📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tế Điên Hòa Thượng (Đồ Khùng Dịch) - HẾT

241 trả lời, 16.885 lượt xem — Trang 1 / 9
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-26 20:04:56bevanng>
Đồ Khùng Dịch
Tế Điên Hòa Thượng [/align]
Tập 1 [/align]
Lời Nhà Xuất Bản [/align]

Tế Điên Hòa Thượng là tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc, kể lại sự tích của một vị thiền sư thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống (khoảng 1150-1209) tại vùng Chiết Giang, Trung Quốc.
Cuộc sống của vị Thiền sư này có nhiều điều kỳ bí khác đời và cũng khác với đời sống tu hành của Tăng chúng đương thời. Tính tình ông cuồng phóng, thích rượu, thích thịt, người đời gọi ông là "Tế Điên”, nhưng ông lại là người rất “tỉnh”, từ bi và ưa giúp đời.
Chuyện về cuộc đời của Hòa thượng Tế Điên được dân chúng tô đắp thêm nhiều điều kỳ bí, sau được sưu tập, gọt giũa thành tác phẩm văn học "Tế Công Hoạt Phật” hay còn gọi là "Tế Điên Hòa thượng”. Tác phẩm nguyên bản tiếng Hán đã được dịch giả dịch sang tiếng việt và đăng tải trên tuần báo Giác Ngộ từ số 24 ra ngày 15-12-1991 đến số 137 ra ngày 14- 11-1998, với bút danh "Đồ Khùng”.
Theo yêu cầu của Báo Giác Ngộ và bạn đọc, Nhà xuất bản Tôn giáo cho in lại tác phẩm "Tế Điên Hòa thượng” thành bộ gồm 4 tập để bạn đọc tiện theo dõi.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp về bộ sách này.
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo
Tế Điên, Ông Là Ai? [/align]

Trong Phật Quang đại từ điển, trang 5661, ghi sơ lược như sau:
* Đạo Tế (1150-1209)
Ông là Thiền sư Trung Quốc thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống, người Lâm Hải (Chiết Giang), họ Lý, tên Tâm Viễn, tự Hồ ẩn, hiệu Phương Viên Tẩu.
Năm 18 tuổi, ông xuất gia ở chùa Linh ẩn và lần lượt tham học với các vị: Pháp Không Nhất Bản ở chùa Quốc Thanh, Đạo Thanh chùa Kỳ Viên, Đạo Tịnh chùa Quán âm. Sau Sư vào núi Hổ Khâu làm môn hạ ngài Hạt Đường Huệ Viễn và nối dòng pháp này. Sư lại đến ở chùa Tịnh Tử, chùa này bị thiêu hủy vì hỏa tai, Sư đi hành hóa ở Lăng Nghiêm trùng tu lại.
Cư dân ở vùng Tần Hồ ăn ốc thường chặt đuôi ốc để ăn. Sư xin những con ốc này thả lại trong nước, ốc phần lớn sống lại mà không có đuôi.
Bình sinh, tánh tình Sư cuồng phóng, thích rượu thịt, nên người đời gọi Sư là Tế Điên.
Năm 1209, Sư thị tịch, thọ 60 tuổi, nhục thân của Sư nhập vào tháp tại Hổ Bào.
Tiểu sử của Ngài tóm tắt là thế. Tuy nhiên ta cũng thấy ở Ngài một vài điểm đặc biệt: tánh tình cuồng phóng, thích rượu thịt, có những hành động không giống ai nên có hỗn danh là Tế Điên.
Tuy “điên” nhưng không phải là Điên quậy phá làm người kinh người sợ, mà là đem lại cho kẻ ác một số báo ứng kinh sợ khiến phải chừa và người thiện sự vui mừng thích thú. Việc hiển lộng thần thông cứu sống một số lớn ốc bị chặt đuôi biểu hiện lòng từ bi vô lượng đối với quần sanh của Ngài là một bằng chứng cụ thể. Cuộc sống lạ lẫm có nhiều cống hiến “đem lợi ích cho đời” của Ngài, dưới con mắt của người bình dân, trở thành một bậc siêu nhân. Siêu nhân đối với họ là một nhân vật bất tử, đủ mọi quyền phép và tài năng làm được bất cứ việc gì mà vị ấy cần làm. Từ đó, họ tô đắp vào cuộc đời Tế Điên biết bao nhiêu hành tung kỳ bí với mục đích cứu người giúp đời. Một truyền mười, mười truyền trăm, khắp nơi kẻ chợ cũng như ngõ bẻm xóm làng, qua lời kể chuyện của người bán hàng và qua bao nhiêu sự chắt lọc thêm bớt theo trí tưởng tượng của từng nhóm người. Lâu dần, Tế Điên Hòa thượng hay Tế Công Hoạt Phật trở thành câu chuyện dân gian được lưu truyền qua cửa miệng mọi người.
Các văn sĩ, sưu tập sửa đổi lại gọt đẽo thành tập truyện nhan đề là "Tế Công Hoạt Phật" - nhưng và xếp vào loạt văn học dân gian, với hình bìa: ông Hòa thượng đội mũ lệch, mắt láo liên, tay cầm chiếc quạt rách. Tác phẩm gồm 240 hồi.
Đọc truyện Tế Điên, ta thấy thấp thoáng bóng hình đi mây về gió của Tây Du, đậm nét hơn là tính tình hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổn phò nguy của anh hùng Lương Sơn Bạc. Điều đó cũng dễ hiểu, vì Tế Điên sống vào thời nhà Tống với biết bao rối ren phát xuất từ lòng tham, hết cướp cạn đến cướp ngày gây cho dân chúng khổ đau không ít. Trước nỗi khổ đau hằng gánh chịu, gặp được bậc siêu nhân luôn tế khổn phò nguy, qua đó gởi gắm những ước mơ của mình, dù là kể lại hay nghe kể, cũng giải tỏa chút nào phiền muộn quên đi những thực tại trước mắt, âu cũng là một điều thống khoái. Vì thế, ta không lạ gì chuyện Tế Điên với chiếc quạt rách đã gần gũi và phổ biến trong mọi giới quần chúng.
Tuy nhiên, đây là quần chúng viết để quần chúng đọc, và vì người viết không thông hiểu Phật lý, cho nên ta không thể bắt buộc tác phẩm phải thể hiện đúng theo tinh thần Phật giáo thuần túy. Quan niệm “giết người ác là một việc làm tốt” không phải xuất phát từ lòng từ bi. Đạo Phật chỉ có hóa giải chớ không có đối nghịch. Nhưng nhìn chung tác phẩm cũng đem lại lơi ích “tránh ác, làm lành” một cách sâu xa trong lòng dân chúng, được coi như là một thành tựu đáng khích lệ. Vui mà nghe, nghe mà nhớ, nhớ để làm điều tốt. Bấy nhiêu đó được thành tựu cũng là đạt yêu cầu rồi.
Truyện Tế Điên mấy năm gần đây đã dựng thành phim nhiều tập. Phim ảnh tuy sống động nhờ những động tác diễn đạt, mặc dù có thêm phần hư cấu sáng tạo nhưng lại không diễn hết những tình tiết tế nhị mà lời văn thể hiện. Để bổ túc nhũng cái chưa đủ đó, dịch giả cố gắng khắc phục bệnh lười của mình, gắng dịch cho xong, để gọi là “mua vui cũng được một vài tí ti”, nhằm cung ứng cho người đọc thưởng thức thêm những điều mà phim ảnh đã lược bớt.
Tiếc rằng cái biết của mình chỉ là khung trời nhỏ hẹp của đáy giếng, không thể chuyển tải trọn vẹn ý tứ cũng như cái hay của ngôn từ được. Nhũng chỗ sai sót được quý vị thức giả phủ chính cho lần tái bản sau là một điều “xin chắp tay vạn tạ”.
Báo Giác Ngộ
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ Nhất [/align]



