📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lịch sử Sài Gòn 🔒

126 trả lời, 21.373 lượt xem — Trang 1 / 5
LỊCH SỬ SÀI GÒN

MỘT THÀNH PHỐ ANH HÙNG
Trong cuộc kháng chiến vừa qua, dân tộc Việt Nam được công
luận quốc tế, kể cả công luận ở Pháp và ở Mỹ tôn vinh là một dân tộc
anh hùng; Nam Bộ được cả nước ta tặng danh hiệu Thành đồng Tổ
quốc; Củ Chi rất xứng đáng là Đất thép Thành đồng. Hai chữ anh
hùng không thể trao cho bất cứ ai dù đạt thành tích lớ n; thành tích
đã lớn lại còn phải đặc biệt vẻ vang. Nếu xét đúng theo tiêu chuẩn đó
và so sánh với các thủ phủ hay đô thành ở những nước Á, Phi nguyên
là thuộc địa, thì Sài Gòn ta xứng đáng với huân danh Thành phố anh
hùng, anh hùng chẳng những trong 30 năm khá ng chiến mà luôn cả
trong non già 8 thập kỷ bị mang ách thực dân.
Hai chữ "anh hùng" mới đúng. Hai chữ "hòn ngọc" thì hẳn là
không nghĩa lý gì. Mấy ông Tây muốn khoe khoang công lao khai hóa
của Pháp nên bày ra cái mỹ từ "Hòn ngọc Viễn Đông", gán cho Sài
Gòn, không rõ có ai đồng ý không chớ tôi thì xin từ chối. Thành phố ta
xây dựng giữa một đồng bằng bát ngát, có sông rạch mà không có núi,
hồ, lại xa biển, cảnh quang thiên nhiên so với Hương Cảng thì thua
xa. Thành phố ta mới 300 tuổi, không có đền đài cổ kính vĩ đại để
chiêm bái như New-Delhi. Thành phố ta còn nghèo, chưa có những
kiến trú c tân thời lộng lẫy như Singapore, thì bảo là "Hòn ngọc Viễn
Đông" sao được? Sài Gòn đẹp, lớn, đáng yêu, đáng kính không phải ở
cảnh thiên nhiên, ở kiến trúc, cả ở kinh doanh nữa, mà trước hết và
chủ yếu là ở con người và quần chúng nhân dân trong lịch sử đấu
tranh giải phóng đất nước mình, ở sự nghiệp đánh đổ chủ nghĩa thực
dân cũ và mới, do đó mà góp phần vào sự nghiệ p chung giành lại độc
lập tự do của cá c dân tộc bị áp bức khác. Đứng về phương diện này
mà xét thì, trên khắp Á, Phi nguyên là thuộc địa, không một thành
phố nà o hơn Sài Gòn. Sài Gòn không phải là Hòn ngọc. Sài Gòn đúng
là tấm gương ngọc để xem, gương để soi, để cho ta bản thân người
mình soi mình trước hết.
Sài Gòn là thành phố Việt Nam đã chứ ng kiến nhiều cuộc khởi
nghĩa nhất. Cả thảy 4 cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn trước Tổng khởi nghĩa
tháng 8 năm 1945. Đó là: Khởi nghĩa 1885, Khởi nghĩa 1913, Khởi
nghĩa 1916 và Khởi nghĩa 1940. Cả nước ta không thành phố nào có
nhiều cuộc khởi nghĩa như vậy; cả thế giới thuộc địa (cũ) cũng rất
hiếm thấy. Một thành phố như nơi đây, bị thua mà không chịu thua;
thua keo này bày keo khác, kỳ thắng mới thôi. Gan dạ bền bỉ không
chê vào đâu đượ c! Dường như không biết thối chí là gì, dường như là
các lực lượng nổi dậy luôn xác định rằng muốn giết rắn thì phải đập
nát đầu rắn. Ở Nam Kỳ, bưng biền, rừng núi tất nhiên cũng có khởi
nghĩa nhưng không nhiều hơn Sài Gòn là mấy. Đến đây tôi xin đưa ra
vài ba con số để bạn đọc thấy ngay thuở 1913, 1916 quần chúng đã
đóng vai trò lịch sử lớn, công nhân và nông dân đã là chủ lực của khởi
nghĩa! Vụ án 1913, trong số 133 người bị đem ra xử, có 30 công nhân,
71 nông dân, 2 thợ thủ công. Trong vụ án 1916 số công nhân cầm vũ
khí càng đông. Dễ hiểu tại sao. Vì Sài Gòn thuở đó, đã là một thành
phố công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Các nhà yêu nước thời đó
đã biết nhân thời cơ đế quốc chiến tranh để nổi dậy. Cuộc nổi dậy
năm 1940, cũng là một nỗ lực, thừa cơ thời Pháp thất trận, nhưng
thời cơ chưa đến lúc chín muồi, tổ chức cách mạng ở nội thành Sài
Gòn còn khiếm khuyết, cuối cùng khởi nghĩa thất bại. Thực dân Pháp
khủng bố cực kỳ dữ dội, từ 1859 tới đó chưa có lần khủ ng bố nào đẫm
máu như vậ y, tất cả cộng lại cũng không bằng một lần tàn sát 1940.
Ấy vậy mà sau, chỉ 4 năm sau, nhân dân Sài Gòn và ngoại ô phụ cận
đã có đủ tinh thần và lự c lượng để nổi dậy tổng khởi nghĩa thành
công, gần cùng một lúc với Hà Nội, Huế. Tối 24 sáng 25 tháng 8 năm
1945, dưới cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, hàng trăm vạn người thành
phố và nông thôn, tay cầm các thứ vũ khí, tràn ngập Sài Gòn, đạp đổ
ngụy quyền của đế quốc, quân phiệt, dựng lên chính quyền Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 nhanh như chớp,
mạnh như sét, quân thù không kịp trở tay, đồng minh Anh Pháp cho
dù đi bằng máy bay tàu chiến cũng chưa kịp vào tới Sài Gòn. Việt
Nam giành lại được độc lập thống nhất. Kể từ khi Pháp đánh chiếm
thành Gia Định 1859 đến năm 1945 là 86 năm. Phải trải qua 86 năm
mang ách đô hộ, 5 lần khởi nghĩa vũ trang, người Việt Nam, người
Sài Gòn mới rửa được nhục mất nước.
Cuộc vui của Sài Gòn quá ngắn. Cái thế của Sài Gòn là thế ở
đầu sóng ngọ n gió. Năm 1859 quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn để
đánh chiếm Nam Kỳ lụ c tỉnh; đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh để đánh
chiế m cả nước Việt Nam. Bây giờ, 1945 cũng vậy; quân Pháp muốn
thực hiện chương trình xâm lăng cũ mà nhanh hơn. Quân Anh ủng
hộ quân Pháp. Quân Anh từ Ấn Độ đến, quân Pháp từ Pháp sang,
quân Nhật được lệnh thả hơn vạn tù binh Pháp bị cầm tù từ sau ngày
9 tháng 3. Ngày 23 tháng 9 quân Pháp bắt đầu cuộc đánh chiếm nước
ta lần thứ hai bằng cách đánh chiếm trung tâm Sài Gòn. Cuộc kháng
chiế n của ta chống Pháp cũng bắt đầu từ ngà y 23 tháng 9 đó. Sài Gòn
ở trong tình trạng kháng chiến bằng vũ trang và bằng chính trị đến
1954 suốt 9 năm trời. Trong 9 năm đó nội thành và ngoại ô phụ cận
Sài Gòn không biết đến hòa bình, luôn luôn là một chiến trường thật
sự. Không chỉ trước mặt, sau lưng, mà trong cả lục phủ ngũ tạng của
quân thù. Hãy nhớ những tháng đầu Sài Gòn rực lửa đốt phá cơ quan
xí nghiệp địch, thành phố vắng người vì đồng bào tản cư về quê. Rồi
khi Pháp chiếm đóng lại các tỉnh, dân Sài Gòn trở lại thành phố
quyết tử cùng dân quân du kích, đặc công. Trung đoàn Phạm Hồng
Thái hoạt động diệt ác trừ gian càng sôi nổi, càng có hiệ u quả. Bọn
thực dân ở Sài Gòn như ngồi trên bàn chông, lò lửa, bọ n Việt gian ở
Sài Gòn ngày đêm thấp thỏm như thấy họng súng kề mang tai. Cách
xa hơn hai ngàn kilômet mà nhân dân Sài Gòn như có mặt góp phần
vào Điện Biên Phủ năm 1954, là vậy. Sau chiến thắng Điệ n Biên
Phủ, sau hiệp định Genève, miền Nam hãy còn trong tay đế quốc và
tay sai bản xứ của chúng trong thời gian dài hơn 20 năm nay Sài Gòn
tiếp tục là bãi chiến trường, ở đó đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ
trang càng sôi nổi, kịch liệt hơn thời 9 năm chống Pháp, đấu tranh
giữa ta và Mỹ ngụy, đấu tranh giữa các phe cánh thân Pháp, thân
Mỹ, giữa các phe cánh thân Mỹ với nhau. Sài Gòn là cả một lò lửa,
khi âm ỉ, khi cháy bừng. Cuộ c chiến đấu của nhân dân thành phố vì
độc lập thống nhất tiếp tục, không những diễn ra trên sách báo mà
còn chủ yếu là ngoài đường phố với không biết bao nhiêu mà kể
những cuộc biểu tình, những cuộc đánh bom nhiều cơ quan và cư xá
của quân Mỹ , những cuộc đánh mìn nhấn chìm hàng chục tàu Mỹ
trên sông từ Vũ ng Tàu vào Sài Gò n, những cuộc tập kích vào số quán
Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, và o sân bay Tân Sơn Nhất, vào trại
Phù Đổng, vào các nhà hàng, rạp hát có Mỹ lui tới. Chớ quên rằng,
những ngày cuố i tháng 4 năm 1975, trong cuộc tấn công toàn thắng
của quân đội chính quy cả nước, thì dân quân tự vệ, nhân dân Sài
Gòn và ngoại ô cũng đồng thờ i nổi dậy chiếm tất cả quận, phường,
v.v... bảo đảm an toàn gần như tuyệt đối không bị kẻ thua trận phá
hoại hay cố thủ. Tiến công và nổi dậy, quân và dân hợp lực thì Sài
Gòn giải phóng mới nguyên vẹn được. Hai mươi mốt năm Mỹ ngụy
cộng vớ i chín năm Pháp ngụy, là 30 năm dài sau Cách mạng Tháng
tá m, Sài Gòn luôn luôn là một bãi chiến trường. Đau khổ biết mấy, và
vinh quang cũng biết mấy. Sài Gòn chính là thành phố đã chứng kiến
sự cuố n cờ tam sắc, rút hết quân viễn chinh Pháp xuống tàu về "mẫu
quốc", chủ nghĩa thực dân cũ đổ nát hoàn toàn. Sài Gòn cũng là
thành phố chứng kiến sự cuốn cờ sao vạch, quan tâm Mỹ vội vã lên
trự c thăng bay ra tàu chiến đậu ở biển Đông; chủ nghĩa thự c dân mới
bị đánh một đòn chí tử.
Sài Gòn thời Pháp thống trị là thành phố có nhiều phong trào
quần chúng đấu tranh chính trị rộng lớ n nhất, sôi nổi nhất ở Việt
Nam, và ở thế giới thuộc địa thời ấy không phải có nhiều thành phố
như vậy.
Trước hết, chúng ta hãy kể lại mấy cuộc đấu tranh chính trị có
bề sâu tư tưởng mà không có sự tham gia trực tiếp của quầ n chúng
nhân dân. Như cuộc đấu tranh (trong những năm 60 thế kỷ XIX) giữa
thái độ đầu hàng và thái độ kháng chiến, giữa giới nho học với nhau,
phe đầu hàng thiểu số do Tôn Thọ Tường đại diện, có thể xem là tiêu
biểu, phe kháng chiến do Cư Trị đạ i diện; hai phe chọi nhau kịch liệt
bằng thơ nôm, thơ không được in ấn mà hàng ngàn người thuộc lòng.
Như cuộc đấu tranh giữa phe tán thành và phe phản đố i chủ nghĩa
Pháp - Việt đề huề (hồi giữa năm 20 thế kỷ XX) cuộc đấu tranh này
đã diễn ra bằng rất nhiều bài báo và diễn văn Việt hay nói bằng tiếng
Pháp; cả Toàn quyền Varenne và luật sư Phan Văn Trường đều có
vào cuộc đấu, giới trí thức tân học theo dõi kỹ.
Cũng vào lúc này ở Sài Gòn ra đời một hình thức vận động
chính trị mới lá mít tinh, biểu tình; cuộ c biểu tình lớn nhất lúc bấy
giờ, lớn nhấ t từ trước cho đến đó là buổi đưa tang cụ Tây Hồ, chừng
50 ngàn người trong số đó có đông đủ học sinh bãi khóa, bạn hàng các
chợ bãi thị và viên chức các sở bãi công. Cuộc đấu tranh mang thính
chất vừa đấu tranh kinh tế vừa đấu tranh chính trị là cuộc bãi công
của một ngàn thợ Bason đòi tăng lương, chống sa thải, thực tế là
nhằm giam chiến hạm Pháp được phái qua Trung Quốc đang sôi sụ c
cách mạng mà phải ghé Sài Gòn để sửa chữa. Bãi công thắng lợi. Dự
luận Tây Nam Sài Gòn chấn động. Sau đó, vào những năm 30 thì Sài
Gòn chứng kiến nhiều cuộ c bãi công và tổng bãi công, bãi thị và tổng
bãi thị, nhiều và lớn không đâu bằng vì lẽ Sài Gòn là thành phố công
thương nghiệp lớn nhấ t Việt Nam, và vì lẽ rằng Đảng bộ Cộng sản
Sài Gòn là một tổ chứ c mạnh. Biểu tình đón lao công đại sứ Justin
Gôda, đón Toàn quyền Brévié (1936-1937) được nhận xét là đông hơn
cuộc đưa linh cữu cụ Tây Hồ, có điều mới là hôm đón Brévié thì nhân
dân và cảnh sá t xô xát nhau dữ dội. Biểu tình ấy còn là nhỏ thôi, còn
là bình thường thôi, nếu so sánh với các cuộc tuyên thệ, các cuộc tuần
hành của thanh niên tiền phong và tổng công đoà n trước Cách mạng
Tháng tám. Nhữ ng ngày 25 tháng 8; 2 tháng 9 năm 1945, trên các
quảng trường và đại lộ Sài Gòn, người quan sá t thấy tập hợp không
phải hàng chục vạ n mà đến hàng trăm vạn người trong tay không
phải chỉ có băng cờ mà còn có cả vũ khí. Sở dĩ các cuộc biểu tình tuần
hành ở Sài Gòn là vị Sài Gòn được bao bọc bởi một ngoại ô phụ cận có
tinh thần cao, có tổ chức mạnh từa tựa như Paris có "vành đai đỏ" nổi
tiếng; từ hàng chục năm rồi liên minh công nông là một sức mạnh
không đế quốc nào phá nổi.
Pháp trở lại. Mỹ kéo đến. Pháp, Mỹ và ngụy quyền đều vấp phải
sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân Sài Gòn lúc nào cũng
sẵn sàng theo tiếng gọi của Đảng cách mạng, để phát động bãi công,
bãi khóa, bãi thị, biểu tình, thị uy tuần hành chố ng lại chúng, mặc
dầu chúng có cảnh sá t vũ trang một cách tối tân. Cần nhắc lại mộ t số
cuộc đấu tranh tiêu biểu nhất cho tinh thần của quần chúng nhân
dân thành phố. Cuộc biểu tình trước dinh thủ tướng ngụy, trong đó
trò Ơn bị bắ n chết, là cuộc biể u tình lớn, nhưng nó lại rất nhỏ nếu so
với đám ma của trò Ơn trong đó cái đầu củ a đoàn biều tình đã vào tới
bệnh viện Chợ Rẫy mà cái đuôi của đoàn biểu tình chưa ra hết khỏi
sân trường Petrus Ký. Cũng cần nhắc lại cuộc biểu tình lớn ở trung
tâm Sài Gòn, mà người dẫn đầu là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, mấy vạn
dân hô vang khẩu hiệu tống cổ chiến hạm Mỹ ra khỏi bến Bạch Đằng,
bà con đốt ôtô, dựng chiến lũy, tay không giao tranh với cảnh sát vũ
trang, xung đột cả buổi, cả ngày, nhìn lại thì chiến hạm và máy bay
Mỹ biết thân đã rút khỏi Sài Gòn rồi! Những nhà làm sử có thừa tư
liệu để viết mấy trăm trang sách chứng minh rằng Sài Gòn là thành
phố của cao trào quần chúng đấu tranh bền bỉ suốt thời thống trị
thực dân cũ và mới.
Sài Gòn, một cái lò rèn đúc nhiều anh tài kiệt xuất cho dân tộc.
Phong trào đấu tranh tư tưởng chính trị, vũ trang của quần chúng
nhân dân chống đế quốc thực dân (từ 1859 đến 1975) ở Việt Nam, ở
Nam Bộ, ở Sài Gòn, đã làm nẩy nở lại thành phố này một số anh tài
kiệt xuất bao gồm nhiều người nổi danh trong nước và cả ngoài nước,
cùng nhiều anh tài vô danh mà sự nghiệp cứu nước vẫn là hiển hách,
vẫn là tấm gương sáng đời đời.
Danh nhân đầu tiên của Sài Gòn kháng Pháp là Hồ Huấn
Nghiệp, theo lời kể của Nguyễn Thông, Nghiệp vì cha chết, mẹ già,
nên không đi thi, ông ở nhà thờ cha, nuôi mẹ, dạy học; nhưng khi
quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì Nghiệp liền theo lời kêu gọi của
Trương Định, nhận của Bình Tây đại nguyên soái chức tuần phủ
Bình Dương, lãnh đạo kháng chiến ở thành phố. Chẳng may bị địch
bắt, Nghiệp thà chịu chết không chịu hàng, trướ c khi ra pháp trường,
Nghiệp can đảm ung dung chải tóc, sửa áo, ngâm bốn câu thơ đầy khí
tiết. Những vị Chủ tịch kháng chiến của Sài Gòn, Nam Bộ về sau đều
xứng đáng với thầy Hồ Huấn Nghiệp; kỹ sư Kha Vạn Cân, luật sư
Phạm Văn Bạch, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phạm Ngọ c
Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ... Danh nhân kiệt xuất của Sài Gòn
có thể là các nhà đại trí thức mà cũng có thể là người công nhân như
Tôn Đức Thắng, người đã kéo cờ phản chiến để ủng hộ Nga Sô trên
hạm đội Pháp năm 1919 tại Hắc Hải, ông cũng là người đã cù ng hàng
ngàn thợ Bason giam hạm đội Pháp lại suốt thời gian khi chúng trên
đường đi đàn áp cá ch mạng Trung Quốc năm 1925; như anh hùng lao
động Ngô Văn Năm có công từ Bắc đưa về Nam hàng chụ c tàu vũ khí
trong thời kỳ chống Mỹ. Lại có thể là những thanh niên xem đại
nghĩa cứu nước nặng như đá núi, mà xem cái chết nhẹ như lông hồng.
Điển hình là Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Văn Tám. Cũng có
thể là vị chân tu đắc đạo như Thích Quảng Đức mà ngọn lửa tự thiêu
ở một ngã tư đường phố làm chấn động dư luận cả thế giới, góp phần
đốt cháy ra tro cả một triều đình họ Ngô tay sai của Mỹ. Bây giờ và
sau này, khi ta nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo thì không thể nào
quên sư Thiện Chiếu với các luận văn sâu sắc của cụ về các vấn đề
triết lý cao siêu, có hay không có Thượng đế sáng tạo muôn loài ? Có
hay không có linh hồn bất tử ? Có hay không có Thiên đường, Tịnh độ,
Tây phương cực lạc ? Có hay không có ngoại giới ? Nói về số danh
nhân của thành phố Sài Gòn mà quên các nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ
thì sẽ là thiếu sót. Sài Gòn là nơi có "nhựt trình" sớm nhất ở nước ta;
Sài Gòn lại là nơi mà trong thời thực dân thống trị, người cầm bút có
một số điều kiện tương đối dễ dãi hơn ở Hà Nội, Huế để nói lên một
phần tư tưởng tiến bộ của mình. Cho nên, từ rất sớm một số không
nhỏ những người làm văn, làm báo ở Bắc, Trung kẻ trước người sau
vào đất Sài Gòn thi thố tài năng, Trần Huy Liệu, Hải Triều... Nổi
nhất trong làng báo Sài Gòn trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến
là Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, các anh vừa là nhà báo, vừa là
chính khách viết hay, nói giỏi, lời văn và nhân cách thức tỉnh muôn
người. Sài Gòn là đất dụng võ của những nhà hùng biện. Phải được
nghe Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Tấn Phát, Mai Văn
Bộ, Đặng Ngọc Tốt, v.v..., mới tin rằng tiếng mẹ đẻ của chúng ta
không chỉ đặc sắc êm dịu như ru, mà khi cần cũng thừa sức kích động
tinh thần như đại pháo ở chiến trường. Trong phong trào nhân dân
chống đế quốc, nhiều nghị sĩ Sài Gòn nổi lên như chiến sĩ: nhạc của
Lưu Hữu Phước đem lại sức mạnh như những binh đoàn; Trần Hữu
Trang, Năm Châu, Bảy Phùng Há và bao nhiêu nghệ nhân nữa là
chiến sĩ đánh giặc bằng bản kịch lời ca.
Kể bao danh nhân sản sinh từ nhân dân anh hùng của đất Sài
Gòn này cũng không hết. Hãy nhớ trước hết và cuối cùng tên tuổi của
các nhà lãnh đạo cách mạng đã bị đế quốc và bè lũ tay sai của chúng
giết chết tại thành phố này: Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ,
ba vị Tổng Bí thư tài cao của Đảng Cộng sản và biết bao các chiến sĩ
cách mạng khác nữa, các đồng chí đến đây từ khắp tỉnh thành của Tổ
quốc, yên giấc ngàn thu bên cạnh Hồ Huấn Nghiệp ngày trước, Lê
Thị Riêng ngày nay, góp phần xây dự ng truyền thống anh hùng của
nhân dân Thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
(300 năm Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh - NXB Chính trị Quốc gia)
Chán đời đi lang thang !
0
THẾ THỨ CÁC TRIỀU CHÚA NGUYỄN
1 - Nguyễn Hoàng (1558 - 1613)
Con thứ hai của Nguyễn Kim (người có công dựng ra Nam triều,
sau được truy tôn là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế). Thân mẫu người họ
Nguyễn (con gái của quan Đặc Tiến Phụ quốc thượng tướng quân,
thự vệ sự triều Lê), sau được truy tôn là Tĩnh hoàng hậu. Sinh vào
tháng 8 năm ất Dậu (1525). Vào trấn thủ Thuận Hóa tháng 10 năm
Mậu Ngọ (1558) và đến tháng 11 năm Canh Ngọ (1570) thì kiêm
quản cả xứ Quảng Nam (thay cho Nguyễn Bá Quýnh). Tháng 5 năm
Quý Tị (1593) được phong làm Thái úy, Đoan Quốc Công. Ở ngôi chúa
55 năm, dân thường gọi là chúa Tiên, mất vào tháng 6 năm Quý Sửu
(1613), thọ 88 tuổi. Sau được suy tôn làm Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế.
Trong thời gian ở ngôi, Nguyễ n Hoàng đã cho quân đánh Chiêm
Thành, mở rộng biên cương đến khu vực tỉnh Phú Yên ngày nay.
Trận đánh này xảy ra năm Tân Hợ i (1611).
2 - Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635)
Con thứ 6 của vua Nguyễn Hoàng, (bốn người con đầu của
Nguyễn Hoàng đều mất sớm, người con thứ 5 thì phải làm con tin ở
Đàng Ngoài). Thân mẫu người họ Nguyễn, sau được truy tôn là Gia
Dụ hoàng hậu. Sinh vào tháng 7 năm Quý Hợ i (1563). Năm Nhâm
Dần (1602) được làm trấn phủ Quảng Nam. Nố i nghiệp chúa từ tháng
6 năm Quý Sửu (1613), xưng là Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội
ngoại binh chương quân quốc trọng sự, chứ c Thái bảo, tước Thụy
Quậ n Công. Ở ngôi chúa 22 năm, dân thường gọ i là chúa Phật hay
chúa Sã i, mất vào tháng 10 năm ất Hợi (1635), thọ 72 tuổi. Sau được
truy tôn là Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế .
3 - Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648)
Con thứ hai củ a Nguyễn Phúc Nguyên, thân mẫu người họ
Nguyễn, sau được truy tôn là Hiếu Văn hoàng hậu. Sinh vào tháng 7
năm Tân Sửu (1601). Nối nghiệp chúa từ tháng 10 năm ất Hợi (1635),
dân thường gọi là chúa Thượng, ở ngôi chúa 13 năm, mất vào tháng 2
năm Mậu Tí (1648), thọ 47 tuổi. Sau được truy tôn là Thần Tông Hiếu
Chiêu Hoàng Đế.
4 - Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687)
Con thứ hai của Nguyễn Phúc Lan, thân mẫu người họ Đoàn,
sau đượ c truy tôn là Hiếu Chiêu hoàng hậu. Sinh vào tháng 6 năm
Canh Thân (1620). Nối nghiệp chúa từ tháng 2 năm Mậu Tí (1648),
xưng là Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân
quốc trọng sự, chức Thái Bảo, tước Dũng Quốc Công, dân thường gọi
là chúa Hiền. Ở ngôi chúa 39 năm, mất vào tháng 3 năm Đinh Mão
(1687), thọ 67 tuổi. Sau được truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng
Đế.
5 - Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691)
Con thứ hai của Nguyễn Phúc Tần, thân mẫu người họ Tống,
sau được truy tôn là Hiếu Triết hoàng hậu. Sinh vào tháng 12 năm Ki
Sửu (1649). Nối nghiệp chúa từ tháng 3 năm Đinh Mão (1687), xưng
là Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quố c
trọng sự, chức Thái phó, tước Hoàng Quốc Công, dân thường gọi là
chúa Nghĩa. Ở ngôi chúa 4 năm, mất vào tháng 1 năm Tân Mùi
(1691), thọ 42 tuổi. Sau đượ c truy tôn là Thái Tông Hiếu Nghĩa
Hoàng Đế.
6 - Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725)
Con trưởng của Nguyễn Phúc Trăn, thân mẫu người họ Tống,
sau được truy tôn là Hiếu Nghĩa hoàng hậu. Sinh và o tháng 5 năm ất
Mão (1675). Nối nghiệp chúa từ tháng 1 năm Tân Mùi (1691), xưng là
Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quố c
trọng sự, chức Thái bảo, tước Tộ Quận Công, dân thường gọi là Quố c
chúa. Ở ngôi chúa 34 năm, mất vào tháng 4 năm ất Tị (1725), thọ 50
tuổi. Sau được truy tôn là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế. Trong
thời gian ở ngôi chúa, Nguyễn Phúc Chu có ba lần mở rộ ng lãnh thổ
về phía Nam.
7 - Nguyễn Phúc Chủ (1725 - 1738)
Con trưởng của Nguyễn Phúc Chu, thân mẫu người họ Tống,
sau được truy tôn là Hiếu Minh hoàng hậu. Sinh vào tháng 12 năm
Bính Tí (1696). Nối nghiệp chú a từ tháng 4 năm ất Tị (1725), xưng là
Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân quố c
trọng sự, chức Thái phó, tước Đỉnh Quốc Công, dân thường gọi là
Ninh Vương. Ở ngôi chúa 13 năm, mất vào tháng 4 năm Mậu Ngọ
(1738), thọ 42 tuổi. Sau được truy tôn là Thúc Tông Hiếu Ninh Hoàng
Đế.
8 - Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765)
Con trưởng của Nguyễn Phúc Chú, thân mẫu người họ Trương,
sau được truy tôn là Hiếu Ninh hoàng hậu. Sinh vào tháng 8 năm
Giáp Ngọ (1714). Nối nghiệp chúa từ tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738),
xưng là Tiết chế thủy bộ chư dinh, Tổng nội ngoại bình chương quân
quốc trọng sự, chức Thái bảo, tước Hiể u Quận Công, dân thường gọi
là Võ Vương. Ở ngôi chúa 27 năm, mất vào tháng 4 năm Ất Dậu
(1765), thọ 51 tuổi. Sau được truy tôn là Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế.
9 - Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777)
Con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát, thân mẫu người họ
Nguyễn, sau đi tu, được truy tôn là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư.
Sinh vào tháng 11 năm Giáp Tuất (1754). Nối nghiệp chúa từ tháng 5
năm ất Dậu (1765), ở ngôi chú a 12 năm, mất vào tháng 9 năm Đinh
Dậu (1777), khi bị Tây Sơn đánh đuổ i ở Gia Định. Dân thường gọ i là
Định Vương. Sau được truy tôn là Duệ Tông Hiếu Định Hoàng Đế.
(Trích "Thế Thứ các Triều Vua Việ t Nam" của Nguyễn Khắc Thuần)
Chán đời đi lang thang !
0
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
VÙNG ĐẤT SÀI GÒN
Năm 1698, Nguyễn Phước Chu - tức chúa Minh - sai Thống suất
Nguyễn Hữu Kính (thường đọc Cảnh) vào Nam kinh lý và lậ p phủ
Gia Định. Nhưng trước đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy
người Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập đấp rải rác trong
đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Mê Nam bên
Xiêm rồi.
Biên niên sử Khơ Me chép: Năm 1618, vua Chey Chettha II lên
ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ
cưới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa
Nguyễn (người ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi,
Nguyễn Phước Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem
nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn
trong triều, có người làm các nghề thu công và có người buôn bán hay
vận chuyển hàng hóa.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey
Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas
Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là
địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi
Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành
thị tứ trên bến dưới quyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất.
Giáo sĩ Yý tên Christoforo Boni sống tại thị trấn Nước Mặn gần
Qui Nhơn từ năm 1681 đến năm 1622, viết hồi ký "Chúa Nguyễn
phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Campuchia -
cũng là chàng rể lấy con gái hoang (fille batarde) của chúa! Chú a viện
trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm". Borri
cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồ i 1620:
"Sứ thần là người sinh trưở ng tại Nước Mặn, một nhân vật quan
trọng đứng sau chức tổng trấn. Trước khi lên đường, ông đã để nhiều
ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông người,
cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc
thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U
Đông, thì dân chúng Khơ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và
Trung Hoa đã tụ hộ i đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ
thần đây là người quan thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện
thường trú từ lâu, chưa không phả i sứ giả mới tới lầ n đầu. Borri còn
cho biết tòa sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, người
hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ.
Một giáo sĩ khác người Pháp tên là Chevreuil tớ i thăm Colompé
(tức Pnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy "hai làng An Nam nằm
bên kia sông, cộng số người được độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ
có 4 hay 5 chục người". Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có
nhiều người Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố
thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy
ngàn người. Như ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phôở, Mỹ Tho, Hà
Tiên, v.v...
Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, người Việt Nam còn đến làm
ăn và định cư rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết:
dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán
đảo Đông Dương và chủ yế u trên lưu vực sông Mê Nam. Nước này gọi
là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan.
Kinh đô Xiêm xưa ở Ayuthia, xây dựng thừ năm 150 trên một khúc
quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère
vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa
hai nhánh sông Mê Nam. Đường sá, cầu cống, phố chợ , lâu đài... được
ghi khá rõ ràng. lại có thêm chú chích minh bạch như: A=Thành phố,
B=cung điện, C=bến cảng, D=xưởng thủy hải quân, E=xưởng thủy
ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện... Chung quanh hòn đảo chính
có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay người nước ngoài cư
trú : người Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, người Hoa ở phía Đông, người
Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi
người Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh
đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung
quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng ngườ i Việt ở đây khá
đông và là một trong mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất.
Trên bản đồ có ghi rõ chữ Cochinchinois nơi thôn trại Việt. Đương
thời, địa danh này chỉ ngườ i Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung
người VIệt Nam, vì trước đó - trong thời gian chưa có phân ranh
Trịnh Nguyễn, Tây phương dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ
- Cauchi -Cauchinchina - Cochinchine để gọi chung Việt Nam. Đa số
người Việt ở đây là ngườ i Đàng Trong, song cũng có người Đàng
Ngoài. Họ tới định cư và lập nghiệ p có lẽ từ thế kỷ XVI hay đầu thế
kỷ XVII tồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nước rấ t xáo trộn là
loại ly. Theo ký sự của Vachet thì cả nam nữ già trẻ. Ngoài Ayuthia,
người Việt còn tới làm ăn định cư tại Chân Bôn (Chantaburi) và
Bangkok là những thương điếm trung chuyển từ Hà Tiên tớ i kinh tô
Xiêm.
Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm
1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu
cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dương Lâm đem
bính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam
Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua
chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu là m Cao
Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó
vương.
Sử ta còn ghi rõ: năm 1679, chúa Nguyễn Phước Tần tức Hiền
Vương cho "nhóm ngườ i Hoa" muốn "phụ c minh chống Thanh" là
Dương Ngạn Địch tớ i mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên tới Biên Hòa và
Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có người
Việt tới sinh cơ lập nghiệ p từ lâu. Như Trịnh Hoài Đứ c đã ché p: các
chúa Nguyễn "chưa rảnh mưu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy
cho cư dân bản địa ở , nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến
luôn luôn". Nhưng năm 1658, "Nặc Ong Chân phạ m biên cảnh", Hiền
Vương liền sai "phó tướng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến
thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua nước
ấy". Sau được tha tội và đượ c phong làm Cao Miên quốc vương "giữ
đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên
cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu
dân của nước ta đên ở chung lộn với ngườ i Cao Miên khai lhẩn ruộng
đất". Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên
cảnh" của Việt Nam.
Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn
Hữ u Kính vào "kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh
- khi ấy "đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở
lưu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", Nguyễn Hữu Kính
đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phước Long, Tân Bình (một phần
nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trước, nhà nước đến sau. Và
miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cương vực Việt Nam một cách
thật êm thắm và hòa hợp dân tộc vậy.
(Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh: 300 năm địa chính)
Chán đời đi lang thang !
0
PHÁP CHIẾM SÀI GÒN VÀ TIẾN HÀ NH
CÔNG CUỘC XÂM LƯỢC VIỆT NAM
Tháng 4-1857, Napoléon III quyết định thành lập một ủy ban
nghiên cứu về Việt Nam (Commission de la Cochinchine) do hầu tướ c
Brenier đứng đầu và 4 ủy viên Pierre Cintrat, Phó Đề đốc Fourichon,
Đại tá hải quân Jamès, đại diện Bộ Thương mạ i Fleury và thư ký De
Mofras.
Qua 7 phiên họ p (từ 28-4 đế n 18-5-1859), Ủy ban đã thảo luận 4
vấn đề chính: pháp lý, kinh tế, chính trị và quân sự và cuối cùng đã
kết luận: Pháp cần xâm chiếm Việt Nam. Trung tướng Rigault de
Genouilly được giao nhiệm vụ "chiếm Tourane" (Đà Nẵng) và giữ
vững ở đó. Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dưới sự chỉ
huy của Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm
lược. Nhưng chiến lũy Liên Trì, chiến thuật vườn không nhà trống và
khí hậu khắc nghiệt đã khiến cho Rigault de Genouilly thất bại trong
chiế n lược đánh nhanh thắng nhanh. Cuối cùng, y quyết định chọn
mục tiêu thứ hai là Sài Gòn...
QUÂN PHÁP ĐÁNH CHIẾM SÀI GÒN
Vào giữa thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam bắt đầu những trang đen
tối khác. Với dã tâm xâm lược. Pháp đã can thiệp quân sự vào Việt
Nam bằng cách đánh chiếm Nam Kỳ rồi Bắc và Trung Kỳ, áp đặt chế
độ đô hộ trên toàn bộ lãnh thổ nước ta.
Các nước châu Âu, đứ ng đầu là hai đại đế quốc Anh và Pháp
đang tranh giành ráo riết các thuộc địa màu mỡ ở châu Phi, châu Á,
vừa để độc quyền khai thác các tài nguyên phong phú, vừa mở rộng
thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp của mình. Riêng đối với
Việt Nam, các nước phương Tây đã nhiều lần ngỏ ý muốn thiết lập
bang giao, nhất là Pháp, do mối quan hệ đã có từ khi Nguyễn Phú c
Ánh chưa thiết lập vương quyền nhà Nguyễ n. Yý đồ của Pháp là thự c
hiện chiến lược bành trướng đế quốc thuộc địa tại châu Á, sau khi bị
người Anh gạt ra khỏi Ấn Độ. Cho nên người Pháp rất muốn triều
đình Huế dành cho họ đặc quyền buôn bán ở Việt Nam. Khi bị triều
đình Huế nhiều lần từ chối (giai đoạn 1817-1831) Pháp liền đưa quân
đến xâm lược nước ta.
Đến 1850, Đệ nhị đế chính ở Pháp được thiết lập. Tình hình nội
bộ Pháp đã ổn định. Lợi dụng việc cấm đạo của các vua nhà Nguyễn,
và tác động của Hoàng Hậ u Eugenie Marie De Montixo De Guzman
người rất được triều đình Tây Ban Nha ủng hộ, Pháp hoàng Napoléon
III quay lại chính sách can thiệp trước đây, với tư cách là người bảo
vệ quyền truyền giáo của Hội truyền giáo hải ngoại Paris, người bảo
vệ quyền lợi của Đệ nhị đế chính Pháp.
Ngoài ra, sự can thiệ p bằng vũ lực của Pháp vào Việt Nam còn
là một thủ đoạn chính trị hết sức tinh vi của Napoléon III nhằm vô
hiệu hóa sự chống đối của quân đội, giới thương nhân và nhất là của
giáo hội Thiên chúa giáo với tham vọng độc quyề n giáo tại Việt Nam.
Hoàng đế Pháp Napoléon III quyết định cho tiến hành "Chính sách
ngoại giao pháo hạm" đối với nước ta. Năm 1855, triều đình Pháp cử
đặc sứ De Montigni đến các nước châu Á thảo luận ký hiệp ước thông
thương.
Trong khi vị đặc sứ này còn đang thương thuyết ở Cao Miên thì
ba hộ tống hạm Pháp đã đến Việt Nam trước. Ngày 17-9-1856 hộ tống
hạm Catinat cập bến Đà Nẵng gặp phải sự đón tiếp căng thẳng, hạm
trưởng Hải quân Trung tá Le Lieur đã cho nổ súng bắn phá các pháo
đài phòng thủ cửa biển Đà Nẵng. Thái độ thù địch của lực lượng hải
quân Pháp tại Đà Nẵng làm cho các đề nghị thương thảo sau này của
đặc sứ Montigni không được triều đình Huế chấ p nhận. Giám mục
Pellerin vội vã lên đường về Pháp, vận động triều đình Pháp can
thiệp vũ lực vào Việt Nam.
Napoléon III cho lập ngay "Ủy ban Nam Kỳ" (Commission de la
Cochinchine). Trong phiên họp tháng 4-1857. Ủy ban Nam Kỳ
khuyến cáo chính phủ Pháp phải chiếm giữ ba thương cảng chính của
Việt Nam mà các thương nhân Pháp thường lui tới là: Kẻ Chợ, Đà
Nẵng và Sài Gòn. Việ c chiếm cứ này sẽ có lợi cho Pháp trên cả ba
phương diện: Chính trị, thương mại và uy tín của đế quốc Pháp.
Napoléon III chấp thuận đề nghị của Ủy ban và ra lệnh cho vị Tư
lệnh hạm đội Pháp ở Viễn Đông, Phó Đô đốc Hải quân Rigault de
Genouilly ngày 25-11-1857 phải đưa chiến hạm đến chiếm Đà Nẵng.
Nhưng mãi đến 1-9-1858 hạm đội Pháp gồm 14 chiến hạm, 3000 quân
mới đến nơi. Quân Pháp với sự hỗ trợ lực của một đơn vị bộ binh Tây
Ban Nha do Đại tá Lanzarotte chỉ huy đã cùng tiến đánh cảng Đà
Nẵng.
Sau khi chiếm hai đồ n phòng thủ của Đà Nẵng, Phó Đô đốc
Rigault De Genouilly nhậ n thấy không thể dùng Đà Nẵng làm căn cứ
được, vì tình hình chiến sự trở nên phức tạp, quân triều đình Huế
kháng cự mãnh liệt, không giống như các báo cáo của các giáo sĩ Pháp
đã gửi cho Bộ hải quân và thuộc địa, do đó ông buộc phải thay đổi
phương á n chiếm đóng.
Đầu năm 1859, thay vì đem cả hạm đội ra vịnh Bắc Kỳ theo
đúng kế hoạch dự kiến, De Genouilly quyết định đem quân vào đánh
Nam Kỳ, giao cho Đại tá Toyon chỉ huy một đơn vị nhỏ, giữ các cứ
điểm chiếm được ở Đà Nẵng. Việc thay đổi quyết định của De
Genouilly được lý giả i bởi các yếu tố sau:
Nam Kỳ (La Basse Cochinchine) là vựa lúa nuôi cả quân đội
nhà Nguyễn và kinh đô Huế.
Vị trí Sài Gòn có những điề u kiện tự nhiên rất thuận lợi về mặt
giao thông hàng hải, thương mại đã được các nước phương Tây chú ý
ngay từ những năm đầu thế kỷ XIX.
Thờ i điểm bấy giờ đang mùa gió Đông Bắc thuận lợi cho việ c
hạm đội Pháp xuôi Nam.
Hạm đội hải quân gồm các chiến hạm Phlégéton, Primauguet,
các pháo hạm L'Alarme, L'Avalanche, La Dragonne, các vậ n chuyển
hạm La Durance, La Meurthe, La Saône và thông báo hạm máy hơi
nước El Cano. Tất cả rời Đà Nẵng ngày 2-2-1859, đến ngày 9-2 thì
tập kết tại cửa sông Sài Gòn. Sáng ngày 10-2 chiến hạm Pháp pháo
kích phá hủy 2 pháo đài phòng vệ trên bờ biển Vũng Tàu. Ngày 11-22
chiế n hạm Pháp Phlé géton pháo kích phá hủy đồn Cần Giờ.
Soái hạ m của R.De Genouilly ngược sông Sài Gòn, dẫn đầu một
đoàn chiến thuyền gồm hai chiếc hộ tống hạm máy hơi nước, ba pháo
hạm và một thông báo hạm má y hơi nước củ a Tây Ban Nha, kéo theo
nhiều xà-lúp và canô chở quân trang quân dụng. Từ ngày 11-2 đến
15-2 quân Pháp lầ n lượt triệt hạ đồn phòng vệ của triều đình Huế
đóng dọc theo sông Sài Gòn, sẵn sàng đánh chiếm Sài Gòn.
Lũy thành Sài Gòn được tổ chức phòng thủ hai mặt: mặt Nam
là hai pháo đài phòng vệ, mặt Bắc là một lũy thành với nhiều pháo
đài lồi.
Tối 15-2 Rigault de Genouilly cho tấn công và hủy diệt ngay
một trong hai pháo đài ở mặt Nam, pháo đài còn lại cũng bị triệt hạ
vào sáng 16-2. Tiếp tục việc chiếm đóng Sài Gòn chiến hạm
L'Avalanche đi trinh sát hệ thống phòng thủ của lũy thành phía Bắc.
17-2-1859 các tàu chiến Pháp án ngữ đúng vị trí được phân công:
chiế n hạm Phlégéton trực diện cổng thành, chiến hạm Primauguet và
hai pháo hạm L'Alarme, L'Avalanche, bảo vệ mặt trận phía trước, còn
pháo hạm La Dragonne, Le Prigrent và thông báo hạm El Cano bảo
vệ mặt trận phía sau. Tất cả đồng loạt nổ súng để yểm trợ lực lượng
đổ bộ áp sát mục tiêu. Thiếu tá Henri des Paillères cầm đầu hai đại
đội bộ binh đá nh vào sườn trái. Trong khi đó Đại úy Gallimard dẫn
toá n công binh có nhiệm vụ đánh sập cửa lớn và các vách thành, hỗ
trợ cho bộ binh tràn vào thành. Một đại đội khinh binh Tây Ban Nha
dưới quyền của Thiếu tá Palance nằm chờ tăng viện cho hai cánh
quân trên. Một tiểu đoàn trừ bị nằm đợi lệnh trên bãi công dưới
quyền chỉ huy của Trung tá Raybaud. Trong khi đó lực lượng Tây
Ban Nha dưới quyền của Đại tá Lanzarotte cùng một nửa tiểu đoàn
hải quân ở cánh tả, được lệnh áp sát vách thành.
Quân triều đình bị tấn công dưới hỏa lực ác liệt của quân Pháp
sớm bị đánh tan, cùng lúc đó ở sườn mặt, một cánh quân của triều
đình hơn 1000 người, vẫn tiế p tục cầm cự dưới trận mưa pháo của đại
đội bộ binh Pháp. Đại tá Lanzarotte được lệnh dốc toàn lực đẩy lùi
cánh quân này ra khỏi mặt Bắc lũy thành Sài Gòn. Đến 10 giờ ngày
17-2 việc chiếm đóng Sài Gòn coi như hoàn tất, liên quân Pháp - Tây
Ban Nha đã chiếm đóng nhiều vị trí, đồn binh của quân triều đình
trong thành Sài Gòn.
Chỉ trong vòng một tuần lễ, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã
làm chủ một vùng rộng 25 dặm dọc theo sông Sài Gòn và toàn bộ
thành Sài Gòn được phòng thủ rất qui mô và kiên cố mà ta có thể
thấy được qua số chiến lợi phẩm do quân Pháp thu được sau khi
chiếm thành:
200 khẩu đại bác bằng sắt và đồng, một hộ tống hạm và 7 chiến
thuyền gỗ còn đang nằm ụ, 20.000 vũ khí, 85.000 kg thuốc nổ, một
két sắt chứa 130.000 quan.
Tổn thất của triều đình Huế ước tính 20 triệu quan Pháp.
Cuộc đánh chiếm Sài Gòn trong năm 1859 thực tế chỉ là một
cuộc tấn công quân sự thuần túy. Bởi vì ngay sau đó toàn bộ hạm đội
Pháp rút đi cùng với quân Anh đánh Trung Hoa, và chỉ để lại một đội
quân trú phóng do Đại tá D'ariès trấn giữ, đánh nhau cầm chừng với
quân chi viện của triều đình Huế do ông Nguyễn Tri Phương và
Tham tán Đại thần Phạm Thế Hiển tổ chức chiến đấu nhằm khôi
phục Sài Gòn.
Cuối năm 1860, nhà Thanh bại tận phải ký hiệp ước bất bình
đẳng với Phá p - Anh, hạm đội Pháp do phó Đô đốc Charner chỉ huy
quay về hoàn tất việc chiếm đóng Sài Gòn. Đầu năm 1861, quân Pháp
tậ p trung toàn bộ lực lượng với 70 chiến thuyền, 3.500 bộ binh đánh
chiế m đồn Kỳ Hòa. Rạng sáng 24-2-1861 liên quân Pháp - Tây Ban
Nha tổng tiến công đồn Kỳ Hòa. Chiều ngày 25-2-1861 đồn Kỳ Hòa
thất thủ, thiệt hại cả hai bên đều rất nặng nề. (Quân triều đình ông
Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển bị thương nặng, ông Nguyễn
Duy tử trận. Phía quân Pháp Thiếu tướng Vassoigne, Đại tá Tây Ban
Nha Planca bị thương (có tài liệu nói chết). Trận đánh Sài Gòn lần 2
được triều đình Pháp đặc biệt quan tâm vì nó mở đầu cho ý đồ mở
rộng thuộc địa tại Nam Kỳ, cho nên ngay ngày 27-2-1861 Phó Đô đố c
Chatner gửi báo cáo khẩn cấp vể Bộ Hải quân và Thuộc địa việc hoàn
tấ t chiếm đóng toàn bộ Sài Gòn cùng lúc với việc điều binh chiếm
Biên Hòa và Định Tường.
Sự thất thủ thành Sài Gò n (1859) rồi thất thủ Kỳ Hòa (1861) đã
bộc lộ sự yếu kém của vua quan nhà Nguyễ n. Như phần trên đã nêu,
dưới triều Minh Mạng hệ thống phòng thủ kiên cố của thành Gia
Định được xây dựng từ cuối thế kỷ XVIII bị phá bỏ, nhất là việc thao

