Tôi ưa viếng thăm họ hàng vào các dịp lễ, nhất là các chú bác tôi, các cô các dì, những họ hàng xa, và các bậc trưởng thượng. Các bà dì và chú bác già cả của tôi luôn nỗ lực để “tử tế” trong những lần thăm viếng đó, và với những gì họ dành cho chúng tôi - những lời lẽ ngọt ngào, chuyện xưa ôn lại, và chuyện trò lịch thiệp - rốt cuộc, họ đúng là tử tế. Điều này cho thấy rằng, trái ngược với những gì ta muốn tin, để tử tế cần phải cố gắng. Nhưng năm nay, ngay cả khi nghe những chuyện bông đùa về mấy cái đồng hồ có chim hót khiến tôi da diết nhớ thời thơ ấu, cũng như khi hưởng thụ sự yên tĩnh mà ngày lễ mang lại cho đường phố Istanbul, và món thạch rắc đường vẫn ngon như mọi khi, tôi cảm thấy sự hiện diện của tai ương. Để tôi cố miêu tả cảm giác này. Tôi nghĩ nó bắt nguồn từ sự vô vọng và ganh tị. Tất cả các ông chú ông bác và những người họ hàng xa trìu mến ôm hôn con gái tôi ấy, những vị anh hùng đáng kính của những ngày lễ thời thơ ấu ấy: Họ từng xem họ là người phương Tây, nhưng bây giờ dường như thể họ mất lòng tin. Họ nổi giận với phương Tây.
Lễ Hy sinh[1] đáng ra phải là ngày lễ mang tính chất tôn giáo hoàn toàn, là dịp kết nối chúng tôi với hiện tại và quá khứ. Nhưng trong suốt thời thơ ấu của tôi, tôi nghiệm thấy lễ này và những ngày lễ đạo Hồi khác chẳng còn là truyền thống tôn giáo nữa mà như là những dịp ăn mừng công cuộc Tây phương hóa và nền Cộng hòa. Trong giới trung lưu lớp trên - ở Nisantasi và Beyoglu - người ta nhấn mạnh đến ngày nghỉ, chứ không phải là việc tế cừu, nói chi đến Ishmael. Nhưng vì đó là ngày lễ, mọi người đều mặc những bộ âu phục trịnh trọng nhất; họ mặc áo vest và thắt cà vạt, mời khách khứa uống rượu, rồi tất cả đàn ông đàn bà ngồi xuống, theo kiểu Âu, tại một bàn ăn lớn, ăn một bữa ăn “kiểu Tây”. Sau này, khi hai mươi tuổi, chẳng phải là điều trùng họp khi mà, đọc Gia đình Buddenbrook của Thomas Mann, tôi choáng váng bởi những điểm giống nhau lạ lùng và những khác biệt đáng kinh ngạc giữa những bữa ăn gia đình trong cuốn tiểu thuyết và những bữa ăn ngày lễ ở nhà bà tôi. Chính với những ấn tượng này trong tâm trí mà tôi đã ngồi xuống viết cuốn Cevdet Bey và các con trai. Khi nhận thấy các nhà văn khác có kinh nghiêm tương tự như ta, chúng ta được truyền cảm hứng không chỉ để đọc mà còn để viết, và, đặc biệt hơn cả, khai phá những điểm khác biệt. Cùng lúc đó tôi kể một câu chuyện về nền Cộng hòa và về cuộc Âu hóa. Như bà tôi, các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên đó ngây thơ ngơ ngác về phương Tây, ngay cả khi họ còn giữ được tinh thần làng xã xưa cũ và cảm quan của nó về mục tiêu chung. Tôi không còn ưa thích tinh thần làng xã hay mục tiêu chung ấy, nhưng tôi vẫn khao khát tính ngây ngô trẻ thơ mà nhờ nó nhiều họ hàng của tôi từng bộc lộ thái độ hướng về cũng như sự quan tâm đến phương Tây. Tuy biết trong chuyến viếng thăm dịp lễ này, tôi để ý thấy giữa những bàn tán và ôn lại những chuyện hằng ngày, tin nóng trên báo, và sự bực bội của những người họ hàng cao tuổi - giữa lúc trò chuyện bình thường - có một sự bất an nhất định; giai cấp tư sản Thổ Nhĩ Kỳ gánh chịu khổ đau và giận dữ, đã mất niềm hy vọng vào những giấc mơ của họ.
