Những lời thú tội mở đầu này, hay có thể coi là câu chuyện tường thuật nhập đề về những cuộc phiêu lưu thời niên thiếu vốn là căn nguyên cho thói quen ăn thuốc phiện của tác giả về sau, được thiếtt lập như một lời nói đầu dựa trên ba lý do thiết yếu sau:
1. Nhằm đón đầu và đưa ra lời giải đáp thỏa đáng cho một câu hỏi mà nếu không có nó, sẽ đột ngột chen ngang một cách đầy trăn trở trong tiến trình của tập Tự Thú Của Một Người Nghiện Thuốc Phiện: —“Cớ sao một sinh linh lý trí lại có thể tự tròng vào mình cái ách thống khổ nhường ấy; tự nguyện chuốc lấy cảnh nô lệ đớn hèn, và dại dột tự trói buộc bản thân trong chiếc xiềng xích trùng trùng điệp điệp đến bảy lớp?”— một câu hỏi mà nếu không được giải đáp một cách hợp lý ở đâu đó, chắc chắn sẽ khơi dậy sự phẫn nộ nhắm vào một hành động dại dột bồng bột, từ đó làm tổn hại đến mức độ đồng cảm vốn là điều tối quan trọng trong mọi trường hợp đối với mục đích của người cầm bút.
2. Nhằm cung cấp chìa khóa để thấu hiểu một số khung cảnh hùng vĩ đến rợn ngợp từng bao trùm những giấc chiêm bao của người nghiện thuốc phiện về sau.
3. Nhằm tạo dựng sẵn một niềm hứng thú mang tính cá nhân đối với nhân vật đang thổ lộ, tách biệt khỏi chính nội dung của những lời thú tội, qua đó khiến cho bản thân những lời thú tội ấy trở nên hấp dẫn hơn bội phần. Nếu một kẻ “có lời bàn tán toàn chuyện bò bê” mà bỗng trở thành người nghiện thuốc phiện, thì khả năng cao là (nếu hắn ta không quá đỗi trì độn để mà mơ) hắn sẽ mơ về những con bò; trái lại, trong trường hợp ở đây, độc giả sẽ nhận thấy Người nghiện thuốc phiện tự hào nhận mình là một triết gia; và theo đó, thế giới huyễn ảnh trong những giấc chiêm bao của hắn (dù là khi thức hay lúc ngủ, mơ giữa ban ngày hay mộng về đêm) hoàn toàn phù hợp với tư cách của một kẻ mang trong mình tâm niệm:
Humani nihil a se alienum putat.
Bởi lẽ trong số những điều kiện mà hắn cho là không thể thiếu để duy trì bất kỳ tuyên bố nào đối với danh hiệu triết gia, không chỉ bao gồm việc sở hữu một trí tuệ tuyệt đỉnh trong các chức năng phân tích (phần năng lực mà trong vài thế hệ qua, nước Anh chỉ có rất ít người xứng đáng đạt được; ít nhất, hắn không hề hay biết về bất kỳ ứng cử viên nào cho vinh dự này có thể được gọi một cách nhấn mạnh là một tư duy tinh tế, ngoại trừ Samuel Taylor Coleridge, và trong một phạm vi tư tưởng hẹp hơn là ngoại lệ lừng lẫy gần đây {2} của David Ricardo) mà còn bao gồm một cấu trúc các năng lực đạo đức sao cho ban cho hắn con mắt bên trong trực nhận và khả năng trực giác đối với thị kiến cùng những huyền bí thuộc về bản tính con người chúng ta: tóm lại là cấu trúc năng lực ấy —(trong số tất cả các thế hệ loài người từ thuở hồng hoang đã dấn thân vào cõi đời, tựa hồ như trên hành tinh này)— các nhà thơ Anh quốc đã sở hữu ở mức độ cao nhất, còn các giáo sư người Scotland {3} lại ở mức độ thấp nhất.
Tôi từng nhiều lần được hỏi cơ duyên nào đưa đẩy mình trở thành một kẻ nghiện thuốc phiện thường xuyên, và đã phải chịu đựng những điều tiếng rất bất công từ những người quen khi họ cho rằng tôi tự chuốc lấy mọi nỗi thống khổ mà tôi sắp ghi lại đây, bởi một chuỗi ngày dài chìm đắm trong thói quen này hoàn toàn chỉ để mưu cầu trạng thái phấn khích đầy khoan khoái nhân tạo. Tuy nhiên, đây lại là một sự hiểu lầm về trường hợp của tôi. Quả thực là trong gần mười năm, tôi thỉnh thoảng có dùng thuốc phiện vì cảm giác khoái lạc tuyệt vời mà nó mang lại; nhưng chừng nào tôi còn dùng nó với mục đích ấy, tôi vẫn được bảo vệ một cách hiệu quả khỏi mọi hậu quả tai hại trầm trọng nhờ nhu cầu phải đan xen những khoảng thời gian ngắt quãng dài giữa các lần chìm đắm, cốt để làm mới lại những cảm giác đê mê ấy. Không phải nhằm mục đích tạo ra khoái lạc, mà là để xoa dịu nỗi đau đớn ở mức độ khốc liệt nhất, tôi mới bắt đầu dùng thuốc phiện như một phần trong chế độ ăn uống hằng ngày của mình. Vào năm tôi hăm tám tuổi, một cơn đau dạ dày dữ dội, thứ mà tôi từng trải qua lần đầu tiên vào khoảng mười năm trước, đã tấn công tôi với sức mạnh mãnh liệt. Cơn đau này thoạt đầu bắt nguồn từ những cực hình do cơn đói gây ra trong những năm tháng niên thiếu của tôi. Trong suốt quãng thời gian tràn ngập hy vọng và hạnh phúc dư dả tiếp nối sau đó (nghĩa là từ tuổi mười tám đến hai mươi bốn), nó đã tạm lắng xuống; trong ba năm tiếp theo, nó tái phát theo từng đợt; và giờ đây, dưới những hoàn cảnh bất lợi cùng tâm trạng chán nản tột cùng, nó đã giáng xuống tôi một cách dữ dội đến mức không một thứ thuốc nào khuất phục nổi ngoài thuốc phiện. Vì những nỗi thống khổ thời niên thiếu vốn là nguyên nhân đầu tiên gây ra chứng rối loạn dạ dày này tự thân chúng đã rất đáng chú ý, cùng với những hoàn cảnh xoay quanh chúng, tôi sẽ xin phép được điểm lại chúng một cách ngắn gọn tại đây.
Cha tôi qua đời khi tôi lên bảy tuổi, để lại tôi cho sự chăm sóc của bốn người giám hộ. Tôi được gửi theo học tại nhiều ngôi trường lớn nhỏ khác nhau; và từ rất sớm, tôi đã nổi danh nhờ năng lực uyên thâm về văn chương cổ điển, đặc biệt là kiến thức về tiếng Hy Lạp. Năm mười ba tuổi, tôi đã viết tiếng Hy Lạp một cách trôi chảy; và đến năm mười lăm tuổi, khả năng làm chủ ngôn ngữ đó của tôi lớn đến mức tôi không chỉ sáng tác thơ tiếng Hy Lạp theo các thể thơ trữ tình, mà còn có thể đàm thoại bằng tiếng Hy Lạp một cách lưu loát và hoàn toàn tự tin — một tài năng mà tôi chưa từng bắt gặp ở bất kỳ học giả nào cùng thời với mình, và trong trường hợp của tôi, nó có được là nhờ thói quen hằng ngày dịch ứng khẩu các bài báo thành thứ tiếng Hy Lạp tốt nhất mà tôi có thể huy động; bởi nhu cầu phải lục lọi trong trí nhớ và sự sáng tạo của mình đủ mọi loại biểu thức cùng cách kết hợp uyển chuyển nhằm thay thế cho các ý tưởng, hình ảnh, mối quan hệ sự vật hiện đại, v.v., đã ban cho tôi một vốn từ vựng phong phú mà một bản dịch tẻ nhạt các bài luận đạo đức hay những thứ tương tự không bao giờ có thể khơi gợi ra được. “Cậu bé ấy,” một trong những người thầy của tôi đã nói khi hướng sự chú ý của một vị khách về phía tôi, “cậu bé ấy có thể diễn thuyết trước một đám đông người Athens giỏi hơn cả tôi và anh đứng ra điều trần trước một đám đông người Anh.” Vị thầy đã ban cho tôi lời tán dương vinh dự ấy là một học giả, “uyên bác và đầy tài hoa,” và trong số tất cả các gia sư của tôi, ngài là người duy nhất mà tôi yêu mến và kính trọng. Thật không may cho tôi (và như tôi sau đó được biết, đã khiến người thầy khả kính này vô cùng phẫn nộ), tôi lại được chuyển sang sự chăm sóc, trước hết là của một kẻ đần độn luôn sống trong nỗi hoảng sợ thường trực rằng tôi sẽ vạch trần sự dốt nát của hắn; và cuối cùng là dưới tay của một học giả đáng kính đang làm hiệu trưởng tại một ngôi trường lớn mang nền móng lâu đời. Người đàn ông này được bổ nhiệm vào vị trí ấy bởi —— College, Oxford, và là một học giả vững vàng, cẩn trọng, nhưng (giống như phần lớn những người tôi từng biết xuất thân từ trường đại học đó) lại thô lỗ, vụng về và thiếu nét tao nhã. Trong mắt tôi, hắn hiện lên như một sự tương phản thảm hại so với vẻ rực rỡ mang phong cách Eton của người thầy yêu quý của tôi; bên cạnh đó, hắn chẳng thể che giấu khỏi sự quan sát hằng ngày của tôi sự nghèo nàn và cằn cỗi trong trí tuệ của mình. Thật là một điều tồi tệ đối với một cậu bé khi nhận ra rằng bản thân mình vượt xa các gia sư, cho dù là về mặt kiến thức hay năng lực tư duy. Đó chính là thực tế, ít nhất là về mặt kiến thức, không chỉ đối với riêng tôi, bởi hai cậu bé cùng tôi cấu thành lớp đệ nhất khi ấy còn là những bậc thầy tiếng Hy Lạp cừ khơi hơn cả vị hiệu trưởng, dẫu rằng họ không phải là những học giả tao nhã hơn, hay quen thuộc hơn với việc tôn vinh các Nữ thần Ân huệ. Khi mới bước chân vào trường, tôi nhớ rằng chúng tôi học tác giả Sophocles; và đó là niềm kiêu hãnh thường trực của chúng tôi, bộ ba uyên bác của lớp đệ nhất, khi chứng kiến “Archididascalus” của mình (danh hiệu mà ông rất thích được gọi) đang cặm cụi nghiền ngẫm bài học trước giờ lên lớp, vạch ra một kế hoạch bài bản cùng từ điển và ngữ pháp để đối phó và hòng phá giải (có thể nói là như vậy) bất kỳ khó khăn nào ông tìm thấy trong các đoạn hợp xướng; trong khi chúng tôi chẳng thèm hé mở sách vở cho đến tận khoảnh khắc bước lên lớp, và thường bận rộn viết những bài thơ châm biếm chiếc tóc giả của ông hoặc những vấn đề quan trọng đại loại thế. Hai người bạn cùng lớp của tôi đều nghèo, và trông chờ vào triển vọng tương lai tại trường đại học dựa vào lời giới thiệu của vị hiệu trưởng; nhưng tôi, kẻ có một gia tài nhỏ thừa kế từ cha mà thu nhập đủ để trang trải cho việc học đại học, lại mong muốn được cử đến đó ngay lập tức. Tôi đã bày tỏ nguyện vọng thiết tha về vấn đề này với những người giám hộ của mình, nhưng hoàn toàn công cốc. Một người, kẻ có lý trí và hiểu biết sự đời hơn những người còn lại, sinh sống ở một nơi xa xôi; hai trong số ba người kia thì nhường lại toàn bộ thẩm quyền của họ vào tay người thứ tư; và người thứ tư này, kẻ mà tôi phải thương lượng, lại là một người đáng kính theo cách riêng của ông, nhưng kiêu ngạo, cố chấp và không chịu đựng nổi bất kỳ sự chống đối nào đối với ý muốn của ông. Sau một số lượng thư từ và các cuộc gặp gỡ trực tiếp nhất định, tôi nhận ra rằng mình chẳng còn chút hy vọng nào, thậm chí cả một sự thỏa hiệp cho vấn đề này, từ người giám hộ của mình. Sự phục tùng vô điều kiện là thứ ông đòi hỏi, và do đó, tôi chuẩn bị tinh thần cho những biện pháp khác. Mùa hè giờ đây đang bước đến với những sải chân vội vã, và sinh nhật lần thứ mười bảy của tôi đang đến rất gần, sau ngày hôm đó, tôi đã tự thề với lòng mình rằng tôi sẽ không còn bị liệt vào hàng những cậu bé đi học nữa. Tiền bạc là thứ tôi cần hơn hết, tôi bèn viết thư cho một người phụ nữ có thế giá, dẫu bản thân còn trẻ nhưng đã biết tôi từ khi còn bé, và thời gian gần đây đã đối xử với tôi rất mực trọng thị, ngỏ ý xin bà “cho vay” năm đồng guinea. Hơn một tuần trôi qua mà chẳng có hồi âm nào đến, và tôi bắt đầu nản lòng, thì cuối cùng một người gia chủ cũng trao vào tay tôi một bức thư đôi có ấn triện hình vương miện. Bức thư thật ân cần và nhã nhặn. Vị nữ tác giả kiều diễm đang ở miền duyên hải, và sự chậm trễ đã phát sinh theo cách đó; bà gửi kèm số tiền gấp đôi những gì tôi đã xin, và tỏ ý tốt bụng rằng nếu tôi không bao giờ trả lại bà, thì điều đó cũng chẳng đến mức khiến bà khánh kiệt. Thế là giờ đây, tôi đã sẵn sàng cho kế hoạch của mình. Mười đồng guinea, cộng với khoảng hai đồng còn lại từ tiền tiêu vặt của tôi, đối với tôi dường như là đủ cho một khoảng thời gian không xác định; và ở cái độ tuổi hạnh phúc ấy, nếu không thể ấn định một giới hạn cụ thể nào cho sức mạnh của một người, thì tinh thần hy vọng và khoais lạc sẽ khiến nó trở nên vô tận về mặt thực chất.
