Anh nhân viên ở khối tù nhân Đức và hai người Ba Lan giúp việc trong Trại Nhỏ vẫn ngồi thức một lúc lâu. Thế là đã hai đêm Prơn nằm trong chỗ nấp của anh.
Từ lâu đối với Prơn, tình trạng không thể duỗi thẳng người ra được đã trở thành một cực hình. Các bắp thịt trên gáy bị cúi xuống nóng lên như lửa. Hai chân anh mỗi lúc một yếu đi. Anh không quay người được, không ngồi được, cũng không cúi được. Anh chỉ lấy đầu tỳ vào vách hầm. Lúc này là ngày hay đêm? Một ngày đã qua, hay hai ngày, hay bốn ngày rồi? Prơn rên rỉ, anh mệt quá, lả đi. Anh đã nhắm mắt mà vẫn không ngủ được. Chừng nào anh còn ngồi không cựa quậy thì nỗi đau ở sau gáy còn tê đi, nhưng hễ anh hơi cử động một tí, nó lại nhói vào người anh như một ngọn lửa. Prơn nghiến răng.
Bỗng anh giật mình. Cái nắp trên đầu anh đụng đậy. Trong óc Prơn thoáng nghĩ: Chúng nó bắt được mình rồi! Rồi anh nghe thấy tiếng nói khẽ quen thuộc:
- Frít, anh còn sống chứ?
Những cánh tay quàng vào người anh và kéo anh ra.
Prơn run cầm cập. Dẫu có mặc áo, cái lạnh ẩm ướt của ban đêm vẫn làm anh rùng mình.
- Mau, vào trong nhà!
Hai anh Ba Lan xốc hai bên nách kéo anh đi, hai chân anh cứng đờ. Vào căn buồng nhỏ của anh nhân viên khối, anh mới hồi lại.
Anh nhân viên khối đem tới cho anh một tách xúp nóng. Hai bàn tay run run. Prơn đưa tách lên miệng. Uống nước ấm vào người, máu anh lại chuyển động. Bây giờ anh mới nhớ đến bánh mì. Anh lấy ra một mẩu đã cứng, và cắn một miếng. Một anh Ba Lan chạy vào.
- Chúng nó đến!
Prơn nhảy chồm lên chạy ra, lao vào đêm tối, những người giúp đỡ anh chạy theo. Họ chạy ra hầm cống.
Vừa lúc Prơn sắp chui xuống, thì hai tên SS xuất hiện từ sau một căn nhà trại, trông chỉ như hai cái bóng. Một con chó to chạy trước đánh hơi trên mặt đất. Chốc chốc chúng lại soi lối đi bằng một chiếc đèn bấm tối mờ. Bốn người tù nhân đứng trơ như đá, không dám thở. Những tên SS đi dọc dãy nhà trại chỉ cách đó chừng năm chục bước. Bước chân của chúng nghe lạo xạo. Đôi mắt mở to vì sợ hãi, Prơn thấy bọn SS tiến đến gần. Lúc này, chúng đi qua khoảng trống giữa mấy căn nhà, không xa hầm cống lắm. Chắc hẳn mấy tên SS trông thấy bốn người cũng rõ ràng như chính họ đã trông thấy chúng. Giữa họ với chúng chỉ còn cách mấy bước. Chúng ngập ngừng chăng, chúng đứng tại chăng?...
Con chó nó có ngẩng đầu lên không? Nó có đánh hơi thấy họ không? Trong giây phút lịm đi kinh khủng ấy, tim họ ngừng đập.
Bọn SS đã đi qua khoảng trống và đang tiếp tục đi dọc theo tường nhà... Bốn cái đầu quay lại nhìn đằng sau họ, cặp mắt của họ xuyên vào đêm tối... Thần chết với tất cả hình thù khủng khiếp của nó vừa mới bước qua chỗ họ; vòm trời đen tối đã nâng lên, nó không còn trĩu xuống. Prơn im lặng biến vào trong hầm. Cái nắp nhẹ nhàng đậy lại trên đầu anh. Prơn tỳ đầu vào vách, tâm hồn kiệt quệ. Đến bây giờ anh mới cảm thấy những phút vừa qua nguy hiểm như thế nào.
Sáng hôm sau, Bôkhâu là một trong những người đầu tiên đến chỗ Krêmơ. Phòng của Krêmơ ngày càng mang tính chất một trạm báo động. Việc cứu 46 ứng cử viên của tử thần và việc các tù nhân Do Thái chạy trốn đêm trước là những lời tuyên chiến công khai; mọi người, Krêmơ, Bôkhâu, các trùm khối đã đến, và các tù nhân trong các khối chờ đợi những hành động trả thù. Cho đến nay, bọn chỉ huy trại đều đã dùng đến uy quyền của chúng để trả lời những hành động vi phạm kỷ luật nhỏ nhặt nhất.
