thành một hình vòng cung xung quanh, Na-ta-sa thấy thấp thoáng I-u-ri, chú I-van, người đã đến nhà hôm qua, và - điều này làm cô rất ngạc nhiên - cha của Xê-mi-ôn. Tiếp đó là chính Xê-mi-ôn. Anh đi đến bên huyệt từ bao giờ, Na-ta-sa cũng không biết nữa.

Cru-gi-lin, đầu để trần, bắt đầu nói. Lúc đầu Na-ta-sa không nghe thấy lời của ông, chỉ có từng đoạn bay đến tai cô, khắc sâu, sâu đến nhức nhối, vào vỏ não:

- Đồng chí An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích Xa-vê-li-ép rất yêu cuộc sống, yêu con người... Nhà tù, khổ sai, đày ải chỉ củng cố, bồi đắp thêm tình yêu đó, bởi vì anh biết anh sống để làm gì, vì mục đích gì... Nếu như cho anh thêm một cuộc đời nữa, anh vẫn sẽ sống như vậy... Và anh cũng sẽ tự nguyện đón cái chết để cứu mọi người... - vì mọi người và vì cuộc sống...

Mặt trời mùa đông chiếu sáng rực rỡ. Những đỉnh núi dãy Dve-nhi-gô-ra cũng lấp lánh rực rỡ dưới ánh mặt trời. Trong các cành cây công viên, không để ý đến mọi người, những con chim sơn tước vẫn véo von hót. Tiếng chim, ánh mặt trời và tuyết rực rỡ làm cho Na-ta-sa chóng mặt, Để khỏi ngã, cô bám chặt tay vào những tấm ván lạnh của hàng rào. «Còn mình, mình có yêu cuộc sống không? - cô bất giác tự hỏi mình. - Tất nhiên, tất nhiên... Bất chấp tất cả! Sau khi ba bị bắt, mẹ bị bom chết và tất cả, tất cả những gì ập xuống đầu mình... Không, cả lúc đó mình vẫn yêu cuộc sống. Chỉ có thất vọng, chỉ có không hiểu tại sao cái cuộc đời này lại tàn nhẫn với mình như vậy... Không hiểu đến nỗi, thất vọng đến nỗi, mình đã...»

Những ý nghĩ của Na-ta-sa đến đây bị ngắt quãng và tiếp đó chỉ là một sự trống rỗng.

- Thay mặt tỉnh ủy, đồng chí Xu-bô-tin I-van Mi-khai-lô-vích có mấy lời, - giọng của Cru-gi-lin vẳng đến tai cô.

Xu-bô-tin, một người đàn ông đã già, bị thời gian làm cho gân guốc, đầu bạc trắng, bắt đầu nói giọng khe khẽ và buồn. Na-ta-sa cố lắng nghe, hy vọng rằng sự trống rỗng trong lòng cô sẽ biến mất. Nhưng không, nó vẫn không mất đi.

- ...Cuộc sống được xếp đặt hết sức phức tạp, khó khăn, và đôi lúc còn rất tàn nhẫn... Anh, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích ạ, đã được phú cho cái khả năng giữa những phức tạp và khó khăn đó, thấy và hiểu được cái nguồn gốc chân lý của cuộc đời cùng với vầng hào quang vĩnh cửu của công bằng, hạnh phúc và niềm vui...

Vâng, cuộc sống quả là khó khăn và tàn nhẫn, điều này cô cũng đã biết, - Na-ta-sa nghĩ. Nhưng ở đâu là nguồn gốc chân lý của cuộc đời cùng với vầng hào quang vĩnh cửu của công bằng, hạnh phúc và niềm vui? Những lời rất đẹp, và cô tin chúng. Cô tin, nhưng cô không thấy những nguồn gốc chân lý đó ở đâu. Và không phải một lần cô đặt ra cho mình câu hỏi không có trả lời này: nếu thế thì con người sống để làm gì?

Còn Xu-bô-tin dường như đoán được những ý nghĩ của cô, hỏi:

- Thế những nguồn gốc ấy ở đâu? Thật đáng tiếc là có quá nhiều người, rất nhiều người, không thấy được chúng. Những nguồn gốc ấy ở đâu?

Na-ta-sa rùng mình và bám chặt hơn vào hàng rào bằng gỗ.

- Chúng ở ngay trong bản thân con người! Những nguồn gốc chân lý ấy ở ngay trong mỗi một con người. Nhưng rất nhiều người không hiểu được điều này, hoặc rất lâu, rất lâu không hiểu được. Chắc có lẽ vì bộ óc của con người còn chưa hoàn thiện. Từ đó mà sinh ra bao nhiêu là bi kịch, bất hạnh, bao nhiêu là đau khổ...

Những lời của Xu-bô-tin rơi vào khoảng trống trước mặt Na-ta-sa, làm cho nó đầy lên như một vật thể có thể sờ nắn và trông thấy được.

- ...Và khi mọi người nói rằng anh, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích, biết sống vì cái gì, thì điều này hết sức đơn giản: anh sống để giúp người khác sống, để giúp mọi người tìm thấy trong mình những nguồn gốc chân lý của cuộc đời...

Na-ta-sa lảo đảo, đứng thêm một chốc cạnh hàng rào, rồi bước đi, đầu cúi thấp.

Mọi người nghĩ rằng cô đang khóc và im lặng tránh đường cho cô đi.

Na-ta-sa không còn nhớ mình đã đi về đến nhà như thế nào. Cha của Xê-mi-ôn cũng đã từ đám tang về từ trước. Ông ngồi trong bếp, phía sau chiếc bàn trống và cau có nhìn Na-ta-sa vừa bước vào. Cô vội đi nhanh về phòng mình. Bà Phê-nhi-a hỏi cô một câu gì đó, nhưng cô không trả lời, cởi áo bành-tô rồi nằm vật xuống giường.

Quả thật, điều này đơn giản biết mấy - sống để giúp mọi người sống! Thật là đơn giản... Và cũng thật khó hiểu! Mà cô cần phải hiểu! Bởi vì nhiều người, rất nhiều người - mỗi người một cách - đã giúp cô sống, cả giám đốc nhà máy An-tôn Xa-vê-li-ép đã hy sinh, cả An-na, cả Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na... Tại sao để hiểu được điều này, phải cần một tai nạn, một bi kịch như vậy? Thật khó hiểu và cũng thật đơn giản... Vì sao cô lại ngu ngốc đến nỗi lúc đó, khi nghe Xu-bô-tin nói, cô nghĩ rằng cô tin vào những lời đẹp đẽ của ông, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy những nguồn gốc chân lý, công bằng của cuộc đời, chưa thấy niềm vui cuộc sống. Thế còn số phận của bản thân cô? Thế còn Xê-mi-ôn, còn tình yêu của cô đối với anh? Làm sao cô lại có thể quên được điều đó? Chẳng lẽ đó không phải là nguồn gốc? Và nói chung, nói chung... Mặc dù cô đi tìm những nguồn gốc đó không phải ở trong chính bản thân mình. Và Xu-bô-tin đã chỉ cho cô thấy là cần phải tìm ở chính trong bản thân mỉnh... Nhưng dù sao... nguồn gốc chân lý của cuộc đời là cái gì? Những nguồn gốc nào nằm ở trong chính bản thân con người? Điều này cô hãy còn chưa hiểu hết được đến tận cùng. Những ý nghĩ của cô mỗi lúc một rời rạc, rối rắm hơn, nhảy từ việc này sang việc khác, Và cuối cùng chúng làm cô nghẹt thở, như những cơn sóng nặng xô đến nhấn chìm con người trong biển cả...

Cô bỗng nhiên muốn đi ra ngoài trời, muốn hít thở làn không khí mát lạnh, muốn ngay lập tức trông thấy Xê-mi-ôn. Tại sao cô lại bỏ anh một mình ở ngoài ấy, bên mộ? Na-ta-sa vội khoác áo bành-tô, chạy ra bếp. Vấp phải ánh mắt nặng nề, cau có của chủ nhà, cô dừng lại.

- Sao ông bao giờ cũng nhìn tôi như thế?! -cô giận dữ hét lên. Có lẽ đây là lần đầu tiên cô nói với ông.

Nhưng ông không trả lời - mà cũng có thể là chưa kịp, vì rằng vừa lúc đó cửa mở và Xê-mi-ôn bước vào. Hôm nay anh đã tháo băng, má anh cháy đen, đắp một miếng thuốc cao.

- Có chuyện gì ở đây thế? - anh hỏi và chăm chú nhìn hai người.

- Luẩn quẩn, luẩn quẩn, - bộ ria của Phê-đô run run. - Không ăn uống đúng bữa, không được nghỉ ngơi gì cả. Mẹ mày ở đâu?

- Thì cha cũng biết đấy, bác Ê-li-da-vê-ta ốm gần chết... Con vừa mới ở đấy về. -Xê-mi-ôn bắt đầu cởi áo.

- Luẩn quẩn, đúng là luẩn quẩn, - Phê-đô rời bàn đứng dậy, sàn nhà kêu lên ken két dưới chân ông.

- Ông nói cái gì thế? Ông nói cái gì thế?

- Xem kìa, - Phê-đô cười nhạt, nhướn cặp lông mày lên. - Gì mà cứ chiêm chiếp lên thế, cái đồ dẽ mào kia? - và ông lại ngồi xuống bàn.

Cái từ «dẽ mào» này thậm chí không làm cho Na-ta-sa tự ái - cái điều khủng khiếp hơn là ở chỗ khác.

- Nhưng anh ruột của ông vừa mới hy sinh... vừa mới chết!

- Thế thì đã sao nào?

Nghe những lời này, Na-ta-sa lùi lại, bất lực đứng nhìn Xê-mi-ôn.

Xê-mi-ôn cầm chiếc áo khoác trong tay, ngập ngừng như suy nghĩ nên treo nó lên móc hay lại mặc vào. Anh treo lên và chậm chạp bước đến bên cha. Phê-đô tò mò nhìn con trai. Và Xê-mi-ôn càng đến gần, cặp mắt ông càng nheo lại.

- Cha phải xin lỗi Na-ta-sa ngay bây giờ, - Xê-mi-ôn nói. Giọng của anh bình tĩnh, khe khẽ, nhưng hai bàn tay bỗng run lên.

- Có phải quỳ xuống không đấy?

- Không à? -Xê-mi-ôn nắm chặt bàn tay lại.

- Thế nào? Định đánh cha mày đấy à?

- Khô-ông, - Xê-mi-ôn lắc đầu. -Không... - Anh bước ra cửa, giật chiếc áo treo trên móc xuống, hấp tấp mặc vào, túm lấy tay Na-ta-sa, kéo cô ra khỏi cửa, bước ra ngoài.

Mặt trời vẫn cháy rực rỡ trên bầu trời trong vắt, dù đã xuống thấp sau thị trấn San-ta-ra. Những bóng đen trải dài trên tuyết trắng. Cạnh nhà, Gan-na đang đứng nghe Đi-ma kể một chuyện gì đó, thỉnh thoảng cô lại phá ra cười khanh khách. Thấy Xê-mi-ôn và Na-ta-sa, cô bé im bặt, lẩn ra đầu nhà, kéo theo cả Đi-ma.

Đi gần như chạy ra đến đường, Xê-mi-ôn dừng lại. Hình như anh cảm thấy thiếu không khí, cố căng ngực ra thở thật mạnh, thật sâu. Thường ngày dịu dàng, bình tĩnh, hôm nay trông anh khác hẳn - khuôn mặt như bạnh ra, đầy góc cạnh, lưỡng quyền nhô cao. Đôi mắt bao giờ cũng tỏa ra một luồng ánh sáng ấm áp trầm tư, giờ cháy lên hằn học, dữ dội.

- Thôi được... Mẹ sẽ hiểu, sẽ hiểu hết, -anh lẩm bẩm nói. -Thôi ta đi.

- Đi đâu?

- Không biết. Đi thôi. - Và anh rảo bước.

Sau mười lăm phút hai người dừng lại cạnh một ngôi nhà xiêu vẹo tuyết lấp đến tận mái, có một cái gì đó quen quen với Na-ta-sa. Xê-mi-ôn gõ vào cánh cửa ván.

- Ai đó? Đợi tí, đợi tí, - có tiếng bà già đáp vọng ra. Na-ta-sa nhận ngay ra giọng nói và hiểu họ đã đi đến đâu. Chỉ có điều không biết để làm gì.

Sau một phút nữa, Na-ta-sa đã đứng giữa căn phòng khá rộng rãi, và bà già A-cu-li-na sống độc thân rối rít quanh người cô, lần những ngón tay xương xẩu giúp cô cởi cúc áo ngoài, miệng nói không ngớt:

- Lạy Chúa! Già cứ nghĩ: Chúa đưa ai đến cho con thế này? Già mừng lắm! Già tự hỏi, không biết tại sao cô bé này lại không đến nhà già hôm đó? Già nghe nói cháu ở nhà Xa-vê-li-ép... Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va nói thế... Ma-ri-a, Chúa tha tội cho con, lại rơi vào cái đám ấy! Nó bảo, nó không muốn, nhưng phải đi với chúng. Nó cứ khóc suốt... Người ta sắp sửa xử mấy thằng kia và nghe nói sẽ bắt Ma-ri-a đi làm chứng. Nó còn bảo sẽ xử cả nó nữa. Hàng hóa thằng Ma-ca nhà anh ăn trộm về đem giấu ở chỗ nó, - bà già quay về phía Xê-mi-ôn, - Ma-ri-a bảo không ai biết về chuyện đó, nhưng tự nó sẽ nói ra. Già bảo nó - đừng có nói...

- Họ của Ma-ca là Cáp-ta-nốp, bà ạ, -Xê-mi-ôn nói. - Còn nhà cháu họ Xa-vê-li-ép.

- Vâng, vâng, - bà già gật đầu lia lịa. - Biết rồi... Lạy Chúa bắt hết chúng đi! Còn nó, nó cứ khăng khăng: cháu sẽ nói, cháu sẽ nói... Ôi, những người khách của già quý hóa quá. Già vẫn cứ ốm suốt, Na-ta-sa ạ, đến không thể ra nổi ngoài đường nữa. Các cháu uống chè nhé, để già bắc ấm xa-mô-va...

- Chúng cháu không đến làm khách đâu, bà ạ. Chúng cháu đến xin ở trọ, bà có nhận không? -Xê-mi-ôn hỏi.

- Sao lại thế? -bà già ngạc nhiên. - A-a, cưới nhau rồi à?

- Không... Chỉ là vì cháu đã bỏ nhà đi...

- Sao? -bây giờ đến lượt Na-ta-sa thốt lên kinh ngạc...

-Thế... Anh không thể sống ở đấy nữa. Và anh cũng không thể để em ở đây. -Anh đặt tay lên đôi vai gầy của cô, nhìn thẳng vào mắt Na-ta-sa, nói.

- Anh Xê-mi-ôn, khoan đã, sao lại thế? Mọi người sẽ nghĩ như thế nào? Em không hiểu gì cả...

- Có thể là cả anh cũng không hiểu. Nhưng cần phải thế. Anh sẽ về nói với mẹ ngay bây giờ, lấy một ít đồ đạc mang đến. Thế nào, bà nhận chúng cháu chứ? Chúng cháu sẽ trả tiền trọ.

- Tiền trọ nào? Già này sẽ được vui hơn, đó là tiền trọ rồi đấy. -Bà nhấp nháy cặp mắt nhăn nheo, hơi đo đỏ. - Chỉ có già không hiểu - các cháu là gì với nhau?

- Điều đó đến sáng mai chúng cháu sẽ giải quyết, -Xê-mi-ôn nói.

* * *

Không phải chỉ một mình Na-ta-sa sau cái chết của An-tôn Xa-vê-li-ép bị những câu hỏi nhức nhối về ý nghĩa của cuộc đời và sự tồn tại của con người giày vò.

Đã mấy tuần qua đi, kể từ ngày làm lễ mai táng. Trong suốt thời gian đó không có bão tuyết, nhưng thường xuyên có những trận tuyết rơi dày đặc, lặng lẽ. Khoảng đất xung quanh Công viên các liệt sĩ cách mạng và trong chính công viên, bị nén chặt bởi hàng nghìn bàn chân trong ngày tang lễ, nay đã lại phủ đầy tuyết xốp.

Tuyết đọng lại thành những chiếc mũ trên các cọc gỗ hàng rào bao quanh công viên, treo nặng từng chùm lớn trên cành bạch dương, cây phong, cây phượng. Trong những ngày nắng đẹp, không mây, tuyết ánh lên chói mắt, cây cối như được bao phủ trong một lớp bụi mặt trời, trên các cành cây, lũ chim sơn tước hót lại càng vui vẻ hơn.

