Tàu «Cường tráng» làm một công việc tầm thường hàng ngày: luôn luôn chất đầy lên tận ống khói nào thùng, nào sọt, nào hòm gỗ, nó chở tới Lêningrat, tới các đồn lính, tới Oranienbaum những thứ khác nhau. Những ngày cuối thu, chiếc mũi nhọn hoắt và cao lênh khênh của nó cứ chồm lên những tảng băng, tiến một cách hăng hái và kéo sau những sà lan và bè.
Cũng có lúc nó ì ạch ở vũng tàu để xoay vần cái thân hình khổng lồ của chiếc thiết giáp hạm, nhưng trong công việc này thì nó cần sự giúp sức của cả tàu «Hùng cường» lẫn tàu «Hùng dũng», vì sức mạnh của «Cường tráng» chung quy chỉ là ở cái tên gọi thôi: thực ra, nó là một chiếc tàu kéo ở cảng loại bán phá băng, nó là một anh thợ khéo tay lầm lì và cẩn cù lao động.
Thế mà Grigôri Prôkhôrưch, người thuyền trưởng kỳ cựu của «Cường tráng» cũng rất bực mình khi vào đúng dịp đầu mùa công việc, cánh thợ sơn của cảng lại đi sơn mất cái tên gọi kiêu hãnh «Cường tráng» mà viết lên thân tàu những ký hiệu chẳng có nghĩa lý gì cả «CC-16», muốn để người ta hiểu là «tàu kéo số 16 cảng Crônstat». Grigôri Prôkhôrưch phản đối bằng cách xin anh em thợ sơn ít sơn cùng mầu, tự tay viết lại tên gọi «Cường tráng» lên cả bốn chiếc phao bảo hiểm và những thùng cứu hỏa.
– Sêsê, sêsê!.. Sêsê là cái nghĩa gì, lại còn thứ mười sáu nữa chứ? Đã là tàu biển thì phải có danh hiệu chứ không phải có số thứ tự, - trong bữa uống chè vào buổi tối ông than vãn với người bạn của mình là bác thợ máy Đrôdơđôp mà ông vẫn thường trang trọng gọi là «thợ máy cả». Cả hai đều là những người cựu thủy thủ Bantich, đều tự nguyện phục vụ trên tàu «Cường trảng», phục vụ vẹn toàn và kiên trì đúng chục năm, cả hai đều đẫy người, nghiêm tính và vào giờ rỗi thường hay uống chè với một lượng mà không ai có thể sánh kịp.
– Cái thứ ấy mà cũng lả tàu biển à?-ông bạn vừa trả lời vừa cắn miếng đường dòn tan. - Bác Grigôri Prôkhôrưch ơi, tôi với bác hết thời đi tàu biển rồi... Thứ này là đàn banđura(1), chứ tàu biển gì...
(1) Một loại đàn dân tộc Ucren. ND
Thế là cuộc tranh luận đã có một lịch sử lâu đời, lại bắt đầu. Đrôdơđôp là người thẳng tính và hay nói đùa, thích trêu ông thuyền trưởng, con người ưa gọi chiếc tàu kéo của mình là tàu biển, ưa đề ra kỷ luật quân sự trên tàu và giáo dục đám thanh niên, nhất là Vaxia Jỉlin, chàng thanh niên hay trêu chọc người phố Crônstat, phải biết quý cái boong tàu sạch sẽ; còn đối với «người thợ máy cả» của minh thì ông dứt khoát yêu cầu phải làm sao cho «Cường tráng» không được phì khói như tàu hỏa trong lúc chạy mà phải không có khói theo đúng như quy định cho tàu biển quân sự vậy.
Việc đổi tên tàu làm cho Grigôri Prôkhôrưch đau khổ hơn là Đrôdơđôp có thể tưởng tượng. Nếu đối với các thuyền trưởng khác, tàu «Hùng cường», tàu «Hùng dũng» và những loại tàu kéo tương tự mà do ý muốn của cảng đã biến thành những «cc» có số, chẳng qua chỉ là một nơi công tác không lấy gì làm yên tĩnh lắm, thì tàu «Cường tráng» đối với ông Grigôri Prôkhôrưch là tàu biển. Mà khái niệm «tàu biển» ấy, suốt hơn ba chục năm trời phục vụ trong hải quân, Grigôri Prôkhôrưch đã quen hiểu theo một nghĩa rất lớn.