Tiết Đạt Sứ Lạy Phật Xin Con
Chân La Hán Đầu Thai Cứu Thế




Năm nhà Tống dời đô về đất Lâm An ở phía Nam, nhằm niên hiệu Kiến Viêm năm thứ tư, Cao Tông hoàng đế cải hiệu là Thiệu Hưng năm thứ nhất.
Thuở đó có một vị Kinh doanh Tiết đạt sứ tên là Lý Mậu Xuân, người Chiết Giang, vợ là Ưng thị rất hiền thục. Lý tướng quân vì tính nết hiền hòa, giữ quân lệnh không nghiêm nên bị bãi chức về làng. Trở về quê cũ sống đời nhàn nhã, Lý tướng quân càng ưa làm việc phước thiện, bắc cầu đắp lộ, giúp đỡ kẻ khốn cùng: mùa Đông cho áo, mùa Hè thuốc men. Người trong phố chợ đều ca ngợi là Lý thiện nhơn. Tuy nhiên cũng có người xầm xì: “Tiếng là Lý thiện nhơn nhưng chưa chắc là thiện nhơn đâu. Nếu quả là thiện nhơn sao lại không con nối dõi?".
Lời nói đó thấu tai Lý tướng quân làm ông dàu dàu kém vui. Lý phu nhân thấy thế liền hỏi nguyên nhân:
- Phu quân sao hôm nay mặt mày kém tươi thế?
Lý tướng quân nói:
- Ta vừa đi ra ngoài phố, người người đều gọi ta là Lý thiện nhơn cả, duy có kẻ xầm xì ta là kẻ giả nhân giả nghĩa để che giấu những điều xấu xa khuất lấp. Họ lại nói ta làm lành không phải do thật lòng; nếu thật lòng sao lại không con. Ta nghĩ nếu hoàng thiên có mắt, thần Phật hiển linh, đáng lẽ cho chúng ta một đứa con mới phải.
Phu nhân nói:
- Thưa phu quân, phận thiếp hiếm hoi, trời bắt tội không có con để phu quân có người nối dõi, đó là lỗi của thiếp, xin phu quân hãy nạp thêm nàng hầu họa may có được đứa con để ẵm bồng.
Lý tướng quân nói:
- Phu nhân nói thế là sai rồi, ta đâu có thể làm việc bậy bạ như thế. Hơn nữa, phu nhân tuổi chưa đầy bốn mươi, còn có thể sanh nuôi con cái, chưa đến nỗi tuyệt vọng. Chúng ta nên tắm gội sạch sẽ, trai giới ba ngày rồi cùng lên chùa Quốc Thanh ở phía Bắc núi Thiên Thai lễ Phật cầu con, biết đâu Trời Phật chẳng phụ lòng ta mà nhỏ phước ban cho một đứa bé để ẵm bồng.
Phu nhân nói:
- Ý kiến đó rất hay.
Sau khi chọn ngày lành tháng tốt, Lý tướng quân cưỡi ngựa, phu nhân ngồi kiệu cùng đám gia nhân nhắm hướng núi Thiên Thai tiến phát. Từ chân núi nhìn lên: Núi cao sừng sững, đá núi chập chồng, cỗ cây rậm rạp. Lưng chừng đồi, chùa Quốc Thanh cổ kính vươn mình bên tàng lá rậm. Đàng sau cổng chùa uy nghiêm, hai lầu trống chuông cao vút. Sau năm tầng đại điện là trai đường, khách xá, kinh đường, giới đường và 25 gian Tàng kinh các.
Lý viên ngoại vừa xuống ngựa, bên trong mấy Tăng nhân ra tiếp rước đưa vào nhà khách đãi trà. Đương kim phương trượng là Tánh Không trưởng lão nghe tin Lý viên ngoại đến chùa dâng hương cũng ra tiếp kiến và cho vị Tri khách đưa đi các điện dâng hương. Trước hết, viên ngoại đến Đại hùng bửu diện lễ hương khấn vái:
- Cầu xin đức Phật phù hộ, ban cho đệ tử một đứa con, đệ tử nguyện trùng tu ngôi cổ sát, thếp lại kim thân để cúng dường Tam bảo.
Khấn xong lại lần lượt đến lễ các điện khác. Khi đến diện La hán thứ tư, bỗng nhiên thần tượng từ liên đài ngã xuống đất.
Tánh Không trưởng lão chắp tay niệm Phật:
- Lành thay, lành thay! Bần đạo xin mừng viên ngoại được sinh quý tử, chẳng bao lâu sẽ có tin mừng.
Ngày tháng như thoi đưa, Đông qua Hạ tới, chẳng mấy chốc phu nhân đến kỳ nở nhụy khai hoa. Đến khi sinh nở, hào quang sáng rực khắp phòng, hương thơm tỏa ra sực nức. Thấy lạ ai nấy đều lấy làm vui mừng. Có một điều kỳ quái làm viên ngoại lo âu không xiết. Số là đứa bé sau phút chào đời cứ khóc mãi không thôi. Đến ngày thứ ba, đang lúc bè bạn hàng xóm đến chúc mừng, có gia nhân vào báo tin:
- Phương trượng ở chùa Quốc Thanh là Tánh Không trưởng lão đích thân đưa một phần trọng lễ đến chúc mừng.
Viên ngoại vội vã ra cửa nghênh đón và mời vào khách sảnh.
Tánh Không trưởng lão nói:
- Bần đạo xin chúc mừng viên ngoại, chẳng hay lệnh công tử vẫn được khang an?
Viên ngoại nói:
- Đa tạ đại sư có lòng chiếu cố. Tệ nhi từ khi lọt lòng cứ khóc mãi, đến hôm nay cũng vẫn chưa nín. Đệ tử đang lo lắng về việc này. Xin đại sư có phương cách gì chữa trị hộ cho cháu.
Tánh Không trưởng lão bảo:
- Được, được! Viên ngoại sai người bồng công tử ra cho bần đạo xem thử mới biết rõ nguyên cớ.
Viên ngoại nói:
- Tệ nhi mới sinh có mấy ngày còn mềm mại, bồng ra quá sớm sợ e không tiện.
Tánh Không trưởng lão nói:
- Không hề chi, viên ngoại chỉ cần lấy khăn mềm bọc kín công tử lại tất khỏi phải sợ nắng gió phạm nhằm.
Viên ngoại nghe có lý, vội sai người bồng đứa bé ra cho mọi người xem. Thằng bé mặt mũi khôi ngô, phẩm chất thanh kỳ, khóc mãi không dứt. Thấy Tánh Không trưởng lão, đứa bé lập tức nín khóc và toét miệng cười.
Lão Hòa thượng lấy tay vỗ vỗ trên đầu đứa bé, nói:
“Thôi thôi chớ có vội cười
Lai lịch nhà ngươi ta biết hết
Chúng ta giao ước cùng trao đổi
Bớt được tựa nương ở thế gian ".
Đứa bé nín khóc hẳn.
Tánh Không trưởng lão nói:
- Này viên ngoại, lệnh công tử có túc duyên với bần đạo thôi để bần đạo thu nhận làm đệ tử ký danh và đặt tên là Lý Tu Duyên nhé.
Viên ngoại tỏ lòng cảm tạ, cho bồng đứa bé vào trong nhà và mời Hòa thượng dùng cơm chay. Thọ trai xong, Hòa thượng kiếu từ trở về, các thân hữu cũng nói lời từ biệt. Viên ngoại thuê một người vú khỏe mạnh chăm nuôi săn sóc công tử. Ngày tháng qua nhanh, thoáng chốc Lý Tu Duyên đã được 7 tuổi, suốt ngày biếng nói biếng cười, không thích chơi đùa với bọn trẻ cùng trang lứa ở hàng xóm. Đến tuổi đi học, viên ngoại mời một vị Tú tài già tên là Đỗ Quân Anh đến nhà kèm dạy. Ngoài ra, Lý Tu Duyên lại có hai bạn đồng song: Một là Hàn Văn Mỹ, 9 tuổi, con quan Võ Hiếu liêm Hàn Thành; và một là Vương Toàn, 8 tuổi, con quan Binh bộ Tư mã Vương An Sỹ, cháu ruột của Lý phu nhân. Ba anh em cùng chung học tập rất là vui vẻ. Riêng Lý Tu Duyên tuy nhỏ tuổi nhưng rất thông minh, học một biết mười, hễ qua mắt không quên. Đỗ lão sư cho là kỳ tài, thường khoe với mọi người:
- Thằng bé này về sau sẽ nổi danh trong thiên hạ.
Đến năm 14 tuổi, Lý Tu Duyên làu thông cả Tứ thư, Ngũ kinh, và các sách của Bách gia chư tử, hàng ngày cùng hai bạn Vương và Hàn thường ở thư phòng xướng họa thi thơ, khẩu khí rất là cao đẹp.
Năm đó Lý Tu Duyên sắp sửa vào trường luyện thi lấy bằng Văn Đồng, không may Lý viên ngoại ngã bệnh nặng, mỗi lúc thêm nguy kịch. Viên ngoại cho người mời người em vợ là Vương An Sỹ đến bên giường trăn trối:
- Hiền đệ ơi, ta không thể sống nổi được ở đời, từ nay xin hiền đệ thay ta săn sóc cho chị và cháu bé dại khờ. Lý Tu Duyên hãy còn nhỏ dại, hiền đệ đừng để cho nó ham chơi bỏ học. Về việc hôn nhân của cháu, ta cũng đính ước với con gái nhà Lưu Thiên Hộ đã xong. Sau khi ta mất rồi, nhà cửa không người coi ngó, việc nên hư cũng xin hiền đệ lưu ý quản nhiệm cho.
Vương An Sỹ nói:
- Xin anh cứ an lòng dưỡng bệnh, khỏi phải bận tâm, tôi xin hết sức giúp đỡ mọi việc.
Viên ngoại lại dặn Lý phu nhân rằng:
- Hiền thê ơi, ta nay đã 55 tuổi, kể cũng là thọ rồi. Sau khi ta chết, hiền thê hãy cố gắng nuôi con, dạy dỗ cho nó nên người. Có như thế, ta mới yên lòng nơi chín suối.
Viên ngoại dặn Lý Tu Duyên mấy câu nữa rồi nhắm mắt đi xuôi.
Lý viên ngoại mất rồi, cả nhà khóc lóc vang đầy. Nhờ có Vương viên ngoại giúp đỡ, việc ma chay thập phần hoàn mãn. Lý Tu Duyên cư tang nên không đến trường khảo thí, Vương Toàn và Hàn Văn Mỹ đều thi đỗ tú tài.
Vợ chồng Vương viên ngoại có một tòa nhà tên là Vấn Tâm lầu, tất cả những việc làm trong năm đều ghi lên tấm trướng. Cuối năm theo đó, viết một bản biểu chương tấu cáo đất trời, không một điều chi giấu giếm.
Lý Tu Duyên rất ham học đạo, mỗi khi gặp được quyển kinh nào tất ưa thích nghiền ngẫm không rời.
Hai năm sau, Lý phu nhân cũng qua đời vì bệnh nặng. Lý Tu Duyên lại một lần khóc đấng sinh thành vĩnh biệt. Mọi việc tang ma cũng do tay Vương viên ngoại giúp đỡ quán xuyến.
Sau khi song thân qua đời, Lý Tu Duyên càng thích xem kinh sách hơn nữa. Đến năm 18 tuổi, cư tang báo hiếu đã xong, Lý Tu Duyên nhìn thấy cõi hồng trần mộng ảo, quyết chí xuất gia đầu Phật. Mọi việc trong nhà đều nhờ Vương viên ngoại coi sóc giùm. Đến trước phần mộ song thân đốt hương khấn nguyện xong, Lý Tu Duyên lẻn ra đi, để lại một phong thư nhỏ. Vương viên ngoại đã hai ngày không thấy cháu trở về, sai người đi dọ hỏi các chỗ cũng không thấy tăm hơi, bèn mở thư ra xem. Trên thư chỉ để lại mấy chữ vắn tắt:
“Tu Duyên đã đi,
Đừng tìm làm chi,
Sau này gặp lại,
Sẽ rõ sự nghì”
Vương viên ngoại biết cháu mình ưa đọc sách Tiên Phật, bèn cho người đi tìm kiếm ở các chùa miếu lân cận, cũng không được dấu vết gì. Lại viết bản báo cáo dán khắp nơi:
- Ai đưa Lý Tu Duyên về nhà sẽ được thưởng 100 lượng bạc.
- Ai đưa tin chắc chắn Tu Duyên ở đâu sẽ hậu tạ 50 lượng bạc.
Liên tiếp ba tháng trời tìm kiếm, tin tức vắng không, những tấm bố cáo ố màu rơi lả tả.
Về phần Lý Tu Duyên, sau khi bỏ nhà ra đi, vui chân đi mãi, du sơn ngoạn cảnh tìm chưa được chỗ nào xứng ý xuất gia. Đến Hàng Châu, tiền bạc mang theo hết sạch, Lý Tu Duyên đến một ngôi chùa xin xuất gia nhưng không được nhận, chàng bèn đến chùa Linh Ấn trên ngọn Phi Lai nơi Tây Hồ ra mắt Lão phương trượng xin xuất gia. Hòa thượng lão phương trượng chính là kế vị đời thứ 9 bổn tự tên là Nguyên Không trưởng lão, hiệu là Viên Hạc Đường. khi thấy Lý Tu Duyên liền biết chàng là kim thân La hán đầu thai vâng lệnh Đức Phật giáng thế độ đời.
Thấy chàng còn mơ hồ chưa tỉnh, Hòa thượng bèn dùng tay vỗ huyệt thiên môn của chàng ba cái. Bao nhiêu căn nguyên nguồn cội sau ba cái vỗ tức thời phục hồi như cũ. Lý Tu Duyên sụp xuống lễ Nguyên Không trưởng lão cầu xin xuất gia và được đặt pháp hiệu là Đạo Tế. Đạo Tế tọa thiền có vẻ điên điên lại có vẻ ba trợn, đạo chúng trong chùa bảo nhau kêu ông ta là Hòa thượng điên (Điên hòa thượng), lại có người gọi ông ta là ông thầy ba trợn (Phung hòa thượng), thêm đi bớt lại rút cục thành Tế Điên tăng. Thực ra ông ta vẫn là người vâng lệnh Phật Tổ xuống độ đời, mượn việc cứu khốn phò nguy để khuyến hóa chúng sanh qui về Phật pháp. Trong chùa, bất cứ ông Tăng nào hễ có tiền dư đều bị trộm lấy, có y phục đẹp đẽ cũng bị đánh cắp chuồn vào tiệm cầm đồ để đổi làm đồ nhắm cho Đạo Tế cả. Rượu là món ông ta ưa thích nhất. Có người nói:
- Hễ làm Hòa thượng lẽ ra phải ăn chay, cớ sao ông lại rượu thịt tối ngày như thế?
Đạo Tế nói:
Cổ thi Phật Tổ để một phong.
Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng,
Người nay tu miệng, lòng không sửa.
Bần tăng lòng sửa, miệng thì không.
Việc rượu thịt suốt ngày của Đạo Tế làm cho vị Giám tự là Quảng Lượng bất bình không ít. Địa vị của vị Giám tự chỉ dưới vị Phương trượng chủ trì một bậc mà thôi. Tế Điên bất chấp điều đó. Một hôm, Quảng Lượng vừa sắm một bộ tăng bào mới trị giá 40 quan, Tế Điên chụp lấy đem cầm nhậu rượu rồi đem giấy cầm đồ dán ở cổng chùa. Vị Giám tự thấy áo không cánh mà bay vội vã cho người tìm kiếm khắp nơi, mới biết áo mình nằm gọn trong tiệm cầm đồ và giấy cầm hiện dán trước cửa. Lạ một điều là gỡ mãi chẳng ra, không biết làm sao, Quảng Lượng đành hạ cổng gỡ xuống và cho bốn người khiêng đến tiệm chuộc áo.
Chuộc áo xong, Quảng Lượng trở về bạch cùng Phương trượng:
- Bạch Thầy, Đạo Tế ở chùa cứ giở chứng điên khùng không giữ thanh quy. Bao nhiêu áo quần, tiền bạc của Tăng chúng để hở ra đều bị ông ấy chộp lấy, xin Thầy y chiếu thanh quy mà sửa trị để răn chúng.
Nguyên Không trưởng lão nói:
- Không thấy Đạo Tế lấy trộm, làm sao xử trị ông ấy được. Các ông từ nay cứ ngầm theo dõi, nếu bắt được quả tang ông ấy lấy trộm, cứ đưa đến ta xử trị.
Quảng Lượng liền phái hai người đệ tử luôn theo dõi Tế Điên. Về phần Tế Điên cứ ung dung gối đầu nằm ngủ ở góc đại điện. Hai chú tiểu tăng tên là Chí Thanh và Chí Minh hàng ngày để ý rình rập. Ngày kia, chợt thấy Tế Điên ló đầu ra nhìn bốn phía, lại đến mỗi bàn dừng lại một lúc rồi lại đến một bàn khác lén lén lút lút có vẻ khả nghi. Sau cùng rón rén đi ra, trước bụng gồ lên một cục, nhầm hướng chợ đi tới. Chí Thanh, Chí Minh từ trong nhà lật đật kêu lớn:
- Này Tế Điên! ông trộm cái gì đó, phen này hết đường chạy tội nhé!
Mỗi người một tay giữ Tế Điên lại, đưa thẳng vào ra mắt Phương trượng.
Trong lúc đó, Giám tự vào trước bạch với Phương trượng rằng:
- Bạch thầy, Đạo Tế ở trong chùa chúng ta không giữ thanh quy, lấy trộm đồ vật của chùa, xin thầy cứ y chiếu thanh quy mà trị tội ông ấy.
Nguyên Không trưởng lão nghe nói thế, than thở: "Đạo Tế ơi, Đạo Tế! Ông lấy trộm đồ vật của chùa làm chi cho chúng bắt được. Ta dù có ý che chở cho ông cũng không biết nói thế nào cho phải". Bèn bảo mọi người:
- Thôi, hãy đưa ông ấy vào đây.
Tế Điên đến trước phòng Phương trượng, nói:
- Con xin vấn an Lão phương trượng.
Nguyên Không trưởng lão nghiêm sắc mặt hỏi:
- Đạo Tế không giữ thanh quy, lấy trộm đồ vật của chùa mắc phải tội gì?
Quảng Lượng vội thưa:
- Chiếu thanh quy, người mắc tội ấy bị thâu hủy y bát giới điệp, đuổi ra khỏi chùa không được làm Tăng nữa.
Phương trượng nói:
- Ta sẽ phạt nặng ông ấy mới được.
Đoạn quay qua Tế Điên, Phương trượng nói:
- Này Đạo Tế! Hãy trình vật lấy trộm ra đây!
Tế Điên nói:
- Bạch sư phụ, các huynh đệ thật là khi dể và ăn hiếp con quá. Con ngủ ở chánh điện, thức dậy dọn quét, nhân tìm đồ đựng rác không ra, con mới túm trước bụng để đem bỏ. Các huynh đệ không tin, cứ lại đây xem.
Tế Điên nói rồi, lấy tay gỡ nút vạt áo ra, đất cát rơi xuống lả tả. Lão phương trượng cả giận, nói:
- Hay cho Quảng Lượng, ông dám vu khống cho người hiền là kẻ trộm. Tội đó phải phạt đòn mới được.
Chúng tăng sợ xanh cả mặt, không khỏi bàn tán xôn xao. Bỏ mặc tiếng ồn ào, Tế Điên nhắm hướng Tây Hồ đi tới. Thấy bên gốc cây có người thắt thòng lọng sắp treo mình, Tế Điên lật đật đến cứu người đó.
Thật là:
Người ngay mắc nạn gặp Thánh tăng.
Thất lạc cha con hợp một nhà.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 2 [/align]



