LỊCH SỬ SÀI GÒN
MỘT THÀNH PHỐ ANH HÙNG
Trong cuộc kháng chiến vừa qua, dân tộc Việt Nam được công
luận quốc tế, kể cả công luận ở Pháp và ở Mỹ tôn vinh là một dân tộc
anh hùng; Nam Bộ được cả nước ta tặng danh hiệu Thành đồng Tổ
quốc; Củ Chi rất xứng đáng là Đất thép Thành đồng. Hai chữ anh
hùng không thể trao cho bất cứ ai dù đạt thành tích lớ n; thành tích
đã lớn lại còn phải đặc biệt vẻ vang. Nếu xét đúng theo tiêu chuẩn đó
và so sánh với các thủ phủ hay đô thành ở những nước Á, Phi nguyên
là thuộc địa, thì Sài Gòn ta xứng đáng với huân danh Thành phố anh
hùng, anh hùng chẳng những trong 30 năm khá ng chiến mà luôn cả
trong non già 8 thập kỷ bị mang ách thực dân.
Hai chữ "anh hùng" mới đúng. Hai chữ "hòn ngọc" thì hẳn là
không nghĩa lý gì. Mấy ông Tây muốn khoe khoang công lao khai hóa
của Pháp nên bày ra cái mỹ từ "Hòn ngọc Viễn Đông", gán cho Sài
Gòn, không rõ có ai đồng ý không chớ tôi thì xin từ chối. Thành phố ta
xây dựng giữa một đồng bằng bát ngát, có sông rạch mà không có núi,
hồ, lại xa biển, cảnh quang thiên nhiên so với Hương Cảng thì thua
xa. Thành phố ta mới 300 tuổi, không có đền đài cổ kính vĩ đại để
chiêm bái như New-Delhi. Thành phố ta còn nghèo, chưa có những
kiến trú c tân thời lộng lẫy như Singapore, thì bảo là "Hòn ngọc Viễn
Đông" sao được? Sài Gòn đẹp, lớn, đáng yêu, đáng kính không phải ở
cảnh thiên nhiên, ở kiến trúc, cả ở kinh doanh nữa, mà trước hết và
chủ yếu là ở con người và quần chúng nhân dân trong lịch sử đấu
tranh giải phóng đất nước mình, ở sự nghiệp đánh đổ chủ nghĩa thực
dân cũ và mới, do đó mà góp phần vào sự nghiệ p chung giành lại độc
lập tự do của cá c dân tộc bị áp bức khác. Đứng về phương diện này
mà xét thì, trên khắp Á, Phi nguyên là thuộc địa, không một thành
phố nà o hơn Sài Gòn. Sài Gòn không phải là Hòn ngọc. Sài Gòn đúng
là tấm gương ngọc để xem, gương để soi, để cho ta bản thân người
mình soi mình trước hết.
Sài Gòn là thành phố Việt Nam đã chứ ng kiến nhiều cuộc khởi
nghĩa nhất. Cả thảy 4 cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn trước Tổng khởi nghĩa
tháng 8 năm 1945. Đó là: Khởi nghĩa 1885, Khởi nghĩa 1913, Khởi
nghĩa 1916 và Khởi nghĩa 1940. Cả nước ta không thành phố nào có
nhiều cuộc khởi nghĩa như vậy; cả thế giới thuộc địa (cũ) cũng rất
hiếm thấy. Một thành phố như nơi đây, bị thua mà không chịu thua;
thua keo này bày keo khác, kỳ thắng mới thôi. Gan dạ bền bỉ không
chê vào đâu đượ c! Dường như không biết thối chí là gì, dường như là
các lực lượng nổi dậy luôn xác định rằng muốn giết rắn thì phải đập
nát đầu rắn. Ở Nam Kỳ, bưng biền, rừng núi tất nhiên cũng có khởi
nghĩa nhưng không nhiều hơn Sài Gòn là mấy. Đến đây tôi xin đưa ra
vài ba con số để bạn đọc thấy ngay thuở 1913, 1916 quần chúng đã
đóng vai trò lịch sử lớn, công nhân và nông dân đã là chủ lực của khởi
nghĩa! Vụ án 1913, trong số 133 người bị đem ra xử, có 30 công nhân,
71 nông dân, 2 thợ thủ công. Trong vụ án 1916 số công nhân cầm vũ
khí càng đông. Dễ hiểu tại sao. Vì Sài Gòn thuở đó, đã là một thành
phố công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Các nhà yêu nước thời đó
đã biết nhân thời cơ đế quốc chiến tranh để nổi dậy. Cuộc nổi dậy
năm 1940, cũng là một nỗ lực, thừa cơ thời Pháp thất trận, nhưng
thời cơ chưa đến lúc chín muồi, tổ chức cách mạng ở nội thành Sài
Gòn còn khiếm khuyết, cuối cùng khởi nghĩa thất bại. Thực dân Pháp
khủng bố cực kỳ dữ dội, từ 1859 tới đó chưa có lần khủ ng bố nào đẫm
máu như vậ y, tất cả cộng lại cũng không bằng một lần tàn sát 1940.
Ấy vậy mà sau, chỉ 4 năm sau, nhân dân Sài Gòn và ngoại ô phụ cận
đã có đủ tinh thần và lự c lượng để nổi dậy tổng khởi nghĩa thành
công, gần cùng một lúc với Hà Nội, Huế. Tối 24 sáng 25 tháng 8 năm
1945, dưới cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, hàng trăm vạn người thành
phố và nông thôn, tay cầm các thứ vũ khí, tràn ngập Sài Gòn, đạp đổ
ngụy quyền của đế quốc, quân phiệt, dựng lên chính quyền Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 nhanh như chớp,
mạnh như sét, quân thù không kịp trở tay, đồng minh Anh Pháp cho
dù đi bằng máy bay tàu chiến cũng chưa kịp vào tới Sài Gòn. Việt
Nam giành lại được độc lập thống nhất. Kể từ khi Pháp đánh chiếm
thành Gia Định 1859 đến năm 1945 là 86 năm. Phải trải qua 86 năm
mang ách đô hộ, 5 lần khởi nghĩa vũ trang, người Việt Nam, người
Sài Gòn mới rửa được nhục mất nước.