Nhưng cố mà hỏi cho rõ tàu biển đối với ông có nghĩa lý gì thì thật cũng vô ích và tàn nhẫn như đòi hỏi ở người mẹ sự giải thích rằng đứa con đối với bà là cái gì và vì lý do nào mà bà ta hết lòng tin con bà là đứa tốt nhất, đẹp nhất, danh giá nhất và thông minh nhất, hơn cả những đứa trẻ khác.
Đối với ông thì tàu biển chính là ý nghĩa và nội dung cuộc sống. Có lẽ cái câu chung chung ấy truyền đạt được đúng hơn cả những gì đã buộc ông nhiều lúc phải hy sinh cả sức khỏe, hiến dâng tất cả sức lực và tình cảm cho con tàu, truyền đạt được điều gì đã buộc ông suốt hai chục năm liền, sáng nào cũng dậy sớm hơn giờ báo thức xem xét boong tàu, xuồng và lớp sơn để dự kiến phải làm việc gì trước trong ngày sao cho tàu luôn lộng lẫy, chỉnh tề, sạch sẽ và huy hoàng, vì suốt hai chục năm trời Grigôri Prôkhôrưch đã là đội trưởng đội thủy thủ: mới đầu ở trên tuần dương hạm sau đó trên tàu biển tập và cuối cùng tại thiết giáp hạm.
Cứ mỗi lần chuyển từ tàu này sang tàu khác, mỗi lần tình cảm của ông lại phải thay đổi như nhau.
Ban đầu là nỗi cay đắng sót sa do sự chia tay với đội thủy thủ mà ông đã từng chung sống, do ông mất đi những người bạn, những người học trò, mà ông để lại trong họ một phần bản thân mình, do vĩnh biệt với boong tàu nơi mà mỗi góc đối với ông là một lịch sử, với những chiếc xuồng mà ông đã bỏ nhiều công sức của người đội trưởng để làm nó bơi được nhanh và có một màu trắng huy hoàng.
Nỗi cay đắng chia tay ấy được thay thế bằng sự thiếu tin tưởng và không bằng lòng với chiếc tàu biển mới và đội thủy thủ của nó, vì cái gì cũng lạ, cái gì trông cũng khác, mọi người đều không quen, không biết dựa vào ai, và khắp nơi đều đòi hỏi phải để mắt tới: cái phanh dây neo lại ngoạm lệch những mắt xích, guồng quay thì rít sịt, còn những chiếc xuồng thì thô kệch như những chiếc thuyền đánh cá.
Nhưng sức mạnh của cái khái niệm «tàu biển của mình» khiến cho tất cả mọi thứ đều mau chóng biến đổi một cách diệu kỳ: phanh dây neo trở nên chắc chắn nhất, những chiếc xuồng trở nên xinh xắn nhất và chạy nhanh nhất trong toàn hạm đội, và trong đội thủy thủ hóa ra là có những người thợ mộc hay những anh thợ sơn khéo tay, mà không loại tàu biển nào có được. Và mỗi khi đứng trên bến hoặc từ ca-nô nhìn lên chiếc tàu biển mới cách đây không lâu còn là xa lạ kia thì một niềm tự hào quen thuộc lại tràn ngập trái tim ông.
Còn chiếc tàu cũ, biến thành một hình ảnh xa mờ và thân yêu, nó lắng xuồng chiếu sâu của tâm hồn và trí nhớ như một tỷ dụ vô song của cái gì tốt đẹp nhất, nhanh nhẹn nhất và thông minh nhất: «Trên tàu «Dũng sĩ» của chúng tôi hạ xà ngang(1) chỉ mất có nửa phút, mà những thanh xà ngang ấy mới tuyệt làm sao chứ!» Và tiếng còi của đội trưởng làm cho sức kéo của những cần cẩu và những dây kéo cột buồm có một nhịp điệu mạnh phi thường, và những thân gỗ to lớn cùng dựng lên một lúc như những chiếc cánh dài, chỉ sau nửa phút là đã áp chặt vào thành cao của tàu «Hải dương» cũng giống hệt như ở tàu «Dũng sĩ». Duy chỉ mỗi khi gặp lại tàu cũ ở ngoài khơi hay đứng cạnh nhau trên bến thì Grigôri Prôkhôrưch nhìn nó một cách ghen tuông, ông cố tìm những đường nét quen thuộc thân yêu và, theo thói quen, ông nhìn kiểm tra xem xuồng của nó đã được buộc chặt chưa và những đầu dây có thò ra dưới tấm vải bọc không.