Đồng Sĩ Hoằng Đợ Con Chôn Mẹ
Hoạt La Hán Cứu Nạn Người Hiền


Thơ rằng:
Cố công tìm tiên cảnh
Tiên cảnh nào đâu xa
Trước mắt không tham luyến
Trong lòng ắt thảnh thơi
Đất trời thênh thang rộng
Ung dung ngày tháng dài
Suốt đời an bổn phận
Nào phải đắn đo chi.
Tế Điên Hòa thượng đi đến Tây Hồ thấy một người đang thắt thòng lọng định treo cổ, vội bấm linh quang biết rõ mọi việc. Nguyên người định treo cổ có tên là Đồng Sĩ Hoằng ở huyện Tiền Đường, tỉnh Chiết Giang, thờ mẹ rất hiếu thảo. Cha mất sớm, mẹ họ Tần cưới cho người vợ họ Đỗ, chẳng may gãy gánh giữa đường, để lại một đứa con gái khá lanh lợi tên là Ngọc Thơ. Đồng Sĩ Hoằng nhờ nghề thợ bạc sống qua ngày. Đến năm Ngọc Thơ 8 tuổi, bà cụ họ Tần nhuốm bệnh nặng. Đồng Sĩ Hoằng hết lòng chăm sóc, hiềm nỗi nhà nghèo không đủ sức lo thuốc thang cho mẹ già. Túng cùng, ông ta dành đem đợ đứa con gái của mình cho nhà tiến sĩ họ Cố lấy 50 lượng bạc, với thời hạn là 10 năm chuộc lại. Bà cụ Tần nhân không thấy mặt cháu mới gạn hỏi lý do. Đồng Sĩ Hoằng đổ thừa:
- Con bé đã về chơi bên ngoại.
Vì nhớ cháu, bà cụ ốm liệt thêm, bảy ngày dây dưa rồi mất. Đồng Sĩ Hoằng phát mãi hết những đồ vật có giá trị trong nhà để chôn cất mẹ già xong, cũng đến phủ Trấn Giang làm mướn qua ngày. Thấm thoát đã 10 năm, tính lại số tiền dành dụm cũng dễ đến 60 lượng bạc. Đồng Sĩ Hoằng định trở lại làng cũ chuộc con về rồi tìm mua một ngôi nhà cũ để cha con ở. Ngày kia đi đến Lâm An, ngụ lại khách điếm ngoài cửa Tiền Đường, chờ hôm sau về ngõ hẻm cũ hỏi thăm nhà Cố tiến sĩ. Nào ngờ, người lối xóm đều bảo: "Cố tiến sĩ đã đi nhận chức ở tỉnh nào xa lắm, bây giờ không biết đã đi phương nào...”. Đồng Sĩ Hoằng nghe nói thế như sét nổ bên tai, như rơi tuột giữa vực thảm, cố dọ hỏi khắp nơi lân cận cũng không biết Cố đại nhân trấn nhậm ở đâu và con gái mình xiêu dạt phương nào. Buồn bực, Đồng Sĩ Hoằng vào quán rượu uống ít chén giải sầu. Uống vào mấy chén rượu say túy lúy, chân thấp chân cao bước ra khỏi quán, quên cả đường về nơi ngụ, cả đến gói bạc rơi rớt lúc nào cũng chả hay. Đến khi tỉnh rượu, rờ lại gói bạc không còn. Đồng Sĩ Hoằng chậm chạp đi về phía bờ rừng, càng nghĩ càng thêm rầu rĩ: "Muốn tìm con gái rốt cục chẳng thấy được mặt, gói tiền dành dụm bao năm vô ý trắng tay, chi bằng chết phứt cho xong". Nghĩ thế rồi Đồng Sĩ Hoằng đến bên rừng, lần mở thắt lưng buộc lên nhánh cây và làm một cái thòng lọng, sắp sửa đút đầu vào. Ngay lúc đó, có một vị Hòa thượng vừa đi vừa than thở: "Chết! Chết! Phải chết mới được, chết còn sướng hơn sống trên đời. Ta treo cổ quách cho xong!” Vừa nói vừa mở thắt lưng dòm lên trên cây định buộc. Hòa thượng ấy phục sức lôi thôi, bộ dạng nửa người nửa ngợm. Có thơ rằng:
Mặt chẳng lau, đầu chẳng cạo,
Mắt say hé mở nhắm liền vô,
Như điên như dại, như khờ khạo,
Gặp chỗ khôi hài thích giở trò,
Tăng y rách nát chẳng kín thân.
Trên dưới xun xoe tiền rủng rẻng,
Tơi tả quanh mình khiếu với chầm,
Giày dây đứt nối đỏ cùng đen,
Tăng hài mòn rách còn lại đế.
Sức mạnh cặp đùi tuy nhỏ thó.
Càn khôn bốn bể mặc tiêu dao,
Qua sông trèo núi nhanh như gió,
Kinh chẳng đọc, thiền bất biết,
Rượu thịt tối ngày, giở trò xiếc,
Thức mê khuyến thiện độ quần sinh,
Cứu vớt nhân gian bất bình diệt.
Đồng Sĩ Hoằng liếc mắt theo dõi, nghe Hòa thượng nói: “Ta chết cho rảnh”, rồi thò đầu vào thòng lọng. Đồng Sĩ Hoằng lật đật chạy đến, nói:
- Này Hòa thượng ơi, ông vì cớ gì mà làm việc uổng đời như vậy?
Tế Điên nói:
- Ba năm nay, tôi theo sư phụ đi hóa duyên khắp nơi, cực khổ trăm điều, tính lại chỉ vừa năm lượng bạc. Hôm nay sư phụ sai tôi ra chợ sắm hai bộ tăng bào và tăng mão (mũ ni). Thèm rượu quá, tôi ghé vào quán uống chơi vài chén, ngờ dâu say quá đánh rơi mất 5 lượng bạc mang theo. Bây giờ tôi còn mặt mũi nào trở về gặp sư phụ nữa. Mất tiền này, sư phụ tôi thế nào chẳng nổi giận đánh mắng. Nghĩ tới nghĩ lui, thôi thà chết cho khỏe.
Đồng Sĩ Hoằng nghe nói thế, liền nói:
- Này Hòa thượng, 5 lượng bạc có sá gì mà ông lại muốn tìm cái chết. Tôi cũng là người mắc nạn, sẵn trong túi có 5 - 6 lượng bạc vụn để cũng chả làm gì. Ông lại đây, tôi đem số tiền giúp đỡ ông.
Nói rồi thò tay vào bọc lấy bạc đưa cho Tế Điên. Tế Điên cầm bạc trong tay, cười ha hả nói:
- Bạc của ông không tốt bằng bạc của ta, lại vụn nát lấm chấm. Tuy vậy cầm tạm cũng được.
Đồng Sĩ Hoằng nghe nói không vui, thầm nghĩ: “Mình đã biếu ông hết cả tiền mà ông còn chê là bạc xấu!" Rồi nói:
- Hòa thượng ơi, có tiền rồi đó, ông mặc ý mà xoay xở đi.
Tế Điên nói: Tôi đi nhé.
Đồng Sĩ Hoằng lẩm bẩm: "Ông Hòa thượng này thật chẳng biết điều chút nào cả, mình có bao nhiêu cho hết mà ông lại còn chê là bạc xấu. Lúc đi, họ tên mình ông cũng không hỏi, cả đến tiếng cám ơn cũng không. Thiệt là hạng hạ cấp. Ôi, để chết đi cho rảnh”. Đang lúc đùng đùng nổi giận như thế, lại thấy Tế Điên từ đằng kia trở lại nói:
- Hòa thượng ta một khi thấy bạc là quên hết, cũng không hỏi ân công tên họ là gì? Tại sao ra nông nỗi thế?
Đổng Sĩ Hoằng đem việc mình mang bạc đi bị mất ra sao lần lượt thuật lại.
Tế Điên nói:
- Té ra ông cũng là người mất bạc để cha con không được gặp mặt nhau. Như vậy ông chết là đáng lắm! Thôi ta đi nhé!
Đồng Sĩ Hoằng nghe thế, giận nói:
- Ông Hòa thượng này thiệt mất lịch sự quá, mở miệng nói toàn những việc không đâu vào đâu.
Tế Điên đi được năm sáu bước, quay lại hỏi:
- Này Đổng Sĩ Hoằng, ông muốn chết đó là muốn chết thiệt hay chết giả?
Đồng Sĩ Hoằng nói:
- Tôi muốn chết thiệt thì sao?
Tế Điên nói:
- Ông muốn chết thiệt hử? Ta sẽ giúp ông trọn tình trọn nghĩa: Bộ quần áo ông đang mặc đáng giá năm sáu lượng bạc. Khi ông chết bị chồn xé, quạ rỉa rách nát cũng uổng, chi bằng cởi ra đưa cho ta. Cởi hết ra, cởi hết ra, chết chẳng là thoải mái lắm sao?
Đồng Sĩ Hoằng nghe thế, giận run cả người, nói:
- Hay cho Hòa thượng, ông trọn tình trọn nghĩa quá! Tôi với ông bèo nước gặp nhau, tôi cho ông mấy lượng bạc, ông lại nói với tôi những lời khó nghe nhỉ?
Tế Điên vỗ tay cười ha hả nói:
- Lành thay, lành thay í ông chưa muốn chết vội, ta hãy hỏi ông: số bạc ấy đã mất rồi, ông lại muốn chết. Số tiền 50 - 60 lượng kể có là bao, ta sẽ tìm giùm con gái ông để hai cha con gặp nhau, cốt nhục đoàn viên, ông có bằng lòng không?
Đồng Sĩ Hoằng nói:
- Hòa thượng ơi, số tiền mang đi chuộc con tôi đã đánh mất rồi. Giả sử bây giờ có tìm gặp nó, tôi cũng không biết lấy gì để chuộc ra được.
Tế Điên nói:
- Được, được, ta sẽ có cách. Ông cùng đi với ta nhé!
Đồng Sĩ Hoằng hỏi:
- Hòa thượng hiện tu ở chùa nào? Và quý hiệu là chi?
Tế Điên nói:
- Bần đạo tên là Đạo Tế, tu ở chùa Linh ẩn trên núi Phi Lai nơi Tây Hồ, người ta thường gọi là Tế Điên tăng.
Đồng Sĩ Hoằng thấy Hòa thượng nói năng khác thường, lại có ý cứu vớt hoạn nạn cho mình, bèn nói:
- Thưa sư phụ, chúng ta sẽ đi đâu?
Tế Điên chỉ nói: Đi!
Đoạn xoay mình cắp tay Đồng Sĩ Hoằng đi tới trước, vừa đi vừa hát:
Đi đi di, dạo dạo dạo.
Không thị, không phi suốt tháng năm.
Ngày nay mới biết xuất gia quý.
Ăn năn thuở trước kiếp ngựa trâu!
Ân với ái? Chỉ là mộng ảo.
Vợ cùng con? Chỉ khác ma đầu.
Chi bằng ta, tay trắng với một bầu.
Chi bằng ta, qua phố phủ, kinh châu.
Chi bằng ta thong thong thả thả.
Chi bằng ta lãng đãng giang hồ
Suốt ngày vui sống đời thư thả,
Cũng chẳng ưu tư cũng chẳng sầu.
Vẹt gót giày băng đồng trèo núi.
Rách tăng y vượt suối qua sông
Ta cũng hát hề ca với xướng
Ta cũng cương hề lại cũng nhu.
Ngoài thân thể hợp cùng trời đất
Nào ngại chi đời chẳng chỗ dung.
Trời cũng thây, đất cũng thây.
Vui vui vẻ vẻ ngạo vương hầu.
Buồn ngủ khoanh tròn say một giấc,
Tỉnh lại sự đời chả đáng chi.
Đến một ngõ hẻm, Tế Điên bảo Đồng Sĩ Hoằng:
- Ông đứng ở ngoài này nhé, giây lát sẽ có người ra hỏi ngày tháng năm sinh của ông. Ông cứ thực mà nói, đừng đi đâu nhé. Hôm nay ta sẽ làm cho cha con ông được đoàn tụ.
Đồng Sĩ Hoằng nói:
- Cúi xin Thánh tăng từ bi thương xót.
Tế Điên ngước mắt nhìn thấy mười mấy tên gia đinh đang ngồi phía trong cổng một tòa nhà cao lớn với biển đề treo cao, biết rằng đây là nhà một vị quan nào, bèn xăm xăm đi tới hỏi:
- Kính chào chư vị, đây có phải là nhà của Triệu lão gia không?
Gia nhân thấy vị Hòa thượng ăn mặc lôi thôi, trả lời:
- Phải đấy, chủ nhân chúng tôi họ Triệu, Hòa thượng hỏi có việc chi?
Tế Điên nói:
- Nghe người ta nói bà cụ ở nhà bệnh thế trầm trọng sợ e khó sống, ta muốn đến tìm chủ nhân của các người để trị bệnh cho bà cụ.
Gia nhân nói:
- Hòa thượng đến thật đúng lúc; bà cụ, nhân vì tiểu chủ bệnh, nặng lòng lo cho cháu, lo quá thành bệnh. Gia chủ đã rước khá nhiều thầy thuốc đến điều trị mà chưa thấy thuyên giảm. Gia chủ chúng tôi tên là Triệu Văn Hội rất có hiếu với mẹ, thấy bà cụ bị bệnh nặng, hễ có thầy thuốc nào tài giỏi đều cho người mời đến để trị bệnh. Gần đây có vị viên ngoại họ Tô tên là Bắc Sơn, cũng có bà cụ mắc bệnh. Bên đó mời được một vị lương y tên là Lý Hoài Xuân, trác hiệu là Trại thúc hòa, rất tinh thông y lý. Chủ nhân chúng tôi vừa sang nhà Tô viên ngoại để mời y sĩ về.
Vừa nói đến đó, bên ngoài có một đoàn người cưỡi ngựa về tới. Ba người đi trước, một người cưỡi ngựa bạch, tướng mạo đẹp đẽ, tuổi trạc 30, đầu đội khăn bốn góc, trên có cài phiến ngọc, mình mặc áo cừu viên ngoại, trên đó thêu hàng trăm con bướm nhỏ, chân mang đôi giày gấm, da mặt hơi trắng, dưới cằm không râu. Người này chính là Trại thúc hòa Lý Hoài Xuân.
Người thứ hai đội khăn lam chéo góc thêu khảm ngọc đẹp mình mặc áo cừu lam, chân mang giày xanh, mặt như trăng rằm, đôi mắt hiền từ, râu ba chòm phất phơ trước ngực. Người này chính là Tô Bắc Sơn viên ngoại.
Người thứ ba cũng có dáng dấp một phú ông viên ngoại, mặt trắng râu dài, ngũ quan thanh tú.
Tế Điên thấy rồi, ra trước đầu ngựa nói:
- Xin ba vị khoan đi đã, Hòa thượng ta chờ quý vị đã lâu rồi.
Triệu Văn Hội ở phía sau thấy một vị Hòa thượng khùng khùng cản lối, vượt lên trước nói:
- Này Hòa thượng, chúng tôi có việc gấp, rước thầy thuốc về trị bệnh cho mẹ già. Hòa thượng muốn hóa duyên thì để ngày khác, hôm nay không được đâu.
Tế Điên nói:
- Không phải đâu, Hòa thượng ta đâu có đi hóa duyên. Nghe nói trong quý phủ có bà cụ bị bệnh nặng, ta muốn đến thăm bệnh. Trong đó có kẻ muốn làm hại bệnh nhơn, phải đi cứu bệnh mới được. Ý của Hòa thượng ta chỉ cốt đến trị bệnh mà thôi.
Triệu Văn Hội nói:
- Tôi đã mời thầy thuốc rồi, vị này là một danh y đương thời. Thôi, Hòa thượng đi đi, tôi không mời ông.
Tế Điên quay nhìn Lý Hoài Xuân với một mắt, nói:
- Ông là danh y đương thời hử? Tôi xin hỏi ông một vị thuốc này xem trị bệnh gì?
Lý Hoài Xuân nói:
- Xin Hòa thượng cứ hỏi.
Tế Điên nói:
- Bánh bao mới ra lò trị bệnh gì?
Lý Hoài Xuân nói:
- Sách Bản thảo không có nói vị đó, tôi không biết.
Tế Điên cười ha hả, nói:
- Cả đến việc quan trọng dường ấy ông không biết mà lại dám xưng là danh y. Này nhé, bánh bao mới ra lò là trị bệnh đói, có phải không? Ông nói không trôi, vậy ta sẽ vào nhà họ giúp đỡ ông một tay nhé!
Lý Hoài Xuân nói:
- Được Hòa thượng muốn đi thì cứ đi.
Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn cũng không tiện ngăn trở, lấy mắt nhìn nhau rồi cùng tiến vào cổng.
Đến trước phòng của Triệu thái thái, gia nhân dâng trà xong, Lý tiên sinh chẩn mạch cho bà cụ, nói:
- Đây là chứng đàm ứ uất kết bừng lên, phải trị bằng cách cho mửa cục đàm đó ra mới lành bệnh. Bà cụ tuổi tác đã cao, khí huyết kém suy, không thể trị bằng cách đó được. Xin viên ngoại thỉnh một vị lương y khác cao minh hơn.
Triệu Văn Hội nói:
- Thưa tiên sinh, không ở trong y giới, làm sao tôi biết vị nào là cao minh để mời, xin tiên sinh vui lòng tiến cử hộ.
Lý Hoài Xuân nói:
- Ở Lâm An này chỉ có tôi và Thang Vạn Phương mà thôi. Bệnh nào ông ấy trị được, tôi cũng trị được. Ngược lại, bệnh nào tôi trị không được, ông ấy cũng đành thúc thủ mà thôi. Chúng tôi tài học ngang nhau.
Câu chuyện đến đó bỗng nghe Tế Điên nói:
- Các ông đừng quá lo, để Hòa thượng ta chẩn mạch bà cụ thử xem.
Triệu Văn Hội là người con chí hiếu, nghe thế lật đật nói:
- Phải đấy, xin kính mời Hòa thượng.
Lý Hoài Xuân cũng muốn xem tài nghệ Hòa thượng ra sao. Chỉ thấy Tế Điên đến trước lão thái thái vỗ tay nói:
- Lão thái thái chưa chết được đâu, xương sọ còn cứng lắm mà.
Lý Hoài Xuân nói:
- Hòa thượng này khéo nói chuyện tầm ruồng không.
Tế Điên nói:
- Được rồi, để Hòa thượng ta đem cục đàm ra là xong.
Nói rồi, Tế Điên đến trước lão thái thái nói:
- Đàm a đàm, ra đây mau! Mi ở trong đó tức giết lão thái thái ư?
Lý Hoài Xuân cười thầm: "Thực là đồ bá vơ ở đâu”.
Chỉ thấy lão thái thái ho ra một cục đàm. Tế Điên thò tay vào mình lấy một viên thuốc vò vò, hô:
- Đem một chén nước âm dương ra đây!
Giây lát, gia nhân đem nước tới.
Triệu Văn Hội vội hỏi:
- Thuốc đó tên là chi mà có thể trị bệnh cho mẫu thân của tôi được?
Tế Điên cười lớn, tay cầm hoàn thuốc, nói:
Thuốc này tùy thân dùng mãi mãi
Chẳng phải hoàn tán với cao đơn
Tạp bệnh uống vào liền hiệu nghiệm
Bát bửu tiên y Trừng nhãn hoàn.
Tế Điên nói xong, thả viên thuốc vào chén nước, nói:
- Lão thái thái vì lòng lo lắng nóng nảy, nên bị một cục đàm vọt lên lập tức hôn mê bất tỉnh. Quí vị nên khéo léo phò dưỡng lão bà và cho uống viên thuốc này, lập tức có công hiệu.
Triệu Văn Hội nghe nói thế, biết Hòa thượng này lai lịch phi thường nên nói nguyên nhân gây bệnh rất đúng, vội nói:
- Bạch Thánh tăng, xin người từ bi cứu giúp cho. Mẹ của con nhân vì quá lo lắng cho bệnh tình của cháu nội, lòng dạ cấp bách mà ra nông nỗi. Con có một đứa bé mới lên 6 tuổi không biết bị chứng bệnh oan nghiệt gì mà cứ hôn mê bất tỉnh luôn. Mỗi lần như thế, mẹ con lo sợ cuống cuồng mới bị đàm chặn nghẹt như thế. Sư phụ có ý trị bệnh cho mẹ con, luôn tiện xin rủ lòng thương chửa trị cho cháu.
Tế Điên bảo đem thuốc đổ cho bà cụ, giây lát đàm hạ bình phục như xưa.
Triệu Văn Hội đến thỉnh an lão thái thái rồi lại dập đầu cầu xin Hòa thượng trị bệnh cho con mình. Tế Điên nói:
- Muốn Hòa thượng ta trị cho thằng bé hết bệnh không phải là chuyện khó, chỉ cần y theo những điều kiện sau đây.
Triệu Văn Hội hỏi:
- Bạch Hòa thượng, điều kiện đó thế nào?
Tế Điên thong thả nói:
- Điều kiện là thế này... thế này...
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 3 [/align]