Cuộc vui của Sài Gòn quá ngắn. Cái thế của Sài Gòn là thế ở
đầu sóng ngọ n gió. Năm 1859 quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn để
đánh chiếm Nam Kỳ lụ c tỉnh; đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh để đánh
chiế m cả nước Việt Nam. Bây giờ, 1945 cũng vậy; quân Pháp muốn
thực hiện chương trình xâm lăng cũ mà nhanh hơn. Quân Anh ủng
hộ quân Pháp. Quân Anh từ Ấn Độ đến, quân Pháp từ Pháp sang,
quân Nhật được lệnh thả hơn vạn tù binh Pháp bị cầm tù từ sau ngày
9 tháng 3. Ngày 23 tháng 9 quân Pháp bắt đầu cuộc đánh chiếm nước
ta lần thứ hai bằng cách đánh chiếm trung tâm Sài Gòn. Cuộc kháng
chiế n của ta chống Pháp cũng bắt đầu từ ngà y 23 tháng 9 đó. Sài Gòn
ở trong tình trạng kháng chiến bằng vũ trang và bằng chính trị đến
1954 suốt 9 năm trời. Trong 9 năm đó nội thành và ngoại ô phụ cận
Sài Gòn không biết đến hòa bình, luôn luôn là một chiến trường thật
sự. Không chỉ trước mặt, sau lưng, mà trong cả lục phủ ngũ tạng của
quân thù. Hãy nhớ những tháng đầu Sài Gòn rực lửa đốt phá cơ quan
xí nghiệp địch, thành phố vắng người vì đồng bào tản cư về quê. Rồi
khi Pháp chiếm đóng lại các tỉnh, dân Sài Gòn trở lại thành phố
quyết tử cùng dân quân du kích, đặc công. Trung đoàn Phạm Hồng
Thái hoạt động diệt ác trừ gian càng sôi nổi, càng có hiệ u quả. Bọn
thực dân ở Sài Gòn như ngồi trên bàn chông, lò lửa, bọ n Việt gian ở
Sài Gòn ngày đêm thấp thỏm như thấy họng súng kề mang tai. Cách
xa hơn hai ngàn kilômet mà nhân dân Sài Gòn như có mặt góp phần
vào Điện Biên Phủ năm 1954, là vậy. Sau chiến thắng Điệ n Biên
Phủ, sau hiệp định Genève, miền Nam hãy còn trong tay đế quốc và
tay sai bản xứ của chúng trong thời gian dài hơn 20 năm nay Sài Gòn
tiếp tục là bãi chiến trường, ở đó đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ
trang càng sôi nổi, kịch liệt hơn thời 9 năm chống Pháp, đấu tranh
giữa ta và Mỹ ngụy, đấu tranh giữa các phe cánh thân Pháp, thân
Mỹ, giữa các phe cánh thân Mỹ với nhau. Sài Gòn là cả một lò lửa,
khi âm ỉ, khi cháy bừng. Cuộ c chiến đấu của nhân dân thành phố vì
độc lập thống nhất tiếp tục, không những diễn ra trên sách báo mà
còn chủ yếu là ngoài đường phố với không biết bao nhiêu mà kể
những cuộc biểu tình, những cuộc đánh bom nhiều cơ quan và cư xá
của quân Mỹ , những cuộc đánh mìn nhấn chìm hàng chục tàu Mỹ
trên sông từ Vũ ng Tàu vào Sài Gò n, những cuộc tập kích vào số quán
Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, và o sân bay Tân Sơn Nhất, vào trại
Phù Đổng, vào các nhà hàng, rạp hát có Mỹ lui tới. Chớ quên rằng,
những ngày cuố i tháng 4 năm 1975, trong cuộc tấn công toàn thắng
của quân đội chính quy cả nước, thì dân quân tự vệ, nhân dân Sài
Gòn và ngoại ô cũng đồng thờ i nổi dậy chiếm tất cả quận, phường,
v.v... bảo đảm an toàn gần như tuyệt đối không bị kẻ thua trận phá
hoại hay cố thủ. Tiến công và nổi dậy, quân và dân hợp lực thì Sài
Gòn giải phóng mới nguyên vẹn được. Hai mươi mốt năm Mỹ ngụy
cộng vớ i chín năm Pháp ngụy, là 30 năm dài sau Cách mạng Tháng
tá m, Sài Gòn luôn luôn là một bãi chiến trường. Đau khổ biết mấy, và
vinh quang cũng biết mấy. Sài Gòn chính là thành phố đã chứng kiến
sự cuố n cờ tam sắc, rút hết quân viễn chinh Pháp xuống tàu về "mẫu
quốc", chủ nghĩa thực dân cũ đổ nát hoàn toàn. Sài Gòn cũng là
thành phố chứng kiến sự cuốn cờ sao vạch, quan tâm Mỹ vội vã lên
trự c thăng bay ra tàu chiến đậu ở biển Đông; chủ nghĩa thự c dân mới
bị đánh một đòn chí tử.
Sài Gòn thời Pháp thống trị là thành phố có nhiều phong trào
quần chúng đấu tranh chính trị rộng lớ n nhất, sôi nổi nhất ở Việt
Nam, và ở thế giới thuộc địa thời ấy không phải có nhiều thành phố
như vậy.