luyện quân sự không được chú trọng, quân sĩ không quen chiến trận
dễ bị tan rã khi lâm trận, dù dự trữ lương thực, vũ khí rất dồi dào. Từ
sự yếu kém đó dẫn đến những di hại nghiêm trọng khác trong việc
tìm hiểu và đánh giá đúng kẻ địch, chọn đối sách hợp lý trước kẻ địch
đầy dã tâm. Cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy triều đình Huế
đã chọn sách lược nhượng bộ rồi đầu hàng, dù tại triều đình cũ ng có
phái "chủ chiến" ngay trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược Pháp.
(Theo sách Sài Gòn từ khi thành lập
đến giữa thế kỷ 19 - NXB TPHCM 1998)
Chán đời đi lang thang !
0
NGUYỄN TRI PHƯƠNG VÀ ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA
a) Đại đồn Chí Hòa
Đại đồn Chí Hòa (người Pháp đọc là Ki Hoa, rồi ra lại theo đó
mà gọi là Kỳ Hòa) được xây dựng trên làng Chí Hòa, có hình thang
mà đáy nhỏ ngang Bà Quẹo, đáy lớn ngang với ga Sài Gòn và đường 3
tháng 2 bây giờ. Hai mặt Tây và Đông chạy dọc theo hai bên đường
Cách Mạng Thá ng Tám (bấy giờ là đường Thiên Lý đi Nam Vang).
Đại đồn rộng chừng 3 cây số vuông, chia làm 5 khu. Thành cao
3,5m, dày 2m. Trên mặt thành và sát vách thành có hàng rào tre gai,
phía ngoài là hào sâu có cắm chông dày và các hố chữ phẩm. Bố trí
quanh thành là 150 đại bác. Từ đại đồn về phía chùa Cây Mai, quân
ta đắp một chiế n lũy dài và xây dựng đồn Hữu làm điểm tựa. Từ đại
đồn về phía rạch Thị Nghè cũng đắp một chiến lũy tương tự với đồn
Tả.
Từ Bà Quẹo tiến về phía Bắc là các đồn Tham Lương, Thuận
Kiều, Rạch Tra... Trong tình thế đó thì Chasseloup Laubat được bổ
nhiệm làm Thượng thư Bộ Thuộc địa. Y cương quyết thúc đẩy việc
thành lập một thuộc địa vĩnh viễn tại Nam Kỳ.
Chiến tranh với Trung Hoa chấm dứt với Hòa ước Bắc Kinh (10-
1860), Đô đốc Charner ké o hạm đội về Sài Gòn. Ngày 7-2-1861,
Charner đến Sài Gòn cùng với 3 tiểu đoàn bộ binh, 1.200 lính thủy
đánh bộ, 600 dân phu mộ ở Quảng Châu và gần đầy đủ một hạ m đội.

Thêm 9 đại đội tăng viện từ Pháp, 800 quân Pháp và Tây Ban Nha
đồn trú từ trước ở Sài Gòn, 150 kỵ binh từ Philippines đến, quân số
dưới quyền chỉ huy của Charner lên đến 5.000 với gần 70 tàu chiến.
Rõ ràng là một lực lượng rất mạnh so với quân ta ở Sài Gòn cho
dù quân số của quân ta đông hơn: 22.000 khinh binh, 10.000 cơ binh
và 15.000 quân đóng ở Biên Hòa như là lực lượng tiếp ứng. Với lự c
lượng như thế, Charner sẵn sàng đối chiến với quân triều đình để mở
rộng vù ng chiếm đóng.
b) Trận chiến Chí Hòa
Ngày 24-2-1861, từ 4 giờ sáng, trọng pháo Pháp bắ t đầu nhả
đạn vào thành lũy ta, khởi đầu cuộc tấn công đại đồn. Quân Pháp
không đánh thẳng vào mặt phía Nam là mặt đối diện với bờ sông Sài
Gòn mà chọ n thế đánh ngang hông xuất phát từ đồn Cây Mai.
Lúc 5 giờ sáng, lực lượng chủ lực phát xuất từ đồn Cây Mai bắt
đầu tấn công vào đồn Hữu. Pháo ta bắn trả dữ dội, đồng thời cho voi
xung trận. Phá p điều động trọng pháp lên trước, chỉ cách đồn Hữu
500m và nhả đạn liên tục vào đồn để yểm trợ cho lục quân áp thành,
dùng thang leo vào. Trọng pháo nhả ít nhất 500 viên vào đồn và cuối
cùng chiếm đượ c đồn Hữu.
Sáng hôm sau, ngày 25-2-1861, từ 5 giờ sáng, quân Pháp chia
làm 3 cá nh tấn công vào thành phía Tây của đại đồn.
Trọng pháo Pháp, vẫn theo một chiến thuật cổ điển, liên tiếp
nhả đạn và o đồn để chuẩn bị cho lục quân áp thành. Mặt trời mọc
làm trọng pháo không nhắm được. Tên trung tá Crouzat ra lệnh đưa
súng vào chỉ cách thành 200m và trực xạ. Thành vỡ, quân ta và địch
đánh cận chiến trong từng khu vực.
Về phía địch có 12 tên chết và 300 tên bị thương, có Đại tá
Palanca. Trung tá Testard chết sau đó vì vết thương quá nặng.
Bên ta, Nguyễn Tri Phương bị thương, Tán lý Nguyễn Duy (em
Nguyễn Tri Phương), Tán tương Tôn Thất Chỉ tử trận cùng rất nhiều
quân sĩ.
Nguyễn Tri Phương phải ra lệnh lui quân về phía đông Bắc.

Ngày 28-2-1861, quân Pháp tấn công Hóc Môn, rồi từ Hóc Môn
tiếp tục đánh đồn Tân Thới... Quân ta phả i rút lui về Biên Hòa.
Đại đồn Chí Hòa thất thủ sau hai ngày cầm cự. Quân Pháp
thừa kế đánh chiếm Định Tường (15-4-1861), Biên Hòa (7-1-1862) và
Vĩnh Long (23-3-1862). Vậy là Sài Gòn đã hoàn toàn rơi vào tay địch.
Sài Gòn tan tác trong cơn binh lửa.
Ngậm ngù i thay ba bốn làng Gò Vấp Cây cỏ khô, thân thể cũng
khô Bát ngát nhĩ mười tám thôn vườn trầu Hoa trái rụng rời, người
cũng rụng Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến Ngọn lửa thiêu, sự nghiệp
sạch không.
(Theo sách 300 năm SG-TPHCM - NXB CTQG-98)
Chán đời đi lang thang !
0
NAM KỲ BỊ RƠI VÀO TAY THỰC DÂN PHÁP
a) Giai đoạn ban đầu của cuộc xâm lược.
Trước khi cho quân đi đánh phá Đà Nẵng vào năm 1858, nướ c
Pháp đã là một đế quốc hùng mạnh có nhiều thuộc địa rải rác ở nhiều
nơi, ở châu Mỹ có Martinique, Dominique..., ở châu Phi có Sénégal,
Saint Louis, Tahiti, Algérie... Còn ở châu Á thì chỉ mới lấy được một
số thành phố hải cảng và Cadédonie.
Sau khi lấy Calédonie vào năm 1853, Pháp thực sự tiến hành
việc xâm chiến Việt Nam.
Vào ngày 31 tháng 8 năm 1858, lấy cớ phản đối chính sách cấm
đạo của triều đình Huế, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng bắn
phá hải càng Đà Nẵng để tiến tới tấn công kinh thành Phú Xuân.
Quân triều đình chống trả kịch liệt, làm cho Đô đốc của quân Pháp là
Rigault de Genouilly thay đổi kế hoạch, đưa quân vào đánh cửa Cần
Giờ. Quân Pháp triệt hạ lần lượt 2 đồn từ Cần Giờ đến Gia Định, và
ngày 17-2-1859 thì công phá thành Gia Định. Quân Nguyễn bị thua
to, quan Đốc thần Vũ Duy Ninh và Án sát Lê Từ tự vẫn, quân lính
tháo chạy. Gia Định thất thủ . Trong dịp này quân Pháp cho mìn giật
sập thành Gia Định.

Nguyễn Tri Phương được Triều đình cử và o phụ trách mặt trận
này. Ông cho đắp đại đồn Chí Hòa dài 3.000m, ngang 1.000m, cao
3m5 để chống giữ với quân Pháp. Trong thời gian này, phía Pháp có
sự thay đổi. Đô đốc Charner sang thay R.de Genouilly chỉ huy toán
quân viễn chinh.
b) Mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
Ngày 23-2-1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự
kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn. Sau hai ngày chiế n sự ác liệt,
quân Nguyễn bị tổn thất nặng. Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em
là Nguyễn Duy thì tử trận. Quân Nguyễn phải bỏ đại đồn Chí Hòa,
rút về Biên Hòa.
Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp tiến đánh lấy
Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát. Tướng
Bonnard sang thay Charner, triển khai việc đánh chiếm Biên Hòa
(1861) và Vĩnh Long (1862). Triều đình Huế cử phái bộ do Phan
Thanh Giản cầ m đầu vào nghị hòa cùng Bonnard và ký hiệp ướ c
Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Phá p.
c) Mất ba tỉnh miền Tây
Trong khi nhân dân miề n Đông đứng lên chống Pháp thì triều
đình Huế cũng muốn đòi lại ba tỉnh đã mất, bèn cử một phái bộ do
Phan Thanh Giản là m Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm Phó sứ sang
Pháp xin chuộc. Việc thương thuyết chưa ngã ngũ thì quân Pháp tiến
hành việc đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (6.1867). Phan Thanh Giản
lúc ấy đã trở về sau chuyến đi sứ không kết quả, đang làm Kinh lượ c
sứ ở đấy. Nghĩ rằng quân Nguyễn không thể nào chống nổi với quân
xâm lược, Phan Thanh Giản dâng thành cho đối phương rồi uống
thuốc độc tự tử. Từ đấy Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp.
Chán đời đi lang thang !
0
BƯỚC ĐẦU CỦA PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP
Trong khi Triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp
và sau đó là cắt đất cho Pháp thì phong trào chống Pháp nổi dậy
mạnh mẽ trong dân chú ng. Tiêu biểu của buổi khởi đầu chống Pháp
là cuộc khởi nghĩa của Trương Định và Võ Duy Dương.

Trương Định (1820-1864) làm Phó lãnh binh tại Gia Định. Năm
1861, sau thất bại của quân Nguyễn ở đại đồn Chí Hòa, Trương Định
kéo quân về Gò Công, xây dựng căn cứ, quy tập những người yêu
nước cùng đứng lên chống Pháp. Cuộ c khởi nghĩa nổ ra trước khi
Triều Đình Huế chịu ký nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Từ Gò
Công, phong trào chống Pháp lan rộng ra khắp nơi. Nghĩa quân đánh
phá quân Pháp tại Mỹ Tho, Biên Hòa, Tân An, Cần Giuộc, Chợ Lớn.
Quân Pháp không tiêu diệt được, nhưng sau đó nhờ mua chuộc Việt
gian, tìm ra được bản doanh của Trương Định tại làng Kiểng Phướ c
(Gò Công), quân Pháp vây đánh quyết liệt. Trong khi chống trẻ,
Trương Định bị đạn bắn gãy xương sông và hy sinh (1864). Cùng năm
đó, thủ lĩnh nghĩa quân ở Tân Bình là Hồ Huân Nghiệp cũng bị giặ c
bắt và hành hình. Phong trào chống Phá p không vì thế mà dừng lại,
tiếp theo Trương Định là các cuộc khởi nghĩa khác, tiêu biểu nhất là
của Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương).
Địa bàn hoạt động của Võ Duy Dương là ở Đồng Tháp Mười.
Ông đã từng tham gia phong trào khởi nghĩa của Trương Định, đượ c
phong chức Thiên hộ, nên thường được gọi là Thiên hộ Dương. Sau
khi Trương Định hy sinh, Thiên hộ Dương ra lập căn cứ ở Bằng Lăng,
đặt Tổng hành dinh trong vùng đầm lầy Đồng Tháp Mười, dùng chiến
thuật du kích để đánh quân Pháp. Chiến thuậ t này đã làm đảo điên
quân Pháp. Chính quân của Võ Duy Dương đã có sáng kiến dùng ong
vò vẽ chống lại nhữ ng trận càn của địch. Quân Pháp cho quân lính đi
tiễu trừ mấy phen không được, cuối cù ng phải huy động đại quân tấn
công bản doanh Tháp Mười. Võ Duy Dương phải chạy về Vàm Cỏ Tây
rồi bị bệnh thương hàn và hy sinh tại đây. Nam Kỳ, chiến trường ở
đây chỉ còn có nhân dân và quân Pháp. Tiếp bước theo miền Đông,
nhân dân miền Tây đứng lên chống Pháp mà điển hình là các cuộ c
khở i nghĩa của Nguyễn Trung Trực và Thủ Khoa Huân.
Nguyễn Trung Trực (1838 - 1868) vốn ở trong hàng ngũ của
Trương Định ngay từ buổi đầu tiên. Ông đã tài ba, mưu trí chỉ huy
đánh đắm chiếc tàu Espérance của thủy quân Phá p trên sông Vàm
Cỏ vào năm 1861. Sau đó ông được Triều đình cử về làm Thành thủ
úy Hà Tiên. Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây, ông được lệnh của
Triều đình Huế ra trấn nhậm Phú Yên, nhưng Nguyễn Trung Trực
không tuân lệnh, ở lại mở mặt trận chống Pháp, lập căn cứ ở Hòn
Chông. Tháng 6.1868, ông tiến quân chiếm đảo Phú Quốc. Trước sức

mạnh ngày càng lớn của nghĩa quân, quân Pháp bèn bắt giam mẹ của
Nguyễn Trung Trực để buộc ông phải ra hàng. Vì hiếu, Nguyễn
Trung Trự c ra nộp mình và bị hành quyết (1868) Địa bàn hoạt động
chính của Thủ Khoa Huân (tên thật là Nguyễn Hữu Huân 1830-
1875) là ở An Giang. Thủ Khoa Huân vốn đã từng tham gia cuộc khởi
nghĩa của Trương Định và của thiên hộ Dương. Và o năm 1863 ông bị
quan tỉnh An Giang bắt nộp cho quân Pháp. Ông bị Pháp đày đi Nam
Mỹ nhưng đến năm 1870 lại được đưa về lại Sài Gòn. Thủ Khoa Huân
lại trốn về An Giang, lập căn cứ chống Pháp. Đến năm 1875, Thủ
Khoa Huân bị quân Phá p bắt đưa về hành quyết tại quê nhà (huyện
Chợ Gạo, Tiền Giang-1875). Cũng trong phong trào chống thực dân
Pháp, giữa nhữ ng tướng lĩnh và nghĩa quân thề quyết đánh giặc,
nhân dân Sài Gòn và Nam Bộ không thể quên được những sĩ phu yêu
nước. Không tự cầm gươm giết giặc, nhưng đã dùng ngòi bút sắ c bén
của mình cảnh tỉnh đồng bào, lên án bọn cướp nước, tiêu biểu là nhà
thơ chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu
(Tôn Nữ Quỳnh Trân - Lịch sử Việ t Nam)
Chán đời đi lang thang !
0
SÀI GÒN BIẾN ĐỔI VÀ HÌNH THÀNH
MỘT THÀNH PHỐ THEO KIỂU PHƯƠNG TÂY
Ngay sau chiếm được thành Gia Định, trên nền binh đao khói
lửa vừa tàn phá "của tiền tan bọt nước""tranh ngói nhuốm màu mây",
thực dân Pháp đã tính ngay kế sách cắm chốt lâu dài ở đây, muốn lấy
đây là bàn đạp, thôn tính Nam Bộ, cướ p nước ta. Chú ng bắt tay ngay
vào xây dựng Sài Gòn như mộ t trung tâm của ba tỉnh miền Đông. Và
chừng năm năm sau đó là thủ phủ của cả Nam Kỳ lục tỉnh.
Sài Gòn đổi thay mau chóng trở thành "Hòn ngọc Viễ n Đông",
cũng mau chóng trở thành cái vòi bạch tuộc của thực dân Pháp vơ vét
tà i nguyên, sản vật của Việt Nam. Và cũng sớm trở thành một trung
tâm bị bóc lột, đầu độc và sa đọa...
SÀI GÒN - NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI PHÁP CHIẾM ĐÓNG
a) Sài Gòn với những biến đổi
Sài Gòn là một thành phố nhỏ tọa lạc tại khu vực giới hạn bởi
sông Sài Gòn (phía Đông), rạch Thị Nghè (phía Bắc), rạch Bến Nghé
(phía Nam). Cư dân sinh sống ở đây ước tính khoảng 100.000 người,
phần lớn tập trung tại Sài Gòn và Chợ Lớn. Cho đến năm 1859, Sài
Gòn vẫn còn là một trung tâm hành chính quân sự. Các công trình
xây dự ng lớn chủ yếu phục vụ cho chức năng cai trị và phòng thủ,
hoàn toàn chưa có những tiệ n nghi công cộng, các cơ sở hạ tầng thiết
yếu cho một thà nh phố thương mại, thành phố cảng.
Nhằm thực hiện mưu đồ chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ nước ta,
tiến tới việc xác lập khu vự c ảnh hưở ng của đế quốc Pháp tại Viễn
Đông, triều đình Paris, đặc biệt là các Đô đốc trự c tiếp cai trị tại Nam
Kỳ, đã gấp rút xúc tiến việc qui hoạch xây dựng Sài Gòn thành một
đô thị lớn nhiều chức năng (hành chính, quân sự, kinh tế, cảng v.v...)
với dân số dự kiến lên đến trên nửa triệu người. Mục đích chính của

những nổ lực nhằm sớm biến Sài Gòn thành một thành phố sầm uất,
ngoài những yêu cầu về lãnh thổ, yêu cầu cạnh tranh ảnh hưởng với
các thế lực đế quốc khác ở Viễ n Đông, người Pháp còn muốn nhanh
chóng khai thác Nam Kỳ, mà các chuyên gia Pháp đã nhìn thấy ở đó
tiềm lực kinh tế to lớn. Nguồ n lợi kinh tế do Nam Kỳ mang lại sẽ
gánh bớt mộ t phần chi phí chiếm đóng Việt Nam, mối băn khoăn của
triều đình Napoléon III ngay từ những toan tính ban đầ u.
Năm 1862 dự á n thiết kế thành phố Sài Gòn của Coffyn được
phê duyệt bao gồ m cả vùng Chợ Lớn. Đến năm 1864, do diệ n tích dự
kiến của thành phố quá rộng, đặ c biệt tình hình trị an đòi hỏi phải
thu hẹ p phạm vi thành phố, người Pháp cho tách khu Chợ Lớn ra
khỏi thành phố Sài Gòn. Đây là một thay đổi cơ bản và thuận lợi nhất
để tập trung đầu tư xây dựng khu trung tâm Sài Gòn.
Vùng Chợ Lớn trước khi người Phá p tới là điểm trung tâm cư
dân người gốc Hoa. Họ là các thương nhân năng nổ, chăm chỉ là m ăn
tạ o cho Chợ Lớn thành một khu vực phát triển rất nhanh, nhất là
sau khi người Pháp đến và xúc tiến việc khai thác thuộc địa.
Việc tách Chợ Lớn ra khỏi dự án thiết kế thành phố Sài Gòn còn
giúp tạo điều kiện cho khu vực này phát triển nhanh chóng, việc buôn
bán ở đây rất thuận lợi, vì khu vực Chợ Lớn khi đã tách ra, đất đai
không bị hạn chế do phải dành mặt bằng cho khu hành chánh, công
thự, công trình công cộng... những cơ sở thiết yếu của một thành phố
thủ phủ.
Trước năm 1859, vùng đất nằm giữa Sài Gòn - Chợ Lớn vốn là
vùng nông nghiệp trù phú. Chiến cuộc diễn ra, cư dân tại vùng này
phải bỏ đi lánh nạn bất hợp tác với người Pháp, nên vùng đất trên bị
hoang hóa. Khi người Pháp hoàn tất việc chiếm đóng Sà i Gòn và ba
tỉnh miề n Đông, họ nhanh chóng tiến hà nh khai thác kinh tế. Hiện
trạng hoang hóa một vùng đất rộng lớn giữa Sài Gòn - Chợ Lớn là phí
phạm. Để giả i quyết vấn đề này, ngoài việc tách Chợ Lớn ra khỏi Sài
Gòn giúp Chợ Lớn mở rộng nhanh về phía Sài Gòn, người Pháp còn
thực hiện ở đây chế độ tá canh thu tô hoặc bán rẻ đất hoang cho
những ai có nhu cầu làm ruộng, lậ p vườn, sản xuất các loại rau quả
nhiệt đới mà người Âu rất ưa chuộng. Một khi vùng đất hoang hóa
dần dần có người cư trú, giá đất Sài Gòn cũng sẽ được nâng lên, tốc
độ đô thị hóa cũng tăng theo.

Trước khi người Pháp đến, địa hình phạm vi Sài Gòn gồm một
vùng cao ở phía Bắ c, trải dài từ vùng lũy thành Sài Gòn đến vùng Mả
Ngụy, nơi cư dân hầu hết là các nhà phú hộ đại bộ phận còn gọi là
đồng ruộng, ao đìa. Cư dân nghèo sống chen chúc dọc theo rạch Bến
Nghé trong các căn nhà nhỏ nửa đất nử a sàn. Giao thông trên bộ thời
bấy giờ chủ yếu một số lô đất nhỏ được đắp cao lên vừa quá mức nướ c
lúc triều cường.
Cho nên, khi ngườ i Pháp đưa ra dự án thiết kế thà nh phố, khó
khăn đặt ra là là m thế nào cải tạo mặt bằng phục vụ cho việc thiết
lập các cơ sở hạ tầng, xây dựng công thự, các công trình công cộng
khác. Nói chung là những yêu cầu tối thiểu phải có trước mắt của một
thành phố khả dĩ thích nghi với hoạt động thương mại phương Tây.
Giải quyết vấn đề này, người Pháp cho thực hiện một giải pháp
tương đối đơn giản. Trước tiên cho đào nhiều kinh ở các chỗ trũng
thuộc vùng thấp của thành phố vừa để tạo điều kiện cho ghe thuyền
lưu thông thuận lợi, vừa có tác dụng tháo nước làm trong sạch cá c
vùng đầm lầy đồng thời lấy đất lấp các vùng trũng khác. Khi các công
trình đầu tiên được xây dựng trên những khu vực vừa được san lấp,
người Pháp cho san bằng vùng đồi phía Bắc Sài Gòn, lấy đất lấp các
con kinh đào (đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, đường vào cổng
chính ở Ba Son hiện nay là những kinh đào được lấp lạ i).
Sau hai năm cải tạo và xây dựng bộ mặt Sài Gòn đã thay đổi
hẵn. Các vùng trũng đầm lầy, những đường mòn gồ ghề được thay
đằng nhữ ng công trình mới được xây trên một không gian thoáng
đãng, ở đó người ta mở những quãng lộ, những con đường ngang, dọc
có trải nhựa phẳng phiu, hai bên vỉa hè rộng rãi được trồng cây xanh
thẳng tắp.
Bến cảng, kho bãi được xây dựng gấp rút đúng qui củ để sẵn
sàng đón tàu cập bến bốc dỡ hàng.
Từ những thay đổi ban đầu, Sài Gòn đã tự thể hiện là một
thành phố đẹp với một hệ thống giao thông thủy bộ hết sức tiện lợi.
Ngoài ra nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi và một hậu phương
trù phú đầy tiềm năng, Sài Gòn sớm trở thành một trong những
thương cảng quan trọng ở khu vực Viễn Đông.
(Theo sách Sài Gòn từ khi thành lập
đến giữa thế kỷ 19 - NXB TPHCM 1998)

b) Sài Gòn trong cuộc sống
Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Đức Tánh (không rõ chức vụ) đã
gửi về cho triều đình Huế một bản tường trình đề ngày 9-12-1863
(ngày 18 tháng 10 Quý Hợi, Tự Đức năm 16) được lưu lại trong châu
bản (Tự Đức, tập 155 trang 114a). Tình hình Gia Định, Bến Nghé
được mô tả khá tỉ mỉ:
"Nhà văn miếu đã dỡ đem về thôn Tân Khai để dựng phủ nha
Tân Bình. Phía hữu tỉnh thành cũ có dựng một nhà lầu rất cao rộng
đặt danh là lầu xem lễ, bốn mặt có xây đạo đường, đạo quán, nhà
phước. Dân đạo thì ở bao bọc phía ngoài, già trẻ, trai gái theo đạo khá
đông.
Trường Thi cũ, phía ngoài bốn mặt tường gạch được bồi đắp
thêm. Quân xá cũng đều cải tạo. Quan binh Tây ở phía trướ c Trường
Thi, còn nơi phủ Tân Bình cũ có dựng một tòa lầu cho Phủ Soái ở.
Bốn bên có nhiều nhà cửa, trại binh, chuồng ngựa. Quan binh lớn nhỏ
chia ở chung quanh.
Từ thôn Tân Khai Bến Thà nh cho tới Điếm Lá, họ xây nhà mới
hoặc sửa sang lại để trữ hàng hóa.
Đối diệ n chợ hội là thôn Khánh Hội thì giáo dân ở. Đối diện với
chợ Bến Thành là thôn Nhai Quới... có lậ p một phố lầu xanh. Nơi đây
gái điếm và giáo dân cùng lẫn lộn. Từ xóm Điếm Lá đến Cầu Kênh
Chợ Lớn thì nhà dân và các tiệm mua bán. Ở khu chợ hội đối diện với
thôn Khánh Hội mớ i bắc một chiếc cầu. Chợ Kênh đối diện với Xóm
Than cũng có một chiếc cầu. Sang Thị Nghè thông đến sông Xóm
Kiều, khú c sông trước bị lấp nay đã cho đào tại, từ cầu Nhiêu Lộc đến
chùa Mai Sơn, nối liền hai thôn Bình Tiên và Bình Tây, thông thẳng
đến kênh Ruột Ngựa.
Đại đồn ngày trước chỉ cò n lại một tiền đồn do quan binh Tây
đóng ước độ 100. Đồn Tây Thớ i trước nay vẫn còn và lại xây thêm một
đồn rất kiên cố có độ 100 lính Tây đồn trú".
Cùng với sự thay đổi về mặt quang cảnh, đường sá, phố phường
là sự áp đặt một guồng máy hành chính mới với thuế má, phu dịch.

