Tiếng Gọi Vĩnh Cửu

Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Thứ Hai
Vết Rạn Thời Trẻ, Miếng Mẻ Lúc Già

❊ ❊ ❊

Tháng Chín trôi qua êm ả, ấm áp, và rất may là không có mưa.

Từ sau dãy núi Dve-nhi-gô-ra, mặt trời hiện lên, chiếu lấp lánh trên những chùm lá cây ướt đẫm sương nặng trĩu, chậm chạp xua tan làn sương sớm hơi lành lạnh.

Ngọn những cây dương hoa bị băng giá ban mai làm cháy sém đã trở nên thưa thớt lá, trên cành các cây dương trắng cao lớn gió thổi đung đưa những túm lá vàng đã bắt đầu chớm mốc.

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, mặt phờ phạc, thiếu ngủ, cầm lấy dây cương ngựa từ tay ông già Ép-xây, rồi nặng nề ném tấm thân bắt đầu trở nên đẫy ra của mình vào thùng xe.

- Đến nhà máy à? Hay ra ga? - ông già Ép-xây hỏi.

- Đến cả hai nơi... Và còn phải trên hai chục chỗ khác.

- Đừng bỏ roi lại trên xe. Chúng cuỗm ngay đấy.

Từ chiếc loa phóng thanh đặt trên sân, vẳng đến giọng phát thanh viên mệt mỏi:

«Trong mấy ngày gần đây, chiến sự ác liệt đang diễn ra ở ngoại vi thành phố Ki-ép. Quân đội Đức, mặc dù bị thiệt hại nặng về người và vũ khí, vẫn tiếp tục tung vào trận những đơn vị chiến đấu mới. Quân địch đã chọc thủng được một điểm trên tuyến phòng thủ Ki-ép của ta và đang tiến đến gần thành phố...»

Cru-gi-lin chậm chạp cho xe đi theo con đường đã lác đác những chiếc lá vàng đầu tiên của mùa thu. Giọng phát thanh viên xa dần ở phía sau.

«Quân Đức đang cố sức tiến đến Mát-xcơ-va, - Cru-gi-lin không vui nghĩ thầm. - Mấy ngày trước Lê-nin-grát đã bị quân địch bao vây dày đặc. Min-xcơ, Lơ-vốp đã mất từ lâu. Và bây giờ lại Ki-ép... Va-xi-li đang ở Pê-rê-mư-slơ, gần Lơ-vốp. Từ ngày đầu chiến tranh đến nay không có tin tức gì về con cả. Không biết nó giờ ở đâu, có còn sống không?»

Bỗng nghe một cơn đau nhói trong tim, Cru-gi-lin nhăn mặt giật mạnh dây cương. Con ngựa Các-ca - Xô-côn nhảy chồm lên, nhưng chỉ nửa phút sau nó đã lại đủng đỉnh từng bước một.

«Gần một tháng trước đây, dường như quân đội Xô-viết đang chuẩn bị một đòn giáng trả mạnh mẽ ở vùng Xmô-len-xcơ - những suy nghĩ của Cru-gi-lin cứ tự chúng đan kết vảo nhau. - Trên báo chí xuất hiện nhiều lời phỏng đoán hoặc thậm chí khẳng định đầy lạc quan hy vọng rằng sự tan rã của quân đội xâm lược Đức phát-xít đã bắt đầu, rằng lực lượng quân sự chủ yếu của Đức quốc xã đã bị nghiền nát, đè bẹp trong các trận phòng ngự, rằng chẳng bao lâu nữa sẽ bắt đầu chiến dịch tấn công quyết định của quân đội Xô-viết. Mọi người chờ đợi những thay đổi căn bản trên các mặt trận. Loa phóng thanh phát suốt ngày đêm. Và quả thật, cuối tháng Tám, Hồng quân bắt đầu tấn công, tiến lên phía trước, những trận đánh ác liệt nổ ra ở phía bắc và phía nam thành phố Xmô-len-xcơ. Đầu tháng Chín thành phố En-nhi-a được giải phóng. Nhưng ít lâu sau, các hướng tiến công của Hồng quân đều bị dừng lại, rồi im hẳn...»

Con ngựa thiến được chăm nom chu đáo, no căng, nhẹ nhàng kéo chiếc xe dọc theo các phố San-ta-ra. Cru-gi-lin nhớ lại hai tháng rưỡi trước đây, khi công bố lệnh động viên tất cả những người sinh từ năm 1905 đến năm 1918, các đường phố này vang lên inh ỏi những giọng hát say rượu và tiếng khóc của phụ nữ. Hầu như nhà nào cũng có tiếng hát và tiếng khóc. Và rồi vào một buổi sáng cả cái mớ hỗn độn tiếng hát và tiếng khóc đó bò ra sau thị trấn, theo con đường nhựa đến nhà ga và ở lại đó mãi tận trưa, cho đến khi đoàn tàu quân sự chở những người được động viên chuyển bánh rời ga.

Cho đến tận chiều, những nỗi đau buồn của mọi người như những đợt sóng lan truyền khắp thị trấn; nhưng cùng với đêm xuống, tất cả lắng lại, im lìm. Cả thị trấn lớn thiếp đi như người bệnh trong cơn ngủ chập chờn, đầy lo âu.

Và buổi sáng ngày hôm sau đến với một vẻ khác thường. Những đường phố vắng vẻ, những ngôi nhà trống trải, và những hàng cây cũng như đứng im lặng. Tất cả đều mang một vẻ côi cút, tất cả đều như bị xúc phạm, toát lên một sự oán trách và một câu hỏi không nói ra lời: cái gì đang xảy ra thế này? Tại sao lại để đến nỗi như vậy? Cru-gi-lin cảm thấy như chính mình có lỗi trực tiếp trong cái tai họa mà cả thị trấn này và tất cả mọi người đang phải hứng chịu.

Những công việc, lo toan, bất ngờ và mới mẻ, hết cái này đến cái khác, liên tiếp đổ lên đầu ông.

Ba tuần sau lệnh động viên, hai đoàn tàu chở dân tản cư lần lượt từ các vùng gần mặt trận đến San-ta-ra. Và cả thị trấn lập tức biến thành một trại Di-gan. Trên sân ga, trên sân vận động của huyện, trên các đường phố chính mọc lên san sát những túp lều bằng bạt, cạnh đó đêm đến người ta đốt lên những đống lửa bập bùng. Dọc các phố từ sáng đến tối, người đi bộ, đi xe, xách túi, xách va-li hoặc đi tay không thành từng đám, áo quần nhàu nát, bẩn thỉu sau nhiều tuần phải chịu khổ cực, vất vả.

Bảo đảm nơi ăn chốn ở cho ngần ấy những người già, phụ nữ, trẻ em đói khát, mệt mỏi tưởng như là việc không thể giải quyết nổi. Huyện ủy và ủy ban huyện trong một thời gian khá dài biến thành các phòng nhà đất tìm chỗ ở cho dân tản cư. Mỗi ngày mấy bận phòng làm việc của Cru-gi-lin bị tấn công; những người từ nơi khác đến yêu cầu bất kỳ một chỗ nào có thể ở được; còn đám đông phụ nữ địa phương ra sức chứng minh rằng không thể nào nhận cho ở thêm dù là một người nữa. Không hiếm những lúc trong phòng làm việc vang lên tiếng khóc lóc, chửi rủa.

Nhưng dần dần rồi mọi người cũng được phân về các gia đình trong thị trấn, một số khác được gửi về sống ở các làng, các nông trang, nông trường trong huyện.

Phần lớn mọi người đều nhẫn nhục im lặng cam chịu số phận - thôi thì chỉ cần có mái che trên đầu và một công việc gì đó để kiếm sống, - nhưng cũng có những trường hợp có người không chịu đi về các nông trang.

Một lần, một phụ nữ trạc trung niên, mặc chiếc áo khoác ngoài đắt tiền nhưng nhàu nát, miếng rách ở vai được khâu lại một cách vụng về bằng chỉ đen, xông vào phòng. Chị ta trước đây chắc cũng béo tốt, khỏe mạnh, nhưng vì đi đường nên gầy tóp, da trên cổ và ở cằm nhăn nheo gấp xếp lại, đôi má sệ xuống nhuốm một màu hồng bệnh hoạn.

- Tôi không thể về nông trang được! Ở đó tôi không chịu được, tôi không sống nổi! - Chị ta vật người xuống chiếc ghế dựa, la lên.

Pô-li-pốp, lúc đó đang ở trong phòng làm việc của Cru-gi-lin, im lặng rót cho chị ta một cốc nước.

- Tôi là người mê nhạc. Các anh hiểu không, tôi bị bệnh, tôi bị bệnh mê âm nhạc không chữa khỏi. Tôi không thể thiếu âm nhạc, tôi không sống nổi...

Tất cả những chuyện này có lẽ thật buồn cười, nhưng Cru-gi-lin và Pô-li-pốp nhìn người đàn bà với một vẻ thương hại:

- Đầu tiên chị hãy bình tĩnh đã, - Cru-gi-lin đặt tay lên vai chị ta, nói. Người đàn bà giật bắn người lên như bị đánh, lảo đảo lùi lại. - Chúng tôi biết làm gì được, khi ở San-ta-ra chúng tôi cũng không có nhà hát giao hưởng... Chúng tôi cũng phải nghe nhạc qua ra-đi-ô. Mà ở nông trang cũng có ra-đi-ô.

Không biết vì cái tin về ra-đi-ô làm cho người đàn bà yên tâm hay vì cuối cùng rồi cũng ý thức được hoàn cảnh của mình, chị ta không nói gì thêm, đứng dậy ra về.

Lần khác, một ông già gân guốc, gầy đét, rụt rè gõ cửa, rồi bước vào phòng làm việc của Cru-gi-lin.

- Tôi... Xin lỗi, làm phiền các anh... Tôi được gửi về một nông trang... Nhưng, xin lỗi, tôi nghe nói rằng ở đó đến trường cấp một cũng chẳng có...

Một tay ông già xách chiếc túi bằng vải sơn dùng để đi chợ, tay kia cầm cây can đầu bịt bạc. Và chiếc can quý giá này hoàn toàn không hợp với cái vẻ ngoài của ông. Ông ta mặc chiếc áo khoác bằng vải da dày, một bên hông bị cháy thủng, sợi dây thừng thắt ngang lưng - vì áo không còn lấy một chiếc cúc nào nữa. Chiếc quần dài đã sờn treo thùng thình trên người, đầu đội một vật thảm hại với những mép vành sổ thõng xuống trông hao hao giống mũ. Mắt hình như bị lòa nặng, vì khi nói ông ta ngoảnh mặt nhìn không phải về phía Cru-gi-lin đang đứng.

- Chắc bác là giáo viên phải không ạ? - Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích hỏi.

- Vâng, cũng gần như vậy... - Ông già quay về phía có giọng nói. Và ông rụt rè tiếp, dường như sợ người khác không tin: - Tôi, anh thấy đấy, là tiến sĩ toán lý.

Cru-gi-lin đã nhẵn mặt với tất cả mọi loại người, nhưng chưa được gặp một tiến sĩ khoa học nào trong số những người đi tản cư về đây.

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nghe tim thắt lại, đau nhói - càng ngày những nỗi đau khổ lớn lao của dân tộc trong cơn tai họa khủng khiếp này càng mở ra trước mắt ông với các chiều sâu của nó.

Ông mời vị tiến sĩ già ngồi xuống chiếc ghế đối diện và xoa cằm rất lâu nghĩ cách giải quyết.

- Bác có một mình thôi ạ? Có ai đi cùng bác nữa không?

- Sao ạ? À, còn Ma-sa... Tàu của chúng tôi bị ném bom, lúc còn ở bên kia sông Vôn-ga... Tôi đi tìm Ma-sa rất lâu, nhưng chỉ thấy cái này. -Và ông già giơ chiếc túi bằng vải sơn lên. Rồi ông đặt túi xuống sàn, rút ra một chiếc khăn tay nhàu nát. Ông không khóc, chỉ hỉ mũi rất lâu, những sợi râu thưa thớt, rối bù và cả hàm dưới khẽ run run.

Cru-gi-lin bắt đầu gọi điện về tỉnh cho ban phụ trách tản cư vừa mới được thành lập.

- Có lẽ tôi quá làm phiền các anh, - ông già nói như xin lỗi: - Thực ra với tôi thì không sao, tôi cũng muốn tò mò xem nông trang một tí. Nhưng tôi có thể làm được việc gì có ích? Suốt đời tôi dạy dỗ thanh niên...

Một tuần sau, có mấy cán bộ của một trường đại học nào đó từ tỉnh về đưa vị bác học già đi.

Cru-gi-lin buông lỏng dây cương, ngồi gà gật trong tiếng vó ngựa gõ đều đều, khô khốc. Những đoạn hồi tưởng về vị tiến sĩ toán học già, về người đàn bà mắc bệnh mê âm nhạc, về đoàn tàu toa đỏ chở những người được động viên ra mặt trận và giờ chất đầy phụ nữ và trẻ em, - chúng hiện ra rồi tan đi trong bộ não đã mệt mỏi của ông như một đám khói. Và thay vào chỗ của chúng là ba hàng dài những túp lều bằng vải đủ cỡ.

Không, đây không phải là những túp lều bạt mà cách đây không lâu dựng đầy ở nhà ga, ở quảng trường của huyện gần bên tượng đài kỷ niệm. Đây là những chiếc lều khác... Chúng vừa mới xuất hiện, cách đây khoảng hai tuần, đứng thành ba hàng ở ngoại vi San-ta-ra, cạnh những ngôi nhà gỗ lợp giấy dầu của xí nghiệp liên hiệp công nghiệp huyện, Sống trong những túp lều bạt này là công nhân của nhà máy cơ khí nông nghiệp vừa sơ tán đến đây.

Nhà máy này đến hoàn toàn bất ngờ.

Cuối tháng Tám, phần lớn những người tản cư đã được bố trí tạm ổn chỗ ăn chỗ ở, Cru-gi-lin thở dài nhẹ nhõm, dự định sẽ tập trung bắt tay vào việc thu hoạch mùa. Nhưng khuya mồng một tháng Chín trong phòng bí thư huyện ủy bỗng vang lên tiếng chuông điện thoại.

- Chưa ngủ à? - Xu-bô-tin hỏi. - Nếu thế thì, chào anh.

- Chào anh, I-van Mi-khai-lô-vích. Bây giờ thì ngủ nghê gì...

- Vất vả lắm à?

- Kinh khủng, - Cru-gi-lin thành thực nói. - Nhưng hình như cũng sắp xong rồi, nhờ Chúa...

- Thế-ế-ế... - đầu dây đằng kia bí thư tỉnh ủy kéo dài giọng và dường như thờ ơ đáp lại. - Nhưng... tôi sợ sự kinh khủng đối với anh chỉ mới bắt đầu thôi...

- Anh nói sao?! Chúng tôi không thể nhận thêm một người nào nữa đâu! Không còn nhà ở, không còn việc cho họ làm... Chúng tôi có phải là thành phố đâu.

- Về chuyện việc làm thì bây giờ anh sẽ dễ dàng hơn. Một nhà máy đang được chuyển về San-ta-ra.

- Nhà máy? Ở đây có liên quan gì đến nhà máy? Nhà máy nào? - Cru-gi-lin ngạc nhiên hét vào ống nghe.

- Nhà máy cơ khí chế tạo máy nông nghiệp.

- Anh đùa đấy chứ?

- Rất tiếc là tôi không đùa, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ...

Và chỉ đến lúc đó Cru-gi-lin mói hiểu ra rằng bí thư tỉnh ủy quả là không nói đùa. Bất giác ông buông thõng bàn tay đang cầm ống nghe xuống.

- Nhưng tại sao nhà máy lại chuyển về chỗ tôi? Cả nhà máy à? - cuối cùng ông lên tiếng hỏi.

- Đường dây cao thế chạy qua gần San-ta-ra. Vì vậy tại sao đến chỗ các anh, chắc đã rõ.

- Không, không được đâu. Chúng tôi không thể... Chúng tôi không đảm đương được đâu...

- Nếu thế, anh hãy gọi điện về Mát-xcơ-va cho Hội đồng tản cư, cho đồng chí Svéc-nhích hay Cô-xư-ghin. Đây là lệnh của họ, - Xu-bô-tin gay gắt nói rõ từng tiếng một, rồi ông tiếp: - Tôi rất hiểu anh, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ. Nhưng đang chiến tranh, biết làm sao... Nửa tháng trước, Hội đồng Chính phủ đã duyệt kế hoạch kinh tế quốc phòng cho quý bốn. Trong kế hoạch, mồng một tháng Mười Một nhà máy này đã phải có sản phẩm.

- Tức là chỉ có hai tháng?! Mà nhà máy thì vẫn chưa tới.

- Những đoàn tàu đầu tiên chở thiết bị và công nhân sau hai ngày nữa sẽ tới. Ngày mai kỹ sư trưởng của nhà máy sẽ có mặt ở chỗ anh. Các anh hãy cùng nhau nghĩ xem nên chọn mặt bằng ở đâu, bốc dỡ thiết bị ra sao, xếp vào chỗ nào...

- Nhưng chúng tôi biết làm sao mà bốc dỡ và để thiết bị vào đâu bây giờ? - Cru-gi-lin vẫn chưa chịu thôi, tuy vẫn biết rằng sự bướng bỉnh của mình nếu không là ngớ ngẩn thì ít ra cũng vô ích. Có những sự cần thiết do chiến tranh gây ra, và sự cần thiết đó không đếm xỉa đến, không công nhận bất cứ một cái gì, tất cả đều phải lùi bước hàng phục nó, kể cả cái không có thể. - Cần... cần phải có xưởng, tóm lại, cần phải có khu vực để sản xuất. Nhưng ở chỗ chúng tôi thì có gì? Chẳng có gì cả! Để công nhân ở vào đâu được bây giờ?

- Cùng với kỹ sư trưởng, các anh hãy suy nghĩ tự giải quyết lấy. - Giọng của Xu-bô-tin lại trở nên kiên quyết. - Một tuần nữa, các anh phải gửi lên tỉnh ủy dự án với số liệu chính xác về thời gian lắp ráp và ngày bắt đầu sản xuất của nhà máy. Thế thôi, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, thế thôi, ta sẽ không thảo luận về vấn đề này nữa, - Ông nói thêm khi cảm thấy Cru-gi-lin còn muốn phản đối. - Và chắc cũng không cần phải nhắc anh rằng, trách nhiệm về những thời hạn đó, về sự khôi phục lại nhà máy, cũng như về mùa màng và về những chuyện khác nữa, huyện ủy phải chịu trước hết. Còn nói đơn giản hơn, thì chính anh, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, phải chịu.

Kỹ sư trưởng của nhà máy là một người nhỏ bé, hơi béo và không bao giờ tỏ vẻ buồn rầu chán nản.

- Tôi là I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp, - ngày hôm sau, anh ta bước vào phòng làm việc của Cru-gi-lin, thản nhiên ném mạnh chiếc cặp da lên bàn, tự giới thiệu. Nhưng khi gặp cái nhìn của Cru-gi-lin, anh bối rối nhặt cặp lên. - Xin lỗi anh... ở tỉnh ủy người ta bảo rằng anh đã biết tình hình. Nhà máy của chúng tôi không lớn lắm, chừng nghìn rưởi công nhân, sản xuất máy quạt, máy gieo hạt và những máy móc khác cần thiết cho nhân loại hòa bình. Tháo dỡ và bốc xếp phải làm dưới bom, nhưng chúng tôi đã kịp đưa đi hết, cho đến tận chiếc máy cuối cùng. Thôi, không thể chậm trễ, chúng ta sẽ bố trí thiết bị nhà máy và chỗ ở cho công nhân vào đâu đây?

- Tôi cũng không biết nữa, - Cru-gi-lin nhếch mép nói.

- Anh không biết nghĩa là thế nào?! Sao anh lại không biết? - Khô-khơ-lốp tròn mắt lên nhìn Cru-gi-lin.

- Thì thế đấy - tôi không biết. Chúng tôi vừa tiếp nhận xong hai đoàn tàu chở dân tản cư, hiện nay không thể lấy đâu ra một mét nhà ở cho công nhân của nhà máy các anh nữa... Một nghìn rưởi, còn gia đình, tất cả là bao nhiêu người?

- Tất cả gần năm nghìn người.

Cru-gi-lin chỉ cười khẩy.

- Anh cười cái gì hả? Anh cười cái gì? Vâng, gần năm nghìn người... Chúng tôi cũng đã dự tính trước những khó khăn về chỗ ở ở nơi mới đến... Trong thời gian đầu, mọi người có thể ở trong các lều bạt. Chúng tôi có mấy trăm chiếc lều.

- Ở đây không phải là châu Phi. Tháng Chín bắt đầu sương giá, tháng Mười đã có mưa lẫn tuyết. Nửa cuối tháng Mười trời thường lạnh đến âm ba mưoi độ.

Khô-khơ-lốp thậm chí thôi cả chớp mắt.

- Cái gì? Ba mươi độ âm? Không thể thế được... - Rồi anh bỗng chộp lấy chiếc cặp của mình, hấp tấp nói. - Thôi được, thôi được... Bây giờ cần phải bắt đầu từ cái quan trọng nhất - chọn mặt bằng cho nhà máy, xem qua những căn nhà hiện có sẵn. Trên tỉnh người ta nói với tôi rằng ở chỗ các anh có xí nghiệp liên hiệp công nghiệp. Ở đó có một số nhà có thể dùng làm xưởng cho nhà máy.

- Thì mời anh đến xem nhà của xí nghiệp liên hiệp công nghiệp chúng tôi, - Cru-gi-lin nặng nhọc thở ra.

Nửa giờ sau, Khô-khơ-lốp đã im lặng đi dọc theo các dãy nhà thấp lè tè kiểu lán gỗ của xí nghiệp liên hiệp - xưởng mộc, xưởng tiện, và vừa cắn chặt cặp môi hồng đầy đặn, vừa gõ gõ - không hiểu để làm gì - lên những bức tường gỗ. Và rồi, vẫn im lặng như vậy, anh xem xét công trình bằng gạch duy nhất - ngôi nhà kho của xí nghiệp. Ra khỏi nhà, anh ngước nhìn bầu trời tháng Chín quang đãng phất phơ những tấm lưới nhện, nhìn những hàng cột gỗ của dòng điện cao thế chạy vòng qua làng rồi mất hút phía chân trời, hất đầu chỉ hầm chứa rau được phủ một lớp đất mọc đầy cỏ ở phía trên:

- Cái gì trong ấy?

- Đó là nơi cửa hàng thương nghiệp huyện chứa khoai tây, cải bắp.

- Ta xuống xem đi...

Leo lên khỏi hầm chứa rau, Khô-khơ-lốp hỏi:

- Thế là hết rồi à?

- Chưa đâu... Đây, còn căn nhà cạnh kho. Chúng tôi làm nước quả ép ở đó.

- Vâng... - Khô-khơ-lốp kéo dài giọng và sau khi đi khắp khu vực xí nghiệp liên hiệp một lần nữa, anh ngồi xuống một chiếc thùng gỗ không, rút từ trong cặp ra một tờ giấy và bắt đầu vạch ra những hình vuông.

- Chỗ này là thuận tiện nhất cho trạm biến thế. Chúng ta sẽ đặt nó ở đây. Nơi này sẽ xây khu nhà chính cho xưởng cơ khí. Còn đây sẽ là xưởng rèn. Xưởng mộc vẫn đế nguyên tại chỗ. Và chắc anh cũng đã biết rằng ngay trên đường tới đây, Xa-vê-li-ép đã được điện Chính phủ gọi về Mát-xcơ-va rồi chứ?

- Xa-vê-li-ép nào?

- Giám đốc mới của nhà máy chúng tôi. Từ tháng Tám đến nay, chúng tôi có giám đốc mới, ông ta đến mang theo lệnh sơ tán.

- Nhưng rồi sao nữa?

- Không biết liệu ông ta trở về có mang theo quyết định thay đổi chuyên môn của nhà máy chúng ta không? - Khô-khơ-lốp lấy đầu bút chì gãi gãi cằm. - Đã có tin đồn như vậy từ khi còn đang tháo dỡ nhà máy. Chiến tranh mà, có cái bây giờ còn cần hơn máy móc nông nghiệp.

Cru-gi-lin chỉ nhún vai.

- Thôi được, để xem, để xem, - Khô-khơ-lốp hấp tấp nói. - Thế này, anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, cái khoảnh đất này, chừng bốn chục héc-ta, việc đầu tiên là phải rào lại... Bằng gì à? Chắc chúng ta sẽ kiếm được ít gỗ chứ?

- Chúng tôi có một nhà máy gỗ nho nhỏ. Nhưng với số lượng gỗ như thế...

- Vâng, vâng... Và ngoài ra, đây là một công việc vất vả, tốn nhiều thời gian, sức lực. Mà ngày kia những đoàn tàu đầu tiên đã đến rồi. Lối thoát duy nhất, trước mắt phải rào khu vực nhà máy tương lai bằng dây thép gai... Mặc dù việc này cũng không thực tế. Lấy đâu ra dây thép gai? Đành phải bằng dây thép thường vậy. Có kiếm được không?

- Có lẽ cũng kiếm được ít nhiều. Cần bao nhiêu?

- Hơi nhiều đấy, hơi nhiều đấy... - Khô-khơ-lốp lắc đầu. Anh viết vội những con số ra giấy, tính toán số dây thép cần thiết phải có, rồi anh ngẩng đầu lên nhìn những ngôi nhà xấu xí của xí nghiệp liên hiệp, nhìn đồng cỏ trơ trọi phía sau chúng và mỉm cười. - Này, đồng chí Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích thân mến, chỉ còn một vài tuần nữa là cái chỗ này của thị trấn các anh sẽ không ai còn nhận ra nữa...

* * *

Và bây giờ quả không còn có thể nhận ra khu vực ngoại vi của thị trấn này được nữa. Một khoảng đất lớn, được rào ngăn lại bằng những chiếc cọc cao giăng mấy hàng dây thép, bị đào đi bới lại ngổn ngang, những ngọn núi đất cồn lên, gối đầu vào nhau như những đợt sóng đen khổng lồ. Mấy ngôi nhà của xí nghiệp liên hiệp đứng tận trong góc xa như bị những đợt sóng này xô dồn tới đó và giờ bị bỏ quên, không ai cần đến, trông chúng càng thảm hại bé nhỏ giữa những núi đất ngồn ngộn này.

Khắp nơi trên bãi đất, tiếng máy xúc gầm rú đào các hố chân móng; những đống gạch ngói, gỗ ván, gỗ cột, những thanh rầm thép chữ I, những cuộn dây thép nằm chất đống ngổn ngang giữa các gò đất. Và đâu đâu cũng người và người với xẻng, cuốc chim, xà beng trong tay. Từ nhà ga, những chiếc xe tải, xe kéo rơ-moóc nặng chạy đi chạy về không ngớt, chở gạch, gỗ, xi-măng, sắt, thép, máy cho công trường xây dựng nhà máy. Lúc đầu, trừ máy móc, tất cả mọi thứ đều được dỡ xuống xếp bên trong khoảnh đất đã được rào lại; nhưng dần dần, vì quá chật chội, nên những khu vực giáp liền xung quanh với địa phận của nhà máy tương lai cũng chất đầy các loại vật liệu xây dựng. Những cỗ máy cái và các thứ thiết bị khác của nhà máy được bốc xuống một chỗ riêng và xếp lên những tấm ván đặt ngay trên mặt dất.

- Chúng mày cũng thật vất vả, - khi những chiếc máy cái đầu tiên được chở đền, Khô-khơ-lốp lấy tay vuốt ve mặt thép lạnh của một cỗ máy phay, thở dài nói. - Cũng phải lặn lội như người. Kiếm đâu được cho chúng cái mái che bây giờ?!

- Chúng làm bằng thép, không bị cảm lạnh đâu mà lo, - một người râu đã lâu không cạo, mệt mỏi và thờ ơ nói.

- Phải lấy vải bạt phủ lên từng chiếc máy một! Từng chiếc một! Phê-đô-tốp, anh nghe rõ chưa? Bản thân anh sẽ chịu trách nhiệm về việc này.

- Tôi lấy đâu ra chừng ấy vải bạt? Anh hãy cấp cho tôi vải bạt, tôi sẽ che không chỉ máy thôi, mà cả công trường nữa.

- Không có bàn cãi! Phải che - và chấm hết. Lấy ở đâu ra là việc của anh...

Cru-gi-lin nhớ lại chi tiết nhỏ này khi cho xe đi đến gần công trường. Ông nghĩ về Khô-khơ-lốp và anh chàng Phê-đô-tốp mà sau đó ông chưa lần nào gặp lại với một thiện cảm ấm áp.

Đến nơi, ông thấy tất cả các cỗ máy đã được xếp thành từng hàng thẳng tắp và phủ vải bạt cẩn thận. Và ông lại nghĩ về Phê-đô-tốp: «Tay này khá lắm!..»

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích dừng xe lại, ném cho con ngựa thiến một túm cỏ, tháo dây chằng yên ra.

- Này, ông kia! - Ông nghe có tiếng gọi và trông thấy một người mặc áo bông, bao súng ngắn treo lủng lẳng trên chiếc thắt lưng da rộng bản. - Không được dừng lại đây. Ông không trông thấy tài sản của nhà máy đấy à? Đánh xe ra chỗ khác đi.

Khi quyết định dỡ máy móc và thiết bị xuống đây, mọi người muốn rào cả khu đất này lại bằng dây thép, nhưng sau thấy rằng đặt một trạm gác thì sẽ đơn giản hơn.

- Tôi là bí thư huyện ủy Cru-gi-lin. Khô-khơ-lốp đâu?

- À, vâng, - người mặc áo bông trả lời, kéo dài giọng. - Có mà quỷ biết anh ta ở đâu. Chỗ nào cũng thấy đến.

Khi Cru-gi-lin bước đi, anh ta chạy theo nói;

- Đồng chí bí thư, xin lỗi, cho tôi xin hỏi một tí... Chúng tôi làm thế nào để qua đông đây? - và anh ta chỉ về hướng những dãy lều bạt dài. - Đêm nghe đã lạnh lắm rồi. Trẻ con bắt đầu ho...

- Qua đông ấy à? - Cru-gi-lin dừng lại. - Sẽ qua được thôi. Bắt đầu từ ngày mai sẽ xây nhà.

- Xây là thế nào? - người bảo vệ ngạc nhiên hỏi. - Làm thế nào mà xây kịp được khi chỉ còn một tháng nữa đã là mùa đông?

- Sẽ kịp thôi, - Cru-gi-lin nhếch mép mỉm cười một cách khó khăn.

Đúng, nhà ở, nhà ở... Đầu như bị vỡ tung vì lo lắng: làm sao mà giải quyết được vấn đề nhà ở? Sau khi gửi được một số người tản cư đến trước đây về các nông trang, phải vất vả lắm mới bố trí được chỗ ở gọi là cho chừng năm trăm gia đình - chọn những gia đình đông con nhất. Nhưng còn hơn một nghìn gia đình - trên ba nghìn con người - từ ngày đến đây vẫn phải sống trong các túp lều bạt.

Tất nhiên có thể dùng biện pháp chính quyền để đưa thêm nhiều người tản cư về các nông trang, nông trường. Nhưng chính Khô-khơ-lốp lại phản đối việc này.

- Còn nhà máy? Chỉ bằng lực lượng công nhân chúng tôi thì làm thế nào để có thể kịp khôi phục nhà máy trong tháng Mười? Lúc đó người ta sẽ lấy đầu chúng tôi đi! - Và anh lắc lắc tập giấy đầy những con tính. - Chỉ riêng đất cũng đã phải đào hàng nghìn, hàng nghìn mét khối rồi.

Và anh nhấn mạnh:

- Phải tìm cho ra chỗ ở cho công nhân! Tôi không tin là cả một thị trấn lớn như thế này mà không tìm đủ chỗ ở cho thêm ba nghìn người nữa. Tôi, tự tôi sẽ đi từng nhà, tôi sẽ kiểm tra lại.

Và một lần, vào ban đêm, anh cùng với đại diện công an và ủy ban huyện, đi kiểm tra thật. Sáng hôm sau anh đến huyện ủy dáng mệt mỏi, cau có.

- Đúng là tất cả các nhà đều chật cứng, - anh làu bàu trả lời câu hỏi không nói ra lời của Cru-gi-lin. - Phải nằm ngổn ngang cả ra đất ngủ. Có một bà già còn túm lấy chúng tôi xô ra khỏi nhà: «Tốt hơn là chở sống tôi ra ngoài nghĩa địa, sẽ được thêm chỗ của tôi trên lò sưởi...» Nhưng dù sao cùng cần phải tìm được chỗ ở cho công nhân! - im lặng một lát, anh kết luận:

- Dựng xong nhà máy, chúng ta sẽ lo đến nhà ở. Sẽ làm nhà trại cho nhanh. Còn bây giờ thì gỗ lạt, thời giờ, nhân công, đều không có.

Nhưng công nhân không biết ở vào đâu.

Cru-gi-lin đi qua dãy lều bạt. Đây đó, một vài đống lửa mọi người nấu cơm sáng hãy còn bốc khói. Lũ trẻ con chạy đuổi nhau giữa những túp lều, hò hét, cười đùa. Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích biết ngay là chúng đang chơi trốn tìm. Ở đây không thiếu nơi để chúng có thể trốn rất kín.

Ông tìm thấy Khô-khơ-lốp ở cạnh trạm biến thế điện đang xây dở ở đây, chiều qua đã kết thúc xong việc đào hố móng, trong một đêm đổ xong chân móng và đã bắt đầu xây tường. Lúc Cru-gi-lin đến, bức tường gạch đã vượt lên trên mặt đất hơn nửa mét.

Khô-khơ-lốp, người lấm bùn bê bết, râu ria không cạo, nhưng vẫn nhanh nhẹn và vui vẻ như thường, đang quát tháo một người đàn ông mặc áo lao động liền quần dính đầy vữa:

- Đêm hôm qua anh hứa gì với tôi, hả? Tôi hỏi anh, anh hứa đến sáng sẽ đạt được bao nhiêu mét tường, hả? Thế đã xây được bao nhiêu? Hay là không có gạch? Hay là vữa không đủ?

- Tất cả đều có đủ...

- Tất cả đều có đủ! Chính tôi đã lo chạy cho tất cả đều có đủ! Thế mà các anh làm ăn như vậy đấy, hả?

- Mọi người kiệt sức cả rồi. Vừa làm vừa ngủ gật.

- Vừa làm vừa ngủ! Anh bỏ cái kiểu ấy đi - vừa làm vừa ngủ! - Và bỗng nhiên anh đổi giọng, nói như van xin, cầu khẩn: - Anh Pê-tơ-rô-vích, anh đừng chơi xỏ tôi nữa nhé? Một tuần nữa phải xây xong khung tường của trạm biến thế. Pê-tơ-rô-vích, anh có nghe tôi nói không? Đấy, ngày hôm nay giám đốc sẽ đến. Tôi biết nói sao với ông ta bây giờ? Làm sao dám nhìn mặt ông ta bây giờ?

- Thì chúng tôi cũng hiểu chứ, - Pê-tơ-rô-vích nói khàn khàn như bị cảm. - Tôi nghĩ, chúng ta sẽ làm kịp.

- Hãy làm đi, làm đi, anh bạn thân mến ạ. Chúng ta không thể không làm xong. Anh hiểu không, không thể!.. A, chào anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích! - Khô-khơ-lốp trông thấy Cru-gi-lin. - Đêm qua anh có ngủ được không? Không à? Đấy, nhìn mắt biết ngay mà, chắc lại họp suốt đêm.

Mắt Khô-khơ-lốp cũng đỏ ngầu, sưng mọng lên.

- Thì anh cũng có ngủ đâu ?

- Chập chờn được đôi chút... Thôi, ta ra đằng kia đi, sau đống gạch ấy, hút điếu thuốc, nghỉ ngơi một tí.

Họ ngồi xuống sau bức tường gạch, gần như toàn bộ công trường hiện ra trước mặt hai người. Mặt trời đã lên, tưới những tia nắng yếu ớt, như bị pha loãng, lên những đống đất nằm ngổn ngang, chiếu lấp lánh bên các cửa kính ca-bin của mấy chiếc máy xúc đang quay tròn, chạy đi chạy lại, ánh lên như tia chớp trên những chiếc xẻng bóng loáng của những người đào đất - chủ yếu là phụ nữ. Già có, trung niên có, trẻ có - tất cả đều đang vung xẻng dọn nền cho những khu xưởng tương lai của nhà máy. Một số xưởng đã được thành hình giữa bốn bức tường bằng gạch nâu đỏ cao chừng mét - mét rưỡi. Phụ nữ đẩy xe, khiêng gạch, cát, vôi, xi-măng, cũng phụ nữ trộn vữa trong các máng bằng gỗ, rồi đổ vào xô và mang cái chất lỏng nặng như chì đó cho những người thợ xây. Khắp nơi phụ nữ, phụ nữ phải làm cả những việc nặng nề, vất vả nhất.

«Còn bao nhiêu những việc như vậy phụ nữ phải làm, nếu chiến tranh kéo dài thêm một năm nữa? - những ý nghĩ nặng nề và nhức buốt trăn trở trong đầu Cru-gi-lin. - Còn nếu như hai năm nữa? Bởi vì, ngoài họ ra, chẳng còn ai. Chiến tranh đã ba tháng nay, số đàn ông trong huyện giảm đi đến ba phần tư - nếu không hơn. Chỉ có một số ít các chuyên gia nông nghiệp và thợ máy được hoãn để lại theo diện ưu tiên đặc biệt. Mà có lẽ cũng không lâu. Nghĩa là toàn bộ nền nông nghiệp sẽ nằm… - mà còn sẽ gì nữa! - đã nằm trên vai những người phụ nữ...»

- Anh thấy thế nào? - giọng Khô-khơ-lốp vang lên bên tai. - Công việc chạy đấy chứ. Chằng bao lâu nữa nhà máy chúng ta sẽ nhả khói! Còn anh, trước đây anh nói sao?!

- Vâng, - Cru-gi-lin buồn buồn đáp. - Nếu như không chuyển nhà máy sang Bộ dân ủy quân khí, thì tôi cũng không biết rồi sẽ ra sao... Anh nhớ lại xem, đến dây thép cũng không có để rào khu vực công trường lại, rồi gạch, rồi xi-măng, rồi gỗ, lấy đâu? Ngoài máy móc của nhà máy và mấy chiếc máy xúc, các anh có mang theo gì đâu...

Nghe bên cạnh bỗng vang lên tiếng ngáy, Cru-gi-lin quay sang nhìn. Khô-khơ-lốp, lưng tựa vào bức tường gạch, đầu hơi ngoẹo sang một bên để ưỡn cục yết hầu lởm chởm râu, đã ngủ thiếp đi từ lúc nào.

* * *

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích im lặng hút nốt điếu thuốc và nhớ lại những ngày công việc túi bụi vừa qua...

«Tôi sợ rằng sự kinh khủng đối với anh chỉ mới bắt đầu», - hôm đó Xu-bô-tin đã nói với anh như vậy. Và sự kinh khủng đó đã bắt đầu. So với nó, việc bố trí chỗ ở cho những người tản cư trước đây chỉ là một điều vặt vãnh, đơn giản. Huyện ủy chỉ thị cho tất cả các nông trang, các cơ quan trong huyện phải kiểm kê tất cả số vật liệu xây dựng hiện có, cho đến tận từng chiếc đinh một, chứ không nói tới gạch hoặc xi-măng, và chở tất cả về thị trấn để phục vụ việc khôi phục lại nhà máy. Nhưng bằng cách này cũng chỉ mới góp nhặt chưa nổi một phần nghìn số lượng cần thiết. Từ tỉnh ủy, hàng ngày điện thoại gọi xuống: công việc tiến hành ra sao? Bao giờ thì các anh nộp bản kế hoạch thời gian cho ra sản phẩm của nhà máy?

- Bản kế hoạch nào?! Hiện nay chúng tôi không thể lập được kế hoạch nào cả! - một lần, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích bị hành hạ đến mệt lử, hét vào máy. Ông nghĩ: «Muốn ra sao thì ra!» - Chúng tôi không thể kịp xong nhà máy trước tháng Mười Một được! Vâng, vâng, đang đào hố móng, chúng tôi huy động tất cả lực lượng có thể lao động được của thị trấn. Nhưng lấy gì mà đặt móng? Cấp cho chúng tôi vật liệu xây dựng, lúc đó hãy yêu cầu... Cát, sỏi à? Vâng, lấy ở bờ sông Grô-mô-tu-kha. Còn gạch, xi-măng? Chúng thì làm gì có trên bờ sông! Sao? Các anh không thể lấy từ kho của tỉnh vài cân xi-măng à? Thế thì... ai đưa nhà máy đến chỗ chúng tôi? Hội đồng tản cư à? Gọi đến đấy? Đã gọi rồi. Họ bảo: hãy thử hỏi Bộ dân ủy chế tạo máy trung quy mô. Chúng tôi đã gọi đến đấy, họ bảo: hỏi tỉnh. Bây giờ các anh lại bảo hỏi Hội đồng tản cư...

Thực ra, bản kế hoạch khôi phục và đưa nhà máy vào hoạt động đã có rồi, do Khô-khơ-lốp lập ra. Nhưng Cru-gi-lin vừa liếc qua khối lượng công việc và thời hạn thực hiện, đã hốt hoảng hỏi:

- I-van I-va-nô-vích, anh nghiêm chỉnh đấy chứ?

- Đúng như thời hạn yêu cầu, - Khô-khơ-lốp đáp.

- Tất cả các kỹ sư, bí thư chi bộ Đảng các xưởng... đều tham gia vào việc lập kế hoạch chứ?

- Không phải tất cả... Bí thư đảng bộ nhà máy Xáp-tsúc có biết.

- Thế... mời tất cả họ hôm nay đến huyện ủy.

Tối hôm đó, phòng làm việc của Cru-gi-lin trở nên chật chội. Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nhìn khắp lượt những khuôn mặt phờ phạc, không quen. Trong số có mặt, Cru-gi-lin chi biết Khô-khơ-lốp và Xáp-tsúc - một người cao to với chiếc mũi hơi tẹt và chiếc cằm nhọn. Họ làm quen với nhau ở nhà ga, khi đoàn tàu đầu tiên chở công nhân và thiết bị nhà máy vừa mới đến.

- Ta bắt đầu, các đồng chí ạ, - Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nói. - Tôi là Cru-gi-lin, bí thư huyện ủy. Đây là Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích Pô-li-pốp, chủ tịch ủy ban huyện. Còn đây là các ủy viên thường vụ huyện ủy. Trong quá trình làm việc, chúng ta sẽ quen nhau hơn. Còn bây giờ xin bắt đầu vào việc chính. Chúng ta cần phải trình lên tỉnh ủy bản kế hoạch khôi phục và sản xuất của nhà máy. Bản kế hoạch đã lập xong, các anh đều đã biết rồi đấy. Bỏ vào phong bì và gửi đi là việc hết sức đơn giản. Theo ý các anh thì thế nào? Gửi đi à? Chúng ta có kịp khôi phục xong nhà máy trước ngày mồng một tháng Mười Một không?

Mọi người im lặng.

Xáp-tsúc đứng lên, bắt đầu nói bằng một giọng trầm, hơi rè rè;

- Tôi không hiểu tại sao đồng chí lại hỏi chúng tôi về điều này. Thời hạn khôi phục nhà máy là cái không thể bàn cãi. Bản kế hoạch được lập ra dựa theo thời hạn đó. Còn bày giờ thì cần phải làm gì? Phải có một số rất lớn vật liệu xây dựng và hai chục nghìn công nhân làm mỗi ngày hai ca. Nhưng hiện nay bao nhiêu người đang làm? Bảy nghìn người một ca. Vật liệu xây dựng - số không. Đề nghị đồng chí Cru-gi-lin cho biết: khi nào sẽ có vật liệu xây dựng và số công nhân cần thiết?.. Rồi nữa, chỗ ở sẽ giải quyết ra sao? Mùa đông đang đến. Trong lều bạt lạnh cóng, đã có nhiều người ốm. Lương thực, thực phẩm không cung cấp đủ. Tuần đầu tiên của tháng Chín sắp hết, mà trẻ con chúng tôi vẫn chưa được đi học. Năm nay chúng có đến trường được không?

Cru-gi-lin có thể giải thích được gì đây? Không có gì cả! Thời hạn khôi phục nhà máy bị phá ngay từ đầu. Bệnh viện duy nhất của huyện chật ních. Các trường học không thể tiếp nhận nổi một nửa số trẻ em đột ngột có mặt ở San-ta-ra... Tất cả đều đúng như vậy. Nhưng ông có thể làm được cái gì? Ông đã cố gắng hết sức để tổ chức lại các cơ quan, xí nghiệp ở San-ta-ra nhằm phục vụ việc khôi phục nhà máy. Ông chỉ để một mình Pô-li-pốp không phải dính vào chuyện giải quyết người tản cư trước đây, và bây giờ là công việc khôi phục nhà máy. «Hiện nay anh chỉ có một việc là lo thu hoạch mùa, - ông nói với Pô-li-pốp. - Nhớ luôn luôn cho tôi biết tình hình, sau tôi sẽ bắt tay vào...» Đúng là tất cả đều tập trung lo cho nhà máy, nhưng vẫn không đạt được kết quả gì. Như vậy có nghĩa là ông ngồi không đúng chỗ? - một câu hỏi cay đắng đã nhiều lần thoáng qua trong đầu. Có nghĩa là ông không có khả năng làm gì cả? Nếu là người khác thì chắc họ đã làm được một việc gì đó, xoay xở được một cái gì đó rồi. Đấy, Xáp-tsúc đã nói trắng ra đấy... Và ông ta nói đúng, đáng ra không cần phải triệu tập cuộc họp ngớ ngẩn này. Không cần thiết... Vậy thì cần cái gì? Cái gì?

Cru-gi-lin không còn nhớ đã để cho mọi người ra về từ bao giờ, ông ngồi im lặng, hai tay ôm chặt lấy thái dương đang giật giật. Trong phòng làm việc không còn một người nào khác ngoài Pô-li-pốp. Chủ tịch ủy ban huyện đứng bên cửa sổ và nhìn những cành phong đung đưa ngoài lớp kính.

- Còn nghĩ ngợi gì nữa, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích? Kế hoạch đã có rồi, cần phải gửi gấp đi thôi, - Pô-li-pốp nói.

- Sao? - Cru-gi-lin ngẩng chiếc đầu nặng trịch lên. - Nhưng nó không thể thực hiện được!

- Thế ở trên đó họ không biết là không thể thực hiện được chắc?

- Nhưng rồi sau sẽ trả lời ra sao? Sau mồng một tháng Mười Một?

- Rồi sau... - Pô-li-pốp nhếch mép cười nhạt. - Rồi sau ai biết những cái gì có thể xảy ra... Nhưng ít ra thì sau này sẽ dễ giải thích hơn là bây giờ.

- Dễ hơn? - Cru-gi-lin nhíu mày hỏi.

- Tất nhiên, Pô-li-pốp nhún đôi vai rộng. Những khó khăn đã qua bao giờ cũng dễ dàng giải thích hơn, dễ nhìn tổng quát hơn... một cách hoàn toàn khách quan. Còn bây giờ thì không ai hiểu cho rằng anh không thể khôi phục xong nhà máy trước tháng Mười Một được. Nhưng sau rồi họ sẽ thấy, họ sẽ hiểu rằng không thể kịp. Hơn nữa...

- Sao nữa ? - Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích gay gắt hỏi.

- Hơn nữa cũng chẳng ai còn hơi sức đâu mà đào bới những việc đã qua... Lúc đó lại sẽ có những nhiệm vụ mới, còn phức tạp hơn. Cần phải hiểu tâm lý, như người ta vẫn nói...

- Ra thế… - Cru-gi-lin cười nhạt. - Tâm lý à? Tôi thấy anh thông minh đấy. - Ông đứng dậy, nặng nề bước đi trong phòng làm việc. - Chỉ có điều, Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích ạ, chúng ta vẫn phải khôi phục xong nhà máy trước tháng Mười Một.

- Nhưng chính anh sáng nay nói chuyện với tỉnh ủy lại hét vào ống nói, chứng minh rằng thời hạn đó không thể kịp được.

- Thiếu gì cái tôi hét, tôi chứng minh!

- Nhưng quả thực là không thể... không có khả năng...

- Không thể, nhưng cần thiết.

- Bằng cách nào?

- Tôi không biết.

Và mấy ngày sau Cru-gi-lin vẫn chưa biết phải bằng cách nào. Để khỏi phải trả lời những tiếng chuông điện thoại từ tỉnh gọi về, suốt ngày ông mất hút ngoài công trường. Suốt thời gian đó ông cũng chỉ gặp Pô-li-pốp hai ba lần. Ông ta không nói gì, không hỏi gì, chỉ chau mày im lặng. «Nhưng trong bụng mừng lắm đấy...» - mỗi lần như vậy, Cru-gi-lin lại nghĩ. Và ông cảm thấy trong lòng bắt đầu nảy sinh ra một cảm giác khó chịu đối với con người này.

Một lần, vào ban đêm, khi đã hoàn toàn kiệt sức, người phờ phạc, trống rỗng, ông gọi điện về nhà riêng của Xu-bô-tin ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ.

- Chào anh I-van Mi-khai-lô-vích, - Cru-gi-lin nói, rồi im lặng không biết tiếp tục ra sao. Bí thư tính ủy kiên nhẫn chờ. - Xin lỗi anh vì tôi gọi cho anh hơi khuya. Cũng chẳng phải để bàn công việc đâu, mà chỉ muốn nói chuyện với anh, thế thôi.

- Ấy, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, anh nói dối rồi.

- Vâng, tôi nói dối, - Cru-gi-lin ngoan ngoãn đồng ý ngay. - Nhưng tôi gọi điện cho anh không chính thức, không phải cho bí thư tỉnh ủy... Như vậy được chứ? Anh biết không, tôi chẳng biết nói chuyện với ai nữa... Một cách chân tình, thật lòng...

- Nghĩa là bở hơi tai ra rồi à?

- Từ này chưa hẳn đã đúng... Bở hơi tai là khi làm một cái gì đó, vượt qua một quãng đường nào đó... Còn tôi quay chong chóng như sóc trong bánh xe. Quay mãi, quay hết sức mà vẫn đứng tại chỗ. Phải làm gì bây giờ?

- Quả thế… - Xu-bô-tin im lặng một lúc mới đáp. - Đây không phải là câu chuyện điện thoại, anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ... Nếu như tôi nói với anh rằng ở đây chúng tôi cũng như... sóc trong bánh xe, thì sao? Anh có tin không? Cũng quay hết sức, nhưng hầu như bánh xe vẫn đứng một chỗ. Đã gần ba chục nhà máy các loại sơ tán về tỉnh. Cỡ như của các anh cũng có, có cái bé hơn, có cái lớn hơn. Lại còn khoảng một tá đang trên đường đến... Rồi sau tá này sẽ là bao nhiêu nữa? Anh vẫn nghe đài chứ?

- Thế rồi ra sao bây giờ?

Cru-gi-lin nói xong mới hiểu rằng câu hỏi hơi ngây thơ và không đúng chỗ. Ra sao à? Làm như chính mình không hiểu ấy! Bọn Đức tấn công ồ ạt, mạnh không cản nổi. Hồng quân để mất hết thành phố này đến thành phố khác. Chính phủ quyết định sơ tán tất cả những gì có thể. Và tất cả đều sang miền Đông, sang miền Đông, sang miền Đông! Còn biết đi đâu nữa?!

- Nghĩa là cái gì đang xảy ra - tôi hiểu. Nhưng bao giờ nó sẽ kết thúc?

- Nó sẽ kết thúc, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ. Chúng ta sẽ chặn bọn Đức lại. Chặn lại và đuổi chúng đi…

Hai người cùng im lặng.

- Thế nhưng tôi phải làm gì với nhà máy đây?

- Tôi cũng đang mong được ai trả lời cho tôi câu hỏi đó, - Xu-bô-tin mệt mỏi nói.

- Tôi hiểu rồi... Nghĩa là điều Pô-li-pốp khuyên tôi là đúng?

- Anh ta khuyên gì?

- Gửi bản kế hoạch «ma» về thời hạn khôi phục và đưa nhà máy vào hoạt động lên tỉnh.

- Nghĩa là… - Xu-bô-tin dừng lại một thoáng. - Anh ta, Pô-li-pốp ấy, cũng không đến nỗi ngốc lắm.

- Vâng, chắc là thông minh hơn tôi.

- Anh đừng tự tăng giá mình lên, - giọng Xu-bô-tin ra vẻ tức giận. - Tôi không nói «thông minh hơn». Tôi nói «không đến nỗi ngốc».

- Tức là, gửi đi chứ gì?

- Thế anh còn để làm gì nữa? - Và Xu-bô-tin một lần nữa thoáng dừng lại rồi nói thêm, dường như để giải thích tại sao Cru-gi-lin cần phải gửi về tỉnh bản kế hoạch, dù đó là bản kế hoạch «ma», không thể thực hiện được: - Nếu không thì... bây giờ ở đây cũng đã có người nói rằng anh đang cuống lên, không thể làm được gì cả.

- Thì cũng đúng đấy chứ, - ống nghe đã nóng lên từ lâu, đốt bỏng tai. - Tôi không thể làm được gì cả.

- Thế ai trong hoàn cảnh này, có thể? - Câu hỏI-vang lên một cách gay gắt, đến nỗi Cru-gi-lin phải giật mình.

- Anh nói gì vậy? Anh thử nghĩ xem, anh nói gì với tôi vậy?

- Vâng, có thể tôi nói không phải lắm, - Xu-bô-tin dịu hơn. - Ngày mai thì tôi sẽ không nói như vậy với anh. Nhưng hôm nay anh muốn thân mật, chân tình mà. Thì đây, tôi nói với anh một cách chân tình: những khó khăn đổ lên đầu chúng ta là chưa từng có, quá sức. Hàng ngày, anh, tôi, và tất cả mọi người chúng ta, vấp phải những nhiệm vụ, mà rất nhiều trong số đó, nếu nhìn thẳng vào sự thật mà nói, không thể, hoặc hầu như không thể giải quyết nổi trong hoàn cảnh và thời hạn như hiện nay. - Giọng ông bỗng đã dịu hẳn đi, hết sức giản dị và thân mật, chân tình: Nhưng, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, nếu như tự chúng ta cho rằng, tin chắc rằng chúng ta hoàn toàn kiệt sức, bất lực, không có khả năng khắc phục... thì lúc đó sẽ ra sao? Anh thử nghĩ xem.

- Vâng... Vâng, vâng, - Cru-gi-lin thốt lên ba lần.

- Cố lên, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích! - Xu-bô-tin vẫn nói bằng giọng thân mật như cũ. - Chặn được quân phát-xít lại, chúng ta sẽ đỡ hơn... Còn với nhà máy của anh, chắc sắp tới cũng sẽ có cách...

- Cách gì? Cách nào? - Cru-gi-lin ép chặt hơn ống nghe vào tai.

- Xa-vê-li-ép, giám đốc nhà máy của các anh, vừa gọi điện từ Mát-xcơ-va về... Hình như nhà máy được chuyển giao cho một cơ quan quân sự nào đó. Nếu vậy thì vật liệu xây dựng và nhân lực sẽ ưu tiên số một cho các anh...

- Khoan, khoan nào... Nhưng đây là nhà máy chế tạo máy nông nghiệp cơ mà.

- Thôi, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, - Xu-bô-tin khô khốc cắt ngang. - Chuyện này không phải để nói qua điện thoại. Chúng ta cũng đã nói quá nhiều những điều không nên rồi... Này, thế anh có biết rằng giám đốc nhà máy Xa-vê-li-ép là người vùng San-ta-ra của các anh không?

- Sao lại của chúng tôi? - Cru-gi-lin không hiểu.

- Anh ta sinh ở vùng các anh, ở San-ta-ra đấy mà.

- Đợi tí, đợi tí... Xa-vê-li-ép nào nhỉ? Ở chỗ chúng tôi có một Xa-vê-li-ép, tên là Phê-đô, lái máy gặt liên hợp. Anh ta có hai anh em trai. Em là I-van, hiện cũng đang sống ở đây. Còn anh cả là... tên anh ta là gì nhỉ? Không phải An-đrây, cũng không phải... Này, có phải tên anh ta là An-tôn không? An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích?

- Đúng đây, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích. Một người rất tốt, tôi cùng anh ta đã hoạt động bí mật với nhau ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ.

- Ra thế đấy… - Và bỗng nhiên, bất ngờ với cả chính mình, Cru-gi-lin hỏi: - Và hình như anh cũng hoạt động bí mật với cả Pô-li-pốp phải không?

- Vâng, với cả anh ta. Hồi đó cả bọn phải trải qua khá nhiều... Nhưng anh có chuyện gì với Pô-li-pốp thế?

- Có phải anh ta thông báo cho tỉnh ủy rằng tôi ở đây cuống lên không làm được gì cả không? - Cru-gi-lin hỏi thẳng.

- Anh... - Xu-bô-tin húng hắng ho, - anh dựa trên cơ sở nào mà đưa ra những kết luận... hoặc giả thiết như vậy?

- Anh ta tự ái vì bị đưa ra khỏi ghế bí thư.

- Này, anh bạn ạ... Anh suy luận quá vội vã, và có thể... không nghiêm chỉnh đấy, - Xu-bô-tin nói, rồi chào tạm biệt, kết thúc câu chuyện. Nhưng những chỗ ngắt quãng trong giọng nói của bí thư tỉnh ủy, câu hỏi vội vã, «anh có chuyện gì với Pô-li-pốp thế?», và mấy lời ngập ngừng cuối câu chuyện «và có thể...» - tất cả những cái này cho phép Cru-gi-lin hiểu rằng chính Xu-bô-tin cũng có vẻ như không phủ nhận những suy luận của ông.

Đêm hôm đó, Cru-gi-lin không ngủ, cứ trăn trở mãi, suy nghĩ về nhà máy, về Pô-li-pốp, nhớ lại từng chi tiết nhỏ và phân tích kỹ lưỡng toàn bộ câu chuyện với Xu-bô-tin. Gần sáng, tiếng chuông điện thoại bỗng vang lên đột ngột.

- Xa-vê-li-ép đây... A-lô! Có ai nghe đấy không? Đồng chí là bí thư huyện ủy phải không?

- A... Đợi đồng chí mãi! Vâng, tôi là bí thư huyện ủy đây... Đồng chí mất hút ở đâu mãi vậy? Tôi đang hoàn toàn không biết làm sao với nhà máy của đồng chí đây. Đồng chí từ đâu gọi về thế?

- Từ Mát-xcơ-va

- Từ Mát-xcơ-va… - Cru-gi-lin lặp lại và lắng nghe tiếng ngân của từ này. - Từ Mát-xcơ-va... Thế ở trên ấy, ở Mát-xcơ-va, tình hình ra sao?

- Bình thường. Chỉ có hơi tối. cả Mát-xcơ-va nằm trong bóng tối, không ở đâu có lấy ánh lửa.

- Chúng có ném bom không?

- Chắc các anh đọc báo biết trên bầu trời Mát-xcơ-va ác liệt ra sao rồi chứ? Nhưng thỉnh thoảng máy bay bọn phát-xít cũng lọt vào được. Xin lỗi anh nhé, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, vì đã đánh thức anh dậy... Chúng tôi hãy còn chưa đi ngủ, ở Mát-xcơ-va bây giờ mới nửa đêm. Vừa có quyết định của Chính phủ về nhà máy của chúng ta xong.

- Vâng, tôi biết rằng sẽ có quyết định. Đêm qua, tôi đã nói chuyện với tỉnh ủy.

- Càng tốt. Thế nhưng tình hình nhà máy hiện nay ra sao rồi?

- Tồi lắm. Chúng tôi đã chở hết thiết bị từ ga về, tìm và dọn sạch mặt bằng, hiện đang đào móng. Huy động tất cả mọi người có thể làm việc được, chủ yếu là phụ nữ, thậm chí cả thiếu niên. Đưa hết những ai có thể được từ tất cả các cơ quan, xí nghiệp ra công trường. Nhưng vẫn không đủ người. Ở chỗ chúng tôi, cũng như khắp nơi trong cả nước, lệnh động viên đã lấy đi hết.

- Vâng, điều này cũng dễ hiểu thôi.

- Chưa có gì để xây các xưởng cả. Mọi người sống trong các lều bạt, không tìm đâu ra chỗ.

- Tôi hiểu rồi, - Xa-vê-li-ép lại nói. - Người sẽ còn đến nữa.

- Sao? Anh nói sao?

Xa-vê-li-ép dường như không nghe thấy tiếng kêu của Cru- gi-lin, vẫn tiếp:

- Ở trên chuyển cho chúng ta thêm một phần thiết bị và nhân lực của một nhà máy khác, nhà máy quốc phòng. Hiện đang trên đường tới, đã điện cho chỉ huy các đoàn tàu biết là cần phải đến đâu. Đồng thời vấn đề vật liệu xây dựng cũng đã được giải quyết. Sau ba - bốn ngày nữa, gạch, xi-măng và các thứ khác sẽ bắt đầu được chở đến chỗ các anh. Nhiệm vụ chủ yếu là phải bốc dỡ ngay tức khắc, không làm chậm các đoàn tàu lại. Hiện Khô-khơ-lốp đang ở đâu? Còn Xáp-tsúc?... Anh chuyển lời hộ, bảo họ lấy người từ công trường ra để bốc dỡ hàng. Lấy bao nhiêu đủ số cần thiết thì thôi. Và tất nhiên phải chuyển về hết. Sẽ có thêm vài chục xe vận tải tới. Ở đó các anh hãy huy động hết toàn bộ phương tiện giao thông, đến chiếc xe ngựa cuối cùng.

- Tôi hiểu rồi, - Cru-gi-lin đáp không vui vẻ lắm.

- Tôi sẽ còn phải nán lại một vài ngày ở đây, sau về Nô-vô-xi-biếc-xcơ để xoay cho được các vật liệu xây dựng.

- Thế người... còn bao nhiêu người sẽ tới?

- Chừng nghìn rưởi nữa... Giờ cứ để họ sống tạm trong các lều bạt cho đến đầu tháng Mười một. Sau đó ta sẽ nghĩ cách... - Và ông nói tiếp một cách đột ngột, hầu như không có sự chuyển tiếp: - Thế còn cậu em Phê-đô của tôi hiện nay sống ra sao ở chỗ các anh? Anh biết không, tôi sinh ở San-ta- ra đấy.

- Tôi biết rồi, Phê-đô vẫn... sống bình thường. Hiện đang thu hoạch lúa mì ở nông trang Mi-khai-lốp-ca.

- Vâng, hình như Phê-đô lái máy gặt liên hợp thì phải. Thế về cậu em khác của tôi anh có nghe tin gì không? I-van ấy mà. Anh có biết chú ấy không?

- Tại sao lại không? I-van cũng ở đây, ở Mi-khai-lốp-ca.

- Ở đấy à? - An-tôn vội hỏi lại. - Nghĩa là chú... chú ấy đã về rồi à?

- Vâng, đúng vào hăm hai tháng Sáu, ngày bắt đầu chiến tranh.

- Thế... Thế đấy… - Xa-vê-li-ép kéo dài giọng. - Thôi được, nghĩa là chúng tôi sẽ gặp nhau. Đã lâu tôi không gặp họ, ba chục năm rồi còn gì? Cũng muốn biết mấy chú ấy trông bây giờ ra sao... Thôi nhé, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, tạm biệt anh.

Cru-gi-lin liếc nhìn đồng hồ. Chiếc kim ngắn vừa mới chỉ qua con số bốn. Ngoài cửa sổ còn tối, bầu trời đen kịt, chỉ có một chỗ, phía sau làng, nơi mọi người đang làm việc suốt đêm dưới ánh đèn pha, là bầu trời có màu xám đục trong một vầng sáng nhạt. Vầng sáng đó đêm nào cũng có, suốt từ đầu hôm cho tới tận sáng mới tắt. Đúng ra là không tắt, mà ngược lại, mỗi buổi sớm càng cháy sáng hơn, xua tan bóng đêm, chiếu khắp bầu trời. Rồi sau đó mặt trời mọc lên.

Đêm đó Cru-gi-lin không đi nằm nữa. Phương tiện vận chuyển à? Sẽ có phương tiện vận chuyển - ông vừa đi lại trong phòng, vừa nghĩ. Tạm thời phải rút bớt một số xe tải, thậm chí cả máy kéo đang gặt mùa về. Còn tất cả những gì có thể, sẽ chuyển bằng ngựa. Ngựa ở trong huyện thì nhiều. Xe ngựa, xe bò... Ngay sáng mai sẽ triệu tập tất cả các cán bộ phụ trách các cơ quan trong huyện, tất cả các chủ tịch nông trang, để cùng với lãnh đạo nhà máy hình dung ra nhiệm vụ mới một cách cụ thể từng chi tiết và tìm cách thực hiện.

Mục tiêu vẫn còn rất xa xôi, và vẫn như trước, rất khó đạt tới. Nhưng bây giờ đã xuất hiện những khả năng để đạt tới. Tất cả vấn đề còn lại sẽ phụ thuộc vào con người, phụ thuộc vào việc tổ chức họ lại. Và đây đã là chuyện khác, về việc này có thể - và cần thiết phải - đòi hỏi ở huyện ủy, ở chính bản thân ông, Cru gi-lin.

Cru-gi-lin đi xuống bếp, vã nước lạnh lên mặt, trở lại phòng làm việc, lấy ra một tờ giấy trắng và bắt đầu thảo bức điện báo bằng điện thoại gửi các chủ tịch nông trang và những người phụ trách tất cả các cơ quan của huyện...

* * *

Nhớ lại tất cả những chuyện trên, Cru-gi-lin thở dài.

Mặt trời tuy không gay gắt lắm, nhưng cũng đủ nóng, không khí sau bức tường gạch khá oi bức, những hạt mồ hôi như những giọt sương rịn ra trên trán Khô-khơ-lốp đang ngủ.

Xung quanh là tiếng gầm rú, tiếng loảng xoảng, tiếng la hét, chửi rủa. Những người đi ngang qua ném về phía Cru-gi-lin và Khô-khơ-lốp những cái nhìn bực tức: hai cái lão nào đang ngồi mà say sưa khoái lạc ở đây thế này?!

Đầu Khô-khơ-lốp khẽ ngoẹo sang một bên, để lộ chiếc cổ gầy, mọc đầy lông lá cáu bẩn không cạo. Chiếc cổ của anh gợi lên trong Cru-gi-lin một sự thông cảm, thương mến.

Cru-gi-lin đã cần phải đi từ lâu, nhưng ông không muốn đánh thức Khô-khơ-lốp dậy. Ông khẽ rút một điếu thuốc mới, đánh diêm. Tiếng rống của máy kéo, máy húc không thể làm cho Khô-khơ-lốp thức giấc - nhưng tiếng xoẹt của que diêm bắt lửa lại làm cho anh giật mình, mở cặp mắt lo lắng, rồi khoan khoái thốt lên:

- A-a-a...

- Ngủ được một ít chứ?

Khô-khơ-lốp mỉm cười ngượng nghịu.

- Thế mà tôi cứ tưởng bom cháy xì. Nó cũng kêu y như bật diêm, chỉ có to hơn mà thôi. - Anh giơ bàn tay run run lau mồ hôi trán. - Và cả tiếng thét trẻ con nữa.

- Tiếng thét trẻ con?

- Vâng. Tôi... ở nhà... có đứa con gái bị cháy... chết. Nó mới bảy tuối. Tôi chưa kể cho anh nghe...

Quả là Khô-khơ-lốp chưa lần nào kể rằng anh có gia đình hay không, hiện nay đang ở đâu, ra sao. Không hiểu sao Cru-gi-lin cứ nghĩ rằng anh ta sống độc thân.

- Nếu không thì nay cũng đã đi học rồi, - Khô-khơ-lốp vẫn tiếp tục kể, mắt nhìn xuống mũi giày bám đầy bùn. - Thế mà nó chết mất. Nhớ lại thật khủng khiếp... Lần ấy chúng ném bom, ban đêm... Chúng tôi từ trong nhà chạy ra sân. Đứa bé bị vấp ngã. Vừa lúc đó chúng ném bom cháy. Một quả rơi xuống, quay tròn ngay trên mặt đất cạnh con tôi. Chiếc áo trên người nó lập tức bốc cháy. Nó còn chồm dậy, thét lên... Nhưng liền đó lại ngã xuống, lăn... vào ngay quả bom lửa đang cháy... Tất cả chỉ xảy ra trong một giây, ngay trước mặt vợ tôi. Một tí nữa thì vợ tôi cũng lao mình vào quả bom cháy đó, khó khăn lắm mới giữ lại được.

Khô-khơ-lốp nói xong ngồi im, mắt vẫn nhìn xuống mũi giày trước mặt. Nhưng hình như anh không trông thấy gì cả. Đôi mắt anh đờ đẫn, lạnh lẽo và không phản ánh một điều gì cả.

- Vâng, tôi hiểu, - Cru-gi-lin khẽ nói.

- Không, - Khô-khơ-lốp lắc đầu. - Điều này ai không trải qua thì không hiểu được. Không thể!

- Thế vợ anh... gia đình anh giờ cũng ở đây à?

- Thì còn ở đâu được nữa... Đằng kia, - anh hất đầu chỉ về phía lều bạt, - vợ và con gái. Đứa đầu. Và cũng là đứa cuối. Vợ tôi, tôi đã nghĩ, chắc là không sống nổi. Nhưng rồi cũng qua dần. Bây giờ chỉ im lặng. Như một người câm. Nhưng tôi nghĩ, rồi cũng sẽ nói thôi. Đau khổ là đau khổ, nhưng cũng cần phải sống. Đã bắt đầu đi làm. Thế là tốt rồi. Vợ tôi tốt nghiệp kinh tế kế hoạch, còn bây giờ đi làm vữa xây trạm biến thế.

Cru-gi-lin nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên với con người này. Anh bước vào phòng làm việc một cách sảng khoái, thản nhiên ném chiếc cặp lên bàn và nói về công việc bằng một giọng nhẹ nhàng, không hề buồn chán. Thế mà trong lúc đó, vợ anh bị mất trí vì đau khổ, đang đi trên một đoàn tàu quân sự nào đó, dưới sự trông nom, chăm sóc của con gái. Con người như vậy phải có một lòng yêu đời mãnh liệt và một nghị lực lớn lao biết chừng nào?!

Họ còn ngồi im lặng thêm chừng hai - ba phút.

- Thế này, I-van I-va-nô-vích ạ, tôi muốn nói với anh về chuyện lều bạt... Đến tháng Mười một đã bắt đầu lạnh. Đêm qua thường vụ chúng tôi đã họp và quyết định...

- Vâng, tôi cũng đã biết rồi - xây nhà đất... Xáp-tsúc đã nói với tôi. Sao các anh không mời tôi đến họp với thường vụ?

- Chúng tôi có mời đấy chứ...

- À, vâng, hình như có mời, - Khô-khơ-lốp lau chiếc cằm mọc đầy râu. - Quỷ thật, trong đầu cứ quay cuồng, lẫn lộn. Chiều hôm qua tôi còn nhớ. Nhưng tối qua đặt máy biến áp, tôi phải trực tiếp theo dõi... Nhà đất, nhà đất...

- Chúng ta không còn cách nào khác. Xa-vê-li-ép cũng đồng ý như vậy. Mùa đông, chúng ta sẽ dần dần xây nhà...

- Xa-vê-li-ép vẫn đang còn ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ à? Tôi cũng có việc cần bàn với ông ta. Dù sao thì tôi cũng chỉ là kỹ sư chế tạo máy nông nghiệp. Còn bây giờ thì vẫn chưa rõ là chúng ta sẽ sản xuất cái gì.

- Đạn pháo. Sao lại chưa rõ?

- Đạn pháo! Nhưng tôi không biết làm đạn pháo như thế nào! Tôi không học. Bây giờ cần phải nghĩ cách lắp ghép các xưởng, bố trí máy móc, thiết bị. Nhưng tôi không biết cái gì để vào đâu. Và cũng không ai biết cả. Chưa có một chuyên gia nào của nhà máy quốc phòng đến cả.

- Hình như hôm nay họ sẽ đến cùng với Xa-vê-li-ép.

- Thế à? Cứ đợi mãi! Còn nhà đất, - Khô-khơ-lốp lấy ra một quyển sổ đã nhàu nát. - Hình như trong cuộc họp thường vụ tối qua các anh có nói đến cái hố đất khổng lồ này. Sáng nay tôi có đến xem, có một vài con tính đây. Nhưng đây là cái hố gì vậy?

- Tôi cũng không biết. Khi tôi còn nhỏ, các cụ già bảo rằng đấy là một cái đầm lớn, nước từ Grô-mô-tu-kha, một con sông chảy qua làng, theo những ống bằng gỗ chảy thông vào, rồi những ống đó mục hết, đầm khô cạn.

- Rất tốt là nó đã cạn khô. Bờ của cái hố này khá dốc, và như vậy cũng rất tốt. Chúng tôi sẽ cho máy xúc đào khoét vào mép hố... Đây, anh xem...

Trong sổ của Khô-khơ-lốp vẽ một chiếc hố dài với những ô vuông nhỏ xung quanh. Hình vẽ giống như một chuỗi ngọc và trông cũng khá đẹp.

- Chỉ cần chừng chục gầu xúc - và về cơ bản đã được một căn hầm làm nhà. Chỉ còn phải che phía trên lại. Gỗ dùng cho việc này, tôi nghĩ có thể tìm được, cửa vào nhà sẽ ở đây, từ phía dưới. Tuy không tiện lắm, nhưng biết làm sao. Thế khi tuyết tan, hố có nước không?

- Không. Thường chỉ có một ít dưới đáy khi lớp đất trên mặt chưa tan hết.

- Rất tốt. Thậm chí còn đẹp nữa chứ: những biệt thự sang trọng đứng xung quanh hố... Khô-khơ-lốp lật một trang sổ. - Còn đây là một vài con tính. Trong nửa tháng, năm chiếc máy xúc đào là đủ. Còn người, tất nhiên là cần để sửa, dọn lại. Cũng đơn giản thôi, hàng ngày sẽ điều chừng năm trăm người đến đây. Việc chính là che mái và làm cửa cho kín. Còn bên trong thì tùy theo thị hiếu từng người mà sắp xếp. Nhưng nguyên tắc thiết kế chung, theo tôi là như thế này...

Khô-khơ-lốp lật thêm một trang giấy, và Cru-gi-lin thấy sơ đồ nhà hầm vẽ bằng bút chì.

- Lối ra vào, như anh thấy đấy, ở bên dưới, phía đáy hố, - Khô-khơ-lốp giải thích. - Đây là cánh cửa, hai bên là cửa sổ nhỏ. Đây vừa là bếp, vừa là phòng ăn. Tiếp đến là vách ngăn, bên kia là buồng ngủ. Buồng ngủ sẽ tối, phải có điện. Nhưng bù vào đó lại ấm, mọi người sẽ dễ ngủ. Còn đây là lò sưởi, cho cả hai phòng trong và ngoài. Thế nào?

- «Bếp, phòng ăn, phòng ngủ» - những từ này ở cửa miệng Khô-khơ-lốp nói ra một cách tự tin, nghiêm chỉnh, dường như anh đang trình bày thiết kế một ngôi nhà ở thật sự chứ không phải căn hầm đất sơ sài.

- Hoặc cũng có thể ghép hai ba gia đình vào một hầm, có được không? - Khô-khơ-lốp vẫn tiếp tục nói. - Cần phải suy nghĩ, như vậy sẽ tiết kiệm được không phải vật liệu, mà thời gian. Đây, tôi có sơ đồ loại hầm như thế đây...

- Tất cả những cái này anh kịp làm bao giờ thế, I-van I-va-nô-vích? - Cru-gi-lin hỏi hơi buồn buồn.

- Những cái này đơn giản thôi, tranh thủ một lúc thôi mà, - Khô-khơ-lốp gấp sổ lại. - Có cái còn phức tạp hơn nhiều. Hôm qua một xe hàng bị mất cắp.

- Vâng, đồn trưởng công an có gọi điện cho tôi. Đang tìm.

Trên các xe hàng lưu động này người ta đem hàng hóa, áo quần, giày dép bán cho công nhân của nhà máy. Nói chung, hàng hóa gì ở San-ta-ra có đều ưu tiên đem đến đây. Mới rồi, liên hiệp hợp tác xã tiêu thụ huyện vừa nhận về một đợt khá nhiều vải, len và ủng lao động. Chủ nhiệm liên hiệp liền cho xếp ngay lên hai chiếc xe lưu động và đem đến bán ở khu lều bạt.

Xe hàng đến từ chiều, bán được chừng gần hai tiếng thì bắt đầu tối, mọi người đem niêm phong lại, rồi giao cho người bảo vệ như thường lệ. Trong khu lều bạt ngay từ đầu đã có người bảo vệ riêng của mình. Để khôi phải mất công đem xe đi về, người ta để chúng lại ở khu lều bạt và ông già bảo vệ nhận trông coi với một ít tiền bồi dưỡng.

Sáng hôm nay, cả ông già bảo vệ cùng một chiếc xe vải và ủng đã biến mất. Anh công an Ê-li-da-rốp từ mờ sáng đi kiểm tra xem tình hình ở khu lều bạt có yên ổn không đã phát hiện ra điều này.

Người ta tìm thấy ông già bảo vệ bị một vật gì đánh vào đầu nằm bất tỉnh cạnh một chiếc lều. Khi đưa ông về, ông sờ tay lên chiếc đầu bị đánh dập đầm đìa máu và rên rỉ:

- Quỷ tha ma bắt cái trò bảo vệ của các anh đi! Cả tiền của các anh nữa! Cho tôi thôi ngay cái chức này đi! Ôi, cái đầu tôi vỡ ra rồi!

- Ai đã lấy cắp xe hàng? Ông có nhận ra những người nào không ? - Ê-li-da-rốp gặng hỏi.

- Tôi không biết gì hết. Các anh hãy tìm một thằng bé khoảng mười - mười hai tuổi.

- Thằng bé nào? Nó ra sao ?

- Làm sao mà tôi biết được nó ra sao ? - Ông già hét lên. - Trời tối đen, làm sao mà nhìn thấy được? Nó bảo, hình như có cái gì lột sột ở trong xe. Tôi liền áp sát tai vào thành xe... Chúng đứng ở phía sau nện vào đầu...

... - Tôi nghĩ là sẽ tìm ra xe hàng này thôi. Chúng giấu đi đâu được, có phải là cái kim đâu, - Cru-gi-lin im lặng một lát rồi nói, rút đồng hồ trong túi ra nhìn. - Như vậy là giải quyết xong vấn đề nhà đất... Tôi ra ga đây. Anh có đi đón Xa-vê-li-ép không?

- Cũng nên đi, nhưng tôi lại đang phải lo mấy cái máy biến áp. Xáp-tsúc đang ở ngoài đó, ông ta sẽ đón...

* * *

Nhà ga ở cách thị trấn San-ta-ra chừng ba ki-lô-mét. Tuyến đường sắt phải chạy cách ra như vậy vì hàng năm về mùa xuân con sông Grô-mô-tu-kha cạnh San-ta-ra lại dâng nước lên ngập bờ bên trái, có khi rộng đến một hai ki-lô-mét. Những người xây dựng chắc sợ rằng nếu làm đường gần thị trấn thì nước lũ sẽ bào cuốn hết đá dăm rải đường đi.

Cru-gi-lin gò cương con ngựa thiến đang muốn lồng lên. Con đường nhựa trong mấy tháng gần đây bị bánh xe tải, xích xe máy kéo xéo nát, lật tung. Pô-li-pốp ra lệnh cho Ma-lư-ghin lấy sỏi đá dăm liên tục lấp các hố rãnh, ổ gà, và anh chàng Ma-lư-ghin tài xoay xở với các tay «bợm» của mình đã giữ cho con đường luôn luôn tốt. Mới cách đây không lâu Ma-lư-ghin được gọi ra trận, Cru-gi-lin và Pô-li-pốp thì không còn thời gian nào mà nghĩ tới đường sá, nên nó lại ở trong một tình trạng thảm hại. «Cần, rất cần phải sửa đường lại trước mùa mưa. Không thì nó hóa lầy ra mất... Nhưng bây giờ thì Xa-vê-li-ép cũng phải cùng đau đầu ít nhiều về việc này chứ...»

Những chiếc xe tải, xe kéo rơ-moóc chở đầy tài sản của nhà máy đi ngược lại không ngớt.

Một chiếc máy kéo khi đi ngang qua bỗng dừng lại, từ trên ca-bin một thanh niên còn rất trẻ nhảy xuống, vừa chạy đến vừa vẫy tay. Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích gò cương dừng lại.

- Cháu cần gì thế?

- Cháu muốn làm quen thôi, - anh thanh niên nói. - Có phải bác là bí thư huyện ủy Cru-gi-lin không?

Đôi mắt xám của anh thanh niên nhìn điềm tĩnh nhưng hơi lạnh lùng và có vẻ hoài nghi, những mớ tóc rối bù rủ xõa ra ngoài chiếc mũ lưỡi trai.

- Đúng bác là Cru-gi-lin đây. Thế cháu là ai?

- Cháu là Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép.

- À, tức là con trai của Phê-đô Xa-vê-li-ép phải không? Cháu lớn thế rồi đấy, - Cru-gi-lin lại nhìn chàng trai với một vẻ tò mò.

- Lớn rồi. Thậm chí cháu còn định cưới vợ nữa kia.

- Cháu đến mời bác đi dự phải không?

- Không ạ. Cháu muốn gặp bác về chuyện người ta hoãn, chưa cho cháu đi bộ đội.

- Ra thế đấy. Thế cháu muốn ra mặt trận à?

- Chẳng lẽ cháu lại kém hơn người khác hay sao? Trước đây cháu đã được hoãn nghĩa vụ quân sự vì trạm máy kéo đang thiếu người. Lúc đó, thậm chí cháu mừng là khác. Nhưng bây giờ...

Xê-mi-ôn bỏ mũ xuống, lấy bàn tay vuốt mớ tóc xõa ra sau, rồi lại đội mũ đè lên.

- Xê-mi-ôn ạ, chính bác cũng đang muốn ra mặt trận đây. Và người ta cũng không cho.

- Bác lại khác. Bác ở đây cũng đã bao nhiêu việc.

- Thế cháu không có việc hay sao?

- Cái này thì gọi gì là việc? - Xê-mi-ôn hất đầu chỉ về phía chiếc máy kéo của mình. - Tất nhiên cháu hiểu... Phải thu hoạch lúa mì này, phải xây dựng nhà máy này... Cháu đã ba tuần nay đi chở hàng cho nhà máy. Nhưng dạy cho bất cứ đứa con gái nào chỉ cần hai tháng là nó có thể lái được rồi.

- Thì cũng còn cần phải dạy. Nhưng nhà máy có chờ đâu?

- Cháu rõ rồi… - Xê-mi-ôn xịu mặt xuống. - Thế nghĩa là bác không giúp cháu được à?

- Khi nào cần thì người ta sẽ gọi, không cần bác giúp.

- Tức là bây giờ thì chưa cần ạ?

- Hiện nay thì cháu ở đây có lẽ cần hơn.

Xê-mi-ôn đứng im lặng nhìn ngang qua vai Cru-gi-lin ra ngoài đồng cỏ trống trải đã bắt đầu trở nên buồn tẻ, nhổ một bãi nước miếng xuống dưới bánh xe và bỏ về máy. Nhảy lên ca-bin, anh dận ga đến nỗi chiếc máy kéo rú lên, giật mạnh, rồi lao đi. Và Cru-gi-lin, cảm thấy mặt đất rung lên, ông mỉm cười với một điều gì đấy.

Những đoàn tàu bụi bặm đứng chật cứng trên những đường tránh ở nhà ga, bên cạnh là đủ các loại xe tải, máy kéo, xe ngựa, xe bò dồn nhau chen chúc không theo một trật tự nào. Những chiếc xe đã được xếp đầy tài sản của nhà máy nặng nề bò ra con đường cái rải nhựa, và đi ngược lại với chúng là một dãy dài nối đuôi nhau những chiếc xe không, tiếng rú của động cơ ô-tô, máy kéo, tiếng còi tàu xe lửa, tiếng sắt thép loảng xoảng, tiếng ngựa hí và tiếng người la hét, chửi rủa - tất cả hòa vào nhau thành một tiếng ồn ào kéo dài không dứt.

Nhưng mặc dù những đoàn tàu đã đứng chật ních đến thế, vẫn còn một đoàn tàu nữa đến chen được vào giữa. Chiếc đầu máy ám khói kéo đến tận ke ga chừng ba chục toa tàu chất đầy máy móc, gạch đá và những chiếc thùng gì đó. Từ cửa toa hàng có trần che duy nhất của đoàn tàu, một người đàn ông mặc áo đi mưa, tay cầm chiếc mũ lưỡi trai bằng da, nhảy xuống.

Cru-gi-lin nhận ngay ra ông ta: giống hệt Phê-đô, cũng vầng trán rộng hơi dô, cũng cặp lông mày mọc khít vào nhau. Chỉ có không để ria, và tóc màu tro xám chứ không đen.

- Chào anh An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích!

- Anh là Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích Cru-gi-lin?

- Vâng, tôi đây.

An-tôn Xa-vê-li-ép không chìa tay ra ngay, ông thoáng chậm lại một vài giây, chăm chú nhìn kỹ người đứng trước mặt. Rồi sau đó ông cũng không buông tay ra ngay.

- Thế nghĩa là chúng tôi đã đến nơi rồi đấy. Còn đây là các kỹ sư của nhà máy. Các đồng chí làm quen với nhau đi...

Từ cửa toa bước xuống thêm chừng mười lăm người nữa, tất cả đều đã đứng tuổi, vẻ ngoài đĩnh đạc. Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích lần lượt bắt tay tất cả mọi người, lắng nghe từng giọng nói của họ, nhưng trong đầu nghĩ: kiếm đâu ra chỗ ở cho ngần này cán bộ chuyên môn? Họ đến cùng với gia đình hay một mình đây?

- Nào, chúng ta thử ngó xem ở đây có những gì, tình hình ra sao? - Xa-vê-li-ép nhìn quanh nhà ga, nói. - Việc bốc dỡ thế nào?

- Chúng tôi làm tất cả những gì có thể.

Từ phía dưới đoàn tàu, Xáp-tsúc chui ra đột ngột. Đã hơn tuần lễ nay, bí thư đảng ủy nằm lỳ suốt ở nhà ga để chỉ đạo việc bốc dỡ hàng. Ông mặc một chiếc áo bông dính đầy dầu mỡ, và trông ông giống hệt một người lái xe hoặc lái máy kéo.

- Chúng tôi cứ đợi mãi! - Ông kêu lên, bắt tay An-tôn Xa-vê-li-ép và mọi người. - Thế nào, bắt đầu báo cáo từ đâu?

- Mất thời gian làm gì? Các đồng chí, chúng ta đi quanh ga một lượt, sẽ thấy hết. Chỉ mất chừng mười phút thôi… - Và ông quay sang Cru-gi-lin: - Còn chiều nay tôi muốn được nói chuyện với anh. Bây giờ hình như anh đang định đi xa thì phải? - ông đưa mắt nhìn ngọn roi ngựa trong tay Cru-gi-lin.

- Vâng, đang mùa. Cũng cần phải ngó qua xem tình hình ruộng đất ra sao.

- Đúng đấy.

- Còn về chỗ ở - ở ủy ban huyện sẽ có người bố trí tạm. Sau rồi ta sẽ nghĩ cách... Các anh đến cùng gia đình chứ?

- Hiện đang ở đâu đó trên đường đi... Thôi, đến chiều gặp nhau nhé.

...Mơ màng trong tiếng vó ngựa lốc cốc, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nghĩ về Xa-vê-li-ép. Tinh thật, biết ngay là mình đang định ra đồng. Và mới gặp đã cởi mở, thân thiết ngay... Giản dị, không khách sáo...

Phía sau xe, bụi bốc lên một lớp, trắng như khói gỗ bạch dương. Chúng không bốc lên cao, nhưng cũng không lắng xuống, mà bay là là trên mặt đường, rồi dần dần tan đi như làn sương sớm.

Hai bên đường, lúa mì mọc dày, như những bức tường cao, những bông lúa đã quá chín, trĩu nặng rủ xuống sát đất. Đã tháng Chín mà lúa mì còn chưa gặt hết! Trước đây chưa bao giờ như vậy. Còn bây giờ lúa vẫn đứng đó, chín rụng dần. Cầu trời đừng có gió lớn, không thì rụng hết.

Hai ba con diều hâu vẻ lười biếng, no nê đang lượn tròn trên cánh đồng cỏ. Chắc là chúng đang chọn tìm những con cun cút béo nhất. Mặt trời đã lên cao, cần cù, hào phóng tỏa ánh nắng mùa hè xuống khắp nơi.

* * *

Gần tối, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ghé đến sân đập lúa của nông trang «Bông lúa đỏ». Chung quanh sân, khá nhiều, chừng mười hai đụn lúa mì lớn, trải bóng dài trên mặt đất.

Trên sân, những chiếc xe ngựa loại nhỏ chạy tới chạy lui lộn xộn. Xung quanh sân, mọi người đang đập lúa bằng máy ngựa kéo, tiếng máy quạt gõ lách cách, tiếng người giục ngựa inh ỏi. Hơn chục chiếc xe lớn đã thắng ngựa đứng tách ra một quãng. Những chiếc xe nhỏ chất đầy những bao lúa mì đã đập rồi,

Chủ tịch nông trang Pan-crát Na-da-rốp ngồi sau một chiếc bàn dài có mái che. Nhô đôi vai xương xẩu, ông cúi xuống chiếc bát đặt trước mặt. Cuối bàn đằng kia, một người đàn bà má bánh đúc đang cẩn thận nắn nót kẻ từng chữ cái một bằng bút lông lên tấm vải đỏ.

- A-a, - Na-da-rốp kéo dài giọng một cách không thân thiện lắm thay cho lời chào. - Gla-phi-ra, cho thêm bát miến. Anh ngồi xuống đây ăn tối luôn.

Người đàn bà ném bút lông vào chiếc cốc đựng phấn màu loãng, mang đến một bát miến, một chiếc thìa gỗ đã bị gặm mòn và một miếng bánh mì to tướng, rồi lại cầm lấy bút vẽ.

- Ở đây chị ta vừa là cấp dưỡng, vừa là tuyên truyên viên, vừa là họa sĩ đấy. Kiêm luôn cả, - Pan-crát nói.

Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, qua một ngày đã khá đói, vừa ăn, vừa nghĩ rằng trong mấy năm ông sống ở Ôi-rô-chi-a, Pan-crát Na-da-rốp đã già nhiều, sút hẳn đi. Ông có vẻ như không gầy đi, mà chỉ khô héo, còng xuống và đen thêm, như tấm ván gỗ thông bị phơi lâu ngoài nắng.

Pan-crát húp xong bát xúp của mình, lấy vỏ bánh mì cạo vét đáy bát.

- Thế này thì chẳng cần phải rửa bát nữa. Pê-tơ-rô-van đâu?!

Một ông già rậm râu, đôi mắt màu xanh nhìn tư lự, bình thản, bước đến chào hỏi. Cru-gi-lin vẫn còn nhớ người nông trang viên này. Bộ râu của ông rộng như lưỡi xẻng đã điểm bạc từ lâu, chỉ có đôi mắt là vẫn trong sáng như thời còn trẻ.

- Thôi, ngừng lại đã, - Pan-crát bảo ông. - Thắng cả những con này vào nữa. Còn lại sẽ đập nốt bằng đòn đập. - Chủ tịch nông trang quay lại phía Cru-gi-lin. - Chúng tôi cho chở lúa đến kho đấy.

Không cần phải nói, Cru-gi-lin cũng biết rằng ở đây đang chuẩn bị chở lúa đến kho.

- Nhưng trời sắp tối, - Gla-phi-ra lẩm bẩm. - Ngựa thì đã mệt lử rồi!

- Chị kia, biết gì! - chủ tịch nông trang quát. - Giống mẹ như đúc, quỷ tha chị đi! Anh còn nhớ Va-xi-li-xa Pô-xcô-nô-va không? Ở làng tôi có mụ ta là ranh ma quỷ quái, những chuyện ngồi lê mách lẻo ở đâu cũng biết trước nhất.

- Mẹ cháu thì việc gì đến bác?

- Đấy, đấy, giống như đúc. Đúng là con gái, không trệch đi đâu được. Vla-đi-mia!

- Có ngay ạ! - một cậu bé mặc áo vá, đi chân đất, người đầy bụi, tay cầm nạng gảy rơm, chạy đến.

- Dựng nạng vào đống lửa kia - và về nhà ngay! Không ngày mai lại ngủ gật trên lớp. Pê-tơ-rô-van, thắng ngựa đi, gì mà chậm chạp thế? Khi về, thả cho chúng ăn trên đồng cỏ một lúc. Tôi bảo đừng chất quá mười lăm pút lên một xe mà! Để ngựa sáng mai còn phải đập lúa nữa đấy.

Chủ tịch nông trang nói tất cả những điều này mà vẫn ngồi yên một chỗ. Bây giờ ông ngồi quay lưng vào bàn, đôi chân đi ủng đã mòn vẹt giang rộng.

Gla-phi-ra viết xong, đem tấm vải trải ra trước mặt chủ tịch nông trang và Cru-gi-lin. Trên tấm vải những chữ cái còn ướt xiêu vẹo ghép vào nhau: «Lúa mì - cho mặt trận!»

- Được không?

- Được. Ban đêm, cũng chẳng thấy gì đâu. Đem treo lên chiếc xe đi đầu, - Pan-crát không nhìn đến tấm vải, nói.

Gla-phi-ra đi ra sân.

- Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích ạ, năm nay anh đóng lúa hơi muộn đấy, - Cru-gi-lin nói. - Hình như hôm nay mới có chuyến đầu.

Rất lâu, Pan-crát vẫn không trả lời, ông ngồi nhìn các nông trang viên đang thắng ngựa, xếp bao lúa mì lên xe.

- Vội vã - tội vạ cho thiên hạ cười!

Chủ tịch nông trang đang bực bội. Ông không bằng lòng với việc bí thư huyện ủy hôm nay về đây.

Hàng ngày xem bảng theo dõi tình hình nộp lúa ở huyện ủy, Cru-gi-lin ngạc nhiên vì thấy trong cột đối diện với nông trang «Bông lúa đỏ» bao giờ cũng chỉ có một gạch ngang. Pô-li-pốp đã mấy lần báo cáo: Na-da-rốp không chịu nộp lúa mì cho Nhà nước... «Ông ta cố ý không chịu nộp. Mà thời buổi này, cần phải hiểu rằng, đâu còn là thời bình nữa...» - lần cuối cùng mới đây Pô-li-pốp giận dữ nói. Cru-gi-lin thì không tài nào dứt ra được để tự mình đi đến nông trang, chỉ gọi điện xuống. Na-da-rốp im lặng nghe Cru-gi-lin nói, rồi hứa sẽ bắt đầu nộp thóc. Nhưng rồi vẫn chưa nộp.

Những chiếc xe đã xếp đầy lần lượt cót két rời khỏi những đống lúa mì, nhường chỗ cho những xe không. Các bà nhanh nhẹn dùng xô, dùng đấu đổ đầy lúa mì vào các bao tải.

Cuối cùng, tất cả các xe đều đã xếp đầy. Pê-tơ-rô-van Gô-lốp-lép lại đi đến bên chủ tịch nông trang, nhưng ông già xua tay:

- Thôi đi đi, mong Chúa giúp cho anh!

Pê-tơ-rô-van không nói một lời nào, quay đi, và liền đó có tiếng những cỗ xe kêu cót két và đoàn xe bắt đầu chuyển bánh.

- Thế mỗi xe mười lăm pút có ít quá không? - khi đoàn xe đi khỏi, Cru-gi-lin hỏi.

- Ngựa mệt quá rồi. Ngày mai lại còn phải đập lúa nữa.

- Tức là ngày mai các anh sẽ không chở thóc đi nộp nữa à?

- Tại sao lại không? Tối mai lại chở đi một chuyến nữa.

- Thêm hai chục xe, mỗi xe mười lăm pút. Tất cả, kể cả hôm nay, sẽ là sáu trăm pút, gần một trăm tạ. Bây giờ đã nửa tháng Chín rồi. Anh có thấy quá ít không?

- Chúng tôi sẽ nộp chừng nào có thể nộp được!

- Pan-crát, tôi thấy anh đang bày trò...

Na-da-rốp, suốt buổi ngồi bất động, bỗng vụt đứng dậy.

- Anh nghe đây! - Và ông vung cả hai tay. - Anh nghe đây, bây giờ tôi sẽ chửi nhau với anh. Như một con thú. Nhưng đây có người. Vì vậy, hãy ra chỗ khác. Anh đi đâu bây giờ, về San-ta-ra hả?

- Về đấy.

- Thì đi. Tôi cũng cùng đường, đến sân kho đội hai. Dọc đường ta sẽ chửi nhau. Đồng cỏ vắng vẻ.

Nhưng trên «đồng cỏ vắng vẻ», Na-da-rốp lại không chửi. Đi khỏi sân một quãng, Na-da-rốp, lúc đó đã nguôi cơn nóng, bình tĩnh nói:

- Nếu như tôi có bày trò, thì cũng theo chỉ thị của các anh.

- Thế nghĩa là thế nào?

- Cũng dễ hiểu thôi... Huyện ủy có chỉ thị phải thu hoạch mùa không được để rơi vãi, mất mát không? Có. Ngay trong ngày đầu tiên của chiến tranh. Còn tôi thì đang làm gì? Anh có thấy những đống lúa chưa đập ở sân không? Tất cả lúa mạch đen của chúng tôi ở đấy. Còn các nông trang khác thì sao? Một nửa đang còn chưa gặt ngoài đồng. Lỡ trời mưa gió thì sao? Đấy, đấy. Ở chỗ chúng tôi sẽ không có rơi rụng đi đâu hết. Hiện nay tiểu mạch cũng đang chín. Chúng tôi tập trung sức gặt, đập. Chỉ có hai máy gặt đập của trạm máy kéo. Chừng ấy thì kịp làm sao được. Hơn nữa, những người đàn ông được việc nhất thì đã ra trận. Một nửa số ngựa đã bị huyện huy động cho nhà máy vừa sơ tán về. Nửa còn lại tôi sợ cũng có thể bị trưng dụng cho quân sự. Đúng không?

- Cũng có thể.

- Đấy... Thế tôi biết phải làm gì? Nếu tôi để rơi vãi lúa mì thì sao? Anh sẽ xoa đầu tôi hay cho nắm đấm vào gáy? Vì vậy mà bọn tôi phải xoay. Đấy, anh nhìn xem...

Cách đường chừng bốn trăm thước, một toán chừng ba chục phụ nữ khăn áo đủ màu sặc sỡ đang dùng liềm gặt lúa tiểu mạch và bó lại từng lượm. Mặt trời sắp lặn chiếu vàng lên ruộng rạ, và những túm lúa bó chặt cũng lấp lánh lên như những thỏi vàng ròng.

- Anh thấy không, chúng tôi phải tìm cách để thu vén. Gặt, bó thành lượm, rồi đánh đống. Sau sẽ đập từ từ. Còn thóc chúng tôi sẽ nộp đủ. Trốn đi đâu mà không nộp?

- Thì ra là như vậy đấy...

- Thì có cái gì là không như vậy?

Nhưng Cru-gi-lin không trả lời câu hỏi của Na-da-rốp.

Họ im lặng đi chừng nửa ki-lô-mét. Chú ngựa thiến Các-ca - Xô-côn sau một ngày vất vả giờ không còn tìm cách lộn ra khỏi càng nữa. Pan-crát lại quay sang nhìn những người đàn bà đang gặt, nói:

- Cái chị A-ga-ta, vợ I-van Xa-vê-li-ép này, tôi càng biết bao nhiêu càng phục, không đủ lời để khen.

- Chị ta đấy à?

- Đấy. Tập hợp các bà già lại, và bắt đầu! Một ngày mà gặt được bao nhiêu! Giúp tôi được nhiều lắm. - Ông ngừng lại một thoáng, rồi tiếp: - Về khoản này thì I-van thật tốt số. Tóm lại - đúng là một cô vợ «chuông khánh!»

- Tại sao lại «chuông khánh»?

- Con người cũng như những chiếc chuông nhà thờ. Có cái dường như được đổ bằng đồng nguyên chất, để dưới mặt trời cháy rực lên như hổ phách, bề ngoài thì không tìm đâu ra cái khác đẹp hơn. Nhưng đánh một dùi kêu rè rè, như bị han gỉ, chẳng khác gì đánh vào cái chảo gang. Nhưng lại có cái bề ngoài trông xấu xí, mốc xanh. Nhưng chỉ mới chạm nhẹ một cái, nó sẽ ngân nga lên như bình minh trôi trên bầu trời buổi sáng trong lành. Đấy, chính là thế đấy.

Na-da-rốp cố rướn đôi lông mày rậm bám đầy bụi bậm của đồng cỏ, nghiêm nghị nhìn vầng mặt trời vàng khè đang từ từ tụt xuống phía sau dãy núi đá Dve-nhi-gô-ra lởm chởm. Mép đĩa mặt trời đã bị mỏm đá hoa cương ép dẹt, tan ra thành một suối ánh sáng đỏ rực chảy tràn theo các vách núi.

Những đám sương chiều đã bắt đầu từ trong các khe sâu tối đen của dãy Dve-nhi-gô-ra trườn ra. Nhìn chúng, có cảm giác như đó không phải là sương, mà là những suối ánh sáng mặt trời chảy vào các khe núi ẩm ướt, và từ đó hơi nước bị đun nóng bốc lên...

- Còn I-van bây giờ ra sao? - Cru-gi-lin hỏi.

- Ra sao à? Bình thường, - Na-da-rốp trả lời, mắt vẫn không rời những mỏm núi đá Dve-nhi-gô-ra sáng rực. - Chăn bò. Tôi muốn đưa sang làm chỗ máy xay đang xây, nhưng anh ta bảo: cháu muốn được ở một mình trong đồng cỏ, hít thở mùi hương cỏ dại, nghe tiếng lá bạch dương... Thế mà tôi, cái gốc gỗ mục này, không đoán ra...

- Còn Phê-đô làm việc ở đây ra sao?

- Phê-đô ấy à? Làm việc thì như trâu. Một ngày chỉ ngủ hai - ba tiếng.

- Vâng, Pô-li-pốp rất khen anh ta.

Pan-crát Na-da-rốp nhếch mép cười khảy, những ngón tay thô cứng vân vê xoắn bộ râu đã từ lâu chưa cạo, không nói gì.

- Anh em họ có thường gặp nhau không? - Cru-gi-lin hỏi.

- Hình như không. Không nghe nói. Mà cả hai người cũng chả ai cần gặp để làm gì.

- Hôm nay, người anh cả của họ, An-tôn, về đấy.

- An-tôn à? - Đôi mắt Na-da-rốp vụt sáng lên. - Thế cơ đấy! Tôi không nhớ anh ta nữa. Quên hết rồi, chỉ còn loáng thoáng nhớ có một cậu bé tóc trắng nhạt, suốt ngày chạy nhảy ở sân nhà Xa-vê-li-ép. Khoảng mười - mười hai năm trước cách mạng, ông già Xi-lan-chi gửi cậu ta đến nhà người em ruột ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Hai ba năm sau thì nghe nói anh chàng An-tôn này đã lang thang khắp các nhà tù Nga hoàng. Và một lần - tôi còn nhớ rất rõ là năm chín trăm mười - có mấy tên hiến binh ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ về tìm An-tôn vừa vượt ngục... Anh ta ở đâu về? Về làm gì?

- Anh ta được cử làm giám đốc nhà máy vừa sơ tán đến huyện ta.

- Thế cơ đấy! - Pan-crát lại ngạc nhiên thốt lên.

Mặc dù ban ngày có nắng gay gắt đến mấy, trước lúc hoàng hôn xuống, không khí cũng dịu đi rất nhanh, hơi lạnh buổi chiều kéo về từng đợt.

Con ngựa Các-ca - Xô-côn kéo chiếc xe lên một ngọn đồi nhỏ. Trước mặt họ liền hiện ra bóng những đỉnh núi đá của dãy Dve-nhi-gô-ra trải dài loang lổ trên mặt đất. Bóng núi bò lan rất nhanh theo những đám rạ, những ruộng lúa mì chưa gặt, mỗi lúc một lớn thêm, như những chiếc răng đen khổng lồ ngoạm vào đồng cỏ. Khoảng không gian bị bóng che cũng tối dần, như mỗi lúc một thu nhỏ lại, và có cảm tưởng như không phải bóng những ngọn núi đá bò trên mặt đất, mà chính dãy Dve-nhi-gô-ra đang rời chỗ tiến đến gần.

- Dừng lại, - Pan-crát nói. - Tôi đến gần đây thôi...

Chủ tịch nông trang bước xuống xe, đứng chờ một lúc xem bí thư huyện ủy có nói thêm gì không. Nhưng Cru-gi-lin vẫn im lặng hút thuốc.

- Anh hãy quát tháo ầm ĩ đi chứ, như Pô-li-pốp sáng nay ấy. Hắn đến đây, chạy xộc vào như gió bão, làm ầm ầm. Thóc thì đúng là đến nay chúng tôi chưa có nộp.

- Tôi chẳng quát tháo như thế đâu. Nhưng dù sao, Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích ạ, việc nộp thóc cũng nên cố lên một tí.

- Thế... nghĩa là trên tỉnh người ta dồn anh à?

- Họ quan tâm, - Cru-gi-lin nói lấp lửng.

Chủ tịch nông trang cọ rất lâu bàn tay chai cứng vào thành xe như tay ông bị ngứa.

- Thôi được, chúng tôi sẽ cố. Chỉ có điều phải trả giá hơi đắt đấy. Nhưng biết đâu, nhờ trời... vì anh đấy, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, tôi mới cố... Và cũng chỉ tạm thời thôi. Còn nói chung năm nay chúng tôi sẽ nộp thóc cho Nhà nước khá đấy. Mùa này được to, anh thấy đấy... - và người chủ tịch nông trang già đưa cánh tay dài vụng về chỉ quanh một vòng, thở dài. - Chà, giá như tất cả đều là lúa mạch đen!

Đây là một vấn đề khá đau đầu từ lâu của cả vùng này. Bao đời nay ở đây, giống lúa mạch đen bao giờ cũng thu hoạch nhiều gấp ba - bốn lần so với tiểu mạch. Trước cách mạng, những nhà giàu ở địa phương chỉ gieo lúa mạch đen thôi. Chính lão Cáp-ta-nốp với trên ba trăm đê-xi-a-ti-na[1] đất, thóc gặt về nhiều đến không biết để đâu cho hết. Gặp khi được mùa, hàng chục đụn lúa của hắn phải để đến một - hai năm sau mới đập hết. Thường xuyên có một khối lượng thóc dự trữ vô tận như vậy, Cáp-ta-nốp không cần tăng thêm diện tích đất trồng - chỉ chừng ấy cũng đã quá đủ.

Những năm đầu tiên sau cách mạng, các hợp tác xã ở đây hầu như cũng chỉ gieo có mỗi giống lúa mạch đen. Nhưng dần dần, các tổ chức cấp trên bắt đầu tích cực can thiệp vào việc phân vùng cho các giống cây lương thực. Bị sức ép của họ, trước khi chuyển sang Ôi-rô-chi-a, Cru-gi-lin cũng đã buộc phải hạn chế bớt một ít diện tích gieo giống lúa mạch đen. Và bây giờ, sau khi trở lại San-ta-ra, ông kinh hoàng thấy khắp cả huyện tổng số diện tích của lúa mạch đen không nổi nghìn rưởi héc-ta.

Những chiếc răng nhọn khổng lồ của bóng núi đá ngoạm đến ngọn đồi, nơi Cru-gi-lin và Na-da-rốp đứng. Pan-crát vẫn cọ bàn tay vào thành xe.

- Anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, sang năm chúng ta sẽ gieo thêm giống mạch đen chứ? - ông hỏi khẽ. - Hồi mùa xuân anh đã hứa...

- Sang năm hãy còn xa. Để lúc đó ta hẵng xem sao.

Đầu tiên, cặp lông mày rối bù, đầy bụi của Na-da-rốp khẽ nhảy lên, rồi tiếp đó đôi môi khô, nhợt nhạt, méo xệch lại.

- Cứ để xem, để xem suốt! Chúng ta cứ như đi trên một chiếc cầu khỉ ấy, chỉ sợ sẩy chân. Mà người ta có để cho chúng ta thở đâu, - ông nói một cách cáu kỉnh. - Chúng ta đã mất bao nhiêu với cái giống tiểu mạch này rồi?!

Pan-crát Na-da-rốp ném ra từng từ một, nặng nề, như hất những súc gỗ xuống đất, rồi vụng về, ì ạch giẫm chân lên mặt đường đầy bụi.

- Gì mà anh trách mắng tôi thế? - Cru-gi-lin vô tình cũng cao giọng. - Chẳng lẽ tất cả là lỗi tại tôi à?

- Thế còn ai nữa? - người chủ tịch nông trang già kêu lên và đôi mắt lấp lánh một cách dữ tợn. - Hay là chỉ một mình Pô-li-pốp? Hay I-a-cốp A-lây-nhi-cốp? Cả anh nữa! «Sang năm hãy còn xa. Để lúc đó hẵng xem sao...» Anh nhát quá đấy!

- Trong việc này quyền hành của tôi ít lắm.

- Tôi còn ít hơn! Thế mà, đấy, tôi dám nhận I-van Xa-vê-li-ép vào nông trang. I-a-cốp A-lây-nhi-cốp về nhảy nhót quanh tôi một buổi, rồi bỏ về không. Có thể là như vậy tôi đã không để gãy cái cốt lõi con người trong I-van, giúp anh ta đứng vững được. Vậy mà anh thì lại không giúp tôi.

Những lời cuối cùng quất vào lòng Cru-gi-lin đau buốt, rớm máu, vì rằng chúng bất công, làm ông phật lòng.

- Tôi không giúp à? Nhưng, thứ nhất là tôi về đây chưa được một năm... - Cru-gi-lin xúc động và cảm thấy không nói lên được điều mình muốn nói. - Thứ hai là anh không biết rằng người ta sẽ quay anh và tôi như thế nào, nếu như chúng ta thay diện tích gieo tiểu mạch bằng giống lúa mạch đen?

- Có thể là người ta sẽ quay! - chủ tịch nông trang kêu lên. - Nhưng nếu như có thêm hai ba người cùng gieo nữa - họ sẽ khó mà quay hơn. Lại còn ở nơi khác, người khác nữa... Tóm lại, như bá tước Lép Tôn-xtôi nói...

- Ai, ai? - Cru-gi-lin ngạc nhiên thốt lên.

- Bá tước Lép Nhi-cô-lai-ê-vích Tôn-xtôi. Anh đừng nhìn tôi như thế, tôi không thạo chữ lắm, những quyển sách dày cộm của ông ta từ bé đến giờ tôi chưa bao giờ đọc hết được. Nhưng thỉnh thoảng cũng có đọc. Trong một quyển sách, ông ta viết những câu thật thông minh: nếu như những người xấu biết tập hợp lại với nhau, thì người tốt cũng cần phải làm như vậy, đấy là tất cả sức mạnh và bí quyết bảo đảm. Thí dụ như thế. Và vì rằng những người tốt dù sao cũng nhiều hơn... Mà tôi bảo, anh đừng nhìn tôi như thế!

- Thế anh cho ai là những người tốt, Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích?

- Anh chẳng hạn, cũng chẳng đến nỗi xấu.

- Cám ơn anh. Thế còn những cán bộ của các cơ quan nông nghiệp huyện và tỉnh, những người bắt phải gieo tiểu mạch thay cho giống mạch đen, thì sao?

- Thế anh nghĩ về họ ra sao? - Thay cho câu trả lời, Na-da-rốp hỏi.

- Tôi ấy à? Tôi nghĩ rằng họ hoàn toàn không phái là kẻ thù của chính quyền Xô-viết và họ cũng muốn làm điều tốt.

Na-da-rốp cúi đầu khẽ húng hắng ho.

- Tôi cũng không biết nữa, - cuối cùng ông lên tiếng. - Tôi không biết. I-van Xa-vê-li-ép cũng nói với tôi rằng cả I-a-cốp A-lây-nhi-cốp cũng làm tất cả vì điều tốt, vì chính quyền Xô-viết. Nhưng anh ta lại sai lầm... Và bây giờ, anh cũng nói vậy. Có thể là các anh đúng. Nhưng nếu như những sai lầm như vậy quá nhiều, như tóc trên đầu ấy, thì sao?

- Rất khó khăn, anh Pan-crát ạ. Nhưng biết làm sao? Tôi cũng nghĩ nhiều, rất nhiều, về những sai lầm của chúng ta, về những sự bất công đủ loại: chúng từ đâu, tại sao?

- Và anh nghĩ đến đâu?

- Và tôi nghĩ đến... Đúng hay không, tôi không biết, nhưng tôi nghĩ rằng... Chính quyền chúng ta mới giành được cách đây không lâu. Những vết chai do quai súng để lại trên vai, có thể nói, còn chưa bong hết, thì nay chúng ta lại buộc phải mang súng tiếp. Cuộc sống mới chúng ta xây dựng một cách mò mẫm. Thử cách này, thử cách khác, và nhìn lại xem được cái gì. Nhưng nhiều khi không phải có thể nhìn lại và hiểu ngay được, thậm chí không phải chỉ mất một, hai năm mới nhìn ra. Những người cầm quyền - ở mọi cấp, cao cũng như thấp - có đủ các loại. Điều này là tất nhiên, dễ hiểu thôi. Có người thông minh, có người kém thông minh hơn, cũng có người ngu dốt hoàn toàn. Và anh không phải dễ dàng thấy ngay được rằng họ là những kẻ ngu dốt. Đến lúc đó, họ đã kịp làm bao nhiêu là điều xấu, điều ác? Nhưng họ làm không phải cố ý, chính họ lại nghĩ rằng họ đang làm điều thiện. Thế nào, bắn họ vì những sai lầm của họ à? Tất nhiên, vẫn có những kẻ thù thật sự của nhân dân và sự nghiệp chúng ta.

- Cái này thì tôi hiểu... Chúng thì đi đâu mất? Đấy, như Ma-ca Cáp-ta-nốp chẳng hạn. Nghe nói hình như vừa ở tù về.

- Nhưng đấy chỉ là một thằng ăn trộm bình thường. Tù hình sự. Hôm nay một chiếc xe chở hàng ở công trường xây dựng nhà máy bị mất. Đây có lẽ cũng lại do tay của hắn. Đang kiểm tra.

- I-van Xa-vê-li-ép nói rằng hắn không phải là kẻ trộm đâu. Nghĩa là trộm, nhưng là loại trộm đặc biệt. Hắn trả thù cho cha. Vì cái tài sản bị tước mất.

- Thế sao? - Cru-gi-lin cau mặt. - Cũng có thể như vậy. Đấy, anh thấy đấy, tất cả đều phức tạp, rối rắm. Cứ lấy anh và tôi làm thí dụ. Anh cho tôi thuộc loại người không đến nỗi xấu. Nói thực với anh, tôi cũng tự cho mình không phải là loại người quá xấu. Mà cũng không phải quá tốt. Tôi đang làm một cái gì đó ở huyện này, và tôi nghĩ rằng tôi làm đúng, làm tốt. Nhưng cũng có thể là sau một vài năm, cuộc sống sẽ chỉ ra rằng không phải mọi cái đều tốt và đúng cả đâu.

Cru-gi-lin nói khe khẽ, không vội vã, dường như đang suy nghĩ với chính mình. Na-da-rốp nghe, lông mày nhíu lại, và qua nét mặt của ông không thể hiểu được rằng ông có đồng ý với Cru-gi-lin hay không.

- Đấy, với những sai lầm thì như thế đấy. Tôi chỉ nghĩ đến vậy thôi... Cùng với thời gian, chúng sẽ ít dần, ít dần đi, vì rằng chúng ta sẽ học được cách làm kinh tế tốt hơn.

- Hiện nay cũng có thể còn nhiều điều ta chưa làm, - Na-da-rốp vẫn bướng bỉnh nói. - Chuyện lúa mạch đen này chẳng hạn. Đến kẻ mù cũng thấy...

- Cũng thấy à? Có những năm ở đồng ta tiểu mạch cũng thu hoạch khá đấy chứ?

- Thỉnh thoảng. Năm sáu năm một lần.

- Nhưng ấn tượng về vụ mùa ấy lại giữ lâu. Và người ta tưởng rằng gieo tiểu mạch tốt hơn. Vì ai cũng biết rằng bánh mì làm bẳng bột tiểu mạch ngon hơn. Đấy, anh thấy chưa, lại vì ý định tốt mà họ bắt phải gieo tiểu mạch. Nào, bây giờ anh thử nói xem, đâu là người tốt, đâu là người xấu.

Na-da-rốp im lặng.

- Thế nghĩa là việc thực hiện những lời khuyên của Lép Tôn-xtôi như anh hiểu đâu phái dễ dàng. Hoặc nói rõ hơn - không thể thực hiện chúng được theo ý muốn của anh cũng như ý muốn của tôi. Chỉ có cuộc sống mới thực hiện được. Thời gian!

Những chiếc răng nhọn của bóng núi mỗi lúc một bò trùm lên ngọn đồi. Mặt trời hầu như đã khuất hẳn sau dãy Dve-nhi-gô-ra, chỉ còn để lại trên đỉnh nhọn đầy đá một mẩu con bằng miếng dưa hấu mọi người vẫn ăn hằng ngày.

- Thôi, anh đi đi, - Na-da-rốp nói. - Còn có thể nói chuyện này, chuyện nọ. Và có thể chứng minh điều mà anh muốn. Lời nói sinh ra chính là vì vậy. Còn tôi thì tôi nói với anh thế này, anh Pô-li-các-pơ ạ: năm nay một nửa diện tích tiểu mạch tôi đã gieo giống mạch đen rồi.

- Sao?! - Cru-gi-lin ngước ánh mắt nặng như chì lên nhìn Na-da-rốp.

- Thế đấy. Hoặc là anh nhảy tròn quanh tôi như I-a-cốp A-lây-nhi-cốp trước đây, rồi bỏ về không, hoặc là cắt đầu tôi đi - tôi cũng mặc. Còn nông trang sang năm sẽ được mùa to. Chiến tranh - tôi cứ lo nó còn kéo dài... Dân sẽ còn khổ nhiều. Tuy bánh bột mạch đen không được như bánh tiểu mạch, nhưng cũng là bánh mì.

- Nhưng anh kịp gieo bao giờ thế? - Cru-gi-lin thở ra, hỏi.

- Kịp đấy. Khi các anh còn chưa huy động hết ngựa cho nhà máy.

- Thê-ế... Pô-li-pốp có biết không?

- Biết nhiều, đêm càng mất ngủ. Cứ để cho hắn giữ gìn lấy sức khỏe. Còn anh, thì tôi cần phải báo cáo, như với đại diện tổ chức Đảng.

- Thế... Thế, tôi biết làm gì bây giờ?

- Đấy là chuyện của anh... - Im lặng một lát, ông nói tiếp: - Tốt nhất là không làm gì cả. Tôi không nói gì với anh, anh không biết gì hết.

- Nghĩa là anh khuyên tôi lừa dối?

Na-da-rốp nhún đôi vai khoác hờ chiếc áo vét và không nói thêm một lời nào, đi xuống đồi. Nhưng ông bước chậm dần, rồi quay trở lại, nói:

- Mấy lần tôi định hỏi thăm: thằng Va-xi-li của anh có tin gì không?

- Không, tôi không biết gì cả.

- Thế đấy. Ngay từ đầu, nó cùng với thằng Mắc-xim nhà tôi rơi ngay vào chính cái lò Pê-rê-mư-slơ này. Chúng thật là không may.

- Thư cuối cùng của thằng Va-xi-li viết từ hồi còn mùa xuân...

- Thế đấy, - Na-da-rốp lặp lại. - Tôi thì còn không sao. Nhưng bà già nhà tôi vật vã quá. Ban ngày im lặng, còn ban đêm về cứ rên rỉ qua kẽ răng như chó con... Tờ báo nào cũng bắt mang về, im lặng tìm tên con trong danh sách những người được khen thưởng, còn ban đêm cứ rên la...

Và Pan-crát bỏ đi không chào. Ông đi, lưng còng xuống, chân kéo lê nặng nhọc.

* * *

Từ nhà ga, An-tôn Xa-vê-li-ép, người kỹ sư trưởng mới Nhê-tsa-ép và các cán bộ khác, đi nhờ một chiếc xe tải cùng đường về nhà máy. Dọc đường họ im lặng ngồi ngả nghiêng trong thùng xe, chỉ khi ô-tô dừng lại ở cổng công trường, Xa-vê-li-ép nói:

- Trời mưa xuống là con đường này cắt cổ chúng ta đấy.

Phê-đô Phê-đô-rô-vích Nhê-tsa-ép, một người gầy, cao lêu nghêu, khuôn mặt thanh nhở, bộ râu để kiểu Đơ-déc-gin-xki, khi mới gặp lần đầu dễ gây nên một cảm giác khó chịu. Mặc dù người ta rất ca ngợi Nhê-tsa-ép với Xa-vê-li-ép, khi gặp nhau ở Mát-xcơ-va, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích thất vọng với cái vẻ ngoài của ông ta và cảnh giác đề phòng cái con người lầm lì ít nói này. Nhưng vẻ ngoài thường hay lừa người, và chỉ sau một tuần lễ, sự lo lắng đề phòng đó chẳng để lại một tí dấu vết nào. Không cần phải tất bật, quát tháo, trong vòng vài ngày, ông đã, như người ta nói, moi được ở Bộ dân ủy quân khí một số lượng nhiên liệu và vật liệu xây dựng cho nhà máy đến nỗi Xa-vê-li-ép phải kinh ngạc. Là một nhân viên của ủy ban đặc biệt trước đây, đã từng làm việc với chính Đơ-déc-gin-xki, Nhê-tsa-ép có một ý chí kiên quyết sắt đá và một bộ óc sắc sảo như chính người chỉ huy kiệt xuất của mình trước đây.

Và bây giờ Nhê-tsa-ép không vội vã nhìn quanh khu vực của nhà máy tương lai, nơi ngoài những núi đất ngổn ngang và đây đó một vài bức tường gạch đang xây dở, chưa có một thứ gì khác, rồi lạnh lùng nói:

- Việc của tôi là làm sao để nhanh chóng bố trí máy móc thiết bị và bắt đầu cho sản xuất. Việc của anh - bảo đảm mọi thứ cần thiết cho tôi, kể cả đường sá.

- Sẽ cho một xe tải và một máy san đất thường xuyên làm việc trên đường, liên tục đổ sỏi và đá dăm lấp các hố rãnh. Cái chính là giữ được đường cho đến khi có băng. Mùa xuân năm sau sẽ rải nhựa. Còn bây giờ thì chưa làm được.

I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp bé nhỏ, mặt đỏ gay chạy đến, bắt tay tất cả mọi người rất lâu. Rồi anh đi tách riêng ra, người như co rúm lại, trông càng tròn trịa thêm. Anh rút khăn tay, ngoảnh mặt đi lau mãi chiếc cổ ướt đẫm mồ hôi và bụi đất. Xa-vê-li-ép là người đầu tiên hiểu được tâm trạng của anh, vỗ vai bảo.

- Tôi với anh sẽ còn làm máy gặt và máy quạt nữa đấy.

- Vâng, vâng, tất nhiên. Sau chiến tranh sẽ cần bao nhiêu là máy...

Chừng nửa giờ họ cùng nhau đi giữa những đống đất, gạch, gỗ ngổn ngang. Những người đào đất, thợ nề, lái xe - tất cả đểu tò mò nhìn đoàn người lạ lùng này. Mỗi người ăn mặc mỗi kiểu: áo bành-tô, áo bông, có cả mấy chiếc áo khoác dài rất đắt tiền, nhưng đã nhàu nát, bê bết bùn đất và dầu mỡ.

- Đấy, tôi đã phân chia khu vực cho các xưởng, - I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp, như một quả dưa hấu nặng đã lên nước bóng nhoáng, lăn đi trước mọi người, nói. - Tất nhiên là xuất phát từ yêu cầu chuyên môn của nhà máy chúng tôi. Ở đây tôi định đặt xưởng cơ khí, còn ở đây là xưởng rèn... Và đây là xưởng đúc. Còn bây giờ thì tôi không biết... Như người ta nói, đến lượt bài vào tay anh.., - anh quay lại nói với Nhê-tsa-ép.

Trong thời gian đi thăm khu vực công trường, Nhê-tsa-ép không nói lời nào. Cắn chặt đôi môi mỏng, ông cau có nhìn quanh, đôi mắt xanh nhạt lấp lánh dưới vành mũ lưỡi trai.

Thỉnh thoảng ông lại lấy tay lau cằm. Xa-vê-li-ép và những người khác cũng im lặng.

- Còn đây, như các anh thấy đấy, là trạm biến thế, - Khô-khơ-lốp dẫn đoàn người đến khung sườn nhà bằng gạch, nói. - Trạm biến thế là cái cần trước hết, nên chúng tôi quyết định lắp ráp trước khi xây xong nhà bốt.

Lần đầu tiên trong suốt thời gian đó, Nhê-tsa-ép ngước đôi mắt bỗng trở nên bớt lạnh lùng lên nhìn Khô-khơ-lốp.

Trong «văn phòng nhà máy» - một căn nhà kho bằng gỗ rộng thênh thang, không có vách ngăn, trống trải - một ông già cổ quấn khăn đang đào bới trong đống giấy tờ. Quanh bàn ông ngồi, trên sàn nhà, trên giá máy ngổn ngang hàng núi giấy, thứ thì nằm từng tờ lẻ, thứ thì được đóng lại thành quyển. Xa hơn, dọc theo bức tường, còn có thêm mấy chiếc bàn cũng chất đầy giấy tờ như thế.

- Tất cả của chúng ta ở đây hết: nào phòng tài vụ, phòng đảng ủy, phòng giám đốc... tóm lại, toàn bộ bàn giấy các phòng ban, - Khô-khơ-lốp nói. - Bây giờ mọi người đang đi ăn sáng.

- Tất cả đã rõ rồi, - Xa-vê-li-ép nói và ngồi vào một chiếc bàn trong. - Ngồi xuống, các đồng chí.

Tất cả ngồi xuống, người thì lên ghế, người thì lên các đống giấy tờ.

- Như vậy là chúng ta đã đến nơi và tự mắt mình thấy toàn bộ tình hình. - Xa-vê-li-ép nói tiếp. - Thiết bị chủ yếu đã được chở về. Nguyên liệu đã có một ít và đang tiếp tục về thêm. Nhiệm vụ của chúng ta cực kỳ đơn giản: sau hai tuần phải cung cấp cho mặt trận một nghìn quả đạn pháo đầu tiên...

Khô-khơ-lốp ngẩng phắt đầu lên, cả người nhô ra phía trước như bị ai xô mạnh, anh đứng vụt dậy, vung cả hai tay lên trời. Tất cả mọi người đều quay lại nhìn anh, nhưng Khô-khơ-lốp không nói gì.

- Có gì thế, I-van I-va-nô-vích? - Xa-vê-li-ép hỏi.

- Xin... xin lỗi... Anh nói sao? Sau bao nhiêu thời gian, xin lỗi... phải có nghìn đạn pháo đầu tiên?

- Sau hai tuần, anh I-van I-va-nô-vích ạ, - Xa-vê-li-ép thản nhiên nói. - Phê-đô Phê-đô-rô-vích, mời anh nói vài lời.

Nhê-tsa-ép đứng dậy, bỏ chiếc mũ lưỡi trai xuống, để lộ những sợi tóc màu hung lơ thơ trên lớp da đầu đỏ hồng như của trẻ con.

- Trước hết, tôi thấy cần phải đánh giá cao công lao đóng góp của chính quyền địa phương, mặc dù không có đại biểu của họ ở đây. Việc bốc dỡ thiết bị tiến hành nhanh chóng. Và nói chung, trước đây tôi nghĩ sẽ gặp phải tình hình xấu hơn. Đồng chí Xa-vê-li-ép, tôi đề nghị đặc biệt báo cáo điều này không chỉ cho tỉnh ủy mà cả Bộ dân ủy quân khí nữa. Sau đó, tôi cần đánh giá cao công sức của đồng chí I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp và những người cùng làm việc trong việc chọn rất đạt mặt bằng nhà máy, và nói chung, tất cả những gì anh đã làm được trong vẻn vẹn có mấy ngày ở đây.

I-van I-va-nô-vích không đợi nghe những lời như vậy. Và anh lại nhô người lên phía trước, nhưng lần này không đứng dậy, chỉ ngạc nhiên lắc đầu.

- Tôi đề nghị báo cáo cả điều này cho các tổ chức đảng và Bộ dân ủy quân khí, - Nhê-tsa-ép tiếp tục nói. - Nhiệm vụ chung của chúng ta, tôi chỉ tóm tắt trong vài lời. Đến chiều, tôi cùng ban giám đốc và kỹ sư trưởng của nhà máy cũ sẽ phải xem xét toàn bộ nhu cầu và khả năng hiện có của đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và công nhân, xuất phát từ nhiệm vụ chuyên môn mới của nhà máy chúng ta. Sáng mai sẽ ra quyết định bổ nhiệm các xưởng trưởng và người phụ trách các bộ phận, phòng ban - tức là toàn bộ cơ cấu lãnh đạo sản xuất. Và cũng ngay sáng mai bắt đầu lắp ráp và ổn định thiết bị cho các xưởng...

- Xin lỗi... Xin lỗi… - Khô-khơ-lốp lại đứng bật dậy. - Bắt đầu lắp ráp thiết bị ngay ngoài trời?

- Vâng, ngoài trời, - Nhê-tsa-ép nhìn Khô-khơ-lốp, nói. - Một số nền của các nhà xưởng sẽ cần phải mở rộng thêm. Tất nhiên, giá như anh, I-van I-va-nô-vích, đoán trước được mà làm rộng hơn thì thật là lý tưởng. Nhưng vì anh không biết rằng nhiệm vụ của nhà máy sẽ thay đổi, cho nên ở đây anh hoàn toàn không có lỗi. Trạm biến thế, theo tôi, vài ngày nữa sẽ bắt đầu làm việc được chứ?

- Tất nhiên, tất nhiên... - Khô-khơ-lốp bối rối thốt lên.

- Rất cám ơn anh, I-van I-va-nô-vích, vì trạm biến thế này. Nó đã cứu chúng ta đấy. Chỉ cần có điện, sau hai tuần nữa chúng ta sẽ cho ra đạn.

Nhê-tsa-ép cau có nhìn những người ngồi xung quanh, đầu khẽ cúi sang một bên như cố xem có gì cần nói nữa. Rồi bỗng nhiên ông ngượng nghịu mỉm cười, lấy bàn tay vuốt nhẹ lên mấy sợi tóc lơ thơ trên đầu.

- Thế thôi, các đồng chí ạ. Tất cả những người mới tới được nghỉ đến sáng mai. Các đồng chí sử dụng thời gian đó để bố trí chỗ ở và những việc riêng khác. Còn ở đâu và như thế nào - thì đến ủy ban huyện, có người sẽ hướng dẫn.

An-tôn Xa-vê-li-ép biết con người khắc khổ này đã bốn tuần nay, nhưng đây là lần đầu tiên trông thấy ông ta với nụ cười giản dị và ngượng nghịu, ngây thơ như trẻ con. Bất giác, tự mình không hiểu vì sao, ông cũng mỉm cười. Và có lẽ cũng là lần đầu tiên sau ba tháng đầy những chuyện lạ lùng, khác thường mà ông vừa phải trải qua.

* * *

Trong suốt ba tháng qua, An-tôn Xa-vê-li-ép cảm thấy một sự kinh tởm đến buồn nôn đối với chính bản thân mình. Cảm giác đó nảy sinh ra trong cái khoảnh khắc, khi trên bãi rừng trống ở ngoại vi Pê-rê-mư-slơ, ông trông thấy sát trước mặt mình một nòng súng máy đen ngòm, khi trong ngực, trong bụng ông có một cái gì ớn lạnh cuộn lên, bò khắp toàn thân, trong đầu máu giật choáng váng như trống gõ bên tai, và đôi tay bắt đầu từ từ giơ lên trời. «Ta đang làm cái gì đây? Ta đang làm cái gì đây? Thằng hèn, thằng hèn, mày đang làm cái gì đây? Thà chết còn hơn là nhục nhã đến thế!..» - trong đầu những ý nghĩ quay cuồng như muốn làm nổ tung cả bộ não. Còn đôi tay, nặng trịch, cứng đờ như gỗ, đôi tay không còn chịu sự điều khiển, như của người khác, cứ giơ dần, giơ dần lên cao. Rồi sau đó, bằng cảm giác nhiều hơn là trông bằng mắt, ông thấy bọn lính Đức xúm quanh bốn phía, một đứa sờ nắn, lộn tất cả các túi áo quần của ông ra và thúc một vật gì nhọn - chắc vẫn là nòng khẩu súng máy - vào lưng, giữa hai xương bả vai.

- Côm-mơ, côm-mơ... Sne-lơ, sne-lơ![2] - ông nghe một giọng nói xa lạ vang lên bên tai, và họ bị dẫn đi theo con đường rừng từ lâu không người qua lại.

An-tôn vừa lê đi vừa vấp, trong đầu một ý nghĩ cứ vang lên, gõ mãi, gõ mãi vào thành não: «Sao bị bắt một cách ngu xuẩn quá... Ngu xuẩn quá...» Ngoài ra, không có một ý nghĩ nào khác.

Va-xi-li Cru-gi-lin, gập người lại dưới sức nặng của thân thể viên đại úy, đi phía trước. Phía sau, bọn Đức no nê và thỏa mãn, đang to tiếng nói chuyện với nhau. Chúng có chừng bốn - năm thằng. Có tiếng kèn ác-mô-ni-ca. Xa-vê-li-ép ngoảnh lại nhìn. Tên lính Đức với bộ mặt béo tròn, chính tên đã nhặt hai khẩu súng của ông từ dưới đất lên, đang thổi. Vũ khí tước được hắn khoác vào vai, còn khẩu súng máy của mình tên Đức treo lủng lẳng trên cổ. Mấy đứa còn lại súng cầm lăm lăm trong tay.

- Côm-mơ, côm-mơ! - khi thấy Xa-vê-li-ép vừa ngoái lại nhìn, tên Đức đi gần nhất giương súng lên, sủa to hai lần. Qua vẻ mặt của hắn, An-tôn hiểu rằng chỉ thêm một giây nữa là thằng này sẽ cho ông ăn ngay một băng đạn súng máy.

«Nhưng dù sao cũng phải chạy... Phải chạy. Phải chạy ngay! Đây, đến gốc thông kia là nhảy sang bên...» - đầu óc Xa-vê-li-ép căng thẳng như trong cơn sốt. Nhưng vừa lúc đó Cru-gi-lin vấp mạnh và ngã sấp xuống ngang đường. Tấm thân bất động của viên đại úy đè lên người chiến sĩ và An-tôn thấy Va-xi-li nằm dưới đang thở dốc lên nặng nhọc.

- Stét au-phơ! Stét au-phơ![3] - bọn Đức chạy tới gào lên và dùng gót giày bịt sắt thúc mạnh vào hai người, rồi một tên lùi lại mấy bước và giương súng lên.

- Không được! Không được bắn, đồ chó đẻ! - Xa-vê-li-ép thét to và nhảy bổ đến bên viên đại úy đang nằm đè lên người Cru-gi-lin, gắng sức xốc anh ta lên vai. - Còn con, dậy ngay đi, không chúng bắn đấy...

Cru-gi-lin bò dậy. Lồng ngực anh phập phồng lên xuống gấp, từng dòng mồ hôi bẩn chảy ròng ròng trên mặt.

Và bọn Đức đứng nhìn việc xảy ra với một vẻ tò mò, nhưng không hạ súng xuống.

Rồi họ lại tiếp tục đi trong rừng, tên lính Đức ở phía sau vẫn thổi kèn ác-mô-ni-ca. Không biết họ đã đi được bao lâu. Xa-vê-li-ép tưởng như thời gian đã qua là vô tận.

Cuối cùng, một ngôi làng hiện ra trước mặt. Làng đã bị đốt cháy, chìm trong những đám khói đen đặc. Xa-vê-li-ép bị mồ hôi chảy nhòa cả mặt, chỉ loáng thoáng thấy mọi vật xung quanh.

Ông há hốc miệng đã khô đắng ra cố hớp lấy không khí, nhưng không khí xung quanh làm gì còn.

Rồi, gập người lại dưới tấm thân mềm nhũn đã trở nên nặng quá sức của viên đại úy, Xa-vê-li-ép còn kịp nhận thấy mình bị bọn lính dùng báng súng đẩy vào một cánh cổng chằng dây thép gai. Bị thúc mạnh, ông không còn đủ sức gượng lại, bắt đầu ngã, thì một người nào đó kịp giữ ông lại, không để ngã xuống đất và đỡ lấy viên đại úy.

- Đưa anh ta đây... Đấy, đặt xuống đây, - An-tôn nghe những giọng nói không quen biết, và ông không còn hiểu là người ta nói về đại úy Mắc-xim Na-da-rốp hay là về mình. Rồi họ đỡ lấy cánh tay ông, đưa đến một nơi nào đó. Ông khoan khoái ngã vào một vật gì mềm mềm - hình như là cỏ - và nhắm nghiền mắt lại.

Ông nằm và nghe tiếng xe tải rú ở đâu đây rất gần, những giọng nói xa lạ, đứt đoạn và thỉnh thoảng những tràng súng máy lại nổ dài. Nhưng tiếng nổ của những tràng súng máy lúc này không có gì đáng sợ cả, chúng chỉ như tiếng ai xé một tờ giấy đã khô cong ngay sát bên tai.

Khi ông mở mắt nhìn, có hai ba đám mây bông trắng nõn đang lơ lửng trên trời. Thẳng ngay trước mặt, cạnh chúng là một cột khói đen xiêu vẹo từ mặt đất bốc lên cao ngút tận trời xanh. Hình như cột khói cố ý đi tránh vòng qua mấy đám mây để không làm vấy bẩn cái màu trắng tinh nguyên của chúng.

Xa-vê-li-ép nhỏm dậy và thấy xung quanh chừng một trăm chiến sĩ Hồng quân. Rách rưới, sạm đen, họ ngồi, nằm ngổn ngang trên mặt đất, đủ mọi tư thế, và im lặng. Một sự im lặng nặng nề. Hình như mọi người không những chỉ sợ phải nhìn vào mắt nhau, mà không dám cả cử động nhúc nhích.

Xa-vê-li-ép nhìn quanh. Hướng nào ánh mắt ông cũng gặp phải hàng rào dây thép gai chăng mấy tầng trên những thân cây mọc quanh bãi rừng trống. Chỗ nào cây thưa, bọn Đức cho trồng thêm cọc. Đất xung quanh cọc còn mới, chưa bị nén xuống. Bên ngoài hàng rào dây thép gai, bọn lính Đức đi đi lại lại, tay cầm súng máy áp sát vào trước bụng.

- Thế... hiểu rồi, - trông thấy Na-da-rốp nằm bất động bên cạnh, Xa-vê-li-ép thốt lên không thành tiếng.

Ông đưa tay sờ - người viên đại úy mềm nhũn và âm ấm. Na-da-rốp khẽ cựa mình, đôi môi khô, sưng vù mấp máy. Và Xa-vê-li-ép đoán ra nhiều hơn là nghe thấy: «uống... nước...»

- Ai có nước không? Các đồng chí, ai có nước không? - Xa-vê-li-ép hai lần lặp lại câu hỏi.

Một chiến sĩ Hồng quân đầu quấn băng thấm đầy máu, nói:

- Không ai còn nước đâu. Chúng tước đi hết cả rồi...

Hình như Na-da-rốp nghe thấy và hiểu được nên nằm im. Anh không rên, chỉ thỉnh thoảng lại liếm đôi môi khô nẻ.

«Còn Cru-gi-lin? Va-xi-li đâu rồi?» - Xa-vê-li-ép chợt nghĩ và liền đó ông trông thấy anh. Cru-gi-lin ngồi ngay bên cạnh, hai tay ôm lấy mái đầu kẹp giữa hai đầu gối! Xa-vê-li-ép khẽ chạm vào người anh, Va-xi-li từ từ quay khuôn mặt sạm đen lại. Da trên gò má anh căng đến mức tưởng như chỉ thiếu chút nữa là rách toạc ngay. Trong đôi mắt trũng sâu có một cái gì như tia lửa ngưng đọng lại.

- Cái gì thế này? Tại sao lại thế này? - Cru-gi-lin nói, đôi môi gần như không cử động. - Thà... ở bờ sông Xan, để cho xích xe tăng nghiến nát còn hơn là...

Anh không nói hết câu, rùng mình ngã úp mặt xuống đất. Lưng anh run lên.

Xa-vê-li-ép đặt tay lên vai anh, xoa nhẹ. Cru-gi-lin dịu dần. Anh nằm như vậy cho đến tận chiều tối.

Chốc chốc, bọn Đức lại đẩy vào trại từng người một hoặc từng nhóm tù binh mới. Hai lần những chiếc máy bay ném bom Đức nặng nề bay ngang qua đầu họ. Gần tối, một đoàn xe tải chạy qua ngôi làng bị đốt cháy. Chỉ thế thôi, ngoài ra trong ngày không xảy ra thêm chuyện gì nữa cả. Những tên lính Đức cầm súng máy vẫn chậm rãi đi lại ngoài hàng rào dây thép gai.

Đây đó, một số chiến sĩ Hồng quân bị thương hoặc bị đánh đau kêu rên, la hét trong cơn mê sảng. Lúc mặt trời lặn, một người nhổm dậy, bò đến bên hàng rào dây thép gai, bám leo lên và thét to:

- Quân khốn nạn! Lũ phát-xít bẩn thỉu! Nước! Đưa nước đây!

Một tên lính canh im lặng đi đến giơ chiếc xẻng công binh quật thẳng xuống người anh qua hàng rào. Đầu bị toác đôi, người chiến sĩ chết vẫn nằm treo trên dây thép gai. Tên lính Đức cẩn thận lau xẻng lên áo anh, rồi bỏ đi.

Khi trời bắt đầu tối, Va-xi-li Cru-gi-lin ngồi nhỏm dậy, phủi đất bám trên chiếc áo quân phục. Tia lửa nguội lạnh, ngưng đọng lại ở trong mắt anh đã biến mất, chỉ còn lại một nỗi buồn rầu và thất vọng.

- Khô-ông… - anh thì thầm nói. - Các người thế nào, chứ tôi... Trời tối hẳn... là tôi lấy răng cắn đứt hàng rào bỏ đi.

Xa-vê-li-ép không nói gì.

Khi bóng tối bắt đầu ập xuống trên trái đất, một đoàn xe tải xuất hiện. Từ bốn phía, chúng bò đến bên trại và gần như ép sát những ngọn đèn pha sáng rực vào hàng rào dây thép gai. Khắp trại sáng như ban ngày. Một tên lính Đức trèo lên xe và hét lên bằng một thứ tiếng Nga trọ trẹ:

- Tao báo trước - tất cả phải nằm! Tất cả phải nằm! Ai ngồi, bò, đi, làm bất cứ một cử động nào để đến bên hàng rào, chúng tao sẽ phai-e, nghĩa là bắn! Bắn không báo trước! Nằm xuống, nằm xuống, những con lợn Nga...

Và hắn bắn hai, ba phát vào những người ngồi gần chiếc xe hắn đang đứng.

Tiếng ồn ào nổi lên khắp trại, nhưng ở một nơi nào đó bên cạnh rộ lên mấy tràng súng máy, và mọi người vội ngã sấp, ép sát người xuống đất.

- Thế đấy, con ạ, - nằm úp bụng trên mặt đất, Xa-vê-li-ép buồn bã nói. - Đừng có nghĩ tới chuyện bò đến bên hàng rào. Tự giết mình và giết cả người khác đấy.

Đêm ấm áp, yên tĩnh. Chỉ có tiếng rên của những người bị thương vang lên phá vỡ sự yên tĩnh đó. Suốt đêm, những ngọn đèn pha từ ngoài hàng rào chiếu từng luồng ánh sáng ngang dọc khắp trại. Bóng những tên lính gác thấp thoáng đi lại bên ngoài hàng rào.

Đêm trôi qua không một tiếng súng. Thậm chí Xa-vê-li-ép đã bắt đầu chợp mắt thiếp đi. Ông giật mình tỉnh dậy bởi một tiếng sột soạt nào đó. Vội quờ sang phía Cru-gi-lin nằm, ông bỗng nghe tim thắt lại - Va-xi-li không còn ở đấy nữa.

- Va-xi-li! - ông thì thào gọi, và ngay lúc đó, một tràng súng máy bỗng vang lên, nổ rất giòn trong sự yên lặng của đêm. Từ phía cách xa nơi Xa-vê-li-ép nằm, một đợt sóng người dồn đến, với tiếng la hét, lăn sang góc đối diện. Trong một giây, cả trại nhảy chồm dậy, và Xa-vê-li-ép cũng bật dậy theo bản năng. Tiếng người la hét, tiếng súng nổ hòa vào nhau thành một thứ tiếng gào rú hỗn độn khủng khiếp. Mọi người xô nhau chạy từ góc này sang góc kia, bị những loạt đạn chì phạt ngang, gục xuống. Những người sống giẫm lên họ mà chạy.

- Nằm xuống! Nằm xuống! Chúng bắn chết hết bây giờ! - Xa-vê-li-ép thét to, nhưng ông không nghe thấy giọng của mình nữa. Để ngăn Na-da-rốp khỏi bị những con người đã mất trí giẫm nát, ông túm lấy vai một người nào đó quật ngã xuống đất. Rồi người thứ hai, thứ ba... Và việc này hình như làm cho mọi người tỉnh lại, tất cả liền nằm ngay xuống cỏ. Lập tức tiếng súng cũng im bặt. Chỉ có tiếng rên la của những người bị thương bây giờ lại nổi lên to hơn khắp trại.

Và những ngọn đèn pha xe hơi lại thản nhiên cháy sáng cho đến lúc mặt trời sắp mọc mới tắt. Những chiếc xe rú máy bò tản đi.

Ngôi làng nằm cạnh trại tù binh tạm thời này đã cháy rụi hết ngay từ chiều hôm qua. Mặt trời, bao giờ cũng mới mẻ, tươi mát sau một đêm nghỉ ngơi, đang lên cao, chiếu nắng xuống những đống than còn âm ỉ cháy đây đó, xuống những ống khói lò sưởi ám khói đen thui.

Buổi sáng đã đến từ lâu, nhưng những con người ở trong hàng rào dây thép gai kinh hoàng trước sự việc xảy ra lúc rạng đông vẫn còn nằm bất động trên mặt đất ẩm ướt. Nhưng cuối cùng họ cũng bắt đầu cựa mình, một người nhổm dậy, rồi người thứ hai, tiếng thì thầm cố nén lại truyền đi khắp trại...

Không hiểu từ đâu, Va-xi-li Cru-gi-lin im lặng đi đến, nằm ngả lưng xuống cỏ và bắt đầu nhìn lên bầu trời xanh cao buổi sớm. Dường như anh không nghe thấy tiếng rên của đại úy Na-da-rốp nằm bên cạnh, không thấy cả bầu trời mà anh đang nhìn lên không chớp mắt. Khuôn mặt anh tóp xuống, xám như đất, gò má càng nhọn thêm ra.

- Con có bị thương không? - Xa-vê-li-ép hỏi.

- Không. Con vẫn còn sống, - một lúc sau Va-xi-li mới đáp. - Nhưng còn Len-ca. Len-ca bây giờ ở đâu?

Đôi mắt trũng sâu của anh bỗng thoáng ướt rồi vụt chốc đã đầy nước mắt. Anh không lau, thậm chí cũng không chớp.

- Mắc-xim Pan-cra-chi-ê-vích? Anh có nghe thấy tôi không? - Xa-vê-li-ép cúi xuống người viên đại úy hỏi.

- Không nghe thấy. Anh ấy thật may, chẳng nghe thấy gì cả, - Cru-gi-lin vẫn nằm yên như cũ, nói. - Còn con thì thế nào cũng sẽ trốn...

- Im ngay! - Xa-vê-li-ép giận dữ nói. - Chạy cũng phải cho khôn. Đã giết chết bao nhiêu người rồi đấy...

Như bị điện giật, Va-xi-li phắt một cái lật sấp lại, cả người run bắn lên như chiều qua, đầu đập liên tiếp lên mặt đất mềm. Và cũng như chiều qua, Xa-vê-li-ép lại đặt tay lên vai anh.

Đã hai ngày đêm, An-tôn Xa-vê-li-ép chưa có gì vào bụng, nhưng ông không muốn ăn. Chỉ muốn uống. Người chiến sĩ Hồng quân chiều hôm qua đòi nước vẫn nằm nguyên chỗ cũ trên hàng rào dây thép gai.

Thêm một giờ trôi qua, mà cũng có thể là hai hoặc ba, - Xa-vê-li-ép đã mất đi cái cảm giác thời gian. Từ phía ngôi làng bị đốt cháy, một chiếc xe ô-tô con, đen như bọ hung, chạy đến. Theo sau là chiếc xe tải chở đầy lính, - Bọn canh trại chạy rối lên. Một tên sĩ quan Đức cao lêu đêu, gầy đét, từ xe bước xuống. Chiếc thắt lưng thít chặt ngang hông như cắt người hắn ra làm đôi, và vì vậy trông hắn chẳng khác gì một con kiến càng đứng dựng ngược.

Bọn lính nhảy xuống xe, chạy xộc vào trại, dùng chân đá dựng mọi người dậy. Không hiểu chúng muốn gì, những người tù binh tránh giạt ra xa bọn lính, vấp giẫm lên cả người chết và bị thương nằm dưới đất.

Tên sĩ quan cũng đi vào trại, hét lên một câu gì đó, và bọn lính bỗng đứng im như phỗng.

- Thưa cảc ngài! Tôi không thích lộn xộn. Xếp thành bốn hàng ngang. Nhanh lên! - tên sĩ quan nói bằng tiếng Nga rất chuẩn.

Những người tù binh bắt đầu xếp thành hình vòng cung cạnh hàng rào dây thép gai. Cru-gi-lin và Xa-vê-li-ép đỡ lấy hai cánh tay Na-da-rốp.

- Để những đứa chết nằm tại chỗ, - tên Đức ra lệnh.

- Người này không chết, chỉ bị thương, - Xa-vê-li-ép nói.

- Ô, ô... Xin hỏi, anh là ai? Tại sao mặc thường phục?

- Vì rằng tôi không phải quân sự.

- Ô-ô… - tên sĩ quan lại kéo dài giọng. Hắn còn trẻ, trên dưới ba mươi tuổi, và, như Xa-vê-li-ép đã kịp nhận ra, mặt đỏ hồng, mỉm cười thân thiện. - Thôi được, sẽ giải quyết sau. Anh đứng vào hàng đi.

Trong lúc những người tù binh đang xếp hàng, bọn lính lôi xác những người chết hồi đêm và bị bắn chết lúc gần sáng ném lên xe tải như những khúc gỗ.

Những người tù binh, người khỏe đỡ người bị thương, đứng thành mấy hàng hình vòng cung và chờ đợi số phận của mình. Bọn lính Đức cũng xếp thành một hàng thưa đứng đối diện, sẵn sàng dùng súng máy bắn gục tất cả trong vòng một phút. «Chẳng lẽ thế là hết? - Xa-vê-li-ép buồn rầu nghĩ. - Đôi khi cuộc đời người ta kết thúc một cách ngu ngốc làm sao. Và quá rẻ mạt...»

Nhưng họ không bị bắn. Trong khi bọn lính chất xác chết lên xe, tên sĩ quan thản nhiên đứng hút thuốc, rồi hắn búng tay vứt mẩu tàn còn lại xuống đất.

- Do Thái và Di-gan - bước một bước lên trước.

Các chiến sĩ đứng im lặng, bất động. Một phút, hai phút. Tên sĩ quan cởi mũ, xem xét phía bên trong và lấy khăn tay lau.

Hai người miễn cưỡng bước lên.

- Thế nào, không còn Di-gan hoặc Do Thái nữa à? - Tên Đức từ từ đi dọc hảng tù binh, kỹ lưỡng nhìn mặt từng người một. Hắn đưa ngón tay chỉ vào ngực một người, rồi người thứ hai, thứ ba... Hai tên lính to lớn đi theo hắn liền lôi họ ra khỏi hàng, đẩy đến chỗ hai người đã đứng riêng trước.

Rồi tên sĩ quan trở về chỗ cũ, khoát tay. Mấy tên lính xô những người xấu số ra ngoài hàng rào dây thép gai, dẫn đến xe. Nhưng giữa đường, chúng bỗng giương súng máy bắn chết tất cả.

Mấy hàng tù binh nhốn nháo.

- Xin các ngài bình tĩnh, - tên sĩ quan giơ tay lên. - Chỉ chừng ấy thôi. Những người còn lại chúng tôi sẽ không bắn ai nữa. Đảng viên cộng sản và sĩ quan Hồng quân - bước lên một bước.

Tất cả lại đứng không nhúc nhích. Chiếc xe tải chở xác chết rú ga, rồi chuyển bánh chạy đi.

Ở khoảng rừng trống, khi Xa-vê-li-ép và Cru-gi-lin bị bắt làm tù binh, bị lục soát, lộn ngược hết túi áo, túi quần, An-tôn Xa-vê-li-ép nhìn thấy trong tay tên Đức không hiểu sao chỉ có một tấm hộ chiếu. Thẻ đảng không thấy. «Thế nó ở đâu mất rồi?» - Xa-vê-li-ép thầm nghĩ. Ông nhớ rất rõ là ở gần Pê-rê-mư-slơ, khi viên chính ủy trung đoàn kiểm tra xong trả lại giấy tờ, ông đã bỏ cả hộ chiếu lẫn thẻ đảng vào túi trong của áo vét. Thế mà bây giờ hộ chiếu còn, mà thẻ đảng thì lại đâu mất...

Mãi tới đêm vừa rồi ông mới tìm thấy nó. Hoặc là trong thời gian đánh nhau ngày hôm kia, hoặc là sau đó, khi cõng Na-da-rốp trên vai, đường chỉ ở đáy túi bị bục đứt, và tấm thẻ đảng rơi xuống nằm trong thân áo giữa hai lớp vải. «Thế đấy! - Xa-vê-li-ép mừng rỡ nghĩ thầm. - Hóa ra đôi lúc cũng có những sự tình cờ thật may mắn...»

Ông rút tấm thẻ đảng ra khỏi miếng bìa các-tông cứng mà ông vừa mới mua ở Lơ-vốp hai ngày trước khi đến Pê-rê-mư-slơ, nghĩ một lát, rồi cởi chiếc ủng lấm bùn, lộn trái ống ủng ra, dùng răng cắn thủng miếng da lót trong, mùi mồ hôi chua lòm lòm, và nhét tấm thẻ vào đó. Xong xuôi, ông lấy một nhúm đất hòa nước miếng xát lên chỗ da thủng cho nó có vẻ không còn mới nữa.

Giấu như thế thực ra chẳng lấy gì làm chắc chắn lắm.

Xa-vê-li-ép hiểu như vậy, nhưng ông không thể nghĩ ra cách nào hơn.

- Thế nào, trong số các ngài không có đảng viên và sĩ quan à? - tên sĩ quan Đức với chiếc thắt lưng thít chặt ngang hông nói. - Nhưng tôi đâu có mù. Ít ra tôi cũng thấy có sĩ quan. - Hắn bỗng rút súng ngắn rồi gào lên bằng giọng kim the thé, như gà trống mới lớn. - Bước lên đi, đồ lợn!

Chừng mươi người bước ra khổi hàng.

- Thế nào, còn thương binh của anh thì sao? - tên sĩ quan bước đến bên Xa-vê-li-ép và Cru-gi-lin. - Hình như là đại úy Hồng quân? - Hắn bỗng giật mạnh Na-da-rốp đang treo trên tay hai người. Viên đại úy ngã vật xuống dưới chân tên Đức như một bao đất. Tên sĩ quan Đức chăm chú nhìn anh một lúc, lấy mũi giày lắc lắc đầu Na-da-rốp, đưa súng lên.

- Khoan đã! - Cru-gi-lin thét to, nhảy bổ đến bên viên đại úy, ngồi sụp xuống, gần như là chui hẳn xuống dưới người Na-da-rốp, vác tấm thân mềm nhũn, không còn cảm giác đó lên vai của mình và bước đến đứng cạnh những người sĩ quan Xô-viết.

Tên sĩ quan Đức đứng nhìn, rướn đôi lông mi bạc thếch, cụt thun lủn lên chớp chóp, đút súng vào bao, cười khẩy.

- Ô-ô, déc gút!..[4] Rất đáng khen!

Bọn Đức vây lấy các sĩ quan Xô-viết, dồn ra ngoài cổng trại. Những người còn lại đứng nín thở nhìn theo. Ai cũng nghĩ rằng, ngay bây giờ, khi ra khỏi cổng, họ sẽ lại bị bọn Đức bắn chết.

Nhưng ra ngoài cổng trại, các sĩ quan Xô-viết bị bọn lính súng máy vây dày đặc bốn phía và dẫn về phía ngôi làng cháy.

- Tôi đã nói với các ngài là sẽ không bắn thêm ai nữa mà, - tên sĩ quan Đức lại lên tiếng. - Họ được đưa đến trại dành cho các tù binh sĩ quan Xô-viết. Còn các ngài hôm nay sẽ được đưa đến một trại khác. Ở đó người ta sẽ cho các ngài ăn, uống... tất nhiên, nếu như các ngài khai báo tất cả các đảng viên cộng sản. Tôi cho rằng trong số các ngài có rất nhiều đảng viên cộng sản. Nhưng để làm rõ chuyện này ở đây, rất tiếc là chúng tôi không có thì giờ. Au-phơ-vi-đéc-dê-in[5], tạm biệt các ngài...

Và, lắc lư chiếc đầu bé tí đội mũ nhà binh cao vành, hắn đi ra cổng, ngồi vào ô-tô. Chiếc xe nhẹ nhàng, gần như không nghe tiếng máy, rời chỗ.

Các hàng tù binh xao động, tất cả mọi người chạy xô về góc bên kia của trại, từ đó trông rõ hơn những đống tro tàn của ngôi làng cháy. Tưởng như mọi người sắp xô đổ cọc, phá đứt dây thép gai. Nhưng những tràng súng máy đã xé không khí, ngay dưới chân Xa-vê-li-ép đang chạy dẫn đầu đám người, đất bị đạn đào lên bắn tung tóe. Mọi người đứng lại và nhìn theo các cán bộ chỉ huy của Hồng quân đang bị giải đi mỗi lúc một xa.

- Thế nào rồi chúng cũng bắn. Chúng dẫn đi xa xa một tí, rồi bắn chết! Ôi! - một người nào đó thốt lên, giọng khản đặc, rồi kiệt sức ngồi bệt xuống đất.

Xa-vê-li-ép đứng nhìn theo các sĩ quan Xô-viết cho đến khi họ còn chưa khuất hẳn, nhận ra Cru-gi-lin với đại úy Na-da-rốp trên vai. Trước khi khuất sau một ngôi nhà gạch bị cháy trụi, Cru-gi-lin ngoái nhìn về phía trại. Xa-vê-li-ép trông thấy tên lính áp giải đi gần nhất liền vung báng súng lên, - mà cũng có thể hắn đã đánh xuống người anh. Cru-gi-lin hình như hơi khuỵu xuống hoặc bị vấp, nhưng không ngã; anh bước nhanh lên phía trước và khuất hẳn...

* * *

- ...Chỉ có thế thôi. Sau đó tôi không gặp lại Va-xi-li lần nào nữa, - Xa-vê-li-ép kết thúc câu chuyện không vui. Ông ngồi đối diện với bí thư huyện ủy, tay siết chặt cốc nước chè đã nguội tanh từ bao giờ. - Tôi hiểu là đã mang đến cho anh một tin như thế nào... Nhưng tôi không thể không nói... vì rằng... vì rằng tốt nhất là nói hết ngay tất cả.

A-na-xta-xi-a Lê-ôn-chi-ép-na, vợ của Cru-gi-lin, cũng ngồi bên bàn, thân hình dong dỏng cao, dáng thẳng, cân đối, bất động như đã hóa gỗ. Trong suốt câu chuyện, bà không thốt lên một lời nào, chỉ có mặt cứ tái dần, tái dần.

Khi Xa-vê-li-ép kết thúc, bà chậm chạp đứng dậy, và thốt nhiên khẽ nấc lên, ngả vào cánh tay chồng.

- A-na-xta-xi-a, A-na-xta-xi-a... Sao lại thế? - Cru-gi-lin kêu lên yếu ớt và dìu vợ sang căn phòng khác. Đầu A-na-xta-xi-a Lê-ôn-chi-ép-na nặng nề ngoẹo sang một bên, đôi chân nhũn ra. - Em của anh dũng cảm lắm kia mà. Va-xi-li vẫn còn sống, còn sống, vì chúng ta đâu có biết... Con sẽ trốn thoát... Hoặc quân ta sẽ cứu...

Cru-gi-lin dìu vợ đi rồi, Xa-vê-li-ép ngồi lại một mình chừng mươi phút, im lặng nhìn những ngôi sao cháy rực rỡ ngoài cửa sổ. Sau khi kể xong, không giấu điều gì, Xa-vê-li-ép rất hiểu tâm trạng của vợ chồng Cru-gi-lin, nhưng dù sao ông cũng cảm thấy nhẹ nhõm vì đã nói hết tất cả.

Cru-gi-lin từ phòng ngủ bước ra, nhẹ nhàng khép cửa lại.

- Không sao, không sao cả... - ông nói, không hiểu để làm gì. - Tôi đã cho uống mấy viên an thần.

Kéo lê chân trên sàn nhà, ông bước đến bên cửa sổ, đứng nhìn rất lâu vào bóng tối.

- Cảm ơn anh, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích, - ông nói rất khẽ. - Nó còn sống hoặc đã chết, tôi bây giờ cũng đã biết... đã biết rằng con tôi... rằng nói chung tôi đã không uổng công nuôi dạy nó. Nó không phải là thằng hèn nhát.

- Vâng, cháu Va-xi-li rất dũng cảm. - Xa-vê-li-ép nói.

- Thế còn anh... làm thế nào mà thoát được?

- Đến chiều chúng tôi bị giải đi. Dọc đường được quân ta cứu thoát. Số còn lại của đơn vị Va-xi-li đã phá được vòng vây và gặp đoàn tù binh chúng tôi. Nói chung, một sự ngẫu nhiên.

- Vâng, ngẫu nhiên... Cũng có thể... Va-xi-li... lại gặp được một đơn vị nào cũng nên? Hả? - Trong giọng nói của Cru-gi-lin lộ ra một tia hy vọng yếu ớt, ngây thơ và không hiện thực. Nhưng nó cần được ủng hộ.

- Vâng, có thể lắm, - Xa-vê-li-ép nói. - Chiến tranh mà. Mà trong chiến tranh thì cái gì cũng có thể.

Những ngôi sao ngoài cửa sổ khẽ nhấp nháy, không tiếng động, như an ủi, làm dịu lòng người. Tiếng đồng hồ trong hộp gỗ màu vàng treo trên tường kêu tích tắc đều đặn. Và ngoài những âm thanh này ra, trong cả ngôi nhà không có một thứ tiếng động nào khác.

* * *

Như thường lệ, Xê-mi-ôn dậy sớm, bước qua người Đi-ma và An-đrây đang ngủ lăn trên sàn nhà, đi ra bờ sông Grô-mô-tu-sca rửa mặt.

Trong bếp mẹ đã nhóm lò, chuẩn bị bữa sáng, cố làm nhẹ nhàng không khua bát đĩa. Cửa vào căn phòng ngủ trước kia của bố mẹ đóng chặt: một gia đình tản cư đông người - hai ông bà già, một người phụ nữ chừng bốn lăm tuổi nhưng trông còn trẻ và bốn đứa con - giờ sống ở đó. Đứa con gái đầu, tên là Gan-na, mới mười ba - mười bốn tuổi, còn đứa út hãy chưa thôi bú.

Một lần buổi chiều, chính mẹ đã dẫn cả cái gia đình ồn ào, đủ các cỡ tuổi này về nhà và mở toang cửa căn buồng ngủ của mình, nói:

- Các bác vào đây. Chúng tôi chỉ có một giường thôi.

Bà cụ già người khô đét, xương xẩu, mặc chiếc áo khoác đàn ông bẩn thỉu, buông tay nải xuống sàn, ngồi phịch xuống ghế, rồi òa ra khóc.

- Cảm ơn cháu lắm, con người tốt bụng ạ.

- Mẹ, sao lại thế... Nước mắt bây giờ mặn và hiếm hoi lắm, - người phụ nữ nói và quay lại phía chủ nhà. - Đến chết chúng tôi sẽ nhớ lòng tốt của chị. Thế còn cả nhà ta sẽ ở đâu? Nhà này tôi thấy chỉ có hai phòng và bếp...

- Nhà tôi hiện đang ở nông trang cho đến khi tuyết xuống mới về, còn tôi với các cháu tạm ở phòng này... Đến lúc đó tính sau. Nhà ngang của chúng tôi cũng rộng và ấm lắm. Chỉ cần đặt thêm lò sưởi.

- Hay là để chúng tôi ở nhà ngang?

- Các bác cứ ở đây thôi, - mẹ nói.

Đám trẻ tản cư sợ sệt bước vào phòng, đứng túm tụm lại với nhau trên sàn gỗ sơn sạch sẽ. Đứa con gái lớn nhất ngó qua một cửa sổ, cửa thứ hai, rồi quay lại, nhìn Xê-mi-ôn bằng đôi mắt đen như than, nói:

- Em tên là Gan-na. Nhà em là người Nga cả, nhưng sống ở U-cra-i-na, gần thành phố Vin-nhít-xa. Ở đây có táo mọc không ạ?

- Không có, - Xê-mi-ôn đáp và bước ra đường.

Sau đó người đàn bà - tên thím là Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na - vào làm ở công trường xây dựng nhà máy sơ tán. Thỉnh thoảng Xê-mi-ôn cũng trông thấy thím đang dùng xẻng xúc đất ở hố móng hoặc nhào vữa. Đến tháng Chín, Gan-na đi học, hình như cùng vào một lớp với Đi-ma. Nhưng nói chung Xê-mi-ôn ít gặp họ. Anh thường về nhà muộn, khi tất cả đã ngủ, sáng dậy lại đi làm sớm.

Mẹ đang im lặng lúi húi bên bếp lò. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, An-na càng trở nên ít nói, khắc khổ hơn.

- Mẹ ơi, mẹ sao thế? Trông mẹ làm sao ấy... Mẹ có đau gì không? - một lần, Xê-mi-ôn hỏi.

- Không đau gì cả, - mẹ trả lời miễn cưỡng.

Một lần, vào buổi sáng, khi Xê-mi-ôn như thường lệ, đi ra sông rửa mặt, anh thấy mẹ đang đứng cạnh hàng rào. Ma-ca Cáp-ta-nốp đứng ở phía bên kia.

- Cậu đừng có dọa tôi, Ma-ca ạ, tôi không sợ đâu, - mẹ buồn rầu và thong thả nói. - Với tôi, mọi cái đều trở nên chán ngắt, đến nỗi có lẽ được chết đi cũng sướng... Thậm chí tôi còn muốn xin cậu điều đó nữa đấy...

- Thế là thế nào? - Ma-ca lúng túng hỏi.

- Cậu thì hiểu thế nào được. Vì đầu của cậu là đất sét. Cậu là thằng kẻ trộm đáng thương. Sao cậu không xấu hổ?

- Chị nói hay nhỉ! Trước đây tôi là kẻ trộm, còn bây giờ... có lẽ... đã được thả ra hợp pháp rồi.

- Thì mau mau mà vào tù lại đi. Không tôi thấy trong mắt cậu đang buồn… - Và trông thấy Xê-mi-ôn, An-na rời hàng rào bước đi.

Xê-mi-ôn không hiểu gì qua câu chuyện của họ, nhưng một nỗi lo lắng mơ hồ về mẹ cứ mỗi ngày một lớn lên.

Một buổi chiều vào giữa tuần, cha từ ngoài đồng về. Ông giậm chân thình thịch đi qua căn nhà bếp, đẩy tung cánh cửa vào phòng ngủ, dừng lại một vài giây nhìn những người lạ trong đó.

- Thế đấy, - trở ra bếp, ông bắt đầu cởi bộ áo quần đầy bụi đất. - Người ta phân cả về nhà mình nữa à?

- Phân cả về nhà mình nữa, - mẹ thản nhiên đáp.

- Thế mà An-phi-xa nói với Ki-ri-an rằng cô tự dẫn họ về.

- Thì tự dẫn về, -mẹ vẫn nói bằng một giọng thản nhiên như cũ.

- Hiểu rồi. Thôi, đốt lò nhà tắm đi. Tôi bẩn lắm.

Sau khi tắm xong, Phê-đô im lặng ngồi trong bếp uống mấy cốc nước chè nóng, rồi đứng dậy.

- Thôi, khô người rồi. Ở đây chật quá. Anh đi đây. Ra đón xe ở kho thóc. Còn mấy người... ở nhờ này... cho chuyển sang nhà ngang. Xê-mi-ôn, con đi chở đất sét về làm lấy cái lò sưởi.

Và ông bước ra, nặng nề đi qua phòng ngoài. Xê-mi-ôn hỏi mẹ:

- Chuyện nhà ngang thế nào đây? Con sẽ chở đất sét về...

- Chở về đi. Họ bảy người trong một phòng cũng chật, - mẹ cau có trả lời.

Xê-mi-ôn im lặng một lúc rồi dè dặt hỏi:

- Nhưng... mẹ đang bị một cái gì giày vò... Có thể, con giúp mẹ được gì không?

- Đem những lời của anh bước đi cho khuất mắt! - Mẹ giận dữ thốt lên, nhưng rồi liền bước đến bên cạnh, ôm ghì đầu anh vào ngực, vuốt ve mái tóc anh như hồi còn nhỏ. - Tha lỗi cho mẹ nhé, Xê-mi-ôn. Cái gì giày vò mẹ? Chiến tranh, có thể người ta sẽ lấy con ra trận...

- Đang mong họ lấy cho! Cứ hoãn, hoãn...

- Con nói gì vậy? Chẳng lẽ ở nhà ít lâu là xấu à?

- Thế ăn nói với mọi người ra sao? Với thím Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na này?

Mẹ chỉ thở dài không nói gì.

- Nhưng dù sao mẹ cũng là người tốt, mẹ ạ.

...Viền trời trên dãy Dve-nhi-gô-ra đang xanh dần. Trời còn chưa có giá, nhưng những bụi khoai tây đã héo rũ xuống, nằm sát mặt đất, không trông rõ trong bóng tối lờ nhờ. Đám hướng dương ở phía sau nhà tắm đứng sát vào nhau như một bức tường cao màu sẫm và khe khẽ xao dộng như đang thì thầm một điều gì, mặc dù không có gió.

Nước sông Grô-mô-tu-sca trong, mát lạnh, thậm chí hơi buôn buốt. Xê-mi-ôn khoan khoái vỗ nước lên khắp mặt, lau khô, tìm quả tạ nặng hai pút vẫn để ở chỗ quen thuộc và tập một lúc. Rồi anh trải khăn lên cỏ, ngồi xuống hút thuốc.

- Chào anh, Xê-mi-ôn! - có tiếng thét vang ngay bên tai.

- Cái gì mà rống lên thế, thằng điên?!

- Chẳng có gì cả... - Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin cũng bắt đầu vốc nước rửa mặt.

- Thế nào, mày đã học được cách nhảy qua hàng rào không tiếng động đấy à?

- Đang tập luyện mà. Cà chua của vườn bên bao giờ cũng chín sớm hơn. Đấy, nhà này lại còn dưa. Chín vàng, thơm phức. Anh muốn không, em đi lấy cho. Chắc họ còn chưa hái...

- Rồi tao lấy cho! Sao không ngủ?

- Vê-ra nằm cứ cựa quậy suốt, hệt như ngứa ghẻ. Còn em lại rất tỉnh ngủ. Cho em rít một hơi. Em chỉ rít thế thôi, không nuốt khói đâu.

- Này...

Nhi-cô-lai định giơ tay ra đón lấy điếu thuốc lá, nhưng cậu bị Xê-mi-ôn cho một cú búng rất kêu vào ngay trán còn chưa khô nước.

- Anh... sao thế?

- Còn muốn rít nữa không? Cũng học đòi! Tao cắt ngay mõm...

- Thôi được... - Nhi-cô-lai tự ái nói. - Còn anh ngốc lắm, sẽ để mất chị Vê-ra cho mà xem.

- Tại sao?

- Tại vì... ông I-a-cốp A-lây-nhi-cốp, cái ông công an có vết sẹo trên má ấy mà, hôm trước đến nhà làm lễ hỏi chị ấy.

- Cái gi-ì?!

- Ngồi đấy mà cái gì! - Nhi-cô-lai đắc chí nói, rồi im lặng một lát, cậu vừa cười vừa kể: - Đúng y như là trong phim ấy. Đầu tiên là phim câm. Ông ta đến và im lặng ngồi mãi bên bàn. Mẹ thì tái xanh mày mặt, nhìn trân trân vào ông ta quên cả chớp mắt. Vê-ra không hiểu sao, miệng cứ mở ra, rồi mím lại, ngồi nép vào tít trong góc như thể sắp bị người ta cù. Còn cái ông A-lây-nhi-cốp cứ ngồi lau mãi vết sẹo trên má. Ngồi im. Thật buồn cười, rồi sau đó bắt đầu phim có tiếng... Ông A-lây-nhi-cốp nói: «Xin lỗi... Tôi đến đây chỉ là về chuyện cô Vê-ra»... Hì-hì... Chị Vê-ra kêu lên như thể bị cù thật... Còn ông ta tiếp: «Tôi thì tất nhiên chẳng còn trẻ trung gì nữa, nhưng từ lâu chú ý tìm hiểu con bà...» Đấy là ông ta nói với mẹ em. «Hôm nay tôi đến đây, - ông ta nói, - vì tôi mến Vê-ra. Tán tỉnh và những việc tương tự như người ta vẫn làm, không phải là vào tuổi của tôi nữa, và cũng không tiện. Vì vậy, tôi quyết định đến ngay đây và nói hết... Còn gia đình, xin suy nghĩ kỹ đi, tôi cũng không vội phải được trả lời ngay...» Em ngó sang, thấy tai chị Vê-ra đỏ lựng như cà chua vườn bên, má phụng phịu, phồng lên, rồi chị ta chạy vội về phòng của mình! Thế đấy, hiểu chưa?

- Rồi... sau nữa ra sao? - Xê-mi-ôn khàn khàn hỏi.

- Sau ra sao em không biết. Mẹ đuổi em ra khỏi nhà, - Nhi-cô-lai tiếc rẻ nói và cậu lại tiếp với vẻ đắc chí. - Từ đó đêm đêm chị Vê-ra nằm cứ cựa quậy suốt. Hiểu chưa?

Điếu thuốc đốt bỏng đầu ngón tay, nhưng Xê-mi-ôn không cảm thấy gì cả. Anh ngồi nghe con sông Grô-mô-tu-sca róc rách chảy. Còn trong đầu, không hiểu sao, chẳng có một ý nghĩ nào cả. Anh không thể hiểu được việc A-lây-nhi-cốp đến hỏi Vê-ra như vậy tốt hay không tốt, và anh đang vui mừng hay tự ái vì một điều gì đó.

- Mày không nói dối đấy chứ?

- Nói dối làm gì... Này, anh tính sao về chuyện đi bộ đội? Anh đã kiện lão Gri-gô-ri-ép, trưởng phòng quân vụ với bí thư huyện ủy chưa? Anh nói anh sẽ kiện cơ mà?

- Yên nào!

- Yên cái gì? Em cũng sẽ kiện, ông ta vô cớ đuổi em ra khỏi phòng quân vụ.

Về chuyện người ta «vô cớ đuổi» cậu ra khỏi phòng quân vụ, Nhi-cô-lai kể đi kể lại luôn. Chuyện xảy ra chừng một tuần lễ sau lần tiễn đưa những người được động viên ra mặt trận. Từ sáng, Nhi-cô-lai đã đến phòng quân vụ, len lỏi giữa đám người chen chúc ngoài hành lang, thò chiếc mũi khoặp vào cánh cửa bọc vải sơn xanh. Trong phòng, một người mặt rỗ đậu mùa với hai gạch trên ve áo đang ngồi sau bàn, mấy người mặc quân phục đứng túm tụm xung quanh.

- Chào các chú, - Nhi-cô-lai nói, lấy ngón tay quệt ngang mũi. - Cháu đến, muốn hỏi ai là trưởng phòng quân vụ Gri-gô-ri-ép...

- Cứ cho là chú chẳng hạn, - người có hai gạch ngang trên ve áo nói.

- Họ tên cháu là I-nhi-u-chin Nhi-cô-lai. Cháu đến về chuyện xin ra trận. Tình nguyện. Cháu muốn biết bao giờ thì sẽ có tàu quân sự. Và nếu được, cho cháu ghi tên vào kỵ binh.

- Hiểu rồi. Tốt lắm, Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin ạ. Cháu bao nhiêu tuổi?

- Cháu ấy à? Mười tám... sắp mười chín rồi. Cháu lớn người.

- Cái này thì các chú thấy rồi. Thế nhà cháu ở đâu?

Nhi-cô-lai nói địa chỉ.

Gri-gô-ri-ép đứng dậy, đi đến bên cạnh đặt tay lên vai cậu.

- Nói chung, Nhi-cô-lai ạ, cháu là một chàng trai tốt. Chỉ có nói dối là không tốt thôi. Đến lúc ra trận, cháu còn phải lớn thêm ba - bốn tuổi nữa. Chúng ta thỏa thuận thế này nhé: cháu về trường học cho tốt, còn chú, chú sẽ nhớ đến cháu. Được chứ?

- Thế tức là các chú không lấy cháu đi à? - Nhi-cô-lai hỏi.

- Nghĩa là bây giờ thì chưa lấy được. Chiến tranh đâu phải là chuyện trẻ con, đồng chí I-nhi-u-chin Nhi-cô-lai ạ!

- Cháu mà là trẻ con à?

- Thôi được, thôi được, thỏa thuận rồi mà. Cháu về nhà đi. - Và Gri-gô-ri-ép khẽ đẩy Nhi-cô-lai ra cửa.

- Cháu sẽ kiện, hiểu chưa! - Cậu vừa bước giật lùi, vừa hét to. - Cháu sẽ viết thư cho Clim Vô-rô-si-lốp! Hoặc cho chính Xta-lin! Hoặc cháu sẽ kiện lên huyện ủy.

Những lời sau cùng cậu hét tướng lên khi đã đứng ngoài hành lang, trước cánh cửa đóng chặt. Cậu cáu kỉnh nhổ nước miếng xuống sàn, rồi thất thểu đi về nhà.

Mấy ngày đầu sự bất bình của Nhi-cô-lai quả không có giới hạn.

- Cái đồ ăn hại ấy, chả trách gì rỗ chằng rỗ chịt! Đậu mùa nó chỉ nhằm những người ác như vậy mà ăn! Lão ta bảo phải lớn thêm bốn tuổi nữa! Đúng là đồ ngoại tộc độc địa! - Cậu nổi nóng lên trước mặt Đi-ma và An-đrây.

- Thế ngoại tộc là cái gì? - An-đrây hỏi.

- Ngoại tộc ấy à? Cái này nói chung... - cậu khoát tay một cách khinh bỉ. - Lão ta thậm chí còn tồi hơn thế nữa kia.

Đi-ma thường nghe những lời ba hoa của Nhi-cô-lai một cách im lặng, cúi chiếc đầu to xuống như đang tìm một cái gì dưới đất. Chỉ có hai ba lần gì đó cậu cắt ngang lời bạn:

- Cậu im đi! Cũng đòi làm kỵ binh! Sẽ đến lúc người ta bắt cậu đi, mà không thèm hỏi. - Và, không hiểu để làm gì, bao giờ cậu cũng nói thêm. - Còn cậu quên chuyện con ngựa của huyện ủy nó cắn cho như thế nào rồi à?

An-đrây thì cứ hỏi đi hỏi lại tỉ mỉ, cặp mắt lấp lánh:

- Thế ông ta không tin rằng anh đã mười chín tuổi rồi à?

- Không tin.

- Ông ta nói không phải việc trẻ con à?

- Ừ, nói thế.

- Ông ta bảo bốn năm nữa à? Ông ta nói thế à? - Và vừa ngoáy ngoáy tay trong lỗ mũi, cậu bước tránh sang một bên, dáng như đang suy nghĩ một điều gì.

Một lần, cậu nói:

- Anh ngốc lắm, Nhi-cô-lai ạ. Hỏi lão Gri-gô-ri-ép ấy làm gì... Ông ta thì biết gì! Đêm cứ ra bám vào một đoàn tàu nào đó và tếch!

- Sao? Làm sao?

- Thế đấy... Bao nhiêu là tàu từ nhà ga của ta đi. Nhiều kinh khủng! Em đã ra xem rồi. Thế nào cũng có tàu đi đến mặt trận.

Xê-mi-ôn vừa đi đến. Nghe những lời trên của An-đrây, anh im lặng túm lấy tai em.

- Này, này, mày nói cái gì thế? Tàu nào? Mặt trận nào?

An-đrây kêu thét, nhảy cẫng lên vì đau.

- Tao sẽ cho mày biết thế nào là mặt trận, đồ nít ranh! Tao lại cởi thắt lưng cho mày biết tay bây giờ... - rồi Xê-mi-ôn thả tai em ra, quay lại phía Nhi-cô-lai. - Còn mày, thôi đừng có ba hoa những chuyện ấy nữa. Tao mà còn nghe thấy thì liệu đấy!

Ngày tháng cứ trôi đi, Nhi-cô-lai đã ít nhắc đến chuyện Gri-gô-ri-ép đuổi cậu ra khỏi phòng quân vụ. Nhưng không hiểu sao hôm nay nỗi bất bình cũ lại trở lại trong lòng cậu.

Màn sương xám lạnh lẽo của buổi sáng dần dần trở nên trắng nhợt, để lộ những ngọn dương đen thẫm. Trong lòng Xê-mi-ôn những phút này nghe sao trống trải, buồn bã và cô đơn.

Bỗng nhiên một giọng đàn bà thất thanh vang lên phá tan sự yên tĩnh.

- Ma-ca! Con tôi!

Xê-mi-ôn ngẩng đầu lên nhìn. Nhi-cô-lai, chân vướng trong những luống khoai tây héo, chạy vội về phía nhà Ca-sca-rô-va.

- Ma-ca bị bắt! - cậu thì thầm khi Xê-mi-ôn cùng đi đến bên hàng rào vườn rau. - Hắn lại vào nhà đá! Em đã biết mà...

Qua hàng rào, Xê-mi-ôn trông thấy cạnh nhà Ca-sca-rô-va có mấy bóng người lờ mờ, anh chỉ nhận ra A-nhi-cây Ê-li-da-rốp. A-nhi-cây vừa mới đây xin thôi việc ở trạm máy kéo và bỗng nhiên trở thành công an. Anh ta mặc áo ca-pốt, đội mũ lưỡi trai và hình như tay cầm súng ngắn.

- Đừng có xô! - Ma-ca kêu khàn khàn. - Đừng xô đẩy! Tôi cũng đã bị còng lại rồi...

- Đừng có rống lên với tôi! - Ê-li-da-rốp quát dọa. - Đi đi!

- Vì sao, lũ khốn nạn? Trả lời đi...

- Đi đi! Vì xe hàng. Tớ đã tìm ra nó, ở bờ sông Grô-mô-tu-kha, anh bạn thân mến ạ... Tiếc là bọn mày đã kịp tẩu tán sạch.

- Thế tôi có can hệ gì? Tôi không thể lấy cắp xe hàng được. Thậm chí tôi không biết cái xe.

- Đến đấy rồi sẽ biết có can hệ hay không. Và hàng hóa để đâu. Bước!

Mấy bóng người chuyển động, rồi khuất sau chỗ ngoặt.

- Chúng lấy xe hàng khéo thật... Anh biết chúng làm sao không? - Nhi-cô-lai hấp tấp nói. - Ma-ca bắt Vi-chi-a: «Mày đi đến chỗ lão bảo vệ, nói rằng có cái gì sột soạt trong xe ấy». Vi-chi-a không muốn đi, nhưng Ma-ca gí nắm đấm vào mặt «Bước!»... Còn bọn chúng thì trốn vào sau xe...

- Có những ai?

- Em không biết. Vi-chi-a kể rằng Ma-ca và một tay thanh niên lạ mặt nào nữa. Khi ông bảo vệ đến bên xe, chúng nện cho ông một cú vào đầu! Ma-ca kéo ông già ra sau lều, còn tay thanh niên kia mở cửa xe, lao vào ca-bin và lái xe đi. Thế đấy. Cái bọn cướp này chìa khóa xe nào cũng có.

- Khoan nào. Từ đâu mà mày biết chuyện này?

- Vi-chi-a kể. Khi Ma-ca lôi ông già bảo vệ đi, Vi-chi-a bỏ chạy, rồi suốt ngày nó ngồi run như con thỏ trong bụi cây ở bờ sông Grô-mô-tu-kha. Chiều hôm qua nó đến chỗ em, bảo: «Mày có gì ăn không?» - «Thế ở nhà thì sao?» - «Tao sợ Ma-ca». Dần dần em hỏi, nó phải nói hết. Bây giờ Vi-chi-a đang ngủ ở nhà em. Mẹ đi làm ca đêm ở nhà máy - nghĩa vụ lao động mà. Chỉ có em, chị Vê-ra và Vi-chi-a ở nhà.

- Thế chị Vê-ra có biết chuyện này không?

- Không... Kể với chị ấy làm gì? Đàn bà mà, lại sẽ đi khai Vi-chi-a ra... Còn anh, cũng đừng nói lộ ra đấy. Ma-ca đã bị bắt là đúng thôi. Còn Vi-chi-a, nó không có tội. Nó bị cưỡng bắt phải đi...

Suốt bữa ăn sáng, Xê-mi-ôn im lặng.

- Người ta vừa bắt Ma-ca đi xong, - cuối cùng anh nói.

Mẹ không đáp.

- Người ta bảo hắn và một người nào nữa ăn cắp xe chở hàng.

Mẹ vẫn không nói gì.

Ăn sáng xong, Xê-mi-ôn ra khỏi nhà. Lại suốt ngày anh phải chở xi-măng, gạch, sắt, thép và các cỗ máy gì đó từ nhà ga về công trường.

Đang bước trên đường phố còn chưa có người đi lại - không phải theo hướng đến nhà máy mà là đến đồn công an, - anh gặp Ê-li-da-rốp ở ngõ ngoặt.

- Ô-ô, Xê-mi-ôn! Chào cậu! - Ê-li-da-rốp kêu to, chìa tay ra. Nhưng Xê-mi-ôn làm ra vẻ không trông thấy. - Hiểu rồi, cậu khinh tớ vì tớ vào công an chứ gì?

- Không, không phải vì vậy đâu.