Trước hết, chúng ta hãy kể lại mấy cuộc đấu tranh chính trị có
bề sâu tư tưởng mà không có sự tham gia trực tiếp của quầ n chúng
nhân dân. Như cuộc đấu tranh (trong những năm 60 thế kỷ XIX) giữa
thái độ đầu hàng và thái độ kháng chiến, giữa giới nho học với nhau,
phe đầu hàng thiểu số do Tôn Thọ Tường đại diện, có thể xem là tiêu
biểu, phe kháng chiến do Cư Trị đạ i diện; hai phe chọi nhau kịch liệt
bằng thơ nôm, thơ không được in ấn mà hàng ngàn người thuộc lòng.
Như cuộc đấu tranh giữa phe tán thành và phe phản đố i chủ nghĩa
Pháp - Việt đề huề (hồi giữa năm 20 thế kỷ XX) cuộc đấu tranh này
đã diễn ra bằng rất nhiều bài báo và diễn văn Việt hay nói bằng tiếng
Pháp; cả Toàn quyền Varenne và luật sư Phan Văn Trường đều có
vào cuộc đấu, giới trí thức tân học theo dõi kỹ.
Cũng vào lúc này ở Sài Gòn ra đời một hình thức vận động
chính trị mới lá mít tinh, biểu tình; cuộ c biểu tình lớn nhất lúc bấy
giờ, lớn nhấ t từ trước cho đến đó là buổi đưa tang cụ Tây Hồ, chừng
50 ngàn người trong số đó có đông đủ học sinh bãi khóa, bạn hàng các
chợ bãi thị và viên chức các sở bãi công. Cuộc đấu tranh mang thính
chất vừa đấu tranh kinh tế vừa đấu tranh chính trị là cuộc bãi công
của một ngàn thợ Bason đòi tăng lương, chống sa thải, thực tế là
nhằm giam chiến hạm Pháp được phái qua Trung Quốc đang sôi sụ c
cách mạng mà phải ghé Sài Gòn để sửa chữa. Bãi công thắng lợi. Dự
luận Tây Nam Sài Gòn chấn động. Sau đó, vào những năm 30 thì Sài
Gòn chứng kiến nhiều cuộ c bãi công và tổng bãi công, bãi thị và tổng
bãi thị, nhiều và lớn không đâu bằng vì lẽ Sài Gòn là thành phố công
thương nghiệp lớn nhấ t Việt Nam, và vì lẽ rằng Đảng bộ Cộng sản
Sài Gòn là một tổ chứ c mạnh. Biểu tình đón lao công đại sứ Justin
Gôda, đón Toàn quyền Brévié (1936-1937) được nhận xét là đông hơn
cuộc đưa linh cữu cụ Tây Hồ, có điều mới là hôm đón Brévié thì nhân
dân và cảnh sá t xô xát nhau dữ dội. Biểu tình ấy còn là nhỏ thôi, còn
là bình thường thôi, nếu so sánh với các cuộc tuyên thệ, các cuộc tuần
hành của thanh niên tiền phong và tổng công đoà n trước Cách mạng
Tháng tám. Nhữ ng ngày 25 tháng 8; 2 tháng 9 năm 1945, trên các
quảng trường và đại lộ Sài Gòn, người quan sá t thấy tập hợp không
phải hàng chục vạ n mà đến hàng trăm vạn người trong tay không
phải chỉ có băng cờ mà còn có cả vũ khí. Sở dĩ các cuộc biểu tình tuần
hành ở Sài Gòn là vị Sài Gòn được bao bọc bởi một ngoại ô phụ cận có
tinh thần cao, có tổ chức mạnh từa tựa như Paris có "vành đai đỏ" nổi
tiếng; từ hàng chục năm rồi liên minh công nông là một sức mạnh
không đế quốc nào phá nổi.
Pháp trở lại. Mỹ kéo đến. Pháp, Mỹ và ngụy quyền đều vấp phải
sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân Sài Gòn lúc nào cũng
sẵn sàng theo tiếng gọi của Đảng cách mạng, để phát động bãi công,
bãi khóa, bãi thị, biểu tình, thị uy tuần hành chố ng lại chúng, mặc
dầu chúng có cảnh sá t vũ trang một cách tối tân. Cần nhắc lại mộ t số
cuộc đấu tranh tiêu biểu nhất cho tinh thần của quần chúng nhân
dân thành phố. Cuộc biểu tình trước dinh thủ tướng ngụy, trong đó
trò Ơn bị bắ n chết, là cuộc biể u tình lớn, nhưng nó lại rất nhỏ nếu so
với đám ma của trò Ơn trong đó cái đầu củ a đoàn biều tình đã vào tới
bệnh viện Chợ Rẫy mà cái đuôi của đoàn biểu tình chưa ra hết khỏi
sân trường Petrus Ký. Cũng cần nhắc lại cuộc biểu tình lớn ở trung
tâm Sài Gòn, mà người dẫn đầu là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, mấy vạn
dân hô vang khẩu hiệu tống cổ chiến hạm Mỹ ra khỏi bến Bạch Đằng,
bà con đốt ôtô, dựng chiến lũy, tay không giao tranh với cảnh sát vũ
trang, xung đột cả buổi, cả ngày, nhìn lại thì chiến hạm và máy bay
Mỹ biết thân đã rút khỏi Sài Gòn rồi! Những nhà làm sử có thừa tư
liệu để viết mấy trăm trang sách chứng minh rằng Sài Gòn là thành
phố của cao trào quần chúng đấu tranh bền bỉ suốt thời thống trị
thực dân cũ và mới.
