Nhiều dịch giả

Truyện ngắn Ernest Hemingway

Lượt đọc: 29148 | 7 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tố giác

❊ ❊ ❊

Quán Chicote ngày trước ở Madrid là một nơi kiểu như quán The Stork, không có nhạc và những tiểu thư mới lớn, hoặc giống như câu lạc bộ Waldorf dành cho cánh đàn ông nếu họ cho phép các cô gái vào. Bạn biết đấy, các cô gái có thể vào nhưng bởi đó là nơi dành cho nam giới nên họ chẳng được quan tâm gì cả. Pedro Chicote là chủ quán và cá tính của ông đã tạo nên phong cách riêng cho quán. Ông là người đứng quầy giỏi, luôn thoải mái, dễ chịu và cực kỳ vui vẻ. Thời buổi bây giờ, nhiệt tình là thứ hiếm hoi và ít người giữ được nó lâu dài. Điều này không thể lẫn lộn với nghệ thuật quảng cáo của các cửa hàng. Sự nhiệt tình mà Chicote có được không phải là thứ giả dối hay được khoác vào. Ông cũng luôn khiêm tốn, giản dị và rất thân thiện. Ông thực sự dễ chịu, thoải mái và vẫn còn khả năng kỳ diệu như George, người phục vụ tại quán Ritz ở Pari. Đó là cách so sánh cao nhất mà bạn có thể dành cho bất kỳ ai trong nghề; ngoài ra ông còn điều hành khéo léo một quán rượu hấp dẫn nữa.

Hồi đó, bọn trưởng giả học làm sang trong đám thanh niên nhà giàu ở Madrid hay la cà ở nơi có tên gọi là Nuevo club còn dân xịn thì đến Chicote. Tôi không có thiện cảm với nhiều người tới đó, cũng như với những người lớn tới The Stork nhưng tôi chưa bao giờ thấy không thoải mái khi ở Chicote. Một lý do là ở đây người ta không nói chuyện về chính trị. Có nhiều quán cà phê mà ở đó, bạn đến là để nói chuyện chính trị. Bạn có thể nói quanh nhiều chủ đề khác nhau rồi tối đến, tất cả những cô gái dễ thương nhất trong thành phố xuất hiện ở đấy và bắt đầu một buổi tối vui vẻ, chúng tôi đã có nhiều buổi tối dễ chịu khởi nguồn ở đó.

Hồi ấy, quán còn là nơi bạn ghé vào để biết tin ai đã rời thành phố đi đâu hoặc ai mới tới. Và nếu mùa hè, không còn ai trong thành phố, thì lúc nào bạn cũng có thể ngồi thưởng thức một cốc gì đó vì tất cả những người phục vụ đều nhiệt tình.

Chicote giống như một câu lạc bộ mà bạn không phải trả một chút xíu phí tổn nào và có thể rủ một một cô nàng ở đó đi chơi. Chắc chắn nó là quán rượu tốt nhất Tây Ban Nha và tôi nghĩ nó là một trong những quán tốt nhất thế giới; tất cả chúng tôi, những người thường lui tới đây, đều có tình cảm gắn bó với nó.

Một điều nữa là thức uống ở đây rất tuyệt. Nếu bạn gọi một ly Martini thì nó sẽ được pha bằng thứ rượu ngon nhất hợp túi tiền, Chicote có loại whisky nguyên thùng lấy từ Scotland tuyệt hơn những thứ rượu quảng cáo khác đến nỗi quả là thảm hại khi so sánh nó với những loại Scotch thông thường. Khi chiến tranh nổ ra, Chicote đến San Sebastian để điều hành quán rượu mùa hè của mình. Ông vẫn còn quản lý nó và người ta nói đấy là quán rượu ngon nhất trên đất Tây Ban Nha của Franco. Những người phục vụ tiếp quản rượu ở Madrid cho đến ngày nay, nhưng thứ rượu ngon ấy bây giờ không còn nữa.

