Ptolemy sống đến tuổi bát tuần, và viết một tiểu sử về Alexander. Ptolemy II Philadelphos ưa chuộng người Do Thái, trả tự do cho 120,000 nô lệ Do Thái và gởi vàng về tô điểm cho Đền Thờ. Ông hiểu rõ sức mạnh của sự phô trương và vẻ diễm lệ. Năm 275 ông tổ chức một lễ diễu hành cho một số quan khách được tuyển chọn nhân danh Dionysus, thần rượu vang và sự sung túc, trong đó một túi đựng rượu rất lớn làm bằng da báo chứa được 200,000 ga-long rượu vang và một dương vật dài 180 bộ và rộng 9 bộ được rước đi cùng với đàn voi và những thần dân từ mọi miền của đế chế mình. Ông cũng là một nhà sưu tập sách tham lam. Khi giáo trưởng gởi ông 20 cuốn sách của bộ Kinh thánh Tanakh [1] Do Thái đến Alexandria, nhà vua ra lệnh dịch ngay sang tiếng Hy Lạp. Ông kính trọng sự uyên bác của các học giả Do Thái ở Alexandria và mời họ đến bàn tiệc để thảo luận về bản dịch: ‘mọi thứ’, nhà vua hứa, ‘sẽ được phục vụ tùy theo thói quen của các ông và cả tôi nữa.’ Người ta kể rằng trong 70 ngày 70 học giả mỗi người đều đưa ra những bản dịch y chang. Kinh Thất Thập này đã thay đổi lịch sử Do Thái và nhờ đó sau này Kitô giáo mới có thể được truyền bá. Nhờ Alexander, tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ quốc tế; và giờ đây, lần đầu tiên, gần như mọi người đều có thể đọc được Kinh thánh.
GhiChú: Sau khi Alexander qua đời, đế chế của ông được bốn tướng lĩnh đồng ý phần chia như sau:
1. Lysimachus – lấy Thrace và phần lớn vùng Tiểu Á.
2. Cassander – kiểm soát Macedon và Hy Lạp. Về sau bị tướng Antigonos Độc Nhãn cướp quyền cai trị.
3. Ptolemy I – cai trị Ai Cập, Palestine, Cilicia, Petra và Cyprus.
4.Seleucus I Nicator – cai trị phần còn lại của châu Á và thành lập Đế chế Seleucid gồm Mesopotamia, Levant, Ba Tư, và một phần Ấn Độ.
JOSEPH NHÀ TOBIAD
Jerusalem vẫn duy trì là một tiểu quốc bán độc lập bên trong đế chế Ptolemy, và xứ Judah ban hành đồng tiền riêng của mình, có khắc chữ ‘Yehud’. Nó không chỉ là một thực thể chính trị mà còn là một thành phố riêng của Chúa Trời được cai trị bởi các giáo trưởng. Những chồi mầm của dòng dõi Onias, nhận mình là hậu duệ của giáo trưởng Zadok trong kinh thánh, mặc tình thừa dịp tích lũy của cải và quyền lực, miễn là họ nộp cống cho triều đình Ptolemy. Vào thập niên 240, Giáo trưởng Onias II cố giữ lại 20 ta-lăng bạc phải nộp cho Ptolemy III Euergetes. Sự kiện này tạo cơ hội cho một thanh niên Do Thái giao thiệp rộng quyết định qua mặt vị giáo trưởng không chỉ vì Jerusalem mà còn vì toàn đất nước.
Gã phiêu lưu này là cháu ruột của giáo trưởng, Joseph, [2] lên đường đến Alexandria nơi nhà vua đang tổ chức một buổi đấu giá: những người tham gia đấu giá sẽ trả một số tiền triều cống lớn nhất để đổi lấy quyền cai trị và đánh thuế vùng lãnh thổ của họ. Những ông lớn Syria chế giễu chàng trai Joseph nhưng anh chàng chơi trội hơn họ với một sự tự tin quá mức. Anh xoay sở gặp được nhà vua trước tiên và lấy lòng được ngài. Khi Ptolemy III yêu cầu mọi người đưa ra giá đấu, chàng Joseph bốc trời này đấu thắng các đối thủ trên mọi lãnh thổ ở Coele-Syria, Phoenicia, Jerusalemudah và Samaria. Nhà vua yêu cầu Joseph nộp con tin như diều lệ để bảo đảm tiền triều cống đã hứa của chàng. ‘Thần sẽ không giao nộp bệ hạ ai cả,’ chàng trai Jerusalem ngạo nghễ trả lời, ‘ngoài chính bệ hạ và hoàng hậu.’ Joseph có thể đã bị tử hình cho lời nói phạm thượng này nhưng Ptolemy chỉ cười vang và chấp thuận.