Sài Gòn, một cái lò rèn đúc nhiều anh tài kiệt xuất cho dân tộc.
Phong trào đấu tranh tư tưởng chính trị, vũ trang của quần chúng
nhân dân chống đế quốc thực dân (từ 1859 đến 1975) ở Việt Nam, ở
Nam Bộ, ở Sài Gòn, đã làm nẩy nở lại thành phố này một số anh tài
kiệt xuất bao gồm nhiều người nổi danh trong nước và cả ngoài nước,
cùng nhiều anh tài vô danh mà sự nghiệp cứu nước vẫn là hiển hách,
vẫn là tấm gương sáng đời đời.
Danh nhân đầu tiên của Sài Gòn kháng Pháp là Hồ Huấn
Nghiệp, theo lời kể của Nguyễn Thông, Nghiệp vì cha chết, mẹ già,
nên không đi thi, ông ở nhà thờ cha, nuôi mẹ, dạy học; nhưng khi
quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì Nghiệp liền theo lời kêu gọi của
Trương Định, nhận của Bình Tây đại nguyên soái chức tuần phủ
Bình Dương, lãnh đạo kháng chiến ở thành phố. Chẳng may bị địch
bắt, Nghiệp thà chịu chết không chịu hàng, trướ c khi ra pháp trường,
Nghiệp can đảm ung dung chải tóc, sửa áo, ngâm bốn câu thơ đầy khí
tiết. Những vị Chủ tịch kháng chiến của Sài Gòn, Nam Bộ về sau đều
xứng đáng với thầy Hồ Huấn Nghiệp; kỹ sư Kha Vạn Cân, luật sư
Phạm Văn Bạch, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phạm Ngọ c
Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ... Danh nhân kiệt xuất của Sài Gòn
có thể là các nhà đại trí thức mà cũng có thể là người công nhân như
Tôn Đức Thắng, người đã kéo cờ phản chiến để ủng hộ Nga Sô trên
hạm đội Pháp năm 1919 tại Hắc Hải, ông cũng là người đã cù ng hàng
ngàn thợ Bason giam hạm đội Pháp lại suốt thời gian khi chúng trên
đường đi đàn áp cá ch mạng Trung Quốc năm 1925; như anh hùng lao
động Ngô Văn Năm có công từ Bắc đưa về Nam hàng chụ c tàu vũ khí
trong thời kỳ chống Mỹ. Lại có thể là những thanh niên xem đại
nghĩa cứu nước nặng như đá núi, mà xem cái chết nhẹ như lông hồng.
Điển hình là Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Văn Tám. Cũng có
thể là vị chân tu đắc đạo như Thích Quảng Đức mà ngọn lửa tự thiêu
ở một ngã tư đường phố làm chấn động dư luận cả thế giới, góp phần
đốt cháy ra tro cả một triều đình họ Ngô tay sai của Mỹ. Bây giờ và
sau này, khi ta nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo thì không thể nào
quên sư Thiện Chiếu với các luận văn sâu sắc của cụ về các vấn đề
triết lý cao siêu, có hay không có Thượng đế sáng tạo muôn loài ? Có
hay không có linh hồn bất tử ? Có hay không có Thiên đường, Tịnh độ,
Tây phương cực lạc ? Có hay không có ngoại giới ? Nói về số danh
nhân của thành phố Sài Gòn mà quên các nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ
thì sẽ là thiếu sót. Sài Gòn là nơi có "nhựt trình" sớm nhất ở nước ta;
Sài Gòn lại là nơi mà trong thời thực dân thống trị, người cầm bút có
một số điều kiện tương đối dễ dãi hơn ở Hà Nội, Huế để nói lên một
phần tư tưởng tiến bộ của mình. Cho nên, từ rất sớm một số không
nhỏ những người làm văn, làm báo ở Bắc, Trung kẻ trước người sau
vào đất Sài Gòn thi thố tài năng, Trần Huy Liệu, Hải Triều... Nổi
nhất trong làng báo Sài Gòn trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến
là Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, các anh vừa là nhà báo, vừa là
chính khách viết hay, nói giỏi, lời văn và nhân cách thức tỉnh muôn
người. Sài Gòn là đất dụng võ của những nhà hùng biện. Phải được
nghe Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Tấn Phát, Mai Văn
Bộ, Đặng Ngọc Tốt, v.v..., mới tin rằng tiếng mẹ đẻ của chúng ta
không chỉ đặc sắc êm dịu như ru, mà khi cần cũng thừa sức kích động
tinh thần như đại pháo ở chiến trường. Trong phong trào nhân dân
chống đế quốc, nhiều nghị sĩ Sài Gòn nổi lên như chiến sĩ: nhạc của
Lưu Hữu Phước đem lại sức mạnh như những binh đoàn; Trần Hữu
Trang, Năm Châu, Bảy Phùng Há và bao nhiêu nghệ nhân nữa là
chiến sĩ đánh giặc bằng bản kịch lời ca.