Giữa các khối, trong trại, không khí đã trở nên nhộn nhịp. Các tù nhân đứng đây đó đoán xem hôm nay có thể có gì xảy ra. Krêmơ đợi mãi những mệnh lệnh mọi ngày của tên Rainơbốt để cho trại ra điểm danh, tên Rainơbốt chỉ dùng loa gọi bọn phụ trách SS và những người làm bếp của bọn sĩ quan về vị trí của họ. Ngoài ra, không có đội Commando nào khác đi ra. Bỏ qua việc điểm danh cũng như không có những hành động trả thù đều là việc không bình thường. Krêmơ khó chịu nhìn chiếc đồng hồ trên cổng trại. So với mọi ngày thì đã quá hai giờ rồi.
- Hôm nay sẽ không có điểm danh, - anh nói - sẽ không còn điểm danh nữa...
- Tôi nghe đâu, - trong đám trùm khối có một người làm ra vẻ tiên tri lên tiếng. - Tôi nghe đâu tên chỉ huy trưởng cho gọi dây nói đến trường bay gần đây xin cho máy bay oanh tạc đến.
Krêmơ quay ngoắt lại.
- Nghe cóc gì! - Anh gắt với anh trùm khối. - Anh không nghe thấy gì cả! Tất cả những cái chúng ta cần bây giờ là truyền đi những tin đồn làm chúng chạy vãi cứt!
- Đừng có dính vào những chuyện mà chúng ta không rõ - Bôkhâu cảnh cáo. - Việc chúng ta phải làm bây giờ trước hết là đợi, và xem chúng nó phản ứng như thế nào đối với việc các anh em Do Thái chạy trốn.
- Không khí này yên tĩnh quá không hợp với tôi, - Krêmơ lẩm bẩm.
Có tiếng lẹt xẹt trên loa. Mọi người chăm chăm nhìn lên. Dòng điện kêu ì ì, có tiếng thổi vào máy phóng thanh để thử, rồi giọng tên Rainơbốt: Trùm trại, nghe đây. Cho tất cả trại đi lên sân kiểm soát! Tên Rainơbốt nhắc lại câu thông báo, rồi có tiếng lẹt xẹt nữa, loa tắt hẳn. Một sự yên lặng quái gở trùm lên căn phòng. Không ai nói gì; họ đọc những ý nghĩ trên nét mặt của nhau.
Trong trại, lời thông báo gây nên tình trạng nhốn nháo trong các tù nhân. Những người ở bên ngoài đều rầm rì và cùng nói một lúc.
- Chúng ta không đi! Chúng ta không dời đi!
Chỉ trong mấy phút, trại trông như một, thành phố chết, không có một tù nhân nào ở bên ngoài.
- Chúng tôi không đi, chúng tôi không đi!
Các trùm khối ở chỗ Krêmơ về.
- Chúng tôi không đi đâu!
Anh em tù nhân nói với họ như thế.
- Chúng ta phải đi, - các trùm khối trả lời.
Rồi một giờ nữa lại qua.
Trong lúc đó, tên Kluttich và tên Rainơbốt đang ở trong phòng giấy tên Svan. Tên Rainơbốt báo với một giọng hài hước dè dặt:
- Ngài chỉ huy trưởng, trại không ra trình diện.
Và tên Svan chớp chớp mắt, đần độn:
- Sao lại thế? Không trình diện?
Tên Rainơbốt chỉ có thể trả lời bằng một cái nhún vai khe khẽ. Nhưng tên Kluttich bùng lên:
- Những thằng chó đẻ ấy từ lâu đã biết rằng ông không dám đụng đến một sợi tóc của chúng!
Để khỏi phải thừa nhận cái chiến thuật cản trở công khai, tên Svan lại dùng cái tiếng kiêu căng quen thuộc của hắn “úi - úi - úi”, trong lúc đó, hắn nhận được dây nói báo cho biết những chuyến tàu chở hàng hiện có một toa trống; hắn vênh mặt lên với tên Kluttich:
- Được, ông muốn gì nữa nào! Tàu có thể kéo ra được đấy.
Bất chợt, tên Svan gầm lên nói với tên Rainơbốt:
- Cho chúng nó ra trình diện ngay. Nếu trong nửa giờ nữa trong chúng nó không động đậy, tôi sẽ cho một đại đội SS vào trại và lấy roi xua chúng nó ra cổng như xua chó! Khoan đã! - hắn giữ tên Rainơbốt lại. - Khi truyền lệnh của tôi thì anh phải nói bằng một giọng rất cứng, nhưng không được đe dọa. Đồng thời cũng tránh đừng cho chúng nó cảm thấy rằng chúng ta không dám trị chúng nó.