Joseph trở lại Jerusalem với 2,000 bộ binh Ai Cập. Anh còn nhiều việc phải làm. Khi Ashkelon không chịu nộp thuế, anh tàn sát 20 công dân hàng đầu của thành phố. Ashkelon chịu nộp.
Joseph đã chơi trội nhất ở Ai Cập và thắng cuộc. Ở Alexandria, nơi ông thường thù tạc với nhà vua, ông trót yêu một cô đào. Khi ông đến đoạn kết của cơn say đắm, anh trai ông thay thế cô đào bằng con gái ruột của mình. Trong đêm, Joseph quá say nên không nhận ra và khi ông tỉnh dậy, ông rơi vào lưới tình với cô cháu gái mình và cuộc hôn nhân của họ làm triều đại thêm vững mạnh. Tuy nhiên, con trai họ Hyrcanus trưởng thành thành một tên lừa đảo như chính bố Joseph. Sống xa hoa, cai trị nghiêm khắc và đánh thuế gắt gao, Joseph dù sao cũng được sử gia Josephus đánh giá là ‘một người tốt bụng có lòng độ lượng’, được khâm phục là ‘người nghiêm túc, khôn ngoan và công minh. Ông giúp người Do Thái thoát khỏi tình trạng nghèo khó và khổ nhục để mở mày mở mặt với thiên hạ.’
Joseph nhà Tobiad quan trọng với các ông vua Ai Cập vì họ giờ liên tục đánh nhau với triều đại kình địch Macedon, Seleucid, để giành quyền kiểm soát Trung Đông. Vào khoảng 241, Ptolemy III tỏ lòng biết ơn, sau khi đánh thắng các kẻ thù của mình, bằng cách đến thăm Jerusalem và ở đó hiến tế một cách thành kính trong Đền Thờ, ắt hẳn được Joseph tiếp đón trọng thị. Tuy nhiên, khi nhà vua qua đời, người Ai Cập thấy mình bị thách thức bởi ông vua Seleucid còn thanh thiếu niên mà đã đầy tham vọng không kềm chế được.
ANTIOCHUS ĐẠI ĐẾ: ĐỤNG ĐỘ VỚI VOI
Antiochus là người thừa kế một triều đại hùng mạnh khác do các tướng lĩnh chia nhau đế chế của Alexander Đại Đế lập ra. Khi Ptolemy I lấy được vương quốc của mình ở Ai Cập, ông ủng hộ ông tổ Seleucos của Antiochus, một viên tướng của Alexander, trong nỗ lực đánh chiếm Babylon. Cũng tài năng như Ptolemy, Seleucos chinh phục lại hầu hết các lãnh thổ ở châu Á của Alexander – từ đó ông nhận được tước hiệu Seleucid Vua châu Á. Seleucos cai trị từ Hy Lạp đến sông Ấn – và để rồi bị ám sát khi ở thời cực thịnh.
Người thách thức là vua người Macedon châu Á, Antiochus III. Vào năm 223, ông vua 18 tuổi không chịu ngồi yên này thừa kế một tước hiệu kỳ vĩ và một đế chế đang tan rã, nhưng ông sở hữu tài năng thiên phú có thể đảo ngược thời vận. Antiochus tự xem mình là người thừa kế Alexander, và như mọi ông vua người Macedon, ông liên kết mình với các vị thần Apollo, Hercules, Achilles và, trên hết, Zeus. Trong một chuỗi các chiến dịch choáng váng, Antiochus tái chinh phục đế chế phía đông của Alexander đến tận Ấn Độ, xứng đáng với danh hiệu Đại Đế. Ông lại tấn công Palestine nhưng bị quân của dòng dõi Ptolemy đẩy lùi và Joseph nhà Tobiad đã luống tuổi còn tiếp tục cai trị Jerusalem. Nhưng con trai ông Hyrcanus làm phản, tấn công thành phố. Không lâu trước khi chết, Joseph đánh bại con trai, nhưng y vẫn cắt xén những vùng lãnh thổ của ông ở Jordan ngày nay.