Đó là một nhận xét xác đáng của Tiến sĩ Johnson (và là điều hiếm khi có thể nói về các nhận xét của ông, nó vô cùng dạt dào cảm xúc), rằng chúng ta không bao giờ làm bất kỳ điều gì một cách có ý thức lần cuối cùng (tức là những việc mà chúng ta đã quen làm từ lâu) mà lại không mang theo nỗi buồn trong tim. Chân lý này tôi đã cảm nhận sâu sắc khi tôi rời khỏi ——, một nơi mà tôi chẳng hề yêu mến và là nơi tôi chưa từng hạnh phúc. Vào buổi tối trước ngày tôi rời bỏ —— mãi mãi, tôi cảm thấy xót xa khi căn phòng học cổ kính và cao lừng lững vang lên âm thanh của buổi cầu kinh tối, được cử hành lần cuối cùng trước tai tôi; và vào ban đêm, khi điểm danh bảng tên và tên tôi (như thường lệ) được gọi lên đầu tiên, tôi bước lên phía trước, đi lướt qua vị hiệu trưởng đang đứng bên cạnh, tôi cúi đầu chào ông, và nhìn thẳng vào khuôn mặt ông đầy đặng niệm, tự nhủ với bản thân rằng: “Ông đã già yếu và bệnh tật, và ở thế gian này tôi sẽ chẳng còn gặp lại ông nữa.” Tôi đã đúng; tôi chưa từng gặp lại ông lần nào nữa, và sẽ chẳng bao giờ gặp lại. Ông nhìn tôi với vẻ mãn nguyện, mỉm cười hiền hậu, đáp lại lời chào của tôi (hoặc đúng hơn là lời tiễn biệt của tôi), và chúng tôi đã chia tay (dù ông chẳng hề hay biết) là vĩnh viễn. Tôi không thể kính trọng ông về mặt trí tuệ, nhưng ông vẫn luôn đối xử tử tế với tôi một cách nhất quán, và đã châm trước cho tôi rất nhiều sự dễ dãi; và tôi đau lòng khi nghĩ đến sự bẽ bàng mà tôi sắp giáng xuống đầu ông.
Buổi sáng đã đến, ngày sẽ thả tôi ra với thế giới rộng lớn, và từ khoảnh khắc ấy, toàn bộ cuộc đời tiếp nối của tôi ở nhiều phương diện quan trọng đã mang màu sắc của nó. Tôi trọ tại nhà của vị hiệu trưởng, và ngay từ ngày đầu bước chân vào trường đã được đặc cách cho phép có một căn phòng riêng, nơi tôi dùng vừa làm phòng ngủ vừa làm phòng nghiên cứu. Lúc ba giờ rưỡi, tôi thức dậy, đắm nhìn với niềm xúc cảm sâu sắc những tòa tháp cổ kính của ——, “khoác lên mình ánh sáng sớm mai,” và bắt đầu ửng hồng dưới ánh hào quang rực rỡ của một buổi sáng tháng Bảy không một bóng mây. Tôi kiên định và bất di bất dịch với mục đích của mình; thế nhưng vẫn dao động trước sự dự cảm về những mối nguy hiểm và rắc rối chưa rõ hình hài; và giả sử tôi có thể tiên đoán được cơn cuồng phong cùng trận mưa đá hoàn hảo của nỗi thống khổ chẳng mấy chốc sẽ giáng xuống đầu mình, thì tôi hoàn toàn có lý do để mà dao động. Trước sự dao động ấy, sự bình yên sâu lắng của buổi sáng ban tặng một sự tương phản đầy xúc động, và ở một chừng mực nào đó, như một liều thuốc xoa dịu. Sự tĩnh mịch còn thâm trầm hơn cả lúc nửa đêm; và đối với tôi, sự tĩnh mịch của một buổi sáng mùa hè gợi nhiều cảm xúc hơn mọi thứ tĩnh mịch khác, bởi vì khi ánh sáng rực rỡ và mạnh mẽ như ban trưa vào những mùa khác trong năm, nó dường như chỉ khác biệt với ban ngày hoàn hảo ở chỗ con người vẫn chưa ra đường; và do đó, sự bình yên của tự nhiên và của những tạo vật vô tội chốn Thượng Đế dường như chỉ được đảm bảo và sâu thẳm chừng nào sự hiện diện của con người cùng tâm hồn bồn chồn, bất an của họ chưa xuất hiện để quấy nhiễu sự thánh thiện ấy. Tôi mặc quần áo, cầm lấy mũ và găng tay, rồi nán lại trong phòng một lát. Trong suốt một năm rưỡi qua, căn phòng này đã là “thành trì trầm mặc” của tôi: ở đây tôi đã đọc sách và nghiên cứu qua suốt những giờ khắc đêm thấu, và dẫu quả thực là trong quãng thời gian sau này, tôi — kẻ được nhào nặn vì tình yêu và những tình cảm dịu dàng — đã đánh mất niềm vui và hạnh phúc trong cuộc tranh chấp và cơn sốt đấu đá với người giám hộ của mình, nhưng mặt khác, là một cậu bé say mê sách vở đến cuồng nhiệt và tận tụy với các theo đuổi trí tuệ, tôi không thể nào không tận hưởng nhiều giờ phút hạnh phúc giữa muôn vàn nỗi buồn tủi chung. Tôi đã khóc khi nhìn quanh chiếc ghế, lò sưởi, bàn viết và những đồ vật quen thuộc khác, khi biết chắc chắn rằng mình đang ngắm nhìn chúng lần cuối cùng. Khi tôi viết những dòng này, đã mười tám năm trôi qua, thế nhưng vào khoảnh khắc này, tôi vẫn nhìn thấy rõ mồn một, tựa như mới ngày hôm qua, những đường nét và biểu cảm của vật thể mà tôi đã neo giữ ánh mắt tiễn biệt của mình. Đó là bức tranh vẽ —— xinh đẹp, được treo phía trên lò sưởi, với đôi mắt và bờ môi vô cùng kiều diễm, cùng toàn bộ gương mặt rạng ngời vẻ nhân từ và sự thanh tịnh thần thánh đến mức tôi đã từng hàng ngàn lần đặt bút hay gấp sách lại để tìm kiếm sự an ủi từ bức tranh ấy, tựa như một tín đồ sùng đạo tìm đến vị thánh bảo trợ của mình. Trong khi tôi vẫn đang đắm chìm ngắm nhìn nó, những hồi chuông trầm hùng của chiếc đồng hồ —— đã ngân lên báo hiệu bốn giờ đúng. Tôi tiến lại gần bức tranh, hôn lên nó, rồi nhẹ nhàng bước ra ngoài và khép lại cánh cửa ấy vĩnh viễn!
Những dịp để cười và để khóc trong cuộc đời này hòa quyện và xoắn xuýt vào nhau đến mức tôi vẫn không thể nhớ lại mà không mỉm cười trước một sự cố đã xảy ra vào thời điểm đó, thứ suýt chút nữa đã đặt dấu chấm hết cho việc thực thi ngay lập tức kế hoạch của mình. Tôi có một chiếc hòm nặng kinh khủng, bởi ngoài quần áo ra, nó còn chứa gần như toàn bộ thư viện của tôi. Khó khăn nằm ở việc làm thế nào để vận chuyển thứ này đến chỗ nhà xe: phòng của tôi nằm ở một độ cao chót vót trong ngôi nhà, và (tệ hơn nữa) cầu thang thông với góc này của tòa nhà chỉ có thể tiếp cận qua một hành lang chạy ngang qua cửa phòng ngủ của vị hiệu trưởng. Tôi là một đứa trẻ được tất cả gia nhân yêu mến, và biết rằng bất kỳ ai trong số họ cũng sẽ che chở và hành động kín đáo giúp mình, tôi bèn thổ lộ nỗi bối rối của mình với một người hầu ngựa của vị hiệu trưởng. Người hầu ngựa thề thốt sẽ làm bất cứ điều gì tôi muốn, và khi thời điểm đến, anh ta liền đi lên lầu để khiêng chiếc hòm xuống. Điều này khiến tôi lo ngại là quá sức đối với một người; thế nhưng, anh hầu ngựa lại là một người
Mang đôi bờ vai tựa vị thần Atlat, đủ sức gánh vác
Trọng trách của những vương triều hùng mạnh nhất;
và có một tấm lưng rộng lớn chẳng khác gì Đồng bằng Salisbury. Do đó, anh ta khăng khăng một mình khiêng chiếc hòm xuống, trong khi tôi đứng chờ dưới chân nhịp cầu thang cuối cùng trong lòng đầy lo âu về kết quả. Một lúc lâu sau, tôi nghe thấy tiếng anh ta bước xuống với những bước chân chậm rãi và vững chãi; nhưng ngặt nỗi, do sự hồi hộp khi tiến đến khu vực nguy hiểm, cách hành lang chỉ vài bước chân, chân anh ta bỗng trượt đi, và gánh nặng khổng lồ tuột khỏi đôi vai, lấy thêm đà mạnh mẽ qua từng bậc thang khi đi xuống, đến nỗi khi chạm tới đáy, nó lăn lông lốc, hay đúng hơn là lao cắm đầu, xuyên thẳng qua với tiếng ồn của hai mươi tên quỷ sứ, đập thẳng vào chính cánh cửa phòng ngủ của ngài Archididascalus. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là mọi thứ tiêu đời rồi, và cơ hội duy nhất để tôi rút lui là phải hy sinh hành lý của mình. Tuy nhiên, sau khi suy ngẫm, tôi quyết định cứ đối mặt với kết quả. Người hầu ngựa vô cùng hoảng hốt, cả vì phần việc của anh ta lẫn vì tôi, thế nhưng bất chấp điều đó, cảm giác buồn cười trước tai họa trớ trêu này đã chiếm trọn tâm trí anh ta mạnh mẽ đến mức anh ta cất tiếng cười vang dội, sảng khoái và dài hơi, đủ sức đánh thức cả Bảy Người Ngủ Ngày. Trước âm thanh vui vẻ vang dội ấy, lọt thẳng vào tai của vị quyền uy đang bị xúc phạm, bản thân tôi cũng không sao kìm nén được mà bật cười theo; bị cuốn theo không phải quá nhiều bởi trò hề tai hại của chiếc hòm, mà bởi hiệu ứng mà nó gây ra cho anh hầu ngựa. Cả hai chúng tôi đều đinh ninh rằng, theo lẽ thường, Tiến sĩ —— sẽ lao từ trong phòng ra, bởi thông thường, chỉ cần một con chuột động đậy là ông đã chồm ra như một con chó ngao chồm khỏi chuỗi cũi của nó. Thế nhưng, thật kỳ lạ là vào dịp này, khi tiếng cười vừa dứt, chẳng có lấy một âm thanh hay thậm chí tiếng sột soạt nào phát ra từ phòng ngủ. Tiến sĩ —— mắc một căn bệnh đau đớn, thỉnh thoảng khiến ông mất ngủ, có lẽ làm cho giấc ngủ của ông khi đã đến lại càng sâu hơn. Lấy lại can đảm từ sự tĩnh mịch ấy, người hầu ngựa lại vác gánh nặng lên và hoàn thành nốt quãng đường xuống còn lại mà không gặp tai nạn nào. Tôi đợi cho đến khi nhìn thấy chiếc hòm được đặt lên một chiếc xe cút kít và trên đường đến chỗ nhà xe; rồi với “Sự Quan Phòng làm kim chỉ nam,” tôi lên đường đi bộ, mang theo một gói nhỏ đựng vài món quần áo kẹp dưới nách; một nhà thơ Anh yêu thích ở túi bên này, và một cuốn sách nhỏ cỡ 12mo chứa khoảng chín vở kịch của Euripides ở túi bên kia.
Ban đầu tôi có ý định tiến về Westmoreland, cả vì tình yêu tôi dành cho vùng đất ấy lẫn vì những lý do cá nhân khác. Tuy nhiên, sự tình cờ đã hướng những bước chân lang thang của tôi sang một ngã rẽ khác, và tôi quay bước về hướng Bắc xứ Wales.