Dường như họ nghĩ lại về Tây hóa: rằng lòng tin mù quáng trước đây vào sự khai sáng của phương Tây là một ý tưởng tồi, bởi vì nó khuyến khích chúng ta coi nhẹ truyền thống và quay lưng với lịch sử của chính chúng ta! Đã mất rồi những ngày thơ ấu ở bữa ăn ngày lễ xa xưa, với hy vọng và tính ngây thơ và sự hiếu kỳ trẻ con. Trong những người muốn là người phương Tây, có một khát khao chân thành học cách làm điều đó như thế nào. Những ngày ấy, niềm tin rằng có những thứ đáng học hỏi từ phương Tây mạnh mẽ hơn bây giờ nhiều, và không khí rất lạc quan. Nhưng mọi người tôi đến thăm vào năm 1998 - những họ hàng đứng tuổi làu bàu thật là đau khổ trước ti vi, con cái tuổi trung niên giàu có của họ, cánh tư sản Istanbul đã giành được phần rất lớn của cải của Thổ Nhĩ Kỳ nhưng lại chuộng đi mua sắm ở Paris và London - thảy đều nguyền rủa châu Âu bằng cùng một giọng. Mối quan tâm ngày xưa về châu Âu nay đã tan biến. Cũng mất đi là áo vest và cà vạt mà họ mang trên người đến dự các bữa ăn gia đình trong thời thơ ấu của tôi. Có lẽ điều này phải nên như thế, vì suốt thế kỷ qua chúng tôi đã biết được kha khá thứ về phương Tây. Nhưng sự giận dữ là có thực, và nó xuất phát từ việc theo dõi những đàm phán với Liên minh châu Âu, nhìn thấy rằng, bất chấp tất cả nỗ lực của chúng tôi nhằm trở thành người phương Tây, họ vẫn chẳng thiết tha gì chúng tôi, khám phá ra rằng họ dự định buộc chúng tôi chấp nhận những điều khoản về cơ cấu dân chủ và nhân quyền. Sự giận dữ tác động lên những người già mà những giấc mơ tuổi thơ của họ đã thành hiện thực - những ngày này nó ở khắp nơi.
Họ nói ở phương Tây “cũng” có tra tấn. Họ nói lịch sử phương Tây đầy những trò đàn áp, tra tấn và dối trá. Họ nói quan tâm thực sự của châu Âu không phải là nhân quyền mà là sự tiến bộ của chính châu Âu. Ở quốc gia châu Âu nọ người ta “cũng” ngược đãi người thiểu số theo một kiểu cách như thế; ở thành phố châu Âu kia cảnh sát “cũng” thô bạo dập tắt những người bất đồng lớn tiếng giữa toàn dân. Ý họ muốn nói rằng nếu người ta làm một trò xấu xa ở châu Âu thì chúng ta cũng nên được phép làm điều ấy ở đây, và có lẽ thậm chí còn làm nhiều hơn. Ý họ là, nếu châu Âu là hình mẫu cho chúng ta, thì chúng ta nên cố gắng bắt chước những người tra tấn, người hỏi cung của họ, và những kẻ nói dối hai mặt, có lẽ vậy. Những người Kemalist[2] lạc quan của những ngày lễ trong thời thơ ấu của tôi ngưỡng mộ văn hóa, văn chương, âm nhạc và trang phục của châu Âu. Châu Âu là suối nguồn văn minh! Nhưng vào năm thứ bảy mươi lăm của nền Cộng hòa, nó đã bị coi là nguồn của cái xấu.