- Tớ biết mà. Chắc cậu nghĩ: đấy, A-nhi-cây lại tìm cách trốn ra trận rồi... Còn tớ, nói thực, hàng ngày phải mạo hiểm tính mạng đấy. Vừa bắt một tên cướp xong...

- Ma-ca chứ gì? Tôi có thấy.

- Đúng, họ hàng của cậu đấy, - Ê-li-da-rốp nói có vẻ hăm dọa. - Hắn có súng lục để dưới gối. Phải chật vật lắm tớ mới tước được.

- Về chuyện súng lục anh đừng nói khoác. Ma-ca chẳng ngốc đến nỗi không có chuyện gì lại đem bỏ súng dưới gối đâu. Hắn được ra tù hợp pháp.

- Hắn thì bao giờ cũng hợp pháp. Thế cậu bào chữa cho hắn đấy à?

- Không... Tôi chỉ nói chuyện súng lục là anh nói khoác.

- Nhưng cái đó không quan trọng. Cái chính là tớ đã cho hắn biết tay. Bây giờ phải đánh hơi xem hàng hóa chúng đem giấu ở đâu...

- Đánh hơi đi. Hỏi em hắn, thằng Vi-chi-a xem. Có thể thằng bé biết...

- Không có cậu chúng tớ cũng biết vậy. Có lẽ nó chính là đứa bé mà ông già bảo vệ nói... Nhưng không biết thằng nhóc trốn đi đâu. Thế nào tớ cũng tóm được!

Xê-mi-ôn quay trở lại đi về hướng nhà máy.

* * *

Hai tuần sau khi An-tôn Xa-vê-li-ép về, hố móng những công trình chính của nhà máy đã đào xong, nền các xưởng đã được đổ bê-tông và đặt các cỗ máy cái lên. Hai tuần qua, Xa-vê-li-ép, Nhê-tsa-ép, Khô-khơ-lốp, Xáp-tsúc và các chuyên gia kỹ thuật khác suốt ngày đêm có mặt ở nhà máy để lãnh đạo việc lắp ráp và ổn định thiết bị cho các xưởng. Người bẩn thỉu, gầy rạc đi, râu ria mọc bờm xờm, họ chạy từ đầu này đến đầu kia của nhà máy, ra lệnh, chỉ trỏ, giảng giải. Tiếng động cơ máy kéo, tiếng còi cần cẩu, tiếng rít dây tời, tiếng rú ga, tiếng còi hiệu của xe tải suốt ngày đêm inh ỏi khắp thị trấn San-ta-ra, tưởng như sự hỗn loạn này sẽ không khi nào kết thúc, sẽ không bao giờ có được cái nhân tố mang tính tổ chức, hợp lý.

Nhưng rồi trên một khu của công trường, tiếng búa hơi của xưởng rèn bắt đầu nện thình thịch chuyển cả mặt đất, ở khu thứ hai tiếng máy tiện chạy đều đều, tia lửa bắn tung tóe, còn tại khu thứ ba các tổ hợp máy hàn cắt rít chói tai. Những âm thanh quý hóa này làm dịu, làm tắt đi các tiếng động hỗn tạp, và lúc đó những bức tường gạch của các xưởng máy mới bắt đầu mọc cao lên.

Nhưng chúng mọc rất chậm, vì việc cung cấp gạch cho nhà máy bỗng đột ngột ngừng lại. Những bức điện báo bay tới tấp về tỉnh ủy, về Bộ dân ủy quân khí, ở đó họ trả lời rằng gạch sẽ lại có trong thời gian ngắn sắp tới. Còn hiện nay mọi người vẫn phải làm việc ngoài trời.

Cuối tháng Chín, buổi sớm đã bắt đầu có những cơn băng giá, thời tiết mỗi ngày một xấu hơn. Những đám mây thấp bay ngang trời, rắc thứ mưa bụi khó chịu xuống. Đôi khi cũng có những cơn mưa to không kém gì hồi tháng Bảy, gió nổi lên lạnh buốt. Nhưng các cỗ máy vẫn chạy đều, bắn ra những tia lửa xanh; những con người ướt sũng vẫn cúi xuống bên máy, bàn tay cứng đờ vì lạnh nhặt từ trong bàn kẹp ra những đầu đạn pháo vừa mới tiện xong còn nóng bỏng. Mọi người sưởi tay lên mẩu kim loại ướt đang bốc khói.

Việc xây dựng nhà hầm cho công nhân cũng được tiến hành hết sức gấp rút. Ở đó, tiếng cưa rít, tiếng rìu chém, tiếng máy xúc vục gầu vào lòng đất vang lên không lúc nào ngừng.

Trong thời gian này, Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích Cru-gi-lin ít khi đến nhà máy, ông cũng ít khi ghé về nhà, suốt ngày mất hút ở các nông trang, mặc dù ông cảm thấy rằng, lúc này hơn lúc nào hết, ông cần phải có mặt ở bên cạnh vợ nhiều hơn. Nhưng hoàn cảnh còn mạnh hơn điều cần thiết đó. Năm nay huyện được mùa, nhưng việc thu hoạch kéo dài, thời tiết bắt đầu mưa lạnh đã ít nhiều ảnh hưởng tới lúa, số thóc đập được giảm xuống đột ngột. Và một khả năng xấu xuất hiện: huyện có thể không hoàn thành kế hoạch giao nộp lương thực.

Đầu tháng Mười, Cru-gi-lin triệu tập một cuộc họp thường vụ để bàn về vấn đề thu hoạch mùa và giao nộp thóc. Nhưng tính đi tính lại mãi, số thóc hiện có vẫn không đủ để hoàn thành kế hoạch. Cru-gi-lin mỗi lúc một sầm mặt lại.

Sau cuộc họp, Pô-li-pốp - ông ta cũng chẳng vui vẻ gì - nói:

- Đấy, hôm nay người ta đã chở đi mẻ đạn đầu tiên. Thế mà, chắc anh còn nhớ, anh đã định làm liều với bản kế hoạch khôi phục nhà máy. May mà nghe tôi đấy. Anh thấy chưa, mọi việc... thật bất ngờ.

- Vâng, nhưng phải trả bằng giá nào?!

- Thì chiến tranh mà… - Pô-li-pốp im lặng nhìn vào khung cửa sổ tối sẫm, nói tiếp: - Còn tôi với An-tôn Xa-vê-li-ép là người quen cũ. Còn hơn thế nữa - là bạn thời thơ ấu. Rồi cùng ngồi tù với nhau.

- Tôi cũng có nghe nói.

- Ai nói? - Pô-li-pốp vội hỏi. - Chắc là Xu-bô-tin?

- Vâng. Thế anh đã gặp Xa-vê-li-ép rồi chứ?

- Tất nhiên... Tôi bố trí nhà cho anh ta và gia đình mà. Vợ cùng con trai. Con anh ta đã lớn, gần ba chục tuổi. Thợ tiện. Còn vợ hơi bị điên.

- Điên thế nào?

- Thực ra cũng không điên hẳn. Nói chung, cô ta sống lặng lẽ, sầu muộn... Năm 1918 cô ta bị bọn hiến binh bạch vệ tra tấn.

Pô-li-pốp ngừng lại lấy tay lau má.

- Vâng, thời gian... thời gian làm mờ đi tất cả. Gặp nhau, hai người đều cảm thấy hình như không có chuyện gì để nói. Chỉ hơi ngạc nhiên rằng đã già đi và thay đổi nhiều... Còn vợ anh ta có vẻ như không còn nhận ra tôi. Cô ta nhìn tôi như nhìn qua một chỗ trống...

- Thế anh biết chị ấy chứ?

- Tất nhiên, - Pô-li-pốp nhếch mép cười nhạt. - Chúng tôi cùng lớn lên ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ, cùng sống trên một đường phố... - Và ông ta đứng dậy. - Anh đừng quên tuần sau có cuộc họp ủy ban huyện đấy. Nhiều vấn đề cần giải quyết.

- Tôi sẽ nhớ... Này, trong chương trình hội nghị của anh có mục: «Về chủ tịch nông trang «Bông lúa đỏ» Na-da-rốp», nghĩa là thế nào?

- Anh quan tâm à? Thế là tiến bộ đấy!

- Anh nói kiểu gì lạ vậy?

Pô-li-pốp nhún đôi vai thẳng và rộng, dường như không hiểu câu hỏi gay gắt ấy là để làm gì.

- Thế anh có biết Na-da-rốp tự động gieo một nửa diện tích bằng giống lúa mạch đen không? Anh có chú ý đến việc này không?

Họ nhìn thẳng vào mắt nhau mấy giây.

- Tới giờ ông ta là người nộp thóc cho Nhà nước ít nhất trong huyện. Điều này lại xảy ra trong tình trạng giao nộp lương thực như hiện nay... Và nói chung, còn phải chịu đựng, dây dưa với ông ta bao nhiêu nữa? Đã đến lúc cần dứt khoát, phải cách chức ông ta.

- Thôi được, sẽ cách chức ông ta, - Cru-gi-lin thở dài uể oải nói, mệt mỏi nhắm mắt lại. Nhưng bỗng nhiên ông ném sang chủ tịch ủy ban huyện một cái nhìn hằn học không che giấu. - Thế anh sẽ đi gieo lúa thay ông ta chứ? Anh sẽ đi quản lý nông trang chứ? Đấy, anh hãy tiếp nhận lấy nông trang!

Cru-gi-lin quẳng chiếc bút chì lên bàn. Chiếc bút văng mạnh xuống đất. Cru-gi-lin nhặt lên và lại ném vào đống giấy tờ.

- Thế đấy. Tất cả hình như đang rõ dần. Tức là anh muốn lặng lẽ đẩy tôi đi khỏi huyện chứ gì? Thôi được, cảm ơn sự thẳng thắn của anh. - Đôi môi Pô-li-pốp trông giống như cặp móng ngựa. - Nếu như Đảng cần, tôi sẵn sàng nhận bất cứ công việc gì, kể cả việc về nông trang. Và tôi sẽ quản lý nông trang không kém Na-da-rốp.

- Không kém à? Sau một năm, năm rưỡi, anh sẽ làm phá sản nông trang, - Cru-gi-lin nói, giọng đã bình tĩnh hơn.

- Ra thế! Nghĩa là tôi về nông trang cũng không làm được gì. Thế anh định đưa tôi đi đâu?

- Không đi đâu cả. Tạm thời bây giờ hẵng cứ làm việc nơi anh đang làm.

- Tạm thời nghĩa là thế nào?

- Anh thấy không, bây giờ sẽ chẳng ai hiểu chúng ta, nếu chúng ta bắt đầu mâu thuẫn với nhau...

- Tại sao lại «chúng ta»? Cứ nói thẳng là tôi đi! - Pô-li-pốp húc chiếc đầu tròn, nặng vào không khí. Khóe miệng bên phải của ông ta giật giật, ông lấy tay che lại. - Còn nói chung... một lần nữa, xin cảm ơn sự thẳng thắn của anh. Khi biết đối phương có quân bài gì thì thắng bao giờ cũng dễ dàng hơn. Đấy, anh thấy chưa, tôi cũng rất thẳng thắn.

- Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích, tôi không phải là người chơi bài, - Cru-gi-lin cố kìm mình lại, nói. - Vì vậy, tôi không che giấu quân bài của mình... Chính tôi đã cho phép Na-da-rốp gieo một nửa diện tích bằng giống lúa mạch đen đấy.

Pô-li-pốp rướn cặp lông mày màu vàng ợt, trên chiếc trán rộng hằn lên những đường nhăn mờ và dài.

- Thế anh cho là trên tỉnh sẽ đồng ý à?

- Năm nay chắc là không. Nhưng vụ mùa tới sẽ cho thấy thực tế... Tôi cho phép ông ta với tư cách là để thí nghiệm. Mặc dù hình như cũng chẳng có gì phải thí nghiệm cả. Chỉ cần chú ý đến những con số hết sức đơn giản: năm nay bao nhiêu lúa mạch đen thu được trên một héc-ta, bao nhiêu lúa tiểu mạch...

- Chẳng lẽ anh không hiểu rằng lúa mạch đen không phải là tiểu mạch à?

- Thế anh không hiểu rằng lúa mạch đen cũng là lương thực, là bánh mì à? Rằng có năm chiếc bánh bằng bột mạch đen còn hơn một chiếc bằng bột tiểu mạch à? Nhất là trong thời buổi chiến tranh này. Nói chung, anh hãy bỏ mục về Na-da-rốp khỏi chương trình cuộc họp của ủy ban huyện đi. Năm nay ông ta sẽ nộp thóc nhiều hơn những người khác. Mùa ông ta đã gặt xong rồi, lúa đã đánh đống xong cả rồi. Còn những nông trang khác, nơi hàng ngày bị anh thúc phải nộp thóc cho Nhà nước, đến giờ vẫn còn đang gặt và gặt. Bây giờ thì gặt gì? Rơm! Đấy, anh thử nghĩ xem, bao nhiêu lúa mì đã rơi vãi mất vì anh.

- Vì tôi à? Anh khôn khéo lắm. Tôi đã chạy khắp huyện...

- Cả vì tôi nữa. Nhà máy thì nhà máy, nhưng đáng lẽ ra tôi không nên buông lỏng việc thu hoạch mùa. Tôi đã sai lầm.

Bỗng nhiên Pô-li-pốp nổi khùng lên.

- Thế đấy! Trước hết là vì tôi, sau mới đến anh! Rất lô-gích! Rất công bằng! Thế anh chẳng hiểu gì hay sao? Nếu như đến giờ chưa nộp thóc cho Nhà nước... nếu như huyện, nếu như tất cả các nông trang đều nộp với nhịp độ như cái lão Na-da-rốp của anh... thì người ta đã cho anh và tôi xuống bùn từ lâu rồi... Chúng ta, có thể, phải nộp lại thẻ đảng rồi. Mà, đầu tiên là anh, sau đó mới đến tôi! Vào thời bình thì có lẽ cũng không sao, nhưng hiện nay...

- Không sao. - Cru-gi-lin chen vào. - Sợ gì những chuyện quỷ tha ma bắt đâu đâu ấy.

- Sao? - Pô-li-pốp ngừng lại, đưa cặp mắt khẽ giật giật nhìn quanh. - Anh nói sao? Nghĩa là thế nào?

- Nghĩa dân gian, trong dân gian có một câu tục ngữ như vậy.

Pô-li-pốp bước đến bên bàn, ném người xuống chiếc ghế tựa.

- Tục ngữ thì nhiều lắm... Ôi, Cru-gi-lin, Cru-gi-lin... Anh có muốn tôi nói thẳng ra nữa không?

- Nói đi.

- Anh không làm được công tác Đảng.

Cru-gi-lin chỉ ngước nhìn Pô-li-pốp vẻ dò hỏi.

- Không hiểu à? Về chuyện nộp thóc cho Nhà nước, tôi đã giải thích cho anh rồi đấy. Tất nhiên, trong thực tế, theo những chỉ thị như vậy chúng ta để mất mát không ít lúa mì. Nhưng đâu phải tôi ra những chỉ thị này?

- Thế nghĩa là những chỉ thị không đúng.

- Còn đúng hay không, đó cũng là vấn đề. Chính quyền Xô-viết đã hơn hai chục năm tồn tại, các nông trang thì mười hai - mười lăm năm. Hy vọng vào ý thức tự giác của mọi người còn hơi sớm. Chỉ cần buông lơi việc nộp thóc cho Nhà nước, bao nhiêu lúa sẽ trôi tuột ngay vào những chiếc bồ không đáy của các nông trang viên, còn kho Nhà nước thì trống huếch trống hoác.

- Như thế tức là chúng ta không tin vào mọi người chứ gì?

- Còn sao nữa? Có tin đồn rằng cũng chính cái lão Na-da-rốp nhà anh lén lút gieo trộm thêm diện tích thóc về đem chia cho nông trang viên... Chỉ có cái lão ta khôn lắm, tôi chưa bắt được tận tay. Nhưng tôi biết rằng nhà tù đang chờ lão ta... Thế đấy... Vậy thì lối thoát ở đâu? Thóc Nhà nước cũng phải nộp ngay từ ngày thu hoạch đầu tiên, gặt hái cũng phải xong đúng thời hạn! Tất cả đều phải khẩn trương, kịp thời, mùa màng phải thu hoạch xong trước khi có mưa bão.

- Còn nếu như không kịp? Không đủ người thì sao?

- Cần phải kịp. Các chỉ thị đều xuất phát từ đấy. Và như vậy nghĩa là chúng đúng.

- Vâng, anh quả là nhà lý luận.

- Không thể thiếu nó được, - Pô-li-pốp nghiêm giọng nói. - Còn anh không phải là nhà lý luận, rất đáng tiếc! Tất cả mọi việc anh đều xuất phát từ tinh thần, lề lối nông dân. Nó có thể hại anh đấy. Hoặc như câu tục ngữ vừa rồi của anh. Nó để làm gì? Lời nói có nhiều nghĩa lắm. Có thể cho nó có nghĩa nào cũng được. Còn anh, tôi nghe đâu như đã có lần mang họa vì lời nói của mình...

Cru-gi-lin nhìn chủ tịch ủy ban huyện với một vẻ thương hại. Pô-li-pốp cảm thấy cái nhìn đó, nhưng vẫn ngồi yên, không nhúc nhích, mắt cắm xuống đôi đầu gối rộng bè bè của mình.

- Thế nào, anh dọa tôi đấy à?

- Khô-ông, đâu dám... Cái thời ấy có lẽ đã qua rồi. Tôi đã hỏi anh có muốn tôi nói thẳng không kia mà? Tôi chỉ đơn giản muốn khuyên anh, - Pô-li-pốp ngả người ra thành ghế. - Còn nói chung, anh cũng là tay chơi đấy. Chỉ có điều anh chơi bằng linh cảm mà thôi.

- Điều này tôi cũng muốn biết, anh thử giải thích xem.

- Anh bảo rằng đừng động đến Na-da-rốp chứ gì? Tất nhiên, bây giờ chắc là anh còn có thể bảo vệ được ông ta. Uy tín, địa vị của anh ở tỉnh bây giờ chắc lắm - nhà máy đã bắt đầu sản xuất. Khó mà tưởng tượng được, nhưng quả là nó đang cho ra đạn pháo. Mặc dù đây là công lao của Xa-vê-li-ép, đặc biệt là của Nhê-tsa-ép. Nói chung, bây giờ ở tỉnh người ta ủng hộ anh... Nhưng chính lão Na-da-rốp sau này sẽ làm cho anh phải nấc nghẹn lên đấy, - Pô-li-pốp nói thêm.

- Bằng cách nào?

- Anh thử nghĩ xem nhé. Cứ cho rằng tôi vẫn để vấn đề về ông ta lại trong chương trình cuộc họp. Chuyện lúa mạch đen sẽ có tiếng vang lớn ở tỉnh. Còn sau đó tôi tiếp tục làm căng: về mặt lập trường tư tưởng, lão Na-da-rốp này là người như thế nào? Việc gieo trộm - thôi được, đó chỉ là tin đồn. Nhưng lão ta chứa chấp đủ các loại người đáng nghi ngờ về mặt xã hội. Chẳng hạn, lão ta nhận vào nông trang I-van Xa-vê-li-ép, một tay phỉ bạch vệ chính cống. Sau này hắn lại bị tù vì tội phá hoại. Na-da-rốp lại còn giúp đỡ, lo lắng cho gia đình của hắn ta. Thế đấy... Mà anh lại đi bảo vệ một con người như vậy...

Pô-li-pốp bây giờ mới bình tĩnh, chậm rãi, cân nhắc. Và Cru-gi-lin cũng bình tĩnh, chăm chú nghe. Pô-li-pốp ngồi quay sườn về phía Cru-gi-lin, mắt nhìn vào một nơi nào đó trong góc phòng. Vành tai nhỏ, hơi nhọn, khẽ ngọ nguậy. Lần đầu tiên Cru-gi-lin nhận thấy nét đặc biệt đó của ông ta.

- Này, Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích, anh có lẽ là một con người thật đáng sợ. - Ông bỗng nói. Và chỉ khi đã nói ra lời, hiểu được ý nghĩa của chúng, Cru-gi-lin mới nghĩ rằng đáng ra không nên nói câu đó.

Vành tai của Pô-li-pốp thôi không ngọ nguậy nữa, nằm chết lặng. Ông ta chậm chạp quay đôi vai rộng về phía Cru-gi-lin, và Cru-gi-lin nhận thấy mặt Pô-li-pốp bị co giật liên tiếp, ông ta cố nặn ra một nụ cười để che giấu những cơn co giật đó.

- Đâu có... cũng chẳng đáng sợ hơn người khác, - ông ta thốt ra.

- Tôi hoàn toàn không hiểu anh.

- Vâng. Nhiều người trong số chúng ta hiểu được nhau đâu phải dễ dàng. Chúng ta có cùng một mục đích chung, cùng xây dựng xã hội mới. Chúng ta hình dung ra cái xã hội đó về cơ bản giống nhau, nhưng chúng ta đấu tranh vì… - Pô-li-pốp mãi vẫn không kìm được những cơn giật trên mặt, ông hơi cúi người xuống, nhưng chúng ta đấu tranh vì nó, tôi muốn nói - bằng những phương pháp khác nhau và hiểu bản chất những con người làm việc cùng với chúng ta cũng khác nhau.

- Anh nói mờ mịt lắm, - Cru-gi-lin cười khẩy.

- Đấy, Na-da-rốp chẳng hạn, chúng ta cũng hiểu khác nhau. - Mặt Pô-li-pốp cuối cùng cũng thôi giật, trở lại vẻ bình thản. - Còn giữa chúng ta, ai đúng...

Có tiếng cánh cửa lớn của ngôi nhà mở ra rồi đóng mạnh vào, một người nào đó bước đi ngoài hành lang làm sàn gỗ kêu cót két.

- Tôi chỉ rõ một điều, anh Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích ạ, - Cru-gi-lin nhìn thẳng vào mắt Pô-li-pốp nói, - đến nay ít nhất cũng đã rõ là chúng ta sẽ khó làm việc với nhau. Rất có khả năng là ít nữa, cùng với thời gian, chúng ta sẽ trở nên không thể làm việc cùng nhau được.

Những nếp nhăn lại in hằn trên trán Pô-li-pốp.

- Tại sao? Lần đầu tiên chúng ta nói chuyện thẳng thắn với nhau, làm rõ ra được ít nhiều điều của nhau... Có những cái chúng ta không thống nhất với nhau. Chẳng lẽ đây lại là tai họa? Như tôi đã nói, cuộc sống sẽ chứng minh ai đúng. Còn cãi nhau bây giờ, chính anh đã nói, là sẽ không ai hiểu.

- Nhưng chính anh định cãi nhau về Na-da-rốp chứ ai! Và tôi nói thẳng, nó sẽ nghiêm trọng đấy, chứ chẳng phải chuyện đùa đâu...

Cửa phòng bật mở, Xa-vê-li-ép bước vào.

- Vào được không? Chào các anh... Tôi không làm phiền chứ? Tôi đi ngang qua thấy còn đèn… - Xa-vê-li-ép ồn ào bước đến bên bàn bắt tay hai người. - Pi-ốt, sao tay cậu mồ hôi thế này? Bắt đầu rồi, các bạn ạ! Tôi vừa mới cầm trong tay quả đạn pháo thứ một nghìn năm trăm. Nhê-tsa-ép đang cho đóng hộp, ông ta gần như tự tay mình bỏ từng viên vào thùng. Sáng mai, trước lúc gửi đạn đi, sẽ có mít-tinh... Chưa có điện về à?

- Chưa về.

- Giá mà về kịp trước sáng mai thì tốt quá! - Và ông quay sang phía Pô-li-pốp. - Nào Pi-ốt! Tớ đã bắt đầu quên cậu rồi đấy... Đúng ra là quên hoàn toàn rồi, đã mười năm nay không còn nhớ đến cậu nữa. Thế mà bỗng nhiên lại gặp nhau! Chẳng còn thời gian nào để nói chuyện nữa. Về chuyện nhà cửa, cám ơn cậu nhé. Ở cứ như vua ấy. Đối với anh em công nhân cũng hơi bất tiện...

- Không sao. Giám đốc mà lại.

- Thế thời gian qua cậu sống và làm việc ở đâu?

- Còn ở đâu nữa?! Sau khi trốn khỏi nhà tù bọn bạch vệ - chắc cậu còn nhớ thằng Xvi-ri-đốp chứ? - tớ phục vụ trong Hồng quân cho đến tận năm ba mươi, rồi sau đó ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ suốt. Mới chuyển đến đây ít lâu. Thế thôi. Một cuộc đời thầm lặng, - Pô-li-pốp cười khẩy.

- Giá có lúc rỗi mà ngồi nói chuyện, nhớ lại ngày xưa nhỉ!

- Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na thế nào?

- Thường thôi. Tuy nhiên, sức khỏe cũng có hơi yếu...

Lại có tiếng đập cửa. Mọi người đều quay đầu nhìn ra.

- Chắc là điện đã về? - Xa-vê-li-ép nói.

Một hai phút trôi qua, trong hành lang vẫn im lặng. Rồi nghe có tiếng chân bước vội vã. Cả ba người đứng dậy, hiểu rằng bây giờ quả thật điện đã về.

Trực ban của huyện ủy, một phụ nữ còn trẻ phụ trách phòng thống kê, chạy vội vào, mặt đỏ gay lộ vẻ xúc động.

- Đây, anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích, điện mừng! Một từ Mát-xcơ-va, của Chính phủ. Một từ tỉnh ủy.

Cru-gi-lin mở một bức điện.

- «Gửi bí thư huyện ủy huyện San-ta-ra Cru-gi-lin, chủ tịch ủy ban huyện Pô-li-pốp, giám đốc nhà máy Xa-vê-li-ép, kỹ sư trưởng Nhê-tsa-ép…» - không hiểu sao, Cru-gi-lin bắt đầu đọc từ tên họ người nhận.

- Thôi, tôi đi đây, - Pô-li-pốp đột ngột đứng dậy. - An-tôn, xin chân thành chúc mừng cậu... Ngày mai sẽ gặp nhau ở buổi mít-tinh. - Rồi ông quay sang Cru-gi-lin. - Thế tức là cắt bỏ mục về Na-da-rốp trong chương trình họp của ủy ban huyện à?

- Tôi đã nói với anh cả rồi.

Pô-li-pốp bước ra, đóng chặt cửa lại.

Khi đã đọc xong các bức điện, Xa-vê-li-ép và Cru-gi-lin im lặng nhìn nhau.

- Thế đấy, Pô-li-các-pơ… - Xa-vê-li-ép mệt mỏi nói. Lời của ông rời rạc, uể oải. - Đến giờ tôi vẫn không tin được là ta có thể...

Xa-vê-li-ép đã lâu không cạo râu, ở chỗ đôi mắt là hai hố đen sâu trũng, má hóp lại, nhợt nhạt.

- Hai tuần qua, anh ngủ được bao nhiêu?

- Vâng, vâng, giờ tôi sẽ đi nghỉ một tí. Cũng cần phải cạo râu nữa. Để thế này trông thật xấu hổ...

Ông lắc mạnh đầu, nhấc tay ra khỏi bàn, nặng nhọc đứng dậy và bắt đầu đi lại trong phòng. Cru-gi-lin hiểu rằng Xa-vê-li-ép đang sợ mình gục xuống thiếp đi.

- Chắc anh đã nghe tin quân ta hôm nay phải bỏ thành phố Ô-ri-ôn, - An-tôn bước đến bên tấm bản đồ cắm đầy những lá cờ nhỏ xíu treo trên tường, khẽ nói. Toàn bộ phần phía Tây của lãnh thổ Liên Xô chằng chịt những đường gạch xanh - ranh giới những nơi mặt trận chạy qua trước đây. Bây giờ đường gần nhất về phía đông bắt đầu từ Lê-nin-grát chạy xuống dưới, vòng qua Mát-xcơ-va, Ô-ri-ôn, Cuốc-xcơ và Khác-cốp đến Đnhe-prô-pê-tơ-rốp-xcơ, và tiếp đó hơi chếch sang phía tây, đến eo đất Pê-rê-cốp. Ở một nơi rất sâu trong lòng hậu phương quân địch, thành phố Ô-đét-xa được khoanh lại bằng một vòng tròn đỏ. Ở đó, trong vòng tròn đỏ này, đã gần tám tuần nay, hàng ngàn, hàng vạn con người, bộ đội và dân thường, đang đổ máu để bảo vệ thành phố khỏi bàn tay quân thù.

Ô-đét-xa không thể thoát được. Điều này khắp nước ai cũng hiểu. Và Xa-vê-li-ép hiện đang nhìn lên tấm bản đồ, cũng hiểu. Ông nhắm mắt, những đường nhăn hằn trên trán, và suy nghĩ về điều đó, cố tưởng tượng ra cảnh gì đang xảy ra trong thành phố này. Đối với ông, việc này không khó lắm. Trước mắt ông, ngay lập tức hiện ra bầu trời đỏ rực lửa trên thành phố đang bốc cháy, rồi những ngôi nhà đổ sập xuống trong những cột bụi, khói khổng lồ và tiếng đàn bà rú thất thanh cùng tiếng kêu khóc của trẻ con inh ỏi.

Không hiểu có phải vì tiếng kêu khóc đó hay là vì mùi đám cháy ông bỗng cảm thấy rất rõ ràng, mà Xa-vê-li-ép chao người lảo đảo. Để khỏi ngã, ông vội vịn tay vào tường.

- An-tôn?! - Ông nghe tiếng Cru-gi-lin và thấy ông ta đứng ngay bên cạnh.

- Không sao, không sao... Mà bản đồ của anh không còn chính xác nữa rồi. Đường mặt trận giờ đã khác... - Và ông cắm lá cờ nhỏ hơi dịch sang phía đông thành phố Ô-ri-ôn.

- Vâng... mỗi ngày nó mỗi khác rồi, - Cru-gi-lin nói, giọng đầy chua xót, đau khổ.

Đứng cạnh Xa-vê-li-ép, ông im lặng nhìn rất lâu lên tấm bản đồ.

- Anh An-tôn, tôi vẫn muốn hỏi anh một điều... Tại sao bọn Đức lại dễ dàng đè bẹp những tuyến phòng thủ của ta, dường như chúng không có trên đường biên giới mới của ta như vậy? Mùa thu năm 1939, các tỉnh phía Tây của U-cra-i-na và Bê-lô-ru-xi-a đã được sát nhập với Liên Xô, và nghe nói dọc theo đường biên giới mới này ta đã xây dựng được những phòng tuyến rất kiên cố. Thế mà bọn Đức cứ như chẻ tre. Tại sao lại như thế được? Anh đã ở những vùng ấy...

- Đúng là tôi đã ở đấy, nhưng tôi không phải là nhà quân sự... Còn Pi-ốt Pô-li-pốp đâu rồi? Đi rồi à? Con lái buôn đấy! Anh biết không, cậu ta xuất thân là lái buôn, bố cậu ta buôn bán ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ khá phát đạt.

Cru-gi-lin hiểu rằng Xa-vê-li-ép muốn nói sang chuyện khác. Ông bước đến bên bàn.

- Tôi có biết. Điều này anh ta có khai trong lý lịch tự thuật. Chính tôi, cũng có thể nói, xuất thân từ dân buôn đấy, thời trẻ đã làm quản lý cửa hàng. - Im lặng một lúc, ông tiếp. - Nếu như có thể, anh kể xem hồi đó anh ta là người như thế nào...

- Người như thế nào à? Đầu tiên là một cậu học sinh trung học bình thường... Sau đó tham gia công tác cách mạng, trở thành một người bôn-sê-vích thực sự. Rồi bị bắt, bị tù... Trong tình bạn tỏ ra chung thủy. Chỉ ở một điểm tôi và anh ta là kẻ thù của nhau mà thôi: trong tình yêu.

- Thế nào? - Cru-gi-lin quay người lại. Xa-vê-li-ép nhìn vào mắt bí thư huyện ủy. Trong mắt ông ta có một cái gì đó khiến An-tôn không thích.

- Vâng, cả hai chúng tôi cùng yêu một cô gái - Ê-li-da-vê-ta, bây giờ là vợ tôi... Nhưng, anh hỏi như vậy để làm gì?

- Thế nghĩa là cuối cùng anh đã thắng keo quyết định? - Cru-gi-lin dường như không nghe thấy câu hỏi cuối cùng của An-tôn.

- Cũng không hiểu sao lại như thế nữa. Hồi nhỏ, tôi là một thằng ngỗ ngược. Lớn lên, tuổi thanh niên cũng vậy. Có thể vì thế chăng? Con gái, anh biết không, thường lúc mới quen nhau hay thích những tay như vậy. Hồi đó, tôi ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ với gia đình người chú ruột Mi-tơ-rô-phan I-va-nô-vích. Chú tôi hoạt động bí mật ngay từ năm 1902, gần như là người đầu tiên tổ chức ra chi bộ Đảng Xã hội - Dân chủ. Con chú ấy là Gri-gô-ri, cũng hoạt động bí mật. Cả cô Ê-li-da-vê-ta này cũng thế. Tất nhiên là họ không nói cho tôi biết về những công việc của họ. Tôi bực lắm. Tôi buồn và bực vô cùng! Và, tôi còn nhớ, tôi cứ nghĩ: bằng cách nào để chứng tỏ cho họ biết rằng mình không phải là thằng ngu, là thằng vứt đi như họ tưởng?

Xa-vê-li-ép nói mà mắt đã nhắm díp lại.

- Thôi, anh đi ngủ đi một chút, - Cru-gi-lin nói.

- Vâng, vâng... Rồi có lúc rỗi tôi sẽ kể cho anh nghe về Pô-li-pốp, về cuộc đời của tôi, nếu như anh thích…

* * *

Phê-đô Xa-vê-li-ép đón tin về sự xuất hiện của người anh cả ở San-ta-ra với một vẻ ngoài thản nhiên. Ông chỉ ngước đôi mắt nặng trịch vì mệt mỏi lên nhìn Pan-crát Na-da-rốp, người đưa tin này, và cặp lông mày rậm mọc khít vào nhau khẽ nhíu lại.

Buổi sáng, khi bình minh lạnh lẽo bắt đầu ửng hồng nơi chân trời đông, Phê-đô, không nói một lời nào, giật chiếc chăn lấm mỡ, đã thủng nhiều chỗ, từ trên người Ki-ri-an I-nhi-u-chin xuống, và hai người im lặng đi đến chỗ để máy loay hoay chừng ba phút - I-nhi-u-chin ở trong buồng chiếc máy kéo, còn Phê-đô bên động cơ máy gặt đập liên hợp, - phút thứ tư Xa-vê-li-ép bấm còi và họ bắt đầu làm việc.

Chiều về, khi sương xuống, Phê-đô lại bấm ba hồi còi ngắn. Đây là hiệu lệnh kết thúc công việc trên đồng, chứ chưa phải kết thúc ngày làm việc. Hai người còn lúi húi gần một tiếng nữa bên máy của mình, lau chùi bụi bặm, siết lại ốc, vít. Phê-đô rất khó tính, nghiêm khắc trong việc bảo dưỡng kỹ thuật máy móc. Rồi họ đi về trại nghỉ đêm. Phê-đô đi trước, Ki-ri-an theo sau cách năm - mười bước chân. Và vẫn im lặng, im lặng…

Gần hai tuần lễ sau, khi một cơn mưa nhỏ, khó chịu, như đang cố sức lách qua nhưng đám mây sũng nước rách tả tơi để dai dẳng, suốt cả ngày trời, rắc xuống mặt đất, Ki-ri-an I-nhi-u-chin ngồi trong toa xe lưu động nhìn qua cửa sổ tối mờ ra cánh đồng buồn tẻ, nói:

- Nếu chiều nay mà có ngớt thì đến ngày kia cũng chưa làm được. Hay là ta về San-ta-ra đi?

- Thế nào, nhớ vợ rồi à? - Trong giọng nói khàn khàn của Phê-đô nghe có vẻ nhạo báng.

Suốt đời chưa bao giờ dám nói một lời trái ý Phê-đô, lần này I-nhi-u-chin cảm thấy như máu dồn lên đầu, thốt lên.

- Thì anh... cũng thế chứ gì!

Tiếng phản nằm rít lên cót két, Phê-đô ngổi nhổm dậy. Không ngoảnh mặt khỏi cửa sổ, Ki-ri-an vẫn cảm thấy ánh mắt nảy lửa của Phê-đô đang nhìn mình. Tay anh bỗng đau nhức lên. Ki-ri-an hiểu rằng chỉ cần một lời nói nhạo báng hoặc bóng gió nữa của Phê-đô là anh, Ki-ri-an, sẽ không còn kìm được mình, sẽ nhảy xổ vào người bạn cũ của mình mà nghiến răng cấu chặt vào chiếc cổ bẩn thỉu đầy lông lá của anh ta. I-nhi-u-chin đem hết sức bám chặt vào rầm cửa, móng tay cào vào các thớ gỗ ẩm ướt lạnh lẽo. Và để hãm Phê-đô lại, không cho anh ta nói ra lời nói đó, Ki-ri-an tiếp:

- Cũng nên về gặp ông anh một tí.

- Gặp, chưa gặp cũng chẳng đi đâu mất.

Tiếng phản lại rít lên cót két. I-nhi-u-chin hiểu rằng Phê-đô đã nằm xuống.

...Người báo tin cho I-van Xa-vê-li-ép về việc ông anh cả đã về San-ta-ra không phải ai khác, mà chính là I-a-cốp đang đi đến một nơi nào đó trên chiếc xe ngựa không mui, - giống hệt như chiếc xe mà vào một ngày không thể quên mấy năm về trước đã đưa I-van từ chỗ cắt cỏ đi (mà biết đâu cũng chính là chiếc xe ấy!). I-van đứng trên một bãi cỏ cạnh đàn bò đang lang thang gặm cỏ.

- Này, đến đây xem nào, - A-lây-nhi-cốp dừng lại, gọi...

I-van mặc áo mưa, chân đi ủng. Giẫm nát những búi cỏ đã bắt đầu héo, anh bước đến bên vệ đường. Chiếc roi dài vắt qua vai, kéo lê phía sau như một con rắn, kêu sột soạt trên cỏ.

Họ nói chuyện với nhau không lâu, bằng những câu ngắn, đứt quãng. Nếu có một người ngoài nào đứng nghe thì cũng khó mà hiểu được họ nói gì.

- Chào anh, - A-lây-nhi-cốp nói.

- Chào anh, - I-van trả lời.

- Nhận ra tôi à?

- Tôi có quên đâu. Trong chiêm bao cũng thấy anh.

- Hiểu rồi, anh thù tôi chứ gì, - A-lây-nhi-cốp nói bằng một giọng dường như đang nói về một chuyện gì hết sức vặt vãnh. Thậm chí ông còn thở dài một cách thông cảm, tiếc rẻ.

I-van nhìn đàn bò, không trả lời ngay.

- Không đâu...

A-lây-nhi-cốp liếc sang I-van một cái nhìn sắc nhọn từ dưới đôi lông mày rậm và ngay lập tức khép mắt lại bằng cặp mi mỏng, rồi nhìn sang phía khác.

- Thôi được. Giờ đi chăn bò à?

- Tôi muốn được ở một mình. Mình với chính mình.

- Hiểu rồi.

A-lây-nhi-cốp định cho ngựa chạy, nhưng I-van hỏi:

- Thế anh không sợ tôi bắt một đôi bò đem đi bán mất à? Đấy, chúng bao nhiêu...

- Không, - A-lây-nhi-cốp đáp khô khốc.

- Thế thì cảm ơn anh. Nhưng còn... Ác-ca-đi Môn-tsa-nốp nay ở đâu?

- Đâu à? Đang ngồi tù...

- Vì sao?

A-lây-nhi-cốp nhìn rất lâu lên bầu trời thu có những đám mây thấp đang lặng lẽ trôi. Và ông không trả lời câu hỏi, rồi không hiểu vì sao, ông gọi I-van bằng cả họ tên đầy đủ, hỏi:

- I-van Xi-lan-chi-ê-vích, thế người ta chưa gọi anh đến phòng quân vụ à?

- Chưa. Và tự tôi cũng không đòi hỏi. Gọi thì tôi đi.

- Thôi được. Tôi đi đây... À, ông anh An-tôn của anh nhờ khi nào gặp, chuyển lời hỏi thăm.

- Ai? Ai? - I-van loạng choạng bước đến bên xe.

- An-tôn. Chắng lẽ anh chưa biết là anh ấy được cử làm giám đốc nhà máy vừa sơ tán về huyện ta? Anh ấy vừa mới đến...

- An-tôn à?

- Vâng, An-tôn Xa-vê-li-ép.

- Cảm ơn anh đã cho tôi biết tin này!

TGVC (4)

A-lây-nhi-cốp đi khỏi, I-van vẫn đứng nguyên một chỗ rất lâu...

- Em có biết ai được cử làm giám đốc nhà máy mới về San-ta-ra không? - buổi tối, anh hỏi vợ. - An-tôn, ông anh cả đấy!

A-ga-ta vụt hất đuôi sam tóc, quay người lại. Trên mặt chị thoáng hiện không hẳn là vẻ ngạc nhiên, cũng không hẳn là sự sợ hãi, - hình như chị, trong giây phút đầu tiên, không thể hiểu được điều đó tốt hay xấu, nó có đe dọa gì I-van hay không.

- Thế... Làm thế nào bây giờ? Anh cần phải gặp anh ấy chứ?

- Tất nhiên rồi. Ít ngày nữa phải xin phép Pan-crát Na-da-rốp.

Một buổi sáng mấy ngày sau I-van quả nhiên đi đến San-ta-ra, nhưng không gặp An-tôn ở nhà. Vợ của An-tôn, Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na, một người đàn bà héo hon, im lặng, như đang lo lắng điều gì, nhìn I-van bằng đôi mắt xanh nhạt như bị bạc màu, nhưng lại chào hỏi rất cởi mở.

- Mời chú vào. Anh An-tôn đến mười giờ sẽ phải về ăn bữa sáng.

I-u-ri, con trai của An-tôn, một thanh niên trông bề ngoài mới chừng hai mươi tuổi, tuy thực ra anh đã hăm tám, người cao gầy, nhanh nhẹn, đôi mắt giống y như của mẹ, kêu lên:

- Ô! Đúng là chú! Không cần giấy chứng minh cũng nhận ra ngay - hệt như bố cháu! Bố cháu đang ra ga, chú cháu ta tạm uống chè nhé, rồi cháu đi làm, chú ngồi đợi bố cháu về.

I-u-ri vừa mới tắm xong, anh đi lại trong phòng, mình mặc áo may-ô và quần đùi, lấy khăn lau mặt và ngực.

Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na vừa rót chè, vừa hỏi thăm về vợ con I-van. I-u-ri thỉnh thoảng lại ngắt lời mẹ, kể tỉ mỉ về việc anh sống ở Khác-cốp ra sao, vào ngày đầu tiên của chiến tranh đi về Lơ-vốp như thế nào.

- Còn bây giờ chúng cháu đang gò lưng làm ở nhà máy, ngay ngoài trời. Nhê-tsa-ép, kỹ sư trưởng bảo: «Không sao, các bạn ạ, gắng chịu ít lâu. Trước mùa đông ta sẽ xây xong xưởng». Nhưng khó mà xây xong được. Bây giờ thì còn chưa sao, nhưng khi bắt đầu lạnh, cháu không thể tưởng tượng được là sẽ làm việc như thế nào. Bọn thợ tiện chúng cháu biết thế nào là kim loại lạnh. Tay cứ bị dính cứng lại.

Nói chung, I-van có cảm tình với vợ của An-tôn, con trai thì không thích lắm. Từ những câu chuyện ba hoa không đầu không đũa của I-u-ri, từ cái cách xưng hô thân mật, tự nhiên đến suồng sã của đứa cháu - tất cả đều làm đọng lại trong I-van một cảm giác khó chịu.

Uống xong vài chén nước, I-u-ri nhảy bật dậy.

- Thôi chào chú nhé... Cháu đi gò lưng đây.

Và tiếng «chú» vang lên nghe khó hiểu - vừa có vẻ như cách xưng hô theo quan hệ họ hàng, vừa như có một cái gì mỉa mai, nhạo báng.

Có tiếng chuông điện thoại. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na cầm lấy ống, nghe một người nào đó một lúc lâu, rồi nói:

- An-tôn, anh cứ đi đi, đừng lo. Chỉ có điều... em ruột của anh, chú I-van, đến tìm anh đấy...

I-van hồi hộp cầm lấy ống nghe. Nhưng câu chuyện của họ lại rời rạc, khó hiểu. Giọng của người trong ống nghe xa lạ, không quen biết. Và không hiểu vì ống nghe ù hay tai I-van ù, anh chỉ hiểu được rằng An-tôn từ nhà ga cần phải đi gấp ngay đến Nô-vô-xi-biếc-xcơ và một tuần sau mới về.

- Không sao, không sao, em sẽ xin phép ông chủ tịch nông trang một lần nữa… - I-van thét vào ống nói.

- Cả vợ, đưa cả vợ đến nữa nhé, - I-van nghe qua tiếng ồn, tiếng rít trong ống nghe.

- Vâng, vâng...

Nhưng phải rất lâu sau anh mới đến được San-ta-ra lần thứ hai. Chiều hôm đó, chủ tịch nông trang đến trại bò và đợi I-van cho con bò cuối cùng vào chuồng, hỏi:

- Thở chán gió đồng cỏ rồi chứ? Ngày mai Vla-đi-mia của anh sẽ ra chăn thay anh.

- Thế còn học thì sao?

- Ngày đầu - Vla-đi-mia, ngày thứ hai - em khác, ngày thứ ba - lại em khác nữa...

I-van ngồi xuống khúc gỗ cạnh hàng rào chờ chủ tịch nông trang nói tiếp.

- Tất cả những ai có thể, tôi đã cho đi đập lúa và chở thóc nộp. Năm nay ta phải nộp nhiều, gần hết lúa mì đấy... Tôi đã nhất định không nộp thêm ngoài kế hoạch, nhưng Cru-gi-lin yêu cầu giúp huyện... Lại còn đang chiến tranh nữa.. Như vậy là mùa đông tới, ta sẽ phải sống bằng khoai tây, nên phải cố mà thu hoạch cho hết. Bây giờ thì còn nhẹ nhàng, nhưng trời mưa xuống là khổ sở với nó đấy. Tóm lại, anh phải chịu trách nhiệm về chuyện thu hoạch khoai tây. Cho anh một tổ chừng mươi phụ nữ. Các em cũng sẽ giúp phụ thêm vào. Tôi sẽ đề nghị nhà trường cho một ngày chừng hai chục em thay nhau. Nhưng chúng cũng cần phải học nữa chứ, - ông thở dài, rồi nói thêm.

Khoai tây năm nay được mùa, phải đào dỡ mãi đến tận giữa tháng Mười, bỏ vào xô, vào sọt gánh đổ thành đống rối lấy rơm, cành lá hoặc vải bạt che lại. Không có gì để chở về kho chứa vì tất cả ngựa đều bận vào việc đập lúa và chở thóc đi nộp cho Nhà nước.

- Đến bị lạnh hỏng mất thôi, - có lần I-van nói với chủ tịch nông trang khi ông ghé qua thăm đồng khoai tây.

Na-da-rốp nhìn những đống khoai tây và đám đàn bà, trẻ em lấm lem bùn đất, ho khàn khàn, nói:

- Có thể thế lắm.

Từ khi Na-da-rốp biết được - hình như qua Cru-gi-lin - những tin tức gì đó về người con trai, mặt ông càng ngày càng sạm đen lại, người khô héo, gầy mòn đi trông thấy. Chiếc áo mưa bằng vải bạt đã cũ kỹ, sờn rách càng rộng thêm ra trên người ông. Một lần sau cơn ho, Na-da-rốp nhổ xuống đất, I-van thoáng thấy những vệt đỏ trong bãi đờm. Người chủ tịch nông trang già vội lấy chân xoa đi.

- Bác bớt đi lại đi, những nơi nào có thể thôi thì đừng đến nữa, - I-van nói. - Bác nên giữ gìn hơn, kẻo không...

- Tất cả đều có thể lắm, - Na-da-rốp nói, vẫn bằng cái giọng khàn khàn và thản nhiên như thường ngày.

Trong thời gian đó, I-van không dám nhắc đến chuyến đi mới về thị trấn. Anh biết rằng ở một nơi nào đó ngoài cánh đồng của nông trang, Phê-đô đang gặt lúa trên chiếc máy gặt đập liên hợp của mình. Nhưng chưa bao giờ I-van trông thấy anh, mà cũng không muốn tìm gặp anh. Khi còn đang đi chăn bò, thỉnh thoảng I-van trông thấy từ xa chiếc máy gặt đập và nhận ra bóng người anh trên buồng lái. Và mỗi lần như vậy anh lại đuổi đàn bò đi tránh ra xa hơn.

Cuối cùng, Na-da-rốp dành cho việc chuyển khoai tây được sáu chiếc xe ngựa. Ông tự mình đi đến cùng đoàn xe, nhảy xuống đất và hét bảo I-van:

- Đấy, chở nhanh đi. Biết đâu trời còn gắng cho thêm một ít, chưa rét vội.

Có lẽ trời đã cố gắng hết sức. Trên cao, những đám mây xám xịt, nặng nề và lạnh lẽo đang đe dọa sẽ trút cả mưa lẫn tuyết xuống cánh đồng. Những cơn gió giá buốt quất tàn nhẫn, cuốn những túm lá bạch dương khô từ khu rừng con bên cạnh ném tung ra khắp cánh đồng khoai tây đang đào dở, lấp đầy những hố đất nông.

- Lúa mì gặt xong chưa? - I-van hỏi.

- Coi như xong rồi... Chỉ còn lại một ít, Phê-đô sẽ gặt xong trong tuần tới.

- Anh ấy ở đây thế nào? - lần đầu tiên kể từ khi trở về, I-van hỏi về anh.

- Không sao cả, - Pan-crát cười khẩy. - Làm việc rất cố gắng.

Đám phụ nữ và thiếu niên nhanh chóng đổ khoai tây vào đầy các xe. Những chú ngựa mệt lử đứng, đầu cúi xuống gần như sát đất.

- Năm nay đến con vật cũng khó nhọc, - Pan-crát nói. Rồi ông tiếp: - Hôm qua tôi cho một toán đàn ông cầm hái, đàn bà cầm liềm đến chỗ ruộng lúa còn lại cuối cùng. Tôi nghĩ, chỉ loáng cái là gặt xong thôi. Còn Phê-đô thì lại chửi ầm lên. Anh ta hét: «Đừng động vào, để tôi sẽ gặt hết!». Vẫn cứ tham lam làm cho được nhiều công. Con người tham lam như vậy để đi đến đâu? Thôi được, cứ để cho anh ta gặt. Lúa ở đấy thì cũng chẳng ăn thua gì nữa, bị gió đánh rụng hết rồi, không việc gì mà phải hành hạ mọi người. Còn đối với Phê-đô thì gặt lúa này sẽ dễ hơn. Anh ta sẽ được tính tiền công theo số héc-ta gặt được.

Gió lật sột soạt những cọng khoai tây khô, thổi bay lất phất tà áo mưa cũ kỹ của Na-da-rốp.

- Thế ai lái máy kéo cho anh ta? Vẫn Ki-ri-an I-nhi-u-chin à? - I-van hỏi.

- Vẫn anh ta. Họ im lặng làm việc suốt cả mùa thu. Mặt ai cũng càu cạu như cũ. Không khéo chỉ chực xông vào cấu xé nhau.

- Tại sao họ lại như vậy?

- Có quỷ sứ mới biết được tại sao.

Những chiếc xe đã chất đầy khoai tây. I-van định cho chuyển bánh, thì chủ tịch nông trang nói:

- Anh cũng về làng đi. A-ga-ta ở nhà đang nhóm lò nhà tắm hơi. Tắm rửa cho sạch sẽ, rồi hai người đi San-ta-ra. Ông anh cả An-tôn gọi điện về mời tối nay đến đấy. Có một chiếc xe tải chiều sẽ đến kho lúa, anh tìm hỏi mà đi nhờ. Còn ở đây tôi sẽ lo hộ. Ngày mai anh về.

- Thôi, thế cũng được.

- Đi đi, đi đi... Anh em gặp nhau mà nói chuyện, - Pan-crát ho, rồi tiếp. - Anh ta cũng cho gọi cả Phê-đô nữa.

- Cả Phê-đô à?

- Thì đã sao? Sợ anh ta ăn tươi đi à? Thôi đi đi! Đi mà nhìn nhau một tí. - Và thấy I-van lưỡng lự, ông nghiêm khắc nói tiếp, gần như quát lên: - Đi đi! Đi đi!

* * *

- Thì ra chú như thế đấy, I-van à! - An-tôn ôm chặt lấy I-van, nói. Ông khẽ đẩy I-van ra một quãng, nhìn thẳng vào mắt em, rồi lại ôm ghì vào ngực. - Còn đây là A-ga-ta, vợ của chú phải không? Anh cũng hình dung ra vợ của chú I-van gần gần giống như vậy đấy. Thôi, cởi áo ngoài ra. Ê-li-da-vê-ta, em giúp hai người bỏ áo ra đi.

Bốn người đứng trong căn buồng bếp quá chật. Ngọn đèn điện không có tán che chiếu sáng trắng cả gian buồng, và A-ga-ta cảm thấy mình trong làn ánh sáng này như vừa tắm xong mới từ dưới nước bước lên chưa kịp mặc quần áo, mà xung quanh lại đầy người.

- Ôi, thời gian, thời gian, I-van ạ, biết làm sao được bây giờ! - An-tôn vẫn đứng nhìn em, hơi buồn buồn nói. Anh vẫn nhớ chú là một đứa bé có mái tóc trắng nhợt. Anh trông thấy chú lần cuối cùng vào khi nào nhỉ?

- Khi đang ở Mi-khai-lốp-ca, rồi sau đó anh vào núi Dve-nhi-gô-ra để trốn bọn hiến binh.

- Đúng, đúng rồi, khi đó là năm nào nhỉ? Yên nào... Bốn năm sau năm 1905 thì phải. Đúng rồi, năm 1906 anh ngồi tù. Năm 1909 lại ngồi tù...

- Lúc đó là năm 1910...

- Đúng là năm 1910. Ba mươi mốt năm về trước.

A-ga-ta đứng nhìn hai anh em, tim khẽ thắt lại, mắt hơi cay cay, ngọn đèn điện nhòe đi thành những vệt sáng trắng lung linh, và trong đầu một ý nghĩ lo lắng quay cuồng: «Còn Phê-đô thì sao? Bây giờ I-van sẽ phải gặp Phê-đô đây...»

Khi còn ở nhà ở Mi-khai-lốp-ca, vừa là áo sơ-mi cho chồng, A-ga-ta vừa nói đi nói lại, có lẽ phải đến hàng chục lần:

- Hay là em ở nhà, anh I-van? Em đến đó để làm gì?

- Không sao đâu, cứ đi thôi...

Lúc đó, A-ga-ta nhìn ra cửa sổ, phập phồng hai cánh mũi nhợt nhạt, nói:

- Anh còn chưa biết em đấy. Đến đó, nếu như Phê-đô nói gì anh... em có thể dùng răng mà cắn cổ hắn ra.

- Em làm sao thế? - I-van sợ hãi cúi xuống sát mặt vợ, hỏi.

A-ga-ta giật mình và bình tĩnh trở lại.

- Thôi được, thì đi... có thể, em sẽ kìm được...

- Tên gọi theo bố của thím là gì, A-ga-ta? - chị bỗng nghe tiếng vợ An-tôn hỏi. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na đứng ngay bên cạnh, khẽ mỉm cười.

- Không... à... chị cứ gọi là A-ga-ta thôi ạ.

- Thế cũng được. Còn tôi, thím cứ gọi đơn giản là Ê-li-da-vê-ta... Rất mừng là cuối cùng chúng ta đã được gặp nhau. Ta vào đi! - Ê-li-da-vê-ta mở rộng khung cửa hai cánh dẫn vào phòng lớn. - Bạn bè của anh An-tôn đang ngồi trong đó. Chú Phê-đô chắc cũng sắp đến.

Nghe nói Phê-đô còn chưa đến, A-ga-ta cảm thấy nhẹ nhõm, mạnh dạn bước qua ngưỡng cửa vào gian phòng rộng rãi.

Một chiếc bàn đã bày sẵn thức ăn đứng giữa phòng, cạnh tường, hai người lạ ngồi trên chiếc đi-văng, còn người thứ ba mà A-ga-ta quen biết là bí thư huyện ủy Cru-gi-lin. Ông đang đi lại trong phòng và kể về một điều gì đó. Khi họ vào, ông im lặng nhìn thẳng vào mặt I-van một lúc, rồi mỉm cười chìa tay ra cho anh:

- Chào anh, I-van Xi-lan-chi-ê-vích, - ông nói.

Hai người kia cũng đứng dậy chào hỏi. Người cao gầy tự xưng là Nhê-tsa-ép, còn người thấp, béo tròn, là I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp. Cả hai, Nhê-tsa-ép và Khô-khơ-lốp, đều tò mò nhìn I-van. «Họ biết, họ biết rằng anh ấy đã ngồi tù! - tim chị thắt lại. - Lạy Chúa, họ lại sắp hỏi vì sao đây?..» Và chị bất giác bước đến bên chồng, dường như có thể ngăn cho anh tránh khỏi những câu hỏi của họ.

Nhưng cả Khô-khơ-lốp lẫn Nhê-tsa-ép đều không hỏi gì cả.

- Nào, mời ngồi vào bàn đi, - An-tôn xếp lại ghế, nói.

- Anh An-tôn à, vợ chồng chú Phê-đô còn chưa đến, - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na lên tiếng.

- Thời buổi chiến tranh này, không thể đợi được. Ai đến chậm sẽ bắt uống phạt, thế thôi...

- Thì ra chúng tôi không phải là khách quý lắm ở đây nhỉ, - một giọng nói oang oang vang lên từ trong bếp. Phê-đô, mặc chiếc áo bông đã cởi cúc, tay cầm chiếc mũ lông cừu đứng trên bậc cửa, đôi lông mày mọc khít nhau khẽ nhíu lại. Sau lưng anh là một người phụ nữ dong dỏng cao khoác chiếc áo bành-tô màu xanh thẫm. Vì tiếng nói chuyện ồn ào và tiếng xô đẩy bàn ghế, nên không ai nghe thấy họ vào từ bao giờ.

Mấy giây An-tôn đứng nhìn chằm chằm người em thứ của mình qua cánh cửa mở rộng. Phê-đô cũng nhìn An-tôn không chớp bằng một ánh mắt xa lạ, dò hỏi.

- Phê-đô đấy à? - An-tôn thốt lên hỏi dường như còn nghi ngờ về điều đó, rồi ông bước nhanh ra cửa.

Hai anh em ôm nhau. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na chạy đến cởi áo ngoài cho An-na.

Một phút sau An-tôn đã dẫn Phê-đô đến bên bàn, sôi nổi và không có vẻ gì là trách móc, nói:

- Thế nào mà chú lại cư xử với anh như vậy? Anh về đây đã hơn tháng nay mà chẳng thấy chú ló mặt đến San-ta-ra lần nào cả. I-van thì còn có đến, nhưng lại không gặp anh...

- Bận lắm. Đang mùa. - Phê-đô oang oang nói. - Hơn nữa anh cũng chẳng nhớ gì đến tôi.

Vào phòng, Phê-đô bắt tay Cru-gi-lin rất chặt, chào một cách thân mật: «Chào anh, Pô-li-các-pơ». Rồi anh chào Khô-khơ-lốp và Nhê-tsa-ép. Đầu tiên anh đưa cặp mắt khuất lấp dưới hàng lông mày mọc khít nhau quan sát kỹ lưỡng hai người, rồi sau mới chìa bàn tay to tướng và cứng như thép ra.

- Tay của anh khiếp quá! - Nhê-tsa-ép mỉm cười thốt lên. - Anh có khi nào bẻ cong móng ngựa không đấy?

- Có thể, - Phê-đô đáp gọn và đưa mắt nhìn quanh như thể tìm xem có ai trong phòng cần phải chào nữa không. Ánh mắt cau có của Phê-đô lướt qua I-van như qua một chỗ trống không người. An-tôn nhận thấy cục bướu trên gò má của I-van khẽ nổi bạnh ra, cặp lông mày của A-ga-ta khẽ nhảy lên, và Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin vừa rít thuốc, vừa im lặng nhìn mấy anh em, hết người này đến người khác. Chỉ có Nhê-tsa-ép và Khô-khơ-lốp không nhận thấy trong thái độ của Phê-đô có điều gì là kỳ quặc và họ nghĩ rằng chắc Phê-đô và I-van hôm nay đã gặp nhau nhiều lần, nên không nhất thiết phải chào hỏi nhau nữa.

An-na bước vào phòng khẽ cất tiếng chào chung tất cả mọi người, không phân biệt ai cả. Rồi từ từ quay mặt về phía I-van, chị đứng nhìn anh, những ngón tay khẽ run run hết đan vào nhau, lại gỡ ra.

- Chào chị, An-na… - A-ga-ta lên tiếng chào. - Đấy, anh I-van nhà tôi đã về rồi đấy...

- Tốt lắm! Có thế chứ, đợi mãi! Chào chú, I-van. - Và chị bước đến giơ cả hai tay cho anh.

An-tôn có cảm giác như Phê-đô sắp sửa nhảy xổ vào vợ, túm lấy cổ áo, lấy tóc mà kéo ra khỏi I-van, - đôi mắt giấu rất sâu sau cặp lông mày rậm của Phê-đô ánh lên những tia dữ dội, nảy lửa, - vì vậy, ông vội vã nói:

- Vào bàn, vào bàn đi! I-van, chú đến bên cạnh anh đây. Và Phê-đô, chú ngồi cạnh đây. Vì chú là anh, nhiều tuổi hơn I-van, nên chú sang ngồi bên phải anh...

- Chúng ta say sưa thật đấy à?! - Khô-khơ-lốp xoa tay kêu lên, ngồi vào bàn trước nhất và rót rượu ra cốc. Không thì tôi đã quên mất mùi rượu như thế nào rồi. Theo luật lệ, cốc đầu tiên dành cho chủ nhà.

- Thôi được, An-tôn nâng cốc lên, - có nhiều điều muốn uống chúc lắm, các bạn ạ. Trước hết - vì chiến thắng của chúng ta. Mong sao có thể nhanh chóng đuổi lũ phát- xít bẩn thỉu khỏi đất nước chúng ta. Các bạn ạ, chắc các bạn không tưởng tượng được bọn phát-xít thú vật đến như thế nào đâu! Còn tôi, ít nhiều đã nếm qua nên cũng đã biết... Rồi xin uống vì anh em chúng ta cuối cùng đã gặp được nhau. Như người ta thường nói, không có bất hạnh thì cũng không có hạnh phúc. Tôi rất mừng là chúng ta lại đoàn tụ về đây với nhau. Xin nâng cốc vì tất cả...

Mọi người nâng cốc uống cạn. Còn Phê-đô không hiểu sao cứ nhìn mãi cốc rượu trong suốt sóng sánh trong tay.

- Nhưng, tôi nghĩ, chúng ta đoàn tụ cũng sẽ chẳng lâu đâu, - ông nói.

Những lời này chẳng làm ai ngạc nhiên cả: đang chiến tranh, và ai biết đâu, ngày mai ngày kia mỗi người trong bọn họ đều có thể đã ở một nơi khác cách xa San-ta-ra. Nhưng Phê-đô dừng lại một lát, đưa mắt nhìn tất cả mọi người, tiếp:

- Mà cũng chẳng có gì đáng tiếc cả...

- Phê-đô! - An-na buột miệng kêu lên.

Phê-đô uể oải làm cử chỉ khoát tay gạt vợ ra và hất cốc rượu vào miệng, uống cạn một hơi, như thể đổ hắt nó qua vai ra khoảng trống sau lưng.

Tất cả bỗng trở nên im lặng. Đến tiếng thìa, dĩa chạm nhau lách cách cũng dừng lại. Cru-gi-lin ngồi đối diện với An-tôn, và An-tôn lại thấy ông hơi nheo mắt nhìn tất cả các anh em nhà Xa-vê-li-ép một lượt.

- Các anh làm sao thế? Ăn đi chứ, xin mời, - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na hơi nhổm dậy, nói: - An-tôn, rót thêm rượu ra đi anh.

- Thì rót, - An-tôn cầm lấy chai, nói. - Có câu tục ngữ, thằng say thì sẽ còn tỉnh, chứ thằng ngốc thì không bao giờ...

- Thôi, thôi, tôi đủ rồi, I-van I-va-nô-vích Khô-khơ-lốp từ chối, - Tôi nổi tiếng là người không uống được rượu mà.

Quả nhiên, mới một cốc, mặt anh đã đỏ như bốc lửa, đôi mắt hiền lành bỗng trở nên lờ đờ nháy liên tục. Anh luôn tay lấy khăn lau trán đẫm mồ hôi.

- Không sao, còn có thể thêm một chén nữa, - Cru-gi-lin nói. - Còn bây giờ, tôi muốn nâng cốc. - Ông cầm chén rượu lên tay. - Cuộc đời thực là kỳ lạ. Đôi lúc hiểu được nó, đôi lúc lại không thể hiểu nổi...

- Nhưng anh thì bao giờ cũng phải hiểu. Theo trách nhiệm, - Phê-đô nói.

- Tôi ấy à? Tôi sinh ra đã được đánh dấu sẵn hay sao? Cũng là người như tất cả mà thôi. Như An-tôn, như I-van, như anh, Phê-đô ạ, - ông nhấn mạnh. - Và thường thường, rất đáng tiếc là không hiếm những lúc vì không hiểu được cái bản chất cốt lõi, cái ý nghĩa của cuộc đời mà con người ta làm những việc có ma quỷ biết là việc gì, gây ra những chuyện xằng bậy, làm cho tâm hồn mình tổn thương, suốt đời đầy những vết tím bầm, những chỗ đau rỉ máu.

Cru-gi-lin nói chậm, rõ ràng từng tiếng một. Càng nghe, I-van - anh nghĩ là Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích nói về mình- càng cúi đầu thấp xuống. Bàn tay anh đặt trên bàn giật nảy lên. I-van vội thu ngay tay xuống dưới bàn, để lên đầu gối của mình, và anh cảm thấy những ngón tay nóng hổi, ướt đẫm mồ hôi của vợ ngồi cạnh đặt vào lòng bàn tay anh. Những ngón tay của A-ga-ta cũng hơi run run.

Phê-đô lúc đầu ngồi nghe Cru-gi-lin nói với một nụ cười có vẻ trịch thượng. Nhưng nụ cười đó dần dần trở nên méo mó, bộ ria ướt khẽ giật giật và đôi mắt trở nên khô lạnh như ánh thép.

- Nhưng rất may là con người ta còn có trí tuệ, - Cru-gi-lin nhìn thẳng vào mặt Phê-đô nói tiếp. - Chính vì thế nên mới được gọi là con người. Và sớm hay muộn, rồi anh ta cũng phải bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa, về thực chất của cuộc sống, của cuộc đời những người xung quanh, của xã hội và về những hành động, những việc làm của chính mình. Anh ta phải làm điều này vì cái tiếng gọi vĩnh cửu và đầy quyền lực đến với cuộc sống, vì cái khao khát muôn đời tìm cho ra chỗ đứng con người của mình giữa nhân loại bắt buộc anh ta. Và tôi nghĩ, kể từ giờ phút ấy, anh ta, dù trước đấy có phạm phải những sai lầm như thế nào đi chăng nữa, sẽ trở thành người công dân, và sau đó là người chiến sĩ đấu tranh cho sự công bằng, cho nhân cách và cho những niềm vui hạnh phúc của con người. Vì vậy, chúng ta hãy cạn chén, chúc cho tiếng gọi vĩnh cửu và cao thượng đó, chúc cho mỗi một con người đều luôn luôn nghe thấy, cảm thấy nó ở trong mình.

I-van cảm thấy những ngón tay A-ga-ta đang vỗ về vuốt ve tay anh. Phê-đô lần này cũng không uống ngay, ông bóp chặt chiếc cốc mỏng manh trong lòng bàn tay hộ pháp và nghĩ về một điều gì đó. Nhưng hình như mọi người đã quên ông đi, họ nói với nhau đủ mọi thứ chuyện.

- Cảm ơn chị Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na nhé. Tôi cũng rất muốn được ngồi lại lâu hơn, nhưng giờ phải đến nhà máy, sắp bắt đầu ca đêm rồi, - Nhê-tsa-ép bỗng nói và đứng dậy, suýt nữa thì chạm đầu vào bóng điện mắc trên trần.

Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na đưa tiễn ông ra bếp. Nhê-tsa-ép mặc áo, nói một câu gì đó, rồi cúi xuống hôn tay bà chủ nhà. Phê-đô ngồi ngoảnh mặt ra cửa nhìn việc đó với một vẻ nghiêm khắc và phê phán.

- Nhưng nếu như con người sẽ chẳng bao giờ suy nghĩ về những chuyện đó thì sao?-Phê-đô bỗng lên tiếng, mắt nhìn vào Cru-gi-lin. - Nếu như anh ta chẳng cần suy nghĩ về ý nghĩa và thực chất của cuộc đời mình? Anh ta cứ sống như anh ta thích, thì sao?

- Thì sao à? - Cru-gi-lin không trả lời ngay. Một sự im lặng nặng nề kéo dài bao trùm lên mọi người. Và Phê-đô cảm thấy rằng không chỉ mình ông, mà tất cả mọi người đều đang chờ xem bí thư huyện ủy sẽ trả lời ra sao. - Lúc đó, sẽ như câu tục ngữ: «Vết rạn thời trẻ - miếng mẻ lúc già».

- Thế đấy, - Phê-đô nói ra vẻ thỏa mãn và bây giờ tự mình cầm lấy chai rượu.

- Phê-đô... - An-na thốt lên.

- Cái gì! - không chú ý đến ai cả, ông rót cho mình một cốc rượu và uống cạn.

An-na ngượng nghịu mỉm cười với Cru-gi-lin, rồi đưa mắt nhìn đi nơi khác. Đôi vành tai của bà đỏ lựng lên như hai quả anh đào chín.

Một giờ rưỡi trước đây, Phê-đô từ ngoài đồng về nhà, người lấm lem bùn đất và râu tóc rối bù. Vừa đến cửa, không chào hỏi, ông đã ra lệnh:

- Chuẩn bị tắm rửa. Nhanh lên...

Ông im lặng cạo mặt, và chỉ đến khi thở phì phò xuýt xoa bên chậu nước, mới hỏi:

- Cô xong chưa? Chắc cô cũng được mời đến nhà An-tôn chứ?

- Anh Phê-đô ạ, anh về cũng nên chào hỏi lấy một câu đã chứ.

- Để làm gì? Thứ nhất là cô đang đợi ngày đợi đêm để người ta đưa tôi ra trận. Thứ hai là để cho chúng giết tôi ở đó... Thế tức là cô với tôi chỉ là những người dưng mà thôi.

- Người dưng gặp nhau cũng còn chào hỏi nhau chứ.

Phê-đô đứng trước gương mặc chiếc áo sơ-mi mới, loay hoay mãi với mấy cái cúc.

- Bị đưa ra trận hay bị giết - chuyện này cũng còn chưa biết sẽ ra sao. Nhưng sớm muộn gì tôi với cô cũng phải ly dị nhau thôi - cái này thì dứt khoát rồi... Vì chính cô muốn vậy.

- Chính anh thì có!.. Chính anh...

- Thôi đủ rồi! Tôi chính thì cô cũng chẳng chuyên... - Và ông bỗng nói sang chuyện khác. - Khi chủ tịch nông trang Na-da-rốp bảo An-tôn mời đến nhà, tôi đã muốn nhổ toẹt...

- Tại sao ai anh cũng muốn nhổ toẹt cả? Biết được cũng hay... Dù sao cũng là anh ruột! Từ nhỏ đến giờ không gặp nhau...

- Cái thằng tù phản động kia cũng sẽ đến đấy, - Phê-đô không chú ý đến câu nói của vợ, tiếp tục. - Nhưng sau lại nghĩ, thôi được, cứ đi xem... Nhìn anh em ruột một tí, thử ngồi với thằng phản động dù chỉ một lần cùng bàn xem sao. Chắc chẳng lây bẩn đâu... Mặc áo vào đi.

- Tôi không đi...

- Lại còn gì nữa đây! Nhanh lên! Dù sao bây giờ hãy còn là vợ tôi. Định gây chuyện hay sao? Trong nhà này lại còn những người lạ nữa...

Vừa khinh ghét mình vì một điều gì đó vì sự yếu đuối, thiếu cương quyết, cũng có thể vì sự phục tùng của mình lúc bấy giờ, An-na vừa mở hòm lấy ra một chiếc áo mới.

- Nhưng vì Chúa, anh đến đó đừng làm bậy đấy...

- Cô không phải sợ cho I-van của cô...

Và thế là họ đi đến nhà An-tôn.

...Phê-đô thỉnh thoảng lại liếc sang đôi tai đỏ lựng của vợ, rồi nhìn I-van đang ngồi im lặng, nhưng không nói thêm một lời nào. Ông ngồi im lặng và hờ hững nghe An-tôn, Cru-gi-lin và Khô-khơ-lốp đang nói về công việc của nhà máy, về việc xây dựng nhà hầm cho công nhân, về chuyện có lẽ cả ba người họ chắc phải cùng nhau về tỉnh để xin thêm gạch gỗ, vật liệu làm nhà. Ê-li-da-vê-ta hết quay sang An-na lại A-ga-ta, gắp thức ăn cho họ. Chốc chốc Phê-đô lại rót rượu ra cốc của mình, nhưng ông vẫn không say.

Cuối cùng, Cru-gi-lin nhìn đồng hồ.

- Chà! - Và ông đứng dậy ngay. - Như anh nói đấy, An-tôn ạ, thằng say thì còn có thể tỉnh, chứ thằng ngốc thì không bao giờ... Dù ta không phải là lũ ngốc, nhưng cũng cần thời gian để ngủ một tí...

Khô-khơ-lốp và An-tôn cũng đứng dậy, họ ồn ào đi ra bếp. I-van và Phê-đô cũng định đứng dậy, nhưng An-tôn nói:

- Các chú ngồi đây đã. Chúng ta còn nhiều chuyện muốn nói...

Phê-đô nghe nói chỉ cười khẩy và lấy dĩa vạch vạch lên tấm khăn giải bàn.

Tiễn khách xong, An-tôn ngồi vào chỗ của Cru-gi-lin lúc nãy, thân mật mỉm cười nhìn Phê-đô, I-van, An-na và A-ga-ta. Mỉm cười và im lặng.

- Anh phí thời gian cho những nụ cười làm gì? - Bộ ria ướt của Phê-đô mấp máy. - Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích đã làm một bài giảng giáo dục cho tôi, bây giờ anh bắt đầu đi.

- Lạ lùng thật, khó mà tin được là bỗng nhiên chúng ta lại gặp nhau, - An-tôn nói. - Ê-li-da-vê-ta, em có thấy kỳ lạ không? Cứ như là trong chuyện cổ tích ấy! Thế mà đấy, I-van ngồi đây, Phê-đô ngồi đây. Anh vẫn còn nhớ hai chú hồi nhỏ như thế này: I-van nhỏ gầy mà linh lợi, mũi suốt đời tấy đỏ như cà chua, còn Phê-đô thì chín chắn, kỹ lưỡng và đẹp trai hết ý. Chắc con gái phải chạy theo Phê-đô hàng đàn phải không An-na?

An-na mỉm cười gượng gạo, không đáp. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-drốp-na thu dọn những chiếc cốc đĩa thừa trên bàn lại.

- Còn bao nhiêu chuyện muốn nói mà không thể nói hết được, - An-tôn thở dài cầm lấy chai rượu. Nay ta sống trong một làng rồi, sẽ gặp nhau luôn. Còn bây giờ muốn nâng cốc cạn chén này mừng chú út nhất trong chúng ta, mừng chú I-van. Cru-gi-lin nói đúng - cuộc đời thật là kỳ lạ, và không phải ai cũng nắm được ngay cái cốt lõi thực chất của nó. Và đấy, cuộc đời đã bẻ gục I-van, rồi ném từ bên này sang bên nọ, cuốn xô đi như thác nước trên sông Grô-mô-tu-kha cuốn đá... Nhưng bây giờ, anh nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ ổn cả. Phê-đô vừa có nói điều gì đó về trách nhiệm... Nếu như con người ta theo trách nhiệm của mình đúng là con người, thì nhất định, sớm hay muộn, mọi việc rồi đều sẽ ổn, sẽ tốt đẹp cả... Uống mừng chú, I-van!

- Cám ơn anh An-tôn, - I-van thốt lên khàn khàn.

- Còn tôi sẽ không uống mừng thằng phản động đâu, - Phê-đô xẵng giọng nói.

A-ga-ta tái người đứng thẳng dậy túm chặt lấy vai I-van. Còn An-na, lần thứ ba trong buổi tối hôm đó, kêu thốt lên:

- Phê-đô?!

- Cái gì?! Phê-đô với Phê-đô! - ông gầm lên, rồi lắc lư người bước đến bên vợ. - Tôi chẳng động đến con người yêu dấu của cô đâu, đừng sợ! Nhưng rồi sẽ đến lúc chính Chính quyền Xô-viết lại nhét hắn vào một xó xỉnh nào nữa. Và hy vọng rằng lần này, lần thứ ba, sẽ là vĩnh viễn! Còn uống mừng hắn - tôi xin phép! Ngồi cùng bàn với hắn đã là quá lắm rồi...

An-na đứng dậy, lảo đảo tránh xa chồng, bà xô đổ một chiếc ghế.

- An-na... An-na! - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na vội vã chạy theo An-na vào bếp.

Trong bếp, An-na vừa khóc vừa vội vã quấn khăn lên quanh đầu và gần như xô vợ An-tôn ra, thét lên với một sự căm ghét:

- Không! Không! Không!

An-tôn đứng im lặng nhìn sự việc xảy ra trong phòng, I-van cũng đã đứng dậy, nhưng lại ngồi xuống, chỉ có Phê-đô không có phản ứng gì.

Khi An-na chạy ra khỏi nhà, Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na lấy ngón tay xoa xoa lên thái dương như đang cố nhớ lại một điều gì.

- Vâng, nước chè... Ngay bây giờ...

- A-ga-ta, giúp Ê-li-da-vê-ta một tí, - An-tôn nói.

A-ga-ta đứng dậy đi ra khỏi phòng, khép cửa lại.

- Cuộc gặp gỡ của chúng ta, phải nói thẳng là vui vẻ lắm, - An-tôn cười nhạt nói.

- Thế anh muốn sao? - Phê-đô hỏi lại. - Muốn tôi phải xông đến ôm hôn thằng I-van à? Về thái độ của tôi đối với hắn, chắc anh cũng đã biết. Nếu chưa biết thì giờ biết.

- Thế làm sao mà chú lại có thái độ như vậy?

- Ôi, ông anh thân mến ơi! Tôi đã đổ máu vì Chính quyền Xô-viêt, đã không tiếc đời mình...

- Và tôi hình như cũng không tiếc...

- Anh... Nhưng anh không tiếc nó ở nơi khác, xa quê này. Còn tôi thì ở đây. Và thằng I-van cũng làm phỉ ở đây. Và cũng ở đây, ở làng Mi-khai-lốp-ca này, cha mẹ bị chúng giết... Còn thằng I-van, mặc dù vậy, vẫn đi theo chúng. Thế mà tôi có thể tha thứ hắn chuyện này được à? Còn anh, hình như anh tha thứ cho hắn thì phải. Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin cũng vậy. Lại còn nâng cốc nói những lời thông thái - con người cần phải hiểu cái cốt lõi của cuộc đời, và lúc đó con người sẽ trở thành con người! Tất cả đều để bào chữa cho thằng I-van. Thì cứ bào chữa đi! Đấy là việc của các anh! Còn hắn, anh tưởng là hắn sẽ hiểu đấy à?

- Và có thể, những lời đó không phải chỉ nói với I-van, mà cả nói với chú nữa cũng nên? - An-tôn hỏi khẽ. - Để chú cố đi mà tìm cho ra cái cốt lõi của cuộc đời?

- Còn đối với tôi, thì... Tôi hiểu chứ, có phải ngốc đâu. Chỉ có điều tôi có đánh mất nó đâu mà tìm...

- Có thể chú đã để mất rồi thì sao? Chú đi, đi, và đánh rơi ở một nơi nào không biết?

- Anh thì biết lắm đấy! - Phê-đô đứng vụt dậy, từ dưới cặp lông mày rậm nhíu lại, đôi mắt ông hết nhìn An-tôn lại I-van. Mà nói chung, nói làm gì cho vô ích?! - Và ông bỏ ra bếp.

An-tôn không nói gì, cũng không giữ ông lại. Một phút sau, có tiếng cửa ngoài đóng sập mạnh.

- Còn chú, sao suốt buổi cứ im lặng thế? - An-tôn hỏi I-van.

- Thì em biết làm gì? Phê-đô buộc tội em là đúng, em chẳng có gì để bào chữa cả. Đời em nó ra sao, anh biết đấy. Em đã gửi cho anh hai - ba lá thư, A-ga-ta hình như cũng có viết. Mà chắc anh cũng đã nghe người khác nói nhiều...

- Nhưng anh muốn nghe chú. Chú kể hết mọi chuyện đi. Kể tỉ mỉ về mình, về Phê-đô. Anh muốn hiểu được cả hai chú.

- Về mình thì em có thể. Nhưng về Phê-đô thì em biết nói gì? Chính em cũng không hiểu được anh ấy.

- Chú hiểu sao thì chú kể vậy. Rồi anh sẽ kể đời mình cho chú nghe.

...Đêm đó, hai anh em ngồi nói chuyện cho tới tận sáng.

* * *

Ra khỏi nhà An-tôn Xa-vê-li-ép, Phê-đô dừng lại một lúc cạnh bậc thềm lên xuống. Đêm mùa thu tối đen như đè gí cả làng San-ta-ra xuống sát mặt đất. Đây đó, chỉ một vài vệt vàng của những cửa sổ có ánh lửa thấp thoáng xuyên qua bóng tối.

Một giờ hoặc giờ rưỡi trước đó, khi ông cùng An-na đi đến nhà An-tôn, bầu trời đã phủ đầy những đám mây nặng màu xám xịt. Nhưng lúc đó mây còn bay trên cao, còn bây giờ Phê-đô cảm thấy như chúng đã hạ xuống sát mặt đất, phả hơi lạnh ra khắp nơi. «Chẳng lẽ lại sắp có tuyết à? - ông chợt nhớ lại khoảnh ruộng chưa gặt xong, nghĩ. – Nếu lúa bị lấp dưới tuyết, cả mùa đông người ta lại sẽ nói ra nói vào: đấy, đáng lẽ ra phải cố sức mà gặt cho kịp trước khi tuyết xuống, hắn lại đi rượu chè...»

Và ông rảo bước bỏ đi.

Gió thổi lắc lư những ngọn cây đã trụi lá, những cành khô ngả nghiêng kêu rít lên buồn thảm. Dường như những đám mây đen nặng kia đang cày sát trên những ngọn cây, làm chúng cọ vào nhau sắp gãy.

Ngoài cái cảm giác khó chịu, thù địch đối với người anh cả An-tôn, và nhất là đối với I-van, Phê-đô không cảm thấy gì hết. «Cả An-na cũng lải nhải: «Tại sao ai anh cũng muốn nhổ toẹt cả? Biết được cũng hay...» Miệng thì nói ai, nhưng trong bụng thì nghĩ về I-van trước hết!.. Mà cái thằng tù gầy còm này đối với cô ta là cái gì mới được chứ? Bao nhiêu năm qua rồi, mà cô ta vẫn nghĩ đến hắn... Hay quả đúng là mọi người phủ phục trước Chúa Giê-su vì những đau khổ của ông ta?.. Và cả Pô-li-các-pơ lẫn An-tôn cũng định dạy mình!»

Đường phố rất tối - không một ngọn đèn trong các cửa sổ, không một ánh sao trên đầu. Ngôi nhà riêng của ông cũng chìm trong bóng tối. «Đấy, không thèm đợi nữa, - ông nghĩ về An-na với một sự giận dữ. - Còn trước đây thường để đèn đợi đến sáng...» Và ông cảm thấy như đầu sắp nổ tung ra vì cáu giận.

Bước vào sân, Phê-đô nhận thấy một cửa sổ nhà I-nhi-u-chin còn sáng. Một tấm màn che kín nửa khung cửa sổ, trên đó thấp thoáng một bóng người. «An-phi-xa hay là Vê-ra?»

Phê-đô bỗng cảm thấy trong mình một nỗi buồn và một sự trống trải. Ngực nghe buôn buốt khó chịu, Phê-đô ngồi xuống chiếc ghế dài cạnh nhà. Tựa lưng vào tường, ông ngạc nhiên thấy tim như bị một cái gì đó đè nặng và nó khẽ rên rỉ. Trước đây ông chưa bao giờ có cảm giác như vậy cả. Không hiểu sao, ông bỗng nhiên lo lắng nghĩ: «Lại còn cái gì thế này? Có lẽ, một thứ bệnh gì đây...»

Trong cửa sổ nhà I-nhi-u-chin, bóng người khẽ lay động, vươn dài ra - An-phi-xa hoặc Vê-ra đang cởi áo. Đôi tay trần thấp thoáng hiện ra phía trên tấm màn cửa, rồi ánh sáng trong cửa sổ vụt tắt. «An-phi-xa» - cuối cùng, Phê-đô đã nhận ra. Máu trong người ông khẽ nóng lên, những cảm giác khó chịu trong ngực lập tức biến mất. Tự nhiên, ông tưởng tượng ra cảnh An-phi-xa chép miệng như trẻ con, khi bắt đầu ngủ thiếp đi. Khi ngủ, bao giờ An phi xa cũng chép miệng như vậy. Rồi ông nhớ đến đôi vai nhọn, nóng hổi luôn luôn run rẩy dưới bàn tay ông, đến chiếc lưng gầy, đến thứ tiếng âm vang trong ngực An-phi-xa làm cho tim ông bao giờ cũng phải đập mạnh hơn để đáp lại. Và trong những phút ấy, An-phi-xa đốt cháy ông bằng một ngọn lửa đen của đôi mắt, một ngọn lửa thèm thuồng không bao giờ thỏa mãn. Thậm chí, trong bóng tối, ông cũng cảm thấy, nhận ra cái ngọn lửa thiêu đốt đó...

Còn với An-na, với vợ của mình, thì lại khác. Trước đây, đã rất lâu, lâu lắm, An-na cũng cháy bỏng, cũng nồng nàn như An-phi-xa. Nhưng không bao giờ An-na gợi dậy được trong Phê-đô sự đáp lại nồng nhiệt, mong muốn. Có lẽ vì ông không tin vợ. Ngay từ đầu, ông đã không tin, ngay từ đêm tân hôn, khi ông biết rằng An-na đã không còn trinh nữa. Ông nhớ mình như bị giội một thùng nước sôi, ngồi xuống bên cửa sổ, hút hết điếu này đến điếu khác, nhớ lại cái ngày một năm về trước, khi I-van đưa An-na cùng với xác cha cô từ một nơi nào không rõ về làng Dát-cô-va Ban-ca. Cuối cùng, ông lên tiếng hỏi, giọng khản đặc.

- Ai đã... thử cô? I-van à?

- Không, không! Anh Phê-đô thân yêu, không!

- Thế thì ai?

- Em không có tội, anh Phê-đô... Em không thể nói được. Nhưng em trung thành với anh! Nghìn lần anh sẽ thấy là em trung thành! Em sẽ xứng đáng với sự tha thứ của anh, em nguyện là miếng vải lót giày cho anh, em sẽ sẵn sàng chết vì dù chỉ là một sợi tóc của anh! Anh còn chưa biết là em yêu anh đến chừng nào đâu! Nhưng anh đừng hỏi, anh Phê-đô, anh hãy quên đi nhé?

Đêm hôm đó, An-na bò dưới chân Phê-đô, khóc lóc hết nước mắt, nhưng rồi vẫn không nói ai là thủ phạm trong việc nhục nhã này. Và sau đó cũng không bao giờ chịu nói. Còn Phê-đô thì không thể quên, không thể tha thứ. Dần dần, càng ngày An-na càng trở nên nguội đi, ít nói, sống như thu mình lại, và già rất nhanh - không phải về thể xác, mà về tinh thần, - mỗi đêm một thêm lãnh đạm, lạnh lùng. Không bao giờ từ chối Phê-đô, nhưng phận sự đàn bà của mình An-na thực hiện một cách không có hứng thú, vì nghĩa vụ, - và như Phê-đô cảm thấy với một sự ghê tởm càng ngày càng tăng thêm. Đến bây giờ, ông đã trở nên hoàn toàn xa lạ đối với An-na.

Phê-đô ngả người tựa lưng sát hơn vào bức tường gỗ, thở dài. Trong đầu ông bỗng vang lên những lời nói của Cru-gi-lin: «Và thường thường... vì không hiểu được cái bản chất cốt lõi, cái ý nghĩa của cuộc đời mà con người ta làm những việc có ma quỷ biết là việc gì, gây ra những chuyện xằng bậy, làm cho tâm hồn mình tổn thương, suốt đời đầy những vết tím bầm, những chỗ đau rỉ máu...» Và chỉ đến bây giờ những lời nói này mới thực sự làm cho ông tức giận. «Hóa ra... hóa ra là ta không hiểu ý nghĩa và cốt lõi của cuộc đời, làm những điều xằng bậy?! - ông điên tiết nghĩ. - Ta, ta, thằng đã từng đi du kích, từng không sợ chết, từng không tiếc máu xương! Và sau đó đã làm việc như trâu bò, không bao giờ để mang tiếng xấu!..» Trạm máy kéo đã tồn tại bao nhiêu năm thì bấy nhiêu năm anh, Phê-đô Xa-vê-li-ép này, là thợ lái máy gặt đập liên hợp xuất sắc nhất! Chính anh ta, Cru-gi-lin, phải biết rất rõ điều này! Vậy thì anh ta có quyền gì mà ăn nói như vậy?! Nhất là câu... câu: «Vết rạn thời trẻ -miếng mẻ lúc già...» Vết rạn nào? Vết rạn ở đâu kia chứ? Còn miếng mẻ, miếng mẻ nào bây giờ?

Những ý nghĩ trên quay cuồng trong đầu đã át đi tất cả - cả An-tôn, cả I-van, cả An-na, - át đi và xóa nhòa hết những hành động và quan hệ của ông, Phê-đô, đối với những con người này, dường như ông không làm một điều gì đáng chê trách trong quan hệ với họ hoặc với bất kỳ một người nào khác. Và ông cảm thấy mình bị những lời nói của Cru-gi-lin, bị toàn bộ buổi tối hôm đó và tất cả mọi người - Cru-gi-lin, An-tôn, I-van... thậm chí cả vợ của mình nữa, - làm nhục một cách bất công và nặng nề.

«Đối với bọn họ, mình là một kẻ xa lạ, hoàn toàn xa lạ», - ông nghĩ.

* * *

Phê-đô lớn lên thành một đứa trẻ hiền lành, nhút nhát, chậm chạp. An-tôn, người con trai cả của gia đình Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép suốt đời thiếu thuế, một cậu bé liều lĩnh, nghịch ngợm và ương bướng, khinh Phê-đô ra mặt, thường đánh đập, và nói chung, dường như không coi Phê-đô là em ruột của mình. Không bao giờ cậu bỏ lỡ cơ hội để trêu chọc- khi thì lấy than vẽ đầy mặt Phê-đô đang ngủ, khi thì nhét những quả kỳ nham đầy gai nhọn tua tủa vào giày em, khi thì đi tắm ngoài sông Grô-mô-tu-kha đem quần Phê-đô buộc túm chặt ống lại và nhúng ướt nước.

Khi Phê-đô vừa khóc, vừa chạy về mách mẹ, bà U-xchi-nhi-a Xa-vê-li-ê-va, một người đàn bà nhỏ bé với bộ ngực héo hon và đôi tay to, chai sạn vì công việc, liền túm lấy roi, cán chổi hoặc que cời bếp:

- Trời ơi, quỷ tha ma bắt nó đi! Cho mộc nó đè chết cái đồ ngỗ ngược ấy đi! - Và bà chạy đi tìm An-tôn.

Nếu như những lúc đó An-tôn rơi vào tay mẹ, thế nào bà cũng quất cậu con cả một trận nên thân. An-tôn không tránh những đòn đánh, chỉ tìm cách túm bắt lấy roi hoặc cán chổi, miệng nói:

- Nhưng cái thằng đần ấy vừa đi vừa ngủ. Đến ruồi cũng ỉa được vào mồm nó, cả tiếng xe ngựa cũng sợ... Hắn lớn lên làm cái bao đựng phân...

- Đồ ngoại đạo! Cứ làm ầm ĩ cả lên, mong cho chúng mày chết rấp đi vào một ngày! - bà gần như khóc, kêu to lên và dần dần nguôi dịu đi, -Thế mày lớn lên thành cái gì? Mày đáng ra phải đến trường thêm ít nhất một vài năm nữa, khi nhà còn có thể thở được, thế mà mày lại cứ chạy lêu lổng. Mày làm cho thằng bé đến gầy mòn đi rồi đấy. Mày lớn hơn nó những năm tuổi kia mà... Đợi đấy, tao cho mày đến thành phố, đến Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ, rồi tha hồ mà lêu lổng. Đến đó thì không có bố mẹ cặp kè bên cạnh nữa đâu. Chú Mi-tơ-rô-phan sẽ cho mày biết tay. Ở đó hoặc là người ta sẽ bẻ cổ mày đi, hoặc là mày sẽ khôn hơn ít nhiều, đồ quỷ sứ chết tiệt ạ...

Một lần, vào mùa thu, khi những cây bạch dương bắt đầu trụi lá, An-tôn hỏi Phê-đô:

- Mày muốn xem xiếc không? Tao sẽ chui vào Khe Rắn và về không việc gì.