Hầu hết khách quen của Chicote đều theo phái Franco nhưng vài người trong số đó lại về phe Cộng hòa. Bởi đó là một nơi rất vui nhộn và bởi vì những người thực sự vui nhộn thường là những người dũng cảm nhất lại là những người bị giết nhanh nhất nên phần lớn những khách cũ của Chicote bây giờ đã chết cả rồi. Loại whisky thùng đã hết được vài tháng nay và chúng tôi cũng đã uống hết chỗ rượu gin vàng cuối cùng vào tháng 5 năm 1938. Bây giờ, ở đó không còn nhiều thứ đáng để đến nên tôi cho rằng nếu Luis Delgado đến Madrid muộn hơn một chút, hắn có lẽ đã không tới đó và đã không gặp rủi ro. Nhưng khi hắn tới Madrid vào tháng 11 năm 1937, họ vẫn còn rượu gin vàng và thứ rượu ký ninh của dân da đỏ. Những thứ đó chẳng đáng để người ta liều mạng tới uống, nên có lẽ hắn chỉ muốn uống một cốc ở nơi quen thuộc. Biết rõ hắn, biết rõ nơi đây trong những ngày trước thì ta có thể hiểu được sự việc.

Hôm ấy, ở Đại sứ quán người ta làm thịt một con bò và cậu bồi gọi đến khách sạn Florida cho chúng tôi biết rằng người ta đã để dành cho chúng tôi khoảng năm cân thịt tươi. Tôi đi tới đó nhận thịt lúc trời nhá nhem tối trong một ngày mùa đông Madrid. Hai vệ binh mang súng trường ngồi trên ghế, ngoài cổng Tòa đại sứ, và thịt đã để sẵn ở trong phòng của cậu bồi.

Cậu ta bảo miếng thịt rất ngon tuy con bò hơi gầy. Tôi móc túi áo khoác mời cậu ta ăn ít hạt hướng dương rang và vài củ đấu, chúng tôi đứng tán chuyện một lúc trên lối dành cho ô-tô có rải sỏi của Tòa đại sứ bên ngoài phòng cậu ta.

Tôi đi bộ về, băng qua thành phố với tảng thịt nặng xách trong tay. Chúng đang nã pháo xuống Gran Via, tôi rẽ vào Chicote chờ cho qua đợt pháo kích. Quán ồn và đông, tôi ngồi xuống chiếc bàn nhỏ trong góc, tựa vào cửa sổ chất đầy bao cát, còn miếng thịt thì để trên cái ghế dài bên cạnh và uống rượu gin pha nước khoáng. Không ai gọi thứ nước này từ khi chiến tranh nổ ra và nó vẫn được bán với giá cũ như từ trước chiến tranh. Chưa có báo buổi chiều nên tôi mua ba tờ tin Chính đảng của một bà già. Giá bán mỗi tờ mười cent, tôi đưa một đồng peseta và bảo bà ta không phải trả lại tiền thừa. Bà nói Chúa sẽ phù hộ cho tôi. Tôi không tin vào điều đó nhưng vẫn đọc ba tờ tin ấy và uống rượu gin pha nước khoáng.

Anh bồi, tôi biết từ trước, đến bên bàn nói vài câu với tôi.

“Không”, tôi nói. “Tôi không tin là như vậy”.

“Đúng đấy”, anh ta khẳng định lúc nghiêng đầu và cái khay cũng nghiêng theo cùng hướng. “Bây giờ đừng nhìn. Hắn đang ở đó”.

“Đấy chẳng phải là việc của tôi”, tôi bảo anh ta.

“Thì tôi cũng thế”.

Anh ta quay ra, tôi mua giấy mời báo buổi chiều vừa được một bà già khác mang vào rồi đọc. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa về người đàn ông mà anh bồi vừa nói. Cả hai chúng tôi đều biết rõ hắn. Tất cả mọi điều mà tôi có thể nghĩ là: đồ ngốc. Thật là ngốc đến không chịu nổi.

Vừa lúc đó, một người bạn Hy Lạp đi vào và ngồi xuống bàn. Anh ta từng là đại đội trưởng thuộc Lữ đoàn mười lăm, và đã tùng bị bom vùi trong lúc bốn người khác bị chết, anh được gửi về bệnh viện để theo dõi một thời gian rồi chuyển đến nhà an dưỡng hay một nơi đại loại như vậy.

“Anh khỏe không, John?” tôi hỏi. “Uống thử cái này xem”.

“Anh gọi thức uống này là gì vậy hả Emmunds?”

“Gin pha nước khoáng”.

“Nước khoáng nào thế?”

“Ký ninh. Thử xem”.

“Chà. Tôi không muốn lắm nhưng ký ninh thì lại rất tốt cho bệnh sốt. Tôi sẽ nếm một chút thôi”.