Sau khi lang thang một thời gian ở Denbighshire, Merionethshire và Carnarvonshire, tôi thuê trọ tại một ngôi nhà nhỏ ngăn nắp ở B——. Tại đây, tôi lẽ ra đã có thể ở lại rất thoải mái trong nhiều tuần liền, bởi lương thực ở B—— rất rẻ, do sự khan hiếm của các thị trường khác đối với lượng nông sản thặng dư của một vùng nông nghiệp rộng lớn. Thế nhưng, một sự cố — mà có lẽ chẳng có chút ác ý nào được tính toán từ trước — đã đẩy tôi bước ra đường lang thang một lần nữa. Tôi không biết độc giả của mình có nhận thấy hay không, nhưng bản thân tôi thường nhận thấy rằng tầng lớp kiêu ngạo nhất ở nước Anh (hoặc ít ra là tầng lớp có sự kiêu ngạo rõ rệt nhất) chính là gia đình của các giám mục. Các nhà quý tộc và con cái của họ mang theo bên mình, ngay trong chính tước hiệu của họ, một sự thông báo đầy đủ về địa cấp của mình. Thậm chí tên họ của họ (và điều này cũng áp dụng cho con cái của nhiều dòng họ không có tước hiệu) thường, đối với tai người Anh, là những minh chứng đầy đủ cho dòng dõi hoặc xuất thân cao quý. Sackville, Manners, Fitzroy, Paulet, Cavendish, và hàng tá cái tên khác, tự chúng đã kể lên câu chuyện của mình. Do đó, những con người như vậy đi đến đâu cũng tìm thấy một ý thức xứng đáng về các quyền lợi của họ đã được thiết lập sẵn, ngoại trừ những kẻ vô minh trước thế sự bởi chính sự tầm thường của bản thân: “Không biết họ, chứng tỏ bản thân là kẻ vô danh.” Phong thái của họ mang âm hưởng và sắc thái phù hợp, và khi có đôi lần họ cảm thấy cần phải gây ấn tượng về tầm vóc của mình đối với người khác, họ sẽ bắt gặp hàng ngàn dịp để tiết chế và làm dịu đi ý thức ấy bằng những hành động nhã nhặn đầy khoan dung. Với gia đình của các giám mục thì lại khác: đối với họ, việc làm cho người ta biết đến tư cách của mình là một chặng đường vô cùng gian nan; bởi tỷ lệ các vị giám mục xuất thân từ gia đình quý tộc vào bất kỳ thời điểm nào cũng không phải là rất lớn, và sự kế vị những chức vị này diễn ra nhanh chóng đến mức tai công chúng hiếm khi có thời gian để trở nên quen thuộc với chúng, trừ khi chúng gắn liền với một danh tiếng văn học nào đó. Do đó mà con cái của các giám mục thường mang theo bên mình một bầu không khí khắc khổ và xa lánh, biểu thị cho những yêu sách không được công nhận rộng rãi, một thứ phong thái tựa như chớ-đụng-vào-ta (*noli me tangere*), luôn lo âu nơm nớp trước sự tiếp cận quá đỗi thân mật, và co rúm lại với sự nhạy cảm của một kẻ mắc bệnh gút trước mọi sự tiếp xúc với đám đông οι πολλοι (*hoi polloi*). Chắc chắn rằng, một trí tuệ mạnh mẽ, hay bản tính lương thiện phi thường, sẽ bảo vệ một con người khỏi sự yếu đuối ấy, nhưng nhìn chung, tính chân thực trong cách miêu tả của tôi sẽ được thừa nhận; sự kiêu ngạo, nếu không bắt nguồn sâu xa hơn ở những gia đình như vậy, thì ít nhất cũng hiện lên rõ nét hơn trên bề mặt phong thái của họ. Tinh thần phong thái ấy một cách tự nhiên lan truyền đến đám gia nhân và những kẻ phụ thuộc khác của họ. Lúc bấy giờ, bà chủ nhà của tôi từng là một nữ tỳ hoặc vú em trong gia đình của vị Giám mục xứ ——, và chỉ mới kết hôn chuyển đi nơi khác để “an bề gia thất” (theo cách biểu đạt của những người như vậy). Ở một thị trấn nhỏ bé như B——, việc từng sinh sống trong gia đình giám mục thôi cũng đủ mang lại chút ít danh tiếng; và bà chủ nhà tốt bụng của tôi lại có phần ảo tưởng hơn mức bình thường về sự kiêu ngạo mà tôi vừa nhận xét dựa trên lý do đó. “Chúa ngài” đã nói gì và “Chúa ngài” đã làm gì, ngài hữu dụng thế nào tại Nghị viện và không thể thiếu ra sao ở Oxford, tạo thành nội dung đàm tiếu hằng ngày của bà. Tất cả những điều này tôi đều chịu đựng rất ổn, bởi tôi quá đỗi hiền lành để mà cười vào mặt bất kỳ ai, và tôi hoàn toàn có thể châm chước cho sự lắm mồm của một người đầy tớ già. Tuy nhiên, điều tất yếu là trong mắt bà, tôi hẳn phải hiện lên như một kẻ thiếu ấn tượng trầm trọng trước tầm quan trọng của vị giám mục, và có lẽ để trừng phạt sự dửng dưng của tôi, hoặc có thể chỉ là tình cờ, một hôm bà thuật lại cho tôi nghe một cuộc trò chuyện mà trong đó tôi gián tiếp là một bên liên quan. Bà đã đến dinh thự để bày tỏ lòng kính trọng với gia đình giám mục, và khi bữa tối kết thúc, bà được triệu tập vào phòng ăn. Khi kể lại về kinh tế gia đình mình, bà tình cờ nhắc đến việc mình đã cho thuê phòng trọ. Ngay lúc đó, vị giám mục nhân từ (có vẻ là vậy) đã nhân cơ hội này để cảnh cáo bà về việc lựa chọn người thuê trọ, “bởi vì,” ngài nói, “cô phải nhớ rằng, Betty, nơi này nằm trên tuyến đường chính dẫn đến vùng Đầu mối (*the Head*); thế nên vô số những kẻ lừa đảo người Ireland đang trốn chạy khoản nợ của chúng sang nước Anh, và những kẻ lừa đảo người Anh đang trốn chạy khoản nợ của chúng sang Đảo Man, rất có thể sẽ chọn nơi này làm lộ trình của chúng.” Lời khuyên này chắc chắn không phải là không có cơ sở hợp lý, nhưng nó thích hợp để cất giữ cho những suy tư riêng tư của bà Betty hơn là đem ra tường thuật đặc biệt cho tôi nghe. Tuy nhiên, điều theo sau đó lại có phần tồi tệ hơn. “Ồ, thưa Chúa ngài,” bà chủ nhà của tôi đáp lại (chiếu theo lời kể của chính bà về sự việc), “tôi thực sự không nghĩ vị thanh niên này là kẻ lừa đảo, bởi vì——” “Bà không nghĩ tôi là kẻ lừa đảo cơ à?” tôi ngắt lời bà, lòng sục sôi phẫn nộ: “từ nay về sau tôi sẽ tha cho bà khỏi phải bận tâm suy nghĩ về điều đó.” Và không chút chậm trễ, tôi chuẩn bị cho cuộc ra đi của mình. Người phụ nữ tốt bụng dường như có ý định nhượng bộ đôi chút; thế nhưng một lời lẽ cay nghiệt và khinh miệt, mà tôi e rằng mình đã áp dụng cho chính vị chức sắc uyên bác ấy, lại khơi dậy sự phẫn nộ của bà, và khi ấy sự hòa giải đã trở thành điều bất khả thi. Quả thực tôi vô cùng tức giận việc vị giám mục lại dám gợi ý bất kỳ căn cứ nghi ngờ nào, dù là xa xôi đến đâu, đối với một người mà ông chưa từng giáp mặt; và tôi đã nghĩ đến việc cho ông biết suy nghĩ của mình bằng tiếng Hy Lạp, điều đó đồng thời sẽ cung cấp một số phỏng đoán rằng tôi không phải là kẻ lừa đảo, và cũng (tôi hy vọng) buộc vị giám mục phải đáp lời bằng chính ngôn ngữ đó; trong trường hợp ấy, tôi không mảy may nghi ngờ việc mình sẽ làm cho người ta thấy rằng nếu tôi không giàu có bằng vị lãnh chúa của ông ta, thì tôi lại là một bậc thầy tiếng Hy Lạp cừ khôi hơn nhiều. Tuy nhiên, những suy nghĩ bình tĩnh hơn đã đẩy thiết kế mang tính trẻ con này ra khỏi tâm trí tôi; bởi tôi tự nhủ rằng vị giám mục có lý khi khuyên nhủ một người đầy tớ già; rằng ông không hề có ý định để lời khuyên của mình bị đem ra tường thuật cho tôi nghe; và rằng chính cái sự thô lỗ trong tư duy đã khiến bà Betty thuật lại lời khuyên ấy hoàn toàn có thể đã tô vẽ nó theo một cách thức phù hợp với phong cách suy nghĩ của chính bà ta hơn là những biểu đạt thực tế của vị giám mục khả kính.
Tôi rời khỏi chỗ trọ ngay trong giờ đó, và điều này hóa ra lại là một biến cố vô cùng bất hạnh đối với tôi, bởi từ đây về sau, khi phải sinh sống ở các quán trọ, tiền bạc của tôi đã cạn kiệt đi một cách nhanh chóng. Chỉ trong vòng hai tuần, tôi bị đẩy vào tình trạng thiếu thốn khẩu phần; nghĩa là tôi chỉ có thể tự cho phép mình dùng một bữa một ngày. Từ cảm giác thèm ăn cồn cào do vận động liên tục và không khí miền núi gây ra, tác động lên cái dạ dày tuổi trẻ, tôi chẳng mấy chốc bắt đầu chịu đựng nỗi khổ sở lớn lao dưới chế độ ăn kiêng kham khổ này, bởi bữa duy nhất mà tôi dám mạnh dạn gọi chỉ là cà phê hoặc trà. Thế nhưng, ngay cả điều đó cuối cùng cũng bị tước đoạt; và sau đó, chừng nào tôi còn ở lại xứ Wales, tôi sinh sống hoặc bằng quả mâm xôi đen, quả tầm xuân, quả táo gai, v.v., hoặc bằng sự hiếu khách tình cờ mà thỉnh thoảng tôi nhận được để đổi lấy những sự giúp đỡ nhỏ nhặt mà tôi có cơ hội cống hiến. Thỉnh thoảng tôi viết thư công việc thay cho những người dân quê tình cờ có họ hàng ở Liverpool hay London; thường xuyên hơn là tôi viết thư tình cho những người yêu của họ thay cho các thiếu nữ từng làm người hầu ở Shrewsbury hoặc các thị trấn khác dọc biên giới nước Anh. Trong mọi trường hợp như thế, tôi đều mang lại sự hài lòng lớn cho những người bạn khiêm nhường của mình, và thường được đối đãi bằng sự hiếu khách; và đặc biệt có một lần, gần ngôi làng Llan-y-styndw (hoặc một cái tên đại loại thế), ở một góc khuất của xứ Merionethshire, tôi được thết đãi suốt hơn ba ngày trời bởi một gia đình trẻ tuổi với tình thân ái và huynh đệ đã để lại trong trái tim tôi một dấu ấn cho đến nay vẫn chưa phai mờ. Gia đình lúc bấy giờ gồm bốn người chị em gái và ba người anh em trai, tất cả đều đã trưởng thành, và đều nổi bật bởi sự tao nhã cùng phong thái tinh tế bẩm sinh. Bấy nhiêu nét đẹp, bấy nhiêu sự giáo dục và tinh tế từ cội nguồn ấy, tôi chưa từng nhớ là đã nhìn thấy ở bất kỳ ngôi điều tranh nào trước hay sau đó, ngoại trừ một hoặc hai lần ở Westmoreland và Devonshire. Họ nói tiếng Anh, một thành tựu không thường bắt gặp ở quá nhiều thành viên trong một gia đình, đặc biệt là ở những ngôi làng xa xôi cách trở khỏi tuyến đường lớn. Tại đây, ngay trong lần đầu tiên ra mắt, tôi đã viết một lá thư về tiền thưởng chiến công cho một người trong số các anh em trai, người từng phục vụ trên một chiến thuyền của Hải quân Anh; và một cách kín đáo hơn là hai bức thư tình cho hai người em gái. Cả hai đều là những thiếu nữ trông rất thu hút, và một người sở hữu vẻ kiều diễm phi thường. Giữa lúc họ bối rối và đỏ bừng mặt, khi đang đọc chính tả, hoặc đúng hơn là đưa cho tôi những chỉ dẫn chung, chẳng cần đến sự thấu hiểu sâu sắc nào cũng có thể nhận ra rằng điều họ mong muốn là những lá thư của họ phải tình tứ nhất có thể trong giới hạn của lòng tự trọng nữ nhi chính chuyên. Tôi đã khéo léo điều chỉnh các biểu đạt của mình sao cho vừa vặn để hòa hợp sự thỏa mãn của cả hai cảm xúc; và họ vô cùng hài lòng với cách tôi diễn đạt suy nghĩ của họ cũng như (với sự ngây thơ của họ) kinh ngạc trước việc tôi đã nhanh chóng nắm bắt chúng đến thế. Sự tiếp đón mà một người nhận được từ những người phụ nữ trong một gia đình thường quyết định âm hưởng của toàn bộ cuộc tiếp đãi dành cho người đó. Trong trường hợp này, tôi đã hoàn thành các nhiệm vụ bảo mật với tư cách thư ký làm hài lòng chung đến mức, có lẽ còn giải trí cho họ bằng cuộc trò chuyện của mình, nên tôi được nài nỉ ở lại với một sự nồng nhiệt mà tôi chẳng có mấy ý chí để từ chối. Tôi ngủ cùng những người anh em trai, chiếc giường trống duy nhất còn lại nằm trong căn phòng của các cô gái trẻ; nhưng ở mọi phương diện khác, họ đối xử với tôi bằng sự kính trọng vốn không thường dành cho những chiếc ví nhẹ tựa như tôi — tựa như học thức của tôi là bằng chứng đủ rõ rằng tôi thuộc dòng dõi “danh gia vọng tộc.” Cứ thế, tôi sống cùng họ suốt ba ngày và phần lớn ngày thứ tư; và từ sự ân cần không suy giảm mà họ tiếp tục bày tỏ, tôi tin rằng mình đã có thể ở lại với họ cho đến tận bây giờ, nếu khả năng của họ tương xứng với mong ước. Tuy nhiên, vào buổi sáng cuối cùng, tôi nhận thấy trên nét mặt họ, khi đang ngồi ăn sáng, biểu hiện của một thông điệp khó chịu nào đó sắp sửa ập đến; và chẳng bao lâu sau, một người trong số các anh em trai giải thích cho tôi hay rằng cha mẹ họ đã đi đến một buổi họp thường niên của giáo hội Giám lý tổ chức tại Carnarvon từ ngày hôm trước, và dự kiến sẽ trở về trong ngày hôm đó; “và nếu họ có không được nhã nhặn như đáng lẽ phải thế,” anh ta thay mặt tất cả những người trẻ tuổi khẩn khoản mong tôi đừng để bụng. Cha mẹ họ trở về với những khuôn mặt cục cằn và câu nói “Dym Sassenach” (không biết tiếng Anh) đáp lại mọi lời chào hỏi của tôi. Tôi hiểu rõ tình hình ra sao; và thế là, gửi lời chào từ biệt đầy lưu luyến đến những người chủ nhà trẻ tuổi tử tế và thú vị của mình, tôi tiếp tục cất bước; bởi dẫu cho họ có nhiệt thành nói đỡ cho tôi trước mặt cha mẹ và thường biện hộ cho thái độ của hai cụ già rằng đó “chỉ là tính cách của họ thôi,” thì tôi thừa hiểu rằng tài năng viết thư tình của mình sẽ chẳng thể giúp ích gì để ghi điểm trong mắt hai vị trưởng lão người xứ Wales theo phái Giám lý nghiêm nghị hơn là những khúc ca họa vận sapphic hay alcaic bằng tiếng Hy Lạp của tôi; và điều từng là lòng hiếu khách khi được trao tặng bằng sự nhã nhặn khả ái từ những người bạn trẻ của tôi, sẽ biến thành sự bố thí khi gắn liền với thái độ phũ phàng của hai vị cao niên này. Quả thực, ông Shelley hoàn toàn có lý trong những quan niệm của mình về tuổi già: trừ phi bị chống lại một cách mạnh mẽ bởi mọi thứ tác động ngược chiều, nó thực sự là kẻ hủy hoại và tàn phá thảm hại đối với những tình nghĩa nhân ái nồng ấm trong trái tim con người.