Một nụ cười thoáng hiện hai bên mép tên Rainơbốt. Lời thông báo thứ hai của hắn càng tăng thêm tình trạng huyên náo trong anh em tù nhân. Trại Nhỏ đang trong tình trạng rối loạn ghê gớm. Các trùm khối và các quản trị phòng trưởng gân trương cổ ra mà hét:
- Xếp hàng, xếp hàng!
Tù nhân xúm xít trước các khối, như đám trâu bò, người nọ đẩy người kia lên trước. Người ta có thể nghe tiếng kêu tiếng hét bằng đủ các thứ tiếng, nhưng không ai bước một bước. Và ngay cả các trùm khối, mặc dầu chạy đi chạy lại chung quanh, đám người cứ xoay tròn, vừa kéo, vừa đẩy, vừa hét, nhưng chẳng người nào cố gắng làm cho họ xếp hàng. Họ đang kéo dài thời gian một cách tuyệt vọng.
Ở các nơi khác trong trại cũng như vậy. Cố nhiên là các tù nhân tập hợp trước nhà khối, nhưng có lập lại trật tự được cũng còn lâu. Cứ như thế, lại kéo thêm được một giờ nữa.
Krêmơ đã chạy đến Trại Nhỏ. Đến đó, anh nghe thấy thông báo của tên Rainơbốt nhắc lại:
- Trùm trại, cho họ đi! Cho họ đi!
Tiếng hét dội vào đám người có vẻ hăm dọa đến nỗi Krêmơ chỉ cần đến đứng ở phía trước là đám người cũng đã phải cử động. Bây giờ các trùm khối hướng từng khối vào hàng ngũ đi đều, chậm chạp bò lên đồi, đến sân kiểm soát. Các khối còn lại trong trại đi tiếp theo. Chỉ có các anh em hộ lý trong y xá và trong căn nhà truyền nhiễm 61 là ở lại với bệnh nhân của họ, cũng như các tù binh Liên Xô bị biệt lập khỏi những nơi khác trong trại, không ra đó.
Gần hết buổi sáng, cả trại mới sắp hàng xong. Trong hình ô vuông khổng lồ, không thấy có những phù hiệu của các khối tù nhân Do Thái; họ đã lẩn vào đám đông và biến mất trong đó. Hàng ngũ vừa xếp xong, bọn chỉ huy khối và chỉ huy Commando đã xông vào, tay đấm chân đá, và kéo ra ngoài hàng tất cả những người nào trông bề ngoài có thể cho là Do Thái. Các khối không xê dịch, nhưng dạt về phía này rồi dạt về phía khác như cánh đồng lúa. Các tù nhân Do Thái trốn vào giữa các hàng người, nấp đằng sau các tù nhân, và khi một tên SS túm được họ thì họ bị đánh đập vô cùng tàn nhẫn.
Bọn chỉ huy khối tóm được một số khá đông anh em trong những khu nhà Trại Nhỏ. Trong chốc lát, hàng ngàn tù nhân Do Thái đã bị chúng lấy dùi cui dồn ra khỏi các khối và đưa đến cổng. Đến đó, họ níu lấy nhau, vì bị những tiếng huyên náo sôi nổi giữ lại. Bên ngoài, đàn chó đang sủa oăng oẳng trước hàng rào. Bọn chỉ huy khối chạy ra cổng. Tình trạng nhốn nháo trong các hàng ngũ dịu đi, các khối mệt mỏi đứng lặng đi như hết máu.
Trong khi bọn chỉ huy khối tiếp tục đánh đập các tù nhân Do Thái ở cổng để xếp họ thành hàng trật tự và một trăm tên SS mang súng các-bin và chó tiến đến gần, thì giọng tên Rainơbốt hét lên trước sân kiểm soát qua chiếc loa ở tháp canh:
- Mọi người khác trở về khối!
Việc đó hoàn thành một cách rất vội vã. Như bị cơn lốc cuốn đi, khối tù nhân nhốn nháo chạy ù về trại Trên đường về các khối, dòng người ách lại chen chúc nhau qua những lối hẹp rồi lại phình ra tỏa ra khắp trại, chui vào dưới mái các nhà khối. Mệt mỏi, các tù nhân gieo mình xuống những chiếc ghế dài, ngực phập phồng, thở hổn hển. Đấy, lúc kết thúc là như thế đây! Bây giờ mọi người đã biết mình có thể chờ đợi những gì.
Lợi dụng tình trạng hỗn loạn lúc ra đi, Bôgoxki đã rời khối chạy đến chỗ Bôkhâu. Họ nhanh chóng đồng ý với nhau.
Bôgoxki vội vã báo tin cho Krêmơ, và Bôkhâu chạy đến khối Pribula. Rồi anh Ba Lan trẻ tuổi tìm Kôđixéc. Những người được triệu tập vội gặp nhau ở khối 17 để thảo luận mấy phút. Trên mặt mọị người còn hừng hực. Đôi tay Krêmơ lúc này hất chiếc mũ ra sau đầu cũng đang run run.