Tại các phủ huyện, chính quyề n thực dân tuyển dụng trong giáo
dân hay những cử nhân tú tài hiếm hoi cam tâm theo chúng. Bên
cạnh viên tri phủ hay tri huyệ n người Việt chúng đặt một tham biện
huyện vụ. Chúng định lại thuế thân, thuế điền thổ, thuế ghe tàu,
thuế thuốc phiện, thuế sòng bạc.
"Nhân dân thì bất luậ n già trẻ tàn tật mỗi người phải nộp 1
quan 5 tiền và phải phụ thêm 1 quan. Dân xã Minh Hương mỗi năm
phải nộp 2 lạng bạc, người Thanh phải nạp thêm 2 quan. Gái điếm
mỗi thị phải nộp 10 quan mỗi tháng. Người Thanh lập phố để nấu a
phiến, mở sòng bạc thì phải nộp từ 2.000 đến 5.000
Thuyền buôn các tỉnh cập bến, hạng dài 30 trượng thì bề ngang
cứ mỗi thước thu thuế 3 quan, dài 40 trượng, bề ngang mỗi thước 5
quan. Hạng thuyền lớn sau khi dỡ hàng phả i lấy đất đổ xuống
khoang thì đánh thuế 70 quan, hạng trung 50 quan, hạng nhỏ 30
quan. Thuyền ván độc mộc muốn đi lại phả i làm tờ khai, hạng lớn
nạp 5 quan, hạng nhỏ 3 quan. Hết hạn 3 tháng phải đổi giấy thông
hành, quá hạn phải phạt 5 quan".
Tháng 8 âm lịch năm Quý Dậu (1863) giá gạo tăng vọt, mỗi
phương hơn 9 quan, dân chúng đói kém, bọn Tây đem bánh mì cũ
trong kho đi phát tận các thôn xã. Nhân dân không nhận không được,
nhưng khi phá i viên của Tây về rồi thì ai cũng vấ t bá nh đó xuống
sông hay là cho heo cho chó chứ không thèm ăn.
(Theo sách 300 năm SG-TPHCM
- NXB Chính trị quốc gia 1998)
Chán đời đi lang thang !
0
TỔ CHỨC BỘ MÁY CAI TRỊ
a) Phân bố mới về chính trị và hành chính việc cai trị
1. Lục Tỉnh Nam Kỳ, nay là thuộc địa Pháp, được cai trị bởi một
thống đốc, với sự trợ tá của một hội đồng tư vấn.
2. Trụ sở chính quyền đặt tại Sài Gòn trong tỉnh Gia Định, đây
là đô thành thiết kế theo kiểu Âu Châu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ
quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám độc nội vụ, tòa án, tòa
thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa á n thương mại, tòa giám mục, hải
quân công xưởng, sở quản trị hải quân và tài chính, sở chỉ huy bộ
binh, phòng thương mại, sở điện tín trung ương v.v...
3. Thó i quen vẫ n giữ cho Nam Kỳ thuộc Pháp cách phân chia
các tỉnh như dưới thời quan ta. Nhưng danh xưng đó không bao hàm
một nền hà nh chính riêng hay đặc biệt cho mỗi tỉnh như trong quá
khứ. Nay sự cai trị (các tỉnh) hoàn toàn lệ thuộc vào chính quyền ở
Sài Gòn. Việc cai trị bản xứ được trao cho các viên thanh tra hay
tham biện, và địa bàn thuộc quyền cai trị của họ gọi là hạt thanh tra
(hay là hạt). Giúp việc cho các quan Tây, còn có các quan lại bản xứ,
trong đó có những tên tay sai hết sức đắc lực. Còn việc nội trị tổng
quát trong xứ thì tập trung cả ở Sài Gòn, trong các văn phòng của
Nha Giám đốc Nội vụ. Tham biện các địa hạt trực tiếp thuộc quyền
giám độc nội vụ; giám đốc nội vụ chuyển cho họ mọi chỉ thị và mệnh
lệnh hành chính; tham biện phải bá o cáo cho giám đốc nội vụ mọi sự
việc và tình hình có can hệ đến việc điều hành công tác thuộc địa.
4. Năm 1875, tất cả có 20 địa hạt, do các viên tham biện cai trị -
chia ra như sau:
Ba địa hạt ở miền Đông, tức là :
• Biên Hòa

• Bà Rịa
• Thủ Dầu Một
Sáu địa hạt ở trung tâm:
• Tây Ninh
• Sài Gòn
• 3. Chợ Lớn
• 4. Gò Công
• 5. Tân An
• 6. Mỹ Tho
Ba địa hạ t ở miền Nam:
• Bến Tre
• Trà Vinh
• Sóc Trăng
Tám địa hạt ở miền Tây:
• Vĩnh Long
• Sa Đéc
• Long Xuyên
• Trà Ôn
• Châu Đốc
• Hà Tiên
• Rạch Giá
• Phú Quốc, sau bãi bỏ và sáp nhập vào Hà Tiên như xưa,
theo nghị định ngày 16-6-1875.

Những địa hạt đó gọi theo tên lị sở chia ra tổng, tổng chia ra xã
thôn.
5. Sau đây là bảng kê lục tỉnh và các địa hạt thống thuộc:
• Gia Định : Sài Gòn, Chợ Lớn, Tây Ninh, Tân An, Gò Công
• Định Tường : Mỹ Tho
• Biên Hòa : Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một
• Vĩnh Long : Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre
• g. An Giang: Châu Đốc, Long Xuyên, Trà Ôn, Sa Đéc, Sóc
Trăng.
• h. Hà Tiên : Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc (giải thể ngày
1-7-1875)
6. Những địa hạt trên liên lạc với nhau:
• Bằng các trạm với Sài Gòn làm đầu tuyến và dịch vụ này
do lính trạm đảm đương.
• Bằng các trạm điệ n tín bắt đầu tư Sài Gòn đến Nam Vang.
Tất cả có 26 trạm điện tín, đó là:
Sài Gòn, Cái Bè
Thủ Dầu Một Vĩnh Long
Biên Hòa Bến Tre
Long Thành Sóc Trăng
Bà Rịa Sa Đéc
Vũng Tàu Trà Vinh
Trảng Bàng Long Xuyên
Tây Ninh Rạch Giá
Chợ Lớn Châu Đốc

Bến Lức Hà Tiên
Gò Công Nam Vang
Tân An U Đông
Mỹ Tho Cần Vọt
Nhiều tuyến điện tín nữa sẽ được đặt liên lạc với đô thành. Chỉ
còn địa hạt Cần Thơ là chưa có liên lạc điện tín.
7. Riêng thủ phủ Sài Gòn thì liên lạc với chính quốc (Pháp) qua
hãng chuyên chở đường biển và bằng một dây cáp điện tín đặt ngầm
dưới biển.
8. Chức năng của thống đốc - Thống đốc đại diện cho thủ tướng
chính phủ bên chính quốc (Pháp) và nhận quyền lực từ thủ tướng
trao phó. Thống đốc cử nhân viên và công chức; việc cử đặt này không
dành cho chính quốc. Thống đốc ban hành nghị định và quyết định,
thi hành quyền tối cao về hành pháp và tư pháp đối với dân bản xứ,
ấn định các sắc thuế địa phương và qui định các tiêu chuẩn thuế
khóa cùng nguyên tắc trong việc thâu thuế công cộng. Tóm lại, thống
đốc gồm thâu cả quyền dân sự lẫn quân sự, đồng thời là tổng chỉ huy
sư đoàn hải quân ở Nam Kì.
9. Hội đồng tư vấn - Thống đốc được trợ tá bởi một hội đồng
riêng chỉ có tính cách tư vấn, hội đồng này gồm:
• Chỉ huy trưởng bộ binh
• Chánh sự vụ hành chính
• Giám đốc nội vụ
• Chưởng lý tòa án và hai nhân sĩ người Phá p hiện lưu trú
trên đất thuộc địa.
10. Hà nh chính tổng quát - Chúng ta thấy có bốn ngành quản
trị tổng quát, đó là:
• Hành chính nội vụ
• Hành chính hải quân

• Hành chính tòa án
• Hành chính quân sự
• Giám sát thuộc địa (qui định do nghị định ngày 15-4-1873;
giải thể bằng nghị định ngày 16 tháng 6 cùng năm).
• Kho bạc
11. Giám đốc nội vụ đứng đầu ngà nh hành chính nội vụ, dưới
quyền có các phòng coi về:
• Tòa án bản xứ
• Học chính
• Tài chính sự vụ như bưu chính, trước bạ và công sản, địa
chính, điện tín, sở giám đốc thương cảng.
• Sở công chính gồm có ban cầu đường và ban xây dựng
công thự dân chính.
• e.Các sự vụ liên quan tới nông nghiệp, thương nghiệp và
công nghiệ p.
• g. Cảnh sát, các trại giam và nhà thương.
• h. Tại các địa hạ t, các sự vụ bản xứ do tham biện điều
khiể n và có nhân viên dưới quyền làm các việc nhỏ mọn về
hành chính và cảnh sát như phủ, huyện, cai tổng và xã
trưởng các làng.
• i.Cho tới năm 1874, các tham biện lo các sự vụ bả n xứ (sau
gọi chủ tỉnh) đầu lựa chọn trong giới sĩ quan thuộc mọi
ngành (hải quân). Nhưng từ khi công bố nghị định mới
ngày 1 tháng 2 năm 1873, các tham biện hậu bổ phải được
chọn trong giớ i thanh niên có cấp bằng đại học và tuổi từ
28 trở lên.
12. Các sự vụ thuộc phạ m vi quản trị hải quân, nghĩa là các sự
vụ thuộc trách nhiệm riêng của chính quốc, mà đứng đầu là viên
chánh sự vụ hành chính thì coi sóc:

• Việc điểm binh
• Khí giới và đăng ký hải quân
• Tài vụ
• Kho lẫm và công việc
• Binh lương
• Bệnh viện
Tất cả các sự vụ trên được điều khiển bởi các sĩ quan thuộ c
ngành ủy trị hải quân.
14. Đứng đầu nền quản trị tòa án của Pháp là vị chưởng lý có
thẩm quyền trên các ngành tư pháp là:
• Tòa án thương mại
• Cảnh sát
• Các tham biện giữ nhiệm vụ xét xử mọi vụ kiện bản xứ
thuộc tòa sơ thẩm.
Chưởng khế (hay công chứ ng viên) cũng thuộc quyền chưởng lý.
15.Việc quản trị quân đội, do thống đốc là tổng chỉ huy trự c
tiếp, thì gồm có:
• Dịch vụ bộ binh do một thiếu tướng chỉ huy với một tham
mưu trưởng phụ tá.
• Thủy quân do một sĩ quan thủy sư cầm đầu, ông này coi cả
giảm đốc thủy quân công xưởng.
(Theo sách Tiể u giáo trình địa lý Nam Kỳ - Trương Vĩnh Ký -
Nguyễn Đình Đâu dịch. NXB Trẻ-1997)
b). Địa phận Sài Gòn năm 1861
Ngày 11-4-1861, Phó Đô đốc Charner, Tư lệnh quân viễn chinh
Pháp, ban hành nghị định quy định ranh giới Sài Gòn nằm trong khu
vực giới hạn bởi một bên là rạ ch Thị Nghè (Arroyod' Avalanche) và

rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) với một bên là sông Sài Gòn cùng
con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn
Kỳ Hòa. Cụ thể nhất là Quyết định số 145 ngày 14-8-1862 củ a Đề đốc
Bonard -Thống đốc quân sự đầu tiên - quy định tổ chức hành chính
tỉnh Gia Định, trong đó có Sài Gòn. Đây là quyết định căn bản mở
đầu cho việc tổ chức hành chính Sài Gòn thời Pháp thuộc. Bonard đã
chia tỉnh Gia Định ra ba phủ, mỗi phủ có ba huyện, dưới huyện có
tổng, dưới tổng có xã, thôn, lý, ấp. Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh lỵ
của Gia Định vừa là phủ lỵ của phủ Tân Bình là huyện lỵ huyện Bình
Dương, còn Chợ Lớn là huyện lỵ của huyện Tân Long, cùng phủ Tân
Bình.
Về phương thức cai trị, trong thời gian đầu, thực dân Pháp tạm
thời sử dụ ng cá c quan phủ, huyện của triều An Nam, cho điều hành
công việc tại các phủ , huyện dưới sự chỉ đạo chung của Bố chánh tỉnh
Gia Định là một viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ
(Inspecteur des affaires indigènes). Riêng người Hoa và những người
châu Á khác sống ở Chợ Lớn tuy thuộc huyện Tân Long nhưng được
cai trị trực tiếp bởi một thanh tra các công việc của người Hoa
(Inspecteur des affaires Chinoises) với sự giúp đỡ của Hội đồng các
bang trưởng Hoa Kiều.
c) Thành lập Thành phố Sài Gòn
Năm 1864, Chợ Lớn được tách khỏi Sài Gòn về phương diện
quản lý địa bạ, vì một trong những lý do chủ yếu là thành phố người
Hoa (Ville Chinoise) đang trên đà thịnh vượng, việc quản lý và mua
bán đất đai đòi hỏi phải tách Sài Gòn và Chợ Lớn ra thành hai
thương điếm (emporium) riêng biệt. Tuy vậy, trước năm 1867, Sài
Gòn chưa được chính thức xem như một thành phố.
Phải đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn mới được chính thức
giao phó cho một tổ chức riêng biệt là Ủy ban thành phố, được thành
lập do Nghị định số 53 ngày 4-4-1867 của Thống đốc Pháp De La
Grandière. Ủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên. Ủy viên
được chọn trong số những cư dân châu Á cũng như châu Âu cư trú tại
Sài Gòn, không phân biệt quốc tịch.
Ủy ban thành phố biểu quyết về các vấn đề: quản lý tài sản
công, ngân sách, biểu thuế, những quy định về việc thu thuế, các dự

án xây dựng, sửa chữa lớn, bảo trì, mở mang đường sá, v.v. Ngoài ra,
Ủy ban còn được hỏi ý kiến về một số vấn đề liên quan đến hoạt động
của thành phố. Mọi hoạt động của Ủy ban thành phố đặt dưới sự
giám sát trực tiếp của Đổng lý Nội vụ (Directeur de l'intérieur)- một
chức danh quan trọng được thiết lập vào năm 1864, có nhiệm vụ phụ
giúp viên Thống đốc trong việc điều khiển chung nền hành chính của
những vùng đất đã nằm trong tay thực dân Pháp.
Đến ngày 8-7-1869, tổ chức thành phố Sài Gòn được sửa đổi bởi
Nghị định số 131 của Thống đốc Ohier, theo đó, Ủy ban thành phố
được cải danh thành Hội đồng thành phố với một chủ tịch hay ủy viên
trưởng và 13 ủy viên. Ủy viên trưởng hội đồng thành phố được gọi là
Đốc lý Sài Gòn (Maire de Saigon) do Thống đốc bổ nhiệm trong số
những công chức Pháp. Thể thức cử nhiệm các ủy viên Hội đồng cũng
thay đổi: 6 ủy viên do Thống đốc Nam Kỳ chỉ định, 7 do bầu cử trự c
tiếp. Nhiệm kỳ củ a Hội đồng nâng từ 1 năm lên 2 năm. Pétrus
Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên tham gia vào Hội đồng
thành phố Sài Gòn do Nghị định đề cử số 210 ngày 27-9-1869 của
Thống đốc Ohier. 8 năm sau, sắc lệnh ngày 8-1-1877 của Chính phủ
Pháp thay đổi thành phần của Hội đồng thành phố gồm 13 hội viên: 7
do dân bầu và 6 do chính quyền đề cử: Viên đốc lý cũng do Thống đố c
Nam Kỳ bổ nhiệm, có thể chọn trong số các công chức. Sở dĩ có thay
đổi hệ thống cấp ban hành văn kiện sửa đổi tổ chức Hội đồng thành
phố (sắc lệnh của Tổng thống Pháp thay vì Nghị định của Thống đố c
Nam Kỳ) vì lần này sắc lệnh dự liệu việc người nước ngoài có thể
tham gia và o Hội đồng thà nh phố lên 15 người gồm 11 hội viên là
người Pháp, 4 hội viên là ngườ i bản xứ. Viên đốc lý và hai phụ tá do
Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm.
Trong thập niên 1860 và nửa đầu thập niên 1870, thành phố
Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định. Năm 1880,
ngoài Hội đồng thành phố Sài Gòn đang hoạt động, Tổng thống Pháp
ký sắc lệnh ngày 8-2-1880 thành lập một Hội đồng quản hạt
(Conseilconlonia) trụ sở đặt tại Sài Gòn có chức năng bao trùm toàn
thể thuộc địa Nam Kỳ. Và với sắc lệnh ngày 22-4-1880, Chính phủ
Pháp đi thêm một bước nữa bằng cách áp dụng hình luật của Pháp
trên toàn bộ Nam Kỳ. Hai năm sau (1882) là sự ra đời của các hội
đồng hàng huyện (Conseild'arrondissement) do Nghị định ngày 12-6-
1882 của Thống đốc Nam Kỳ. Với tổ chức này, thực dân Pháp đã tạm

hoàn chỉnh bộ máy cai trị của họ tại Sài Gòn và các địa phương khác
để có điều kiện toan tính nốt những phần còn lại của miếng mồi Đông
Dương béo bở là Trung và Bắc Kỳ.
d) Quy hoạch thà nh phố.
Chỉ hai tháng sau khi Chí Hòa thất thủ, Tổng chỉ huy quân đội
viễn chinh Pháp đã ký nghị định ngày 11-4-1861 ấn định phạm vi
thành phố Sài Gòn. Song quy hoạch này đã không thể thực hiện vì
thiếu ngân sách.
Lần quy hoạch thứ hai, do nghị định ngày 3-10-1865, trên cơ sở
thành thị Bến Nghé và Sài Gòn cũ. Sài Gòn chỉ rộng không quá 3 cây
số vuông và Chợ Lớn chỉ hơn một cây số vuông. Sài Gòn bấy giờ nằm
gọn trong quận 1 bây giờ, còn Chợ Lớn là quận 5 hiện nay. Giữa hai
thành phố là vùng thuộc địa hạt Sài Gòn. Năm 1885 địa hạt được đổi
tên là Gia Định và đến năm 1889 được gọ i là tỉnh Gia Định.
Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Phá p ký sắc lệnh chính
thức thành lập thành phố Sài Gòn. Thành phố được điều hành bởi
một viên thố ng lý , hai viên phó đốc lý và một hội đồng thành phố.
Còn Chợ Lớn, chậm hơn hai năm được thành lập do nghị định của
thống đốc dân sự đầu tiên là Le Myre de Vilers, ký năm 1879.
Theo thời gian phát triển, dân số tăng lên. Sài Gòn và Chợ Lớn
xích lại gần nhau và thực sứ tiếp giáp ở khoảng đường Nguyễn Văn
Cừ, Nguyễn Thiệ n Thuật bây giờ vào năm 1910.
Trong thời gian nửa thế kỷ, Sài Gòn đã thay đổi, hình thành
nên một thành phố Tây Phương. Đường sá được thiếp lập. Dinh thự,
phố xá, các khu dân cư cùng với các chợ... được xây dựng. Từ thủ phủ
của Gia Định ngũ trấn (Gia Long), Nam Kỳ lục tỉnh (Minh Mạng),
Sài Gòn theo thời gian đã trở nên trung tâm của ba tỉnh miền Đông
(1862), rồi thủ phủ củ a Nam Kỳ (1867) và dần trở nên một trung tâm
chính trị, kinh tế quan trọng cho toàn Đông Dương.
Trong thời gian đầu, Pháp xây dựng một khu hành chính làm
trung tâm cho thành phố . Chung quanh có rào, bên trong là các dinh
Thống đốc, các cơ quan hành chính, nhà dây thép, nhà thương, nhà
thờ... tất cả đều làm bằng gỗ. Khu hành chính nà y ở gần Đồn Đất,

trên gò cao. Phía sau là những trại lính, trước mặ t nhìn ra sông Sài
Gòn là các nhà kho của hải quân.
Dọc theo dông Bến Nghé, Pháp cho đào các kinh cũ sâu và rộng
hơn lấy đất đắp lên bờ. Sau nữa ban đất trên các đồi cao xuống mé
sông, lấp kênh đắp đường. Rồi nhà lá gỗ được thay bằng nhà gạch
ngói. Chỉ trong hơn ba thập niên, đa số các kiến trú c tiêu biểu của
thành phố Sà i Gòn như dinh Toàn quyền, dinh Thống đốc, dinh Xã
Tây, Nhà hát lớn, Nhà thờ... đã được xây dựng.
(Theo sách 300 năm SG-TPHCM - NXB CTQG - 98)
Chán đời đi lang thang !
0
XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NHÀ MÁY
a. Đẩy mạnh khai thác
Cùng với sự phát triển đô thị, nền kinh tế cũng biến đổi theo
chiều hướng mới. Trước hết, Sài Gòn là một thương cảng.
Ngay sau khi đặt chân đến Sài Gòn, mặc dù tình hình chưa ổn
định, thự c dân Pháp đã quyết định thành lập cảng Sài Gò n (22-2-
1860)
Tài nguyên Nam Kỳ đã được liệt kê ngay và một chương trình
khai thác cụ thể trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, và thương
nghiệp được Phó Đô đốc Bonard vạ ch ra đã gửi về Pháp và được chấp
thuận.
Vị trí của cảng được xác định: nằm trên một trong những nhánh
sông Đồng Nai (gọi là sông Sài Gòn). Ăn sâu 80 km vào đất liề n, sông
Sài Gòn vào năm 1628 là một điểm chính về thương mại, có thể thông
thương với tất cả các vùng phía Nam vớ i 2.000 km luồng lạch chảy
qua tất cả các đồng bằ ng lớn. Về vị trí quân sự đây có thể là bàn đạp
tấ n công mở rộng xuống cả vùng Đông Nam Á. Cảng Sài Gòn từ
những ngày đầu dài 4km, tập trung bên phải của sông giới hạn
thượng lưu là quân cả ng xuống đến Rondpoint (một vị trí trên bản đồ
hồi đó) gồm có một bến đậu dài và một ụ để sửa chữa tàu từ
Rondpoint đế n Canal de dérivation là thương cảng. Đoạn này có Rạch
Tàu (Arroyo Chinois) nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn, một trung tâm

kinh tế, và lúc bấy giờ, con rạch nà y là đường giao lưu chính về hàng
hóa nối liền hai trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn khi các phương tiện
khác chưa thịnh hành. Là cảng sông, cảng thiên nhiên kín đáo, cảng
Sài Gòn tránh đượ c những cơn bão mà miền Viễn Đông thường xuyên
gặp, lại nằm ăn sâu trong thành phố nên mọi sự vận chuyển hàng
đều thuận lợi và ít tốn kém. Lòng sông rộng và sâu (trung bình 300m
chiề u rộng và từ 9 đến 12m sâu) tàu lớn 180m x 9m tránh nhau dễ
dàng.
Năm 1860, cảng Sài Gòn chính thức mở cửa. Ngày 25-8-182,
quy chế của thương cảng được ban hành. "Tất cả tàu biển, trừ tàu
Pháp và Y Pha Nho, đều phải nộp thuế bỏ neo, tính 50 xu trên 1
tonneau hàng". Sài Gòn được mở cửa, tàu bè các nước ra vào buôn
bán, thương vụ mỗi ngày mộ t tăng.
Năm 1860, Sài Gòn tiếp nhận 246 tàu, trong đó có 111 tàu từ
châu Âu mang đến nửa triệu quan thuố c phiện và một triệu quan cá c
loại hàng hó a khác cù ng chở đi 535.939 tấn gạo trị giá hơn 5 triệu
quan và 1 triệu quan các loại hàng hóa khác. Doanh số mậu dịch năm
1860 của cảng Sài Gòn là 7,7 triệu franc (frs)
Năm 1862, có 117 tàu châu Âu (có 11 tàu của Pháp) đến Sài
Gòn với tổng trọng tải là 53.200 tấn, 129 tà u châu Âu rời cảng Sài
Gòn (trong đó có 51 tàu của Pháp) chở đi 42.470 tấn gạ o, 1.023 kiện
bông, 1.746 kiện vải và 357 tấn lúa.
Năm 1866, trọng tải hàng hóa qua cảng Sài Gòn là 600.000 tấn,
xuất khẩu 100.000 tấn gạo, 2.687 tấn bông, 42 tấn tơ lụa, 150 tấn
muối. Qua năm sau, 1867, Sài Gòn đã xuất khẩu 193.000 tấn gạo.
Nhiều tàu buôn châu Âu thường xuyên thực hiện những chuyến
đi về Sài Gòn với các thương cảng khác trong vùng như Singapore,
Amoy, Quảng Đông, Macao, Hong Kong... Vào thời gian có gió mùa
Đông Bắc trong năm, thuyền bè từ miền Bắc Trung Quốc chở những
chuyến hàng đầu tiên đến Sài Gòn để từ đó đưa đi Singapore và khi
gió mùa Tây Nam bắt đầ u thổi, họ đưa hàng từ Singapore đến Sài
Gòn rồi về lại Trung Quốc.
Để tiện cho tàu bè ra vào cảng Sài Gòn, hải đăng Cap Saint-
Jacques (Vũng Tà u) cũng được xây dựng xong và hoạt động kể từ

ngày 15-8-1862. Hải đăng cao 8m, xây trên một vù ng đất cao 139m và
có một tầm trông thấy khoảng 28 dặm. Cảng Sài Gòn trên đường
phát triển đòi hỏi phải có dịch vụ sửa chữa tàu. Năm 1864, xưởng
Bason - một công binh xưởng do hải quân Pháp quản lý - được thiếp
lập. Đây là xưở ng cơ khí đầu tiên của thành phố Sài Gòn, quy tụ
nhiều thợ lành nghề của nhiều ngành khác nhau, ngoài việc sửa
chữa, xưởng Bason còn đóng mới các tàu có trọng tải nhỏ.
Các nhà máy xay lúa được xây dựng phục vụ cho việc xuất cảng
gạo mỗi năm một tăng. Nhà máy Xóm Chiếu, thành lậ p năm 1869, do
công ty Alphonse Cahusac quản lý. Đây là nhà máy xay lúa đầu tiên
của Sài Gòn. Công ty Speidel của Đức có hai nhà máy xay lớn là
Riserie de l'Union và Riserie de l'Orient.
Đến năm 1895, Nam Kỳ có 200 xưởng thủ công và nhà máy xay
thì phần nhiều tập trung ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Riêng nhà máy xay
chạy bằng hơi nước thì Sài Gò n có 2, Chợ Lớn có 7. Ước tính đến năm
1906, số công nhân ở Sài Gòn đã lên đến 25.000 người.
Để đáp ứng nhu cầu thợ lành nghề, Pháp mở trường Bá Công
Kỹ Nghệ năm 1897, đào tạo thợ vừa lành nghề vừa có ít nhiều văn
hóa phương Tây. Đây là trường kỹ thuật dạy nghề đầu tiên ở Nam Kỳ
đã đào tạo các công nhân kỹ thuật đầu tiên của nước ta.
Giao thông là huyết mạch của kinh tế. Năm 1881 Pháp bắt đầu
làm đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, bắc hai cầu lớn qua sông Vàm
Cỏ.
Năm 1902, cầu Bình Lợi được xây dựng. Năm sau, đường tàu
điện Sài Gòn - Gò Vấp, Sài Gòn -- Chợ Lớn, Gò Vấp - Hóc Môn được
thiết lập và vào năm 1910 Sài Gòn được nối với Nha Trang bằng
đường xe lửa.
b. Những kiến trúc tiêu biểu
Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Cách mạng) xây
dựng xong vào năm 1864, phỏng theo kiến trúc của Bảo tàng hội họa
Munich do kiến trúc sư Foulhou thiết kế. Trước năm 1879, Nam Kỳ
đặt dưới quyền cai trị của các đô đốc hải quân nên dinh Thống đốc
được gọi là dinh Đề đốc hay dinh Phó soái. Dinh Toàn quyền (nay là
Hội trường Thống Nhất): Lễ đặt viên đá đầu tiên cho công trình kiến

trú c đồ sộ này được cử hành vào ngày 23-2-1868. Viên đá đầu tiên
hình lập phương, mỗi cạnh 50cm, bên trong có chứa các đồng tiền
vàng, bạc, đồng. Công trình hoàn tất vào năm 1873. Đồ án do kiến
trú c sư Hermitte vẽ. Đầu thế kỷ XX, Nguyễ n Liên Phong đã mô tả
dinh:
Toàn quyền tổng thống đại dinh Tứ vi song sắt, tiền đình
nghiêm trang Ngoài thời có cửa tam quan Trong thời lầu các dọ c
ngang nhiều từng
Dinh Xã Tây (nay là Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh), còn gọi là Sở Xã Tây. Lễ đặt viên đá đầu tiên vào năm 1873
nhưng vì thiếu ngân sách nên mãi đến năm 1898 mới thực sự được
xây dựng. Năm 1909, nhân kỷ niệm 50 năm (1859-1909) chính quyền
thực dân được thiết lập, dinh Xã Tây được tổ chức lễ khánh thành.
Họa đồ kiến trúc do kiến trúc sư P.Gardès vẽ. Nhà hát Tây (Nhà hát
thành phố bây giờ) xây dựng năm 1898 theo đồ án của kiến trúc sư
Berger và đượ c khánh thành vào ngà y 1-1-1900. Đầu thế kỷ XX, cá c
đoàn hát Tây thường từ chính quố c sang Sài Gòn biểu diễn vào tháng
5 đến tháng 1 và vào các ngày thứ ba, thứ năm, thứ bảy và tối chủ
nhật. Bưu điện Sài Gòn: Dân chúng đương thời quen gọi là Nhà dây
thép, Sở dây thép. Khởi công xây dựng năm 1886 và hoàn thà nh vào
năm 1891. Dịch vụ bưu điện là dịch vụ mới lạ đối với dân chúng và
rất gây ấn tượng. Nhà thờ Thiên chúa (Nhà thờ Đứ c Bà hay Vương
cung Thánh đường) được khởi công xây dựng ngày 1-10-1877 và
khánh thành vào ngày 11-4-1880 với tổng kinh phí 2,5 triệu franc
theo thời giá lúc bấy giờ. Hai tháp chuông nhọn, cao 57m được xây
thêm vào năm 1895. Chợ Bến Thành (cũ): Chợ Bến Thành ở vị trí
ngày nay, mới được xây dựng vào năm 1911. Trước đó chợ Bến Thành
nằm ở mé sông, đầu các con đường lớn, ghe thuyền có thể cập bến,
thuận tiện bốc hành lên chợ. Chung quanh chợ có nhiều cửa hiệu của
người Việt, Hoa, Ấn, Pháp... Hàng hóa phong phú. Các cửa hàng ăn
lúc nào cũng tấp nập đông đúc. Cá c đường phố như Catinat (Đồng
Khởi), Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), De La Somme (Hàm
Nghi)... là các đường phố lớn ở khu trung tâm tiêu biểu cho thành phố
Sài Gòn. Đầu thế kỷ XX, Catinat là trung tâm sinh hoạt, mua bán
của giới thượng lưu thuộc địa, nổi tiếng thanh lịch.

Nguyễn Liên Phong đã mô tả:
Nhứt là đường Catinat Hai bên lầu các, phố nhà phân minh Bự c
thềm lót đá sạch tinh Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều Máy may
mấy chỗ quá nhiều Các tiệm tủ ghế dập dìu phô trương Đồ sành, đồ
cẩn, đồ đương Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi Những đồ Đại
Pháp, Huê Kỳ Ăng-lê, Nhựt Bổn món gì cũng sang Hàng Tây các sấp
nhẩy tràn Xiêm, Miên, Bắc thảo đồ đoàn bố vi
(Theo sách 300 năm SG-TPHCM - NXB CTQG-98)
Chán đời đi lang thang !
0
BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ XÃ HỘI
a) Văn hóa - Giáo dục
Do hoàn cảnh lịch sử, chữ quốc ngữ được phổ biến sớm nhất ở
nước ta trước hết là tại Sài Gòn. Trước khi Pháp xâm lược, chữ quốc
ngữ chỉ dù ng trong phạm vi truyền bá đạo Thiên Chúa.
Chiếm Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, người Pháp không muốn
duy trì nền giáo dục Hán học vì họ xem là nguồn đào tạo những sĩ
phu yêu nước. Lấy chữ quốc ngữ thay chử Hán, người Pháp muốn cắt
đứt truyền thống yêu nước, xem chữ quốc ngữ như là mộ t vũ khí xâm
lược về tinh thần. Cũng chính vì thế lúc đầu nhân dân Sài Gòn và lụ c
tỉnh tẩy chay không chịu học chữ quốc ngữ. Nhưng trái với mục đích
của thực dân Pháp, chữ quốc ngữ đóng một vai trò quan trọng trong
việc phổ cập kiến thức cho đông đảo quần chúng, làm cho báo chí có
điều kiện phát triển và vào đầu thế kỷ, chữ quốc ngữ đã làm công việ c
chuyển tải tư tưởng yêu nước đến với đồ ng bào qua báo chí và văn
thơ. Chữ quốc ngữ trong tay những sĩ phu yêu nước trở thành một vũ
khí đấu tranh như Trần Quý Cáp nhận định: "Chữ quốc ngữ là hồn
trong nước".
Mười bốn năm sau khi đánh chiếm Gia Định, người Pháp mới
mở ngôi trường đầu tiên lại là trường Hậu bổ (Collè ge des Stagiaires)
để đào tạo những viên chức trong bộ máy hành chính thuộc địa.

Sở Học chính Nam Kỳ chỉ được thành lập vào năm 1879, năm
chính quyền Nam Kỳ được chuyển giao cho cá c thống đốc dân sự,
cùng với một chương trình giáo dục Pháp - Việt.
Vào đầu thế kỷ XX, 5 quận của thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ
đều có một trườ ng sơ cấp cho nam học sinh và một tường sơ cấp cho
nữ học sinh.
Theo Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca được viết vào năm
1902, Sài Gòn có các trường:
Trường "Bổn Quốc" Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý
Đôn): dành cho học sinh Phá p. Đây là trường trung học công lập đầu
tiên của Sài Gòn. Trường Taberd (nay là trường Trung học Sư phạm):
do linh mục Henri de Kerlan thành lập năm 1874, do các linh mụ c
giảng dạy. Đến năm 1889, các sư huynh được mời dạy. Trường nam
tiểu học Sở Cọp: gọi như vậy vì trường ở sát vườn bách thảo, dành cho
trẻ em bản xứ thành lập năm 1862. Trường nữ tiểu học: ở gần trường
nam Trường nữ trung học, trườ ng Á o Tím: đế n năm 1915 mớ i thành
lập. Trường đào tạo linh mục mà Nguyễn Liên Phong gọi theo thời
bấy giờ là trường Latinh.
Xem như thế, hệ thống giáo dục ở Sài Gòn sau hơn 60 năm còn
rất nhỏ nhoi nhằm phục vụ quan chức và binh lính viễn chinh, đồng
thời lôi kéo thanh thiếu niên, thực dân Pháp bước đầu cũng tổ thứ c
nhà hát, các loại hình thể thao như bóng đá, quần vợt, đua ngựa....
b) Và ... đầu độc
Sự phát triển của Sài Gòn dưới chế độ thuộc địa là để phục vụ
cho thực dân. Có hiểu các mục đích cuối cùng đó mới giải thích đượ c
sự kinh doanh thuốc phiện, một thứ ma túy độc hại ảnh hưởng đến
sức khỏe và tiền đồ của cả một dân tộc. Thuế thuốc phiện là một
nguồn tài chính quan trọng mà ngay từ năm 1860 Pháp đã thu đượ c
hơn 13.000 đồng bạc, chiếm gần một phần mười tổng số thu nhập.
Sang năm 1861, thuế thuốc phiện thu được đã tăng gấp đôi. Tóm lại,
trong hai năm đầu, nguồn thuế này đã đem lại cho ngân sách một số
tiền khổng lồ.