“Bác sĩ bảo anh thế nào hả John?”

“Đâu có cần thiết phải đi bác sĩ. Tôi có sao đâu. Chỉ có điều lúc nào đầu tôi cũng kêu o o”.

“Anh phải đi khám thôi, John ạ”.

“Tôi cũng có đi. Nhưng họ không hiểu. Họ bảo tôi không có đủ giấy tờ để nhập viện”.

“Để tôi gọi điện cho”, tôi nói. “Tôi biết mấy tay ở đó mà. Có phải tay bác sĩ người Đức không?”

“Phải đó”, John nói. “Tay người Đức, nói tiếng Anh tồi lắm”.

Vừa lúc đó, anh bồi đi tới. Anh ta đã già, hói đầu và vẫn giữ phong cách phục vụ theo kiểu cũ mà chiến tranh không thể làm thay đổi. Trông anh ta rất bồn chồn.

“Tôi có thằng con trai đang ở ngoài mặt trận”, anh ta nói. “Một đứa khác đã chết. Bây giờ lại là chuyện này”.

“Đó là chuyện của anh”.

“Thế còn ông? Tôi đã nói với ông rồi mà”.

“Tôi đến đây chỉ để uống một cốc trước khi ăn tối?”

“Còn tôi thì làm việc ở đây. Cứ cho tôi biết đi”

“Đó là việc của anh”, tôi nói. “Tôi đâu phải là chính khách”.

“Anh có hiểu được tiếng Tây Ban Nha không John?” Tôi hỏi anh bạn người Hy Lạp.

“Không. Tôi chỉ hiểu được vài từ nhưng tôi nói được tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập. Một thời tôi nói tiếng Ả Rập rất tốt. Này, anh có biết tôi bị chôn sống ra sao không?”.

“Không. Tôi chỉ biết có lần anh bị bom vùi. Thế thôi”.

Anh ta có khuôn mặt đen dễ nhìn và hai bàn tay đen xỉn cứ huơ lên khi nói chuyện. Anh ta là người gốc đảo và ăn nói rất nghiêm túc.

“Ra thế, tôi sẽ kể cho anh nghe. Anh biết đấy, tôi có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh. Trước đây tôi đã từng là đại úy trong quân đội Hy Lạp. Tôi là một quân nhân từng trải. Nên khi thấy máy bay đến, lúc bọn tôi đang ở dưới chiến hào tại Fuentes del Ebro, tôi quan sát rất kỹ. Tôi thấy nó bay qua, nghiêng cánh rồi vòng trở lại”. (Anh ta dùng tay diễn tả máy bay nghiêng cánh và vòng trở lại), “hướng xuống bọn tôi, tôi nói, A ha, nó tìm bộ tổng tham mưu. Nó đi do thám đấy, lát nữa thôi, những chiếc khác sẽ đến”.

“Đúng như lời tôi nói, những chiếc khác bay đến nên tôi đứng đấy quan sát. Tôi theo dõi rất kỹ. Tôi nhìn và chỉ cho cả đội thấy. Chúng bay qua, từng nhóm ba chiếc rồi tôi nói với cả đại đội, ‘Thấy chưa: Bây giờ chúng bay theo đội hình đấy?’.

‘Một đội ba chiếc nữa bay qua’, tôi nói với đại đội, Bây giờ thì được rồi. Ổn rồi. Không có gì phải lo lắng nữa? Đó là những điều tôi nhớ được trong suốt tuần sau”.

“Chuyện đỏ xảy ra khi nào?”

“Cách đây khoảng một tháng. Anh biết không có chiếc mũ sắt đã úp xuống mặt khi bom vùi nên tôi có không khí trong đó để thở cho đến khi người ta đào tôi lên nhưng tôi đã không biết gì nữa. Trong chút không khí tôi thở đó có cả khói bom, nó làm cho tôi phát ốm suốt cả khoảng thời gian dài. Bây giờ thì tôi khỏe rồi, chỉ còn tiếng o o trong đầu nữa thôi. Anh gọi thứ đồ uống này là gì nhỉ?”