(1) Xà ngang - một thân gỗ đặt ngang thường được thả xuống thành tàu để buộc xuồng. BT.
Có lẽ để giải thích sự gắn bó của Grigôri Prôkhôrưch với tàu chiến, với cái ngăn nắp, trật tự, với sức mạnh và sự sạch sẽ của nó thì dễ hơn cả là bằng tình yêu riêng của ông với con tàu. Nhưng điều kỳ lạ là tất cả những chiếc tàu mà đã được ông hiến dâng cho một phần trái tim mình trong những năm phục vụ kia, lại hòa hợp nhuần nhuyễn với nhau thành một khái niệm chung là tàu biển.
Chính khái niệm đó đã buộc ông cùng sáu người thủy thủ Bantich, cũng già như ông, bỏ chiếc tuần dương hạm tin cậy và thân yêu lại Genxinphooc để xách một chiếc va-li nhỏ có bánh mì, ít đồ hộp cùng vài thứ dụng cụ gì đó, sang ngư lôi hạm «Xung phong». Ngư lôi hạm này hầu như không còn thủy thủ mà bọn phát xít thì đã tiến đến gần thành phố và toàn hạm đội phải cấp tốc rút qua lớp băng dầy đặc về Crônstat chứ không thể hy vọng vào sự bảo đảm hão huyển của những điểm ký kết trên tờ giấy của bản hòa ước được, Tàu «Xung phong» đỗ ở bến phía Nam nằm ngay trong thành phố.
Nó nép sát vào thành bến và cả bốn khẩu súng trên mình nó đều dựng ngược lên giống như đám lông trên lưng mệt con chó con dũng cảm sẵn sàng xông vào trận đấu, mặc dầu trận đấu ấy không hứa hẹn với nó một điều gì tốt đẹp, - những người thủy thủ đầy nhiệt huyết còn lại trên ngư lôi hạm sẵn sàng nhả đạn ngay vào bọn phát xít mà không cần suy nghĩ gì, nếu như chúng dám đụng đến lá cờ đỏ đang phấp phới trên cột cờ cắm ở đầu lái chiến hạm bất lực này.
Những người hải quân từ tuần dương hạm đến, trong đó có một người của ban chỉ huy toàn Bantích, đã giải thích cho anh em thủy thủ tàu «Xung phong» rằng không được nổ súng vì dù sao đi nữa vẫn là hòa bình. Nhưng dù thế nào thì cũng phải rút lui. Vấn đề này sinh ra biết bao nhiêu là việc: số người trên ngư lôi hạm có thể đếm trên đầu ngón tay được, máy móc đều mệt mỏi sau ba năm tuần tiễu và những trận phong ba, trong số thủy thủ cũ chỉ có một sĩ quan phá mìn ở lại tàu. Thế mà «Xung phong» chỉ trong một đêm đã nhận đù than, chữa chạy xong máy và nồi hơi và ngay ngày hôm sau, khi tiếng súng của bọn Đức đì đẹt nổ ở Explanađa sát bên bến tàu đậu thì nó đã nhổ neo tiến vào bãi băng.
Suốt mười bốn ngày đêm liền, nó lặn lội trong bể băng tuyết, nó len lỏi những đường nứt ngoằn ngoèo trên mặt băng do tàu đi qua để lại. Nhờ gặp chiếc tàu tải kéo, nên nó được nghỉ ngơi hai ngày. Đến ngày thứ ba thì chúng đuổi kịp tàu «Cảnh giác» đang bị mắc trong băng, phần mũi phá băng dài của nó bị bẻ chẹo hẳn sang một bên và cả hai chân vịt đều bị gẫy. «Xung phong» đành nhường tàu kéo cho nó và lại lặn lội một mình. Đôi lúc những tảng băng ép lại làm những thành yếu ớt của ngư lôi hạm bị kẹp giữa bãi băng mênh mông kêu răng rắc. Đối với bãi băng ấy thì việc bóp bẹp tàu khác nào như việc dùng cánh cửa để làm dập khúc xương gà non.