Ngày 28-12-1861, Đô đốc Bonard đã ký nghị định thiết lập cho
trưng thầu độc quyền khai thá c thuố c phiện. Gần mườ i năm sau, 5-
10-1871 Đô đốc Ohier ký nghị định thiết lậ p chế độ độc quyền rượu và
cho đấu thầu khai thác từ ngày 1-1-1872.
Vậy là từ năm 1874, chính quyền thuộc địa đã mở đấu thầu
buôn bán rượu và thuốc phiện vào một mối.
Số thuốc phiện mà Sài Gòn nhậ p mỗi năm một tăng. Năm 1871
là 359 thùng (tương đương 22 tấn), năm 1875 con số đó là 549 thùng
và năm 1879 đã tăng lên 861 thùng (52 tấn). Đến cuối năm 1881,
chính quyền thành lập ngành thuế gián thu khai thác độc quyền rượu
và thuốc phiện, khởi công xây dự ng xưởng nấu thuốc phiện.
Xưởng nấu thuố c phiện tọa lạc trên diện tích một mẫu tây ở đầu
đường Hai Bà Trưng hiện nay, là "niềm hã nh diện" của chính quyền
thuộc địa, là một trong những "kỳ quan" của Sài Gòn:
"Trong không khí thanh bình của những buổi mai rạng rỡ, du
khách, ngự trên những chiếc xe có cu ly kéo, đi du ngoạ n từ phía châu
thành ra mé bờ sông, dưới những rặng cây xanh màu cẩm thạch, khi
đến gần những cầu tàu củ a Hải quân thì bỗng dưng mũi bị kích thích
bởi một mùi vị lạ lùng, vừa ẩm ướt vừ a độc địa, vừa êm dịu vừa say
mê. Đối với những người đã nhập đạo, thì mùi vị đó mách bảo rằng
du khá ch đang ở cạnh công xưởng yên tĩnh nấu thuốc phiện của Đông
Dương, một cơ quan nhà nước duy nhất vào loại này..."
(Dr.A.Hesnard - La Fabrication de l'Opium à Saigon).
Số thuốc phiện sản xuất ở đây được bán khắp Đông Dương và số
tiền thu đượ c do việc đầu độc người bản xứ này thậ t là lớn lao: 6,8
triệu đồng năm 1902, tăng lên 13 triệu đồng năm 1914, chiếm từ 25%
(1902) đến 36,9% (1914) tổng số thu nhập chính của ngân sách Đông
Dương !
Năm 1894, Pháp khai trương nhà máy rượu.
c. Báo chí - xuất bản
Về báo chí, báo tiếng Pháp xuất hiện khá sớm trên đất Sài Gòn,
ngay cả khi Pháp chưa chiếm trọn Nam Kỳ. Đó là các tờ Le bulletin
officiel de l'expédition de la Cochinchine (1861 - 1888), Le bullentin

des Communes (1862). Tờ báo tiếng Việt đầu tiên là tờ Gia Định báo
(1865) tiếp đến là các tờ Phan Yên báo (1868), Thông loại khóa trình
(1888). Đến đầu thế kỷ XX, báo chí mới thật sự có vai trò vận động
quần chúng như tờ Nông Cố Mín Đà m (1901 - 1924) và tờ Lục Tỉnh
Tân Văn (1907 - 1943)
Trước hết là tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Sài Gòn mà cũng là
của Việt Nam. Gia Định báo lú c đầu ra mỗi tháng một kỳ, 4 trang,
khổ 25x32. Mục đích của tờ báo được Đề đốc G.Roxe trình bày rõ
trong văn thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộ c địa ngày 9-5-1865:
"Tờ báo này nhằm phổ biế n trong các giới dân bản xứ tất cả
những tin tức đáng cho họ lưu ý và cho họ có một kiến thức về những
vấn đề mới có liên quan đến văn hóa và những tiến bộ về canh nông...
Nó sẽ góp phần vào việc thay thế chữ của chúng ta vào chữ Hán, một
thứ chữ mà chỉ có một thiể u số quan lại hiểu biết mà thôi".
Từ khi Trương Vĩnh Ký được giao làm giám đốc Gia Định báo
(1869) và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút thì Gia Định báo đã cổ động
cho lối học mới, phát triển chữ quốc ngữ và khuyến khích dân chúng
học chữ quốc ngữ:
"Nông Cố Mín Đàm đã đăng nhiều bài tiến bộ, có ít nhiều ý thức
về vai trò văn hóa và tư tưởng của một cơ quan ngôn luận. Chính nó
đăng những bài đầu tiên về Duy Tân, Minh Tân..."
Báo Lục Tỉnh Tân Văn từ khi Trần Chánh Chiếu làm chủ bút
đã kêu gọi cuộc Minh Tân, góp phần trong phong trào Duy Tân của cả
nước đầu thế kỷ XX. Cùng với sự ra đời rất sớm của các tờ báo Việt
ngữ, các sách Nôm và sách Hán đượ c phiên âm và dịch ra quốc ngữ
khá nhiều: Đại Nam quốc sử diễn ca (1871), Gia huấn ca (1882), Phan
Trần (1889), Lục Vân Tiên (1889), Tam Tự Kinh (1887), Đại học,
Trung Dung (1889), Minh Tâm bử u giám (1891). Và cũng trong thời
gian đó, nhiều tác phẩm, nhiều công trình biên soạn đã được xuất
bản, đáng chú ý là cuố n Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của.
(300 năm Sài Gòn - TP.HCM - NXB Chính trị Quốc gia)
Chán đời đi lang thang !
0
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ SÀI GÒN SAU NĂM 1859
Sài Gòn nằm trên khúc uốn thuộc hữu ngạn sông Sài Gòn, một
phụ lưu của sông Đồng Nai, cách biển 100km thủy trình. Sông Sài
Gòn bắt nguồn từ vùng đất cao Đông Nam Bộ, độ dốc sông nhỏ, sứ c
xâm thực kém, nước sông chứa ít phù sa. Vùng cửa sông có rừng sá c
giữ vai trò siết dòng, hạn chế việc lắng tụ phù sa ở cửa sông. Lòng
sông sâu 8m lúc triều cường, cho phép các tàu trọng tải lớn ra vào Sài
Gòn dễ dàng. Hơn nữa, vùng biển Nam Bộ thuộc chế độ thủy triệu
bán nhật, nên các tàu lớn có mực nước lòng tàu sâu chỉ mất tối đa 12
giờ để có thể vào cảng. Nghĩa là không phải mất nhiều thời gian neo
tà u ở tiền cảng Vũng Tàu.
Từ những thuận lợi trên đây, Sà i Gòn dần dần trở thành một
thương cảng quan trọng trên hải trình châu Âu - Viễn Đông.
Hoạt động kinh tế của Sà i Gòn trong những năm đầu Pháp
thuộc chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu.
Ngay năm 1860, đã có 246 tàu phương Tây và thuyền buồm của
Trung Hoa chuyển vậ n hàng đến Sà i Gòn và bốc dỡ hà ng đi. Tổng số
hàng chuyển đi lên tới 63.299 tô-nô, trong đó có 53.939 tô-nô gạ o trị
giá 5.184.000 quan Pháp. Trị giá hàng nhập khẩu cùng năm là 1,5
triệu quan Pháp (thuốc phiện chiếm 0,5 tấn). Việc bốc xế p hàng tại
cảng Sài Gòn do các "chánh" người Hoa đảm nhận.
Các mặt xuất khẩu gồ m lúa gạo, cá khô (chở từ biển hồ ở Cao
Miên về) dầu thực vật, đường mía, rau sấy khô, gòn.
Từ 1863, hàng xuất khẩu có thêm một số mặt hàng truyền
thống như tơ tằm, muối, đay. Các sản phẩm này phục hồi và phát
triển nhanh, sản lượng đã vượt nhu cầu nội địa, còn thừa để xuất
khẩu.
Một mặt hàng xuất khẩu mới cũng phát triển rất nhanh từ
1863 là gỗ chất đố t và gỗ xây dựng. Thực tế nhu cầu gỗ để xây dựng
đã có từ khi Pháp chiếm Sài Gòn. Do chiến sự tiếp diễn người Pháp
chưa khai thác gỗ ở rừng Nam Kỳ nên phải nhập từ Singapore.
Năm 1863, tình hình ở ba tỉnh miền Đông ổn định, người Pháp
mới xúc tiến việc khai thác gỗ rừng vừa đổ cung cấp cho nhu cầu tại

chỗ vừa để xuất khẩu. Trị giá gỗ xuất khẩu vào 1864 lên đến 11 triệu
quan Phá p.
Việc phát triển mậu dịch giữa Sài Gòn với bên ngoài dần dần
kéo theo sự phát triển nhiều ngành sản xuất mới. Trườ ng hợp người
Hoa ở Chợ Lớn nhập đường kết tinh để tái xuất sang Trung Quốc dẫn
đến việc người Pháp cho thà nh lập nhà máy lọc đường tại Sài Gòn là
một ví dụ. Trước đây việc đan bao đệm chủ yếu dù ng để đựng hàng
xuất khẩu, đến nă, 1862 bao đệm thành một mặt hàng xuất khẩu:
năm 1862 xuất 417.998 chiếc; năm 1863 xuất 2.305.190 chiếc. Tương
tự đối với muối ăn, tơ tằm, gỗ xây dựng....
Có thể nói thời điểm quân Pháp hoàn tất việc chiế m đóng ba
tỉnh miền Đông Nam Kỳ, hoạt động xuất nhập khẩu tại Sài Gòn càng
lúc càng tấp nập. Hoạt độ ng này là một trong số ít nguồn thu chính
yếu của thuộc địa. Tính từ 1-7-1866 đến 30-6-1867 số tàu cập và rời
bến Sài Gòn là 887 chiếc, với tổng giá trị hàng xuấ t nhập khẩu lên
đến 53 triệu quan Pháp.
Như vậy cho đến giữa thập niên 60 của thế kỷ XIX Sài Gòn thự c
sự là một thành phố thương mại phồn thịnh, một thương cảng có sứ c
thu hút mạnh, có đủ điều kiện bước vào cuộc đua tranh với các đô thị
lớn ở khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ như Singapore, Batavia
(Djakarta), Manile.
(Theo sách Sài Gòn từ khi thành lập
đến giữa thế kỷ thứ 19 - NXB TP.HCM - 1998)
Chán đời đi lang thang !
0
MƯỜI TÁM THÔN VƯỜN TRẦU
Mười Tám Thôn Vườn Trầu xưa được sách Gia Định thành
thông chí gọi theo cách chữ Hán là Phù Lưu Viên (vườn trầu) để chỉ
miệt vườn Bà Điểm - Hó c Môn. Dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840)
đấy là các thôn thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương,
phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nay Vườn Trần thuộc huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Phù Lưu Viên, theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh
Hoài Đức nguyên là một vùng hiểm yếu, có nhiều rừng rậm, mãnh hổ
thường bắt người, nên tục ngữ có câu "dữ như cọp Vườn Trầu". Tuy
thế, ở chỗ thị tứ thì dân cư đông đúc, có nhiều vườn trầu. Mỗi lúc đi
bán trầu, các nhà vườn thường rủ nhau cùng nhập toán lên đến ba,
bốn mươi người gồng gánh đem trầu về bán tận Sài Gò n, Bến Nghé.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu còn nổ i tiếng với nghề nuôi ngựa
đua:
Trải xem Thập Bát Phù Viên,
Một nơi Bà Điểm khuôn viên mỹ miều.
Ngựa hay mua sắm quá nhiều,
Mỗi kỳ đua ngựa thảy đều có ăn.
Hai mươi hai hạt xa gần,
Tiếng ngựa Bà Điểm ai bằng đặng đâu
Và nghề nuôi gà đá:
Tiếng đồn gà đá chưn trơn
Thờ i gà Bà Điểm lắm cơm ăn tiền.

Mười Tám Thôn Vườn Trầu là quê hương và đồng thời là một
trong các địa bàn hoạt động của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh,
người đã lập nên tờ báo "La Cloche fêlée", "La Lutte" công kích giới
quan lại thối nát và lên án thực dân Pháp.
Điểm nổi bật nhất của Mười Tám Thôn Vườn Trầu là tinh thần
đoàn kết chiến đấu, là tính cá ch mạng rất sớm ngay từ khi đất nước
mới sa vào vòng lệ thuộc. Phản ứng của nhân dân Mười Tám Thôn
Vườn Trầu trước cảnh áp bức là:
Mười tám thôn ruộ t đau như chỉ thắ t
Dân Hóc Môn tợ muối xát lòng
Mùa xuân năm 1885, nông dân Hóc Môn và Đức Hòa, dưới sự
chỉ huy của hai ông Phan Công Hớ n (người Bà Điểm) và ông Nguyễn
Văn Quá (người Đức Hòa) đã đứng lên khởi nghĩa. Trấn quận Hóc
Môn lúc bấy giờ là đốc phủ Trần Tử Ca, nổi tiế ng là tên tay sát khát
máu và đắc lực của thực dân Pháp:
Xe song mã sướng đà quá sướng
Dân bần tiện lòng kia chẳng tưởng
Ép lấy dầu, nạp thiểu thâu đa (vè Quản Hớn)
Đêm 30 rạng mồng một Tết Ất Dậu (1885), nhân dân Hóc Môn
nổi lên chiếm lỵ sở Hóc Môn:
Gậy tầm vông, võ ống vai mang,
Qua giờ dậu đoạt nơi yểm lộ .
Dân Hóc Môn bắn chết Đốc phủ Ca, bêu đầu lên cột đèn trướ c
chợ rồi kéo rốc về Sài Gòn, nhưng chỉ đến Bình Hò a thì đụng phải
quân Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu. Nghĩa quân thua
trận.
Tinh thần của Mười Tám Thôn Vườn Trầu không ngừng lại ở
đấy mà tiếp tụ c vào các giai đoạn sau.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu với những gia đình cơ sở cá ch mạng
trung kiên chí cốt đã là địa bàn hoạt động của Trung Ương Đảng

Cộng Sản Việt Nam ngay từ thập kỷ đầu của Đảng. Tại đây đã có
mặt các nhà lãnh đạo cách mạng như Nguyễn Thị Minh Khai,
Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần... cũng tại đây đã diễ n ra nhiều cuộ c
họp quan trọng và quyết định của Trung Ương Đảng. Hai hội nghị
Trung Ương lần thứ tư vào năm 1937, lần thứ năm vào năm 1938 đều
họp tại ấp Tiền Lân. Đặc biệt hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ sáu
vào năm 1939 họp tại ấp Tây Bắc Lân, các nhà cách mạng Nguyễn
Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần tham dự. Hộ i nghị đã
giải quyết nhữ ng vấn đề chiến lược nhằm đánh đổ chính quyền đế
quốc và tay sai bằng cách vận dụng thời cơ từ cuộc chiến tranh thế
giới để giành chính quyền.
Cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ bùng nổ đầu tiên tại Hóc Môn vào
rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940. Người dân Mười Tám Thôn Vườn
Trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành
chính của Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu. Các nhà lãnh
đạo chủ chốt Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng
Lưu, Võ Văn Tầ n bị bắt và bị xử bắn ngay tại trên mảnh đất Hóc
Môn. Dù bị đàn áp, ngườ i dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu vẫn kiên
cường tiếp tục chiến đấ u, góp công to lớn cho sự nghiệp giải phóng và
thống nhất của đất nước.
Ngày nay Mười Tám Thôn Vườn Trầu đang nỗ lực xây dựng
kinh tế, trở thành vùng trọng điểm chuyên canh rau của Thành phố
Hồ Chí Minh. Đặc biệt trong thời gian gầ n đây Hóc Môn phát triển
nhanh đàn bò sữa và cũ ng đang trở thành vùng trọng điểm vành đai
bò sữa của thành phố. Một loại hình hợ p tác mới nhằm giúp nhau
làm ăn, đóng góp cho sự phát triển của địa phương cũng đang hình
thành tại đây. Đó là sự ra đời của các nhóm làm kinh tế gia đình -
khuyến nông có mục đích hỗ tương giúp đỡ để áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật vào nông nghiệp, chăn nuôi, sưu tập vườn cây...
Danh xưng Mười Tá m Thôn Vườn Trầu mãi mãi là ấn tượng về
một địa danh giàu tính truyền thống và cách mạng.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - Du lịch - NXB Trẻ 1997)

Chán đời đi lang thang !
0
CÁC CUỘC ĐẤU TRANH
CỦA CÔNG NHÂN HÃNG DẦU NHÀ BÈ
Sang năm 1931, ngay tháng đầu năm, bốn cuộc bãi công lớn và
một cuộc biểu tình của công nhân lại liên tiếp bùng lên rất mạnh, hầu
hết ở địa bàn các hã ng dầu Nhà Bè. Đây là đợt đấu tranh của công
nhân có sự lã nh đạo phối hợp và tổ chức chặt chẽ hơn, tiếng vang
mạnh hơn.
Nhân xảy ra vụ công nhân bị chủ đánh và đuổi một cách vô lý,
ngày 9-1-1931, toà n thể công nhân hãng Standard oil (Nhà Bè) bãi
công đòi: tăng lương thêm 1 cắc/ngày; giảm giờ làm việc xuống 8
giờ/ngày; làm 6 giờ một ngà y cho trẻ em dưới 16 tuổi; chống đánh thợ
và nhận lại thợ bị đuổi; kèm theo hai yêu cầu nữa mang tính chính
trị: thợ được tự do hội họp; tự do biểu tình, bãi công.
Để gây thanh thế và hỗ trợ cho cuộc bãi công này, công nhân
hãng dầu Socony của Mỹ và hãng dầu của Anh cũng đình công.
Lần này cuộc đấu tranh củ a công nhân ở Standard oil có một
bước tiến nữa là đã thành lập đội tự vệ để bảo vệ anh chị em. Ngày
14-1-1931, cuộc bãi công kết thúc sau khi chủ phải chấp nhận một số
yêu sách của công nhân.
Nhưng đúng và o hôm đó, 400 trên 560 công nhân hãng dầu
Pháp - Á bãi công với những khẩu hiệu: Cấm đánh đập công nhân;
thực hiện bảo hiểm xã hội; nhận lại công nhân bị đuổi; tăng lương
thêm 1 cắc/ngày; ngày làm 8 giờ; ngày chủ nhật, ngày lễ đi làm lương
tăng gấp đôi; ngày lễ, chủ nhật nghỉ vẫn được ăn lương; phải trả
lương những ngày công nhân bãi công... Cảnh binh và lính vác súng
đến đe dọa, liền bị công nhân ào đến bao vây tước súng.

Cũng vào thời điểm ấy, diễn ra một cuộc mít tinh ngay trướ c
cửa hãng dầu Pháp - Á do Tổng công hội Nam Kỳ tổ chức, có hàng
nghìn công nhân, nông dân và dân lao động chung quanh kéo đến dự
nghe diễn thuyết, làm tăng thêm uy thế của cuộc bãi công.
Chỉ 4 ngày sau, ngày 18-1-1931, vào dịp kỷ niệm 3L (Lê-nin, Lie
áp-néc, Luý c-xem-bua) lại có hai cuộc biểu tình nữa ở trước hãng dầu
Phú Mỹ và F.A.C.I do Lý Tự Trọng tổ chức.
Sang tháng 3-1931, còn ba cuộc bãi công nữa: ở công ty dầu
Pháp - Á (ngày 10-3-1931); của thợ đốt than Nhà Bè (ngày 16-3) và
của công nhân hãng Socony (ngày 23-3-1931).
(Lịch sử Đảng bộ TP. HCM - NXB TP. HCM 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC MIT TINH TẠI ĐƯỜNG MAYER
LÝ TỰ TRỌNG BỊ BẮT, XỬ TỬ
Vào thời điểm này có một sự kiện vang dội cả trong và ngoài
nước ta, đó là cuộc mít tinh ở phố Larégnère (nay là đường Trương
Định) ngày 8-2-1931 dẫ n đến cái chết của viên Cò Legrand ngay giữa
trung tâm Thành phố.
Thực hiệ n nhiệm vụ do Xứ ủy giao, Tổng Công hội đã tổ chứ c
một cuộc mít tinh kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào chiều ngà y 8-
2-1931.
Ban Tổ chức có ba người: Quảng (tức Phan Bội Châu, Hoàng
Hữ u Nam) Trưởng ban, Hui (Lý Tự Trọng) và một người nữa.
Gần sân banh ở đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu) vào lú c
18 giờ 15 phút khi cuộc đá banh tan, người xem ra khỏi cổng đổ theo
đường Larégnère (nay là đường Trương Định) đi đế n ngã tư đường Le
Grand De Liraye (nay là đường Điện Biên Phủ) thì thấy cờ đỏ trương
lên và có tiếng hô mời đồng bào đứ ng lại nghe nói chuyện. Tất cả tụ
tậ p ngay trên lòng đường Larégnère. Người diễn thuyết đã được lựa
chọn, nhưng đến lúc đó chưa có mặt (sau này mới biết là đã bị bắt).
Đồng chí Quả ng (Phan Bôi) vội đứng lên thay thế.
Cuộc diễn thuyết chớp nhoáng vừa kết thúc thì bọn cảnh sát ập
tới. Tên Cò Legrand nhảy vào bắt đồng chí Phan Bôi. Lập tức Lý Tự
Trọng có sẵn súng lục trong tay, bắn liền hai phát, Cò Legrand gục
xuống. Quần chúng hỗn loạn ngơ ngác, Lý Tự Trọng chạy. Cò Borel
thoáng thấy phóng chân đuổi theo, Trọng quay người lại bắn mấy
phát. May cho hắ n, đạn chỉ trúng mũ. Trong cuộc này Phan Bôi,
Trọng và mấy người tham dự bị bắt. Ngay tối đó, địch lùng sụt ở cơ
quan đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) bắt mấy người
nữa, trong đó có đồng chí Bùi Công Trừ ng. Hai hôm sau, ngày 10-2-
1931, đồng chí Bùi Lâm cũ ng bị bắt.

Địch liên tục hỏi cung, tra tấn Lý Tự Trọng rất dã man. Nhưng
địch không thể moi được một tiết lộ bí mật nào của Trọng. Được tin
đó, ngày 23-2-1931 đã nổ ra một cuộc tuyệt thực của tù Khám Lớn
Sài Gòn phản đối Pháp đánh đập tàn ác Lý Tự Trọng. Đến ngày 18-4-
1931, Tòa Thượng thẩm tuyên án tử hình Lý Tự Trọng. Lại một cuộ c
tuyệt thực nữa của tù Khám Lớn Sài Gòn chống chính sách đàn áp
tà n bạo của đế quốc Pháp.
Ở bên ngoài, hàng loạt truyền đơn được rải ở nhiều phố và vùng
nông thôn, ở cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phả n đối án tử
hình đối với Lý Tự Trọng. Bà André Violis lúc bấy giờ đến Sài Gòn có
vào thăm Lý Tự Trọng, khi về Pháp bà đã viết một loạt bài và cuốn
sách Indochine S.O.S (Đông Dương cấp cứu!) trong đó vạch trần
chính sách tàn bạo của đế quốc Pháp ở Đông Dương và phả n đối án tử
hình đối với Lý Tự Trọng. Vụ Lý Tự Trọng trở thành vấn đề quốc tế.
(Lịch sử Đảng bộ TP. HCM - NXB TP. HCM 1995)
Chán đời đi lang thang !
0
MỘT SỐ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
THỜI CHỐNG PHÁP
1. Chiến khu Láng Le - Bàu Cò
Gọi là chiến khu Lá ng Le vì đây là một vùng đầm lầy có nhiều
chim lele tụ tập.
Láng Le - Bàu Cò nằm trên bờ rạch Lá ng Le và rạch Cái Tăm
cách Sài Gòn khoảng 20km về phía Tây Nam, giáp ranh xã Tân Nhựt
và khu kinh tế mới Lê Minh Xuân chạy đến Gò Xoài, Vườ n Thơm.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Phá p và chống Mỹ đây là
vùng căn cứ cách mạng nổ i tiếng, nhân dân ở đây sớm có truyền
thống đấu tranh yêu nước nồng nàn.
Cuối tháng 9.1930 nhân dân đã tích cực tham gia nhiều cuộ c
biểu tình, phá cầu, chặn xe của thực dân Pháp. Trong cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ 1940 và cách mạ ng Tháng Tám 1945, nhân dân Láng Le
cùng nhân dân Chợ Lớn, Bình Chánh vù ng lên mạnh mẽ cướp chính
quyền, Láng Le là căn cứ của cơ quan lãnh đạ o Thành đoàn.
18.4.1948, Láng Le đã đi vào lịch sử với "cây súng Nguyễn Hữu
Mai" khi các chiến sĩ trung đoàn Phạm Hồng Thái, đơn vị chủ lực đầu
tiên của Sài Gòn lúc bấy giờ chọc thủng vòng vây của địch. Trên 300
tên Âu Phi bị tiêu diệt và bị bắt sống, thu nhiều vũ khí.
26.2.1966 lực lượng vũ trang ta đánh tan 1 tiểu đoàn lính Mỹ
càn quét vùng Láng Le, cầu An Hạ, Bình Chánh tiêu diệ t và làm bị
thương hơn 200 tên bắn rơi 3 máy bay lên thẳ ng.
Đế quốc Mỹ điên cuồng ném bom, rải chất độc hóa học hòng tiêu
diệt mọi sinh vật trong vùng, biến Láng Le thành một vùng trắng,
nhưng cán bộ Đảng viên và du kích vẫn ngoan cường bám trụ, không
để quân thù vào vùng đất độc lập - tự do.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 quân và
dân Láng Le lập nhiều chiến công xuất sắc. Đặc biệt ngày 13.5.1968
đã đánh bại cuộ c hành quân giải tỏa của Mỹ ngụy.
(Theo sách Hỏi đáp 300 năm TP - NXB Trẻ 1997)
2. Căn cứ Vườn Thơm
Căn cứ Vườm Thơm: Ở phía Tây thành phố, cách trung tâm Sài
Gòn 10km, án ngữ trên hành lang nối Sài Gòn với chiến khu Đồng
Tháp Mười, thuộc đất Trung Quận và một phần quận Đức Hòa của
các xã Hậu Thạnh, Đức Hòa Hạ. Toàn bộ căn cứ gồm 6 xã trung tâm
(Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Bửu, Lương Hòa, Hậu Thạnh Hạ, Đức Hòa
Hạ với điểm trung tâm là Trụ Năm Thôn) và 9 xã ngoại vi (Bình Trị
Đông, Tân Kiên, An Lạc, Tân Túc, Mỹ Yên, Thanh Hà, Long Hiệp,
Long Phú, An Thạnh) với diện tích khoảng gần 200km2. Đất Vườm
Thơm là chiếc gạch nối giữa vùng giồng cao của miền Đông Nam Bộ
với vùng trũng thấp của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là đất bưng biền,
kinh rạch, hố trấp, sình lầy, lại có đất vườn với những vườn mía,
vườm thơm (vườn thơm nhiều thành tên vùng đất), rừng cây mù u,
cây tràm, dừa nước đan ken dày đặc. Bưng Bà Lác, Vinh Lộ c, Bình
Thủy (về phía Bắc), sông Vàm Cỏ Đông (về phía Tây) đường số 10
(Chợ Lớn đi Đức Hòa), kinh Xáng, kinh Bà Hom, kinh cầu An Hạ,
kinh Bà Vụ rồ i Bàu Cò , Láng Le... là những địa danh của căn cứ
Vườn Thơm trở thành quen thuộc trong lịch sử chống ngoạ i xâm của
quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ đầu năm 1946, bộ đội chiế n đấu ở mặ t trận phía Tây, Ban
chấp hành Mặt trận Việt Minh và các cơ quan kháng chiến củ a Sài
Gòn, Chợ Lớn, của Trung Quận và vùng phụ cận rút về đây, trụ bám,
xây dựng căn cứ, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến.
Dựa vào địa thế nhiều bưng trấp kinh rạch và cỏ lác phức tạp,
rậm rạp, khuất khúc bất ngờ, quân và dân tại Vườn Thơm, dưới sự
chỉ đạo của trưở ng ban căn cứ địa Nguyễn Văn Thơm, tiến hành đào
vét kinh mương ngò i lạch, mở đường đi ngang dọc ở trong căn cứ,
đồng thời dựng kè cản, đắp đập trên các kinh lớn, đào hầm hào khắp
nơi, vừa để trú giấu lực lượng vừa để chống địch cơ động càn quét.

Căn cứ Vườn Thơm đứng vững cho đến năm 1949, được coi là một địa
bàn cơ động nhất vào nội thành.
Ngoài những căn cứ kể trên, còn hàng loạt căn cứ nhỏ khác nằm
rải rác bao quanh thành phố. Đó là các điểm trú đóng quân, ém giấu
lực lượng, nơi cất giữ hoặc chuyển tiếp cơ sở vật chất, kho tà ng công
xưởng của các địa phương từ xã đến huyện, tỉnh, thành phố , đồng
thời là điểm xuất phát đánh địch trong nội thành và các khu vự c
ngoại vi thành phố. Đáng ghi lại là khu vự c các xã Phú Thọ Hòa,
Bình Hưng Hòa, Tân Hòa, Vĩnh lộc, Bưng Sáu xã . Sự hình thành hệ
thống căn cứ bao quanh thành phố biểu thị quyết tâm kháng chiến
lâu dài củ a quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định; nó tạ o điều
kiện cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng mọi mặt để tiến hành cuộ c
kháng chiến đang ngày càng mở rộ ng quy mô trên các chiến trường.
(Theo sách lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 1945-1975. NXB TPHCM 1994)
3. Chiến khu rừng Sác
Chiến khu rừng Sác ở phía Đông Nam thành phố , là một vùng
rừng đước, chà là ngập mặn rộng đến 600 hecta, phía Bắc là khu lòng
chảo Nhơn Trạch, phía Đông là quốc lộ 15, phía Tây là sông Soà i Rạp,
phía Nam kéo dài sát biển Đông. Rừng Sác là nơi tập hợp của hàng
trăm sông rạch lớn nhỏ, chằng chịt ngang dọc ngoằn ngoèo như mạng
nhện, tạo nên những đảo triều xúp nổi giữa mênh mông nước (diện
tích mặt sông rạch chiếm 1/4 diện tích toàn Rừng Sác). Quan trọng
nhất trong toàn bộ hệ thống sông rạch ở Rừng Sác là sông Lòng Tàu -
tên gọi gộp nhiều đoạn sông dài 45km nối biể n Đông ở cửa biển Gành
Rái lên ngã ba sông Đồng Tranh, sông Nhà Bè vào Cảng Sài Gòn, một
cửa biển quốc tế, cái "cuống họng" của Sài Gòn và Nam Bộ. Phủ lên
Rừng Sác là cả một rừng cây ngập mặn như mắm, bần, đước, dà, chà
là, dừa nước... đan níu nhau từng từng, lớp lớp, tạo nên những "đám
lá tối trời", những "mái nhà", hang động. Sông rạch, đảo triều, rừng
cây làm cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, một
"trận đồ bát quái". "Trận đồ bát quái" này lại nằm kế cận thành phố
Sài Gòn, bao bọc xung quanh con đường thủ y chiến lược - Lòng Tàu -
nối liền Sài Gòn với quốc tế.

Rừng Sác vì thế , từ những thế kỷ trước đã được Nguyễn Huệ,
rồi Trương Định chọn làm căn cứ địa. Trước Cánh mạng Tháng Tám,
nơi đây là địa bàn trú ẩn của những người có chí khí khai sơn phá
thạch, khuấy nước chọc trời, cát cứ một cõi, những người trốn lính,
phu, thuế, cờ bạc, hút chích bị chính quyền thực dân truy nã; những
người là hảo hớn gian hồ, đảng cướp lưu manh, bị xã hội dồn đến
chân tường, sống ngoài vòng pháp luật.
Cuối tháng 11 năm 1945, sau khi trận Rạch Đỉa - Cây Khô (Nhà
Bè) bị vỡ, bộ chỉ huy mặt trận số 4 rút xuống Rừng Sác. Bộ đội Dương
Văn Dương (gồm cả lực lượng Nhà Bè, Thủ Thiêm, Tân Thuận...) về
Phước An - một xã thuộc quận Long Thành, phân nử a nằm trên đất
liền phía Nam lòng chảo Nhơn Trạch, phân nửa là Rừng Sác ngập
nước. Sở chỉ huy và các đơn vị chiến đấu đóng rải rác trong các ấ p Bà
Trường, Bàu Bông, Vũng Gấm... Bộ đội Nguyễn Văn Mạnh về đứng
chân ở khu vực Bà Trao - Nú i Nứa. Bộ đội Tư Hoạch cũng rút về
Rừng Sá c.
Chấp hành chỉ thị của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, 22 giờ đêm
ngày 5 tháng 2 năm 1946 (tức mồng 3 tết Bính Tuất), hai phần ba lực
lượng liên chi đội 2-3 vượt sông Soài Rạp, hành quân xuống chi viện
cho Bến Tre. Cùng lúc, lực lượng ở lại đồng loạ t tập kích tàu thuyền
trên sông Soài Rạp và các cứ điểm đ ồn bót tại Vàm Sát, Rạch Rào,
Đồng Tròn, Rạch Cốc để thu hút địch. Cùng thời gian này, bộ đội Tám
Mạnh và Tư Hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang Cần Đước, Cần
Giuộc đồng loạt tập kích 12 vị trí của giặc ở vùng phía Nam thành
phố Sài Gòn - Chợ Lớn, gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Số quân còn lại của liên chi đội 2-3 chia lam hai bộ phận trụ lại
Rừng Sác xây dựng căn cứ. Bộ phận thứ nhất gồm bộ đội Mười Đen
và lực lượng còn lại của 6 đơn vị chiến đấu chia quân đứ ng chân trên
khu vự c Rừng Giồng giữa lòng chảo Nhơn Trạch, do Đinh Văn Nhị
chỉ huy. Bộ phận thứ hai đóng quân dưới Rừng Sá c vùng ngập nước
gồm cá c bộ phận binh công xưởng, tàu kéo, ghe thuyền, trọng pháp,
quân y viện, kho tàng đặt tại Rạch Xu, Rạch Vàm Tượng, do Dương
Văn Hà (em Dương Văn Dương) chỉ huy. Công tác xây dựng căn cứ
địa được xúc tiến khẩn trương, có kế hoạch chu đáo.
Sau khi Bến Tre thất thủ, Dương Văn Dương hy sinh. Bộ đội
liên quân chi đội 2- do Trần Văn Đối giữ quyền chỉ huy quay trở về

Rừng Sác. Đêm 24 rạ ng ngày 25 tháng 2 năm 1946, đoàn quân về đến
Rừng Sác. Cuối tháng 2, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) đưa bộ đội Phú Thọ
từ căn cứ Vườn Thơm xuống Rừng Sác. Từ đây Rừng Sác trở thành
căn cứ chủ yếu của bộ đội Bình Xuyên.
Cùng với bộ đội Bình Xuyên, tại Rừng Sác, cò n có hàng chục tổ
chức kháng chiến về đứng chân hoạt động như các bộ phận cứ cơ
quan kháng chiến Sài Gòn (liên hiệp công đoàn, công tác Thành, công
an xung phong...), các cơ quan quân dân chính đảng cá c quận Nhà Bè
(Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (Chợ Lớn), Hòa Tân (Gò Công) và
cơ quan kháng chiến các xã đất liền ven phía Tây sông Soài Rạp...
Đến cuối tháng 2 năm 1946, Rứng Sác trở thành một căn cứ sôi
động ở ngoại vi Đông Nam thành phố. Tại đây, bộ đội tỏa ra hoạt
động đánh địch khắp nơi: tập kích huyện lỵ Nhà Bè, huyện lỵ Cần
Giuộc, đánh đồn bót dọc sông Lòng Tàu, dọc liên tỉnh lộ 19, phục kích
diệt tàu ghe củ a địch trên các sông rạch...
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định 1945-1975.
NXB TPHCM 1994)
4. Căn cứ Bình Mỹ
Căn cứ Bình Mỹ ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lý, Tân
Mỹ, Mỹ Bình thuộc quận Hóc Môn nằm cặp theo sông Sài Gòn bên tả
ngạn (liền ranh bên hữ u ngạn sông Sài Gòn với căn cứ An Sơn, An
Thạnh, Phú Cường thuộc Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một). Phía Bắc có
tỉnh lộ 8 từ Đức Hòa chạy qua quốc lộ 1 đến bến sông Sài Gòn sang
thị xã Thủ Dầu Một. Phía Tây có đường 15 từ Sài Gòn qua Hóc Môn
lên Bế n Cỏ đến bến đò Bến Súc, đường số 5 chạ y xéo qua từ cầu Xáng
đến Bình Mỹ giáp tỉnh lộ 8. Phía Tây Nam là sông Rạch Tra chảy qua
cầu Xáng, cầu Bông (nay là ranh giới thiên nhiên giữa hai huyện Củ
Chi và Hóc Môn). Theo phía Bắc có thể phá t triển nối với Tân Thạnh
Đông, Tân Thạnh Tây, Hòa Phú, An Phú xã, Khu 5, xa hơn nữa là
Bến Cát, Trảng Bàng; từ phía Tây, căn cứ nối qua Tân Phú Trung,
Phước Vĩnh An, Tân An Hội, đến Giồng Ông Hòa, Bàu Công (Đứ c
Hòa).