Trong công viên im lặng, vắng vẻ và sạch sẽ. Chiếc tháp nhỏ bằng sắt trên mộ của An-tôn Xa-vê-li-ép đứng cạnh đài kỷ niệm to lớn bằng gỗ với ngôi sao ở trên đỉnh, một con đường nhỏ dẫn tới mộ bao giờ cũng có những vết chân mới, chạy giữa những đống tuyết xốp.

Phê-đô biết rằng đó là vì Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na, vợ của anh trai mình, buổi chiều nào cũng đến thăm mộ. Đã mấy lần khi đi làm về, ông trông thấy bóng dáng cô đơn của bà bên mộ. Mặc chiếc áo bành-tô lông thỏ cũ, hai bên sườn đã sờn hết lông, bà đứng bất động, hai tay giấu trong găng, đôi môi nghiêm khắc mím chặt, mặt nhìn lên gò đất nhỏ phủ tuyết và ngôi sao đóng băng lấp lánh trên đỉnh bia kỷ niệm nhỏ đặt trên mộ.

Đến giữa tháng Ba, ban ngày trời ấm, buổi sáng những đám sương mù xanh hồng - dấu hiệu của các trận mưa xuân đầu tiên - đã bắt đầu trôi trên dòng sông Grô-mô-tu-kha. Nhưng đến chiều trời lại trở giá và đêm đến rét như cắt chẳng khác gì giữa tháng Một, tháng Chạp. Trong làn không khí buổi chiều lạnh lẽo, tiếng loa phóng thanh vang lên khắp thị trấn San-ta-ra. Thường thường, trên các mái nhà tuyết phủ, dọc theo các đường làng ngõ ngách San-ta-ra, vang lên mãi một bài hát quen thuộc:

Vì thành Mát-xcơ-va cổ kính thiêng liêng,

Vì thủ đô ta nghìn năm yêu dấu

Ta sẵn sàng đổ máu

Quyết chiến đấu hy sinh!

Đưa ngực ra, ta dựng bức thành đồng,

Sức mạnh lòng dân vô địch

Diệt quân phát-xít hung tàn!

Tiếng nhạc hào hùng trang nghiêm, lời bài hát nặng như những hòn đá lát đường. Phê-đô có cảm tưởng như chúng lăn ầm ầm trên thị trấn San-ta-ra, và thật kỳ lạ là không một mái nhà nào bị sập, bị gãy dưới sức nặng của chúng.

Nhưng nói chung tất cả những cái đó đối với Phê-đô đều vô nghĩa. Đã từ bao giờ - không biết có phải từ cái ngày ông bị An-phi-xa thẳng thắn mời ra khỏi nhà, hay muộn hơn một ít, từ cái ngày Xê-mi-ôn bỏ nhà đi cùng cái con bé mồ côi Na-ta-sa Mi-rô-nô-va, hoặc cũng có thể sớm hơn nhiều, sau cái buổi tối duy nhất ông đến uống rượu ở nhà ông anh cả An-tôn - đã từ bao giờ Phê-đô như sống trong một sự trống trải. Ông ăn, ngủ, đi làm việc, nói chuyện với người khác, nhưng tất cả những việc đó dường như không phải là ông, mà là một người nào khác làm, và chúng có vẻ như không liên quan gì đến ông cả. Không có gì làm cho ông xúc động, hồi hộp. Những người đàn ông cùng tuổi với Phê-đô đã ra trận từ lâu; chỉ có một số thợ máy, trong đó có Phê-đô, được tạm miễn. Ông không sợ bị gọi ra trận, nhưng cũng không mừng khi được ở lại. Thậm chí cả cái chết của người anh cả cũng không gợi lên trong Phê-đô một cảm xúc nào. Trong buổi lễ an táng, ông bước đến bên mộ, dửng dưng nhìn khuôn mặt bị dòng điện đốt cháy đen của An-tôn. Những bông tuyết mịn rơi lên khuôn mặt nguội lạnh đó và không tan đi.

«Đồng chí An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích Xa-vê-li-ép rất yêu cuộc sống, yêu con người, - Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin buồn rầu nói bên linh cữu, khó nhọc thốt ra từng từ. - Anh biết anh sống để làm gì, vì mục đích gì...»

Phê-đô có cảm giác như ông đã nghe những lời này từ bao giờ, ở một nơi nào đó. Nơi nào - ông không thể nhớ lại được, có thể là vì tiếng kèn đồng của đội nhạc bỗng nổi lên rầu rĩ, và sau đó là tiếng đất đóng băng cứng như đá đổ rào rào lên quan tài.

Ông đã nhớ lại được buổi sáng hôm sau khi trông thấy An-na. Ông nhìn vợ vừa bước vào nhà - người bà cũng sạm đen như vừa bị dòng điện chạy qua và trong tai ông tự nhiên vang lên những lời của bà: «I-van nói rất đúng về anh, anh không yêu ai cả - cả tôi, cả các con, cả cuộc đời, cả chính quyền này - không yêu ai cả... Như thế, anh sống để làm gì? Để làm gì?»

Rồi từ đó những lời của Cru-gi-lin và An-na thường xuyên thay nhau ngân vang trong đầu ông, không ngớt.

«Anh biết anh sống để làm gì?..» - «Như thế, anh sống để làm gì?..»

Chẳng lẽ họ, Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin và An-na, đã thỏa thuận, nói trước với nhau?! Hai giọng nói - một đàn ông, một đàn bà - liên tục thay nhau gõ vào đầu ông như búa bổ, đòi hỏi một điều gì đó. Nhưng điều gì, phải trả lời như thế nào?

Không có câu trả lời. Chỉ có sự trống trải. Chỉ có sự dửng dưng đối với tất cả xung quanh. Những sự việc xảy ra như từ một nơi xa xôi, từ một thế giới nào khác vọng tới với ông: bài hát ông đã nghe không biết bao nhiêu lần này, tin tức về sự thất bại của quân đội Đức ở ngoại ô Mát-xcơ-va, đám cháy ở nhà máy cùng cái chết của người anh cả, việc Xê-mi-ôn bỏ nhà đi, lời tuyên bố xin gia nhập nông trang của An-na, câu chuyện của một người nào đó về việc chủ tịch ủy ban huyện xin ra trận và thay vào chỗ ông bây giờ là I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp, một người sơ tán đến đây cùng nhà máy, tin đồn rằng thợ máy kéo và máy gặt đập chỉ được hoãn nghĩa vụ đến hết mùa gieo hạt sau, vì hiện nay trong các lớp thợ máy của trạm máy kéo có đến gần trăm rưởi nữ thanh niên đang theo học...

Tất cả những sự việc trên rối tung lên, việc gì xảy ra bao giờ - ông không còn nhớ nữa.

Một lần, An-na báo tin rằng Xê-mi-ôn và Na-ta-sa đã đi đăng ký kết hôn, Phê-đô phản ứng bằng một tuyên bố khá kỳ quặc:

- Mặc. Dù sao người ta cũng gọi ra trận. - Và ông hỏi với một sự khinh bỉ. - Không hiểu tại sao I-van của cô người ta lại chưa gọi? Cùng tuổi với hắn đã bị gọi lâu rồi.

Trong mắt An-na bừng lên những tia lửa lạnh. Bà cố kìm mình lại, nói:

- Khi nào cần thì người ta sẽ gọi.

- Tôi nghe nói hắn đang nằm ở bệnh viện, vì sao thế?

- Chở cỏ và bị cảm. Viêm một lúc cả hai bên phổi.

- Khéo lắm! - Phê-đô cười nhạt.

Một tuần sau câu chuyện đó, I-van ra viện.

Phê-đô, sau bữa ăn trưa đi đến nơi làm việc, giữa đường gặp người em út. I-van gầy gò, xanh xao, như thể vừa ở trong quan tài chui ra.

- Chiến tranh còn chưa kết thúc đâu, - Phê-đô mỉa mai nói. - Cho nên mày phải lo tìm cách mà vào lại bệnh viện đi.

I-van mỉm cười, nheo nheo đôi mắt lại vì nắng, đáp:

- Ra thế đấy... Chưa bị một con chó nào sủa, lại gặp ngay anh.

Và mỗi người đi mỗi ngả.

* * *

Mặt trời đã tắt, những dải bóng màu xanh thẫm của khu nhà và xưởng sửa chữa trong trạm máy kéo trải dài trên mặt tuyết đã bị giẫm nát, nhưng chưa kịp đen lại.

Trong hội trường đang diễn ra cuộc họp của các thợ máy về vấn đề «đẩy mạnh tiến độ sửa chữa và chuẩn bị toàn bộ máy móc thiết bị cho vụ gieo hạt» - như đã viết trong thông báo đập vào mắt Phê-đô sáng nay.

Đến dự cuộc họp có Cru-gi-lin, nhưng giờ ông chưa nói về công việc của trạm máy kéo, mà đang kể về tình hình ngoài mặt trận. Ông nói rằng quân Đức đã bị đuổi xa khỏi Mát-xcơ-va tám mươi - một trăm ki-lô-mét, có chỗ đến hai trăm hoặc hơn, và vẫn đang tiếp tục bị đuổi, rằng vào đầu tháng Ba, Chính phủ đã ra chỉ thị về công tác chuẩn bị gieo hạt vụ xuân năm 1942 cho các trạm máy kéo các tỉnh Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Ca-li-nin, Tu-la, Ô-ri-ôn và Cuốc-xcơ, rằng có thể đến đầu mùa gieo, tất cả các tỉnh này sẽ được giải phóng hoàn toàn. Tuy nhiên, Cru-gi-lin nói, tình hình vẫn rất nặng nề, Lê-nin-grát đang bị bao vây bốn phía, quân Đức đang cố tiến về sông Vôn-ga và vùng Cáp-ca-dơ…

Phê-đô ngồi bên cửa sổ, nhìn ra những dải bóng dài màu xanh trên mặt tuyết. Những lời của Cru-gi-lin như từ xa vọng tới, khó khăn lắm mới lọt vào tai ông, dường như chúng bị bông nút chặt. Thế nhưng trong đầu ông vẫn vang lên rất rõ ràng, như tiếng búa gõ không dứt: «Anh biết anh sống để làm gì...» - «Như thế, anh sống để làm gì?»

«Mà quả thật, để làm gì? - Phê-đô bỗng nghĩ. -Và sống như thế nào?!»

Ông cau mặt, nghiến chặt răng đến đau nhức trong chân lợi, căng trí nhớ đến nghe có tiếng vang trong đầu, dường như muốn bằng một sự cố gắng tột cùng của ý chí để nhớ lại toàn bộ cuộc đời mình, đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất, để nhìn lại nó như từ một điểm cao, như từ một nơi nào đó bên cạnh. Nhưng ông không thể nhớ được gì cả, ngoài cái đêm cách đây không lâu, khi ông đến An-phi-xa lần cuối cùng, khi trở về gặp I-van đang ở trong nhà của mình. Và ở đây ông cũng không nhớ về An-phi-xa và I-van, mà về câu chuyện của mình với vợ sau khi người em trai đi khỏi. Ông nhớ hầu như đến từng lời, đến từng thay đổi nhỏ nhất trong giọng nói của vợ.

«- Thế cô định bỏ tôi đi đấy à? Tôi thấy cô cả gan lắm, dám mời I-van ở lại ngủ đêm.

- Tôi sẽ đi khỏi đây. Không còn sức chịu đựng nữa.

- Thôi đi. Cô sẽ không đi đâu hết. Và chấm dứt tại đây.

- Tôi sẽ đi! Sẽ đi! Sẽ đi! Anh đã hút cạn hết máu của tôi, hết cả sức lực của tôi... I-van nói đúng, rất đúng về anh: anh không hề yêu ai cả, không yêu vợ, không yêu con, không yêu cả chính quyền, cả cái cuộc sống này, không yêu ai cả. Và có lẽ chính bản thân mình anh cũng không yêu. Như thế, anh sống để làm gì? Để làm gì?

- Hay đấy! Thế rồi sao nữa? Hay hết cả rồi?

- Và anh muốn lấy tôi cũng chỉ vì lòng ham muốn cái tài sản giàu có của cha tôi... để... để rồi cũng sống trụy lạc trong trại như cha tôi...

- Hay thật đấy, kha-kha!.. Tôi lấy cô năm mười chín, khi ở trong đội du kích. Lúc đó gia tài của cha cô chỉ còn lại mỗi khói đen...

- Đấy chẳng qua là trùng vào năm mười chín... Còn tôi nói là anh muốn trước kia. Anh yêu An-phi-xa, lúc đó đã sống với An-phi-xa, nhưng lại muốn cưới tôi làm vợ... Còn việc toàn bộ gia tài của cha tôi chỉ còn lại khói đen - chính việc này suốt đời đã gặm mòn anh như sâu đục thân cây.

- Im đi! Việc gì không biết thì đừng...

- Tôi biết! Và anh cũng tiếc cha tôi đã bị I-van bắn chết. Và anh căm thù em ruột của mình là vì vậy... Vì rằng I-van đã tỉnh ngộ, lúc đó đã hiểu đâu là chân lý và đến với đội du kích. Vì cái đó mà anh suốt đời trả thù I-van, vì rằng anh không thể trả thù ai khác được nữa, hoặc vì sợ những người khác... Thế đấy! Không một ai biết anh là người như vậy, nhưng tôi biết. Bây giờ... bây giờ cả anh ấy, cả I-van, cũng đã nhìn vào tận ruột anh... Bây giờ anh ấy đã trở thành kẻ tử thù của anh.

- Câm ngay! Ma-ày!»

Cạnh chiếc bàn phủ vải đỏ, Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin vừa đi lại, vừa nói gì đó, đầu lắc mạnh như húc vào không khí: «Thế đấy, thế đấy, cô ta nói đúng... Không phải tất cả mọi điều cô ta nói đều đúng, nhưng trong đó có phần nào sự thật. Về An-phi-xa chẳng hạn... Trong đầu Phê-đô, những ý nghĩ rối rắm, quay cuồng đứt quãng. - Cô ta nói như thế nào nhỉ?

«Anh yêu An-phi-xa, lúc đó đã sống với An-phi-xa, nhưng lại muốn cưới tôi làm vợ...»

Tất cả đều đúng. Một tháng rưỡi hoặc hai tháng gì đó sau khi nhận của I-nhi-u-chin bốn tờ bạc một chục - lúc đó việc gặt lúa mạch đen của nhà Cáp-ta-nốp dưới chân núi Dve-nhi-gô-ra sắp kết thúc, - Phê-đô làm xong cái việc mà anh đã nhận tiền trước. Suốt mùa gặt, An-phi-xa cũng gặt và bó lúa cùng với những người đàn bà lớn tuổi khác, còn Phê-đô chở bánh mì, nước cho thợ gặt, theo dõi xem gặt có bỏ sót không, lúa bó có chặt không, có ai lười biếng lúc làm việc không, tóm lại, được cho đi chỉ huy bọn đàn bà.

- Thế nào? - trong thời gian đó đã mấy lần lão Đê-mi-an I-nhi-u-chin một chân xoi mói nhìn anh bằng đôi mắt ươn ướt, có vẻ hiền lành. - Tao phí công đặt cho mày cái chức vụ lười biếng thế đấy hả?

-Tôi làm thế nào được? - Phê-đô ngoảnh mặt tránh cái nhìn thẳng vào mắt của I-nhi-u-chin. - Mẹ nó luôn luôn ở bên cạnh, không chịu rời mắt khỏi con gái.

Ngoảnh mặt đi, nhưng Phê-đô vẫn nhận thấy đôi mắt của Đê-mi-an I-nhi-u-chin đang khô dần, mỗi lúc một trở nên hẹp hơn nhọn hơn. Khi Đê-mi-an chuyển mẹ An-phi-xa sang làm việc khác, tách ra xa con gái, thì Phê-đô lại viện cớ khác:

- Con bé nhát lắm. Tôi đã nói rồi, không thể dùng sức để... Ông hãy đợi ít lâu đã...

Nhưng nguyên nhân không phải là vì mẹ của An-phi-xa, cũng không phải vì cô nhát. Ngược lại, cô không hề sợ Phê-đô. Tuy thực ra, trong lần đầu tiên gặp nhau khi anh từ rừng tai-ga mới trở về làng, An-phi-xa bối rối, mặt đỏ bừng như bốc lửa, nhưng cô không bỏ chạy, mà đứng sững lại, như thể muốn cháy rụi ngay tại chỗ.

- Thế nào, anh lạ lùng lắm hay sao? - Phê-đô hỏi.

- Quả có thế. Hệt như một con ngoáo ộp ria xồm, - An-phi-xa lanh lảnh nói. Và bất ngờ, cô thè đầu lưỡi hồng hồng ra, rồi bỏ chạy.

Phê-đô cạo hết bộ ria. Lần sau gặp lại anh, An-phi-xa chớp chớp đôi hàng mi dày, mặt đỏ lựng. Cô quay ngoắt người vội vã bỏ đi. Mấy ngày sau nữa, khi trông thấy Phê-đô đến chỗ gặt lúa, cô hơi đỏ mặt và thì thầm, để người khác không nghe thấy:

- Hóa ra anh để ria trông đẹp hơn đấy... - Và, thổi phù phù vào lòng bàn tay, cô chạy vụt đi, chân nhảy cẫng như trẻ con.