“Gin pha nước khoáng. Nước khoáng Schweeppes của dân da đỏ. Trước chiến tranh đây là quán rượu rất thú vị, hồi đó một cốc như thế này giá tới năm pesseta trong khi một đô-la chỉ ăn bảy pesseta. Gần đây chúng tôi mới biết họ vẫn còn nước khoáng mà giá thì không thay đổi. Cũng chỉ còn một thùng thôi”.

“Thứ này uống tốt đấy. Mà này. Trước chiến tranh, thành phố trông ra sao?”

“Được lắm. Giống như bây giờ, chỉ có điều là có nhiều thứ để ăn hơn”.

Anh bồi tới và cúi xuống bàn.

“Nếu tôi không làm thì sao?” anh ta nói. “Đó là trách nhiệm của tôi mà”.

“Nếu anh muốn thì hãy đến trạm điện thoại, gọi theo số này. Ghi đi”.

Anh ta ghi số. “Xin gặp Pepé”. Tôi bảo.

“Bản thân tôi chẳng thù ghét gì ông ta”, anh bồi nói. “Nhưng nó thuộc vấn đề chính nghĩa. Chắc chắn, một người như thế sẽ gây nguy hiểm cho sự nghiệp của chúng ta”.

“Mấy người bồi kia không nhận ra hắn sao?”

“Tôi nghĩ là có. Nhưng chẳng ai nói gì cả. Hắn là khách quen mà”.

“Tôi cũng là khách quen”

“Có lẽ không chừng hắn đã đổi phe rồi cũng nên”.

“Không”, tôi nói. “Tôi biết hắn không đổi”.

“Tôi chưa hề tố giác một ai cả”.

“Đó là việc của anh. Có thể một trong những anh bồi khác sẽ tố cáo hắn”.

“Không, chỉ có những bồi cũ biết hắn mà bồi lâu năm thì có lẽ không tố giác”.

“Mang cho tôi thêm ít gin vàng và bia đắng”, tôi nói. “Nước khoáng thì vẫn còn trong chai”.

“Hắn nói chuyện gì vậy?” John hỏi. “Tôi chỉ hiểu mang máng thôi”.

“Có một điều đàn ông ở đây mà ngày xưa, chúng tôi biết hắn. Hắn là tay bắn chim cu tuyệt diệu, tôi thường gặp hắn trong những lần đi săn. Hắn theo phát xít nhưng bây giờ lại tới đây, bất kỳ vì lý do nào thì quả thật hắn là kẻ đại ngốc. Hắn thì vẫn luôn can đảm nhưng cực ngốc”.

“Chỉ hắn cho tôi xem đi”.

“Hắn ngồi ở cái bàn với mấy tay phi công đấy”.

“Đứa nào?”.

“Đứa có khuôn mặt nâu sạm, mũ lưỡi trai sụp xuống mắt. Đứa đang cười đấy”.

“Hắn theo phát xít à?”

“Ừ”.

“Đây là dịp để tôi nhìn rõ nhất một tên phát xít kể từ hồi rời Fuentes del Ebro. Có nhiều phát xít ở đây không?”.

“Thỉnh thoảng có mấy thằng”.

“Hắn cũng uống như anh”, John nói. “Chúng ta thì sao? Này, anh đã bao giờ ở Nam Mỹ, West Coast hay Magallanes chưa?”.

“Chưa”

“Không sao. Chỉ có điều là có quá nhiều bạch lu-uộc”.

“Quá nhiều cái gì?”

“Bạch lu-uộc”, anh ta kéo dài chữ “luộc”. “Anh biết nó có tám cái vòi ấy mà”.

“Ồ,” tôi nói, “bạch tuộc”.

“Bạch lu-uộc”, John nói. “Anh biết đấy, tôi còn là thợ lặn nữa. Nơi đó làm việc tốt, kiếm được khá tiền chỉ có điều là khá nhiều bạch luộc”.

“Chúng nó quấy anh không?”

“Tôi không rõ nữa, lần đầu tiên lặn ở Magallanes, tôi thấy bạch luộc. Nó đứng chồm chỗm như thế này này”. John chống mấy ngón tay lên bàn, mu bàn tay nhô cao, nhún lên nhún xuống đôi vai và nhướng lông mày lên. “Nó đứng cao hơn cả tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi vội vàng giật dây để người ta kéo lên”.

“Nó to bằng nào hả John?”