Chẳng bao lâu sau đó, bằng những phương cách mà tôi buộc phải lược bỏ vì không đủ chỗ, tôi tìm cách di chuyển về London. Và giờ đây bắt đầu giai đoạn sau và dữ dội hơn của chuỗi ngày dài đau khổ; nếu dùng một cách biểu đạt không quá phóng đại, tôi có thể gọi đó là sự thống khổ tột cùng. Bởi giờ đây, tôi phải gánh chịu trong hơn mười sáu tuần lễ nỗi thống khổ thể xác của cơn đói với các mức độ cồn cào khác nhau; thế nhưng cay đắng biết bao, có lẽ là thứ cay đắng nhất mà bất kỳ con người nào từng trải qua mà vẫn sống sót nổi. Tôi không muốn làm tổn hại thêm cảm giác của độc giả bằng cách kể chi tiết mọi điều tôi đã chịu đựng; bởi những cực hình như thế, dù trong bất kỳ hoàn cảnh sai lầm hay tội lỗi nặng nề nào, cũng không thể được ngắm nhìn, ngay cả qua trang văn miêu tả, mà không dấy lên một niềm xót xa đau đớn cho bản tính lương thiện tự nhiên của con người. Hãy để nó dừng lại, ít nhất trong dịp này, bằng lời khẳng định rằng một vài mẩu bánh mì thừa từ bàn ăn sáng của một cá nhân nào đó (người vốn lầm tưởng rằng tôi đang bệnh, chứ không hề hay biết về tình cảnh túng quẫn tuyệt đối của tôi), và những mẩu bánh ấy lại đến vào những khoảng thời gian bất định, đã cấu thành toàn bộ nguồn sống duy nhất của tôi. Trong phần đầu của quãng thời gian đau khổ (nghĩa là chủ yếu ở xứ Wales, và luôn luôn là trong hai tháng đầu tiên ở London), tôi không nhà không cửa, và rất hiếm khi được ngủ dưới một mái nhà. Tôi quy công lớn cho việc phải phơi mình liên tục dưới trời không ấy vì đã giúp tôi không gục ngã trước những cực hình. Tuy nhiên, về sau, khi thời tiết trở nên lạnh giá và khắc nghiệt hơn, và khi qua ngần ấy thời gian chịu đựng, tôi bắt đầu chìm vào một trạng thái kiệt quệ hơn, thì việc chính con người từng cho tôi tiếp cận bàn ăn sáng nọ lại cho phép tôi ngủ trong một ngôi nhà lớn bỏ hoang mà ông ta đang thuê quả thực là một may mắn đối với tôi. Tôi gọi đó là nhà bỏ hoang bởi vì chẳng có hộ gia đình hay cơ ngơi nào sinh sống bên trong; thực ra cũng chẳng có đồ đạc gì ngoài một cái bàn và vài chiếc ghế. Thế nhưng, khi bước vào nhận cơ ngơi mới của mình, tôi phát hiện ra rằng ngôi nhà đã có sẵn một cư dân duy nhất, một đứa trẻ nghèo khổ không nơi nương tựa, bề ngoài có vẻ mười tuổi; nhưng con bé trông hốc hác vì đói, và những cực hình dạng đó thường khiến trẻ con trông già trước tuổi. Từ đứa trẻ khốn khổ này, tôi được biết rằng nó đã ngủ và sống một mình ở đây từ trước khi tôi đến; và sinh linh tội nghiệp ấy đã bày tỏ niềm vui sướng lớn lao biết bao khi phát hiện ra rằng từ nay về sau tôi sẽ là người bạn đồng hành của nó qua những giờ phút tối tăm. Ngôi nhà rất rộng lớn, và do thiếu đồ đạc, tiếng chân chuột chạy tạo ra những tiếng vang dội vô cùng lớn trên cầu thang và sảnh đường rộng thênh thang; và giữa những nỗi đau thể xác thực sự của cái lạnh và, tôi e rằng, cả cơn đói, đứa trẻ bị bỏ rơi ấy vẫn tìm thấy thời gian trống để chịu đựng nhiều hơn nữa (có vẻ là vậy) những nỗi sợ do chính trí tưởng tượng tạo ra về hồn ma bóng quế. Tôi hứa sẽ bảo vệ nó chống lại mọi thể loại ma quỷ trên đời, nhưng hỡi ôi! tôi chẳng thể mang lại cho nó sự trợ giúp nào khác. Chúng tôi nằm trên sàn nhà, dùng một bó tài liệu luật quỷ quái làm gối, và không có bất kỳ tấm chăn che nào khác ngoài một loại áo choàng kỵ mã cỡ lớn; tuy nhiên, sau đó chúng tôi phát hiện ra trên gác mái một tấm vải phủ sô-fa cũ, một mảnh thảm nhỏ, và vài mảnh vụn từ những vật dụng khác, giúp sưởi ấm thêm đôi chút cho chúng tôi. Đứa trẻ tội nghiệp nép sát vào tôi để tìm hơi ấm và sự an toàn trước những kẻ thù ma quỷ của nó. Khi tôi không quá ốm yếu so với bình thường, tôi ôm nó vào lòng, nhờ thế nhìn chung nó cũng tương đối ấm áp, và thường chìm vào giấc ngủ trong khi tôi không thể, bởi trong hai tháng cuối cùng của quãng thời gian thống khổ, tôi ngủ rất nhiều vào ban ngày, và hay chìm vào những giấc ngủ gật chập chờn vào bất kỳ giờ nào. Thế nhưng giấc ngủ còn làm tôi khốn khổ hơn cả thức; bởi ngoài sự hỗn độn trong những giấc chiêm bao (những giấc mơ chỉ thua kém một chút về độ kinh hoàng so với những gì tôi sẽ phải mô tả sau này do thuốc phiện gây ra), giấc ngủ của tôi chưa bao giờ vượt quá cái gọi là giấc ngủ của loài chó (*dog-sleep*); đến mức tôi có thể nghe thấy chính mình đang rên rỉ, và thường có cảm giác như thể bị đánh thức đột ngột bởi chính giọng nói của mình; và vào khoảng thời gian này, một cảm giác ghê rợn bắt đầu ám ảnh tôi ngay khi tôi chìm vào giấc ngủ, thứ mà từ đó về sau vẫn quay trở lại với tôi vào những giai đoạn khác nhau trong đời — tức là một dạng giật giật (tôi không rõ ở đâu, nhưng có vẻ xung quanh vùng dạ dày) buộc tôi phải giật mạnh chân ra nhằm xoa dịu nó. Cảm giác ấy cứ ập đến ngay khi tôi vừa chợp mắt, và nỗ lực xoa dịu nó liên tục đánh thức tôi dậy, hệ quả là cuối cùng tôi chỉ ngủ được vì đã kiệt sức; và do sự suy nhược ngày càng tăng (như tôi đã nói trước đó), tôi liên tục chìm vào giấc ngủ rồi lại liên tục giật mình tỉnh giấc. Trong khi đó, người chủ nhà đôi khi thình lình ghé qua chỗ chúng tôi rất sớm; đôi khi mãi đến mười giờ mới tới, đôi khi lại chẳng thèm ló mặt. Ông ta luôn sống trong nỗi sợ hãi những kẻ đòi nợ. Cải tiến dựa trên kế hoạch của Cromwell, mỗi đêm ông ngủ ở một khu vực khác nhau của London; và tôi nhận ra rằng ông không bao giờ quên việc quan sát qua một ô cửa sổ nhỏ diện mạo của những kẻ gõ cửa trước khi cho phép mở cửa. Ông ăn sáng một mình; quả thực, bộ dụng cụ pha trà của ông khó lòng cho phép ông mạo hiểm mời thêm người thứ hai, cũng giống như số lượng lương thực, phần lớn chỉ là một chiếc bánh mì cuộn hoặc vài chiếc bánh quy mà ông mua trên đường đi từ nơi ngủ trọ của mình tới. Hoặc nếu ông có mời một nhóm khách — như tôi từng nhận xét một cách uyên bác và dí dỏm với ông — thì các thành viên trong nhóm đó hẳn phải đứng trong mối quan hệ kế thừa với nhau (chứ không hề ngồi trong bất kỳ mối quan hệ nào cả), giống như cách các nhà siêu hình học gọi tên, chứ không phải mối quan hệ đồng tồn; trong quan hệ của các phần thời gian, chứ không phải các phần không gian. Trong bữa sáng của ông, tôi thường tìm cớ lảng vảng bước vào, và với vẻ dửng dưng nhất có thể gắp lấy những mẩu vụn mà ông bỏ lại; đôi khi, quả thực chẳng có lấy một mẩu nào. Khi làm điều đó, tôi chẳng phạm tội trộm cắp nào ngoại trừ với chính người đàn ông ấy, kẻ (tôi tin là vậy) vì thế mà thỉnh thoảng buộc phải sai người ra ngoài vào lúc giữa trưa để mua thêm một chiếc bánh quy; còn về phần đứa trẻ tội nghiệp, nó chưa bao giờ được bước vào phòng nghiên cứu của ông ta (nếu tôi có thể dùng cái tên đó để gọi kho chứa tài liệu da cừu, văn bản luật, v.v., chính yếu của ông ta); căn phòng đó đối với nó chính là căn phòng Râu Xanh của ngôi nhà, luôn bị khóa chặt một cách có hệ thống mỗi khi ông ta khởi hành đi ăn tối, vào khoảng sáu giờ, vốn thường là lúc ông ta rời đi hẳn cho cả buổi tối. Đứa trẻ này là con hoang của ngài —— hay chỉ là một đứa hầu, tôi không thể xác định được; chính nó cũng chẳng rõ; nhưng chắc chắn nó bị đối xử hoàn toàn như một đứa hầu hạ thấp cổ bé họng. Ngay khi ngài —— xuất hiện, nó liền xuống lầu, đánh giày, chải áo cho ông ta, v.v.; và ngoại trừ khi bị triệu tập để sai vác việc vặt, nó không bao giờ ngoi lên khỏi cái địa ngục Tartarus u ám của nhà bếp, v.v., cho đến khi tiếng gõ cửa đáng mong chờ của tôi vào ban đêm gọi những bước chân nhỏ bé run rẩy của nó hướng lên cánh cửa trước. Tuy nhiên, về cuộc sống ban ngày của nó, tôi biết rất ít ngoài những gì thu thập được từ lời kể của nó vào ban đêm, bởi ngay khi giờ làm việc bắt đầu, tôi nhận ra rằng sự vắng mặt của tôi sẽ được hoan nghênh, và do đó nhìn chung tôi thường bỏ đi ngồi ở các công viên hoặc đâu đó cho đến tận khi màn đêm buông xuống.
Nhưng giữa lúc ấy, chủ nhân của ngôi nhà rốt cuộc là ai và là người như thế nào? Thưa độc giả, ông ta là một trong những kẻ hành nghề dị biệt trong các ngõ ngách thấp kém của ngành luật — tôi phải nói thế nào đây?— những kẻ vì lý do thận trọng, hoặc vì sự bức bách, đã tự từ chối mọi sự xả láng trong việc nuông chiều một lương tâm quá đỗi tinh tế (một cách diễn đạt uyển chuyển vốn có thể được lược bớt đáng kể, nhưng điều đó xin nhường lại cho gu thẩm mỹ của độc giả): trong nhiều ngã rẽ cuộc đời, một lương tâm là một món gánh nặng đắt đỏ hơn cả một người vợ hay một cỗ xe ngựa; và cũng giống như người ta hay nói về việc “từ bỏ” những cỗ xe ngựa của họ, tôi đoán rằng người bạn ngài —— của tôi cũng đã “từ bỏ” lương tâm của mình trong một thời gian, với ý định chắc chắn là sẽ tái sử dụng nó ngay khi có đủ khả năng chi trả. Đời sống kinh tế nội tâm hằng ngày của một con người như thế hẳn sẽ bày ra một bức tranh vô cùng kỳ quái, nếu tôi cho phép mình giải trí độc giả bằng chi phí của ông ta. Ngay cả với những cơ hội quan sát hạn hẹp của tôi về những gì diễn ra, tôi cũng từng chứng kiến nhiều màn âm mưu chốn London cùng những mánh khóe tinh vi phức tạp, “vòng tròn lồng vòng tròn, quỹ đạo trong quỹ đạo,” mà đến tận ngày nay đôi khi tôi vẫn mỉm cười và khi ấy tôi cũng mỉm cười, bất chấp nỗi khốn khổ của mình. Tuy nhiên, hoàn cảnh của tôi vào thời điểm đó đã ban cho tôi rất ít trải nghiệm thực tế về bất kỳ phẩm chất nào trong nhân cách của ngài —— ngoại trừ những điều mang lại vinh dự cho ông; và trong toàn bộ cấu trúc kỳ lạ của ông, tôi buộc phải quên đi mọi thứ ngoại trừ việc đối với tôi, ông rất đỗi nhã nhặn, và trong giới hạn khả năng của mình, là một người hào phóng.