Ở Triệu Gia Thi Thiền Cơ Trị Bệnh
Ngầm Cứu Người Nói Phật Pháp Linh Cơ




Thơ rằng:
Cây cỏ hương hoa cũng hiểu thiền
Mấy người nấn ná thoát trần duyên
Đạt Ma Tây trúc truyền Đông độ
Đạo Tế Tây Hồ cưỡi rượu thuyền
Mưa núi mịt mờ xiên lại thẳng
Giọt sen lác đác khẳm rồi nghiêng
Mây trắng la đà trôi tự tại.
Bên rừng thong thả ấy thần tiên.
Tế Điên nói:
- Bệnh đó trị không khó, ngặt vị đơn thuốc hơi khó tìm. Phải tìm cho được người đàn ông 52 tuổi, sanh ngày mồng 5 tháng 5 và đứa con gái 19 tuổi sanh ngày mồng 5 tháng 8. Lấy nước mắt của hai người đó hòa với thuốc uống mới hiệu nghiệm.
Tô Bắc Sơn và Lý Hoài Xuân thấy Hòa thượng có những hành động khác thường như vậy, bèn hỏi Hòa thượng hiện ở đâu, pháp hiệu là chi? Tế Điên một mạch nói rõ.
Triệu Văn Hội sai gia nhân tìm một người đàn ông 52 tuổi sanh ngày mồng 5 tháng 5. Mọi người đổ xô đi tìm, sang đến các nhà kế cận cũng không có. Có người đúng tuổi mà ngày tháng sanh không đúng; có người ngày tháng đúng nhưng số tuổi không phải. Một gia nhân đi ra ngoài cổng thấy một người đàn ông dang đứng, tuổi trạc 50, liền chắp tay hỏi:
- Xin hỏi lão huynh họ tên chi?
Người kia đáp:
- Tôi họ Đồng, tên Sĩ Hoằng, vốn người Tiền Đường, đang ở đây đợi một người.
- Lão huynh có phải 52 tuổi không?
- Đúng.
- Lão huynh sinh ngày mồng 5 tháng 5?
- Quả vậy.
Gia nhân vội bước tới nói:
- Xin mời Đổng lão gia đi cùng tôi vào trong này, gia chủ tôi có lời mời.
Đổng Sĩ Hoằng nói:
- Chủ nhân của ngươi làm sao biết ta mà mời? Ngươi phải nói rõ ta mới chịu đi.
Gia nhân bèn đem việc tìm vị dẫn thuốc kể lại, Đổng Sĩ Hoằng mới chịu theo vào ra mắt Tế Điên và Triệu Văn Hội. Tế Điên nói:
- Mau đi tìm đứa con gái 19 tuổi sanh ngày mồng 5 tháng 8 mới xong.
Đổng Sĩ Hoằng nghe nói đến ngày tháng sanh của người con gái giống hệt ngày sanh của con gái mình, nên hồi hộp không an. Một lát, gia nhân vào thưa:
- Cố nhưng nhưng, có một đứa a hoàn tên là Xuân Hương, 19 tuổi, ngày sanh đúng là mồng 5 tháng 8, tôi đã dẫn vào đây.
Dứt lời, từ bên ngoài một người con gái đi vào. Đổng Sĩ Hoằng nhìn ra chính là con gái mình, động mối thương tâm, lệ tuôn lã chã. Cô gái thấy mặt cha mình, mừng vui lẫn lộn, sụt sùi rơi nước mắt. Tế Điên vỗ tay cười ha hả:
- Lành thay, lành thay! Hôm nay ta làm một việc lợi cả ba, hoàn toàn mỹ mãn.
Nói rồi thò tay vào túi lấy viên thuốc, bảo gia nhân lấy nước có trộn nước mắt vừa hứng hòa với thuốc đem đổ cho Triệu công tử. Giây lát, công tử tinh thần thanh sảng, lành mạnh như xưa. Tế Điên mới kể cho Triệu Văn Hội nghe việc Đổng Sĩ Hoằng mất bạc định treo cổ và được mình đưa đến đây để cha con gặp nhau. Triệu Văn Hội giúp cho Đổng Sĩ Hoằng 100 lượng bạc để cha con làm vốn sinh nhai và tìm mua cho Cố nhưng nhưng một đứa a hoàn khác.
Lý Hoài Xuân hỏi ra mới biết Hòa thượng là Tế Công trưởng lão ở chùa Linh ẩn. Tô Bắc Sơn tới trước Hòa thượng đảnh lễ cầu xin từ bi trị bệnh cho mẫu thân. Tế Điên đứng rột dậy, nói:
- Hòa thượng ta đến nhà ông nhé.
Tô Bắc Sơn nói: Thế thì quý lắm.
Triệu Văn Hội biết không thể lưu lại được, bèn đem 100 lượng bạc tặng cho Tế Điên để sắm y phục. Tế Điên nói:
- Ngươi muốn tạ ơn Hòa thượng ta, hãy kề tai nghe ta nói như vầy... như vầy...
Triệu Văn Hội thưa:
- Xin sư phụ chớ lo, ngày hôm nay con sẽ đến đó.
Dặn Triệu Văn Hội xong, Tế Điên và Tô Bắc Sơn cùng ra khỏi nhà họ Triệu. Vừa đến thư phòng, Hòa thượng hỏi:
- Lệnh đường lão thái thái mắc bệnh đến nay đã rước được mấy vị thầy thuốc chẩn trị?
Tô Bắc Sơn nói:
- Thật không dối chi Hòa thượng, từ trước tới nay cũng mời khá nhiều thầy thuốc nhưng bệnh chưa thấy thuyên giảm. Trước đây có mời một vị thần y là Thang Vạn Phương đến chẩn trị bệnh cũng không thấy bớt, kế đến mời Lý Hoài Xuân đến xem mạch, bệnh vẫn trơ trơ. Vị thầy thuốc nào đến xem mạch cũng bảo là do tuổi cao khí huyết suy kém không thể phò dưỡng được. Tôi chỉ biết cố hết sức mình, được từng nào hay từng ấy. Hôm nay gặp được Thánh tăng, thật là tam sinh hữu hạnh, lão mẫu chắc sẽ lành bệnh.
Nói rồi dẫn Hòa thượng đi thăm bệnh. Qua hiên thanh trúc đi suốt năm gian nhà đến phòng của lão thái thái. Thái thái đang nằm trên giường. Hai đứa a hoàn thấy Hòa thượng tăng bào rách nát bèn che miệng cười.
Tế Điên nói: Đừng cười bộ y phục rách nát, hãy nghe ta nói:
Chớ nhạo không tiền y phục rách,
Bản lai diện mục có mới hách.
Gia nhân dâng trà lên. Thấy Tế Điên cầm một viên thuốc, Tô Bắc Sơn liền hỏi:
- Bạch sư phụ, thuốc đó tên chi?
Tế Điên nói:
- Đây là diệu dược của Hòa thượng ta, tên là "Yếu mạng đan”. Người sắp chết uống vào sẽ hồi sinh ngay, nó còn một tên khác là "Thần thối trừng nhãn hoàn".
Tô Bắc Sơn lấy nước hòa thuốc đổ cho mẹ... Giây lát thái thái bình phục như xưa. Tô Bắc Sơn dặn người dọn cơm rượu rồi mời Hòa thượng vào thư phòng dùng tiệc, đàm luận việc cổ kim. Tế Điên chữ nghĩa đầy mình, kinh luân gồm đủ, biện bác thao thao. Tô Bắc Sơn mới biết trước mặt mình là một ngoại thế cao nhân, bèn bái Hòa thượng làm thầy và thay y phục khác cho Tế Điên. Tế Điên một mực khước từ và nói:
- Ngươi muốn đền ơn ta chỉ cần làm như vầy... như vầy. Ta đi đây.
Tô Bắc Sơn nói:
- Bạch sư phụ, nhà này coi như là nhà của sư phụ, lúc nào thích đến xin sư phụ cứ đến ở đây.
- Tốt lắm, bây giờ ta phải về chùa.
Tế Điên nói rồi bước ra hè phố vừa đi vừa hát nghêu ngao:
Nào có ra chi chức tước hầu,
Ăn sang mặc đẹp quá phong lưu,
Đến nay tính lại còn ai nhỉ.
Nắng quái gò hoang nắm cỏ rầu!
Như bọn ta suốt đời thư thả,
Xem việc đời nhẹ tựa giấc chiêm bao,
Dắt người mê trở về bến giác.
Phá tâm mê trực nhận bản lai.
Tế Điên về chùa ngủ ở lầu Đại Bi suốt ngày. Quảng Lượng muốn hại Tế Điên cho bõ ghét để trả mối thù ngày nọ, bèn sai tên đệ tử là Tâm Thanh lén phóng hỏa đốt lầu giết chết Tế Điên. Lần đầu Tâm Thanh mới vừa lum khum châm lửa, bị Tế Điên đái tưới trên đầu, nước văng tung tóe, lửa tắt ngấm. Lần thứ hai, lầu Đại Bi bén lửa, khói bốc mù trời, tần lửa bắn tứ tung. Chúng tăng trong chùa giật mình tỉnh giấc, hô:
- Cháy! Cháy! Tế Điên hòa thượng ngủ trên lầu chắc bị lửa cháy chết rồi! Thật là họa kiếp.
Mọi người hò nhau dập tắt lửa. Giám tự tăng Quảng Lượng cho là phen này Hòa thượng điên thế nào cũng bị lửa đốt cháy chết. Còn đương mừng thầm, bỗng thấy Tế Điên từ chánh điện bước ra cười ha hả, nói:
Người bảo người chết trời không nỡ,
Trời bắt người chết nào khó chi!
Quảng Lượng thấy Tế Điên còn sống nhăn, trong lòng không vui, trở vào bạch với Phương trượng:
- Bạch Phương trượng, Đạo Tế để lửa cháy lầu Đại Bi, phải nên trị tội ông ấy mới được.
Lão phương trượng nói:
- Lửa cháy lầu Đại Bi, đó là ý trời. Đạo Tế nào có can chi vào việc đó.
Quảng Lượng lại bạch Phương trượng:
- Trong nước có phép vua, ở chùa có thanh quy: Trong chùa chúng ta áng thời khắc mà nổi lửa, ăn cơm, ngủ nghỉ, Đạo Tế để đèn chong suốt đêm, lửa phàm lẫn lửa thần mới ra cớ sự. Tội cháy lầu Đại Bi thuộc về ông ấy. Cứ theo thanh quy thì tội ấy phải bị thâu hồi y bát, giới điệp, đuổi ra khỏi chùa không cho làm Tăng nữa.
Lão phương trượng nói:
- Phạt như thế thì quá nặng, bắt ông ta đi khuyến hóa về trùng tu lại chùa là xong.
Bảo thị giả kêu Đạo Tế vào dạy việc. Giây lát, Đạo Tế từ bên ngoài bước vào thưa:
- Bạch Phương trượng, Đạo Tế xin ra mắt Ngài.
Lão phương trượng nói:
- Này Đạo Tế, ông không giữ thanh quy, chong đèn cả đêm làm lầu Đại Bi bị cháy rụi. Ta phạt ông bằng cách đi hóa duyên trùng tu lại ngôi lầu ấy. Công tác trùng tu cần đến muôn lượng bạc. Ông đến hỏi sư huynh ông xem cho thời hạn hóa duyên là bao lâu.
Tế Điên quay sang Quảng Lượng hỏi:
- Thưa sư huynh, sư huynh cho thời hạn tiểu đệ là bao nhiêu ngày?
Quảng Lượng nói:
- Ba năm được không?
Tế Điên nói:
- Không được, lâu quá? Xin rút ngắn lại một ít.
- Một năm được không?
- Không được, còn lâu lắm, xin rút ngắn thêm nữa.
- Thôi nửa năm nhé?
Tế Điên lắc đầu nói còn lâu quá. Quảng Lượng đưa thời hạn một tháng, Tế Điên vẫn còn chê lâu quá. Quảng Lượng lại nói:
- Vậy trong một ngày ông có thể hóa duyên đủ một muôn lượng được không?
- Một ngày hóa duyên một muôn lượng hả? Thôi huynh đi đi, tôi không đi đâu.
Tế Điên nói rồi cười ha hả. Chúng tăng xôn xao cùng nhau nghị luận:
- Trong thời hạn một trăm ngày cho ông ấy đi hóa duyên, nếu được một muôn lượng bạc sẽ lấy công chuộc tội.
Tế Điên ưng chịu mỗi ngày đi hóa duyên, ở Lâm An cho thuốc cứu người phổ độ chúng sanh, thâu đồ đệ ký danh không xiết kể nhưng vẫn giả bộ khùng điên không lộ bản lai diện mục của mình. Một ngày kia, Tế Điên đang ở sườn núi phía sau ngọn Phi Lai, gặp hai người thợ săn vác thỏ, chồn, nai, hươu, bèn bước ra cản lối, hỏi:
- Xin hỏi quí vị họ tên là chi? Và định đi đâu đó?
Người kia trả lời:
- Tôi tên là Trần Hiếu, trác hiệu là Mỹ nhiệm công, còn người này là anh em kết nghĩa với tôi tên là Bệnh phục thần Dương Mãnh, chúng tôi từ trên núi trở về. Chẳng hay sư phụ là ai?
Tế Điên nghe nói cười ha hả, hát:
Sáng ra ngoài hang núi
Suốt ngày bắn với săn
Vì muốn béo thân mình
Kẻ khác đành chịu chết.
Dương Mãnh, Trần Hiếu biết Hòa thượng là bậc cao nhân ẩn sĩ, lập tức quì xuống hành lễ, bái Tế Công làm thầy và nói:
- Anh em tôi từ nay xin đổi nghề, theo bè bạn làm cho hãng bảo tiêu để sinh sống, cải ác tùng thiện.
Tế Điên nói:
- Tốt lắm, các ngươi không bao lâu sẽ phát đạt.
Hai người từ tạ ra về. Tế Điên ở trong chùa suốt ngày chè chén lu bu, chẳng đi hóa duyên nơi nào hết. Quảng Lượng cũng không thèm hối thúc, nghĩ rằng cứ đến kỳ hạn y luật mà đuổi Tế Điên ra khỏi chùa là xong.
Thời gian qua mau, thấm thoát đã hơn ba tháng mà Tế Điên chẳng hóa duyên được một lượng bạc nào.
Ngày kia, Tế Điên thấy vị sư giữ cổng chùa đi vắng, bèn đến điện Hộ Pháp ngắm nhìn thần tượng uy nghi, tướng mạo đẹp đẽ rồi nói:
- Lão Vi Đà này, ông đi chơi với ta nhé!
Nói rồi vác ông Hộ Pháp đi ra cổng. Kẻ qua lại hai bên đường xì xào: “Mấy vị coi kìa, từ đó tới giờ Hòa thượng đi hóa duyên rất nhiều, có vị chỉ cầm cái chìa khóa lớn, có vị gõ cái mõ thật to, chứ chưa có ai vác ông Hộ Pháp Vi Đà đi hóa duyên khắp phố như thế này".
Tế Điên cười hề hề nói:
- Các người không biết nói lung tung thế, chớ đây là người giúp việc đắc lực trong chùa chúng tôi đây.
Mọi người nghe thế đều cười rộ.
Tế Điên đang đi bỗng ngước nhìn thấy phía trước có một luồng đen xông thẳng lên trời, bèn bấm linh quang rồi vỗ tay nói:
- Lành thay, lành thay! Ta đâu bỏ qua được.
Bên đường là một quán rượu tên Túy Tiên lầu, với bài thơ viết đại tự phía trước:
Thái Bạch rượu vào thơ trăm thiên
Trường An phố thị ngát hơi men
Thiên tử cho vời trơ mắt ngó
Muôn tâu: thiên hạ, Tửu Trung Tiên.
Tế Điên bước vào nói:
- Ôi chao mệt quá, chưởng quỹ đâu?
Bên trong nghe tiếng đi ra một vị chưởng quỹ, thấy khách đến chỉ là một Hòa thượng đi hóa duyên, bèn nói:
- Hòa thượng ơi, ở đây mồng một và ngày rằm chúng tôi mới thí tiền.
Tế Điên nói:
- Phải đó, ở đây ngày rằm và mồng một mới bán cơm.
Rồi ra đứng chặn ngoài cửa. Giây lát từ hướng Đông có ba người đi lại. Phổ ký mời khách vào. Tế Điên đưa tay cản, nói:
- Ba vị muốn ăn cơm hử, ở đây ngày rằm và mồng một mới bán cơm.
Ba người khách nghe nói thế kéo nhau sang tiệm khác. Ba bốn mối như thế đều bị Tế Điên xua đi hết.
Vị chưởng quỹ nổi giận, từ trong bước ra nói:
- Này Hòa thượng, ông đuổi khách của tôi đi chỗ khác hết là ý gì thế?
Tế Điên nói:
- Ta muốn ăn cơm, vừa bước vào cửa ông bảo cho biết là ngày mồng một và rằm, ta mới biết là ngày mồng một và ngày rằm các ông mới bán cơm chứ.
Chưởng quỹ nói:
- Tôi tưởng ông đi hóa duyên mới nói ngày mồng một và rằm chúng tôi mới thí tiền cho Tăng được.
Tế Điên nói:
- Không phải đâu, ta đến ăn cơm mà.
- Vậy thì xin mời vào.
Tế Điên vác ông Hộ Pháp vào trong nhà, lựa một bàn sạch sẽ ngồi xuống, kêu mấy món ăn, bốn năm hồ rượu, ăn xong kêu tính tiền. Cộng tất cả tiền cơm rượu là một ngàn sáu trăm tám mươi tiền.
Tế Điên nói:
- Ghi sổ đi, hôm khác ta ăn nữa tính chung một thể.
Chưởng quỹ sớm lưu ý về việc này, liền bước tới nói:
- Này Hòa thượng, ăn cơm thì phải trả tiền. Hôm nay Hòa thượng ăn cơm rồi không trả tiền không đi được đâu. Phải trả 1680 đồng tiền đã.
Tế Điên đang phân bua với phổ ký, bỗng nghe bên ngoài có tiếng hét vang như sấm, hai người tướng mạo hùng vĩ bước vào.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 4 [/align]