Kể bao danh nhân sản sinh từ nhân dân anh hùng của đất Sài
Gòn này cũng không hết. Hãy nhớ trước hết và cuối cùng tên tuổi của
các nhà lãnh đạo cách mạng đã bị đế quốc và bè lũ tay sai của chúng
giết chết tại thành phố này: Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ,
ba vị Tổng Bí thư tài cao của Đảng Cộng sản và biết bao các chiến sĩ
cách mạng khác nữa, các đồng chí đến đây từ khắp tỉnh thành của Tổ
quốc, yên giấc ngàn thu bên cạnh Hồ Huấn Nghiệp ngày trước, Lê
Thị Riêng ngày nay, góp phần xây dự ng truyền thống anh hùng của
nhân dân Thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
(300 năm Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh - NXB Chính trị Quốc gia)
MỘT THÀNH PHỐ ANH HÙNG
Trong cuộc kháng chiến vừa qua, dân tộc Việt Nam được công
luận quốc tế, kể cả công luận ở Pháp và ở Mỹ tôn vinh là một dân tộc
anh hùng; Nam Bộ được cả nước ta tặng danh hiệu Thành đồng Tổ
quốc; Củ Chi rất xứng đáng là Đất thép Thành đồng. Hai chữ anh
hùng không thể trao cho bất cứ ai dù đạt thành tích lớ n; thành tích
đã lớn lại còn phải đặc biệt vẻ vang. Nếu xét đúng theo tiêu chuẩn đó
và so sánh với các thủ phủ hay đô thành ở những nước Á, Phi nguyên
là thuộc địa, thì Sài Gòn ta xứng đáng với huân danh Thành phố anh
hùng, anh hùng chẳng những trong 30 năm khá ng chiến mà luôn cả
trong non già 8 thập kỷ bị mang ách thực dân.
Hai chữ "anh hùng" mới đúng. Hai chữ "hòn ngọc" thì hẳn là
không nghĩa lý gì. Mấy ông Tây muốn khoe khoang công lao khai hóa
của Pháp nên bày ra cái mỹ từ "Hòn ngọc Viễn Đông", gán cho Sài
Gòn, không rõ có ai đồng ý không chớ tôi thì xin từ chối. Thành phố ta
xây dựng giữa một đồng bằng bát ngát, có sông rạch mà không có núi,
hồ, lại xa biển, cảnh quang thiên nhiên so với Hương Cảng thì thua
xa. Thành phố ta mới 300 tuổi, không có đền đài cổ kính vĩ đại để
chiêm bái như New-Delhi. Thành phố ta còn nghèo, chưa có những
kiến trú c tân thời lộng lẫy như Singapore, thì bảo là "Hòn ngọc Viễn
Đông" sao được? Sài Gòn đẹp, lớn, đáng yêu, đáng kính không phải ở
cảnh thiên nhiên, ở kiến trúc, cả ở kinh doanh nữa, mà trước hết và
chủ yếu là ở con người và quần chúng nhân dân trong lịch sử đấu
tranh giải phóng đất nước mình, ở sự nghiệp đánh đổ chủ nghĩa thực
dân cũ và mới, do đó mà góp phần vào sự nghiệ p chung giành lại độc
lập tự do của cá c dân tộc bị áp bức khác. Đứng về phương diện này
mà xét thì, trên khắp Á, Phi nguyên là thuộc địa, không một thành
phố nà o hơn Sài Gòn. Sài Gòn không phải là Hòn ngọc. Sài Gòn đúng
là tấm gương ngọc để xem, gương để soi, để cho ta bản thân người
mình soi mình trước hết.
Sài Gòn là thành phố Việt Nam đã chứ ng kiến nhiều cuộc khởi
nghĩa nhất. Cả thảy 4 cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn trước Tổng khởi nghĩa
tháng 8 năm 1945. Đó là: Khởi nghĩa 1885, Khởi nghĩa 1913, Khởi
nghĩa 1916 và Khởi nghĩa 1940. Cả nước ta không thành phố nào có
nhiều cuộc khởi nghĩa như vậy; cả thế giới thuộc địa (cũ) cũng rất
hiếm thấy. Một thành phố như nơi đây, bị thua mà không chịu thua;
thua keo này bày keo khác, kỳ thắng mới thôi. Gan dạ bền bỉ không
chê vào đâu đượ c! Dường như không biết thối chí là gì, dường như là
các lực lượng nổi dậy luôn xác định rằng muốn giết rắn thì phải đập
nát đầu rắn. Ở Nam Kỳ, bưng biền, rừng núi tất nhiên cũng có khởi
nghĩa nhưng không nhiều hơn Sài Gòn là mấy. Đến đây tôi xin đưa ra
vài ba con số để bạn đọc thấy ngay thuở 1913, 1916 quần chúng đã
đóng vai trò lịch sử lớn, công nhân và nông dân đã là chủ lực của khởi
nghĩa! Vụ án 1913, trong số 133 người bị đem ra xử, có 30 công nhân,
71 nông dân, 2 thợ thủ công. Trong vụ án 1916 số công nhân cầm vũ
khí càng đông. Dễ hiểu tại sao. Vì Sài Gòn thuở đó, đã là một thành
phố công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Các nhà yêu nước thời đó
đã biết nhân thời cơ đế quốc chiến tranh để nổi dậy. Cuộc nổi dậy
năm 1940, cũng là một nỗ lực, thừa cơ thời Pháp thất trận, nhưng
thời cơ chưa đến lúc chín muồi, tổ chức cách mạng ở nội thành Sài
Gòn còn khiếm khuyết, cuối cùng khởi nghĩa thất bại. Thực dân Pháp
khủng bố cực kỳ dữ dội, từ 1859 tới đó chưa có lần khủ ng bố nào đẫm
máu như vậ y, tất cả cộng lại cũng không bằng một lần tàn sát 1940.
Ấy vậy mà sau, chỉ 4 năm sau, nhân dân Sài Gòn và ngoại ô phụ cận
đã có đủ tinh thần và lự c lượng để nổi dậy tổng khởi nghĩa thành
công, gần cùng một lúc với Hà Nội, Huế. Tối 24 sáng 25 tháng 8 năm
1945, dưới cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, hàng trăm vạn người thành
phố và nông thôn, tay cầm các thứ vũ khí, tràn ngập Sài Gòn, đạp đổ
ngụy quyền của đế quốc, quân phiệt, dựng lên chính quyền Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 nhanh như chớp,
mạnh như sét, quân thù không kịp trở tay, đồng minh Anh Pháp cho
dù đi bằng máy bay tàu chiến cũng chưa kịp vào tới Sài Gòn. Việt
Nam giành lại được độc lập thống nhất. Kể từ khi Pháp đánh chiếm
thành Gia Định 1859 đến năm 1945 là 86 năm. Phải trải qua 86 năm
mang ách đô hộ, 5 lần khởi nghĩa vũ trang, người Việt Nam, người
Sài Gòn mới rửa được nhục mất nước.