Vào năm 201, Antiochus Đại Đế, giờ ở tuổi tứ tuần, trở về từ những thắng lợi của mình ở phương đông. Jerusalem bị ‘vằn ném qua lại như con thuyền trong cơn giông tố’. Cuối cùng, Antiochus đánh đuổi quân Ai Cập, và Jerusalem đón tiếp một chủ nhân mới. ‘Người Do Thái, khi chúng tôi vào đến thành phố của họ,’ Antiochus tuyên bố, ‘đón tiếp chúng tôi trọng thể và cũng hỗ trợ chúng tôi trục xuất lực lượng đồn trú Ai Cập.’ Cảnh tượng một ông vua Seleucid và quân đội ông ta trông rất ấn tượng. Antiochus ắt hẳn mang một vương miện hoàng gia, giày ống thắt nơ tía thêu chỉ vàng, một mũ rộng vành và một áo choàng xanh đậm đính những ngôi sao vàng, cài trâm tía ở cổ.
Các cư dân Jerusalem cũng ứng quân lương cho đội quân đa quốc gia của ông kể cả những đội hình pha-lăng mang giáo sarissa, chiến binh sơn cước Cretia, khinh binh Cilicia, lính bắn ná Thrace, cung thủ Mysia, lính phóng lao Lydia, cung thủ Ba Tư, bộ binh Kurdia, kỵ binh giáp sắt trang bị nặng Iran trên ngựa chiến và, uy lực hơn hết là các thớt voi – chắc hẳn người Jerusalem nhìn thấy lần đầu tiên.
Đây là thời kỳ có sử dụng voi trận. Kể từ khi Alexander trở về sau chiến dịch Ấn Độ với một lữ đoàn voi, những chiến binh da dày có mặc giáp đã trở thành vũ khí uy lực nhất (và đắt tiền) cho bất kỳ vị vua Macedon tự phụ nào – mặc dù chúng thường dẫm đạp lên phe mình thấy vì phe địch. Trong khi đó ở phương tây, người Carthage, hậu duệ của người Phoenicia từ xứ Tyre, và người La Mã, đang chiến đấu giành quyền làm chủ vùng Địa Trung Hải. Hannibal, vị tướng Carthage kiệt xuất, xâm lược Ý, đã xua đàn voi trận qua vùng núi Alps. Antiochus dàn đội hình voi Ấn Độ, các vua Ptolemy có voi Phi châu và Hannibal sử dụng giống voi nhỏ hơn, giờ đã tuyệt chủng từ vùng Núi Atlas ở Morocco.
Antiochus hứa sẽ tu sửa Đền Thờ và tường thành, đón dân về cư ngụ và khẳng định quyền tự trị của người Do Thái ‘theo luật lệ của cha ông họ’. Thậm chí ông còn ngăn cấm người ngoại bang bước vào Đền hoặc mang ‘vào thành phố thịt sống của ngựa hoặc lừa hoặc các động vật hoang dã hoặc thuần hóa’. Simon, giáo trưởng, chắc chắn ủng hộ: chưa bao giờ Jerusalem từng được một nhà chính phục ưu ái và rộng lượng đến như vậy. Người Jerusalem nhớ lại thời điểm này như là thời hoàng kim được cai trị bởi một giáo trưởng lý tưởng mà, họ nói, giống như vì sao mai giữa vầng mây’.
SIMON NGƯỜI CÔNG CHÍNH: NGÔI SAO MAI
Khi Simon bước ra từ Nơi Chí Thánh vào Lễ Đền tội, vị Giáo trưởng ‘ăn mặc lễ phục trịnh trọng, khi ông bước lên áng thờ’. Ông là kiểu mẫu toàn bích của những giáo trưởng cai trị Judah như những hoàng thân được xức dầu thánh, một kết hợp giữa một quân vương, giáo hoàng và ayatollah (chức lãnh đạo tôn giáo cao nhất của đạo Hồi), ông như một thân cây bạch vươn tới tầng mây.