Vác Hộ Pháp Rượt Yêu Khắp Trang Viện
Bệnh Phục Thần Giận Đánh Lão Đại Nhân




Có thơ rằng:
Cửa gỗ dựng rồi chửa muốn sang
Dõi nhìn chim chậu nhảy lan man
Nhà ngọc dễ chôn thiên cổ hận
Gác vàng khó đổi một thân nhàn
Mây giăng đầu núi soi lòng thác
Lá rụng rừng thu thấu viễn san
Thông già thở khói màu xanh biếc
Phải trái xem tuồng mây trắng ngang.
Nhắc lại Tế Điên đang cãi lộn với phổ ký trong quán cơm, bỗng có hai người vén rèm đến trước Tế Điên vái chào. Người đi đầu thân hình cao lớn, đầu đội khăn lam kim tuyến có gắn hai hạt châu, mình mặc tiễn tụ bào màu lam, lưng thắt giây tơ, chân mang giày võ sinh, ngoài choàng áo lông thêu hoa, sắc mặt hơi vàng, mày dài mắt to, đôi mắt thần quang lóng lánh, mũi thẳng miệng rộng, dưới cằm vuông, bộ râu đen phất phơ trước ngực.
Người đi sau, tuổi ngoài hai mươi, đầu đội khăn đoạn thêu ngũ sắc, mình mặc áo đoạn tiễn tụ bào thêu ba đóa hoa lam, chân mang võ hài, choàng ngoài một áo cừu lam, mặt trắng bệch không huyết sắc như màu giấy trắng. Vị đi trước chính là Mỹ nhiệm công Trần Hiếu, người đi sau là Bệnh phục thần Dương Mãnh, hai người này từ hãng bảo tiêu trở về định lên Linh Ẩn tìm Tế Điên. Đến ngang quán cơm nghe tiếng cãi cọ ồn ào liền vén rèm bước vào, thấy Tế Điên đang cãi nhau với phổ ký vội bước tới chào và nói:
- Bạch sư phụ, sao sư phụ lại cãi nhau ở chỗ này? Mấy đứa này có khi dễ sư phụ không? Sư phụ nói cho chúng con biết để con đánh bọn nó một trận cho biết tay.
Trần Hiếu vội can:
- Này hiền đệ, chớ nên lỗ mãng vội, phải hỏi ra nguyên nhân đã.
Phổ ky trong quán thấy hai người ăn nói hùng hổ như vậy, vội nói:
- Xin hai vị quan nhân chớ giận, nguyên do tại vị sư phụ đây vào ăn cơm không tiền trả lại nói những lời ngang bướng mới sinh cãi cọ như vậy.
Tế Điên nói:
- Phải đa, hai đồ đệ đến đây thật đúng lúc, tiệm cơm này làm khó dễ ta quá.
Trần Hiếu hỏi:
- Bạch sư phụ, tại sao họ làm khó dễ sư phụ như vậy?
Tế Điên nói:
- Ta ăn cơm rồi bọn họ không chịu cho đi cứ đòi tiền hoài.
Trần Hiếu nghe qua không nhịn được, tức cười nói:
- À, té ra là đòi tiền! Bèn quay qua nói: - Này chướng quỹ, các người không biết vị Hòa thượng này ư?
Đây là Tế Công trưởng lão, vị Phật sống ở chùa Linh Ẩn đó. Số tiền có là bao, Hòa thượng ăn uống hết bao nhiêu đừng đòi Hòa thượng, sau ba tháng anh em ta sẽ tính gộp một lần cho.
Chưởng quỹ nói: Chúng tôi xin tạ lễ thất kính!
Tế Điên hỏi: Các người đã ăn cơm chưa?
- Chúng con ăn cơm rồi.
- Các ngươi vác tượng Hộ Pháp đi hóa duyên với ta nhé.
Trần Hiếu nói:
- Bạch sư phụ, đệ tử của sư phụ đều là danh gia phú hộ. Sư phụ cần nhiều nữa, chúng tôi chẳng dám thưa, chớ còn khoảng 9 - 10 lượng bạc, hiện chúng tôi có sẵn, cần chi sư phụ phải đi cho nhọc sức.
Tế Điên lắc đầu nói:
- Không được, không được! Hóa duyên là bổn phận của Hòa thượng ta. Này Dương Mãnh, người vác ông Hộ Pháp này cho Hòa thượng ta nhé.
Dương Mãnh vâng dạ rồi kê vai vác ngay. Ba người cùng ra khỏi quán cơm đi về hướng Đông. Mấy người quen biết với Trần Hiếu và Dương Mãnh kề nhau xầm xì.
Trần Hiếu hổ thẹn đỏ mặt, đứng lại nói chuyện với người quen ở bên đường. Dương Mãnh hồn nhiên không biết mắc cỡ, cùng Tế Điên xăm xăm đi tới. Thấy ở bên đường có một tiệm trà mới khai trương, Tế Điên bảo Dương Mãnh để tượng Hộ Pháp xuống nghỉ. Đoạn xăm xăm đến trước tiệm trà kêu lên: - Khổ dữ a! Khổ dữ a!
Mấy người làm công trong tiệm nghe Hòa thượng kêu khổ lật đật chạy ra hỏi:
- Hòa thượng đi mua trà hỉ?
- Không phải đâu! Thấy tiệm mới khai trương ta đến chúc mừng đó chứ.
- À, té ra Hòa thượng đến chúc mừng. Xin mời vào, mời vào.
- Hòa thượng ta tới đây có hai việc: Thứ nhất là đến chúc mừng, thứ hai là đến hóa chút duyên.
- Hòa thượng hóa duyên bao nhiêu?
- Không cần nhiều, 200 lượng thôi. Đủ số ta mới đi.
- Tưởng chút ít, chứ còn số đó nhiều quá, tiệm tôi thí xả không đủ. Thôi ông đi hóa duyên chỗ khác đi!
Tế Điên nghe thế, cười hà hà nói:
- Bây giờ ta xin 200 lượng, người cho thì thôi; tới chừng đứng bóng không chỉ 200 đâu mà phải 400 lượng, qua xế phải 600 lượng, chiều tối phải 800 lượng; còn để giáp một ngày đêm thì cả tiệm trà nhà ngươi cũng tính chưa đủ số đó nhé!
Chưởng quỹ nghe nói biết là Hòa thượng khùng đến quấy rối. Có một người mua trà ưa xen việc tào lao, tới nói:
- Này Hòa thượng! Cửa hàng người ta mới khai trương, ông tới phá đám làm chi. Ông muốn xin vài ba tiền để mua hương đèn thì đây tôi cho ông; còn muốn vài ba điếu để có quần áo đổi thay thì hôm khác lại, cưỡi trên người tôi đây nè!
- Cưỡi trên người ông hả, ngươi cõng ta được à! Ha ha!
Người kia nghe những lời ngoắt ngoéo đó, nói:
- Này Hòa thượng, hóa chút duyên là hóa bao nhiêu tiền?
- Có 200 lượng bạc là ta đi ngay thôi, không lấy thêm một điếu nào hết.
Người ấy nghe Tế Điên nói bắt quàng, bèn nghiêm sắc mặt, nói:
- Này Hòa thượng, ông đừng có đùa, tôi không chấp ông đâu. Thôi, ông đi lo hóa duyên cho đủ số đi!
- Không cần ông chấp với nê, ông cố mà xem ta hành sự sẽ biết.
Đoạn kêu:
- Dương Mãnh, hãy để ý xem nhé! Hễ thấy có lão đạo sĩ nào từ phía Nam Hồ Đồng đi tới, ngươi cứ níu lại đập chết ngay trước tiệm trà, để cho chủ tiệm trà đến cửa quan đền mạng người ta chơi!
Dương Mãnh bản tính hồn nhiên, nghe Tế Điên bảo thế liền gật đầu vâng dạ, nhìn chăm chăm về phía Hồ Đồng chờ đợi lão đạo sĩ. Quả nhiên không bao lâu, từ phía Hồ Đồng đi lại một lão đạo sĩ mình cao tám thước, eo nhỏ lưng gù, đầu đội khăn đạo sĩ màu xanh, mình mặc đạo bào bằng đoạn màu lam thắt lưng tơ, chân mang giày thêu vớ trắng. Trên lưng lủng lẳng một cây bảo kiếm trong bao bằng da cá, đuôi gươm mấy tua màu vàng phất phơ theo gió. Vị đạo sĩ ấy mặt như trăng rằm, mắt mũi hiền từ, ngũ quan thanh tú, ba chòm râu thưa buông dài trước ngực, vừa đi vừa hát:
Huyền trong diệu diệu trong huyền
Dưới điện Tam Thanh có chân truyền
Không phải Thánh cũng không Tiên
Mải miết động sâu khổ tu luyện
Miệng nuốt kim đan nguyên thần hiện
Chứng tỏ Tam Thanh thiệt có truyền.
Dương Mãnh ngó thấy, đùng đùng nổi giận, hét lớn:
- Hay a! Yêu đạo chớ chạy, ông đợi mi ở đây đã lâu!
Nói rồi liền huơ quyền đánh tới.
Lão đạo sĩ này từ đâu đến? Tại sao Tế Điên lại bảo Dương Mãnh đón đánh ông ta?
Nguyên bởi ở đường Thái Bình trong thành Lâm An có một nhà tỷ phú họ Châu tên Cảnh, tự Vọng Liêm. Bởi ông ta giàu quá nên người thường gọi là Châu Bán Thành, trong nhà của đến trăm muôn. Ông ta chỉ có một đứa con trai tên là Châu Chí Khôi, 21 tuổi, chưa lập gia đình. Chí Khôi cũng khá đẹp trai, nhưng hiềm nỗi quá kén chọn, cao với không tới, thấp lại chẳng để mắt nhìn, vì thế từng tuổi đó còn lẻ loi một bóng. Châu viên ngoại tuổi quá 70 lại dưới gối chỉ có Chí Khôi nên rất mực cưng chiều. Ngày kia, Chí Khôi bỗng nhiên ngọa bệnh và điều dưỡng ở thư phòng hoa viên. Mời rất nhiều thầy thuốc nổi danh chẩn trị mà bệnh thế vẫn không thuyên giảm, viên ngoại vì thế rất đỗi lo âu. Một hôm tối lại, viên ngoại tự tay xách đèn lồng ra thư phòng ở hoa viên thăm bệnh con. Vừa đến cửa thư phòng, bỗng nghe bên trong có tiếng trai gái cười đùa; viên ngoại động tâm nghĩ rằng: "Chắc đứa a hoàn nào của bà nhà lén dẫn dụ con ta làm chuyện bại hoại gia phong đây. Ta phải đến xem mặt coi đứa nào cho biết". Bèn đến bên cửa sổ thấm ướt một khoảng giấy, xoi lỗ nhìn vào. Bên trong, đồ đạc thiết trí vẫn như cũ. Trên chiếc bàn nhỏ ở trên sạp, ngọn bạch lạp đang tỏa chiếu bên mấy thức ăn. Chí Khôi đang ngồi ở một bên, còn ngồi đối diện bên kia là một cô gái sắc đẹp hoa nhường nguyệt thẹn. Lão viên ngoại nhìn kỹ, té ra cô gái ấy chính là Nguyệt Nga, con gái của Vương viên ngoại ở sát tường nhà. Lão viên ngoại cả kinh, thầm nghĩ: "Ta với Vương viên ngoại là bạn hồi còn để chỏm. Sao hai đứa nhỏ này dám làm việc trăng hoa xấu hổ như vậy kìa?". Chính ông cũng không dám bước vào nhà sợ hai người xấu hổ tự tận, bèn quay trở về phòng mình, thở dài, kêu phu nhân nói:
- Bà ơi, bà có biết thằng con mình mắc bệnh gì không? Tôi vừa thấy nó cùng Vương Nguyệt Nga, con gái của bác Vương Thành ở kế nhà mình, uống rượu vui đùa ở ngoài thư phòng đấy. Bà tính lẽ nào cho phải đây?
Phu nhân nói:
- Có gì mà viên ngoại phải lo! Ngày mai, ông sang nhà bác Vương thăm hỏi chuyện trò rồi nhân tiện hỏi thăm con gái bác đã có đôi bạn chưa. Nếu chưa có đính ước ở đâu thì mình gấp rút cậy mai mối đến hỏi. Làm như thế, một là giữ vẹn được danh giá của hai nhà, hai là cho đôi trẻ được tròn tâm nguyện, há không phải là kế lưỡng toàn sao?
Viên ngoại cho là có lý, bèn an lòng đi nghỉ. Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong, viên ngoại thay đổi y phục, cùng với gia nhân mang lễ vật sang thăm Vương viên ngoại. Vừa đến trước cổng, thấy từ xa bốc lên cát bụi mịt mù, một người cưỡi ngựa và hai chiếc kiệu đi lại, thì ra đó chính là Vương viên ngoại. Vương viên ngoại lật đật xuống ngựa, chào hỏi Châu viên ngoại rằng:
- Lâu nay huynh trưởng có mạnh giỏi chăng?
- Hiền đệ đi đâu về thế? Người ngồi trong kiệu là ai vậy?
Vương viên ngoại nói:
- Đó là cháu gái anh, Vương Nguyệt Nga chớ ai. Cháu nó hơn hai tháng nay ở chơi bên nhà cậu. Nhân vì có mai mối đến hỏi, ngày mai đưa lễ đến nên sáng hôm nay tôi phải qua rước cháu về.
Châu viên ngoại nghe nói, thầm nghĩ: "Sao có chuyện lạ vậy kìa? Chính mắt mình thấy Vương Nguyệt Nga đang ngồi uống rượu với thằng con mình, làm sao nó lại ở nhà cậu nó hơn hai tháng được? Có phải mình hoa mắt, nhìn lầm người chăng? Chuyện đó đâu thể có được?”. Nghĩ rồi bèn nói:
- Này hiền đệ, cho kiệu đến gần cửa cho ta thăm nhìn mặt cháu một chút.
Vương viên ngoại bảo khiêng kiệu lại gần, thị tỳ vén rèm, dìu Vương Nguyệt Nga xuống vái chào chúc phúc Châu viên ngoại. Châu viên ngoại nhìn kỹ, quả nhiên cùng với cô gái đã thấy ở thư phòng ngày hôm qua không sai một nét, trong lòng thầm nghĩ: “Không xong, không xong rồi! Con Nguyệt Nga này không yêu cũng là quái, chẳng phải quỷ cũng hồ ly!". Ông quá lo sợ cơ hồ muốn ngất đi, may có người ở một bên dìu đỡ mới khỏi ngã. Vương viên ngoại hỏi:
- Huynh trưởng thấy cháu gái ra sao mà có dáng điệu khác thường như thế?
Châu viên ngoại nói:
- Hiền đệ ơi, ta nhìn thấy cháu mà sực nghĩ đến con mình ở nhà, bây giờ không biết bệnh thể nhẹ nặng ra sao!
Vương viên ngoại nói:
- Tôi thiệt không rõ việc đó, để ngày mai tôi sẽ sang thăm cháu.
Nói rồi kiếu từ. Châu viên ngoại về đến nhà thở vắn than dài. Phu nhân hỏi duyên cớ cũng lo lắng không an. Viên ngoại nói:
- Vợ chồng ta chắc không sống nổi vì việc này. Biết làm sao bây giờ?
Hai vợ chồng đang lo rầu, xảy thấy từ ngoài đi vào một đứa thơ đồng tên là A Phước. Tên này khoảng 15, 16 tuổi, rất là lanh lợi, nói:
- Thưa viên ngoại, chớ lo. Ở ngoài cửa Thanh Ba có tòa Tam Thanh quán, lão đạo sĩ ở miếu đó tên là Lưu Thái Chơn, có tài bắt yêu trấn trạch, lui quỷ trị bệnh rất tài. Viên ngoại đi mời ông ấy đến có thể trị bệnh cho công tử được.
Viên ngoại nghe nói có lý, liền hối gia nhân thắng ngựa cùng với bốn gia nhân do A Phước dẫn đường đi thỉnh thầy. Đến cổng Tam Thanh quán ngoài cửa Thanh Ba, tớ thầy xuống ngựa gõ cửa. Bên trong có một đạo đồng đi ra, hỏi:
- Quý vị tìm ai?
Gia nhân đáp:
- Chúng tôi là người của Châu viên ngoại ở trong thành, đến đây mời đạo gia bắt yêu.
Đạo đồng vào trong thông báo. Tòa miếu này có một tòa điện chính, hai bên có kèm Đông Tây hai dãy. Lão viên ngoại đi đến nhà Đông được lão đạo sĩ xuống thềm tiếp rước. Viên ngoại thấy lão đạo sĩ đầu đội khăn đạo sĩ cũ, mặc đạo bào bằng vải lam, ngũ quan rất thanh tú. Viên ngoại nói:
- Đã lâu ngưỡng mộ đại danh tiên trưởng như sấm nổ bên tai. Hiện tại trong hoa viên nhà tôi có con yêu làm loạn, biến mình làm Vương Nguyệt Nga ở gần nhà để mê hoặc con trai tôi là Chí Khôi. Cầu xin tiên trưởng mở lòng từ bi đến bắt yêu an trạch, lui quỷ, trị bệnh giùm cho cháu.
Lão đạo sĩ biết họ Châu là một nhà đại phú, liền vội vàng ưng thuận, nói:
- Xin viên ngoại cứ về trước, tiểu đạo giây lát sẽ đến sau.
Viên ngoại uống cạn chén trà rồi cáo từ. Lão đạo sĩ đưa khách ra cửa rồi trở vào miếu kêu đạo đồng hỏi:
- Này đạo đồng! Khăn đạo sĩ và đôi giày mới của ta, mi cầm bao nhiêu tiền?
- Hôm trước mua rượu cầm được hai điếu.
- Đem cái khánh cùng chân đèn đổi về. Còn đạo bào cùng dây tơ buộc cầm bao nhiêu?
- Cầm năm điếu.
- Đem chiếc tiền bàn và mấy tấm gương đổi lại. Đi chuyến này phải ăn mặc coi được một chút mới phát tài.
Đồ vật đã chuộc về, lão đạo sĩ mặc áo đội mũ chỉnh tề mới đi về phía cửa Thanh Ba. ông lại đi vòng qua cửa Tiền Đường cố ý khoe bộ cánh đẹp. Nào ngờ đang đi bỗng nghe trước mặt có tiếng hét và có người đưa tay đánh tới.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 5 [/align]