Đứng chân tại căn cứ Bình Mỹ, ngoài các cơ quan kháng chiến
và các lực lượng vũ trang huyện Hóc Môn, có Giải phóng quân liên
quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Nhân dân Bình Lý, Tân Mỹ, Mỹ
Bình tích cực phá hoại cắt đứt các đường bộ, đào hầm hào, rào làng
chiế n đấu, tuần gác chống càn bảo vệ căn cứ. Trong tháng 2 năm
1946, cầu Rạch Tra trên sông Sài Gòn - cửa ngõ đi vào Bình Mỹ - bị
ta phá sập. Dọc các ngã đi vào căn cứ đều được cắm chông, đắp ô ụ.
Trên lộ 22, nhân dân và du kích đào hố, chặt đổ cây cao su dọc ven
đường làm ngăn trở giao thông địch
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định 1945-1975.
NXB TPHCM 1994)
5. Đoạn địa đạo qui mô đầu tiên ở Củ Chi
Đoạn địa đạo có qui mô đầu tiên ở Củ Chi đượ c đào ở liên xã
Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An vào đầu năm 1947, đây là khu vực có
nhiều hầm bí mật của anh em du kích. Hầm bí mật có nhiều kiểu, lú c
đầu được bố trí thuận tiện và ngụy trang tinh vi để ẩn tránh. Sau đó
xuất phát từ nhu cầu phải bám trụ tại chỗ để bảo tồn lực lượng và tạo
điều kiện đánh đượ c địch, anh em du kích đã móc dính các hầm bí
mật với nhau trong lòng đất, nối một số gia đình với nhau trong khu
vực nhỏ. Dần dần, các chi nhánh địa đạo nối dài ra nhiều khu vực, cả
những hướng bố trí chặn đánh địch. Từ đây, các chi nhánh được thiết
bị thêm các ụ và hào chiến đấu từ xa kéo đến miệng hầm, xung
quanh bố trí cạm bẫy, hầm chông, lựu đạn gài. Khi phải rú t xuống
hầm, bộ đội du kích có kế hoạch chặn đá nh địch chui theo bằng cách
rút cầ u, bên dưới là hầm chông, cạm bẫy, xung quanh có tên nỏ từ các
ống tre bay ra, gươm, lự u đạn rút chốt, cây từ trên đập xuống. Cá c
khe ngách gần miệng hầ m được móc "hàm ếch" ẩn được từng người,
tránh đạn bắn thẳng của địch, đồng thời phụ c kích bất ngờ , dùng dao,
súng diệ t địch khi chúng bước vào. Trong một đoạn địa đạo dài vài
trăm mét, một tiểu đội du kích có thể thoải mái chiến đấu liên tụ c
nhiều ngày chống lực lượng địch đông gấp bội.
Giặc Pháp tìm mọi cách hủy diệt. Chúng dùng mọi cách để dồn
đuổi nhân dân ta ra các ấp xã chiến đấu, nhưng căn cứ khu 5 Hó c
Môn vẫn đứng vững, trở thành "Bất khả xâm phạm" trong suốt cuộ c
kháng chiến chống thự c dân Pháp. Kinh nghiệm xây dựng ấp chiến

đấu kết hợ p hầm bí mật và địa đạo được phổ biến ra nhiều nơi trên
chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống địa đạo ở khu 5 Hóc Môn
đã đặt bước khở i đầu quan trọng làm nên "Đất thép Củ Chi" nổi tiếng
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ .
Ở sát phía Tây ven thành phố, cũng sớm có một số đoạn địa đạo
ở xã Phú Thọ Hòa. Giữa năm 1947, Chi bộ Phú Thọ Hòa chỉ đạo chọn
ấp Lộc Hòa, nơi có khu đất cao, cây cối rậm rạp và nhân dân có
truyền thống đấu tranh cách mạng cao, làm địa điểm xây dựng địa
đạo. 16 người được chọn làm nòng cốt đào địa đạo, trong đó có các cán
bộ Lê Thanh, Nguyễn Văn Thược, Trần Văn Bốn, Nguyễn Văn Lự...
tự nguyện đứng tên trong dòng họ mới - họ Cù . Họ Cù mang ý nghĩa
như con Cù Long đào hang dưới đất, để bảo toàn lực lượng và đánh
địch. Phương pháp là đào địa đạo từng khúc giống như đào hầm từng
toa xe lửa đứt đoạn. Từ hai điểm, hai tổ (mỗi tổ hai người) đào dần,
gặp nhau ở điểm giữa. Đất đào lên được mang đổ xuống ruộng thấp,
vun thành vồõng khoai, vồõng sắn hoặc đổ lên bờ hào giao thông đào
công khai hoặc rãi đều trên mặt đất. Một đườ ng địa đạo ở Phú Thọ
Hòa có chiều dài gần 600 mét, từ Lộc Hòa nối đến ấp Phú Thạnh và
Bình Đông, trở thành nơi ém quân hoặc đứng chân của nhiều cán bộ
quân dân chính Đảng hoạt động nội thành.
(Theo sách lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định
kháng chiến 1945 - 1975 - NXB TPHCM 1994)
Chán đời đi lang thang !
0
TỪ CẢM TỬ QUÂN ĐẾN QUYẾT TỬ QUÂN
Khi đại bộ phận nhân dân và các lự c lượng vũ trang Sài Gòn,
hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân Nam Bộ bất hợp tác với
địch, rút ra khỏi thành phố tạo thành một thế bao vây địch, thì dưới
sự lãnh đạo của Thành ủy, công nhân, học sinh, thanh niên nam nữ,
lớp nghè o thành thị và một số trí thức với lòng căm thù cao độ quân
giặc cướp nướ c, đã nhanh chóng tổ chức lại thành những đội "Cảm tử
quân", những "Ban trinh sá t", những "Ban công tác", với một lời thề
sắt son, "diệt địch ngay trong tim gan chúng".
Tháng 12 năm 1945, đòn phủ đầu địch choáng vá ng nhất là
trận em Lê Văn Tám, một mình phá tan tành bom đạn Thị Nghè.
Đây là kho đạn cũ của Pháp ở sát ngay vườn Bách thú Sài Gò n, sau
lưng là kinh Thị Nghè, trước mặt là Đài Phát thanh, xung quanh có
hào sâu, tường cao trên 2 mét, mặt tường chăng dây kẽm gai chạy
điện và một hệ thống tháp canh. Một đại đội Âu phi ngà y đêm canh
gác cẩn mậ t. Em Tám được đội Cảm tử giao nhiệm vụ điều tra nghiên
cứu những nơi chứa bom đạn bên trong kho. Sau một thời gian dài,
khi giả câu cá bên sông, khi cắt cỏ quanh kho quan sát, Tám đã nắm
được những nơi xung yếu chứ a bom đạn. Nhưng việc dắt đội cảm tử
của ta lọt được vào bên trong là một vấn đề nan giải. Tám quyết định
làm một mình. Với một chai ét xăng, một bao diêm, em Tám đã lừa
lính gá c lọt đượ c vào kho. Và vừa chạy vừa tưới xăng vào quần áo
châm lửa đốt mình, em Tám đã tự biến mình thành cây đuốc sống.
Em lao mình vào nơi xung yếu nhất. Một tiếng nổ long trời lở đất,
tiếp theo là những tiếng nổ liên tiế p. Em Tá m đã hy sinh nhưng kho
bom đạn địch đã tan tành. Cả đại đội Âu phi bị diệt. Đài phát thanh
bên kia đường bị sập một phần lớn. Gương hy sinh củ a em Tám đã
khích lệ nhân dân Sài Gòn siết chặt hàng ngũ đứng lên giết giặc cứu
nước.

Đầu năm 1945, chị Nguyễn Thị Lan tức Lan Mê Linh, lúc ấy
mới chỉ là một học sinh 16 tuổi, đã nổ phát súng trừ gian đầu tiên hạ
tên Việt gian bồi bút Hiền Sĩ giữa ban ngày tại chợ Bến Thành đông
đúc. Hiền Sĩ là chủ nhiệm tờ báo phản động "Phục Hưng" vừ a làm
gián điệp, vừa làm cái loa chống cách mạng chia rẽ Bắc Nam theo
lệnh Pháp. Chính ta lên án tử hình hắn. Lan Mê Linh được giao
nhiệm vụ thi hành bản án ấy. Sau một thời gian theo dõi hoạt động
của hắn, Lan quyết định phải bắn gục hắn ngay chỗ đông người để
trấn áp bọn Việt gian bán nước khác. Hôm ấy chị thủ một cây súng
lục 6 ly 35, theo bén gót hắn từ tòa báo đi ra. Đến góc đưởng Bô-na
đối diện chợ Bến Thành, Lan bình tĩnh rút súng, nổ liên tiếp 4 phát
vào Hiễn Sĩ. Hắn ôm ngực lảo đảm gục ngã thoi thóp. Lan định kết
liễu đời hắn bằng viên đạn cuối cùng. Nhưng đạn bị kẹt. Lan trở tay
lấy báng súng đập vào thái dương hắn. Bọn lính mũ đỏ đậu xe ở bên
kia đường ập đến. Lan không kịp lẩn vào đám đông. Chị bình tĩnh bỏ
súng vào túi xách, trước sự khâm phục của nhữ ng người chứng kiến
hôm ấy.
Vụ án Hiền Sĩ chưa mấ y người quên thì giữa năm 1946 anh
Nguyễn Đình Chính - mà anh em thường gọi là Chính Heo - đã giết
tên Hiền giữa ban ngày tại nhà hắn ở đường La-gơ-răng-đi-e gần chợ
Bến Thành. Đây là một tên phản bội cách mạng đã dẫn giặc đi lùng
sục các cơ sở của ta ở nội thành, chỉ cho giặc bắt cán bộ. Hắn được
bọn địch bảo vệ chu đáo, đi đâu cũng có mấy tên hộ vệ có vũ trang kè
kè bên cạnh và nhà hắn thì thường xuyên có bọ n chó săn canh gác.
Hắn bị Chánh quyề n cách mạ ng kết án tử hình, bản án được giao cho
Ban trinh sát thi hành. Giế t tên Hiền mà không gây tiếng nổ không
phải là một việc dễ làm trong tình hình hắn được bảo vệ chu đáo. Anh
Chính đã nhận làm việc khó khăn ấy. Anh cùng hai đồng đội ăn mặc
sang trọng, thủ dao găm trong người giả làm bạn thân đến chơi với
hắn. Chính cùng đồng đội đã đột nhập được vào nhà tên Hiền, dùng
dao găm hạ thủ hắn mà hắn không kêu đượ c một tiếng. Xong việc
Chính và đồng đội lại ung dung đi ra, bọn hộ vệ của tên Hiền tuyệt
nhiên không hay biết gì cả.
1946 trong tình hình ta và Pháp ký Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3,
hội nghị trù bị Đà Lạt và hội nghị Phông-ten-bơ-lô ở Pháp đã tác
động vào tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam, bọn Việt Gian lại
càng hoang mang, dao động. Đảng chủ trương tận dụng tình thế

thuận lợi này mà tấn công mạnh vào kẻ thù, ra sức củng cố và phát
triển lực lượng của ta. Riêng đối với Sài Gòn, vào mùa thu năm ấy,
một hội nghị trên 60 cán bộ trường Quân chinh được phái từ chiến
khu về hoạ t động xây dựng lực lượng vũ trang ở nội thành đã nhóm
họp tại một khách sạn lớn ở Chợ Lớn. 13 đội tự vệ đã được thành lập
ở các quận, hộ, các xí nghiệp và các sở của địch ở Sài Gòn. Các đội tự
vệ này đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy Thành đội tự
vệ Sài Gòn Chợ Lớn. Bên cạnh các Đội Cảm tử, các Ban công tác thì
đây là một đơn vị có tổ chức thống nhất đầu tiên của Sài Gòn. Các đội
tự vệ lập chiến công đầu để chào mừng ngày 20 tháng 12 năm 1946.
Cả 13 đội Tự vệ, được phân chia khu vực hoạt động rõ ràng, đã cùng
một giờ tấn công bằng lựu đạn vào tất cả các đồn cảnh sát, các trại
lính của định trong thành phố. Đây là một lời cảnh cáo đanh thép của
Sài Gòn đối với giặc Pháp phản bội Thỏ a Hiệp án 14-9 năm ấy còn
chưa ráo mực.
1947, anh Võ Hồng Tâm trong đội tự vệ "Hóc môn" đã táo bạo
giết chết tên đại tá Anh - phen ngay tại "khách sạn các Quốc gia" trên
đại lộ Sác-ne. "Anh-phen" là tên Ủy viên cộng hòa Phá p ở Lào. Hắn
thường về Sài Gòn bàn bạc kế hoạch đánh chiếm Lào. Mỗi lần về Sài
Gòn hắn đều ăn ở tại khách sạn trên. Hắn ít ra đườ ng, thậm chí hớt
tóc cạo mặt hắn cũng cho gọi thợ cạo vào khách sạn. Võ Hồng Tâm,
chiế n sĩ Tự vệ Thành của ta, là m nghề hớt tóc dạo để theo dõi địch.
Thấy thời cơ hiếm có để giết một tên địch lợi hại, anh đề nghị ban chỉ
huy cho anh đi trừ khử tên giặc xâm lược. Sau khi bàn bạc kế hoạch,
ban chỉ huy giao cho anh một súng lục. Anh chờ ngày đến giết tên đại
tá, nhưng do có công tác đột xuất khác, ban chỉ huy tạm rút cây súng
đã giao cho Tâm. Chính lúc không có súng trong tay lại là lúc người
của khách sạn gọi anh đế n. Thông qua đường dây bí mật để lấy súng
không kịp rồi. Tâm đành thu xếp đồ nghề đến khách sạn, lòng nặng
trĩu mối thất vọng để xỏng mất tên sĩ quan cao cấp ấy. Trong phòng
tên Anh-phen, Tâm vừa hành nghề vừa đăm chiêu suy nghĩ. Nhưng
cái khó lại ló cái khôn. Trong khi anh cạo mặt cho tên Anh-phen hắn
ngửa cổ đôi mắt lim dim. Võ Hồng Tâm vụt nẩy ra một ý định vô cùng
táo bạo. Nhanh như chớp anh đã dùng ngay con dao cạo đang cầm ở
tay hạ sát tên thực dân. Thằng tây không kịp kêu được mộ t tiếng.
Tên Anh - phen đền tội trên vũng máu lênh láng. Anh-phen bị xử tội
không những làm bọn xâm lược ở Việt Nam kinh hoàng mà dư luận
báo chí ở Pháp cũ ng mô tả một sách rùng rợn.

Hoạt động vũ trang của ta ở Sài Gòn ngày càng mạnh thì định
bố phòng thành phố càng chặt. Mặt khác chúng ra sức càn quét các
vùng ngoại ô tiêu diệt các lõm căn cứ của các đơn vị Sài Gòn. Việc giữ
vững đường liên lạc giữa nội và ngoại thành và bảo vệ các lõm căn cứ
của mình trong tình hình này đã trở thành một vấn đề cấp bách. Mỗi
đơn vị đã buộc phải thành lập những lực lượng tập trung của mình, 1
tiểu đội, 2 tiểu đội, thậm chí 1 trung đội trang bị bằng súng của địch
địch chuyển từ Sài Gòn ra: tiểu liên, súng trường, trung liên và cả
súng cối nhẹ. Những đơn vị tập trung này đã có nhiều thành tích
chống càn bảo vệ căn cứ, đảm bảo đường dây thông suốt. Nhưng cũng
như nhữ ng hoạt động của các đơn vị nội thành, hoạt động của các đơn
vị trên còn rời rạc lẻ tẻ. Đảng chủ trương tập trung các lực lượng lại
mới tăng thêm sức mạnh diệt định. Cuối 1947, các Ban công tác và
các đội Tự vệ thành đã được thống nhất lại thành 10 Ban công tá c
Thành, đặt dưới sự chỉ huy chung. Trong khi đó các đơn vị vũ trang
tậ p trung được gom lại thành 3 tiểu đoàn (các tiểu đoàn Hoàng Văn
Thụ, Ngô Gia Tự và Ký Con). Và trung đoàn Phạm Hồng Thái được
thành lập.
Việc thống nhấ t 10 Ban công tá c và Độ i tự vệ, việc thành lập
Trung đoàn Phạm Hồng Thái là một bướ c phá t triển có tầm quan
trọng chiến lược đối với Sài Gòn. Các chiến sĩ Sài Gòn rất tin tưởng
và phấn khởi. Nó được đồng bào Sài Gòn nhiệt liệt hoan nghênh và ra
sức nuôi dưỡng. Đây là bước phát triển tất yếu, vì bên cạnh các lực
lượng dân quân thì bộ đội địa phương (các Ban công tác và các đội Tự
vệ thành) phả i chuyển lên chủ lực. Trung đoàn Phạm Hồng Thái là
đơn vị chủ lục đầu tiên của Sài Gòn làm nhiệm vụ bảo vệ cứ của các
cơ quan lãnh đạo Sài Gòn đóng ở ngoại thành chủ độ ng hỗ trợ và phối
hợp đắc lực cho các hoạt động chiến đấu ở nội thành.
Việc thống nhất 10 Ban công tác Thành và việc thành lập Trung
đoàn Phạm Hồng Thái còn mở ra một khả năng phát triển to lớn của
các lực lượng vũ trang Sà i Gòn. Khả năng trang bị hậu cần cũ ng khá
dồi dào, phần lớn từ nội thành chuyển ra. Một số xưởng cơ khí của
địch ở nội thành được sử dụng làm cơ sở tạo vũ khí (mìn đặt trong bút
máy, lựu đạn bằng bật lửa, súng lục bắn một phát, súng phóng tên
sắt tẩm thuộc độc...).

Ở ngoại ô, từ nhữ ng tổ xưởng sửa chữa vũ khí riêng lẻ của từng
Ban công tác, đã xây dựng được một công binh xưởng vừa sử a chữa
vũ khí, vừa sản xuất đạn dược, đúc lấy lựu đạn thích hợp phụ c vụ cho
hoạt động trong nội thành. Trường Quân chính của 10 Ban công tá c
cũng được thành lập. Những lớp ngắn hạn 30 ngày nối tiếp nhau đã
bổ túc, đào tạo và tung về nộ i thành hàng trăm cán bộ và chiến sĩ, tạo
một khả năng to lớn cho sự phát triển các lự c lượng vũ trang về lượng
và cả về chất.
Việc thống nhất 10 Ban công tác và thành lập Trung đoàn
Phạm Hồng Thái đã làm tiền đề cho việc thành lập Bộ Tư lệnh khu
Sài Gòn Chợ Lớn vào cuối năm 1948 với việc biên chế 10 Ban công tác
thành Tiểu đoàn Quyết tử 950 và thành lập Đặc khu Sài Gòn Chợ
Lớn năm 1950 với Quân đoàn Thành Hồ Chí Minh làm lực lượng
xung kích.
Ngay sau khi thành lập, trung đoàn Phạm Hồng Thái đã phát
huy đầy đủ vai trò chủ lực của mình. Ngoài trận đánh thống nhất
trong đêm cả hệ thống phòng vệ của địch quanh Sài Gòn Chợ Lớn -
Tân Sơn Nhất, Tham Lương, Phú Thọ, Rạch Rít, Hộ 17 trận chống
càn bảo vệ căn cứ các cơ quan Sài Gòn ở Kinh Bà Dụ và trận đánh
chống càn ở Láng Le ngày 18 tháng 4 năm 1948 là vô cùng dũng cảm.
Láng Le là căn cứ của các cơ quan lãnh đạo thành Sài Gòn của
ta lúc bấy giờ. Đấy là một vùng ngoại ô Sài Gòn Chợ Lớn, một vùng
đồng vuộng có kinh rạch xen kẽ. Sau đêm ta đánh ở nội thành, địch tổ
chức càn quét Láng le trả đũa hòng phá tan căn cứ lãnh đạo Sài Gòn
của ta. Mặc dù vừ a phải chiến đấu đêm trước, các đơn vị của Trung
đoàn Phạm Hồng Thái vẫn tỉnh táo đề phòng địch tấn công. Thật vậy,
từ mờ sáng quân địch đại bộ phận là âu phi đã từ nhiều phía, có tàu
chiế n, xe lội nước, pháo binh và phi cơ yểm trợ, tiến vô bao vây khu
vực Láng Le. Địch vô tới đâu cá c đơn vị của ta nhanh chóng vận động
chặn địch đến đó, bước đầu gây cho chúng một số thiệt hại. Địch vẫn
cố thắt chặt vòng vây. Quân ta phản công quyết liệt. Nhằm các cánh
quân yếu nhất của địch, các đơn vị của Trung đoàn Phạm Hồng Thái
đã tập trung hỏa lực chọc thủng vòng vây. Bọn địch hốt hoảng, lớp
buông súng đầu hàng, ló p bỏ vũ khí chạy thục mạng, xác giặc ngổn
ngang khắ p chiến địa. Ta đã tiêu diệt trên 300 lính Âu phi, bắt sống
nhiều tù binh và thu nhiều vũ khí bổ sung thêm cho đơn vị. Trong

trận chiến đấu vô cùng á c liệt nổi lên một ngôi sao sáng, đó là cây
súng Nguyễn Hữu Mai. Mai phụ trách một cây trung liên "Bơ-ren".
Họng súng của Mai không ngớt khạc đạn rất chính xác, quạt hết phía
này sang phía khác, quay đến đâu quân giặc đổ rạp đến đó. Mai đã hy
sinh anh dũng. Để nhớ đến anh, sau trận ấy trung đoàn đã đặt tên
cho cây súng của anh là "Cây sú ng Nguyễ n Hữu Mai".
Cuộc chiến đấu đầy nguy hiểm của Sài Gòn không chỉ có nam
giới gánh vác mà phần đóng góp của phụ nữ Sài Gòn cũng không nhỏ.
Họ là thợ thủ công, họ là những học sinh lứa tuổi 15 - 16. Họ là
những giao liên đắc lực nhất. Họ là những cán bộ vận động binh sĩ
địch. Hay còn là những trinh sát viên xuất sắc. Tất cả đã noi gương
anh dũng của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, của những tiếng súng
đầu tiên của Lan Mê Linh đi trước, đầu năm 1946. Một trung đội gái,
trung đội "Minh Khai" được thành lập. Ngay sau khi ra đời, Trung
đội đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Đó là các trận đánh lựu
đạn trong các rạp chiếu bóng Cà Thày và A-xam diệt một số binh sĩ
Pháp. Nhưng chiến công vang dội nhất là trận đánh lựu đạn trong
các rạp chiếu bóng Ma-giét-xtích trên đường Ca-ti-na. Đấy là một rạp
chiế u bóng sang trọng của Sài Gòn. Địch bảo vệ rạp này khá cẩn mật.
Cửa ra vào được bao thêm một lần lưới mắt cáo chắc chắn. Trong giờ
chiế u có một tiểu đội hiến binh người Pháp canh gác. Bên ngoài, một
bầy mật vụ ngụ y thường xuyên lảng vảng dò xét từng người đi đường
và người đến xem bằng những con mắt cú vọ chuyên nghiệp. Khán
giả trước khi vô rạp bị khám xét kỹ lưỡng. Trung độ i Minh Khai đã
nhiều lần cử đội trinh sát của mình vô rạ p nghiên cứu để đặt kế
hoạch chiế n đấu.
Tổ trinh sát báo tin ngày 10 tháng 6 năm 1948, khoảng 30 sĩ
quan tham mưu Pháp sẽ đến dự tiệc tại nhà một tên đại tá và sau đó
sẽ cùng nhau đến rạ p Ma-giét-xtích xem chiếu bóng. Bộ phim hôm ấy
nhan đề "Giã từ ngườ i yêu". Tổ trinh sát có báo cáo rõ vị trí bọn này
sẽ ngồi trong rạp. Thời cơ lập công to đã đến. Trung đội cấp tốc kế
hoạch chiến đấu. Bốn chị Huệ, Thanh, Dung và Huê xung phong ra
trận. Họ là những nữ thanh, họ c sinh sàn sàn lứa tuổi. Huệ thợ may,
lớn nhất, chưa đầy 20 tuổi. Đúng theo kế hoạch, 4 chị ăn bận thật
sang, thủ lựu đạn, vừ a nhai kẹo vừa cười nói ngả nghiêng với mấy tên
sĩ quan địch. Thật bất ngờ đối với bọn mật vụ và bọn hiến binh: lựu
đạn đã lọt được vô trong rạp. Mỗi chị ngồi ở một vị trí đã định. Đúng

giờ nổ, trong lúc khán giả đang mê say theo dõi trên màn bạc, bốn chị
làm ám hiệu cho nhau, cùng rút chốt lựu đạn, hất ngược vũ khí về
phía các hà ng ghế thượng hạng đằng sau mình. Mấy tiếng nổ long
trời lở đất. Xác bọn sĩ quan Pháp nằm la liệt, máu chảy thành vũng.
Hai chục tên chết, 50 tên bị thương. Địch đã phải đem xe đến chở xác
cả mấy tiếng đồng hồ. Kết quả trận đánh đã làm bọn địch ở Sài Gòn
kinh hãi và dư luận báo chí bên Pháp xôn xao bàn tán rất nhiều.
Nếu trận đánh lựu đạn rạp Ma-giét-xtích là một trận đánh bố
trí chu đáo chì năm 1950 vụ ám sát tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e trên đường
phố lại là một trận kiểu mẫu tên thực dân cáo già sống ở Việt Nam
khá lâu, một gián điệp cao cấp lợi hại của bọn thực dân thời ấy. Giết
hắn là một yêu cầu trước mắt của ta. Đối với một tên cáo già đầy
cảnh giác, việc hạ thủ hắn không giản đơn. Các chiến sĩ Quyết tử
quân Sài Gòn của ta đã có lần giết hụt hắn. Từ sau lần đó hắn càng
đề phòng chu đáo hơn. Các quyết tử quân của ta vẫn bám sát hắn,
quyết tâm diệt cho được tên cáo già. Sau một thờ i gian theo dõi
nghiên cứu, nắm được nhữ ng quy luật đi lại mới của Đơ-la Sơ-vrôchie,
nhất là những lần hắn từ "khá ch sạn Công-ti-năng-tan" ra xe
hơi về nhà. Một kế hoạch chiến đấu được vạch ra thật tỉ mỉ. Rút kinh
nghiệm lần trước, lựu đạn các quyết tử quân ta sử dụng lần này được
cắt ngắn ngòi để có thể nổ ngay trong 2-3 giây đồng hồ. Đúng theo kế
hoạch, khi tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e xuất hiện ở cửa khách sạn lên xe ra
về, các chiến sĩ quyết tử của ta đoạt một xe hơi của sứ quán Mỹ đậu
gần đó đuổi theo.
Trên xe của sứ quán Mỹ, ngoài chiến sĩ lái xe còn có một quyết
tử quân làm nhiệm vụ liệng lựu đạn sang xe tên cáo già và một người
nữa thủ một tiểu liên để bắn khống chế bọn cảnh sát trên đường.
Trong khi đó ở góc đường Et-xpa-nhơ và Pôn-lăng-si một tổ quyết tử
quân của ta, trang bị lựu đạn ở lề đường, nổ máy thường trực để yểm
trợ và chờ đón các chiến sĩ chủ công của ta. Khi xe tên Đơ-la Sơ-vrôchi-
e đến ngang trụ sở Tòa Đô chính Sài Gòn thì xe của quân ta vượt
ngang xe hắn. Một việc mà tên cáo già không ngờ đến là một trái lựu
đạn đã từ chiế c xe mang biển sứ quán Mỹ ấy tung qua xe hắn. Một
tiếng nổ long trời. Xe quân ta đã vượt khỏi xe hắn và rút lui theo kế
hoạch đã định. Chiếc xe của tên thực dân bị mấ t đà loạng choạng rồi
gục bên lề đường. Tên Đơ-la Sơ-vrô-chi-e lần này đã đền tội, kết thúc

cuộc đời mấy chục năm tội ác của hắn ở Đông Dương. Bọn cả nh sát
trên đường phố nghe tiếng nổ đã hết hồn tán loạn chạy trốn.
Chiến công nối tiếp chiến công, những chiến sĩ cảm tử của Sài
Gòn đã tung hoành trong sào huyệt địch để tiêu diệt chúng, góp phần
vào thắng lợi hiển hách của cả dân tộc ta, đánh bại bọn thực dân xâm
lược Pháp.
(Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh - NXB SGGP - 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC XUỐNG ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH
SINH VIÊN NGÀY 9/1/1950
Vừa bước vào những ngày đầu năm 1950 không khí đấ u tranh
đã bắt đầu sôi sục. Công nhân bãi công. Người buôn bán bãi thị. Họ c
sinh một số trường bãi khóa đòi bọn cầm quyền phải giải quyết
những yêu sách thiết thân. Hoảng sợ, bọn xâm lược Pháp và ngụy
quyền tay sai đã phải đóng cửa các trường học. Chúng sợ học sinh tập
trung. Học sinh đã nhiều lần đưa kiến nghị đò i chúng mở lại cửa
trường, nhưng chúng chỉ hứa suông. Phải xuống đường, dùng bạo lực
chính trị buộc quân thù nhượng bộ. Và sáng ngày 9-1-1950 hàng
ngàn học sinh các trường trung họ c Sài Gòn đã tập trung trướ c cửa
Nha học chinh đòi tên Nguyễn Thành Giung, giám đốc Nha phải mở
lại cửa trường. Giung lẩn tránh và sau đó hứa sẽ báo cáo lên "cấp
trên" của hắn. Thế là đội ngũ chỉnh tề, học sinh kéo nhau lên dinh
Thủ Hiến Nam phần. Đoàn biểu tình đi đến đâu thì phụ huynh họ c
sinh, công tư chức, người buôn bán bỏ việc đi theo hỗ trợ cho con em
mình đến đó.
Đoàn biểu tình đã vượt qua nhiều hàng rào cảnh sát nhiều
chướng ngại vật để đến dinh Thủ Hiến. Đến ngang tòa Đô chính đã 8
giờ. Cảnh sát được tăng cường hùng hổ chặn đoàn người lại. Học sinh
liền tổ chức thành các đội xung kích chọc thủng hàng rào cảnh sát để
tiến lên. Một cuộc xô xát dữ dội. Sẵn đống đá sửa đường anh em học
sinh dùng là m võ khí. Công nhân, công chức trong tòa Đô chính đổ ra
đường chuyển đá cho anh em, cuộc chiến đấu rất ác liệt. Đã có một số
học sinh bị bắt và một số khác bị thương đoàn người vẫn quyết tâm
vượt lên phía trước.
Tại dinh Thủ Hiến anh em buộc chúng phải cứu chữa số bị
thương, mở lại cửa trường cho học sinh đi học, chấm dứt khủng bố
học sinh và trả tự do cho những người bị bắt. Bọn cầm quyền cho
đóng cổng dinh và chuẩn bị đối phó. Lực lượng cảnh sát của chúng

được lệnh tăng cường. Học sinh quyết siết chặt hàng ngũ tụ lại trướ c
dinh. Các biểu ngữ nêu yêu sách của học sinh được giương lên. Từng
chập, từng chập các khẩu hiệ u được hô lên vang dội, làm áp lực đòi
tên Thủ hiến phải tiếp đại biểu học sinh. Người ta đổ đến càng lúc
càng đông, vừa tiếp sức đấu tranh, vừa gồng gánh món ăn, thức uống
đến phân phát cho anh em. Không khí thật náo nhiệt. Thế của quần
chúng dâng lên cao.
Cuối buổi, tên chánh Văn phòng Thủ hiến ra tiếp xúc với họ c
sinh, mời một số đại biểu học sinh vô dinh thương lượng. Để hỗ trợ
cho đoàn đại biểu và uy hiếp tinh thần bọ n ngụy quyền, học sinh bên
ngoài không ngớ t hô khẩu hiệu vang cả một góc trời. Nửa giờ sau
đoàn đại biểu trở ra thông báo kết quả thương lượng. Cá c yêu sách đã
được chấp nhận: trường học sẽ mở cửa lại, các trường hợp anh em bị
bắt sẽ được xem xét. Anh em đòi phải có văn bản, phải thả ngay số
học sinh bị bắt, anh em mới giải tán. Bọn địch ngoan cố không chịu
cam kết. Học sinh quyết lại tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi. Lều
vải được dựng lên trên bãi cỏ ngoài cửa dinh để anh em nghỉ trưa lấy
sức.
Sự việc đã được báo lên tên tướng Săng-xông, lúc đó là ủy viên
Cộng hòa Pháp tại Nam phầ n. Hắn chỉ thị không nhượng bộ. Chiều
hướng cuộc thương lượng thay đổi đột ngột. Khoảng 3 giờ chiều, binh
lính và cảnh sát võ trang được tăng cường thêm. Hàng ngũ học sinh
vững chãi hơn, đúng 3 giờ 47 phút địch từ trong dinh bất thần nổ
súng vào đoàn học sinh và hàng trăm binh lính cảnh sá t tung cửa
xông ra. Dù i cui giáng xuống như mưa. Những cuộc vật lộn, những
cuộc đuổi bắt diễn ra, nhiều em học sinh ngã xuống và được đồng bào
dìu về nhà băng bó. Một số khác bị bắn chết và mất xác. Trần Văn Ơn
bị thương nặng kịp thời được đưa vào nhà thương Chợ Rẫy. Số còn lại
nhanh chóng tập họp thành đội ngũ kéo về khu chợ Bến Thành hô
vang khẩu hiệu "Đả đảo bọn khủng bố giết người!" "Đả đảo thực dân
Pháp" "Đả đảo bọn Việt gian bán nước" "Tinh thần đấu tranh của học
sinh bất diệt".
Máu của học sinh đã đổ, uất hận dâng cao. Cuộc đấ u tranh đã
chuyển sang một thể mới, quyế t liệt hơn, rộng rãi hơn của những
ngày tiếp đó.
(Theo sách - SG-TPHCM NXB SGGP tái bản 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG MỸ 19/3/1950
Những cơn bão táp đầu năm 1950 báo hiệu sự sụp đổ của giặc
Pháp ở toà n cõi Đông Dương. Trước thế yếu đó của giặc Pháp, đế quốc
Mỹ thừa dịp nhảy vào. Chú ng đã cho hai chiếc chiến hạm vào cập bến
cảng Sài Gòn. Rõ ràng là một hành động khiêu khích láo xược của đế
quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Nhân dân Sài Gòn tức thì tỏ thái độ.
Một kế hoạch đấu tranh chu đáo đã được vạch ra.
Đêm 18 rạng 19-3-1950, bọn Mỹ - Pháp hí hửng mở tiệc chiêu
đãi nhau trên tàu. Bất đồ một loạt đạn súng cối từ vùng Thủ Thiêm
đối diện với quân cảng rót xuống đúng chỗ hai chiến hạm Mỹ. Một số
thiết bị trên tàu bị hư hại. Đấy là lời cảnh cáo đanh thép đầu tiên của
nhân dân Sài Gòn. Ai cũng nức lòng phấn khởi.
Sáng sớm ngày 19-3-1950 quần chúng đủ các giới từ khắp nơi
tấ p nập kéo đến trường Tôn Thọ Tường cạnh chợ Bến Thành để nghe
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó là trưởng phái đoàn các giới, nói
chuyện và sau đó sẽ diễn hành chống Mỹ.
Địch chuẩn bị đối phó, tên cảnh sát trưởng Trần Văn Tư đứng
ra chỉ huy. Hà ng mấy trăm tên nai nịt gọn gàng, lập thành một vòng
đai ngăn không cho đồng bào đổ vào sân trường. Nhưng đồng bào đã
tổ chức từng mũi xung kích phá đứt từng đoạn cảnh sát tràn vào.
Địch tăng viện. Hàng chục xe lính viễn chinh và cảnh sát Pháp
đeo mặt nạ kéo đến cổng trường ồ ạt đổ quân xuống. Tình hình trở
nên cực kỳ căng thẳng, nhưng cũng chỉ một loáng, bốn tầng gác của
trường Tôn Thọ Tường đã đầy ắp người. Biểu ngữ đã nhanh chóng
xuất hiện ở khắp các tầng. Người ta thấy khẩu hiệu của công nhân
các hãng Brốt-xa Mô-panh, BGI. Mi-tắc, Luy-xi-a, Ba-xtô, nhà đèn
Chợ Quán, Hỏa xa Sài Gòn, biểu ngữ của công chức Bưu điện, Tòa Đô
chính, sở Công chính, sở Địa chính, Đông Dương ngân hàng. Người ta

còn thấy biểu ngữ các khu phố, các chợ... Dường như không xí nghiệp
nào, không cơ quan nào thiếu mặt.
Rồi một khẩu hiệu lớn nhứt, nổi nhứt, chữ vàng trên nền đỏ "Đả
đảo bọn can thiệp Mỹ!" xuất hiện. Một việc nữ a mà không ai ngờ: trên
tầ ng gác cao của nhà trường xuất hiện một lá cờ đỏ sao vàng chói lọi,
phần phật tung tay trướ c gió. Quần chúng hoan hô dậy trờ i. Những
lồng ngực như muốn vỡ ra. Cả sân trường như muốn bung rộng.
Hàng loạt khẩu hiệu được hô lên:
Đả đảo bọn can thiệp Mỹ! Đế quốc Mỹ cút đi! Đả đảo bọn thực
dân Pháp cướp nước! Đả đảo bọn Việt gian bán nước! Tinh thần đấu
tranh bất khuất của nhân dân Việt Nam bất diệt!
Một người hô, cả vạn, cả chụ c vạn ngườ i đáp lại như sấm động
cả một góc trời. Thế rồ i từ trên các tầng gác, cả ngàn, cả vạn cờ bươm
bước đỏ chói óng ánh sao vàng được tung xuống. Bọn cảnh sát ngụy
hoảng sợ dãn ra, bọn lính và cảnh sát Pháp đeo mặt nạ ào tới ném
hàng trăm lựu đạn cay vào giữa đám đông. Khói tỏa mịt trời. Như
một làn sóng, quần chúng tràn ra cửa. Và chỉ cũng trong có mấ y phút
đoàn ngườ i đông đảo cũng đã thoát ra hết cổng sau tập trung trên
đường Cô-lô-nen Gri-mô. Đa số là thanh niên quần xanh sơ mi trắng,
lập tức ba cây cờ đỏ sao vàng lớn, lớn lắm, được giương lên dẫn đầu
đoàn biểu tình chống Mỹ. Đoàn tiến về phía chợ Bến Thành chia
thành nhiều cánh kéo qua các đường Bô-na, E-spa-nhơ, La-grăng-đie,
Véc-đoong v.v... Mỗi cánh có hàng vạn người, đi đến đâu quần
chúng trên đường trên phố lại nhập thêm vào đến đấy. Riêng ở chợ
Bến Thành quần chúng các ngả tới tấp đổ vào Bồn binh chận xe Pháp
lại. Một xe nhà binh có dăm bảy tên lính Pháp đi chợ lấy thực phẩm
bị quần chúng cản lạ i. Tên Pháp lái xe hoảng hốt, lạ c tay lái leo lên
cả lề đường, xe nghiêng hẳn mộ t bên. Bọn lính Pháp hết hồn nhảy ào
xuống co giò chạy biệ t. Xe bị đốt cháy rụi.
Trong phú t chốc hàng trăm chướng ngại được dựng lên bằng
ghế đá, bàn ghế, cánh cử a, bằng xác xe hơi. Quần chúng chặn cả một
đoàn xe lửa chở củi từ cảng về ga, quăng củi xuống đường, võ trang
cho đoàn người tự vệ.