- Nói khoác! - Phê-đô khinh khỉnh cười khẩy. - Ở đó toàn rắn độc...

- Thì đi xem... - Và An-tôn lôi em vào dãy Dve-nhi-gô-ra.

Cái khe mà An-tôn nói đến là chỗ hoang vắng đáng sợ nhất của khắp cả dãy Dve-nhi-gô-ra. Đúng ra đấy không phải là khe, mà là một cái lũng nhỏ và không sâu lắm, mọc đầy dã anh, sơn tra, đũm hương, kim ngân và táo dại. Khe bắt đầu từ chân núi phía nam của dãy Dve-nhi-gô-ra và kéo dài chừng một ki-lô-mét rưỡi dọc theo những bức tường đá dốc.

Lũng này được gọi là Khe Rắn vì ở đó quả thật có vô số rắn độc. Không hiểu cái gì quyến rũ chúng về đây? Có thể là những chùm đũm hương và những loài cỏ dại khác, cũng có thể là vì chỗ này thường xuyên ẩm ướt - một mạch nước ngầm chảy ở phía trên lũng, nước tràn xuống dưới, rịn ra giữa những tảng đá và những lùm cỏ dại cao bằng đầu người mọc trải dài cho đến tận bờ sông Grô-mô-tu-kha từ hướng nam chảy vòng qua dãy Dve-nhi-gô-ra. Rắn treo từng chùm trên các cành cây, những ngày nắng, chúng cuộn tròn phơi mình trên đá. Nhưng những ngày nắng rất hiếm, vì ở đây, những đám sương mù hăng hắc và dày đặc suốt bốn mùa trườn theo đáy lũng, liếm ướt sũng cây, đá trong khe.

Mùa xuân, Khe Rắn rực rỡ nhiều màu như cầu vồng. Khắp lũng, hoa dã anh, hoa táo dại; giữa các kẽ đá ở những chỗ cao ráo hơn thấp thoáng hoa điểm tuyết cuối mùa màu trắng và màu vi-ô-lét; trên những bãi đất ẩm ướt mà trống trải, hoa mao lương cháy rực lên từng chùm dày đặc y như có người ném vung ra khắp lũng những chiếc khay khảm vàng. Nhưng nhiều nhất vẫn là hoa lưỡi rắn - một loài hoa sặc sỡ đến trơ trẽn, màu đỏ chói, với những cánh hoa to chẻ đôi ở giữa. Chúng nở không lâu nhưng rất mãnh liệt, sum suê, để rồi sau đó rắc đầy những cánh hoa héo rụng khắp đáy lũng, trên đá, trên cỏ. Người ta bảo rằng chính mùi hương của loài hoa này đã thu hút tất cả rắn của dãy Dve-nhi-gô-ra về đây. Chúng ăn những cánh hoa rụng, - chỉ những cánh hoa rụng thôi, vì theo như lời đồn, chính trong những cánh hoa héo tàn nhợt nhạt này mới tích tụ lại thứ chất độc chết người làm cho loài rắn trở nên đáng sợ.

Trong Khe Rắn suốt bốn mùa hoang vắng. Chim chóc không bao giờ bay tới đây, đến ngọn gió cũng hiếm hoi lắm mới ghé qua một lần vào cái lũng đá ẩm ướt này.

Mùa thu, khi các loài rắn bò về hang, vào các kẽ đá để ngủ đông, trong khe hoàn toàn không có gì là nguy hiểm cả. Mọi ngươi chắc cũng hiểu được điều đó, nhưng khe này đáng sợ, đến nỗi chỉ có một vài người dám cả gan đến đây chốc lát để nhổ một bụi sơn tra hay ngắt một chùm kim ngân. Nhưng vào sâu hơn trăm rưởi xa gien, thì quả là chưa có ai dám. Hơn nữa, hoa quả hái ở Khe Rắn về mọi người cho rằng nếu không độc thì cũng bẩn thỉu, uế tạp.

An-tôn có lẽ là một trong những người đầu tiên khám phá ra rằng mùa thu Khe Rắn không có gì nguy hiểm. Ba - bốn năm liền, cậu mang từ Khe Rắn về những xô đầy quả sơn tra ngọt lịm, to tướng, những túi kim ngân đỏ như lửa và táo dại chua đến kinh người.

- Ở đâu thế này? - U-xchi-nhi-a ngạc nhiên hỏi - Mày lấy ở đâu ra thế?

- Ở trong rừng, - An-tôn khoát tay lấp lửng.

- Ở Khe Rắn phải không? - cha cậu nghi ngờ hỏi. Coi chừng đấy, ở đó toàn là đồ uế tạp cả đấy.

- Cha nói gì vậy, - An-tôn làm ra vẻ phật lòng. - Chẳng lẽ con không biết đây là chỗ bẩn thỉu sao?!

Táo dại đem nấu nước quả chua, quả sơn tra và kim ngân dùng làm bánh ngọt. Mọi người ăn, khen ngon.

- Thế này mà bẩn thỉu à? - An-tôn nói. - Ngon hết ý.

...Khi hai anh em đến chân núi Dve-nhi-gô-ra, Phê-đô đứng lại phía dưới, trên bờ sông Grô-mô-tu-kha, còn An-tôn thì chui vào lũng.

- Chắc anh lại trốn vào một bụi cây nào gần đây, rồi trở ra thôi, - Phê-đô đoán.

- Thì mày đứng đây mà nhìn - tao sẽ leo lên cái mỏm đá trông như quả dưa chuột kia kìa, tao sẽ huýt gió, vẫy tay cho mày thấy.

Mỏm đá mà An-tôn nói đến ở cách rất xa, tận phía trong của Khe Rắn. Quả nhiên một chốc sau, Phê-đô nghe tiếng huýt gió và thấy An-tôn đứng trên mỏm đá.

Phê-đô hết sức kinh ngạc, thán phục.

- Anh An-tôn, anh làm sao được thế? - trên đường về nhà, cậu rụt rè hỏi anh. -Anh không sợ rắn à?

- Chính chúng phải sợ tao chứ.

- Tại sao?

- Tại tao không phải thằng đần, thằng độn như mày.

- Anh cứ nhạo em mãi, - Phê-đô tự ái.

Mấy ngày sau Phê-đô lầm lì, như đang nghĩ ngợi một điều gì. Rồi cậu bỗng nói:

- Anh biết không, em cũng không sợ... vào khe.

- Đi mà nói với thằng đần khác ấy! Lại chẳng bĩnh ra đầy cả quần ấy à?

- Em ấy à? Phê-đô giận dữ kêu lên. - Anh là đồ... Lại còn cười nhạo nữa... Đi đến đó xem!

Và hai anh em lại vào núi. Nhưng lần này, trước con mắt ngạc nhiên của An-tôn, Phê-đô mạnh bạo chui vào khe đá. Cậu đi, không ngoảnh nhìn lại, nhảy qua những hòn đá, luồn qua các bụi cây chắn đường, lội ủng bì bõm dưới đáy lũng lổn nhổn. Chỉ có đầu hơi rụt vào vai. Cậu đi đến tận mỏm đá nơi An-tôn đứng huýt gió lần trước.

- Thấy chưa... - cậu dừng lại, nói, trán nóng bỏng, ướt đẫm. - Không thì anh cứ bảo đần độn, đần độn mãi... - Và cậu nấc lên.

- Anh sẽ không thế nữa, Phê-đô... Em giỏi lắm.

Nhưng Phê-đô bỗng ngồi bệt xuống mỏm đá và òa ra khóc. Có lẽ, nỗi sợ hãi bị nén xuống, bị sự bướng bỉnh kìm lại, giờ thoát ra, chảy thành nước mắt.

- Còn gì nữa đây! - An-tôn cau mặt. - Im đi! Tao bảo... Thôi!... Tao sẽ cho mày xem cái này nữa.

- Cái gì? - Phê-đô ngước bộ mặt đẫm nước mắt lên.

- Ngay bây giờ... Đi theo tao...

Đỉnh của mỏm đá tròn và nhọn, còn chân lại hình vuông, có những chỗ lồi ra. Một loài kim ngân mọc ngay dưới những hòn đá lớn, đầy những quả nho nhỏ màu đỏ chói. Mọi người trong vùng gọi là quả chó sói. Loài quả này đắng và độc.

Giữa đám kim ngân có một bụi sơn tra đã già, rất lớn, gai dài bằng ngón tay. An-tôn luồn xuống dưới bụi gai, nhảy lên một bậc đá lồi ra, rồi lên bậc thứ hai.

- Đi lên đây, cẩn thận kẻo bị gai đâm.

Phê-đô theo sau An-tôn nhảy lên ba bốn bậc đá, đến đứng ngay dưới một khối đá lớn treo lơ lửng trên đầu. Bây giờ những bậc đá, như một cầu thang, dẫn xuống phía dưới, hai bên hai bức tường đá cứ ép sát lại, hẹp dần. Bỗng nhiên, tường biến mất, và Phê-đô thấy trước mắt mình là một khoảng trống đen ngòm. Dưới chân vẫn là hòn đá ấy, nhưng cậu nghe tim nhói lên, liền dừng lại. Phê-đô có cảm tưởng rằng chỉ cần thêm một bước nữa là cậu sẽ rơi tõm vào vực tối đen ngòm như vào một chiếc giếng không đáy.

- A-ai vào-o nhà-à của ta-a-a đâ-ấy? - cậu nghe một giọng nói rùng rợn kéo dài và trong ngực lại nhói lên. Cậu muốn chạy ngược trở lại nơi có ánh sáng mặt trời, có gió. Nhưng phải bằng một sự cố gắng ngang bướng ghê gớm, Phê-đô mới kìm lại được.

- An-tôn, anh đừng có dọa em, hiểu chưa? - cậu nói, giọng khản đặc. - Anh ở đâu đấy?

Một ánh lửa lóe lên bên cạnh - An-tôn vừa bật diêm - và Phê-đô trông thấy một cái hang rất rộng, như chiếc túi bằng đá, tối tăm và ẩm ướt.

... Ra khỏi hang, hai anh em nằm trên một phiến đá mịn, sưởi dưới ánh nắng mặt trời mùa thu yếu ớt.

- Anh làm thế nào mà tìm ra được cái hang này thế? - Phê-đô hỏi. - Đứng ở dưới thì chẳng trông thấy nó.

- Leo đi leo lại mãi rồi thấy. Tuyệt không?

- Vào đó thấy sờ sợ.

- Mày nói thật đi, khi vào đây sợ rắn lắm phải không?

- Vâng, - im một lát, Phê-đô mới đáp. – Rất sợ. Ở dưới đất thì không sao, em nghĩ còn có ủng. Nhưng nếu có con nào ở trên cây nhảy xuống thì làm thế nào? Nó chui ngay vào cổ áo...

- Thế mà cũng dám đi?

- Còn sao nữa? Để anh khỏi cười nhạo... Em nghĩ, thà để cho rắn cắn còn hơn...

An-tôn phá ra cười và lại nói:

- Em giỏi lắm, Phê-đô ạ... Sống phải như thế, không sợ gì cả. Còn bây giờ anh lộ cho em biết bí mật nhé: mùa này ở đây không có rắn.

- Sao lại không? Chúng đi đâu mất?

- Ở trong khe này chúng chui vào hang ngủ sớm hơn lũ rắn trong rừng.

- Hay nhỉ, - Phê-đô nói. - Thế trong làng không ai biết cả à?

- Có lẽ có người biết. Nhưng theo thói quen họ vẫn sợ không dám đến đây...

- Hay nhỉ, - Phê-đô lặp lại. - Em... em sẽ dọa cho I-van và Ki-ri-an một trận ở đây... Cứ đợi cho chúng lớn thêm một ít. Em sẽ làm cho chúng há hốc mồm... như anh vừa rồi dọa em ấy.

- Nhưng mày phải nhớ kỹ rằng, - An-tôn nghiêm giọng nói, - nếu bạch dương còn chưa vàng hết lá thì không được thò mặt đến đây. Chết ngay đấy. Lũ rắn độc nhất định sẽ cắn. Hiểu chưa?

- Em hiểu rồi. Khi bạch dương chưa vàng hết lá...

- Thế - thế... còn bây giờ đi, tao chỉ cho xem lũ rắn ngủ như thế nào. Chúng cuộn lại thành từng cục đến hai người thật khỏe cũng không nhấc nổi. Mà khoan, chặt mỗi đứa một chiếc gậy đã...

Một tuần sau, ông chú Mi-tơ-rô-phan, người mà mẹ thường hay nhắc đến, về thăm làng Mi-khai-lốp-ca. Ôm hôn bố mẹ xong, chú Mi-tơ-rô-phan nghiêm khắc nhìn Phê-đô và cậu bé I-van bốn tuổi, cho hai anh em hàng đống bánh ngọt và thậm chí cả kẹo bọc giấy đẹp - đúng hệt như thứ mà An-na, con gái của lão Cáp-ta-nốp chủ hiệu buôn trong làng, thường mút khiến bọn trẻ đứa nào cũng phát thèm. An-na, cũng như I-van, mới bốn tuổi, ăn mặc lôi thôi, mũi thò lò suốt ngày. Có lần An-na cho Phê-đô một chiếc kẹo, và cậu nhớ mãi mùi vị của nó. Sau đó, Phê-đô thường cố tình đón gặp An-na, nuốt nước miếng đứng nhìn cô bé mút kẹo, nhưng An-na không chú ý đến những cái nhìn đó nữa.

Mân mê đống tài sản bỗng nhiên được hưởng, đổ kẹo từ tay này sang tay khác, Phê-đô nghĩ đến đứa con gái lão chủ hiệu: «Bây giờ không cần nó cho nữa, mình cũng có cả đống. Hôm nay mình sẽ cho nó một nắm - này, ăn đi, tao không phải là đứa tham ăn như mày đâu...»

Chú Mi-tơ-rô-phan chơi ở Mi-khai-lốp-ca dăm ngày rồi đi, mang theo cậu bé An-tôn mười bốn tuổi, thay vào đó, để lại hai hay ba chiếc ghế đẩu đóng rất khéo. Phê-đô không buồn vì anh cả của cậu bị mang đi. Khi con ngựa màu hung khỏe mạnh kéo chiếc xe ra khỏi làng, An-tôn, vẻ hơi lo lắng sợ sệt, ngồi trên xe nhìn bố, mẹ và nhìn Phê-đô, dường như muốn xin em tha thứ cho những trò đùa nghịch độc ác mà cậu, An-tôn, đã bày ra để trêu chọc em. Phê đô thốt lên, tuy không có vẻ giận dữ:

- Thế mới đáng đời cái đồ quỷ tóc trắng.

- Im đi, đồ chó con! - người cha quát to. Không có mày, tao cũng đã nẫu ruột lắm rồi.

Phê-đô sợ cha. Người cao lớn, những khuỷu tay gầy xương xẩu, bộ râu bạc trắng suốt đời rối bù, cha cậu bao giờ cũng cau có, giận dữ. Ông ít khi ở nhà, hàng tháng trời mất hút ngoài những thửa ruộng của cha cô bé An-na.

Khi chiếc xe đi khuất, cha mẹ đã vào nhà, cậu em út I-van, thọc lút nửa ngón tay vào lỗ mũi, hỏi:

- Anh An-tôn mà là quỷ à, hở anh Phê-đô?

- Thế mày nghĩ sao? Ai đem quần tao ra nhúng nước, rồi buộc thắt ống lại với nhau? Lại còn bao nhiêu trò khác nữa?

- À, à... - Nhưng nghĩ một lát, I-van kết luận: - Không, anh An-tôn là người tốt.

Đến ngày chú Mi-tơ-rô-phan và An-tôn đi, bánh ngọt của Phê-đô đã hết nhẵn, và kẹo cũng chỉ còn hơn chục chiếc. Cậu đếm đi đếm lại, suy nghĩ, rồi quyết định: «Thôi được, sẽ cho An- na ba chiếc, thế nó cũng đủ lắm rồi». Ngày hôm sau: «Ba cái quá nhiều đấy, một cái thôi». Và ngày hôm sau nữa: «Mà cho nó làm gì? Không có, nó cũng đã ăn chán rồi. Trong hiệu nhà nó bao nhiêu là... Bụng thì bao giờ cũng căng phồng lên vì kẹo. Không phải vì kẹo thì làm sao bụng nó lại căng như thế được?». Thế là cậu bỏ nốt chiếc kẹo cuối cùng vào miệng.

An-tôn đi khỏi và biệt tăm luôn, rất lâu, sáu năm trời không có một tin tức nào cả. Trong suốt thời gian đó chỉ có một lần, hình như hai năm sau, Phê-đô nghe nhắc đến tên của anh cả. Sự việc là thế này. Một lần chập tối, mẹ bảo Phê-đô:

- Trời tối rồi mà thằng I-van còn mất mặt đi đâu. Mày chạy đến đằng nhà I-nhi-u-chin xem, có khi nó ở đó. Cha của Ki-ri-an vừa từ ngoài mặt trận về, họ uống rượu say lại trêu chọc thằng bé nữa.

Phê-đô thỉnh thoảng nghe người lớn nói rằng ở đâu đó có cuộc chiến tranh với Nhật Bản, không biết còn hay đã kết thúc. Và cậu cũng biết rằng Đê-mi-an, cha của Ki-ri-an đã bị bắt ra trận. Nhưng việc Đê-mi-an đã trở về thì Phê-đô còn chưa biết, vì suốt ngày cậu mất hút ở ngoài sông Grô-mô-tu-kha. Hôm đó vào đầu mùa xuân năm 1906, suốt ngày gió thổi mạnh, Phê-đô đi câu cá về bị rét cóng, nhưng cậu không nói gì, thất thểu đi về cuối làng, nơi có căn lều của gia đình I-nhi-u-chin với hai cửa sổ tối mờ mờ.

Ở nhà I-nhi-u-chin quả là mọi người đang chè chén. Trong lều chật ních người, khói thuốc lá che kín cả mảng trần nhà thấp tịt. Đê-mi-an, mặt đỏ gay, đầu tóc rối bù, ngồi ở mép bàn, một đôi nạng gỗ dựng sát bên cạnh. Bước vào lều, Phê-đô vừa kinh ngạc, vừa sợ hãi nhìn chằm chằm vào chiếc chân duy nhất của ông ta, - chân thứ hai bị cắt cụt lủn.

- ...chúng tôi đã nện nhau thế đấy! - I-nhi-u-chin đang lè nhè kể về một điều gì đó, hai tay vung loạn xạ. -Thằng Nhật Bản khôn ra phết. Chúng lại có các đạn pháo... Nhưng tất nhiên chúng tôi cũng không phải ngốc, - Ông ta ghé miệng vào tai ông già Xi-lan-chi (đến bây giờ Phê-đô mới nhìn thấy cha), hạ thấp giọng, gần như nói thầm: - Tôi nói riêng, bí mật cho ông nghe, cái tụi xã hội chủ nghĩa rất đông trong bọn lính.

- Bọn xã hội chủ nghĩa? - ông già Xi-lan-chi cũng đã chếnh choáng say, người đẫm mồ hôi, hỏi lại.

- À-ha... chúng tuyên truyền đủ chuyện. Bảo: các anh đừng đánh nhau nữa, cứ để cho Nga hoàng thất bại...

Đê-mi-an ngừng lại nhìn quanh mọi người bằng đôi mắt đờ đẫn.

- Những đứa ngu mới nghe chúng. Còn tôi thì không. Đây, tôi có mề-đay đây! Được thưởng vì lòng dũng cảm! -Và ông ta ưỡn ngực, phô ra một chiếc mề-đay Ghê-oóc-ghi ánh lên màu vàng đùng đục dưới ngọn đèn dầu.

I-van và Ki-ri-an, con trai Đê-mi-an, ngồi trên bậc cửa ra vào, đang chấm bánh mì vào một đĩa mật. Ki-ri-an cùng một tuổi với I-van, đôi má dính đầy mật loáng lên dưới ánh đèn, cặp mắt linh lợi của cậu cũng lấp lánh vui mừng, kiêu hãnh.

- Mề-đay này... bằng vàng thật đấy, - cậu lắp bắp nói và giật giật tay áo Phê-đô: - Cậu muốn ăn mật không? Cầm lấy miếng bánh kia kìa. Bố mang mật về đấy...

Phê-đô liền cầm ngay lấy một mẩu bánh mì khoắng vào đĩa mật.

- Thế họ là ai, Đê-mi-an? Những người xã hội chủ nghĩa này... - Xi-lan-chi hỏi.

- À... đấy, như thằng em của ông, Mi-tơ-rô-phan chẳng hạn.

- Sa-ao?! – Mắt Xi-lan-chi mở tròn xoe.

- Thế ông không biết à? Không biết à?! - Đê-mi-an hét lên bằng một giọng thù địch, tay vung mạnh chạm cả vào nạng của mình. Đôi nạng rơi xuống sàn đầy bùn bị những bước chân giẫm nát. Đê-mi-an đã cúi xuống, định nhặt chúng lên, nhưng rồi lại thôi. Ông ta ưỡn thẳng người, đặt hai tay lên bàn và khóc nấc lên một cách cay đắng, như bị ai làm nhục.

- Anh làm sao thế, Đê-mi-an? Đê-mi-an... - Xi-lan-chi lay ông ta.

- Ông không biết thật à?! - Đê-mi-an lại hét to, ngẩng phắt đầu lên. - Ông không biết gì về em của ông? Về thằng con An-tôn à?

- Không... Chẳng thấy thư từ gì cả.

- Thư à? Tôi sẽ kể cho ông nghe, chẳng cần thư. Tôi phải nằm ở bệnh viện Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ đến một năm, họ cắt mất một chân của tôi, phải điều trị mãi. Mùa thu năm ngoái, bọn xã hội chủ nghĩa này bắt đầu xúi giục dân làm loạn. Mi-tơ-rô-phan, em của ông là một. Rồi con của ông, An-tôn, cùng một bọn.

- An-tôn?! - Xi-lan-chi thốt lên.

- Cái lũ khốn kiếp toàn làm những chuyện tầy trời. Chúng tôi phải lăn dưới mũi tên hòn đạn vì đức vua, vì Nga hoàng, vì nước Nga, không tiếc đời mình! Đấy, một chân của tôi bây giờ đâu rồi? Thiếu một chân thì tôi biết đi đâu?! Thế mà ở đấy chúng làm gì? Chúng xúi dân làm loạn chống chính quyền!..

- Cái gì không biết thì đừng có nói mò! - hương trưởng Pan-crát Na-da-rốp, ngồi cuối bàn đằng kia, lên tiếng. Đó là một nông dân mới chừng trên dưới ba chục tuổi, người cao lớn, ngực nở nang, râu quăn, cổ lực lưỡng cũng đầy những vòng tóc quăn rủ xuống che kín.

- Tôi không biết nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là... Chúng ta không ai biết những người Xã hội chủ nghĩa là ai, họ làm cái gì, - Na-da-rốp nói. - Tôi chỉ biết riêng Mi-tơ-rô-phan là người đứng đắn. Thợ giỏi.

- Đứng đắn à? Thế thì tại sao họ lại phải ngồi tù? - Đê-mi-an say líu lưỡi hét lên, -cả Mi-tơ-rô-phan, cả thằng An-tôn nhà ông, - ông ta hất bộ mặt ướt đẫm về phía Xi-lan-chi.

- Cả thằng An-tôn à? - Xi-lan-chi hỏi, giọng yếu ớt. - Nhưng tội gì, nó tù vì tội gì? Tại sao lại như vậy được?

Xi-lan-chi chợt trông thấy mấy đứa con liền cau mặt lại.

- Chúng mày đến đây làm gì? Đi về nhà ngay!

Về đến nhà, vừa bước vào cửa, Phê-đô đã hấp tấp nói bằng một giọng lắp bắp:

- Mẹ, An-tôn bị... người ta bỏ tù rồi!

Mẹ đang lúi húi với mấy chiếc chảo gang, ngồi phịch ngay xuống cạnh bếp lò.

- Cái gì? Vì sao? Mày nói nhảm cái gì thế, hở thằng vô lại?!

- Con không biết... - Phê-đô bây giờ mới thực sự hoảng sợ, hốt hoảng nói.

...Cha ở nhà I-nhi-u-chin trở về rất khuya, đi lại mãi trong phòng suy nghĩ về một điều gì đó, tay giật giật chòm râu rối.

- Thằng An-tôn làm sao thế hả ông? - mẹ mấy lần gạn hỏi. - Sao ông cứ im lặng như thế? Lạy Chúa...

- Làm sao, làm sao... Làm sao mà tôi biết làm sao! I-nhi-u-chin bảo đang ngồi tù...

Nằm đắp chiếc áo lông rách nát, Phê-đô tưởng tượng nhà tù như căn nhà kho của lão chủ hiệu buôn Cáp-ta-nốp, được xây bằng những khúc gỗ lớn, dày, mốc đen với cánh cửa đầy những khóa sắt. Sự khác nhau chỉ ở chỗ là nhà tù thì nhiều khóa hơn, lại còn một người coi ngục cầm roi đứng canh.

Phê-đô nằm nghe cha mẹ thì thầm một lúc, mặc dù không thể phân biệt được mọi lời. Thỉnh thoảng mẹ lại sụt sịt, nấc lên.

- Thôi, đủ rồi! - cha nói to nhưng không có ý giận dữ, thở dài trở mình, chiếc giường gỗ kêu cót két, não nuột.

Rồi Phê-đô ngủ thiếp đi. Đêm hôm đó, cũng như mọi đêm khác, cậu ngủ say và không có chiêm bao gì cả...

* * *

«Đối với bọn họ, mình là một kẻ xa lạ. Hoàn toàn xa lạ... - Có lẽ là lần thứ mười, Phê-đô nhìn lên những khung cửa sổ tối đen của nhà I-nhi-u-chin, nghĩ thầm. - Chỉ có đối với An-phi-xa mình mới không xa lạ...»

Phê-đô lại nghĩ rằng, đấy, An na đã già đi nhiều, còn An-phi-xa thì dường như thời gian không động đến. Mười năm, thậm chí hai mươi năm về trước, cô ta vẫn trẻ trung, tươi mát như bây giờ. Đối với Phê-đô, An-phi-xa bao giờ cũng rất tiện lợi sẵn sàng. Và bây giờ, nếu ông gõ nhẹ vào cửa sổ, An-phi-xa vốn rất tinh, lập tức tỉnh dậy và ngoan ngoãn đi theo ông đến bất cứ nơi nào, và sau đó úp khuôn mặt nóng bừng vào bộ ngực đầy lông của ông mà ngủ một cách bình yên, ngon lành, chép chép đôi môi mọng ướt trong chiêm bao ngọt ngào. Chỉ có đôi lúc thật lạ lùng khó hiểu: cô ta là vợ của ai, của Phê-đô hay Ki-ri-an? Và một điều khó hiểu nữa: làm sao An-phi-xa có thể khéo léo sinh được hai đứa con với Ki-ri-an?

- Có thể, đây là con của anh? - đã hai lần Phê-đô hỏi, khi An-phi-xa sinh Vê-ra, và sau đó, Nhi-cô-lai.

- Khô-ông, không đâu, Ki-ri-an là chồng của em, và em cần phải sinh con với anh ấy, - hai lần An-phi-xa trả lời như vậy.

Và quả nhiên, hai đứa trẻ càng lớn bao nhiêu, chúng càng có nhiều nét giống Ki-ri-an bấy nhiêu.

Trời sáng dần, những mái nhà bắt đầu hiện ra trong ánh bình mình. Phê-đô vẫn ngồi bên tường ngôi nhà của mình, và chính ông cũng không biết, không hiểu tại sao ông lại ngồi ở đây suốt cả đêm, để làm gì.

«An-na bây giờ sẽ dậy, cần phải vắt sữa cho bò», - Phê-đô hờ hững nghĩ, lắng nghe xem có tiếng động nào từ trong nhà vọng ra không. Quả nhiên, ông nghe có tiếng then cửa lách cách.

Chừng hai phút sau, An-na bước ra sân, tay xách xô đi qua vườn đến bờ sông Grô-mô-tu-sca. Vừa ra khỏi cửa, bà đã thấy ngay Phê-đô ngồi trên ghế cạnh tường, nhưng bà không nói gì, chỉ nhìn lướt qua và đi xuống sông. Phê-đô đoán ra nhiều hơn là nhìn thấy rằng mặt An-na sưng mọng lên vì khóc.

Khi An-na từ sông trở về, Phê-đô gọi:

- Đi đến đây bảo.

An na đặt xô xuống đất định bước đến bên ghế, nhưng dừng lại cách Phê-đô chừng năm bước.

- Cô ngồi xuống đây.

An-na lưỡng lự một chút, rồi ngồi xuống, đôi mắt không chớp nhìn lên ô cửa sổ tối của nhà I-nhi-u-chin.

- Chắc cô nghĩ rằng tối qua tôi đi với An-phi-xa chứ gì?

An-na không trả lời.

- Không đâu. Suốt đêm qua tôi ngồi ở đây này. Còn bây giờ, hoặc là không bao giờ tôi còn đến với An-phi-xa nữa, hoặc là tôi sẽ đến với cô ta, vĩnh viễn đi khỏi đây. Chỉ có thế thôi. Tôi quyết định thế nào thì sẽ như thế ấy.

- Thế anh quyết định thế nào rồi?

Trong giọng nói khe khẽ của An-na, Phê-đô nghe như có sự giễu cợt.

- Tôi chưa biết, - Phê-đô cau có nói.

Trời mùa thu sáng chậm, vất vả. Mặt trời còn ở một nơi nào xa lắm, tít tận cùng trái đất, những tia nắng của nó chưa chạm đến mặt đất, và có lẽ trong ngày hôm nay sẽ không chạm tới được vì một lớp mây xám xịt dày đặc bao phủ khắp bầu trời.

- Thế đấy, An-na ạ, - Phê-đô nói và đứng dậy. - Còn bây giờ tôi ra đồng đây.

Không nói thêm một lời nào, ông bước ra đường. Tiếng cổng vườn rít lên như rên rỉ, như cứa vào tim An-na. Đôi môi run lên, bà cảm thấy những giọt nước mắt to nặng chảy nóng bỏng dọc theo hai bên má.

- Ôi, phận đàn bà cay đắng!.. - An-na nghe giọng của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, người đàn bà tản cư trọ nhờ nhà bà, nói.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đi đến ngồi xuống chiếc ghế dài; An-na không đủ sức để kìm mình lại, òa lên khóc nức nở, gục đầu lên vai thím. Chiếc khăn trùm tuột khỏi đầu.

- Thôi đi, thôi đi nào, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na vuốt lên mái tóc ẩm của An-na. - Tôi trông chị kiệt sức mất thôi. Tôi nghe chị cứ khóc suốt đêm. Khổ lắm à?..

- Khổ, khổ lắm, giá có ai biết được cho! - An-na đáp qua nước mắt. - Không hiểu con người sinh ra để làm gì? Để chịu đau khổ à?

- Nhưng sự việc là thế này, An-na ạ, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na trầm ngâm nói. - Nếu chẳng có đau khổ thì cũng không có hạnh phúc. Khi đó chắc con người chẳng hỉểu được nó đâu...

- Nhưng nó, hạnh phúc ấy, ở đâu! Ở đâu? Dù chỉ là một niềm vui bình thường, đơn giản? Cái mùi vị của nó ra sao?

- Điều này thì chị lại nói dối rồi, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nghiêm giọng nói. - Trong cuộc đời, chị đã có lần có hạnh phúc. Con người ai cũng phải có. Không thể không có, dù là rất nhỏ.

An-na đứng dậy, sửa lại khăn, thở dài.

- Tôi cũng không biết nữa. Có thể là như vậy. Nhưng nó quá bé nhỏ. Và đã quá lâu rồi. Quá nhỏ và quá lâu đến nỗi dường như không có. Tất cả đã quên hết rồi.

- Quên thế nào được khi chính chị đang đau khổ về nó? Chưa quên đâu.

Đêm đã qua - một đêm yên tĩnh, hoang vắng. Vài giờ trước đây, người ta có cảm tưởng rằng đêm sẽ không bao giờ kết thúc, rằng bóng tối sẽ nằm vĩnh viễn trên trái đất, làm tắt mọi màu sắc âm thanh, làm tắt cả cuộc sống. Nhưng kìa, bình minh đã dậy, tuy đang còn nhợt nhạt, buồn tẻ - và cửa sổ các nhà đã bật sáng, các ống khói bắt đầu nhả khói.

Cửa sổ nhà I-nhi-u-chin cũng lóe lên, rồi hắt ánh sáng ra ngoài. Và, cũng như mấy giờ trước đây, một bóng người- trông rõ là phụ nữ - thấp thoáng sau lần cửa kính.

- Thế anh Phê-đô nhà chị đi lại với tình nhân à? - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na hỏi thẳng, giọng chân tình. An-na rùng mình. - Tôi thấy hết mà. Đâu còn trẻ con nữa.

- Kia kìa. Nó bám lấy anh ấy suốt đời, - An-na hất đầu chỉ về phía bóng người trong cửa sổ.

- Thế... cô ta hơn chị à?

- Tôi không biết. Chị làm gì mà tra khảo tôi vậy, - An-na thốt lên giận dữ.

- Không biết là thế nào! Nhất định chị đã nghĩ nhiều về điều này, - dường như không nghe thấy giọng của An-na, không hiểu tâm trạng của bà, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nói tiếp. - Bởi vì tất cả chúng ta đều nghĩ về điều này. Tôi đến bây giờ vẫn còn nhớ hồi trẻ yêu một người... Tôi khờ dại, yêu đến nỗi không biết gì nữa. Và cũng không còn biết hắn đã biến tôi thành đàn bà từ lúc nào và như thế nào. Rồi hắn bỏ tôi, chạy theo tán tỉnh đứa khác. Trời ơi, không biết bao nhiêu nước mắt tôi đã khóc! Hàng giờ liền cứ đứng trần truồng trước gương, so sánh mình với con bé ấy. Tôi rình xem khi con bé tắm và sau dó đem so sánh nó với mình. Không, tôi nghĩ, người mình, chân mình cân đối hơn, ngực vú nở hơn, mặt cũng xinh hơn... Và tôi lại nằm khóc, cảm thấy mình bị nhục. Thế đấy...

Và thật kỳ lạ, Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na càng nói, An-na càng thêm nguôi lòng lại. Có thể là do sự thẳng thắn đến tột cùng của người đàn bà này chăng?

- Tôi không biết, chị Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ạ! - An-na thở dài. - Trước đây thì quả là tôi hơn An-phi-xa. Đẹp hơn thì chắc chắn rồi. Và khỏe hơn. Nhưng tất nhiên... Tôi héo hon đi rồi. Phê-đô hành hạ, làm cho tôi đến kiệt sức mất rồi.

- Thế nghĩa là anh ta là người chẳng ra gì cả, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na trầm ngâm nói.

- Làm sao mà chị biết ra gì hay không ra gì? - An-na bỗng cảm thấy mếch lòng thay cho Phê-đô, nói.

- Tôi biết là chẳng ra gì cả, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nhắc lại một cách tự tin. Im lặng một lát, thím nói tiếp. - Con người ta đủ loại khác nhau. Sau việc ấy tôi đi lấy chồng. Không yêu mà chỉ để che bớt sự nhục nhã. Làm lễ cưới xong, đi nằm. Tôi nghĩ: anh ta chỉ cần nói tôi một câu là tôi sẽ nhảy qua cửa sổ, dù trên người chỉ mặc độc áo lót. Còn nếu đuổi theo, tôi sẽ dùng răng mà cắn xé. Tôi biết anh ấy sẽ đuổi theo vì rất yêu tôi, nhưng chị biết không, anh ấy cứ nằm và nhìn lên trần nhà. Cứ nằm và nhìn như vậy. Còn tôi thì cũng cứ nằm chết lặng. Tôi đã chờ đợi mọi chuyện có thể xảy ra, nhưng trừ có chuyện này là không nghĩ đến. Rồi anh ấy thở dài, nói: «Tất nhiên là tôi đau buồn lắm, Ma-ri-a ạ. Nhưng tất cả những gì trước đây, tôi không phải là người xét xử. Còn nếu sau này có gì xảy ra - tự tôi sẽ xét xử». Chỉ thế thôi. Cho đến tận bây giờ không nhắc lại một lời nào nữa. Chúng tôi sống với nhau đã hai chục năm nay nhưng không một lời.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na im lặng.

- Thế còn chị thì sao? - An-na thận trọng hỏi.

- Tôi thì sao? Tôi rất hạnh phúc. Tôi không bao giờ, dù là trong ý nghĩ, phản bội lại Ghê-ra-xim của tôi. Và giờ dù có cắt cổ tôi đi, tôi cũng không bao giờ làm điều đó. Tại sao? Tại vì rằng đến giờ tôi vẫn còn nhớ cái thở dài của anh ấy à? Tất nhiên là tôi còn nhớ! Nhưng cái chính là ở chỗ khác. Anh ấy là người tốt. Và khi đó thì tôi thà đâm dao vào tim, còn hơn là nhìn vào mắt anh ấy.

- Nghĩa là chị yêu anh ấy? - An-na lại thận trọng hỏi.

- Vâng, tôi yêu. Nhưng không yêu ngay lúc ấy. Anh ấy không phải là người có gì nổi bật, thấp lùn. Nhưng bây giờ tôi yêu thật lòng.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na sửa lại váy, thở dài.

- Không biết Ghê-ra-xim của tôi bây giờ đang ở đâu? Anh ấy đi đánh nhau ngay từ ngày đầu tiên. Đúng là chỉ nửa ngày sau khi chiến tranh bắt đầu, anh ấy bị gọi đi. Còn chúng tôi thì phải sơ tán đến đây, và anh ấy cũng không biết giờ vợ con ở đâu. Chỉ cần sống sót là chúng tôi sẽ lại tìm được nhau. Nhưng nếu anh ấy nằm lại ở một nơi nào đấy, không biết tôi rồi sẽ ra sao... Tôi sẽ không chịu nổi, sẽ chết mất thôi.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na nói khe khẽ, giọng run run. Trong giọng nói này bao nhiêu là đau khổ, là chân thành, và An-na tin rằng - nếu như Ghê-ra-xim không trở về, thì người đàn bà này quả là sẽ chết mất.

- Chắc chị phải là người tốt lắm, Ma-ri-a ạ.

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na chăm chú nhìn vào mắt An-na. Và An-na, không hiểu sao, bây giờ mới nhận thấy lần đầu rằng đôi mắt của thím rất hiền, ấm áp, trong đáy sâu có một ngọn lửa huyền bí như đang vẫy gọi đến một nơi nào đó. An-na chợt hiểu vì sao mà Ghê-ra-xim «không có gì nổi bật» đã yêu và đến giờ vẫn yêu người đàn bà này.

- Chị nói thế, tôi thì tốt gì mà tốt, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na bối rối. -Tôi chỉ đơn giản là một người đàn bà thôi. Ghê-ra-xim của tôi mới là người tốt, tôi nói thật đấy. Còn người đầu tiên ấy thì tôi đã quên từ lâu rồi.

Trời đã sáng rõ, mọi người đi ngoài đường ngạc nhiên nhìn hai người đàn bà không còn trẻ nữa đang ngồi sau bờ giậu trên chiếc ghế đặt cạnh tường. An-na dáng nghĩ ngợi, mắt nhìn vào một điểm nào đó xa xôi.

- Chị Ma-ri-a ạ, chị có một điều thật là may mắn: cái con người đầu tiên của chị hiện ngay nguyên hình là một kẻ không ra gì. Chị lúc đó còn trẻ, chưa có con. Còn tôi bây giờ ra sao? Nhưng nói chung... Chị kể tất cả những chuyện này để làm gì? Để giày vò tôi thêm à?

Những lời cuối cùng An-na gần như thét lên một cách thù địch, mặt bà méo xệch dữ tợn, trông xấu xí hẳn đi.

- Nào, nào - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na dịu dàng vỗ về. - Đừng thế. Được ích gì? Tôi nói vậy, chị bỏ quá cho. Tự tôi cũng không biết để làm gì nữa... Nhưng chị sống như vậy chịu sao nổi? Đấy, lại khóc rồi. Sao mà đàn bà chúng mình nhiều nước mắt đến thế! Nào, lau đi.

An-na ngoan ngoãn lấy ngón tay lau khô nước mắt trên má.

- Nhưng thực ra, chẳng lẽ tôi phải xin li dị à?

- Ai dám khuyên chị trong những việc như thế này? Tự chị suy nghĩ lấy, An-na ạ, xem như thế nào tốt hơn. Hôm qua tôi nghe Xê-mi-ôn suốt đêm trằn trọc không ngủ. Cậu ta thấy chị bỏ dở chuyến đi thăm ông anh chồng chạy về như thế, nên không ngủ. Mấy đứa nhỏ, An-đrây và Đi-ma, thì còn chưa biết gì, nhưng anh chàng này thì thấy hết. Cũng cần phải nghĩ: bọn trẻ sẽ ra sao, sẽ lớn lên như thế nào khi hàng ngày nhìn thấy cuộc sống như vậy của cha mẹ. Và nếu như li dị thì chúng sẽ ra sao? Ở đây cần phải nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ trước lúc quyết định, làm sao cho các con được lợi hơn cả. Là người mẹ thì phải nghĩ đến con trước hết.

- Vâng, riêng tôi thì bây giờ cũng chẳng thiết gì nữa.

- Hoàn toàn không thiết thì cũng không nên. Chị chưa phải là bà già, hạnh phúc vẫn còn có thể tìm thấy được. Còn có thể sinh nở được.

An-na từ từ ngước mắt lên nhìn rất lâu, chăm chú, vào mặt Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na, định hỏi: «Tôi không hiểu chị, Ma-ri-a ạ. Rốt cuộc chị khuyên tôi ra sao?». Nhưng An-na lại hỏi về chuyện khác.

- Chẳng lẽ vẫn còn có thể tìm thấy được ư?

- Cuộc sống đôi lúc thật bất ngờ.

- Không, không tìm thấy được đâu...

- Nhưng nói như vậy để làm gì? Trên đời này cũng có hiếm gì những người tốt...

- Khô-ông, - An-na lắc đầu. - có thể không hiếm, nhưng họ sẽ không tìm đến tôi... Và... tôi, có lẽ, không có cái quyền như vậy.

- Tại sao?

- Cuộc đời của tôi rối bòng bong lên rồi. Tan nát cả rồi. Tôi là con một cu-lắc... Còn thằng em ruột của tôi là kẻ trộm, một tên phỉ thật sự, suốt đời ngồi trong tù. Nó vừa mới về đây ít lâu... Chắc chị cũng có nghe mọi người nói về chuyện Ma-ca Cáp-ta-nốp vừa bị công an bắt?

Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na ngẩng đầu lên. Ngọn lửa huyền bí trong đôi mắt nằm giữa những đường nhăn mờ khẽ vụt lóe lên, lung linh, rồi lại cháy đều như cũ.

- Họ tôi lúc con gái là Cáp-ta-nô-va. Nhưng tôi đi du kích, cùng Phê-đô trong thời kỳ nội chiến... Rồi sau đó... sau đó...

Những giọt nước mắt lại trào lên trong đôi mắt sưng mọng của An-na. Bà tựa vào vai của Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na; và cảm thấy biết ơn thím vì mình không bị đẩy ra. Bà vừa nức nở vừa nói ngắt quãng.

- Giá chị biết được lòng tôi như thế nào khi nghe câu chuyện của chị về Ghê-ra-xim! Tôi có lẽ cũng đã gặp một người như thế, như Ghê-ra-xim của chị... Đã gặp, nhưng anh ấy lại đi ngang qua... Vì tự tôi đã đẩy anh ấy đi. Anh ấy cũng tha thứ cho tôi việc tôi bị người ta biến thành đàn bà trước lúc... Không phải Phê-đô đâu, người khác... Điều này tôi không thể nói cho ai nghe được. Không một ai. Trời ơi, tại sao lúc đó tôi lại không chết đi?! Để bây giờ khỏi phải chịu một đau khổ nào nữa.

- Nín đi, bình tĩnh lại, An-na... Chị sao lại thế, trông kìa, mọi người đang nhìn, thôi, ta vào nhà đi, - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na đứng dậy, nói. - Không thể thì đừng kể. Ở người ta cũng thường có những chuyện cần phải giữ kín cho đến lúc xuống mồ... Thôi, đứng dậy đi.

An-na nặng nề đứng dậy, lấy một góc khăn choàng đầu lau mắt và môi.

- Bỏ quá cho tôi nhé, Ma-ri-a, tôi đã để mình quá yếu đuối, - An-na nói bằng một giọng đột nhiên trở nên bình tĩnh, khô khan. - Tôi sống đau khổ không phải chỉ vì Phê-đô. Mà vì tất cả. Vì tôi là con gái cu-lắc, và em ruột tôi là kẻ trộm... - Bà xách lấy xô nước, rồi bước đi, nhưng đến cửa dừng lại, nói. - Còn người đã tha thứ cho tôi tất cả, người giống Ghê-ra-xim của chị, tôi có thể nói cho chị biết. Đó là I-van, em ruột của Phê-đô.

- I-van à?! Người mới ở tù ra ấy à?! - Ma-ri-a Phi-rơ-xốp-na kinh ngạc kêu lên.

- Anh ấy, -An-na chùi những giọt nước mắt cuối cùng trên má, nói, - Nhưng chị đừng nghĩ rằng anh ấy cũng giống như thằng em Ma-ca của tôi. Anh ấy giống Ghê-ra-xim của chị. Chỉ có điều tôi hiểu ra điều này quá muộn. Cũng có lẽ vì vậy mà đời anh ấy đắng cay đến thế.

* * *

Đến gần mười hai giờ Phê-đô mới đến được trại tạm trú của đội gặt, vì ở kho thóc thị trấn mãi không có ô-tô đi cùng đường. Đói, mệt, và có lẽ vì thế mà ông càng thêm cáu kỉnh. Ông đứng nhìn cỗ máy gặt đập liên hợp nằm bất động đằng xa, giữa cánh đồng vắng, bên cạnh nó là chiếc máy kéo màu đen thẫm của I-nhi-u-chin, rồi co chân đá mạnh mở cánh cửa của toa xe lưu động.

- Ngủ đấy à?! - Ông bước vào quát ầm lên, giận dữ hất tung một chiếc xô đựng gì đó nằm vướng dưới chân. - Nào, dậy ngay! Ki-ri-an đâu rồi? Có gì ăn được không? Nhanh lên!

Đến lúc đó ông mới nhận thấy những tấm phản, nơi Ki-ri-an và mấy người giúp việc vẫn nằm ngủ thường ngày, trống không.

- Lại còn tiết mục gì thế này nữa? Này, có ai ở đây không đấy?

Từ phía sau tấm màn che, chị cấp dưỡng Tô-nhi-a bước ra. Đó là một phụ nữ đẫy đà, người sệ ra trước tuổi, được mọi người đặt cho tên «Tô-nhi-a - đừng mò vào» vì chị ta luôn luôn dửng dưng trước những lời nói đùa tục tĩu của bọn đàn ông, không thèm để ý đến những lời bóng gió trắng trợn của họ, dùng trục lăn đưa tiễn tất cả những ai dù đùa hay dù với một hy vọng nào đó tìm cách mò vào sau tấm màn che của chị.

- Gì mà anh làm ầm lên thế? - chị hỏi. - Có bánh mì và sữa đấy. Lấy thêm miếng mỡ kia kìa. Thức ăn nóng không còn gì đâu. Không có ai cả, tôi không nấu.

- Sao lại không có ai? Ki-ri-an đâu? Ở ngoài máy kéo à?

- Về San-ta-ra rồi. Chắc là về nhà. Ngay từ tối hôm qua, liền khi anh vừa đi. - Tô-nhi-a uể oải nói.

- Sao lại về San-ta-ra? Sao lại về nhà?

- Thế đấy. Anh ta nhổ một bãi nước bọt và bỏ về.

- Thế là thế nào? - Phê-đô không kìm được mình nữa, hét lên hỏi.

- Thế nào, thế nào... «Tôi không muốn làm việc với Phê-đô một phút nào nữa!» Anh ta văng tục, rồi bỏ đi. Sao mà những người chửi tục không đứt cuống họng hết đi...

Rồi chị ta ngáp một cái, bỏ vào sau tấm màn che. Vừa leo lên chiếc phản kêu cót két, chị ta vừa tiếp tục nói:

Ki-ri-an còn nói: cứ để cho Phê-đô xin ở trạm máy kéo một thợ máy khác. Cả những người giúp việc cũng đi, họ nói đi tắm ở trong làng. Tôi còn lại một mình với chó sói. Hình như lũ khốn kiếp đó cũng đánh hơi thấy tôi còn lại một mình không có đàn ông, nên mò đến tận toa. Anh đến gặp Na-da-rốp, bảo ông ta nếu đến tối mà không có ai ra, tôi cũng về làng. Ở một mình sợ lắm.

Không nghe hết lời chị cấp dưỡng, quên cả đói, Phê-đô nhảy xuống toa xe và rảo bước về phía làng Mi-khai-lốp-ca.

Gặp chủ tịch nông trang cạnh kho thóc, Phê-đô hét ầm lên.

- Cái trò gì thế này hả?! Ông chủ tịch, mắt ông để đâu? Ki-ri-an làm bậy cho tôi cái gì thế này?

- Làm sao mà tôi biết được Ki-ri-an làm bậy cho anh cái gì? - Na-da-rốp khẽ nói, làm dịu bớt cơn bực tức của Phê-đô. - Gì mà anh làm ầm lên với tôi thế? Anh và Ki-ri-an không dưới quyền tôi, mà thuộc quyền của trạm máy kéo.

Đến giờ Phê-đô mới chợt nhớ ra rằng Na-da-rốp quả là không có quan hệ gì trong việc này, và hơi dịu đi.

Một đám dăm người đàn ông và phụ nữ đứng cạnh kho, tay cầm liềm và cào. Một chiếc xe ngựa đi đến; ông già coi kho mang ra nửa bao bột mì, hai chiếc bánh nướng to tướng vừa lấy từ trong lò ra, xếp tất cả vào xe.

- Thôi đi đi, - Na-da-rốp nói. - Qua ruộng khoai tây, các anh cần bao nhiêu cứ lấy cho đủ, nhưng gốc nhớ lấp lại như cũ. Thịt thì hôm nay còn có một ít ở chỗ Tô-nhi-a, ngày mai tôi sẽ cho mang đến thêm...

- Thế các anh định đi gặt đám lúa ấy à? - Cuối cùng, Phê-đô cũng đã đoán ra.

- Thế anh ra lệnh phải chờ đến khi các anh cùng với Ki-ri-an thôi làm xiếc chắc?! Để lúa lấp dưới tuyết à?

- Nhưng tôi đi là đã được sự đồng ý của anh kia mà. Mà cũng chỉ có một đêm. Còn Ki-ri-an thì không cần tôi đồng ý. Lại cả ngày, còn trời, anh xem đấy, đã nặng trĩu xuống rồi.

Phê-đô nhổ một bãi nước miếng và chạy đến văn phòng. Ở đó, vừa thở hổn hển, ông vừa quay số điện thoại như điên.

- A-lô, tổng đài đâu? Cho tôi trạm máy kéo! Cho tôi giám đốc, nhanh lên...

Như trêu ngươi, cả giám đốc, cả kỹ sư trưởng đều không có mặt ở trạm. Những nhân viên khác thì không thể nói được một điều gì rõ ràng về chuyện I-nhi-u-chin. Họ chỉ cho biết rằng chưa thấy I-nhi-u-chin về trạm máy kéo.

Chạy vụt ra khỏi văn phòng như một viên đạn, Phê-đô trong cơn cáu giận bất lực đứng giậm chân cạnh thềm nhà. Giá như I-nhi-u-chin, nhờ có phép lạ, lúc ấy có mặt ở đó, hẳn sau đấy anh ta phải rịt thuốc rất lâu vào nhiều chỗ trên người mình.

Chửi rủa một lúc, Phê-đô chạy ra phía sau làng, đến sân đập lúa gần nhất. Ở đó người ta nói với ông rằng mấy chiếc xe chở lúa vừa mới về kho thị trấn một giờ trước đấy, họ khuyên ông nên thử ghé đến kho đội hai xem - ở đó người ta cũng đang chở thóc về San-ta-ra. Nhưng chạy đến đội hai cũng chỉ tổ mất công thêm. Rít lên qua kẽ răng, Phê-đô bước vội ra con đường lớn. Gần một tiếng đồng hồ, ông đi bộ trên con đường vắng vẻ về thị trấn. Chỉ khi đến gần dãy Dve-nhi-gô-ra, mới có một chiếc xe ngựa đuổi kịp ông.

Phê-đô đến San-ta-ra lúc mặt trời suốt ngày bị mây che bỗng bất ngờ hiện ra và đang khuất dần xuống núi. Đến đây Phê-đô lại không gặp may: ông già đánh xe cho ngựa rẽ đến ngôi nhà đầu làng và gò dây cương đứng lại, còn trụ sở của trạm máy kéo lại ở cuối làng.

Mặt trời đã lặn, đường phố chìm dần vào bóng tối màu xanh tím.

«Đi đâu bây giờ, đến trạm máy kéo, đến huyện ủy hay đến ủy ban huyện? - Phê-đô rảo bước trên con đường nhỏ, sốt ruột nghĩ. - Chắc có lẽ hết giờ, mọi người về cả rồi. Mà họ sẽ giải quyết được gì? Không, đầu tiên phải đến gặp Ki-ri-an, hỏi tại sao hắn, cái thằng lười chảy thây này, lại bày trò ra như vậy... Không hiểu sao mấy tuần nay mặt hắn cứ quàu quạu như con gà tây, ra vẻ nghĩ ngợi một điều gì... Đấy, nghĩ ra trò như vậy đấy...»

Khi Phê-đô đi ngang qua nhà mình xộc vào vườn nhà I-nhi-u-chin, đây đó những ngọn lửa vàng vọt đã hắt hiu thấp thoáng. Ông nhảy lên thềm, nặng nề đi qua gian nhà ngoài tối và đẩy cửa vào phòng ăn.

Ki-ri-an I-nhi-u-chin đang ngồi sau chiếc bàn không, mặc áo lót, quần dài giặt sạch, nhưng chân đi đất. Tay anh cầm chiếc thìa gỗ vạch lên mặt bàn bằng gỗ sơn. An-phi-xa đứng cạnh lò sưởi, hai tay khoanh trước ngực. Cặp mắt đen xinh đẹp nhìn đăm chiêu, trên khuôn mặt nhợt nhạt in vết một sự nghiêm nghị mà trước đây chưa từng thấy ở chị, thậm chí cả một sự lo lắng, sợ hãi. Hình như họ đang nói về một điều gì rất quan trọng đối với cả hai người, họ nói đã lâu và chắc sẽ còn nói rất lâu nữa, nếu như không bị Phê-đô cắt ngang.

Tất cả những điều này Phê-đô thấy bằng mắt và hiểu bằng óc chỉ trong một giây và cũng trong giây đó ông còn nhận thấy rằng sự xuất hiện của ông làm cho An-phi-xa sợ hãi: chị hơi lùi lại phía tường, liếc nhìn nhanh qua phải, rồi qua trái, như đang tìm đường để chạy trốn, biến mất. Nhưng không thể biến đi đâu được; đôi lông mày của An-phi-xa gãy khúc lại, má trở nên tái nhợt. Còn Ki-ri-an chỉ ngừng tay vạch thìa gỗ lên bàn.

- Thế-ế... đâ-ấy... - Phê-đô thốt lên, đứng ở cửa, nặng nề thở ra.

I-nhi-u-chin vứt thìa xuống bàn.

- Anh đến hơi sớm đấy, Phê-đô ạ. Tôi hãy còn chưa đi nằm.

- Ki-ri-an?! - An-phi-xa khẩn khoản thốt lên và gập gối quỳ xuống trước mặt chồng, ôm lấy chân anh... Không nghe thấy tiếng, nhưng chắc An-phi-xa đang khóc vì rằng lưng và vai chị run lên từng đợt. Mái tóc dài xổ xuống che kín cả đôi chân trần của Ki-ri-an. I-nhi-u-chin đặt tay lên vai vợ, khẽ xoa nhẹ.

- Đủ rồi. Đứng dậy. Đừng thế.

Tất cả những điều này - cả hành động của An-phi-xa, cả cử chỉ của Ki-ri-an, cả lời nói và sự dịu dàng trong giọng nói của anh - đối với Phê-đô đều lạ lùng, thậm chí làm cho ông sửng sốt, lo ngại.

An-phi-xa đứng dậy, vén lại tóc, mặt hơi ngoảnh đi tránh nhìn cả Phê-đô lẫn chồng.

- Cậu làm cái trò gì thế, hả? - Phê-đô hỏi, giọng khàn khàn. - Tại sao cậu... bỏ máy kéo lại mà về?! Tuyết xuống thì sao? Cậu không hiểu bây giờ đang chiến tranh à? Nói nghe xem nào!

- Nói cho anh nghe thì dài lắm, - Ki-ri-an không vội vã lên tiếng. - Mà tôi cũng không nói được. Không tìm ra từ. Còn bây giờ anh đi khỏi đây đi.

- Không muốn làm việc với tôi thì thôi - không cần. Cứ đi mà tìm người khác, biết đâu kiếm được lắm tiền hơn. Nhưng có thể đợi thêm vài ba ngày chứ? Năm sau thì cứ việc tìm người khác. Còn tự động bỏ việc thì phải hỏi tội.

- Hỏi tội à? Thế lỡ anh không hỏi được thì sao?

- Khoan đã, khoan đã... - Phê-đô ngọ nguậy bộ ria trong không khí. - Đáng ra tớ phải đoán ngay là cậu lại mò đến phòng quân vụ... Thế nào, được rồi chứ? Ghi tên tình nguyện à?

- Cũng muốn vậy, nhưng không có giấy. Bảo phải chờ.

Phê-đô bĩu môi khinh bỉ.

- Tình nguyện... chỉ là trò cười... Thế khi đang chờ tìm giấy, hãy đi mà gặt cho xong mảnh ruộng còn lại. Sớm mai tớ sẽ gõ cửa sổ, phải sẵn sàng đấy. Trời sáng là có mặt ở đấy rồi. Còn bây giờ tớ đi nằm một tí, từ chiều qua đến giờ chưa ngủ.

- Từ giờ đến sáng thì ai biết còn chuyện gì sẽ xảy ra, - Ki-ri-an trả lời một cách khó hiểu, mập mờ. Và anh cười khảy, tiếp: - Nếu anh muốn thì gõ. Bây giờ, tôi bảo, anh đến hơi sớm, nhưng sáng mai sẽ vừa. An-phi-xa sẽ mở cửa...

Và thấy An-phi-xa vội vã quay người lại muốn nói một điều gì đó, Ki-ri-an liền vỗ tay xuống bàn.

- Nào!

Phê-đô cố gắng đoán xem Ki-ri-an nói gì, nhưng không đoán nổi.

Vê-ra chạy xô vào phòng, lấy vai ẩy Phê-đô sang một bên.

- Ở nhà ga cũng không thấy đâu cả, tìm hết mọi ngóc ngách rồi. Có lẽ nó đã kịp đi theo một đoàn tàu nào đó, - cô nói nhanh, tay gỡ khăn choàng trên đầu xuống. Rồi cô áp tay lên đôi má ửng hồng vì lạnh và im lặng.

- Cái gì mà cuống lên thế? - Phê-đô, tay đã cầm lấy then cửa, tò mò hỏi. - Ai đi đâu?

- Thế bác không biết à? - Vê-ra vung hai tay lên. - Thằng An-đrây nhà bác trốn ra mặt trận rồi!

- Ai? - Phê-đô bước một bước đến bên Vê-ra. - Cô nói gì thế? Trốn là thế nào?

Và không đợi được trả lời, ông lao ra cửa.

* * *

Trong nhà I-nhi-u-chin, mọi người im lặng một lúc lâu. Rồi An-phi-xa lấy tấm chắn cửa lò xuống, bắt đầu dọn bữa tối ra bàn.

Họ im lặng ngồi ăn.

- Nhi-cô-lai đâu rồi? - I-nhi-u-chin hỏi Vê-ra.

- Còn ở ngoài ga. Đang tìm. cả Đi-ma, cả Xê-mi-ôn nữa. Mọi người bảo có thể nó còn trốn đâu đó. Ở ngoài đấy hàng nhà máy chất đống như núi.

Một lúc sau Ki-ri-an lại hỏi con gái:

- Thế nào, mày quyết định dứt khoát là lấy cái lão A-lây-nhi-cốp này đấy à?

Thìa xúp trong tay Vê-ra đổ ra cả bàn, nhưng cô không để lộ thêm tâm trạng của mình.

- Để rồi còn xem đã, - cô nhìn vào đĩa, đáp.

An-phi-xa nhìn con gái, nhưng không nói gì.

- Thế còn Xê-mi-ôn Xa-vê-li-ép? Đá sang bên à?

- Bố lạ nhỉ... Con đã bảo là để xem đã mà.

- Thế nghĩa là mày với lão I-a-cốp còn chưa đi đến đâu cả à?

- Còn đi đến đâu được? Ông ta đến huyện ủy chỉ im lặng đứng nhìn con...

- Mày nói láo. Mẹ mày bảo ông ta thường xuyên tiễn mày về sau giờ làm.

- Đâu mà thường xuyên? Hình như chỉ hai lần tất cả. Dọc đường đi - im lặng. Đưa đến cổng - im lặng. Chia tay nói được một tiếng: «Chào cô!» - rồi đi thẳng.

- Thế Xê-mi-ôn có biết không?

- Thằng Nhi-cô-lai đã kể hết với anh ấy rồi.

- Thế hắn bảo sao?

- Chẳng nói gì cả. Im lặng. Con cũng đã lâu không gặp anh ấy. Từ sáng đến tối, anh ấy chở hàng từ ga về nhà máy...

- Thế đấy... - Ki-ri-an đặt thìa xuống, gạt chiếc dĩa sang một bên. - Tao cũng không biết là mày ra sao nữa, Vê-ra ạ. Hoặc là một đồ vô lại hạng nhất, hoặc là một thứ gì đó còn xấu xa hơn.

- Đã bao nhiêu lần con nghe bố nói về điều này rồi, - Vê- ra cười nhạt. - Chán ngấy lên rồi. Con chưa phải là đồ gì cả.

Và cô đứng dậy khỏi bàn, lấy áo bành-tô khoác lên vai, bỏ đi.

Xong bữa ăn, An-phi-xa im lặng thu dọn bàn. Ki-ri-an ngồi hút thuốc trên chiếc ghế con đặt cạnh cửa. Rồi anh đứng dậy đi ủng, mặc áo sơ-mi, áo vét-tông, và cuối cùng là chiếc áo khoác ngoài đã cũ. Anh chuẩn bị như để đi làm. Chỉ có chiếc quần anh mặc không phải là quần lao động, mà là chiếc quần diện ngày lễ.

- Đưa chiếc túi đây, - anh bảo An-phi-xa.

An-phi-xa lấy dưới gậm giường ra một chiếc túi đựng đồ. Nhưng chị không trao cho anh, mà để rơi túi xuống sàn nhà, và ngã gục đầu vào ngực chồng.

- Ki-ri-an! Anh nghĩ lại đi! Mọi việc rồi sẽ tốt đẹp mà, sẽ khác...

- Tôi không tin, - Ki-ri-an cộc lốc nói.

- Thật mà, thật mà... Ki-ri-an! - Ngước khuôn mặt ướt đẫm, An-phi-xa van lơn nhìn vào mắt chồng.

- Mà việc cũng không phải là ở đây... Nói chung, tôi không còn thể... Tôi thấy tôi thiếu một cái gì đó trong bản thân tôi... Nhưng là cái gì - tôi không biết. Tôi sẽ đi tìm. Còn cô cứ sống như cô muốn. Con đã lớn rồi... Sau chiến tranh, nếu còn sống, tôi sẽ trở lại đây thăm. Thăm cô và nói chung... Còn ra sao lúc đó hẵng hay... Còn cô, tôi tha thứ cho cô hết.

- Anh nghĩ lại đi, anh đang định làm gì đây? Trốn ra trận như một thằng con nít nào đó, như thằng An-đrây?! Nhưng nó còn bé, chưa biết nghĩ. Còn anh, họ sẽ cười chết! Đời nào lại có chuyện một người đã đứng tuổi lại trốn ra trận bao giờ? - An-phi-xa hấp tấp, lộn xộn, nói.

- Không sao, cứ mặc cho họ cười.

- Nhưng em nghe nói bây giờ đi tàu không dễ đâu. Đến ga đầu tiên anh sẽ bị bắt xuống ngay.

- Thì cứ để xem đã... Tôi sẽ chẳng lên ga ở ta đâu. Tôi sẽ đi đến một ga xép, bám vào một toa hàng nào đó... Hoặc là tìm một cách nào khác... An-đrây làm hỏng việc của tôi, bây giờ khắp nơi người ta đang đi kiểm tra tàu. Nói chung, để xem.

- Ki-ri-an, anh yêu! Thì anh cứ ở nhà, rồi người ta sẽ gọi đi...

- Thôi, đủ rồi, - Ki-ri-an đã bắt đầu nổi cáu, đẩy vợ ra, nói. - Bây giờ tôi không cần sự trung thành của cô, cũng không cần gì của cô cả, chỉ trừ một điều... Cô không được nói, cả hôm nay, cả ngày mai, cả một tuần sau, là tôi đi đâu, ở đâu. Tôi chỉ yêu cầu cô có vậy... Và để cho mọi người ở đây khỏi nghĩ rằng tôi trốn không ra trận, sau này tôi sẽ viết về cho cô... nếu như đến nơi được... Để người ta khỏi quấy rầy cô. Thế thôi!

Ki-ri-an nhấc túi lên, đi ra cửa. An-phi-xa càng kêu to hơn, nức nở túm chặt lấy chồng. Anh cố gỡ, xô vợ ra, nhưng không được. Gần như kéo vợ xềnh xệch theo, anh bước ra cửa ngoài. Ở đây anh gỡ được vợ ra một thoáng, nhảy vội xuống sân, đóng sập cửa và kéo chốt khóa trái lại.

- Ki-ri-an! - tiếng An-phi-xa từ trong cửa vọng ra. Chị cố kéo cánh cửa vào trong để mở ra.

«Vê-ra đi hò hẹn về sẽ mở... Hoặc Nhi-cô-lai cũng sắp về...» - Ki-ri-an nghĩ bụng và bước ra khỏi sân.

* * *

Nhảy hai bước, Phê-đô đã về đến nhà mình, xô tung cửa.

- Sao?

An-na chân đi ủng lao động, mặc chiếc áo bông cáu bẩn đang quay tròn trong phòng như hóa điên. Gan-na, tay cầm cốc nước đi theo sau, nhắc đi nhắc lại:

- Cô An-na, cô An-na ơi! Cô uống nước rồi nằm nghỉ đi. Sẽ tìm thấy thôi, chạy đi đâu được, cô An-na này...

An-na dừng lại, nhìn chồng bằng đôi mắt đờ đẫn. Rồi bà từ từ đưa tay lên mặt và khuỵu xuống sàn. Nếu như Phê-đô không kịp đỡ, chắc bà đã ngã xuống đất. Ông đặt vợ nằm xuống giường.

- Cô An-na, cô uống đi, - Gan-na lại chìa cốc nước ra.

An-na cầm lấy cốc nước uống cạn.

- Việc xảy ra như thế nào? Phê-đô hỏi.

Việc xảy ra như thế nào không ai biết. Buổi sáng như thường lệ, An-đrây cầm chiếc xắc đã sờn cũ của mình đi đến trường. An-na đang làm việc ở nhà máy theo chế độ lao động nghĩa vụ. Một giờ chiều, bà về nhà ăn trưa và lo cho mấy đứa nhỏ ăn uống. Nhưng cả An-đrây, cả Đi-ma đều không có nhà. Đi-ma đang học lớp bảy, đôi khi về nhà rất muộn, nhưng An- đrây thì đáng lẽ phải về rồi... «Hôm nay sao nó lại thế nhỉ?» - An-na nghĩ bụng và bắt đầu dọn bàn, tin rằng cả hai sẽ về ngay bây giờ. Đợi một lát nữa, bà ra sân nhìn dọc theo đường - các con trai đã về chưa? Và quả nhiên, từ cuối đường, hình như Đi-ma đang chạy đến. «Thế thằng quỷ kia đâu?».

An-na chợt nhận thấy một cuốn sách thòi ra dưới bậc thềm gỗ. Bà cúi xuống kéo ra. Đó là cuốn số học của An-đrây. An-na thò tay xuống dưới bậc thềm và kéo ra thêm mấy cuốn sách giáo khoa và vở ghi chép của đứa con trai út. «Lại cái gì thế này nữa?» - Bà nghĩ, lặng người đi vì một linh cảm không lành, tay vẫn giở đi giở lại mấy quyển sách và vở. Bà chợt nghe tiếng kêu của Đi-ma đang chạy đến.

- Mẹ ơi, mẹ! Thằng An-đrây... Đây, - cậu chìa ra một mẩu giấy.

- Cái gì? Cái gì thế?

Trên giấy, những nét chữ nguệch ngoạc của An-đrây viết:

«Đi-ma, anh bảo với Nhi-cô-lai là anh ấy ngốc lắm. Đến phòng quân vụ để làm gì? Cứ làm như em đây này. Anh nói với mẹ rằng em ra mặt trận đây, để mẹ đừng lo. Nhưng sau ba ngày hãy nói. Em hy vọng là anh không nói ngay, được chứ? Em của anh. An-đrây».

- Cái gì, cái gì thế này? - An-na vẫn chưa hiểu, hỏi.

- Cái gì nữa? Nó trốn ra trận rồi! Nó chỉ sợ hôm nay con sẽ nói với mẹ nên đút giấy vào quyển vật lý. Mà hôm nay vật lý là giờ cuối. Khôn thật. Con nói với cô giáo, cô bảo: «Em chạy nhanh về nói với nhà đi...»

Đến giờ An-na mới hiểu được ý nghĩa mẩu giấy của An-đrây.

- Ôi, cái đồ quỷ rỗng đầu! - Bà tái mặt, kêu to. - Nó chết mất, chết đói mất... Làm sao bây giờ, Đi-ma? Cần phải chạy ra ga ngay, biết đâu nó còn ở đấy. Thế Xê-mi-ôn, Xê-mi-ôn có biết không?

- Chưa chắc... Làm sao anh ấy biết được?

- Đi-ma, con chạy ngay ra ga, gặp Xê-mi-ôn, nói với anh ấy... Còn mẹ đến báo công an... Khoan, khoan đã nào! - Thấy Đi-ma chạy liền đi, chị gọi lại. - Con đang đói, cầm lấy miếng bánh mì...

Đi-ma nhảy vào nhà, vơ mấy lát bánh mì trên bàn và phóng như một mũi tên ra ga.

Ở đồn công an, An-na chưa kịp nói lời nào.

- Chúng tôi biết rồi. Ở trường gọi điện đến. Đã thi hành các biện pháp, đã báo cho Cục công an đường sắt biết. Chị đừng lo, chúng tôi sẽ tìm thấy. Con người chứ có phải... phải...

Từ đồn công an, An-na chạy vội ra ga.

Phần ngày còn lại, An-na, Xê-mi-ôn, Đi-ma và Nhi-cô-lai cùng Vê-ra I-nhi-u-chi-na không biết từ đâu tới, với cả cô bé Gan-na chân dài đi lục lọi mọi ngóc ngách của nhà ga, kiểm tra tất cả các toa của những đoàn tàu sắp rời ga, đi lại quanh quẩn giữa những đống gạch, sắt, gỗ... Nhưng vô ích, không thấy tăm tích của An-đrây đâu cả.

- Mất rồi, thằng bé đi mất rồi! - An-na như người mất hồn, thì thầm. - Lớ ngớ ở đâu lại bị đánh cho... hay rơi vào dưới bánh tàu...

- Mẹ đi về nhà đi, - khi trời bắt đầu tối, Xê-mi-ôn nói. - Sẽ tìm thấy thôi, nó chẳng mất đi đâu đâu. Vê-ra, Gan-na, đưa mẹ về đi.

Nhưng phải để đến lúc trời tối mịt, An-na mới chịu về nhà.

- Con với Đi-ma cứ tìm đi nhé. Biết đâu nó còn trốn ở đâu đây, - chị bảo Xê-mi-ôn.

- Vâng, tất nhiên. Chúng con sẽ tìm ra, mẹ ạ...

Tất cả những điều này Phê-đô nghe An-na và Gan-na kể lại một cách lộn xộn. Ông đứng nghe, không cởi áo ngoài. An-na ngồi trên giường, vừa kể vừa khóc.

- Nhỏ nước mắt thế đủ rồi. - Phê-đô cởi áo bông, nói: - Có gì ăn được, đưa ra đây. Từ buổi làm khách hôm qua đến nay chưa có tí gì vào miệng. Họ tìm thì sẽ thấy, có phải cái kim đâu. Bây giờ tôi đến công an xem họ tìm kiếm ra sao...

Và trong lúc đợi vợ dọn mâm, ông đặt khuỷu tay lên bàn, rồi gục mái đầu nặng trịch vào lòng bàn tay.

Ăn tối xong, Phê-đô đi đến đồn công an. Trở về, ông im lặng bắt đầu cởi giày và áo quần, chân không rón rón đi trên sàn gỗ sơn của nhà bếp, nơi An-na đang nằm ngủ, nằm xuống giường, quay mặt vào tường.

- Ngoài đó họ bảo sao? - An-na không nhịn được, lên tiếng hỏi. - Có tin gì về An-đrây không?

- Chưa có tin gì cả. Ngủ đi.

Một phút sau, ông nằm ngửa ra, nói:

- A-nhi-cây Ê-li-da-rốp bảo sắp tới sẽ xử thằng em của cô, thằng Ma-ca. Chính hắn đã... xoáy chiếc xe hàng. Còn ai vào đấy nữa? Hắn và thằng Gvô-dơ-đi-ép nào đó. Thằng Gvô-dơ-đi-ép là thằng nào, tôi không còn nhớ nữa. Và thằng Vi-chi-a Ca-sca-rốp giúp chúng. Chuyên gia ăn trộm, lại lừa cả trẻ con. Giờ đâu phải thời bình nữa, tha hồ Ma-ca ăn vạc dầu...

Phê-đô ngáp, rồi im bặt. Nửa phút sau, ông đã thở đều đều.

An-na liếc sang chồng với một sự căm ghét. Bà có cảm tưởng như miệng của Phê-đô vẫn đang mở ra để ngáp, trên mặt ông, một hố đen rộng đang há hốc...

* * *

Mùa hè năm 1910, vào một ngày tháng Sáu nóng nực, Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép từ trại của Cáp-ta-nốp về, ném chiếc roi ngựa vào góc nhà, ngồi xuống cạnh bàn và hai tay ôm lấy đầu.

- Lạy Đức mẹ đồng trinh, người cứu tinh... - U-xchi-nhi-a làm dấu thánh.

- Phê-đô đâu?

- Đang tưới rau. Ông làm sao thế?

- Làm sao, vứt mẹ cái đời chúng ta xuống vực Grô-mô-tu-kha cho rồi! Lão Cáp-ta-nốp đòi cho thằng Phê-đô vào coi trại cho hắn...

- Lạy Chúa tôi! - U-xchi-nhi-a ngồi phịch xuống ghế. - Chúng làm hỏng thằng bé mất. Mới mười lăm tuổi...

- Thôi! Hoặc làm hỏng, hoặc chết đói... Chọn trong hai lấy một...

Những năm gần đây, nhà Xa-vê-li-ép bị chèn ép, trói buộc càng ngày càng chặt hơn. Tất cả bắt đầu từ khi Đê-mi-an I-nhi-u-chin về làng. Mấy ngày liền hắn ăn uống túy lúy, rồi cưa một khúc gỗ hoàn diệp liễu ra làm hai, nhắc từng khúc một trên tay, đem cân thử. Một khúc hắn vứt đi, khúc kia đem bào nhọn một đầu, phần trên đục một lỗ rộng, lấy dây da có khóa móc luồn qua.

- Thế là chân đã xong, - hắn nói với Xi-lan-chi lúc đó đi qua ghé vào thăm. Gỗ hoàn diệp liễu nhẹ lắm. Có gỗ gì nhẹ hơn không hả?

- Ai biết được. Tôi có thử bao giờ đâu, chẳng là không cần mà.

- Anh thì cần vào nhà tù mà ngồi, - Đê-mi-an nói, đôi môi trắng nhợt, bong cả da vì uống quá nhiều rượu, méo xệch lại.

- Anh nói gì vậy?! Có thể thằng bé vì dại dột...

Những sự thay đổi của con người đôi lúc thật kỳ lạ. Trước chiến tranh, Đê-mi-an là một người nhút nhát, khiếp nhược và nghèo xơ xác, chẳng khác gì Xi-lan-chi. Thời trẻ họ cùng nhau chạy theo tán tỉnh lũ con gái, cùng nhau còng lưng trên những vạt đất cày nhà Cáp-ta-nốp. Nhưng từ chiến tranh trở về với một huân chương Ghê-oóc-ghi, hắn đã trở thành một con người khác. Ngay lập tức từ ngày đầu hắn đã xử sự như xem mình cao hơn Xi-lan-chi, cao hơn những người khác một cái đầu.

Thực ra, cả Xi-lan-chi, hoặc bất cứ một người nào khác, đều chưa biết, đều chưa đoán ra những sức mạnh nào, những khát vọng nào lâu nay ấp ủ trong con người này khi hắn được nhận huân chương Ghê-oóc-ghi, những dự định kế hoạch nào hắn nghiền ngẫm khi đang nằm trong quân y viện, trên chiếc giường bệnh thô cứng.

- Lạy Chúa, cầu người giữ cho con cái chân! - hắn rít lên trong cơn đau đớn. - Bây giờ con là người được thưởng huân chương duy nhất của cả làng. Không còn chân thì con biết làm sao?

Khi cuối cùng rồi cũng phải cưa chân đến ngang đầu gối, hắn khóc vì đau buồn thất vọng, chán rồi căm ghét, nguyền rủa cả thế giới, hắn thầm nhắc đi nhắc lại:

«Được rồi, cứ đợi đấy... Cứ đợi đấy... Cứ đợi đấy...»

«Đợi đấy» - nghĩa là thế nào chính hắn đến lúc ấy cũng chưa biết. Nhưng hắn cảm thấy không thể để cho mọi người, để cho cuộc đời làm nhục mình thêm nữa.

Đẽo xong chân giả bằng gỗ, ngày hôm sau Đê-mi-an lấy nỉ lau bóng chiếc mề-đay thánh giá, mặc áo sơ-mi mới và đi đến nhà Cáp-ta-nốp.

- A-a, chào dũng sĩ... - Cáp-ta-nốp kéo dài giọng. Mặt đỏ gay, hắn đang thổi đĩa thức ăn nóng. - Ngồi xuống đây uống chè, nào xin mời...

Đê-mi-an ném chiếc mũ lưỡi trai vào góc nhà, làm dấu trước tượng thánh. Vợ của Cáp-ta-nốp, một người đàn bà da vàng vọt, gầy còm, tóc lưa thưa, rót cho hắn cốc chè đặc. «Ấy, vẫn gầy còm như thế, - Đê-mi-an nghĩ thầm. - Hay là mụ ta bị bệnh gì?»

Hắn uống cạn cốc nước, đẩy cốc sang một bên, tỏ ý nói rằng hắn đến không phải để uống nước, mà có một việc quan trọng.

Cáp-ta-nốp người to béo, đẫy đà, đôi má rỗ lỗ chỗ. Chiếc mũi to tướng đầy những đường gân màu hồng, mắt cũng vậy, chòm râu quai nón rậm đã có vài sợi bạc.

Lấy khăn lau miệng, Cáp-ta-nốp giễu cợt hỏi:

- Thế nào, ngài dũng sĩ, đến tìm việc à?

- Vâng, đúng thế ạ, Mi-khai-in Lu-kích. Đến xin phục vụ.

- Với một chân thì anh làm được trò gì? - Cáp-ta-nốp đưa tay gãi bộ ngực đầy lông lá.

- Đúng thế ạ, Mi-khai-in Lu-kích. Tôi giờ không thể làm việc được bằng chân tay, nhưng có thể phục vụ được.

Vợ của Cáp-ta-nốp làm dấu thánh và lặng lẽ, như một con chuột, luồn vào sau cửa.

- Thôi được, Đê-mi-an ạ. Vì anh là dũng sĩ, tôi cho anh một việc nhẹ. Anh sẽ đến ở trong trại của tôi ở mạch nước ngầm Ô-gơ-nhép-xki. Tôi, chắc anh còn nhớ đấy, là người thích chơi bời, thích đưa đàn bà đến đó.

- Tất nhiên, tất nhiên, ông là người rất phóng đãng. Ai cũng biết, Mi-khai-in Lu-kích...

- Thế đấy... Anh sẽ ở đó, trông coi trại cho chu đáo, nấu rượu trữ đấy. Để khi có món nào là tất cả phải sẵn sàng. Tôi sẽ nuôi một đôi ngựa ở đó để đề phòng lúc cần đến, anh sẽ phải trông chúng. Nói chung, anh sẽ là người trông trại...

Và Cáp-ta-nốp phá ra cười sằng sặc, nước mắt trào ra trong đôi mắt đầy những vằn đỏ. Cười chán, hắn nói thêm:

- Anh là người tiện nhất cho việc này. Khi nào tôi uống quá say rồi, các cô nương của tôi chắc cũng sẽ chẳng thèm nhìn đến anh...

Nhưng Đê-mi-an vẫn giữ vẻ nghiêm nghị, thậm chí còn nhìn Cáp-ta-nốp với vẻ trách móc.

- Ông làm nhục người được thưởng huân chương, thôi thì Chúa tha cho ông, Mi-kha-in Lu-kích. Nhưng trong việc nào tôi có ích cho ông nhất, chính ông cũng còn chưa biết đấy.

Trong giọng và lời nói của người cố nông trước đây có một cái gì đó khác thường. Cáp-ta-nốp nheo mắt, chăm chú nhìn I-nhi-u-chin.

- Anh giải thích rõ xem nào.

- Cái lợi nhất cho ông là ông để tôi làm người trông nom chính cho toàn bộ cơ ngơi của ông.

Những lời trên bất ngờ đến nỗi Cáp-ta-nốp ngồi đờ người ra.

- Tất nhiên là trừ việc buôn bán, - Đê-mi-an tiếp. - Việc buôn bán thì tự ông trông coi lấy.

- Mày, thằng ngốc, nói lảm nhảm gì vậy? Trông nom chính là thế nào?

- Như người quản lý chẳng hạn. Theo cách của các nhà giàu.

- Thế mày có đủ óc không đấy?

- Không sao, việc nhà nông thôi mà.

- Ha-ha-ha... - Cáp-ta-nốp đi vòng quanh người Đê- mi-an nhìn hắn như thể lần đầu tiên trông thấy một con thú lạ. - Thế... mày sẽ định ăn cắp có nhiều không đấy?

- Nếu nói thẳng ra, thì không thể thiếu cái chuyện ấy được, - Đê-mi-an nhìn thẳng vào mắt Cáp-ta-nốp, nói: - Thằng ngốc mới không làm lợi cho mình. Mà tôi là người. Nhưng chỉ có điều tôi ăn cắp một xu thì sẽ làm lãi cho ông một đồng.

Cáp-ta-nốp trợn mắt nhìn Đê-mi-an trân trân.

- Sau chiến tranh về mày là người kể cũng thú vị đấy. Nhưng tao còn có thằng con Di-nô-vi, năm nay đã mười bảy tuổi. Tao đã định cho nó làm quản lý rồi.

- Còn trẻ người non tay quá, Mi-khai-in Lu-kích ạ. Cứ để cho cậu ấy học chuyện buôn bán đi đã. Cũng khối việc ra rồi. Tôi sẽ trông coi những việc còn lại. Còn ông chỉ việc cầm cương và vung roi...

Nói đến đó, Đê-mi-an quỳ sụp xuống, túm lấy tay Cáp-ta-nốp.

- Con sẽ hầu hạ trung thành và tận tụy, ông Mi-khai-in Lu-kích ạ... Thề có cây thánh giá - sẽ trung thành hơn cả con chó giữ nhà cho ông. Ông sẽ hiểu và sẽ thấy mình được lợi như thế nào. Không lâu đâu, ông sẽ thấy không lâu đâu, nếu ông giao cho con tất cả. Nếu như con trông coi không đến nơi đến chốn, hoặc làm thiệt hại ông, ông cứ việc đá đít tống ra khỏi cổng, có ai ngăn ông đâu? Ông Mi-khai-in Lu-kích...

Ngày hôm sau I-nhi-u-chin đến chuồng ngựa nhà Cáp-ta-nốp cắt đặt những con nào đem đi cày, những con nào đưa đến thành phố chở hàng cho các cửa hiệu của nhà Cáp-ta-nốp. Một tuần sau, hắn xuất hiện ở ngoài chỗ thợ đang cày, đi từ đầu này đến đầu kia cả cánh đồng mênh mông, chiếc chân gỗ cắm sâu vào mặt đất xốp. Nơi nào chân gỗ cắm không sâu, hắn dừng lại, gọi:

- Này, ai cày ở đây? - Và khi một người nông dân cháy đen vì nắng gió nào đó đi đến, hắn nói, không nhìn vào mắt: - Đêm nay anh phải cày lại cho cẩn thận. Tiền hao mòn cày và tiền công ngựa phải làm thêm, đến mùa thu sẽ tính trừ đi vào tiền công.

Hắn nói nhỏ nhẹ, bình tĩnh, không tỏ vẻ tức giận, và không ai để ý đến những lời của hắn.

Nhưng đến tháng Sáu, khi bắt đầu mùa cắt cỏ, Đê-mi-an lại bình tĩnh, nhỏ nhẹ nói với nhiều người nông dân làng Mi-khai-lốp-ca:

- Tôi cũng định thuê anh đấy, Gri-gô-ri ạ, biết anh cũng phải đến năm bảy mụn con đang ngồi trong lều. Nhưng tôi còn nhớ hồi mùa xuân anh cày xỏ lá lắm, quá nông. Cần phải để mắt giám sát anh, nhưng tôi chỉ còn một chân, không đi kịp khắp các nơi. Thôi thì anh đi chỗ khác mà tìm việc, sang bên kia sông, đến làng dưới, may ra có nơi họ thuê. Tiền công cày sang thu ta sẽ tính sau. Còn anh, Phê-đô, làm việc thì cũng được đấy, nhưng buổi sớm ngủ quá muộn: hôm lễ Phục Sinh ấy, anh còn nhớ không, anh ngủ gần đến trưa mới dậy. Đất để khô cứng... Tôi cũng không biết phải làm sao với anh bây giờ. Thôi được, thuê anh lần cuối cùng...

Không la hét, chửi rủa, dần dần Đê-mi-an thiết lập một chế độ, nguyên tắc thuê người của mình. Những người bị hắn từ chối không thuê làm nữa, chỉ nhổ nước bọt và đi đến các làng khác để cầu may. Còn ai ở lại làm cho Cáp-ta-nốp, vẫn như trước, không cảm thấy tai họa gì đặc biệt. Thiếu gì điều Đê-mi-an đem dọa... cứ mặc hắn càu nhàu một lúc, rồi lại quên đi.

Nhưng đến mùa thu, khi tính công, tất cả mới ngã ngửa ra: mỗi người chỉ được trả ít hơn một nửa so với các năm trước.

Tiếng ồn ào, bàn tán nổi lên. Những người nông dân đòi gặp chính Cáp-ta-nốp.

- Im lặng! - Cáp-ta-nốp quát, rồi nói ngắn gọn. - Đê-mi-an thuê các anh, các anh đi tính toán với anh ta ấy...

- Các anh nghe đây, - I-nhi-u-chin nhếch mép cười nhạt, bộ râu cáo hung hung đỏ hắn vừa mới để vểnh lên. - Ai trong các anh là người kêu nhiều nhất? Chắc các anh chưa quên chứ...

Cuối năm, Đê-mi-an đến gặp Cáp-ta-nốp, rút từ trong túi ra một tập giấy đã nhàu nát:

- Đây, ông Mi-khai-in Lu-kích ạ, tôi vừa mới tính thử xem qua... Tổng cộng tất cả lúa mạch đen, lúa kiều mạch, yến mạch, đại mạch ngoài đồng được mười nghìn pút nhiều hơn mùa năm ngoái của ông. Cỏ cắt được nhiều, nếu ông muốn, có thể mua thêm hai ba chục con bò cái nữa. Dầu mỡ, mật ong cũng nhiều hơn một ít. Ông tự tính ra xem thành bao nhiêu tiền rúp. Theo tôi, tôi đã đem cho ông chừng hai chục nghìn tiền lãi. Bây giờ ông thử xem, dùng tôi có sai không? Nếu không, có thể có gì thưởng thêm...

- Nào, Đê-mi-an, quả thật ta không ngờ anh là đồ tham lam như vậy, - Cáp-ta-nốp nói. - Nhưng coi chừng không bọn nông dân lại lấy chân gỗ của anh mà chọc cổ anh đi đấy.

Chừng hơn một năm, I-nhi-u-chin vẫn sống trong túp lều xiêu vẹo, như trước khi đi lính. Mùa thu năm 1907, hắn thuê thợ mộc và trong một tháng dựng lên một căn nhà ba gian đàng hoàng.

- Chẳng lẽ anh chỉ dựng những lâu đài như thế thôi à? - một lần, hương trưởng Pan-crát Na-da-rốp mỉm cười nói chọc hắn.

- Còn to hơn làm gì? Cả nhà chỉ có tôi, bà nhà tôi và thằng Ki-ri-an. Chẳng nên phí củi để đốt lò sưởi. Mùa đông thì dài.

- Bây giờ anh cũng phải phát triển thêm gia đình chứ?

- Thôi rồi. Chuyện đó nhường cho bọn ngựa đực non các anh...

- Anh nói thế. Thì anh cũng chân gỗ chọc thủng đất như ngựa đấy.

- Cái gì? - Đê-mi-an rung rung bộ râu, cố hiểu ý nghĩa những lời cuối cùng của Na-da-rốp.

Trong mùa hè đầu tiên, Đê-mi-an chưa động đến Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép. Có lẽ vì rằng chưa có dịp. Việc gì Xi-lan-chi Xa-vê-li-ép làm cũng đến nơi đến chốn. Đê-mi-an đã nhiều lần kiểm tra độ sâu đường cày của Xi-lan-chi, đi quanh nhìn xoi mói những đụn cỏ của ông đánh đống, nhiều lần, vào những lúc bất ngờ nhất, xuất hiện ở kho lúa, thọc tay đến tận vai vào đống thóc ông vừa quạt để bốc lấy một nắm thử xem còn bụi, hạt lép không, dùng chân gỗ khơi khơi những đống trấu tìm thóc. Rồi hắn thở phì phò bỏ đi. Xi-lan-chi làm việc càng cẩn thận hơn, cảm thấy rằng ông chỉ cần sơ suất nhỏ là phải trả giá đắt. Và quả vậy...

Một lần vào mùa đông, khi chở cỏ từ ngoài đồng xa về, Xi-lan-chi bị muộn. Do vội vàng, ông sơ ý trên quãng đường vòng, chiếc xe bị nghiêng, rồi lật úp xuống. Càng xe gãy đánh rắc, con ngựa hí lên một tiếng, rồi ngã khuỵu xuống tuyết.

Trong lúc Xi-lan-chi lo tháo ngựa ra, sửa lại càng xe thì trời đã tối hẳn. Trong bóng đêm, ông bắt tay vào chất lại cỏ lên xe. Gió bỗng nổi lên, giật những túm cỏ thổi bay tứ tung xuống ruộng. Xi-lan-chi cố sức tìm cách xếp vào, nhưng chiếc nạng với những bó cỏ cứ quay tròn trong tay. Tuyết lại bắt đầu rơi nhiều, gió thổi mạnh thêm, quay cuồng, gào rú xung quanh. Chỉ trong vòng vài phút, những cơn gió giật đã đảo tung đống cỏ, cuốn nốt chỗ còn sót lại trên xe cho đến sợi cuối cùng vào bóng tối, vào những đống tuyết.

Không làm sao được nữa, Xi-lan-chi, người cóng buốt đến tận xương, ném đòn gánh, dây thừng, nạng gảy cỏ vào thùng xe trống không và đi về làng, đem chuyện thành thật kể hết với Đê-mi-an.

- Dân làm thuê các anh, đồ... - Đê-mi-an văng tục. - Các anh thì chỉ biết làm loạn mà thôi... Đi đi.

Buổi sáng hôm sau, khi Xi-lan-chi lại đến chuồng ngựa nhà Cáp-ta-nốp, Đê-mi-an giương đôi mắt tròn đã bắt đầu béo hùm hụp lên nhìn ông.

- Đi đi, đi đi. Hôm qua tôi đã bảo rồi mà.

- Anh sao thế, Đê-mi-an. Việc nó lỡ ra một tí... Anh phải có trái tim chứ.

- Nếu mà tôi có nó thì Mi-khai-in Lu kích sẽ phải đi ăn mày.

- Còn lâu ông ta mới phải ăn mày... cũng như chúng tôi đến được với Chúa vậy...

- A, anh còn nói thế à?! Bước ngay, bảo rồi mà!

Trong suốt đời mình, nói chung, Xi-lan-chi không có những ngày may mắn, còn từ hôm đó bắt đầu những ngày tháng hoàn toàn đen đủi. Đúng ra, thỉnh thoảng Đê-mi-an cũng có cho ông và Phê-đô, đứa con thứ bắt đầu lớn của ông, một công việc gì đó. Nhưng dù cho bây giờ họ có cố sức làm cẩn thận đến mấy, Đê-mi-an vẫn chưa thấy bằng lòng, hắn luôn luôn la thét, bắt họ phải làm đi làm lại, tiền công thì chỉ trả một nửa.