“Tôi không thể nói chính xác được bởi vì cái kính lặn làm cho hình ảnh méo đi chút ít. Nhưng cái đầu tròn đồ sộ cũng phải khoảng một mét hai. Rồi nó đứng chồm chỗm trên đầu vòi mà nhìn tôi như thế này này (anh ta trừng trừng nhìn vào mặt tôi). Nên khi người ta kéo tôi lên khỏi mặt nước, gỡ kính lặn ra, tôi nói rằng sẽ không bao giờ lặn xuống đấy nữa. Lão chủ hỏi ‘Có việc gì vậy John, bọn bạch luộc sợ mày hơn mày sợ chúng cơ mà’. Tôi nói với lão ‘Không có chuyện ấy đâu!’ Anh bảo bọn mình uống thêm chút rượu phát xít này nữa có phải không?”

“Đúng đó”, tôi nói.

“Tôi nhìn người đàn ông ở bàn đằng kia. Hắn tên là Luis Delgado, lần cuối tôi nhìn thấy hắn là vào năm 1933, lúc đang bắn chim cu ở Saint Sebastian và tôi còn nhớ là đã đứng cùng với hắn trên đỉnh bệ bắn để xem, phát đạn chung kết. Chúng tôi đánh cá với nhau, số tiền cược nhiều hơn số tôi có và tôi tin rằng nó còn lớn hơn số tiền hắn đã mất cho cá cược trong cả năm; khi xuống cầu thang tôi còn nhớ hắn tỏ ra rất thoải mái và nhớ cả cái kiểu hắn tỏ ra rất vinh dự khi chung tiền cược. Tôi còn nhớ chúng tôi đứng ở quầy rượu, uống một ly Martini, tôi có cảm giác khá nhẹ nhõm và một người cá độ khi thoát khỏi khả năng thua cuộc rồi tự hỏi vụ cá cược này khiến hắn kiệt quệ tới mức nào. Cả tuần tôi bắn rất tệ còn hắn thì bắn tuyệt lắm tôi vững tin rằng mình sẽ thắng nhưng lại rút thăm phải những con chim không thể nào hạ được”.

“Bọn mình đấu bằng đồng duro đi?” hắn đề nghị.

“Ông muốn thế à?”

“Ừ, nếu ông thích”.

“Ăn bao nhiêu?”

Hắn lấy ví ra, nhìn vào rồi cười.

“Tôi nghĩ bao nhiêu là tùy ông”, hắn bảo. “Nhưng giả sử mình đấu tám nghìn peseta đi. Trong này hình như có đủ đấy”.

Hồi đó, chỗ tiền ấy gần bằng một nghìn đô-la.

“Tốt thôi”, tôi bảo và tất cả cảm giác nhẹ nhõm đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự căng thẳng thường gặp khi bước vào trò cờ bạc. “Ai đấu với ai?”

“Tôi sẽ đấu với ông”.

Chúng tôi lắc đồng năm peseta nặng trong lòng hai bàn tay khum lại với nhau; rồi mỗi người dùng tay phải che kín đồng tiền trên mu bàn tay trái. “Của ông là gì?” hắn hỏi.

Tôi mở tay ra để thấy mặt đồng xu lớn hơn bằng bạc có hình vua Alfonso XIII nhìn nghiêng, trông như một đứa trẻ.

“Mặt ngửa”, tôi nói.

“Cầm lấy cả đi, chơi thoải mái nhé nhưng nhớ mua cho tôi một ly rượu”. Hắn trút sạch tiền trong ví ra. “Ông sẽ không mua một khẩu Purdey tốt chứ, phải không?”.

“Không”, tôi nói. “Nhưng này, Luis nếu ông cần ít tiền”. Tôi đẩy mấy tờ giấy bạc một ngàn peseta hơi nặng, màu xanh sáng cuộn chặt còn mới cứng về phía hắn.

“Đừng vớ vẩn, Enrique”, hắn bảo. “Chúng ta cá cược đàng hoàng mà, phải không?”

“Phải. Nhưng bọn mình biết nhau khá rõ rồi mà”.

“Chưa hẳn đâu”.

“Thôi được”, tôi nói. “Ông đã nói vậy thì thôi. Bây giờ ông thích uống gì?”

“Gin với nước khoáng được không?” Ông ta biết thứ rượu tuyệt vời ấy.