Prôkhôrưch chạy xuống hầm tàu, ông đặt tay vào miếng thép chỗ nối đang rung lên và qua đấy ông cảm thấy sức ép nặng nề của băng. Đành phá hết xuồng lấy gỗ để củng cố sườn tàu và thất vọng rút ra khỏi rãnh băng lạnh buốt và phản bội cứ cố bóp bẹp tàu lại này. Có lần, cũng vì thế mà tàu bị gẫy mất chân vịt bên phải. Tàu vẫn tập tễnh chạy bằng một chân nó vẫn cứ đi, đi mãi về phía trước, về Crônstat thân yêu. Thế mà khi đã về gần đến Gogơlanđơ thân tàu vẫn bị một tảng băng nhọn đâm thủng vào buồng máy bên phải và bốn ngày đêm liền Prôkhôrưch đã đứng trong nước lạnh cóng ngập đến đầu gối để cùng những người khác thay phiên nhau bơm nước tràn qua những khe thủng của miếng vá do họ vừa vội vã làm xong ra khỏi tàu. Từ đấy bệnh thấp khớp thấm vào ông và cứ mỗi lần giở trời lại làm ông đau phát khóc, nó không để ông đi lại nhanh nhẹn như hồi ông còn trên boong tàu kia nữa, khi còn là đội trưởng đội thủy thủ.
Ban đầu là nỗi cay đắng sót sa do sự chia tay với đội thủy thủ mà ông đã từng chung sống, do ông mất đi những người bạn, những người học trò, mà ông để lại trong họ một phần bản thân mình, do vĩnh biệt với boong tàu nơi mà mỗi góc đối với ông là một lịch sử, với những chiếc xuồng mà ông đã bỏ nhiều công sức của người đội trưởng để làm nó bơi được nhanh và có một màu trắng huy hoàng. Nỗi cay đắng chia tay ấy được thay thế bằng sự thiếu tin tưởng và không bằng lòng với chiếc tàu biển mới và đội thủy thủ của nó, vì cái gì cũng lạ, cái gì trông cũng khác, mọi người đều không quen, không biết dựa vào ai, và khắp nơi đều đòi hỏi phải để mắt tới: cái phanh dây neo lại ngoạm lệch những mắt xích, guồng quay thì rít sịt, còn những chiếc xuồng thì thô kệch như những chiếc thuyền đánh cá.
Nhưng sức mạnh của cái khái niệm «tàu biển của mình» khiến cho tất cả mọi thứ đều mau chóng biến đổi một cách diệu kỳ: phanh dây neo trở nên chắc chắn nhất, những chiếc xuồng trở nên xinh xắn nhất và chạy nhanh nhất trong toàn hạm đội, và trong đội thủy thủ hóa ra là có những người thợ mộc hay những anh thợ sơn khéo tay, mà không loại tàu biển nào có được. Và mỗi khi đứng trên bến hoặc từ ca-nô nhìn lên chiếc tàu biển mới cách đây không lâu còn là xa lạ kia thì một niềm tự hào quen thuộc lại tràn ngập trái tim ông. Còn chiếc tàu cũ, biến thành một hình ảnh xa mờ và thân yêu, nó lắng xuồng chiếu sâu của tâm hồn và trí nhớ như một tỷ dụ vô song của cái gì tốt đẹp nhất, nhanh nhẹn nhất và thông minh nhất: «Trên tàu «Dũng sĩ» của chúng tôi hạ xà ngang chỉ mất có nửa phút, mà những thanh xà ngang ấy mới tuyệt làm sao chứ!» Và tiếng còi của đội trưởng làm cho sức kéo của những cần cẩu và những dây kéo cột buồm có một nhịp điệu mạnh phi thường, và những thân gỗ to lớn cùng dựng lên một lúc như những chiếc cánh dài, chỉ sau nửa phút là đã áp chặt vào thành cao của tàu «Hải dương» cũng giống hệt như ở tàu «Dũng sĩ». Duy chỉ mỗi khi gặp lại tàu cũ ở ngoài khơi hay đứng cạnh nhau trên bến thì Grigôri Prôkhôrưch nhìn nó một cách ghen tuông, ông cố tìm những đường nét quen thuộc thân yêu và, theo thói quen, ông nhìn kiểm tra xem xuồng của nó đã được buộc chặt chưa và những đầu dây có thò ra dưới tấm vải bọc không.
