Tiểu Đoàn Bốn Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

Hòn đảo đã trở thành của ta. Bây giờ «CC-16» đến đây với chức năng cũ của mình: chở thùng, hòm, máy quay đĩa và đạn dược, tưởng như không làm gì có cái buổi sáng tháng chạp nọ, khi tàu này chỉ đường cho quân đổ bộ đến đây. Do chỉ có một mình «CC-16» thường tới đây nên đơn vị bộ đội trên đảo này rất vui mừng mỗi khi đón nó trên bến. Và cũng bởi tình cảm tràn trề cho nên ngay vào chuyến thứ ba, anh em đã gọi đổi cái tên «CC-16» thành tên gọi âu yếm là «Sêsêsa», đôi khi còn gọi là «Sêsêtôsa» hoặc để cho trang trọng hơn «Sêsêtôn Ivanôvich». Thật lạ là cái tên mới ấy, cái tên gọi biểu lộ tình cảm của anh em bộ đội trên đảo đối với chiếc tàu kéo chung thủy này, lại bị Grigôri Prôkhôrưch phản đối. Vừa nghe thấy Jilin gọi nó bằng tên gọi ấy ông liền nghiêm nghị cắt lời anh, gọi anh bằng «anh» vì theo ông đang là lúc phục vụ trong quân đội, ông đã rành mạch phân rõ quan hệ trong lúc phục vụ và ngoài lúc phục vụ.

– Đồng chí hoa tiêu (Jilin đã gần trở thành hoa tiêu), đồng chí hãy vứt cái tên ấy đi. Tàu đã có tên gọi do điều lệnh quy định, không làm gì mà phải gọi chệch đi, hơn nữa cái tên ấy đã được ghi vào lịch sử rồi.

«Lịch sử» đây Grigôri Prôkhôrưch có ý nói về đoạn viết trên báo «Hạm đội Hồng quân Bantich», ở đấy trong một bài phóng sự người ta đã mô tả về đợt đổ bộ đầu tiên và nói đền sáng kiến chiến đấu của đồng chí chỉ huy tàu «CC-16». Jilin cũng giữ mảnh báo ấy, nhưng có những mục đích thực tế hơn: trong những giờ ngắn ngủi ở Crônstat, khi chạy ghé thăm cô Dina anh thường kiêu hãnh lôi mảnh báo đó ra và lại kể về cái câu chuyện chiến đấu đầu tiên (và tạm thời còn là độc nhất) của mình. Với bộ mặt bí ẩn, anh thường nói thêm rằng cô ta sẽ còn được nghe nhiều về tàu «Sêsêsa» qua báo chí, và khi ấy chắc chắn tên anh sẽ được nhắc tới.

Nhưng các chuyến đi tới đảo đã trở thành thông thường, không còn những trường hợp để «Sêsêsa» thể hiện phẩm chất chiến đấu của mình nữa, và Jilin cứ thở dài liên tục cúi nhìn tấm bản đồ để trên bàn hoa tiêu của anh.

– Ôi, cuộc sống Sêsêsa của chúng ta ơi!.. Người ta thì chiến đấu, còn mình thì cứ chở bắp cải... Vaxia Jilin ơi! Mày chẳng có hạnh phúc đâu! Cứ với nhịp này thì đừng có hòng mà tiến đến Anh hùng Liên-xô!..

Những câu nói như thế làm Grigôri Prôkhôrưch rất bực mình. Đứng tì tay vào lan can và ngọ nguậy ngón chân trong đôi ủng lông (vì cứ mỗi lần đến đảo thì mùa đông lại càng về gần hơn), Grigôri Prôkhôrưch đã chỉnh đốn cho Jilin những mẻ rất dài; ông chứng minh rằng trong hạm đội cũng như trên tàu biển, mỗi vật đều có giá trị của nó và ngay cả loại cải bắp xấu tiếng thì cũng là một loại hàng cung ứng và chuyên chở nó đến hòn đảo xa xôi này là một công việc rất chiến đấu, rất phù hợp với «CC-16». Với niềm tự hào và không có ý châm biếm ông nói thêm rằng tàu mười hai và tàu mười bốn có được cử đi đâu bởi vì không ai dại gì lại đi giao phó việc chở hàng bắp cải chiến đấu cho thứ tàu mả hễ chạm phải băng là đã sợ bỏ chạy xa.