Cuộc vui của Sài Gòn quá ngắn. Cái thế của Sài Gòn là thế ở
đầu sóng ngọ n gió. Năm 1859 quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn để
đánh chiếm Nam Kỳ lụ c tỉnh; đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh để đánh
chiế m cả nước Việt Nam. Bây giờ, 1945 cũng vậy; quân Pháp muốn
thực hiện chương trình xâm lăng cũ mà nhanh hơn. Quân Anh ủng
hộ quân Pháp. Quân Anh từ Ấn Độ đến, quân Pháp từ Pháp sang,
quân Nhật được lệnh thả hơn vạn tù binh Pháp bị cầm tù từ sau ngày
9 tháng 3. Ngày 23 tháng 9 quân Pháp bắt đầu cuộc đánh chiếm nước
ta lần thứ hai bằng cách đánh chiếm trung tâm Sài Gòn. Cuộc kháng
chiế n của ta chống Pháp cũng bắt đầu từ ngà y 23 tháng 9 đó. Sài Gòn
ở trong tình trạng kháng chiến bằng vũ trang và bằng chính trị đến
1954 suốt 9 năm trời. Trong 9 năm đó nội thành và ngoại ô phụ cận
Sài Gòn không biết đến hòa bình, luôn luôn là một chiến trường thật
sự. Không chỉ trước mặt, sau lưng, mà trong cả lục phủ ngũ tạng của
quân thù. Hãy nhớ những tháng đầu Sài Gòn rực lửa đốt phá cơ quan
xí nghiệp địch, thành phố vắng người vì đồng bào tản cư về quê. Rồi
khi Pháp chiếm đóng lại các tỉnh, dân Sài Gòn trở lại thành phố
quyết tử cùng dân quân du kích, đặc công. Trung đoàn Phạm Hồng
Thái hoạt động diệt ác trừ gian càng sôi nổi, càng có hiệ u quả. Bọn
thực dân ở Sài Gòn như ngồi trên bàn chông, lò lửa, bọ n Việt gian ở
Sài Gòn ngày đêm thấp thỏm như thấy họng súng kề mang tai. Cách
xa hơn hai ngàn kilômet mà nhân dân Sài Gòn như có mặt góp phần
vào Điện Biên Phủ năm 1954, là vậy. Sau chiến thắng Điệ n Biên
Phủ, sau hiệp định Genève, miền Nam hãy còn trong tay đế quốc và
tay sai bản xứ của chúng trong thời gian dài hơn 20 năm nay Sài Gòn
tiếp tục là bãi chiến trường, ở đó đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ
trang càng sôi nổi, kịch liệt hơn thời 9 năm chống Pháp, đấu tranh
giữa ta và Mỹ ngụy, đấu tranh giữa các phe cánh thân Pháp, thân
Mỹ, giữa các phe cánh thân Mỹ với nhau. Sài Gòn là cả một lò lửa,
khi âm ỉ, khi cháy bừng. Cuộ c chiến đấu của nhân dân thành phố vì
độc lập thống nhất tiếp tục, không những diễn ra trên sách báo mà
còn chủ yếu là ngoài đường phố với không biết bao nhiêu mà kể
những cuộc biểu tình, những cuộc đánh bom nhiều cơ quan và cư xá
của quân Mỹ , những cuộc đánh mìn nhấn chìm hàng chục tàu Mỹ
trên sông từ Vũ ng Tàu vào Sài Gò n, những cuộc tập kích vào số quán
Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, và o sân bay Tân Sơn Nhất, vào trại
Phù Đổng, vào các nhà hàng, rạp hát có Mỹ lui tới. Chớ quên rằng,
những ngày cuố i tháng 4 năm 1975, trong cuộc tấn công toàn thắng
của quân đội chính quy cả nước, thì dân quân tự vệ, nhân dân Sài
Gòn và ngoại ô cũng đồng thờ i nổi dậy chiếm tất cả quận, phường,
v.v... bảo đảm an toàn gần như tuyệt đối không bị kẻ thua trận phá
hoại hay cố thủ. Tiến công và nổi dậy, quân và dân hợp lực thì Sài
Gòn giải phóng mới nguyên vẹn được. Hai mươi mốt năm Mỹ ngụy
cộng vớ i chín năm Pháp ngụy, là 30 năm dài sau Cách mạng Tháng
tá m, Sài Gòn luôn luôn là một bãi chiến trường. Đau khổ biết mấy, và
vinh quang cũng biết mấy. Sài Gòn chính là thành phố đã chứng kiến
sự cuố n cờ tam sắc, rút hết quân viễn chinh Pháp xuống tàu về "mẫu
quốc", chủ nghĩa thực dân cũ đổ nát hoàn toàn. Sài Gòn cũng là
thành phố chứng kiến sự cuốn cờ sao vạch, quan tâm Mỹ vội vã lên
trự c thăng bay ra tàu chiến đậu ở biển Đông; chủ nghĩa thự c dân mới
bị đánh một đòn chí tử.
Sài Gòn thời Pháp thống trị là thành phố có nhiều phong trào
quần chúng đấu tranh chính trị rộng lớ n nhất, sôi nổi nhất ở Việt
Nam, và ở thế giới thuộc địa thời ấy không phải có nhiều thành phố
như vậy.