Thế là chúng tôi uống rượu gin pha nước khoáng rồi tôi cảm thấy rất áy náy đã làm hắn cháy túi nhưng cũng thấy hưng phấn vì được bạc; trong đời, tôi chưa bao giờ thấy gin pha nước khoáng ngon đến thế. Chẳng lợi lộc gì ở đây khi dối trá về những điều ấy hoặc giả vờ không vui sướng khi được bạc; nhưng gã Luis Delgado này là một tay cờ bạc rất dễ thương.

“Tôi nghĩ nếu người ta chỉ cờ bạc những gì họ có được thì sẽ chẳng còn gì là thú vị. Đúng không, Enrique?”

“Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ có khả năng để thử điều ấy”.

“Đừng vờ nữa. Ông có cả đồng tiền”.

“Không, tôi không có”, tôi nói. “Thật đấy”.

“Ồ, ai cũng có tiền cả”, hắn nói. “Chỉ có điều là bán cái này hoặc cái khác để có thôi”.

“Tôi không có nhiều đâu. Thật đấy”.

“Thôi, đừng cố giả vờ nữa. Tôi chưa bao giờ thấy một người Mỹ nào nghèo cả”.

“Tôi nghĩ điều đó cũng đúng thôi. Hắn chưa bao giờ gặp những người như thế ở quán Ritz hay Chicote thì tất cả những người Mỹ hắn gặp ở đó lại là hạng mà hắn chưa từng thấy; trừ tôi mà tôi lại là một sai lầm. Nhưng tôi sẽ sẵn sàng chi ra bất cứ thứ gì để không phải gặp hắn ở đây.

Dẫu sao, nếu hắn muốn làm một việc vô cùng ngu ngốc như vậy thì đó là việc của hắn. Nhưng khi tôi nhìn về phía bàn ấy và nhớ lại ngày xưa tôi thấy áy náy với hắn và tôi cũng rất áy náy vì đã cho anh bồi biết số điện thoại. Văn phòng phản gián của Bộ chỉ huy ở Seguridad. Kể ra, anh ta có thể dễ dàng gọi tổng đài để hỏi số của Seguridad. Nhưng tôi đã cho anh ta một cách nhanh nhất để Delgado bị tóm trong trạng thái quá vô tư, chính đáng, không can dự và, trong sự thèm muốn muôn đời bẩn thỉu để thấy người ta xử sự ra sao thì đứng trước những xung đột tình cảm; vốn đã làm cho các nhà văn trở thành những người bạn hấp dẫn như thế”.

Anh bồi lại đến.

“Ông nghĩ sao?” anh ta hỏi.

“Nếu là tôi thì không đời nào tố giác hắn”, tôi nói, tôi đang cố gắng gỡ lại cho mình việc đã cho số điện thoại. “Nhưng tôi là người nước ngoài và cuộc chiến này là của các anh, là vấn đề vướng mắc của các anh”.

“Nhưng ông đứng về phe chúng tôi mà”.

“Chắc chắn và luôn sẽ là như thế. Nhưng điều đó không bao gồm việc tôi phải đi tố giác một người bạn cũ”.

“Thế còn tôi?”

“Với anh thì lại là chuyện khác”.

Tôi biết đó là sự thật và không còn gì để nói nữa, có điều tôi chỉ mong giá mà mình không biết gì về vụ này.

Sự tò mò của tôi, bởi từ lâu muốn biết con người ta sẽ phản ứng như thế nào trong tình huống ấy, xấu hổ thay, đã được thỏa mãn. Tôi quay sang John và không nhìn về phía bàn Luis Delgado ngồi. Tôi biết, hắn đã bay với bọn phát xít được hơn một năm nay, vậy mà ở đây, trong bộ đồng phục của phe Cộng hòa, hắn đang nói chuyện với ba tay phi công Cộng hòa trẻ, thuộc lớp vừa mới được huấn luyện tại Pháp.

Không ai trong nhóm phi công trẻ ấy biết hắn và tôi tự hỏi có phải hắn tới đây để cố cuỗm một chiếc máy bay làm chuyện gì khác. Cho dù có làm gì ở đây chăng nữa thì giờ đây hắn thật quá ngu xuẩn khi đến Chicote.

“Anh thấy thế nào, John?” tôi hỏi.

“Rất dễ chịu”, John đáp. “Thứ này uống được đấy. Có lẽ nó làm tôi hơn chếnh choáng. Nhưng nó lại hữu ích cho cái đầu o o của tôi”.