- Cái thằng hút máu này sao mà kinh khủng thế? - nhiều lần Phê-đô cáu kỉnh nói, hai lỗ mũi của cậu giật giật vì tức giận. - Đợi đấy, con sẽ cho nó một nạng vào sườn.

- Coi chừng đấy, mày nói nhảm cái gì vậy? - Xi-lan-chi, người đã tái xanh, lại càng tái mét mặt lại. - Rồi đi khổ sai vì thằng mạt kiếp ấy à?

Không hiểu bằng cách nào - hoặc là tự mình nghe trộm, hoặc là sau đó có người nào đi mách để nịnh hót - I-nhi-u-chin biết được những lời đó. Hắn không tức giận làm ầm lên, chỉ cười nhạt nói:

- Ô-ô, nòi nào giống nấy. Đúng là con sói con. Mày sẽ cho nạng hay không, mặc mày, còn tao coi như đã làm xong việc.

Và từ đó hắn không cho cha con Xa-vê-li-ép việc làm nữa.

Đê-mi-an rất biết việc mình làm. Trong làng, ngoài nhà Cáp-ta-nốp ra, không ai có việc làm. Xi-lan-chi đã phải đi thử tìm việc ở San-ta-ra, ở những làng khác, và thỉnh thoảng cũng kiếm được ít nhiều. Phê-đô đi bắt cá ở sông Grô-mô-tu-kha, mùa đông vào rừng đặt bẫy thỏ. Bằng cách đó, gia đình cố sống qua ngày, được bữa hôm lo bữa mai. Cả nhà Xa-vê-li-ép ăn mặc rách rưới; trong nhà, ngoài một chiếc bàn, vài chiếc ghế đẩu và mấy chiếc nồi gang, không còn gì khác.

Ngay trước mùa lũ xuân năm nay, Xi-lan-chi từ làng bên trở về nhà với đồng ba rúp vừa mới kiếm được trong túi chiếc áo bông đã rách tả tơi. Ông rất vội để về đến làng Mi-khai-lốp-ca trước lúc băng tan. Khi qua khỏi sông Grô-mô-tu-kha, một chiếc xe mui kín hai ngựa kéo, có chuông, đuổi kịp ông. Xi-lan-chi đứng sang bên để nhường lối, nhưng chiếc xe cũng dừng lại.

- Đứng lại! Xi-lan-chi, anh đi đâu về đấy? - ông nghe thấy tiếng của Cáp-ta-nốp hỏi...

- Tôi ở Gu-xép-ca về... Tôi làm thuê ở đó đã tháng nay.

- Khoan, thế sao không làm cho tôi?

Cáp-ta-nốp đang lúc say, vui vẻ, đôi mắt lấp lánh, chiếc mũi to đỏ như quả cà chua thối. Trong góc xe thấp thoáng một bóng đàn bà trùm áo da lông.

- Từ lâu rồi tôi không làm cho ông nữa. Đê-mi-an không cho...

- Sao lại thế? Anh là người được việc nhất mà... Nào, ngồi lên đây!

Xi-lan-chi leo lên xe.

- Đến trại Ô-gơ-nhép-xki! Quất ngựa mạnh vào, đừng tiếc!

Đến trại thì đến, đối với Xi-lan-chi thế nào cũng được. Ông đã hiểu là Cáp-ta-nốp đang lên cơn chơi bời.

Trong trại có một ngôi nhà gỗ thông bốn gian rất chắc chắn, một chuồng ngựa, một nhà tắm hơi và các thứ công trình phụ khác. Nhà tắm hơi đứng ngay cạnh chiếc hồ có rất nhiều cá măng. Mùa hè, Cáp-ta-nốp thích, sau khi tắm hơi xong, nhảy hụp xuống hồ bơi lội một lúc lâu.

Khi họ đến nơi, nghe tiếng chuông xe ngựa, một thanh niên trẻ, Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin, trước đây làm quản lý cho cửa hiệu của Cáp-ta-nốp ở San-ta-ra, vội chạy ra, túm lấy dây cương. Xa-vê-li-ép biết rằng chàng trai vạm vỡ với những búi tóc xoáy ngang tàng và cái nhìn như dao cứa này từ mùa thu năm ngoái cho đến suốt cả mùa đông này vẫn sống ở đây với tư cách là người trông trại. Mấy lần Xi-lan-chi ghé vào hiệu ở San-ta-ra, bắt gặp ánh mắt của người quản lý, nghĩ: «Ranh ma lắm. Loại này có tính gian cũng không thèm chớp mắt». Xi-lan-chi không biết vì sao mà anh bị chủ giáng xuống làm chức «trông trại» này. Nhưng mà ai có thể biết trước được cái tính gàn dở ngông cuồng của Cáp-ta-nốp? Hơn nữa, đây là thăng, hay là giáng, nào ai hiểu được! Nghe người ta bảo anh chàng quản lý trẻ này nhảy rất giỏi, và Cáp-ta-nốp mỗi khi rượu vào lại bắt anh ta nhảy cho đến lử người trước mặt các «Cô nương» của mình.

Cáp-ta-nốp nhảy xuống xe. Người đàn bà bước xuống theo, hình như cũng đang say, trông bề ngoài có vẻ giống dân Di-gan, ả vứt chiếc áo lông xuống đất, đôi mắt ti hí long lên lấp lánh. Cru-gi-lin chạy bổ đến định dìu ả vào nhà.

- Bước! -Cáp-ta-nốp gầm lên và tự mình dẫn ả vào nhà. Một lúc sau hắn bước ra, ném cho Cru-gi-lin chiếc áo lông cộc và chiếc mũ của anh, nói: - Đưa ngựa về Mi-khai-lốp-ca giao cho Đê-mi-an, còn mày thì về San-ta-ra làm việc cũ. Nhảy như thế đủ rồi. - Hắn huơ nắm tay đầy lông lá lên gí sát vào mũi Pô-li-các-pơ. - Tao thấy mày đã bắt đầu quấn lấy bọn đàn bà của tao rồi đấy, hễ tao uống say là cứ sán đến. Đồ chó dái, chúng mày thực không có lương tâm! May cho mày là tao chưa bắt được lần nào. Không thì tao đã treo đá lên cổ ném xuống hồ...

Cru-gi-lin mặc áo vào và im lặng ngồi lên xe đi.

- Thế đấy, - Cáp-ta-nốp thỏa mãn nói. - Còn ông, Xi-lan-chi, chắc hết thời động đực rồi chứ? Bây giờ sẽ thay chỗ cho thằng Pô-li-các-pơ ở đây. Nào, đưa rượu ra đây. Lấy ở trong nồi chưng ấy. Cà chua ở dưới hầm mang lên... Mồm miệng coi chừng đấy, không thì... Đốt lò nhà tắm hơi đi, ta sẽ tắm với cô nàng Di-gan này...

Thế là Xi-lan-chi bắt đầu sống ở trại Ô-gơ-nhép-xki.

Đầu tiên ông già cảm thấy ghê tởm khi phải nhìn cảnh rượu chè túy lúy của Cáp-ta-nốp và khách khứa của hắn. Đôi lúc Cáp-ta-nốp đưa vào trại đến mấy cặp đàn ông, đàn bà; hàng tuần lễ liền không ngớt chúng ăn uống, hò hét, nhảy múa, cùng nhau tắm rửa trong nhà tắm hơi để giã rượu, rồi vừa cười nói ầm ĩ, vừa chạy ra hồ nhảy xuống hụp lặn. Đàn ông, đàn bà ăn mặc hở hang, trơ trẽn, đi lại khắp nhà, khắp trại.

- Cái ổ chó... Lạy Chúa, người tha tội cho con, đúng là cái ổ chó... -thỉnh thoảng Xi-lan-chi ngồi xuống một góc nào đó nghỉ lấy hơi, thì thầm rủa.

Trước mỗi cuộc vui chơi như vậy, bao giờ Đê-mi-an I-nhi-u-chin cũng đến trại, mang theo đủ các thứ thức ăn xông khói, thịt mỡ muối, bánh kẹo, đôi lúc cả những thùng rượu vang rất lạ, suốt đời Xi-lan-chi chưa từng thấy. Hắn gần như không nói gì với Xi-lan-chi, chỉ cười nhạt trong bộ râu cáo, dường như muốn bảo: thôi được, cứ sống ở đây đi đã, nếu ông chủ đã muốn vậy.

Và đời cứ trôi đi như vậy, cho đến ngày hôm nay...

Phê-đô, trong mấy năm gần đây đã cao lớn hẳn lên, gần bằng cha, từ ngoài vườn đi vào, người ướt sũng. Đôi ống quần bằng vải gai thô xắn lên quá đầu gối, chân lấm bê bết. Những túm tóc dày đã lâu không cắt rủ xuống trước trán.

- Có chuyện gì thế? - anh hỏi bằng giọng đã bắt đầu vỡ ra. Vai anh còn hẹp, xương bả vai nhô lên dưới lần áo sơ-mi, hai cánh tay dài buông gần đến đầu gối, nhưng đôi bàn tay rộng, khỏe, bàn tay nông dân thực thụ, ria đã nhô lên lún phún trên môi trên, ngực bắt đầu nở nang.

- Con rửa ráy đi, rồi vào trại Ô-gơ-nhép-xki...

- Để làm gì?

- Làm gì, làm gì! Hình như lão Cáp-ta-nốp muốn lấy mày thay vào chỗ tao.

Đôi mắt Phê-đô cháy sáng lên, nhưng anh lập tức dập tắt chúng đi. Anh đã nhiều lần đến trại (tất nhiên, khi không có Cáp-ta-nốp và khách khứa ở đấy) và biết cha anh đang làm công việc gì ở đó.

- Không phải chính lão Cáp-ta-nốp, mà cô ả Lu-kê-ri-a tò mò đòi Phê-đô vào đó, - khi Phê-đô đã đi rửa, Xi-lan-chi rầu rĩ nói. - Nó đi khắp trại, đồ chó cái dâm đãng, cặp vú cứ ngúng nguẩy... Cáp-ta-nốp nhậu nhẹt với nó đã ba ngày nay...

- Chúng làm hư mất thằng bé thôi. Trời ơi, chúng làm hư mất, - U-xchi-nhi-a vẫn rên rỉ. Tôi không cho nó đi đâu, không cho đi!

- Không cho... Nói miệng không cho thì ăn no đòn! Đi đâu cho thoát?

Khi Phê-đô rửa tay, thay áo xong, Xi-lan-chi bảo con ngồi lên xe, trao dây cương ngựa cho và nói:

- Lu-kê-ri-a với ông chủ ở trong đó. Cầu Chúa cho mày đừng động đến nó. Mày phải nhớ rằng nếu có chuyện gì, Cáp-ta-nốp sẽ vặn đầu mày ra đem cắp nách... Nếu Lu-kê-ri-a có theo bám lấy mày, tát vào mõm cho nó. Như thế thậm chí Cáp-ta-nốp sẽ coi trọng mày cũng nên.

- Nhưng tại sao nó lại bám theo con? - Phê-đô đỏ mặt, hỏi.

Phê-đô hãy còn chưa biết đến đàn bà, nhưng cũng như bất cứ một thiếu niên nông thôn nào khác, đối với anh đã từ lâu không có gì trong lĩnh vực này của quan hệ con người là bí mật nữa.

- Coi chừng, coi chừng đấy, con ạ! Cha nói như vậy không phải vô cớ đâu. Cơn điên của Cáp-ta-nốp con cũng biết rồi đấy.

Phê-đô cho xe đi, vừa tò mò, vừa lo sợ.

Anh đến trại, khi trời còn sáng, xuống xe bước vào nhà. Cáp-ta-nốp đẩy bát đĩa ra giữa bàn, nằm úp ngực và mặt lên đó. Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va mặc áo khoác ngắn gài hết cúc và chiếc váy dài nhàu nát, đang dùng tay cù hắn hết sườn bên này đến sườn bên kia.

- Mi-khai-in Lu-kích, anh cần phải đi ngủ đi, Mi-khai- in Lu-kích...

- Tôi đã đến đây... - Phê-đô nói.

Lu-kê-ri-a hầu như không thèm để ý đến anh. Bề ngoài ả chừng hăm nhăm - ba mươi tuổi. Người dẻo mềm như thân rắn, ngực đồ sộ, mông nở, ả đi lại trong phòng nhẹ nhàng, không tiếng động. Tuy bước đi cố ra vẻ vững vàng, nhưng Phê-đô thấy là ả cũng đã say lắm rồi.

- A-a! - Nghe tiếng của Phê-đô, Cáp-ta-nốp ngẩng đầu lên, kéo dài giọng. - Đi lại đây...

Phê-đô bước đến bên. Cáp-ta-nốp đưa bàn tay nặng trịch túm lấy cằm anh, đôi mắt đờ đẫn nhìn rất lâu vào mặt anh.

- Không sao. Còn non choẹt, chưa thôi quẹt ngang mũi. Nhưng, nếu như mày, đồ chó con... Nếu như mày! – hắn quay lại phía Lu-kê-ri-a. - Tao sẽ trói cả hai đứa vứt xuống hồ!

- Anh sao thế, Mi-khai-in Lu-kích! Cái mõm của thằng Xi-lan-chi này đã làm cho em phát lợm lên rồi. Mắt thì cứ lóc lách, lóc lách, như... Anh mệt rồi đấy, ngủ đi một tí.

- Thì đi, anh đi...

TGVC (5)

Lu-kê-ri-a dìu Cáp-ta-nốp vào phòng bên. Phê-đô nghe ả đặt hắn nằm lên giường, cởi giày vứt xuống sàn. Anh đi ra khỏi nhà.

Cởi ngựa xong, Phê-đô đi lang thang ngoài sân, không biết làm gì. Anh lại vào nhà, nhìn cánh cửa nơi Cáp-ta-nốp và Lu-kê-ri-a vừa đi vào. Từ trong phòng, tiếng ngáy vọng ra.

Cố không gây tiếng động, anh thu dọn bàn và cả căn phòng. Trời còn sáng, và Phê-đô quyết định đi câu cá. «Có thể ngày mai họ lại đòi ăn cá», - anh nghĩ bụng.

Phê-đô biết nơi cha anh vẫn để cần câu, vợt, xô đựng và các đồ nghề đánh cá khác. Anh cũng tìm thấy một hộp mồi, có lẽ cha mới kiếm được hôm qua, thậm chí hôm nay.

Cho đến tận tối mịt, Phê-đô ngồi trong đám lau sậy câu cá giếc. Nhưng trước mặt anh, không hiểu sao, cứ hiện ra hình ảnh Lu-kê-ri-a với cặp vú cộm căng dưới lần áo, khối mông đồ sộ và mái tóc xổ tung. Phê-đô đỏ mặt, cố xua đuổi ảo ảnh đó đi, nghĩ về chuyện khác, nhưng nó vẫn hiện ra, hiện ra, không chịu mất...

Anh nằm ngủ trong căn buồng của cha trước đây, lấy chiếc then sắt dày cài cửa lại. Trăn trở mãi không ngủ được, phải đến gần sáng mới thiếp đi.

Một tiếng gõ nhẹ vào cửa làm anh choàng tỉnh dậy. Tim đập thình thịch trong ngực.

- Ai? - Phê-đô hỏi, giọng khản đặc.

- Dậy ngay, - tiếng của Lu-kê-ri-a, - ông chủ gọi.

- A-a, tôi ra ngay bây giờ, - ngập ngừng một giây, Phê-đô đáp. Anh nghĩ thầm: «Mà sao lão ta không ngủ đi, đồ ăn bám...»

Trời có lẽ mới tờ mờ sáng, qua cửa sổ hiện ra một mảnh trời xanh nhạt phía trên các ngọn cây. Phê-đô đẩy cánh cửa sổ, nghe tiếng hót gọi mời của một con chim đơn độc. Làn không khí lạnh buổi sáng ùa vào phổi. Anh xỏ chân vào ủng và kéo then cửa. Cửa mở, anh lùi lại, ngoài cửa, như một bóng ma, Lu-kê-ri-a đứng trắng lốp...

«Bóng ma» bước vào phòng, chốt cửa lại, giơ hai tay ra, tiến về phía anh. Phê-đô nép sát vào tường, nghe hai đầu gối bủn rủn.

Lu-kê-ri-a đến sát, hai tay ôm lấy đầu anh và bắt đầu hôn lấy hôn để vào má, vào cằm, cố tìm gặp đôi môi của Phê-đô. Người ả bốc lên mùi rượu và một mùi gì đó nghe ngọt lịm, Phê-đô xoay đầu cố tránh khỏi cặp môi ướt nóng hổi của ả.

- Đi đi... đi! - anh rít lên lạc cả giọng.

- Cậu còn non lắm, chắc là chưa được thử, - Lu-kê-ri-a cười sằng sặc, áp má anh vào bộ ngực trần của mình.

Lần đầu tiên tiếp xúc với cơ thể đàn bà, Phê-đô nghe ngây ngất, trong đầu ngân lên. Không còn nhớ gì nữa, anh giằng mạnh ra...

Anh tỉnh lại thấy mình đang ở trong rừng, giữa một bụi cây rậm, và mãi anh vẫn không tin là tim mình đang đập hay là tai đang nghe tiếng thình thịch trong ngực của Lu-kê-ri-a.

Bình mình màu huyết dụ loang dần ra khắp bầu trời, tiếng chim líu lo hót đầy bốn phía. Ở một nơi nào đó, sát bên cạnh có tiếng chân trên cỏ.

- Phê-đô, Phê-đô, nào... - Lu-kê-ri-a khẽ gọi. - Cậu sợ gì thế, gã ngốc nghếch? Đúng là ngốc!

Phê-đô càng ép sát người xuống đất. Tiếng chân xa dần, rồi tắt hẳn. «Nếu mình không mở cửa sổ trước, chắc không chạy khỏi cô ả, đồ yêu tinh. - Phê-đô nghĩ thầm. - Không thể nào chạy khỏi...»

Anh nằm rất lâu trong bụi cây. Mặt trời đã lên, anh vẫn còn nằm, cho đến khi ngực nhức lên vì lạnh.

Cuối cùng anh đứng dậy, bước về trại. Cáp-ta-nốp ngồi sau bàn, người xám đen, mặt sưng phù, đang nuốt những miếng thịt xông khói. Trước mặt hắn là một chai rượu và một chiếc cốc. Lu-kê-ri-a mình quấn khăn ngồi đối diện.

- Mày, thằng quỷ con nhãi nhép, mất tăm mất dạng đi đâu hả? - mắt Cáp-ta-nốp long lên. - Sao đầu gối mày bẩn thế? Bò trên cỏ à? Sao lại câm như thế?

- Thế sao bà ấy lại lẻn đến chỗ tôi? - Phê-đô bỗng nói, gật đầu chỉ về phía Lu-kê-ri-a.

Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va ném sang Phê-đô một cái nhìn đầy cầu khẩn.

- Khoan, - Cáp-ta-nốp ném khúc xương đang gặm dở lên bàn. – Lẻn đến là thế nào?

- Thế thôi... Bà ấy bảo: «Dậy ngay, ông Mi-khai-in Lu-kich gọi». Tôi mở cửa, thế là bà ấy... Khi trời mới bắt đầu sáng...

- Mày nói láo cái gì thế, thằng hèn hạ kia!- Lu-kê-ri-a rít lên the thé.

- Câm! - Giọng Cáp-ta-nốp nặng như một hòn đá, át hẳn tiếng kêu của ả Lu-kê-ri-a. - Nó làm sao?

Phê-đô hoàn toàn luống cuống. Anh nhớ lại lời dặn trước của cha, nhưng không hiểu sao, anh lại thấy thương hại Lu-kê-ri-a. Anh cũng sợ cả cho mình - không biết Cáp-ta-nốp sẽ hiểu chuyện này ra sao và xử sự như thế nào? «Đúng, mình là thằng hèn hạ, - một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. - Làm hại đàn bà... Đáng lẽ phải nói câu cá từ sáng - mình đã có mấy con cá giếc rồi... Nhưng nói lại làm sao bây giờ? Chỉ có hại cho mình thêm thôi...»

- Cổ họng mày tắc rồi hả?! - Cáp-ta-nốp gầm lên. - Trả lời đi!

Bị thôi thúc bởi tiếng gầm đó, Phê-đô bật ra:

- Tôi không nói láo gì cả. Thế ai đã ghì đầu tôi vào ngực?

- Đồ mất dạy! Nói láo, nói láo! Nó nói láo đấy, anh Mi-khai-in Lu-kích...

Cáp-ta-nốp hoàn toàn không để tai đến những lời của Lu-kê-ri-a. Hắn cầm lấy chai rót một cốc rượu đầy, uống cạn, lấy ống tay áo chùi mép.

- Phê-đô, đưa tao cái roi. Treo ở trên tường ấy...

- Mi-khai-in Lu-kích! - Lu-kê-ri-a hét lên, tụt xuống ghế ôm lấy chân Cáp-ta-nốp.

Phê-đô lấy chiếc roi bốn cạnh rất nặng xuống đưa cho Cáp-ta-nốp. Hắn đứng dậy, lấy chân đá hất Lu-kê-ri-a ra giữa phòng, đồng thời vung roi quất mạnh. Ngay roi đầu tiên, chiếc áo chật căng của ả đã bục ra, và Phê-đô thấy một hằn đỏ vắt ngang trên làn da lưng rất mịn của Lu-kê-ri-a. Kêu rú lên, ả lồm cồm bò bốn tay chân đến bên tường, rồi đứng nhổm dậy...

Giơ hai tay để che mặt, Lu-kê-ri-a chạy cuống quít khắp phòng, còn Cáp-ta-nốp vẫn vụt roi liên tiếp, miệng hét:

- Đồ chó cái ngứa đít này! Mày lại bám lấy thằng trẻ ranh à? Tao gi-iết!..

Ngọn roi quất vun vút, Cáp-ta-nốp thở phì phò, còn Lu-kê-ri-a cứ khóc rú lên và vẫn không làm thế nào để tìm ra cánh cửa. Phê-đô sợ roi quất cả phải mình, nép sát vào tít trong góc. Cuối cùng, Lu-kê-ri-a tựa lưng đúng vào cánh cửa, ngã vào hành lang tối, văng ra tận thềm, lăn xuống sân. Ả lập tức nhổm dậy, hai tay ôm giữ những mẩu áo rách tả tơi trước ngực, chạy bổ ra đường về Mi-khai-lốp-ca.

Một lúc sau Cáp-ta-nốp và Phê-đô đã ngồi sau bàn nói chuyện một cách thân thiện. Cáp-ta-nốp uống nốt chai rượu của mình và hỏi tỉ mỉ về chuyến viếng thăm ban đêm của Lu-kê-ri-a. Lúc đầu, Phê-đô ngượng, nhưng sau bỗng lấy can đảm kể hết, cả chuyện Lu-kê-ri-a đi tìm từng bụi cây, gọi anh như thế nào.

- Thế đấy... - Cáp-ta-nốp hài lòng thốt lên và bắt đầu ì ạch đi lại trong phòng.

Phê-đô sợ hãi nhìn theo. Nhưng trông nét mặt ông chủ không thấy gì là có vẻ hăm dọa cả. Trái lại, hắn nhếch mép mỉm cười một cách lười biếng, khoan dung.

- Đàn bà là cái giống đê mạt lắm, chàng trai ạ. Nó là cái giống cáo ranh ma nhất. Có con cáo nào nằm mơ mà chẳng thấy gà...

Cáp-ta-nốp cúi xuống nhặt chiếc roi nằm dưới sàn nhà lên. Phê-đô xô ghế lùi tít vào góc phòng.

Gõ gõ cán roi vào lòng bàn tay, Cáp-ta-nốp giương cặp mắt ướt, đầy những vằn đỏ, nhìn Phê-đô với vẻ tò mò.

- Còn mày lớn lên sẽ thành một thằng đểu cũng khá đấy, - Cáp-ta-nốp nói. - Nhưng bây giờ tao lại cần mày như thế. Còn sau ta sẽ xem. Bây giờ cứ sống với cha mày ở đây. Tao sẽ cho gọi ông già đến. Một mình thì mày sẽ sợ, rồi lại còn đốt cháy trại của tao cũng chưa biết chừng. Thắng ngựa vào, gì mà cứ nép trong đó thế?!

Cho đến mùa thu, Phê-đô sống cùng cha ở trại Ô-gơ-nhép-xki. Cuộc sống ở đây cũng dễ chịu, thoải mái. Hai cha con đánh được hai đống cỏ khô cho ngựa, ngoài ra cũng chẳng có việc gì mà làm nữa. Phê-đô đi câu cá ngoài hồ, nhặt hái quả dại, đào bới trong vườn rau của trại, vác súng săn của chủ len lỏi trong các bãi lau sậy cạnh bờ hồ để bắn vịt trời. Lần đầu tiên anh cầm đến súng nhưng học rất nhanh, thậm chí đã biết cách bắn được vịt trời khi chúng đang bay.

- Thằng này khá đây! - người cha thán phục lắc đầu khi Phê-đô mang về có hôm phải đến hơn chục chú vịt trời.

- Thế này thì có gì! - Phê-đô khoát tay. - Đi săn gấu mới khoái. Cha nhé? Con đã thấy một chú gấu lang thang ở cảnh rừng đũm hương sau núi. Cha cho con vài viên đạn săn gấu đi!

- Tao sẽ cho mày xem gấu! -cha anh nghiêm mặt nói. - Mày điên à? Nó xé xác mày ra ngay, - và ông đem đạn giấu thật kỹ.

Mỗi khi Cáp-ta-nốp cùng với «lũ chó» - như cha anh gọi - đến, trong trại khói bốc lên suốt ngày. Từ sáng đến tối, tiếng hát, tiếng cười, tiếng kêu, tiếng rú vang lên khắp rừng, khắp mặt hồ.

Lần đâu tiên đến đây Xi-lan-chi đã cố tìm cách ngăn xa con khỏi cái đám bẩn thỉu này. Vừa nghe tiếng bánh xe gõ lộc cộc trên con đường rừng đầy rễ cây dẫn vào trại, tiếng cười nói say sưa, Xi-lan-chi liền chộp lấy súng săn, giúi vào tay con:

- Đi đi, ra những hồ nhỏ xa xa một tí. Đừng bắn ở trại làm các bà ấy sợ.

- Cha, sao lại thế? Có thể con giúp gì cho cha?

- Đi đi, tao bảo mày...

Nhưng chỉ mấy phút sau, Xi-lan-chi hiểu rằng những mưu kế của ông chỉ là vô ích. Vừa đến cửa, Cáp-ta-nốp đã đòi:

- Phê-đô, mày đâu rồi?

- Nó không có nhà. Vào rừng từ sớm rồi...

- Sao lại không có nhà? Phải về ngay đây! Vì vậy mà tao trả tiền chứ.

- Mi-khai-in Lu-kich, ông cho thằng bé thôi việc này đi... - Xi-lan-chi khẩn khoản.

- Thôi! Thôi thì thôi luôn cả hai... như Đê-mi-an thường khuyên tôi ấy. Ông muốn thế nào? Sẽ chết đói nhăn răng ra ngay. Rượu! Ra khuân thức nhắm ngoài xe vào! Khi tôi còn nuôi, cứ sống ở đây đã... Hễ Phê-đô về, bảo hắn phải đến ngay.

Chập tối, Phê-đô về đến trại.

- Thôi, con đi đi, - Xi-lan-chi không nhìn con, thở dài, - Đã năm sáu lần ông chủ hỏi con rồi đấy. Sao ông ấy thích mày như vậy?

Trong nhà, mặc dù các cửa sổ đều mở toang, khói bốc mù mịt. Một bọn đàn ông râu ria xồm xoàm, say rượu mặt đỏ gay ngồi xen kẽ sau bàn đang kéo rê một bài hát rầu rĩ.

- A a, mày về rồi đấy hả? Im lặng! - Cáp-ta-nốp quát lên. - Đây là Phê-đô, con lão Xi-lan-chi của tôi. Hắn sẽ là một người tô-ốt! Ngồi xuống đây, cạnh chủ, uống đi, chơi đi...

Cáp-ta-nốp đã say, khách của hắn còn say hơn. Hình như họ không hiểu Phê-đô là ai, nghĩ anh phải là người họ hàng của Cáp-ta-nốp, liền chen nhau đến ôm hôn. Phê-đô quay mặt tránh những cái mõm râu đâm tua tủa, xô những mụ đàn bà đầy mùi mồ hôi ra xa mình. Cáp-ta-nốp ngồi nhìn ra vẻ đắc ý lắm.

- Thôi, đủ rồi, đủ rồi! - cuối cùng hắn quát lên. - Các ả này, lui ra, cứ làm rối cả lên, lũ ngựa cái! Còn cậu này là một chàng trai đứng đắn, thiết gì đến các ả. Lần sau tao sẽ mang về thưởng cho mày một con bé thật kháu. Chỉ riêng cho mày thôi... Hay là Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va? Hả? Có muốn không? Tao sẽ bắt nó, đồ chó cái ấy, rửa chân cho mày, rồi lấy nước đó uống. Thế nào, muốn không, nói đi!

- Không muốn, - Phê-đô sợ hãi nói.

- Đúng lắm! - Cáp-ta-nốp phá ra cười. - Tốt lắm! Mày còn sớm quá. Cứ nhìn chúng tao cho quen dần đi. Phải tưởng tượng ra nữa. Còn khi nào muốn, nói với tao, nháy mắt là có ngay... Tao mà yêu ai thì không tiếc gì cả! Nêu mày muốn, tao sẽ nhận làm con. Nếu mày xứng đáng... Còn bây giờ uống một chén này, rồi đi đốt lò nhà tắm hơi lên với cha. Chỉ uống một chén thôi, chén thứ hai thì phải đợi lớn thêm tí nữa... Và nhớ những lời tao nói đấy. Tao sẽ mở mặt cho mày nên người...

Phê-đô chỉ mới uống rượu hai lần trong đời, và anh không thích, cả hai lần anh đều nghe nhức đầu rất lâu, sau đó lại buồn nôn. Nhưng mặc dù vậy, anh vẫn không dám trái lời Cáp-ta-nốp, uống hết chén.

Rượu vào gây cho anh một cảm giác như mọi lần. Đổ nước vào nồi lò, anh cảm thấy như sắp nôn. Nhưng anh vẫn không nôn được, cái cảm giác khó chịu cứ kéo dài.

- Làm sao mà họ uống được không biết? - anh nói với cha.

- Con đi gội đầu đi, hoặc là bơi một cái tốt hơn.

Phê-đô đi bơi, và quả nhiên dễ chịu hơn.

- Nếu bụng con không chứa được rượu chè, đây là điều tốt thôi, Phê-đô ạ. Thế lão Cáp-ta-nốp nói gì với con thế? Lúc cha ghé vào đó có nghe loáng thoáng...

- Nếu cha nghe rồi, còn hỏi gì nữa?

- Ô-ô-ô, con ạ... Lời nói như mật, nhưng phải ăn với gì? Nhận làm con... Lão ta cần con như cần cái lỗ thủng trên đầu...

Hai cha con ngồi xuống bờ hồ. Lấy một cành cây chọc chọc vào cát, Phê-đô hỏi:

- Nhưng cha ạ, nếu như thật thì sao?.. Với sự nâng đỡ của ông ta thì mình quả thật cũng có thể mở mày mở mặt được chứ?

Anh nói chậm rãi, tư lự. Lần đầu tiên Xi-lan-chi nghe trong những lời của con có một cái gì đó không còn trẻ con nữa, ông kinh ngạc kêu lên:

- Phê-đô?! Chẳng lẽ mày đã lớn thế rồi à? Lạy Chúa.

Mặt trời đã khuất sau rừng từ nửa giờ trước, hoàng hôn mát mẻ buông xuống khắp nơi. Trên đầu Xi-lan-chi và Phê-đô, đàn muỗi bay lượn kêu vo vo, thỉnh thoảng một vài con cá khẽ quẫy trong hồ, những vòng sóng tròn chậm chạp lan đi rất lâu trên mặt nước đen phẳng lặng và tan đi khi đến gần bờ.

Từ trong nhà, tiếng la hét của đám khách say vẳng ra, rồi tắt ngấm trong bóng đêm mỗi lúc một dày đặc.

- Này, cha bảo con điều này nhé, - sau một hồi lâu im lặng, Xi-lan-chi nói. - Con hãy tránh xa những lời nói của ông ta ra, như tránh rượu ấy. Không thì như người ta nói: tham một miếng, mất cả rổ.

- Sao lại thế? - Phê-đô nhún vai. - Lúc đầu con cũng nghĩ: sao ông ta lại gần gũi âu yếm quá với mình thế? Không hiểu được. Nhưng rồi lời của ông ta «nếu xứng đáng»... Có thể lời ông ta nói có nghĩa nào đó. Tại sao con lại không thử xem mình có xứng đáng không? Con cứ thử, chẳng sao, để rồi xem. Đợi khi con gái của ông ta lớn...

- Cái gì, cái gì? - Xi-lan-chi càng kinh ngạc hơn.

- Cái gì sao? - Phê-đô ngoảnh đầu lại nhìn thẳng vào mắt cha.

- Mày, thằng nhãi, nói lảm nhảm gì thế?

- Chẳng lẽ lại chưa có con gái nhà giàu nào lấy chồng nghèo hay sao?

- Cái thằng tính toán gớm nhỉ! - Xi-lan-chi gần như hoảng hốt thốt lên. - Nhưng mày có định trèo cao quá không đấy? Mà con An-na nhà ông ta hãy còn bé tí, chỉ mới mười tuổi đầu...

- Thì đi đâu mà vội? Con sẽ đợi. - Và Phê-đô đứng dậy.

Và một lần nữa Xi-lan-chi lại cảm thấy như đứng cạnh mình không phải là đứa con trai mười lăm tuổi, mà là một người lớn nào khác, một người đàn ông xa lạ, tính toán khôn ngoan.

- Thế những điều này... bám vào đầu mày từ bao giờ thế? Nó gắn vào đầu mày khi nào vậy?

- Không biết nữa, cha ạ... - Phê-đô thành thật thú nhận. - Hoặc là khi ông ta đánh Lu-kê-ri-a, rồi ngồi cùng bàn nói chuyện với con, hoặc cũng có thể hôm nay. Bởi vì, ông ta nói phải có một ý gì đó: nếu xứng đáng tao sẽ nhận làm con... Khi say, không ai nói những lời như vậy.

- Lạy Chúa! Lạy Chúa! - Xi-lan-chi chỉ còn biết thốt lên.

Cáp-ta-nốp cùng đám khách khứa của mình chơi chán rồi đi, cuộc sống ở trại lại trôi như cũ. Nhưng trong quan hệ giữa cha và con có một cái gì thay đổi, trở nên nghiêm khắc, giữ ý hơn. Họ ít nói chuyện hơn, thường chỉ im lặng. Phê-đô đi lại trong trại trầm ngâm, thường xuyên như đang nhớ lại một chuyện gì, đôi lúc bơi thuyền ra tận giữa hồ, nhưng lại quên không mang theo cần câu, anh nằm lên mũi thuyền, hai tay đặt dưới gáy và rất lâu, hàng giờ liền, nhìn lên bầu trời trống trải. Xi-lan-chi nhìn theo con, thở dài. Nhưng ông không gợi lại những câu chuyện như hôm ở bên nhà tắm hơi nữa.

Sự lo lắng rằng cuộc sống ở trại sẽ làm cho Phê-đô hư hỏng đã tỏ ra là vô ích. Như lúc đầu, thỉnh thoảng Phê-đô lại uống với chủ một chén rượu, nhưng chỉ có thế, không hơn. Với các «cô nương» của Cáp-ta-nốp, anh không hề tỏ ra có một sự quan tâm nào cả. Khi có ả nào đó quá say, không hiểu đùa hay thật, quấn lấy Phê-đô, anh không ngần ngại tát thẳng vào mặt, nói:

- Bước ngay, đồ sâu bọ... Ông lại trói chân lại bây giờ.

Việc này làm cho Cáp-ta-nốp thích thú.

- Này, các cô em của tôi ơi... Ai quyến rũ được Phê-đô - thưởng một trăm rúp! Cố lên! - và hắn phá ra cười.

Một lần, trong số những người đàn ông, đàn bà hắn mang vào trại có cả Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va.

- Đây, Phê-đô này, - Cáp-ta-nốp vỗ lên tấm lưng thon của Lu-kê-ri-a, - Suốt ngày Lu-kê-ri-a cứ làm cho tao phát ngấy: đưa em đến gặp Phê-đô đi.

- Anh nói gì vậy, Mi-khai-in Lu-kích? - Lu-kê-ri-a van vỉ.

- Thôi! - Cáp-ta-nốp quát và quay đi như đã quên hẳn ả.

Lần này Cáp-ta-nốp ở lại ba ngày, và suốt thời gian đó cô ả Lu-kê-ri-a say rượu cứ như chiếc bóng bám riết lấy Phê-đô, canh từng bước đi của anh, có dịp là tìm cách ôm chầm lấy.

- Bước ngay, đồ sâu bọ, - Phê-đô nói câu thường lệ của mình, cố gỡ ả ra trong tiếng hò hét, tiếng huýt gió của bọn khách Cáp-ta-nốp.

Chiều ngày thứ hai, chọn lúc thuận tiện, ả nói khẽ vào tai Phê-đô bằng một giọng tỉnh táo, và như anh nghĩ, đầy khẩn khoản, thương hại:

- Thương tôi với, Phê-đô... Họ đang bày trò đấy, cậu không hiểu à? Nhưng tôi không thể trái lời ông chủ được...

- Mặc chị, đi đi! Đừng lôi thôi! - Phê-đô cắt ngang.

Đêm đó, anh vào rừng ngủ trong một đống cỏ khô.

Ngày thứ ba, anh mang theo bên mình một ngọn roi, chính là cái roi mà lần trước Cáp-ta-nốp đã đánh Lu-kê-ri-a.

- A-a, không được à, cái đồ mõm ngựa? - Cáp-ta-nốp hét lên, giọng say khướt, đầy ác ý, lắc lắc chiếc đầu rối bù. - Không đủ tài à?! Coi chừng đấy, ngày hạn cuối cùng đấy...

Vào «ngày cuối cùng», như thường lệ, phải đốt lò nhà tắm hơi. Nhét roi vào ủng, Phê-đô xách nước đổ đầy chiếc vạc lớn tướng, rồi ngồi xuống nghỉ cạnh tường, ngoài nắng. Xi-lan-chi đốt lò xong, cũng ngồi xuống bên cạnh.

- Phê-đô, con vào rừng để tránh chuyện đi, - ông nói. - Về lấy khẩu súng và đi đi... Coi chừng, hôm nay Cáp-ta-nốp sẽ bắt con vào nhà tắm hơi với con ngựa cái đấy. Chúng nó thì kể gì, mất hết tính người rồi.

- Chúng nó mất, nhưng con lại được... Ngay từ phút đầu, con đã hiểu rằng không phải Lu-kê-ri-a, mà chính Cáp-ta-nốp đang chơi trò với con. Nhưng con sẽ thắng.

- Nghĩa là làm sao?

- Là... Thôi cha đi đi... Đấy, con Lu-kê-ri-a đã ra đấy... Cha tránh đi.

Ông giả thở phì phò, đứng dậy, ì ạch đi về phía chuồng ngựa.

- Phê-đô, Phê-đô... - Lu-kê-ri-a lập tức chạy bổ đến bên nhà tắm.

- Bước ngay! - Phê-đô đẩy mạnh vào ngực ả, rồi bỏ ra phía sau nhà.

- Phê-đô... Thương tôi với... - ả đàn bà đuổi kịp anh.

Mặt bọn khách Cáp-ta-nốp thấp thoáng phía trong cửa sổ. Nhận thấy thế, Phê-đô liền túm lấy tóc Lu-kê-ri-a, quật ả ngã xuống đất. Phơi đôi chân trần trắng nõn, ả lăn dài trên cỏ. Phê-đô rút roi từ ống ủng ra và bắt đầu nhằm đôi chân trần, nhằm lưng và đầu của ả mà quất. Bọn người trong nhà hò la, huýt sáo ầm ĩ. Lu-kê-ri-a định đứng dậy, nhưng lại ngã xuống, người co rúm lại, hai tay che đầu, giật nảy mình lên dưới ngọn roi của Phê-đô...

Phê-đô chỉ dừng lại khi bị một người nào đó túm lấy cổ áo lắc mạnh.

- Mày làm tàn tật nó thì sao?! - Cáp-ta-nốp quát lên, bộ ria hắn gần như đâm vào mặt Phê-đô. - Mày đánh trúng mắt, lúc đó làm thế nào?!

- Không sao, còn một mắt cũng chẳng hề gì?! - Phê-đô hét lên và cáu kỉnh vùng ra khỏi bàn tay Cáp-ta-nốp. Nhưng anh không thoát ra được.

- Đúng là con sói con! - Cáp-ta-nốp bỗng phá lên cười, buông Phê-đô ra. Hắn lấy chân đá vào người Lu-kê-ri-a vẫn đang nằm trên cỏ. - Dậy đi! Và mày cũng đi với tao, uống một chén rượu, rồi vào tắm.

- Tôi không uống đâu. Không uống được.

- Thôi được, - Cáp-ta-nốp dễ dãi đồng ý. - Thì vào ngồi bên cạnh. Rồi sẽ đi tắm cùng tao. Vào buồng hơi thứ nhất. Tao thích tắm ở buồng hơi thứ nhất.

Hai giờ sau, Phê-đô há hốc miệng ra ngáp như cá bị vứt lên cạn, nằm trên sàn nhà tắm trơn mát, còn Cáp-ta-nốp đang tắm hơi trên bệ cao, dùng chổi tắm quất phành phạch lên người.

- Phê-đô ạ! - thỉnh thoảng, nằm khuất trong làn hơi nước nóng bỏng và dày đặc, hắn lại hét vọng xuống. - Cho thêm một gầu nữa...

Phê-đô đứng dậy, và lập tức anh như bị nước sôi giội vào tai, vào mũi, lên má, lên cả đầu. Anh hấp tấp múc từ trong vò ra một gầu nước cvát mà cha anh đã chuẩn bị sẵn từ trước để dùng riêng cho việc này, đổ lên mặt đá nóng bỏng và ngã xoài ngay xuống sàn.

«Sao mà hắn không bị hun chín đi ở trên ấy nhỉ?» - anh thở hổn hển, nghĩ về Cáp-ta-nốp.

Tắm hơi chán, Cáp-ta-nốp chạy ra ngoài trời, lấy đà nhảy tõm xuống hồ, bơi trong làn nước lạnh như một khúc gỗ nặng, rồi lại chạy vào nhà tắm, xỏ tay vào bao găng da, chụp mũ lên đầu, leo lên bệ...

Lúc mặc quần áo trong phòng ngoài, hắn nói:

- Thế là hết say ngay. Cách tốt nhất đấy. Ngay từ sáng mai tao lại bắt tay vào việc. Phải thế chứ! Đời của tao là: uống cho nhiều, làm cho khôn. Lử rồi hả?

- Nóng quá...

- Thằng Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin chịu nóng giỏi lắm. Tao rất thích tắm hơi với hắn. Hắn mà quất chổi tắm cho tao thì thật là khoái. Đuổi hắn đi cũng tiếc, nhưng trong mắt hắn bắt đầu có một cái gì như dao cứa. Mày tưởng tao đuổi hắn vì lũ đàn bà đấy à? Đàn bà thì cả đống, muốn dùng đứa nào thì cứ việc, tao đâu có tiếc. Trời sinh ra chúng chỉ là để cho việc ấy mà thôi. Nhưng tao không ưa cái như dao cứa trong mắt của hắn. Bình thường thì cũng không sao, nhưng đôi lúc mắt hắn nhìn như chặt đôi người ta ra, thằng chó đẻ. Tao bảo: «Mày đang nghĩ gì thế, nói ra nghe xem thử nào?» - «Không gì cả», - hắn nói. Cũng có thể là không gì thật, nhưng thật khó hiểu. Mà tao thì không thích những gì khó hiểu. Hắn là thằng quản lý giỏi, trung thực. Nhưng nếu như cái dao cứa trong mắt hắn không mất đi, tao cũng tống cổ, không tiếc. Còn mày thì không có cái dao cứa ấy. Nhưng biết đâu rồi cũng sẽ có? Hả?

- Tôi... tôi không biết. Dao cứa nào? - Phê-đô hỏi, nhưng trong bụng lại nghĩ: «về chuyện đàn bà thì ông nói láo... Ông định đánh bẫy lừa đây mà».

- Nào à? Thôi được, sẽ đợi xem... Lấy ra đây một cốc cvát uống.

Mặc quần lót xong, Cáp-ta-nốp dùng khăn lau rất lâu bộ ngực đầy lông lá, đẫm mồ hôi.

- Này, Phê-đô ạ, tao nói với mày không phải là khi đang say nữa đâu, mà với đầu óc tỉnh táo hoàn toàn, - Cáp-ta-nốp bỗng nói. - Chuyện tao sẽ nhận mày làm con nuôi, đừng tin. Tao cũng có con trai của tao, Di-nô-vi. Sau tao, hắn sẽ là chủ của cả cơ ngơi này. Bây giờ tao đang dạy hắn học buôn bán. Tao chưa cho hắn vào đây, vì chẳng được ích gì cả, còn quá sớm. Rồi đến lúc tự hắn cũng sẽ biết. Nhưng tao có thể làm cho mày nên người, nếu mày hầu hạ tao hết lòng, tận tụy. Nếu mày trung thành như con chó với chủ. Những người trung thành thì bao giờ tao cũng cần, Phê-đô ạ. Những người như Đê-mi-an I-nhi-u-chin ấy. Đê-mi-an thì đúng là trời cho tao. Nhưng trời cũng ít cho những người như vậy lắm, vì vậy tự tao phải làm ra. Cũng cần phải chuẩn bị người thay thế cho Đê-mi-an nữa. Tao đã nghĩ là có thể lấy thằng Pô-li-các-pơ Cru-gi-lin. Nhưng không, con mắt hắn long lên như dao cứa. Bây giờ thì tao lại đang nhằm mày đấy. Hiểu chưa?

- Tôi ấy à? Ông Mi-khai-in Lu-kích, tôi sẽ gắng sức. - Phê-đô nghe tim như ngừng đập.

- Nói chung, Phê-đô ạ, tao đã nói thật hết với mày rồi đấy. Mày còn trẻ, nhưng ngay từ đầu nên nghĩ đến vận mệnh của mình đi. Tất cả phụ thuộc vào mày. Cha mày là một nông dân trung thực, làm việc giỏi. Mày chắc cũng như vậy. Cha mày không gặp may trong cuộc đời, không túm được đuôi của số phận. Còn mày, tao đem cái đuôi ấy đặt vào tay cho. Không phải ai tao cũng đặt cho đâu...

Mặc quần áo xong, hắn cười nhạt tiếp.

- Còn với Lu-kê-ri-a, mày làm như vậy hoài của. Đúng là mày còn trẻ con. Chưa lần nào thử ngủ với đàn bà à?

- Không... - Phê-đô đỏ mặt.

- Ở trong nhà tắm, tao để ý nhìn mày cũng đủ cả lệ bộ đấy chứ. Cũng sẽ làm được không kém gì ai...

- Tôi sẽ không làm chuyện ấy đâu.

- Ấy ấy! Nói láo, sẽ đến lúc...

- Tôi không biết... Nhưng tôi không muốn bị vấy bẩn...

- Mày sợ bị thiệt hay sao?

- Tôi không biết. Chỉ có điều đôi lúc tôi nghĩ: chắc rồi tôi sẽ lấy một người nào đó làm vợ. Muốn dành tất cả cho cô ta...

- Sao-o?!- Cáp-ta-nốp lại kéo dài giọng. - Mày càng ngày càng làm tao tò mò... Lần trước mày bán đứng con Lu- kê-ri-a, tao còn hiểu được. Tao nghĩ...

- Tôi bán Lu-kê-ri-a làm sao được?

- Sao lại không? Một sự chân thành tuyệt đối rất hiếm gặp, thực tế là không có. Ai cũng tìm cái lợi cho mình... Và tao nghĩ, mày bán Lu-kê-ri-a để lấy lợi cho mình.

Phê-đô chỉ nhún vai, dường như không hiểu Cáp-ta-nốp nói gì. Rồi anh nói:

- Sao, hay là tôi không nên nói những chuyện đó ra? Lu- kê-ri-a trốn từ giường ông ra mà. Nếu thế, tức là tôi đã lừa dối ông, ông Mi-khai-in Lu-kích ạ...

Cáp-ta-nốp nheo mắt nhìn Phê-đô rất lâu. Phê-đô không ngoảnh mặt đi, chớp mắt một cách tự nhiên, không giấu giếm.

- Thế đấy, - cuối cùng Cáp-ta-nốp lên tiếng. - Nếu như vậy thì tốt... Nếu vậy thì tốt lắm. Chỉ có điều tao vẫn không tin vào những sự chân thật trần trụi. Cuộc đời đã dạy cho tao không được tin. Tao có cảm tưởng: mày quả là còn trẻ lắm, nhưng cũng đã ranh ma quỷ quái ra trò rồi...

Và Cáp-ta-nốp đứng dậy, đi ra khỏi phòng mặc quần áo.

- Thôi được, Phê-đô ạ... Dù cho tao là thằng rượu chè, hám gái, nhưng mắt tao nhìn người tinh lắm. Cứ đợi xem, đợi xem, và dần dần sẽ hiểu thực chất mày là loại người nào...

* * *

Thằng con thứ của ông rồi sẽ lớn lên thành «loại người nào», đó cũng là điều mà bây giờ Xi-lan-chi thường hay nghĩ tới. Sau lần Phê-đô dùng roi đánh Lu-kê-ri-a rồi cùng tắm với Cáp-ta-nốp trong nhà tắm hơi, anh trở nên rất ít nói. Thỉnh thoảng anh ngồi rất lâu sau bàn, tay quấy mãi chiếc thìa trong cốc nước, và Xi-lan-chi hiểu rằng ý nghĩ của con trai ông đang để ở một nơi nào đó rất xa.

- Mày lại đang nghĩ ra những mưu mô mới gì đó hả? - Xi-lan-chi hỏi.

- Không ạ, - Phê đô nói lảng.

Mùa thu đang về, lá những cây hoàn diệp liễu khẳng khiu trong rừng đổi màu đỏ như máu, những ngọn bạch dương bị cái nóng mùa hè thiêu đốt cuối cùng cũng đã bắt đầu héo vàng. Trời còn ấm, gió lạnh chưa về, nhưng đã có cảm giác sát kề cái mùa mưa dầm gió buốt, cái mùa lá vàng ẩm ướt nặng nề rơi phủ đầy trên các bãi cỏ úa tàn. Bây giờ các bãi cỏ trong rừng dù đã trở nên thưa thớt, héo khô, nhưng vẫn còn sạch sẽ. Chỉ có càng ngày Phê-đô càng gặp nhiều những cây bạch dương và hoàn diệp liễu với những lớp lá khô trải rất khéo thành vòng tròn dưới gốc. Như thế có nghĩa là vừa mới ngay đây có một chú sóc nhảy lên cành cây đầy lá vàng, nhún nhảy rung, và mấy chục chiếc lá lặng lẽ lìa cành xếp thành một lớp mỏng trên mặt đất.

Những cánh đồng của nhà Cáp-ta-nốp bắt đầu vụ mùa, mà có lẽ vì vậy nên ông chủ không vào trại Ô-gơ-nhép-xki nữa.

- Ông Mi-khai-in Lu-kích dạo này ăn chay lâu gớm, - mấy lần Phê-đô buột miệng.

Hai ba lần Xi-lan-chi im lặng, lần cuối cùng ông hỏi:

- Mày lại nhớ cái ổ chó đó chắc?

- Con thì có can hệ gì? - Phê-đô nhún vai. Nhưng một phút sau, anh bỗng nói tiếp: - Ổ chó hay không ổ chó, chỉ có điều ông chủ sống thật sướng. Sống thả cửa.

- Thế đấy... - Xi-lan-chi kéo dài giọng. - Mày thèm hả?

- Cha thì... thế cũng nói, - người con trai càu nhàu vẻ tự ái.

«Thế cũng nói... Mình thèm cái gì?» - suốt mấy ngày sau Phê-đô vẫn cứ cau có và bướng bỉnh nghĩ, không chịu thú nhận với cả chính mình, rằng trong người anh quá thật đã bắt đầu cựa quậy một sự thèm muốn cái cuộc sống đầy truy hoan, phóng đãng của ông chủ, sự thèm muốn đó đang loang ra khắp người, tràn đầy những chỗ dễ dàng bị xâm chiếm nhất. Nó có lẽ cũng như dòng nước nhỏ mùa tuyết tan chảy dọc theo một lạch con mọc đầy cỏ, bỗng nhiên gặp một chỗ cỏ bị nhổ mất, lòng đất mềm hơn; và từng tí, từng tí một, dòng nước dần dần xói mòn đất, cuốn đi. Dòng nước vẫn chảy, và xem kìa, tại chỗ đó đã là một hố nhỏ, rộng chừng mươi, mười hai xăng-ti-mét, bên thành hố trồi ra mấy cụm rễ có đủ màu nâu, đen, trắng... Bây giờ cái hố đó chưa có gì là phiền hà, đáng sợ cả, có thể bước qua, đi qua, mà thậm chí không nhận thấy nó. Nhưng nước mưa tiếp tục chảy theo lạch mòn cũ, tiếp tục từng tí một xói đất trong hố mang đi, đến mùa thu hố đã sâu gấp đôi, thậm chí có thể gấp ba, gấp bốn, nếu như lại gặp những trận mưa rào lớn, dai dẳng. Mùa đông đến, tuyết rơi đầy hố, lấp bằng với mặt đất xung quanh, phủ lên trên một lớp trắng dày hàng mét. Mùa xuân năm sau, ở chỗ này tuyết lắng xuống sớm hơn nơi khác chừng một tuần lễ, để lộ miệng hố vẫn còn đang đóng băng, và những dòng nước nhỏ rịn ra từ dưới lớp tuyết phủ trên mặt đất chảy theo bờ thành băng vào hố. Mặt trời mỗi ngày một trở nên nóng hơn, làm tan lớp vỏ băng xung quanh thành hố. Và đấy, từng dòng nước nặng giờ đây róc rách chảy từ độ cao nửa mét xuống dưới, cuốn theo - không còn là từng hạt nhỏ nữa, - mà cả từng hòn, từng mảng đất lớn... Sang năm thứ ba, một dòng thác thật sự chảy từ độ cao mét rưỡi xuống, những tia nước lấp lánh dưới ánh mặt trời bắn tung tóe thành cầu vồng bảy sắc. Năm thứ tư đã là cả một con sông réo ầm ầm mang theo những tảng đất nhỏ, rễ cỏ, cành cây con... Và thêm mấy năm nữa, con người đến chỗ này phải thốt lên kinh ngạc: cái cánh đồng màu xanh bằng phẳng, lấp lánh trong nắng màu ngọc bích, giờ bị một khe đất sâu hoắm, đen ngòm, xấu xí cắt làm đôi. Cái khe đất đó mỗi năm một lớn thêm, như vết thương thối rữa, và cánh đồng rên rỉ đau thương nhưng không có cách nào làm cho lành lại được...

Không hiểu rằng trong lòng mình đang cựa quậy một sự thèm khát cuộc sống của Cáp-ta-nốp, Phê-đô nóng lòng chờ ông chủ trở lại trại. «Với một cô ả hay là lại cả đám?- anh nghĩ thầm, và không hiểu vì sao, hồi hộp nghe tim đập đến đau tức trong lồng ngực. - Mà cũng có thể, lại là với Lu-kê-ri-a?»

Nếu như Cáp-ta-nốp lại đưa Lu-kê-ri-a đến và cô ả lại bám lấy Phê-đô, thì Phê-đô lại sẽ dùng roi quất như lần trước. Điều này anh biết chắc chắn là như vậy. Nhưng dù sao, ngoài ý muốn của mình, Phê-đô vẫn nhớ lại cảnh Lu-kê-ri-a lần đầu tiên gõ cửa phòng anh, đến với anh trong đêm tối, bàn tay giơ ra phía trước, ghì chặt mặt anh vào ngực trần của mình... Nhớ lại những điều này, đầu anh như ngây ngất, máu nóng ran khắp người. «Đồ dịch hạch, cứ bám riết lấy...» - anh nghiến chặt răng đến đau nhức, đi ra hồ hụp thật sâu xuống tận tầng nước lạnh dưới đáy.

Đêm đêm, anh lại mơ thấy Lu-kê-ri-a và các «cô nương» của Cáp-ta-nốp. Ăn mặc hở hang, say sưa, họ ngồi sau bàn, nằm ngổn ngang trong các phòng, kéo nhau vào nhả tắm hơi, la ó ầm ĩ nhảy xuống hồ, những tấm thân trần truồng thấp thoáng...

- Đồ quỷ! - Phê-đô ngồi bật dậy trên giường, lấy tay ép chặt trái tim đang đập mạnh.

- Gì thế?! - cha anh ngồi dậy hỏi.

- Không... Mơ thấy đủ thứ...

Nhưng, bỗng nhiên cuộc đời lại đổi sang hướng khác.

Một đêm, như thường lệ, Phê-đô mãi vẫn chưa ngủ được. Bỗng anh nghe thấy như có người nào gõ vào cửa sổ. Anh nhổm dậy trên giường, lặng người nghe ngóng. Lại có tiếng cào vào mặt kính và một bóng người thấp thoáng lay động trong bóng tối ngoài cửa sổ.

- Cha ơi! - Phê-đô chộp lấy súng, kêu khẽ.

- Cái gì? Ai? - ông già chồm dậy.

- Có ai ngoài cửa sổ... Chắc không phải gấu... Ngựa không hí.

- Thế thì gấu nào? Mày lại mê thấy cái ma quỷ gì đó.

Phê-đô đứng dậy thận trọng đi đến bên cửa sổ. Và anh thấy một bóng người đứng dưới gốc cây cách nhà chừng ba chục mét.

- Cha ơi, có người thật... Đấy, dưới gốc thông ấy... Để con đi hỏi xem ai.

- Đi đâu?! Chắc lại một thằng trộm cướp khổ sai vượt ngục nào đó... Quay lại đi! - Xi-lan-chi kêu lên, nhưng Phê-đô đã xách súng chạy ra nhà ngoài, cố gắng không gây tiếng động, mở cửa nhảy xuống thểm, lần theo tường đi về phía góc nhà.

Anh đi đến bên gốc thông không một tiếng động, giương súng lên.

- Ai? - Phê-đô lên tiếng. Và thấy bóng người quay lại, anh tiếp, giọng hăm dọa. -Đứng yên, không động đậy. Đây là khẩu súng săn gấu, bắn vỡ đầu ngay. Anh là ai? Cần gì?!

- Thế anh là ai? Phê-đô phải không? - bóng người hỏi khẽ.

- Vâng, Phê-đô... Nhưng anh là ai?

- Bỏ súng xuống đi... Không lại bắn phải anh ruột bây giờ.

- Sao-o? Anh ruột nào? - Phê-đô ngạc nhiên.

- Chỉ có hai cha con ở đây à?

- Chỉ có hai cha con, - Phê-đô hoàn toàn không còn hiểu gì, lặp lại.

Sau nhiều năm bặt tin, người con trai cả của Xi-lan-chi - An-tôn - bỗng nhiên xuất hiện đột ngột như thế đấy.

- Trời ơi, An-tôn?! Con từ đâu về thế này?! – Mấy phút sau, ông già Xi-lan-chi lắp bắp kêu lên, vội vã châm đèn, quanh quẩn đi lại bên bàn. - Đây, quả là người khách bất ngờ... Tay con làm sao thế này?

Tay phải của An-tôn bó trong một mớ giẻ bẩn thỉu và treo lên cổ bằng tấm khăn bịt đầu của phụ nữ.

- Bị vướng phải cây ở trong rừng.

- Sao lại đi đêm, lén lút như thế này?

- Cha biết không... Hiện nay ban ngày... con đi không tiện lắm. Con đã về Mi-khai-lốp-ca. Mẹ bảo cha đang ở đây.

- Trời ơi... Con ở nhà tù trốn ra à?! - Xi-lan-chi đã đoán ra. - Hóa ra Đê-mi-an I-nhi-u-chin nói đúng sao?

- Có lẽ đúng, - An-tôn mỉm cười và ngoảnh lại phía Phê-đô. - Còn em, lẻn đến cạnh anh khéo lắm. Anh, em đừng giận, cứ nghĩ: không biết thằng em lớn lên có đẩn độn như trước nữa không? Hình như anh nhầm.

- Cái đó tùy anh, - Phê-đô lẩm bẩm.

- Cha xem kìa, nó lớn thật rồi! Đúng là một chàng trai thực thụ. Cả I-van cũng lớn. Khi con đi, nó còn bò dưới bàn, mà giờ... Thời gian trôi nhanh thật.

- Đưa tay đây xem nào.

- Tay con giờ gay lắm. Chỉ còn hy vọng cha chữa cho nữa thôi đấy. - An-tôn nói và mở băng ra. - Nào, Phê-đô mang nước đến đây.

- Vướng câ-ây à?! - Xi-lan-chi thốt kêu lên khi nhìn thấy cánh tay sưng và tím xanh của con. - Bị đạn phải không?

- Chắc là không phải bị súng cao su. Cha có i-ốt không? Một loại thuốc mà...

- Ở đây thì lấy đâu ra thuốc? Không sao, sẽ chữa bằng lá cũng khỏi.

An-tôn giờ trở nên xa lạ, khác hẳn. Người to lớn, chắc nịch, trán dô thêm ra, mái tóc rậm màu bạch kim hơi xoăn, cặp mắt xám nhìn xuyên suốt. Má và cằm mọc đầy một lớp râu hơi xoăn và cũng một màu sáng như bạch kim.

Anh không ăn mặc như người tù, chiếc áo vét tuy đã cũ, nhưng còn bền, quần vải bạt, mũ cát-két với lưỡi trai cứng và ngắn ngủn.

- Cha đoán ngay ra, bảo chắc là một thằng trộm cướp khổ sai vượt ngục nào đó, - Phê-đô nói, giội nước lên cánh tay bị thương của An-tôn.

- Thứ nhất, anh chưa phải là tù khổ sai. Bây giờ nếu bị bắt, thì lại là chuyện khác. Và sau nữa, khổ sai có đủ loại người, Phê-đô ạ. Có cả trộm cướp, nhưng cũng có cả những người đứng đắn.

- Anh chắc vẫn là người đứng đắn? Nếu như anh sẽ bị bắt ấy?

- Chắc chắn không phải là trộm cướp rồi, - An-tôn nháy mắt, băng lại tay.

- Con ơi, con ơi, giờ con ăn đi đã, - ông già Xi-lan-chi vẫn lăng xăng bày bát ra bàn, vội vã cắt bánh mì. - Hay là uống một chén?

- Cũng có thể uống một chén, cha ạ, - An-tôn đồng ý. - Mẹ cũng đã kể cho con nghe về công việc của cái trại này. Cáp-ta-nốp hình như đang đi đâu đó trong vùng, chắc hôm nay sẽ không đến đây chứ?

- Chắc không. Hơn nữa, I-nhi-u-chin thường thường phải mang các thứ đến đây trước một - hai ngày. Hắn, lão I-nhi-u-chin ấy mà, hồi năm linh sáu nói con đã phải ngồi tù... Thế con ở tù từ đó đến nay à?

- Sao lại thế để làm gì? Thỉnh thoảng cũng phải ra ngoài chứ. Nói chung con định sống bí mật ở đây đợi cho tay khỏi đã. Tay thế này thì con không thể đi dâu được.

- Cứ ở đây, con ạ, cứ ở đây... Chỗ này muốn trốn hàng năm cũng được, còn ngày mai cha sẽ đi vào rừng kiếm lá thuốc. Ở đây có loại lá chống mủ tốt lắm. Cũng chẳng phải lo khi ông chủ với đoàn khách khứa đến. Bọn họ từ xa đã la ó ầm ĩ lên rồi.

- Còn Đê-mi-an I-nhi-u-chin thì sao? Hắn bao giờ cũng đến một cách im lặng, - Phê-đô nói.

- Đúng vậy, hắn y như con cáo... Nhưng ta sẽ nghĩ cách. Con ăn đi. Bây giờ còn ấm, con sẽ ngủ trên vựa cỏ ngoài chuồng ngựa. Có chuyện gì thì nhảy xuống đất biến vào rừng ngay. Chuồng ngựa ở đây nằm sát ngay bên mép rừng.

- Con thấy thế tiện đấy, cha ạ.

Sáng hôm sau, mặt trời còn chưa mọc, Xi-lan-chi đã ở ngoài rừng về, bảo Phê-đô:

- Con mang súng ra ngồi ngoài lùm cây cạnh con đường dẫn đến Đầm Hạc. Nếu thấy có người bắn một phát, làm như săn vịt. Còn cha đi đốt lò nhà tắm và nấu thuốc. An-tôn cũng cần phải tắm rửa, không thì...

- Vâng ạ.

Cho đến tận chiều tối, Phê-đô ngồi trong lùm cây, mắt nhìn ra đường và suy nghĩ về An-tôn. Sự xuất hiện của người anh làm cho Phê-đô lo lắng thật sự. Thứ nhất, Phê-đô nghĩ, tuy không phải là khổ sai, nhưng vẫn là tù vượt ngục. Thứ hai, nếu không là trộm cướp thì tại sao lại phải ngồi tù? Chẳng lẽ người ta lại bỏ tù những người đứng đắn à? Và thứ ba, nếu An-tôn bị bắt ở đây thì sao? Cáp-ta-nốp sẽ làm gì? Chắc hẳn trước tiên ông ta sẽ hỏi: «Phê-đô, tại sao mày không nói với tao chuyện anh mày ở đây?»

Khi trời đã tối, Phê-đô trở về trại. An-tôn tắm rửa sạch sẽ, nghỉ ngơi tươi tỉnh, vui vẻ chào em:

- A-a, ông cảnh vệ! Cảm ơn em nhé... Anh tắm một cái khoái, tay cũng rửa sạch. Chỉ có điều ngày nào cũng phải canh cái con đường vắng ấy thì mệt lắm. Có lẽ ta ở đây chú ý đề phòng là hơn.

- Em cũng chẳng biết thế nào hơn cả. Tùy anh.

Nói chuyện một lúc, An-tôn ra chuồng ngựa ngủ. Phê-đô hỏi cha:

- Vậy anh An-tôn là người như thế nào? Ăn trộm hay là lừa đảo gì?

- Mày nói nhảm gì vậy?! - Xi-lan-chi giận dữ hỏi.

- Thế không hiểu tại sao người ta lại giam anh ấy?

- Mày không hiểu à? Thế tao, mày cho là hiểu chắc?! - cha anh vẫn nói với một giọng giận dữ như vậy. Và ông thở phì phò trên giường, tiếp: - Nó bảo: con là tù chính trị.

- Chính trị là gì?

- Làm sao mà tao biết được? Nó bảo: chúng con đấu tranh chống bóc lột, áp bức.

- Nhưng bóc lột là gì?

- Là gì, là gì... Đấy, nó nói: «Cáp-ta-nốp là một thằng bóc lột. Vắt hết mồ hôi sức lực mọi người, mà chỉ trả cho mấy xu tiền công, bao nhiêu đồng rúp thì bỏ vào túi. Vì vậy mà rửng mỡ lên, ăn chơi đàng điếm ở cái trại này».

«À, thế thì nhất định Cáp-ta-nốp sẽ hỏi mình tại sao lại giấu An-tôn ở đây?» - Phê-đô lo lắng nghĩ thầm.

- Nhưng chúng ta thì không sao, sống ở trại ông ta cũng tốt. Còn ông ta là bóc lột hay là gì...

- Mày còn ngốc lắm, con ạ, - cha anh lại nổi giận.

Một tuần rưỡi - hai tuần trôi qua bình yên. Không thấy bóng của Đê-mi-an I-nhi-u-chin cũng như Cáp-ta-nốp đến. An-tôn vui vẻ, hay nói chuyện, nhưng Phê-đô thấy anh phút nào cũng đề phòng, cảnh giác. Hầu như suốt ngày anh nằm trên vựa cỏ ngoài chuồng ngựa, ít khi vào nhà, trừ các bữa ăn. Bao giờ anh cũng ngồi vào chỗ có thể nhìn qua cửa sổ thấy con đường chạy từ trại qua rừng về làng Mi-khai-ỉốp-ca.

Tay anh khỏi chậm. Cha anh nấu những thứ lá gì đó trong một chảo gang lớn, rồi bắt nhúng cánh tay đau vào đó đến tận khuỷu.

- Hình như tay con bị chạm vào xương. Cái chính là phải làm cho nóng đến tận trong xương. Không sao, ta sẽ chữa lành thôi.

Một hôm trời đổ mưa, bóng đêm ảm đạm, xám xịt ập đến một cách bất ngờ, sớm hơn ngày thường. Xi-lan-chi, An-tôn và Phê-đô ngồi vào bàn ăn tối.

- Thôi, con vào hang của con đây, - An-tôn nhìn qua cửa sổ nói. Và anh bỏ thìa xuống, đứng dậy.

- Thì ngồi lại một lát đã, - Xi-lan-chi nói. - Trời này thì có quỷ nào đến!

Chính vào lúc trời như thế này mới lắm ma quỷ mò đi. Trời tối đen, mưa, chẳng nhìn, chẳng nghe thấy gì hết...

An-tôn như có phép biết trước. Anh chỉ vừa mới kịp leo lên đống cỏ, thì cửa bỗng mở và Đê-mi-an I-nhi-u-chin bước vào.

- Gì mà cả hai há hốc miệng ra thế? - Hắn hỏi, nhìn Xi-lan-chi và Phê-đô chằm chằm.

- Thế... anh đến lúc nào mà chúng tôi không nghe thấy gì cả?

- Thế nghĩa là điếc cả rồi, - I-nhi-u-chin lẩm bẩm, gõ gõ chiếc chân gỗ xuống sàn, cởi áo ngoài, rồi bước đến bên bàn. - Tôi bị rét cóng cả rồi, cho chén chè nóng.

Xi-lan-chi rót cho hắn một cốc nước quả phúc bồn tử, và ông bỗng sững người lại: trên bàn, bên cạnh bát cháo đã ăn hết, có ba chiếc thìa bẩn, và Đê-mi-an đang nhìn những chiếc thìa đó không chớp mắt.

Vơ vội miếng giẻ, làm như lau bàn, Xi-lan-chi hất cả ba chiếc thìa vào bát, để bát xuống dưới gầm chạn, rồi vứt giẻ đè lên trên. «Nếu hắn chợt nghĩ ra: tại sao lại ba thìa, thì chết...» - ông nghe bên thái dương mạch đập thình thịch.

Nhưng có lẽ Đê-mi-an chẳng nghi ngờ gì cả. Hắn cúi xuống dẩu môi ra húp nước choàm choạp.

- Ra ngoài xe lấy các thứ vào, - hắn bảo Phê-đô. - Đừng có đánh vỡ chai rượu đấy. Còn rượu nấu không?

- Làm sao mà chẳng còn! Đấy, cả năm thùng nguyên, - Xi-lan-chi thở ra nhẹ nhõm. - Bao giờ thì phải đón?

- Tôi biết đâu đấy. Tôi chỉ được lệnh kiếm rượu ngon và thức nhắm tốt đưa vào đây. Trong nhà này có mùi gì ấy. Mùi thối thối, phải không?

- Vâng... Hôm nay tôi nấu nồi thuốc lá... Khớp xương đau như bị ai dần. Chắc tại trở trời. Vì vậy nên có mùi.

- Làm thối cả lên... Ngày mai phải làm cho thoáng sạch nhà đi. Sao không nấu ở dưới lò rượu ấy? Đấy cũng có bếp kia mà.

- Vâng, lần sau sẽ không nấu ở đây nữa. Tôi sẽ làm sạch hết mùi.

Không nói gì thêm, Đê-mi-an ra về. Tiễn hắn đi khỏi, Xi-lan-chi mấy lần thở ra nhẹ nhõm: «Nhờ ơn Chúa, tai qua nạn khỏi...»

- Qua rồi, - ông nói với An-tôn khi anh, sau khi ngồi đợi thêm chừng nửa giờ, từ vựa cỏ tụt xuống. - Làm sao mà cha lại quên cái thìa chết tiệt ấy chứ?!

An-tôn cặn kẽ hỏi từng chi tiết; Đê-mi-an ngồi như thế nào, nhìn đi đâu, nói những gì.

- Lạy chúa, may cái thằng này chưa biết gì cả... Đến một sợi tóc hắn cũng không nhúc nhích.

- Cũng có thể như vậy, cũng có thể không, - Phê-đô bỗng nói. - Lão Đê-mi-an ấy thâm hiểm lắm. Nếu em như anh, anh An-tôn ạ, em sẽ tránh đi xa hơn.

- Cái thằng này! Nó như thế thì đi đâu được? - Xi-lan-chi gắt.

- Phê-đô nói phải đấy, - An-tôn đăm chiêu nói.

- Con đi đâu? Tay như thế kia đi làm sao được?

- Nếu được ngâm thêm vào chỗ thuốc của cha thì cũng tốt. Đã thôi làm mủ rồi, vết tím xanh đang đỡ dần. Có thể thế này nó cũng sẽ lành, không cần rửa thêm.

- Cũng có thể lành, mà cũng có thể thối mủ lại, - Phê-đô vẫn nói bằng giọng như cũ. - Vì vậy anh nên vào sâu trong rừng, nhưng cũng đừng quá xa. Để cha và em có thể bí mật đưa cơm nước và thuốc rịt tay cho anh. Bây giờ trời còn ấm, có thể nằm ngoài đó chừng hai tuần nữa...

- Cái thằng này, - An-tôn mỉm cười xoa tay lên chiếc đầu rối bù của em. Và anh lại trở nên nghĩ ngợi. -Tất nhiên là chữa cho lành hẳn tay là tốt nhất. Nhưng có chỗ nào trốn được không?

- Rừng thì rộng, -Xi-lan-chi ngập ngừng nói. - Mặc dù cũng không được rậm và hẻo lánh lắm... Cánh nông dân thì chỗ nào cũng mò đến cả. Đặc biệt là các mụ đàn bà đi hái quả dại.

- Con biết có một chỗ, - Phê-đô nói. - Trừ bọn quỷ có sừng ra, không có người nào dám đến đấy.

- Chỗ nào? - An-tôn hỏi.

- Chỗ nào à? Thế cái hang ở Khe Rắn? Trên dãy Dve-nhi-gô-ra ấy. Anh quên rồi à? Đến đấy rồi trở về, cũng kịp trước khi trời sáng.

- Cái gì? Cái gì? - Xi-lan-chi giật giật chòm râu. - Ở đấy bụi cây nào cũng đầy rắn độc.

- Bây giờ thì làm gì có rắn hở cha? Chúng đã chui vào hang ngủ từ lâu rồi. Ngày hôm kia con vừa mới lôi một cục từ dưới gốc cây đổ ra. Như một đống dây chão ướt, chỉ hơi cựa quậy... Trên núi trời lạnh hơn, cho anh An-tôn một chiếc áo khoác ngoài, chăn... Mỗi tuần, con sẽ đến thăm anh ấy một - hai lần.

Bàn cãi một lúc rồi đi đến quyết định: không có chỗ nào trốn tốt hơn. Xi-lan-chi thắng hai con ngựa, bỏ vào túi vài miếng thịt ướp, một ít bột mì, khoai tây, hai khoanh bánh, một cái chảo. Rót thuốc nước vào chai - chai ở đây thì vô khối. Gói áo, chăn, gối vào mảnh vải mưa cũ.

- Con đi nhé, - ông nói với An-tôn. - Ban đêm sắc thuốc lên mà ngâm tay. Nhớ đấy, ban ngày chớ đốt lửa người ta sẽ trông thấy khói. Còn con, Phê-đô, đến nơi về ngay, nhưng đừng giục ngựa làm nó ra mồ hôi nóng lên, thế nào đến sáng cũng về kịp. Đừng để cho sáng mai Cáp-ta-nốp với ổ chó của hắn đến thấy ngựa đẫm mồ hôi... Thôi, con đi đi...

Phê-đô đưa An-tôn lên dãy Dve-nhi-gô-ra, vào tận hang nằm khuất trong bụi rậm sau núi đá, buộc ngựa, giúp chuyển hết đồ đạc vào. Anh kịp về trại khi trời còn tối. Trời lúc mưa, lúc tạnh, Phê-đô ướt sũng, rét run.

- Lạy Chúa, - Xi-lan-chi làm dấu thánh. - Thôi, con nằm xuống, ngủ đi. Chỉ mong sao sáng mai không có thằng quỷ nào đến.

Cả sáng, cả chiều hôm sau không có ai đến trại, sáng ngày hôm sau nữa, Xi-lan-chi từ ngoài vườn gọi vào:

- Phê-đô! Con ra đây cha bảo...

Phê-đô đi ra. Cha anh cúi lom khom đi lại dưới cửa sổ.

- Cha đánh mất gì à?

- Không, nhưng thấy cái này... Nhìn xem kìa...

Trên mặt đất ẩm, chưa kịp khô sau cơn mưa, hiện ra lờ mờ dấu chân của một người nào đó.

- Thì sao?-Phê-đô nhún vai. - Hình như hôm qua con đi qua đây.

- Thằng ngốc! Mày làm gì có ủng đóng cá? Đây đây... Còn đây, mày nhìn xem, dấu cá sắt... Còn cái gì đây? Như ai lấy gậy chọc vào đất... Đúng là cái chân gỗ của thằng I-nhi-u-chin...

Phê-đô nghe một cảm giác ớn lạnh chạy khắp ngực.

- Thì sao... Có thể hắn qua đây ngày hôm kia...

- Ngày hôm kia trời mưa suốt đêm, nếu có cũng đã xóa đi hết rồi. Dấu này còn mới, hôm nay thôi. Nhìn kìa, đây nữa... Đây, ra cả phía sau chuồng ngựa. Đây, cả trên sân.

Xi-lan-chi đi khắp trại một lúc lâu, mặt cau có nhìn xuống đất.

- Chúng đang theo dõi, con ạ, - khi hai cha con trở vào nhà, ông nói. - Chúng rình suốt đêm hôm qua.

- Ai rình?

- Cha không biết. I-nhi-u-chin và ai nữa ấy. Thế là thằng chó đểu vẫn nhận thấy ba chiếc thìa nằm trên bàn. Lạy Chúa, làm sao mà con kịp nghĩ ra việc đưa thằng An-tôn đi?! May sao mà còn kịp!

Cho đến tận chiều, Xi-lan-chi im lặng. Phê-đô cũng im lặng, nhưng trong bụng lại bực tức nghĩ: «Đồ tù khổ sai, làm sao lại bám vào đây... Bây giờ thì tìm cách nào mà gỡ ra được?.. Nếu họ bắt được thì sao?»

Suốt đêm, hai cha con hầu như không ngủ, giỏng tai, căng mắt nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen. Nhưng không có chuyện gì xảy ra cả.

Gần sáng, Xi-lan-chi lo lắng thì thầm:

- Xem kìa, Phê-đô, xem kìa! Con...

Phê-đô đang chập chờn, giật mình nhổm dậy trên giường.

- Đấy, ở cửa sổ giữa ấy... Đừng đi đến gần, ở đây cũng trông thấy rõ...

Ngoài cửa sổ trời tối đen, và ngoài màn đêm ra, không trông thấy gì khác. Bỗng nhiên có một đốm lửa - một đốm lửa rất nhỏ, lờ mờ - lóe lên, rồi vụt tắt. Một lúc sau lại lóe lên... Đúng là có người nào đó đứng sau lùm cây đang hút thuốc.

- Ai thế nhỉ? - Xi-lan-chi thì thầm. - Đê-mi-an không hút thuốc.

Phê-đô nghe tim thắt lại, chán ngán. Lần này thậm chí không phải vì sợ hãi, mà vì một điều gì đó khó hiểu. Nếu như không có An-tôn, thì có lẽ sắp sửa, mà cũng có thể là ngay bây giờ, ngay đêm nay, các cửa sổ của cả ngôi nhà đã sáng rực, tiếng hát, tiếng người say rượu cười nói ầm ĩ, những người đàn bà ăn mặc hở hang, say mềm rũ rượi đã đi lại khắp sàn, nằm ngổn ngang trong các phòng...

Cho đến sáng hai cha con nằm mở mắt trong bóng tối và chờ đợi một điều gì đó. Nhưng không có gì xảy ra.

Sáng hôm sau, Phê-đô nói với cha:

- Đã ba ngày anh ấy một mình rồi. Thức ăn cũng sắp hết. Làm sao bây giờ?

Xi-lan-chi chưa kịp trả lời, thì đã nghe tiếng bánh xe ngựa quen thuộc vọng đến.

- Hình như ông chủ và mọi người đến... - Phê-đô chạy vội đến bên cửa sổ.

Quả là Cáp-ta-nốp đến, nhưng một mình, không có đám đàn bà thường xuyên đi theo, mà lại rất tỉnh táo. Xi-lan-chi và Phê-đô chạy ra sân. Phê-đô túm lấy hàm thiếc ngựa, ông già giơ tay định đón dây cương. Nhưng Cáp-ta-nốp ném dây cương ngựa vào mặt ông, nhảy xuống xe và đột nhiên vung mạnh roi quất xuống người Xi-lan-chi.

- Mày giấu quân tù khổ sai ở đây hả, đồ chó ghẻ?! Đê-mi-an đâu? Chỉ điểm đâu?

Bị roi quất, Xi-lan-chi lảo đảo, ngã sấp mặt xuống đất.

Từ sau hàng cây, một tên hiến binh thành phố chạy ra, hắn người cũn cỡn, nom như một con cú trong chiếc áo ca-pốt màu xanh, đội mũ nhà binh. Sau hắn còn hai tên nữa. Tất cả bọn chúng đều mang gươm lủng lẳng ngang hông. I-nhi-u-chin nhảy choi choi trên chiếc chân gỗ, chạy theo sau.

- Thế nào, các ngài chỉ điểm? Hai ngày đến rình mò rồi đấy! Còn ngài quản Đô-rô-phê-ép, sao lại im lặng?

- Ông Mi-khai-in Lu-kích ạ, không thấy gì khả nghi ở đây cả, - người nom giống như con cú trả lời. - Chúng tôi cũng chẳng biết nghĩ sao nữa. Mà theo dấu vết thì đúng thằng tù vượt ngục An-tôn Xa-vê-li-ép trốn ở vùng này.

- Hắn ở đây, ngay trong cái trại này, không thì cứ bẻ nốt cái chân còn lại của tôi đi! - I-nhi-u-chin hét lên. - Hắn bị thương, còn cái thằng già này nấu nước thuốc cho hắn. Bảo để chữa thấp khớp! Nhưng trong nhà có mùi máu. Tôi biết mà, tôi đã học được cách phân biệt người có vết thương thối mủ bốc mùi ra sao.

- Đê-mi-an, ông nói gì lạ vậy? Ông nghĩ lại xem! - Xi-lan-chi kêu lên. - Mùi nào? Ai bị thương? Ông phải sợ Chúa với chứ...

- Mày, cái thằng bố tên tù khổ sai này! - I-nhi-u-chin nhảy xổ vào Xi-lan-chi, giơ chiếc chân gỗ ra dọa - Tại sao lại có ba chiếc thìa trên bàn? Người thứ ba ở đây là ai? Ai trốn trên vựa cỏ? Chiếc thìa vẫn còn nóng nguyên. Chúng mày đã kịp giấu nó đi đâu? Nói ngay! - hắn vừa rít lên vừa hất hất chiếc chân gỗ.

- Thôi im đi, - Cáp-ta-nốp uể oải nói. - Nếu nó trốn ở đây, ta sẽ biết thôi. Nếu nó bị thương thì chạy đi đâu được? Tháo ngựa ra cho ăn đi, Phê-đô, mày đứng làm gì đấy? Lấy cái ăn ra ngay. Mời các ông chỉ điểm đây mỗi người một cốc rượu. Rét cóng lên cả rồi đấy, đêm đã lạnh rồi. Đốt lò lên, Xi-lan-chi, nhanh! - Hắn đi vào nhà, tất cả đi theo, tiếng đế giày sắt giẫm lên thềm cộp cộp.

...Nửa giờ sau, mọi người đã ngà ngà say. Những hạt mồ hôi lớn tướng rịn ra trên chiếc mũi khoằm của Đô-rô-phê-ép. Hắn kể:

- Thằng Xa-vê-li-ép vượt ngục ở nhà tù Tôm-xcơ. Người ta báo về Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ cho chúng tôi: có thể hắn sẽ về đấy. Và hắn về thật, nhưng tuột mất, đồ đểu... Cái thằng nhanh lắm. Ở một chỗ đã sắp bắt được hắn, hắn vẫn tuột ra khỏi tay. Tay bị bắn gẫy mà vẫn trốn được. Rồi từ thị trấn San-ta-ra của các anh có tin về: hắn đang ở đây. Chúng tôi liền về ngay. Lục khắp - không thấy. Chúng tôi nghĩ, chắc hắn về nhà bố mẹ ở Mi-khai-lốp-ca. Cũng không thấy gì. Rồi Đê-mi-an báo cho biết những chuyện khả nghi. Và đấy...

- Các anh chỉ là một lũ ngốc, - Cáp-ta-nốp cười mũi. - Còn đầu của I-nhi-u-chin chỉ bằng đầu con gà trống. Từ lâu hắn đã muốn nuốt tươi, nuốt cả cứt, cái lão Xi-lan-chi này nên mới tưởng tượng ra như vậy. Chẳng lẽ Phê-đô lại không báo cho tôi biết, nếu thằng anh tù khổ sai của nó về đây hay sao? Giấu hắn thì được ích lợi gì? Còn ích lợi ở đâu thì, như tôi hiểu, Phê-đô đã bắt đầu hiểu ngay từ nhỏ. Hắn khá lắm, có thể trở nên người có tiếng tăm vai vế nếu được giúp đỡ, nhất là trong thời kỳ đầu, để có chỗ đứng. Nhưng ai giúp được? Ai, Phê-đô?

- Còn ai nữa, ngoài ông ra, ông Mi-khai-in Lu-kích? - Phê-đô nói và đặt thêm hai chai rượu tự nấu lên mặt bàn.

- Đúng vậy. Chàng trai, ngồi xuống cạnh ta đây. Từ nay chỗ của mày là cạnh tao đây. Bên tay trái. Bên tay phải là Di-nô-vi, con trai tao... Đợi lớn lên thêm vài ba tuổi nữa, tao cho làm quen với Di-nô-vi. Tao muốn chúng mày trở thành bạn của nhau.

Phê-đô ngồi vào bàn, cạnh Cáp-ta-nốp.

- Còn mày đừng đếm xỉa đến bọn chỉ điểm này, trò ngốc nghếch cả thôi mà. Chẳng lẽ mày lại không nói với tao, nếu như anh của mày về à?

Xi-lan-chi đặt chiếc chảo gang lên bếp lò, khua thanh cời ầm ầm, đưa mắt nhìn con trai. Nhưng Phê-đô lờ đi, không để ý tới.

- Nói chứ. Để làm gì... - Phê-đô đáp.

- Thế thì nói đi, - Cáp-ta-nốp vẫn nói bằng giọng thân mật, hiền hòa như cũ.

- Ông bảo sao... Nói gì? - Phê-đô sợ hãi thốt lên.

- Đừng có tròn mắt lên như thế! - Cáp-ta-nốp bỗng quát lên, và lập tức đưa hai bàn tay to tướng chộp lấy cổ Phê-đô. - Thằng nhãi ranh, mày định đánh lừa ai đấy?! Cái đồ còn chưa đủ mũi để hỉ một cái cho to mà đã... Nói đi, thằng anh tù khổ sai của mày ở đâu?!

- Phê-đô! Phê-đô! - Xi-lan-chi đứng bên kêu lên, giọng van vỉ.

Nhưng không phải giọng nói và đôi mắt sợ hãi của người cha đã gây nên sự giận dữ nổi bùng lên trong người Phê-đô. Nói chung, trong giây phút đó, anh không còn hiểu cái gì đang xảy ra với mình. Phê-đô giằng mạnh, cố thoát ra khỏi đôi bàn tay đẫm mồ hôi của Cáp-ta-nốp đang thít chặt lấy cổ, thét lên đến chói tai:

- Bỏ tay ra, đồ rắn độc!

- Cái gi-ì?! - Cáp-ta-nốp sửng sốt.

Lời nói và giọng nói của Phê-đô có lẽ bất ngờ đến nỗi Cáp-ta-nốp bất giác nới lỏng tay ra. Cảm thấy điều đó, Phê-đô giằng mạnh một lần nữa. Những móng tay cứng của Cáp-ta-nốp xé rách da cổ, tóe máu, nhưng Phê-đô vẫn vùng ra được, anh nhảy hai bước ra đến cửa

- Đồ lợn đực! - Phê đô lại giận dữ thét lên một lần nữa. Anh lấy tay chùi quanh cổ và nhìn xuống lòng bàn tay bết máu. - Mày dám động vào...

Cáp-ta-nốp điên tiết thở phì phò, ngẩng đầu, với tay giật cây roi treo trên tường xuống. Phê-đô nhảy ra cửa, phóng qua chuồng ngựa vào thẳng trong rừng.

* * *

Cho đến tận tối mịt, anh vẫn nằm trong một khe sâu giữa rừng tai-ga vắng vẻ, trên đống lá khô và suy nghĩ: việc gì đã xảy ra thế này? Anh hiểu rằng với Cáp-ta-nốp thế là hết. «Cuộc sống ở trong trại thật là sung sướng... - những mẩu ý nghĩ quay cuồng trong đầu anh. -Và rồi sau sẽ như thế nào... Tất cả đều có thể... An-na sẽ lớn lên... Còn bây giờ thì sao? Quỷ nào tha cái gã An-tôn về đây... Sao người ta lại bắn đúng vào tay, mà không vào chỗ khác?» Phê-đô nghiến răng lại vì tức giận.

Anh bỗng cảm thấy đói. «Mình đi đâu bây giờ? Về trại à? Cáp-ta-nốp đang ở đó thì sao? Về làng à? Biết đâu bọn chỉ điểm và lão I-nhi-u-chin đang đợi ở nhà? Hay là đến chỗ An-tôn? Nhưng ở đó thì có gì? Được chừng ấy thức ăn chắc anh ấy cũng đã ăn hết rồi, giờ đang ngồi nghiến răng trèo trẹo. Rồi sau nữa, mình làm lộ ra thì sao? Biết đâu chúng sẽ theo rình mình. Không, không đến An-tôn được. Bởi vì như vậy rõ ràng rằng mình có biết An-tôn. Còn thế này biết đâu có thể lại trót lọt. Cha thì dù cho chúng cắt cổ cũng không nói... Nếu An-tôn thoát được, chắc họ sẽ quên hết. Có ai thấy anh ấy về đây đâu? Không ai thấy cả... Nhưng không, bây giờ thì không được nữa rồi. Tại sao mình lại không kìm lại?! Rồi còn gọi Cáp-ta-nốp là rắn độc, là lợn đực?! Ông ta có bóp cổ mình chết đâu mà sợ kia chứ...» Phê-đô cảm thấy căm ghét cả chính mình.

Nằm thêm một lúc, anh quyết định đi về làng.

Những ngôi sao mờ lạnh lẽo nhấp nháy trên đầu, qua khe hở giữa những ngọn cây. Thỉnh thoảng, một ngọn gió lang thang thổi đến, làm lay động những ngọn thông rối bù và những cành bạch dương đã trụi gần hết lá. Rừng xào xạc một thứ tiếng nghe buồn thảm, ghê rợn, Nhưng Phê-đô không sợ những tiếng động đó, anh cũng thấy không sợ gặp phải những con thú ăn đêm ở trong rừng tối. Bởi vì anh không nghĩ đến những câu chuyện đó, suốt đường đi, anh chỉ có một ý nghĩ: «Làm sao mình không kìm lại? Biết đâu có thể trót lọt, có thể trót lọt...»

Gần sáng, Phê-đô mới đến làng Mi-khai-lốp-ca. Anh thận trọng đi lối sau lẻn vào vườn, nằm rất lâu bên hàng rào đổ nát, nghe ngóng. Khắp làng im lặng như tờ. Phê-đô có cảm tưởng như sau mấy tháng anh không ở nhà, làng đã trở nên điêu tàn, do một căn bệnh nào đó, tất cả đều đã chết hết: người, chó, các loại súc vật, và nói chung, tất cả sự sống...

Nhưng không, hóa ra gà trống vẫn chưa chết hết. Ở một nơi xa nào đó, tận cuối làng, một tiếng gà gáy vọng đến làm Phê-đô phải giật mình. Rồi con thứ hai, thứ ba... Tiếng gà gáy rộn lên trong làng chừng năm phút, rồi tắt đi cũng đột ngột như khi bắt đầu.

Trời bắt đầu sáng. Có tiếng kẹt cửa nhà trên, Phê-đô nhận ngay ra tiếng đó và nằm áp sát hơn xuống đất, tính thầm: nếu có chuyện gì sẽ nhảy chồm dậy vọt qua rào và sau đó qua sân sau của các nhà hàng xóm chạy vào rừng. Có người nào đó nhẹ nhàng bước ra sân, đi lại phía đống củi. Nhìn qua làn sương xám, Phê-đô nhận ra mẹ, anh lặng lẽ đứng dậy.

- Mẹ ơi...

- Lạy Chúa! Ai đấy?

- Con đây.

- Phê-đô... con! - Mẹ chạy đến bên anh, những ngón tay thô nhám sờ lên đầu con. - Còn cha... bị chúng bắt đi trưa qua. Bọn hiến binh ấy... Chúng đưa về San-ta-ra. Còn An-tôn đâu? Nó có sao không? Tay nó đã lành chưa?

- Khẽ chứ mẹ... Thế tức là không có ai ở đây à?