Khả năng ấy quả thật không quá bao la; dẫu vậy, cùng chung cảnh ngộ với loài chuột, tôi được ở trọ miễn phí không mất tiền nhà; và cũng như Tiến sĩ Johnson từng ghi chép rằng trong đời ông chỉ có đúng một lần được ăn trái cây treo trên tường thỏa thích, xin hãy để tôi biết ơn rằng trong dịp độc nhất ấy, tôi đã có một sự lựa chọn các căn phòng trong một dinh thự ở London rộng rãi đúng như khao khát tối đa của mình. Ngoại trừ căn phòng Râu Xanh mà đứa trẻ tội nghiệp tin là bị ma ám, tất cả các phòng khác, từ gác mái cho tới tầng hầm, đều thuộc quyền sử dụng của chúng tôi; “thế giới rộng lớn mở ra trước mắt,” và chúng tôi cắm trại qua đêm ở bất kỳ đốm đất nào mình chọn. Ngôi nhà này tôi đã miêu tả là một ngôi nhà lớn; nó tọa lạc ở một vị trí dễ thấy và thuộc một khu vực nổi tiếng của London. Chắc hẳn nhiều độc giả của tôi đã từng đi ngang qua nó trong vòng vài giờ trước khi đọc những dòng này. Về phần mình, mỗi khi công việc đưa đẩy tôi đến London, tôi không bao giờ quên ghé qua thăm nó; vào khoảng mười giờ đúng đêm nay, ngày 15 tháng 8 năm 1821 — đúng vào ngày sinh nhật của tôi — tôi đã rẽ khỏi quãng đường đi dạo buổi tối dọc theo Phố Oxford, cố ý ghé qua để ngắm nhìn nó một thoáng; giờ đây nó đang được cư ngụ bởi một gia đình đáng kính, và qua những ánh đèn ở phòng khách phía trước, tôi quan sát thấy một gia đình quây quần tụ họp, có lẽ đang uống trà, trông có vẻ vui tươi và náo nhiệt. Thật là một sự tương phản kỳ diệu trong mắt tôi so với bóng tối, cái lạnh, sự tĩnh mịch và hoang tàn của chính ngôi nhà ấy mười năm về trước, khi những cư dân hằng đêm của nó chỉ là một học giả đang chết đói và một đứa trẻ bị bỏ bê. Nhân tiện nói về đứa con bé nhỏ ấy, những năm về sau tôi đã hoài công tìm kiếm tung tích của nó. Tách biệt khỏi hoàn cảnh sống, con bé không phải là thứ người ta gọi là một đứa trẻ thú vị; nó chẳng xinh xắn, cũng không nhanh trí hay có phong thái cực kỳ dễ mến. Nhưng tạ ơn Chúa! ngay cả trong những năm tháng đó, tôi cũng chẳng cần đến những thứ trang hoàng tiểu tiết từ tiểu thuyết để khuấy động tình cảm của mình: bản tính con người mộc mạc, trong xiêm y khiêm nhường và bình dị nhất, đối với tôi đã là quá đủ, và tôi yêu mến đứa trẻ bởi vì nó là người bạn đồng hành của tôi trong cảnh khốn cùng. Nếu giờ đây nó còn sống, có lẽ nó đã làm mẹ và có những đứa con của riêng mình; nhưng như tôi đã nói, tôi chưa bao giờ có thể dò ra tung tích của nó.
Tôi hối tiếc vì điều đó; nhưng có một con người khác vào thời điểm ấy mà từ đó về sau tôi đã tìm kiếm với một nỗi thiết tha sâu sắc hơn nhiều, và với niềm đau đớn lớn lao hơn nhiều khi thất bại. Người này là một thiếu nữ, thuộc cái tầng lớp bất hạnh chuyên sinh sống bằng tiền bán thân. Tôi không cảm thấy hổ thẹn, cũng chẳng có lý do gì để hổ thẹn, khi thừa nhận rằng khi ấy tôi có mối quan hệ thân thiết và hữu hảo với nhiều phụ nữ trong hoàn cảnh khốn đốn đó. Độc giả không cần phải mỉm cười trước lời thú nhận này cũng như không cần phải nhíu mày; bởi, để không phải gợi nhắc các độc giả uyên bác của tôi về câu tục ngữ Latin cổ, “Sine cerere” (Không có bánh mì, tình yêu sẽ lụi tàn), v.v., người ta hoàn toàn có thể đoán rằng trong tình trạng trống rỗng của chiếc ví lúc bấy giờ, mối liên hệ của tôi với những người phụ nữ ấy không thể nào là một sự liên hệ ô uế được. Nhưng sự thật là, chưa bao giờ trong suốt cuộc đời mình, tôi lại là một kẻ tự cho rằng bản thân bị vấy bẩn bởi sự chạm mẫm hay tiếp cận của bất kỳ sinh linh nào mang hình hài con người; ngược lại, ngay từ thuở niên thiếu sớm nhất, niềm kiêu hãnh của tôi là được trò chuyện một cách thân mật, theo lối Socrates (*more Socratio*), với tất cả mọi con người, nam, nữ và trẻ em, mà sự tình cờ có thể ném vào lối đi của tôi; một thói quen vốn thân thiện với sự thấu hiểu bản tính con người, với những tình cảm tốt đẹp, và với phong thái cởi mở xứng đáng với một người muốn được coi là triết gia. Bởi một triết gia không nên nhìn ngắm qua đôi mắt của sinh linh hạn hẹp tự xưng là kẻ sành đời, và ngập tràn những định kiến hẹp hòi vị kỷ về dòng dõi và học thức, mà nên nhìn nhận bản thân như một tạo vật khoáng đạt, đứng trong mối quan hệ bình đẳng với người cao sang lẫn kẻ hèn mọn, người có học thức lẫn kẻ vô học, kẻ có tội lẫn người vô tội. Bản thân khi ấy buộc phải là một kẻ lang thang (*peripatetic*), hay kẻ đi bộ trên đường phố, tôi tự nhiên thường xuyên bắt gặp những nữ lữ hành vạn lý ấy, những kẻ theo thuật ngữ chuyên môn được gọi là gái điếm đường phố (*street-walkers*). Nhiều người trong số những người phụ nữ này đôi khi đã đứng ra bênh vực tôi trước những tên canh gác muốn xua đuổi tôi khỏi bậc thềm của những ngôi nhà nơi tôi đang ngồi. Thế nhưng một người trong số họ, người mà vì nàng mà tôi mới đưa chủ đề này ra — nhưng không! xin đừng xếp nàng — ôi, người thiếu nữ Ann có tâm hồn cao thượng — vào cùng hàng ngũ với những người phụ nữ ấy. Mong sao tôi tìm được một cái tên dịu dàng hơn, nếu có thể, để chỉ định hoàn cảnh của con người mà nhờ lòng quảng đại và trắc ẩn của nàng, khi ban phát sự trợ giúp cho những nhu cầu khẩn cấp của tôi lúc cả thế gian đã quay lưng ruồng bỏ, tôi mới có thể tồn tại cho đến ngày nay. Trong nhiều tuần lễ, tôi đã đi dạo vào ban đêm cùng cô gái nghèo không nơi nương tựa này dọc theo Phố Oxford, hoặc ngồi nghỉ cùng nàng trên các bậc thềm và dưới mái hiên của những hàng hiên. Nàng chắc chắn không lớn tuổi bằng tôi; quả thực nàng từng nói với tôi rằng nàng chưa tròn mười sáu tuổi. Qua những câu hỏi do nỗi niềm quan tâm đến nàng thúc đẩy, tôi đã dần dà khơi gợi ra câu chuyện đời giản dị của nàng. Hoàn cảnh của nàng là một trường hợp thường tình (như tôi sau này có lý do để nghĩ), và là một trường hợp mà nếu lòng bác ái của London điều chỉnh lại các sắp xếp của mình tốt hơn để đối phó với nó, thì quyền lực của pháp luật có lẽ đã có thể thường xuyên can thiệp hơn để bảo vệ và báo thù cho họ. Thế nhưng dòng chảy của lòng bác ái chốn London tuôn chảy trong một lòng sông dẫu sâu thẳm và hùng vĩ nhưng lại lặng lẽ và chảy ngầm; không hiển hiện hay dễ dàng tiếp cận đối với những kẻ lang thang vô gia cư khốn khổ; và không thể chối cãi rằng bầu không khí cùng khung cảnh bên ngoài của xã hội London rất khắc nghiệt, tàn nhẫn và đầy tính cự tuyệt. Dù thế đi nữa, trong bất kỳ trường hợp nào, tôi nhận thấy rằng một phần những tổn thương mà nàng gánh chịu hoàn toàn có thể được đền bù dễ dàng, và tôi đã thường xuyên và khẩn khoản giục nàng hãy đưa đơn khiếu nại trước một vị thẩm phán. Dù không nơi nương tựa, tôi vẫn quả quyết với nàng rằng nàng sẽ nhận được sự quan tâm tức thì, và rằng công lý nước Anh, vốn không thiên vị bất kỳ ai, sẽ nhanh chóng và trọn vẹn trừng phạt tên bạo chúa vũ phu đã cướp đoạt khối tài sản nhỏ bé của nàng. Nàng đã hứa với tôi nhiều lần rằng nàng sẽ làm thế, nhưng nàng cứ trì hoãn việc thực hiện những bước đi mà tôi vạch ra lần này qua lần khác, bởi nàng nhút nhát và chán nản đến mức cho thấy nỗi buồn đã bám rễ sâu sắc biết bao vào trái tim non trẻ của nàng; và có lẽ nàng đã suy nghĩ đúng đắn rằng vị thẩm phán chính trực nhất và những tòa án công minh nhất cũng chẳng thể làm gì để khắc phục những bất công nặng nề nhất mà nàng gánh chịu. Dù vậy, có lẽ một điều gì đó đã có thể được thực hiện, bởi chúng tôi cuối cùng đã định đoạt với nhau, nhưng trớ trêu thay vào đúng lần gặp gỡ suýt soát cuối cùng mà tôi còn có cơ hội nhìn thấy nàng, rằng chỉ trong một hai ngày nữa chúng tôi sẽ cùng nhau bước ra trước một vị thẩm phán, và tôi sẽ lên tiếng thay cho nàng. Tuy nhiên, dịch vụ nhỏ bé ấy định mệnh đã không cho phép tôi thực hiện. Trong khi đó, điều mà nàng dành cho tôi, thứ vĩ đại hơn cả những gì tôi có thể trả ơn nàng, là thế này:—Một đêm nọ, khi chúng tôi đang lê bước chậm chạp dọc theo Phố Oxford, sau một ngày mà tôi cảm thấy ốm yếu và mệt lả hơn bình thường, tôi ngỏ lời xin nàng rẽ cùng tôi vào Quảng trường Soho. Chúng tôi đi đến đó, và ngồi xuống các bậc thềm của một ngôi nhà, nơi mà cho đến tận giờ phút này tôi chưa bao giờ bước qua mà không cảm thấy nhói đau trong lòng cùng một cử chỉ tôn kính thầm lặng hướng về linh hồn của người thiếu nữ bất hạnh ấy, tưởng nhớ hành động cao cả mà nàng đã thực hiện tại nơi đó. Bất thình lình, khi chúng tôi đang ngồi, tình trạng của tôi trở nên tồi tệ hơn nhiều. Tôi đã tựa đầu vào ngực nàng, và đột nhiên tôi khuỵu xuống khỏi vòng tay nàng rồi ngã ngửa ra đằng sau trên các bậc thềm. Từ những cảm giác tôi trải qua lúc bấy giờ, tôi có một niềm tin nội tâm sống động rằng nếu không có một chất kích thích mạnh mẽ và hồi sinh nào đó, tôi hoặc sẽ chết ngay tại chỗ, hoặc ít nhất cũng sẽ chìm xuống một điểm kiệt quệ mà từ đó mọi sự trỗi dậy dưới hoàn cảnh không một bóng bạn bè của tôi sẽ sớm trở thành điều vô vọng. Chính vào khoảnh khắc ấy, tại nút thắt định mệnh của đời tôi, người bạn đồng hành mồ côi khốn khổ của tôi, người bản thân vốn chỉ nhận lại toàn những tổn thương ở thế gian này, đã vươn đôi tay cứu rỗi ra với tôi. Cất lên một tiếng thét kinh hoàng, nhưng không chậm trễ dù chỉ một khoảnh khắc, nàng chạy vụt đi vào Phố Oxford, và trong khoảng thời gian ngắn hơn tưởng tượng đã quay trở lại với tôi cùng một ly rượu vang đỏ pha gia vị, thứ đã tác động lên chiếc dạ dày trống rỗng của tôi — vào thời điểm ấy vốn sẽ từ chối mọi thức ăn đặc — với một sức mạnh hồi phục tức thì; và vì ly rượu ấy, người con gái hào phóng không một lời phàn nàn đã móc từ chiếc ví nghèo nàn của mình ra để trả vào một thời điểm — xin hãy ghi nhớ điều đó! — khi nàng hầu như chẳng có nổi thứ gì để mua những nhu yếu phẩm trần trụi của cuộc sống, và khi nàng chẳng có chút lý do nào để hy vọng rằng tôi sẽ có ngày đủ khả năng hoàn trả cho nàng.
Ôi, nữ ân nhân thời niên thiếu! biết bao nhiêu lần trong những năm tháng tiếp theo, khi đứng giữa những chốn cô độc, và nhớ về nàng với nỗi đau thắt trong tim cùng tình yêu trọn vẹn — biết bao nhiêu lần tôi đã ước rằng, giống như thời cổ đại, lời nguyền rủa của một người cha từng được tin là có sức mạnh siêu nhiên, và sẽ đeo bám đối tượng của nó với một sự tất yếu định mệnh tự ứng nghiệm; thì cũng thế, lời cầu phước của một trái tim trĩu nặng lòng biết ơn cũng có thể mang một đặc quyền tương tự, có thể được ban cho sức mạnh từ trên cao để truy đuổi, để ám ảnh, để mai phục, để vượt qua, để đuổi theo nàng vào tận trung tâm tăm tối của một lầu xanh chốn London (hoặc nếu có thể) vào tận bóng tối của nấm mồ, để đánh thức nàng ở nơi ấy với một thông điệp xác thực về sự bình an, sự tha thứ, và sự hòa giải cuối cùng!