Bọn lính Pháp đeo mặt nạ đã lại từ trường Tôn Thọ Tường kéo
đến Bồn binh liên tiếp ném lựu đạn cay vào quần chúng, có cả tiếng
súng nổ. Đồng bào khiêng chum, vại, thùng ra đường đổ đầy nước lã,
đem hàng chồng khăn mặt cho anh chị em thấm nước lau mắt chống
khói lựu đạn. Ai cũng bỏ cả việc nhà tham gia chiến đấu và phục vụ
chiế n đấu.
Quầ n chúng làm chủ tình hình ở Bồn binh từ sáng đến gần
trưa. Các đoàn ở các cánh khác vẫn rầm rập kéo đi trên mấy đường
phố lớn Bô-na, E-xpa-nhơ, Ca-ti-na. Qua mấy công sở có treo cờ Pháp
và Mỹ, quần chúng leo lên giựt cờ xuống xé nát.
Trước tòa Đô chính có chiếc xe gíp chạy ngang đoàn biểu tình,
trong xe tên sĩ quan Pháp - sau này mới biết hắn là tên thiếu tá Peri-
ơ - dám láo xược thò tay giựt cây cờ của ta xuống. Lập tức quần
chúng chặ n xe hắn lại. Anh em vọt lên xe lôi cổ hắn xuống. Mấ y nhát
dao găm đã kết liễu đời hắn. Chiếc xe của hắn bị lật ngược và đốt
cháy tại chỗ. Trên đường Sác-ne, một số thủy thủ Mỹ dưới tàu lên bờ
chơi nghênh ngang trên hè phố liền bị quần chúng rượt đánh cho
chúng một trận tơi bời. Chúng co giò tháo chạy xuống tàu, đóng cửa
và rút thang trốn biệt. Ngay chiều hôm ấy - 19-3-1950 - hai chiến
hạm Mỹ đã nhục nhã kéo neo cút thẳng, hủ y bỏ cả chương trình thăm
viếng tiệc tùng đã dự định.
Ngày 19-3 đã được chọn làm Ngày toàn quốc chống Mỹ. Vớ i khí
thế của những ngày 9-1, 12-1, 19-3 nhân dân Sài Gòn tiếp tục đấu
tranh chống khủng bố đàn áp chống bắt bớ giam cầ m những người
yêu nước. Hà ng loạt các cuộc đình công, đòi tăng lượng, giảm giờ làm,
chống phạt vạ, chống cúp lương diễn ra liên tục nổi bật nhất là cuộ c
bãi công ngày 18-1950 của công chức các sở Ngân khố, Công chính,
Bưu điện, Ngân hàng, Đô chánh.
Nhân dân Sài Gòn đã từng sống những ngày sôi động nhất và có
quyền tự hào chính đáng với những thành tích của mình.
(Theo sách SG TP. HCM - NXB SGGP tái bản 1975)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC ĐÀN ÁP CỦA THỰ C DÂN PHÁP
TRONG NAM KỲ KHỞI NGHĨA
Đế quốc Pháp mong muốn dập tắt cuộc nổi dậy của nhân dân
Nam Kỳ từ trong trứng nước. Nhưng không xong, cuộc khởi nghĩa
vẫn cứ bùng nổ khắp các tỉnh! Chúng đã thẳng tay trấn áp, dìm cuộc
khở i nghĩa của nhân dân Nam Kỳ trong biển máu. Ngày 23-11, toàn
quyền Đông Dương đã gửi điện khẩn mật, ưu tiên tuyệt đối, cố 5306
cho các cấp dưới:
"Tôi yêu cầu kiên quyết thi hà nh ngay tức khắc bằng tất cả
những biện pháp nghiêm ngặt, để tránh lặp lại những sự cố như đã
xảy ra ở Nam Kỳ".
Kinh nghiệm những sự kiện cộng sản năm 1930 - 1931 mà một
số cuộc biểu tình mang dáng dấp như đã nổ ra ngày 23-11.
"Các ngài hãy dùng quyền lực và an ninh thi hành ngay tứ c
khắc những biện pháp có hiệu lực. Cần phải đuổi những tên cầm đầu
quân phiến loạn Nam Kỳ và bắ t chú ng không thương tiếc và những
tên đã bị giam giữ tuyệt đối không cho liên lạc với bên ngoài..."
Hai ngày sau y điện (số 5323) tiếp:
"... Việc đàn áp phải tiến hành hết mức. Yêu cầu sử dụng rộng
rãi quân đội và hải quân... cho đến khi nào làm chủ hoàn toàn tình
thế".
Ngày 1-12, y lại điện (số 5489) nhắc Thống đốc Nam Ky õ"...
Cần dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn
phiến loạn".
Từ ngày 10 tháng 12 năm 1940, đích thân Toàn quyền đi "kinh
lý" các tỉnh có quần chúng nổi dậy, trong đó có Gia Định, Chợ Lớn, để
chỉ huy trực tiếp việc đàn áp.

Tuyên bố công khai trên báo chí, Decoux nói như sau: "Cuộc bạo
động ấy (Nam Kỳ khởi nghĩa) cá c ngươi vẫn biết là của cộng sản gây
ra, nó đã bị đàn áp thẳng tay tức thì, vì cần phải như vậy.
Bổn chức đã chẳng dung thứ và cũng chẳng hề dung thứ trong
tương lai cho một nhóm người phản nghịch nào cả gan quấy rối Xứ
này là Xứ đã giao cho bổn chức giữ cuộc trị an".
Thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh thiết quân luật, huy động hải,
lục, không quân, toàn bộ mật thám, cảnh sát, khố xanh, lính làng...,
dùng vũ khí hiện đại, kể cả xe tăng, tàu chiế n, máy bay, đàn áp cuộ c
nổi dậy của quần chúng hầu như chỉ bằng tay hoặc với vũ khí thô sơ.
Đế quốc Pháp cho đốt làng, đốt rừng, thả sức bắn giết, hãm
hiếp, bắt bớ ném vào các nhà tù, các trại tập trung, không đủ chỗ thì
trưng thu kho, cá c xà lan ở Cảng Sài Gòn để giam giữ...
Tên cò E. Bétaille Trưởng đồn Bà Điểm như điên như dại gặp ai
bắn nấy, giết người xong, cắt tai xỏ xâu mang đến tỉnh lỵ Gia Định để
khoe "chiến tích" không thua gì bọn phát xít Hítle đang gây tội ác
trên đất Pháp và châu Âu.
Riêng khu vực bao gồm các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa,
Tây Ninh, Thủ Dầu Một, nhưng chủ yếu là ở Gia Định, Chợ Lớn từ
ngày 23-11 đến 31-12-1940 theo báo cáo chính thức của Thống đố c
Nam Kỳ thì chúng đã bắn 903 người chưa kể số chúng đã bắn giết, bị
thương tại chỗ và số còn càn quét bắt sau ngày 31-12-1940. Đây là
căn cứ báo cáo chính thức củ a Thống đốc Nam Kỳ, thậ t ra số này còn
xa sự thật.
Chú ng đã đánh chết đồng chí Tạ Uyên trong tù. Chú ng đã xử tử
cả những đồng chí bị bắt trước khi có chủ trương về khởi nghĩa như
các đồng chí Nguyễ n Văn Cừ, Hà Huy Tập...
Chú ng đã xử tử:
Ở Ngã Ba Giồ ng (Hóc Môn): Đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí
thư Đả ng; Đồng chí Phan Đăng Lưu - Ủy viên Thường vụ Trung
ương. Ở Giế ng nước (nay là bệnh viện Hóc Môn): Đồng chí Hà Huy
Tập nguyên Tổng Bí thư; Đồng chí Võ Văn Tần - Ủy viên Trung ương;
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến - Ủy viên Trung ương; Đồng chí Nguyễn

Thị Minh Khai - Xứ ủy viên kiêm Bí thư Thành ủy. Ở thị trấn (rạp
hát Hóc Môn): Đồng chí Phạ m Văn Xứng - Bí thư Huyện ủy; Đồng chí
Đặng Công Bỉnh - Chỉ huy khởi nghĩa huyện Hóc Môn. Ở tại chợ Hóc
Môn: Phạm Văn Thêm, ngườ i Tân Phú Trung (Gia Định); Trần Văn
Đức, người Tân Phú Trung (Gia Định); Võ Văn Kiết, ngườ i Mỹ Thạnh
Chợ Lớn, nhưng ở Tân Phú (Gia Định); Nguyễn Văn Luân, Tân
Thông (Gia Định). Ở tại Đức Hòa: 29 người. Ở tại sân banh Cần
Giuộc: Đồng chí Nguyễn Thị Bảy...
Ngoài ra, hàng mấy nghìn người giam tại Khám Lớn; kho
Rondon (Rông đông), Cảng Khánh Hội, nhà thương Chợ Quán,
Lazaret Nhà Bè (tù có bệnh truyền nhiễm); Phú Mỹ (giam phụ nữ)...
trung bình một ngày chết 20 người, ròng rã mấy tháng, do bị đánh
đập tra tấn, do thiếu ăn, mắc các bệnh truyền nhiễm ác tính như hoại
thư, ho lao... và chết lần mòn.
Trong khi bọn đế quốc và phản động thuộc địa Pháp chồng chất
bao nhiêu tội ác, thì Đảng Cộng sản Pháp và nhân dân tiến bộ Pháp
luôn luôn sát cánh với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, nhất là
trong những thời điểm nguy nan, đen tối. Nếu bức thư của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp gửi cho nhân dân 3 nướ c
Đông Dương hồi 28-1-1941 có sức động viên cổ vũ to lớn đối với Đảng
và nhân dân đi và o thời kỳ khốc liệt của chiến tranh, sau khi Pháp
đầu hàng phát xít Đức, thì bức thư của Đảng Cộng sản Pháp gửi cho
Đảng ta sau khi cuộ c khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong biển máu đã
tiếp thêm sức mạnh kỳ diệu cho Đảng và dân tộc ta.
Cùng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (ngày 27-9-1940) và cuộc
khở i nghĩa Đô Lương (tháng 1-1941), cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày
23-11-1940 "là những tiếng sú ng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn
quốc là bước đầu đấ u tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương".
Mặc dù Đảng bộ Nam Kỳ trong đó có Đảng bộ Thành phố bị tổn thất
nặng nề về tổ chức và nhân sự, nhưng qua Nam Kỳ khởi nghĩa, đảng
viên và quần chúng cách mạng được thử thách, tôi luyện và trưởng
thành. Từ Nam Kỳ khởi nghĩa đã rút ra được những kinh nghiệm quý
báu về đấu tranh bằng bạo lực rất cần cho giai đoạn tiến tới tổng khởi
nghĩa giành chính quyền tại thành phố.
(Theo sách Lịch sử Đảng bộ TP. HCM - NXB TP. HCM 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
CẦU KHO
Cầu Kho là tên cây cầu bắc ngang qua con rạch ăn vào kho Giản
Thảo, còn gọi là kho Cẩm Đệm do chúa Nguyễn đặt ra từ 1741, một
trong chín kho ở rải rác vùng Đồng Nai - Cửu Long. Nhưng kho Giản
Thảo củ a Bến Nghé lần hồi trở thành quan trọng, đến năm 1788 mở
rộng để chứa lúa thâu từ bốn trấn của đất Gia Định, kể luôn đồng
bằng Cử u Long (Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên nạp vào kho Vĩnh Long).
Năm 1805, kho này tu bổ và mở thêm sáu dãy lợp ngói, thờ thần
Tư Thương, hằng năm khi thâu thuế hoàn tất có lệ bày tế lễ.
Trên bản đồ Trần Văn Học năm 1815, kho Cẩm Thảo được vẽ rõ
rệt, hình vuông, sông rạch bao bọc như một cù lao. Một phía, rạch
Vàm Bến Nghé, ba phía kia là rạch Bến Chiếu ăn qua rạch Bần rồi
chảy trở lên rạch Bến Chùa. Gọi Bến Chiếu vì có nhà vựa chiếu lát.
Bến Chùa đổ lên vùng cao Tân Triêm của chùa Kim Chương. Rạch
Bần với bãi bùn, "Nơi Chợ Lớn trải tới Cầu Thương, quân mọi rợ lẫy
lừng nên quá lắm" (Cầu Thương là Cầu Kho, thương lẫm. Bài phú
Gia Định thất thủ). Thoạt tiên, bọn cầm quyền đặt tên vù ng Cầu Kho
là Nhơn Hòa ấp, Nhơn Hòa phố, đến cuối năm 1865 gọi Nhơn Hòa xã.
Phía Bắ c của Nhơn Hòa giáp làng Thái Bình (tên mới, gồm một phần
làng Tân Triêm cũ). Ăn vào Chợ Lớn là làng Tân Hòa rồi đến vùng
Chợ Quán (làng Nhơn Giang do tên cũ Giang trạ m Tân Lộc phường).
Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn ngoài đường thủy, từ xưa sẵn có đường
bộ, thực dân chỉnh đốn lại, rộng hơn. Đồng bào gọi đường trên (Võ
Tánh cũ, nay là Nguyễn Trãi chạy tới Cây Mai) và đường dưới (theo
sát bờ sông).
Năm 1879, để nghiên cứu thành lập đoạn đường xe lửa ngắn
(sau là xe điện) chở hành khách từ Sài Gòn đến Chợ Lớn. Nhân viên
công chánh đếm thử các lượt xe qua lại trong một ngày từ 6 giờ sáng

đến 7 giờ tối để ước lượng mức độ rộn rịp, dùng những con số ấy làm
bài toán về khả năng khai thác thương mãi.
Xe kiếng ở Đường trên 325 chuyến; Đường dưới 384 chuyến Xe
xong mã ở Đường trên 108 chuyến; Đườ ng dưới 86 chuyến Xe bò ở
Đường trên 121 chuyến; Đường dưới 15 chuyến Người cỡi ngựa ở
Đường trên 25 chuyến; Đường dướ i 24 chuyến
Không phải người Việt nào cũng tìm đất, cất nhà ở Cầu Kho
được. Phải là thương gia, công chức của Tân trào, là điền chủ có
ruộng vườn ở Cần Giuộc, Gò Vấ p hoặc phía Chánh Hưng, Tân An. Họ
đến Cần Kho tìm tiện nghi, hưởng thụ, chờ cơ hội. Một số khai thá c
ngành đóng xe ngựa, cho mướn. Cơ hội gì? Còn chút lòng yêu nước, sĩ
khí, họ chờ sức mạnh của Triều đình Huế ; bấy giờ miề n Trung, miền
Bắc chưa bị Pháp chiếm.
Bầu không khí chính trị ở vùng Cầu Kho trở nên sôi động khi
hiệp ước 1874 lại ký kết giữa Pháp và Triều đình Huế. Nhượng đứ c
sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Pháp đặt tòa lãnh sự ở các cửa biển và
thành thị như Quy Nhơn, Huế, Hải Phòng. Triều đình đặt tòa lãnh sự
ở Sài Gòn và Paris. Ngoài hiệp ước nói trên còn thương ước quy định
thủ tục mua bán giữa hai nước, ký ngày 31-8-1874.
Nguyễn Văn Tường chỉ muốn đặt tòa lãnh sự ở Nam Kỳ.
Nhiệm vụ tòa lãnh sự là binh vực quyền lợi cho người dân từ
Bắc, Trung vào mua bán, khi gặp trường hợp phạm pháp, tòa lãnh sự
được quyền can dự vào để xem hình thức pháp lý có được giữ đúng
không. Người Pháp hoặc người Âu, ngườ i dân cư trú ở Nam Kỳ, tàu
thuyền ra Trung, Bắc cần được chánh quyền Sài Gòn và lãnh sự Việt
Nam ở Sài Gòn kiểm nhận trước.
Tòa lãnh sự của Triề u đình hoạt động từ cuối năm 1874 đến
giữa năm 1883, non chín năm. Suốt thời gian khá dài này, chức vụ
lãnh sự giao cho Nguyễn Thành Yý. Nguyễn Lập chỉ thay thế khi
Nguyễn Thành Yý vắng mặt sang Pháp dự cuộc đấu xảo. Chức vụ phó
lãnh sự do Phan Khiêm Iích giữ nhiều năm hơn Trần Doãn Khanh.
Nguyễn Thành Yý quê ở Quảng Nam, đậu cử nhân; từng làm quan ở
Định Tường, Pháp đánh Sài Gòn vào lúc Nguyễn Thành Yý làm Tri
phủ coi phủ Tân Bình (Sài Gòn, Chợ Lớn, Hóc Môn) nên am hiểu

nhiều tình hình và quen thuộc nhiều nhân sĩ, có người đang cộng tá c
với giặc như Tôn Thọ Tường. Tên Tổng đố c Phương, phủ Trần Tử Ca
đều là thuộc hạ nhỏ bé của Nguyễ n Thành Yý về miền Trung, giữ
chức hải phòng ở Quảng Nam. Phan Khiêm Iích quê ở Biên Hòa đang
giữ chức Chủ sự bộ binh.
Tòa lãnh sự Việt Nam hoạt động ngay sau khi ký hiệp ướ c, trụ
sở đặt tại Đường dưới (Bến Chương Dương ngày nay) vào khoảng gó c
đường Đề Thám về phía rạch Bần. Nhà trệt, khang trang, có nơi cho
quân hầu trú ngụ, có chuồng nuôi ngựa. Khi ra ngoài thì dùng xe
song mã, phương tiện sang trọng nhất bấy giờ. Về mặt nổi, vào tháng
12-1878, tòa lãnh sự mượn tàu Tây chở gạo ra giúp nạn bão lụt ở
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Năm 1883, nhiều người từ Quảng
Ngãi theo ghe buôn vào đất Gia Định để mưu sinh, sống bềnh bồng.
Bọn Pháp bắt giao trả hơn trăm người, tòa lãnh sự lo chu cấp cho họ
về quê. Từ tháng 8-1874, Nguyễn Thành Yý vội đến Sở Ba Son tìm
một số thợ có tay nghề để mộ về Huế làm việc cho Triều đình. Năm
người thợ trẻ, tay nghề khá xin với nhà cầm quyề n Pháp để đi Huế.
Trong tình hình bấy giờ, hành động rời quê nhà mà không biết rõ
lương bổng quả là tích cực yêu nước. Thực dân chỉ điều tra lý lịch hai
thợ tiện, hai thợ đúc, một thợ chuyên làm ống tuy-dô, hai thợ máy rồi
chuẩn y. Những năm sau, thỉnh thoảng có ngườ i từ Huế, Đà Nẵng
vào học nghề coi máy tàu thủy, họ c chữ Pháp, cách sử dụng máy điện
tín, ngành chích ngừa bệnh dịch. Phía người Pháp yêu cầu Triều đình
cung cấp vài thợ giỏi về nghề cẩn xà cừ, là m sơn mài.
Theo sự nhận xét của bọn mật thám Sài Gòn thì hoạt động gây
rối của tòa lãnh sự xuất phát từ địa bàn Cầu Kho, nơi thuận lợi về
nhân tâm. Rồi liên lạc lên Gò Vấp, nơi người Việt tập trung đông đảo,
đủ ăn, lại có nhiều trí thức khoa bảng, hoặc trở qua Vĩnh Hội, gần
thương cảng. Các tỉnh mà tòa lãnh sự thường liên lạc là Gò Công,
Biên Hòa nơi hiệp ướ c 1862 quy định các lăng họ Phạm (mẹ Tự Đức),
họ Hồ (mẹ Thiệu Trị) phả i được tôn trọng, những người giữ lăng do
Triều đình trực tiếp trả lương bổng, lạ i còn những dịp cúng giỗ cũng
do Triều đình đài thọ. Bà con xa gần của hai họ nói trên khá đông
đảo, gọi là thích lý, quan làng địa phương phần nào cũng nể nang.
Nho sĩ, điền chủ, hương chức làng từ hai tỉnh nói trên thường ra
vào tòa lãnh sự ở Cầu Kho. Nhiều nho sĩ, quan lại ở Quảng Ngãi,

Bình Định, Huế được tòa lãnh sự bảo đảm cho vào Nam, lưu trú vài
tháng để chịu tang cha mẹ, bán đất ruộng, thăm dòng họ . Thực dân
đồng ý nhưng bực dọc, cho đó là những tay đột nhập vào Nam để loan
tin thất thiệt, bày lạc quyên rồi phát bằng cấp; giấy chứng nhận về
chức vụ thường là đội quản - phát cho người chịu hoạt động, khi việ c
lớn thành công sẽ được ưu đãi. Văn phòng tòa lãnh sự mua báo chữ
Pháp ở Sài Gòn, nhờ dịch lại, gởi về Huế. Viên lãnh sự thường tớ i lui
tòa lã nh sự Đức ở Sài Gòn, nói chuyện kín đáo nhiều lần, bọn mật
thám phỏng đoán Triều đình Huế muốn nhờ lãnh sự Đức làm trung
gian mua súng đạn chở thẳng vừ Hương Cảng đến Huế (bấy giờ , ở Sài
Gòn bọn đại diện thương mại người Đức mở tiệm bán súng săn, súng
lục). Tên mại bản ngườ i Hoa theo quốc tịch Anh là Tan Keng Ho
thường tớ i lui gặp viên lãnh sự ở Cầu Kho, thự c dân đoán chừng hắn
bắt mối mua súng chở từ Singapore thẳng ra Huế; hai người thường
đi chung xe song mã. Cũng trong những năm 1879, 1880 viên lãnh sự
Anh và tên mại bản thân tín của tòa lãnh sự ấy đến Cầu Kho nhiều
lần. Bọn mật thám suy luận rằng họ gặp gỡ để bàn về việc thực dân
Anh đang vận động thành lập một nước Việt Nam riêng rẻ ở Bắc Kỳ,
chận đầu kế hoạch mà Pháp sắ p thực hiện cho bằng được, sau vụ
đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhấ t. Thực dân Anh không bằng lòng cho
lắm khi thấy bọn Pháp đặt nền bảo hộ ở Cam-pu-chia và khai thác
cảng Căm-pốt (Cần-vọt), gần cảng Băng-cốc mà ngườ i Anh đang kiểm
soát. Hải Phòng và Hà Nội nếu lọt vào tay Pháp thì sẽ sức mẻ thanh
thế của Hương Cảng phầ n nào. Vả lại, Bắc Kỳ già u mỏ than đá, thứ
nhiên liệ u quan trọng mà tàu bè xí nghiệp chạ y bằng máy hơi nước
đang cần đến. Từ năm 1879, tên phiêu lưu chính trị Lê Bá Đảnh đã
ngấm ngầm đóng vai con bài để cho bọn thực dân Anh đánh sau lưng
thực dân Pháp. Lê Bá Đảnh quê ở Nghệ An, vào Thủ Dầu Một làm ăn
trở thành thầy dòng Thiên Chúa, xưng dòng dõi nhà Lê, lúc đầu hắn
được Pháp tin cậy phong chức huyệ n hàm, xưng là huyện Thi hoặc
Po-lux Thi. Lợi dụng vị trí công khai, hắn lân la với bọn lính tập đang
đóng tại trại Ô-ma để mua chuộc, tin rằng số lính ấy sẽ theo chân
quân đội Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhì. Hắ n thường đi Hải Phòng,
Hương Cảng. Việc lớn bất thành, hắn đứng đơn kiện một thương gia
người Anh ở Sài Gòn về tội giựt số tiền lên đến 12.000 đồng mà công
ty Lên-xten của Đức hứa trả nhưng ngườ i Anh nọ không trao cho
hắn. Ai cũng hiểu đây là tiền thù lao mà bọn thực dân phiêu lưu hứa
trả vớ i hình thức hoa hồng thương mại.

Xóm Cầu Kho là m cơ sở cho nho sĩ từ miền Trung vào tạm trú
trước khi đi Vĩnh Long, nơi chí sĩ Nguyễn Thông từng giữ chức Đốc
học. Nguyễn Thông lập Đồng Châu xã tổ chức củ a những người quê
quán ở Nam Kỳ gom ra Bình Thuận để chuẩ n bị lực lượng đánh
Pháp. Đầu năm 1883, bọn mật thám theo dõi viên kinh lịch Mân của
Đồng Châu Xã vào bắ t liên lạc với người của đạo lành, sư sải và một
số cai tổng. Kinh lịch Mân từ Biên Hòa đến Chợ Lớn, xuố ng Cần
Giuộc rồi đi Vĩnh Long (có tài liệu nói rõ Mân làm chức thừa biện và
cũng là Án sát của dinh điền Mâng-thít ở Bình Thuận).
Bọn mật thám Sài Gòn lại thắc mắc khi các vị chánh, phó lãnh
sự thường lui tớ i nhà Trương Vĩnh Ký, Tổng đốc Phương, Huỳnh
Tịnh Của. Vài hộ trưởng của Sài Gò n và Chợ Lớn công khai bày tỏ
cảm tình. Một số thương gia, mại bản liên lạc để làm ăn vì tòa lãnh
sự mua sắm đồ đạc ở Chợ Lớn, với số lượng to mà đưa thường xuyên
ra Huế.
Nhưng thự c dân lại nắm phần chủ động. Thành Hà Nội mất lần
thứ nhì. Năm sau, đại tá Ri-vi-e bị phục kích. Pháp đem viện binh
củng cố Hà Nội, Nam Định. Tòa lãnh sự ở Cần Kho biết những gì sắp
xảy đến. Một số đông nho sĩ, hội trưởng hương chức hội tề gom lại bến
tà u ngày 2-5-1883 đón rước vài quan chức từ Huế vào, được các vị ấy
nhắn nhủ: "Sống là m tướng, thác làm thần". Tên tham biện Đờ-xămpô
gởi phúc trình trong ngày 9 và 10-6-1883 cho Cảnh sát trưởng Sài
Gòn để kết luận rằng lãnh sự Việt Nam đã lạm dụng quyền hạn, lạ c
quyên tiền bạc gởi về Triều đình, loan tin thất thiệt, ủng hộ các hội
kín có mục đích gây loạn. Ở Huế, viên lãnh sự Pháp thấy tình hình
căng thẳng nên đóng cửa, niêm phong văn phòng, rút về Sài Gòn
cùng với tất cả nhân viên.
Ngày 22-6, thống đốc Nam Kỳ ra lệnh trục xuất chánh và phó
lãnh sự Việt Nam, cấm họ trở lại Nam Kỳ, phải rời trong vòng 24
tiếng đồng hồ. Khi chánh và phó lãnh sự, nhân viên và gia đình
xuống tàu về Huế thì khá nhiều hương chức ở Phú Lạc, Đa Phước
(Chợ Lớn), vài hộ trưởng của Chợ Lớn, vài thân hào ở Gò Vấp công
khai đế n gặp, dâng những lá thư chia buồn, tạm biệt. Vài viên chức
nhỏ của tòa lãnh sự xin ở lại Sài Gò n, hoặc về lục tỉnh. Họ tiếp tục
loan tin rằng tình hình sắ p thay đổi, thuận lợi cho Triều đình vì vậy
thực dân hoảng sợ, trục xuất lãnh sự quán. Bấy giờ, tên Việt gian

Nguyễn Đứ c Hạnh từng được bọn mật thám Sài Gòn tin cậy dựng
đứng một âm mưu "khởi loạn". Hắn trưng ra nhiều giấy tờ, bằng cấp
bảo là vừa tịch thu được, chứng tỏ viên phó lãnh sự Phan Khiêm Iích
(đã xin nghỉ việc từ trước) đang cầm đầu một tổ chức bí mật với nhiều
cai tổng, hộ trưởng, thân hào vùng Chợ Lớn, Bà Rịa. Ngày 1-8, thực
dân bắt Phan Khiêm Iích đang dưỡng già tại Biên Hòa và những nhà
tai mắt bị tình nghi. Điều tra xong, thấ y chẳng có gì, chẳng qua tên
Việt gian nọ muốn lập công, tống tiền nên làm giấy tờ giả, đóng ấn
giả để phao vu. Buồn cười nhất là bọn mật thám đã cho giả o nghiệm
những dấu ấn, nét chữ rồi quả quyết là thật, trước khi bắt bớ.
Non một tháng sau khi tòa lãnh sự bị đóng cửa vua Tự Đức mất
(17-7). Thực dân đánh vào cửa Thuận An, uy hiếp kinh đô Huế với
dụng ý nắm phần chủ động, đề phòng nhà vua mới lên kế vị sẽ xin
Trung Quốc phong Vương. Ngày 25-8, hiệp ước ký kết sự bảo hộ của
Pháp lại đặt lên Trung, Bắc Kỳ.
Đáng ca ngợi trong thời kỳ này Phan Văn Trị (Cử Trị), nhà thơ
chiế n đấu từ ng lên án công khai Tôn Thọ Tường ngay lúc hắn còn
nắm chút ít quyền hạn (Tường chết năm 1877, vợ nuôi cơm cho số
người từ Huế vào học kỹ thuật do tòa lãnh sự chịu trách nhiệm). Cử
Trị từng liên lạc với hai viên chức của tòa lãnh sự Cầu Kho. Một
người là ký Toán bị thự c dân theo dõi vì nhiều lầ n tiếp xúc với lính
tậ p trú đóng tại thành Ô-ma, số này sửa soạn đi Bắc Kỳ tham chiến.
Người thứ nhì là Nho từng đi Gò Vấp nhiều lầ n để bày tiệc, tạo cơ hội
bàn chuyệ n chống Pháp (bá o cáo mật thám Sài Gòn ngày 1-7-1883).
Mặc dầu tò a lãnh sự bị giải tán, thự c dân công khai khủng bố nhưng
Cử Trị cũng lặ n lội từ Gò Vấ p (quê quán của ông) đến Sài Gòn để gặp
Nho, nhờ tìm cách liên lạ c với ký Toán, bấy giờ mớ i hay Toán đã trốn
vì thực dân đang tìm bắt khi phát hiện những cơ sở hoạt động mà ông
này tổ chức ở Bà Rịa, Mỹ Tho, Gò Công (báo cáo mật thám Sài Gòn
ngày 29-7 năm 1883). Những sự kiện trên đính chính dư luận cho Cử
Trị chỉ là nho sĩ gàn, say sưa chè chén, thích chửi bừa bãi.
Việc thiết lập tòa lãnh sự Pháp ở Huế, ở Hải Phòng đem lại cho
thực dân nhiều lợi thế hơn là tòa lãnh sự ở Sài Gòn đem lại cho Triều
đình Huế. Bọn Pháp đặt chân công khai lên miền Trung, miền Bắc,
cấu kết với bọn phong kiến đầu hàng, tổ chức dọ thám để làm nội

ứng, tạo điều kiện đánh thành Hà Nội lần thứ nhì rồi tràn ra cá c
tỉnh.
Đành rằng các viên lãnh sự củ a Triề u đình biết lợi dụng vị trí
hợp pháp để vận động giới nho sĩ, dò xét tình hình, liên lạc vớ i bọn
phiêu lưu nước ngoài nhờ mua sú ng nhưng bấy giờ ngân sách Triều
đình đã kiệt quệ, đối với bọn mại bản phiêu lưu thì mẻ làm ăn ấy
không chắc gì đem lợi to. Hơn nữa, thực dân Pháp và thực dân Tây
phương tuy có mâu thuẫn nhưng vẫn cấu kết với nhau. Triều đình
theo đường lối chủ bại, không đủ uy tín lôi cuốn đại đa số nông dân
yêu nước. Quan chức, Nho sĩ đột nhập vào Nam lúc đầu được tin cậy
nhưng lần hồi thì đưa tin quá lạc quan, thất thiệt, một số không nhỏ
lại suy thái cứ lo đi lạc quyên để bỏ túi, hưởng thụ, thậm chí làm
bằng cấp đóng ấn giả để bán cho đồng bào, chưa nói đến trường hợp
làm dọ thám hàng hai giúp thực dân.
Thái độ của thương gia, công chức ở Cần Kho cũng trở thành lộ
liễu khi hay tin quân Pháp chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ. Họ chạy
theo cái lợi trước mắt. Họ bán vàng bạc, bán mấy cổ xe ngựa (lúc
trước sắm cho mướn) để lấy tiền mua hàng hóa chở ra Huế, ra Hải
Phòng, theo chân bọn mại bản. Nhưng họ không đủ sứ c để trở thành
một tầng lớp, một giai cấp gì cả. Họ thử lập công ty thương mãi với
điều lệ hẳn hòi. Trường Hanh công ty do Huỳnh Quang Vị, thông
ngôn tòa án (của Pháp, đã nghỉ việc) đứng điều khiển, được nhà cầm
quyền Sài Gòn chuẩn y. Hoạt động dự tính là đấu thầu những dịch vụ
của Nhà nước, lập kho hàng trong bước đầu ở Sài Gòn, Qui Nhơn
nhằm tranh thương với bọ n mại bản Hoa kiều. Bản điều lệ chữ in, đề
ngày 24-4 năm 1887 chỉ là giấy tờ nó hấp hối từ trong trứng nước mặc
dầu gom được số vốn 9.000 đồng (bấy giờ vàng 40 đồng một lượng).
Xin trích lại nguyên văn vài lời lẽ trong điều lệ: "Người trong công ty
hội tính cùng nhau không cho đàn bà dự vào, không đặng chơi cờ
bạc". "Những người trong công ty ăn ở cho thuận hòa cùng nhau, như
con một nhà, có điều gì phải giúp đỡ nhau, chẳng ai đặng kiếm sự gì
xấu nói cho người trong công ty khi không có chứng cớ cho đủ, như
hay ra đặng quả là người ấy nó i xấu cho người ta, lần đầu phải phạt
cho công ty, lần thứ hai, sẽ bỏ ra, không cho hùn nữ a".