- Còn ai nữa? Chỉ còn mẹ và thằng I-van... Hôm qua khi cha bị bắt đi, nó đã khóc chán rồi. Đê-mi-an I-nhi-u-chin thắng chiếc xe đẹp nhất, hắn không tiếc... Khắp làng đều xôn xao lên, cả một đám đông kéo đến gần chân núi Dve-nhi-gô-ra, nói là đi tiễn người bị bắt. Làm sao bây giờ, Phê-đô? An-tôn đã đi khỏi trại rồi à? Nghe nói bọn hiến binh không tìm thấy nó ở đấy.

- Đi rồi... Con và cha giấu anh ấy vào một hang trong dãy Dve-nhi-gô-ra. Có cơ hai ngày nay phải nhịn đói.

- Sao lại thế? Để nó đói... Phê-đô...

- Khẽ chứ! - Phê-đô cáu với mẹ. - Con cũng chẳng no đây này. Xem có gì ăn không? Bọn hiến binh đi rồi à?

- I-nhi-u-chin đánh xe đưa tất cả đi rồi. Hắn vừa đưa xe không về.

- Thế Cáp-ta-nốp có ở đây không?

- Không thấy! Có trời biết hắn...

Ngồi sau bàn, Phê-đô cảm thấy đôi mắt tự động nhắm lại vì quá mệt. Mà bụng thì như không muốn ăn. Nhai xong mấy mẩu bánh mì, anh đẩy đĩa khoai tây nghiền sang một bên.

- Mắt dính lại rồi... Coi như đã hai ngày đêm không ngủ.

- Có thể con gắng mang cho An-tôn một tí gì ăn, - người mẹ rụt rè hỏi.

- Đợi đến chiều cũng chưa chết đâu.

- Hay là đưa nó đi xa hơn, trốn cho kín hơn? Con phải nói với nó...

- Chẳng có nơi nào kín hơn đâu. Anh ấy đang ngồi trong Khe Rắn.

- Trời ơi! Cha con nhà mày điên rồi hay sao? - bà U-xchi-nhi-a tái mặt. - Rắn độc cắn chết mất...

- Chúng không cắn đâu mẹ ạ, - bỗng có tiếng nói từ trong góc tối vọng ra, nơi cậu bé I-van nằm ngủ trong đống giẻ rách nát. - Năm ngoái anh Phê-đô đã dẫn bọn con tới đó. Con được một mẻ sợ... Nhưng không sao, lũ rắn độc mùa thu đi ngủ hết...

- Dẫn đi đâu? - Bà U-xchi-nhi-a hoảng hốt hỏi.

- Đến Khe Rắn ấy mà, - I-van ngồi dậy trên giường của mình, ngáp, lấy nắm tay giụi mắt. - Một cái hố sâu lắm mẹ ạ, một cái túi to bằng đá. Phê-đô chỉ cho con xem...

- Cái thằng ba hoa này! - Phê-đô nổi cáu. - Tao đưa mày đi để mày kể đấy à?!

- Sao cơ ạ? Em chỉ nói là rắn không cắn anh An-tôn đâu... Cả anh cũng phải vào đó mà trốn. Hôm qua thằng Ki-ri-an I-nhi-u-chin nói với em: «Cha mày bị bắt giam rồi, anh Phê-đô của mày cũng sẽ bị giam, nếu như người ta bắt được».

- Khoan đã nào, - Phê-đô đi đến cạnh em, ngồi xổm xuống trước mặt I-van, hỏi – Thế nó còn nói gì với em nữa?

- Gì nữa à? Nó còn nói: «Người ta sẽ tra tấn anh và cha mày, bắt khai anh An-tôn ở đâu. Người ta sẽ nấu một cháo nước sôi và bắt thò tay chân vào đấy...»

- Im ngay! - U-xchi-nhi-a lắc lắc mái đầu nhỏ bé. - Mày nghe cái bọn ba hoa ấy để làm gì? Có ai lại đem người sống bỏ vào nước sôi bao giờ?

- Con có làm gì đâu. Nó nói, con nghe. Cái con An-phi-xa béo ị cạnh nhà I-nhi-u-chin nghe xong khóc rú lên vì sợ. Còn con không tin nên không khóc. Chỉ đến khi cha bị bắt đi, con mới sợ... Họ bỏ cha vào chảo thật thì sao, anh Phê-đô?

- Nó nói láo đấy...

- Vâng... cả An-phi-xa, khi cha bị bắt đi rồi, cũng bảo là thằng Ki-ri-an nói láo. Nó bảo em: «Mày đừng khóc, thằng Ki-ri-an nói láo đấy. Nếu anh Phê-đô có về, cũng đừng nói với thằng Ki-ri-an nhé».

- Tại sao thế? - Phê-đô cau mày hỏi.

- Cha thằng Ki-ri-an bắt hắn phải trông xem có thấy anh về làng không. Cái thằng mất dạy đó suốt ngày hôm qua cứ quanh quẩn cạnh nhà ta. Và hắn hỏi em không biết bao nhiêu lần là anh đã ở trại về chưa?

- Thế em... em nói sao?

- Em bảo anh không có ở nhà, anh chưa về.

- Nhưng nếu như anh về thật, thì lúc đó em sẽ làm sao? Nói ra à?

- Em sẽ chạy đi báo ngay... Lại còn cởi cả giày cho dễ chạy, - giọng cậu run run và vỡ ra bỏi một sự căm thù trẻ con nào đó. - Cái thằng nhóc khoèo chân đó lại còn khoe đôi giày mới nữa chứ! Cha nó mua cho nó ở San-ta-ra. Đen như mồ hóng, mũi có trổ hoa, đế vàng... - I-van im lặng một chốc như đang nghĩ về điều gì đó, rồi tiếp: - Mũi có trổ hoa và cứng như sắt. Hôm vừa rồi bọn em chơi trốn tìm. Em cùng với An-phi-xa trốn sau nhà kho, cả An-na Cáp-ta-nô-va nữa. Nó tìm thấy chúng em và lấy giày đá mạnh vào đít em một cái, nói: «Đừng có trốn một nơi với An-phi-xa!» Cái đồ mất dạy! Còn khi nào anh mang thức ăn cho anh An-tôn, cho em theo với nhé? Hay là để em mang đi một mình cũng được? Em cũng biết cái khe ấy mà... Còn anh, ngủ đi...

- Rồi tao cho mày mang! - Phê đô nghiêm giọng nói, và đứng dậy. - Rắn còn chưa ngủ hết đâu... Còn mày, hễ nói hở với ai là tao ở nhà...

- Em là thằng ngốc hay sao? - I-van tự ái nói phụng phịu.

...Cho đến chiều, Phê-đô nằm ngủ ở trên trần thượng của nhà. Khi mở mắt ra, điều đầu tiên anh thấy là một tia sáng mỏng manh xuyên qua lỗ hổng ở mái nhà rọi nghiêng, từ dưới lên trên, qua khoảng không gian chật hẹp ở trong phòng. Những hạt bụi nhỏ, nhảy múa trong dải sáng đó.

«Chiều rồi», - Phê-đô nghĩ. Anh đã thấy tia sáng này mấy lần và biết rằng buổi sáng thì nó rọi từ trên xuống dưới, đúng trưa thì nó chiếu ngang từ mái nhà gỗ bên này sang bên kia, còn về chiều thì nó cứ leo ngược lên cao.

Trong phòng ngột ngạt, bụi bặm và mùi của những chiếc chổi bằng cành bạch dương treo từng bó ngay sát mái nhà bốc lên ngai ngái.

Phê-đô lắng nghe - trong nhà im lặng. Chỉ có ngoài đường, ngay cạnh nhà, lũ trẻ đang la hét. «Lại chơi trốn tìm, - nghe tiếng em trai út, Phê-đô đoán. -Thằng Ki-ri-an I-nhi-u-chin mất dạy này lại đá giày vào đít thằng I-van, nếu như nó bị thua. Cứ làm ầm ĩ cả lên như là...»

Một cơn giận dữ bỗng bốc lên đầu anh. «Cái đồ nhãi ranh, đã lên mặt lếu láo... Tao vặn đầu vặt mũi mày cho biết tay, dám bắt nạt thằng I-van... Lúc ấy đừng có kêu!» Cũng cùng lúc ấy, Phê-đô nhớ tới việc sáng hôm qua anh bị Cáp-ta-nốp bóp cổ. «Đồ lợn đực! - cảm giác bị xúc phạm và giận dữ lại trào lên khắp người anh, hai bên thái dương giật đau nhói. - Chúng mày chỉ chuyên đá đít, bóp cổ người khác... Quen thói rồi mà, lũ chó đẻ... cổ mình giờ không quay được nữa, bị cào xước hết. Chỉ thiếu tí chút nữa là vào tận xương sụn. Cứ đợi đấy, cũng có lúc rồi tao sẽ túm lấy cổ chúng mày...»

Phê-đô đưa tay sờ cổ. Những vết rách đã khô, nhưng khi ngủ, một đôi chỗ có lẽ bị nứt ra nên Phê-đô vừa mới chạm tay vào da đã nghe nhức buốt. Điều này lại làm cho anh thêm giận dữ. «Cái đồ khỉ đột lông lá này, làm nát cả cổ ra rồi! Nhưng không, cứ đợi đấy, rồi tao sẽ tóm lấy cái cổ đầy mỡ của mày, và không chỉ cào rách ra thế này đâu... Còn hỏi An-tôn ở đâu! Chúng mày sẽ tìm thấy anh ấy đấy! Há miệng cho to ra, không lại ra ngoài...»

Một tia giận dữ bùng ra ngẫu nhiên (nếu anh không nghe thấy tiếng lũ trẻ, chắc đã không bùng ra), đã biến thành cả một đám cháy. Phê-đô không còn nhớ rằng chỉ vừa mới đây, anh đã ghen tị với cuộc sống chơi bời phóng đãng của Cáp-ta-nốp, rằng ở một nơi nào đó trong thâm tâm, biết bao dự định, tính toán của cuộc đời đã được hồi hộp dựng lên, rằng anh sẵn sàng hầu hạ Cáp-ta-nốp, kẻ đã hứa giúp cho anh nên người...

Bây giờ tất cả đều bị cơn giận dữ và tự ái che lấp đi mất. Trước đây, cho đến tận giờ phút này, anh cũng không nghi ngờ trong mình lại có những cảm xúc như vậy. «Cần phải đến gặp An-tôn ngay, - anh nghĩ. - Bảo anh ấy phải đi khỏi khe... Sao mình lại thế này nhỉ? Đáng lẽ phải đi ngay từ sáng, chưa ngủ chắc cũng không chết... Chuyện chảo nước sôi không biết thế nào, chứ nếu cha bị chúng bắt vào đây liệu rồi có nói lộ ra cái gì không? Lúc đó thì Cáp-ta-nốp mừng phải biết. Cái miệng lông lá sẽ toang hoác ra, nếu như bắt được An-tôn... Nhưng đừng hòng, tao sẽ để cho mà bắt!..»

Phê-đô tuột nhanh từ trần thượng xuống. Nghe tiếng bước chân ngoài hiên, bà U-xchi-nhi-a vội chạy ra.

- Con đấy à? Lạy Chúa, làm mẹ cứ nghĩ... Mẹ sẽ cài then cửa lại ngay...

- Khẽ chứ, mẹ... Sao lại để thằng I-van ra đường chơi?

- Thằng con Đê-mi-an I-nhi-u-chin năm sáu lần cứ thò đầu vào gọi đi chơi «rải ranh». Nó bảo: «Sao cứ ngồi lì ở nhà thế?» Còn con mắt thì cứ ngó quanh nhà: Mẹ bảo: «Thôi, I-van, con đi chơi đi». Không chúng lại nghĩ... Mà chẳng sao đâu, thằng I-van cũng khôn lắm, chẳng nói gì đâu...

- Thôi được, Phê-đô nói. Có gì gói cho anh An-tôn đi. Bây giờ con sẽ đến chỗ anh ấy...

- Con đi?

- Không sao đâu. Con sẽ đi lối sau, theo các lùm cây, khe đất...

...Mấy phút sau Phê-đô đã ôm một tay nải đựng chiếc bánh mì và một mẩu mỡ ướp luồn ra vườn sau, nhảy qua hàng rào, lẩn vào đám cây gai dầu dại, nằm một lúc, rồi lần theo con đường nhỏ vắng vẻ chạy ra sau làng.

Mọi việc hình như đều tốt đẹp, không ai nhìn thấy anh. Ra khỏi làng, anh lần theo một con mương nhỏ mọc đầy cỏ đến tận sông Grô-mô-tu-kha, rồi đi dọc theo bờ sông vào dãy Dve-nhi-gô-ra, vừa đi vừa bóp mẩu bánh mì, thỉnh thoảng lại ngoảnh nhìn lại.

Hai ba lần gì đó, anh có thấy mấy bóng người ở phía sau, nhưng rất xa, phải đến nửa véc-xta, - nếu như không hơn - và Phê-đô không lo lắng gì cả. Thiếu gì người đi lại lang thang trên đồng cỏ...

Nhưng khi đã đến Dve-nhi-gô-ra, sát ngay cửa khe, Phê-đô quay lại nhìn và giật mình thấy một người cưỡi ngựa đuổi theo phía sau. «I-nhi-u-chin Đê-mi-an!» - người anh nóng ran lên. Người ngồi trên ngựa bị bóng một ngọn núi đá che khuất, không nhìn rõ mặt, nhưng mắt Phê-đô rất tinh, nên anh vẫn nhận thấy một chiếc chân bằng gỗ.

Phê-đô luống cuống và bỏ chạy. Đáng ra anh chỉ nên bình tĩnh đi ngang qua khe núi, qua dãy Dve-nhi-gô-ra, rồi sau đó nghĩ ra cớ nói mình đi đâu, làm gì; nhưng anh lại bỏ chạy, và như vậy là tự mình làm lộ tẩy hết. I-nhi-u-chin quất ngựa đuổi theo và đến cửa khe thì kịp, thiếu chút nữa cho ngựa giẫm cả lên người anh. Quay ngựa chắn ngang đường, hắn nhảy xuống đất và hỉ mũi thật to.

- Này cậu nhóc, - lau đôi lỗ mũi to tướng, hắn nói, giọng không có gì là giận dữ. - Tớ đã biết là đêm qua cậu mò về nhà rồi mà. Mẹ cậu cứ loanh quanh cạnh nhà như chuột, nhìn mặt biết ngay. Điều thú vị tớ muốn biết là cái thằng tù khổ sai kia đã trốn đi khỏi hẳn rồi, hay chúng mày còn giấu hắn ở đâu đây. Nếu hắn đã trốn đi hẳn rồi, thì chúng tao chịu, còn nếu không thì thế nào chúng mày cũng phải mang gì cho hắn ăn. - I-nhi-u-chin giật chiếc tay nải từ tay Phê-đô và bắt đầu mở ra.

Từ phía sau, tên quản Đô-rô-phê-ép hổn hển chạy đến, khắp người mồ hôi đầm đìa như tắm; hắn giật mũ xuống - tóc trên đầu cũng ướt đẫm, bốc khói.

- Các ông cần gì? cuối cùng Phê-đô mới sực tỉnh lại, hỏi và nhảy ra giữa đường.

- Đừng có đùa đấy, cậu ạ, - Đô-rô-phê-ép nói, tay mở bao súng. - Cái này nó sẽ đuổi kịp đấy.

- Nhưng cái gì mà các anh quây lấy tôi thế này? Tôi đến San-ta-ra để hỏi thăm về cha...

- Ôi! - Đô-rô-phê-ép ngồi phịch xuống hòn đá cạnh đường. - I-nhi-u-chin, ông làm cho chúng tôi hết hơi rồi đấy, rình với mò! Còn thằng tù chắc đã ở cách đây hàng trăm véc-xta rồi...

- Ông anh ơi, nó còn đang ngồi ở trong núi này thôi, - I-nhi-u-chin ngửi ngửi miếng mỡ ướp nói. - Nếu như hắn trốn trong rừng tai-ga thì thằng nhãi này đã đi về hướng đó rồi. Nhưng hắn lại đi về hướng này. Mà ở đây, ngoài Dve-nhi-gô-ra ra, còn trốn vào đâu được nữa?

Mấy tên hiến binh vừa chạy đến cũng ngồi xuống đất, duỗi thẳng đầu gối quấn vải dạ xanh. Tất cả đều có vẻ bẩn thỉu, phờ phạc, như đã lâu lắm không được ngủ. Phê-đô nhếch mép cười cay độc.

- Nó có cái gì thế? Mỡ à? - một tên hiến binh hỏi. - Xin ngài cho phép thử một miếng.

- Ăn đi.

I-nhi-u-chin ném chiếc bánh mì và miếng mỡ ướp cho mấy tên hiến binh. Một đứa rút gươm ra, đặt miếng mỡ lên trên bánh mì và bắt đầu cắt ra thành từng miếng mỏng. Hắn cắt rất khéo, có lẽ đã quen.

Mấy phút trôi qua, bọn hiến binh ngồi nhai bánh, I-nhi-u-chin và Đô-rô-phê-ép cũng im lặng.

- Thế nào, I-nhi-u-chin, chúng ta đã rình được cái gì nào? - Đô-rô-phê-ép nói. - Có cái gì đây tôi không hiểu. Cái thằng già kia đã không chịu nói gì cả, còn cái thằng oắt con này, qua mắt nó tôi thấy, chắc cũng chẳng nói gì đâu.

- Thằng này sẽ nói, - I-nhi-u-chin nhếch bộ ria cáo, cười nhạt. Trong nụ cười này, trong cái nhìn lạnh băng của đôi mắt ướt của hắn có một cái gì đó dữ tợn, làm cho Phê-đô cảm thấy nhói lên trong ngực. Nó sẽ nói nếu như nó còn muốn sống. Còn nếu như nó không muốn sống, ta sẽ lấy gươm từ từ băm nát nó ra, rồi quẳng vào cái Khe Rắn này. Chả có ai vào đó mà tìm đâu. Nào đưa gươm đây, đầu tiên tôi sẽ chọc chơi nó một tí. Hắn chìa tay về phía tên cảnh binh vừa cắt mỡ lúc nãy, rồi quay lại Phê-đô. - Sao mày lại tái mào đi thế, thằng ngốc nghếch kia? Đừng sợ. Chúng tao chỉ róc từ người mày ra mấy miếng thịt bằng lát mỡ kia thôi, không hơn. Ngoài ra, chúng tao chẳng làm gì mày nữa đâu.

«Hắn róc thật... Hắn róc thật!» Phê-đô kinh hoàng nghĩ. Anh cứ lùi mãi, vào sát tận mỏm đá mọc ngay bên đường; còn I-nhi-u-chin, không vội vã, gập người trên chiếc chân gỗ, bậm môi, chĩa gươm ra phía trước như ngọn giáo, tiến sát đến trước người anh.

Phê-đô tựa lưng vào bức tường đá, và cũng ngay lúc đó anh cảm thấy mũi gươm nhọn hoắt, nóng hổi chạm vào ngực mình. Cái ý nghĩ đầu tiên và duy nhất lúc đó là gạt cái lưỡi thép dài này ra khỏi ngực hoặc giật lấy thanh gươm chém thẳng vào đôi mắt long lên hiểm độc của I-nhi-u-chin. Và đôi tay của Phê-đô bất giác làm một cử động nào đó.

- Đừng có cựa quậy! - giọng khàn khàn của I-nhi-u-chin đập vào tai. - Đứt lìa tay đấy, ngón rụng xuống đất như phoi bào bây giờ... Nói đi, thằng tù chính trị thối rữa của chúng mày đâu rồi? Chúng mày giấu nó ở đâu?

Đôi tay của Phê-đô rơi thõng xuống như hai cành cây gẫy. Anh cảm thấy mũi gươm đã đâm thủng áo, xuyên qua da chạm đến tận xương sườn, một dòng máu nóng hổi chảy từ ngực xuống bụng.

«Giá có một người, hoặc một chiếc xe ngựa nào, từ sau mỏm đá này đi tới để nhìn thấy chúng đang làm gì mình...»- Phê-đô thoáng nghĩ, và dường như nghe thấy có tiếng bánh xe gõ đâu đó từ xa vọng đến, anh ngoảnh lại nhìn dọc theo con đường... Nhưng tiếng bánh xe biến mất, trên đường, ngoài Đô-rô-phê-ép và hai tên hiến binh, không còn ai khác. Chúng vẫn ngồi tại chỗ cũ, không để ý gì đến Phê-đô và I-nhi-u-chin, uể oải nhai nốt miếng mỡ, rồi một tên lau tay vào vạt áo ca-pốt. Xa hơn, phía sau lưng Đô-rô-phê-ép và mấy tên hiến binh, là con sông Grô-mô-tu-kha. Bờ sông bên kia nắng còn trải khắp, nước cạnh bờ như rắc đầy một màu hoa hướng dương vàng rực...

Tất cả những cái đó vụt in vào óc Phê-đô trong một thoáng, trong một phần mấy giây đồng hồ. Và không hiểu sao, anh còn thoáng thấy cả Lu-kê-ri-a Ca-sca-rô-va. Thậm chí không phải cả người Lu-kê-ri-a, mà trước mắt anh chỉ hiện ra bộ ngực trần của ả, anh cảm thấy mùi của cặp vú và nghe giọng ả khe khẽ, khẩn khoản: «Phê-đô, Phê-đô, nào... Cậu sợ gì thế hở gã ngốc nghếch?» Rồi Lu-kê-ri-a biến mất, trước mặt anh lại hiện ra những thân hình đàn bà trần truồng chạy từ nhà tắm hơi ra và cười sằng sặc theo nhau nhảy xuống hồ, bên tai anh vang lên một giọng nói khác, khàn khàn: «Nhưng tao có thể làm cho mày nên người được, nếu mày phục vụ tao hết lòng, tận tụy... Cũng cần phải chuẩn bị người thay thế cho Đê-mi-an nữa... Tao đang nhằm mày đấy...»

- Nhưng sao anh lại để lưỡi gươm úp xuống dưới thế kia?-Tiếng kêu của Đô-rô-phê-ép bỗng vang lên át giọng nói khàn khàn của I-nhi-u-chin. - Anh lật ngửa gươm lại và nó sẽ đâm xuyên qua sườn, như qua một cục mỡ...

Và Phê-đô cảm thấy lưỡi thép nóng xé toạc da ngực, bắt đầu khoan xuyên qua giữa những chiếc xương sườn.

- Lần cuối cùng tao hỏi: An-tôn trốn ở đâu? - tiếng vang như gõ vào tai Phê-đô.

Và có lẽ Phê-đô sẽ nói, có lẽ anh không chịu nổi, sẽ phải nói ra An-tôn đang trốn ở đâu, thì vừa lúc đó có tiếng người vang lên sát ngay bên cạnh.

- Tao đây này... Đừng có động đến thằng bé, quân chó đẻ.

Phê-đô thở hắt ra nhẹ nhõm và ngã sấp xuống đất. Anh nghe có những tiếng kêu thét, tiếng quát tháo, tiếng chân người, tiếng sắt thép loảng xoảng, và khi ngẩng đầu lên, Phê-đô thấy An-tôn đang đứng trước mặt, hai tay chắp sau lưng, người gầy rộc, đen nhẻm vì khói của những đống lửa.

- Không phải tại em, anh ạ, - Phê-đô đứng nhỏm dậy. - Em không có lỗi. Em mang bánh cho anh, còn bọn chúng theo em. Chúng rình... Nhưng em không nói gì cả, anh nghe thấy đấy...

- Anh trông và nghe thấy hết cả. Cám ơn em, - An-tôn cau mày nói giọng không vui. - Không sao, Phê-đô ạ. Bây giờ thì... Em chuyển lời cảm ơn cha...

- Đi đi, đi đi, - Đô-rô-phê-ép ẩy vào vai An-tôn. - Trời tối rồi, còn phải về cho kịp.

Bị đẩy, An-tôn loạng choạng mấy bước, suýt ngã. Khi anh quay lưng lại, Phê-đô thấy không phải An-tôn chắp tay sau lưng, mà hai khuỷu tay anh bị hai vòng sắt thít chặt và nối với nhau bằng một sợi xích thép. «Ra thế! Chúng đã còng tay anh lại. Ra còng là thế đấy...» tim Phê-đô đập mạnh, sợ hãi, dường như chính tay anh bị còng.

- Các ông làm gì thế này?! Tay anh ấy đang bị đau... Tay... - Và Phê-đô nhảy đến bên An-tôn như có thể tháo được mấy vòng sắt kia ra khỏi tay của người anh ruột.

- Câm miệng đi! - Một tên hiến binh dùng vai hích mạnh anh. - Làm xong việc của mình rồi, thì câm đi!..

Phê-đô văng sang bên, vấp phải một gốc cây trồi ra trên mặt đất, ngã nghiêng xuống, đập mạnh đầu xuống mặt đường và ngất đi.

* * *

Hành động của An-đrây đối với tất cả mọi người trong nhà - có lẽ chỉ trừ Xê-mi-ôn ra - đều hoàn toàn bất ngờ. Không ai nhận thấy cậu ta có chuẩn bị gì cho việc trốn ra mặt trận. Và khi Đi-ma hoảng hốt từ trường chạy về giúi cho mẹ mẩu giấy của An-đrây, một lúc lâu An-na vẫn không thể hiểu được nội dung của nó. Và khi bắt đầu đoán ra ý nghĩa những dòng chữ nguệch ngoạc của An-đrây, bà nặng nề buông thõng cả hai tay, kêu to.

- Ôi, cái thằng, đồ rắn rỗng đầu này!..

Đi-ma chạy ra ga và giữa đường gặp Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin đang từ trường về. Những cuốn sách giáo khoa cáu bẩn, rách tả tơi giắt trong thắt lưng, tay cậu cầm một chiếc hộp gỗ nhỏ.

- Chuột đấy! - cậu lắc lắc chiếc hộp trước mặt Đi-ma. - Đuôi như đuôi rắn, phải dài đến nửa mét. Đổi một chiếc súng cao-su và đôi vớ trắng đấy. Ngày mai, trong giờ tiếng Đức, tớ sẽ thả ra. Hôm qua, cô giáo tiếng Đức cho tớ hai điểm. Tớ bảo: «Em không học tiếng quân phát-xít đâu», thế là cô ấy... Đợi đấy, ngày mai tha hồ mà la!..

- Còn thằng An-đrây nhà tớ chạy trốn ra trận rồi! - Đi-ma hét to.

- Cái gì?! - Nhi-cô-lai hếch chiếc mũi quặp lên vạch một đường trong không khí. Thế cậu đi đâu đấy?

- Ra ga tìm thằng An-đrây... Có thể nó còn chưa kịp đi khỏi.

- Đợi tí, tớ đi với! Tớ về cất con chuột này cái đã.

Chạy về nhà, Nhi-cô-lai giấu chiếc hộp đựng chuột vào một chỗ bí mật ngoài phòng đệm, nhảy vào nhà ném mấy quyển sách lên bàn, báo cho chị cái tin ghê gớm đó, rồi chạy vụt ra đuổi theo Đi-ma. Vê-ra ngần ngừ một chốc, lấy khăn choàng lên đầu và cũng chạy ra nhà ga.

Gặp Xê-mi-ôn ở cổng nhà ga, Đi-ma và Nhi-cô-lai vẫy tay bảo anh dừng máy kéo lại. Đoán có việc gì không ổn, Xê-mi-ôn nhảy xuống xe. Nghe xong, anh buông người ngồi xuống xích sắt máy kéo.

- Hiểu rồi! Phải vặt đầu tao đi mới phải. Chính nó mới đây đã có lần nói về những đoàn tàu, tao nghe thấy... Thế mà sao không ai thấy nó chuẩn bị gì cả? Chúng mày có thấy gì không?

- Có mà thấy được với nó... Anh phải biết nó ranh lắm, - Đi-ma và Nhi-cô-lai gần như đồng thanh nói.

Để máy kéo lại bên đường, Xê-mi-ôn cũng chạy vào nhà ga.

Nhưng mọi người vội vã đến đấy chỉ phí công, lúc này An-đrây đã ở rất xa. Nằm trên toa tàu giữa những thùng gỗ không hiểu đựng gì, cậu nghe những tiếng bánh xe gõ giòn, nhìn lên bầu trời đang về chiều và nghĩ: không biết đã sắp tới Nô-vô-xi-biếc-xcơ chưa.

Tất cả sự phức tạp đều ở chỗ An-đrây không biết đoàn tàu này sẽ từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ đi đâu - về hướng mặt trận hay là đi tiếp về hướng đông? Ở San-ta-ra, cậu không dám hỏi ai về điều đó. Còn việc đoàn tàu phải qua thành phố này thì cậu đã biết chắc chắn, và vì vậy không đặc biệt lo lắng lắm. Cậu chỉ cần đến được Nô-vô-xi-biếc-xcơ, còn sau đó nhất định cậu sẽ tìm ra đúng đoàn tàu ra mặt trận. Về điều này cậu đã có một dự định được tính toán rất kỹ lưỡng và do đó, theo cậu nghĩ, tuyệt đối chính xác. Chỉ cần đừng ngủ quên qua mất thành phố Nô-vô-xi-biếc-xcơ này mà thôi!

Chân cậu đi một đôi ủng còn tốt, gần như mới, trên đầu là chiếc mũ lông ấm, mình mặc áo vét dạ. Đầu cậu gối lên một chiếc túi đựng ba ổ rưỡi bánh mì, một miếng mỡ ướp, mấy củ cà-rốt, hành tây, một nhúm muối gói trong miếng giẻ, một bao diêm, thìa, bát và chiếc xoong con cậu vẫn đưa đi câu cá. Ngoài ra, còn một vài thứ vặt vãnh khác cần thiết lúc đi đường. An-đrây chuẩn bị rất lâu, rất kỹ lưỡng, mặc ấm; cậu hiểu rằng đường sẽ dài, về đêm trời đã lạnh, thậm chí cậu có thể gặp mùa đông ngay trên đường. Nhưng dù sao cậu vẫn không chuẩn bị đi đường lâu hơn tuần rưỡi, và khi đến một đơn vị bộ đội nào đó, cậu sẽ được phát quân trang và các thứ khác cần thiết như một người chiến sĩ Hồng quân.

Kế hoạch của cậu gồm có ba phần. Phần đầu: đi từ San-ta-ra đến được Nô-vô-xi-biếc-xcơ. Phần thứ hai - đi từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ đến Mát-xcơ-va. Thực hiện được hai phẩn này - việc dễ như bỡn. Còn phần thứ ba- đi từ Mát-xcơ-va ra đến mặt trận - việc có phần phức tạp hơn. Nhưng người ta viết trên báo, nói trên đài, mặt trận ở cách Mát-xcơ-va không xa lắm. Nhưng vấn đề ở chỗ là có tàu đi đến đấy, ra mặt trận, không?

Nhưng thực ra cậu cũng không đến nỗi lo lắng về điều này lắm. Nếu mặt trận ở không xa Mát-xcơ-va, thì cùng lắm cậu cũng có thể đi bộ đến đó được chứ.

Như vậy, tất cả đều đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện. Cái anh Các-ca-Xô-côn mũi khoặp, ngốc nghếch lại đến phòng quân vụ! Ở đó họ hiểu cái gì? Còn cậu, đấy, chỉ việc nhảy lên toa tàu - và tút luôn. Và nhất định cậu sẽ đến! Khi biết tin này hẳn Nhi-cô-lai phải há hốc mồm ra! Không sao, cứ để cho anh ta tha hồ ganh tỵ, suy nghĩ. Nghĩ ra, rồi cũng sẽ làm như cậu.

An-đrây chỉ hơi thương mẹ mà thôi. Cha thì chắc lại trợn mắt, gầm gừ như đầu tàu hỏa, rồi quát ầm lên. Thì cứ tha hồ mà quát, giờ thì cũng chẳng đuổi kịp nữa đâu. Còn mẹ... Mẹ sẽ hốt hoảng, kêu khóc... Nhưng đến khi chiến tranh kết thúc, cậu sẽ trở về trong bộ quân phục Hồng quân, da sạm nắng gió, đầy mùi khói súng... Mà có thể còn có cả thanh gươm thật sự như của ông Tsa-pa-ép cũng nên?! Người ta có thể thưởng cho cậu thanh gươm lắm, nếu như cậu tỏ ra dũng cảm khi đánh nhau, lập được một chiến công nào đó chẳng hạn. Biết đâu cả huân chương... Thì sao, người ta cũng có thể thưởng cả huân chương chứ. Và lúc đó, khi cậu trở về nhà với thanh gươm mang bên hông, huân chương đeo trước ngực, chắc mọi người sẽ trố hết mắt ra mà nhìn! Và đôi má đen nhẻm của Đi-ma sẽ đỏ lựng lên vì ghen tức, còn Các-ca-Xô-côn sẽ mờ mắt đi, chiếc mũi khoặp phập phồng động đậy, anh Xê-mi-ôn chớp chớp mắt liên hồi vì kinh ngạc. Còn mẹ sẽ mỉm cười vì sung sướng và tự hào, sẽ mỉm cười hơi ngượng nghịu, và mắt mẹ sẽ phát ra những tia sáng dịu dàng. Còn cha? Còn Vê-ra, chị của Nhi-cô-lai?! Và cả cô bé Gan-na, người cao lồng ngồng sống ở nhà cậu nữa?! Và các bạn trong lớp?!

Trời mỗi lúc một tối, tiếng bánh xe vẫn gõ đều, và An-đrây, mắt nhìn lên những ngôi sao đã hiện ra trên cao, bắt đầu nghĩ rằng có thể mọi việc sẽ xảy ra như thế này: buổi chiều, cha... không, tốt hơn là anh Xê-mi-ôn, đi làm về, mở báo ra và kêu lên kinh ngạc - trong báo có ảnh của cậu, An-đrây! Cậu tuy còn chưa có gươm, nhưng mặc quân phục, và bên cạnh cậu là Mi-khai-in I-va-nô-vích Ca-li-nhin! Một tay Ca-li-nhin cầm hộp huân chương, còn tay kia bắt tay cậu và mỉm cười. Còn chính Xta-lin đứng bên cạnh, cũng mỉm cười và nhìn cậu, nhìn An-đrây!.. «Cha ơi! Mẹ ơi! - Xê-mi-ôn sẽ kêu toáng lên. - Này, xem này, xem này!» Thật là đáng tiếc là cậu không được tận mắt trông thấy nét mặt của anh Xê-mi-ôn, của cha, mẹ vào lúc đó...

Được ru ngủ bởi tiếng gõ đều đều của bánh xe và những ý nghĩ ngọt ngào này, An-đrây từ từ khép mắt; và miệng vẫn mỉm cười, cậu thiếp đi. Cậu ngủ ngon lành, yên tĩnh, và trong mơ vẫn mỉm cười.

Cậu tỉnh dậy vì tiếng còi tàu rú và đưa tay lên giụi mắt. Tiếng bánh xe thôi gõ, tàu đứng yên. An-đrây bò ra mép toa, hơi trườn người lên trên thành toa bằng gỗ, nhìn sang phải, sang trái; nhưng trong bóng tối mờ mờ cậu chỉ thấy một dãy dài những toa tàu chở hàng. Cậu chạy sang mép toa bên kia, nhưng cũng chỉ thấy những toa xe như vậy. Lúc đó, cậu liền leo lên một thùng gỗ không cao lắm, đứng thẳng người, nhìn quanh. Đâu đâu cũng toa tàu, toa tàu, cả một biển toa tàu được một vài ngọn đèn treo lủng lẳng trên các cột cao chiếu sáng nhờ nhờ. Nhiều chỗ, những chiếc đầu máy nhả khói dày đặc; từng cột khói trắng trông rất rõ trên nền ánh sáng điện nhợt nhạt, bốc thẳng lên bầu trời đen, thấp tịt, chúng như đang chống đỡ cho màn trời đen như mực, không một ánh sao, khỏi rơi sập xuống đất.

Phía bên phải, sau những cột khói bốc lên từ đầu máy, bên kia biển những nóc toa nhấp nhô, hiện ra một ngôi nhà vừa dài vừa to, hai hay ba tầng gì đó, được những ngọn đèn pha chiếu sáng. Đôi mắt rất tinh của An-đrây nhận ra ở đó có những đoàn tàu khách, và cậu hiểu ngay đấy là nhà ga. «Nô-vô-xi-biếc-xcơ!» - cậu đoán, túm lấy túi và nhảy xuống đất.

Vừa nhìn bệ hãm, cậu vừa leo qua những đoàn tàu, chui qua các toa tàu. Hiểu rằng mỗi một đoàn tàu có thể chuyển bánh bất cứ lúc nào, cậu bò rất nhanh sây sát cả đầu gối, bươu cả trán, chiếc túi kéo lê trên mặt đất.

Giữa hai đoàn tàu, cậu gặp một người đàn bà mặc bộ áo quần bằng bông chần lấm dầu mỡ, một tay bà cầm đèn soi, tay kia cầm chiếc búa cán dài, gõ gõ vào các bánh tàu.

- Bác ơi, đây có phải là Nô-vô-xi-biếc-xcơ không ạ?- An-đrây hỏi, để xác định lại một cách thật chính xác là mình đã đi đến đâu.

- Nô-vô-xi-biếc-xcơ. Nhưng cháu quanh quẩn ở đây làm gì thế? - người đàn bà nghiêm khắc hỏi và giơ chiếc đèn thắp bằng mẩu nến cắm sau tấm kính màu vàng lên chiếu vào người cậu. - Ăn cắp than trên các toa tàu à?

- Không... Cháu vừa mới đến đây.

- Dân tản cư à?

- Vâng ạ, - An-đrây gật đầu.

- Thế thì đi ra ngoài sân ga kia đi, người của các cháu đang xuống ở đó. Không việc gì mà luẩn quẩn ở đây. Trông cũng có vẻ láu lỉnh gớm.

Và bà ta bước đi, tiếp tục gõ búa lên bánh xe.

- Bác ơi, bác nói cho cháu biết là Mát-xcơ-va ở hướng nào?

- Cái gì? Cái gì? - Người đàn bà ngạc nhiên. - Thế cháu hỏi để làm gì?

- Cháu cần...

- Khoan đã, cậu bé thông mình ơi, - bà ta nói và bước đến bên cậu.

An-đrây vội chui xuống dưới một đoàn tàu, đoàn thứ hai, rồi đoàn thứ ba, sau đó cậu nhảy lên một toa xe trần, nằm ép dọc theo thành toa bằng gỗ, nín thở, lắng nghe. «May quá, suýt nữa thì hỏng hết! Tất nhiên, mặt trận gần Mát-xcơ-va mà, bà ta đoán ra ngay. Không, không thể hỏi thêm ai nữa cả».

Nằm một lúc, hiểu rằng không ai đuổi theo cậu cả, cậu bắt đầu bình tĩnh suy nghĩ. Không sao, phần thứ nhất kế hoạch của cậu đã thực hiện xong một cách xuất sắc, bây giờ cần bắt đầu phần thứ hai.

Cảm thấy đói, cậu mở túi, bẻ một miếng bánh mì, lấy ra một củ cà-rốt và bắt đầu ăn. Không hiểu sao bánh mì và cà-rốt có mùi dầu. Cậu không thể đoán ngay ra được rằng đấy không phải mùi của bánh mì và cà-rốt, mà là tay cậu bị dính ma-dút khi bò qua dưới các toa tàu.

Ở trên toa trần này thật ấm áp, dễ chịu. Một bên là thành toa thấp bằng gỗ với những thanh nẹp dày bằng sắt, bên kia là những khúc gỗ lớn xếp thành đống. Lớp gỗ thứ ba trồi ra đến hơn nửa mét so với hai lớp dưới tạo thành một chỗ lõm. An-đrây chui vào đó, nằm xuống đo thử. Ừ, giá được nằm đây mà đi đến tận Mát-xcơ-va thì thật tuyệt! Có thể lấy một ít cỏ khô rải lên - toa bên cạnh chở toàn cỏ khô đóng thành từng bao lớn, cậu sẽ rút một ít. Đến các nhà ga thì có mà thánh mới thấy được cậu nằm dưới lớp gỗ này. Chỉ có một vấn đề - không biết đoàn tàu này đi đâu? Đến Mát-xcơ-va hay theo hướng hoàn toàn ngược lại?

An-đrây không muốn chui ra khỏi chỗ kín đáo này. Cậu nằm im và suy nghĩ. Toa này chở gỗ, toa bên cạnh chở cỏ khô, và xa hơn nữa là các xi-téc đựng xăng. Hiện nay người ta có thể mang gỗ, cỏ khô và xăng đi đâu được nhỉ? Tất nhiên là ra mặt trận! Gỗ để xây công sự, cỏ khô cho ngựa chiến, còn dầu xăng cho máy bay.

Đúng là như thế thật, nhưng biết đâu đoàn tàu này vẫn cứ chạy theo hướng ngược lại thì sao? Không, trước hết cần phải biết chính xác Mát-xcơ-va ở hướng nào đã.

Để biết được điều này, theo kế hoạch của cậu, là một việc hết sức đơn giản: chỉ cần ra sân ga và nhìn xem những đoàn tàu có các bảng đề «Vla-đi-vô-xtốc - Mát-xcơ-va», hoặc «Iếc-cút-xcơ - Mát-xcơ-va», hoặc «Nô-vô-xi-biếc-xcơ - Mát-xcơ-va» chạy về hướng nào. Sau đó chỉ việc tìm bất kỳ một đoàn tàu hàng nào sẽ chạy cùng hướng và nhân lúc nó bắt đầu chuyển bánh, chưa kịp tăng tốc độ, bám nhảy lên theo.

An-đrây tiếc rẻ chui ra khỏi chỗ nấp. Đã bắt đầu sáng, bầu trời đen trên đầu mỗi lúc một nhợt nhạt dần, các cột khói đầu tàu như bốc lên cao hơn. Cậu nhảy xuống đất, luồn qua các đoàn tàu, đi về hướng sân ga.

Khi cậu đến gần đường sắt dành cho tàu khách, một đoàn tàu ầm ầm lao vút qua. Đầu tàu xuất hiện một cách hết sức bất ngờ, như mọc từ dưới đất lên, gầm rú dữ tợn. An-đrây chợt nghe thấy tiếng rú này khi đang ở giữa đường và cậu như bị chôn chân tại chỗ. Đầu máy lao nhanh tới mỗi lúc một to hơn, khủng khiếp. An-đrây trông thấy chiếc trán tròn, dẹt và đen trũi của nó, thấy những chiếc song chắn sơn đỏ trên các bánh xe dẫn phía trước như hàm răng nhe ra dữ tợn, thấy cả ống khói ngắn ngủn, hình phễu, đang nhả từng cụm khói đen. Cậu thấy tất cả, cậu hiểu rằng ngay bây giờ đầu tàu sẽ đè bẹp, sẽ nghiền nát cậu như một con ruồi, nhưng cậu không thể nhấc bước lên được, hai chân như bị dính chặt vào đất.

An-đrây không còn nhớ cậu kịp nhảy sang bên ra sao và từ lúc nào. Cậu chỉ cảm thấy một luồng gió nóng phả lên người và thấy bác thợ máy, đen như than, từ trên buồng máy trợn mắt giơ nắm tay đen lên dọa cậu.

An-đrây đưa mắt nhìn theo bác thợ máy, rồi biết lỗi cúi đầu xuống, nghe tiếng tim sợ hãi đập loạn xạ trong ngực. Những toa tàu vẫn nối tiếp nhau lao qua - đoàn tàu rất dài.

Nhưng khi hơi ngửng đầu lên nhìn, cậu đã quên phắt đi ngay cả người thợ máy, cả nỗi sợ hãi của mình. Xe tăng! Xe tăng! Những chiếc xe tăng đứng đầy trên các toa trần của đoàn tàu đang lao qua sân ga! Mà xe tăng thì không phải là gỗ hoặc xăng, người ta không chở chúng về hậu phương. Tất nhiên là đoàn tàu này đi về hướng Mát-xcơ-va, ra mặt trận! Thế đấy, hóa ra vẫn còn có cách khác biết được mặt trận ở hướng nào! Thế mà, trong kế hoạch của mình, cậu không nghĩ đến điều này, chỉ hy vọng vào những chiếc bảng gắn trên các đoàn tàu khách. Thế mới ngốc, thế mới ngốc chứ!

An-đrây nhảy quýnh lên vì mừng rỡ, cậu vội vã quay trở lại, leo qua các buồng hãm, chui dưới các toa tàu. «Cần phải tìm, cần phải tìm cho ra toa tàu chở gỗ... cậu thầm nghĩ. - Đoàn tàu ấy dễ tìm thôi gỗ, cỏ khô, các thùng xi-téc đựng xăng. Nếu nó lại chạy hướng ngược lại đoàn tàu chở xe tăng vừa rồi, mình sẽ nhảy ngay xuống đất và leo lên một đoàn tàu khác. Còn nếu nó chạy cùng về hướng ấy thì quá là may mắn, thắng lợi. Dưới lớp gỗ kia thật ấm áp, dễ chịu. Tránh được cả mưa nữa... Nhưng không biết nó đâu rồi? Chẳng lẽ chạy mất rồi à? Chẳng lẽ chạy rồi à?»

Nhưng đoàn tàu có toa chở gỗ mà An-đrây rất thích, vẫn nằm nguyên chỗ cũ. An-đrây tìm thấy nó khi trời đã sáng hẳn, cậu chui vào dưới hõm gỗ, nằm duỗi thẳng cả người ra và khoan khoái mỉm cười. «Thế đấy...»

Đoàn tàu còn đứng ở ga rất lâu, phải đến một - hai tiếng đồng hồ nữa. An-đrây kiên nhẫn nằm đợi. Cuối cùng, cậu nghe tiếng sắt thép loảng xoảng khô khốc những tiếng động đó cứ lớn dần, lại gần, và toa tàu cậu nằm bỗng giật mạnh và bắt đầu chuyển động. Tiếng sắt thép loảng xoảng chạy về phía đuôi tàu, nhỏ dần. Tiếng bánh tàu, hãy còn thưa thớt và khe khẽ, gõ lên những chỗ nối trên đường ray.

An-đrây chui ra khỏi chỗ ẩn, nhìn sang phải, sang trái và cười nhẹ nhõm: đoàn tàu đi về đúng cái hướng của đoàn tàu chở xe tăng vừa chạy lúc nãy.

Mấy phút sau đoàn tàu đã ra khỏi địa phận sân ga và bắt đầu tăng tốc độ. Những công trình cuối cùng của khu vực ga, một ngôi nhà thờ nhỏ thấp thoáng lùi dần về phía xa, những ngôi nhà gỗ nhỏ bé, đen sạm vì mưa nắng chạy ngược trở lại mỗi lúc một nhanh hơn. Và bỗng nhiên, hoàn toàn bất ngờ, đoàn tàu lao ầm ầm trên một chiếc cầu sắt rất lớn.

Chưa bao giờ An-đrây được thấy một con sông lớn và chiếc cầu dài đến vậy. Đấy không phải là Grô-mô-tu-kha, nó rộng hơn ít nhất là năm lần. Trên sông có cả tàu thủy chạy nữa.

An-đrây nhìn qua hàng rào chắn cầu xuống chiếc tàu thủy lớn, màu trắng, đang vạch một vệt dài sủi bọt trên sông, xuống những con sóng nặng như chì đang từ hai bên thành tàu đuổi nhau vào bờ và cậu bỗng cảm thấy khát nước. «Ôi quỷ thật, mình làm sao bây giờ? cậu cau có nghĩ bụng. Đáng lẽ khi ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ phải tìm lấy một ít nước. Nhưng không sao, chắc tàu rồi cũng phải dừng lại ở một nơi nào đấy, lúc đó ta sẽ lấy...»

Rồi cả thành phố, cả chiếc cầu cùng con sông và tàu thủy tụt lại phía sau, đoàn tàu đã đi vào đồng cỏ. Xa xa, những xóm làng thấp thoáng, nhưng An-đrây nhìn mãi đã phát chán, cậu đứng dậy và thận trọng leo sang toa chở cỏ khô. Các kiện cỏ được xếp thành hình tháp, mỗi kiện đều bị một lưới thép buộc chặt. An-đrây thử giật một ít cỏ khô từ các kiện, nhưng không được. Mặc dù sợ bị ngã, cậu vẫn liều leo đi khắp toa để tìm một kiện nào bị sổ ra, nhưng không có. «Thôi được, - cậu trở về toa chở gỗ, nghĩ, - không có lót cũng không sao, vẫn đến nơi được...»

Nhưng mỗi lúc cậu càng cảm thấy khát hơn. Miệng, lưỡi khô cứng lại. Bánh xe vẫn gõ gõ không ngừng như ru ngủ. Nhưng An-đrây không thể ngủ được. Chỉ vừa nhắm mắt lại, cậu đã mơ thấy chiếc tàu thủy màu trắng đang đuổi giạt những con sóng nặng trên dòng sông lạ, và cậu càng thấy khát hơn.

Còn đoàn tàu, cứ như trêu chọc cậu, liên tiếp chạy qua những con sông, con suối nhỏ. Tuy là nhỏ, nhưng vẫn có thể uống thỏa thích được, - An-đrây nghĩ, - đủ cho cả hàng trăm hàng nghìn người. Ôi, giá như đoàn tàu, vì một nguyên nhân nào đó bỗng bất ngờ dừng lại bên cạnh một con suối thì may mắn biết mấy!

Nhưng đoàn tàu không hề dừng lại cạnh các con suối. Và nói chung, nó chạy rất lâu đã mấy tiếng đồng hồ liền không dừng. Mặt trời đã lên cao, tỏa nắng xuống những cánh đồng hoang trống trải, những thửa ruộng nông trường gặt đã lâu, chỉ còn trơ lại gốc rạ bị bò, ngựa giẫm nát.

Khi An-đrây đã gần như không chịu đựng nổi nữa vì khát, khi cổ họng và miệng đã khô rát, đoàn tàu bắt đầu chạy chậm lại, tiếng bánh gõ trên nền đường trở nên thưa hơn. An-đrây nhổm người ra ngoài thành toa. Nhưng cái mà cậu nhìn thấy không làm cho cậu mừng lắm: phía trước ngất nghểu một cây cột chỉ đường; xa hơn, sau cột chỉ đường, là một túp lều gỗ nhỏ đứng đơn độc. Chắc là một quãng đường tránh. «Nếu là nhà ga, thì mới có thiết bị đun nước, cậu nghĩ bụng không lấy gì làm vui vẻ. Lúc đó mình sẽ xuống và lấy đầy một xoong nước. Nhưng ở đây thì làm sao bây giờ? Tất nhiên ở đây nếu đã có người thì cũng phải có nước. Nhưng vào lều và xin nước là một việc nguy hiểm. Họ lại hỏi mình là ai, đi đâu, tại sao lại nằm trên tàu hàng - và thế là hỏng bét. Mà tàu có dừng lại không đã chứ?»

Đoàn tàu chạy chậm dần, rồi dừng hẳn. Toa tàu của An-đrây đỗ ngay đối diện túp lều gỗ. Và cạnh lều là... An-đrây phải nhắm mắt lại, lắc mạnh đầu để xua đuổi ảo ảnh... Bên cạnh lều, cách chỗ cậu nằm chỉ hai chục thước, từ dưới đất trồi lên một thành giếng bằng gỗ. Một người đàn bà, không, hình như chỉ là một cô bé, đang dùng gầu gỗ múc nước từ giếng lên đổ vào mấy chiếc xô để trên mặt đất.

Hỏi xin... hỏi xin một xoong nước?! Hay là... không cần, nguy hiểm lắm! Hoặc cứ hỏi, có thể không sao, chắc họ sẽ không đoán ra cậu đi đâu đâu? Không, không nguy hiểm! Cô bé này có thể sẽ không hỏi gì cậu đâu, nhưng sau lại nói với người lớn. Lúc đó họ hoặc là sẽ bắt cậu xuống tàu ngay bây giờ, hoặc sẽ gọi điện (mà trong lều chắc hẳn phải có điện thoại!) cho ga sau: có người đáng nghi đi trên đoàn tàu hàng, phải kiểm tra xem...

Nhưng trước mắt cậu, từng dòng nước lạnh trong vắt chảy từ chiếc gầu gỗ nặng vào mấy xô tôn cứ lấp lánh, lấp lánh. An-đrây cảm thấy trong miệng mình vị ngọt mát của nước, và cuống họng cậu như bị co giật. Cậu nhìn ra phía trước - cột tín hiệu vẫn còn cãm đường, chưa cho phép tàu chạy. Và hai bàn tay của cậu tự động mở túi lấy xoong ra. Hất chiếc áo khoác trên vai xuống, cậu nhảy xuống đất, kêu to.

- Này, đợi một tí...

Cô bé bên giếng quay lại nhìn.

- Này... mau lên, mau lên! - cậu chạy đến bên giếng, miệng hét. - Cho tớ tí nước, mau lên...

Và không để ý đến cô bé mặc chiếc áo khoác rách, thắt dây lưng da bộ đội đã cũ đang sợ hãi đi giật lùi, cậu vục xoong vào chiếc xô nước đặt trên mặt đất, múc nước đưa lên miệng uống ừng ực, nước đổ ra cả người.

Nước rất lạnh, giá buốt. Sau hai ba hớp, răng cậu nghe nhức buốt, nước mắt ứa ra.

- Đằng ấy... là ai thế? - Cô bé hỏi.

- Tớ là người, - cậu trả lời, lấy tay xoa má cố làm dịu cơn nhức buốt trong chân răng. Rồi cậu lại vục đầu vào xoong nước, uống tiếp.

Cô bé vẫn căng tròn mắt nhìn cậu.

- Đằng ấy đi trốn vé trên tàu hàng này à?

- Tớ đi... Nhưng không phải tớ trốn vé, mà là vé trốn tớ...

Cô bé lấy tay che miệng phá ra cười. An-đrây đột nhiên bảo:

- Này, đằng ấy đừng nói với ai là tớ đi trên tàu này nhé!

- Được, tớ không nói đâu, - cô bé hứa. - Nếu cần, đằng ấy cứ lấy đầy xoong nước đi. Chỉ có điều đừng vục xoong vào xô, để tớ đổ ra cho.

Cô bé bắt đầu nghiêng xô rót nước ra, nhưng cũng vừa lúc đó đầu máy kéo còi và đoàn tàu chuyển bánh.

- Ôi, đằng ấy nhỡ mất kìa! - cô bé kêu lên the thé.

An-đrây chạy vội đến đoàn tàu, làm sánh nước tung tóe.

Cậu chạy hết sức, nhưng toa tàu chở gỗ, nơi cậu để lại túi thức ăn, mỗi lúc một xa dần. «Nhỡ mất rồi! Nhỡ mất rồi! - cậu nghe như có cái gì gõ váng lên trong đầu. - Mà trong túi có bánh mì, mỡ... cả áo nữa... Mình làm sao bây giờ? Mình làm sao bây giờ?»

Sự sợ hãi, luống cuống làm cho đôi chân trở nên nặng trịch, cứng đờ ra, phải khó khăn lắm cậu mới nhấc được chúng lên khỏi mặt đất. Đường ray lại nằm trên một nền đá thấp, chạy rất khó khăn. «Nhỡ mất rồi! Nhỡ mất rồi!..»

Những thùng xi-téc, những toa tàu bịt kín, lại những thùng xi-téc nối nhau chạy qua. Đoàn tàu chạy mỗi lúc một nhanh thêm. Biết rằng không thể nào đuổi kịp toa tàu chở gỗ, An-đrây ném chiếc xoong với một ít nước còn lại, cố liều bám lấy bất kỳ một toa nào. Nhưng cố gắng của cậu bị thất bại thảm hại - cậu bị trượt chân, ngã lăn xuống dưới nền đường, đầu gối rớm máu. Tuy vậy, cậu lại chồm dậy ngay, không cảm thấy đau đớn gì cả.

Toa cuối cùng của đoàn tàu sắp lướt qua.

- Nào cháu, đưa tay đây! - cậu bỗng nghe có tiếng nói và thấy một người với bộ ria mép rậm đang nhoài người ra ngoài buồng hãm của toa tàu cuối cùng. Ông đứng ở tầng dưới của bậc thang lên xuống, một tay ôm lấy tay vịn bằng sắt, tay kia chìa ra cho cậu.

An-đrây muốn túm lấy cánh tay đang chìa ra, nhưng bàn tay cậu chỉ chạm tuột theo ống tay chiếc áo khoác ngoài, và toa tàu cuối cùng cũng bắt đầu vượt lên, nửa mét, một mét, rồi mét rưỡi...

- Bác ơi... Bác ơi! - An-đrây cuống quít, thất vọng kêu to.

- Cháu nhảy lên, nhảy lên đi! - người có bộ ria rậm cũng kêu lên. - Chỉ một bước nhảy... Cố một bước nhảy cuối cùng!

An-đrây cũng hiểu rằng nếu bây giờ không làm một bước nhảy cuối cùng, bước nhảy quyết định, thì như vậy coi như tạm biệt chiếc áo khoác ngoài, tạm biệt túi đựng thức ăn, mà thiếu cái ăn thì cậu không thể nào đi đến mặt trận được. Và cậu cố hết sức...

- Bắt lấy!..

Cậu cảm thấy như có một cái gì quất vào mặt. Cậu không trông thấy, nhưng đoán ngay ra là bác kia ném cho cậu sợi dây thừng hay thắt lưng, và cậu vội chộp ngay lấy đầu dây cứu nạn, chộp ngay lấy và bám thật chắc, đến nỗi có lẽ trên thế giới này không có sức mạnh nào bây giờ có thể bắt cậu buông tay ra được.

Bác ria xồm kéo cậu lên buồng hãm. Đôi bàn tay bóp chặt đến trắng nhợt vẫn chưa buông đầu thắt lưng ra, An-đrây thấy những bụi cây lướt qua ngay bên cạnh, nghe tiếng bánh xe gõ đều đều dưới chân. Đến lúc ấy cậu mới hiểu là cuối cùng cậu vẫn không bị nhỡ tàu và phá ra cười nhẹ nhõm.

- Bác kéo cháu lên cũng khéo đấy chứ, cứ y như giật con cá từ trong ao lên, - bác ria xồm ngồi xổm xuống, nói. Rồi bác nháy mắt: - Còn cháu cũng khá lắm, nắm chắc ghê. Khá, khá lắm.

- Cám ơn bác, nếu không, cháu nhỡ tàu mất, - An-đrây nói và lảo đảo đứng dậy. Cậu nghe đau ran trong ngực như vừa bị đốt, bị dùng gậy đánh rất lâu. Lại khát nước nữa. - Còn đằng kia, trong toa chở gỗ, cháu còn có một cái túi đựng bánh mì và áo khoác.

- Còn bác, bác cũng sợ cháu nhỡ tàu mất. Khi cháu chạy đến bên giếng, bác đã gọi bảo: «Cháu ơi, nhanh lên!» Thế cháu không nghe thấy à?

- Không ạ, - An-đrây lắc đầu, ngạc nhiên nhìn con người lạ lùng này. - Thế bác là ai?

- Bác là nhân viên phụ trách tàu. Bác phải theo các đoàn tàu đi khắp nơi... Không sao, mọi việc đều ổn cả. Còn áo và túi không mất đi đâu mà sợ. Sắp tới đến ga, cháu sẽ lấy. Thế cháu định đi tiếp hay sao - ở toa tàu đằng kia hay ở đây với bác? Ở đây đi, không một mình bác buồn lắm.

- Cháu cũng không biết nữa, - An-đrây nhìn bác ria rậm với một sự lo lắng, dè dặt, cố đoán xem mình rơi vào một tình cảnh như thế nào. Mặc dù bác này trông có vẻ tốt bụng, đã nhanh trí ném dây cho cậu, nhưng biết đâu đến nhà ga gần đấy bác ta lại nộp cậu cho đồn công an?

Nhưng bây giờ thì chưa thấy bác ta có biểu hiện gì về ý định đó. Bác đứng tựa khuỷu tay lên thanh chắn của buồng hãm, nhằn hạt hướng dương, nhả vỏ xuống đường ray lấp loáng dưới toa tàu. Mà cũng có thể, bác ta là một người tốt, An-đrây nghĩ bụng tiếp. Có những con người rất tốt bụng, bao giờ cũng hiểu và giúp đỡ bọn trẻ. Cũng có thể bác này sẽ hiểu cậu, giúp cậu đi đến được mặt trận. Tuy nhiên, để đề phòng, An-đrây thấy không nên nói cho bác ta biết mình đi đâu. Và nói chung, để cho chắc chắn, nên tìm cách trốn đi là hơn. Chỉ có điều làm sao lấy được túi và áo?

Nhằn hết hạt hướng dương, bác nhân viên lấy từ trên thành toa xuống một chiếc áo mưa, trải xuống sàn, ngồi lên, lấy từ trong hộp sắt đặt trên đầu gối ra nào trứng, nào cà chua, nào bánh mì.

- Ngồi xuống đây, đồng chí Va-xi-li I-va-nô-vích, ta đánh chén một tí để đi xa cho vui vẻ.

- Cháu không phải Va-xi-li I-va-nô-vích, cháu là An-đrây Xa-vê-li-ép.

- À-à... thôi được. Còn bác là Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích... An-đrây Xa-vê-li-ép à? Hượm, hượm nào! - Bác nhân viên đang định cắt bánh mì, ngạc nhiên dừng tay nhìn An-đrây. - Thế cháu có phải con bà Di-na-i-đa Xa-vê-li-ê-va bán vé ở nhà ga Nô-vô-xi-biếc-xcơ không?

- Không phải ạ, - An-đrây lắc đầu.

- Sao lại không phải? - đôi mắt của bác nhân viên bỗng trở nên nghiêm nghị. - Đúng, đúng là cháu rồi! Sao cháu cứ chối quanh thế làm gì? Chính cháu mùa hè vừa rồi nhảy vào vườn bác, làm nát hết cả cà chua!

- Bác nói sao, bác Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích! Vườn nào? Cà chua nào? Cháu có ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ đâu, cháu ở San-ta-ra cơ mà. Cháu ở làng gọi là San-ta-ra...

- À-à... - bác nhân viên kéo dài giọng, đôi mắt bác lại trở nên hiền lành. - Thế thì xin lỗi cháu nhé, bác nhầm. Còn San-ta-ra, bác có biết, đã bao nhiêu lần đi ngang qua. Ở đấy còn có một con sông nhỏ... gọi là gì nhỉ? Con sông đẹp lắm...

- Grô-mô-tu-kha.

- Đúng rồi. Còn khi đến đây, từ xa đã thấy núi.

- Vâng, - An-đrây đồng ý gật đầu. - Núi ở chỗ cháu cũng đẹp và có tên rất hay: Dve-nhi-gô-ra .

- Đúng là hay thật. Nhưng sao lại có tên như vậy? Nó kêu thật à?

- Cháu không biết. Nhưng khi nào đứng ngắm nó lâu, thật lâu, đặc biệt vào những ngày trời nắng dịu, thường có cảm tưởng như nó đang kêu, ngân khe khẽ như chuông.

- Được rồi, bây giờ thì bác tin là cháu ở San-ta-ra thật. - Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích nói. - Thế mà bác nhầm... Xin lỗi cháu nhé.

- Không sao ạ - An-đrây rộng lượng đáp.

- Cháu ăn đi, An-đrây, đừng ngượng.

- Cháu muốn uống trước.

- Bi-đông nước đây, cháu uống đi.

Tiếng bánh xe gõ giòn giã, dồn dập và vui vẻ, hai bên đường thấp thoáng những rừng bạch dương đã trụi lá từ lâu. Uống nước chán, An-đrây bắt đầu nhét cà chua đầy cả hai bên má, rồi sau đó bắt tay đến món trứng luộc. Nhưng trong bụng, cậu vẫn lo lắng, không yên tâm. Cậu lờ mờ cảm thấy rằng trong câu chuyện với bác nhân viên, cậu vừa mắc phải một sai lầm lớn. Nhưng sai lầm nào - hiện cậu chưa thể biết được.

Ăn xong, Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích bỏ bánh mì và cà chua còn lại vào hộp sắt của mình, châm thuốc hút và nói:

- Bác rất thích qua làng San-ta-ra của cháu. Đường về đó rất đẹp - rừng, đồi núi, thung lũng. Còn ở đây thì chỉ có đồng cỏ trần trụi và những cánh rừng bạch dương chán ngắt này. Thế còn cháu đi đâu đây, ra mặt trận à?

An-đrây đang đợi câu hỏi này và đã chuẩn bị để trả lời. Nhưng khi nghe hỏi, cậu vẫn luống cuống.

- Cháu ấy à? Bác bảo sao? Không... Cháu chỉ đi... cháu đến thăm bà. Bà cháu ở gần đây thôi. Cháu sắp xuống rồi.

- Ga nào?

- Ga... ga... Đến ga lớn đầu tiên, cháu sẽ xuống.

Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích phá ra cười, chụp mũ lông xuống che kín cả mắt cậu.

- Bác sao thế?

- Cháu nói dối khiếp thế! Bác thấy ngay là cháu đi ra mặt trận. Giấu làm gì vô ích. Nhưng đây là việc của cháu, muốn xuống đâu thì xuống. Còn nếu như muốn ra mặt trận, bác khuyên cháu không nên xuống khỏi tàu này. Nó đi thẳng ra mặt trận đấy.

- Đi thẳng ra mặt trận à? Cháu đã biết mà! - An-đrây mừng quá kêu to, - Vì cháu nghĩ bây giờ thì người ta có thể chở xăng đi đâu được nữa? Chỉ có ra mặt trận... - Cậu bỗng im bặt, sực nhớ ra rằng thế là mình đã để lộ tẩy hết.

- Cháu nghĩ đúng đấy, cừ lắm. Bác thấy cháu là một chàng trai anh hùng đây, bác thích những người như vậy. Bác thì chỉ đưa đoàn tàu này đến ga Tsu-lưm-xcai-a thôi. Đến đó, một bác nhân viên khác sẽ dẫn đi tiếp. Bác ấy cũng là bạn thân của bác. Bác sẽ nói với bác ấy cho phép cháu đi tiếp ở toa này. Sau đây, bác bạn thân của bác lại nói với người phụ trách tiếp theo. Bác này lại nói với người phụ trách sau nữa... Cứ thế, họ sẽ đưa cháu đến tận mặt trận. Bác nói nhé?

An-đrây không biết trả lời ra sao. Nếu bảo «bác nói đi» có nghĩa là chẳng khác gì thú nhận «lạy ông con ở bụi này». Cậu im lặng.

- Tùy cháu đấy. Ở đây dù sao vẫn kín gió hơn, lại có mái che. Còn ở toa trần khi có mưa cháu sẽ bị ướt hết ngay. Hơn nữa, bất kỳ một người công an nào cũng có thể bắt cháu xuống tàu. Còn ở đây, với nhân viên phụ trách tàu, ấm áp và an toàn hơn.

An-đrây thở dài. Tất nhiên là ở đây tốt hơn nhiều. Nhưng mặt khác, vẫn có nguy hiểm. Nếu như trong số các nhân viên phụ trách tàu có một người nào đó không tốt bụng, thông cảm như bác Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích này, bắt cậu đem nộp cho công an thì sao?

Cậu lại thở dài lần nữa, đưa mắt nhìn bác Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích. Bác ta vẫn ngồi trên chiếc áo mưa, loay hoay với mấy chiếc đèn hiệu, lau các mặt kính bằng một miếng giẻ bẩn. Rồi bác đặt đèn vào chân thành toa, nhặt áo mưa lên, giũ sạch, rồi treo lên chiếc đinh đóng trên thành toa, tựa khuỷu tay vào thanh ngang của buồng hãm và lại bắt đầu nhằn hạt hướng dương.

- Cháu ăn không? - Bác chìa cho An-đrây một vốc tướng.

An-đrây cũng đến đứng cạnh bác và bắt đầu nhằn.

Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích không hỏi gì thêm, cũng không đòi phải trả lời ý kiến đề nghị của mình. Và điều này làm cho An-đrây thích. Cậu nghĩ: thế mới phải chứ, người đàn ông chân chính không nên nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần cũng chỉ một điều ấy. Chỉ nói một lần - và thế là đủ. Bây giờ đến lượt cậu phải suy nghĩ, tính toán và quyết định. Nhưng quyết định thế nào?

- Thôi được, - cậu nói mà vẫn còn sợ, - Bác cứ nói với bác nhân viên phụ trách là bạn thân của bác đi. Cháu đồng ý.

- Thế mới thông minh chứ! - Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích gật đầu. - Cháu khá lắm.

Tại ga đầu tiên khi tàu dừng lại, hai người cùng nhau chạy đến toa gỗ, lấy túi và áo khoác của An-đrây, rồi lại trở về buồng hãm. Sau đó, tàu còn nhiều lần dừng lại ở các ga xép chật ních các đoàn tàu hàng. An-đrây bây giờ công khai nhẩy xuống đất, đi lại xung quanh toa, co duỗi chân tay. Những nhân viên đường sắt chạy ngang qua hoàn toàn không chú ý gì đến cậu. «Tốt lắm!» - An-đrây vui mừng nghĩ. Và đoàn tàu của họ lại phóng lên phía trước, bỏ lại đằng sau các ga lớn, ga nhỏ, các xóm làng. An-đrây mấy lần kể cho Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích nghe về San-ta-ra, về dãy Dve-nhi-gô-ra và con sông Grô-mô-tu-kha. Không hiểu sao, bao giờ cậu cũng quay về chuyện câu cá.

- Còn cá rô ở sông Grô-mô-tu-kha thì chẳng khác gì thú đói. Nó cắn mồi cứ như có ai lấy gậy phang vào cần câu ấy. Sau chiến tranh cháu về, mời bác đến Grô-mô-tu-kha ta cùng câu cá. Bác sẽ đến chứ?

- Tất nhiên, An-đrây ạ. Bây giờ bác cháu ta đã là bạn của nhau rồi mà.

Thỉnh thoảng An-đrây ngồi im lặng, nhìn rất lâu ra những cánh rừng con thấp thoáng hai bên đường.

- Thế những người bạn phụ trách tàu của bác có đánh lừa cháu không? Có thể tin họ được không? - cậu hỏi.

- Có thể tin ở họ như tin bác.

- Bác nói thật đấy chứ ạ?

- Nếu không thì bác lại đi nói với họ về cháu để làm gì? Đừng lo, An-đrây ạ, mọi việc sẽ tốt đẹp cả.

- Thôi được... Cháu tin bác.

Đến chiều, lúc gần tối, phía trước hiện ra một thị trấn nhỏ. Mấy phút sau, đoàn tàu đã chạy ngang qua những ngôi nhà gỗ thấp lè tè xấu xí, những túp lều bằng ván ghép. Cả nhà, cả lều, cả những thân cây trần trụi đứng rải rác đây đó, - tất cả đều phủ một lớp bồ hóng và khói đầu máy đen kịt.

- Ga Tsu-lưm-xcai-a phải không, bác?

- Nó đấy, - Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích gật đầu.

Ga Tsu-lưm-xcai-a, cũng như những ga khác chật ních tàu quân sự. Đoàn tàu của họ xuyên thẳng vào khối những toa tàu dày đặc, và thật kỳ lạ, đáng ngạc nhiên, là làm sao chiếc đầu máy kéo đoàn tàu của họ có thể tìm ra ở đây được một con đường trống và lách chen vào giữa những hàng tàu dày đặc này.

- Thế là đến nơi rồi đấy. Tàu còn phải đứng ở đây rất lâu. Ta vào phòng nhân viên đi, bác sẽ giới thiệu cháu với người thay bác.

An-đrây vắt túi lên vai, hai người đi ra sân ga. Có lẽ ở đây mọi người đang đợi đoàn tàu khách, đàn ông, đàn bà ngồi trên va-li, trên bao gói, thành từng nhóm, chen chúc nhau trước cửa ngôi nhà ga một tầng, từng toán dăm ba người đi đi lại lại.

Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích dẫn An-đrây qua một hành lang tối tăm, bẩn thỉu của nhà ga, giơ tay đẩy vào một cánh cửa. Cửa đóng, nhưng chìa vẫn cắm ở ổ khóa.

- Lạ thật, không biết cô ta đi đâu mất rồi? - Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích thốt lên và dừng lại, lưỡng lự.

- Cô nào?

- Phụ trách tàu, người thay ca cho bác.

- Phụ trách tàu không phải cô, mà...

- Sao? Ở chỗ bác có cả phụ nữ phụ trách tàu.

Giọng của Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích nghe hơi khang khác so với mọi khi, có cái gì như vẻ của một người có lỗi. Cái giọng nói đó, cái tin rằng người thay ca cho Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích là phụ nữ, thậm chí cả cái cánh cửa sây sước bẩn thỉu, - tất cả đều làm cho An-đrây lo ngại. «Lạ thật...» - cậu nói thầm, nhưng chưa kịp nghĩ gì thêm, thì Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích đã cương quyết quay chìa khóa, mở toang cửa và khẽ đẩy vào lưng An-đrây.

Căn phòng họ vừa bước vào khá rộng rãi, sáng sủa. Một chiếc bàn viết kê trong góc phòng, trên bàn có mấy tờ giấy. Một chiếc ghế đi-văng dài đã cũ sờn, đặt dọc theo tường, mấy chiếc ghế tựa... Từng vật riêng biệt trong phòng đều không có gì tỏ ra là nguy hiểm cả, nhưng đó chỉ là cảm giác trước khi cậu nhận thấy rằng cửa sổ duy nhất của căn phòng bị lưới sắt chăng kín, còn trên tường treo một tấm biểu ngữ vẽ một người công an má đỏ hồng hào đứng giữa phố ồn ào và một đoàn thiếu niên đang xếp hàng đi ngang qua. An-đrây liền đoán ra ngay mọi chuyện, cậu tái mặt, vụt quay người lại phía Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích, đôi môi run lên giận dữ.

- An-đrây ạ, cháu hiểu cho, bác không thể làm khác, - Nhi-cô-lai Pê-tơ-rô-vích nói, mắt nhìn tránh ra chỗ khác. - Cháu hãy hiểu cho bác.

- Thế mà cháu đã tin bác đấy! Cháu đã tin! - An-đrây hét to.

- Còn sau chiến tranh, bác sẽ đến đi câu cá cùng cháu...

- Bác là... là... Ông là đồ phản bội!

Nghe những lời này, bác phụ trách tàu bước lùi lại, đôi mắt buồn rầu nhìn An-đrây, và bác dùng lưng mở cửa phòng. An-đrây lao vội lên trước, định chạy ra khỏi phòng cùng với con người giờ trở nên đáng ghét đối với cậu, nhưng cậu vấp phải cánh cửa đóng sập ngay trước mũi. Cậu đấm đá, lấy móng tay cào vào cửa:

- Đồ phản bội! Đồ phản bội! Đồ phản bội!... - cậu tuột người theo cánh cửa, ngồi phịch xuống sàn nhà, gào tướng lên. Chiếc mũ lông đội trên đầu rơi xuống lăn ra tận giữa phòng.

Một lúc sau có tiếng chìa khóa mở cửa lách cách, một người nào đó xốc nách đỡ cậu lên khỏi sàn, đặt ngồi xuống chiếc ghế đi-văng đã cũ mòn. Thậm chí người đó còn xoa đầu cậu nữa. An-đrây biết đó là chú công an, cậu tức giận hất tay ra, gục đầu vào thành ghế lạnh và lại òa lên nức nở.

Người công an vừa vào phòng không nói gì. An-đrây không nhìn người đó, - cậu không muốn nhìn. Nghe tiếng động và tiếng giấy tờ sột soạt, cậu đoán người công an đã ngồi xuống sau bàn và bắt đầu giở giấy tờ. «Cứ để cho chú ấy giở... Còn mình, mình cứ ngồi đây như thế này, mình thà chết còn hơn là nhìn chú ấy...» - cậu bướng bỉnh nghĩ thầm và đã thôi thút thít khóc. Nhưng sau lưng, một tiếng còi tàu đột ngột rú lên, khàn khàn, dai dẳng. Có thể, đó là tàu khách vừa vào ga, mà cũng có thể, đó là đoàn tàu của cậu lại đi tiếp... An-đrây vô tình ngẩng đầu lên và thấy người ngồi sau bàn không phải là chú công an, mà là cô công an. Cô ta có lẽ chỉ hơi lớn tuổi hơn Vê-ra I-nhi-u-chi-na một tí, đôi mắt thì hoàn toàn còn trẻ con, tò mò, nghịch ngợm. Nhận thấy An-đrây đang nhìn mình, cô ta nháy mắt liên tiếp, thở dài và hỏi ra vẻ thông cảm:

- Tức lắm, hả?

- Cút cô đi... - An-đrây khinh khỉnh đáp.

- An-đrây, cháu nói hỗn với người lớn như thế đấy à?

- Tôi chẳng phải An-đrây nào cả.

- Sao lại không phải là An-đrây? Đúng cháu là An-đrây Xa-vê-li-ép, nhà ở làng San-ta-ra, phía bên kia thành phố Nô-vô-xi-biếc-xcơ... Ôi, phải dẫn cậu đi về xa lắm đây!

«Mách hết rồi, đồ phản bội, đến cái này cũng mách hết rồi! - cậu giận dữ nghĩ về bác phụ trách tàu. - Thế mà mình nghĩ mắt lão ta hiền, đến ria cũng dễ coi... Đúng ra, bộ ria trông thật tởm, quằm quặm, còn mắt thì giả dối, xảo quyệt. Đồ phản bội, xấu hổ đến không dám nhìn vào mắt mình... Nhưng có lẽ lão ta giả vờ làm bộ như xấu hổ. Những người như lão ta thì làm sao còn biết xấu hổ nữa...»

* * *

Hai ngày sau An-đrây đã có mặt ở San-ta-ra.

Cô công an ngồi giở giấy tờ sột soạt thêm một lúc rồi dẫn An-đrây đến nhà ăn ăn tối. Nhưng cậu cương quyết không chịu ăn. Lúc đó cô ta lại dẫn cậu về nhà tù. Thực ra đó không hẳn là nhà tù, mà cũng chỉ là một căn phòng gần giống như căn phòng ở nhà ga. Nhưng ở đây không có bàn, một chiếc phản gỗ rộng kê suốt dọc theo tường, còn trên cửa sổ không phải lưới thép mà là chấn song sắt chính cống. Và ngoài ra, một người công an trực suốt đêm, vừa ho vừa đi đi lại lại ngoài cửa.

Sáng hôm sau, cô công an kia lại đến, túm chặt lấy tay cậu kéo ra sân ga. Sau đó cậu thấy mình đang ở trong một toa hàng được sưởi ấm để chở người, chừng mười lăm, mười sáu cậu bé, thậm chí có cả một cô bé với đôi bím tóc mỏng, rối bù xù, cũng trạc tuổi cậu, đang nằm ngồi trên sàn tàu trải một lớp rơm dày; cùng với họ là một người công an cao gầy, dáng chậm chạp, ít nói. Toa này được móc vào cuối một đoàn tàu khách. An-đrây chui vào góc tối nhất và ngồi khóc rất lâu, không thành tiếng.

Tất cả bọn con trai và cô bé gái này đều ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ. Tàu vừa mới dừng lại, toa của họ đã bị các ông bố, bà mẹ, bà nội, bà ngoại vây chặt, kêu la khóc lóc ầm ĩ. Người công an cao gầy gọi tên, bắt họ phải ký vào một tờ giấy, xong xuôi rồi mới thả các hành khách của mình ra từng người một, luôn miệng càu nhàu:

- Thả cho trẻ con hư hỏng để chúng tôi phải hết hơi chạy theo bắt chúng suốt cả tuyến đường! Bây giờ về lo mà trông nom cho cẩn thận hơn đấy...

Từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ họ đi trong toa khách. An-đrây, bị người công an dẫn ngồi ép sát vào thành toa, buồn rầu nhìn qua cửa sổ. Suốt dọc đường, người công an ngồi ngủ gật, nhắm mắt, thở phì phò. Nhưng chỉ cần An-đrây khẽ cựa quậy, là anh ta lập tức thôi thở phì phò, mở mắt và bạnh hàm dưới ra một cách khó coi, y như hàm ếch.

Ở San-ta-ra, vừa bước xuống toa, An-đrây đã rơi ngay vào vòng tay của mẹ.

- Con ơi, con trai tôi... - mẹ vừa khóc vừa nói, hôn vào má vào trán và ghì chặt cậu vào bộ ngực mềm mại. - Sao con lại thế? Làm mẹ thiếu tí nữa phát điên lên...

- Thả cho trẻ con hư hỏng hết... - người công an lại càu nhàu nói và chìa cho mẹ một tờ giấy. - Nhờ chị ký nhận giùm vào đây...

Về nhà, mẹ liền lôi ngay An-đrây vào nhà tắm đã được chuẩn bị sẵn từ trước. Sau đó, đặt cậu ngồi vào bàn trong bếp, và cho cậu, như một người khách quý, uống chè pha kem sữa, đặt trước mặt cậu cả một đĩa kẹo bọc giấy rất đẹp.

An-đrây còn chưa uống hết cốc nước, thì cha đã đi làm về.

- Nó thì không phải cho kẹo, mà phải cho thắt lưng thật dày vào đít, - cha vừa giận dữ nói, vừa đứng ở ngưỡng cửa cởi đôi ủng lấm bê bết và ném mạnh xuống sàn nhà. Rồi, không nói thêm nửa lời, bỏ đi vào nhà tắm.

Một lúc sau cửa lại mở, Xê-mi-ôn, cũng đi làm về, bước vào.

- A, anh chàng bộ đội, đã trở về đầy à? Thế Hồng quân bây giờ thiếu mày thì sẽ ra sao?

Những lời của Xê-mi-ôn làm cho An-đrây khó chịu hơn là sự đe dọa của cha, vì trong đó có sự giễu cợt. Cậu nổi khùng lên thật sự, đẩy cả cốc, cả đĩa kẹo ra xa người.

- Anh cười, hả? - cậu hét to, mắt long lanh.

- An-đrây! Xê-mi-ôn... - mẹ khẩn khoản. - Con đừng thế, Xê-mi-ôn... Còn con, ăn đi...

- Anh để thêm ria nữa thì sẽ giống y như lão nhân viên phụ trách tàu đây!

- Nhân viên phụ trách tàu nào? - Xê-mi-ôn hỏi lại. - Thế tức là một ông phụ trách tàu nào đó bắt mày xuống tàu chứ gì?

- Đó không phải là việc của anh, - An-đrây làu bàu. Cậu nghĩ một lát, nói thêm. -Lão ta lại còn nói sẽ đến đây đi câu cá. Có giói thì cứ đến, em sẽ cho lão... Gì mà trố mắt lên thế?

Đang nói những lời cuối cùng, cậu ngoảnh phắt lại nhìn Đi-ma và Gan-na vừa mới ở trường chạy về. Đúng là hai đứa đang ngạc nhiên «trố mắt» lên nhìn An-đrây.

An-đrây nhìn lại chúng bằng một ánh mắt giễu cợt, và cảm thấy mình ít nhiều vẫn là anh hùng, cậu bỏ ra ngoài đường.

Nửa giờ sau, cậu đã ngồi trên bậc thềm nhà I-nhi-u-chin, kể cho Nhi-cô-lai, Gan-na, Đi-ma và Vi-chi-a Ca-sca-rốp vừa mới đến sau về những chuyện đã xảy ra với cậu. Ngày hôm kia, hôm qua, và cả hôm nay nữa, cậu vẫn còn nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ kể cho ai nghe về những chi tiết của chuyến đi thất bại, đáng xấu hổ này. Nhưng chỉ mấy phút trước đây, thấy Gan-na đứng nhìn cậu kinh ngạc đến há hốc cả miệng, cậu nghĩ: thực ra, việc gì mà mình phải xấu hổ? Cậu không ra được đến mặt trận, thì cũng đâu có phải là lỗi của cậu?

Và giờ Gan-na ngồi nghe, hàm răng lộ ra trắng lên trong bóng tối nhờ nhờ, đôi mắt sâu không đáy mở rộng. Cô bé nín thở hồi hộp, đôi lúc thậm chí còn rít lên xuýt xoa như chuột. Nhưng mỗi lần như vậy, Đi-ma lại khẽ nhíu đôi lông mày rậm, từ từ quay đầu lại phía cô, cau mặt. Gan-na vội chớp chớp mắt như ngầm xin lỗi về tiếng xuýt xoa của mình. Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin lúc thì nhìn người kể chuyện vẻ không tin tưởng, lúc thì cụp mắt nhìn xuống đất, trầm ngâm gãi gãi chiếc mũi quặp của mình. Chỉ có Vi-chi-a Ca-sca-rốp vẫn ngồi như thường lệ, bất động, không đổi tư thế. Có vẻ như cậu không nghe An-đrây, mải nghĩ về một điều gì đó của mình, tính toán mãi mà vẫn không quyết định được một vấn đề nào đó rất khó khăn. Vi-chi-a từ trước vốn đã luôn luôn im lặng, cau có, nhưng đặc biệt từ sau vụ xe hàng, bị giữ lại khá lâu ở đồn công an, chỉ sau khi xử xong Ma-ca mới được thả, cậu ta đã biến thành đá hoàn toàn. Và bây giờ nói chung khó ai có thể cậy được của cậu lấy dù chỉ một lời.

Trời đã tối hẳn, bầu trời đen kịt, sập xuống trên mặt đất như nắp một chiếc rương khổng lồ. Chỉ có ở phía tây, nơi chiều chiều mặt trời lặn xuống, là còn sáng lên một khe dài, hẹp, màu đỏ sẫm như máu. Nhưng cũng chỉ một thoáng sau, khe sáng thu ngắn lại, rồi biến mất hẳn. Một ngọn gió, có vẻ không mạnh lắm, nhưng dai dẳng, lạnh thấu đến tận xương, lang thang trên mặt đất. Dường như ngọn gió này thổi rít qua cái khe sáng màu đỏ thẫm ấy xuống mặt đất, lan ra khắp những cánh đồng, làng xóm, núi rừng. Ra khỏi khe sáng còn nóng bỏng như hơi nước sôi, nhưng bay đến San-ta-ra, ngọn gió đã mất hết nhiệt, trở nên nặng và nguội lạnh như nước sông Grô-mô-tu-kha mùa đông.

Khi An-đrây kể hết, mọi người vẫn ngồi im lặng. Gan-na áp bàn tay vào đôi má đỏ rực lên không hiểu vì gió lạnh hay vì xúc động, hỏi:

- Thế cậu không sợ à? Ban đêm một mình trên toa?

- Sợ gì? Có phải như ở trong rừng đâu.

- Nhưng dù sao vẫn sợ chứ... Tớ thì có lẽ không dám.

- Nó chỉ bịa ra đấy cả thôi, - Đi-ma bỗng lên tiếng.

- Bịa cái gì? - cô bé quay lại hỏi.

- Bịa rằng không sợ.

Gan-na im lặng, chớp mắt trong bóng tối.

- Cũng có thể có sợ đôi chút, - cô bé đồng ý. - Nhưng ở đây không ai dám làm như vậy cả. Còn An-đrây...

- Vì nó là thằng ngốc, - Đi-ma cục cằn cắt ngang - Còn mày nghe nó... đến há hốc cả miệng ra.

- Đi-ma, Đi-ma. - Gan-na vụt đứng dậy, quay ngoắt đi và chạy ra khỏi sân.

- Gan-na, sao thế? Gan... - Đi-ma cũng đứng dậy, giậm chân. - Đấy, đồ ngu. Nó làm sao thế?

- Tớ sẽ nói với nó là cậu bảo nó ngu, - Nhi-cô-lai I-nhi-u-chin giễu cợt nói.

- Mày?! - Đi-ma nhảy đến bên cạnh. - Tao sẽ vặt cái mũi quặp của mày ra!

- Thì mày hãy với cho tới đã, - Nhi-cô-lai đứng dậy ưỡn thẳng người, - Còn phải lớn thêm ít nữa, con ạ.

Đi-ma liền lùi lại. Và mặc dù Nhi-cô-lai ngồi xuống ngay, Đi-ma vẫn vừa làu bàu một câu gì không nghe rõ, vừa bước giật lùi, rồi cậu khoát tay, chạy ra khỏi sân. I-nhi-u-chin nhổ một bãi nước miếng.

- Đi mà đuổi mau cho kịp nó.

- Anh ấy đuổi kịp để làm gì? - An-đrây không hiểu, hỏi.

- Thế mày không biết gì hay sao? - I-nhi-u-chin trợn mắt nhìn An-đrây. - Ở trường tất cả chúng nó gọi Đi-ma là mục đồng của Gan-na.

- Không, - An-đrây lắc đầu và ngây thơ hỏi. - Nhưng tại sao lại gọi như vậy?

- Ê, cái thằng này, - I-nhi-u-chin phá ra cười. - Ngực con bé, mày không thấy, đã nở căng ra đấy à?

- Nhưng mà sao?

- Mày còn trẻ con lắm... Chả trách lão nhân viên phụ trách đánh lừa được mày.

Bỗng nhiên Vi-chi-a Ca-sca-rốp đứng dậy, đứng một lát, lắc lư trước gió, thổi thổi vào hai lòng bàn tay lạnh cóng, thọc tay vào ống chiếc áo bành-tô cũ đã bạc màu, nói bằng một giọng giận dữ:

- Cái lão nhân viên phụ trách tàu kia có lẽ cũng đểu như mày!

- Cái gì-ì? - Nhi-cô-lai lại đứng dậy trong thế đe dọa.

- Thế ai nói với anh Xê-mi-ôn rằng tao ngủ lại nhà mày? Xê-mi-ôn lại đi nói với lão công an Ê-li-da-rốp. Mày là đồ thối hoắc. Thế mà tao nghĩ mày là bạn, tin mày.

- A, cái đồ vứt đi này... - I-nhi-u-chin hằm hè rít lên và tiến lại gần Vi-chi-a. - Mày cùng với Ma-ca đã đánh cắp cả một xe tài sản nhà nước, thế mà bây giờ...

- Đừng có động vào! - Vi-chi-a hét lên lanh lảnh, rút tay ra khỏi ống áo.

I-nhi-u-chin quả nhiên dừng lại. Vi-chi-a từ từ quay người, cúi đầu, đi ra khỏi sân. Cậu bước đi chậm chạp, dường như lại mải mê với những suy nghĩ không bao giờ kết thúc của mình.

Còn lại hai người, An-đrây và Nhi-cô-lai cùng ngồi im lặng.

- Đấy, mày có thấy thằng Vi-chi-a đúng là một đồ vứt đi không? - I-nhi-u-chin vẫn chưa hết tức giận, hỏi. - Còn nếu thế thì chính anh Xê-mi-ôn nhà mày thối hoắc, chứ không phải tao... Tao kể với anh Xê-mi-ôn với tư cách là bạn bè, bí mật, về chuyện của Vi-chi-a. Làm sao mà tao biết được anh ấy lại chạy ngay tới Ê-li-da-rốp? Có thể nói, tao đã thành thật tin anh ta...

An-đrây thở dài, nói:

- Bây giờ em hiểu không thể tin tưởng mọi người được, dù là thành thật, dù là bí mật. Bởi vì, nếu như em không nói với lão phụ trách tàu kia em là ai, tên là gì, sống ở đâu, và cái chính là đi đâu, và sau đó khi vào công an cũng không nói- thì họ sẽ làm gì với em, đưa em đi đâu? Thế nào, anh nghĩ sao?

- Tao không biết, - Nhi-cô-lai nói, - có lẽ cho vào trại mồ côi như một đứa trẻ lang thang không có nhà. Hoặc cũng có thể cho vào nhà tù.

- Ừ, có thể họ sẽ cho đi... -Và cậu bắt đầu suy luận như một người lớn. -Vào nhà tù thì theo luật lệ nào? Em không phải kẻ trộm, cũng không phải là thổ phỉ. Còn vào trại mồ côi thì có thể trốn được. Nhưng tốt nhất là đừng phải vào... Tốt nhất là đừng tin người nào cả. Không, em bây giờ có kinh nghiệm rồi.

- Thế nào, mày lại định trốn nữa đấy à?

Nghe câu hỏi này, An-đrây giật nảy người lên. Cậu nhổm dậy, đứng có vẻ trầm ngâm, suy nghĩ. Và cậu nói, cố gắng làm cho giọng của mình có sức thuyết phục:

- Không, em sẽ không trốn nữa đâu. Anh tưởng nằm trốn trên tàu thú lắm đấy à? Thôi, một lần là đủ lắm rồi.

An-đrây nói như vậy, nhưng trong bụng vẫn biết rằng cậu sẽ lại trốn nhà lần nữa. Cậu chỉ không biết là sẽ vào lúc nào. Mùa đông đã đến, và điều này làm cho cậu lo lắng. Mùa đông khác mùa hè, chỉ cần một giờ ngồi trên toa trần hoặc toa không được sưởi ấm là có thể chết cóng. Nhưng đợi mùa hè cũng không ổn, đến mùa hè chiến tranh có thể đã kết thúc. Nhưng bây giờ nói với Nhi-cô-lai hoặc bất cứ một người nào khác về những suy nghĩ, dự định còn chưa rõ ràng về tương lai này cũng chẳng được ích gì. Nhờ trời, về chuyện này cậu cũng đã có được một kinh nghiệm cay đắng.

* * *

Chiều ngày 22 tháng Mười, Cru-gi-lin, Pô-li-pốp và An-tôn Xa-vê-li-ép đứng ở sân ga chờ bí thư tỉnh ủy Xu-bô-tin đi tàu từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ đến. Ông đến có việc gì, - của huyện hay của nhà máy, - không biết. Thường thường ông gọi điện về huyện báo trước chuyến đi của mình, nhưng lần này chỉ có một bức điện báo.

Trời mưa lẫn tuyết, trên mặt sân nhựa, tuyết tan rất chậm, vì vậy khắp sân ga đầy những nắm tuyết đóng lại thành cục. Những thanh sắt đường ray ánh lên một cách buồn bã, những công trình của nhà ga ở phía bên tay trái sân mờ chìm trong một tấm màn trắng đục lạnh lẽo. Sân ga vắng tanh chỉ thỉnh thoảng một người công nhân đường sắt cầm vịt dầu mỏ dài hay nhân viên phụ trách tàu cầm đèn hiệu chạy ngang qua.