Châu Viên Ngoại Nơi Hoa Viên Gặp Yêu
Quán Tam Thanh Mời Được Lão Đạo Sĩ


Có thơ rằng:
Tháng năm vùn vụt nắng mưa thay
Khóa lợi đàm danh chớ miệt mài,
Xương trắng buông tay chôn trũng rậm
Vàng ròng khó giữ tóc khôn phai
Chết đi luống để thiên niên hận
Lúc sống nào ai chịu rảnh tay
Ra cửa hú dài trời đất rúng
Mây trắng bồng bềnh chim hạc bay.
Lão đạo sĩ bị Dương Mãnh lia mấy quyền, khăn đạo sĩ rách bươm, trâm vàng rơi xuống đất. Tế Điên lật đật chạy ra can. Trần Hiếu cũng nạt:
- Dương hiền đệ! Còn chưa chịu đi sao. Tiếp tay sư phụ đánh càn để đền nhơn mạng người ta à?
Nói rồi kéo Dương Mãnh đi mất. Lão đạo sĩ giận đến uất cả người, trợn mắt hét lớn:
- Phản rồi, phản rồi! Khi không khi không, níu người ta lại mà đánh. Ta phải lên huyện Tiền Đường tố cáo ngươi mới được.
Tế Điên nói:
- Được rồi, đạo gia gặp ta ở đây hay quá! Vậy thì như thế này nhé. Đạo gia cứ bỏ mấy cái khánh với mấy cặp chân đèn đem cầm ra đây, năm cái tiền bàn cũng đem ra nốt, rồi muốn làm gì mặc ý.
Lão đạo sĩ nghe nói ngạc nhiên thầm nghĩ: "Mình đem đồ đi cầm, sao ông thầy chùa này biết được vậy cà!".
Định thần nhìn kỹ Hòa thượng trước mặt tướng mạo xấu xí, thân cao khoảng năm thước, trên đầu tóc dài gần một gang tay, mặt mũi tèm lem, tăng bào rách nát, thiếu tay, rách bâu, lưng cột sợi dây tơ, khật khà khật khưỡng trên đôi giầy cỏ nát. Đạo sĩ hỏi:
- Hòa thượng ở chùa nào vậy?
Tế Điên nói:
- Ta ở chùa Hoàng Liên nơi bến cỏ Phổ Đồng tên là Khổ Hạnh.
Lão đạo sĩ nói:
- Hòa thượng định đi đâu?
- Ta định vào thành Lâm An, có một nhà tài chủ ở đường Thái Bình tên là Châu Vọng Liêm. Ông ấy giàu nhất trong thành Lâm An này, thiên hạ còn kêu ông là Châu Bán Thành nữa. Ông ấy mời ta đến nhà để bắt yêu an trạch, trừ quỷ, trị bệnh cho con.
Lưu Thái Chơn nghe nói trong lòng không vui, nghĩ rằng: "Châu viên ngoại thiệt không phải chút nào! Đã thỉnh ta thì đừng mời Hòa thượng, đã thỉnh Hòa thượng còn mời ta làm gì? Thôi ta cứ đến đó xem sao. Nếu cung kính ta thì ta bắt yêu cho, còn cung kính Hòa thượng thì ta rút lui vậy". Nghĩ rồi bèn nói:
- Này Hòa thượng! Ông với tôi cùng đi đến đó nhé.
Tế Điên vác tượng Vi Đà lên vai vừa đi vừa hỏi:
- Này Lưu đạo gia, ông họ gì?
Lưu Thái Chơn giận nói:
- Ông dã kêu tôi là Lưu đạo gia rồi, lại còn hỏi tôi họ gì nữa. Bộ ông điên hả?
Tế Điên cười ha hả, chợt miệng hát:
Người bảo ta điên, ừ ta điên!
Khùng điên đất sợ quỷ thần kiêng.
Ví bằng muốn học khùng điên ấy.
Phải nộp bần tăng rượu mấy tiền.
Hai người đi vào cửa Tiền Dường, đến cổng lớn nhà phía Bắc đường Thái Bình thấy có bốn cây hòe trước ngõ. Trong cửa treo lủng lẳng mấy tấm bảng “Nghĩa công là trọng - Việc thiện gắng công - Xóm làng nghĩa nặng - Gặp nghĩa cố thi”. Hai người đến gọi cửa. Quản gia từ trong chạy ra nói:
- Đạo gia đến rồi!
Lão đạo sĩ nói:
- Xin phiền thưa lại có bần đạo vừa đến.
Thấy có vị Hòa thượng vác tượng Hộ pháp Vi Đà đứng lẳng lặng một bên, quản gia lấy mắt ngó một cái rồi trở vào. Viên ngoại đang ở thư phòng chờ đợi lão đạo sĩ, thấy gia nhân vào thưa là có Lưu Thái Chơn, đạo sĩ ở Tam Thanh Quán đến, lại cùng đi với một vị Hòa thượng. Châu viên ngoại ngạc nhiên nói:
- Ai thỉnh Hòa thượng vậy?
Châu Phước nói:
- Chắc là đạo sĩ mời thêm đó. Viên ngoại ra tiếp rước phải tỏ vẻ cung kính cho đạo sĩ vui lòng.
Chính ra ai nấy đều lầm cả. Viên ngoại ngỡ là lão đạo sĩ mời Hòa thượng đến, còn lão đạo sĩ lại đinh ninh là gia chủ di mời Hòa thượng trước. Sự thật chính là Hòa thượng tự ý đến mà thôi. Viên ngoại từ bên trong đi ra, Tế Điên ngước mắt nhìn: Viên ngoại thân hình cao ráo, nét mặt phương phi, phục sức tao nhã, dưới cằm lưa thưa chòm râu bạc, dáng điệu thong dong. Viên ngoại hướng về phía Hòa thượng chắp tay nói:
- Xin kính mời Hòa thượng. Mời đạo gia vào trong nhà.
Lưu Thái Chơn thấy vậy hơi phật ý, nghĩ rằng: “Quả là viên ngoại cung kính Hòa thượng quá mức. Gặp Hòa thượng chắp tay xá lia lịa, còn gặp mình chỉ kêu đạo gia rồi thôi. Về quách cho rồi!”. Tuy nghĩ thế nhưng vẫn không trở bước. Lại nghĩ: "Mình đem năm bộ chân đèn mới chuộc ra bộ quần áo, hy vọng đi chuyến này có mấy mươi lạng bạc để chuộc đồ về. Nếu giận bỏ về không, lấy gì để chuộc lại". Nghĩ thế đành theo viên ngoại đi vào. Thơ phòng đặt ở nhà ba gian phía Tây, ở giữa đặt bàn bát tiên, hai bên đặt hai hàng ghế dựa, trên tường treo tự thiếp của danh nhân rất trang nhã. Hòa thượng và lão đạo sĩ vừa ngồi xuống, gia nhân lật đật dâng trà.
Hòa thượng nói: Dọn rượu đi.
Lão đạo sĩ thấy thế nghĩ rằng: "Hòa thượng này có vẻ quen thuộc quá, chắc là đến đây thường nên không tỵ hiềm kia đây gì hết".
Lão viên ngoại lật đật bảo gia nhân dọn rượu. Giây lát gia nhân dọn chén bát, bày tiệc rượu lên. Hòa thượng chẳng tỵ hiềm chi, xề qua ngồi ngay ghế giữa. Lão đạo sĩ trong lòng dẫu không vui cũng không tiện nói ra. Uống xong ba bốn chén rượu, thấy viên ngoại đối với Hòa thượng cung kính, lão đạo sĩ nhịn không được mới hỏi viên ngoại:
- Vị Hòa thượng này có phải viên ngoại mời không?
Viên ngoại nghe nói lắc đầu lia lịa:
- Không phải tôi mời, tôi đâu có quen, ông ấy đi với đạo gia mà.
Lão đạo sĩ nói:
- Tôi cũng đâu có quen, ông ấy nói viên ngoại mời đến mà.
Hòa thượng nói:
- Cần chi nhắc chuyện đó, hãy uống thêm vài chén nữa đã nào.
Viên ngoại cả giận nói: Hay cho Hòa thượng, ông dám tới đây ăn bậy nói càn hả? Bay đâu, tống cổ Hòa thượng này cho mau.
Gia nhân chạy ra thấy Hòa thượng đương bưng chén, kê lên miệng toan uống. Châu Phước nói:
- Nè Hòa thượng, ông làng chàng ở đâu lại đây. Thôi ra mau đi ông.
Vừa nói vừa kéo kéo xô xô lôi Hòa thượng tuốt ra khỏi cổng. Đóng cửa trở vào, dòm lại thấy tượng Vi Đà Hòa thượng còn bỏ quên lại đó liền vào thưa với viên ngoại:
- Hòa thượng bị tôi đẩy ra rồi, mà tượng Vi Đà còn bỏ quên lại đó.
Viên ngoại nói:
- Mi đem trở ra cho ổng kẻo tội nghiệp.
Lão đạo sĩ nói:
- Thưa viên ngoại, bây giờ trong quý viện có yêu tinh ra làm sao, mê hoặc công tử như thế nào xin cho biết rõ để lát tôi đốt hương cầu đảo, họa bùa trấn trạch cho xong.
Thật ra lão đạo sĩ này về việc đốt hương họa phù chẳng có chút bản lãnh chi, lâu nay núp bóng điện Tam Thanh lòe thiên hạ để sống nhờ lộc Thánh Tiên mà thôi. Viên ngoại nói:
- Con yêu tinh ấy biến hình cô gái giống hệt như Vương Nguyệt Nga ở kế bên nhà. Mỗi tối nó thường uống rượu với con trai tôi ở hoa viên.
Lão đạo sĩ nghe nói ngạc nhiên nghĩ thầm: "Ta đâu có biết đốt hương họa phù là chi. Yêu tinh có thể biến thành hình người được thì đâu phải vừa. Ta bắt nó không được, nó bắt lại ta thì mang khốn!”. Trù trừ giây lát mới nói:
- Thưa viên ngoại, con yêu này dữ lắm, phải có thêm bảy người nữa hợp với tôi là tám. Tám người lập thành bát quái liên hoàn trận bao vây mới được.
Viên ngoại nói: Được, được. Bèn kêu Châu Phước:
- Ngươi đi bắt yêu với đạo gia nhé.
Châu Phước nói:
- Không được đâu, tôi nhát gan lắm, không cáng đáng nổi. Xin viên ngoại sai người khác đi.
Viên ngoại lại kêu Châu Lộc: Vậy ngươi đi nhé!
Châu Lộc nói:
- Không được đâu! Mắt tôi kém lắm.
Viên ngoại là người tinh tế, thấy không ai chịu đi đã hiểu phải có trọng thưởng mới có dõng phu. Người ta không có quyền lợi ai chịu ra sức! Viên ngoại mới nói:
- Có ai chịu đi với đạo gia không? Không phải đi không đâu. Mỗi đêm, một người ta cho mười lạng bạc. Cần số bảy người có ai đi không?
Châu Phước đứng kề bên vọt miệng nói:
- Tôi xin đi.
Viên ngoại hỏi:
- Ngươi không còn nhát gan nữa sao?
Châu Phước nói:
- Tôi vừa mới được thuốc tiên, mua được một củ thược dược to tổ bố.
Viên ngoại hỏi:
- Mua để làm gì vậy?
Châu Phước nói:
- Sắc uống hết sợ ngay.
Viên ngoại nói:
- Chà, đánh được hơi tiền, nó đổi nhát ra gan ngay.
Châu Lộc cũng nói:
- Tôi cũng xin đi nữa.
Viên ngoại hỏi:
- Bộ ngươi hết quáng mắt rồi sao?
- Không phải vậy đâu. Viên ngoại nghe chưa rõ, tôi chỉ quáng mắt ở trong nhà mà thôi.
Giây lát số bảy người đã đủ. Viên ngoại hỏi:
- Đạo gia cần thêm những gì nữa, xin cho biết.
Lão đạo sĩ bảo đem giấy bút ra viết một cái toa gồm các vật dụng: một cái bàn cao, một ghế thái sư, một cái lư hương có nấm tay đèn, một hộp đèn trắng, một thẻ nhang dài, một xấp giấy tiền, một cây bút mới, một chỉ châu sa, một nghiên mực mới, một tờ giấy vàng, rau thơm một nắm, nước vô căn một chén, năm hộc đậu mè, một mớ bạch cập.
Viên ngoại chiếu theo toa cho mua sắm đầy đủ rồi hỏi:
- Thưa đạo gia, những thứ này bài trí ở đâu?
Lão đạo sĩ bảo:
- Đem thiết trí ở thư phòng công tử nơi hậu viên, ta sẽ đến sau.
Chốc lát trời sụp tối, lão đạo sĩ cùng viên ngoại đem bảy tên tùy tùng, mỗi người trong tay đều cầm giáo nhọn đi ra hậu viên. Lão đạo sĩ đưa mắt nhìn một lượt. Hoa viên này thiết trí rất chỉnh tề, muôn hoa đua thơm, cỏ cây rậm rạp, nào lâu đài điện gác, nào thủy tạ lương đình thật là hoa cỏ bốn mùa tranh vẽ. Lão đạo sĩ đi đến phía trước, thấy căn nhà gồm có ba gian. Gian phía Bắc có ba căn, hai bên cũng đều có ba căn. Những đồ vật cần thiết đã dự bị đầy đủ. Mọi người kéo nhau vào nhà, bên trong công tử nghe thấy tiếng động, hỏi vọng ra:
- Ai làm gì bên ngoài đó, mau cút đi ra xa nghe.
Gia nhân nói:
- Xin công tử đừng la lớn. Viên ngoại mời được đạo gia đến bắt yêu an trạch lui quỷ trị bệnh cho công tử đó. Công tử chắc bị yêu tinh hớp hồn mất rồi.
Công tử giận quá hét lớn:
- Cút đi, đừng nói bậy.
Lão đạo sĩ không trả lời. Viên ngoại trở ra nhà trước, chờ đợi tin mừng do đạo sĩ đưa đến. Lão đạo sĩ dặn mọi người hãy ở cả nhà ngoài để sẵn sàng trợ oai. Lão đạo sĩ ngồi ở ghế thái sư chờ đến khi trống điểm canh hai mới dốt đèn sáp lên, cung kính đốt một nén hương lâm râm khấn đảo: "Tam thanh giáo chủ, thần Phật ở trên, tín sĩ đệ tử là Lưu Thái Chơn làm đạo sĩ ở Tam Thanh quán. Hôm nay có nhà họ Châu bị yêu ma quấy phá, thỉnh đệ tử bắt yêu an trạch lui quỷ trị bệnh. Kính mong Thần Phật xót thương bảo hộ, xua đi yêu quái. Đệ tử được mấy mươi lạng bạc trở về xin cúng tạ lễ hoàn nguyện".
Khấn vái đã xong, đạo sĩ lột mũ đạo sĩ xuống, cả khăn bịt đầu cũng bỏ ra để tóc xõa, rút thanh bảo kiếm, đoạn lấy năm thứ gạo nếp chà lên kiếm, dùng nước cốt bạch cập hòa với châu sa vẽ nên ba đạo linh phù. Lão đạo sĩ nói:
- Này Châu Phước, ngươi hãy xem dây! Ta đốt đạo linh phù thứ nhất thì cuồng phong nổi dậy, đến đạo thứ hai thì yêu quái bị thâu tóm, đạo thứ ba đốt đi thì bảo kiếm sẽ chém lìa đầu yêu quái, bắt nó phải hiện nguyên hình. Nếu là người chết biến thành quỷ, quỷ chết biến thành tinh, tính mạng của nó bị kết thúc ngay lập tức.
Bọn Châu Phước lặng lẽ theo dõi. Đạo sĩ dán linh phù lên đầu bảo kiếm, miệng đọc lô lô la la, chẳng nghe rõ tiếng gì. Đọc xong đạo sĩ hô:
- Thái Thượng lão quân, cấp cấp như luật lịnh.
Bảo kiếm kèm theo đạo linh phù huơ lên, ánh sáng lấp loáng. Đoạn đốt linh phù. Mọi người chờ mãi mà không thấy có tí gió nào nổi lên.
Châu Phước nói:
- Các anh thấy ông đạo sĩ nói dóc chưa?
Châu Lộc nói:
- Đừng nóng, đợi đốt linh phù thứ hai xem sao!
Đạo sĩ lại trong miệng lâm râm niệm chú, gắn đạo linh phù vào kiếm đốt lửa khơi lên, lại không thấy động tĩnh gì.
Lão đạo sĩ thấy thế, lật đật lấy đạo linh phù thứ ba gắn trên mũi kiếm đốt, miệng đọc lâm râm, vừa mới huơ ra, bỗng thấy cuồng phong nổi đậy, lão đạo sĩ nhướng mắt nhìn xem, sợ đến hồn bất phụ thể: một con yêu chờn vờn xô đến chụp lão đạo sĩ.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 6 [/align]