Sau đó, An-phi-xa hoàn toàn không ngượng ngùng gì với Phê-đô nữa, thường hay tìm cách chọc anh. Khi thì nhét hạt lúa vào cổ áo anh, khi thì rón rén đi đến bên cạnh Phê-đô đang nằm ngủ dưới bóng râm mát của một bụi cây nào đó, ngồi xổm xuống trên gót chân và dùng cọng cỏ cù vào mặt anh... Cô vẫn hay cười khanh khách, giòn tan và vô tư. Khi cô cười, những nếp nhăn nhỏ li ti chụm lại trên sống mũi, đôi mắt tròn lấp lánh tinh nghịch.

Tình cảm của Phê-đô đối với cô bé An-phi-xa bồng bột nảy sinh một cách bất ngờ, anh không chờ đợi và cũng không cần có nó. Nó hơi kỳ quặc, có lẽ phần nào giống như tình cảm cha con. Và anh cảm thấy rằng anh sẽ dứt bỏ được nó, nếu như làm xong cái việc mà I-nhi-u-chin đã trả tiền thuê anh. Thế là anh quyết định, sau khi dặn lão hương trưởng thêm một lần nữa:

- Nếu như có chuyện gì xảy ra,.. thì ông phải lo cách mà bảo vệ tôi đấy. Nếu không, tôi cũng chẳng im lặng đâu - tôi sẽ nói rằng đây là do lão I-nhi-u-chin thuê...

- Tất cả đều sẽ có, Phê-đô! - Lão già hứa. - Bằng cái gậy gỗ này tao sẽ bịt miệng bất cứ đứa nào lại. Đấy mày thấy không, nó giống như cái nút chai, sẽ bịt rất chặt. Đừng lo.

Nhưng không có chuyện gì xảy ra cả. An-phi-xa lập tức hiểu ngay Phê-đô muốn làm gì với cô, nhưng cô không kêu lên, cũng không chống cự, chỉ khẩn khoản một cách rầu rĩ, thảm thiết:

- Đừng, anh Phê-đô... Hãy thương em đi! Nào, hãy tha cho em, với em còn sớm quá...

Xong rồi cô nằm rất lâu trên bãi cỏ héo, những sợi tóc ướt sổ tung ra. Từ cặp mắt nhắm chặt, hai dòng nước chảy dài theo đôi má nóng hổi, cặp môi mọng ướt, còn trẻ con, mím chặt giận hờn, đau đớn.

- Em đừng nói với ai nhé? - Phê-đô bảo cô.

- Vâng, - cô khẽ trả lời, nấc lên, rồi bỗng hét to: -Thế bao giờ... bao giờ cưới?

- Cưới à? Sẽ cưới... Đợi em lớn thêm một ít. Còn bây giờ em đừng nói với ai nhé...

- Vâng, -An-phi-xa lại nấc lên ghì chặt lấy người anh, tin cẩn, như một con mèo con. - Nhưng anh hãy yêu em đi. Còn em sẽ yêu anh, yêu đến sợi tóc cuối cùng.

Phê-đô cảm thấy kinh tởm đối với chính mình, bởi vì anh biết rằng sẽ chẳng bao giờ có đám cưới mà cô mong đợi.

Cách đây không lâu, sau khi nhận của I-nhi-u-chin bốn chục đồng và uống hết cả một chai rượu ngang, Phê-đô cảm thấy mình là một mẩu gỗ bị ném vào dòng nước xoáy sôi sục của con sông Grô-mô-tu-kha. Và đấy, hôm nay, vừa ngay bây giờ - những ý nghĩ vội vã, kinh hoàng quay cuồng trong đầu Phê-đô, - anh đã bị cuốn sâu vào dòng nước lạnh buốt, bắt đầu quay tít. Bây giờ anh phải làm gì với An-phi-xa? Và với An-na? Còn thằng bé Ki-ri-an còi cọc? Còn đứa em ruột I-van? Hình như I-van đã đoán ra một điều gì đó, nhìn An-na bằng đôi mắt cầu khẩn, buồn rầu, còn nhìn anh, Phê-đô, một cách cau có, hằn học, đầy đe dọa...

Và quả vậy, Phê-đô đã bị xoáy nước cuốn lấy, xoay tròn, quay cuồng. Tự anh cũng không còn biết cái việc anh làm với An-phi-xa trong một đêm tối trời đầy sao trên đống cỏ có giúp anh từ bỏ được cái mối tình đã bắt đầu nảy sinh ra trong anh đối với cô, hay ngược lại, làm cho nó phát triển, gắn bó hơn. Còn An-phi-xa bỗng nhiên thay đổi hẳn, dường như ngay lập tức trở thành người lớn, cô đi lang thang khắp làng với những quầng xanh lớn quanh mắt, còn trong mắt lấp lánh những tia chớp hạnh phúc. Cô nhìn những ngôi nhà nhỏ buồn bã của làng Mi-khai-lốp-ca với một nụ cười trầm ngâm, lặng lẽ và nụ cười này, mái đầu kiêu hãnh ngẩng cao, toàn bộ vẻ mặt, con người cô như nói rằng cô đã khám phá ra được một cái gì đó vô cùng sung sướng, hạnh phúc, mà những người khác không bao giờ biết được. Phê-đô hiểu rõ tâm trạng của cô, bí mật, bằng tất cả mọi sự thận trọng, gặp cô hàng tuần vào tối thứ tư, bao giờ cũng tự hứa rằng lần này là lần cuối cùng, rằng hôm nay anh sẽ không chạm đến người cô, còn thứ tư tuần sau anh sẽ không đến nữa. «Hình như An-phi-xa chưa có mang, như thế còn may lắm...» Nhưng chỉ cần An-phi-xa áp chặt vào người anh tấm thân khỏe mạnh, mềm mại, chỉ cần anh cảm thấy đôi môi nóng hổi ngọt ngào và nghe tiếng rên khe khẽ, gọi mời là Phê-đô quên đi tất cả... Và thứ tư tuần sau anh lại như một người bị mê hoặc, tìm đến chỗ hẹn hò.

Anh gặp An-phi-xa vào thứ tư, còn An-na vào thứ năm. Anh đến gặp An-na người mệt mỏi, trống rỗng bởi đêm hôm trước, vì rằng An-phi-xa, cái cô bé còn chưa hết tuổi thiếu niên này, lại rất ham muốn những trò âu yếm thô tục, cô quen rất nhanh, và sự thèm khát không biết chán của An-phi-xa làm cho Phê-đô kinh ngạc, sợ hãi. Anh vẫn gặp An-na ở trong cánh rừng nhỏ sau làng; sau đó, khi cỏ đã khô rũ xuống, cây cối rụng hết lá, họ lại hẹn gặp nhau trên vựa cỏ cạnh chuồng gia súc của cha cô. Mùa thu năm đó kéo dài và ấm chưa từng có. An-na, người ngây ngất vì những chiếc hôn, cứ luôn miệng hỏi hoài, không ngớt:

- Anh có yêu em không, Phê-đô? Chẳng lẽ anh lại yêu em à?!

- Chứ còn sao nữa?

- Ôi!

Đôi lúc, một ý nghĩ không hiểu từ đâu, đến trong đầu Phê-đô, thôi bỏ quách cái que củi khô An-na này đi... Cưới luôn An-phi-xa làm vợ... Nhưng liền đó anh lại cau mặt, giận dữ thầm rủa mình. An-phi-xa, với sự thèm muốn vô hạn của mình, sẽ cho con ra sòn sòn như nhả hạt hướng dương. Rồi làm sao với chúng, lấy gì cho chúng ăn, cho chúng mặc? Lúc đó tha hồ mà ngồi khóc.

«Và anh muốn lấy tôi cũng chỉ vì lòng ham muốn cái tài sản giàu có của cha tôi…»

...Phê-đô ngẩng đầu lên và thấy Cru-gi-lin đã thôi nói, đang ngồi sau bàn, người hơi quay nghiêng xuống. Bây giờ đến lượt giám đốc trạm máy kéo phát biểu, Phê-đô nghe giọng của ông ta, nhưng không thể hiểu được ông ta đang nói gì.

«...Và điều này An-na cũng nói đúng. Đã đoán ra. Có lẽ lúc đó Phê-đô đã bỏ cô, bỏ vì cô quá xấu xí, khó coi - không có cái gì có thể so sánh với An-phi-xa! Nhưng có một cái gì đó lạ lùng, khó hiểu, đã xảy ra với An-na. Cô bỗng lớn phổng lên, người trở nên tròn trặn, cân đối, như con bê con sau mùa đông dài đói rét giờ được thả ra đồng cỏ tốt tươi, đôi gò vú trước đây bé tí bắt đầu nở nang ra rất nhanh, dáng người uốn thẳng lại. Đôi má ngày càng ửng hồng, cặp mắt to màu xám kéo dài ra hai bên, sâu thêm, lung linh những ngọn lửa hân hoan sung sướng. Chúng chiếu sáng, làm cho khuôn mặt cô biến đổi khắc hẳn, và Phê-đô thấy rằng bây giờ nó quyến rũ không kém gì khuôn mặt của An-phi-xa. Chiếc cổ của An-na, trước đây gầy gò, yếu ớt, giờ tròn trịa mang nét cong cong kiêu hãnh, cặp đùi cũng nở đẫy ra đầy đặn. Và một lần - lúc đó đã vào tháng Mười, một ngày mùa thu ấm áp hiếm có, có lẽ là một trong những ngày ấm cuối cùng trong năm, - Phê-đô trông thấy An-na từ đằng xa và thốt lên ngạc nhiên: dọc đường làng, dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ, một người đàn bà dong dỏng cao, đẹp chưa từng thấy, kiêu hãnh mang trên chiếc cổ khỏe mạnh, đẹp như tượng, mái đầu tóc tết thành những bím nặng hơi tẽ ra ở phía dưới. Và dường như đấy không phải là bím tóc, mà là những con suối bằng ánh nắng mặt trời nóng bỏng chảy từ đầu xuống lấp lánh gợn sóng trên chiếc lưng mềm mại của cô.

Hôm đó là ngày thứ tư, Phê-đô, như thường lệ, đến gặp An-phi-xa. Anh đi đến chỗ hẹn lần này là theo thói quen, anh đi và nghĩ, thậm chí không phải về An-na, mà về người đẹp mà anh thấy, như một ảo ảnh trong giấc mơ, đi trên đường làng giữa trưa nắng đẹp. Anh không nhận thấy trong buổi tối hôm đó An-phi-xa có vẻ mệt mỏi, lo lắng, thảng thốt. Rồi cô khóc, rầu rĩ nói:

- Đã sang tháng thứ hai, em không hành kinh... Còn hôm qua em lại bị buồn nôn...

- Chúng ta quá chơi liều rồi đấy, - Phê-đô nhăn mặt nói.

- Vâng, - An-phi-xa nuốt nước mắt. - Em đã nghĩ từ lâu: «Cái gì thế này?» Hôm nay em hỏi mẹ. Mẹ chửi em một trận: «Mày đi với thằng nào thế, đồ chó cái?»

- Thế nào? Em nói ra rồi à?!

- Không... Anh chưa cho em nói mà, Mẹ em cứ nghi cho Ki-ri-an. Làm sao bây giờ, anh Phê-đô?

- Cứ mặc cho mẹ nghi. Còn em đừng nói. Hiểu chưa? Đừng nói!

- Anh nói sao? Em sẽ không… Sẽ không nói.

- Thế đấy, - Phê-đô thở ra nhẹ nhõm, - còn cái này không lo. Mẹ sẽ cho đi dễ dàng.

- Nhưng... để làm gì? Hay là...

- Em nghĩ xem: chúng ta có con bây giờ sao được, trong lúc này? Và người ta lại sẽ cười em... Rồi sau đó…

Phê-đô, mặc dầu vẫn nghĩ về An-na, lại muốn nói với An-phi-xa: «Rồi sau đó chúng ta đừng gặp nhau nữa, chúng ta kết thúc ở đây, nếu không lại chơi liều, đi quá xa». Những lời đó sắp buột ra khỏi lưỡi, nhưng Phê-đô cảm thấy chúng sẽ giết chết cô gái ngay - cô ta sẽ tự tử hoặc còn làm một cái gì đó khủng khiếp hơn. Anh nghĩ rằng cắt đứt với cô sau khi giải quyết xong chuyện kia sẽ dễ dàng, tiện lợi hơn, và anh nói, vừa nói vừa tìm từ:

- Và thêm vào đó - bây giờ chúng ta không nên gặp nhau... cho đến khi chưa giải quyết xong chuyện kia. Mà bây giờ cũng gặp nhau ở đâu được? Tuyết sắp xuống rồi!

An-phi-xa ngồi khóc, úp mặt xuống đầu gối, đôi vai run lên.

- Em đừng khóc nữa. Ki-ri-an I-nhi-u-chin ra sao?

- Ra sao? Cứ đi theo như một cái đuôi. Em đuổi, hắn vẫn theo. Hắn đã biết, đã đoán ra là em với anh... Chỉ có không nói ra lời thôi.

Phê-đô cũng đã hiểu rằng Ki-ri-an biết hết mọi chuyện. Khi gặp anh, hắn sầm mặt lại, nhưng không hỏi thẳng về việc đó.

Và bốn ngày sau, ngay trước lúc tuyết rơi, đã xảy ra một chuyện như sau.

Buổi chiều ngày thứ hai, sau một thời gian vắng mặt khá lâu, Cáp-ta-nốp bỗng xuất hiện trong trang trại của mình. Phê-đô cùng Đê-mi-an I-nhi-u-chin đang ngồi dưới mái hiên bằng gỗ, uống trà và trông coi một toán ông già, phụ nữ đổ lúa mạch đen đã đập xong vào kho. Cáp-ta-nốp đi xe ngựa, I-van cầm cương. Xe còn chưa dừng, I-van đã nhảy xuống đất, chạy lên phía trước, treo người ghì chặt mõm mấy con ngựa đầm đìa mồ hôi, Cáp-ta-nốp mặt đỏ như mặt trời sắp lặn, giận dữ chạy bổ đến bên Đê-mi-an I-nhi-u-chin, túm lấy bộ râu cáo của hắn.

- Ma-ày, đồ quỷ tóc hung! - Và xô mạnh. Lão già ngã ngửa ra đất - Đứng dâ-ậy! - Cáp-ta-nốp ra sức lấy chân đá vào sườn lão hương trưởng, đồng thời là người quản lý của mình.

- Lạy Chúa... Ông Mi-khai-in Lu-kích… Lạy ông... -Lão già hoảng hốt lắp bắp, nhưng mặc dù một chân bằng gỗ, hắn vẫn nhanh nhẹn đứng dậy. - Lạy Chúa, ông tha cho con...

- Mày lấy ai làm thằng giúp việc cho mày đấy hả?! - Cáp-ta-nốp hung hãn gầm lên. -Mày cho ai cái việc nhàn nhã như vậy hả? Tao đã ra lệnh cho ai không được để nó ra khỏi xưởng nấu nhựa, cho nó mục thây trong rừng tai-ga, cái đồ bất trị lếu láo ấy?

Ngay từ khi Đê-mi-an I-nhi-u-chin giao cho anh trông coi đám đàn bà thợ gặt, Phê-đô đã lo lắng nghĩ: Cáp-ta-nốp không thích việc này đâu. Nhưng anh không nghĩ là ông chủ lại tức giận đến tột cùng như vậy.

- I-van! - Cáp-ta-nốp quát, đôi đế giày giẫm bụi đất tung mù. -Đưa roi đây!

I-van đưa roi, mắt không nhìn ai cả. Phê-đô còn chưa kịp hiểu ra, đôi vai anh đã nghe bỏng rát, như bị chém ra làm đôi.

- Đây, tao trả công cho mày! Đây...

Phê-đô chạy loanh quanh giữa mấy bức tường kho, cố tránh đòn, nhưng ngọn roi, như rắn, cứ đuổi kịp anh và mổ rát vào người.

- Còn đây là về việc An-na này! Đồ hèn mạt! Mày dám giơ bàn tay bẩn thỉu kia động đến ai hả?! Tao sẽ bẻ đùi mày ra! Sẽ giẫm bẹp mày như con giun!

Phê-đô không tránh ngọn roi nữa, mỗi lần bị đánh, người anh lại giật nảy lên, trong đầu chỉ một ý nghĩ: «Ra thế đấy! I-van... I-van mách với hắn... về việc mình với An-na! Lại còn đưa roi cho lão ta, đồ rắn độc!» Và lảo đảo, đưa hai tay ra phía trước, Phê-đô bước đến bên I-van, định túm lấy cổ đứa em ruột. Nhưng vừa mới đến gần, I-van đã đưa nắm tay cứng như sắt đấm mạnh vào hàm dưới, Phê-đô ngã xoài xuống nền đất đã bị giẫm nát, như Đê-mi-an I-nhi-u-chin, chỉ khác là mặt úp xuống dưới. Anh cảm thấy trong miệng mùi máu mằn mặn.