Quả thực, bây giờ những tảng băng mà họ gặp trong vịnh ngày một nhiều hơn và lớn hơn. Dọc bờ đá hình thành một lớp băng mỏng và mỗi cơn sóng to lại ngoạm của lớp màng xanh bàng bạc bằng phẳng ấy những cục băng lớn và thả chúng lênh đênh vào vịnh, còn ở bờ thì cái lạnh giá và lớp nước yên lặng cứ liên tục bu lại sự mất mát này. Những tảng băng lẻ loi ấy sau khi vào vịnh đã không tan trong nước mà ngược lại, sẵn có cái lạnh giá trong mình nên khi gặp dịp là chúng làm đông cứng luôn lớp nước bao quanh và cũng lớn lên không ngừng, trở thành những bãi băng bằng phẳng. Đôi khi sóng to không hiểu cái nhiệm vụ do thiên nhiên đề ra, lại đánh vỡ luôn cả những bãi băng trôi lềnh bềnh này, nhưng cải lạnh giá lập tức sửa ngay lỗi lầm hộ nó, - và bãi băng mới, do những tảng băng gắn chặt vào nhau lại chậm chạp bập bềnh trên mặt vịnh, tìm kiếm xem có chỗ nào để bám vào hoặc gắn lại với nhau thành những bãi lớn hơn.

Đúng là «CC-16» không sợ bỏ chạy xa khi gặp những tảng băng ấy. Nhờ có con mắt đầy kinh nghiệm, biết đánh giá lứa tuổi và độ dầy lớp băng, trong phần lớn trường hợp Grigôri Prôkhôrưch cứ cho tàu phóng thẳng vào bãi băng. Tàu rùng mình, chiếc mũi phá băng của nó chồm lên băng và nhích đi từng tấc một cả cái sức nặng của thân tàu. Bãi băng không chịu nổi đã vỡ ra thành từng mảnh quay lộn chậm chạp để lộ ra trong vết vỡ những ánh hào quang rực rỡ của các tinh thể, và rồi bị chân vịt xoáy kéo lùi về phía đuôi tàu. Đôi khi ngay từ đầu, chiếc mũi phá băng đã làm tảng băng nứt ra một đường gân ngoằn ngoèo, bãi băng vỡ làm hai phần mở đường cho «CC-16» lấy thân tàu gạt băng sang hai bên mà lách đi một cách dễ dàng êm ả.

Nhưng cũng có lúc - càng về sau càng nhiều hơn - Grigôri Prôkhôrưch ngắm nhìn bãi băng rồi lặng im chỉ hướng đi cho đồng chí lái tàu, nhường lối cho tảng băng, đành tránh địch thủ chứ không cần xông thẳng vào nó.

Chẳng bao lâu sau, cách này trở thành thường dùng vì những bãi băng đã củng cố vững vàng vị trí của chúng. Chúng đã chiếm vùng tam giác châu sông Nêva, vũng Mackidôp và hầu như toàn bộ vịnh Crônstat. Từ hai bên, những mũi tiền tiêu của nó đã kéo dài suốt bờ biển phía nam và phía bắc, chiếm lĩnh các eo và vịnh nhỏ để từ đây cùng với cơn phong ba đưa tất cả bãi băng vào vịnh, đến những khoảng rộng của nó. Chỉ ở cảng Crônstat và ở lối đi dọc theo các cột hải đăng là nước còn giữ được trạng thái sền sệt: ở đấy là cả một đồng lầy lạnh buốt của những tảng băng vỡ lộn xộn, vô hình dạng mà chiến hạm và tàu phá băng qua lại luôn đã làm chúng không dính vào nhau thành một lớp dày được. Mỗi lần bị tàu biển đập vào, chúng lại kêu leng keng, gầm gừ và cọ sát vào thân tàu, nhưng rồi vẫn vỡ tan ra. Song mỗi khi được để yên thì chúng trả thù bằng cách đông lại một cách đểu cáng thành những cục lộn xộn giống như một cánh đồng bị cày lên lởm chởm. Phá những bãi băng này khó gấp bội so với bãi bằng phẳng. Nhưng người ta vẫn phá được chúng vì chiến tranh vẫn đang tiếp diễn và những chiến hạm vẫn phải có đường qua những bãi băng này để ra vùng nước còn chưa kịp đóng băng. Và theo sau các chiến hạm là tàu «CC-16» len lỏi theo lối đi còn mới để, hoặc tránh những bãi băng ngược chiều, hoặc đâm thẳng vào chúng mà kiên trì tiến về phía đảo.