Có lẽ để giải thích sự gắn bó của Grigôri Prôkhôrưch với tàu chiến, với cái ngăn nắp, trật tự, với sức mạnh và sự sạch sẽ của nó thì dễ hơn cả là bằng tình yêu riêng của ông với con tàu. Nhưng điều kỳ lạ là tất cả những chiếc tàu mà đã được ông hiến dâng cho một phần trái tim mình trong những năm phục vụ kia, lại hòa hợp nhuần nhuyễn với nhau thành một khái niệm chung là tàu biển.
Chính khái niệm đó đã buộc ông cùng sáu người thủy thủ Bantich, cũng già như ông, bỏ chiếc tuần dương hạm tin cậy và thân yêu lại Genxinphooc để xách một chiếc va-li nhỏ có bánh mì, ít đồ hộp cùng vài thứ dụng cụ gì đó, sang ngư lôi hạm «Xung phong». Ngư lôi hạm này hầu như không còn thủy thủ mà bọn phát xít thì đã tiến đến gần thành phố và toàn hạm đội phải cấp tốc rút qua lớp băng dầy đặc về Crônstat chứ không thể hy vọng vào sự bảo đảm hão huyển của những điểm ký kết trên tờ giấy của bản hòa ước được, Tàu «Xung phong» đỗ ở bến phía Nam nằm ngay trong thành phố. Nó nép sát vào thành bến và cả bốn khẩu súng trên mình nó đều dựng ngược lên giống như đám lông trên lưng mệt con chó con dũng cảm sẵn sàng xông vào trận đấu, mặc dầu trận đấu ấy không hứa hẹn với nó một điều gì tốt đẹp, - những người thủy thủ đầy nhiệt huyết còn lại trên ngư lôi hạm sẵn sàng nhả đạn ngay vào bọn phát xít mà không cần suy nghĩ gì, nếu như chúng dám đụng đến lá cờ đỏ đang phấp phới trên cột cờ cắm ở đầu lái chiến hạm bất lực này.
Những người hải quân từ tuần dương hạm đến, trong đó có một người của ban chỉ huy toàn Bantích, đã giải thích cho anh em thủy thủ tàu «Xung phong» rằng không được nổ súng vì dù sao đi nữa vẫn là hòa bình. Nhưng dù thế nào thì cũng phải rút lui. Vấn đề này sinh ra biết bao nhiêu là việc: số người trên ngư lôi hạm có thể đếm trên đầu ngón tay được, máy móc đều mệt mỏi sau ba năm tuần tiễu và những trận phong ba, trong số thủy thủ cũ chỉ có một sĩ quan phá mìn ở lại tàu. Thế mà «Xung phong» chỉ trong một đêm đã nhận đù than, chữa chạy xong máy và nồi hơi và ngay ngày hôm sau, khi tiếng súng của bọn Đức đì đẹt nổ ở Explanađa sát bên bến tàu đậu thì nó đã nhổ neo tiến vào bãi băng.
Suốt mười bốn ngày đêm liền, nó lặn lội trong bể băng tuyết, nó len lỏi những đường nứt ngoằn ngoèo trên mặt băng do tàu đi qua để lại. Nhờ gặp chiếc tàu tải kéo, nên nó được nghỉ ngơi hai ngày. Đến ngày thứ ba thì chúng đuổi kịp tàu «Cảnh giác» đang bị mắc trong băng, phần mũi phá băng dài của nó bị bẻ chẹo hẳn sang một bên và cả hai chân vịt đều bị gẫy. «Xung phong» đành nhường tàu kéo cho nó và lại lặn lội một mình. Đôi lúc những tảng băng ép lại làm những thành yếu ớt của ngư lôi hạm bị kẹp giữa bãi băng mênh mông kêu răng rắc. Đối với bãi băng ấy thì việc bóp bẹp tàu khác nào như việc dùng cánh cửa để làm dập khúc xương gà non.
Prôkhôrưch chạy xuống hầm tàu, ông đặt tay vào miếng thép chỗ nối đang rung lên và qua đấy ông cảm thấy sức ép nặng nề của băng. Đành phá hết xuồng lấy gỗ để củng cố sườn tàu và thất vọng rút ra khỏi rãnh băng lạnh buốt và phản bội cứ cố bóp bẹp tàu lại này. Có lần, cũng vì thế mà tàu bị gẫy mất chân vịt bên phải. Tàu vẫn tập tễnh chạy bằng một chân nó vẫn cứ đi, đi mãi về phía trước, về Crônstat thân yêu. Thế mà khi đã về gần đến Gogơlanđơ thân tàu vẫn bị một tảng băng nhọn đâm thủng vào buồng máy bên phải và bốn ngày đêm liền Prôkhôrưch đã đứng trong nước lạnh cóng ngập đến đầu gối để cùng những người khác thay phiên nhau bơm nước tràn qua những khe thủng của miếng vá do họ vừa vội vã làm xong ra khỏi tàu.