Châu Viên Ngoại Thuật Kỹ Việc Gặp Yêu
Lưu Thái Chơn Bắt Yêu Bị Yêu Bắt




Có thơ rằng:
Đời người như giấc chiêm bao
Đất trời quán trọ nơi nào quê cha
Đó đây lưu lạc Ta bà,
Nơi nào dừng bước, mai hoa thưởng nhàn.
Lão đạo sĩ đốt ba đạo linh phù xong thì một trận cuồng phong nổi dậy, ầm ầm có tiếng bước chân đi đến. Đạo sĩ đinh ninh con yêu này mặt xanh tóc đỏ lông lá đầy mình trông dễ sợ lắm. Nào ngờ hé mắt nhìn ra là một cô gái mặt trắng môi son, tóc liễu lưng eo, thiên kiều bách mị, chưa từng thấy bao giờ. Có lời khen rằng:
Gió đưa hương lạ ngọt ngào
Dáng đi thiên kiều bách mị
Đan thanh tay phàm khó tả
Vóc người lồ lộ ưa nhìn
Y phục càng tôn nét đẹp
Trâm vàng cài lỏng tóc mai
Môi hồng hé nở nụ cười.
Cô gái đó đi về phía lão đạo sĩ, nói:
- Hay cho lão tặc Thái Chơn, mi dám tính bắt bà cô mi hử?
Châu Phước mới nói với mọi người:
- Té ra có ai xa lạ đâu, bà con với ông đạo đó mà.
Lão đạo sĩ sợ đến hồn phi phách tán, nói:
- Xin tiên cô chớ giận, để nghe tiểu đạo nói đây. Tiểu đạo dù có gan trời cũng nào dám bắt tiên cô được. Chỉ nhơn vì nhà họ Châu mời tiểu đạo đến trị bệnh cho công tử, mới phiền thỉnh tiên cô đến đó thôi. Xin tiên cô hãy nghe tiểu đạo lời này. Hà hà hà, tiên cô chắc đang tu luyện ở thâm sơn cùng cốc nào đó, đạo cao đức trọng, sá chi chút bụi hồng trần này. Tiểu đạo dám khuyên tiên cô nên trở về tiếp tục tu luyện kim thân muôn đời bất hủ. Như vậy có được chăng?
Yêu tinh nghe nói thế, cả giận hét:
- Đồ khỉ, lâu nay ta chưa ăn thịt người, sẵn mi đây, hôm nay ta chén một bữa cho sướng miệng!
Nói rồi chạy xô đến, miệng phun ra một luồng khói đen. Đạo sĩ la ói một tiếng, té lăn xuống đất, bảo kiếm cũng tuột khỏi tay. Bọn Châu Phước sợ đến hồn vía lên mây, lủi xuống sàn chui trốn. Chiếc giường nhỏ quá mà người lại đông, không thể nào dung chứa hết. Châu Lộc mới kéo Châu Phước nói:
- Anh xê qua cho tôi chui vào một tí.
Châu Phước sợ quá mê đi, nên trông gà hóa cuốc, nói:
- Xin cô cô đừng kéo chân con tội nghiệp.
Trong lúc mọi người đang giành nhau chui trốn, thì bên ngoài vang lên tiếng như trời long đất lở. Có kẻ lớn mật lén nhìn ra, thấy bên ngoài có một vầng hào quang đỏ rực, có một vị Kim giáp thiên thần đứng chắn ở cửa. Đó chính là tượng Vi Đà hiển thánh. Mọi người sợ quá chẳng dám ra, rúc dưới gầm giường cho đến trời sáng bạch. Bên ngoài, lão viên ngoại thức suốt đêm chờ đợi sáng ra cùng với những người lớn gan ra huê viên xem đạo sĩ bắt yêu như thế nào.
Vào đến trong nhà xem lại thấy đạo sĩ té nằm trên đất mặt mũi xanh dờn, bảo kiếm tuột khỏi tay nằm kế đó. Sờ tay xem thì thấy cả người ông ta đểu lạnh. Đến thư phòng xem thì thấy mọi người đang chui trốn dưới giường, người chui dưới bàn cũng có. Kéo chân ra, mọi người nói:
- Xin cô cô tha mạng, đừng kéo chân con tội nghiệp.
Lão viên ngoại nói:
- Có cô cô nào ở đây, bay chưa chịu chui ra còn làm gì trong đó?
Bọn Châu Phước nhìn ra thấy viên ngoại, nói:
- Viên ngoại ơi, chúng con sợ bắt chết đi được!
Viên ngoại hỏi sự việc như thế nào, bọn Châu Phước đem sự tình hôm qua đạo sĩ bắt yêu ra sao thuật lại một lượt. Viên ngoại đằng hắng một tiếng rồi nói:
- Thiệt là phước bất trùng lai, họa vô đơn chí! Yêu quái đã không bắt được mà vị đạo sĩ còn nằm chết ở đây nữa. Phải đi báo quan khám nghiệm mới xong.
Phàm người có tiền rất sợ dây dưa đến cửa quan. Viên ngoại bảo gia nhân trước hết phải quét dọn cho nhanh chóng, rồi ra nhà trước thầm nghĩ: "Tượng Vi Đà của vị Hòa thượng này hay quá, đang đứng ở nhà trước sao lại chạy ra nhà sau hiển thánh? Đợi khi lão Hòa thượng đến lấy mình không cho, hỏi ông cần bao nhiêu tiền, mình mua lại để trấn nhà thì hợp cách quá!”. Còn đang tính nhẩm như thế, xảy nghe có tiếng người đập cửa và tiếng của Hòa thượng vọng vào bảo mở cửa lấy tượng Vi Đà:
- Tượng Vi Đà của tôi đã có chủ mua rồi, dù cho sáu trăm muôn lượng bạc cũng không bán.
Viên ngoại nghe nói, vội chạy ra trước xem. Bên ngoài không phải là Hòa thượng mà là một người mình cao tám thước, đầu đội khăn viên ngoại, mình mặc áo đoạn màu lam, mặt mũi phương phi hiền từ, râu ba chòm phất phơ trước ngực, sau lưng có một đứa tiểu đồng độ 14, 15 tuổi. Viên ngoại nhìn kỹ chính là Tô Bắc Sơn, em kết nghĩa của mình. Châu viên ngoại hỏi:
- Phải hiền đệ kêu cửa không?
Tô Bắc Sơn nói:
- Phải đó, hôm nay tôi đến giới thiệu với anh một người, đó là Phật sống Tế Điên ở chùa Linh ẩn bên Tây Hồ mà tôi thường nói với anh đó. Tối hôm qua ông đến nhà tôi nhắc việc vác tượng Vi Đà đi hóa duyên. Ông nói trong nhà anh yêu tinh quấy phá, đến đây để bắt yêu bị anh đuổi ra, còn bỏ tượng Vi Đà lại. Hôm qua ông ở đằng nhà tôi. Tôi nghĩ rằng chắc tại anh chưa biết, nếu biết là Tế Công, chắc anh đâu có xử tệ như vậy. Hôm nay tôi đưa ông đến, một là để bắt yêu, hai là để đem tượng Vi Đà về.
Châu viên ngoại nói:
- Này hiền đệ, có như vậy sao? Hiện tại Lưu Thái Chơn ở Tam Thanh quán đến bắt yêu không xong lại bị yêu phun độc khí đến giờ vẫn còn bị hôn mê bất tỉnh. Tôi đang cho người một mặt báo tin cho đằng miếu của lão đạo hay, một mặt báo quan đến khám nghiệm, kế bên ngoài nghe Hòa thượng gọi cửa đó. Này hiền đệ, hiền đệ mời giùm đại sư đó đến đây đi.
Tô Bắc Sơn quay lại thấy Hòa thượng đang ngồi chồm hổm bên tường, nói:
- Xin mời sư phụ đến đây cho viên ngoại ra mắt.
Châu viên ngoại lật đật ra rước vào đại sảnh, gia nhân dâng trà. Châu viên ngoại nói:
- Bạch Thánh tăng, việc hôm qua bọn tôi không hề biết kể như không mắc tội, xin Thánh tăng hỷ xả cho, để bảo dọn rượu tạ tội với Hòa thượng.
Tế Điên nói:
- Bửa nay ta không uống rượu. Đi bắt yêu an trạch trước rồi uống rượu sau. Ông dẫn ta ra hậu viên nhé.
Châu viên ngoại nói:
- Phải đó!
Rồi lập tức dẫn đường. Ra đến hậu viên thấy đạo sĩ hãy còn nằm ngay trên đất. Hòa thượng nói:
- Hôm qua chắc lão gặp bà con đây?
Châu Phước nói:
- Phải đó, hôm qua chúng tôi nghe ông ta gọi là cô cô đấy!
Tế Điên nói:
- Trước hết ta hãy cứu trị cho lão đạo đã. Các ngươi đi lấy cho ta nửa chén nước nóng, nửa chén nước mát, ta cho ông ấy uống chút thuốc hòa với chút nước âm dương sẽ tỉnh ngay chớ gì.
Gia nhân đem nước đến, Hòa thượng lấy thuốc hòa vào đổ vô miệng đạo sĩ. Giây lát đạo sĩ mửa ra một thôi một hồi rồi từ từ mở mắt, thì ra trước mặt là Hòa thượng đến cùng với Châu, Tô hai vị viên ngoại. Lão đạo sĩ lật đật đứng dậy nói:
- Thiệt xấu hổ quá, xấu hổ quá!
Hòa thượng nói:
- Này viên ngoại, ông lấy cho lão đạo 50 lượng bạc để ông ấy về chuộc lại năm bộ đèn nhé.
Viên ngoại bảo gia nhân đem bạc đưa cho lão đạo. Lão đạo nhận bạc rồi tạ ơn hỏi viên ngoại:
- Xin hỏi chùa của vị đại Hòa thượng này ở đâu?
Châu viên ngoại đáp:
- Đó chính là Phật sống Tế Công ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ đấy.
Lão đạo sĩ nghe nói lật đật sụp xuống đất dập đầu tạ lỗi:
- Thật tôi không biết Thánh tăng, hôm qua có nhiều điều xúc phạm.
Tế Điên nói:
- Đạo gia chớ lạy lục làm chi. Từ nay có còn muốn bắt yêu giùm người nữa thôi?!
Lão đạo sĩ nói:
- Lần này suýt tiêu mạng tôi sợ quá rồi. Từ nay về sau không dám di bắt yêu nữa.
Nói rồi đạo sĩ cáo từ về miếu. Về đến Tam Thanh quán, bảo đạo đồng đem bạc chuộc đồ về. Gỡ bảng đề "Bắt yêu trấn trạch" treo phía trước bỏ đi và dặn đạo đồng:
- Bất luận ai mời ta đi bắt yêu, mi cũng bảo ta vào núi hái thuốc rồi nhé.
Sau khi đạo sĩ đi rồi, Hòa thượng mới nói:
- Này viên ngoại, ta lui quỷ trị bệnh cho công tử rồi sau mới bắt yêu nhé!
Viên ngoại nói:
- Vâng, xin Thánh tăng đại phát từ bi xuống phước cho.
Nói rồi dẫn Tế Điên vào phòng Chí Khôi.
Trong phòng bàn ghế vẫn như trước. Công tử Chí Khôi đang nằm đầu day hướng Đông, chân day hướng Tây, mặt mày vàng võ không có chút máu. Viên ngoại thấy thế rất lấy làm đau đớn, liên tiếp kêu mấy tiếng: “Chí Khôi ơi, Chí Khôi hỡi”, nhưng công tử vẫn không một tiếng trả lời, nhướng mắt nhìn viên ngoại rồi lại nhắm như cũ.
Tô viên ngoại nói:
- Thằng bé này ngày thường vốn là nhân vật phong lưu, mấy hôm nay không gặp mà biến đổi quá chừng. Mặt mũi nhợt nhạt quá nên tiều tụy.
Tế Điên nói:
- Không hề chi, ta cho cậu ấy uống tí thuốc là hết ngay.
Nguyên nhân Chí Khôi mắc bệnh hư nhược, ban ngày hôn hôn mê mê, tối lại suốt đêm không ngủ, tinh thần hoảng hốt nhưng trong tâm vẫn còn nhận định rõ ràng. Thấy lão viên ngoại, Tô viên ngoại và Hòa thượng đến kế bên mà mắt mở không ra. Thấy Hòa thượng đưa tay vào trong áo móc ra một viên thuốc, Châu viên ngoại hỏi:
- Bạch Thánh Tăng, đó là viên thuốc chi vậy?
Tế Điên đáp:
- Cái này kêu là Yếu mạng đơn. Con ông mạng sắp đứt rồi, nhờ viên thuốc của ta níu mạng lại.
Nói rồi bỏ thuốc vào miệng nhai ngỏm ngoẻm, đoạn lấy tay vạch miệng Chí Khôi nhổ toẹt vào. Châu Chí khôi gớm quá, muốn nhổ mà nhổ chẳng ra, đành phải nuốt tuột xuống. Thuốc xuống tới đâu bụng sôi lụp bụp tới đó. Thuốc dẫn máu chạy, máu dẫn khí đi, ngũ tạng lục phủ rất là dễ chịu, trên mình nhẹ nhõm như cất đi gánh nặng ngàn cân.
Hòa thượng hỏi:
- Chí Khôi, cha mẹ ngươi được mấy người con?
Chí Khôi thưa:
- Chỉ có một mình tôi thôi.
Hòa thượng nói:
- Đã biết như vậy ngươi há không biết câu: "Bất hiếu có ba tội, không con là lớn nhất" hay sao mà đám ở hoa viên khởi tà tâm chiêu lấy yêu tà mới gây ra cớ sự? Càng nói, Hòa thượng ta càng thêm nổi nóng.
Nói rồi xáng lên đầu Chí Khôi một cái bốp.
Nguyên Chí Khôi mắc bệnh đã lâu, trong người hư nhược lắm, bị cái tát đó té nhào, thở chẳng ra hơi. Châu viên ngoại thất kinh. Tế Điên day qua nói:
- Viên ngoại đừng có lo! Thằng nhỏ này không chết đâu. Để oan khí không tan chừng đó mới chết thiệt đấy. Nên đem tiền của cúng vào chùa ta để tiếp xây ba gian nhà bị cháy nhé.
Viên ngoại lòng lo mạng sống cho con, lật đật đáp ứng ngay.
Nguyên nhân Chí Khôi mắc bệnh là như thế này.
Một bữa nọ Chí Khôi đứng tựa lan can ở Diễm Dương lầu nơi hoa viên xem hoa, xảy nghe về phía Đông cách tường có tiếng con gái nói chuyện. Chí Khôi nhìn lại thì ra đó là hoa viên của Vương viên ngoại, tiểu thơ Vương Nguyệt Nga đang kêu a hoàn hái hoa lài. Chí Khôi nhìn kỹ thấy Vương Nguyệt Nga quả là trang quốc sắc, mới nghĩ thầm: "Mới mấy năm trước đây, mình với Vương Nguyệt Nga cùng chơi đùa thấy cô ta cũng thường, có chi lạ đâu! Chỉ mấy năm không gặp lại mà cô nàng trổ mã đẹp quá chừng. Thiệt là gái mười tám có khác. Chí Khôi ta nếu cưới được người như thế làm vợ không bõ công kén chọn bấy lâu”. Lòng nghĩ như thế, hai mắt ngó chăm bẩm xuất thần. Bên kia Vương Nguyệt Nga đang kêu a hoàn hái hoa, ngước lên ngó thấy bên lầu phía Tây có một văn sinh công tử, tay mặt xách túi gấm thêu, tay trái cầm chiếc quạt nhỏ, đương giương mất nhìn đăm đăm về phía bên này. Cô nương mắc cỡ mặt đỏ hồng, rồi hối a hoàn hái hoa mau xuống lầu. Chí Khôi nhìn theo cô nương xuống lầu hút bóng, thở dài than rằng: "Ôi phải chi mình mọc đôi cánh bay qua bên đó cùng Nguyệt Nga hội hợp mới thỏa lòng này”.
Từ đó Chí Khôi như mê như dại, ở trong thư phòng nhắm mắt suốt ngày. Tiểu đồng đưa trà đến, Chí Khôi nói: "Em Nguyệt Nga đến đó phải không?", làm tiểu đồng sợ chạy vắt giò. Một tối nọ, Chí Khôi ngồi buồn, nhắm mắt lại, thấy phảng phất Nguyệt Nga trước mặt, mở mắt lại không. Ngày ngày cứ ra hoa viên kêu: "Nguyệt Nga em ơi, lại đây với anh", làm cho tiểu đồng kinh sợ thêm.
Một tối kia, Chí Khôi ngồi buồn xo, nói: "Tính mạng của ta đã giao phó cho Nguyệt Nga rồi", và không thiết ăn uống gì nữa. Bỗng thấy bức rèm lay động, rồi một người bước vào, chính là Vương Nguyệt Nga. Chí Khôi như người bắt được vàng, nhảy tới ôm chầm lấy.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 7 [/align]