Hiểu phường hội, làm ăn nhỏ của giớ i huyện hàm, hương chứ c
phần lớn thân thuộc, bà con với nhau. Công ty Trường Hanh rốt lại
một mình Huỳnh Quang vị làm chủ, đặt cơ sở tại Bình Định chuyên
thầu công ty bán rượu, bán á phiện cho nhà nước. Ba năm sau, người
sáng lập trở về Sài Gòn, giúp việc cho trạng sư Pháp, lãnh huy
chương, lên chức đốc phủ sứ hàm.
Rạch Vàm Bến Nghé lần hồi mất vai trò quan trọng. Về đường
thủy, tàu bè, xà lan chuyên chở lúa gạo ra cảng Sài Gòn đi theo kinh
Tẻ và kinh Đôi đào song song với rạch cũ, vừa rộng rãi, vừa sâu hơn.
Từ Sài Gòn vào Chợ Lớn, con đường nay là Trần Hưng Đạo, là Ngô
Gia Tự, nối qua Điện Biên Phủ trở thành trục lộ chánh, thay cho
đường mé sông và đường trên (Nguyễ n Trãi). Rạch Cầu Kho (bà Đô),
rạch Bần lần hồi cạ nh, dân lao động cất nhà hai bên bờ mà nương
náu, nước chảy không thông, rác rến đầy dẫy, mấy nhánh nhóc lớn
nhỏ bị chận từng khúc, trở thành ao vũng. Năm 1900, sáp nhập vào
đô thành về mặt hành chánh, nhà cửa rải rác với hàng rào cây xương
rồng, với chòm tre. Trước ngày Cách Mạng Tháng Tám bùng nổ, khu
vực đường Nguyễn Cảnh Chân hãy còn hỗn độn, nhà lá, nhà lợp tôn,
nền ván kê trên vũng bùn, muốn vào phải qua cầu, quanh co. Mỗi căn
nhà nhỏ chứa chấp đôi ba gia đình, ngăn ra từng buồng, ban đêm
thắp đèn dầu. Tới những năm 1955, cả vùng bị cháy vì cuộc tranh
chấp giữa Diệm và nhóm Bình Xuyên, sau đó, chỉnh trang lần hồi.
Tòa lãnh sự bị giải tán, nhóm nho sĩ và quan lại lui vào dĩ vãng.
Cuộc đấu tranh của đồng bào tiếp tục, với nội dung tích cực ở 18 thôn
vườn trầu.
(Sơn Nam - Bến Nghé xưa)

Chán đời đi lang thang !
0
NIÊN BIỂU 300 NĂM SÀI GÒN - TP. HỒ CHÍ MINH
1623: Chúa Nguyễn mở các trạm thu thuế ở Bến Nghé và Sài
Gòn (ở quận 1 và quận 5 ngày nay).
1679: Chúa Nguyễn lập đồn dinh ở Tân Mỹ gần ngã tư Cống
Quỳnh - Nguyễn Trãi ngày nay.
1698: Chúa Nguyễn cử Thố ng suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam
kinh lược, cho lập phủ Gia Định, gồm hai huyện Phước Long và Tân
Bình. (Sài Gòn thuộc huyện Tân Bình)
1731: Chúa Nguyễn cử Trương Phướ c Vĩnh giữ chức Điều khiển
để điều hành tất cả các dinh trấn, cho xây dinh Điều Khiển tại Sài
Gòn. Thống binh Trần Đại Định xây lũy Hoa Phong để bảo vệ Sài
Gòn.
1748: Lập chợ Tân Kiểng.
1772: Điều khiển Nguyễn Cửu Đàm đà o kinh Ruột Ngựa nối Sài
Gòn với miền Tây. Nguyễn Cử u Đàm xây lũ y Bán Bích (dài 15 dặm)
để bảo vệ Sài Gòn.
1774: Xây chùa Giác Lâm.
1776 - 1801: Nhà Tây Sơn 5 lần vào Sài Gòn. Đáng kể nhất là
tháng 6-1784, Nguyễn Huệ đem binh vào và lập nên chiến thắng
Rạch Gầm - Xoài Mút lưu truyền sử xanh, đánh tan 300 chiến thuyền
và 20.000 thủy quân xâm lược Xiêm và quân Nguyễn Ánh.
1778: Lập làng Minh Hương. Mở Chợ Lớn.
1788: Nguyễn Ánh tái chiế m Sài Gòn.
1790: Xây thành Bát Quái làm trụ sở chính quyền. Đổi Gia
Định thành thành Gia Định kinh.

1802: Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế, niên hiệu là Gia Long, chia
đất phía Nam làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh
Thanh và Hà Tiên.
1808: Đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành.
1832: Lê Văn Duyệt chết; đổi Gia Định thành và 5 trấn phía
Nam thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên.
1833 - 1835: Lê Văn Khôi khởi binh.
1835: Vua Minh Mạng phá thành Bát Quái xây thành Phụng.
1859: 15-2: Pháp tấn công thành Gia Định. 17-2: Thành Gia
Định thất thủ.
1860: Thành lập thương cảng Sài Gòn và Sở Thương chính. 2-2:
Le Page tuyên bố mở cửa Sài Gòn cho nước ngoài vào buôn bán.
Thống đốc Nguyễn Tri Phương cùng Phạm Thế Hiển trông coi việ c
quân sự ở phía Nam. Xây đại đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa) chống Pháp.
1861: 24-2: Pháp đánh đồn Chí Hòa - 2 ngày sau đồn thất thủ.
28-2: Pháp hoà n toàn chiếm Sài Gòn. 11-4: Thống đốc Charner ban
hành Nghị định quy định giới hạn Sài Gòn.
1862: 5-6 Hòa ước Nhâm Tuất. Ký giữa Phan Thanh Giản, Lâm
Duy Hiệp với Bonard. Triều đình Huế nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên
Hòa, Gia Định, Định Tường.
1864: Xây xong Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Cách
mạng). Tách Sài Gòn và Chợ Lớn.
1865: Gia Định Báo - tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời.
1867: 4-4: Tổ chức thành phố Sài Gòn. 8-7: Sửa nghị định 4-4-
1867 và tổ chức thành phố Sài Gòn.
1868: 23-2 Khởi công xây dinh Toàn quyền.
1869: 27-9 Bổ nhiệm ủy viên Hội đồng thành phố Sài Gòn (có
Pétrus Trương Vĩnh Ký).

1874: 15-3: Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh thành lập
thành phố Sài Gòn. Hòa ước Giáp Tuất: nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam
Kỳ. Ký tạ i Sài Gòn giữa Lê Tuấ n, Nguyễn Văn Tường và Thống đốc
Nam Kỳ Dupré.
1877: 7-10 Xây Nhà thờ Đứ c Bà (11-4-1880 khánh thành)
1885: 21-1: Khởi nghĩa Nguyễn Văn Bường. 4-2: Khởi nghĩa 18
Thôn Vườn Trầu do Phan Văn Hớn và Nguyễn Văn Quá lãnh đạo.
Khởi nghĩa thất bại, hai ông bị Pháp hành hình tại chợ Hóc Môn.
1886: 11-4 Xây dựng tòa Bưu chính.
1902: Xây cầu Bình Lợi.
1903: Mở đường tàu điện Sài Gò n - Gò Vấp, Sài Gòn - Chợ Lớn,
Gò Vấp - Hóc Môn.
1909: Khánh thành dinh Xã Tây (Ủy ban Nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh ngày nay)
1911: Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) rời
Sài Gòn sang Pháp đi tìm đường cứu nướ c.
1913: 24-3 Nghĩa quân Phan Xích Long ném bom và tạc đạn vào
Sài Gòn Chợ Lớn.
1916: 16-2: Vụ phá Khám lớn Sài Gòn cứu Phan Xích Long và
các đồng chí không thành. 22-2: Phan Xích Long cùng 37 đồng chí của
ông bị xử tử tại đồng Tập trận.
1920: Tôn Đức Thắng thành lập Công hội đỏ đầu tiên của Sài
Gòn.
1925: Tháng 6 Phan Châu Trinh từ Phá p về Sài Gòn. Tháng 8
Bãi công của hơn 1.000 công nhân Ba Son. Thành lập Đảng Thanh
niên - Hội kín Nguyễn An Ninh.
1926: 24-3: Phan Châu Trinh đột ngột tạ thế. 4-4: Đám tang
Phan Châu Trinh.

1940: 23-11: Khởi nghĩa Nam Kỳ. Các lãnh tụ của Đảng: Võ
Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễ n Văn Cừ , Hà Huy Tập bị
giặc Pháp bắt và xử bắn ở Hóc Môn.
1945: 15-8: Thành lập Ủy ban khởi nghĩa. Đêm 24 rạng 25 Sài
Gòn khởi nghĩa thắng lợi. 2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình Hà Nội. Cùng ngày ở Sài
Gòn, đoàn biểu tình hoan nghênh bản Tuyên ngôn Độc lập, bị lính
Pháp bắn lén. 6-9: Quân đội Anh, Ấn đến Sài Gòn để tước vũ khí
quân đội Nhật. 23-9: Pháp chiếm Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Quốc gia
tự vệ cuộc, Đài phát thanh Sài Gòn... gây hấn ở Nam Bộ. Nhân dân
Sài Gòn, nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc kháng chiến.
1948: 29-3: Phá nổ 300 quả mìn ở kho đạn Bảy Hiền. 13-9: Kho
xăng Tân Sơn Nhất bị đốt cháy (18.000 lít xăng).
1949: 13-6: Bảo Đại về đến Sài Gòn sau 3 năm lưu vong. 24-12:
Học sinh nhiề u trườ ng bãi khóa chống ngụy quyền Bảo Đại.
1950: 9-1: Hàng nghìn học sinh biểu tình đòi mở cửa trường, đòi
tự do cho những người bị bắt. 12-1: Đám tang Trần Văn Ơn. 7-2:
Chính phủ Truman công nhận ngụy quyền Bảo Đại. 19-2: Tổ ng lãnh
sự quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên cấp Công sứ quán. 16-3: Tàu chở máy
bay Bốc-xa và 2 tuần dương hạm đội thuộc hạm đội 7 Mỹ cập bến Sài
Gòn. 19-3: Nhân dân Sài Gòn biểu tình phản đối chiến hạm Mỹ vào
cảng dưới sự lãnh đạ o của luật sư Nguyễn Hữu Thọ - "Ngày toàn quốc
chống Mỹ". 24-5: Đại diện công sứ Mỹ - Ghờ ri on thông báo bắt đầu
viện trợ kinh tế cho Việt Nam, Lào, Campuchia. Đặt phái đoàn kinh
tế đặc biệt ở Sài Gòn. 29-6: Tám máy bay vận tải, viện trợ quân sự
đầu tiên của Mỹ cho quân đội Pháp đến Sài Gòn. 15-7: Phái đoàn Mỹ
- Men phi (Bộ trưởng Ngoạ i giao) và tướng A kin, Tư lệnh Sư đoàn 1
lính thủy đánh bộ Mỹ đến Sài Gòn. 2-8: Mỹ thiết lập phái đoàn cố vấn
viện trợ quân sự ở Sà i Gòn (MAAG). 17-9: Tát xi nhi, Cao ủy mới,
kiêm Tư lệ nh quân viễn chinh Pháp, đến Sài Gò n.
1951: 18-11 Ngô Đình Diệm sang Mỹ được chính phủ Mỹ nuôi
dưỡng trong trường thần học tiểu bang Niu da di.
1952: Tháng 7 Công sứ quán Mỹ ở Sài Gòn nâng lên thành Đại
sứ quán.

1953: 24-2: Hội đàm Pháp và chính quyền Sài Gòn ở Đà Lạt,
quyết định thành lập Việt Nam quốc quân. 20-6: Phái đoàn quân sự
Mỹ đến Sài Gòn.
1954: Nhân sĩ, trí thức Sài Gòn công bố Tuyên ngôn Hò a Bình.
31-5: Độ i biệt động 205 tiến công kho bom Phú Thọ Hòa. 1 triệu lít
xăng và 9.345 tấn bom đạn cháy nổ suốt hai ngày đêm. 11-6: Phái
đoàn quân sự Mỹ ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động triển khai những âm
mưu chiế n tranh tâm lý chính trị. 25-6: Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về
Việt Nam. 6-7: Thành lập chính phủ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn. 1-8:
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thành lập Ủy ban hò a bình khu Sài Gòn -
Chợ Lớn, kêu gọi đấu tranh để thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển
cử tự do.
1955: 12-2: Đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ bắt đầu huấn
luyện quân đội của chính quyền Sài Gòn. 8-5: Chính quyền Diệ m cự
tuyệt đề án tổ chức hội nghị hiệp thương bàn về tổng tuyển cử toàn
quốc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 26-10: Bảo Đại thoái vị,
Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Cộng hòa" và lên
làm Tổng thống.
1956: 28-4: Tư lệnh quân viễn chinh Pháp rút khỏi Sài Gòn. 4-6:
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "sẵn sàng dự hội
nghị hiệp thương vào ngày mà nhà đương cục miền Nam Việt Nam
đã lựa chọn nửa đầu tháng 6". Mỹ thiết lập "cơ quan huấn luyện tác
chiế n" (CATO) cho quân đội của chính quyền Diệm. 6-7: Phó Tổng
thống Mỹ Ních xơn đến Sài Gòn.
1957: 5-5: Ngô Đình Diệm sang thăm Mỹ và tuyên bố: "Biên giới
của Mỹ kéo dài tới vĩ tuyến 17". 1-8: Chính quyền Sài Gòn thi hành
chế độ bắt lính. 22-10: Diệm đổi "Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn" thành
"Đô thành Sài Gòn".
1958: 7-3 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại đề nghị tổ
chức hội nghị hiệp thương để bàn về tổng tuyển cử thống nhất đất
nước.
1959: 29-5 Bằng việc công bố luật "ngăn chặn hoạt động phá
hoại" (luật 10/59), Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp nhân dân.

1960: 11-11: Đại tá lục quân của quân đội Sài Gòn Nguyễn
Chánh Thi làm đảo chính chống Diệm bị thất bại. 20-12: Thành lập
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
1961: 9-3: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giả i phóng khu Sài Gòn,
Chợ Lớn, Gia Định. 19-5: Kế hoạch Xtalây Taylo "lậ p 17.000 ấp chiến
lược" dùng chiến lược trực thăng vận, thiết xa vận hòng bình định
miền Nam Việt Nam trong vò ng 18 tháng. 11-8: Mỹ quyết định cho
thêm tiền để tăng quân đội của chính quyền Sài Gòn từ 17 vạn lên 20
vạn. 11-8: Mỹ đưa sang Sài Gòn một trung đội máy bay trực thăng.
14-8: Trong bức thư gửi Diệm, Tổng thống Kennơđi hứa sẽ tăng thêm
viện trợ.
1962: 27-2: Hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quố c
ném bom dinh Độc Lập. Năm 1962, viện trợ của Mỹ lên tới 600 triệu
đôla, gấp hai lần năm 1961, bốn lần năm 1960.
1963: 11-6: Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn
phản đối chính sách đàn áp tín đồ Phậ t giáo của chính quyề n Diệm.
15-8: Chính quyền Diệm tấn công vào chù a, sinh viên biểu tình ở Sài
Gòn chống lệnh giớ i nghiêm, hơn 2.000 học sinh và 6.000 dân thường
bị bắt. 20-8: Diệm tuyên bố thiết quân luật toàn miền Nam. 22-8: Đại
sứ Mỹ - Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn. 29-8: Bộ Ngoại giao Mỹ trao
quyền cho Tư lệnh Ha-kin hứa hẹn với những người chỉ huy quân đội
Sài Gòn là sẽ ủng hộ cuộc đảo chính lật Diệm, với điều kiện không
đưa quân đội Mỹ vào. 14-9: Mỹ thông báo ké o dài thời gian quyết
định cấp viện trợ của kế hoạch nhập hàng hóa cho Nam Việt Nam (18
triệu 50 vạn đôla). 24-9: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Mác Namara
đến Sài Gòn. 1-10: Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Tay-lo
đến Sài Gòn. 5-10: Đại đức Thích Quảng Hương tự thiêu. 8-10: Đại
hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định cử đoàn điều tra về việc đàn áp
Phật giáo (ngày 24 đến Sài Gòn). 27-10: Đại đức Thích Thiện Mỹ tự
thiêu. 1-11: Đảo chính quân sự lật Diệm. 2-11: Anh em Diệm, Nhu bị
giết. Thành lập chính phủ lâm thời do cựu Phó Tổng thống Nguyễn
Ngọc Thơ cầ m đầu.
1964: 8-2: Thà nh lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam do
Nguyễn Khá nh làm Thủ tướng (tướng Dương Văn Minh làm Quốc
trưởng). 2-5: Đặc công đánh chìm chiến hạm Card cùng 24 máy bay
các loại. 18-5: Tổ ng thống Mỹ Giôn-xơn gửi thông điệp đặc biệt cho

Quốc hội, yêu cầu cấp thêm 125 triệu đôla viện trợ cho Nam Việt
Nam. 16-8: Hội đồng quân lực của chính quyền Sài Gòn bầu tướng
Nguyễn Khánh làm Tổng thống, soạn thảo hiến pháp mới. 25-8: Đặ c
công đánh khách sạn Caravelle. 3-9: Đảo chính chống Nguyễn Khánh
thất bại. 20.000 công nhân đình công ở Sài Gòn. 15-10: Chính quyền
Nguyễn Khánh xử tử người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi.
31-10: Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Khánh. 19-12: Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố đã giải phóng 8
triệu ngườ i, kiểm soát 3/4 lãnh thổ. 20-12: Phái quân sự giải tán Hội
đồng quố c gia miền Nam Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ nhẩy lên nắm
quyền hành.
1965: 22-1: Tín đồ Phật giáo Sài Gòn biểu tình tấn công cơ quan
USIS Mỹ. 28-1: Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng. 21-2: Nguyễn
Khá nh bị cách chức Tổng tư lệnh ba quân chủng. Nguyễn Văn Thiệu
làm Chủ tịch Hội đồng quân lực. 30-3: Tòa Đại sứ Mỹ (39 Hàm Nghi)
bị hai chiến sĩ biệt động đánh bom làm hư hỏng nặng. 10-6: Phan
Huy Quát từ chứ c Thủ tướng. Sài Gòn chuyển sang quân quản. 11-6:
Đảo chính của Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ. 29-7: 30 máy bay
B52 cất cánh từ Ô-ki-na-oa sang né m bom phía Nam Sài Gòn. 2-8:
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố phản đối Liên Hợ p Quốc can
thiệp vào vấn đề Việt Nam. 31-10: 650 giáo sư thuộc 21 trường đại
học đăng bức thư công khai phản đối chiến tranh Việt Nam trên tờ:
Thời báo New York. Lần đầu tiên bộ đội cơ giới của quân đội nhân
dân theo đường Hồ Chí Minh tiến quân vào Nam.
1966: 17-7: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi gử i đồng bào
và chiến sĩ cả nước, nêu rõ: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10
năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố, xí nghiệ p có thể bị tàn phá, nhưng nhân dân Việt Nam quyết
không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày chiến thắng,
nhân dân sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn". 3-7:
Quân Mỹ ở Nam Việt Nam tăng lên 325.000 người.
1967: 9-1967: Khánh thành Tòa Đại sứ mới của Mỹ ở Sài Gòn.
21-9: Thủ tướng Nhật Bản - Sa tô sang thăm Sài Gòn. 31-9: Khánh
thành Dinh Độc Lập mới.
1968: 29-1: Tổng thống Mỹ Giôn xơn công bố bản thông điệp về
dự toá n ngân sách (dự chi về Việt Nam 25 tỷ 800 triệu USD). 30-1:

Mở đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân (đến ngày 15-4). 31-1: Quân
Giải phóng đánh chiếm một phần Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và đồng
loạt tấn công Dinh Độc Lập, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệ nh Hải quân, sân
bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh Sài Gòn... 5-5: Nhiều nơi ở Sài
Gòn thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng. 19-6: Nguyễn Văn
Thiệu công bố lệnh tổng động viên. 17-8: Quân Giải phóng miền Nam
Việt Nam bắt đầu cuộc tổng công kích cùng với quần chúng nổi dậy.
31-10: Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Hội nghị
Paris. 12-11: Bộ trưởng Quốc phò ng Mỹ - Cờ líp phớt tuyên bố sẵn
sàng tham gia hội đàm mở rộng Paris, dù chính quần Sài Gòn không
tham dự. 27-11: Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tham gia vào hội đàm
mở rộng Paris.
1969: 6-6: Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu nhân dân miền Nam Việt
Nam bầu ra. 21-8: Vụ thảm sát tù chính trị ở nhà lao Thủ Đứ c của
chính quyề n Sài Gòn. 2-9: Chủ tịch Hồ Chí Minh mất (79 tuổi). Trong
di chúc đề ngày 10-5, Người viết: "Còn non, còn nước, còn người,
thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay. Dù khó khăn gian
khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định phải cút khỏi nước ta. Đế quốc
Mỹ nhất định sẽ thống nhấ t, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum
họp một nhà". 23-9: Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu
cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước.
1970: 17-7 Đoàn Sinh viên quốc tế đến Sài Gòn tham dự "Năm
Châu đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam".
1971: 22-6 Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân
Mỹ ra khỏi Việ t Nam trong vòng 9 tháng.
1972: Sinh viên yêu nướ c Nguyễn Thái Bình từ Mỹ về, bị hạ sát
trên máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất.
1973: 27-1: Sau 4 năm 9 tháng trên bàn hội nghị, Mỹ đã phải ký
kết Hiệp định Paris, cam kết "tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam...". 2-2: Ủy ban hỗn hợp 4 bên Mỹ, Việt
Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, chính quyền Sài Gòn bắt đầu
hoạt động. 29-3: Bộ Tư lệnh quân Mỹ viễn chinh ở miền Nam Việt
Nam làm lễ cuốn cờ về nước.

1974: 18-6: 301 linh mục của Giáo hội Sài Gòn ra tuyên bố lên
án nạn tham nhũng trong chính quyền Sài Gòn. 22-9: Thành lập Mặt
trận nhân dân cứ u đói ở Sài Gòn.
1975: 14-1: Cảnh sát Sài Gòn bắn chết Pôn Lê-ăng-đờ-ri, phóng
viên Thông tấn xã Pháp AFP tại trụ sở cảnh sát ở Sà i Gòn. 25-1: Hội
nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định phát triển
hơn nữa kế hoạch hai năm, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.
Quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn. 1-4:
Máy bay vận tải khổng lồ C5A - Ghờ -rắc-xi tăng cường chở gấp vũ
khí, đạn dược từ Mỹ sang Sài Gòn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời
công bố chính sách 10 điểm về vùng mới giải phó ng. 7-4: Phi công
Nguyễn Thành Trung ném bom "Dinh Độc lậ p". 14-4: Chiến dịch giải
phóng Sài Gòn được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. 21-4: Tại
Quốc hội Mỹ, Kít-sinh-giơ, Uây-ăng tuyên bố "không còn khả năng
bảo vệ được Sài Gòn", Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Trần Văn Hương
lên thay. 26-4: Trần Văn Hương từ chức Tổng thống, Tướng Dương
Văn Minh lên thay. Nguyễn Văn Thiệu trốn sang Đài Loan. Chính
phủ Cách mạng Lâm thời đòi hỏi Mỹ ngừng can thiệp, giải tán chính
quyền Sài Gòn. Cùng ngày, 17 giờ, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.
30-4: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Tổng thống ngụy quyền
Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đến ngày 1-5,
miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. 15-5: Lễ mừng chiến
thắng. Tháng 9 Đổi tiền.
1976: Tháng 1 Đại hội Đảng toàn quố c lần IV xác định đường lối
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
lần I. 21-1: Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt
động. 28-3: Thành lập lực lượng Thanh niên xung phong thành phố
Hồ Chí Minh. Tháng 4 Bầu Quốc hội thống nhất toàn quốc đầu tiên
và Hội đồng nhân dân các cấp. 2-7: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra đời. Sài Gòn chính thức mang tên thành phố Hồ Chí
Minh.
1978: Tháng 3, cải tạo tư sản thương nghiệp toàn miền Nam.
1979: Tháng 8 Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh ra Nghị quyết
9.

1980: Nghị quyết 10 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
Nghị quyết 17 và 19 củ a Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về tăng
cường quả n lý thị trường.
1986: Tháng 10 Đại hội Đảng bộ thành phố lần IV: Xác định
mục tiêu chủ yếu trong 5 năm (1986-1990). Tháng 12 Đại hội Đảng
toà n quố c lần VI xác định đường lối đổi mới, "Nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".
1991: Tháng 6 Đại hội Đảng toàn quốc lần VII thông qua Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đại hội Đảng bộ thành
phố lần V. Cương quyết vận dụng Cương lĩnh và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VII.
1996: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Tháng 5 Đại hội
Đảng bộ thành phố lần thứ VI, tổng kết 10 năm đổi mới củ a thành
phố.
1998: Kỷ niệm 300 Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo sách 300 năm SG-TP.HCM - NXB CTQG)

Chán đời đi lang thang !
0
300 NĂM ĐỊA DANH GIA ĐỊNH
Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhưng khi là
phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành
chính to nhỏ rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét
cho thấu đáo.
1- Phủ Gia Định từ 1698 đến 1802.
Năm 1698, Thống suất Nguyễ n Hữu Cảnh vào kinh lý miền
Nam, thấy nơi đây đất đã mở mang "hàng ngàn dặm và có dân trên 4
vạn hộ". Để chấm dứt tình trạ ng lưu dân tự khẩn hoang lập ấp đó,
Cảnh bèn lập phủ Gia Định để coi hai huyện: Phước Long (Biên Hòa)
và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Diện
tích rộng khoảng 30.000 km2. Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà
Tiên thuộc quyền Chúa Nguyễn. Năm 1732, chúa Nguyễn cho lập
châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long). Năm
1756, tổ chức cai trị đạo Trường Đồn (sau là Định Tường). Rồi năm
1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc.
Từ đó toàn miền Nam thuộc về lãnh thổ và chính quyền Việt Nam.
Từ 1779, phủ Gia Định bao gồm cả:
Dinh Phiên trấn (Sài Gòn) Dinh trấn Biên (Biên Hòa) Dinh
Trường Đồn (Định Tường) Dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang).
Trấn Hà Tiên.
Như vậ y, diện tích phủ Gia Định là diện tích toàn Nam bộ rộng
khoảng 64.743 km2. Gia Định kinh từ 1790 đến 1802 Sau khi thâu
hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái rộ ng lớn theo
cách bố phòng Vauban, theo định hướng phong thổ Á Đông, theo mỹ
thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh.

2- Gia Định trấn từ 1802 đến 1808.
Năm 1802, Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân rồi
lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long. Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh
xuống làm Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm trấn Gia
Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An,
trấn Biên Hòa, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên.
3- Gia Định thành từ 1808 đến 1832
Gia Định thành thay cho Gia Định trấn. Gia Định thành là đơn
vị hành chính lớn cũng như Bắ c thành cai quản cả xứ Bắc gồm nhiều
trấn. Có lẽ phải đổi tên Gia Định trấn ra Gia Định thành để khỏi lẫn
với 5 trấn dưới quyền cai quản. Từ đó, thành cai quản trấn. Để dễ
phân biệt. Khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí là có ý
nghiên cứ u toàn hạt 5 trấ n đã kể trên.
4- Tỉnh Gia Định từ 1836 đến 1867.
Năm 1832, sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng
liền cải ngũ trấn thành lục tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường,
Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đổ i thành Gia Định - nơi trú đóng
của Tổng trấn - làm tỉnh thành Phiên An - nơi trị sở của Tổng đốc coi
riêng Phiên An thôi. Năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho
phá thành Bát Quái và xây dựng Phụng thờ nhỏ, gọi là tỉnh thành
Phiên An. Năm 1936, cải tỉnh Phiên An ra tỉnh Gia Định. Tỉnh thành
Phiên An cũng đổi ra tỉnh thành Gia Định. Tỉnh Gia Định đương thời
rộng khoảng 11.560 km2. Năm 1859, Pháp tới chiếm Sài Gòn và phá
bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn). Sau Hòa ướ c
1862 mất đi ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn chia tỉnh Gia Định làm 3
phủ như cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh.
5- Hạt Gia Định từ 1885 đến 1889.
Từ năm 1867, Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi là tỉnh Sài
Gòn. Tỉnh Sài Gò n cũng là địa bàn tỉnh Gia Định trước, song không
chia ra phủ huyện, mà chia ra 7 hạt tham biện (inspection), trong đó
có hạt Sài Gòn (không kể thành phố Sài Gò n). Hạt Sài Gòn gồm 2
huyện Bình Dương và Bình Long. Nhưng từ năm 1872, hạt Sài Gòn
gồm thêm huyện Ngãi An (Thủ Đức) nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa.

Năm 1885, đổi tên hạt Sài Gòn thành hạt Gia Định (có lẽ để phân
biệt rõ với thành phố Sài Gòn).
6- Tỉnh Gia Định từ 1889 đến 1975.
Năm 1889, bỏ danh xưng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho
thống nhấ t với toàn quốc Việt Nam. Tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh
của cả Nam Kỳ lụ c tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định (thu hẹp) này chia ra 18
tổng với 200 xã thôn, rộng khoảng 1.840 km2. Năm 1944, thiết lập
tỉnh Tân Bình trên một phần đất của tỉnh Gia Định (bắc Sài Gò n như
Phú Nhuận, Phú Thọ, Hạnh Thông, Tân Sơn Nhì..., vù ng Thủ Thiêm
và một phần Nhà Bè). Tỉnh này chỉ tồn tại đến cuộc Cách mạ ng 5-
1945 rồi giải thể. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã là căn cứ Cách
mạng kháng chiến. Năm 1956, vùng Củ Chi được trích ra để lập thêm
2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dương, Hậu Nghĩa lấy phần đất phía tây
vẫn gọi là quận Củ Chi. Bình Dương lấy phần đất phía đông gọ i là
quận Phú Hòa. Sau vụ chia cắt, Củ Chi cho 2 tỉnh Hậu Nghĩa và
Bình Dương, tỉnh Gia Định (1970) còn chia ra 8 quận với 74 xã, rộng
1.499 km2. Tình hình đó tồn tại đến ngày Giải phóng 1975. Từ năm
1975 đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để bất cứ một đơn
vị hành chính nào. Song nhân dân miền Nam vẫn nhớ tên đó với
nhiều ấn tượng sâu sắc và tốt đẹp, Sử sách Thành phố và toàn Nam
Bộ luôn nói đến Gia Định từ suốt 300 năm qua để ghi dấu bao chiến
công và thành tích phát triển vượt bậc của phần đất phía Nam của Tổ
quốc.
Chú thích: - Dựa trên tư liệu:
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sài Gòn, 1972. Quốc
Sử quán, Đại Nam Nhất Thống Chí - Tỉnh Gia Định, Sài Gòn, 1973.
Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Đầu, Địa chí văn hóa
TP. HCM, 1987. Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ Gia Định, TP.
HCM, 1994.

Chán đời đi lang thang !
0
TÔI ĐÃ THAM GIA CUỘC KHỞI NGHĨA
TẠI BIỂN ĐEN
Bài viết của đồng chí Tôn Đức Thắng nhân dịp kỷ niệm lần thứ
40 Cách mạng Tháng Mười, đăng trên báo "Người thủy thủ Xô Viết"
số 24, năm 1957.
Mùa hè năm 1919, chiếc tuần dương hạm của Pháp nhận đượ c
lệnh tiến về biển Đen. Nhằm mục đích gì vậy? Phải chăng là để đánh
đế quốc Đức? Không, hoàn toàn không phả i nhằm mục đích đó . Bởi vì
đế quốc Đức đã đầu hàng rồi. Bộ chủ huy hết sức giữ bí mậ t với cá c
thủy thủ về mục đích của cuộc hành quân này. Song, chúng tôi, tự
mình đã hiểu rõ mục đích cuộc hành quân. Phải chăng có thể bưng
bít được cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân lao động Pháp chống
lại cuộc can thiệp vũ trang vào nướ c Nga Xô Viế t?
Trên tuần dương hạm, kỷ luật quân sự hầu như không còn tồn
tạ i nữa. Đây đó, từng nhóm ba người, năm người tụ tập bàn tán sôi
nổi: "Chiến tranh đã kết thúc, đã đến lúc trở về với nhà cửa, với gia
đình". Những thủy thủ Pháp nói chuyện đó với nhau; họ cũng nói
chuyện đó với tôi. Nhà cửa! Gia đình! Đối vớ i tôi, là một người dân
thuộc địa, không có nhà cửa và gia đình, những từ rung động này đã
là những điều mà tôi không thể mơ ước.
Tôi hồi tưởng lại ngày tôi rời Tổ quốc thân yêu. Tôi đã bị buộc
phải cải trang và thay đổi tên, họ trốn tránh trên một chiếc tàu thủy
của Pháp đúng vào lúc mà cuộc bãi công của học sinh trường Bách
Nghệ Sài Gòn và của công nhân Ba Son giành được thắng lợ i.
Từ ngà y đó, bắt đầu cuộc sống của tôi trên biển cả, với lòng yêu
quê hương tha thiết và với nguyện vọng học tập để sau này trở về đấu
tranh mạnh mẽ hơn, nhiều lần tôi cố tìm gặp đồng chí Nguyễ n Ái
Quốc (Hồ Chí Minh) song tôi đã không gặp được đồng chí.

Cuộc Cách mạng Nga, những người Bôn Sê vích, Lê Nin, những
từ này đã đến với tôi trước tiên là qua báo chí hợp pháp, được phép
đọc trong quân đội. Qua những tờ báo này, tôi mới chỉ hiểu là cuộc
Cách mạng Nga buộc bọn đế quốc phả i run lên vì sợ hãi và phải sống
ngạt thở vì sự tàn ác. Những cuộc gặp gỡ với công nhân Pháp cho tôi
biết rằng, ở Pháp cũng đã có cách mạ ng, trong đó công xã Paris đã
được thành lập, song cuộc cách mạng đó đã thất bại.
Công nhân Pháp cũng kể cho tôi biết là để tiến hành cuộc cách
mạng ở nước Nga đế quốc chủ nghĩa, mọi dân tộc đã đoàn kết với
nhau, Lê Nin dạy rằng mọi dân tộc đều bình đẳng và phải hợp tác với
nhau.
Tất cả những điều đó đã khiến cho tôi ngày thêm yêu mến cuộ c
Cách mạng Nga, và tin rằng ở đó nhân dân lao động đã vùng lên để
quét sạch mọi áp bức, bất công, và tôi, một công nhân của dân tộ c
thuộc địa da cam, đã từng phải chịu đựng. Tôi tìn rằng, ở đó người ta
đang xây dự ng một thế giới đẹp đẽ, thật sự công bằng, trong đó không
có chỗ cho bọn tư bản.
Nhiều công nhân và thủy thủ Pháp trong khi trò chuyện với tôi,
đã tỏ ra có cảm tình với Lê Nin và công nhân Nga, và họ cũng tỏ rõ
quyết tâm không cho phép bọn đế quốc lợi dụng họ chống lại người
Nga. Tôi hoàn toà n nhất trí với họ về điểm này.
Đêm sau đó, tuần dương hạm vượt qua eo biển Đác-đa-nen. Bầu
không khí trên tàu căng thẳng hơn. Một vài đồng chí hô hào thủy thủ
họp mít - tinh để thanh toán bọn chỉ huy. Họ đã bảo tôi: "Họp mít -
tinh, cậu hãy kéo cờ đỏ lên, để cho người Nga biết rằng chúng ta là
bạn, không phải là thù". Tôi vui vẻ nhận lời. Vào lúc rạ ng đông, tuần
dương hạm tới Biển Đen. Kèn tập hợp vang lên - đó là kèn tập hợp
thông thường của thủy thủ. Song lần này, kèn đã vang lên không
phải do lệnh của Bộ chỉ huy, và giờ đây, cờ đỏ đã được giương lên. Hỡi
những người bạn Nga! Con tàu củ a chúng tôi còn cách xa bờ biển của
các bạn! Các bạn có thể còn chưa nhìn rõ lá cờ đỏ này. Song chú ng tôi
chào mừng các bạn bằng lá cờ đỏ được giương lên ở Biển Đen.