Jerusalem đã trở thành một nền thần quyền – chính cái từ đã được sử gia Josephus sáng chế để mô tả tiểu quốc này với ‘quyền lực toàn bộ và tuyệt đối nằm trong tay Chúa Trời’. Những luật lệ khắt khe qui định mọi chi tiết của đời sống, bởi vì không có phân biệt giữa chính trị và tôn giáo. Ở Jerusalem không có tượng hoặc hình ảnh chạm khắc. Việc hành lễ Sabbath là một nỗi ám ảnh. Mỗi tội ác chống tôn giáo đều phải tội chết. Có bốn hình thức hành hình – ném đá, thiêu sống, chặt đầu và thắt cổ. Những người phạm tội ngoại tình bị ném đá, một hình phạt được thực thi bởi toàn cộng đồng (mặc dù người bị kết tội trước tiên bị ném xuống ghềnh đá để họ bất tỉnh trước khi bị ném đá đến chết). Con đánh cha mẹ sẽ bị thắt cổ. Ai thông dâm với mẹ lẫn con gái sẽ bị thiêu sống.
Đền Thờ là trung tâm của đời sống Do Thái: giáo trưởng và hội đồng tôn giáo của ông, Sanhedrin, họp ở đó. Mỗi buổi sáng, một hồi kèn báo hiệu lượt cầu nguyện thứ nhất trong ngày, như tục muezzin của đạo Hồi. Một ngày bốn lần, bảy chiếc kèn bạc thổi lên kêu gọi tín đồ đến cúi đầu lễ bái trong Đền. Mỗi ngày hai lần hiến tế một con cừu đực, một con bò cái hay chim bồ câu không tì vết tại áng thờ, sáng và chiều, lúc nào cũng đi kèm với việc dâng hương và xông dầu thơm, là những nghi thức chính của tục thờ cúng Do Thái. Từ ‘holocaust’, rút ra từ chữ Hebrewolahcó nghĩa là ‘bay lên’, ám chỉ việc thiêu đốt các con vật hiến tế tỏa khói ‘bay lên’ đến Chúa Trời. (Từ ‘holocaust’ sau này chỉ việc diệt chủng dân Do Thái do Đức Quốc xã chủ trương trong Thế Chiến II: ND). Thành phố ắt hẳn bốc mùi của áng thờ trong Đền, mùi hương trầm và quế hòa lẫn với mùi thịt cháy khét của các con vật hiến tế. Nên không có gì ngạc nhiên khi dân chúng thường xức nhiều nhựa thơm, cam tùng, dầu gió như xức dầu thơm.
Khách hành hương tràn về Jerusalem dự lễ hội. Tại Cổng Cừu ở phía bắc Đền, cừu và gia súc được nhốt lại, sẵn sàng để được hiến tế. Vào dịp lễ Vượt Qua, 200,000 cừu non bị làm thịt. Nhưng lễ Tabernacles (Hòm Thánh) là tuần lễ linh thiêng và náo nức nhất của năm, khi các cậu và các cô gái khoác lễ phục trắng nhảy nhót trong sân Đền, ca hát, vung vẩy đuốc cháy sáng và ăn tiệc. Họ kết cành và lá cọ để xây những túp lều trên nóc nhà họ hoặc trong sân Đền.
Các lễ Do Thái giáo chính – Lễ Vượt Qua, Lễ Tuần và Lễ Lều Tạm – vẫn còn tiến hành. Lễ Vượt Qua là lễ mùa xuân, trong thời gian đó họ thường chỉ dùng bánh mì chưa lên men để tưởng nhớ thời Xuất Hành trốn chạy khỏi Ai Cập, không có thì giờ để lên men bánh mì. Dần dần Lễ Vượt Qua thay thế Lễ Lều Tạm (tưởng nhớ thời kỳ đầu tìm về Miền Đất Hứa, họ phải cất giữ Hòm Giao ước linh thiêng trong các lều tạm) trở thành lễ chính ở Jerusalem.
Ngay cả dưới thời Simon thanh khiết, cũng có nhiều người Do Thái thế tục ắt hẳn có dáng dấp của người Hy Lạp giàu có, sống trong những lâu đài mới trên sườn đồi phía tây gọi là Thành Thượng. Những gì người Do Thái bảo thủ cuồng tín xem là ô uế, bọn trưởng giả này coi là văn minh. Đây là khởi đầu của một kiểu dạng mới ở Jerusalem: thành phố càng trở nên linh thiêng, nó càng trở nên chia rẽ. Hai lối sống cùng tồn tại sát bên nhau trong không khí thù hằn ghê tởm nhau. Giờ thì thành phố – và ngay chính sự tồn tại của Do Thái – bị đe đọa bởi con quái vật bỉ ổi nhất kể từ Nebuchadnezzar.