Pribula ngồi trên giường, hơi thở anh rít lên nghe rõ qua kẽ răng, hai nắm tay chắp vào nhau, Bôgoxki biết anh chàng trẻ tuổi kia đang xúc động mãnh liệt như thế nào. “Nyet”, anh chỉ nói có thế, và lắc đầu. Pribula ngước nhìn Bôgoxki, và Bôgoxki nói tiếp bằng tiếng Ba Lan:
- Chúng ta phải chiến đấu bằng chờ đợi, và chờ đợi nhưng chiến đấu...
Thái độ nóng ruột của Pribula khích thái độ bình tĩnh bên ngoài của Bôgoxki.
- Chờ, cứ chờ mãi! - Pribula lẩm bẩm, trong bụng ấm ức.
Những điều họ vừa trải qua hãy còn rung động trong Bôgoxki và những người khác, và rạo rực lên như trong những lời nói của Bôkhâu:
- Các đồng chí, chúng ta đã có thể trì hoãn chuyến đi thứ nhất hơn một ngày.
Anh phải dừng lại vì hơi thở anh dồn ra quá mạnh.
Bứt rứt, Pribula đấm hai tay lên đầu gối.
- Bao giờ cũng trì hoãn, trì hoãn! - anh lại lẩm bẩm.
Làm như không nghe thấy gì, Bôkhâu quay sang phía Krêmơ, nhưng câu anh nói lại là một câu trả lời cho Pribula.
- Bây giờ mọi thứ là tùy anh đấy, Vante ạ. Trì hoãn, trì hoãn!
Quay sang Pribula, anh kêu lên, giọng khàn khàn:
- Không có cách nào khác!
Pribula chán nản nhổm dậy:
- Dobrze...
- Uvaga![1] Bôgoxki nói với anh Ba Lan - chúng ra yếu, vì chúng ta không ngăn cản nổi cuộc dời trại. Được, nhưng bọn phát xít cũng yếu.
Bôgoxki quay về phía những người khác.
- Nhưng mặt trận càng đến gần hơn, chúng ta càng mạnh, và bọn phát xít càng yếu, - Bôgoxki kéo vai Krêmơ nói. - Khi thằng Kluttich bảo anh chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi, anh trả lời nó, thưa vâng, tôi chuẩn bị đầy đủ cho chuyến đi - Bôgoxki tràn đầy sức sống khi anh nói với Krêmơ, đồng thời cũng nói với những người khác. - Những chuyến đi - anh nói - sẽ tập hợp như thế nào để mỗi lần chỉ giao cho bọn phát xít những phần tử không thể tin cậy nhất về chính trị và về tinh thần. Trại phải được tẩy uế. Anh phải như một vị tướng trong chiến tranh - anh nói với Krêmơ - Những chỉ thị của anh là những mệnh lệnh gang thép; không thể thay đổi được! Anh hiểu chứ?
Krêmơ lẳng lặng gật đầu. Bỗng tiếng còi báo động lại rú lên. Như cũng bị nỗi sợ hãi thúc đẩy, tiếng rú của nó rung lên đến độ cao nhất và tiếng rung của nó tràn ngập khắp trại.
- Khơrasô! - Bôgoxki khoái trá - Báo động! Ngày nào cũng phải có. Một lần, hai lần, thế là chúng nó không dời trại được.
- Ta đi thôi! - Bôkhâu giục.
Krêmơ đưa bàn tay cho anh người Nga bắt, nhưng Bôgoxki kéo Krêmơ lại mà hôn.
Một tấn bi kịch lặng lẽ đang diễn ra ở xà lim số 5. Hai người vẫn còn phải đứng. Nhưng có một điều hơi lạ là tên Mandrin cứ để mặc họ đó từ lúc hắn quàng những dây thòng lọng lên cổ họ. Họ đã gầy quắt đi, như một bộ xương, và sọ của họ trông như đầu người chết trong đó đôi mắt vẫn cháy lên rừng rực. Râu mọc lởm chởm khiến mặt họ trông lại càng dễ sợ. Đã mấy ngày, tên Mandrin không cho họ ăn uống gì, và Fơxtê vẫn không làm thế nào tuồn vào cho họ một mẩu bánh. Cái góc để chiếc thùng lõng bõng những cứt đái bốc mùi sặc sụa cả lên; không khí hầu như không thở được nữa.
Hôm trước, khi tên Rainơbốt thét gọi các tù nhân Do Thái ra, Hơfen đã vươn cố lên nghe xem có cái gì ở bên ngoài và đã bắt đầu nói thầm một cách lạ lùng.
- Marian...