... Thế là tuần dương hạm "Pari" sau khi vào Biển Đen đã quay
trở về Địa Trung Hải. Song, giờ đây, cờ đỏ phất phới bay trên đỉnh cột
cờ. Trên đường về, chúng tôi đã gặp thủy phi cơ của Hải quân Pháp.
Bộ chỉ huy Hải quân đã ra lệnh cho phi công bắ t buộc chúng tôi phải
hạ cờ. Nếu không, sẽ ném bom và đánh chìm chiếc tuần dương hạm.
Chú ng tôi cười rộ lên, bởi vì chúng tôi tin rằ ng, không bao giờ chúng
lại quyết định đánh chìm chiếc tuần dương hạm lớn như vậy củ a hải
quân chúng. Chúng tôi càng yên tâm hơn vì thấy người hoa tiêu Pháp
thò đầu ra ngoài máy bay, hoàn toàn không phải là để ném bom mà
là để gửi lờ i chào anh em chúng tôi.
Lá cờ đỏ, tượng trưng cho cuộc khởi nghĩa của thủy thủ tuần
dương hạm "Pari" từ ngày đó, đã khắc sâu vào tâm trí tôi. 37 năm đã
trôi qua. Tôi không còn nhớ đầy đủ cá c tên họ và những chi tiế t của
cuộc khởi nghĩa đã diễn ra. Song cứ mỗi năm, vào những ngày kỷ
niệm Cách mạng Tháng Mười, trước mắt tôi lại hiện lên hình ảnh con
tà u khởi nghĩa, cùng vớ i lá cờ đỏ phấp phới và hàng năm, dưới ánh
sáng mới của phong trào cách mạng đang phát triển, dưới ánh sáng
mới của những hiểu biết, được tích lũy trong quá trình hoạt động
cách mạng, ý nghĩa của sự kiện đó càng trở nên sáng tỏ đối với tôi.
Phải chăng hồi đó tôi đã hiểu rằng Cách mạng Tháng Mười mở
ra thời đại mới trong lịch sử cách mạng của toàn thế giới, trong lịch
sử cách mạng của mỗi dân tộc trên quả đất này. Phải chăng là tôi đã
hiểu cuộc khởi nghĩa vũ trang của thủy thủ Pháp ở Biển Đen là một
bộ phận của phong trào vô sản thế giới, được dấy lên ở các nước khác
nhau?
Tháng 9-1945, một tàu chiến tiến về Côn Đảo, ở mũi tàu phấp
phới lá cờ đỏ sao vàng... Đất nước chúng tôi đã được giải phóng khỏi
ách đế quốc. Chúng tôi đã rời nhà tù Côn Đảo trên chiế c tàu chiến
này. Tổ quốc đã được độc lập, lá cờ đỏ do người Cộng sản Việt Nam
giương lên, từ ngày đó phấp phới bay cao trên bầu trời Việt Nam.
Chú ng tôi biết ơn Cách mạng Tháng Mười, biết ơn Liên Xô, đã
đập tan bọn phát xít và đã trực tiếp tạ o ra những điều kiệ n thuận lợi
để giải phóng đất nước chúng tôi...

Niềm vui lớn nhất đố i vớ i tôi là đã có dịp trực tiếp bày tỏ với
những người Xô Viết lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối
với Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, đối với nhữ ng hy sinh lớn lao mà
Liên Xô đã gánh chịu vì lợi ích cho toàn thể loài ngườ i trong bốn mươi
năm qua.

Chán đời đi lang thang !
0
ÂM MƯU BIẾN MIỀN NAM VIỆT NAM THÀNH
THUỘC ĐỊA KIỂU MỚI CỦA MỸ
Việt Nam là nơi ấp ủ những mưu toan củ a Mỹ từ lâu. Một
người Mỹ trong cuộc là Dave Richard Palmer đã dùng hình tượng
"Việc gieo giống năm 1945, cuối cìng đã dẫn tới chỗ ghép mầm vào
năm 1945". Thực ra từ cuối năm 1941 Mỹ đã mặc cả với Nhật để
trung lập hóa Đông Dương. Roosevelt chủ trương biến Đông Dương
thành khu ủy trị quốc tế của Liên hiệp quốc. Tháng 2/1945 tại hội
nghị Yalta Mỹ đề nghị lậ p Hội đồng quản trị Đông Dương nhưng Mỹ
hy vọng dùng cả quân Tưởng-Anh-Pháp để giữ Đông Dương trong quỹ
đạo thuộc địa và tránh một Đông Dương rơi vào tay cộng sản dù là
cộng sản Đông Dương. Năm 1949 Mỹ-Tưởng mất toàn bộ Trung Hoa
lục địa. Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên bùng nổ . Trong lúc đó Pháp
ở Đông Dương cũng đứng trước khả năng bại trận trong cuộc chiến
tranh lậ p lại thuộc địa này. Mỹ cảm thấy "mối lo ngại về khối cộng
sản thế giới mưu toan xâm lược toàn cầu hình như đã được xá c
nhận".
Từ cuối năm 1949 đầu năm 1950 Mỹ đã quay sang giúp Pháp
kéo dài chiến tranh Đông Dương. Tháng 8/1950 Mỹ triển khai phái
đoàn cố vấn việ n trợ quân sự (MAAG) vào Việt Nam. Từ cuối năm
1950 đến cuối năm 1951, bằng việc ký các Hiệp định tay đôi với Pháp
ở Đông Dương, như "Kế hoạch hợp tác kinh tế", "Kế hoạch An ninh
chung", Mỹ đã từng bước can thiệp vào Việt Nam. Những kế hoạch
chiế n tranh của Pháp ở Đông Dương như "Kế hoạch Rever", "Kế
hoạch Delattre de Tassingy", "Kế hoạch Salan", "Kế hoạch Navarre"
đều được Mỹ trực tiếp chi phối. Khi vừa bước vào Nhà Trắng (tháng
12/1953), Eisenhower đã tuyên bố việc giúp Pháp trong chiến tranh
Đông Dương là cách tốt nhất để "ngăn chặn một cách rẻ tiền nhất các
sự kiện có thể gây ra những hậu quả khủng khiếp đối với nước Mỹ".
Có thể nói cho đến trước khi "một mình một ngựa" ở Việt Nam, Mỹ đã
có quá trình ngà y càng sâu đậm tìm và hiểu đối tượ ng, coi Việt Nam

là nơi tập trung quyền lợi sống còn, là đất dụng võ cho các chính
khách và giới hiếu chiến Mỹ. Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã từng
bước, "diễn ra từ từ có vẻ hầu như là tình cờ, qua một quá trình leo
thang chầm chậm hầu như khó mà xác định chính xá c được điểm
xuất phát".
Mặt khác sau Hiệp định Genè ve 1954 đất nước Việt Nam bị
chia làm hai miền, dù vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời
nhưng kẻ thù của cách mạng lại coi đó là biên giới chính trị để từng
bước thực hiện những âm mưu thâm độc của chúng. Cuộc chuyển
quân tập kết đã làm thay đổi tình hình so sánh lực lượng, từ thế "cài
răng lược" ở phạm vi toàn quốc thành thế "tập trung" ở hai miền đất
nước. Lực lượng cách mạng đang phát triển đều với những thuận lợi
trên phạm vi toàn cục, nay tập trung cụ c bộ về phiá Bắc vĩ tuyến 17.
Thế và lực cách mạng ở đây được tăng cường mạnh nhất nhưng lại vô
cùng bất lợi ở miền Nam. Trong khi đó lực lượng Pháp và các phe
phái chính trị phản động trên toàn quốc dồn cả về miề n Nam, mang
theo tâm trạng thua cuộc, hận thù và muốn tìm chỗ dựa mới... Đó
chính là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam hất cẳng Pháp,
thực hiện chủ nghĩa thực dân mới.
Từ nửa cuối năm 1954, những công cụ để thực hiện chiến lược
mới của Mỹ tại miền Nam Việ t Nam đã được xây dựng và từng bước
củng cố.
Về chính trị, bộ máy ngụy quyền được dựng lên do Ngô Đình
Diệm đứng đầu, có hệ thống từ trung ương đến các địa phương, là cơ
sở để Mỹ áp đặt một chế độ thực dân dấu mặt trá hình ở miền Nam
Việt Nam.
Về quân sự, ngụy quân được xây dự ng vớ i hệ thống chỉ huy và
thiết bị chiến trường đầy đủ hiện đại, là lực lượng chủ yếu để Mỹ thi
hành những kế hoạch chiến tranh chống phá cách mạng Việt Nam.
Về kinh tế, Mỹ giúp cho miền Nam phát triển nền kinh tế-xã
hội theo con đường tư bản nhưng trước hết phải phụ thuộc vào viện
trợ của nước ngoài và trong khuôn khổ quỹ đạo của Mỹ, phục vụ cho
chiế n tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.

Về văn hóa, Mỹ cho phát triển ở miền Nam nền văn hóa thự c
dân mới trên tất cả các lĩnh vực giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa
xã hội và tư tưởng; trong đó rất chú trọng du nhập lối sống thự c
dụng, đề cao văn hóa Mỹ và ra sức tuyên truyền chống cộng.
Với những công cụ chủ nghĩa thực dân mới, tấn công đánh phá
lực lượng và phong trào cách mạng, từ 1954-1959 Mỹ-Diệm đã biến
miền Nam Việt Nam từ một chiến trường chống chủ nghĩa thự c dân,
thành một chiến trường phản kích lại các lực lượng cách mạng. Từ
1954-1975 Mỹ đã thi thố ở Việt Nam 4 chiến lược chiến tranh, ứng
dụng từ 3 lần thay đổi chiến lược toàn cầu, do 5 đời tổng thố ng kế tiếp
nhau quyết tâm thực hiện. Trong điều kiệ n mới sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai, thì đó là sự lựa chọn đúng nơi, đúng lúc, đúng đối
tượng tiến hành chiến tranh của Mỹ. Chưa bao giờ Mỹ huy độ ng được
sức mạnh của cả nước Mỹ cùng các nướ c phe Mỹ, trên các lĩnh vự c
kinh tế, chính trị, văn hóa khoa học kỹ thuật và quân sự, như là
trong thời kỳ họ tiến hành chiến tranh Việt Nam. ý chí và quyết tâm
của Mỹ khi đánh Việt Nam không phải chỉ nhằm khuất phục một dân
tộc, dập tắt một ngọn lửa đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn nhằm đe
dọa nhiều nước khác, đồng thời thể nghiệm sức mạnh của Hoa Kỳ
trong nửa cuối thế kỷ XX
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách ĐHTT 1996)
Chán đời đi lang thang !
0
TRIỆT HẠ THẾ LỰC PHÁP
VÀ CÁC ĐẢNG PHÁI ĐỐI LẬP
Mặc dù chiến tranh xâm lược của Pháp đã phải kết thúc thất
bại hoàn toàn, nhưng kẻ thù mới của cách mạng Việt Nam xuất hiện
và chúng mưu toan gây lại chiến tranh. Đảng và nhân dân Việt Nam
từ giữa tháng 7/1954 đã nhận thấy "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của
nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù
chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương".
Đầu tháng 7/1954 Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài gòn làm Thủ
tướng chính phủ bù nhìn Bảo Đại, viện trợ của Mỹ cho Pháp dần dần
chuyển sang cho Diệm. ngày 17/11/1954 tướng Collins đến Sài Gòn
làm đại sứ Mỹ đầu tiên ở Nam Việt Nam, mang theo kế hoạch 6 điểm
và Collins tuyên bố: tất cả chỉ ủng hộ Diệm.
Chính quyền lập nên ở miền Nam sau hiệp định Genève không
phải là chính quyền đại diện cho các tầng lớp nhân dân, đó chỉ là
chính quyền thân Mỹ và chố ng lại nhân dân. Những công việc chủ
yếu của chính quyề n nà y tiến hành trong hai năm thi hành hiệp định
đình chiến là: cự tuyệt hiệp thương với miền Bắc, cắt đứt mọi quan hệ
của dân chúng giữa hai miền Nam-Bắc, biến giới tuyến quân sự
thành biên giới chính trị, thanh toán các lực lượng chính trị và vũ
trang đối lập, giương lên chiêu bài "đả thực, bài phong, diệt cộng"...
Đặc biệt là sau khi tự tổ chức "Trưng cầu dân ý" (tháng
10/1955) với nội dung "phế truất Bảo Đại" và "suy tôn" Ngô Đình
Diệm lên làm tổng thống, Mỹ-Diệm đã đơn phương tiến hành bầu cử
quốc hộ i (tháng 3/1956) và ban hành hiến pháp (tháng 10/1956), lập
"đảng Cần lao nhân vị", "Phong trào cách mạng quốc gia", tổ chức cho
dân chúng vào " Thanh niên cộ ng hòa" hay "Phụ nữ liên đới"....Đồng
thời Mỹ cò n vận động đưa cái gọi là "Việt Nam cộng hòa" vào Liên
hiệp quốc, tạo cho nó vị trí ngoại giao trên trường quốc tế... Như vậy

âm mưu ngày càng rõ ràng của Mỹ-Diệm là phá hoại toàn bộ hiệp
định Genève, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.
Việc gạt hẳn Phá p để Diệm nắm toàn bộ miền Nam là nhiệm vụ
cấp thiết và Mỹ-Diệm đã phối hợp hành động đem lại hiệu quả khá
nhanh. Tháng 9/1954 Pháp buộc phải tham gia khối quân sự SEATO
trong đó Nam Việt Nam đặt dưới quyền bảo trợ của khối này, không
còn là của riêng Pháp nữa. Tháng 12/1954 tướng Ely-Tổng tư lệnh
quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương buộc phải chấp nhận yêu
cầu của Collins, cho quân ngụy được "tự trị". Ngày 30/3/1955 Pháp
phải chấp nhận lịch rút quân và từ ngày 28/4/1955 đến 30/6/1955
phải rút ra khỏi Nam Việt Nam toàn bộ số còn lại của 122.000 quân
viễn chinh Pháp, Lê dương, Bắ c Phi... Đến đây Pháp ở Đông Dương
chỉ còn lại các thế lực thân Pháp, trong đó đông đảo nhất là các lự c
lượng giáo phái trong "Mặt trận thống nhất toà n lực quốc gia Cao-
Hòa-Bình".
Tháng 3/1955 Diệm mở các chiến dịch kết hợp các thủ đoạn
chính trị, quân sự cảnh sát tấn công tiêu diệt các giáo phái ở Nam Bộ
và lực lượng Đại Việt ở miền Trung. Cho đến cuối năm 1955, Đại Việt
bị tan vỡ , Bình Xuyên bị đẩy xuống rừng Sát và đi vào tiêu vong, Cao
Đài và Hòa Hảo bị tổ n thất lớn với 600 ngườ i bị chết bị thương, 1.100
người bị bắt, 7.758 người ra hàng, nội bộ bị chia rẽ sâu sắc. Đến
tháng 6/1956 tất cả những lực lượng chính trị và vũ trang thân Pháp
còn lại đề u chịu khuất phục chính quyền Diệm.
Sau các chiến dịch đó Mỹ-Diệm đã củng cố được thế lực. Quân
chủ lực ngụy giảm còn 147.462 người, không kể lực lượng bảo an, dân
vệ và cảnh sát. Cố vấn Mỹ tăng từ 200 người lên 669 người và nhiều
cơ quan cố vấn Mỹ đượ c thành lập ở miền Nam. Một kế hoạch 5 năm
xây dựng quân đội ngụy đã hình thành với mục tiêu hiện đại hóa với
470.000 quân chính quy, 250 máy bay, 600 thiết giáp, 300 đại bác...
Hệ thống thiết bị chiến trường được xây dựng với hàng loạt căn cứ
quân sự, kho tàng, sân bay, cầ u cả ng, đường sá... Hệ thống chỉ huy
được cải tổ và tăng cường. Năm 1955 có 53% số sỹ quan ngụy được đi
tu nghiệp tại Mỹ, hàng loạ t sỹ quan hạ sỹ quan ngụ y được đề bạt,
tăng lương....

Từ giữa năm 1955 phong trào đấu tranh của quần chú ng cách
mạng ban đầu nổ i lên. Ngày 6/6/1955 chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính
quyền miền Nam và Mỹ-Diệm đã khăng khăng từ chối. Lập tức khắp
nơi ở miền Nam dấy lên nhữ ng cuộc đấu tranh phản đối Mỹ-Diệm,
đòi mở hội nghị hiệp thương và nối lại quan hệ Bắc-Nam. Ngày
3/7/1955 hàng ngàn đồng bào Sài Gòn đã biểu tình đòi hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc, đòi trả lại tự do cho những người
trong "Ủy ban cứu trợ nạn nhân chiến tranh", chính quyền Diệm đã
cho quân đội và cảnh sát đến đàn áp cuộc biểu tình này. Ngày
10/701955 cuộc tổng bãi công bãi thị của gần 80% lao động và nhân
dân các giới các ngành thành phố Sài Gòn đã làm cho thành phố tê
liệt. Ngày 19/7/1955 chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gởi công
hàm cho chính quyền Diệ m đề nghị cử người tham gia hội nghị hiệp
thương; nhưng chính quyền Diệ m cho tay chân tập trung bọn lưu
manh bày trò biểu tình chống lại hiệp định Genè ve rồi đập phá trụ sở
Ủy ban giám sát quốc tế ở Sài Gòn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách Đại học tổng hợp 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
CHÍNH SÁCH TỐ CỘNG DIỆT CỘNG
Sự phản kích củ a Mỹ-Diệm ngày càng mạnh. Sau khi diệt xong
các giáo phái, chúng rảnh tay đối phó với cách mạng bằng việc triển
khai trên quy mô toàn miền Nam "quốc sách tố cộng" hết sức tàn bạo.
Cách mạng miền Nam vì thế đứng trước tình thế cấp bách phả i bảo
toà n lực lượng cò n lại, khả năng đấu tranh theo phá p lý hiệp định
không còn. Ngày càng rõ một thực tế là "Chế độ miền Nam là một chế
độ độc tài, phát-xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ
phản động nhất... miền Nam đang trở thành thuộc địa và căn cứ
quân sự của Mỹ". Trong điều kiện ấy "tính chất cuộc cách mạng của
ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng miền
Nam là phản đế và phản phong kiế n". Do đó "hình thức đấu tranh
của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải
đấu tranh vũ trang, nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không
dùng hình thức tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định", phải "tổ
chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh và giải
thoát cán bộ khi cầ n thiết", phải "củng cố các lực lượng vũ trang và
bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa đồng thờ i xây
dựng cơ sở quần chúng vững mạ nh làm điều kiện căn bản để duy trì
phát triển lự c lượng vũ trang.
Mục tiêu của "tố cộng là nhằm tận diệt cộng sản ở toàn miền
Nam cả về con người lẫn tư tưởng theo phương thức "Thà giết nhầm
chứ không bỏ sót", "tiêu diệt như trong tình trạng chiế n tranh".
Những chiến dịch tố cộng của địch từ giữa năm 1956 trở đi càng mở
rộng quy mô và vô cùng khốc liệt. Các chiến dịch "Thoại Ngọc Hầu"
(từ tháng 6/1956 đến tháng 2/1957), "chiến dịch Mùa Thu" (từ tháng
10/1957 đến tháng 12/1957) càn quét tố cộng khắp vùng đồng bằng
sông Cửu Long; "chiến dịch Trương Tấn Bửu" (từ tháng 7/1956 đến
tháng 2/1957), "chiến dịch Nguyễn Trãi" (từ tháng 4/1958 đến tháng
11/1958) đánh phá cách mạng ở miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn-Chợ
Lớn... Từ năm 1955 đến năm 1959 địch tiến hành 30 chiến dịch lớn

để thực hiện mục tiêu "tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp lên
oán thù để thự c thị chủ nghịa nhân vị quốc gia".
Chú ng đánh trên diện rộng đồng thời có tập trung vào trọng
điểm, chà đê xá t lại, với tham vọng: người cộng sản hoặc bị tiêu diệt
hoặc phải đầu hàng, quần chúng nhân dân hoặ c chết hoặc khiếp sợ
phải từ bỏ ủng hộ cách mạng. Những vụ thảm sát ở Mỏ Cày, Phú Lợi,
Chợ Được, Duy Xuyên, Hướng Điền.... không chỉ nhằm tiêu diệt con
người về thể xác mà còn nhằm khủng bố về tinh thần và ý chí cách
mạng. Thống kê triển lãm của địch ngày 26/10/1958 đã công bố: trong
"chiến dịch Nguyễn Huệ" chúng đã giết 681 người và bắt giam 1005
người khác, trong "chiến dịch Thoại Ngọc Hầu" có 441 người bị giết
và 2117 người bị bắt, còn "chiến dịch Trương Tấn Bửu" có 102 người
bị thiệt mạng và 882 người khác bị giam cầm. Thố ng kê của ta cho
biết từ cuối năm 1954 đến đầu năm 1959 ở miền Nam địch đã bắt
giam 180.843 người, làm thương tật 10.185 người, giết 4.971 người.
Kết hợp với các biện pháp bạo lự c, Mỹ - Diệm còn dù ng các thủ
đoạn lừa mị, mua chuộc bằng các biện pháp kinh tế - xã hội. Những
đạo dụ "Cải cách điề n địa" như Dụ số 2 (ngày 8/1/1955), Dụ số 7 (ngày
5/2/1955), Dụ số 57 (ngày 22/10/1956), thực chất đã cướp đi số ruộng
đất mà nông dân được cách mạng chia cấp trong kháng chiến, để trả
lại cho địa chủ, nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong dân
chúng. Tính đến năm 1962 chính quyền Diệm đã cướp lại 560.000 ha
ruộng đất mà cách mạng đã cấp cho nhân dân trong những năm
kháng chiến. Cái gọi là "tiểu điền chủ hóa tá điền" trong thực tế chỉ
có 125.000 trong tổng số 1.500.000 tá điền được mua đất.
Việc xây dựng các "dinh điền" (từ tháng 4/1957) là biện pháp
bình định nhằm gom dân quy khu lập ấp để tập trung khống chế
quần chúng, cô lập các lực lượng cách mạng còn lại ở cơ sở. Diệm -
Nhu cho rằng đinh điền là "biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến
khu, mật khu Việt cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏ i vùng đó";
đến đầu năm 1959 đã có 84 khu đinh điền được xây dựng, gom được
128.374 người dân, chủ yếu là dân di cư từ miền Bắc.
Tháng 7/1959 Diệm lại triển khai chương trình "Khu trù mật"
xây dựng những "thị nông" ở nông thôn đồng bằng nhằm quy tụ dân,
kiểm soát dân và cô lập các lực lượng cá ch mạng. Địch tuyên truyền
rùm beng cho lý thuyết "đồng tiến xã hội" và "cách mạ ng nông thôn"

khi hàng chục khu trù mật đượ c khá nh thành, nhưng thực tế đó chỉ
là sự đảo lộn toà n bộ vùng nông thôn cách mạng để tiêu diệt các lự c
lượng cách mạng ở đây.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam - tủ sách Đại học tổng hợp 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
MỸ DIỆM THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ MỚI
Ngày 7-7-1954, trước khi hiệp định Genève được ký kết 13 ngày,
Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về
nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ
quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11-1954, Mỹ
cử tướng L. Colins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Colins đề ra kế hoạch 6
điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền
Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Colins gồm những
vấn đề sau :
Bảo trợ chính quyền Diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài
Gòn. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ
trang bị, huấn luyện. Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa
chính quyền Sài Gòn. Định cư cho số người công giáo miền Bắc di cư
vào Nam và vạch kế hoạch cải cá ch điền địa. Thay đổi chế độ thuế
khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam. Đào tạo cán bộ
hành chính.
Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao
trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân ngụy ở miền Nam cho Mỹ.
Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính,
chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng
miền Nam thành một "quốc gia mạnh" của "thế giới tự do", có một
"đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớ n mạnh để chống
cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập
"Đảng Cần lao nhân vị", phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh
niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm
tập hợp bọn phản động trong gia cấp tư sản, địa chủ , Thiên Chúa giáo
và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẫn cho chính
quyền Diệm. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và

ngày 26-10-1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam cộng hòa". Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thầ n Hiệp nghị
Giơnevơ nhằm biến miền Nam nước ta thà nh một "quốc gia" riêng.
Về quân sưồ, cho tới tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính
quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mỹ
gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng
thiết giáp và 54.000 quân địa phương. Số cố vấn Mỹ từ 35 người (năm
1950), tăng lên 699 ngườ i (năm 1956). Cá c cố vấn Mỹ có mặt đến tận
cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn
luyện theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra. Mỹ còn cho xây dựng
một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm
biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng
hò hét "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.
Về kinh têở, chúng đưa hàng hóa ế thừa vào miền Nam, làm cho
nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mỹ. Viện trợ Mỹ
tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đô la
(trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1-1955,
Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" vớ i những luận điệu "chia ruộng
đất cho dân", "hữu sản hóa vô sản", "bài phong, đả thự c"... Thực chất
là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ
thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại giai cấp địa
chủ ở miền Nam.
Về văn hóa, chúng đưa "lối sống Mỹ" tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.
Dựa vào các đạo dụ cũ của Bảo Đại đã ban hành từ năm 1953,
Mỹ - Diệm cho bổ sung thành những đạ o dụ mới : Dụ số 2 (ra ngày 8-
1-1955), Dụ số 7 (ra ngày 3-2-1955) và Dụ 57 (22-10-1956). Dụ số 2
quy định tá điền phải lập khế ước lĩnh canh. Dụ số 7 quy định hàng
tháng chủ ruộng đất phải khai báo về việc khai thác ruộng đất. Mục
đích của hai đạo dụ này là lấy lại ruộng đất của nông dân đã được
chia từ thờ i kháng chiến chống Pháp, khôi phục lại quyền chiếm hữu
của giai cấp địa chủ, biến nông dân đã có ruộng trở thành tá điền của
địa chủ như trước đây.
Dụ 57 quy định những ruộng đất đem phân phối cho nông dân
là những ruộng bỏ hoang và đất "truất hữu" của những địa chủ có

trên 100 mẫu. Tính đến 31-12-1959, tổng số ruộng đất khai báo để
"truất hữu" là 463.557 mẫu (trong số 454.874 mẫu đã "truất hữu" với
tổng số điền chủ bị "truất hữu" là 1980 người). Trong số ruộng đất
"truất hữu", chỉ có 252.179 mẫu được cấp bán cho 128.719 người. Nếu
cộng thêm vào số đó số ruộng "truất hữu" của Phá p kiều là 228.620
mẫu, trong đó chỉ có 52473 mẫu đem cấp bán cho nông dân thì số
người được "hữu sản hóa" quá ít ỏi so với số người cầ n ruộng. Qua đó,
ta thấy rằng đại bộ phận giai cấp địa chủ và 2/3 số ruộng đất mà họ
chiế m giữ không bị động chạm tới qua "truất hữu" ruộng đấ t.
Như vậy, thông qua cá c Dụ số 2, Dụ số 7 và Dụ 57, chính quyền
Diệm đã khôi phục và câu kế t với giai cấp địa chủ để cướp đoạt ruộng
đất của nông dân, khôi phục lại chế độ chiếm hữ u ruộng đất của địa
chủ, tăng tô lan tràn để từ đó, xóa bỏ những thành quả mà cách mạng
đã đem lại cho nông dân.
Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ
Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, cá c Bộ của chính quyền Sài Gòn đến
các đơn vị quân đội, các địa phương và dựa vào quyền lự c của vũ khí,
đôla viện trợ, Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, quyết
định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính
quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội và
ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộ c
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ
thống XHCN, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho
phong trào cách mạng trà n xuống vùng Đông Nam Á.
(Theo Lịch sử Việt Nam đại cương tập 3)

Chán đời đi lang thang !
0
CƯỠNG ÉP DI DÂN - MỘT THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ
THÂM ĐỘC CỦA MỸ
Ngày 1 tháng 8 năm 1954 là ngày ngừng chiến, theo chủ trương
của Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớ n, 50.000 người phần lớn là công
nhân các xí nghiệp quan trọng, cơ sở hạ tầng xung yếu như nhà đèn,
bến cảng... cả công nhân đang làm việc trong các đơn vị hậu cần quân
Pháp (SLOM, Intendence Militaire...) và các tầng lớp khá c, biểu tình
tạ i đường Kitchner (Nguyễn Thái Học bây giờ) hoan hô hòa bình, đòi
thi hành đú ng hiệ p định Genève.
Cùng lúc đó, Sài Gòn lại diễn ra một cảnh tượng trái ngược: hết
ngày này sang ngày khác, những chiếc tàu há mồm chật ních những
người công giáo miền Bắc bị lừa mị và cưỡng ép, di cư vào Nam gọi là
"tị nạn cộng sản", đang nối đuôi nhau cập bến cảng Sài Gòn. Hối hả
hốt từ Bắc vĩ tuyến 17 và dồn vào Nam cho được ít ra mộ t triệu dân
di cư để tính chuyện lâu dài, bọn tay sai Mỹ đang gây ra bao cảnh ly
hương, nheo nhóc. Hàng chục vạn người phút chốc rời khỏi nơi chôn
nhau cắt rốn, gia đình ly tán...bị dồn chặt ở các bãi đậu xe chờ đưa đi
các trại buộ c phải ngửa tay xin bố thí.
Trong và sau 300 ngày (thời gian mà Hiệp định Genève quy
định hoàn toàn thành việc tập kết, chuyển quân) bọn đầu cơ chính
trị, tay sai đế quốc đã lừa gạt, cưỡng ép, lôi kéo hàng chục vạn người
từ nhiề u tỉnh miền Bắc, đa số là Thiên Chúa giáo, di cư có tổ chức
hoặc vượt biên vào miền Nam, tổng số lên đến 888.505 người. Sau khi
đưa một số đi các tỉnh, số đồng bào Thiên Chúa giáo cò n lại ở Sài Gòn
đã lên trên 243.000 người trong số 2 triệu dân Sài Gòn, phân bố
thành 23 xứ, 7 hạ t, có 517 linh mục (343 mới di cư). Riêng ở Củ Chi,
số mới di cư vào là 10.000 người. Tờ báo cánh hữu Pháp Le Monde
thừa nhận: "Diệm coi giáo dân là một nguồn dự trữ cho quân đội và
những tổ chức chính trị của chế độ Sà i Gòn".

Chỉ riêng sự việc nà y đủ báo trước tính chất quyết liệt của cuộc
chiế n đấu mới.
Chiến lược ban đầu của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới, được phác họa trong bị vong lục của Hội
đồng an ninh quốc gia Mỹ số 561/1 ngày 3 tháng 9 năm 1956: "Giúp
đỡ nướ c Việt Nam tự do (Nam Việt Nam) phát triển một chính phủ
hợp hiến, ổn định và hùng mạnh, để có thể khẳng định sự tương phản
ngày càng hấp dẫn so với các điều kiện trong khu vực hiện nay của
cộng sản ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Việt Nam, để cuối cùng đi
đến thống nhất nước Việt Nam bằ ng phương pháp hòa bình, thành
lập nước Việt Nam tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của chính phủ
chống cộng sả n".
Trước ngày lý Hiệp định Genève, tháng 4 năm 1954, cơ quan
MAAG (phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự - Military Assistance
Advisory Group) do O'Daniel cầm đầu đã đến Sài Gòn. Ngày 8 tháng
6 năm 1954, Ngô Đình Diệ m, một quan lại phong kiến đã từng làm
tay sai cho Pháp, cho Nhật, được Mỹ vun đắp thành một con chủ bài
trong âm mưu mới, đã đượ c đưa về Sài Gòn. Một tháng sau Diệm lên
làm "thủ tướng" (ngày 7 tháng 7 năm 1954) với những công việc cần
làm ngay đã vạch sẵn để đi đến thành lập "nước Việt Nam Cộng hòa",
vĩnh viễn chia cắt đấ t nước, thực thi chiến lược bao trùm là "diệt
cộng". Tháng 11 năm 1954, tướng Mỹ Collins được cử sang Sài Gòn
làm đặc sứ cho Ngô Đình Diệm.
(Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 1945 - 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
NHỮNG TRÒ HỀ DÂN CHỦ
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Diệm bày trò trưng cầu dân ý gạt
hẳn Bảo Đại, lập lễ đài ở đườ ng Galliéni, tự phong thủ tướng.
Từ cuối năm 1955, Diệm cắt nốt mọi quan hệ với Pháp, trực tiếp
nhận viện trợ của Mỹ, không qua trung gian Pháp nữa. Ngày 26
tháng 10 năm 1955 Diệm tuyên bố thành lập "nướ c Việt Nam Cộng
hòa", lấy Sài Gòn làm "thủ đô". Đến đây đế quốc Mỹ không qua trung
gian thực dân Pháp trực tiếp nắm bộ má y tay sai, thực hiện mưu đồ
biến miền Nam Việt Nam thành vùng đất nằm trong quỹ đạo của Mỹ.
Sau việc đăng bài củ a Max Clos tố cáo trò gian lận của Diệm
biến 450.000 phiế u thành 605.025 phiếu, tờ báo Le Figaro ngày 26
tháng 10 năm 1955 đã đăng bài nói về việc tẩy chay của nhân dân Sài
Gòn đối với việc thành lậ p "nướ c Việt Nam Cộng hòa": "Để ăn mừng
chính thể cộng hòa được thành lập, nhà cầm quyền miền Nam động
viên công chức, người di cư và trẻ em cá c trường học làm một cuộ c
biểu tình không lấ y gì làm quan trọng. Còn dân chúng thì ai ở nhà
nấy, không buồn ra đường... không làm sao so sánh được với những
cuộc tuần hành ở Hà Nội..."
Cuối tháng 1 năm 1956, Diệm ký một đạo luật công khai khước
từ tổng tuyển cử: đạo luật bầu cử quốc hội riêng rẽ. 8 ứ ng cử viên bị
tình nghi tán thành hòa bình thống nhất buộc phải rút lui trước.
Hãng thông tấn Mỹ thừa nhận, chỉ có "người của Diệm tranh cử với
nhau". Biết địch sẽ khủng bố nếu chống bầu cử, cán bộ ta khuyên dân
cứ đi nhưng đi trễ, bỏ phiếu trắng, phiếu không hợp lệ. Mặc dù vậy,
nhiều ngườ i vẫn không đi. Diệm đặ t giải thưởng một triệu đồng cho
ai bắt đượ c người xé áp phích, nhưng chỉ trong 3 ngày, trước và sau
bầu cử (ngày 4 tháng 3 năm 1956) 80% số áp phích quảng cáo bầu cử
bị xé. Lần tháng 3 năm nay, người đi bỏ phiếu ít hơn tháng 10 năm
ngoái từ 15 đến 30 phần trăm, nhưng tất nhiên là phe Diệm "toàn
thắng".

Để nắm chặt quân đội ngụy, Mỹ liên tục tăng cố vấn quân sự và
kiện toàn tổ chứ c MAAG (tổng số cố vấn từ 200 năm 1954 lên 669 tên
năm 1956); giải tá n "phái bộ huấn luyện hỗn hợp" Pháp - Mỹ (TRIM);
tổ chứ c ra "phái bộ huấn luyện" tác chiến lục quân (CATO: Combat
Army Training Organisation) gồm toàn người Mỹ, cho triển khai
thêm "phái bộ trang bị và cung cấp "(TERM: Tempory Equipment
Recovery Mission). Cả hai tổ chức này đặt dưới quyền của MAAG.
(Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn khán chiến 1945 - 1975)
Chán đời đi lang thang !
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»