ANTIOCHUS EPIPHANES: VỊ THẦN ĐIÊN
Vị mạnh thường quân của Jerusalem, Antiochus Đại Đế, không chịu nghỉ ngơi: giờ ông quay ra chinh phục Tiểu Á và Hy Lạp. Nhưng vị Vua châu Á quá đỗi tự tin đã đánh giá thấp quyền lực đang trỗi dậy của Cộng Hòa La Mã, vừa đánh bại Hannibal và Carthage để khống chế vùng Địa Trung Hải. La Mã đập tan tham vọng chiếm Hy Lạp của Antiochus, buộc Đại Đế phải đầu hàng hạm thuyền và tượng quân và phải gởi con trai đến La Mã làm con tin. Antiochus tiến về phương đông để làm đầy kho bạc của mình nhưng, trong khi cướp bóc một đền thờ Ba Tư, ông bị ám sát.
Người Do Thái, từ Babylon đến Alexandria, giờ phải nộp thuế thập phân hàng năm cho Đền Thờ, và Jerusalem quá giàu có đến nỗi của cải của nó khiến cuộc tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo Do Thái càng thêm ác liệt và bắt đầu lôi kéo các vị vua Macedon kẹt tiền. Vị vua mới ở châu Á cũng mang tên Antiochus như vua cha, vội vã đến kinh thành Antioch để chiếm lấy ngôi vua, ra tay khử tất cả đối thủ tranh giành trong gia đình. Lớn lên ở La Mã và Athens, Antiochus IV thừa kế những tài năng lấp lánh, không thể kềm chế được của vua cha nhưng tính dọa nạt khoác lác và tính trưng diện sặc sỡ mê cuồng thì giống chứng bệnh phô bày tâm thần của Caligula hoặc Nero.
Là con trai của một Đại Đế vừa nằm xuống, ông có nhiều điều phải chứng tỏ. Đẹp nhưng phóng đãng, Antiochus khoái vẻ lộng lẫy của nghi thức triều đình nhưng cũng chán phèo những gò bó của nó, tự cho mình toàn quyền gây kinh ngạc cho mọi người. Ở Antioch, ông vua trẻ say khướt trong quảng trường chính, tắm rửa và được mát xa nơi công cộng với dầu thoa bóp đắt tiền, làm bạn với nài ngựa và phu khuân vác nhà tắm công cộng. Khi một người phàn nàn ông dùng quá phung phí nhựa thơm, Antiochus ra lệnh đập vỡ nguyên bình nhựa thơm lên đầu hắn, khiến mọi người rối rít tìm cách thu hồi chất nhựa thơm quí giá giữa tiếng cười khoái trá điên cuồng của nhà vua.
Ông thích trưng diện, xuất hiện trên đường phố với vương miện hoa hồng và một áo choàng bằng vàng, nhưng khi thần dân trố mắt nhìn, ông liền ném đá vào họ. Ban đêm, ông hóa trang chui vào các nhà thổ ở xóm bình dân của kinh thành. Thân thiết một cách bất chợt với người lạ, những mơn trớn của ông đáng sợ như móng vuốt báo vì ông có thể bất ngờ hóa ra hiểm ác, nhẫn tâm.

❀ ❀ ❀
[1] Tanakh là một từ ghép từ những chữ Hebrew có nghĩa là Luật, Nhà Tiên tri và Bài viết, những bộ sách sau này người Kitô gọi là Cựu Ước.
[2] Gia đình Joseph là người Do Thái có nguồn gốc pha tạp, có thể là dòng dõi của một ông bố Tobiah người ở Ammom đã từng chống đối Nehemiah. Cha Tobiah của ông là một người có thế lực và thân cận với Ptolemy II – văn khố của một quan triều tên Zenon cho thấy ông đã từng buôn bán với nhà vua – và cai quản những điền sản đồ sộ ở Ammon (thuộc Jordan ngày nay).