Nước từng giọt chảy từ áo mưa Cru-gi-lin, Pô-li-pốp, Xa-vê-li-ép xuống đất, họ co người lại vì gió, quay mặt đi để tránh những bông tuyết ướt.

Một chiếc loa phóng thanh đặt trên ngôi nhà của nhà ga, ngay trước cổng ra vào, giọng nói cau có quen thuộc của người phát thanh viên đọc bản tin buổi sáng của Tổng cục thông tin Liên Xô vang lên trên sân ga vắng vẻ. Cũng như hôm qua, hôm kia, cũng như nhiều ngày, nhiều tuần lễ liên tục, trong bản tin không có gì tốt đẹp cả. Bằng một giọng khàn khàn như bị cảm, phát thanh viên thông báo rằng «trong suốt đêm đến sáng ngày 22 tháng Mười, chiến sự tiếp tục diễn ra khắp các mặt trận. Chiến sự đặc biệt ác liệt ở các hướng Mô-giai-xcơ, Ma-lô-i-a-rô-xla-vét và Ca-li-nhin...»

Kẻ thù cứ xông đến Mát-xcơ-va một cách bướng bỉnh, không cản được. Cru-gi-lin hình dung ra tấm bản đồ treo trong phòng làm việc của mình. «Mô-giai-xcơ, Ma-lô-i-a-rô-xla-vét, Bô-rốp-xcơ, Ca-lu-ga... Theo đường thẳng có lẽ chỉ một trăm - một trăm hai mươi ki-lô-mét, không hơn. Nhưng Mô-giai-xcơ và Ma-lô-i-a-rô-xla-vét mất bảy ngày trước, 16 tháng Mười quân Đức chiếm Bô-rốp-xcơ, và Ca-lu-ga thì còn trước đó nữa - 12 tháng Mười. Bây giờ quân Đức đang ở đâu? Ngày hôm kia ở Mát-xcơ-va đã tuyên bố tình trạng giới nghiêm. Cái gì sẽ xảy ra với Mát-xcơ-va?»

Cru-gi-lin nhìn sang Xa-vê-li-ép và Pô-li-pốp. Hai người cũng đang im lặng và cau có nghe tiếng phát thanh viên. Xa-vê-li-ép lim dim đôi mắt mệt mỏi nhìn về phía có cây đèn báo hiệu vào ga. Thường thường ngọn cột đèn hiện ra ngất nghểu trên mái nhà kho đường sắt, nhưng bây giờ cả đèn lẫn mái nhà đều không trông rõ. Còn Pô-li-pốp, chiếc mũ đi mưa đội sụp tận mắt, đầu cúi gục xuống. Đôi má ông xanh nhợt vì rét, căng phồng ra...

Đúng, Mát-xcơ-va... Bây giờ tất cả mọi người đều nghĩ về thành phố này. Và Cru-gi-lin cũng nghĩ, đã hàng trăm lần, mà cũng có thể, hàng nghìn lần, cố gắng suy nghĩ và hiểu cho được - tại sao lại xảy ra như thế, tại sao lại để cho quân đội phát-xít ở ngay dưới chân tường thành Mát-xcơ-va?

Mưa vẫn không ngớt, từng giọt rơi nặng nề lên chiếc mũ cứng của áo mưa bằng vải bạt dày. «Vành đai xung quanh Mát-xcơ-va mỗi ngày một siết chặt hơn, - Cru-gi-lin vừa ngẫm nghĩ vừa đi lại trên sân ga, mắt nhìn những nắm tuyết sũng nước bắn tung tóe dưới chân ủng. - Đúng ra, bây giờ chưa phải là vòng đai, bây giờ mới chỉ là vành móng ngựa. Lê-nin-grát mới đang ở trong vòng đai. Thành phố này đã bị bao vây ngay từ đầu tháng Chín, giống như Ô-đét-xa. Chẳng lẽ thành phố này, nơi bắt đầu của cách mạng, cái nôi của cách mạng, cũng đang đợi số phận như Ô-đét-xa? - Cru-gi-lin rùng mình, xua đuổi ngay những ý nghĩ đó. - Không, không thể để cho điều này xảy ra dược. Lúc đó Mát-xcơ-va sẽ nguy hiểm thật sự. Ca-li-nhin, thành phố lớn duy nhất che chở cho Mát-xcơ-va ở hướng tây-bắc đã bị quân Đức chiếm hơn một tuần trước. Phía tây-nam chiến sự đang diễn ra ở quanh Tu-la. Nếu Tu-la mất, Lê-nin-grát mất, quân Đức sẽ từ hai hướng đi vòng qua Mát-xcơ-va. Từ phía bắc, chúng nhằm I-a-rô-xláp, từ phía nam, chúng tiến đến Go-rơ-ki và I-va-nô-vô. Và nếu như không chặn được chúng lại, thì khi đó vành móng ngựa sẽ biến thành vòng đai, lúc đó vòng vây sẽ khép chặt lại, lúc đó...»

Tiếng còi tàu đột ngột rú lên và Cru-gi-lin lại rùng mình. «Hừ, cũng đòi làm nhà chiến lược...» - ông tự thầm rủa mình, và nhìn về phía đoàn tàu hỏa màu xanh bẩn thỉu đang lặng lẽ bò gấp khúc từ trong màn sương nặng ra.

Xu-bô-tin từ toa bước xuống, mặt cạo nhẵn nhụi, mặc áo bành-tô mùa thu màu đen, đội mũ lưỡi trai bằng da, và không tỏ vẻ gì là thân thiện, nhìn khắp lượt những người ra đón.

- Sao lại ra đây hết thế này? Không ai còn việc gì làm nữa à?

- Tôi thì hình như phải theo nghi thức, - Cru-gi-lin mỉm cười, trả lời.

Nhưng Xu-bô-tin hoàn toàn không đáp lại nụ cười đó.

- Còn anh? - ông quay sang phía Pô-li-pốp.

- Anh cứ cho là vì phép lịch sự, - Pô-li-pốp tự ái mím chặt môi. - Chẳng lẽ lại không được à?

- Thế còn anh, An-tôn? Cũng coi là có nhiệm vụ à?

- Tôi thì buộc phải có mặt. Theo như tôi được biết, anh I-van Mi-khai-lô-vích ạ, anh đang phụ trách những nhà máy chuyển về đây.

- Thế đấy... Thôi ta đi. Chỉ cho tôi xem nhà máy.

Họ đi dọc sân ga - Xu-bô-tin đi phía trước, ba người đi sau cách hai bước. Xu-bô-tin bước đi còn dài, chắc chắn, nhưng lưng ông đã gù xuống, chiếc cổ gầy đầy những nếp nhăn dường như phải khó khăn lắm mới giữ nổi đầu. Và Cru-gi-lin nghĩ rằng Xu-bô-tin bây giờ đã già lắm rối, ông phải đến sáu mươi, sáu mốt còn gì. Nhưng nhìn vào cặp mắt hơi xám, trong trẻo, đôi má hồng hào luôn luôn được cạo rất cẩn thận, không có một vết nhăn, đôi vai hẹp như vai trẻ con, thì không ai nghĩ rằng ông đã ngần ấy tuổi; thậm chí đến mái tóc và hàng lông mày mấy năm gần đây đã hoàn toàn bạc trắng cũng, - thật là kỳ lạ, - không làm cho ông có vẻ già đi thêm. Nhưng cái lưng đã còng xuống khi đi và chiếc cổ gầy già nua lại để lộ ra tuổi tác của ông.

Ngồi trong xe, ông im lặng, trán nhăn lại, cau có. Rồi sau đó, khi thăm nhà máy, đi giữa những núi đất khổng lồ, những ngôi nhà xây dở với giàn giáo bao bọc xung quanh, giữa những đống vật liệu xây dựng vứt ngổn ngang khắp nơi- gạch, gỗ, dây thép, sắt tấm, ông vẫn im lặng. Ông đi từ đầu này đến đầu khác khắp khu vực nhà máy, không hỏi câu nào, theo sau là Xa-vê-li-ép, Cru-gi-lin, Pô-li-pốp và kỹ sư trưởng Nhê-tsa-ép vừa đứng đón họ ở cổng, đi thành một đoàn, chân bước ngập trong bùn.

Thoạt nhìn, khắp khu vực nhà máy và cả một vùng xung quanh là một mớ hỗn loạn, rối tinh đến không tưởng tượng được: những chiếc xe tải chạy tới chạy lui, máy xúc đào những hố sâu hoắm, khua gầu liên tục, và chỗ nào cũng thấy người chạy tất bật, kẻ thì mặc áo mưa, kẻ thì đội bao tải lên đầu, tất cả đều ướt sũng, rét cóng. Họ la hét, chửi rủa, yêu cầu, đòi hỏi một điều gì đó, ô-tô rú máy ầm ĩ, cố sức lôi những hòm nặng bị mắc cứng trong lầy lên...

Và thật là kỳ lạ, trong cảnh hỗn độn đó, chỉ có những người thợ xây đang đứng trên các bức tường của những ngôi nhà xây dở là không la hét, không chửi rủa, không tất bật. Không để ý đến những gì đang xảy ra bên dưới, mặc kệ cả cơn mưa lẫn tuyết lạnh buốt xương, cứ rơi xuống không ngừng, họ im lặng và cáu kỉnh làm nhiệm vụ của mình, thỉnh thoảng lại buông xuống phía dưới, từng tiếng một ngắt quãng.

- Gạch!

- Vữa! Chết hết dưới đó rồi hay sao?..

Đi hết khu vực nhà máy, Xu-bô-tin vẫn im lặng, bước vào một ngôi nhà đang xây dở.

Những bức tường bốn phía đã xây xong, những thanh xà ngang đã được đặt để chuẩn bị lợp mái. Từ trên tường, những tia lửa hàn bắn xuống tung tóe, còn phía dưới, những người công nhân áo quần ướt sũng, vẫn đứng bên máy làm việc, mặc mưa tuyết, mặc từng chùm lửa hàn liên tiếp rơi xuống. Lối đi giữa bốn dãy máy được lót bằng ván ướt. Những người phụ nữ đẩy những chiếc xe bốn bánh đi dọc theo các lối đi, nhặt những đầu đạn pháo vừa mới tiện xong cho vào thùng và đẩy xe qua một cửa lớn khoét ở bức tường đầu nhà vào ngăn kho dài bằng gỗ lợp giấy dẩu.

Xu-bô-tin dừng lại trong xưởng chừng năm phút, nhìn những người công nhân đang làm việc bên máy, những người phụ nữ đang đẩy xe, hai khóe miệng mím chặt của ông bỗng sệ xuống như đang có điều gì đau khổ. Rồi ông đột ngột quay về phía Pô-li-pốp, hỏi một câu khá lạ lùng:

- Thế các anh cho họ, những người công nhân này, ăn thứ bánh mì nào? Bánh mì bột mạch đen hay bột tiểu mạch?

- Tôi không hiểu... - Pô-li-pốp đáp. - Cặp lông mi của ông khẽ giật giật.

Xu-bô-tin cười khẩy, ấn chiếc mũ đội trên đầu lại cho chặt hơn.

- Tôi nhớ, hình như anh, Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích, mỗi lúc anh xúc động mạnh thì môi lại giật giật. Còn bây giờ, tôi thấy, cả mí mắt cũng bắt đầu giật...

- Mắt và môi tôi thì có liên quan gì đến đây? - Pô-li-pốp nói, giọng trở nên khô khốc, thản nhiên một cách cố ý.

- Nào, hãy chỉ cho tôi xem cái «thành phố hầm» nổi tiếng của các anh...

Xung quanh bờ chiếc hố sâu, việc xây dựng nhà hầm vẫn đang tiến hành, những đống đất ướt, trơn lầy bao quanh hố như chuỗi hạt trang sức. Ở đây không có máy xúc, vì hầm nhà đã đào xong, nhiều nhà đã có người ở, số còn lại đã được bọc ván, phía trên lót trần bằng gỗ và đổ sỏi, đất lấp kín... Một xưởng mộc được dựng tạm dưới mái lán dài bằng gỗ; ở đó một chiếc cưa đĩa quay rít lên, khoảng dăm chục người đàn ông đã đứng tuổi và phụ lão đang bào ván, làm khung cửa lớn và cửa sổ.

Xu-bô-tin bước vào cửa lán, đứng lại nhìn những núi đất quanh hố, những ống khói mọc thẳng từ mặt đất lên, một số đã bắt đầu nhả khói. Thận trọng, để khỏi trượt rơi xuống hố, ông đi men theo sườn dốc, vào một căn nhà hầm, sau khi khoát tay bảo mọi người đứng đợi ông ở dưới lán.

Căn nhà hầm khá rộng rãi, hai ngăn, nhưng rất tối. Phòng ngoài của hầm có một bếp lò nhỏ, một bà già tóc sổ tung đang loay hoay quấy cháo trên bếp; trên những chiếc phản rộng kê dọc mấy bức tường, áo quần vứt bừa bộn. Một người đàn ông và một người đàn bà trẻ nằm ngủ cạnh nhau trên chiếc phản kê bên tay phải. Trong phòng có mùi canh cải chua lẫn với hương gỗ thông khô thơm dịu.

Xu-bô-tin lên tiếng chào. Bà già chỉ ngước mắt lên nhìn ông mà không nói gì.

- Vất vả lắm không, hả cụ? – Xu-bô-tin bỏ mũ, ngồi xuống chiếc ghế đẩu, hỏi.

- Thì lấy đâu ra an nhàn... Đấy, ông xem, vợ chồng mới cưới mà phải ngủ như vậy đấy! - bà già hất đầu chỉ về phía phản. - Cả hai quần quật suốt cả đêm, ướt đến tận xương, tội nghiệp. Con gái già đây... Ngoài ra, nhà này còn có hai gia đình nữa. Đấy, ông cứ thử nghĩ xem, vất vả hay thanh nhàn... Thế ông là ai?

- Tôi từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ đến. Bí thư tỉnh ủy,

- À-à... - bà già kéo dài giọng thản nhiên như không.

Rồi bà đặt xoong cháo xuống, đến ngồi lên một chiếc ghế đẩu khác đặt đối diện vởi Xu-bô-tin, lấy vạt tạp-dề lau hai bàn tay khô đét, gân guốc.

- Tức là ông đi xem dân đang phải phiêu bạt, cơ cực như thế nào?

- Vâng, đi xem...

- Chắc là ông định giúp đỡ mọi người?

- Tôi có thể giúp đỡ cách gì được?

- Thì ít ra cũng bằng cách ông đi, ông thấy... - im lặng một lát, bà già đáp. Và tim Xu-bô-tin, không hiểu vì sao, nghe nhói lên. - Ông đi, ông nhìn thấy tất cả những cảnh này, tâm hồn sẽ trở nên trong sạch hơn. Nếu như trong lòng có cái gì xấu xa, nó sẽ được rửa sạch đi. Tất nhiên, nếu đó là một tấm lòng ưu ái. Nghĩa là, ông sẽ trở nên thương người, thông cảm với dân hơn...

Bà già đứng dậy và lại cầm lấy xoong. Xu-bô-tin bước ra khỏi hầm.

Cru-gi-lin, Xa-vê-li-ép, Nhê-tsa-ép và Pô-li-pốp đứng đợi ông dưới mái lán.

-Thế thôi, rõ cả rồi, - ông nói. - Người bệnh nhiều không?

- Kể cũng lạ là không nhiều lắm. Chủ yếu là bị cảm. - Xa-vê-li-ép đáp.

- Chữa ở đâu?

- Ở bệnh viện huyện. Còn đây, cái lán gỗ đằng kia là bệnh viện nhà máy. Anh có thể vào xem.

- Thế bên cạnh các anh xây cái gì đấy?

- Nhà ở. Mỗi nhà bốn chục phòng. Chúng tôi đã dựng được mười hai dãy như thế. Sau lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười sẽ dựng thêm bốn chục dãy nữa. Gỗ đang về. Sau đó việc xây dựng nhà ở tùy theo số lượng vật liệu về như thế nào. Còn nhân công chúng tôi sẽ tìm được. Không thể để cho công nhân sống trong hầm đất hơn một mùa đông được.

- Đúng, không thể được. - Bí thư tỉnh ủy ném một cái nhìn nặng trịch sang phía Pô-li-pốp. - Trong căn nhà hầm kia có một bà già lạ lùng lắm. Anh khi nào nên ghé vào thăm. Sẽ có ích cho anh.

Pô-li-pốp đứng nghe, nhún vai tỏ vẻ không hiểu.

- An-tôn, Ê-li-da-vê-ta nhà anh ra sao? - Xu-bô-tin hỏi. - Tôi rất muốn, rất muốn gặp Ê-li-da-vê-ta...

- Không sao, vẫn bình thường. Khi nào mời anh rẽ vào chơi... Mà cũng có thể nghỉ đêm ở chỗ chúng tôi được...

- Vâng, nhất định tôi sẽ đến. Thôi nhé, cảm ơn các đồng chí đã cho tôi xem nhà máy... Các anh có thể về được. Còn tôi và Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích đi thăm huyện một tí.

Cru-gi-lin ngạc nhiên nhìn Xu-bô-tin, nhưng ông đã bắt tay tạm biệt Xa-vê-li-ép, Nhê-tsa-ép, Pô-li-pốp.

Khi chỉ còn lại hai người, Cru-gi-lin hỏi;

- Thế anh định đi thăm huyện thật đấy à? Đi xe không được đâu...

- Thật đấy. Ít ra cũng đến nông trang «Bông lúa đỏ». Hình như chính nông trang này năm nay nộp cho Nhà nước được nhiều thóc nhất. Anh có chiếc áo mưa nào cho tôi mượn tí không?

* * *

Các-ca-Xô-côn đập mạnh bốn vó xuống lớp bùn loãng pha tuyết, nhẹ nhàng kéo chiếc xe nhỏ ra khỏi thị trấn. Con ngựa, lâu nay phải đứng tù chân, chạy nước kiệu, từ dưới bánh xe những mảng bùn bắn tung tóe. Nhưng dần dần, ngựa chạy chậm lại và cuối cùng đi từng bước một, cặp hông núng nính thở phập phồng.

«Không hiểu Xu-bô-tin xuống huyện để làm gì? - Cru-gi-lin cố đoán. -Nhà máy chỉ xem qua, không hỏi kỹ. Ông ta xuống nông trang, mà lại đúng nông trang «Bông lúa đỏ», để làm gì? Chẳng lẽ lại về chuyện của Na-da-rốp?» - Cru-gi-lin đã chợt nghĩ đến điều này khi Xu-bô-tin hỏi Pô-li-pốp một câu kỳ quặc, thậm chí còn ngớ ngẩn nữa: công nhân được cho ăn bánh mì làm bằng bột tiểu mạch hay bột mạch đen? Nhưng, thứ nhất, từ đầu chiến tranh đến nay Xu-bô-tin chỉ chuyên trách lo việc các nhà máy sơ tán đến trong tỉnh, và thứ hai, Cru-gi-lin chưa hề báo cáo với ai trên tỉnh ủy về việc Na-da-rốp gieo lúa mạch đen trên một nửa diện tích đất trồng, còn Pô-li-pốp cuối cùng cũng đã thôi không đưa vấn đề của Na-da-rốp ra cuộc họp của ủy ban huyện nữa.

Mưa và tuyết vẫn rơi, lạnh buốt, kéo dài. Rồi đột nhiên mưa ngừng, còn tuyết đổ xuống dày đặc, từng bông lớn, xốp. Tuyết từ trên cao rơi xuống nặng nề, vội vã, thành một tấm màn quây che kín cả bốn phía không gian vốn cũng đã tối mò. Và chỉ sau mấy phút, những cánh đồng ẩm ướt, những con đường lầy lội - tất cả đã bị tuyết lấp kín, như có một tấm vải trải giường trắng khổng lồ vừa rơi từ trên trời xuống phủ lên. Tuyết đậu trắng cả trên những bụi cây mọc hai bên đường, trên chiếc cổ bờm đang bốc khói của con ngựa...

- Mùa đông đã đến rồi, - Cru-gi-lin thốt lên. - Anh có nghe trời đang lạnh đi không?

- Có lẽ thế, - Xu-bô-tin đáp. Và như đoán được những ý nghĩ của Cru-gi-lin, ông tiếp. - Anh đừng ngạc nhiên rằng tôi hôm nay xuống nông trang. Từ mười lăm tháng Mười tôi lại chuyên trách về nông nghiệp.

- Thế thì tốt lắm. Tôi rất mừng, - Cru-gi-lin nói. Nhưng trong bụng, ông lại nghĩ: «Về chuyện Na-da-rốp!»

- Nhưng, biết tình hình các xí nghiệp sơ tán đến trong tỉnh, tôi muốn nói với anh điều này... Tất nhiên không thể để mọi người sống trong các nhà hầm lâu. Các anh đã xây được mười hai nhà, mỗi nhà bốn chục phòng, và đang còn đợi nhiều gỗ... Có điều, khó mà đợi được đấy.

- Tại sao? - Cru-gi-lin hỏi.

- Thế anh nghĩ thế nào? - Xu-bô-tin lạnh lùng hỏi lại.

- Hiểu rồi...

- Đúng thế, việc sơ tán vẫn đang tiếp tục, - Xu-bô-tin tiếp, giọng đã dịu hơn. - Những nhà máy, xí nghiệp mới đến cần phải cho hoạt động ngay. Còn nhà máy của các anh thì đã hoạt động rồi, đã cho ra sản phầm.

Tuyết khi ngừng - lúc đó, trước mặt họ hiện ra cả một khoảng không gian rộng lớn trắng xóa với những gò tuyết hai bên đường, - khi lại tiếp tục rơi, mỗi lúc một dày đặc hơn.

Trời mỗi lúc một lạnh thêm. Các-ca-Xô-côn kéo chiếc xe lên đỉnh dốc, rồi bắt đầu chạy xuống dốc một cách vui vẻ, nhẹ nhàng hơn. Dãy Dve-nhi-gô-ra, bị che khuất sau bức tường kết bằng những bông tuyết đang rơi dày đặc, lung linh, đang dần dần lùi lại đằng sau, phía tay phải.

Trận mưa tuyết có lẽ đã làm cho chú ngựa hăng hái hẳn lên, nó khịt mũi, lắc đầu, thỉnh thoảng lại định chuyển sang nước kiệu. Nhưng lần nào Cru-gi-lin cũng khẽ ghìm lại.

TGVC (6)

Bánh xe để lại trên đường hai vệt đen dài; nhưng ngay lập tức, chúng lại bị tuyết phủ trắng, lấp kín.

Phía trước bỗng vẳng lại những giọng nói nghe không rõ, những tiếng huýt sảo, những tiếng kêu ồn ào. Những tiếng đó cứ rõ dần, rồi giọng một người nào đó bay vút lên, át cả những tiếng ồn ào khác:

- Na-ào, đàn chim ưng no-on!.. Mạnh lên, mạnh lên! Đẩy giúp vào, mạnh lên - chỉ cần lên đến đỉnh dốc thôi! Nà-à-o!..

Giọng nói rất cao, của một cậu bé, nó dễ dàng vượt qua cánh đồng tuyết trắng và vang lên trong chiếc mũ bằng vải nhựa của Cru-gi-lin như trong một chiếc chuông. Rồi giữa màn tuyết ngả nghiêng hiện ra một chiếc xe ngựa, tiếp đó, lờ mờ như trong sương mù, chiếc thứ hai, và xa hơn chút nữa là chiếc thứ ba...

Cả một đoàn xe ngựa đang bò lên dốc, đi ngược chiều với Cru-gi-lin và Xu-bô-tin. Những con ngựa phủ đầy tuyết trắng đang dồn sức lên đôi chân trước, vất vả kéo theo những thùng xe chở nặng, phía trên bịt kín bằng vải bạt. Bùn nhão lẫn tuyết bám chặt vào bánh xe, ngựa mệt lử, mỗi chiếc xe có thêm hai- ba cậu thiếu niên gắng sức đẩy. Ăn mặc đủ kiểu - cậu đi ủng, cậu đi giày lông, cậu đội mũ vải, cậu đội mũ lông, tuyết ướt bám đầy người, cả bọn vung roi, hò hét, huýt sáo ầm ĩ.

- Chở lúa mì à? - Xu-bô-tin hỏi.

- Hình như thế.

- Từ đâu đến?

- Nông trang «Bông lúa đỏ». Ngựa của họ... Nhưng không hiểu ai lại bày ra cái trò này, để cho toàn trẻ con đi lúc thời tiết như thế này?! - Cru-gi-lin gò dây cương, nhảy xuống xe. - Đứng lại!

Đoàn xe vẫn tiếp tục đi.

- Đứng lại mà!..

- Ông kêu cái gì thế? - một cậu bé chừng mười hai- mười ba tuổi, tay cầm roi, mặc chiếc áo khoác đã cũ, dài quá cỡ, từ xe bên cạnh bước đến, hỏi: - A-a,.. Đứng lại, các bạn ơi...

Đoàn xe dừng lại. Từ bốn phía, những cậu bé bắt đầu xúm lại, quây thành vòng tròn.

- Cháu biết bác à?

- Cháu có gặp rồi... chúng cháu chở lúa mì về kho...

- Bác thấy rồi. Ai chỉ huy?

- Cháu!

- Cháu con ai? Họ tên gì?

- Cháu là Vla-đi-mia Xa-vê-li-ép. Sao ạ?

- Người lớn có ai đi với các cháu không?

Một ông già gầy gò, râu quai nón, mặc áo khoác lông, đội mũ lông ướt sũng chen vào giữa đám trẻ, vươn cổ cố nhìn kỹ Cru-gi-lin.

- Thượng cấp nào đây thế? À-à, bí thư huyện ủy à...

- Chào ông Pê-tơ-rô-van Nhi-ki-phô-rô-vích. Thế mà tôi cứ nghĩ các ông chỉ phái toàn trẻ em đi...

- Ông Pan-crát Na-da-rốp như phải nợ với chúng. - Pê-tơ-rô-van Gô-lốp-lép giơ nắm tay chỉ về hướng họ vừa đi tới. - Ông ta bảo, thời tiết như thế này thì đi đâu? Tuy thật ra, khi đi, còn chưa có tuyết...

- Chúng cháu đã hứa là đến ngày hăm hai tháng Mười này sẽ phải nộp chuyến xe lúa cuối cùng của đội thiếu niên để ủng hộ Hồng quân, - Vla-đi-mia nói. - Đây là lớp chúng cháu, - cậu chỉ về phía các bạn. - Tự chúng cháu dùng liềm gặt xong cả đám, bó lại từng bó. Rồi tự chúng cháu đập, quạt thóc... Hôm nay chúng cháu xin phép nghỉ học, hạn cuối cùng mà...

- Thì tôi đã bảo mà, chủ tịch chúng tôi như phải nợ với cái lũ này, - Gô-lốp-lép lại nói. - Rồi ông ta khoát tay: thôi, anh đi với chúng đi, Pê-tơ-rô-van...

- Thế đấy... Trước khi về, nhớ đến sưởi cho khô ở phòng trực của kho lúa đã nhé...

- Tất nhiên rồi...

- Thế Na-da-rốp ở đâu? Ở Mi-khai-lốp-ca à?

- Không, ông ta ở đội hai. Hôm qua ở đó bắt đầu đập một đụn lúa, nhưng đến đêm trời đổ mưa. Các bà liền cuống cà kê cả lên. Thiếu tí nữa làm ướt, hỏng cả đụn lúa. Pan-crát phóng ngựa đến, như phải bỏng, bắt lấy rơm che phủ phía trên. Tự mình đứng dưới mưa, chuyển rơm... Gầm gừ quát tất cả mọi người, y như con hổ. Sau khi đoàn xe này đi, ông ta nằm ngủ, có thể bây giờ đã dậy rồi.

Trong khi ông già đang kể lể lại những điều này, đoàn xe đã chuyển bánh, lũ trẻ lại hò hét, huýt gió.

- Các anh cứ đến thẳng đội hai ấy!.

- Vâng, chúng tôi sẽ đến đấy, - Xu-bô-tin nói và nhắm mắt lại như ngủ gật. Cho đến khi đến nơi ông không nói thêm một lời nào nữa.

Cơ sở đội hai của nông trang «Bông lúa đỏ» là mấy ngôi nhà đã mốc đen lại vì mưa nắng nằm ngay cạnh bìa rừng: hai ngôi nhà ở cho những người chăn nuôi và những người làm đồng, một nhà ăn, một nhà kho để thóc, một nhà chứa dụng cụ làm đồng, một chuồng súc vật và một nhà lều to tướng dùng để chứa lúa chưa đập. Đồng cỏ và đất canh tác nằm trải dài ra hướng tây và bị giới hạn bởi dãy Dve-nhi-gô-ra và con sông Grô-mô-tu-kha. Xa hơn, phía bên kia dãy núi và con sông, là đất đai của một nông trang khác, nông trang «Người du kích đỏ». Phía đông là rừng, hồ nước và đầm lầy. Rừng từ xưa nay vẫn được gọi là tai-ga, mặc dù khắp một vùng rộng đến mười lăm ki-lô-mét xung quanh, ngoài bạch dương, hoàn diệp liễu và một số cây thông hiếm hoi không lấy gì làm lớn lắm, không có một loại cây nào khác. Rừng tai-ga thực thụ bắt đầu ở xa hơn, về hướng đông, phía bên kia Đầm Hạc và mạch nước ngầm Ô-gơ-nhép-xki. Đất ở phía bên kia bờ hồ, nơi trước đây có trại của Cáp-ta-nốp, thuộc về một nông trang thứ ba khác.

Khu chuồng gia súc - một bãi đất vuông rộng có cọc rào ngăn bốn phía - phủ đầy tuyết trắng, trống không; bò, ngựa chỉ ở đây vào mùa hè. Nhưng xung quanh nhà lều chứa lúa chưa đập có nhiều người chạy đi chạy lại. Một dẫy ván lót dài từ cánh cổng đen mở rộng của nhà lều đến cửa kho chứa thóc đã đập. Những người phụ nữ đang đẩy xe cút-kít chạy theo con đường lót ván đó, trong mỗi xe có một bao thóc giống.

Khi Cru-gi-lin và Xu-bô-tin đến nơi, tuyết đã ngừng rơi, trời lập tức trở nên sáng sủa, chân trời mở rộng lùi ra xa. Mặt đất, mới sáng nay còn đen sẫm, ảm đạm, xơ xác, bây giờ như trẻ lại, đầy sinh lực. Phủ trong lớp tuyết đầu mùa trắng tinh khiết, đất thở dài nhẹ nhõm và thiếp đi như người sau một ngày làm việc mệt nhọc cuối cùng đã được lên giường nằm nghỉ ngơi... Cây cối với những cành lá phủ tuyết nặng trĩu đứng im lìm, không dám động cựa sợ làm tan mất giấc ngủ đầu tiên này, tuy chưa sâu, nhưng ngọt ngào, thanh thản nhất của đất. Những đỉnh núi trắng toát trên dãy Dve-nhi-gô-ra cũng lặng lẽ trôi giữa biển mây xám. Những mỏm đá khi thấp thoáng hiện ra sau những đám mây, khi lại biến mất, dường như những người đá khổng lổ này đang cúi chào mặt đất vì mặt đất đã hoàn thành cái mà từ thuở khai thiên đến nay nó phải hoàn thành hàng năm: mùa xuân tỉnh dậy, nở hoa, suốt mùa hè phô bày sức lực tràn trề và bắt đầu chín mọng, còn mùa thu sinh quả kết trái một cách hào phóng, rồi kiệt sức, nằm xuống dưới tuyết để suốt mùa đông tích lũy thêm những dòng sinh lực mới.

Pan-crát Na-da-rốp quả đang nằm ngủ trên một tấm phản gỗ đã ọp ẹp, người đắp chiếc áo da lông. Trong nhà có một bếp lò, cạnh đó là một cô gái to béo đang rửa khoai tây trong chậu sắt tây. Thấy khách, cô ta im lặng đi đến bên phản, vừa đi vừa chùi tay vào tạp-dề.

- Bác Pan-crát ơi, dậy đi. Có người đến gặp bác đấy...

Chủ tịch nông trang ngồi dậy, buông đôi chân trần gân guốc xuống phản, khục khặc ho. Nhìn qua cửa sổ, ông thôi ho, trên khuôn mặt phờ phạc của ông có một cái gì như nụ cười thoáng qua.

- Ôi mẹ-mùa đông, người đã đến, lạy Chúa... - Nói xong, ông ngước mắt lên nhìn khách. - A, Chúa trời đưa ai đến đây thế này! Xin mời vào! Tô-nhi-a, cháu cho bác ấm chè...

- Đấy kìa, cả một ấm tướng nước sôi, - cô gái nhẹ nhàng với tay nhấc một chiếc ấm gang đựng đến hai xô nước từ trên lò xuống, đặt lên bàn ba chiếc cốc bằng sắt tây và một bát mật ong. - Các bác uống đi, cháu phải đi nấu cơm cho các bà ấy đây.

- Thôi được, đi đi, - Na-da-rốp khoát tay. Rồi ông giải thích cho Cru-gi-lin và Xu-bô-tin. - Hôm qua tôi bắt các bà đập lúa giống. Trời đổ mưa, thiếu tí nữa thì họ làm hỏng hết cả đụn lúa giống, quỷ tha ma bắt họ đi... -Và có lẽ cho rằng khách chưa hiểu vì sao lúa giống lại có thể hỏng được, ông tiếp: - Vì rằng cái giống đàn bà nông cạn lắm lời, ít nghĩ.

- Chúng tôi biết rồi, - Cru-gi-lin nói. - Chúng tôi gặp Pê-tơ-rô-van và bọn trẻ trên dốc.

- Thế à.., - Na-da-rốp rung rung bộ râu thưa. - Tình hình là như thế đấy.

Và ông bắt đầu lấy vải quấn chân. Cô cấp dưỡng Tô-nhi-a đổ nước sôi vào xô, để một ít lại trong ấm, bưng chậu khoai tây đã rửa sạch đi ra. Xu-bô-tin mở cửa cho cô. Tô-nhi-a ngạc nhiên ngượng nghịu liếc nhìn ông, thậm chí đỏ cả mặt lên. Na-da-rốp, Cru-gi-lin và Xu-bô-tin ngồi im lặng uống chè, chấm những lát bánh mì bằng bột tiểu mạch vừa mới nướng xong vào bát mật ong.

Na-da-rốp xong trước, đợi khách uống nốt cốc nước, rồi ông nói, mắt lại nhìn qua cửa sổ.

- Mùa đông đến rất thuận. Đất không còn khô nữa. Thế nào, các anh đến có việc gì đây? Tôi phải giơ sườn nào ra đây?

- Anh đã chuẩn bị giơ sườn ra đấy à?

- Của cấp trên thì khó mà đợi được điều gì tốt đẹp, - Na-da-rốp cười khẩy.

- Nghĩa là anh không thích cấp trên chứ gì? - Xu-bô- tin hỏi.

- Cũng còn phải xem cấp trên như thế nào nữa chứ.

- Cấp trên như thế nào thì anh cũng việc gì phải sợ? Năm nay anh đã nộp được nhiều thóc hơn so với người khác, và vẫn đang tiếp tục nộp.

- Điều này, thì quả đúng thế... - Người chủ tịch già của nông trang thở dài và vân vê chòm râu, -Thế nhưng, những lời âu yếm của cấp trên cứ nghe, nhưng lưng mình, như người ta nói, phải lo mà giữ.

- Tức là anh cảm thấy mình vẫn phải chịu trách nhiệm? - Xu-bô-tin bắt gặp ánh mắt Na-da-rốp và chừng nửa phút không buông ra. Nhưng chủ tịch nông trang cũng không tìm cách lảng tránh, ông nhìn bí thư tỉnh ủy với một vẻ bình tĩnh và trách móc, như đang cố nhìn thấu qua người ông, im lặng phê phán một điều gì đó.

- Anh cất giống lúa mạch đen hay tiểu mạch đấy? - Xu-bô-tin hỏi.

«Ra hắn cắt bỏ vấn đề về Na-da-rốp như thế đấy! - Cru-gi-lin giận dữ nghĩ về Pô-li-pốp. - Cái đồ đểu giả này...»

- Còn anh thì gì mà sầm mặt lại thế? - Xu-bô-tin quay lại phía Cru-gi-lin, hỏi.

- Tôi nghĩ về sự đểu giả của con người. Pô-li-pốp đi lên kêu ở tỉnh ủy chứ gì? Thà hắn ta cứ nói thẳng ra, còn hơn là thậm thụt...

- Đồng chí Cru-gi-lin, không ai lên kêu ở tỉnh ủy cả, - Xu-bô-tin nghiêm giọng nói. - Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích, sao anh lại im lặng? Anh cất giống lúa mạch đen hay tiểu mạch?

- Những câu hỏi ngớ ngẩn thì trả lời làm gì cho mất công...

- Cái gi-ì?

- Tôi cất mạch đen để làm gì, khi chúng tôi đã gieo hết nó rồi? Chúng tôi cất giống tiểu mạch. Chúng tôi cũng sẽ gieo một ít tiểu mạch.

Xu-bô-tin mệt mỏi cúi đầu xuống.

- Đúng thế... Đầu mụ mất rồi. Tuổi già đúng là tai họa.

- Anh quá mệt đấy thôi; I-van Mi-khai-lô-vích ạ, - Cru-gi-lin nói.

- Vâng, vâng, - Xu-bô-tin gật đầu nhìn Cru-gi-lin vẻ biết ơn. - Trong đầu bây giờ vẫn toàn những máy móc, xe cộ, gỗ lạt, xi-măng... Và những đoàn tàu... Anh thử tưởng tượng xem - cả những đoàn tàu dài dằng dặc chở người và máy móc kỹ thuật. Các anh có biết ở nhà ga thành phố như thế nào không? Còn ở tỉnh ủy, ở ủy ban tỉnh? Người đến đòi hỏi phải cung cấp ngay lập tức nhà ở, lương thực, bố trí thiết bị. Thường vụ họp suốt ngày đêm để giải quyết tất cả các việc đó, người đợi đến lượt mình nằm ngủ ngay tại hành lang. Lắm lúc phải đi nhìn giữa đám người đang ngủ xem thường vụ đang bàn đến việc của ai... Bây giờ những cái này vẫn đang quay cuồng lên trong đầu tôi...

Rồi bí thư tỉnh ủy ngồi im lặng rất lâu. Cru-gi-lin và Na-da-rốp cũng im lặng.

- Thế nhưng... Pan-crát Gri-gô-ri-ê-vích, anh đã nghĩ thật kỹ càng trước lúc quyết định gieo giống lúa mạch đen rồi chứ? Không phải vô cớ mà có câu: khi bày việc ra, hãy lường xa kết cục...

- Quả thế, - chủ tịch nông trang gật đầu. - Nhưng lại còn câu: chớ gây cho người khác cái điều mà mình không muốn người khác gây ra cho mình.

Xu-bô-tin chưa hiểu được ngay ý nghĩa của câu nói, ông hơi cúi đầu, nheo mắt, suy nghĩ.

- Năm nay chúng tôi nộp được nhiều thóc cho nhà nước là nhờ giống lúa mạch đen, mặc dù mới gieo loại giống này trên một khoảnh đất chó nằm còn thòi đuôi, -Na-da-rốp giải thích rõ hơn. - Giá như gieo nhiều hơn...

- Còn anh, Pô-li-các-pơ, nghĩ sao?

- Cũng như anh Na-da-rốp. Nếu như không có nông trang đây thì có cơ huyện đến nay vẫn chưa làm xong nghĩa vụ lương thực.

- Thế đấy... - Xu-bô-tin lại thở dài. -Tôi phải làm như thế nào với anh bây giờ?

...Trời đã bắt đầu tối, hai người mới quay trở về thị trấn. Chú ngựa đã được nghỉ ngơi nhẹ nhàng kéo chiếc xe lên dốc, tiếng bánh xe gõ giòn trên mặt đường đóng băng mấp mô.

- Cái bọn trẻ kia từ kho thóc chưa trở về à? - Xu-bô-tin đột ngột hỏi.

- Hình như chưa.

Xu-bô-tin mệt mỏi gà gật, lưng tựa vào thành xe. Hình như tuy mắt ông nhắm chặt, nhưng trong đầu vẫn đang so sánh những con số mà Na-da-rốp vừa đưa ra cho ông lúc nãy. Họ nói chuyện chừng tiếng rưỡi, chủ tịch nông trang không vội vã nói về từng cánh đồng một, chỉ một vài lời đã nêu lên được đặc điểm của chúng.

- Chỗ này, giữa khe và hàng bạch dương này, chừng trăm rưởi héc-ta. - Na-da-rốp nói giọng đã khàn khàn, chỉ ngón tay cong queo vào bản sơ đồ các cánh đồng của nông trang ông vừa vẽ vội lên hai trang vở - Năm vừa rồi chúng tôi gieo tiểu mạch ở đây. Thu hoạch gọn, và chủ yếu là kịp thời. Phê-đô Xa-vê-li-ép gặt, tay này thì chẳng để rơi lấy một hạt nào đâu. Về mặt con người mà nói, là đồ tồi tệ, vất đi, nhưng làm việc thì khó có ai bằng, không nói vào đâu được. Tuy vậy, trên cánh đồng này bao giờ mạch đen cũng thu hoạch được nhiều hơn so với tiểu mạch đến sáu bảy tạ. Năm nào cũng thế. Nếu tính ra pút, như thế nghĩa là phải mất đi đến năm-sáu nghìn pút. Bây giờ nói sang cánh đồng như chiếc nêm đâm ra con sông Grô-mô-tu-kha này...

Xu-bô-tin ngồi nghe im lặng, không ngắt lời, ghi những con số vào sổ tay. Rồi ông cắn bút chì, tính toán một điều gì đó rất lâu.

- Như thế nghĩa là, theo tính toán của các anh thì sang năm nếu gieo mạch đen, nông trang sẽ thu hoạch được nhiều gấp đôi so với gieo tiểu mạch.

- Cũng còn tùy trời. Nếu thời tiết thuận lợi thì sẽ được.

- Còn nếu như không thuận lợi?

- Tất cả đều là tùy trời. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì cũng không ít hơn. Cho nên chẳng có gì là mạo hiểm cả. Nhưng nếu gieo tiểu mạch thì mạo hiểm. Như vậy, mạo hiểm để làm gì? Mạo hiểm chán rồi.

Những số liệu của Na-da-rốp rõ ràng là đầy sức thuyết phục.

- Còn anh, sao cứ im lặng thế, mất lưỡi à? - Xu-bô-tin cáu kỉnh hỏi Cru-gi-lin.

- Pan-crát nói hết rồi... Chẳng lẽ chưa rõ à? Tôi không nói gì là tốt hơn cả.

Sau đó, Xu-bô-tin đi khắp đội, xem xét gian nhà lều chứa thóc giống, máy đập, đi quanh đụn lúa đêm qua suýt bị mưa làm hỏng. Những người phụ nữ lại đang chuẩn bị đem ra đập, họ ném từ trên cao xuống những túm rơm bị nước gặp lạnh đóng băng kết cứng lại từng tảng.

- Các bà nhanh nhanh tay lên, đập cho xong các đụn này, đêm đốt đèn lên mà làm, - chủ tịch đi ngang qua, nói. Rồi ông đến bên người lái máy kéo đang loay hoay cạnh chiếc máy của mình. -Coi chừng, không lại làm đứt dây cua-roa đấy, đồ ăn hại! Hôm qua tôi mang đến chiếc cuối cùng rồi đấy, không còn nữa đâu. Không thì tôi cho lấy lưỡi cậu ra mà làm dây cua-roa đấy, tuy nó cũng bẩn lắm.

Một cô gái đứng cạnh đó phì ra cười, lấy bàn tay bịt miệng lại, rồi chạy ra phía sau chiếc máy đập lúa.

- Cậu ta là tay chửi tục thành thần, - chủ tịch nông trang giải thích cho Xu-bô-tin. - Hết chỗ nói, hễ hắn ta mở miệng ra, đến đàn ông cũng phải đỏ hết mặt lên.

- Nếu lại sẽ mưa thì sao? - Xu-bô-tin ngước nhìn những đám mây vẫn còn chầm chậm trôi trên bầu trời, hỏi.

- Không đâu, cái lạnh đã từ bên kia sông Grô-mô-tu-kha kéo sang. Nghĩa là hết mưa rồi. Mùa đông thật sự đã đến.

Và quả nhiên bầu trời bây giờ đã trở nên quang đãng, đây đó trên đầu đã bắt đầu nhấp nháy những ngôi sao đầu tiên, tuy còn thưa thớt, nhưng lại là những ngôi lớn nhất.

- Nhưng cuối cùng, anh sẽ làm gì với chúng tôi bây giờ, anh I-van Mi-khai-lô-vích? - Cru-gi-lin hỏi.

- Làm gì à? - Xu-bô-tin mở mắt, tỉnh táo hẳn ra. - Anh hãy nói tôi nghe rằng anh định làm gì với công nhân nhà máy của mình? Không thể để họ sống trong nhà đất quá một mùa đông được. Còn gỗ mà các anh đang chờ, người ta sẽ không cho. Điều này tôi đã báo cho anh mấy giờ trước đây. Đã có thời gian để suy nghĩ rồi đấy. Hay là chưa nghĩ?

- Nghĩ rồi, - một lát sau, Cru-gi-lin đáp. - Chúng tôi sẽ tổ chức một số đội lao động, cử vào rừng tai-ga, sang bên kia núi để đẵn gỗ. Đó là lối thoát duy nhất. Nhưng có được số lượng gỗ cần thiết để làm nhà không phải là công việc đơn giản. Cái chính là làm sao mang được gỗ từ đấy về? Chỉ có thể sang mùa xuân, thả bè theo con sông Grô-mô-tu-kha. Sau đó, cưa thành ván, cột... Đấy, anh thử tính xem, chỉ một mùa hè năm sau thì có thể làm được cái gì và làm được bao nhiêu? Như thế nghĩa là vẫn còn một số công nhân sang mùa đông phải sống trong nhà đất.

- Thế không thể cưa xẻ ngay trong rừng được à?

- Tất nhiên là được.. Và có lẽ sẽ làm như vậy. Nhưng cưa bằng tay thì được bao nhiêu? Hoặc có thể, tỉnh hay Mát-xcơ-va vẫn cho chúng tôi một số gỗ nào đó?

- Mát-xcơ-va. - Xu-bô-tin khẽ nhắc lại. Nhưng ngay trước khi bí thư tỉnh ủy dứt lời, Cru-gi-lin hiểu rằng ông nhắc đến Mát-xcơ-va chỉ là theo thói quen của thời bình, ông nhắc đến chỉ vì tất cả tình cảm và lý trí vẫn không thể chấp nhận và chịu đựng được cái tình trạng hiện nay là Mát-xcơ-va đang như treo trên sợi tóc, là Mát-xcơ-va bây giờ không thể giúp họ được gì.

Từ phía trước, trong bóng tối, đầu tiên nghe vẳng lại tiếng bánh xe gõ lọc cọc lên mặt đường đóng băng, và sau đó là tiếng trẻ con.

- Bọn trẻ từ kho lúa trở về! - Xu-bô-tin hoạt bát hẳn lên.

Một lúc sau đoàn xe đã đi ngang qua chiếc xe ngựa của hai người. Một số xe đi không, không có người, nhưng các xe khác lại chở đầy lũ trẻ. Chúng la thét, cười đùa, trêu chọc vật lộn nhau ầm ĩ, cố làm cho người ấm lên, vì trời càng tối càng trở nên lạnh giá.

- Này, chỉ huy đâu? - Xu-bô-tin gọi to.

Tiếng cười nói trên các xe im bặt.

Xu-bô-tin xuống xe đứng gọi, mặt ngoảnh về phía đầu đoàn xe vẫn tiếp tục đi ngang, không dừng lại. Còn Vla-đi-mia Xa-vê-li-ép lại từ phía sau đi tới không một tiếng động, chiếc roi ngựa cậu giắt ở ống ủng hệt như người lớn.

- Có cháu đây. Bác hỏi gì ạ?

- Chào cháu... Cháu là Vla-đi-mia phải không nhỉ?- Xu-bô-tin chìa tay cho cậu.

- Vâng ạ, - cậu đáp rồi ngập ngừng, nhưng cuối cùng cũng đưa tay ra bắt.

- Còn bác là Xu-bô-tin I-van Mi-khai-lô-vích, bí thư tỉnh ủy. Thế là chúng ta làm quen với nhau rồi nhé. Các cháu nộp xong lúa mì rồi à?

- Xong rồi ạ.

- Thế đã sưởi ấm ở kho chưa?

- Sưởi rồi ạ, vì vậy nên chúng cháu mới về muộn như thế này. Nhưng không sao, chúng cháu sẽ về đến nhà thôi, đường ở đây chúng cháu quen rồi.

Vla-đi-mia nói chậm rãi, rành mạch như người lớn.

- Thế cái ông đi với các cháu đâu rồi?

- Đây, đang nằm trong chiếc xe cuối cùng. Hơi say một tí.

- Say thế nào?

- Say bình thường thôi, ông gặp mấy người quen ở kho thóc, uống mấy chén... Không sao đâu, cháu đã lấy vải bạt đắp cho ông, phía trên lại lấy rơm phủ, chẳng lo chết cóng đâu. Ông ấy rất tốt...

Chiếc xe cuối cùng đã đi ngang qua.

- Thế bác cần gì không ạ? Cháu đi đây, không lại phải đuổi theo xe xa.

- Bác chả cần gì cả, chỉ muốn làm quen với cháu thôi. Cháu giỏi lắm. Cháu học ra sao?

- Bình thường. Cũng có bị điểm xấu...

- Sao lại thế? Có bị luôn không?

- Cũng có ạ, - cậu bé thở dài.

- Như thế thì dở quá đấy.

- Thì cháu cũng biết là có tốt đẹp gì đâu... - cậu lại nói với vẻ buồn tiếc rẻ.

- Thôi được, cháu chạy đi...

Vla-đi-mia chạy đuổi theo chiếc xe đi cuối đoàn. Xu-bô-tin đứng nhìn theo cho đến khi cậu mất hút vào bóng tối.

- Thằng bé thật khá - Xu-bô-tin leo lên xe, trầm ngâm nói. - Ngay trưa, nó đã có cái gì đó làm cho tôi mến.

- Anh biết không, đây là con trai của I-van Xa-vê-li-ép, người em út trong số ba anh em Xa-vê-li-ép. Anh ta vừa ở tù về. Tôi đã có lần kể cho anh nghe rồi đấy.

- Thế à? - Xu-bô-tin tò mò hơn - Anh này là thứ mấy? Đúng, đúng, tôi nhớ ra rồi. Cậu này là út trong nhà Xa-vê-li-ép, trước đây có đi lính bạch vệ phải không?

- Đi theo toán phỉ cu-lắc. Sau chạy sang ta.

- Đúng, đúng... Đấy, anh thấy kỳ lạ không, - Xu-bô-tin nói nhanh, như thể nói với mình. - Thế cậu ta, I-van ấy, bây giờ ra sao?

- Hình như cũng bình thường, vẫn sống, làm việc...

- Còn Phê-đô?

- Anh đã nghe Na-da-rốp nói rồi đấy; «Về mặt con người mà nói, là đồ tồi tệ, vứt đi, nhưng làm việc thì khó có ai bằng». Tôi chẳng có thể nói gì thêm vào đấy nữa cả.

- Nghĩa là anh vẫn chưa hiểu được anh ta chứ gì?

- Hiểu được lòng người khác đâu phải chuyện dễ.

- Vâng, thật là khó. Trong số phận của con người, trong các mối quan hệ giữa người với nhau, tất cả cứ chằng chịt rối rắm đến thật lạ lùng... - Xu-bô-tin im lặng một lát. - Trong nhân dân, người ta nói gì về chiến tranh?

Cru-gi-lin ngoảnh đầu về phía Xu-bô-tin.

- Nói gì... Gian khổ lắm. Nhưng nhân dân vẫn chờ đợi bước ngoặt của chiến tranh. Chờ đợi và tin tưởng.

Bí thư tỉnh ủy im một lát, rồi lên tiếng nói khẽ, thong thả, bình tĩnh, như đang nói với chính mình.

- Nếu nghĩ cho kỹ thì thấy quả thật là kỳ lạ. Bọn Đức đã chiếm được những tỉnh rộng lớn, giàu có và phát triển hùng mạnh nhất về mặt công nghiệp; kẻ thù cứ tiến lên phía trước, rất nhanh, không cản nổi, và giờ đang tiến sát chân thành của Mát-xcơ-va, - thế mà dân chúng vẫn chờ đợi bước ngoặt quyết định của chiến tranh và biết rằng bước ngoặt đó sẽ đến, không còn lâu nữa. Mọi người bây giờ đang phải chịu, phải nói là, những gian khổ mất mát tột cùng lớn lao, trong hoàn cảnh như vậy có mất tinh thần, mất hết tin tưởng thì cũng không có gì là lạ. Thế mà mọi người vẫn tin vào chiến thắng. Tại sao thế? Tại sao?! - Và, sau một lát im lặng, như ân hận vì mình đã cao giọng, ông tiếp: - Vì rằng nhân dân hiểu được là bây giờ cả nước thực tế chỉ chiến đấu bằng một U-ran- mà phía bên kia U-ran, chúng ta có bao nhiêu cơ sở công nghiệp? Nhưng đấy chỉ là bây giờ...

Tiếng bánh xe gõ vang trên mặt đường đá đóng băng, và tiếng động này có lẽ vang rất xa trên cánh đồng trống trải phủ đầy tuyết trắng.

- Bọn đầu sỏ phát-xít đã tính toán đúng. Chúng có ưu thế hơn hẳn về mặt quân sự không? Có. Có khả năng nhanh chóng chiếm vùng công nghiệp chính của nước Nga, và bằng cách như vậy, biến nó thành một nước yếu ớt, không được vũ trang không? Có. Đúng, nhưng nông cạn, thô thiển. Chúng không thể ngờ rằng chúng ta có thể sơ tán được hàng trăm, hàng nghìn nhà máy, có thể nhanh chóng khôi phục chúng ở địa điểm mới. Việc này chưa hề có, chưa hề được nói đến trong lịch sử của trái đất, của các dân tộc! Nhưng chúng ta đã làm được! Có thể, chính chúng ta cũng còn chưa đủ khả năng để đánh giá đầy đủ hết ý nghĩa của hoàn cảnh này, của chiến công toàn dân có một không hai này. Nhưng cái ý nghĩa đó trước hết là ở chỗ chúng ta đã thắng trong cuộc chiến tranh này! Giữ được nhà máy, xí nghiệp, chúng ta đã chiến thắng! Sau này, sau khi chiến thắng, chúng ta sẽ kinh ngạc tự hỏi: làm sao chúng ta có thể làm được như vậy?! Làm sao?!

Bầu trời mỗi lúc một dày đặc sao hơn, nó như bị lạnh cóng và từ trên cao thổi xuống mặt đất từng luồng lạnh buốt.

- Tôi không biết, anh Pô-li-các-pơ ạ, rằng rồi đây các nhà sử học, xã hội học, kinh tế học và các loại bác học khác sẽ trả lời câu hỏi ấy ra sao, nhưng tôi, tôi tự trả lời cho mình như thế này... Có thể có tuyến phòng thủ thứ nhất, tuyến phòng thủ thử hai... Còn tôi nói có tuyến phòng thủ thứ ba, tuyến phòng thủ cơ bản nhất mà không kẻ thù nào có thể phá vỡ được. Tuyến phòng thủ này không chạy theo các đường biên giới của chúng ta, mà nó chạy, nói bằng những lời có hơi hoa mĩ và trang trọng, qua trái tim của anh và của tôi. Nó chạy qua trái tim còn non trẻ của đứa bé kia... - Xu-bô-tin hất đầu ra phía sau, hướng đoàn xe của nông trang vừa đi khỏi. - Và qua trái tim đã già, đã yếu ớt, đôi lúc đã đập ngắt quãng của Pan-crát Na-da-rốp. Và qua hàng triệu, hàng triệu trái tim khác... Và tôi biết, các nhà văn sẽ viết sách, các nhà thơ sẽ dựng trường ca, đặt bài hát về điều này...

Cru-gi-lin nghe và kinh ngạc trước những suy nghĩ giản dị, những lời rõ ràng của bí thư tỉnh ủy về những vấn để hết sức sâu sắc phức tạp mà ông nói tới.

- Anh sống với Pô-li-pốp ra sao? - Xu-bô-tin chuyển tiếp một cách đột ngột, câu hỏI-vang lên gay gắt, khó chịu.

- Sao? - Cru-gi-lin nhún vai. - Chưa có khi nào đụng độ thật sự, nhưng cũng đã có lần nói chuyện thẳng thắn. Còn bây giờ tôi vừa đi vừa nghĩ: tôi sẽ đề nghị đưa anh ta đi khỏi huyện. Anh ta đã đi tố giác với anh về chuyện Na-da-rốp. Thế mà chúng tôi đã thỏa thuận với anh ta...

- Này, anh xuống xe và lấy tuyết làm nguội bớt đầu đi.

- Thế nào, không phải anh ta à? - Cru-gi-lin gò cương như thể định nhảy xuống đất thật sự.

- Cứ cho là thế. Tiếp đó rồi sao?

- Tiếp đó... Tôi đã nói rồi đấy! Hoặc là cứ để anh ta ở lại huyện, hoặc là tôi... Tôi vốn cũng đã có ý định xin tỉnh ủy cho ra mặt trận. Dù sao thì cũng đã có nghị quyết của Trung ương về việc đưa các đảng viên cộng sản ra mặt trận với tư cách là các cán bộ chính trị. Tôi còn có thể cầm súng được. Nếu các anh không cho đi, tôi sẽ trốn. Như Ki-ri-an I-nhi-u-chin, tôi sẽ trốn.

- Trốn đi, trốn đi! Khi anh báo với tỉnh ủy về chuyện Ki-ri-an trốn ra mặt trận, mọi người đều cười. Trẻ con trốn đi là chuyện cũng thường xảy ra. Đằng này một người đàn ông đã đến bốn chục tuổi đầu - quả là lần đầu tiên nghe thấy. Và sẽ còn thú vị hơn nhiều nếu một ông năm chục tuổi đầu cũng trốn nốt. Lại là bí thư huyện ủy nữa chứ.

- Vâng, quả là buồn cười...

- Thế đấy. Còn với Pô-li-pốp... Sẽ chẳng ai hiểu và ủng hộ anh, nếu anh gây chuyện ẩu đả với cậu ta.

Cru-gi-lin cười khẩy thành tiếng:

- Anh nói đúng hệt như Pô-li-pốp. Anh ta cũng dọa tôi: sẽ chẳng ai hiểu, ủng hộ anh đâu...

- Thì tôi hình như đã có lần nói với anh là Pô-li-pốp cũng không đến nỗi ngốc mà. Và anh ta báo cáo về Na-da-rốp cũng không ngốc nghếch bằng cách tố giác đâu. Anh ta chỉ viết rằng chủ tịch nông trang «Bông lúa đỏ» không hề hỏi ý kiến ai, tự tiện gieo giống mạch đen trên phần lớn diện tích trồng lúa. Bí thư huyện ủy Cru-gi-lin, cũng không hỏi ý kiến ai, một mình ủng hộ ông ta, tuyên bố rằng chỉ cho phép một nông trang làm điều đó để thí nghiệm. Còn anh ta, Pô-li-pốp, với tư cách là một đảng viên cộng sản và chủ tịch ủy ban huyện, không biết rằng liệu có thể tiến hành những thí nghiệm tương tự như vậy trong thời gian đất nước đang gặp khó khăn hiện nay không; anh ta cho rằng những quyết định cá nhân của bí thư huyện ủy là không đúng. Và vì đang nghi ngờ tất cả những điều trên, nên anh ta yêu cầu tỉnh ủy giải thích... Anh thấy đây, anh ta dường như cũng tự giơ mình ra chịu đòn - đấy, tôi bị lúng túng và vì không đủ trình độ nên không thể hiểu hết được... Nhưng, ở trên tỉnh người ta còn nhớ, rằng dưới thời Pô-li-pốp, huyện San-ta-ra nộp nhiều thóc nhất cho nhà nước, rằng tôi, Xu-bô-tin này, đã đấu tranh đòi phải thay bí thư huyện ủy. Vì rằng tôi biết Pô-li-pốp đã để cho các nông trang suy sụp đến mức độ nào, tôi biết... đúng hơn là đã bắt đầu hiểu, nói chung anh ta là loại người gì. Vì thế, người ta phái tôi đến đây: anh hãy đến xem người của anh làm ăn ra sao. Thế là tôi về đây.

- Thế kết luận thế nào?

- Chưa đâu... Kết luận thì phải đợi đến mùa thu năm sau. Đúng hơn là chứng minh cho mọi người thấy rằng gieo giống lúa mạch đen lợi hơn. Tất nhiên là còn phải nhờ trời mưa thuận gió hòa, như Na-da-rốp nói.

- Nhưng nếu như không thuận lợi? - Cru-gi-lin hỏi.

- Thế ông ta tự tiện gieo tất cả bằng giống mạch đen à?

- Nói chung là tự tiện. Nhưng, thú thật với anh, chính tôi cũng đã định dần dần đưa cả huyện trở lại gieo giống mạch đen. Nhưng rồi chiến tranh xảy ra, tất cả rối tinh lên... Còn Na-da-rốp lại cho rằng không nên đợi... Và ông ta đúng, anh I-van Mi-khai-lô-vích ạ...

- Ông ta đúng... Cứ cho là như vậy, và tôi cũng biết rằng ông ta đúng. Ở tỉnh ủy, ở mọi nơi, tôi sẽ ủng hộ anh với Na-da-rốp. Trong việc này, tôi sẽ thành công, vì rằng... vì rằng hiện nay trong tỉnh ủy ý kiến về anh khá tốt. Mùa vừa rồi huyện thu hoạch nhanh, gọn, nhà máy đã hoạt động. Tất cả đều có lợi cho anh. Nhưng nếu hè năm sau «trời không thuận», thì nói thẳng ra, việc của anh và tôi khá gay đấy. Cả tôi, cả anh, cả Na-da-rốp, - Xu-bô-tin nhấn mạnh. - Chỉ có Pô-li-pốp lúc ấy sẽ đắc chí. Bây giờ anh đã hiểu là hắn ta hành động theo một sự tính toán như thế nào chưa?

- Như thế nghĩa là chỉ có Chúa trời mới cứu thoát chúng ta khỏi tay Pô-li-pốp?-Cru-gi-lin mỉa mai hỏi.

Rất lâu, Xu-bô-tin vẫn không trả lời, và Cru-gi-lin tưởng bí thư tỉnh ủy đã quên câu hỏi của ông.

- Anh Pô-li-các-pơ Mát-vây-ê-vích ạ, có một câu tục ngữ cổ, cổ như chính cái thế giói này: qua hoạn nạn mới hiểu bạn rõ hơn. Nếu như nhìn cho kỹ, thì bây giờ có thể thấy được nhiều điều. Chiến tranh đã chỉ cho chúng ta thấy rất rõ, rõ hơn bất cứ lúc nào: ai là người bạn chân chính của Chính quyền Xô-viết, và tất nhiên, sẽ tuyệt đối trung thành với nó, còn ai hờ hững với nó, và còn ai là... kẻ thù của nó.

- Anh đặt vấn đề đến như thế ư?! - Cru-gi-lin cố nén ngạc nhiên, hỏi.

- Đến như thế đấy, - Xu-bô-tin khô khan, gần như hằn học, đáp. - Tất nhiên tôi không nói cụ thể về một ai. Càng không phải về Pô-li-pốp. Tôi chỉ nói chung như vậy thôi. Bây giờ mọi người có những biểu hiện thật khác nhau. Kẻ nào có một vết sâu mọt ở trong lòng, chiến tranh có thể biến nó thành cả một mảng thối rữa lớn. Và cũng có thể là ngược lại, nếu trong người đó tính người vẫn mạnh hơn thì chiến tranh sẽ làm lành vết sâu mọt, biến nó thành sẹo. Hình như nhà văn Mắc-xim Go-rơ-ki có nói rằng: trong cuộc đời mình, dù sao con người cũng phải thực hiện cái vai trò làm người của mình.

Xu-bô-tin chợt dừng lại. Đồng cỏ hết sức yên tĩnh, sự yên tĩnh đó chỉ bị tiếng vó ngựa và tiếng bánh xe gõ trên mặt tuyết đóng băng phá vỡ. Sao đã từ lâu rải khắp từ bên này sang bên kia chân trời, mặt trăng treo lơ lửng trên dãy núi Dve-nhi-gô-ra, tưới ánh sáng màu xanh nhạt lên những mỏm đá phủ đầy tuyết trắng.

- Nên hiểu những lời của anh như thế nào... đối với Pô-li-pốp chẳng hạn?

Cru-gi-lin buột miệng nói nhanh, và ông hiểu rằng Xu-bô- tin không thích câu hỏi đó. Bí thư tỉnh ủy nhún vai tỏ vẻ không hài lòng. Thay vào câu trả lời, ông đột ngột hỏi:

- Anh không có tin gì về con trai à?

- Không, - Cru-gi-lin khô khốc đáp.

Cho đến thị trấn, họ không nói gì thêm.

* * *

Buổi trưa, sau khi đi thăm các dãy nhà hầm xong, trở về nhà máy, An-tôn gọi điện cho vợ.

- Đồng chí Xu-bô-tin gửi lời hỏi thăm em, hẹn chiều nay sẽ đến chơi.

- Ôi! - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na hoảng hốt kêu lên trong ống nghe như con gái. - Chúng ta có gì mời ông ấy bây giờ? Anh xem thử ở nhà ăn của nhà máy có gì không nhé?

- Thôi được, anh sẽ xem thử, - An-tôn mỉm cười.

Và bây giờ bàn đã dọn xong, thời gian cũng đã hơn mười một giờ khuya, mà Xu-bô-tin vẫn chưa thấy về. Sau một ngày thu dọn nhà cửa và chuẩn bị bữa tối, Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na mệt lử, ghé lưng nằm lên giường. An-tôn đi lại trong phòng, từ góc này sang góc kia, thỉnh thoảng mắt lại nhìn đồng hồ. Nhưng ông không nghĩ về Xu-bô-tin, mà về đứa con trai. Còn năm mươi phút nữa, đúng mười hai giờ đêm, I-u-ri sẽ phải bắt đầu làm ca ba, mà bây giờ anh vẫn còn lang thang ở một nơi nào đó trong làng. Vợ ông nói rằng I-u-ri đến câu lạc bộ từ chiều, đi nhảy. An-tôn khẽ nhíu mày, cau có. Ông vừa mới đi về ngang qua câu lạc bộ - cả tòa nhà nằm chìm trong bóng tối. Nghĩa là hôm nay không có nhảy, không có phim, hoặc có thì cũng đã kết thúc từ lâu.

Bộ áo quần lao động của I-u-ri - chiếc áo bông lấm dầu mỡ và chiếc quần dài cũ, cũng lấm lem dầu mỡ - mẹ đã chuẩn bị sẵn vẫn nằm trên chiếc ghế con đặt trong bếp.

Con trai càng ngày càng làm cho ông lo lắng, không yên tâm. Sự lo lắng này bắt đầu từ bao giờ, - khi còn ở Khác-cốp, hay là ở Lơ-vốp, vào những ngày khủng khiếp cuối tháng Sáu? Hay là muộn hơn, khi họ đã chuyển đến đây, đến thị trấn San-ta-ra này? An-tôn còn chưa hiểu hết điều này, cũng như nói chung cho đến bây giờ An-tôn cũng chưa thể hiểu hết tất cả những gì đã xảy ra với chính ông. Chuyến đi đến Pê-rê-mư-slơ vào một ngày thứ bảy thanh bình của tháng Sáu, cái buổi sáng khủng khiếp ngày hăm hai tháng Sáu, con đường đi về Đrô-gô-bư-tsơ đầy những người tản cư, cuộc chiến đấu trên bờ sông Xan, đại úy Mắc-xim Na-da-rốp với đôi chân gãy nát, anh lính da ngăm đen, mặt bầu bĩnh Va-xi-li Cru-gi-lin... Nòng khẩu súng máy rung rung chĩa thẳng vào mắt ông, An-tôn Xa-vê-li-ép, đêm ở trong trại tập trung và những con mắt sáng rực của đèn pha ô tô... Tên sĩ quan Đức gầy gò, cao lêu nghêu với chiếc thắt lưng siết chặt ngang hông trông như con kiến càng đứng thẳng trên hai chân sau, những tràng súng bắn tù binh... Và cuối cùng là Va-xi-li Cru-gi-lin với thân thể đã mềm nhũn của đại úy Na-da-rốp trên vai đi khuất ra sau bức tường của một ngôi nhà đã cháy trụi...

Tất cả những cái đó giống như một chuyện không có thật, giống như một giấc mơ khủng khiếp mà không chịu biến mất. Thường thường, chỉ cần An-tôn hơi ngơi công việc ra một tí, là những sự kiện kinh khủng của những ngày ấy lại lần lượt nối đuôi nhau tự hiện ra trước mắt,..

Đi đi lại lại trong phòng cạnh bàn đã bày bữa tối, An-tôn nghe như tim mình bỗng nhức buốt. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na nằm trên giường, nhắm mắt như đang thiếp ngủ.

An-tôn liếc nhìn đồng hồ - mười một giờ rưỡi. Mà I-u-ri vẫn chưa về. Cái thằng liều mạng này ở đâu?

Ông gọi con trai bằng cái từ «liều mạng» này lần đầu tiên hình như ở Lơ-vốp, khi cuối cùng đã kiệt sức, ông lần về đến đó vào buổi sáng ngày 26 hoặc 27 tháng Sáu. Ông bước theo các đường phố và kinh ngạc nhận thấy những thay đổi lớn của cái thành phố đẹp đẽ, sôi nổi này chỉ sau có mấy ngày. Vào buổi sáng ngày hăm mốt tháng Sáu khi ông đi khỏi đây, những mái nhà nhọn còn chìm trong làn sương khói thơm thơm màu hồng nhạt, một mùi hương ngây ngất như chảy tràn trề các ngõ phố quanh co thời trung cổ, đã được những người gác cổng quét sạch bong lúc trời vừa sáng. Bây giờ đường phố đầy rác rưởi, mùi đám cháy khét lẹt, ở hai ba chục chỗ, mà cũng có thể là năm sáu chục chỗ, những cột khói đen bốc thẳng lên trời, và ở trên đó, chúng hòa lại với nhau kết thành một tấm màn khổng lổ che kín cả bầu trời.

Ở một nơi nào đó sau làn khói xám dày đặc bỗng vang lên tiếng máy bay gầm rú quen thuộc, từ phía nhà ga có những tiếng nổ ầm ầm vọng lại... «Chúng ném bom nhà ga», - An-tôn đoán, và tim ông nhói lên, - nhà ông ở cách nhà ga chỉ một quãng không xa.

Những đường phố thường ngày từ sáng sớm đã đông người đi lại, bây giờ vắng ngắt; chỉ có trên con đường lớn chạy qua trung tâm thành phố, những dòng người tản cư vẫn kéo đi không ngớt, mặc những tiếng súng thỉnh thoảng lại nổ trong các ngõ phố, và không hiểu tại sao, cả trên các mái nhà. Những dòng người đi tự phía tây sang phía đông, vòng qua quảng trường nhà ga.

«Tại sao lại có tiếng súng? Ai bắn?» - An-tôn mấy lần hỏi, nhưng không ai có thể trả lời được rõ ràng.

An-tôn đi ngang qua hiệu ăn «Gioóc-giơ» sang trọng nhất thành phố Lơ-vốp, những cửa sổ bằng kính bị vỡ tung, mảnh kính lạo xạo dưới chân. Phố Hàn Lâm ngợp trong màu xanh cây cối cũng chật ních người tản cư. Trên lòng đường bên trái, những chiếc xe tải, xe hơi, những chiếc xe tay của nông dân chất đầy các thứ đồ dùng trong nhà đang cố lách đám người đi bộ để tiến lên phía trước, còn theo lòng đường bên phải, những đoàn xe tăng và các đơn vị bộ đội mô-tô đang vội vã lao ra vùng ngoại ô phía tây thành phố. Không kể nguy hiểm có thể bị xích xe tăng nghiền nát, An-tôn chạy tắt qua đường phố và chạy tới trụ sở tỉnh đảng bộ.

Trong hành lang ngổn ngang từng đống giấy tờ, tiếng dập cửa ầm ầm không ngớt, nhân viên chạy từ phòng này sang phòng khác, hoàn toàn không để ý đến An-tôn râu ria xồm xoàm, người lấm lem bùn đất, chiếc áo khoác rách tơi tả và ủng thì chỉ còn lại mỗi cái tên gọi. An-tôn bước vào phòng bí thư tỉnh ủy, khoát tay chào một cô gái đang lôi giấy tờ từ trong tủ ra. Thấy ông vào, cô ta rướn đôi lông mày kẻ lên nhìn vẻ ngạc nhiên.

Bí thư tỉnh ủy đứng quay lưng ra cửa, đang hét vào máy điện thoại. Rồi ông quay lại, trông thấy An-tôn.

- A-a, đợi anh mãi... - ông nói, chớp đôi mắt đỏ ngầu vì mất ngủ. Trên bàn, một đĩa thức ăn và hai cốc nước uống dở nằm giữa đống giấy tờ. - Thoát ra được rồi à? Còn sống chứ?- Và ông lại bắt đầu lục lọi tìm một cái gì đó trong đống giấy tờ.

- Gần như thế - Xa-vê-li-ép đáp, ngã người xuống chiếc ghế bành bọc vải nỉ xanh sạch sẽ. - Tại sao lại như thế? Tại sao?

- Tình hình như thế này, - Bí thư tỉnh ủy nói, giọng hơi buồn. - Quân Đức ở cách thành phố hai mươi, ba mươi ki-lô-mét, nhà ga bị ném bom liên tục, tàu hỏa thực tế là không còn hoạt động. Chúng tôi đang cố chữa lại đường tàu dưới bom, nhưng..

- Quân Đức còn cách thành phố đến ba chục ki-lô-mét, nhưng tại sao trong thành phố lại có tiếng súng bắn nhau?

- Đêm nào bọn phát-xít cũng dùng máy bay thả các toán biệt kích xuống. Chúng tôi cố gắng lùng bắt, chừng nào có thể. Nhưng khó lắm. Chúng mặc thường phục. Và bọn phản bội, bọn phỉ Ban-đê-ra cũng ra sức hoành hành. Thực tế là đã đánh nhau trong thành phố.

- Thực tế -thành phố đã thất thủ, - Xa-vê-li-ép không ra hỏi, mà cũng không ra tự kết luận cho mình, nói.

- Vâng, tình hình thật nguy ngập, - bí thư tỉnh ủy nói. Cuối cùng ông cũng đã tìm ra tờ giấy ông cần. - Nó xẩy ra chớp nhoáng quá. Hôm qua quân Đức còn cách thành phố bốn chục ki-lô-mét. Ngày mai chúng sẽ ở đâu - không ai có thể nói được. Chúng tôi đang đào hào ở ngoại vi thành phố...

- Vâng, tôi có thấy.

- Huy động tất cả những ai có thể, chủ yếu là thanh niên. Giữ chân quân phát-xít lại, dù chỉ một ngày, dù chỉ mấy giờ- đó cũng là việc làm vĩ đại lắm rồi. Cái quan trọng nhất hiện nay - cứu người. Không thể có cái gì khác. Nhưng hiện nay mọi người đã bị cái bản năng chạy trốn tự nhiên bao trùm, và điều khiển cái dòng người hỗn loạn này là việc hầu như không làm được. Cái duy nhất mà chúng tôi có thể làm là đặt các trạm chỉ đường ở các ngã ba, ngã tư để hướng dẫn mọi người tản cư... Còn anh cần phải cấp tốc về Mát-xcơ-va ngay. Đây, -và bí thư tỉnh ủy chìa cho An-tôn một bức điện.

- Tôi về Mát-xcơ-va để làm gì?'

- Tôi không biết. Bộ dân ủy cơ khí trung quy mô triệu tập. Đường dây liên lạc với Mát-xcơ-va vẫn còn hoạt động, họ đã gọi hỏi về anh hai lần. Anh về chuẩn bị, nhanh lên, một giờ nữa tôi sẽ cho chiếc xe của tỉnh ủy đến đón anh. Ngoài ra, không còn có phương tiện giao thông nào khác có thể ra được khỏi thành phố. Anh sẽ đi ô-tô đến Téc-nô-pô-lơ, ở đó hình như nhà ga chưa bị ném bom. Thế thôi. Sau một giờ nữa sẽ có xe ở cổng nhà anh...

- Nhà tôi còn nguyên vẹn không? - An-tôn hỏi và giơ tay với cần điện thoại.

- Còn nguyên, và mọi người không ai việc gì. Tôi vừa gọi đến hỏi anh đã về chưa. Đừng để mất thì giờ. Anh cũng đưa chị ấy đi luôn, không thì chị ấy không có cách nào ra được khỏi thành phố đâu.

Càng chạy về đến gần nhà của mình, An-tôn càng thấy nhiều ngôi nhà bị phá đổ. Một số nhà tường bị bom dịch hẳn sang chỗ khác, trên chỗ ngôi nhà ba-bốn tầng trước đây giờ chỉ còn lại một đống gạch vỡ vụn; một số nhà khác thì chỉ một góc hoặc một phần tường bị đánh sập, hoặc mái ngói bị bay mất. Trong nhiều cửa sổ, lửa phụt ra, khói bốc lên từng cuộn đen đặc. Chỉ mới mấy ngày trước đây, những ngôi nhà này còn đứng đàng hoàng, sạch sẽ, bây giờ thì không thể tin nổi rằng đây cũng là đường sá, thành phố ấy.

Ở nhà ga, tiếng nổ, tiếng pháo cao xạ vẫn không ngớt. Có lẽ pháo chỉ bắn mò, vì một màn khói đen dày đặc che kín cả bầu trời trên nhà ga, không thấy máy bay đâu cả. Còn lũ phát-xít ném xuống nhà ga cũng chỉ mò mẫm; chúng, với một sự kiên trì dai dẳng đến khó tưởng tượng được, liên tiếp đả bom vào cái mớ khói lửa hỗn độn này, mà không động đến chính cái thành phố mà từ đó chúng không muốn để cho thêm một đoàn tàu nào đi ra.

Chỉ hai-ba bước, An-tôn nhảy lên cầu thang, chạy vào tầng ba, giật mạnh cửa.

- An-tô-ôn! - vợ ông nhảy bổ ra, ngã vào ngực ông, khóc òa lên. - Còn sống... Còn sống!

- Ê-li-da-vê-ta... Em bình tĩnh lại đi. Nào, em bình tĩnh lại đi.

Trong phòng, mọi thứ đều bị đảo lộn, bừa bãi. Những chiếc va-li mở toang nằm trên giường, trên bàn. I-u-ri mặc may-ô, quần đùi đang lục trong đống quần áo, chọn những chiếc còn tốt nhất vứt vào va-li.

- Nào, nào, anh còn sống đây, Ê-li-da-vê-ta ạ... - An-tôn khẽ gỡ vợ ra, đến bên con trai, vừa đi vừa cởi chiếc áo vét bẩn thỉu, rách nát. - Về rồi đấy à? Chào con. Con đang làm gì thế?

- Con đang làm gì à? - I-u-ri hỏi, tay vẫn không ngừng công việc của mình. - Người ta sẽ cho ba xe để đi ra khỏi thành phố... Cần phải mang theo dù là chỉ mấy thứ cốt yếu nhất.

- Làm sao mà con biết là có xe?! - An-tôn quát to, dường như với một sự căm ghét, mặc dù tự mình còn chưa hiểu được nguyên nhân của lòng căm ghét đó đối với con trai.

- An-tôn! An-tôn! - vợ lại chạy đến bên ông. - Anh sao lại thế? Đã hai ngày nay ở tỉnh ủy gọi điện xuống cho anh, hỏi anh suốt. Người ta gọi anh về Mát-xcơ-va... Trời ơi, em mất ăn mất ngủ mấy ngày nay! I-u-ri nói: «Mẹ ạ, ta cứ chuẩn bị đi, biết đâu...» Quân Đức, quân Đức bây giờ đang ở đâu rồi? Người ta bảo đã ở gần thành phố lắm rồi phải không? Chẳng lẽ...

- Khoan đã, Ê-li-da-vê-ta, - An-tôn lại gỡ tay vợ ra, bước đến bên cạnh con trai. - Thế con đã đến phòng quân vụ chưa? - ông giật từ trong tay con chiếc áo sơ-mi mà anh định gấp bỏ vào va-li. - Ba hỏi, con đã đến phòng quân vụ chưa?

I-u-ri nhún vai lấp lửng.

- Con đâu phải là người ở đây. Hơn nữa, mẹ...

- Quân phát-xít chỉ cách thành phố có hai chục ki-lô-mét! Mọi người đang đào chiến hào... Mà con trong diện nghĩa vụ quân sự...

- Thôi được, - I-u-ri nói khẽ, mặc áo sơ-mi vào. - Ba đừng làm ầm lên thế. Con sẽ đến phòng quân vụ ngay bây giờ...

- Không, không! - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na chạy đến lấy thân mình đứng chắn ngang như che chở cho con trước mắt kẻ thù. Đôi mắt bà lấp lánh một ngọn lửa ốm yếu.

- Ê-li-da-vê-ta! Rồi em sẽ phải tự nguyền rủa mình vì sự yếu đuối này...

- Mặc... Em không thể. Nó là tất cả những gì còn lại trong đời em, anh An-tôn! Hoặc là cả ba người chúng ta cùng đi đến Mát-xcơ-va, hoặc là anh đi một mình.

- Chúng ta sẽ đi hai người! Em hiểu không, hai người... Còn con cần phải đến...

- Khô-ông! - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na, người tái nhợt, thét to và ghì chặt con trai. Nhưng bà bỗng lên cơn co giật, tấm thân gầy yếu của bà từ từ trượt trên ngực con khuỵu xuống sàn nhà.

- Mẹ! Mẹ ơi! - I-u-ri vội đỡ lấy người mẹ.

- Ê-li-da-vê-ta! Ê-li-da-vê-ta! - An-tôn luống cuống, mặc dù ông biết trong những trường hợp như thế phải làm gì.

- Nhanh lên, ba!

I-u-ri bế lấy người mẹ, bước đến bên đi-văng, dùng chân hất chiếc va-li xuống sàn. Đặt mẹ nằm xuống, anh cầm lấy chiếc lọ nhỏ trong tay cha, nhỏ mấy giọt vào cốc nước cũng do cha anh trao, đổ vào miệng mẹ. An-tôn đứng bên cạnh, hai tay buông thõng bất lực, nhìn khuôn mặt nhợt nhạt, đầy mồ hôi của vợ với một vẻ thương hại.

Một lúc sau, đôi mi mắt Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na khẽ run run, bà mở mắt, nặng nhọc nói từng tiếng.

- I-u-ri, con... chúng ta sẽ cùng đi. Anh có nghe không, anh An-tôn... Em biết, em hiểu... rằng như vậy là không tốt... Nhưng em không thể... Nếu như em mất nó, em sẽ không sống thêm được một ngày nào nữa... Anh hiểu chứ.

Ngực Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na liên tục nâng lên, hạ xuống, liên tục đến nỗi tưởng như không phải bà đang thở, mà đang rùng mình không ngớt.

- Thôi được, thôi được, - An-tôn vội vã nói. - Em cứ bình tĩnh lại đi.

Từ nhà ga, những tiếng nổ vẫn vọng đến không ngớt, làm rung chuyển cả ngôi nhà, bát đĩa trong tủ nhảy lên va vào nhau lách cách. Thỉnh thoảng tiếng còi chính của nhà ga lại rúc lên, và thật là kỳ lạ, thỉnh thoảng vẫn nghe vọng đến tiếng còi đầu máy.

Đứng cạnh vợ một lúc, An-tôn vào nhà tắm để cạo mặt, tắm rửa. Trong lòng nghe như có cái gì xấu xa, đê tiện. Tất cả trong người ông đều chống lại việc lợi dụng cơ hội này để mang con trai đi khỏi đây. Nhưng không còn cách nào khác, vì vợ ông quả thật không thể chịu nổi điều đó.

Ông không phê phán vợ, vì ông hiểu những nguồn gốc, những nguyên nhân của lòng yêu con vô độ, và nếu nói thẳng, là quá mù quáng, thú vật này. Vào cái năm 1918 xa xôi và kinh khủng đối với gia đình họ, tên dự thẩm bạch vệ Xvi-ri-đốp đã không thương cả I-u-ri lúc đó mới lên sáu. Và không phải vì những đòn tra tấn mà Ê-li-da-vê-ta đã phải chịu, mà vì bọn chúng đã đem hành hạ con trai ngay trước mặt, do đó vợ ông đã bị bệnh tâm thần, đầu óc trở nên rối loạn.

An-tôn hiểu tất cả những điều đó. Nhưng ai sẽ hiểu cho An-tôn, khi ông đưa con trai của mình ra khỏi thành phố đang bốc cháy - đứa con trai từ lâu đã trở thành một chàng thanh niên cao lớn, khỏe mạnh, mà theo tất cả các nguyên tắc, quy ước của lương tâm con người, anh phải và có nghĩa vụ phải bảo vệ thành phố khỏi sự tấn công của kẻ thù?

Nhưng để suy nghĩ về điều này cũng chẳng còn thời gian nữa - xe sẽ đến đón ngay bây giờ, mà cũng có thể, đã đứng ở cổng rồi.

Cạo mặt qua quít, An-tôn bước ra khỏi nhà tắm hơi.

- Thôi được, thu xếp đi... Những đồ vứt đi kia lấy làm gì nhiều, chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất thôi... Và nói chung, ba nói với con thế này: I-u-ri ạ, con lớn lên sẽ thành một thằng... liều mạng.

Từ này ông nghe đã lâu, từ hồi còn thanh niên ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Bà thím U-li-a-na thường gọi ông như vậy mỗi khi kể lể những tội nghịch ngợm của ông. Và bây giờ cái từ này tự nhiên đến trong trí nhớ của ông.

I-u-ri nhún vai.

- Cũng cần xem đánh giá con người theo góc cạnh nào. Tự con cho mình là một người thợ tiện không phải tồi.

- Thôi, đừng múa mép nữa! - An-tôn quát. - Để đến đấy, đến Mát-xcơ-va rồi xem. Trong mọi trường hợp, ngày đầu tiên phải đến ngay phòng quân vụ...

Nhưng khi đến được Mát-xcơ-va sau rất nhiều những khó khăn vất vả, phải chịu vô số những trận bị máy bay ném bom bắn phá, ông chỉ kịp gọi điện từ Bộ dân ủy về khách sạn, nói tên nhà máy cơ khí nông nghiệp mà ông được giao phụ trách sơ tán và kịp hét vào ống nghe cho I-u-ri:

- Hiện nay ba chưa biết là nhà máy sẽ sơ tán về đâu- đến Vôn-ga hay còn xa hơn nữa. Xe đang đợi ba ở phía dưới để đưa ba ra sân bay, ba sẽ bay đến địa điểm... Con có nghe rõ không, I-u-ri?

- Con nghe đây...

- Cho đến lúc có tin của ba, mẹ và con cứ ở trong khách sạn. Ba đã nói với Bộ cứ để hai người ở đấy đã. Trông coi lấy mẹ đấy, hiểu chưa?

- Hiểu rồi, ba ạ.

- Rồi đến đấy sẽ xem, - ông nói thêm, như hôm trước lúc rời Lơ-vốp.

Hai tuần sau, ông xuất hiện ở Mát-xcơ-va, rồi lại bay đi. Và cuối cùng ông từ Xi-bi-ri gọi điện về Mát-xcơ-va báo cho hai mẹ con biết nơi cần đi đến.

Đến đây, ở San-ta-ra, I-u-ri, không nói gì với bố và mẹ, đến ngay phòng quân vụ. Buổi tối hôm đó trưởng phòng quân vụ Gri-gô-ri-ép gọi điện cho An-tôn:

- Con trai của anh, An-tôn Xi-lan-chi-ê-vích, là thợ tiện bậc cao phải không?

- Vâng, nhưng sao?

- Chẳng lẽ nhà máy các anh lại không cần những chuyên gia như thế? Chúng tôi được lệnh không điều động những người như thế. Nhưng cậu ta còn chưa làm việc ở nhà máy.

An-tôn nhìn sang vợ tiều tụy hốc hác vì đi đường đang nặng nhọc lê bước đi lại trong phòng, thở dài, phân vân một lúc rồi nói:

- Từ ngày mai trở đi, nó sẽ làm việc...

An-tôn cảm thấy như mình vừa làm một việc xấu xa.

* * *

Ông lại nhìn đồng hồ một lần nữa - mười hai giờ kém hai mươi. Cũng vừa lúc đó cửa bật mở, I-u-ri chạy xộc vào, áo phanh cúc ngực, chiếc mũ lưỡi trai, thật kỳ lạ, là vẫn nằm được trên đầu. Mặt phờ phạc, hơi sưng lên.

- Mẹ ơi! - ngay từ cửa, chưa kịp khép cánh cửa lại, anh kêu to. - Con chậm mất. Áo lao động đâu?

Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na giật mình vì tiếng kêu của con.

- Cha mẹ ơi! Con chậm mất rồi! Làm sao bây giờ? Con cần phải ăn tối nữa chứ.

- Không sao. Mẹ gói cho con một ít cái gì đó... - và anh bắt đầu vục nước trong chậu rửa mặt.

An-tôn bước vào bếp, đứng nhìn con trai chừng nửa phút.

- Mày ở đâu về đấy?

- Con đi nhảy, - I-u-ri vừa lau mặt vừa đáp.

- Nói láo! Nói lá-áo! - An-tôn nóng mặt, quát to.

- An-tôn, anh sao thế? - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na sợ hãi hỏi.

- Khoan đã, Ê-li-da-vê-ta,.. I-u-ri, tại sao mày lại nói dối? Mày học được từ bao giờ đấy? Mày ngủ ở đâu, nhìn mặt biết ngay!

I-u-ri cẩn thận treo khăn mặt lên chiếc đinh đóng cạnh chậu rửa mặt.

- Thôi được, con nói dối đấy. - I-u-ri thản nhiên nói. - Đúng là con ngủ. Cứ cho là ở nhà bạn...

- Tao không cho! - An-tôn lại quát lên, - Mày... mày ngủ... ở nhà một con đàn bà nào đó, đồ mất dạy!

- An-tôn...

- An-tôn cái gì? Đã bảo là khoan đã.

- Thì khoan đã, mẹ... - I-u-ri bước đến sát trước mặt cha, rướn lông mày, và đôi mắt xanh long lên dữ tợn, như một con mèo rừng. Nhìn vào đôi mắt đó, An-tôn giật mình kinh sợ. Nhưng một thoáng sau, tia hung dữ của đôi mắt vụt biến mất, và trước mặt ông lại là một I-u-ri hiền lành, dễ bảo như cũ. Và bất giác An-tôn nghĩ: cái thằng I-u-ri khác, từ trước đến nay ông chưa thấy bao giờ ấy, có thật hay chỉ là cảm giác của ông? - Sao ba lại làm ầm lên thế? - anh hỏi, mỉm cười vẻ biết lỗi. - Thì cứ cho là con ở... nhà một người đàn bà nào đó, thì đã sao? Con lớn rồi.

- Thằng mất dạy! Ôi, thằng mất dạy! - An-tôn giận run bắn người lên, khóe miệng giật giật như Pô-li-pốp.

- Thôi, ba ạ... Con muộn mất rồi. Ôi, chỉ còn mười phút nữa!

Và anh chộp lấy gói thức ăn mẹ chuẩn bị cho, chạy vụt ra cửa.

An-tôn nặng nề buông người xuống ghế, hai tay ôm chặt lấy đầu. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na lặng lẽ bước đến bên chồng, đặt tay lên vai.

- Sao anh lại như thế với con? Nó quả là đã lớn rồi...

- Nó đã lớn! Nhưng lớn thành người như thế nào?! Chẳng lẽ em không thấy đấy à? Nó nói láo, xỏ xiên... Muốn đàn bà thì phải cưới xin... Người tử tế thì phải như vậy. Còn nó... chẳng lẽ em không thấy đầu nó đã bắt đầu thối tha... -An-tôn đứng bật dậy, đi lại trong phòng. - Như vậy nó đã lớn lên thành người như thế nào? Rồi sẽ còn như thế nào nữa?!

Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na khóc thút thít.

- Em hiểu, anh An-tôn ạ... Em biết lỗi tại em, tại tình mẫu tử quá mù quáng của em... Đầu óc, lý trí em hiểu hết... Nhưng em không thể thiếu nó. Nó là đứa duy nhất, đứa con đầu tiên và cũng là cuối cùng của em. Nếu như em còn có thể có con nữa, chắc là sẽ không như vậy. Bọn chúng, trong nhà tù, đã đánh em dã man, đã dùng gậy đánh vào bụng... Anh hiểu cho em... -Và bà khóc nấc lên.

- Thôi được, thôi được, đừng thế, em bình tĩnh lại nào.

An-tôn không phải là người yếu đuối, kém nghị lực. Nhưng trước người vợ, trước những dòng nước mắt của vợ, ông trở nên bất lực. Điều đó có thể là do tình yêu - cho đến bây giờ An-tôn vẫn yêu Ê-li-da-vê-ta của mình như hồi còn là một cậu bé, đến quên mình - hoặc là do ông không phút nào quên những cực hình mà vợ đã phải trải qua năm mười tám? Hồi đó bà đã mất hết sức khỏe, và bây giờ bất cứ một sự xúc động nhỏ nào cũng có thể làm bà phát bệnh, và ông cố không làm bà xúc động, luôn luôn nhường nhịn, rút lui... Hoặc là điều này do cả hai nguyên nhân?