- Tak?
- Cậu có nghe không?... Các anh em Do Thái... Họ được thả... Họ sắp về nhà... Chúng mình cũng sắp về nhà cả...
Hôm nay, từ lúc sáng, Hơfen bị băn khoăn lo lắng khác thường. Một sự im lặng nặng nề đè lên cái hành lang boong-ke. Không có xà lim nào mở khóa, không có tiếng ồn ào của tên Mandrin thường vẫn gây nên. Giờ đánh thức buổi sáng sớm đã qua rồi. Hai người đã đứng một lúc lâu, mặt quay ra cửa. Đã đến giờ điểm danh của trại. Không thấy gì động đậy. Giờ điểm danh đã qua.
Hơfen càng nóng ruột.
- Có chuyện gì không hay đây, - anh lo sợ nói thầm.
Bỗng anh quên rằng mình phải đứng yên một chỗ, anh lảo đảo đi ra cửa sổ, chăm chú nhìn cái hình vuông nhỏ.
Krôpinxki hoảng hốt, thì thào van lơn:
- Về chỗ đi, Anđrê, Mandrin nó thấy anh ở cửa sổ thì nó giết chúng mình.
Hơfen vùng vằng lắc đầu:
- Nó không thể giết được! Chúng ta đã có thừng ở quanh cổ rồi.
Nhưng anh cũng quay lại và đứng vào chỗ cũ như cái máy. Anh đứng nghe ngóng một lúc lâu, nuốt ực mấy cái; yết hầu nhô ra trên cổ chạy xuống, các mạch máu trên gáy đã khô héo, giần giật. Hình như Hơfen đang suy nghĩ ráo riết về một điều gì. Bỗng anh lại lướt ra cửa xà lim, áp tai vào cửa nghe ngóng.
- Anh ơi, - Krôpinxki van lơn - anh quay vào đi...
Hơfen trợn mắt nhìn Krôpinxki hoảng sợ.
- Đi rồi! - Anh buột miệng. - Họ đi cả rồi!
Anh nhón chân đứng lên ở cửa, giơ cao hai cánh tay. Nhưng trước khi anh đấm được hai nắm tay điên dại vào cửa thì Krôpinxki đã đến bên cạnh, kéo anh lại. Hơfen lăn người vào tay Krôpinxki rên rỉ.
- Họ đã quên chúng mình!... Chúng ta bị đơn độc trên đời!... Chúng ta sẽ chết ngạt ở đây mất!
Kròpinxkì ôm Hơfen vào mình như ôm một người anh, cố vuốt ve anh, nhưng các giác quan của Hơfen đã bình tĩnh lại. Anh vùng ra kêu lên:
- Chết ngạt... Chết ngạt mất...
Hoảng sợ, Krôpinxki đưa một bàn tay lên bịt miệng anh, làm cho tiếng kêu thành tiếng ú ớ. Hơfen dùng một sức mạnh bất ngờ xảy ra, hai người vật lộn với nhau. Hơfen kéo được bàn tay Krôpinxki ra, Liếng kêu được thoát văng ra the thé như tiếng kèn. Khiếp sợ trong tuyệt vọng, Krôpinxki cố sức giữ Hơfen đang điên cuồng vùng vằng và bịt miệng anh ta lại. Tiếng ú ớ trong cổ họng, thỉnh thoảng lại buột ra thành tiếng kêu. Hơfen vật vã trong hai cánh tay đang giữ anh lại, nhưng đã quá muộn.
Cửa xà lim mở, tên Mandrin bước vào, đằng sau hắn là Fơxtê, nhợt nhạt lặng lẽ như một cái bóng. Kinh hãi, Krôpinxki buông con người đang kêu ra, trố mắt nhìn. Mandrin không nói một lời. Hắn nheo mắt lại nhìn Hơfen đang kêu la, nhưng chỉ vài gíây thôi. Rồi tên Mandrin đánh cho anh một cái thật mạnh. Hai tay quều quào chống đỡ, Hơfen loạng choạng ngã vào một góc, văng người vào tường, ngã xuống, vồ lên thùng phân.
Đống phân kinh tởm bắn tung lên người anh, và anh gục xuống bất tỉnh. Tên Mandrin nhìn kỹ hiệu quả nhát đòn của hắn bằng con mắt thản nhiên rồi bước ra khỏi xà lim. Hắn dừng lại trước cánh cửa đã đóng và nói giọng hăm dọa:
- Nếu nó chết trước trong tay tao...
- Phải cho nó rửa ráy đi, - Fơxtê đánh bạo nói.
Tên Mandrin lạnh lùng nhìn Fơxtê:
- Từ thiện, hả? - Hắn trở về phòng và để anh gác cửa lại đó, không buồn ngó tới nữa.