Tôi không thường xuyên khóc lóc: bởi không chỉ vì những suy nghĩ của tôi về các chủ đề liên quan đến lợi ích cốt lõi của con người hằng ngày, vâng, hằng giờ, đều chìm sâu hàng ngàn fathom “quá sâu để rơi nước mắt;” không chỉ vì sự khắc khổ trong các thói quen tư duy của tôi tạo ra một sự kháng cự đối với những cảm xúc thúc đẩy dòng lệ — điều vốn dĩ thiếu vắng ở những kẻ, thường được bảo vệ bởi sự nhẹ dạ của họ khỏi mọi xu hướng đi vào nỗi buồn trầm mặc, cũng chính bởi sự nhẹ dạ đó mà trở nên bất lực trong việc chống đỡ nó trước bất kỳ sự bộc phát ngẫu nhiên nào của những cảm xúc ấy; mà hơn thế, tôi tin rằng tất cả những tâm hồn từng ngắm nhìn những đối tượng ấy sâu sắc như tôi, để tự bảo vệ mình khỏi sự chán chường tuyệt vọng tột độ, từ sớm đã phải dung dưỡng và ấp ủ một niềm tin mang tính xoa dịu nào đó về sự cân bằng trong tương lai và những tầng ý nghĩa tượng trưng của nỗi thống khổ nhân gian. Nhờ những lý do ấy mà tôi vẫn giữ được sự vui tươi cho đến ngày nay, và như tôi đã nói, tôi không hay rơi lệ. Thế nhưng một vài cảm xúc, dẫu không sâu sắc hay nồng nhiệt hơn, lại trở nên mềm mại hơn những cảm xúc khác; và thường thì, khi tôi đi dạo vào thời điểm này dọc theo Phố Oxford dưới ánh đèn đường mờ ảo, và lắng nghe những giai điệu được tấu lên từ cây đàn phong cầm từng xoa dịu tôi cùng người bạn thân thiết của tôi (như tôi phải luôn gọi nàng), tôi lại tuôn rơi nước mắt, và tự ngẫm nghĩ một mình về sự bài trí huyền bí đã chia cắt chúng tôi một cách đột ngột và chí mạng vĩnh viễn là nhường nào. Sự việc đã diễn ra ra sao, độc giả sẽ hiểu được từ phần còn lại của lời tường thuật nhập đề này.
Chẳng bao lâu sau khoảng thời gian của sự cố cuối cùng mà tôi ghi lại, tôi đã gặp trên Phố Albemarle một quý ông thuộc triều đình của cố Quốc vương ngài. Vị quý ông này từng nhận được sự hiếu khách trong nhiều dịp khác nhau từ gia đình tôi, và ông đã bắt chuyện với tôi dựa trên nét tương đồng dòng tộc. Tôi không hề mưu toan ngụy trang nào; tôi trả lời các câu hỏi của ông một cách chân tình, và khi ông cam kết bằng danh dự của mình rằng sẽ không phản bội tôi trước những người giám hộ, tôi đã đưa cho ông địa chỉ đến người bạn luật sư của tôi. Ngày hôm sau, tôi nhận được từ ông một tờ tiền ngân hàng trị giá 10 bảng Anh. Bức thư đính kèm được trao tận tay vị luật sư cùng với những bức thư công việc khác, dẫu cho cái nhìn và phong thái của ông ta ngầm thông báo rằng ông ta nghi ngờ nội dung bên trong, nhưng ông ta vẫn trao nó lại cho tôi một cách danh dự và không một chút do dự.
Món quà này, từ chính mục đích cụ thể mà nó được ứng dụng, đã dẫn dắt tôi một cách tự nhiên đến việc kể về mục đích đã lôi kéo tôi lên London, thứ mà tôi đã (dùng một thuật ngữ pháp lý) theo đuổi từ ngày đầu tiên đặt chân đến London cho đến ngày cuối cùng rời đi.
Trong một thế giới hùng vĩ như London, độc giả của tôi hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng tôi đã không tìm ra bất kỳ phương kế nào để xua đi những cực hình cùng cực của cảnh bần hàn; và họ sẽ thắc mắc rằng ít nhất hai nguồn lực hẳn đã rộng mở trước mắt tôi — nghĩa là, hoặc tìm kiếm sự trợ giúp từ những người bạn của gia đình, hoặc biến những tài năng và học thức thời niên thiếu của mình thành một kênh mưu sinh tài chính. Về con đường thứ nhất, tôi có thể nhận xét chung rằng điều tôi khiếp sợ hơn mọi tệ nạn khác chính là nguy cơ bị lôi kéo trở về bởi những người giám hộ; tôi không mảy may nghi ngờ rằng bất kỳ quyền lực nào mà pháp luật trao cho họ đều sẽ được áp dụng triệt để chống lại tôi — nghĩa là đẩy đến cực đoan là cưỡng chế đưa tôi trở lại ngôi trường mà tôi đã bỏ dở, một sự trở lại mà trong mắt tôi vốn đã là một sự nhục nhã ngay cả khi chịu đựng một cách tự nguyện, thì chắc chắn khi bị ép buộc trong sự khinh miệt và thách thức đối với những mong muốn và nỗ lực của chính tôi, sẽ trở thành một sự sỉ nhục tồi tệ hơn cái chết đối với tôi, và thực chất sẽ chấm dứt bằng cái chết. Do đó, tôi vô cùng e dè trong việc xin trợ giúp ngay cả ở những nơi mà tôi chắc chắn sẽ nhận được nó, vì đánh đổi bằng rủi ro cung cấp cho những người giám hộ bất kỳ manh mối nào để tìm lại tôi. Nhưng riêng đối với London, dẫu cho sinh thời cha tôi chắc chắn đã có rất nhiều bạn bè ở đây, thế nhưng (vì đã mười năm trôi qua từ khi ông qua đời) tôi chỉ nhớ được một vài người trong số họ ngay cả bằng tên; và chưa từng đặt chân đến London trước đó, ngoại trừ một lần trong vài giờ, tôi thậm chí không biết địa chỉ của dù chỉ vài người ít ỏi ấy. Do đó, phương thức tìm kiếm sự trợ giúp này, một phần do khó khăn, nhưng phần lớn hơn là nỗi sợ hãi tột độ mà tôi đã đề cập, đã theo thói quen khiến tôi chùn bước. Đối với phương thức thứ hai, giờ đây tôi cảm thấy phân vân tự hỏi liệu mình có nên đồng ý với độc giả khi lấy làm ngạc nhiên vì tôi đã bỏ sót nó. Với tư cách là một người sửa bản in tiếng Hy Lạp (nếu không bằng cách nào khác), tôi chắc chắn đã có thể kiếm đủ cho những nhu cầu chi tiêu eo hẹp của mình. Một chức vụ như thế tôi có thể hoàn thành với sự chính xác mẫu mực và đúng giờ, điều mà chẳng mấy chốc sẽ giành được sự tin cậy từ những người chủ thuê tôi. Nhưng không thể quên rằng, ngay cả đối với một chức vụ như thế, điều tiên quyết là tôi phải có một lời giới thiệu đến một nhà xuất bản đáng kính nào đó, và tôi hoàn toàn không có phương tiện nào để đạt được điều đó. Phải thú thực rằng, chưa từng có một lần nào ý nghĩ coi các công việc văn chương như một nguồn kiếm lời lại xuất hiện trong tâm trí tôi. Không có phương thức kiếm tiền nào đủ nhanh chóng từng xuất hiện trong đầu tôi ngoài việc đi vay mượn dựa trên sức nặng của những quyền lợi và kỳ vọng trong tương lai của tôi. Phương thức này tôi đã tìm mọi ngõ ngách để thực hiện; và trong số những người khác, tôi đã đến gặp một người Do Thái tên là D—— {4}
Đến gặp người Do Thái này, và những kẻ cho vay nặng lãi đăng quảng cáo khác (tôi tin rằng một số trong số đó cũng là người Do Thái), tôi đã tự giới thiệu bản thân bằng một bản tường trình về những kỳ vọng của mình; bản tường trình mà khi kiểm tra di chúc của cha tôi tại Văn phòng Phác thảo Di chúc (*Doctors’ Commons*), họ đã xác định là chính xác. Nhân vật được nhắc đến ở đó với tư cách là người con trai thứ hai của —— được phát hiện là có đầy đủ mọi quyền lợi (hoặc hơn thế nữa) mà tôi đã trình bày; thế nhưng vẫn còn lại một câu hỏi, thứ mà những khuôn mặt của những người Do Thái đã gợi ý một cách khá ý nghĩa — liệu tôi có phải là con người đó hay không? Mối nghi ngờ này chưa từng xuất hiện trong đầu tôi như một khả năng có thật; tôi thậm chí từng lo sợ, bất cứ khi nào những người bạn Do Thái của tôi soi xét tôi một cách sắc sảo, rằng bản thân có lẽ đã quá nổi tiếng để mà đúng là con người đó, và rằng một âm mưu nào đó có thể đang diễn ra trong tâm trí họ nhằm bẫy tôi và bán tôi cho những người giám hộ của mình. Thật kỳ lạ khi thấy chính bản thân tôi xét về mặt vật chất (*materialiter*) (tôi diễn đạt như thế, vì tôi đắm chìm trong sự chính xác về mặt logic của các phân biệt), bị cáo buộc, hoặc ít nhất là bị nghi ngờ, là đang giả mạo chính bản thân mình xét về mặt hình thức (*formaliter*). Tuy nhiên, để dập tắt những mối nghi ngờ của họ, tôi đã chọn con đường duy nhất nằm trong khả năng của mình. Khi còn ở xứ Wales, tôi đã nhận được nhiều bức thư khác nhau từ những người bạn trẻ; tôi mang những bức thư này ra, bởi tôi luôn mang chúng kè kè trong túi, thực ra vào thời điểm này chúng gần như là những di vật duy nhất thuộc về gánh nặng cá nhân của tôi (ngoại trừ quần áo tôi đang mặc) mà tôi chưa đem bán đứt bằng cách này hay cách khác. Phần lớn những bức thư này đến từ Bá tước ——, người vào thời điểm đó là người bạn tâm giao chính (hoặc đúng hơn là duy nhất) của tôi. Những bức thư này được đề ngày từ Eton. Tôi cũng có một số bức thư từ Hầu tước ——, cha của ông ta, người dẫu đắm chìm trong các công việc đồng áng, nhưng từng là một cựu học sinh Eton, đồng thời là một học giả cừ khôi như một nhà quý tộc cần có, nên vẫn giữ gìn tình yêu dành cho các nghiên cứu cổ điển và những học giả trẻ tuổi. Do đó, từ khi tôi mười lăm tuổi, ông vẫn thường xuyên thư tín với tôi; đôi khi bàn về những cải tiến lớn lao mà ông đã thực hiện hoặc đang mưu tính ở các hạt M—— và Sl—— kể từ khi tôi đến đó, đôi khi về phẩm chất của một nhà thơ Latin, và những lần khác lại gợi ý cho tôi những chủ đề mà ông muốn tôi viết thơ.
Khi đọc những bức thư đó, một trong những người bạn Do Thái của tôi đồng ý cung cấp cho tôi hai hoặc ba trăm bảng Anh dựa trên bảo đảm cá nhân của tôi, với điều kiện tôi có thể thuyết phục vị Bá tước trẻ tuổi —— — nhân tiện nói thêm là không lớn tuổi hơn tôi — đứng ra bảo lãnh cho khoản thanh toán khi chúng tôi đến tuổi trưởng thành; mục đích cuối cùng của kẻ cho vay nặng lãi, theo tôi phỏng đoán lúc bấy giờ, không phải là khoản lợi nhuận vụn vặt mà hắn có thể kiếm được từ tôi, mà là viễn cảnh thiết lập một mối quan hệ với người bạn quý tộc của tôi, người có những kỳ vọng to lớn vốn được hắn biết rõ. Theo đuổi đề xuất này từ phía người Do Thái, khoảng tám hoặc chín ngày sau khi tôi nhận được khoản tiền 10 bảng Anh, tôi chuẩn bị lên đường đi Eton. Gần 3 bảng Anh trong số tiền đó tôi đã đưa cho người bạn chuyên cho vay nặng lãi của mình, theo lý lẽ của hắn là cần phải mua tem thuế, nhằm chuẩn bị các văn bản trong lúc tôi vắng mặt ở London. Tự đáy lòng, tôi nghĩ rằng hắn đang nói dối; nhưng tôi không muốn trao cho hắn bất kỳ cái cớ nào để đổ lỗi những sự chậm trễ của chính hắn lên đầu tôi. Một khoản tiền nhỏ hơn tôi đã đưa cho người bạn luật sư của mình (người có liên hệ với những kẻ cho vay nặng lãi với tư cách là luật sư của họ), mà quả thực ông ta xứng đáng được hưởng cho căn phòng trọ trống trải của mình. Khoảng mười lăm xu tôi đã dùng để khôi phục lại (dù theo một cách rất khiêm nhường) trang phục của mình. Số còn lại, tôi đưa một phần tư cho Ann, với ý định khi trở về sẽ chia sẻ với nàng bất cứ thứ gì còn sót lại. Những sắp xếp đó đã hoàn tất, ngay sau sáu giờ tối của một buổi tối mùa đông tăm tối, tôi lên đường, có Ann đi cùng, hướng về phía Piccadilly; bởi tôi có ý định đi xuống tận Salthill trên chuyến xe thư tín tuyến Bath hoặc Bristol. Lộ trình của chúng tôi đi qua một phần của thị trấn nay đã biến mất hoàn toàn, đến nỗi tôi không thể dò lại ranh giới cổ xưa của nó — Phố Swallow, tôi nghĩ nó được gọi như thế. Dù còn dư dả thời gian, chúng tôi vẫn rẽ về bên trái cho đến khi tới Quảng trường Golden; ở đó, gần góc Phố Sherrard, chúng tôi ngồi xuống, không muốn chia tay giữa chốn hỗn độn và rực rỡ của Piccadilly. Tôi đã kể cho nàng nghe về các kế hoạch của mình từ trước đó một thời gian, và giờ đây tôi lại tái khẳng định với nàng rằng nàng sẽ được chia sẻ vận may của tôi, nếu tôi gặt hái được bất kỳ điều gì, và rằng tôi sẽ không bao giờ ruồng bỏ nàng ngay khi tôi có đủ quyền lực để bảo vệ nàng. Tôi hoàn toàn có ý định đó, xuất phát từ thiện chí nhiều không kém ý thức về trách nhiệm; bởi gạt bỏ ơn nghĩa, vốn trong bất kỳ trường hợp nào cũng khiến tôi mang nợ nàng suốt đời, tôi yêu mến nàng tha thiết hệt như thể nàng là em gái ruột của mình; và vào khoảnh khắc này, với sự dịu dàng gấp bảy lần, từ lòng xót thương khi chứng kiến sự chán nản cùng cực của nàng. Bản thân tôi thoạt nhìn có vẻ là kẻ có nhiều lý do để chán nản nhất, bởi tôi đang rời xa vị cứu tinh của đời mình; thế nhưng tôi, khi cân nhắc cú sốc mà sức khỏe của mình phải gánh chịu, lại vô cùng vui tươi và tràn ngập hy vọng. Trái lại, nàng, người đang phải chia tay với một kẻ chẳng có mấy phương cách để giúp ích cho mình ngoại trừ sự tử tế và đối xử huynh đệ, lại bị gặm nhấm bởi nỗi buồn; đến nỗi khi tôi hôn tiễn biệt nàng trong lần cuối cùng, nàng vòng đôi tay qua cổ tôi và khóc nức nở không nói nên lời. Tôi hy vọng sẽ trở về trong vòng một tuần là chậm nhất, và tôi đã thỏa thuận với nàng rằng vào đêm thứ năm kể từ hôm đó, và mọi đêm sau đó, nàng sẽ đợi tôi lúc sáu giờ gần khúc cuối của Phố Great Titchfield, nơi từng là chốn thiên đường hẹn hò quen thuộc của chúng tôi, nhằm tránh việc chúng tôi lỡ mất nhau giữa "địa trung hải" Phố Oxford vĩ đại. Biện pháp này và các biện pháp phòng ngừa khác tôi đều thực hiện; chỉ có một điều duy nhất tôi quên mất. Nàng hoặc chưa từng nói với tôi, hoặc (như một vấn đề chẳng mấy quan trọng) tôi đã quên mất họ của nàng. Thật ra, đây là tập quán chung của những cô gái xuất thân khiêm nhường trong hoàn cảnh bất hạnh của nàng, không tự xưng là Cô Douglas, Cô Montague, v.v., như những người phụ nữ ham đọc tiểu thuyết có cao vọng hơn, mà đơn giản chỉ gọi bằng tên thánh của họ — Mary, Jane, Frances, v.v. Họ của nàng, như phương cách chắc chắn nhất để dò tìm tung tích nàng sau này, lẽ ra tôi phải hỏi cho ra lẽ; nhưng sự thật là, vì chẳng có lý do gì để nghĩ rằng cuộc gặp gỡ của chúng tôi có thể, do một sự gián đoạn ngắn ngủi, trở nên khó khăn hay bấp bênh hơn so với suốt bao nhiêu tuần qua, nên tôi hầu như chẳng mảy quan tâm đến nó như một điều cần thiết, hay xếp nó vào danh sách ghi nhớ cho cuộc gặp gỡ tiễn biệt này; và những nỗi lo âu cuối cùng của tôi đều dồn hết vào việc an ủi nàng bằng niềm hy vọng, và giục giã nàng sự cần thiết phải mua thuốc trị chứng ho dữ dội và khàn giọng mà nàng đang mắc phải, nên tôi hoàn toàn quên bẵng nó cho đến khi quá muộn để gọi nàng quay lại.