Từ đấy bệnh thấp khớp thấm vào ông và cứ mỗi lần giở trời lại làm ông đau phát khóc, nó không để ông đi lại nhanh nhẹn như hồi ông còn trên boong tàu kia nữa, khi còn là đội trưởng đội thủy thủ.
Ông đã làm tất cả việc đó vì một chiếc tàu nhỏ bé và xa lạ đối với ông, thậm chí ông chưa phục vụ trên đó bao giờ. Cho nên đúng hơn thì không phải là nói về tình yêu của ông đối với tàu biển mà là tình yêu đối với toàn hạm đội. Nhưng Grigôri Prôkhôrưch chẳng có thì giờ mà ngồi phân tích sâu sắc tình cảm của mình và ông đã phục vụ hạm đội một cách giản đơn hết khả năng theo cách hiểu biết của mình.
Bệnh thấp khớp đã đưa ông đến tàu «Cường tráng». Mười năm về trước, sau buổi lễ kéo cờ trang nghiêm vào ngày Cách mạng tháng Mười, đồng chí chỉ huy và chính ủy thiết giáp hạm đã chúc mừng ông trước hàng thủy thủ nhân dịp hai mươi nhăm năm ông phục vụ trong hạm đội Bantich và trao tặng ông chiếc đồng hồ vàng có khắc chữ lưu niệm. Sau đó ngồi trong xoang tàu đồng chí chính ủy có nói rằng nếu ông chịu khó một tí để thi mấy môn thì người ta sẽ đưa ông lên hàng ngũ sĩ quan trung cấp và sẽ cử ông làm người phụ tá thứ hai của chỉ huy thiết giáp hạm. Triển vọng này đã làm ông lo ngại vì thực ra tuổi già cùng bệnh thấp khớp đã có ảnh hưởng. Ông thú thực với chính ủy rằng thời gian gần đây ông quả không nghĩ đến việc cất nhắc mà muốn được về nghỉ ngơi (vì bây giờ đối với ông phục vụ một cách thực sự thì hơi khó), nhưng nhiều đêm ông cứ trở mình hoài không ngủ được trước cái hình ảnh đáng sợ của sự vô công rồi nghề ở trên bờ. Cuối cùng ông đánh bạo đề nghị cho ông một nơi yên tĩnh trên một chiếc tàu biển nhỏ, nơi công việc nhẹ nhàng hơn chứ đừng bắt ông phải lên bờ, ở đấy lo vì không quen mà ông sẽ chẳng chịu được lâu.
Thế là ông trở thành thuyền trưởng của «Cường tráng» và ngay từ ngày đó ông đã đề ra những kỷ luật hải quân thực sự trên tàu: hàng ngày phải lau sạch boong tàu và cọ bóng những tay sắt, tay đồng, ông đòi hỏi trang phục, kỷ luật quân sự mà cái đơn vị làm theo hợp đồng trên tàu này không lấy gì ưa lắm, ông còn cố bắt bằng được cứ mỗi sáng khi chào cờ thì toàn bộ «ban chỉ huy» - nghĩa là «thợ máy cả» và đội trưởng thủy thủ mà ông phong hàm là «trợ tá trưởng», - phải báo cáo với ông rằng trên tàu kéo trợ lực «Cường tráng» không có hiện tượng gì đặc biệt xẩy ra.
Trên cảng người ta chỉ biết cười những cái lầm cẩm của ông già mà không biết tìm hiểu sâu xa bản chất cao cả chân chính của chúng.
Nhưng bao lâu sau, ai nấy đều ngạc nhiên nhận thấy rằng trên tàu «Cường tráng» bây giờ máy móc tuy đã cũ nhưng ít hư hỏng hơn, bước chân lên boong tàu cảm thấy dễ chịu hơn, tất cả mọi nhiệm vụ đều được thực hiện một cách nghiêm túc và nhanh chóng và bất kỳ lúc nào cũng có thể phái «Cường tráng» đi bất cứ đâu vì thuyền trưởng luôn có mặt trên tàu và số thủy thủ lên bờ đã được tính toán sao cho những người còn lại có thể nhanh chóng cho phát hơi và rời khỏi cảng. Thực ra, thành phần thủy thủ lấy từ số anh em tự do của Crônstat đã thay đổi nhiều lần cho đến lúc chọn toàn những người có cùng quan điểm với Grigôri Prôkhôrưch về việc phục vụ trong hải quân dù là dưới loại cờ nào - cờ xanh của cảng hay cờ quân đội.