Do có báo động, chuyến đi của các tù nhân Do Thái bị ách lại. Khi tiếng còi rú lên, tên Kluttich cho lũ chó xua đám người vào một cái xưởng vắng ngoài trại; đó là tàn tích của một nhà máy sau vụ oanh tạc tháng Tám năm 1944. Những đoàn máy bay nặng đang bay thật cao trên trại.
Trên con đường từ Vaima đến trại, báo động nổi lên vừa lúc một đoàn hàng ngàn tù nhân từ những trại phụ ở núi Hácxơ và Tuyarinh chạy trốn quân Mỹ kéo về Bukhânvan. Tiếng còi suốt từ Vaima và các làng quanh đó rú lên chung quanh họ, hai bên lại có bọn lính gác chĩa súng các-bin vào họ, đoàn người khổ cực buồn thảm đi như bò trên đường. Ngoài trời không có chỗ nào ẩn nấp. Mặc dầu những đoàn máy bay bay cao không có nghĩa là nguy hiểm trực tiếp nhưng việc báo động đã làm bọn SS đi áp tải điên tiết. Như những tên chăn bò hò hét, bọn hạ sĩ mình đầy bụi dất xông vào đoàn người đi, tay cầm những cành cây vừa bẻ trên cây, quất vào những con người rách rưới, lấm bê bết và đã kiệt sức, bắt họ chạy. Như những con vật hoảng sợ, con nọ mắc vào con kia, đám người đành giơ mình hứng trận mưa rồi tàn nhẫn của bọn hung đồ. Nhưng đoàn người vẫn không đi nhanh hơn.
- Chạy đi, chạy đi! Có chạy không!
Chân không còn đủ sức, cũng không có chỗ mà bước; chỉ những cái gặt đầu ngật ngưỡng tỏ rằng những cặp chân kéo lê ấy đang cố rảo bước. Trên cái dòng lố nhố những đầu người ấy, những đoàn máy bay rống lên và những chiếc dùi cui nhảy nhót. Những mảnh quần áo rách bay lất phất chung quanh những bàn chân không, toác da chảy máu. Những đôi guốc làm họ khổ sở đã bị mất trên con đường dài hoặc đã bị họ vứt đi. Tiếng ầm ì của máy bay và tiếng gào thét của những tên hạ sĩ hòa với nhau thành một giọng điệu song âm ghê tởm.
- Chạy đi, chạy đi!
Những tên hạ sĩ điên cuồng ở bốn bề thúc họ tiến lên.
Những tiếng súng nổ, những người gục xuống, những người bị bắn nằm co quắp trên đường, bọn lính áp tải kéo họ sang một bên, để họ nằm đấy.
- Chạy đi, chạy đi!
Tiếng đòn, những tiếng súng, tiếng kêu, tiếng rên, máu, bụi, đất, những bàn chân dẫm thình thịch, những cái gật đầu ngật ngưỡng... Những người đã sắp gục xuống được nâng lên và kéo đi; người nào ngã xuống dưới gót con quỷ nghìn chân đều bị giẫm lên. Từ Vaima đến trại phải đi năm dặm đường. Nông dân trên đường gặp đoàn người này thì cẩn thận dạt qua một bên. Hai tên hiến binh cưỡi xe đạp lên nói với bọn hạ sĩ.
- Các anh bắn chết người rồi để lại đó à. Khi quân Mỹ đến, họ sẽ bắt chúng tôi chịu trách nhiệm đấy.
- Im đi! Đó là việc của chúng tôi! Đi!
Còn bốn dặm rưỡi nữa đến trại. Con đường đã lên dốc, họ đã tới đồi.
- Chạy đi, chạy đi!
- Tôi không đi được nữa, tôi không đi được nữa...
- Cố lên, anh bạn, cố lên, chúng ta sắp đến đó rồi...
Sau khi đi một giờ, họ bắt đầu đến khu rừng. Đồi càng dốc tợn. Những tiếng kêu rên kiệt sức vang to hơn. Bọn SS không lúc nào ngừng đánh đập.
Những phát súng nổ!
Lại một người nữa; hai người nữa, ba người...
Những bước đi như chạy đã dồn dập hơn. Đoàn người đã tỏa dài ra, chân cẳng có chỗ rộng hơn mà bước. Đầu hướng về phía trước, đờ đẫn, sửng sốt, đám người vẫn loạng choạng, lảo đảo đi lên... Có người trong hàng khuỵu xuống, dang tay ra giữ mình khỏi ngã xuống...
- Đi đi, đồ thối thây!
Ai ở lại sau là chết...
Lạy chúa, đừng để tôi phải nằm lại đây!
Dốc hết tàn lực, con người kiệt sức lại gắng gượng đứng dậy, nhưng anh ta đã bị một tên lính gác kéo ra khỏi đoàn người đang lê bước. Anh cứ cố bò lên; nhưng một tên hạ sĩ đã rút súng, và đá cho con sâu ấy một đá:
- Mẹ kiếp đồ chó!