Một ngày đầu tháng giêng, tàu «CC-16» cũng theo sau đoàn chiến hạm đang đi làm nhiệm vụ bằng cách như vậy. Ra đến vũng tàu, nó đứng đợi cho chiếc tuần dương hạm xoay tấm thân khổng lồ phá tan một cách dễ dàng bãi băng đông cứng trên lối đi xong, rồi bám theo sau đuôi nó trên con đường rộng thênh.

Bầu không khí xanh trong của buổi rạng đông cuối tháng giêng như bị chiếc tuần dương hạm dần lùi lại phía tây, còn ở sau lưng nó, ráng hồng mênh mông của buổi binh minh mùa đông ngày càng dâng lên cao hơn, lan rộng ra rực rỡ và những ngọn đèn hải đăng như ánh sáng rực rỡ của ngày hội bừng lên trong bầu không khí lạnh buốt. Grigôri Prôkhôrưch đứng trên cầu, ông mải nhìn ráng hồng chậm rãi trải ra trên nền trời, mà quên cả lạnh. Ông ngắm nhìn cái bóng dáng quen thuộc của thành phố, - cột bơm nước, những máy cần trục, ống khói nhà máy Hải quân, gác chuông nhà thờ, những đỉnh nhọn hoắt của cột buồm trên bến cảng, - và một cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái kỳ lạ và đồng thời một nỗi buồn khó tả, càng xâm lấn tâm hồn ông.

Ông yêu cái giờ của buổi bình minh yên tĩnh này, cái giờ mà ông đã quen thuộc trong suốt nhiều năm khi ông dậy sớm trước lúc báo thức, - cái giờ, khi chiến hạm còn đang ngủ và qua cửa sổ tàu còn nhìn rõ những ngọn đèn đêm màu xanh; khi những hình dáng mỏng manh của dây và cột buồm ngày càng rõ nét trên nền bầu trời đang hửng sáng, và màu sơn trên tàu càng đượm màu chiến đấu khắc khổ của mình; khi mà không muốn nói to vì cả đến những chiếc xuồng treo trên xà ngang lắc lư không ngừng suốt đêm kia, giờ cũng nằm yên và hơi kéo căng dây buộc như để thử xem mình còn có được buộc chặt không. Nhưng những buổi bình minh về mùa đông đối với ông là một cảnh tượng bất thường vì chúng đến trong lúc ông đang bận rộn công việc trên tàu, cái công việc của ngày mà ông thường bắt đầu từ khi trời còn tối, cho nên không làm gì có được sự tĩnh mịch ấy.

Giờ đây ông ngắm nhìn bầu trời giá lạnh đang ửng hồng như mới thấy lần đầu và chợt nghĩ rằng ông sống thế mà cũng đã khá lâu và bây giờ thì ông chẳng còn được nhìn cái khởi điểm dịu dàng nhưng không có gì ngăn được của một ngày, là bao nhiêu nữa. Ý nghĩ đó xuất hiện trong đầu óc ông rõ rệt đến nỗi ông phát bực mình: sao bỗng dưng lại thế? Nhưng nỗi buồn khó hiểu vẫn cứ xâm chiếm tâm hồn ông và ông tiếp tục đứng nhìn hình bóng đen thâm của Crônstat đang chìm dần vào phía chân trời ửng hồng kia cho đến lúc tiếng va chạm vào băng làm ông ngoảnh lại. Thành ra chiếc tuần dương hạm đi đã khá xa và lớp bùn lầy băng giá lại ngoan cố lấp kín cả lối đi. Ông nhìn Crônstat như vĩnh biệt với nó, rồi quay lại theo hướng đi về phía tây.

Cả ở phía ấy trời cũng đã sáng, không gian trở nên nhẹ nhàng, rạng rỡ và bầu trời đượm một màu xanh trong sáng. Theo mọi dấu hiệu thì trời sẽ lạnh và êm ả, nhưng cái đau âm ỉ trong chân lại nói rằng sẽ có bão.

Và quả thế: bãi băng ở mép đã rung động.