Trước hết, chúng ta hãy kể lại mấy cuộc đấu tranh chính trị có
bề sâu tư tưởng mà không có sự tham gia trực tiếp của quầ n chúng
nhân dân. Như cuộc đấu tranh (trong những năm 60 thế kỷ XIX) giữa
thái độ đầu hàng và thái độ kháng chiến, giữa giới nho học với nhau,
phe đầu hàng thiểu số do Tôn Thọ Tường đại diện, có thể xem là tiêu
biểu, phe kháng chiến do Cư Trị đạ i diện; hai phe chọi nhau kịch liệt
bằng thơ nôm, thơ không được in ấn mà hàng ngàn người thuộc lòng.
Như cuộc đấu tranh giữa phe tán thành và phe phản đố i chủ nghĩa
Pháp - Việt đề huề (hồi giữa năm 20 thế kỷ XX) cuộc đấu tranh này
đã diễn ra bằng rất nhiều bài báo và diễn văn Việt hay nói bằng tiếng
Pháp; cả Toàn quyền Varenne và luật sư Phan Văn Trường đều có
vào cuộc đấu, giới trí thức tân học theo dõi kỹ.
Cũng vào lúc này ở Sài Gòn ra đời một hình thức vận động
chính trị mới lá mít tinh, biểu tình; cuộ c biểu tình lớn nhất lúc bấy
giờ, lớn nhấ t từ trước cho đến đó là buổi đưa tang cụ Tây Hồ, chừng
50 ngàn người trong số đó có đông đủ học sinh bãi khóa, bạn hàng các
chợ bãi thị và viên chức các sở bãi công. Cuộc đấu tranh mang thính
chất vừa đấu tranh kinh tế vừa đấu tranh chính trị là cuộc bãi công
của một ngàn thợ Bason đòi tăng lương, chống sa thải, thực tế là
nhằm giam chiến hạm Pháp được phái qua Trung Quốc đang sôi sụ c
cách mạng mà phải ghé Sài Gòn để sửa chữa. Bãi công thắng lợi. Dự
luận Tây Nam Sài Gòn chấn động. Sau đó, vào những năm 30 thì Sài
Gòn chứng kiến nhiều cuộ c bãi công và tổng bãi công, bãi thị và tổng
bãi thị, nhiều và lớn không đâu bằng vì lẽ Sài Gòn là thành phố công
thương nghiệp lớn nhấ t Việt Nam, và vì lẽ rằng Đảng bộ Cộng sản
Sài Gòn là một tổ chứ c mạnh. Biểu tình đón lao công đại sứ Justin
Gôda, đón Toàn quyền Brévié (1936-1937) được nhận xét là đông hơn
cuộc đưa linh cữu cụ Tây Hồ, có điều mới là hôm đón Brévié thì nhân
dân và cảnh sá t xô xát nhau dữ dội. Biểu tình ấy còn là nhỏ thôi, còn
là bình thường thôi, nếu so sánh với các cuộc tuyên thệ, các cuộc tuần
hành của thanh niên tiền phong và tổng công đoà n trước Cách mạng
Tháng tám. Nhữ ng ngày 25 tháng 8; 2 tháng 9 năm 1945, trên các
quảng trường và đại lộ Sài Gòn, người quan sá t thấy tập hợp không
phải hàng chục vạ n mà đến hàng trăm vạn người trong tay không
phải chỉ có băng cờ mà còn có cả vũ khí. Sở dĩ các cuộc biểu tình tuần
hành ở Sài Gòn là vị Sài Gòn được bao bọc bởi một ngoại ô phụ cận có
tinh thần cao, có tổ chức mạnh từa tựa như Paris có "vành đai đỏ" nổi
tiếng; từ hàng chục năm rồi liên minh công nông là một sức mạnh
không đế quốc nào phá nổi.
Pháp trở lại. Mỹ kéo đến. Pháp, Mỹ và ngụy quyền đều vấp phải
sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân Sài Gòn lúc nào cũng
sẵn sàng theo tiếng gọi của Đảng cách mạng, để phát động bãi công,
bãi khóa, bãi thị, biểu tình, thị uy tuần hành chố ng lại chúng, mặc
dầu chúng có cảnh sá t vũ trang một cách tối tân. Cần nhắc lại mộ t số
cuộc đấu tranh tiêu biểu nhất cho tinh thần của quần chúng nhân
dân thành phố. Cuộc biểu tình trước dinh thủ tướng ngụy, trong đó
trò Ơn bị bắ n chết, là cuộc biể u tình lớn, nhưng nó lại rất nhỏ nếu so
với đám ma của trò Ơn trong đó cái đầu củ a đoàn biều tình đã vào tới
bệnh viện Chợ Rẫy mà cái đuôi của đoàn biểu tình chưa ra hết khỏi
sân trường Petrus Ký. Cũng cần nhắc lại cuộc biểu tình lớn ở trung
tâm Sài Gòn, mà người dẫn đầu là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, mấy vạn
dân hô vang khẩu hiệu tống cổ chiến hạm Mỹ ra khỏi bến Bạch Đằng,
bà con đốt ôtô, dựng chiến lũy, tay không giao tranh với cảnh sát vũ
trang, xung đột cả buổi, cả ngày, nhìn lại thì chiến hạm và máy bay
Mỹ biết thân đã rút khỏi Sài Gòn rồi! Những nhà làm sử có thừa tư
liệu để viết mấy trăm trang sách chứng minh rằng Sài Gòn là thành
phố của cao trào quần chúng đấu tranh bền bỉ suốt thời thống trị
thực dân cũ và mới.
Sài Gòn, một cái lò rèn đúc nhiều anh tài kiệt xuất cho dân tộc.