Đã qua tám giờ khi tôi đến Quán cà phê Gloucester, và chuyến xe thư tín Bristol sắp sửa khởi hành, tôi liền leo lên mui xe. Chuyển động êm ru mượt mà {5} của chuyến xe thư tín này chẳng mấy chốc đã ru tôi chìm vào giấc ngủ: thật đáng chú ý là giấc ngủ dễ chịu hoặc sảng khoái đầu tiên mà tôi tận hưởng được trong suốt vài tháng trời lại ở trên mui của một cỗ xe ngựa thư tín — một chiếc giường mà ngày nay tôi thấy có vẻ khá bất an. Đi kèm với giấc ngủ ấy là một sự cố nhỏ đóng vai trò, giống như hàng trăm sự cố khác vào thời điểm ấy, trong việc thuyết phục tôi rằng một con người chưa từng trải qua bất kỳ nỗi khốn cùng lớn lao nào có thể dễ dàng đi qua cuộc đời mà không hề hay biết, ít nhất là từ bản thân mình, bất kỳ điều gì về lòng tốt tiềm tàng của trái tim con người — hoặc, như tôi phải thở dài bổ sung, về sự đồi bại tiềm tàng của nó. Một tấm màn phong thái dày đặc được giăng che lên các đường nét và biểu cảm bản tính của con người, khiến đối với người quan sát thông thường, hai cực biên, cùng vô vàn các biến thể nằm giữa chúng, đều bị hòa lẫn vào nhau; phạm vi bao la và đông đúc của những hòa âm riêng biệt của chúng bị thu gọn lại thành cái khung sơ sài của những khác biệt được biểu hiện trong thang âm hoặc bảng chữ cái của những âm thanh nguyên thủy. Sự việc là thế này: trong bốn hoặc năm dặm đầu tiên xuất phát từ London, tôi đã làm phiền người bạn đồng hành trên mui xe bằng cách thỉnh thoảng ngả người đè vào ông ta khi chiếc xe tròng trành về phía ông; và quả thực, nếu con đường ít bằng phẳng và êm ái hơn thực tế, tôi hẳn đã ngã nhăng cuội vì cơ thể quá suy nhược. Trước sự phiền toái này, ông ta đã cằn nhằn nặng nề, có lẽ như hầu hết mọi người dưới cùng hoàn cảnh; tuy nhiên, ông ta bày tỏ sự cằn nhằn cộc cằn hơn mức tình huống đòi hỏi, và nếu tôi chia tay ông ta vào khoảnh khắc đó, tôi hẳn đã nghĩ về ông ta (nếu tôi thấy việc nghĩ về ông ta đáng bận tâm) như một gã cáu kỉnh và gần như thô lỗ. Dù vậy, tôi nhận thức được rằng mình đã gây cho ông ta vài lý do để phàn nàn, và do đó tôi đã cất lời xin lỗi, đồng thời quả quyết rằng mình sẽ làm hết sức để tránh ngủ gật trong tương lai; và cùng lúc đó, bằng ít từ ngữ nhất có thể, tôi giải thích cho ông ta rằng tôi đang bệnh và ở trong trạng thái suy nhược do chịu đựng sự khốn khổ lâu ngày, và rằng tôi không đủ khả năng tài chính vào thời điểm đó để mua một chỗ ngồi bên trong buồng xe. Thái độ của người đàn ông này thay đổi ngay tức khắc khi nghe xong lời giải thích; và khi tôi chợt tỉnh giấc trong một phút vì tiếng động và ánh đèn ở Hounslow (bởi bất chấp những mong muốn và nỗ lực của mình, tôi đã ngủ gật trở lại chỉ trong vòng hai phút kể từ lúc nói chuyện với ông ta), tôi nhận ra rằng ông ta đã vòng tay ôm lấy tôi để bảo vệ tôi khỏi bị ngã khỏi mui xe, và trong suốt phần hành trình còn lại, ông ta đối xử với tôi bằng sự dịu dàng của một người phụ nữ, đến mức cuối cùng tôi gần như tựa hẳn vào vòng tay ông ta; và điều này càng tử tế hơn, khi ông ta hoàn toàn không thể biết rằng tôi không đi trọn hành trình đến Bath hay Bristol. Thật không may, quả thực tôi đã đi xa hơn dự định một chút, bởi giấc ngủ của tôi quá đỗi dễ chịu và sảng khoái, đến mức lần tiếp theo tôi thực sự tỉnh giấc hẳn sau khi rời khỏi Hounslow là lúc chiếc xe thư tín đột ngột dừng kịch lại (có lẽ tại một bưu cục), và qua dò la, tôi phát hiện ra rằng chúng tôi đã đến Maidenhead — tôi nghĩ là cách Salthill khoảng sáu hoặc bảy dặm về phía trước. Tại đây tôi xuống xe, và trong nửa phút chiếc xe thư tín dừng lại, tôi được khẩn khoản nài nỉ bởi người bạn tốt bụng của mình (người, qua cái nhìn thoáng qua ở Piccadilly, trông có vẻ như quản gia của một quý tộc, hoặc một người thuộc cấp bậc đó) hãy đi ngủ ngay lập tức không chần chừ. Tôi đã hứa, dù không hề có ý định làm theo; và trên thực tế, tôi lập tức lên đường, hay đúng hơn là đi thụt lùi trở về bằng cách đi bộ. Lúc đó chắc hẳn đã gần nửa đêm, nhưng tôi lê bước chậm chạp đến mức nghe thấy chiếc đồng hồ ở một ngôi nhà tranh điểm bốn giờ trước khi tôi rẽ xuống con đường mòn từ Slough sang Eton. Không khí và giấc ngủ đã giúp tôi sảng khoái phần nào; tuy nhiên tôi vẫn thấy mệt mỏi. Tôi nhớ đến một suy nghĩ (vốn khá hiển nhiên, và được diễn đạt vô cùng mỹ miều bởi một nhà thơ La Mã) mang lại cho tôi chút an ủi vào khoảnh khắc đó giữa cảnh bần hàn. Trước đó một thời gian từng có một vụ án mạng xảy ra trên hoặc gần vùng Hoounslow Heath. Tôi nghĩ mình không thể nhầm lẫn khi nói rằng tên của nạn nhân xấu số là Steele, và ông ta là chủ sở hữu của một đồn điền trồng hoa oải hương ở vùng lân cận đó. Mỗi bước chân trên hành trình đang đưa tôi đến gần hơn với vùng Heath, và điều đó tự nhiên xuất hiện trong đầu tôi rằng tôi và kẻ bị buộc tội giết người, nếu hắn ta đang lang thang đêm hôm đó, có thể ở từng khoảnh khắc một cách vô thức tiến lại gần nhau qua bóng tối; trong trường hợp đó, tôi tự nhủ — giả sử tôi, thay vì là (như thực tế) chẳng hơn gì một kẻ lang thang vô gia cư —
Làm chúa tể kiến thức của mình, và chẳng có mảnh đất nào khác ngoài thế giới ấy —
giống như người bạn ngài —— của tôi, được thừa kế theo tiếng tăm chung số tài sản 70.000 bảng Anh mỗi năm, thì tôi sẽ hoảng loạn đến mức nào vào khoảnh khắc này về cái cổ của mình! Quả thực, chẳng có mấy khả năng ngài —— sẽ rơi vào hoàn cảnh của tôi. Dù vậy, tinh thần của nhận xét đó vẫn hoàn toàn đúng đắn — rằng quyền lực và của cải to lớn khiến một con người trở nên sợ hãi cái chết đến mức đáng hổ thẹn; và tôi tin chắc rằng nhiều nhà thám hiểm gan dạ nhất, những kẻ nhờ may mắn nghèo khó mà tận hưởng trọn vẹn sự dũng cảm tự nhiên của mình, nếu ngay vào khoảnh khắc xung trận nhận được tin tức rằng họ vừa bất ngờ thừa kế một điền trang ở Anh trị giá 50.000 bảng một năm, thì ác cảm của họ đối với đạn dược hẳn sẽ tăng lên đáng kể, {6} và những nỗ lực duy trì sự bình thản cùng tự chủ hoàn hảo của họ sẽ trở nên khó khăn hơn tương ứng. Thật đúng đắn làm sao, theo ngôn ngữ của một nhà thông thái từng có kinh nghiệm trải đời qua cả hai số phận, rằng của cải thích hợp hơn để
Làm nhụt chí đức hạnh, và làm mòn đi sắc bén của nàng,
Hơn là cám dỗ nàng làm bất cứ điều gì có thể xứng đáng với lời tán dương.
Thiên Đường Lại Lấy Lại.
Tôi đùa giỡn với chủ đề của mình bởi vì, đối với chính bản thân tôi, ký ức về những thời khắc ấy mang một ý nghĩa sâu sắc đầy hấp dẫn. Thế nhưng độc giả của tôi sẽ không còn phải chịu thêm bất kỳ lý do nào để phàn nàn nữa, bởi giờ đây tôi xin khẩn trương đi đến đoạn kết của nó. Trên con đường giữa Slough và Eton, tôi chìm vào giấc ngủ, và ngay lúc bình minh bắt đầu ló dạng, tôi bị đánh thức bởi giọng nói của một người đàn ông đang đứng cúi xuống ngắm nhìn tôi. Tôi không biết hắn ta là ai: hắn là một gã có diện mạo khó coi, nhưng điều đó không đồng nghĩa rằng hắn nhất thiết mang ý đồ xấu; hoặc nếu có, tôi đoán hắn nghĩ rằng chẳng có kẻ nào ngủ lộ thiên giữa mùa đông lại đáng để cướp bóc cả. Tuy nhiên, về kết luận đó, xét theo trường hợp của tôi, tôi xin cam đoan với hắn — nếu hắn vô tình nằm trong số độc giả của tôi — rằng hắn đã nhầm lẫn. Sau một lời nhận xét bâng quơ, hắn bước qua; và tôi chẳng lấy làm tiếc vì sự quấy rầy ấy, bởi nó giúp tôi có thể bước qua Eton trước khi mọi người chung chung thức dậy. Đêm hôm ấy bầu trời nặng nề và âm u, nhưng hướng về sáng đã chuyển sang sương giá nhẹ, và mặt đất cùng những tán cây giờ đây được phủ một lớp băng mỏng. Tôi lén lút bước qua Eton mà không bị chú ý; tự rửa ráy và chỉnh đốn trang phục hết mức có thể tại một quán rượu nhỏ ở Windsor; và khoảng tám giờ sáng thì hướng về phía hiệu sách của Pote. Trên đường đi, tôi gặp vài cậu học sinh nhỏ tuổi, và đã ngỏ lời hỏi thăm họ. Một học sinh Eton luôn là một quý ông; và bất chấp những bộ xiêm y tơi tả của tôi, họ vẫn đáp lời tôi một cách nhã nhặn. Người bạn ngài —— của tôi đã đi đến Trường Đại học —— rồi. “Ibi omnis effusus labor!” (*Hỏi thế gian công sức đổ sông đổ biển!*) Dù vậy, tôi vẫn còn những người bạn khác ở Eton; nhưng không phải ai mang danh nghĩa đó trong cảnh thịnh vượng thì một con người cũng sẵn sàng hiện diện trước mặt họ trong cơn khốn cùng. Sau khi hoàn hồn, tôi hỏi thăm tin tức về Bá tước D——, người mà (dù sự quen biết của tôi với ông không quá thân mật như một số người khác) tôi cũng sẽ không mùng mẩy ngần ngại xuất hiện trước mặt dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Ông vẫn ở Eton, dù tôi tin là đang chuẩn bị bay cao đến Cambridge. Tôi ghé thăm, được đón tiếp nồng hậu, và được mời dùng bữa sáng.