Đấy là một cảnh tượng kỳ lạ: bãi băng bằng phẳng cong lên uốn xuống một cách chậm chạp, im lìm như có ý bắt chước hình dáng cơn sóng từ biển đánh luồn xuống dưới đội bề mặt co dãn của nó lên. Băng không vỡ và cũng không nứt vì ở đây nó còn đang mềm và dẻo như xương trẻ con. Nó chỉ cong lên uốn xuống theo cơn sóng thoai thoải vừa làm cho bãi băng chuyển động vừa giảm dần sức mạnh của mình khi vào gần lớp băng dày.

Và đáng lẽ Grigôri Prôkhôrưch phải lo lăng nghĩ xcm cơn sóng nào đang chờ đợi ở ngoài kia thì ông lại ngắm nhìn nhịp thở đều hòa của băng và vẫn nỗi buồn khó ở nhẹ nhàng kia đã buộc ông lặng yên.

Trong suốt đời mình ông đã ba, bốn lần chứng kiến cảnh bãi băng rung động như vậy và chẳng hiểu rằng ông sẽ còn được chứng kiến cảnh như thế nữa không. Ông bực mình thực sự với những ý nghĩ đó, ông gọi mình là thằng ngốc già, rồi bỏ đi xem công việc trên tàu ra sao.

Ông bước xuống khỏi cầu thang đi kiểm tra xem hàng hóa buộc có chặt không, đặc biệt ông xem các hòm đạn dược. Lúc đến buồng máy ông báo cho mọi người biết rằng ngoài biển sắp có bão và ra lệnh đóng kín cửa lại, rồi lại đi lên cầu.

Ở đây, trong lúc ông vắng mặt, Jilin đã sử dụng quyền hạn «hoa tiêu» của mình và ra vẻ hò hét với đồng chí lái tàu: «Giữ đúng hướng!», «Không sang phải!» và những mệnh lệnh khác không có nghĩa gì mấy đối với công việc nhưng lại tỏ được quyền lực chỉ huy. Nhìn bộ mặt tươi cười của Jilin, Grigôri Prôkhôrưch hiểu vì sao những ý nghĩ buồn rượi lại cứ đến với ông.

Nguyên nhân của tâm trạng này là cái bệnh thấp khớp đáng nguyền rùa.

Chuyến cuối cùng trên đường trở về, «CC-16» bị ướt không còn lấy một chỗ nào gọi là khô, kể cả cầu thuyền trưởng và trong chòi, nơi mà cơn sóng đã trơ trẽn đẩy cửa tràn vào quá đầu gối. Sau chuyến này Grigôri Prôkhôrưch phải nằm liệt giường. Lần đầu tiên trong cả quá trình phục vụ, ông đã không đi được mà phải cử Jilin đi thay khi đồng chí phụ trách cảng triệu tập. Việc đó làm Jilin lo sợ nhiều hơn là sung sướng và khi về anh đã bị một vố toát mồ hôi hột mới truyền đạt lại mọi chỉ thị. Nhưng có một điều làm Grigôri Prôkhôrưch khó chịu là ông tưởng tượng rằng trong căn phòng quen thuộc, noi chiếc đồng hồ kỳ quặc từ thời thuyền biển còn chạy bằng buồm vẫn trang trọng kêu tích tắc, người ta cũng nói chuyện về ông, về bệnh tình của ông, rằng đã đến lúc ông gỉà cần về hưu vì thậm chí ông đã không tự đi được mà phải phái trợ tá đi. Grigôri Prôkhôrưch vừa nguyền rủa đôi chân vừa gắng sức đứng dậy để đi gặp đồng chí phụ trách cảng (với lý do là để nhận thêm chỉ thị), và tuy rằng đồng chí này không hề nói đến một chữ về cái điều mà Prôkhôrưch đang lo lẳng, nhưng một cảm giác lo âu vẫn cứ đọng lại làm mầm cho những suy nghĩ về tuổi già.

Bờ băng càng dâng lên cao và biến dần thành bãi băng dày đặc. Bây giờ ở đây đã có những cơn sóng thật lớn nhưng tấm áo giáp băng giá không cho phép nó vùng lên thành những bọt nước ngầu tung tóe. Còn phía trước, mặt biển thẫm màu của buổi ban mai đang bàng bạc những đợt sóng và chẳng mầy chốc cơn sóng đầu tiên đã nhấc bổng «CC-16» lên đỉnh, tóe lên nó những giọt nước lạnh. Chuyến đi «vui vẻ» bắt đầu.