- Cha ơi! - anh nghe một tiếng thét thất thanh. Qua cặp mắt sưng vù, anh thấy An-na từ trên thềm chạy bổ xuống. -Không được động đến anh ấy, đồ ác ôn!

An-na chạy đến bên Phê-đô, xô Cáp-ta-nốp và I-nhi-u-chin ra, cúi xuống định đỡ anh dậy.

- Phê-đô! Anh...

Mặt tái mét, Cáp-ta-nốp túm lấy tóc An-na, đập mạnh, không thương tiếc, đầu cô vào bức tường kho mốc đen. Rồi hắn lấy roi quật túi bụi vào người cô, đuổi vào nhà. Hắn đuổi cô như đuổi một con cừu cái, còn cô, không kêu thêm một tiếng nào nữa, chỉ mỗi lần bị roi quất phải, lại ngã xuống, bò bốn chân tay, kéo lê mấy bím tóc dài trên mặt đất, đứng lên, rồi lại ngã chúi xuống. Trong đầu Phê-đô một đám cháy bốc lên hừng hực, anh muốn đứng dậy, nhảy vào giúp An-na, nhưng không còn sức lực nữa.

Phê-đô còn thấy Cáp-ta-nốp từ trên thềm quay xuống, đưa ống tay áo lau trán đẫm mồ hôi, nghe hắn vừa thở hổn hển, vừa bảo I-nhi-u-chin:

- Tao để thằng I-van lại giúp việc cho mày. Để hắn lâu dài đấy. Hãy bày vẽ cho nó, nó coi ngựa và đánh xe thế cũng đã đủ rồi. Còn thằng này - vứt ra khỏi cổng.

Và Phê-đô ngất đi.

Anh tỉnh lại vì có người nào đó đang sờ nắn lên người anh. Cố mở đôi mí mắt nặng trịch, anh thấy Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin đang ngồi xổm trước mặt:

- Làm việc cho nhà Cáp-ta-nốp được trả công đầy đủ rồi chứ? Hay là hắn ta còn nợ gì nữa? - Pô-li-các-pơ hỏi, chiếc miệng đã lâu không cạo, cười khẩy. - Nào, để tớ đưa cậu về nhà...

«Và anh cũng tiếc cha tôi đã bị I-van bắn chết...»

...Không, cái này thì cô nói bậy rồi, Anna ạ! Phê-đô không bao giờ thương tiếc Cáp-ta-nốp đâu, - Phê-đô nghĩ về mình như về một người nào khác, mắt vẫn nhìn bí thư huyện ủy Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin đang ngồi bên mép bàn. Không, ở đây lại là chuyện khác, hoàn toàn khác. Lúc đó, anh dằn vặt suy nghĩ, anh tiếc về chuyện khác: tại sao lại như vậy, tất cả những kế hoạch và mơ ước của đời anh, bắt đầu xuất hiện trong đầu anh vào cái mùa hè khi anh làm «quản trại» của Cáp-ta-nốp, bỗng sụp đổ; và cái chỗ bên cạnh Cáp-ta-nốp mà anh đã nhằm chọn cho mình, bỗng bị I-van chiếm mất?

...Cuộc họp trong hội trường trạm máy kéo vẫn tiếp tục. Nó bắt đầu từ lâu hay chỉ mới bắt đầu - Phê-đô không còn nhớ ra nữa. Hình như thời gian trôi qua cũng đã nhiều: những dải bóng dài màu xanh của các xưởng trên mặt tuyết trắng đã biến mất, và chính các xưởng cũng biến mất, chúng chìm ngập trong màn đêm đen lạnh lẽo, chỉ có một cửa sổ duy nhất ở đằng xa hắt ra thứ ánh sáng vàng vọt. Còn giám đốc trạm máy kéo vẫn đứng sau chiếc bục gỗ đã cũ và nói mãi, nói mãi về một chuyện gì đó…

...Đúng, tất cả là như thế đó, Phê-đô quay trở lại với những suy nghĩ của mình. Nhưng tại sao lại như thế, tại sao anh lại tham gia vào đội du kích?

Không thể nào nhớ chi tiết được tất cả những sự kiện xảy ra vào mùa hè nóng nực của năm 1916, vào mùa đông ấm áp hiếm có của năm 1917, và sau đó là thời kỳ sôi sục hỗn loạn năm 1918 và 1919. Khi cách mạng nổ ra, tình hình ở làng Mi-khai-lốp-ca rất lâu vẫn không thay đổi, lão Cáp-ta-nốp vẫn làm vua làm chúa như trước. Nhưng rồi hắn bỗng nằm im, bắt đầu thu hẹp việc buôn bán. Chính quyền Xô-viết được thành lập ở Mi-khai-lốp-ca một cách rất đơn giản - Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp từ San-ta-ra về triệu tập dân làng lại họp, quyết định thành lập Xô-viết làng, bầu Pan-crát Na-da-rốp làm chủ tịch. Cáp-ta-nốp sống lì một chỗ ở trại Ô-gơ-nhép-xki, suốt ngày chè chén, say rượu ở đấy...

Đúng, nhiều chuyện đã quên đi, sự việc xảy ra cũng đã lâu rồi, đã trở nên bàng bạc như sắc trời tháng Chín đầu thu. Nhưng cái chính thì vẫn chưa quên. Thêm vào nữa, cái chính đó cũng chẳng có gì làm nhiều lắm. Nó, cái chính đó với anh ấy, bắt đầu vào một buổi tối mùa hè năm 1918.

Buổi chiều ngày hôm đó trời nổi cơn dông, bầu trời bị những tia chớp xé rách ra thành từng mảnh vụn. Những luồng sáng đỏ thẫm liên tục trùm lên những ngọn núi đá dãy Dve-nhi-gô-ra. Gió giật từng cơn, rừng tai-ga chuyển mình, rít gào dữ tợn.

Chỗ hẹn của Phê-đô và An-phi-xa cách làng không xa, ở một khe núi vắng vẻ trong rừng tai-ga. Ở đó, Phê-đô dựng lên một túp lều con bằng gỗ, trải những mảnh dạ cũ lên mặt đất, phía trên lều che bằng những cành thông rậm lá.

Hôm đó, An-phi-xa không có mặt ở làng Mi-khai-lốp-ca, cô vừa cùng với mẹ ngày hôm trước đi sang làng Ca-da-nhi-kha bên cạnh, đến một người đàn bà sắp đẻ - mẹ An-phi-xa đang truyền nghề cho con gái. Nhưng Phê-đô mang theo tấm áo mưa, vẫn đi đến chỗ hẹn. Anh vừa đi vừa nghĩ: «Hôm nay là thứ tư. An-phi-xa cứ thử không đến xem! Cứ thử không đến xem!..»

Phê-đô biết rằng anh nổi nóng như vậy là vô ích, rằng An-phi-xa nhất định sẽ đến, dù cho có chuyện gì xảy ra. Nhưng vừa đến cạnh lều, Phê-đô đứng sững lại: Ki-ri-an I-nhi-u-chin đang vội vã phá chỗ trú của anh và An-phi-xa, giận dữ kéo đổ những thanh gỗ dài, những cành thông lợp mái xuống và ném vung ra tứ phía.

- A, mày, đồ khốn nạn! - Phê-đô nhảy hai bước đến bên cạnh Ki-ri-an, một tay túm lấy cổ áo, tay kia vung mạnh đấm vào hàm dưới.

Ki-ri-an không bỏ chạy, chỉ ngã ngồi xuống, rồi quỳ lên hai đầu gối.

- Mày... mày theo chúng tao từ bao giờ thế này? Sao mày dám?!

- Phê-đô! Phê-đô! Anh bỏ An-phi-xa đi! Anh đừng động đến nó nữa đi! - Ki-ri-an ôm chặt lấy chân Phê-đô, miệng kêu ăng ẳng như chó con.

Phê-đô nổi điên lên giơ chân đạp mạnh. Anh còn định đạp lần nữa, nhưng từ trong bụi cây An-phi-xa chạy vụt ra, đầu tóc sổ tung, người đầm đìa mồ hôi cáu bẩn, như vừa ở trong nhà tắm ra đã lăn ngay xuống mặt đường đầy bụi.

- Phê-đô! Phê-đô! - cô kêu to và kiệt sức ngã lăn xuống cỏ. - Ở bên ấy, ở Ca-da-nhi-kha... Chính lão Cáp-ta-nốp... Và thằng Di-nô-vi! Ở Ca-da-nhi-kha ấy! Còn ở làng ta - Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp! Và Pan-crát Na-da-rốp... Pan-crát Na-da-rốp ấy!.. - Cô thở dốc, há miệng ra hớp không khí. Phê-đô và Ki-ri-an không thể hiểu ra chuyện gì, sợ hãi vây lấy cô. - Chuyện gì ở Ca-da-nhi-kha? Nói đầu đuôi xem sao?

- Lão Cáp-ta-nốp ở đó... cả một đội kỵ binh đến năm chục người, hoặc hơn... Chúng đến làng Ca-da-nhi-kha, lôi ông chủ tịch Xô-viết thôn từ trong nhà ra và ngay ở thềm... Trời ơi, chúng dùng gươm chém chết ngay ở thềm. Còn vợ của ông ta, có mang, đã bắt đầu chuyển dạ đẻ, cũng bị chúng túm tóc lôi đi với mẹ em... «Mày giúp đẻ ra thằng chủ tịch Xô-viết mới à?» Em đang đun nước trong bếp. May mà kịp lao qua cửa sổ...

Và An-phi-xa nằm lăn ra cô khóc ngất đi. Phê-đô và Ki-ri-an đứng cạnh, sửng sốt, không biết phải hiểu những lời của An-phi-xa như thế nào, phải làm gì. Trên đầu họ, sấm mỗi lúc một dữ dội hơn, chớp nhằng nhịt, nhưng gió hình như đã ngớt và vẫn chưa có mưa.

Mi-khai-in Lu-kích Cáp-ta-nốp đã nửa năm nay biến mất khỏi trại Ô-gơ-nhép-xki, và cùng với hắn là I-van. Không hề có tin tức gì về hai người cả, và đấy, nay lại xuất hiện.

- An-phi-xa, An-phi-xa, - Ki-ri-an cúi xuống người cô gái, vuốt nhẹ lên vai. - Đừng khóc nào, đừng khóc...

- Nào, kể đầu đuôi lại xem nào, - Phê-đô cũng ngồi xuống phía bên kia. - Chúng... làm gì với mẹ rồi?

- Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ-ẹ! - An-phi-xa khóc rống lên, lắc đầu, đập trán xuống đất, những túm tóc dài vướng vào cổ. Rồi cô nhỏm dậy, quỳ trên hai đầu gối, đôi mắt cô vốn đã cháy lên man rợ, mỗi lúc chớp lóe lên, trông chúng càng khủng khiếp. - Sao các anh lại ngồi như thế?! Chúng, lão Cáp-ta-nốp và Di-nô-vi cùng bọn kỵ binh, chắc sắp tới làng Mi-khai-lốp-ca của ta rồi. Chúng bảo phải moi ruột Na-da-rốp ra. Cả Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp nữa... Có ai nói với chúng rằng họ đang ở Mi-khai-lốp-ca.

Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp quả là chiều qua mới về Mi-khai-lốp-ca để giải quyết việc gì đó liên quan đến lúa mì, cãi nhau một trận rất lâu với chủ tịch Xô-viết Pan-crát Na-da-rốp, định chiều nay triệu tập hội nghị toàn thôn, nhưng Phê-đô nghe nói phải hoãn đến ngày mai, vì thời tiết xấu.

- Có thể... có thể chúng đã ở Mi-khai-lốp-ca rồi? -Ki-ri-an nói.

- Thế thằng I-van có đi với bọn chúng không? Em có thấy không?

- Nếu như... nếu như các anh không báo kịp, họ cũng sẽ bị chém chết! Như mẹ của em, như... Lúc đó em sẽ nguyền rủa tất cả các anh!..

Rồi An-phi-xa đứng lên, lảo đảo đi về phía làng. Ki-ri-an và Phê-đô đi theo sau. Khi An-phi-xa bắt đầu chạy, họ cũng bất giác chạy theo.

Trong buổi chiều dông bão hôm đó, cả anh, Phê-đô, cả An-phi-xa, cả Ki-ri-an I-nhi-u-chin đều không hiểu việc gì đang xảy ra, vì sao lão Cáp-ta-nốp mấy lâu nay trốn biệt ở một nơi nào đó bỗng bất ngờ xuất hiện, và không phải một mình, mà với cả một toán phỉ. Chỉ có sau này, khi tỉnh lại trong bệnh viện San-ta-ra, anh mới biết rằng cuối tháng Năm, bọn bạch vệ Tiệp Khắc đã nổi loạn trên khắp lãnh thổ Xi-bi-ri, rằng, Chính quyền Xô-viết trong khắp các thành phố lớn dọc tuyến đường sắt đã bị lật đổ.

Còn trong buổi chiều hôm đó, cuối cùng họ cũng đã báo kịp cho Cru-gi-lin, A-lây-nhi-cốp, Na-da-rốp cùng gia đình. Nhưng chỉ kịp vào giây phút cuối cùng, khi không còn khả năng nào để trốn ra khỏi làng Mi-khai-lốp-ca được nữa. Toán phỉ của Cáp-ta-nốp đồng thời một lúc từ hai phía ập vào làng, vừa la hét, vừa nổ súng bắn bừa bãi. Cru-gi-lin, A-lây-nhi-cốp, Na-da-rốp, vợ ông với đứa con trai bảy tuổi Mắc-xim, cùng Phê-đô, An-phi-xa, Ki-ri-an và An-na không biết từ đâu đến - chạy hốt hoảng, xô đẩy vấp cả vào nhau trong các ngõ xóm chật hẹp. Vợ Na-da-rốp liên tục làm dấu thánh, Mắc-xim khóc thét lên vì hoảng sợ, Na-da-rốp kẹp con vào nách như kẹp bị bông. Tiếng súng, tiếng vó ngựa đôi lúc nghe như sát ngay bên cạnh, tất cả nằm bẹp xuống, ép người vào hàng rào. Mọi người đều hiểu rằng tất cả đều không thoát chết, nếu không xảy ra một điều kỳ lạ nào đó. Cáp-ta-nốp một khi đã say máu sẽ không thương tiếc một ai - cả Phê-đô, cả Ki-ri-an I-nhi-u-chin, cả con gái của mình An-na, nếu như hắn trông thấy cô cùng với mọi người.

- Sao em lại đến đây? - Phê-đô quát bảo cô. - Đi đi, nếu không chết oan đây.

- Anh đi đi thì có! - An-na vặc lại. - Chú Pan-crát ơi, chú cùng với cô và đứa bé... thử đi lối sau... đến nhà cháu đi. Cháu sẽ giấu các chú vào gian xép của cháu, may ra họ không đoán ra. Ba người cùng đi, đủ chỗ cho cả ba người...

- Đúng đấy, Pan-crát cứ đi đi! - Cru-gi-lin kêu to và túm lấy vai An-na, quay mặt cô về phía mình: - Cám ơn cô. Thế mà tôi không biết cô đấy. Nếu qua được, chúng tôi sẽ đền ơn cô. Các anh hãy đi theo con đường này, may ra...

An-na, Pan-crát Na-da-rốp với đứa con cắp dưới nách, cùng vợ của ông chạy đi. Lúc đó, An-phi-xa kêu to:

- Ki-ri-an! Nhà anh ở kia kìa! Xuống trốn dưới hầm ấy, được không?.. Hay là một nơi nào đó? Không ai đoán ra đâu.

- Không biết... - Ki-ri-an lắc đầu. Nhưng cha ở nhà, sau khi mẹ chết, cha vẫn đang ốm.

- Ki-ri-an! - An-phi-xa gục đầu vào ngực Ki-ri-an I-nhi-u-chin. - Anh tốt lắm, hãy tốt hơn nữa đi! Em sẽ làm vợ anh, nếu anh...

- Nhưng cha anh thì làm sao? Mọi người biết đấy, cha anh là người thế nào...

- Không thì chúng cũng sẽ giết cả em… nếu như chúng bắt được! Ở Ca-da-nhi-kha, khi thấy em nhảy qua cửa sổ, Cáp-ta-nốp hét: «Bắt lấy con bé kia, chặt hết tay chân nó đi, nó định đỡ cho con thằng chủ tịch Xô-viết đấy!» - Và thấy Ki-ri-an vẫn còn lưỡng lự, cô hét lên một cách khủng khiếp: - Ki-ri-a-an!