Thái độ chống châu Âu này gia tăng nhanh chóng trong vòng vài năm gần đây, nhanh hơn mức tôi có thể tưởng tượng, và tôi không nghi ngờ gì điều này rất mực liên quan đến con số gia tăng nhanh chóng các nhà báo giữ mục định kỳ có lập trường chống châu Âu - những người viết rằng châu Âu “cũng” có tra tấn, rằng châu Âu “cũng” ngược đãi người thiểu số và vi phạm nhân quyền; những người tóm lấy bất cứ cơ hội nào để nhắc nhở công chúng rằng “họ” (châu Âu) coi thường người Thổ và tôn giáo của chúng tôi như thế nào. Hiển nhiên các vị nhà báo giữ mục này làm thế để che đậy, và hợp thức hóa, những vi phạm nhân quyền, các vụ cấm sách và bỏ tù nhà báo trên đất nước chúng ta. Thay vì dùng năng lượng và ngòi bút để đả kích những chuyện vi phạm trắng trợn trên đất nước này, họ lại chỉ trích những người châu Âu đã chú ý đến họ. Có lẽ điều này có thể hiểu được. Nhưng nó có những hậu quả họ chưa bao giờ mơ tới. Theo sau những công kích bài phương Tây, bài châu Âu, mang tính quốc gia chủ nghĩa hơn bao giờ hết này, các bữa ăn ngày lễ trở thành những buổi tụ tập mà mọi người ngồi quanh đều nói về lũ quỷ phương Tây dối trá. Tôi gặp những ông chú ông bác như thế ở ba nhà liên tiếp. Ngày xưa, họ hào hứng nói về một ngày tất cả chúng tôi sẽ trở nên Tây phương hơn, nhưng giờ họ lải nhải về những thứ xấu xa đồi trụy của phương Tây, dùng một thứ ngôn ngữ lọng cọng, thô tục mà người ta chỉ nghe thấy từ những kẻ côn đồ trong xóm. Sau cả một đời đi châu Âu mua sắm, dựa dẫm vào các ý tưởng châu Âu về mọi thứ từ nghệ thuật đến quần áo, và dùng văn hóa phương Tây để phân biệt mình với tầng lớp thấp hơn và để hợp thức hóa tư thế bề trên của mình, giờ đây họ chống lại châu Âu vì những tiêu chuẩn được coi là tiêu chuẩn kép của châu Âu về nhân quyền. Giờ họ muốn châu Âu giống như là ông kẹ, để họ có thể nói rằng đúng là người ta bị tra tấn và người thiểu số bị ngược đãi ở đây, song chuyện đó không chỉ diễn ra ở đây mà cả ở châu Âu.
Ngày xưa cũng có những căng thẳng Đông-Tây; khi chúng tôi uống rượu và nhâm nhi mấy món ngọt, cuộc tán gẫu lịch sự của chúng tôi đôi khi tụt xuống thành những vụ cãi cọ về cánh tả và cánh hữu. Nhưng ngay cả khi bạn thấy họ hời hợt và thơ ngây, bạn không thể quá giận, nếu chỉ vì những con người tốt bụng này dán mắt vào phương Tây. Ngày nay tôi không còn nhìn thấy dấu hiệu của niềm lạc quan ngày trước. Sau hai ly rượu, chúng tôi phải chuẩn bị để nghe những điều xấu xa mà những người họ hàng bực tức và bất hạnh của chúng tôi phải nói về lũ quỷ sứ châu Âu.
❀ ❀ ❀
[1] Lễ Hy sinh: ngày lễ của đạo Hồi kỷ niệm việc Abraham sẵn lòng dâng tế con trai cả là Ishmael lên Thượng đế, nhưng Thượng đế nhận ra lòng thành của Abraham, nên cho phép Abraham tế lễ bằng một con cừu đực.
[2] Kemalism: hay cũng gọi là Sáu Mũi Tên, là nguyên tắc xác định những đặc điểm cơ bản của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Nó được phong trào quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Atatürk, nhà cải cách và tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ, đặt ra. Kemalist: người tán thành nguyên tắc này.