Chiếc tàu «C-16» ướt đến tận đỉnh cột buồm mà vẫn kiên trì leo sóng. Lúc đầu sóng chạy ngược hướng đi của tàu, nhưng về chiều, cơn bão chuyển sang hướng nam, và chiếc tàu kéo bé nhỏ lại bị đảo điên vì những đợt chòng chành dữ dội. Song bão biển không làm Grigôri Prôkhôrưch lo lắng mấy vì tàu vẫn đi đúng hướng và đối với việc đó thì ông đã quen - gặp bão là chuyện thường, chẳng phải lần đầu đơn vị gặp bão. Ông nghĩ về một việc khác và thỉnh thoảng lại lau kính chiếc ống nhòm, lo lắng nhìn về phía nam: hỉnh như có một bãi băng lớn đang từ phía ấy chuyển đến cản đường đi.

Chắc cơn bão đã làm nó rời khỏi bờ và bây giờ đang đồn nó lên phương bắc.

Rõ ràng đây là một bãi băng bờ đáng ngại và Grigôri Prôkhôrưch không gì muốn đụng chạm với nó vì đang trong cơn bão này mà mắc vào nó thì có nghĩa là đành chịu bó tay cho gió đưa đi, mà gió lại thổi về phương bắc, về phía bờ địch chiếm.

Sau một lúc suy nghĩ, ông ra lệnh cho Jilin cầm ống nhòm trèo lên cột buồm để xem có thấy bờ rìa phía nam của bãi băng không. Jilin hăng hái cởi ngay áo khoác ra và chỉ mặc mỗi chiếc áo bông, nhanh nhẹn trèo lên cột buồm, vừa trèo vừa lắc lư theo nó. Jilin một tay treo mình lơ lửng trên cột buồm, còn tay kia anh đưa ống nhòm lên mắt quan sát, rồi anh cũng dùng ống nhòm để chỉ phương hướng, nói cho Grigôri Prôkhôrưch tra theo bản đồ. Ông dự đoán đúng: khi «CC-16» đi tới bãi thì bãi băng đã rời khỏi vùng nước nông, cho phép luồn vòng bãi băng từ phía nam. Ông cho đổi hướng để tiến thẳng vào những mảnh băng vụn đang như chiếc đuôi kéo theo sau bãi băng, và nháy mắt Jilin lúc này vừa mồ hôi mồ kê bước ra khỏi buồng nồi hơi vì lúc đứng trên cột buồm anh bị gió và sóng đánh lạnh thấu xương nên lúc xuống anh đã chạy ngay vào đây...

– Phải đổi hướng chứ, đồng chí hoa tiêu! Chúng ta sẽ lừa tảng băng một mẻ, không thì không biết nó sẽ kéo đi tận đâu... Gớm thật, nó cứ theo gió bắc mà đi. Đến đêm chắc là gặp bọn Đức! Chắc chắn như vậy rồi!

Jilin vui vẻ hưởng ứng - tàu ít bị chòng chành hơn trong vùng băng vỡ, bãi băng đã bị đánh lừa, và lúc trên cột buồm, anh đã tỏ rõ tài năng của mình - biết bao là chuyện để kể lúc lên bờ. Sau khi ra lệnh chỉ đi trong đám băng vụn thôi chứ không được sán lại gần bãi băng, Grigôri Prôkhôrưch để anh đứng lại trên cầu thuyền trưởng thay mình và đi xuống xoang tàu uống nước chè cho ấm. Nhưng Vaxia còn chưa kịp ra oai hạ lệnh cho lái - vì bây giờ phải chỉ huy cho nghiêm túc - thì Grigôri Prôkhôrưch lại hối hả lên cầu. Câu hỏi đầu tiên của ông thật bất ngờ:

– Này, Malicôp có phải đảng viên cộng sản không?

Malicôp chính là anh thợ lái đang trực. Grigôri Prôkhôrưch không quan tâm lắm đến thành phần đảng viên của đơn vị mình, còn sở dĩ ông biết Jilin là đoàn viên Cômxômôn vì anh này đôi khi xin phép ông đi họp. Jilin ngạc nhiên nhìn đồng chí chỉ huy.

– Đảng viên.