- Thôi được... Nhưng cũng phải... đưa cả cha xuống hầm nhà. Không thì ông ấy sẽ làm lộ hết.

An-phi-xa, Ki-ri-an, Cru-gi-lin, A-lây-nhi-cốp men theo các vườn rau chạy về phía nhà I-nhi-u-chin. Phê-đô không chạy theo họ. cảm thấy một sự nhẹ nhõm, anh ngồi xuống bờ rào, nhìn về đám cháy phía nhà Na-da-rốp. Anh ngồi và suy nghĩ: mấy người này gần, sẽ kịp, còn An-na có đưa được họ về đến nơi không? Đường hơi xa...

Sáng hôm sau, Phê-đô biết tin họ đã đến kịp. Họ thoát có lẽ cũng nhờ bóng tối ập đến rất nhanh và trận mưa rào cuối cùng cũng đã trút xuống, nếu không thì họ khó lòng đến nơi được mà không bị phát hiện. Anh biết tin qua I-van, khi người em ghé qua nhà một lúc. I-van không có gươm, chỉ có chiếc roi ngựa cầm trong tay.

- Anh hùng lắm, tao thấy... Đi đâu cũng mang roi ngựa theo. Thằng rể khá đấy, - Phê-đô nói. I-van khẽ nhếch môi trên bắt đầu để ria, bước ra sân.

Nửa giờ sau, cánh cửa bỗng mở tung, Cáp-ta-nốp chạy xộc vào, hất ông già Xi-lan-chi định đứng dậy đón hắn sang một bên, túm lấy ngực áo Phê-đô lắc mạnh.

- Nói ngay, chúng trốn đi đâu? Nếu không tao đánh cho hộc máu! Chúng nó đang ở đâu đây, hôm qua có người trông thấy mày đi với chúng.

- Tôi không biết. Ai trông thấy tôi?

- Bây giờ chúng tao sẽ biết mày có biết hay không.

Hắn ném Phê-đô cho mấy gã đàn ông râu ria xồm xoàm đứng ở cửa. Chúng liền túm lấy tay chân Phê-đô, khiêng ra ngoài sân, lột sạch áo quần, trói úp bụng xuống, vào một tấm ván và ném xuống đất. «Thế là hết, bây giờ chúng sẽ bắn, chúng sẽ bắn...» - Khi bị lôi qua sân, lột hết quần áo, trong đầu Phê-đô như có tiếng gõ. Thậm chí, anh không còn biết là mình có sợ hay không - mọi việc xảy ra quá nhanh. Không hiểu sao anh lại không thể đoán ra là chúng đang chuẩn bị đánh anh. Đến khi ngọn roi rít lên và quất rát trên lưng, anh mới hiểu ra tất cả và hét to:

- Chúng mày làm gì thế, lũ khốn nạn?! Chúng mày làm gì thế?..

Anh hét lên không phải vì đau, mà vì căm phẫn, vì giận dữ bất lực. Có lẽ chính cơn giận đó đã giúp anh không khai ra. Và còn một lý do nữa là cách đấy không xa I-van đứng ôm lấy mõm một con ngựa và cau có nhìn anh. Tính cách của Phê-đô lần này lại giúp anh một cách đắc lực, vô giá.

Chúng đánh anh rất lâu, cật lực, băm nát lưng, đít và hai chân cho đến tận gót. Anh chỉ cảm thấy đau đớn một lúc, sau nghe trong đầu ù lên như thể bị một cái gì đó cứng và nóng ép chặt, ép cho đến lúc nó bị vỡ vụn ra, cho đến lúc bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, cái đầu tiên anh nghe là giọng của Cáp-ta-nốp:

- Lần cuối cùng tao hỏi: chúng trốn ở đâu? Chúng trốn ở đâu, nói ngay!

Đôi mí mắt của Phê-đô sưng vù lên - không biết vì bị roi quất phải hay chỉ là vì đau đớn, - anh trông không rõ. Nhưng anh vẫn thấy I-van đang đứng ở chỗ cũ, tay ôm lấy mõm ngựa, một đám đông đàn bà, đàn ông, trẻ em đứng bên kia hàng rào, anh vẫn nghe tiếng phụ nữ và trẻ con khóc thút thít, tiếng đàn ông lo lắng thì thầm: «Bây giờ... bây giờ thì phải im lặng, - Phê-đô thoáng nghĩ - Nếu không, sau này đi đâu cho khỏi xấu hổ, nhục nhã? Mọi người sẽ nói: hắn không chịu được, hèn nhát... Họ sẽ cười nhạo anh. Còn với thằng I-van này, nếu tao sống, tao sẽ tính sổ với mày. Tao sẽ không quên đâu. Không biết giờ An-na đang ở đâu? Cô ta có thấy mình thế này không?»

Anh tỉnh dậy, lần thứ hai trong sự im lặng hoàn toàn, trong một khoảng trống bàng bạc nào đó. Anh vẫn nằm úp bụng, lưng bỏng như lửa đốt, những cọc sắt lô nhô trước mắt.

Một lúc sau anh đoán ra là mình đang nằm trên giường. Hơi nghiêng đầu sang bên, anh trông thấy An-na đang ngồi thẳng trên chiếc ghế đẩu, người hốc hác, xa lạ.

- Anh đang ở đâu thế này? - Phê-đô hỏi.

- Ở San-ta-ra, trong bệnh viện. Đã bốn ngày nay rồi.

- A-a... Sao lại đến đây được?

- Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp đưa đến.

- Nghĩa là họ đã thoát được rồi?.. Không bị chúng tìm thấy?

- Không. Họ trốn trong hầm nhà I-nhi-u-chin. Bắt cả Đê-mi-an I-nhi-u-chin xuống hầm, trong nhà chỉ có một mình Ki-ri-an. Anh ta kể: được một mẻ sợ... Cha của em mấy lần đến nhà, tra hỏi: Đê-mi-an I-nhi-u-chin đi đâu? Ngồi trên ghế và hỏi...

- Thế còn... Pan-crát Na-da-rốp?

- Mấy người này trốn dễ hơn. Không ai đến gần phòng em cả. Làm sao mà đoán được! Bây giờ Na-da-rốp cùng gia đình cũng ở San-ta-ra này.

- Tại sao lại ở đây?

- Bây giờ còn ở đâu? Chính quyền Xô-viết ở các làng quanh đây không còn nữa. Chỉ còn ở San-ta-ra này nữa thôi. Ở các làng đội kỵ binh của cha em đang hoành hành. Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp cũng ở đây, đang tổ chức bộ đội, suốt ngày đêm canh gác các ngả đường, sợ cha em có thể kéo đến... Cả Ki-ri-an cũng đã trốn khỏi Mi-khai-lốp-ca rồi.

- Thế đấy!

- Vâng, cha em và bọn kỵ binh đến chiều thì đi khỏi Mi-khai-lốp-ca. Còn Đê-mi-an I-nhi-u-chin, vừa mới được thả ra khỏi hầm nhà, đã bí mật thắng ngựa đuổi theo. Sáng ngày hôm sau tất cả lại kéo về. Đê-mi-an cầm súng lục trong tay, chạy khắp sân nhà, lục lọi tìm Ki-ri-an, rồi tìm An-phi-xa. Nhưng hai người từ chiều hôm trước đã biết mà trốn vào rừng tai-ga. Họ gọi cả em theo.

- Ra thế đấy! - Phê-đô lại thốt lên. - Thế sao em không đi?

- Em cần phải đến đây... - An-na nói khẽ. Rồi cô đưa khăn tay lên chấm nước mắt đang trào ra, khóc nấc lên nặng nề: - Anh Phê-đô... Bọn chúng làm gì với anh thế?

...Còn việc gì tương đối chi tiết mà Phê-đô nhớ được trong số những sự kiện rối rắm của những năm ấy? Đám cưới du kích của anh với An-na à? Vâng, có lẽ... Tất cả những cái khác trong trí nhớ bây giờ đều bị xáo trộn giữa ngày và đêm, giữa khói và súng đạn, giữa lửa và máu...

Phong trào du kích ở San-ta-ra và xã bên cạnh bắt đầu từ lâu trước khi xảy ra loạn Côn-tsắc. Toán phỉ của Cáp-ta-nốp sau một thời gian ngắn đã phát triển lên một cách đáng sợ, và trong khi Phê-đô còn đang nằm ở bệnh viện, chúng đã hai lần tấn công vào San-ta-ra, suýt nữa thì chiếm được. Cảm thấy sẽ không giữ nổi lần thứ ba, Cru-gi-lin đưa đội du kích được trang bị rất kém của mình đầu tiên trốn vào những hang núi dãy Dve-nhi-gô-ra, và sau khi trải qua được một trận đánh rất ác liệt, họ lại tiếp tục đi xa hơn, sang quá bên kia làng Mi-khai-lốp-ca, đến vùng thượng lưu nằm trong rừng rậm rạp của con sông Grô-mô-tu-kha. Phê-đô, lúc đó hãy còn rất yếu - da lưng bị roi băm nát bắt đầu lên sẹo, - cũng đi cùng đội. An-na, dứt khoát không rời Phê-đô, cũng đi theo.

Dần dần, Phê-đô bắt đầu bình phục, khỏe mạnh như xưa. Đầu tiên Cru-gi-lin cho anh phụ trách một nhóm năm du kích, sau đó mười, và cuối cùng là cả một phân đội kỵ binh. An-na luôn luôn ở bên cạnh anh, giặt giũ, chăm sóc anh. Mấy lần Phê-đô cố tìm cách ngủ với cô, nhưng An-na kiên quyết không cho, nhắc đi nhắc lại như một cái máy vẫn một câu:

- Không đâu... Dù anh có chém chết. Còn nếu anh muốn, thì làm lễ cưới đi.

Nhưng, Phê-đô, không hiểu sao, lại không muốn cưới. Mà thực ra cũng không có lúc nào nữa - suốt mùa thu năm 1918, đội du kích của Cru-gi-lin khi thì đuổi theo bọn phỉ Cáp-ta-nốp, khi thì ngược lại, ẩn trong rừng trốn chúng. Mùa đông đến, họ mới được nghỉ ngơi một ít, vì rằng bọn cướp Cáp-ta-nốp bỗng ít hoạt động, sau đó trốn đi đâu mất; nhiều người trong đội du kích trở về nhà mình. Chẳng bao lâu sau, họ lại phải vào rừng tai-ga, vì rằng trong các làng bắt đầu xuất hiện các đội tiễu phạt của tên tướng Côn-tsắc.

Sau này Phê-đô mới hiểu tại sao lúc đó anh không muốn tổ chức lễ cưới với An-na. Từ hồi mùa thu, Ki-ri-an I-nhi-u-chin đã đến nhập vào đội du kích, người anh càng uốn cong lại như một chiếc lưỡi câu, đôi vai càng buông thõng xuống.

- Kìa, cậu còn sống đấy à? - trông thấy anh, Phê-đô kêu lên ngạc nhiên.

- Còn sống. An-phi-xa đã kịp đem đi trốn.

- Các cậu trốn ở đâu?

- Trong rừng… khắp nơi. Rồi An-phi-xa nói: «Anh Ki-ri-an, anh đến đội du kích đi». Thế là tôi đến. Cru-gi-lin không nói gì, nhận ngay.

- Thế An-phi-xa ở đâu? Sao cậu không đưa đi theo?

- Chẳng sao cả. Cô ta đi bây giờ còn chưa tiện.

- Chưa tiện? Có thai à? Với cậu chắc, đồ nhãi ranh còn thò lò mũi?

- Cái ấy thì còn chưa biết, với tôi hay với anh... Cái chính là ở chỗ đó,

Chính cái «còn chưa biết» này đã làm cho Phê-đô chưa muốn tổ chức cưới An-na.

Đến mùa xuân có tin báo vào đội, rằng An-phi-xa hồi mùa đông đã sinh con ở một làng nào đó. Đứa bé chết từ trong bụng mẹ, còn An-phi-xa thiếu chút nữa cũng không sống nổi. Khi biết An-phi-xa qua khỏi, mặt Ki-ri-an rạng rỡ hẳn ra, còn Phê-đô quyết định sẽ cưới An-na. Nhưng vừa lúc đó lại bắt đầu thời kỳ mà không thể nào nghĩ đến chuyện cưới xin được. Từ Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ, một trung đoàn bạch vệ của đại tá Du-bốp được phái đến với nhiệm vụ đặc biệt: tiêu diệt đội du kích của Cru-gi-lin.

Mãi đến tháng Mười Một năm 1919, khi tuyết đã bắt đầu rơi, đám cưới mới được tổ chức ở trong một làng tai-ga lớn Mắc-xi-u-tô-vô. Nếu không phải là đàng hoàng, sang trọng thì nó cũng khá ồn ào, vui nhộn, nhưng kéo dài không lâu, tất cả chỉ trong vòng một ngày. Toán phỉ của Cáp-ta-nốp đã bị đánh tan, nhưng thị trấn San-ta-ra vẫn còn nằm trong tay bọn Côn-tsắc. Tàn quân của các toán phỉ bạch vệ đều tụ tập về đây, và theo tin tức của I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, người mà chuyện gì cũng biết, ở đó chúng đang gấp rút thành lập một đội quân tiễu phạt mới. Bất kỳ giờ phút nào cũng phải đề phòng chúng ập đến.

Đám cưới rất vui nhộn - có cả xe ngựa tam mã, đàn gió, hò hát, nhảy múa. Cả Cru-gi-lin cũng nhớ lại thời trẻ, nhảy một điệu «Nga - Di-gan» - như anh giới thiệu - đến nỗi sàn nhà bằng gỗ thiếu chút nữa thì gãy kêu răng rắc. Nhưng dù sao, Phê-đô vẫn cảm thấy lờ mờ rằng trong đám cưới này vẫn có một cái gì khang khác, không ổn: hay là không đủ vui, hay là ngược lại, có hơi quá đà một ít, hay là đám cưới này anh tổ chức quá sớm, nghĩ còn chưa kỹ, hay là ngược lại, đã quá muộn. Trong đám cưới của anh với An-na như có một cái gì vừa thừa, vừa thiếu, dường như toàn bộ sự vui vẻ đã bị tước mất phần linh hồn, chỉ còn lại những âm thanh, rượu vang và rượu ngang bị lấy mất niềm vui ngây ngất, chỉ còn lại cái men cay nồng nặc. Có thể, tất cả sẽ khác đi nếu người ngồi bên cạnh anh không phải An-na mà là An-phi-xa? Không, không phải như thế. Đã từ lâu anh không gặp An-phi-xa, và anh cảm thấy thản nhiên trước việc đã có một thời gian nào đó An-phi-xa sống với Ki-ri-an, và gặp dịp, họ thường gửi lời thăm hỏi cho nhau.

Phê-đô rùng mình, rồi cả người anh nóng bừng lên khi tình cờ nghe tiếng thì thào của hai bà già nào đó nói với nhau:

- Lạy Chúa, cái gì thế này? Đúng là loạn, là loạn... Cha thì bị thằng em bắn chết, còn con gái lại đi lấy anh kẻ đã giết cha mình...

- Đúng là loạn, bà láng giềng ạ, loạn!

- Đấy, xem kìa, không dám ngẩng mặt lên. Chắc phải xấu hổ lắm.

- Đúng là xấu hổ, làm sao lại không xấu hổ được, hả bà?..

Anh nghe thây tiếng thì thào đó, và đầu bốc lên như một thùng nước sôi. Ôi, tất cả sẽ bình thường, đầy đủ - sẽ có cả niềm vui ngây ngất trong cốc rượu cưới, sẽ có cả linh hồn trong tiếng nhạc, nếu Cáp-ta-nốp gả con gái cho anh như trước đây anh hằng mơ ước, nếu như ông ta, cha của An-na, vẫn ngồi bên cạnh anh đây, mặt đỏ bừng, say sưa và sung sướng... Nhưng Cáp-ta-nốp Mi-khai-in Lu-kích không còn và sẽ không bao giờ còn nữa... Và gia tài giàu có của ông ta cũng đã mất. Thế thì anh, Phê-đô, đã đạt được cái gì? Thế thì sự vui vẻ này, cái đám cưới này là để làm gì? Anh rùng mình, vì anh sợ những ý nghĩ đó, sợ cả chính bản thân mình. «Mình còn nghĩ về chuyện gì nữa?! Sau tất cả... tất cả những gì đã và đang xảy ra trên thế giới này?!» Anh liên tiếp uống cạn liền hai cốc rượu ngang cực mạnh, để vĩnh viễn xua đuổi, dập tắt những ý nghĩ trên, để quên đi tất cả.

Và anh đã quên. Anh tỉnh lại khi hiểu ra rằng An-na sau bao nhiêu năm không cho phép anh động đến, hóa ra đã mất trinh.

- Ai đã... thử cô? I-van à?

- Không, không! Anh Phê-đô thân yêu, không!