Ông Prôkhôrưch đã giải thích cho Đrôdơdôp rằng thậm chí tàu ngầm người ta cũng gọi bằng số thứ tự như S-1, Ch-315, cho nên ký hiệu CC-16 chẳng có gì là đáng buồn giận cả, nhưng ông vẫn chỉ dùng ký hiệu ấy trong khi viết hồ sơ thôi, còn lúc trên boong tàu và ở cảng thì ông cứ gọi tàu mình là «Cường tráng».
Một tháng rưỡi sau sự kiện đổi tên, sau khi giao cho một đơn vị ở xa báo chí, đạn dược, một chiếc máy hát mới và nhận về những thùng đựng rỗng không, «Cường tráng» trở lại Crônstat. Hôm ấy là một ngày mùa thu êm ả và nắng ráo, và Prôkhôrưch cho phép mình xuống buồng - tu nước chè. Nhưng mới uống đến chén thứ sáu thì Đrôdơđôp từ tầng trên chạy xuống thò đầu vào cánh cửa sáng sủa gọi:
– Đồng chí thuyền trường ơi, ba chân bốn cẳng chạy ngay lên trên này! Hãy ngắm xem!
Trong giọng nói của Đrôdơđôp có một cái gì độc ý làm Prôkhôrưch hồi hộp chạy ngay lên boong tàu - và ông đã hết sức sửng sốt.
Có một chiếc tàu chiến, tuyệt đẹp mà chưa ai từng thấy đang đi ngược chiều với «Cường tráng». Mang trên mình những nòng súng dài, những máy phóng ngư lôi cổ rộng, những máy nhìn tầm xa chính xác, những máy điện tử phức tạp, chiếc tàu cân đối này đang vun vút đẫm mình trong nước, lướt trên mặt biển và để lại tiếng âm vang của những quạt gió mạnh. Tất cả cái sức mạnh chiến đấu của tàu được xắp xếp gọn gàng và thông minh trên những buồng máy và buồng hơi. Hình dáng thoi nhọn tuyệt đẹp của thân tàu xẻ mặt nước lóng lánh mà đi, còn phía sau nó là một làn sóng bọt ngầu bám chặt vào đuôi tàu chứng tỏ cái tốc độ rất lớn của con tàu đang bay trên mặt nước.
Có một chiếc tàu chiến, tuyệt đẹp mà chưa ai từng thấy đang đi ngược chiều với «Cường tráng». Mang trên mình những nòng súng dài, những máy phóng ngư lôi cổ rộng, những máy nhìn tầm xa chính xác, những máy điện tử phức tạp, chiếc tàu cân đối này đang vun vút đẫm mình trong nước, lướt trên mặt biển và để lại tiếng âm vang của những quạt gió mạnh. Tất cả cái sức mạnh chiến đấu của tàu được xắp xếp gọn gàng và thông minh trên những buồng máy và buồng hơi. Hình dáng thoi nhọn tuyệt đẹp của thân tàu xẻ mặt nước lóng lánh mà đi, còn phía sau nó là một làn sóng bọt ngầu bám chặt vào đuôi tàu chứng tỏ cái tốc độ rất lớn của con tàu đang bay trên mặt nước.
Grigôri Prôkhôrưch vừa ngắm chiếc chiến hạm mới được bổ sung, vừa nháy mắt nói với Đrôdơđôp:
– Đồng chí thợ máy cố mà học đấy nhé: phóng nhanh như ngư lôi vậy mà nào có thấy khói đâu?
Quả thế, trên những ống khói thấp chỉ thấy lớp không khí nóng trong suốt hơi rung động: toàn hộ chất cháy của dầu hỏa bị những bình hơi hút hết. Nhưng Đrôdơđôp gật đầu ra hiệu cho ông một cách châm chọc:
– Sao ông lại nhìn ống khói... có biết chữ không đấy?