Anh cho rằng Malicôp phạm một khuyết điểm gì lớn vì lúc phê bình, Grigôri Prôkhôrưch thường nói một câu: «Thế mà cũng là đảng viên!». Nhưng Grigôri Prôkhôrưch vẫn lo lắng nói với Jilin mà lại gọi anh bằng «con» như xưa:

– Này, con hãy bố trí cho những người ngoài đảng thay thế cho đảng viên và đoàn viên để triệu tập họ đến cả đây! Nhanh lên!

Khi toàn bộ đảng viên và đoàn viên của chiếc tàu nhỏ bé gồm ba người thợ đốt lò, anh thợ điện báo viên Clepicôp, hai thợ máy, Đrôdơđôp, Jilin và Malicôp đã đến đủ cả trong căn buồng thì Grigôri Prôkhôrưch ngẩng đầu khỏi tấm bản đồ tuyên bố một cách ngắn gọn rẳng ông có một quyết định quan trọng và yêu cầu các đảng viên, đoàn viên hãy làm gương tinh thần hy sinh quên mình và lôi kéo toàn đơn vị theo vì đấy không phải việc dễ.

Ngắm nhìn tất cả một lượt xong, ông đọc bức điện do Clepicôp vừa nhận được cùng những bức khác báo trong toàn hạm đội. Theo mật mã bức điện cho biết rằng khu trục hạm «Cường tráng» bị băng làm đứt neo kéo đi, nó không tự thoát ra được và yêu cầu tàu phá băng đến cứu. Grigôri Prôkhôrưch bổ sung thêm rằng tính theo mọi quỹ đạo thì «Cường tráng» ở trong bãi băng mà họ đang đi tránh vòng theo ria phía nam, và bãi băng này đang trôi với một tốc độ lớn về bờ biển phía bắc, vào tầm súng giặc. Thời gian không cho phép chờ đợi gì nữa.

Ông quyết định: đi thẳng vào bãi băng, cố tiến đến sát tàu «Cường tráng» rồi kéo nó ra. Công việc rất nguy hiểm vì bản thân có thể bị mắc, nhưng đợi tàu phá băng thì cũng vô ích vì không biết bao giờ nó mới đến, và lúc nó đến thì không biết «Cường tráng» đã ở đâu. «CC-16» lại đang ở gần, bản thân cũng còn là một tàu bền chắc và còn đối chọi với băng được, nếu làm hết lòng hết sức và không sợ. Sau đấy ông phân công cho mọi người, rồi kết thúc bằng lệnh nhanh chóng chuyển tất cả đạn dược lên đầu mũi làm cho nó nặng để dễ phá băng hơn và nếu bị mắc thì còn có khả năng chuyển chúng về đằng đuôi cho mũi nổi lên.

Khi trời đã tối thì tàu «CC-16» bắt đầu khỏi động trong đám băng vụn, rồi lấy hết sức húc cú đầu tiên vào bãi băng. Bãi băng đầu hàng ngay một cách bất ngờ và suốt một tiếng đồng hồ liền tàu cứ thế tiến đi dễ dàng. Nhưng sau đó việc vận chuyển những hòm cân bằng thật là vất vả. Người ta chuyển những hòm đạn nặng nề về phía đuôi tàu làm mũi nhẹ đi. Và «CC-16» trơn tuột lùi xuống khỏi tảng băng ngoan cố. Người ta lại phải chuyển hòm lên mũi. Mọi người mệt mỏi buông thõng tay ngồi sệp cả xuống thùng, chiếc tàu kéo lấy đà rồì lại đâm thẳng vào tảng băng và hoặc phá vỡ được nó, hoặc mọi người lại phải đứng dậy khuân thùng về phía đuôi.

Đây là một công việc hết sức nặng nhọc, vất vả, nhưng không uổng công.

«CC-16» ngày càng đi sâu hơn vào bãi băng. Clepicôp đã mầy mò xếp đạt được một bản điện tín mật mã gửi đến tàu «Cường tráng»: «Chúng tôi từ hướng đông nam đến giúp, bật đèn lên». Grigôri Prôkhôrưch vẫn đứng trên cầu một mình giữ lái (vì cả Jilin và Malicôp đều bận chuyển thùng), ông ngắm nhìn phương bắc, nhưng đêm vẫn tối đen và gió vin rít qua những dây kéo buồm, và ông cảm thầy cô đơn, lo âu và buồn tẻ.