- Thế thì ai?

- Em không có tội, anh Phê-đô. Em không thể nói được. Nhưng em trung thành với anh. Nghìn lần anh sẽ thấy là em trung thành. Em sẽ xứng đáng với sự tha thứ của anh, em nguyện là miếng vải lót giày cho anh, em sẽ sẵn sàng chết vì dù là một sợi tóc của anh! Anh còn chưa biết em yêu anh đến chừng nào đâu! Nhưng anh đừng hỏi, anh Phê-đô, anh hãy quên đi nhé?

- ...Xa-vê-li-ép Phê-đô! Anh ngủ đấy à? Phê-đô Xi-lan-chi-ê-vích?

Người gọi ông là Gô-lô-va-nốp, trưởng phòng công tác chính trị vừa mới được thành lập mùa thu năm ngoái của trạm máy kéo. Ông là thương binh mới từ ngoài mặt trận về, hãy còn phải chống nạng. Tính tình vui vẻ, cởi mở, mặc dù bề ngoài, ông có một cái gì đó giống A-lây-nhi-cốp. Cặp nạng của ông dựa vào tường chiếc bục gỗ cạnh đoàn chủ tịch.

- Không, không ngủ. Chỉ có hơi mệt.

- Đấy, mọi người không tin rằng anh có thể gặt được hai nghìn rưởi héc-ta lúa.

- Mặc họ. Còn tôi sẽ gặt được, nếu như cho tôi bộ hái loại nhãn hiệu «Xta-lin». Trong báo viết rằng mùa thu năm ngoái ở trạm máy kéo bên cạnh một người, bằng bộ hái như vậy, đã gặt được hai nghìn hai trăm héc-ta. Còn tôi sẽ gặt đủ hai nghìn năm trăm, nếu như cỗ máy liên hợp không phải đồ vứt đi như của tôi năm ngoái...

Phê-đô nói, nhưng những lời của An-na vẫn gõ trống nhức nhối trong đầu:

«Còn việc toàn bộ gia tài của cha tôi chỉ còn lại khói đen - chính việc này suốt đời đã gặm mòn anh».

Gặm mòn à? Không đâu, cô nói láo rồi, An-na ạ! Cô thông minh lắm, có thể trước đó tất cả đều nói đúng, nhưng ở đây cô nói láo rồi. Thực ra, lúc đầu chính vì cái đó mà tôi muốn lấy cô. Và trong đám cưới cũng có thoáng tiếc rằng mọi việc lại không được như vậy, như mong muốn trước kia. Nhưng sau này, tiếc những cái đó phỏng còn được ích lợi gì? Sự nuối tiếc không thể đảo ngược lại được, không thể mang lại cái gì cả. Cô nói láo, nói láo, nói láo!

Phê-đô có cảm tưởng như những lời cuối cùng ông hét to lên thành tiếng. Ông hoảng hốt nhảy chồm dậy, lấy bàn tay lau trán đẫm mồ hôi.

- Anh sao thế, Phê-đô Xi-lan-chi-ê-vích? - Gô-lô-va-nốp liền lên tiếng hỏi. - Anh ốm thật đấy à?

Phê-đồ trông thấy đôi mắt lo lắng của ông và của Cru-gi-lin.

- Không, không sao... Chỉ có hơi chóng mặt. Tôi muốn về nhà... nếu các anh cho phép.

Và không đợi trả lời, ông bước ra cửa.

Cạnh thềm, mọi người đi theo ra vây lấy ông. Cru-gi-lin ra lệnh chở Phê-đô về nhà trên chiếc xe ngựa của mình. Một người nào đó cũng lên tiếng nhận đưa ông về. Phê-đô từ chối tất cả, nói rằng sẽ tự mình đi về nhà. Rồi, tách khỏi đám đông, ông bước ra cổng trạm máy kéo.

* * *

Phê-đô chậm chạp bước dọc theo con đường làng tối đen, vắng vẻ, thỉnh thoảng lấy bàn tay lau mồ hôi rịn ra trên trán nóng bỏng, và không vui nghĩ rằng cả ở đây An-na, cái con mụ phù thủy ấy, cũng nói đúng. Đúng, đúng, ông tiếc tất cả! Tiếc rằng Cáp-ta-nốp chết quá sớm, rằng cả gia tài của hắn ta chỉ còn lại một đám khói đen. Đúng, cái đó đã gặm nhấm cả đời ông như sâu gặm đục thân cây, như giọt nước bào mòn tảng đá. Gặm nhấm, bào mòn những chỗ nhức nhối nhất trong lòng ông...

Trong những năm đầu tiên sau khi cưới nhau, Phê-đô không thú nhận điều này với cả chính mình. Thì đã sao- anh nghĩ - việc không thành và không thể thành được như anh mơ ước, vì rằng cả cuộc đời, cả thế giới đã đảo điên, lộn nhào từ trên xuống dưới.

Sau nội chiến, anh về làm ruộng chừng một năm ở làng Mi-khai-lốp-ca. Mùa xuân năm 1921 gieo một ít lúa mạch đen, hè đến anh thường hay ra thăm mảnh ruộng bé tí xíu của mình, ngồi lên mép gốc bạch dương đầu bờ, nhìn những bông lúa ngả nghiêng trước gió, mải mê theo đuổi những ý nghĩ nào đó, cảm thấy trong lòng se lại như bị ai túm chặt lấy tim bóp mạnh. Anh nhớ lại những cánh đồng lúa mạch bát ngát của Cáp-ta-nốp, những nhà kho, chuồng trại ở Ô-gơ-nhép-xki. Bây giờ ở đó, trên bờ hồ, chỉ còn lại một đống thanh củi cháy đen...

Tất cả đã cháy rụi - cả chuồng trại, cả nhà kho, và cả chính lão Cáp-ta-nốp. Tất cả đã biến thành một đống tro bụi. Thế thì còn gì để mà tiếc? Và chính anh, Phê-đô, chỉ thiếu chút nữa thì cũng cháy thành than trong cơn lốc máu lửa này, may sao, nhờ một sự diệu kỳ nào đó mà sống sót...

Một lần, khi anh đang ngồi như thế cạnh mảnh ruộng nhà mình, An-phi-xa đi đến bên không một tiếng động. Cô đã lấy Ki-ri-an một năm sau đám cưới của Phê-đô, sống cùng chồng trong ngôi nhà của gia đình I-nhi-u-chin còn sót lại. Hai vợ chồng Ki-ri-an cũng gieo một ít lúa mạch ở cạnh ruộng Phê-đô. Hai nhà cày và gieo cùng một lúc, hàng ngày trông thấy nhau nhưng chỉ chào hỏi nhau một cách lạnh nhạt, như những người xa lạ.

An-phi-xa đến cạnh Phê-đô và đứng lại im lặng.

- Cô cần gì? - Phê-đô hỏi, vẻ không bằng lòng.

- Không cần gì cả. Chỉ muốn đứng gần nhìn anh một tí.

- Chán nhìn chồng rồi à?

- Chồng không phải thỏ rừng, chẳng chạy đi đâu mất.

Phê-đô đứng lên. An-phi-xa, người cân đối, khỏe mạnh, đứng khoanh đôi cánh tay tròn trặn trước ngực. Trong đôi mắt đen thẫm của cô, ánh lên một tia cầu khẩn, dường như cô hiểu Phê-đô đang nghĩ gì. Ánh mắt của An-phi-xa làm cho Phê-đô động lòng. Anh cáu kỉnh hỏi:

- Cô cần gì, tôi hỏi?

- Em đến nhìn xem anh có hạnh phúc không? Anh có yêu cô ta... An-na không?

- Không yêu thì đã không cưới làm vợ.

- Không đâu, - cô lắc đầu. - Không... -An-phi-xa đứng bẻ những ngón tay của mình như muốn dứt đứt chúng ra. Và, lảo đảo ngả vào ngực Phê-đô, cô thì thào qua nước mắt: - Chúng ta đã làm nên chuyện gì! Sao chúng ta lại làm như vậy!

Tiếng thì thầm của An-phi-xa, cặp mắt đầy nước mắt và đôi vai run run của cô đã làm cho Phê-đô xúc động. Anh vuốt vai cô và nói, giọng trầm hẳn xuống:

- Không sao, không sao...!

Rồi, không nói thêm một lời nào, hai người cùng đi vào cánh rừng bạch dương.

Họ trở ra khi trời đã về chiều. Mặt trời, lặn khuất xuống sau núi, nhuốm màu đỏ thẫm lên những đám mây lơ lửng cuối chân trời.

- Số phận chúng ta như thế đấy, biết làm sao, - An-phi-xa buồn rầu nói với anh. - Có lẽ đến chết em vẫn còn yêu anh... Dù hiếm hoi những phút gặp nhau, anh vẫn là của em. Chỉ có điều... em sẽ đẻ con với chồng em, với Ki-ri-an. Trong việc này thì em sẽ không lừa dối anh ấy. Em không thể, mà cũng không nên...

...Vừa nhớ lại tất cả những cái đó, Phê-đô vừa đi dọc theo con đường làng tối tăm, lạnh lẽo và vắng vẻ, tiếng tuyết kêu rít ken két dưới chân, làm ông khó chịu nhăn mặt lại. Trời rét hanh, nên tuyết càng kêu to.

Cảm tưởng chóng mặt thật sự, Phê-đô dừng lại, vịn tay vào cột điện bên đường. Tiếng tuyết dưới chân lập tức im bặt. Nhưng Phê-đô cảm thấy đây không phải tiếng tuyết kêu rít, mà là tiếng An-na, vợ ông, đang rít lên hỏi ông một điều gì đó, yêu cầu phải trả lời ngay. Ông bỏ tay ra khỏi cột, bước đi tiếp. Và theo nhịp chân, ông nghe rõ từng từ một: «Như thế thì anh sống để làm gì? Như thế thì-anh-sống-để làm gì?»

Tiếng rít đó thật kinh khủng, nó xoáy vào tai, làm cho đầu nóng bừng lên. Để khỏi phải nghe thấy nó, Phê-đô đứng dừng lại. Nhưng vô hiệu. Tiếng rít đó vẫn xoáy vào hai bên thái dương một cách không thương tiếc: «Sống-để-làm-gì? Sống-để-làm-gì?»

Bỗng nhiên Phê-đô kinh hoàng nghĩ rằng cái tiếng rít, cái giọng nói này sẽ không bao giờ chấm dứt. Ông, Phê-đô, cho đến ngày hôm nay, vẫn dửng dưng đối với tất cả, vẫn như sống trong một giấc mơ trống rỗng nào đó. Nhưng hình như ông vừa tỉnh dậy, An-na đã đánh thức ông bằng câu hỏi của mình. Lúc đầu ông cho đó là câu hỏi vô nghĩa, nhưng bây giờ nó không để cho ông yên, thậm chí nó vang lên cả trong tiếng lạo xạo của tuyết dưới bước chân...

Phê-đô nhắm mắt, rảo bước nhanh, gần như chạy, về nhà. Nhưng chỉ được mấy bước, sợ vấp phải cột điện hay cành cây, ông lại mở mắt ra. Nhưng ông vẫn không trông thấy gì cả, xung quanh ông là bóng tối, đen như mực...

* * *

Mặt trời tháng Sáu như đổ lửa, những bông dương hoa bay lấp loáng trong nắng khô, oi bức, kết thành từng túm trôi trên con đường cái chạy từ làng ra nhà ga, những bông hoa ngưu bàng bám đầy bụi bẩn cũng phủ đầy các mương rãnh hai ven đường.

Nhưng Na-ta-sa không cảm thấy sự ngột ngạt của nắng hè, không trông thấy những bông dương hoa bay trắng trời như tuyết, cô đi dọc theo con đường trải nhựa nóng bỏng, mắt đờ đẫn nhìn xuống dưới chân. An-na đi bên cạnh, thỉnh thoảng lại đưa khăn tay lên chấm nước mắt.

- Mẹ ơi, đừng khóc nữa, - Na-ta-sa khuyên An-na, nhưng chính mình lại thút thít. Lời một bài hát cô nghe được cách đây không lâu trong một đêm liên hoan văn nghệ tại câu lạc bộ cứ vang mãi bên tai, như cứa vào lòng:

...Khi quân thù động đến đất nước ta,

Một ngọn gió nước Nga cũng thành sức mạnh,

Và những chàng trai tuổi hai mươi ra trận

Sôi sục quyết tâm diệt hết quân thù.

Và hôm nay trong buổi tiễn đưa.

Sẽ nói gì với anh, người vợ trẻ?

Người vợ trẻ gục vai anh nức nở;

Em chờ anh, em sẽ chờ anh...

Na-ta-sa hiểu và bao giờ cũng nhớ rất rõ rằng mùa xuân hay mùa hè tới, Xê-mi-ôn sẽ đi ra trận, nhưng cô bao giờ cũng hình dung ra việc đó còn xa xôi lắm, hầu như không thể xảy ra được. Điều này có lẽ là vì ngay trong cái đêm ấy, khi cô trở thành đàn bà và vợ của Xê-mi-ôn, cái khái niệm về thế giới và về những gì xảy ra trong thế giới đó đã bị đảo lộn - không biết là lần thứ mấy. Trong đêm hôm đó, cô chỉ còn nhớ lại một vài khoảnh khắc. Câu hỏi của bà A-cu-li-na: «Giải giường cho các cháu thế nào đây? Chung hay riêng?», câu trả lời của Xê-mi-ôn: «Chung». Rồi lại giọng nói của bà già: «Lạy Chúa, lạy Chúa...» Sau đó là bước chân của Xê-mi-ôn đi lại trong phòng khi cô đã lên giường nằm, xấu hổ rúc sâu đầu vào trong chăn, nghe khắp người ngây ngất một cảm giác chờ đợi ngọt ngào, nhẫn nhục. Và cuối cùng là bàn tay của anh, cặp đùi của anh, cả tấm thân của anh - nóng hổi, khỏe mạnh, mới lạ, mà cô vừa cảm thấy sờ sợ, vừa ghì chặt ôm ấp, một sự lâng lâng ngây ngất đầy hạnh phúc bao trùm toàn thân...

Và sau đó mấy ngày đêm liên tiếp cùng vẫn sự lâng lâng ngây ngất đến tột cùng, sự ngơ ngác, ngạc nhiên và xấu hổ. Trước mặt cô thỉnh thoảng, như ở một nơi nào xa lắm, thấp thoáng, những khuôn mặt của bà già A-cu-li-na, Ma-ri-a Ô-gô-rốt-nhi-cô-va, mẹ của Xê-mi-ôn. Mọi người nói với cô những câu gì đó, nhưng cô không thể nào phân biệt được các từ nữa.

- Mẹ muốn con trai của mẹ lấy vợ không phải như thế này. Cần phải tổ chức đám cưới... dù nhỏ, - cuối cùng cô nghe rõ ràng giọng nói của An-na.

- Ôi, đừng, không cần đâu...

- Và cũng không nên. Vừa rồi gia đình bác ruột lại có tai nạn như vậy! Rồi Ma-ca cũng sắp bị đưa ra tòa. Tất cả cứ quay cuồng.

Những lời đó làm cho Na-ta-sa thêm bối rối, cô càng thấy mình có lỗi vì cái đêm hôm đó, vì cái hạnh phúc của mình mà cô bỗng cảm thấy ngay trong phút giây ấy, khi như có một cánh cửa vô hình mở ra ở một nơi nào đó rất sâu trong tâm hồn cô, và từ đó dâng lên một dòng men say ngây ngất, cô chưa hề biết đến, nó tràn ngập khắp người cô, che mờ cả ý thức.

- Con hiểu, - cô nói một cách rời rạc, không suy nghĩ - Con đã nói với mẹ là con yêu anh ấy... Cứ mặc cho tất cả quay cuồng, cứ mặc cho mọi người xét xử... Và bác An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích mất đi... Nhưng con không thể! Đấy, muốn làm gì con thì làm...

- Con chưa hiểu mẹ, Na-ta-sa ạ, - An-na ghì chặt đầu cô vào bộ ngực nóng hổi của mình. - Mẹ có trách các con đâu? Mẹ rất mừng rằng các con… Mẹ chỉ nói rằng lúc này không tổ chức đám cưới được, không nên...

- Điều đó thì có ý nghĩa gì? Có ý nghĩa gì?

Tất cả trên đời này đối với cô lại một lần nữa bị đảo lộn, và tất cả đều vô nghĩa - một đám cưới nào đó, một gã Ma-ca nào đó, cả cái sự kiện bi thảm ở nhà máy mà dường như xảy ra đã lâu, lâu lắm, cả cuộc chiến tranh đang diễn ra ở một nơi nào đó, cả việc Xê-mi-ôn sắp phải đi ra trận cũng đều vô nghĩa. Anh cần phải đi, nhưng anh không đi, vì rằng bây giờ cô vẫn đang cảm thấy đây là tay của anh, đây là cả người anh...

- Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn! - đêm đêm cô thì thào, ghì chặt lấy người anh.

- Gì thế em?

- Em là của anh! Anh có cảm thấy rằng em là của anh không?

- Em hỏi sao kỳ vậy... Tất nhiên là có.

Có Xê-mi-ôn, có mặt trời rực rỡ và tuyết trắng tinh lấp lánh. Rồi sau đó - có những con suối mùa xuân và những hồ nước nhỏ cũng lấp lánh ánh mặt trời, có mặt đất ẩm ướt với mùi hương hăng hắc, và cuối cùng là sông nước Grô-mô-tu-kha trong vắt, còn buốt lạnh khi họ cùng nhau xuống tắm lần đầu tiên.

Cuối tháng Năm, nước sông đã bắt đầu ấm. Ngày chủ nhật mồng một tháng Sáu, hai người đi ra sau làng, bơi sang hòn đảo nhỏ. Nằm trên bờ cát nóng, Na-ta-sa bỗng cảm thấy buồn nôn.

Đã mấy ngày nay Na-ta-sa cảm thấy có một cái gì bí ẩn, không giải thích nổi đang xảy ra với mình. Cô ngạc nhiên, lắng nghe. Bà A-cu-li-na là người đầu tiên nhận thấy trạng thái đó của cô, Sau khi hỏi vài câu, bà mỉm cười:

- Lạy Chúa tôi. Già sẽ làm bảo mẫu cho. Đây là trời mang lại cho già niềm vui trước khi nằm xuống mộ.

- Không, không đâu... Có thể không phải đâu... - Na-ta-sa nói. Và không hiểu sao, cô tiếp: - Nhưng bà khoan nói với anh Xê-mi-ôn nhé.

- Cũng có thể không phải, -bà già nói với cô. - Nhưng nếu cháu buồn nôn thì đích thị đúng rồi, lạy Chúa. Cháu chờ xem.

Cô chờ, và đấy. Hơi thở của cô bỗng như dừng lại, mặt tái mét, vì rằng trong đầu, không hiểu từ đâu, vang lên rành rọt: «Nhưng anh ấy sắp đi ra mặt trận! Anh ấy sắp bỏ mình đi!»

Đúng vào hôm trước ngày hôm đó, Xê-mi-ôn lại đến phòng quân vụ; anh trở về với vẻ mặt tập trung căng thẳng, nói rằng sau hai tuần nữa người ta sẽ gọi anh. Nhưng dù sao việc anh ra trận đối với Na-ta-sa vẫn còn rất xa, chưa hiện thực. Và chỉ vào đúng cái lúc cô buồn nôn, tấm màn đen trước đây che phủ mắt cô, giờ bỗng biến mất, ý thức được rọi sáng, và cô lập tức hiểu một cách hết sức rõ ràng rằng chỉ sau mấy ngày nữa Xê-mi-ôn sẽ không còn bên cạnh, rằng một sức mạnh nghiệt ngã nào đó sẽ tước mất chồng của cô đem đi.

- Không, không! - cô ôm lấy vai anh, hét vang khắp hòn đảo nhỏ.

- Em làm sao thế? - Xê-mi-ôn ngồi nhỏm dậy trên cát.

- Em không muốn cho anh đi! Em không thể! Không cần... -Hai tay cô, cả người cô run lên. Những hạt cát dính vào ngực, vào bụng, vào đôi chân đầy đặn đã bắt đầu rám nắng, lả tả rơi xuống đất. - Đấy, anh I-u-ri không đi...

Xê-mi-ôn nhìn Na-ta-sa bằng đôi mắt dịu dàng như ngày thường, chỉ có trong ánh mắt của anh thoáng lộ ra một vẻ không hẳn là tò mò, không hẳn là ngạc nhiên, dường như anh vừa thấy ở Na-ta-sa có một cái gì đó mà trước đây chưa thấy. Và cô, bằng linh cảm, hiểu ý nghĩa của cái nhìn đó, rùng mình, né người sang bên.

- Em ngu ngốc lắm, phải không? Mặc! -cô bướng bỉnh nói. -Nhưng em không muốn!

- Đừng nói thế, - Xê-mi-ôn bảo khẽ

- Nhưng, em... em yêu anh. Và em sợ.

- Và anh cũng sợ, - anh nói, dường như đang thú nhận một điều gì đó sâu kín. -Và I-u-ri không đi... Nhưng anh - cần phải đi.

Giọng nói và lời của anh làm cho Na-ta-sa kinh ngạc, bởi cái ý nghĩa sâu sắc bên trong của nó, nhưng đó là cái gì - cô còn chưa kịp hiểu.

- Tại sao? - cô hỏi, mắt nhìn anh không chớp. -Tại sao anh lại cần phải đi? Anh nói đi.

- Em hỏi gì vậy? Đấy, anh muốn tự tay mình đánh bọn phát-xít, đuổi chúng ra khỏi đất nước chúng ta. Chẳng lẽ em không hiểu à?

- Em hiểu. Nhưng đó... nói như vậy quá đơn giản. Còn có một cái gì... cơ bản nhất kia.

Anh im lặng một lát, trán nhăn lại như thể không bằng lòng.

- Có lẽ có, nhưng anh không thể nói ra được, anh không biết.

Na-ta-sa bỗng nhớ lại, anh nhiều lần đã nói với cô rằng anh không biết tại sao lúc đó lại chạy đến bên trạm biến thế. Và đột nhiên - điều này xảy ra đúng là rất bất ngờ - như có một luồng ánh sáng rực rỡ rọi sáng ý thức cô, và cuối cùng cô đã thấy, một cách hết sức rõ ràng, câu trả lời cho câu hỏi: những nguồn gốc chân lý của cuộc sống trong mỗi một con người mà Xu-bô-tin đã nói đến hôm ở bên mộ của giám đốc nhà máy là cái gì. Cô đã thấy được câu trả lời mà bao lâu nay cô dằn vặt đi tìm. Đó chính là cái sức mạnh, Na-ta-sa nghĩ, mà lúc đó đã thúc đẩy Xê-mi-ôn và giám đốc nhà máy xông vào lửa cứu Nhê-tsa-ép, và sau đó - xông đến trạm biến thế, là cái sức mạnh giờ lại đang kêu gọi Xê-mi-ôn ra mặt trận... Vâng, đúng, vâng, đúng, đấy chính là cái sức mạnh vĩ đại và bí ẩn, vĩnh cửu và vô địch sống trong con người, cái sức mạnh đó trong những phút giây khó khăn, nguy kịch nhất bắt con người phải hướng cái mặt mạnh mẽ nhất, cao thượng nhất, công bằng nhất của mình đến với cuộc sống.

Tất cả những cái đó vụt thoáng lên trong đầu cô trong một khoảnh khắc, và Na-ta-sa nói khe khẽ, nhưng tự tin:

- Không, anh biết.

Anh phá ra cười, xô cô ngã xuống cát, và cả hai cùng lăn xuống nước.

Rồi họ lại nằm trên bờ, dưới ánh mặt trời ấm nóng. Xê-mi-ôn nhìn ra giữa sông. Ở đó, trên một bãi nông, những luồng nước mạnh uốn cong, réo sôi, lấp lánh: dưới ánh mặt trời, rồi trôi xuôi về một nơi nào đó; còn ở đây, gần bờ, mặt nước lặng lẽ, những con sóng màu xanh trong vắt khẽ róc rách trườn lên bờ cát ẩm.

- Anh biết cái gì, Na-ta-sa? Anh chẳng biết gì cả, - anh trầm ngâm nói. - Anh chỉ biết rõ một điều là anh phải có mặt ở ngoài đó.

Anh im lặng, đôi mắt anh sáng lên lấp lánh, dường như anh thấy trước mặt mình một cái gì đó mới lạ, vừa gây nên nỗi lo ngại, vừa gợi nên sự tò mò.

Một con chim dẽ giun bay đến đậu xuống bờ cát ẩm ngay cạnh mép nước và thong thả đi đi lại lại trên đôi chân cao kều. Trên trời, mấy đám mây nhỏ bất động, nhưng bóng của chúng vẫn trườn trên mặt đất. Và khi bóng đen của một đám mây nào đó bò đến cạnh con chim dẽ giun, nó tránh ra xa, nhưng bóng mây lại đuổi kịp, và dường như không muốn để bóng đen trườn lên mình, con chim liền nhảy lên và bay sang chỗ nắng sáng sủa khác. Xê-mi-ôn thoáng mỉm cười.

- Em thử nghĩ về điều này mà xem, - Xê-mi-ôn nói khẽ. - ông của anh, Mi-khai-in Lu-kích Cáp-ta-nốp, là ai? Mọi người còn nhớ... Cũng có thể có người đã quên, nhưng con trai ông ta, Ma-ca, vẫn còn sống... Và cha của anh, em thấy đấy, là người như thế nào? Em hãy thử nghĩ và em hiểu, vì sao anh phải đi. Mẹ đã hiểu, mẹ khóc nhưng bảo: «Con đi đi, cần phải thế, con ạ...»

- Nhưng không phải vì thế, - Na-ta-sa khẽ lắc mái đầu ướt. Nghĩ một lát, cô chữa lại: - Không chỉ vì có thế.

Ánh mắt Xê-mi-ôn giờ đang nhìn lên những sườn núi xanh ngắt dốc đứng của dãy Dve-nhi-gô-ra, những tảng đá hoa cương lấp lánh. Một bóng mây bay tới, vấp vào chúng, bị xé toạc ra và từng mảnh, từng mảnh một theo nhau trườn xuống thấp.

- Đúng, không chỉ vì... - Xê-mi-ôn lặp lại, bốc một nắm cát lên lắc lắc trong tay. Rồi anh nằm ngửa người ra trên cát. Mặt trời bị lấp sau một đám mây trắng không dày lắm, những tia nắng vẫn đủ sức xuyên qua. Ở giữa đám mây là màu hồng thanh thiên, xung quanh mép nóng chảy thành màu lửa đỏ thẫm, và từ đám mây phóng ra bốn phía những tia màu hổ phách. - Hay còn vì đám mây kia rực rỡ trên bầu trời? Hay còn vì bác An-tôn đã hy sinh như vậy? Hay còn vì anh đã gặp em và yêu em? Vì thế, phải không? Đó chính là những lời giải thích hoa mĩ...

Lời của anh mỗi lúc một gay gắt hơn. Anh ngồi nhỏm dậy và nhíu đôi lông mày màu sáng nhạt nhìn cô.

- Anh nói gì... lạ vậy, - cô nói, cố sức để hiểu anh. - Sao anh lại cáu thế?

- Anh xin lỗi em, - anh nói vẻ hối hận. - Nhưng em đừng hỏi anh những gì anh không giải thích nổi. Thế cũng đã hiểu rồi.

- Em sẽ không thế nữa. Giờ em sẽ không thế nữa, - cô nói, nhưng đầu vẫn theo đuổi những ý nghĩ của mình.

Và như thế trong ngày hôm đó cô vẫn chưa nói với anh về một cuộc sống mới đã nảy sinh ra trong cô. Cả những ngày hôm sau cô cũng không nói, sợ làm cho Xê-mi-ôn phải thêm lo lắng và đau khổ, vì rằng không có nó Xê-mi-ôn cũng đang ở trong một trạng thái thần kinh căng thắng. Ngày lên đường đã rõ - 14 tháng Sáu, Xê-mi-ôn khi thì chạy đến nhà máy - mặc dù anh đã thôi việc, khi thì về nhà với mẹ, khi thì, không biết có việc gì, lại đến phòng quân vụ. Nhưng phần lớn thời gian anh ở bên cạnh Na-ta-sa, nhìn cô khi âu yếm, khi trầm ngâm, khi buồn buồn. Đêm đêm, cho đến tận sáng, hai người đi lang thang trên các đường làng, giữa các gò đồng, bụi cây quanh làng, dọc theo bờ con sông Grô-mô-tu-kha đẫm ánh trăng.

- Mọi việc của chúng ta như vậy đấy... Anh biết rằng cái ngày đó sẽ đến rất nhanh, và anh không muốn... Anh muốn để em được tự do. Bởi vì tất cả... đều có thể xảy ra với anh ngoài mặt trận... Nhưng anh yêu em, - Xê-mi-ôn nói với cô một cách ấp úng, lộn xộn vào những đêm cuối cùng ngắn ngủi của tháng Sáu.

- Anh không muốn… Nhưng lúc đó ai sẽ cho em tất cả những cái này... tất cả những gì chúng ta có? Và sẽ không có chuyện gì xảy ra cả... Không gì có thể... - đôi môi cô nóng hổi, khẽ thì thào giữa những chiếc hôn. Người cô bị đôi tay anh vò nát, đau nhức, nhưng cô vẫn còn muốn được anh ôm, được anh ghì thật chặt.

- Bây giờ em sẽ ở lại một mình, - anh nói, như chờ đợi một cái gì.

«Không, em có hai mẹ con!» - cô đã suýt kêu lên, nhưng kìm lại được. Cô muốn nói với anh điều này lúc từ biệt, trong phút cuối cùng, để anh ra đi chỉ với một suy nghĩ về điều đó.

Đêm 14 tháng Sáu, những người tình nguyện ra trận tập trung ở phòng quân vụ huyện, khi thì tập hợp thành hàng trong sân, khi thì được chở đi đâu đó, Na-ta-sa và An-na suốt đêm đứng đợi ở hàng rào cạnh cổng phòng quân vụ, đến sáng mới đi về nhà. Na-ta-sa nằm xuống giường cũ của mình, cạnh Gan-na. Trời vừa sáng, An-đrây đã chạy về lay cô dậy:

- Đi ra ga rồi. Đi thành hàng! Đi đầu là một ông thiếu tá! Anh Xê-mi-ôn bảo về gọi mọi người ra ga. Anh ấy bảo đi nhanh lên...

Và giờ cô đang đi ra ga, đôi mắt đờ đẫn nhìn xuống chân. Bài hát về những ngọn gió nước Nga vẫn vang lên không ngớt, An-na bên cạnh vừa đi vừa khóc thút thít. Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, Đi-ma, An-đrây, Gan-na và cha của Xê-mi-ôn im lặng đi phía sau. Na-ta-sa đã nghĩ rằng ông sẽ không đi tiễn con, bởi vì lúc nãy nghe những lời của An-đrây về báo tin, ông quát: «Biết rồi, im đi!» Nhưng rồi ông cũng đi cùng mọi người, lưng còng xuống, chân kéo lê, mắt không nhìn ra hai bên đường...

Một đám, không hiểu là mây xám hay là khói đầu máy tụ lại, treo lơ lửng trên nhà ga, Càng gần đến ga, đường càng chật: người đi bộ, xe ngựa chen nhau. Cạnh con đường sắt ngoài cùng, mọi người tụ tập lại đông như một cái chợ: khăn áo sặc sỡ đủ màu, mũ, nón đủ kiểu. Từ đám đông đứng kéo dài dọc đoàn tàu gồm những toa hàng được sưởi ấm để chở người vọng đến tiếng ồn ào huyên náo, rổi sau bắt đầu nghe rõ tiếng phụ nữ kêu khóc, tiếng cười, tiếng đàn gió rè rè, vội vã.

- Nhanh lên, không kịp bây giờ! - Na-ta-sa kêu lên và định chạy đi, nhưng An-na bỗng thở dốc lên, dừng lại.

- Không sao, không sao, mẹ đi ngay bây giờ... - và An-na lại đi tiếp, bước nhanh hơn.

Còn một trăm mét nữa thì đến đường tàu, con đường nhựa rẽ ngoặt sang trái, về phía kho ga và khu tập thể công nhân. Ê-li-da-rốp mặc áo quần công an đứng ở chỗ ngoặt, và không hiểu để làm gì, quát:

- Sang phải, đi sang phải! Các ông các bà không thấy đoàn tàu đỗ ở đâu à?

- Chúng tôi muốn vào cửa hàng, - có người nào đó nài nỉ.

- Cửa hàng hôm nay đóng cửa! Hàng hóa vét hết từ lâu, còn trơ lại cái vỏ không!

Tiếng đàn gió vang lên ngay đâu đây bên cạnh Na-ta-sa, một giọng say rượu hét lên, át cả tiếng đàn:

Mẹ thân yêu tiễn con ra trận...

Na-ta-sa trông thấy ba thanh niên tóc cắt ngắn - một người cầm đàn gió, hai người kia mang ba-lô đồ đạc.

- Cô-ông a-an! - một người trong bọn họ dài giọng say rượu kêu to, nhảy tới ôm chầm lấy Ê-li-da-rốp. -Bạn thân mến của tôi, tạm biệt nhé!

- Vê-nhi-a-min đi ra trận đấy, hiểu chưa? - một anh khác túm lấy vai Ê-li-da-rốp lắc lắc, giải thích.

Còn anh thanh niên thứ ba vẫn gân cổ lên hát, tay bấm mạnh lên những phím đàn màu hồng nhạt.