Grigôri Prôkhôrưch thoáng nhìn và hết đỗi bàng hoàng: con mắt sắc sảo của người thủy thủ giúp ông nhận ra ngay dòng chữ «Cường tráng» trên phía sau tàu. Vaxia Jilin chỉ đợi có lúc ấy để cười vang thoải mái, nhưng anh mất hứng vội im ngay vì Grigôri Prôkhôrưch quay nhìn anh ta mặt ông tối tăm như giông tố:
– Đồng chí thường trực! Tại sao anh không chào? Không thuộc điều lệ à?..
Vaxia bèn nhảy đến cột buồm và vội vã tháo cờ ra, còn ông Prôkhôrưch người thủy thủ Bantich không cao lớn, chắc người, tóc đã bạc và có bộ mặt sạm đi vì nắng gió, hô vang: «Đứng nghiêm!» và giơ nắm tay lên ngang chiếc mũ lính thủy đã cũ của mình đứng bất động như một pho tượng đá.
Trong cái bất động đó của ông có một cái gì trang trọng làm cho Vaxia, một người vui vẻ, hay cười, cũng phải im bặt. Đrôdơdôp cũng không mỉm cười nữa, và những người khác «làm theo hợp đồng», vừa chạy lên boong tàu để nhìn qua đống thùng, đống hộp cái hình ảnh lực lượng trẻ tuyệt vời, đầy sức sống của hạm đội Bantich, cũng phải đứng nghiêm. Trong sự tĩnh mịch ấy chỉ còn nghe thấy tiếng sình sịch vội vàng và cần cù của những chiếc pít-tông của chiếc «Cường tráng» nhỏ bé này và tiếng âm vang trầm tĩnh của những tuốc bin và quạt gió của chiếc kia. Một lá cờ mới màu trắng dọc xanh có sao đỏ và quốc huy Liên-xô, tung ra theo chiều gió trên đỉnh cột cờ ngư lôi hạm. Nó được thả xuống để trả lời sự chào mừng của chiếc cờ cảng màu xanh đã cũ, rồi lại lên cao và tung bay phấp phới.
Ngư lôi hạm lướt qua, chân vịt của nó quay mạnh đã sinh ra một đợt sóng ngầm thoai thoải xô tới chiếc tàu kéo và rất dễ dàng, không cần một sự cố gắng nào cả, nó đã làm cho tàu kéo nghiêng đi. Trên boong tàu hòm gỗ đổ liểng xiểng, Vaxia chạy đuổi theo một chiếc thùng đang lăn đến lan can, một chiếc thùng cứu hỏa bị hòm gỗ đập vào vừa kêu long cong vừa lăn đến chân Grigôri Prôkhôrưch.
Sự kiện bất ngờ ấy làm mất hết cả không khí trang nghiêm và Grigôri Prôkhôrưch, sau khi tóm được chiếc thùng cứu hỏa, đã văng ra những câu thoải mái mà chẳng kể gì đến yêu cầu phải tuân thủ điều lệ hải quân cả. Mãi cho đến lúc thùng, hòm đã lại được buộc chặt gọn ghẽ vào boong tàu thì ông mới để ý thấy chiếc thùng mà ông đang vung vẩy trong tay. Ông treo thùng lên chỗ cũ, ngắm nhìn hàng chữ viết trên nó rồi bỏ đi xuồng lòng tàu, ngắn gọn ra lệnh cho Vaxia:
– Sơn kín đi!
Thế là tàu «Cường tráng» xưa kia đã dứt khoát trở thành tàu «CC-16» khiêm tốn. Nhưng bây giờ nếu ai trở về tàu không đúng giờ hay để xẩy ra sự gì hư hỏng trên tàu thì bao giờ Grigôri Prôkhôrưch cũng kết thúc lời phê bình sấm sét của mình bằng câu: – Anh không có một tí tự hào thực sự nào về chiến hạm cả... Làm như thế thì anh không bao giờ trở thành thủy thủ Bantich dược! Cái đồ lạc hậu à, anh phải nhớ rằng mình đã nhường tên lại cho tàu nào chứ?..
Và những tay vịn bằng đồng trên tàu «CC-16» lại bóng nhoáng không kém gì chính trên tàu «Cường tráng», trên boong và trong buồng máy lúc nào cũng sạch sẽ như trên tàu quân sự, cả đến Đrôdơđôp cũng tìm ra cách biến đụn khói dầy đặc thường sặc sụa trên ống khói thành một giải khói nhỏ mầu xám.