Nhưng dù có do cái gì và như thế nào đi nữa, An-tôn vẫn hiểu rằng đó không phải là cái tốt của ông, rằng nếu suy xét một cách khách quan, ông cũng có lỗi trong việc con ông đã lớn lên thành một người như thế. Có thể lúc đầu ông đã bỏ qua một đôi điều gì đó, về sau, khi nhận thấy trong tính cách của con bắt đầu có những khuyết điểm, nhưng vì nghe lời vợ, ông không nói gì. Và bây giờ, tình hình đã như vậy, có muốn làm gì thì cũng đã quá muộn, mà có lẽ cũng không thể làm được: đấy, ánh mắt của đứa con long lên mới dữ tợn làm sao!

- Chào cả nhà! Ra mà đón khách chứ! - có tiếng người nói ngay ở cửa.

Cả An-tôn lẫn Ê-li-da-vê-ta đều không nghe thấy Xu-bô- tin vào lúc nào. Nhìn thấy Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na đang khóc, ông bối rối.

- Xin lỗi, hình như tôi đến không đúng lúc.

- Chú I-van Mi-khai-lô-vích... Chú I-van Mi-khai-lô-vích! - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na kêu to, như cách đây đã lâu lắm, trong một bãi rừng trống, khi cũng con người này - lúc đó còn trẻ, tràn đầy sinh lực - bắt đầu nói với Ê-li-da-vê-ta về người cha đã hy sinh trong khi vượt ngục ở nhà tù trung ương A-lếch-xan-đrốp-xki. Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na chạy bổ tới, và cũng như lần ấy, úp mặt vào ngực ông.

- Nào, nào, Ê-li-da-vê-ta... Để chú nhìn xem cháu thế nào rồi nào... - Ông vui vẻ nói, và khẽ đẩy Ê-li-da-vê-ta ra, nhìn thẳng vào mắt. - Còn xinh lắm! Ê-li-da-vê-ta ạ, cháu vẫn còn xinh lắm, như hồi còn trẻ.

- Ôi, chú I-van Mi-khai-lô-vích... Đồng chí Tsúc-kin... Cháu mừng lắm. Bao nhiêu năm rồi!

- Chú cũng vui lắm, Ê-li-da-vê-ta ạ. Đấy, cháu thấy chưa, cuối cùng ta lại gặp nhau. Đúng là có số... Nhưng sao cháu khóc? An-tôn làm sao à? Anh ấy đúng là một thằng mất nết...

- Không đâu, An-tôn của cháu tốt lắm. - Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na nói. -Đây là chúng cháu... - Bà luống cuống. - Nhưng sao lại đứng cả thế này? Chú cởi áo ngoài ra và ngồi vào bàn đi. Nói chung, hôm nay chúng cháu sẽ không để chú đi đâu cả. An-tôn, anh giúp chú cởi áo ra. - Và Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na chạy vào phòng.

I-van Mi-khai-lô-vích cởi áo ngoài, vuốt vuốt mấy sợi tóc lưa thưa.

- Nhưng, xin lỗi vì hỏi một câu không tế nhị, tại sao trong nhà lại có chuyện nước mắt như thế này?

- Con trai, anh hiểu không, càng ngày nó càng làm cho tôi lo lắng. Đấy, chúng tôi vừa mới nói về nó.

- Thế đấy... Đôi lúc con cái cũng là một vấn đề thật phức tạp.

- Phức tạp lắm, - An-tôn thở dài. - Anh rửa tay đi. Chuyến đi về nông trang ra sao?

- Nói chung là tốt. Chủ tịch nông trang ở đấy là một con người khá thú vị, - Xu-bô-tin vừa vốc nước rửa mặt, vừa nói. -Chỉ có hơi du kích một tí. Tự tiện gieo hầu hết diện tích đất trồng bằng giống lúa mạch đen. Nhưng kể ra thời nay đôi lúc làm theo lối du kích cũng có lợi - đạt được cái mình muốn nhanh hơn.

- Anh ở chỗ chúng tôi còn lâu chứ? Bao giờ sẽ đến nhà máy? - Xa-vê-li-ép đưa khăn mặt cho ông, hỏi.

- Sẽ ở lại ít bữa. Và sẽ còn đến cả nhà máy nữa. Nhưng bây giờ tôi lại chuyên trách về nông nghiệp.

- Ra thế đấy. Nghĩa là bây giờ không phải cấp trên trực tiếp của tôi nữa?

- Có lẽ thế. Tiếc à?

- Mừng chứ... Bây giờ có thể tha hồ uống rượu vốt-ca với anh mà không lo gì.

- Thế trước đây thì lo à?

- Vâng, cũng có sợ.

Vừa cười nói, họ vừa đi từ bếp vào phòng.

* * *

Kết thúc ngày làm việc, Pô-li-pốp, theo thói quen đã được tạo ra sau bao nhiêu năm tháng, kiểm tra lại xem có tờ giấy nào mà người ngoài không được phép xem còn nằm trên bàn, ngăn kéo bàn và cánh cửa tủ không cháy đứng ở góc phòng đã khóa chưa. Rồi ông cầm lấy cặp định đi về nhà, nhưng lại ngồi xuống chiếc ghế bành mềm dành cho khách và nhắm mắt lại, nghĩ ngợi.

Trong những ngày gần đây ông chỉ nghĩ về một điều - về Xu-bô-tin. Bí thư tỉnh ủy đã một tuần nay ở lại San-ta-ra, cùng với Cru-gi-lin đi khắp các nông trang, nhưng chưa lần nào ghé vào ủy ban huyện, và cũng không nói gì về bức thư mà ông, Pô-li-pốp, đã viết gửi về tỉnh ủy. Pô-li-pốp cũng không hỏi gì cả. Một vài lần gặp nhau, Xu-bô-tin chào hỏi một cách lạnh nhạt. Pô-li-pốp gật đầu đáp lại, và họ lại chia tay mỗi người đi một hướng.

Nhưng Pô-li-pốp biết chắc rằng Xu-bô-tin về đến huyện vì bức thư của ông. Xu-bô-tin sẽ làm gì với ông? Triệu tập thường vụ huyện ủy và tuyên bố rằng lời tố giác của Pô-li-pốp về bí thư huyện ủy là không khách quan? Nhưng đấy đâu phải là lời tố giác! Ông đâu phải là thằng ngốc để đi viết những lời tố giác như vậy? Đấy chỉ là bức thư của một người cộng sản gửi tổ chức Đảng cấp trên đề nghị giải thích một vấn đề chưa rõ. Nhưng người ta để Xu-bô-tin sang phụ trách nông nghiệp thật không đúng lúc. Người bí thư chuyên trách nông nghiệp trước đây của tỉnh ủy chắc đã giải thích rằng không phải ông, Pô-li-pốp, mà là Cru-gi-lin phải chịu trách nhiệm về sự tự tiện ấy. Mà ông ta sẽ «giải thích» một cách ra trò để cho Cru-gi-lin rất lâu còn phải cảm thấy nhức nhối, ê ẩm nhiều chỗ. Và con chủ bài đó sẽ còn nằm rất lâu ở trong tay Pô-li-pốp. Nhưng ai biết trước được mọi việc lại như thế này?!

Và nói chung cái lão Cru-gi-lin này thật gặp may. Mới dạo mùa thu còn bù đầu bù tai với nhà máy, việc thu hoạch mùa rất chậm, uể oải. Còn Pô-li-pốp (nghĩ đến đây Pô-li-pốp thầm cười khẩy, mặt vẫn giữ vẻ trầm ngâm cau có - ông biết cách chỉ cười thầm trong ý thức), ông không để tâm xúc tiến việc gặt mùa lắm, nhắm mắt làm ngơ trước thực tế là trong hầu hết các nông trang việc thu hoạch mùa tiến hành rất chậm, nếu tổ chức tốt, kiểm tra chặt chẽ hơn thì có thể gặt nhanh gấp đôi. Ông đi từ nông trang này sang nông trang khác, làm ầm ĩ lên, nhưng chỉ xung quanh việc đập thóc và nộp lúa cho nhà nước, yêu cầu phải tập trung vào đó tất cả nhân lực, sức kéo, phương tiện vận tải.

- Sắp có gió, trời xấu, thóc sẽ rụng hết hạt, - một lần Pô-li-na Xéc-gây-ép-na, vợ của Pô-li-pốp, ngồi đọc bản thông báo về tình hình thu hoạch mùa đăng trong tờ báo huyện, nói. - Và tình cảnh của Cru-gi-lin lúc đó chắc phải thú vị lắm. Có vò đứt tai cũng không lấy gì mà nộp cho nhà nước... Còn nếu như lại bị tuyết lấp mất ngoài đồng một ít...

- Im đi! - Pô-li-pốp đỏ mặt, quát to, ông hiểu rằng cũng như mọi lần, vợ ông luôn luôn đoán được những tính toán bí mật trong đầu ông. - Cô nói cái gì vậy? Cô định cho tôi là... Chỉ ngồi nghĩ ra đủ chuyện!

Tất nhiên thật là lý tưởng nếu như nhà máy cho sản phẩm chậm hơn một tháng - tháng rưỡi, còn mùa màng trong huyện cứ bê bết ra. Người chịu trách nhiệm trước hết phải là ông chủ quan trọng nhất, và Cru-gi-lin sẽ bị bắn bật ra khỏi huyện như chiếc nút bắn ra khỏi miệng chai, để lại chiếc ghế bí thư cho ông, Pô-li-pốp. Nhưng liền đó Xa-vê-li-ép cùng cái tay gầy như que củi Nhê-tsa-ép xuất hiện, và hai tuần sau nhà máy đã cho ra đầu đạn pháo. Kết quả là những bức điện từ tỉnh ủy và Bộ dân ủy quân khí bay về. Rồi Cru-gi-lin đích thân phụ trách việc thu hoạch mùa. Ngược lại với Pô- li-pốp, Cru-gi-lin không để ý gì đến chuyện nộp thóc cho nhà nước, chỉ yêu cầu gặt, gặt, gặt nhanh và chất lại thành đống. Nhịp độ nộp thóc giảm xuống đột ngột, những hồi chuông điện thoại cau có, những bức điện gay gắt từ tỉnh bay về tới tấp. Cru-gi-lin hầu như không để ý đến chúng. Còn Pô-li-pốp lại chú ý và suốt ngày cáu kỉnh. (Đến đây Pô-li-pốp lại cười khẩy, nhưng lần này ra mặt, cả khuôn mặt rộng bè bè của ông nhăn lại như ăn phải cái gì rất chua). Đúng, Pô-li-pốp cáu kỉnh vì ông hiểu rằng rồi sẽ đến một ngày tỉnh ủy lại gửi điện chúc mừng về, vì đã hoàn thành kế hoạch nộp thóc cho nhà nước, và tất cả những bức điện gay gắt trước đây chỉ là những tờ giấy vô giá trị. Hơn nữa, hình như thiên nhiên cũng về phe với Cru-gi-lin - trời năm nay nắng ấm rất lâu.

Mọi việc cứ thế diễn ra. Kết quả là không một chiếc lò xo nào mà Pô-li-pốp đặt bẫy dưới chỗ ngồi của Cru-gi-lin bật lên được, chúng chỉ từ từ duỗi ra, thậm chí không gây một tác động nào đến Cru-gi-lin. Pô-li-pốp còn lại cái gì nữa? Chỉ còn lại chuyện Pan-crát Na-da-rốp tự tiện gieo giống mạch đen, mà cả chuyện này Pô-li-pốp biết cũng quá muộn. Ôi, giá như thêm vào đấy, nhà máy còn chưa sản xuất đạn và huyện không hoàn thành kế hoạch nộp thuế cho nhà nước! Tuy vậy, vẫn biết rằng bút sa gà chết, sau nhiều suy nghĩ, ông quyết định viết một bức thư gửi lên tỉnh ủy. Ông viết nó vào ban đêm, cũng trong căn phòng này, trên chiếc bàn này, trong bụng thầm triết lý rằng cuộc đời quả trôi thật nhanh và hay thay đổi, và tình hình có thể nhanh chóng thay đổi, biết đâu đến lúc người ta sẽ lại nhớ đến bức thư này, và nó sẽ có lúc hoàn thành được cái vai trò của mình...

Có tiếng gõ cửa. Pô-li-pốp giật mình.

- Vâng. Ai đấy?

Xu-bô-tin bước vào phòng.

- Suy nghĩ à? Chào anh. Tôi đi bây giờ đây, đến chào anh, - ông bỏ mũ, nhưng không cởi áo ngoài.

- Không dám, cảm ơn anh, - Pô-li-pốp cười nhạt. – Thế mà tôi nghĩ anh không đến đấy.

-Tại sao lại không? Tôi cần phải nói chuyện với anh vì trong thư anh đề nghị giải thích về vấn đề Na-da-rốp và Cru-gi-lin.

Pô-li-pốp rướn đôi lông mày vàng nhạt.

- Anh cứ giải thích đi.

Xu-bô-tin ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Pô-li-pốp. Giữa họ là một chiếc bàn hẹp được kê sát với chiếc bàn to nặng của chủ nhân căn phòng làm việc này. Xu-bô-tin để tay lên tấm khăn giải bàn bằng nỉ đã cũ sờn, những ngón tay nắm chặt.

- Này, Pi-ốt, anh nói thật lòng với tôi đi: anh viết bức thư ấy để làm gì? - Xu-bô-tin khẽ hỏi.

- Câu hỏi kỳ quặc...

- Vâng, đúng là như vậy, nếu như tôi hỏi người khác, nhưng tôi với anh cùng ngồi trong một nhà tù, cùng chia nhau những mối nguy hiểm ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Anh hãy nói với tôi như với một người đồng chí cũ...

- Chính anh cũng hiểu rất rõ là vì sao. Tôi là đảng viên cộng sản, I-van Mi-khai-lô-vích ạ. Đồng chí Xta-lin và Đảng luôn dạy bảo chúng ta về tính kỷ luật. Còn ở đây rõ ràng là một sự tự tiện...

- Tôi muốn anh nói một cách chân thành như với một người đồng chí, -Xu-bô-tin nhăn mặt nói.

- Chẳng lẽ tôi nói không chân thành?

Đã khoảng tám-chín giờ đêm, ngoài đường trời đã tối từ lâu. Trong phòng làm việc, hai ngọn đèn lớn được che bằng những chiếc chao đèn thủy tinh rẻ tiền cháy rất sáng. Ngoài cửa sổ, những cây dương, cây phong còn non phủ đầy tuyết lắc lư trong dải ánh sáng lọt ra từ phòng. Về mùa hè cành lá sum suê, chúng vui vẻ nghiêng mình vào cửa sổ; nhưng bây giờ những cành khô héo, trụi lá cong queo từ trong bóng tối nhô ra vươn sát đến tận cửa kính gây nên một cảm giác khó chịu.

- Như vậy nghĩa là chúng ta không nói chuyện được với nhau, Pô-li-pốp ạ, - Xu-bô-tin lạnh lùng nói và đứng dậy. -Thật đáng tiếc...

- Tất nhiên là tôi khó nói chuyện được với anh, bởi vì chính nhờ những sự cố gắng cửa anh mà tôi được thôi, hay đúng hơn, bị gạt ra khỏi công tác Đảng, - Pô-li-pốp nói với vẻ tự ái không giấu giếm. Góc chiếc miệng rộng của ông méo xệch như sắp khóc. Nhưng, ông không khóc, mà tiếp tục nói vẫn bằng giọng như cũ. - Lúc đầu từ thành phố chuyển về đây, như đi đày. Sau đó, hất khỏi huyện ủy. Còn tiếp theo tôi không biết là sẽ đi đâu nữa... Cru-gi-lin có lần nói lộ ra là cho về nông trang. Tất cả đều lô-gích.

Xu-bô-tin nghe, im lặng, nhìn Pô-li-pốp với một vẻ thương hại, đau khổ và một sự khó chịu hiện ra rõ trong ánh mắt.

- Đẩy đi đày à?.. Ôi, Pô-li-pốp, Pô-li-pốp... Chính tôi đang muốn nói với anh, như một người đồng chí cũ, như bạn nói với bạn, muốn cuối cùng sẽ hiểu được anh, và có thể, muốn giúp đỡ, để, như anh nói, người ta không đẩy anh đi tiếp, để anh không lăn xuống dốc hoàn toàn, xuống vực thẳm.

- Ô-ô-ô! - đôi lông mày vàng nhạt của Pô-li-pốp lại nhướn lên. - Thậm chí đến như thế đấy... nhưng vấn đề có xứng đáng không đã chứ?!

- Thế anh nghĩ sao?! - Xu-bô-tin nói với một sự đau đớn lộ ra trong giọng nói. Ông bước đến bên Pô-li-pốp, làm một cử chỉ như định túm lấy vai Pô-li-pốp, nhưng lại thôi. - Ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ, anh đã biến thành một tay quan liêu hạng nặng nhất. Tôi nghĩ rằng, về đây, về huyện, công việc thực tế sinh động sẽ chữa cho anh, cuộc sống sẽ mở mắt, tẩy não cho anh. Nhưng anh lại...

- Nhưng tôi sao?! - Pô-li-pốp cũng đứng dậy và bắt đầu đi lại trong phòng. -Tôi lại tự bôi tro trát trấu vào mặt chứ gì? Nhưng thế nào là bôi tro trát trấu vào mặt? Huyện của tôi lúc đó trở thành tiên tiến trong tất cả mọi chỉ số: về lúa mì, về thịt, về lông cừu...

- Nhưng, khoan đã, - Xu-bô-tin nói.

- Không, tôi không khoan gì cả, - Pô-li-pốp hét lên giận dữ, dường như trước mặt ông không phải là bí thư tỉnh ủy, mà là một chủ tịch hay đội trưởng của một nông trang nào đó mà ông đã quen nói với họ bằng giọng như vậy. - Tôi không khoan, vì có những ý kiến, nhưng cũng có những sự kiện, chứng cớ khách quan. Trong tỉnh này ai nộp lúa mì nhiều nhất, sớm nhất? Pô-li-pốp! Còn thịt, còn sữa? Pô-li-pốp! Huyện của ai nằm trong bảng Danh dự của tỉnh? Của Pô-li-pốp!..

Xu-bô-tin ngạc nhiên đứng nhìn Pô-li-pốp, nhưng dần dần sự ngạc nhiên đó biến thành sự thương hại trước đấy. Bí thư tỉnh ủy ngồi xuống chỗ cũ. Pô-li-pốp liền ngưng bặt.

- Xin lỗi... - ông nói khẽ, rồi cũng ngồi xuống.

Chừng một hai phút họ ngồi im lặng, không nhúc nhích.

- Thế thôi, Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích ạ... - Cuối cùng, Xu-bô- tin nặng nhọc lên tiếng. -Bây giờ thì tôi đã hoàn toàn rõ ý nghĩa của bức thư anh gửi về tỉnh ủy. Trước đây tôi còn đôi chỗ nghi ngờ, còn tin... hoặc muốn tin vào sự thành thật của anh... rằng anh lầm lạc, mà cũng có thể, anh chưa hiểu được một vài vấn đề...

- Tôi chỉ hiểu một điều: những việc làm tự tiện, như kiểu của Na-da-rốp, sẽ không mang lại điều gì tốt lành...

- Còn anh thì làm việc ở đây, không hề tự tiện làm một việc gì cả. Tất cả đều theo chỉ thị, tất cả đều đúng các điều khoản. Và đưa huyện đến chỗ phá sản, đến điểm cùng cực... Cho nên phải đưa anh xuống, vì rằng tất cả những người bênh vực cho anh ở tỉnh không chỉ trông thấy cái biển đề bên ngoài, như anh nói, của huyện anh, mà còn trông thấy tất cả những gì ở sau tấm biển đề đó. Và nói chung, anh cũng hiểu được điều này.

- Đến chỗ phá sản, đến điểm cùng cực - anh nói như vậy để làm gì?! Cũng như các bí thư huyện ủy khác, tôi có những thiếu sót ở trong huyện. Anh đem nhân, phóng đại chúng lên, đem chúng ra soi xét ở tỉnh ủy. Tôi không còn bé dại gì nữa, tôi biết việc đó được làm như thế nào. Nhưng tôi còn biết một điều khác - tất cả đều qua đi, tất cả đều thay đổi...

- Hiểu điều đó như thế nào? - Xu-bô-tin khẽ hỏi.

- Hiểu thế này... Những người như tôi, những đảng viên từ trước cách mạng, Đảng sẽ không bỏ...

- Đừng nên tự hào với những công lao quá khứ! Hãy tự hào với những đóng góp hiện tại. Mà cái này thì anh không có.

- Anh cho là không, nhưng tôi lại cho là có. Anh đã lấy những thứ rác rưởi lấp chúng lại. Nhưng không sao, chúng ta sẽ đợi xem.

- Khoan, khoan đã... Thực ra, anh định đợi xem cái gì? - Và Xu-bô-tin vươn chiếc cổ gầy của mình ra, làm như câu trả lời của Pô-li-pốp có thể bay qua tai ông, mà đi mất.

-Tôi đã nói, tất cả sẽ trôi qua... Thêm vào đó, lại chiến tranh... Có thể, người ta sẽ chuyển anh từ Nô-vô-xi-biếc-xcơ đi một nơi nào khác; cũng có thể, tôi xin sang một tỉnh khác. Hoặc cùng lắm... - Pô-li-pốp ngừng lại một giây, nhìn thẳng vào mắt Xu-bô-tin, và hỏi, hơi có vẻ giễu cợt: - Năm nay anh bao nhiêu tuổi?

Xu-bô-tin chỉ khẽ nhíu những nếp nhăn trên trán lại.

- Hoặc cùng lắm, ta sẽ đợi đến ngày anh về hưu.

Trong phòng lại mấy phút im lặng. Ngoài cửa sổ, những cành cây trụi lá buồn bã run rẩy trong bóng tối.

- Thế đấy... Thì ra anh tính toán trước tất cả mọi thứ.

- Tôi tính toán chứ! - Pô-li-pốp nói với một thái độ trơ tráo, lộ liễu.

- Tôi đã nghĩ nhiều về anh..., Nhưng thú thật, chỉ hôm nay mới thấy được thực chất của anh. Cái gì đã xảy ra với anh thế, Pô-li-pốp? - Xu-bô-tin buồn rầu nói, như tự hỏi chính mình.

- Thế thực chất của tôi là như thế nào?

- Không thể giải thích ngay được. Mưu mô quỷ quyệt, đố kỵ, hám danh - tất cả đều hình như chưa phải, tất cả đối với anh còn quá nhẹ, còn chưa đủ để đánh giá về anh. Không biết, tôi không biết nữa... - Xu-bô-tin mệt mỏi lau đôi má đầy những nếp nhăn. -Nhưng có một điều chính xác là ở anh không còn một tí tính đảng nào nữa...

- Nhưng, anh biết không, về điều này... - Pô-li-pốp cười gằn. - Tất nhiên không ai có thể cấm anh đánh giá, kết luận. Nhưng xin anh hãy giữ chúng lại cho mình.

- Mà cũng có thể cái tính đảng của chúng ta, anh đã không bao giờ có? - không hề chú ý đến những lời nói và cái cười gằn của Pô-li-pốp, Xu-bô-tin trầm ngâm tiếp. - Và còn nữa: có thể... rất có thể, ngay cả bây giờ tôi vẫn còn chưa thấy được cái thực chất của anh? Hả?

Pô-li-pốp đột nhiên ngả chiếc đầu to tướng ra phía sau, miệng há ra, và góc chiếc miệng mở rộng bắt đầu giật giật, đôi má dày trở nên tái mét.

- Mà anh... - Pô-li-pốp khàn khàn thốt lên, thở dốc, đầu lắc lư, nhảy chồm dậy. Và ông ta hét to, giọng rít lên the thé. - Mà anh... sao anh dám... Tôi hỏi anh, anh có quyền gì?

Xu-bô-tin nặng nhọc đứng dậy, vươn thẳng người lên. Và không nhìn thẳng vào mắt Pô-li-pốp, mà vào đôi má đang giật giật một cách giận dữ của ông ta, Xu-bô-tin bình tĩnh nói:

- Chúng tôi không để cho anh ăn thịt Cru-gi-lin đâu. Sắp tới, chúng tôi sẽ mời anh ta đến thường vụ tỉnh ủy để thảo luận về kết quả vụ mùa, tình hình ở nhà máy và trong huyện. Có cái sẽ khen, có cái sẽ chê, có cái trao đổi thêm. Nhưng, như anh hiểu đấy, chúng tôi sẽ khen nhiều hơn... Còn về việc Na-da-rốp... Tôi nghĩ rằng, tỉnh ủy sẽ đồng ý với ý kiến của tôi, là Cru-gi-lin, với tư cách người lãnh đạo của huyện, có quyền vì lợi ích công việc chung, cho phép một nông trang gieo giống lúa mạch đen trên nửa diện tích đất trồng để thí nghiệm. Chào anh.

Và Xu-bô-tin đi ra, không ngoái lại..,

Pô-li-pốp đi về nhà dữ tợn như sư tử và hoảng hốt như con thỏ bị người đi săn suốt ngày săn đuổi. Rất lâu, vợ không mở cửa, và ông đứng trên bậc thềm ra sức lấy mũi giày đá vào cánh cửa.

- Chết rấp trong đó rồi hay sao? - ông hầm hầm bảo vợ khi chị ta kéo then khóa ra. - Khóa ba từng bảy lớp như bà hoàng!

- Trước chiến tranh trong làng cũng đã đủ các loại du côn. Còn bây giờ...

- Nhưng cô thì ai thiết, cái đồ bị thịt này?

Và ông nện gót giày thình thịch dọc theo sàn nhà bằng gỗ sơn của hành lang mờ mờ ánh điện.

* * *

Sau khi Cru-gi-lin về, Pô-li-pốp rời bỏ khu nhà huyện ủy một cách ngạo ngược và đến sống trong một căn nhà nhỏ, sạch sẽ, có hai phòng, nằm sát ngay sau hàng rào bằng gỗ của trụ sở ủy ban huyện.

Hai vợ chồng Pô-li-pốp không có con (Pô-li-na Xéc-gây-ép-na không hiểu nguyên nhân là tại chồng hay tại chính mình, còn đến bác sĩ thì ngại), và, công việc duy nhất của chị ta là thu dọn nhà cửa và chuẩn bị ăn uống. Chị ta thích và thành thạo làm những việc này, nhưng chúng chẳng phải tốn bao nhiêu thì giờ, và về mùa đông suốt ngày dài dằng dặc chị ta lang thang không mục đích trong những căn phòng trống trải hoặc nằm ườn trên ghế đi-văng đọc sách hoặc tạp chí, còn mùa hè thì trồng hoa. Cả căn nhà huyện ủy trước kia và cả căn nhà ủy ban huyện bây giờ luôn luôn chìm ngập trong những luống hoa nhiều màu sặc sỡ, tươi tốt.

Trước đây Pô-li-na Xéc-gây-ép-na là một người đàn bà cân đối, thậm chí còn mảnh khảnh, mặc dù có bộ đùi đầy đặn và lưng hơi gù. Nhưng sau nhiều năm sống nhàn hạ, tuy còn khá trẻ - chị ta ít hơn chồng những mười lăm tuổi - người chị ta béo phị ra, sệ xuống. Cặp đùi càng đầy thêm, tất cả váy đều chật căng đến nứt đường chỉ, đôi vú chảy sệ xuống như hai cục bột nhào lủng lẳng treo dưới lần áo dài mặc trong nhà, làn da bụng trước đây căng, dẻo, bây giờ cũng phệ ra, cằm béo núng nính đến nứt ra thành ngấn.

Khi đi lấy chồng, hay đúng hơn, cưới Pô-li-pốp cho mình, Pô-li-na hăm nhăm tuổi.

Một buồi chiều mùa thu năm 1930, có tiếng chuông điện thoại vang lên trong nhà riêng của Pô-li-pốp,

- Xin lỗi anh, em là Xvi-ri-đô-va. Em muốn đến nhà anh...

- Xvi-ri-đô-va nào? Có việc gì?

- Em muốn đến xin việc làm, nhưng không dám... Mẹ em vừa mới mất cách đây một tuần. Em giờ chỉ còn lại một mình.

- Tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi có thể giúp được gì?

- Em không cần giúp đỡ, - giọng người đàn bà thở dài trong máy nói. -Em muốn nói chuyện về cha... Anh biết cha em mà...

- Xin... xin lỗi, - Pô-li-pốp thốt lên, hơi nói lắp, - tôi không biết Xvi-ri-đốp nào cả.

- Anh với cha em cùng ngồi tù ở nhà giam Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ ấy. Có lẽ anh quên rồi, đã bao nhiêu năm trôi qua...

Pô-li-pốp im lặng rất lâu, tay bóp chặt lấy ống nghe đến nỗi các ngón trắng bệch ra.

- A-lô, sao anh im lặng thế? - người đàn bà hoặc cô gái không quen biết, hỏi.

- Vâng, vâng... - Pô-li-pốp thở hắt ra hai lần liên tiếp như bị đánh. - Hình như tôi nhớ ra rồi. Xéc-gây Xvi-ri-đốp, vâng, đúng rồi... Đúng là chúng tôi cùng bị giam trong một phòng ở nhà tù Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Hình như vào năm chín trăm linh sáu. Thế nhưng chị muốn gì?

- Em nói rồi, muốn gặp anh.

- Vâng, vâng, mời chị đến... lúc nào đó.

- Nếu anh cho phép, em đến ngay bây giờ... - Và không đợi trả lời, người đàn bà bỏ máy xuống.

Một năm trước đó, Pô-li-pốp từ quân đội phục viên về, sau nhiều do dự, ông ta trở về thành phố quê hương, nơi đã mười một năm nay không có mặt, giữ chức trưởng phòng ở tỉnh ủy. Ông ta chưa lấy vợ, sống trong một ngôi nhà nhỏ hai phòng, đứng ở cửa sổ nhìn ra thấy rõ con sông Ô-bi và chiếc cầu đường sắt bắc qua sông. Bỏ ống nghe xuống, ông ta khoác tạp-dề vào, bắt đầu dọn lại nhà cửa, lau bụi trên cửa sổ, thu dọn bát đĩa bẩn trên bàn xuống.

Ông còn chưa rửa xong chồng đĩa, thì có tiếng gõ cửa khe khẽ. Mở cửa, Pô-li-pốp trông thấy một người đàn bà khá xinh đẹp mặc chiếc áo vét nữ giản dị, cúc gài kín đến tận cổ. Đôi mắt đẹp màu nâu sáng, mái tóc dày vàng như rơm chải ra phía sau và quấn lại sau gáy thành một búi lớn nặng, kéo đầu hơi ngửa ra phía sau.

- Em đây... - người đàn bà ngượng nghịu nói.

- Mời chị vào.

Người đàn bà ngồi xuống chiếc ghế đi-văng bọc da, hai đầu gối khép chặt và lập tức những giọt nước mắt trào ra chảy dọc theo má. Chị ta lấy từ trong chiếc túi xách to màu đen ra một chiếc khăn mùi-soa, chấm vào đôi mắt đẹp. Đôi vai run lên, đôi bắp đùi đầy đặn để lộ ra đến gần quá nửa. Pô-li-pốp nhìn đôi bắp đùi đó và lo lắng nghĩ: làm sao mà cô gái này biết là ông cùng ngồi tù với cha cô ta? Mặc dù, Xvi-ri-đốp có thể nói với mẹ cô ta, hoặc với chính cô ta, về điều này, khi vào năm mười tám, mấy lần ông đến nhà họ. Cô ta có nhớ là ông đến nhà họ không? Cô ta biết gì về quan hệ giữa ông và cha cô ta? Và nói chung, cô ta cần gì ở ông?

- Chị bình tĩnh lại nào, - ông nói như một cái máy. - Xin lỗi, tên chị là gì ạ?

- Pô-li-na, - người đàn bà rầu rĩ nói: - Anh tha lỗi, rằng em... Em biết rằng cha em... Lúc đầu theo cách mạng, cùng với các anh, nhưng sau... phản bội lại lý tưởng của mình, chạy sang phía kẻ thù của cách mạng... Em không bào chữa cho cha em. Nhưng em thương cha. Và em nghĩ, có thể anh biết một vài điều chi tiết về cha em. Mẹ nói với em rằng sau này cha em tự tử chết. Tại sao cha em lại tự tử?

- Nhưng làm sao mà tôi biết được?

- Vâng, tất nhiên... - Chị ta đứng dậy. Đôi mắt đẹp của chị ta bỗng mờ đi, trở nên đờ đẫn, yếu đuối. Đột nhiên, người đàn bà túm lấy tay Pô-li-pốp, bóp chặt trong lòng bàn tay nóng hổi của mình, và Pô-li-pốp cầm thấy những ngón tay của chị ta run lên.

«Cái quỷ quái gì thế này, chẳng lẽ cái ả này đến để... quyến rũ mình?!» - Pô-li-pốp thoáng nghĩ. Chị ta làm điều này sẽ không khó khăn lắm. Đã từ lâu Pô-li-pốp không gần đàn bà; trong ngôi nhà này, chỉ có mình họ, từ người chị ta lại tỏa lên một mùi nước hoa rẻ tiền nồng nặc và mùi thân thể đàn bà ngây ngất. Và có lẽ Pô-li-pốp đã không cưỡng nổi, nếu như trong đầu không quay cuồng một ý nghĩ: Xvi-ri-đô-va có nhớ ông đã đến nhà cô ta khi cha cô ta làm dự thẩm viên cho hiến binh bạch vệ không? Nhớ hay không?

Pô-li-pốp giằng mạnh tay. Và ngay lập tức, cái vẻ yếu đuối đờ đẫn trong đôi mắt Xvi-ri-đô-va biến mất; một tia long lanh, một ngọn lửa giễu cợt, khinh bỉ lóe lên, làm cho Pô-li-pốp càng thêm lo sợ.

- Xin lỗi, - chị ta nói - Em đi đây. Tóc em hơi rối mất rồi, có thể cho em chải nhờ một tí được không ạ?

Tia giễu cợt trong mắt người đàn bà biến mất, nhưng thay vào đó nơi khóe miệng thoáng hiện một đường nét dữ tợn, cánh mũi phập phồng. Nhưng rồi tất cả những cái đó cũng biến mất, tan đi trong nụ cười e lệ, thậm chí hơi ngượng nghịu, xấu hổ. Những sự thay đổi, biến hóa đó xảy ra rất nhanh, đến nỗi Pô-li-pốp không biết thực hư ra sao nữa.

- Chị cứ việc. Đây là phòng tắm. Nếu như chị muốn, có thể rửa qua. - Và Pô-li-pốp đi xuống bếp.

Từ trong bếp, ông nghe tiếng cô gái đi lại trong phòng, nhìn vào phòng ngủ - có tiếng cửa mở kêu cót két. Rồi có tiếng nước chảy trong phòng tắm và sau đó người khách kỳ lạ của ông lại đi lại trong phòng. Tiếng cánh cửa vào phòng ngủ lại kẹt lên một lần nữa, và tất cả bỗng im lặng. «Ả ta hoặc là một con mụ trơ tráo, hoặc là...» Tim ông hoảng hốt đập mạnh. Nhưng ông không định ra khỏi bếp để kiểm tra xem người khách kia đang làm gì trong phòng.

Tuy vậy cuối cùng ông cũng ra khỏi bếp. Không có ai trong phòng, cánh cửa vào buồng ngủ hơi hé mở, nhưng điện trong buồng không sáng.

- Này, cô bé, - Pô-li-pốp nói nhanh, cảm thấy cổ mình như bị nghẹn lại, - Cũng có hơi khó coi, trơ tráo đấy. Tôi có cho phép cô vào đây đâu. Trong đó không được gọn gàng lắm.

Nhưng trong phòng ngủ vẫn không nghe có tiếng động nào.

- Pô-li-na Xéc-gây-ép-na?

Vẫn không động tĩnh. «Cái quỷ quái gì thế này? Hay là cô ả đi rồi?» Pô-li-pốp ngó ra hành lang - không có ai cả. Tim đập mạnh, ông đẩy cánh cửa vào phòng ngủ và bước qua bậc cửa thấp. Ngay lập tức mùi nước hoa quen thuộc xộc vào mũi và đôi cánh tay nặng ôm choàng lấy cổ ông.

- Bỏ ra... Bỏ ra... - ông ta kêu khẽ, tiếng bị nghẹt lại trong cổ, cố xô tấm thân đàn bà nóng hổi đang ghì chặt lấy người mình.

- Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích... Anh Pi-ốt... - Cô gái cố gắng nồng nàn tìm bắt cặp môi của ông - Vừa trơ tráo, vừa khó coi... Nhưng em không chịu được nữa. Em yêu anh... Ngay khi anh vừa mới về đến đây, em mới thấy anh một lần... Nhưng em không biết phải làm như thế nào... Còn hôm nay em quyết định... Em quyết...

- Bỏ ra! - ông quát lên, lắc mạnh đầu. Người ông nóng bừng lên.

Và, dường như hoảng hốt, Pô-li-na khẽ lùi lại phía bức tường đối diện, nhưng rồi vung hai tay lên, cô ta lại nhảy đến sát bên ông, xô ông đến bên giường.

- Thế anh có phải đàn ông không đấy?

Pô-li-pốp ngã ngửa người xuống giường, những sợi tóc đàn bà thoang thoảng nước hoa phủ lên mặt...

Rồi, họ nằm im lặng rất lâu, như để suy nghĩ xem việc gì đã xảy ra. Không ai có thể bắt đầu câu chuyện được.

- Thế tức là, em... yêu anh?! - Pô-li-pốp cảm thấy xấu hổ với giọng nói của mình.

- Thì em đã nói rồi, - cô gái thản nhiên đáp.

- Nhưng khi người ta yêu, sự việc lại không xảy ra như vậy. Nó trơ tráo, xấu xa...

- Nhưng lại chắc chắn, - Pô-li-na nói với một vẻ giễu cợt không giấu giếm, - Anh thấy không, bây giờ thì, anh chẳng chạy đi đâu được nữa.

Pô-li-pốp ngồi bật dậy trên giường.

- Thế cô cũng thường hay... quyến rũ như vậy?

- Khô-ông đâu ạ, - Pô-li-na kéo dài giọng, như để an ủi ông.

Pô-li-pốp nằm một lúc, rồi lại tò mò hỏi:

- Thế tại sao lại... anh?

- Thế em còn biết lấy ai làm chồng, ngoài... bạn cũ của cha em? - Pô-li-na hỏi ra vẻ ngạc nhiên.

- Cô... cô định lấy tôi làm chồng đấy à? - Pô-li-pốp hét to và lại ngồi nhỏm dậy. -Tôi là bạn của ông ấy bao giờ?

«Lão bám lấy, đấy, lão vẫn cứ bám lấy - ông nghe trong đầu nhói lên. - Mình cũng đã nghĩ rồi mà, đáng lẽ không nên về Nô-vô-xi-biếc-xcơ sau khi phục viên mới phải...»

- Nhưng tại sao cô lại chọn đúng tôi làm chồng?!

- Em cũng cần phải sống chứ? - Pô-li-na chậm chạp nói. - Em nay chỉ còn lại một mình, mẹ quả đã chết thật rồi. Em không thể làm việc được... Em cũng chưa thể xin đi đâu, tất cả những năm qua hai mẹ con sống như chuột trong hang, bị mọi người lãng quên. Và cứ sợ: nếu bỗng nhiên có ai chú ý đến - họ Xvi-ri-đốp nào thế này? Nói chung, cha đã để lại cho một gia tài... Còn bây giờ mẹ chết rồi, và em sẽ trở thành Pô-li-pốp phủ nhân. Cuối cùng có thể thở một cách thoải mái.

- Thế cô... cô đã hỏi tôi trước chưa? Xem thử tôi có đồng ý không đã chứ. - Pô-li-pốp rít lên giận dữ.

Nhưng cơn giận này hoàn toàn không làm cho Pô-li-na sợ hãi. Vẫn nằm ngửa như cũ, tóc xõa trên gối, cô ta chậm rãi tiếp tục:

- Còn tại sao em lại chọn anh à? Anh khôn ngoan và may mắn. Có lẽ anh còn leo lên cao nữa. Cha của em đã từ lâu nằm sâu trong đất, không hiểu người ta lấp ông ta ở đâu, như một con chó... Còn anh thì thoát, lại trở thành quan lớn nữa. Thế mà trước đây anh cùng cha em bắn bọn bôn-sê-vích...

Pô-li-pốp giật nảy cả người, lần thứ ba ông lại ngồi bật dậy.

- Ma-ày?! - Pô-li-pốp trợn mắt, lấy hết sức quát to, mà không nghe thấy rằng mình đã mất giọng, rằng từ trong cổ họng chỉ vang lên một tiếng rít thì thầm rất khẽ. –Bắn... ai?! Bôn-sê-vích nào? Mày bịa ra cái gì thế?!

Pô-li-na từ từ rút cánh tay trần ở dưới chăn ra, bấm những móng tay nhọn qua lần áo sơ-mi vào vai ông đau điếng, ấn ông nằm xuống gối cạnh mình.

- Anh nằm xuống đi... Không phải tự em chọn anh đâu. Em không có đủ thông mình làm chuyện này. Đây là do người tình nhân cũ của mẹ em khuyên em.

- Tình nhân... tình nhân nào nữa?!

- Ông La-khơ-nốp-xki Ác-nôn-đơ Mi-khai-lô-vích, dự thẩm viên của sở hiến binh Tôm-xcơ trước đây. Anh không quên chứ? Ông này lại còn khôn hơn anh, giờ đã thành ông lớn thật sự rồi. Bây giờ ông ta đang sống ở Mát-xcơ-va. Anh còn hỏi gì nữa không.

Pô-li-pốp không còn hỏi thêm gì nữa. Ông cảm thấy tức thở, há chiếc miệng khô khốc thở gấp, nặng nhọc như ngựa chạy quá sức, chiếc trán ông ướt đẫm những hạt mồ hôi to tướng.

* * *

Bước vào buồng của mình thường ngày vẫn dùng làm phòng làm việc ở nhà, Pô-li-pốp ném cặp xuống bàn, không cởi áo ngoài, nằm vật xuống đi-văng, khiến nó kêu rít lên một cách thảm thiết, và tiếng kêu này có lẽ như gáo dầu cuối cùng đổ vào đám lửa đã bắt đầu cháy bùng lên. Thêm vào đó, vợ lại đi theo vào phòng.

- Bước ngay! - Pô-li-pốp gào lên, túm lấy đôi vai mềm của vợ đẩy mạnh ra khỏi phòng. Rồi ông ta chạy đến bên cửa sổ về mùa đông đã bịt kín lại, giật tung một cánh, rồi cánh thứ hai...

Làn không khí lạnh làm cho Pô-li-pốp hơi dịu lại. Đứng chừng mươi phút, ông đóng cửa và lại nằm xuống.

Ông nằm bất động khoảng nửa giờ, hoặc một giờ, mắt nhìn lên trần nhà. Đôi lúc ông lại nhắm mắt như ngủ thiếp đi. Trên chiếc trán rộng, những nếp nhăn hết nhíu tụ vào lại giãn ra...

- Pi-ốt, anh ăn cơm không? - có tiếng hỏi từ ngoài cửa.

Ông không trả lời.

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na khẽ mở cửa nhẹ nhàng bước vào. Vén vạt áo lụa dài mặc trong nhà, chị ta ngồi xuống đi-văng, đặt bàn tay lên trán nóng bừng của chồng.

TGVC (7)

- Có chuyện gì thế? Lại cãi nhau với Cru-gi-lin à?

- Không. Vừa nói chuyện với Xu-bô-tin. Nói hết nước hết cái, thẳng thắn...

- Sao lại thế?! - Cặp lông mày thưa của Pô-li-na Xéc-gây-ép-na nhảy lên lo lắng.

- Câu chuyện này trước sau gì rồi cũng phải nói. Cô không hiểu điều đó hay sao?

- Em hiểu. Nhưng dù sao... Thành thật với cấp trên, dù họ có tốt với mình đi chăng nữa, anh hiểu không, cũng là điều... Hơn nữa, lại là với Xu-bô-tin...

- Nhưng ông ta cũng đã hiểu hết, - Pô-li-pốp nhăn nhó.

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na đưa mắt nhìn lướt qua bộ mặt đầy đặn, đầy những nếp nhăn, qua tấm thân ngắn ngủn của chồng, và trên góc cặp môi dày màu hồng thẫm của chị thoáng hiện ra một vẻ kinh tởm. Pô-li-na vội vàng đưa tay bịt miệng lại.

- Nói chung, Pô-li-na thân yêu của anh ạ, việc của anh đáng lẽ phải xấu hơn, nhưng không xấu đi đâu được nữa. Cru-gi-lin thì bây giờ khó lòng dùng tay không mà bắt được hắn. Còn anh, hình như đã bị Xu-bô-tin khoanh vòng, như chó sói bị vây trong rừng lại rồi.

- Em đã nói rồi mà, anh Pi-ốt ạ, với Cru-gi-lin thì phải bằng cách khác, kín đáo hơn, qua bàn tay của I-a-cốp A-lây-nhi-cốp mới được, - Pô-li-na Xéc-gây-ép-na ngắm nghía những móng tay tỉa tỉ mỉ của mình. - Anh cũng đã loại được ba tay có sừng có mỏ định ngăn cản anh - Ba-u-lin, Cô-skin, Da-xu-khin. Hơn nữa, giữa Cru-gi-lin và A-lây-nhi-cốp hình như trước đây cũng đã có chuyện hiềm khích với nhau...

- Không phải dạy tôi! - Pô-li-pốp bỏ chân xuống ghế, quát. - Ba-u-lin, Cô-skin, Da-xu-khin... Chúng là kẻ thù của nhân dân!

Pô-li-na Xếc-gây-ép-na cười khẩy, định nói một cái gì đó.

- Im ngay! - Pô-li-pốp chặn trước.

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na liền im lặng gật đầu tỏ vẻ vâng lời. Pô-li-pốp thở ra nhẹ nhõm như thỏa mãn với điều đó.

- Em ngốc lắm, Pô-li-na ạ, - Pô-li-pốp nói khàn khàn, mắt không ngước lên nhìn vợ - Ba-u-lin, Cô-skin, Da-xu- khin... Có thể họ không đáng tội đến thế. Nhưng tình hình lúc bấy giờ...

- Còn bây giờ, La-khơ-nốp-xki viết trong thư bảo rằng, tình hình cũng chẳng khác lắm...

- La-khơ-nốp-xki của cô thì biết nhiều lắm đấy! Khác thì không khác, nhưng cũng không như cũ nữa... Và cái quan trọng là A-lây-nhi-cốp không còn như trước. Không nói được một lời tử tế, động một tí là nổi khùng lên như...

- Người ta đồn ông ta đi lăng nhăng với con đánh máy ở huyện ủy à?

- Ông ta đi lăng nhăng với ai thì việc gì đến cô?

- Với em thì chẳng có việc gì lắm. Em chỉ tò mò tí chút thôi, đàn bà mà. Nhưng còn anh...

- Tôi thì sao? Đi nghe những lời bịa đặt nhảm nhí, chõ mũi vào những nơi không cần thiết à?

- Không cần phải chõ, nhưng biết vẫn không thừa. Những việc này có thể đưa đi rất xa. Nếu như ông ta muốn cưới cô ta, đó là một chuyện. Nhưng theo em thì ông ta chưa li dị với vợ cũ. Hơn nữa, con đánh máy này, nghe người ta nói, đang có, hoặc đã có trước đây, một anh chàng nào đó. Và lúc đó ở đấy sẽ bốc lên một đám khói, mà nếu không có sự giúp đỡ của người khác, thì A-lây-nhi-cốp tự mình sẽ không ra khỏi lửa được. Còn ai giúp, ông ta sẽ mang ơn, gặp dịp sẽ trả. Con người này nhiều sức lực và khả năng lắm.

- Thế đấy. Và dịp này là Cru-gi-lin? - Pô-li-pốp nheo cặp mắt xoi mói nhìn vợ.

- Em chỉ nói chung như vậy thôi, - Pô-li-na Xéc-gây-ép-na nói.

Pô-li-pốp giơ hai bàn tay ra phía vợ như muốn túm lấy cổ. Nhưng ông không túm lấy cổ, mà lấy vai và lắc mạnh, đến nỗi mớ tóc dày màu rơm vàng búi chặt trên đầu sổ xuống vai.

- Nghe đây, Pô-li-na, - ông nói bằng một giọng như vỡ ra, tay vẫn không buông vai vợ. - Cô cùng La-khơ-nốp-xki của cô cho tôi là người như thế nào? Vẫn còn cho tôi là một thằng đểu, một con người xấu xa hả?!

- Pi-ốt! Pi-ốt! - Pô-li-na hoảng sợ thật sự, giằng ra, nhẩy lùi lại. - Em có nói gì chạm đến anh đâu nào?

- Cô nói gì à? - Pô-li-pốp hỏi và cũng đứng dậy. Pô-li-na lùi lại, đứng tựa lưng vào tường. Ông lại túm lấy vai vợ và lại lắc rất mạnh. Gáy Pô-li-na đập vào tường. - Cô dạy tôi cái gì thế? Hả? Bao giờ cô với La-khơ-nốp-xki, cái phần tử tờ-rốt-kít còn chưa bị cắt cổ nốt này, thôi dạy tôi, hả?

- Anh Pi-ốt! - Mi mắt Pô-li-na chớp chớp nhanh, và đôi mắt chị ta bỗng đầy nước. chộp lấy tay chồng, Pô-li-na Xéc-gây-ép-na đặt chúng lên bộ mặt nóng bừng của mình, lau sạch nước mắt, rồi vội vã hôn lấy hôn để chúng.

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na khóc thật sự, nước mắt chảy từng dòng, vẻ mặt đau khổ. Trong bất kỳ lúc nào, chị ta cũng có thể cho ra bao nhiêu nước mắt tùy ý.

- Chúng ta đã sống với nhau hơn chục năm nay, Pô-li-na ạ, mà cô cứ xem tôi như... cứ xúi tôi làm những chuyện như tôi là... như tôi là kẻ thù của Chính quyền Xô-viết. Mà tôi thì không bao giờ là kẻ thù của nhân dân cả. Đúng, thời trẻ tôi đã hèn nhát... Đã lo sợ cho đời mình. Nhưng thoát khỏi tay La-khơ-nốp-xki của cô, tôi không phản bội các đồng chí trong Đảng. Tôi không khai báo một ai cả...

Pô-li-pốp nói cái điều giả dối này một cách chậm chạp, nặng nề, luôn luôn ngừng lại, tìm từ một cách khó khăn, trong bụng vẫn hiểu rằng vợ biết rất rõ là mình nói dối.

Còn Pô-li-na Xéc-gây-ép-na bây giờ đứng cạnh chiếc cửa sổ tối, chậm chạp tết lại tóe, trầm ngâm nhìn ra ngoài bóng tối. Chị nghe chồng nói, thỉnh thoảng lại khẽ gật đầu làm ra vẻ tin tất cả, nhưng trong bụng cũng hiểu rằng chồng biết rõ mình chỉ làm ra vẻ như vậy, còn thực ra là không tin một lời nào hết.

- Còn tôi, Pô-li-na ạ, là một người có lẽ phức tạp, không đơn giản, - Pô-li-pốp vẫn tiếp tục một cách hơi ngượng nghịu. Ông ta cảm thấy một nhu cầu lạ lùng là nói, nói, nói điều gì cũng được, để khỏi phải dừng lại. - Vâng, tất nhiên tôi có những lỗi lầm thời trẻ. Còn bây giờ... Đúng, tôi hám danh. Cô biết đấy, tôi rất không bằng lòng khi người ta chuyển tôi từ tỉnh về huyện này. Còn đáng bực hơn nữa là khi tôi bị đưa ra khỏi ghế bí thư huyện ủy. Vì sao? Em biết đấy, anh đã làm việc như thế nào, không tiếc sức lực của mình. Và huyện trở thành tiên tiến về mọi mặt. Thế mà bỗng nhiên - xin mời xuống đứng vai phụ! Thế mà công bằng à? Thế mà không bực mình à?

- Anh thân yêu! - Pô-li-na Xéc-gây-ép-na vội vã bước đến bên chồng.

- Tôi là một con người bình thường và, tất nhiên, tôi không thể như một số người khác, che giấu những sự bất bình của mình mà ai cũng thấy cả, - Pô-li-pốp tiếp tục. -Và tôi cũng không thể giấu được sự ác cảm của mình đối với Cru-gi-lin, mặc dù vẫn biết rằng ông ta thực ra chẳng có lỗi gì trong những điều... bất hạnh của tôi... Em có hiểu anh không, Pô-li-na?

- Em hiểu, em hiểu, - Pô-li-na vội gật đầu.

- Thêm vào đó, khi anh thấy Cru-gi-lin mắc sai lầm, anh không thể bỏ qua, - Pô-li-pốp lại nói bằng cái giọng thường ngày của mình, như không có việc gì vừa xảy ra. - Chẳng hạn, với cái lão Na-da-rốp này. Anh không thể im lặng, che giấu sai lầm của họ. Dù anh có những khuyết điểm nào đi chăng nữa, anh vẫn giữ vững tính nguyên tắc của Đảng. Tinh thần đó anh được giáo dục ngay từ thời còn trẻ, khi mới bắt đầu hoạt động cách mạng. Được chính ông Xu-bô-tin này giáo dục. Thế mà bây giờ ông ta gọi anh là quỷ quyệt, đố kỵ. Thời này để đổi trắng thay đen, chụp mũ, vu khống người khác quả thật dễ dàng, không cần gì nhiều nhặn lắm! Nhưng, Pô-li-na, em hãy nhớ rằng, từ nay về sau, anh vẫn không bao giờ từ bỏ tính nguyên tắc của Đảng, không bao giờ làm những điều hèn mọn như em vừa nói đến để trả thù Cru-gi-lin. Cô... hoặc La-khơ-nốp-xki! Cô nghe không?! - Pô-li-pốp lại lắc vai vợ. Hiểu không?

- Tất nhiên, em hiểu, - Pô-li-na nói, ngoan ngoãn nhìn vào mắt chồng.

Pô-li-na nói «tất nhiên», mặc dù chị ta có thể nói hoàn toàn khác. Chị ta có thể nói, thí dụ, rằng ông ta, Pô-li-pốp, cũng là một kẻ chuyên đổi trắng thay đen, rằng tự ông ta có thể không ngần ngại chụp mũ, vu khống bất cứ một người nào nếu việc đó là có lợi, hoặc hơn nữa, là cần thiết; rằng từ lâu ông ta đã không từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện nào để trả thù, khi vào những năm ba bảy, ba tám, theo lời khuyên của La-khơ-nốp-xki, dùng bàn tay của I-a-cốp A-lây-nhi-cốp trừ bỏ Ba-u-lin, Cô-skin, Da-xu-khin, và có lẽ cũng sẽ không ngần ngại làm như vậy với Cru-gi-lin nếu như có được dù một tí khả năng để làm.

Và chị ta còn có thể nói nhiều điều khác, và Pô-li-pốp hiểu rằng vợ có thể nói những điều đó, nhưng không nói, vì rằng như vậy sẽ tiện hơn cả cho hai người.

Tất cả trong đời họ - cả quan hệ, cả tình cảm, cả lời nói - tất cả đều là giả dối, và cả hai đều hiểu như vậy. Hiện nay Pô-li-pốp vẫn không hề tin vợ, cũng như vào một buổi chiều bây giờ đã trở nên xa xôi, khi Pô-li-na ôm lấy cổ ông trong buồng ngủ với những lời rời rạc về tình yêu. Và Pô-li-na cũng biết rằng ông ta không yêu mình, không bao giờ sẽ lấy mình nếu không tự mình cưới chồng bằng cách như vậy. Nhưng cả hai đều làm ra vẻ tin vào sự chân thành của tình cảm, lời nói và hành động của nhau, vì có lẽ chính sự giả dối này là cái hình thức quan hệ, là cái vỏ bề ngoài mà chỉ trong đó họ mới có khả năng tồn tại được. Dưới cái vỏ này, họ học cách thích nghi để thở, đi lại, nói năng, cười đùa, - nói chung, để sống. Chỉ cần cái vỏ vỡ ra, họ, cả hai sẽ tắt thở, chết cứng bởi làn không khí mát mẻ ùa vào trùm lên người họ.

- Anh Pi-ốt, đi ăn tối đi, - Pô-li-na nói.

- Nào đi. Nhưng Xu-bô-tin, Xu-bô-tin thì sao?! Lếu láo! Lão ta nói «ở anh không còn một tí tính đảng nào nữa, mà cũng có thể anh trước đây chưa bao giờ có nó...»

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na đang đi vào bếp bỗng đột ngột dừng lại, trong đôi mắt mở to thoáng một vẻ lo lắng thật sự.

- Em hiểu không, ông ta quả là một kẻ đểu giả, - giọng nói của Pô-li-pốp rung lên giận dữ thật sự. - Ai cho ông ta đưa ra những kết luận như thế?! Và nói chung, em có biết không, bây giờ ông ta sẽ có những ý kiến nhận xét gì về anh ở tỉnh ủy?!

Họ im lặng ăn tối, không nhìn nhau, cảm thấy một sự kinh tởm, xa lạ đối với nhau. Điều này thường xảy ra mỗi khi họ phải nói về những chuyện như hôm nay. Vào giường, Pô-li-pốp nằm bất động rất lâu, úp mặt vào một bên vai ấm của vợ. Rồi ông bỗng hỏi đột ngột.

- Cái lão La-khơ-nốp-xki này bao nhiêu tuổi rồi?

- Gần bảy mươi.

- Người ta đã tóm hết bọn tờ-rốt-kít, còn lão này lại chui vào được một khe nào đó ẩn... Bao giờ thì lão ta ngỏm đi cho rồi!

Họ lại nằm im một lúc trong bóng tối.

- Hừ, tay Cru-gi-lin này thì bây giờ khó lòng mà tóm được hắn, - Pô-li-pốp lại đột nhiên nói, để tay xuống gối dưới đầu.

- Chúng ta làm sao bây giờ, Pi-ốt? Anh quả thật đã bị Xu-bô-tin khoanh vòng vây kín lại rồi.

- Không sao, không sao, anh sẽ vùng ra được...

- Nhưng bằng cách nào?

- Anh không biết. Ngủ đi... Bây giờ anh chưa biết gì cả. Anh đang nằm nghĩ đây...

* * *

Hôm sau, như thường lệ, Pô-li-pốp dậy sớm, ngoài đường trời hãy còn tối. Tuyết ướt bám đầy cửa sổ - đêm qua có cơn bão tuyết nhỏ.

- Chúng ta làm sao bây giờ, Pi-ốt? - lúc rót chè ra cốc, Pô-li-na lại hỏi.

- Hừ, thực tình mà nói, tình hình quả không lấy gì làm phấn khởi, vui vẻ, - Pô-li-pốp bỏ mứt vào cốc chè, nói. Ông thích uống ngọt, bỏ bốn thìa mứt vào cốc rồi, còn thêm hai thỏi đường nữa. - Anh định xin chuyển sang tỉnh khác, nhưng... Không biết nữa. Họ cho một bản nhận xét như thế này thì còn phải hắt hơi lâu. Khó thoát khỏi cái tay Xu-bô-tin này lắm. Cần phải có một cách nào khác, - Pô-li-pốp hớp hai ngụm nước, ngập ngừng một lát. Anh định xin ra mặt trận.

Chiếc thìa trong tay Pô-li-na Xéc-gây-ép-na chạm vào cốc kêu đánh keng.

- Anh không thấy có cách nào khác tốt hơn, Pô-li-na ạ, - Pô-li-pốp nói nhanh. -Bằng cách như vậy anh sẽ vứt hết những cái mũ người ta chụp cho anh. Sau chiến tranh về, anh sẽ lại như... như một tờ giấy trắng tinh...

- Quân Đức đã ở sát Mát-xcơ-va. Chiến tranh còn chưa biết sẽ kết thúc ra sao...

Pô-li-pốp suýt nữa đánh rơi chiếc cốc. Ông ta kịp dùng tay khác đỡ lấy cốc, nước chè nóng đổ ra cả đầu gối. Ông ta nhảy chồm dậy, xô chiếc ghế đánh sầm, mặt đỏ bừng, quát:

- Mày dám... Nghe không, sao mày dám?!

Bộ ngực rộng của ông ta nặng nề thở dốc, đôi bàn tay chống xuống bàn nắm chặt đến trắng nhợt, trong cặp mắt có một cái gì đó Pô-li-na Xéc-gây-ép-na chưa bao giờ thấy vụt lóe lên. Chị ta biết rõ Pô-li-pốp, biết khi nào ông ta nói dối với chị và dối cả chính mình, nhưng bây giờ nhìn đôi má co giật, nhìn ánh mắt như nảy lửa, nhìn túm tóc đẫm mồ hôi vắt qua chiếc trán rộng, Pô-li-na Xéc-gây-ép-na không thể hiểu được - đấy là cơn giận thật sự hay cũng như mọi lần, chỉ là giả tạo. Nếu là giả tạo thì con người này đã đạt được nghệ thuật đóng kịch tài tình đến mức nào, và trong đáy lòng của ông ta có lấy một tí nào tính người nữa không? Còn nếu như thật sự, thì nghĩa là suốt đời chị ta đã lầm, cho rằng mình nhìn thấu hiểu hết con người này, nghĩa là quả thật ông ta phức tạp hơn là chị tưởng.

- Pi-ốt?

- Sao mày có thể... Sao mày có thể nói như vậy?! - Ông ném từng lời nặng nề vào bộ mặt đỏ bừng, vừa mới ngủ dậy hãy còn sưng mọng của vợ. - Chỉ nghĩ đến... chỉ nghĩ đến...

Pô-li-pốp bỗng im bặt, như ngạc nhiên trước những lời nói, hành động của mình. Ông giơ hai nắm tay đến sát mắt, mở chúng ra, miệng méo xệch, và nhìn mãi vào lòng bàn tay, không hiểu để làm gì. Rồi đôi tay ông buông thõng xuống dọc thân, cả người nhũn xuống như có một chiếc lò-xo bên trong vừa căng người ông ra giờ lại bị nén xuống. Ông ngồi xuống đi-văng, rút khăn tay ra lau trán và cổ.

- Anh làm sao thế, Pi-ốt? - chị vợ đặt tay lên vai ông.

- Không biết. Đi đi!

Pô-li-pốp ngồi như thế rất lâu, lưng ngả tựa vào thành ghế, đôi mắt nhắm chặt.

- Nghe đây, Pô-li-na, tôi nói với cô điều này... - ông bắt đầu nói bằng một giọng, dường như từng từ một làm ông phải đau đớn đến không chịu nổi. -Tôi quả thật là một con người đê tiện, như Xu-bô-tin nói. Tôi hám danh, nhỏ nhen, đố kỵ, xảo quyệt. Tôi bây giờ nói với cô còn hơn thế nữa... Tôi đã cho ba người kia - Ba-u-lin, Da-xu-khin, Cô-skin - vào tù, đã trừ khử họ không chỉ vì họ ngăn cản tôi. Tôi đã sợ họ! Một lần họ hỏi tôi... Một buổi chiều cả bọn tụ tập ở phòng làm việc của tôi và họ hỏi: «Này Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích, anh nói xem, bằng cách nào năm mười tám anh thoát được khỏi bọn phản gián Tiệp Khắc bạch vệ và tay lão Xvi-ri-đốp? Làm sao mà anh trốn được? Ai giúp đỡ anh?» Tôi không biết họ tò mò hỏi hay có nghi ngờ một cái gì? Và tôi sợ. Thế là quyết định... quyết định làm cho họ không hỏi tôi thêm về điều này, không còn khả năng để hỏi nữa... Đúng, tôi là một thằng đểu! Tôi sống một cuộc đời giả dối, không tự nhiên. Và cô biết điều này... Có thể, suốt đời tôi vẫn là một thằng như thế. Cô hãy biết lấy điều đó... Hãy biết! Hãy biết! - ông hét lên như sủa, hai lần nhảy chồm lên trên đi-văng như muốn đứng dậy, nhưng bị một cái gì đó giữ chặt lại. - Và đây, tôi, một người... xấu xí cả bên trong lẫn bên ngoài... Cô tưởng rằng tôi không biết điều này à? Nhưng tôi là người Nga và tôi không thể chịu nổi thậm chí chỉ là một ý nghĩ rằng đất Nga lại để cho bọn ngoại tộc giày xéo... Và, hơn nữa, tôi tin chắc rằng quân Đức, nước Đức phát-xít không thể nào thắng nổi nước Nga. Và không ai có thể thắng nổi. Hãy khắc điều này lên mặt mà nhớ!..

Pô-li-na Xéc-gây-ép-na bước đến cạnh bàn, rót ra một cốc chè, nhưng không uống, giơ tạp-dề lên lau mắt, thút thít khóc.

- Thôi ngay đi! - Pô-li-pốp nói, giọng gay gắt.

- Vâng, vâng... - Pô-li-na Xéc-gây-ép-na vội vã gật đầu. Cuối cùng, chị ta cảm thấy rằng quả thật chồng hôm nay là một người khác hẳn mọi hôm, rằng hôm nay ông ta đã thắng thế, rằng bây giờ phải nói nghiêm chỉnh và thẳng thắn với chồng. - Thôi được, Pi-ốt ạ... Nhưng em ở lại một mình sẽ ra sao? Không có anh, không có... Chúng ta không có món tiền tiết kiệm nào lớn cả...

- Không sao, sẽ sống được. Cô sẽ đi làm việc.

- Ở nhà máy ấy à? Đào đất, chuyển gạch? Em còn biết làm gì nữa?

- Có thể làm ở thư viện. Tôi sẽ lo liệu cho cô, nếu như tôi xin được ra trận... Tôi nghĩ là xin được, cái lão Xu-bô-tin này sẽ giúp. Đây là lối thoát duy nhất cho tất cả chúng ta. Phương pháp duy nhất để giải thoát lẫn nhau...

Pô-li-pốp đứng dậy, đi vào phòng lấy cặp, mặc quần áo. Pô-li-na Xéc-gây-ép-na tiễn ra đến cửa. Vừa sửa chiếc khăn quàng trên cổ chồng, chị ta khẽ hỏi:

- Chắng lẽ anh quyết định ra mặt trận thật à?

- Thật... Cần phải như vậy.

Pô-li-pốp nắm lấy tay cửa, nhưng trước khi mở, lạnh lùng, không nhìn vợ, nói:

- Pô-li-na, cô biết không, hầu như suốt đêm qua tôi nghĩ về cha cô. Ông ta nói đúng, nói đúng...

- Em không hiểu... Cha em đúng cái gì?

Pô-li-pốp rùng mình, sực nhớ ra.

- Phải, phải, cô không hiểu. Mà cũng không cần...

Ông ta đi khỏi, còn Pô-li-na Xéc-gây-ép-na ngơ ngác đứng nhìn căn phòng, bàn, ghế, đi-văng. Chị ta có cảm giác như người vừa ngồi trên đi-văng sau bàn hoàn toàn không phải chồng chị, Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích Pô-li-pốp, và cũng không phải ông ta vừa cầm lấy tay cửa, không phải ông ta vừa đi ra khỏi nhà, mà là một con người hoàn toàn xa lạ, chị chưa biết bao giờ.

* * *

Ở San-ta-ra trời còn tối. Chỉ có đằng đông, phía trên dãy Dve-nhi-gô-ra, bầu trời hơi ửng lên, và giữa trung tâm cái mảng sáng này, những ngôi sao li ti như hạt bụi đang nhợt nhạt tắt dần. Bước xuống bậc thềm, đưa mắt nhìn lên bầu trời tối đen, Pô-li-pốp thở dài nhẹ nhõm, dường như ông sợ trong ánh sáng buổi ban mai ông không thể tìm được đường đến trụ sở ủy ban huyện.

Nhưng hình như ông vẫn lạc đường trong bóng tối, vì rằng xuống khỏi thềm nhà, ông không đi vòng như mọi lần ra phía sau góc nhà mình đến cánh cửa hàng rào dẫn đến trụ sở ủy ban huyện, mà lại theo ngõ nhỏ phủ đầy tuyết đi ra đường cái, chân ngập trong tuyết, đầu rụt vào cổ áo.

Mấy phút sau ông dừng lại trước ngôi nhà nhỏ của giám đốc nhà máy và gia đình ông ta. Mới cách đây không lâu, chính Pô-li-pốp đã đưa họ đến ở đây, thậm chí ông còn giúp mang gói chăn màn buộc thắt ngang bằng một sợi dây da dùng để gói hành lý và hai chiếc va-li - toàn bộ tài sản mà Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na và con trai mang theo đến.

Ngày hôm đó, An-tôn Xa-vê-li-ép không có mặt ở San-ta-ra, ông đang bận việc của nhà máy ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ.

- Thu xếp đi, - đặt chiếc va-li nặng xuống sàn, Pô- li-pốp nói. - Tôi đã cố làm những gì có thể. An-tôn chắc sẽ vui lòng, vì chắc anh ấy cũng đã chán phải ở trong lều bạt. Mấy chiếc giường tôi lấy ở khách sạn huyện, sau này, khi kiếm được của mình, sẽ phải trả lại.

- Cảm ơn anh, - không nhìn Pô-li-pốp, Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na nói. - Anh lấy giường đến làm gì cho mất công. Chắc đằng ấy cũng cần. Anh đưa chúng đi đi, chúng tôi sẽ có cách...

- Sao lại thế, mẹ! - I-u-ri kêu to. - Khách sạn chịu khó một thời gian vậy. Cảm ơn chú Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích, mẹ con cháu rất cảm động trước sự chăm sóc của Chính quyền Xô-viết, - anh quay lại phía Pô-li-pốp. - Nhà có công trình phụ không? Cháu đi xem tí đây, đang định nuôi một con bò, một con lợn, chục con cừu, một chuồng gà và một cặp ngựa.

Anh chạy ra khỏi nhà.

- Ê-li-da-vê-ta... - Pô-li-pốp bước đến bên cạnh Ê-li-da-vê-ta Nhi-can-đrốp-na. - Thật là không ngờ, nhưng chúng ta lại gặp nhau...

- Thật không ngờ, - bà lạnh lùng nhắc lại, khẽ gật đầu - Tôi rất cám ơn anh... vì đã làm phiền. Xin lỗi. Và cám ơn.

Pô-li-pốp hiểu rằng sự có mặt của mình là nặng nề đối với Ê-li-da-vê-ta, ông bực bội nói:

- Thú thật, tôi không ngờ một cuộc gặp gỡ như thế này...

- Tôi nói chung không đợi nó.

- Ê-li-da-vê-ta! Tuổi thiếu niên và thanh niên chúng ta sống bên cạnh nhau... Tôi nghĩ chúng ta có nhiều điều để nhắc lại.

- Xin lỗi, tôi đi đường quá mệt...

Chỉ thế thôi, Ê-li-da-vê-ta không nói thêm gì với ông. Và trong thời gian qua họ cũng chỉ tình cờ gặp nhau, hai ba lần ngoài đường phố. Ê-li-da-vê-ta vội vã gật đầu chào trước, rồi cúi đầu rảo bước đi ngang.

Ngôi nhà có hai mái dốc bằng sắt tây không có hàng rào trước mặt, bậc thềm thấp nằm sát ngay đường. Hai bên cửa lớn là những cửa sổ được đóng bằng các cánh cửa chớp, những dải ánh điện lọt ra ngoài theo các khe hở của cánh cửa đó.

Pô-li-pốp bước sang phía bên kia đường, ông thấy một chiếc ghế dài nằm dưới những cành cây phủ đầy tuyết trắng, ngồi xuống và ngước nhìn lên những cửa sổ đóng kín của gia đình nhà Xa-vê-li-ép. Ông nhìn chúng để làm gì? Cái gì đã đưa ông tới đây? Đúng, đã có một thời trước đây ông yêu Ê-li-da-vê-ta, một mối tình có lẽ chân thành, sâu nặng, nhưng rồi... Nhưng rồi mối tình đó đã khô cạn, như bãi lầy trong rừng sâu, dần dần cùng với năm tháng, bị loài bèo tấm màu xanh thẫm phủ kín. Thế đấy, thời gian vẫn không ngừng làm cái việc của mình.

Những hồi tưởng, kỷ niệm về Ê-li-da-vê-ta bắt đầu hành hạ ông từ sau ngày cưới Pô-li-na. Thỉnh thoảng, nghĩ về người bố vợ, ông lại nghĩ đến Ê-li-da-vê-ta, chị hiện ra trước mắt ông, khắp người bị hành hạ, đánh đập thâm tím, tóc sổ tung, rối bù, những vạt áo rách nát che bộ ngực cũng tím bầm - đúng hệt như lần ông trông thấy chị ở sở phản gián bạch vệ Tiệp Khắc, nơi cha của Pô-li-na nắm quyền sinh quyền sát. Ê-li-da-vê-ta bò trên sàn nhà, sờ từng tấm gỗ lát sàn, tay bắt chuồn chuồn trong không khí, thở dốc, thều thào: «I-u-ri... I-u-ri, con tôi?! Các người đem con trai tôi đi đâu rồi?!» Tiếng thều thào đó như xoáy vào óc ông, quay cuồng trong đầu. Ông vùi đầu xuống dưới gối, cố gắng chạy trốn giọng nói đó. Thỉnh thoảng vợ ông tỉnh giấc, trong bóng tối sờ tay lên chiếc trán bốc lửa của chồng.

- Anh lại không ngủ à? Gì mà vật vã như lợn đằm vũng nước thế?

- Anh bây giờ, bây giờ... Ngày hôm nay căng thẳng, nặng nề quá...

- Có cần thuốc an thần không?.

- Không cần đâu. Anh ngủ ngay thôi.

Nhưng dần dần những hình ảnh đó hiện về mỗi ngày một thưa hơn, và cuối cùng chấm dứt hẳn...

Và thế rồi đầu tiên An-tôn Xa-vê-li-ép xuất hiện ở San-ta-ra, và sau đó là Ê-li-da-vê-ta. Khi nghe tin gia đình Xa-vê-li-ép sẽ về San-ta-ra, ông nghe một cảm giác khó chịu lạnh buốt trong ngực. Nhưng cái cảm giác đó tan biến đi ngay. Không ai, hoàn toàn không một ai, - ngoài vợ của mình và tên cựu dự thẩm viên hiến binh La-khơ-nốp-xki, sau này là một tên tờ-rốt-kít cuồng nhiệt, không biết bằng cách nào thoát được tòa án thanh trừng, - có thể biết về quá khứ của Pô-li-pốp. Nhưng ông không lo vợ, lại càng không lo La-khơ-nốp-xki - chính lão này cũng đang sợ tất cả mọi thứ trên đời. Vào thời gian diễn ra những vụ án đáng ghi nhớ xử bè lũ tờ-rốt-kít, La-khơ-nốp-xki biến mất khỏi Mát-xcơ-va, nằm im hơi kín tiếng ở một thành phố nhỏ nào đó ở miển Nam. Đúng ra thỉnh thoảng, hắn cũng có viết thư - không phải cho ông, Pô-li-pốp, mà cho vợ ông - nhưng không đề địa chỉ và họ tên người gửi. Đọc xong, vợ ông liền hủy thư ngay. «Này, có thể ông ta không phải nhân tình của mẹ cô, mà là của cô, hả? - có lần Pô-li-pốp nửa đùa, nửa thật hỏi. - Anh thấy hai người năng viết thư cho nhau lắm...» - «Anh thật không biết xấu hổ! - Pô-li-na Xéc-gây-ép-na kêu lên. - Ông ta với mẹ đã... khi gia đình em còn sống ở Tôm-xcơ. Lúc đó, em còn bé». Pô-li-pốp khịt mũi, không nói gì thêm. Ông nghĩ thầm rằng, vào năm mười tám, khi ông đến nhà Xvi-ri-đốp, Pô-li-na cũng đã mười ba tuổi. Và không biết sau đó La-khơ-nốp-xki còn sống ở Xi-bi-ri bao lâu và sống ở đâu trước khi đến Mát-xcơ-va. Nhưng, nói chung, mẹ của Pô-li-na là tình nhân của La-khơ-nốp-xki hay chính Pô-li-na khi đã lớn lên – đối với Pô-li-pốp cũng thế mà thôi. Ông không yêu vợ, và cũng chưa bao giờ yêu. Nhưng cũng không phàn nàn vì đã cưới vợ. Dù sao thì cũng cần phải sống với một người nào đó; mặt mũi cô ta không đẹp, nhưng điều này lại hoàn toàn được bù lại bằng sự im lặng, bằng những tiện lợi mà Pô-li-na, như một người đàn bà, đã mang lại cho cuộc đời ông.

Nếu như Pô-li-pốp gặp Xa-vê-li-ép ở San-ta-ra với một vẻ còn ít nhiều bình tĩnh, thì ngày đến của Ê-li-da-vê-ta ông chờ đợi với một sự nôn nao hồi hộp. Ông có cảm giác rằng chỉ sự có mặt của Ê-li-da-vê-ta cũng sẽ thường xuyên làm sống lại trong trí nhớ cái cảnh khủng khiếp ở sở phản gián bạch vệ Tiệp Khắc, và đời ông lại sẽ biến thành địa ngục. Nhưng, trái với sự chờ đợi, tất cả lại xảy ra ngược lại. Đến bên cửa toa và bắt gặp cặp mắt mệt mỏi, nằm giữa những nếp nhăn nhỏ, còn chưa sâu lắm, cặp mắt phụ nữ bình thường đang ngạc nhiên, tò mò nhìn ông, và sau đó với một vẻ bối rối, bất lực quay sang nhìn khu ga xa lạ, nhìn mặt đường đổ nhựa rất xấu, ông lại nghĩ, thậm chí với ít nhiều thương hại: «Tại sao mình lại tưởng tượng ra chúng đã mất trí, đầy nước mắt và đau khổ? Đôi mắt vẫn bình thường... Và con trai I-u-ri đã lớn đến thế đấy. Có lẽ cậu ta tập tạ hai pút... Thần kinh, thần kinh, đồng chí Pô-li-pốp ạ, như có lần trước đây cha của Pô-li-na nói!»

Thực ra, ông cũng có hơi lo lắng, khi Ê-li-da-vê-ta lại ngước mắt lên nhìn ông, sự ngạc nhiên trong giây phút đầu tiên đã biến mất nhường chỗ cho sự khó chịu lạnh lùng, đôi mắt giờ bị phủ một làn băng mỏng, khuôn mặt cũng trở nên đờ đẫn. Và sau này, những lúc gặp nhau hiếm hoi, cặp mắt vẫn như vậy, lạnh lùng, không sinh khí. Nhưng ngay khi còn ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ, đặc biệt là vào những năm cuối trước cách mạng, Ê-li-da-vê-ta cũng không tỏ vẻ quan tâm và thân mật với ông nhiều, và thỉnh thoảng trong mắt chị lại hiện ra tấm màn băng giá này.

«Tất cả là thế đấy, - ngồi trên chiếc ghế dài ngập trong tuyết, Pô-li-pốp thở dài. - Nhưng ma quỷ nào hôm nay lại kéo mình tới đây, mình ngồi ở đây - và trông lên những chiếc cửa sổ kia - chắc Ê-li-da-vê-ta đang đi lại sau đó - để làm gì?»

Vừa suy nghĩ như vậy, Pô-li-pốp vừa ngạc nhiên lắng nghe những ý nghĩ của mình, Một cảm giác khó hiểu, rối rắm bao trùm lấy ông. Hình như không phải ông, Pô-li-pốp, mà là một người nào khác, đang ngồi trên chiếc ghế ở đây và nghĩ về vợ của An-tôn Xa-vê-li-ép.

Trời vẫn còn tối dưới những cành cây phủ đầy tuyết che kín trên đầu, mặc dù bình minh đã về trên khắp San-ta-ra. Ngôi nhà đối diện với những cánh cửa sổ đóng chặt và những ngôi nhà khác dọc phố đã bắt đầu lên đèn, hắt những chùm sáng màu vàng ra ngoài đường. Tất cả đối với Pô-li-pốp đều rất xa xôi...

«Ma quỷ nào thế này nhỉ? - ông nghĩ, cau có cười khẩy, rụt chiếc cổ vốn đã quá ngắn vào chiếc áo bành-tô cổ lông dựng đứng. - Và nói chung, cái gì đã xảy ra với mình? Tại sao trong mùa thu này mình đã làm nên bao nhiêu điều ngu ngốc? Tại sao mình lại làm như thế trong chuyện nộp thóc cho nhà nước? Định chơi khăm Cru-gi-lin?... Đến vợ cũng nhận thấy. Và nói chung cô ả, đồ quỷ cái này, cái gì cũng thấy... Còn lão Na-da-rốp này... Rồi lại Xu-bô-tin. Mình đi nói thẳng như vậy với ông ta để làm gì? Và với vợ để làm gì? Nhất là về Ba-u-lin, Da-xu-khin, Cô-skin? Không nói thì cô ta cũng đã đoán được hết, cũng biết rằng mình là kẻ hám danh, đố kỵ - nói chung, đê tiện. Đê tiện?!»

Cái từ này, dù chỉ nghĩ thầm đến, cũng rít lên như ngọn roi, quất rất đau. Nhưng từ bao giờ ông, Pô-li-pốp, trở thành kẻ đê tiện? Bởi vì trước đây, hồi còn trẻ, ông đã là một con người tử tế! Chính Xu-bô-tin - Pô-li-pốp vẫn còn nhớ điều này, vẫn còn nhớ! - đã nói về ông: «Pi-ốt của chúng ta là một chàng trai chân chính. Giá chúng ta có được nhiều người như vậy...» Và trong lòng ông rất tự hào rằng Xu-bô-tin đã nói như vậy, tự hào về mình.

Hồi đó, vào cuối năm 1906. Gần một năm Pô-li-pốp ngồi trong tù, mùa đông cuối năm 1907 mới được thả ra. Mấy tháng sau ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ lại xuất hiện Xu-bô-tin, ông vừa vượt ngục trên đường đi đày trở về. Pô-li-pốp, An-tôn và Ê-li-da-vê-ta, được ra tù gần như cùng một lúc, đón gặp Xu-bô-tin ở chỗ hẹn trước và giúp ông bí mật vào thành phố. Và thêm một tháng sau, Pô-li-pốp bị tên dự thẩm La-khơ-nốp-xki dùng lời trói chặt chân tay, đã hoảng hốt đến chết khiếp khi thấy hắn dọa lấy điếu thuốc lá đang cháy đốt mù mắt.

Và ông trở thành kẻ đê tiện...

...Pô-li-pốp nằm trên đi-văng, ngơ ngác đưa mắt nhìn quanh những bức tường trống của phòng làm việc, cố nhớ lại mình đã đi khỏi cái ngõ vắng vẻ, nơi giám đốc nhà máy An-tôn Xa-vê-li-ép sống, từ bao giờ. Có lẽ chưa lâu lắm, vì trong phòng hãy còn tối. Ông hoàn toàn không nhớ mình đã đi từ nhà Xa-vê-li-ép đến trụ sở ủy ban huyện như thế nào - dường như có người nào đó khiêng ông đến đây trong trạng thái ngủ mê.

Pô-li-pốp đặt hai tay xuống dưới đầu và đột nhiên nghĩ: không, ông trở thành kẻ đê tiện không phải trong phòng của La-khơ-nốp-xki, mà trước đấy mấy ngày... Đúng, trước đấy, trước đấy... Lần đó suốt đêm anh, Pô-li-pốp, nằm trong bụi cây trên nền đất ẩm nghe tiếng cười hạnh phúc của Ê-li-da-vê-ta và An-tôn, nghe tiếng hôn của họ. Và sau đó... Anh biết việc gì đang xảy ra trong đấy, trong túp lều con bằng cây rừng. Anh nằm, trong cơn điên dại, hai bàn tay cào cấu nát cả một vùng đất cỏ. Rồi không đủ sức để nằm lâu hơn nữa, anh đứng dậy, đi đến cạnh lều, định phá tan nó ra từng mảnh. Cái gì đã làm anh dừng lại? Khi đó có một cái gì đã làm anh dừng lại. Hình như có một tiếng rên khe khẽ và ngọt ngào của Ê-li-da-vê-ta. Anh biết rằng đấy không phải là tiếng rên, và, sợ chính bản thân mình, anh ôm mái đầu bốc lửa, bỏ chạy. Anh biết rằng sáng mai ở đấy, dưới vẻ là đám cưới của An-tôn và Ê-li-da-vê-ta, sẽ có cuộc họp của thành ủy bí mật Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga, rằng ngày mai, anh, Pi-ốt Pô-li-pốp, sẽ là một trong những người đến đấy sớm nhất, vì Xu-bô-tin giao cho chính anh việc bảo đảm an toàn cho cuộc họp bí mật này, rằng ngày hôm sau nữa anh và An-tôn sẽ phải đi Tôm-xcơ để nhận con chữ và những thiết bị còn thiếu khác cho xưởng in bí mật. Và khi đó anh trở thành... Nhưng tại sao? Vì cái gì? Ông trả một cái giá khủng khiếp như vậy vì cái gì? Năm tháng trôi qua - và Ê-li-da-vê-ta là gì đối với ông? Đấy, bây giờ Ê-li-da-vê-ta lại ở đây, ở San-ta-ra, ngay bên cạnh và ông suốt cả buổi sáng ngồi dưới cửa sổ - và giá như có một cái gì xao xuyến động cựa trong tâm hồn, một sợi dây nào đó rung lên...

Pô-li-pốp vội vã ngồi dậy. Tiếng kêu cót két của lò-xo đi-văng cứa vào tim nhức buốt. Cắn môi lại bởi cơn đau không hẳn là trong tưởng tượng, cũng không hẳn là thật này, Pô-li-pốp chống khuỷu tay lên đôi đầu gối đầy đặn, gục đầu vào lòng bàn tay, nghe đôi má nóng bừng như bốc lửa. Và ông còn cảm thấy rằng mặt chưa cạo. Sáng nay, ông rửa mặt, và vợ cũng không nhắc như mọi ngày khác. Vâng, bây giờ Ê-li-da-vê-ta đối với ông không là cái gì; nhưng lúc đó, lúc đó? Ông đã yêu Ê-li-da-vê-ta, trời ơi, ông đã yêu biết chừng nào! Và không phải nỗi kinh hoảng trước điếu thuốc lá đáng sợ của La-khơ-nốp-xki đã làm nghiêng cán cân về phía phán bội, mà chính là tình yêu này, Ông đã hy vọng rằng Ê-li-da-vê-ta, mệt mỏi vì chờ đợi An-tôn sẽ... Ngu ngốc, ngu ngốc! Nhưng bây giờ ông mới thấy rõ ràng rằng mình đã làm một điều ngu ngốc không cứu vãn được, còn lúc đó... Ông, không hiểu sao, không nghĩ rằng, không thể đoán được rằng Ê-li-da-vê-ta lại trung thành với tình yêu dành cho An-tôn đến thế, không nghĩ rằng An-tôn lại là một người chuyên nghề vượt ngục vĩ đại đến vậy, về mặt này vượt cả Xu-bô-tin. An-tôn chỉ vừa mới thoát ra tự do, Pô-li-pốp đã lại khai chỗ ở của anh; vài tháng sau, An-tôn lại vượt ngục - Pô-li-pốp lại chỉ điểm. Cứ như thế cho đến tận Cách mạng tháng Hai. Tháng Năm năm 1918, Pô-li-pốp lại khai An-tôn lần cuối cùng, báo cho Xvi-ri-đốp biết rằng vào ngày quân bạch vệ Tiệp Khắc nổi loạn, An-tôn sẽ có mặt ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ, trên đường từ Mát-xcơ-va về Tôm-xcơ. Nhận được điện của chồng, Ê-li-da-vê-ta chuẩn bị cho chuyến đi. Pô-li-pốp thấy rằng, đã từ lâu Ê-li-da-vê-ta không còn đối xử với anh thân mật, chân tình như trước nữa, những lúc gặp nhau, chị trở nên kín đáo, lạnh lùng, trong mắt hiện ra một tấm màn băng giá. Và đôi khi Pô-li-pốp lo lắng nghĩ: «Chẳng lẽ cô ta đoán được về mình, về vai trò của mình trong số phận của An-tôn?». Nhưng rồi lại gạt ngay mối nghi ngờ đó. «Không một ai, ngoài La-khơ-nốp-xki, có thể biết về điều này». Anh chỉ viết cho một mình La-khơ-nốp-xki, bằng một mật mã riêng, theo một địa chỉ quy ước, những tin tức về An-tôn, về tổ chức bí mật ở Nô-vô-nhi-cô-lai-ép-xcơ. Chỉ có ngay trước cuộc nổi loạn của quân bạch vệ Tiệp Khắc, thêm một người nữa biết về hoạt động của anh, là Xvi-ri-đốp. Bây giờ thì Pô-li-pốp không còn loại trừ khả năng rằng những cảm giác mơ hồ của Ê-li-da-vê-ta-nếu như có - có thể, bằng một cách nào đó không biết trước, được khẳng định. Nhưng mặc dù vậy, mấy giờ trước khi chuyến tàu của An-tôn về ga, Pô-li-pốp đến nhà Ê-li-da-vê-ta, và quên hết mọi sự cảnh giác đề phòng, anh nói:

- Ê-li-da-vê-ta, đừng đi Tôm-xcơ! Đừng di...

- Anh nói gì vậy? - Mắt Ê-li-da-vê-ta vụt ánh lên một tia sợ hãi, ngơ ngác. - Nhưng chồng tôi ở đấy!..

- Nhưng dù sao, dù sao... - Pô-li-pốp không còn kìm được mình nữa, - Ở đây còn có anh, còn ở đấy sẽ chẳng có ai bảo vệ em...

- Pi-ốt, anh nói gì vậy?! - Ê-li-da-vê-ta đánh rơi miếng giẻ cầm trong tay vào chiếc va-li đang để mở. - Chẳng lẽ ở Tôm-xcơ không có Chính quyền Xô-viết?

- Anh muốn nói rằng... Ở đây anh là ủy viên tòa án quân sự cách mạng, còn ở đấy... thành phố xa lạ... - Pô-li-pốp lắp bắp, cảm thấy tự mình làm lộ mình.

- Anh nói những lời thật kỳ quặc. Và bao giờ anh cũng xử sự lạ lùng thế nào ấy... Cứ mỗi lần An-tôn bị chúng bắt vào tù, anh lại nói với tôi rằng anh ấy sẽ không trở về nữa, - Ê-li-da-vê-ta trầm ngâm nói. - Anh cố nói cho tôi tin như thể anh biết rõ số phận của anh ấy hơn những người khác... Nhưng anh ấy vẫn trở về.

- Anh ta trốn...

- Đúng, song sắt nhà tù không thể giữ anh ấy được. Nhưng lần nào cũng vậy, chỗ ở của anh ấy bị bọn hiến binh cảnh sát biết được rất nhanh, dường như có ai...

- Đấy là tôi khai ra đấy, - Pô-li-pốp cười gằn, buột miệng nói, và anh kinh hoảng vì những lời của mình.

- Vâng, và tôi cũng vô tình nghĩ tới điều này không phải một lần! - Ê-li-da-vê-ta thốt kêu lên,

- Cám ơn...

- Và sau đó lại tự giày vò mình về những ý nghĩ đó... Và lại lần này nữa! Những lời kỳ quặc của anh...

- Đối với em, anh bao giờ cũng kỳ quặc. Nhưng dù sao, anh vẫn van em: đừng đi Tôm-xcơ! Đừng đi...

- Nhưng tại sao? Anh hãy giải thích xem nào!

- Anh không thể! - Pô-li-pốp thì thào nói, phải cố lắm mới không nói ra tất cả. - Anh không biết... Vì rằng anh yêu em! Anh không muốn mất em...

Nói hết câu, Pô-li-pốp ngẩng đầu lên và im lặng. Đôi mắt Ê-li-da-vê-ta đờ đẫn, không chút sinh khí, khuôn mặt như hóa gỗ...

...Pô-li-pốp đột ngột nhấc người lên khỏi đi-văng, những chiếc lò-xo lại kêu cót két. «Đúng, đúng, và ở đây, ở San-ta-ra, trong ngày đầu tiên đến đấy, từ toa tàu bước xuống, cô ta vẫn nhìn ông bằng đôi mắt đờ đẫn, không sinh khí như vậy, và khuôn mặt như đã hóa gỗ», - Pô-li-pốp nghe như có một người nào đó nói vào tai mình.

Đứng một lúc, ông lại ngồi xuống và trả lời cái người nào đó: «Thôi thì mặc kệ cô ta... Lúc đó cô ta không hề biết gì, và bây giờ cũng vậy... Nếu có nghi ngờ một điều gì đó, chắc là phải nói với chồng rồi. Nhưng nhờ trời, chẳng thấy dấu hiệu gì cả... Còn trong bụng cô ta nghĩ gì về mình, về Pô-li-pốp này, mình không cần biết. Hơn nữa, mình lại sắp ra mặt trận... Nhất định sẽ ra mặt trận. Và chúng ta lại mỗi người mỗi ngả. Lần này thì chắc hẳn là vĩnh viễn...»

❀ ❀ ❀

[1] Đê-xi-a-ti-na - đơn vị đo diện tích ruộng đất Nga bằng 1,09 héc-ta.

[2] Côm-mơ: cứ đi đi. Sne-lơ: nhanh lên (tiếng Đức trong nguyên bản).

[3] Stét au-phơ! Đứng lên! (tiếng Đức.)

[4] Déc gút! Rất tốt (Tiếng Đức.)

[5] Au-phơ-vi-đéc-dê-in: Tạm biệt (Tiếng Đức.)

-lin lại đi đến bên cạnh, im lặng cầm lấy những tờ giấy vừa đánh máy xong, rồi lại im lặng đi ra. - A-a, I-a-cốp Nhi-cô-lai-ê-vích, - Cru-gi-lin đang nhặt mấy tờ giấy bỗng thốt lên. - Anh đến gặp tôi à? Qua phòng tôi đi. - Tôi sẽ qua, - A-l
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.