Nếu mọi người đều hăng hái như con...

- Bỏ ra! Bỏ ra! - Ê-li-da-rốp giằng ra, quát. Chiếc mũ đội trên đầu hắn rơi xuống đất. - Các anh muốn gì nào?

- Sao thế? - một anh thanh niên hỏi. - Khô-ông, anh hãy nói cho mọi người biết rằng Vê-nhi-a-min đã đi ra trận đấy!

- Tôi sẽ nói, tôi sẽ nói, - Ê-li-da-rốp giận dữ hét, mặt đỏ bừng, đẫm mồ hôi. Hắn nhặt chiếc mũ từ dưới đất lên, giũ mạnh. - Đi ra chỗ xếp tàu đi!

Anh thanh niên kéo đàn gió bỗng đột ngột cắt ngang bài hát của mình, quay về phía các bạn, quát lớn:

- Im lặng! - và bước đến bên Ê-li-da-rốp. - Nói cho đúng ra... Súc vật người ta mới đuổi ra chỗ xếp tàu, còn chúng tôi là người! Chúng tôi ra chỗ lên tàu! Hiểu chưa? Đồ mặt thớt! - Và anh ấn mạnh chiếc mũ lưỡi trai xuống che cả mắt Ê-li-da-rốp.

- Đồ du côn! - Hắn hét lên, hai tay múa may. - Ê-li-da-rốp nhớ mặt mày... nếu như mày còn trở về đây!

Anh thanh niên, không để ý đến tiếng kêu của hắn, thong thả bước đến bên đoàn tàu.

- Thế cũng đòi làm bộ đội! - Ê-li-da-rốp giận dữ nói đuổi theo. - Với loại này thì có mà thắng Hít-le!

- Anh nói phải đấy, A-nhi-cây ạ, - một giọng nói khàn khàn vang lên ngay bên cạnh. Đó là một ông già như được tạc vội ra từ một gốc cây khô: lưng gù, vai nhọn, tay sân sùi, ngón cong queo, cổ dài, gầy, màu đồng hun. - Tôi còn nhớ, hai mươi năm về trước cũng không làm thế nào thắng được bọn Tiệp Khắc trắng và Côn-tsắc...

- A-a, Pan-crát Gri-gô-ri-ô-vích Na-da-rốp! - Ê-li-da-rốp rướn đôi lông mi dài đen lên. - Ông đi tiễn ai hay chỉ tò mò đến xem?

- Và đến bây giờ vẫn phải sống dưới ách của chúng, - ông già không trả lời câu hỏi, nói tiếp.

- Hê-hê... ông nói đùa đấy chứ?

- Đùa gì? Bộ đội lúc bấy giờ, vào thời kỳ ấy, cũng những kẻ vứt đi như vậy. Nhưng đã làm nên cả một cuộc cách mạng đấy.

- Ra thế! Ông cho Ê-li-da-rốp này là thằng ngu à?

Câu này Ê-li-da-rốp nói với theo, khi ông già với hai cánh tay sần sùi cong queo đã đi khuất. Trông thấy Na-ta-sa, hắn hoảng hốt nhìn quanh, bước sang một bên tránh đường cho cô. Đi qua được mấy bước, Na-ta-sa nghe hắn nói:

- A, anh Phê-đô đấy à? Chào anh. Anh vừa đi tiễn con, vừa đi tiễn em đấy à? Vâng, chiến tranh chứ đâu phải trò chơi, nó đòi phải...

- Còn em nào nữa? - cha của Xê-mi-ôn cáu kỉnh trả lời Ê-li-da-rốp, và giọng nói của ông bị chìm ngập trong tiếng kêu la, tiếng khóc của mọi người như một làn sóng nặng bỗng rộn lên chạy suốt từ đầu đến cuối đoàn tàu.

«Đã đi rồi! Đi rồi!» - Na-ta-sa giật mình như phải bỏng, cô vội vã chạy lách qua đám đông, kéo theo cả An-na.

- Đấy chỉ là đầu tàu thôi, chị Na-ta-sa ơi, đấy là người ta nối đầu tàu thôi! - An-đrây chạy bên cạnh lanh lảnh kêu to.

Đoàn tàu quả nhiên vẫn đang đứng yên tại chỗ, bên mỗi toa tàu, bên mỗi cánh cửa vuông màu đen giống như những chiếc hố sâu không đáy, người đứng ken đặc thành bức tường không thể len qua được. Na-ta-sa có cảm tưởng rằng cô không thể nào tìm thấy Xê-mi-ôn trong cái đám đông ồn ào hỗn độn này, rằng cô không kịp từ biệt anh, mà cô còn bao nhiêu điều cần nói.

- Anh ấy ở đâu? Anh ấy ở đâu? - cô hét to, tay vẫn không buông An-na.

- Ở đằng kia, ở cuối đoàn tàu, - Đi-ma từ phía cuối đoàn tàu chạy lại, nói, - cả anh Xê-mi-ôn, cả chú I-van.

Đầu tiên Na-ta-sa trông thấy I-van Xa-vê-li-ép đang đứng cạnh cánh cửa đen của toa tàu và vuốt ve đôi vai một người đàn bà thấp, gầy; đứng cạnh họ là ông già Pan-crát Na-da-rốp cô vừa gặp lúc nãy, sau đó cô mới thấy Xê-mi-ôn. Thấy họ, Xê-mi-ôn chìa hai tay ra phía trước, bước đến mấy bước.

Cả hai người đàn bà, Na-ta-sa và An-na, ôm chầm lấy anh và cùng một lúc òa lên khóc.

- Thôi, đừng khóc nữa, nín đi! - Xê-mi-ôn ôm cả mẹ và vợ trong vòng tay, nói.

- Xê-mi-ôn... con trai, con!.. - An-na khóc mỗi lúc một to, còn Na-ta-sa chỉ nhắc đi nhắc lại một câu:

- Em sẽ chờ, anh Xê-mi-ôn... Em sẽ chờ anh.

Cô không nhận thấy là đang nói bằng lời của một bài hát bỗng từ đâu vang lên bên tai.

Người cha đi đến, dừng lại cách họ hai bước, tay bỏ thõng. Xê-mi-ôn khẽ gỡ mẹ và vợ ra:

- Con không nghĩ là cha sẽ đến, - anh nói.

- Tao cũng biết thế, -ông trả lời, đôi lông mày mọc khít nhau nhíu lại gãy góc, nằm bất động. - Vì vậy mà không muốn...

- Thế thì cha đến làm gì? Con chẳng trách đâu.

- Tao cũng không biết nữa. Có thể là vì lòng ganh tị...

- Cái gì?!

Mọi người im lặng đứng nghe. Câu chuyện rất khó hiểu đối với người ngoài và đối với cả Na-ta-sa. I-van khẽ gỡ vợ đang níu chặt lấy anh, bước đến gần.

- Khoan đã, khoan đã, - anh nói, mắt nhìn vào đôi lông mày gấp khúc của người anh ruột: - Lòng ganh tị nào? Rằng anh không được gọi ra trận?

- Không phải, - Phê-đô cười khẩy, dường như ông vừa nuốt xong một hòn đá nặng. - Việc đó tao cũng có thể, nếu như muốn. Cùng lắm thì như Ki-ri-an I-nhi-u-chin... Nói chung... Nhưng các người đâu hiểu được điều này....

- Đúng vậy! - I-van ngạc nhiên thốt lên.

A-ga-ta túm lấy áo anh kéo sang bên, anh vừa bước đi vừa ngoái lại nhìn.

- Và cũng chẳng để làm gì, - Phê-đô nói tiếp. - Còn con, Xê-mi-ôn, tạm biệt...

Và ông quay người bước đi, lưng hơi gù xuống.

Mọi người đứng nhìn theo ông ngơ ngác, dường như ông vừa đến và mang đi một cái gì đó, nhưng cái gì - không ai hiểu.

- Lên tà-àu! - từ một nơi nào đó phía đầu đoàn tàu vẳng lại tiếng hô khẩu lệnh kéo dài. Tiếng kèn đồng vang lên gay gắt, thúc giục trong bầu không khi nóng nực, đầy bụi, đám người bỗng nhốn nháo, nhưng không ai vội lên tàu cả. Mẹ, các em, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na vây lấy Xê-mi-ôn, vừa khóc vừa ôm lấy anh. Còn Na-ta-sa đứng ở bên cạnh, mọi người dường như quên cô đi. «Và mình không kịp mất... Không kịp nói gì với anh ấy cả», - trong đầu cô như có một ngọn lửa bốc lên, quay cuồng.

- Còn em, An-đrây, liệu đấy, không được bày trò dại dột, nghịch ngợm, - Xê-mi-ôn nói nhanh với đứa em út, tay xoa lên đầu cậu, - Chăm sóc giữ gìn lấy mẹ, hiểu chưa?

- Em hiểu rồi, - mắt liếc nhìn sang bên, An-đrây trả lời. - Nhưng anh ra đến nơi phải viết thư về ngay cho em đấy, kể chuyện ngoài đó...

- Tạm biệt nhé, An-na, - Na-ta-sa nghe tiếng nói và thấy I-van đang ôm hôn mẹ Xê-mi-ôn. Rồi Xê-mi-ôn cuối cùng cũng đã đến bên cạnh cô, cầm tay kéo sang bên.

- Thế đấy, Na-ta-sa ạ… - anh nói nhanh -Tạm biệt em nhé.

- Xê-mi-ôn, anh Xê-mi-ôn... Em sẽ chờ anh...

Sau những lời đó, cô muốn nói hết tất cả những gì mà cô đã chuẩn bị từ trước, nhưng chúng bỗng biến đi đâu hết và cô cứ lặp đi lặp lại mãi một câu:

- Em sẽ chờ anh, em sẽ chờ...

Tiếng kêu khóc của những người đàn bà, tiếng kèn đồng vang không ngớt, tiếng quát tháo của các sĩ quan chạy dọc theo đoàn tàu đã cản trở, không cho cô nói hết tất cả. Và từ đâu, Vê-ra I-nhi-u-chi-na bỗng chạy đến.

- Chúc anh may mắn, Xê-mi-ôn! Dù sao thì em vẫn yêu anh! - cô kêu to, ôm chầm lấy Xê-mi-ôn, hôn anh.

- Ít ra thì bây giờ cũng đừng giả vờ nữa, - Xê-mi-ôn gỡ cô ra, nói.

- Thật vậy... Anh muốn nghĩ gì tùy anh... - Và nước mắt trào ra trong mắt cô.

- Thế còn A-lây-nhi-cốp? Còn I-u-ri bây giờ?

- I-u-ri nào?..

Và cô biến đi cũng nhanh như khi xuất hiện. Na-ta-sa có cảm tưởng rằng cô ta biến đi là vì I-u-ri đang lách qua đám đông chạy đến.

TGVC (11)

- Phù! Chút nữa thì chậm! Xin mãi mới được nghỉ một chốc, - anh nói, thở hổn hển. - Thế nghĩa là đi nện phát-xít đấy à? Tớ ghen với cậu đấy.

- Ở đây cũng vừa đã có một người ghen rồi.

- Cái gì? Ai? - I-u-ri không hiểu. - Nào, như trong bài hát: «Nếu chết - chết nhẹ nhàng thanh thản, nếu bị thương - chỉ sướt ngoài da». Hoặc tốt nhất là không có cả cái này, cả cái nọ. Mẹ tớ gửi lời chúc cậu trở về may mắn.

- Hôm qua tôi đã đến chào bác. Còn anh với Vê-ra ra sao rồi?

- Không sao cả... Một cô gái khá lạ lùng, nhưng gan lì. Cắt đứt rồi.

- Lâu chưa?

- Từ hồi mùa đông kia. Sau... vụ cháy ở nhà máy.

- Đúng rồi. Bây giờ anh đâu còn là con trai giám đốc nữa!

- Như thế thì sao? Khoan, cậu nói về chuyện gì vậy?

- Để sau, để sau, hết chiến tranh tôi nói cho nghe. Còn bây giờ cho tôi tạm biệt vợ một tí.

Xê-mi-ôn lại cầm lấy tay Na-ta-sa. Nhưng vừa lúc đó, tiếng còi tàu bỗng rúc lên, các toa tàu rùng mình, chuyển động.

- Xa-vê-li-ép, lên tàu! - một sĩ quan mặc quân phục nhàu nát chạy ngang qua, quát.

Mẹ, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, An-đrây, Đi-ma, Gan-na lại vây lấy Xê-mi-ôn. Nhưng bây giờ anh không chú ý đến họ nữa, anh vừa bước giật lùi, vừa ghì chặt Na-ta-sa vào người, gần như nhấc bổng cô lên khỏi mặt đất, mang đi, dường như muốn ném cô vào toa, đưa đi theo mình.

- Tạm biệt, tạm biệt, tạm biệt, em thân yêu... Em chờ anh nhé... - bàn tay anh run rẩy vuốt ve mái tóc ấm sổ tung của vợ. - Anh vẫn có cảm giác như anh đã làm cho em giận, khi chúng ta nằm trên bờ cát ở đảo cách đây không lâu. Xin lỗi em nhé... Tạm biệt!

- Xê-mi-ôn, anh Xê-mi-ôn! Em không muốn, em không thể... Không cần! - cô thốt lên như hôm nào ở trên đảo. Và cô bỗng nhớ đến cái quan trọng nhất mà cô định nói với anh: - Em cũng muốn đi ra trận cùng anh... Nhưng bây giờ em không thể, vì em... chúng ta sắp có con!

Lúc đó Xê-mi-ôn đã gỡ vợ ra, nhảy lên toa tàu chạy ngang qua, túm lấy những bàn tay từ cửa toa chìa ra. Nhưng nghe Na-ta-sa nói, anh lập tức nhảy xuống, chạy bổ đến, túm chặt lấy vai vợ, lắc mạnh:

- Na-ta-sa! - Đôi mắt anh rực lên vừa giận dữ, vừa vui mừng. - Em nói gì? Em vừa nói gì?!

- Chúng ta sẽ... chúng ta sẽ có...

Đoàn tầu chạy chậm. Những người đàn bà vừa kêu khóc, vừa bám lấy các toa tàu chạy dọc theo nền đường sắt không cao lắm, xô cả vào Xê-mi-ôn và Na-ta-sa.

- Tại sao em không nói? Tại sao? Tại sao?! - Xê-mi-ôn, một tay ôm ngang lung vợ, tay kia vuốt lên đôi má cô - dường như muốn bằng bàn tay ghi nhớ khuôn mặt cô, và sửng sốt nhìn mãi vào đôi mắt cô tối sẫm lại vì đau buồn.

- Em không biết nữa... Em ngốc lắm. Em muốn nói với anh vào phút cuối cùng. Để anh đi với ý nghĩ đó... và để anh giữ mình.

Cô nói, giọng yếu ớt nhưng tràn trề hạnh phúc, đôi môi khô nẻ hầu như không mấp máy. Anh hôn vào đôi môi nóng hổi, mằn mặn vì nước mắt của cô. Cô nhắm mắt lại...

Rồi cô cảm thấy rằng Xê-mi-ôn không còn ở bên cạnh mình nữa...

Đoàn tàu, bị những chùm người bám đặc, chậm chạp bò, như thể khó khăn lắm mới đi xuyên qua được tấm màn dày đặc dệt bằng tiếng người kêu khóc, la hét: Phía sau đoàn tàu, Xê-mi-ôn cố chạy đuổi theo toa cuối cùng.

«Không kịp, không kịp... - Na-ta-sa vui mừng nghĩ thầm: - Không kịp, và anh ấy sẽ ở lại... Điều đó dễ dàng và đơn giản biết bao. Và chúng mình sẽ đi về nhà, và tất cả lại như trước kia...»

Nhưng Xê-mi-ôn cuối cùng cũng đã đuổi kịp toa tàu. Những bàn tay chìa ra, đón lấy anh, nhấc bổng anh lên, kéo vào cái cửa hang đen ngòm, không đáy...

Na-ta-sa lảo đảo và ngã vật xuống mặt đất nóng hổi vừa bị hàng trăm ngàn bước chân giẫm nát ra thành bụi.

❀ ❀ ❀

[1] Tséc-két - một dân tộc miền núi ở Cáp-ca-dơ, có tục lệ dã man trả nợ máu.

[2] Séc-lốc Hôm-xơ nhân vật trong các tác phẩm trinh thám nổi tiếng của nhà văn Anh Cô-nan Đôi-lơ.

-lin lại đi đến bên cạnh, im lặng cầm lấy những tờ giấy vừa đánh máy xong, rồi lại im lặng đi ra. - A-a, I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích, - Cru-gi-lin đang nhặt mấy tờ giấy bỗng thốt lên. - Anh đến gặp tôi à? Qua phòng tôi đi. - Tôi sẽ qua, - A-l
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anatoli Ivanov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.