Một phát súng nổ, rồi một phát nữa!
Họ vẫn tiếp tục đi, đi lên nữa, lên ngọn đồi.
Bây giờ, Vaima lùi xa lại đằng sau. Mỗi người cảm thấy trại đã gần. Họ đi qua những tấm biến trắng có chữ đen: Khu Tổng Hành Dinh. Chú ý... với cái sọ người và hai khúc xương bắt chéo thay cho chữ ký.
Một số bọn hạ sĩ quan SS đi vượt lên trước. Chúng dừng lại và đứng nguyên đó. Cả đoàn người cũng đứng lại.
Bốn tù nhân đội mũ sắt, đeo mặt nạ phòng hơi độc và túi cứu thương, đang đứng trước mặt chúng.
- Chúng mày là những giống gì?
Một người đứng nghiêm báo cáo:
- Tiểu đội cứu thương. Theo lệnh ngài chỉ huy trưởng, trong lúc báo động máy bay oanh tạc, chúng tôi ra ngoài những trạm gác.
Bọn sĩ quan nhìn nhau thú vị:
- Còn cái trò gì mà ở đây họ không có nữa. Này, mấy thằng hề, đây đến trại còn bao xa nữa?
- Thưa ngài thiếu úy, còn đi mười phút nữa.
Một cái phất tay, và con rắn lại bắt đầu bò đi, qua các hầm hố, trong đó bọn lính của vòng gác ba chặng đang ẩn nấp.
Rồi tiếng còi bắt đầu rú lên cho đến lúc hơi thở dài của nó chấm dứt, lè rè: Báo hết. Ở chỗ cây chắn, người nhốn nháo. Khi bọn hạ sĩ SS tới, những tên lính canh đã ra khỏi hầm.
- Có tất cả bao nhiêu thằng rơm rác ở đây? Chúng tôi không biết. Có lẽ ba nghìn rưỡi? Hay có lẽ chỉ ba nghìn, chúng tôi làm sao biết được trên đường có bao nhiêu thằng ngoẻo? Chúng tôi đã phải đi bộ hơn một tuần nay. Chúng tôi ở Ôđrúp, ở Muynhanxen, ở Bec-xtet và ở Apđêrôt đến.
Một tên lính canh gọi dây nói cho Rainơbốt. Bốn người trong tiểu đội cứu thương báo cáo trở về trại và rảo bước lên con đường tắt. Họ họp lại với những người khác, và tiểu đội cứu thương đi về phía cổng. Tên Rainơbốt ngồi trên mô-tô vút qua mặt họ chạy ra chỗ cây chắn.
Sau còi báo hết, khắp trại trở lại hoạt động. Tù nhân tập hợp trước các khối. Số mệnh đã thọc cái gậy của nó vào tổ kiến và gây nên một sự rối loạn. Những câu chuyện lan từ nhóm này sang nhóm kia. Giả thuyết, lo sợ và những tin đồn tung ra.
- Chúng nó định đem chúng mình đi đâu?... Chúng ta sẽ không đi khỏi trại đâu...
- Nếu chúng mình không chịu, chúng nó sẽ bắn chết cả trại. Hình như thằng Svan hỏi xin máy bay oanh tạc ở trường bay Nôra...
- Đừng có nói nhảm thế, anh kia, - Có vài chiếc máy bay thì chúng nó còn cần cho mặt trận...
- Thế nhỡ chúng nó dội bom hơi ngạt?...
- Nói bậy! Thế thì tự chúng nó cũng nguy.
Trong khi đó, các liên lạc viên của các ủy viên ILK chạy từ khối này sang khối kia báo cho những người phụ trách các nhóm kháng chiến. Họ chen chỉ thị vào giữa những câu chuyện lộn xộn.
- Chúng ta phải trì hoãn việc dời trại. Quân Mỹ sẽ có thể tới đây nay mai. Hình như họ đến gần Aidơnac và Maininhgen rồi.
Tên Rainơbốt vụt trở về trại. Rồi một đám đông gồm những người yếu đuối lại bị xua ra cổng. Tên Rainơbốt lại hét qua máy phóng thanh: Tất cả các trùm khối và đội tuần tra ra cổng! Những tiếng gọi ấy lại khấy động thêm nỗi lo sợ. Có cái gì thế? Các trùm khối chạy đến phòng nhân viên và tụ tập ở đấy. Cửa miệng tòa nhà cổng lại nhả ra một đám người lúc nhúc đang đi vào trại.
Trước đám người nhốn nháo kéo nhau vào trại, tên Kluttich gào lên kinh tởm:
- Các anh làm thế đếch nào thì làm, tôi chán lắm rồi!