Xin hãy để tôi dừng lại một khoảnh khắc để ngăn chặn độc giả khỏi bất kỳ kết luận sai lầm nào. Bởi vì tôi có dịp tình cờ nhắc đến những người bạn quý tộc khác nhau, xin đừng ngỡ rằng bản thân tôi có bất kỳ sự tự phụ nào về địa vị và dòng dõi cao sang. Tạ ơn Chúa, tôi không hề có. Tôi là con trai của một thương gia người Anh bình thường, được kính trọng khi sinh đời vì sự chính trực cao độ, và gắn bó mạnh mẽ với các theo đuổi văn học (thực ra bản thân ông cũng là một tác giả ẩn danh). Nếu ông còn sống, người ta dự kiến rằng ông đã rất giàu có; nhưng vì qua đời yểu mệnh, ông chẳng để lại gì hơn ngoài khoảng 30.000 bảng Anh chia cho bảy người thừa nhận khác nhau. Mẹ tôi, tôi có thể vinh dự nhắc đến như một người còn được ban tặng nhiều ân huệ hơn thế; bởi dẫu không tự phụ với danh xưng và vinh quang của một nữ văn sĩ, tôi xin mạn phép gọi bà (điều mà nhiều nữ văn sĩ không phải) là một phụ nữ có trí tuệ; và tôi tin rằng nếu những lá thư của bà từng được sưu tập và xuất bản, chúng sẽ được công nhận chung là bày tỏ một trí tuệ mạnh mẽ và nam tính không kém, được chuyển tải bằng thứ “tiếng Anh mẹ đẻ” thuần khiết, đậm đà và tươi mới với những nét duyên thành ngữ sánh ngang bất kỳ ai trong ngôn ngữ chúng ta — khó lòng ngoại trừ những bức thư của Phu nhân M. W. Montague. Đó là những vinh quang dòng dõi của tôi, tôi chẳng có vinh quang nào khác; và tôi đã chân thành tạ ơn Chúa vì mình không có, bởi theo phán đoán của tôi, một địa vị nâng bổng một con người quá cao vượt lên trên mức bình thường của các đồng loại không phải là điều kiện thuận lợi nhất cho các phẩm chất đạo đức hay trí tuệ.
Bá tước D—— đặt trước mặt tôi một bữa sáng vô cùng hoành tráng. Nó thực sự là thế; nhưng trong mắt tôi, nó mang vẻ hoành tráng gấp ba lần, bởi đó là bữa ăn chính thức đầu tiên, là “bàn ăn của người lương thiện” đầu tiên mà tôi được ngồi vào sau nhiều tháng trời. Kỳ lạ thay, tôi hầu như chẳng thể ăn nổi bất cứ thứ gì. Vào ngày tôi lần đầu nhận được tờ tiền ngân hàng 10 bảng Anh, tôi đã bước vào một tiệm bánh và mua hai chiếc bánh mì cuộn; chính tiệm bánh này mà hai tháng hoặc sáu tuần trước đó tôi từng ngắm nhìn với một niềm thèm khát đến mức suýt làm tôi bẽ bàng khi nhớ lại. Tôi nhớ câu chuyện về Otway, và sợ rằng có nguy cơ khi ăn quá nhanh. Nhưng tôi chẳng cần phải hốt hoảng; sự thèm ăn của tôi hoàn toàn đã lụi tàn, và tôi trở nên buồn nôn trước khi kịp ăn hết một nửa số bánh đã mua. Hiệu ứng này phát sinh từ việc ăn thứ gần giống một bữa ăn tiếp tục đeo bám tôi trong nhiều tuần; hoặc khi tôi không trải qua cảm giác buồn nôn nào, một phần những gì tôi ăn vào lại bị nôn ra, đôi khi kèm theo vị chua, đôi khi tức thì và không có chút vị chua nào. Trong dịp hiện tại, tại bàn ăn của ngài D——, tôi thấy bản thân chẳng khá hơn bình thường chút nào, và giữa muôn vàn xa hoa tôi chẳng hề có chút cảm giác thèm ăn. Tuy nhiên, ngặt nỗi là lúc nào tôi cũng khao khát rượu vang; do đó tôi giải thích tình cảnh của mình cho ngài D—— nghe, và kể sơ lược cho ông nghe về những nỗi thống khổ gần đây của mình, khiến ông bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc và gọi rượu vang ra. Điều này mang lại cho tôi sự xoa dịu và niềm vui chốc lát; và trong mọi dịp có cơ hội, tôi không bao giờ bỏ lỡ việc uống rượu vang, thứ mà tôi sùng bái khi ấy hệt như cách tôi sùng bái thuốc phiện sau này. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng việc nuông chiều rượu vang này đã góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh của mình, bởi thể trạng dạ dày của tôi lúc bấy giờ rõ ràng đã hoàn toàn suy sụp, và nếu có một chế độ ăn uống tốt hơn, nó có lẽ đã có thể hồi phục sớm hơn, và thậm chí triệt để hơn. Tôi hy vọng rằng không phải vì tình yêu dành cho rượu vang này mà tôi cứ lảng vảng mãi ở vùng lân cận của những người bạn Eton; lúc bấy giờ tôi tự nhủ rằng đó là do sự ngượng ngùng khi phải ngỏ lời xin ngài D——, người mà tôi nhận thức rõ mình không có đủ thân phận, sự giúp đỡ cụ thể mà tôi đã lặn lội đến tận Eton để tìm kiếm. Dù vậy, tôi không đành lòng để chuyến đi của mình thành công cốc, và — tôi đã cất lời. Bá tước D——, người có bản tính tốt bụng vô bờ bến, và đối với tôi, có lẽ được đong đo không phải bởi sự dò xét quá khắt khe về các quyền lợi trực tiếp của chính tôi, mà là bằng lòng trắc ẩn của ông đối với hoàn cảnh của tôi và sự hiểu biết của ông về mối thâm tình của tôi với một số người họ hàng của ông, thế nhưng vẫn chần chừ trước yêu cầu này. Ông thừa nhận rằng ông không thích dính líu đến những kẻ cho vay nặng lãi, và e ngại rằng một giao dịch như thế có thể lọt đến tai những người thân thích của ông. Hơn nữa, ông nghi ngờ liệu chữ ký của mình — người có những kỳ vọng hạn hẹp hơn rất nhiều so với ngài —— — có tác dụng gì đối với những người bạn vô thần của tôi hay không. Tuy nhiên, có vẻ như ông không muốn làm tôi bẽ mặt bằng một lời từ chối thẳng thừng; bởi sau một lát cân nhắc, ông hứa sẽ đứng ra bảo lãnh dưới một số điều kiện mà ông vạch ra. Vào thời điểm này, Bá tước D—— chưa tròn mười tuổi; nhưng khi nhớ lại sự khôn ngoan và cẩn trọng mà ông đã pha trộn với rất nhiều nét nhã nhặn trong dịp này (một sự nhã nhặn mang vẻ đẹp của sự chân thành tuổi trẻ nơi ông), tôi vẫn thường tự hỏi liệu có bất kỳ nhà chính trị gia nào — kỳ cựu nhất và tài ba nhất trong ngoại giao — có thể xử lý tốt hơn dưới cùng hoàn cảnh đó hay không. Quả thực, hầu hết mọi người không thể được tiếp cận trong một công chuyện như thế mà không giấu đi những ánh mắt khắc khổ và bất lợi hệt như đầu của một tên Saracen.
Được an ủi trở lại bởi lời hứa hẹn này, vốn không hẳn là phương án tốt nhất nhưng vượt xa tồi tệ nhất trong số những gì tôi từng tưởng tượng là có thể xảy ra, tôi lên xe ngựa chở khách trở về Windsor để về London ba ngày sau khi rời bỏ nó. Và giờ đây tôi đi đến đoạn kết câu chuyện của mình. Bọn người Do Thái không chấp thuận các điều kiện của ngài D——; liệu cuối cùng họ có đồng ý hay không, hay chỉ đang tìm kiếm thời gian để tiến hành các cuộc điều tra thích hợp, tôi không tài nào biết được; nhưng rất nhiều sự chậm trễ đã xảy ra, thời gian cứ thế trôi đi, mảnh tiền ngân hàng nhỏ bé của tôi vừa vặn tan biến sạch, và trước khi bất kỳ kết quả nào kịp khép lại cho thương vụ này, tôi hẳn đã tái sa lạp vào trạng thái khốn cùng trước kia. Thế nhưng đột nhiên, vào nút thắt này, một cánh cửa đã được mở ra, gần như do tình cờ, cho sự hòa giải với những người bạn của tôi; tôi vội vã rời London để đến một vùng hẻo lánh của nước Anh; sau một thời gian, tôi tiến vào trường đại học, và phải đến nhiều tháng sau đó tôi mới có cơ hội quay trở lại chốn từng trở nên vô cùng hấp dẫn đối với tôi, và cho đến tận ngày nay vẫn thế, với tư cách là sân khấu chính cho những nỗi thống khổ thời niên thiếu của mình.
Trong khi đó, chuyện gì đã xảy ra với tội nghiệp Ann? Tôi đã để dành những lời kết luận của mình cho nàng. Đúng như thỏa thuận của chúng tôi, tôi đã tìm kiếm nàng hằng ngày và chờ đợi nàng mỗi đêm, chừng nào tôi còn ở lại London, ở góc phố Titchfield. Tôi đã hỏi thăm tung tích nàng từ bất kỳ ai có khả năng biết về nàng, và trong những giờ phút cuối cùng lưu lại London, tôi đã huy động mọi phương thức dò tìm nàng mà kiến thức về London gợi ý và phạm vi quyền hạn hạn hẹp của tôi cho phép. Con phố nơi nàng từng trọ thì tôi biết, nhưng căn nhà thì không; và cuối cùng tôi chợt nhớ lại một số thông tin mà nàng từng kể về việc bị chủ nhà đối xử tệ bạc, khiến cho khả năng cao là nàng đã rời khỏi nhà trọ đó trước khi chúng tôi chia tay. Nàng có rất ít bạn quen; vả lại, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng sự tha thiết trong các câu hỏi của tôi xuất phát từ những động cơ khiến họ bật cười hoặc coi nhẹ; và những người khác, nghĩ rằng tôi đang săn đuổi một đứa con gái đã nẫng mất của tôi vài món đồ vặt vãnh, tự nhiên và dễ hiểu là không sẵn lòng cung cấp cho tôi bất kỳ manh mối nào về nàng, nếu thực sự họ có để mà cho. Cuối cùng, như một chiếc phao cứu sinh tuyệt vọng trong ngày rời London, tôi đã trao vào tay của duy nhất một người (từng đi cùng chúng tôi một hoặc hai lần nên chắc chắn phải biết mặt Ann) một địa chỉ đến ——, thuộc hạt ——, nơi sinh sống của gia đình tôi vào thời điểm đó. Thế nhưng cho đến tận giờ phút này, tôi chưa bao giờ nghe được dù chỉ một âm tiết về nàng. Trong số những giông bão mà hầu hết mọi người phải đối mặt trong cuộc đời này, đây chính là nỗi đau đớn nặng nề nhất của tôi. Nếu nàng còn sống, chắc chắn đã có lúc chúng tôi ráo riết đi tìm kiếm lẫn nhau, vào cùng một khoảnh khắc, giữa những mê cung hùng vĩ của London; có lẽ thậm chí chỉ cách nhau vài bước chân — một bức tường chắn hẹp ngủ ngả không hơn một con đường ở London thường rốt cuộc dẫn đến sự chia cắt vĩnh viễn! Trong một số năm, tôi từng hy vọng rằng nàng vẫn sống; và tôi đoán rằng, theo nghĩa đen và phi tu từ của từ vạn (*myriad*), tôi có thể nói rằng trong những chuyến ghé thăm London khác nhau của mình, tôi đã nhìn vào rất nhiều, rất nhiều vạn khuôn mặt phụ nữ, với hy vọng được gặp lại nàng. Tôi sẽ nhận ra nàng giữa hàng ngàn người, nếu chỉ nhìn thấy nàng trong một khoảnh khắc; bởi dẫu không xinh đẹp, nàng lại sở hữu biểu cảm gương mặt ngọt ngào cùng phong thái ngẩng đầu rất đặc trưng và tao nhã. Tôi đã tìm kiếm nàng, như tôi đã nói, với niềm hy vọng. Suốt nhiều năm trời là thế; nhưng giờ đây tôi lại e sợ khoảnh khắc gặp lại nàng; và cơn ho của nàng, thứ từng khiến tôi đau đớn khi tiễn biệt, nay lại trở thành niềm an ủi của tôi. Giờ đây tôi không còn mong được gặp nàng nữa; mà thay vào đó, tôi nghĩ về nàng với niềm hân hoan hơn, như một sinh linh từ lâu đã nằm sâu trong nấm mồ — trong nấm mồ, tôi hy vọng là của một người phụ nữ lầm đường lạc lối đã quay đầu (*Magdalen*); được cất nhắc đi trước khi những tổn thương và sự tàn nhẫn kịp xóa nhòa và biến dạng bản chất ngây thơ của nàng, hay sự bạo tàn của những gã vũ phu kịp hoàn tất sự hủy diệt mà chúng đã manh nha khởi đầu.
❀ ❀ ❀