Ông không thấy đèn. Đứng trên đống thùng, chính Jilin đã phát hiện ra nó và rối rít kêu lên:

– Tôi thấy rồi! Anh thở đốc, mệt mỏi nhưng sung sướng chạy tới cầu thuyền trưởng và chỉ về phía ngọn đèn xanh yếu ớt. Grigôri Prôkhôrưch thở chậm rãi và khoan khoái, trong bóng tối ông cúi xuống ống nói và nỏi với một giọng khàn khàn, cảm động:

– Trong buồng máy... Nhìn thấy rồi... Các chú cố gắng lên...

Có lẽ vì trong buồng máy người ta đã gắng lên, mà cũng cỏ lẽ vì băng trở nên yếu hơn, nhưng ngọn lửa xanh nhanh chóng gắn lại và chỉ phải chuyển thùng có một lần nữa. Một tiếng sau, Grigôri Prôkhôrưch đã phải lóe mắt vì ánh đèn chói trong gian phòng công cộng quen thuộc và Cuôccôpxki ôm hôn ông rất chặt. Họ nhanh chóng hội ý.

Trung tá đề nghị Grigôri Prôkhôrưch phá hộ lớp băng quanh thân tàu «Cường tráng» để nó có thể xoay cái thân hình dài ngoẳng của mình về phía rãnh nước, sau đó «CC-16» sẽ dẫn ngư lôi hạm đi theo về phía nam. Grigôri Prôkhôrưch vừa nhìn bản đồ vừa lắc đầu: - Thế không được, - ông suy nghĩ rồi nói, - tôi chỉ làm anh chậm lại thôi. Các anh có thể tự đi được, rãnh sẽ không bị ép vào đâu, nó theo đúng hướng gió đấy. Nếu tôi đi chắn ngang thì chắc chắn nó sẽ bị ép lại ngay. Đằng này khi vào đến đường rãnh các anh sẽ cho tốc độ mười hai hải lý, chỉ có điều là đừng đâm vào bãi băng. Các anh cần rút ngay, vì đã bị trôi xa quá rồi...

Ông chỉ lên chấm tròn đánh dấu vị trí cuối cùng trên bản đồ. Bờ có cao xạ địch bố trí đã quá gần.

– Còn về chúng tôi thì không phải lo gì cả, - ông nói thêm khi thấy Cuôccôpxki phân vân. - Chúng tôi sẽ thoát ra khỏi đây. Hơn nữa chắc gì chúng đã phí đạn để bắn chúng tôi. Ông bỗng im bặt, rồi nói nhỏ:

– Nhờ các anh đem giúp về hộ một người của chúng tôi... bị thùng đổ làm bị thương vào chân... Nhỡ có làm sao...

Ông không nói hết câu. Trung tá nhìn vào đôi mắt ông. Với trái tim quân nhân ông đã đoán dược những điều còn chưa nói hết và im lặng cúi hôn thẳm thiết vào bộ râu bạc cứng quèo của bác Grigôri Prôkhôrưch.

– Thế, - bỗng cảm thấy xấu hổ với sự bồng bột của mình, trung tá nghiêm giọng nói. - Trường hợp nhỡ có làm sao, các đồng chí phải đi tới đây, - anh chỉ lên mũi đất nhô ra trên bản đồ, đó là cổ mở rộng về phía tây bắc của vịnh Crônstat. - Chỗ này quân ta đóng, rõ chứ?

– Rõ, - Grigôri Prôkhôrưch cũng nói một cách nghiêm trang.

– Tôi sẽ luôn nghe các đồng chí trên làn sóng. Nhỡ có làm sao thì cho biết ngay... giả dụ bằng một chữ nào đó cho dễ nhớ...

– Nút thắt tôpô, - Grigôri Prôkhôrưch mỉm cười nói. - Anh còn nhớ không, cho đến giờ anh vẫn chưa biết thắt à?.. Thôi, hạnh phúc nhé...