Tên Rainơbốt hét lại:
- Ông đã vứt tất cả cho tôi. Tôi chỉ là người chỉ huy điểm danh thôi, dù sao đấy cùng là nhiệm vụ của ông...
- Nhiệm vụ của tôi à? Thôi đi, tôi chỉ là phó! Kệ cho Vaixangcơ lo về cái đó! Cái thằng chó má ấy chẳng làm gì cả, chỉ chúi vào trong phòng giấy lão Svan thôi?
Thực ra, tên Kluttich đã để mặc cho thằng chó trẻ tuổi kia giải quyết đám người và bỏ đến câu lạc bộ sĩ quan.
Mấy chiếc cam-nhông được gọi vội đến dừng lại trước cổng. Bọn lính gác SS nhảy ra. Tên Rainơbốt không chờ cho bọn chỉ huy khối đứng vây chung quanh sân kiểm soát đã để cho đoàn người kéo ùa qua cổng, và hét bảo Krêmơ lúc đó cùng với các trùm khối chạy đến:
- Cho tất cả bọn này vào các khối, mau lên!
- Các khối đã đầy ùn cả, chưa ngài chỉ huy điểm danh.
Tên Rainơbốt kéo dài cái giọng lè nhè của hắn:
- Tao không cần biết! Đem tất cả những người trên sân kiểm soát đi!
Đội tuần tra vừa đến báo cáo, hắn đã giục ngay họ:
- Hai mươi lăm người lên xe cam-nhông. Đi ngay đi! Nhặt hết những xác chết trên đường!
Họ chạy biến đi như có người đuổi theo sau lưng.
Những chiếc cam-nhông rú lên chạy. Krêmơ phải hành động thật mau chóng. Được các trùm khối và anh em trong đội tuần tra còn lại giúp đỡ, anh bảo dẫn từng tốp lớn những người tới sân kiểm soát về nhà tắm. Các tù nhân trong trại kéo ùa đến sân gặp họ, đứng chen lẫn với những người mới.
- Các anh ở đâu tới? Có chuyện gì ở bên ngoài thế?
Các trùm khối và đội tuần tra ngăn những anh em tò mò lại, đẩy họ lùi ra. Họ vẫn chạy quanh, quang cảnh trở nên hỗn độn như chẳng còn trật tự gì nữa. Mọi người đều ùn lại trước nhà tắm. Krêmơ phải hết sức bình tĩnh. Phải có chỗ ở cho họ trong các nhà khối hiện nay đã chật ních. Tình hình khẩn cấp không cho phép tranh cãi gì nữa, Krêmơ phải ra lệnh.
Một anh trùm khối kêu lên thất vọng:
- Tôi biết nhét họ vào đâu được nữa? Các bức tường ở trong khối đã xiêu vẹo cả rồi!
Krêmơ hét lại:
- Cả trại đều chật ních, không chỉ riêng khối anh! Đây này, lấy năm chục người và cho họ đi ngay đi!
Trại Nhỏ nhét được bao nhiêu là cứ phải nhét. Krêmơ cho những người mới đến vào những chỗ trống ở các khối Do Thái. Những khối trước đây đã tách bạch rõ ràng theo từng nước khác nhau nay đã thành lẫn lộn đủ các nước. Điều đó không sao, cứ để họ vào đâu cũng được. Nào ai biết họ sẽ còn ở đó bao lâu nữa? Cả trại cứ rầm rầm rì rì không sao yên được. Đã hết buổi chiều rồi mới kiểm soát xong đám người ùn đến ấy.
Trong khi đó, những xe cam-nhông mang người chết nhặt trên đường đã về. Hai mươi lăm người của đội tuần tra trở về khối của mình, những chiếc xe biến mất sau bức tường gỗ của lò đốt xác. Các anh em Ba Lan khiêng xác trèo lên xe, nhấc người chết lên, đung đưa quăng họ xuống. Những xác chết văng lên trong không trung, cái thì đầu đi trước, cái thì chân trước, rơi xuống đánh bịch một cái. Đống xác cao dần thành ngọn; có những xác chết để ngồi, như những người say mèm bị vứt ra khỏi tiệm rượu. Có những xác bị lộn ngược, đầu chúc xuống đất, chân tay dang ra, và cứ để nguyên như vậy. Chốc chốc, một cái xác ở trên xe lăn xuống cùng với cái xác nữa bên cạnh, hai xác này ôm chặt lấy nhau lần cuối. Có những xác nhảy lên trông rất ngộ nghĩnh ai thấy cũng bật cười, và có cả một vài xác chết còn cười nữa. Những cặp mắt họ còn mở trừng trừng, miệng rúm lại như cười. Họ lăn xuống... và đống xác chồng lên cao dần như một ngọn tháp.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Ba Lan: Đây này!