Anh bồi lại đến, có vẻ rất kích động.

“Tôi đã tố cáo hắn”, anh ta nói.

“Được, đấy”, tôi nói, “bây giờ anh chẳng còn day dứt gì nữa”.

“Đúng”, anh ta tự hào nói. “Tôi đã tố cáo hắn. Bây giờ họ đang trên đường đến đây để bắt hắn”.

“Ta đi thôi”, tôi bảo John. “Sắp có lộn xộn ở đây đấy”.

“Vậy thì đi là tốt nhất”, John nói. “Lúc nào cũng có vô số những vụ lộn xộn xảy ra ngay cả khi người ta cố tránh. Tính tiền đi chứ?”

“Các ông không ở lại sao?” anh bồi hỏi.

“Không”.

“Nhưng ông đã đưa tôi số điện thoại mà”.

“Tôi hiểu. Anh sẽ phải còn biết rất nhiều số điện thoại nếu anh còn quẩn quanh trong thành phố này”.

“Nhưng đó là nghĩa vụ của tôi”.

“Phải. Sao lại không chứ? Nghĩa vụ là thứ rất cao cả mà”.

“Còn bây giờ thì sao?”

“Ồ, bây giờ anh đã cảm thấy hài lòng về bổn phận công dân của mình rồi, phải không? Có thể anh cũng sẽ cảm thấy hài lòng như thế cả sau này nữa và không chừng lại còn cảm thấy sung sướng nữa cơ đấy”.

“Ông quên gói đồ kìa”, anh bồi nhắc. Anh ta đưa cho tôi miếng thịt gói trong hai cái phong bì lớn dùng để gói những tờ báo Spur, chất đống tại một trong số các văn phòng của Đại sứ quán.

“Tôi hiểu”, tôi nói với anh ta. “Thật đấy”.

“Hắn là khách quen xưa và lại là một khách hàng tử tế nữa. Trước đây tôi chưa từng tố giác một ai. Tôi không tố giác để giải trí đâu”.

“Đừng nghĩ rằng tôi nói với ý đùa chơi hay thù hận gì. Hãy bảo hắn rằng chính tôi đã tố cáo hắn. Dù gì đi nữa thì hắn cũng đã ghét tôi vì bất đồng quan điểm chính trị. Hắn sẽ thấy đau khổ lắm nếu biết anh là người tố cáo”.

“Không. Mỗi người phải biết nhận trách nhiệm của mình. Xin ông hiểu giùm cho?”

“Tôi hiểu”, tôi đáp, rồi nói dối. “Tôi hiểu và rất tán thành”. Người ta phải thường xuyên nói dối trong chiến tranh và khi nói dối thì họ phải tỉnh bơ và thành thật hết mức.

Chúng tôi bắt tay rồi tôi cùng John đi ra cửa. Tôi quay nhìn về phía Luis Delgado ngồi khi bước ra. Hắn gọi một ly gin pha nước khoáng nữa để trước mặt mọi người trong bàn đang cười phá lên bởi câu nói gì đó của hắn. Hắn có khuôn mặt màu nâu hài hước cùng với đôi mắt của một xạ thủ và tôi thầm nhủ không biết hắn đang đóng vai gì.

Hắn quả là ngốc khi tới Chicote. Nhưng thật ra đó là việc hắn có thể làm để khi trở về phía mình, hắn có thể có chuyện để mà khoác lác.

Khi chúng tôi ra khỏi cửa, quay người bước lên đường phố, một chiếc xe lớn của Cục An ninh đỗ xịch trước cửa quán Chicote, tám người trên xe nhảy xuống. Sáu người trang bị súng tiểu liên chia nhau trấn các vị trí ngoài cửa. Hai người mặc thường phục vào trong. Một người yêu cầu chúng tôi cho xem giấy tờ và khi tôi nói, “người ngoại quốc”, hắn bảo hãy đi đi; không có chuyện gì đâu.

Lúc đi trong bóng tối về phía Gran Via, chúng tôi giẫm lên nhiều mảnh thủy tinh mới vỡ trên vỉa hè và nhiều gạch đá vụn bởi cuộc pháo kích. Không khí vẫn còn sặc mùi khói súng, trên suốt con đường mùi thuốc súng nồng nặc và mùi gạch đá bị nghiền vụn giăng khắp nơi.