Họ lại ôm hôn nhau lần nữa và Grigôri Prôkhôrưch bước ra. Trong căn buồng ấm cúng ấy ông đã quên hẳn những gì đang xảy ra. Trên boong tàu cơn gió lạnh buốt, suýt làm ông ngã, nhưng ông nhanh chóng bước sang tàu mình đi lên cầu, và «CC-16» bơi dọc theo thành ngư lôi hạm. Cuôccôpxki đợi khi lớp băng quanh tàu anh đã được đánh tan và «CC-16» đến ngang cầu phía sườn kia, liền ra lệnh cho chạy máy. «Cường tráng» cựa mình trong băng rồi đi theo tàu «CC-16». Chiếc này đã phải chậm rãi bơi thành một vòng cung rộng, thế mà «Cường tráng» khó khăn lắm mới chui được chiếc thân thon dài ngoẳng của mình, vào lọt. Cuối cùng nó đi vào rãnh nước đã có sẵn. «CC-16» giảm tốc độ, «Cường tráng» vượt qua nó và dùng mũi nhọn gạt những tảng băng đã bị tàu kéo phá vỡ sang hai bên, nhanh nhẹn tiến phương nam.

Grigôri Prôkhôrưch đã đoán đúng: chỉ có vài ba chỗ là rìa bãi băng là đã bị thân tàu «CC-16» vững chắc cắt đứt, ép lại thôi, nhưng cả ở dây «Cường tráng» cũng vẫn như mũi kim nhọn lọt cả tấm thân thon gọn vào giữa những bờ mép của bãi băng.

Bốn giờ sau nó ra đến vùng nước không bị đóng băng. Thế mà Cuôccôpxki không vui mừng cho lắm: anh đã đánh diện cấp tốc yêu cầu tàu phá băng đến giúp «CC-16», nhưng người ta trả lời là hiện rất bận vì phải dắt hai ngư lôi hạm khác bị giam trong bãi băng. Chiếc tàu phá băng thứ hai tuy hỏng đã từ lâu, nhưng cũng phải rời Crônstat đi cứu những ngư lôi hạm khác nữa...

Chắc trên biển đang xảy ra một sự kiện chưa từng có và bây giờ các tàu phá băng đều bận việc bù đầu.

Thực vậy, cơn bão biển đã lên đến mức cực mạnh. Các bãi băng khổng lồ như những cánh đồng băng, trước gắn chặt vào bờ, bây giờ đang nhanh chóng trôi ngang vịnh lên phía bắc, va chạm nhau, bờ bãi nọ đè lên bờ bãi kia cồng kềnh ép chặt những tảng băng khác vào các kẽ hẹp với một sức mạnh khủng khiếp làm chúng đứt ra và rồi đẩy chúng đi hoặc kéo chúng theo sau. Tất cả cái khối băng khổng lồ từ phương nam kéo tới đó đè chặt lên bãi băng mà tàu «CC-16» đang tìm cách mò mẫm vượt ra sau khi chiếc ngư lôi hạm có máy móc khỏe hơn đã đi xa.

Ngay cả tàu kia cũng đang gặp khó khăn. Cơn giông ngược chiều cứ dội nước xuống boong và cầu tàu làm lạnh cóng toàn bộ dây kéo buồm, cột buồm, đại bác và phần trên mặt tàu, có lúc anh em thủy thủ phải lội trong nước lạnh buốt để phá những lớp băng đang đông lại trên chiến hạm. Tàu «Cường tráng» nặng chúi mũi đi về phía nam, nhưng thỉnh thoảng bỗng phải đổi hướng và nghiêng hẳn sang một bên để vòng tránh bãi băng đang lao tới dọa ôm chặt lấy tàu, kẹp dí nó lại. Trong cuộc vật lộn với vùng vịnh điên cuồng này, Cuôccôpxki đã không để ý đến thời gian. Khoảng gần mười bảy giờ, người ta đưa cho anh một bức điện báo của chỉ huy sư đoàn.

Với ngón tay đã tê cứng Cuôccôpxki cầm lấy bức điện đi vào phòng chòi. Anh đặt nó lên bàn rồi vụng về mở ra đọc. Đồng chí chỉ huy tàu «Cường tráng» ngạc nhiên thấy anh bỗng ngồi phịch xuống đi-văng. Đồng chí nhìn bức điện và thấy trên đó có một dòng chữ ngắn ngủi:

«Mười sáu mười lăm, nút thắt tôpô, hướng Xtiêcxuđen «CC-16»».

: Nguyễn Việt Nga —★— Tiểu đoàn bốn người ebook©MotSAch —★— TVE-4u©macbupda Nhà xuất bản: Nxb Tiến bộ Matxcơva 1974
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Leonid Sobolev

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.