Phong trào đấu tranh tư tưởng chính trị, vũ trang của quần chúng
nhân dân chống đế quốc thực dân (từ 1859 đến 1975) ở Việt Nam, ở
Nam Bộ, ở Sài Gòn, đã làm nẩy nở lại thành phố này một số anh tài
kiệt xuất bao gồm nhiều người nổi danh trong nước và cả ngoài nước,
cùng nhiều anh tài vô danh mà sự nghiệp cứu nước vẫn là hiển hách,
vẫn là tấm gương sáng đời đời.
Danh nhân đầu tiên của Sài Gòn kháng Pháp là Hồ Huấn
Nghiệp, theo lời kể của Nguyễn Thông, Nghiệp vì cha chết, mẹ già,
nên không đi thi, ông ở nhà thờ cha, nuôi mẹ, dạy học; nhưng khi
quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì Nghiệp liền theo lời kêu gọi của
Trương Định, nhận của Bình Tây đại nguyên soái chức tuần phủ
Bình Dương, lãnh đạo kháng chiến ở thành phố. Chẳng may bị địch
bắt, Nghiệp thà chịu chết không chịu hàng, trướ c khi ra pháp trường,
Nghiệp can đảm ung dung chải tóc, sửa áo, ngâm bốn câu thơ đầy khí
tiết. Những vị Chủ tịch kháng chiến của Sài Gòn, Nam Bộ về sau đều
xứng đáng với thầy Hồ Huấn Nghiệp; kỹ sư Kha Vạn Cân, luật sư
Phạm Văn Bạch, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phạm Ngọ c
Thạch, luật sư Nguyễn Hữu Thọ... Danh nhân kiệt xuất của Sài Gòn
có thể là các nhà đại trí thức mà cũng có thể là người công nhân như
Tôn Đức Thắng, người đã kéo cờ phản chiến để ủng hộ Nga Sô trên
hạm đội Pháp năm 1919 tại Hắc Hải, ông cũng là người đã cù ng hàng
ngàn thợ Bason giam hạm đội Pháp lại suốt thời gian khi chúng trên
đường đi đàn áp cá ch mạng Trung Quốc năm 1925; như anh hùng lao
động Ngô Văn Năm có công từ Bắc đưa về Nam hàng chụ c tàu vũ khí
trong thời kỳ chống Mỹ. Lại có thể là những thanh niên xem đại
nghĩa cứu nước nặng như đá núi, mà xem cái chết nhẹ như lông hồng.
Điển hình là Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Lê Văn Tám. Cũng có
thể là vị chân tu đắc đạo như Thích Quảng Đức mà ngọn lửa tự thiêu
ở một ngã tư đường phố làm chấn động dư luận cả thế giới, góp phần
đốt cháy ra tro cả một triều đình họ Ngô tay sai của Mỹ. Bây giờ và
sau này, khi ta nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo thì không thể nào
quên sư Thiện Chiếu với các luận văn sâu sắc của cụ về các vấn đề
triết lý cao siêu, có hay không có Thượng đế sáng tạo muôn loài ? Có
hay không có linh hồn bất tử ? Có hay không có Thiên đường, Tịnh độ,
Tây phương cực lạc ? Có hay không có ngoại giới ? Nói về số danh
nhân của thành phố Sài Gòn mà quên các nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ
thì sẽ là thiếu sót. Sài Gòn là nơi có "nhựt trình" sớm nhất ở nước ta;
Sài Gòn lại là nơi mà trong thời thực dân thống trị, người cầm bút có
một số điều kiện tương đối dễ dãi hơn ở Hà Nội, Huế để nói lên một
phần tư tưởng tiến bộ của mình. Cho nên, từ rất sớm một số không
nhỏ những người làm văn, làm báo ở Bắc, Trung kẻ trước người sau
vào đất Sài Gòn thi thố tài năng, Trần Huy Liệu, Hải Triều... Nổi
nhất trong làng báo Sài Gòn trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến
là Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, các anh vừa là nhà báo, vừa là
chính khách viết hay, nói giỏi, lời văn và nhân cách thức tỉnh muôn
người. Sài Gòn là đất dụng võ của những nhà hùng biện. Phải được
nghe Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Tấn Phát, Mai Văn
Bộ, Đặng Ngọc Tốt, v.v..., mới tin rằng tiếng mẹ đẻ của chúng ta
không chỉ đặc sắc êm dịu như ru, mà khi cần cũng thừa sức kích động
tinh thần như đại pháo ở chiến trường. Trong phong trào nhân dân
chống đế quốc, nhiều nghị sĩ Sài Gòn nổi lên như chiến sĩ: nhạc của
Lưu Hữu Phước đem lại sức mạnh như những binh đoàn; Trần Hữu
Trang, Năm Châu, Bảy Phùng Há và bao nhiêu nghệ nhân nữa là
chiến sĩ đánh giặc bằng bản kịch lời ca.
Kể bao danh nhân sản sinh từ nhân dân anh hùng của đất Sài
Gòn này cũng không hết. Hãy nhớ trước hết và cuối cùng tên tuổi của
các nhà lãnh đạo cách mạng đã bị đế quốc và bè lũ tay sai của chúng
giết chết tại thành phố này: Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ,
ba vị Tổng Bí thư tài cao của Đảng Cộng sản và biết bao các chiến sĩ
cách mạng khác nữa, các đồng chí đến đây từ khắp tỉnh thành của Tổ
quốc, yên giấc ngàn thu bên cạnh Hồ Huấn Nghiệp ngày trước, Lê
Thị Riêng ngày nay, góp phần xây dự ng truyền thống anh hùng của
nhân dân Thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
(300 năm Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh - NXB Chính trị Quốc gia)
Chán đời đi lang thang !