“Anh ăn ở đâu?” John hỏi.

“Tôi có một ít thịt đủ dùng cho cả bọn, chúng tôi có thể nấu trong phòng”.

“Để tôi nấu cho”, John nói. “Tôi nấu khá lắm. Tôi nhớ có hồi tôi từng là đầu bếp trên tàu”.

“Có lẽ thịt hơi dai”, tôi nói. “Vừa mổ đấy”.

“Ồ, không”, John nói. “Trong chiến tranh chẳng có thứ thịt nào là thịt dai cả”.

Trong bóng tối, nhiều người đang vội vã về nhà sau khi đã tạt vào các rạp chiếu bóng đợi cho hết đợt pháo kích.

“Việc gì mà thằng cha phát xít ấy lại vào cái quán nơi người ta biết rõ hắn?”

“Hắn khùng nên mới làm thế”.

“Đó là vấn đề nan giải của chiến tranh”, John nói. “Có quá nhiều kẻ phát điên”.

“John”, tôi bảo. “Tôi nghĩ anh đã hiểu được đôi điều ở đó”.

Đến khách sạn, chúng tôi đi vào cửa, vượt qua đống bao cát chất cao để bảo vệ bàn làm việc của người trực, tôi hỏi lấy chìa khóa nhưng anh ta bảo có hai người bạn của tôi muốn lên phòng để tắm. Anh ta đã đưa họ chìa khóa.

“Ta lên đi, John”, tôi nói. “Tôi muốn gọi điện thoại”.

Tôi đến phòng điện thoại và gọi đúng số lúc nãy tôi đã cho anh bồi.

“Xin chào, Pepé đấy phải không?”

Một giọng nói phát ra từ đôi môi mỏng vọng qua máy. “Qué tal Enrique?” [1]

“Nghe này, Pepé, cậu vừa tóm được tay Luis Delgado ở Chicote phải không?”

“Si, hombre, si sin novedad [2]. Không gặp khó khăn gì”.

“Hắn không biết tí gì về anh bồi chứ?”

“Không, hombre [3], không biết đâu”.

“Vậy thì đừng cho hắn biết. Nói với hắn là mình tố cáo đấy, được chứ? Đừng đả động gì tới anh bồi cả”.

“Chẳng thay đổi được gì đâu. Hắn là gián điệp. Hắn sẽ bị xử bắn. Việc này chẳng có gì phải cân nhắc cả”.

“Mình biết”, tôi nói. “Nhưng như thế là có khác đấy”.

“Nếu bạn muốn, hombre. Nếu bạn muốn. Khi nào tôi gặp bạn đây?”

“Bữa trưa mai nhé. Bọn mình có một ít thịt”.

“Và whisky như trước chứ. Tuyệt lắm, hombre, tuyệt lắm”.

“Salud [4], Pepé, cảm ơn cậu”.

“Salud. Enrique. Không có gì. Salud”.

Đó là giọng nói kỳ dị và sặc mùi chết chóc mà chẳng bao giờ tôi nghe quen được, nhưng khi đi lên cầu thang, tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.

Tất cả chúng tôi - những khách quen của Chicote - đều có tình cảm với nơi ấy. Tôi biết đấy là lý do tại sao Luis Delgado lại ngu ngốc lần mò đến đó. Hắn có thể thục hiện công việc của mình tại một nơi nào khác. Nhưng nếu hắn đến Madrid thì hắn phải đến đó. Hắn đã từng là khách hàng tử tế như anh bồi nói và chúng tôi đã từng là bạn của nhau. Tuy nhiên bất kỳ hành vi tốt đẹp nào, dù nhỏ mà bạn có thể làm, thì đều đáng làm. Nên tôi vui vì đã gọi cho anh bạn Pepé ở Segundad, bởi lẽ Luis Delgado là khách quen cũ của Chicote và tôi không muốn hắn vỡ mộng hay cay đắng về những người bồi ở đó trước khi chết.

Đào Thu Hằng dịch

Chú thích:

[1] Enrique đấy à, có khỏe không (tiếng Tây Ban Nha)

[2] Phải, bạn à, phải. Chẳng có gì lạ cả.

[3] Có nghĩa là người. Trong trường hợp này tôi dịch là bạn.

[4] Chào nhé.

Đánh máy: casau
Nguồn: casau - VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2017

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.