Thấy Giai Nhân, Chàng Ngốc Nổi Lòng Tà
Tưởng Người Đẹp, Nào Ngờ Yêu Nữ Hiện




Thơ phù dung:
Phù dung nở, bến sông hồng
Mặt thiếp xinh hay phù dung rõ xinh!
Hôm qua đê dấu thiếp in
Cớ sao thiên hạ quên nhìn phù dung?
Chí Khôi đang ngồi tơ tưởng đến Nguyệt Nga. Trống đổ canh hai, bỗng tấm rèm lay động, một người con gái thiên kiều bách mị, phẩm mạo đẹp xinh, phong thái diễm tuyệt đi vào. Chí Khôi nhìn quả là Vương Nguyệt Nga, vội vàng nói:
- Hiền muội ơi, có phải em đến đó không? Anh đang tơ tưởng đến em như nắng hạn mong mưa. Em đến được, thiệt là anh thỏa dạ mơ ước bình sanh vô ngần.
Thực ra người đến không phải là Nguyệt Nga thiệt, mà chính là con hồ ly có hơn ba ngàn năm tu luyện ở núi Thiên Thai, mỗi ngày nó đến núi Thành Hoàng nghe kinh, trên đường đi ngang thấy Chí Khôi cứ ngày đêm tơ tưởng Nguyệt Nga gần như điên, bèn biến thành Nguyệt Nga với lòng tốt khuyên giải. Đã gặp Nguyệt Nga một lần, nên vùng biến ra Nguyệt Nga giống hệt không sai một nét, đến phòng Chí Khôi nói:
- Này Châu đại ca, ngày nào anh cũng đứng trên lan can gọi tên em chi vậy, có phải là bại hoại danh tiết của em không? Nếu anh thật lòng thương em thì cậy mối mai đến hỏi, cha mẹ em chắc cũng không thể từ chối. Chừng đó danh chánh ngôn thuận, lại hợp với tâm nguyện của đôi ta nữa.
Chí Khôi nghe rồi nói:
- Hiền muội ơi, em đừng đi nữa nhé. Từ ngày anh gặp mặt em tới nay, không phút giây nào anh không nghĩ tới em. Anh hận vì tường vách cách ngăn không được cùng nhau thành vợ chồng tức khắc. Hôm nay em tới đây rồi, anh đâu thể thả em về được.
Nói rồi ôm Nguyệt Nga chặt cứng.
Yêu tinh ban đầu lập tâm định khuyên giải, thấy Chí Khôi ôm cứng không chịu rời, lại thấy Châu công tử cũng đẹp trai mới tự nghĩ: “Sao không nhơn dịp này trộm lấy chơn dương của hắn để luyện bổ nội âm cho rồi". Nghĩ rồi bèn nói:
- Anh đã có lòng thương tưởng đến, em há chẳng mong được nâng khăn sửa túi anh sao? Hai ta âu cũng là nhân duyên tiền định, chỉ e mẹ cha anh biết được, có điều bất tiện cho chăng!
Chí Khôi lúc đó tâm hồn mê mệt, tất cả đều thành bất kể, coi trời bằng vung, cùng con yêu dắt tay cụng chén cùng vào trướng loan. Đến khi trống điểm canh tư, yêu quái nói:
- Em đi về nhé, ở trễ sợ người ta biết được.
Chí Khôi hỏi: Chừng nào em trở lại?
Yêu quái nói: Ngày mai em trở lại.
Từ đó trở đi, đêm nào đến đầu canh một, hai người cũng uống rượu chuyện trò, truy hoan hưởng lạc, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường. Ngày nào cũng thế làm sao tinh thần không suy bại cho được. Tội nghiệp Chí Khôi, ba thứ quý báu của người ta là tinh khí thần bị hao tổn quá mức nên ăn uống không được, mặt như tờ giấy trắng. Viên ngoại không rõ căn do, cho là tại con mình dụng công học tập, lao thần quá độ, chớ biết đâu con ông đã đem sức lực phung phí thâu đêm mà ra. Nay bị một bạt tai của Hòa thượng, yêu khí tan mất, Chí Khôi lập tức đứt hơi luôn. Châu viên ngoại lòng đau như cắt lật đật nâng con dậy. Tô Bắc Sơn cũng có ý ăn năn, thiệt là tiến cử thầy bói dễ bằng mười thầy thuốc, bây giờ biết phải làm sao. Đúng lúc mọi người lo lắng bỗng thấy Chí Khôi lấy hơi thở nhè nhẹ.
Hòa thượng nói: Càng thấy ngươi, ta càng nổi giận.
Nói rồi xông tới đưa tay muốn đánh nữa, may có Tô Bắc Sơn đưa tay cản kịp. Châu viên ngoại thấy con tỉnh mới tạm yên lòng. Chí Khôi lúc đó tinh thần mới định tĩnh lại, đòi uống nước đường, yêu khí cũng tan biến.
Hòa thượng bây giờ mới nói:
- Chúng ta đi bắt yêu nhé.
Rồi bảo Châu Phước, Châu Lộc hai đứa khiêng tượng Vi Đà ra đây. Hai đứa đi ra, nhấc mãi không lên. Châu Phước nghĩ thầm: “Ngó bộ Vi Đà này không nặng gì lắm, mà sao hai đứa rinh không nổi vậy kìa?”
Hòa thượng nói:
- Ta vốn biết tụi bây giở không nổi.
Nói rồi đi đến đưa tay nhấc tượng Vi Đà lên. Một luồng khói đen bay vụt lên, té ra con yêu quái ấy chun nép dưới đáy tượng Vi Đà. Luồng khói ấy mỗi lúc to rộng ra, con yêu quái thấy Hòa thượng tướng mạo tầm thường, muốn đem yêu khí chụp lấy Hòa thượng.
Tế Điên hà hà cười, nói lớn:
- Đồ nghiệt súc, ngươi không biết ta là ai sao?
Nói rồi lấy tay vỗ lên thiên linh cái, thấu ra ba đạo hào quang: Phật quang, kim quang, linh quang. Người thường thì thấy Hòa thượng vẫn là thân xác phàm trần như cũ, còn yêu quái ngó thấy hồn bay ngàn dặm, Hòa thượng rành rành là một vị mình cao một trượng sáu, đầu to ba đấu, mặt sắt đen sì, mình mang giáp sắt, chính là Tri Giác La Hán. Yêu quái chạm phải kim quang này tiêu đi năm trăm năm đạo hạnh. Hòa thượng lột mũ xuống, hào quang muôn đạo, tử khí ngàn tia, rọi về phía yêu quái. Sau một trận cuồng phong nổi dậy, mọi người nhìn lại thấy con hồ ly lớn đang quỳ dưới đất, cầu xin Hòa thượng dung tha tính mạng:
- Bạch sư phụ, xin người chớ giận, đệ tử vốn có ý khuyên thôi, nào ngờ công tử cứ níu chặt không chịu buông. Đệ tử nếu không nghe theo y cũng đòi chết. Sư phụ ơi, xin người mở lượng từ bi tha cho đệ tử một lần, thề không tái phạm nửa.
Tế Điên đội mũ lên đầu, nói:
- Hay cho mi dữ a! Lần này ta tha tính mạng cho ngươi, lần sau còn tái phạm, ta sẽ dùng chưởng tâm lôi đánh chết đấy nhé!
Yêu quái cúi đầu lạy tạ, hóa gió bay mất. Châu viên ngoại thấy con đã lành bệnh, bèn mời Hòa thượng lên thơ phòng thết rượu, sẵn mời cả Tô Bắc Sơn cùng ngồi. Uống được vài chén, Châu viên ngoại kéo Tô Bắc Sơn ra ngoài nói:
- Này hiền đệ, như hiền đệ thấy đó, Chí Khôi đã khỏi bệnh, yêu quái đã trừ xong, ta chỉ nhờ hiền đệ nói giúp cho ta một tiếng, ta ở trước mặt Hòa thượng bày tỏ chút lòng thành. Hiền đệ nói thế nào cũng được, ta không thay đổi đâu.
Tô Bắc Sơn nói:
- Này huynh trưởng, ý anh muốn đền ơn Tế Công bằng tiền phải không? Cái đó không được đâu? Thánh tăng tính tình cổ quái lắm, nhất là không ưa tiền. Lần trước trị bệnh cho gia đình tôi và gia đình của Triệu Văn Hội, chúng tôi đền ơn bằng tiền mà Ngài một đồng cũng không lấy. Theo ý tôi thì nên làm theo như vầy. Anh đến cửa hàng cho thuê kiệu trang sức thật lộng lẫy rồi rước tượng Vi Đà đưa về chùa Linh ẩn. Làm như vậy chắc Thánh tăng sẽ vừa lòng. Đừng nói chuyện tiền bạc làm chi, người ta có biết bao đệ tử thí chủ phú hộ.
Hai người thương lượng xong cùng trở về phòng. Hòa thượng hãy còn đang uống rượu. Tô Bắc Sơn nói:
- Bạch sư phụ, tôi biết sư phụ không ưa tiền, nên đã cản việc đem tiền đền ơn sư phụ rồi, tôi bảo thuê kiệu đưa tượng Vi Đà trở về chùa.
Hòa thượng nói:
- Đưa bạc hay không đưa bạc chẳng hề chi. Chớ dây dưa vào việc của ta! Lát nữa lấy kiệu đưa ông Vi Đà về chùa, về sau ta có đi đâu ông ấy cứ theo đòi đi làm vướng chân cẳng ta không chịu được. Chốc nữa ta vác ông đi ra đường coi chỗ nào cứng cứng va đầu ông vô cho bể một miếng, lần sau ông ấy sợ không dám đi với ta nữa.
Viên ngoại nói:
- Thế thì tôi xin đưa sư phụ một ít tiền để thay đổi xiêm y.
- Viên ngoại muốn đưa tiền hãy kề tai ta nói như vầy... như vầy. Hãy ghi vào lòng, đừng nên nhầm lẫn nhé!
Ai nấy gật đầu lãnh ý, Hòa thượng cáo từ vác tượng Vi Đà đi ra. Đi được một quãng, Tế Điên tịnh khai huệ nhãn, thấy trước mặt oán khí ngất trời bèn gật gật đầu.
Thấy đường phía Bắc có quán rượu, Tế Điên đi về phía đó. Có người thấy hỏi:
- Hòa thượng đi hóa duyên hả?
- Phải đó.
- Hòa thượng vác tượng Vi Đà đi đâu cùng đường vậy?
- Ta đem bán đây.
- Này Hòa thượng, tượng Vi Đà này tại sao đem bán vậy? Mà bán bao nhiêu?
- Ta mua vốn là một trăm lượng, phải hai trăm mới bán. Ông Vi Đà của ta đây thờ ở chùa nào thì chùa đó linh lắm, người ta đến thắp hương vô số.
Nói rồi kêu một bầu rượu để tượng Vi Đà kế bên. Uống được vài chén, Tế Điên kêu phổ ky bảo:
- Coi chừng giùm, ta đi ra ngoài một lát.
Tế Điên vừa đi ra, thì ngoài cửa có tám chín vị Hòa thượng từ ngoài đi vào nói:
- Ở đây rồi. Trong chùa chúng tôi có ông thầy khùng vác tượng Vi Đà, đi đến đâu nhậu đến đó. Vâng lệnh lão Hòa thượng, chúng tôi đi tìm.
Chưởng quỹ nói:
- Vâng, các vị cứ khiêng về đi, cái tượng đất này chúng tôi không dùng làm gì được.
Chưởng quỹ chỉ nói tắt một câu cho xong chớ không hỏi các Hòa thượng ấy ở chùa nào lại. Các Hòa thượng ráp nhau mỗi người một tay khiêng tượng Vi Đà đi mất. Một lát sau, Tế Điên trở lại, vừa vào đến cửa liền la lên:
- A, món hàng của ta đâu mất rồi!?
Chưởng quỹ nói:
- Các ông thầy đằng chùa ông khiêng về rồi.
Tế Điên hỏi:
- Chùa ta là chùa nào?
Chưởng quỹ tắc tị không trả lời được. Tế Điên nói:
- Ông bị người ta gạt lấy mất rồi, ông phải đền cho ta hai trăm lượng, nếu không ta sẽ kéo ông lên quan mới được.
Các thực khách đều nói với chưởng quỹ:
- Đúng là lỗi tại ông, hồi nãy khi các Hòa thượng khiêng tượng Vi Đà đi sao ông không hỏi ở chùa nào?
Rồi họ day qua Tế Điên nói:
- Xin Hòa thượng nể mặt chúng tôi mà bỏ qua cho. ông ta vốn nghèo lắm, mỗi tháng chỉ kiếm được mấy điếu tiền lương thôi, làm sao ông ấy đền nổi hai trăm lượng. Đây, chúng tôi xin góp nhặt mấy điếu lại cho ông.
Tế Điên nói:
- Góp mấy điếu hả? Ta chẳng cần đâu. Đã có các vị nói giúp, tiền ta chẳng cần. Thôi, ta đi đây.
Nói rồi bước ra khỏi quán.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 8 [/align]



Dạy Pháp Thuật, Tế Điên Đùa Đạo Sĩ
Mất Linh Phù, Quốc Nguyên Vội Tìm Thầy




Có thơ rằng:
Đêm thanh gió mát trăng trong
Có người thiếu nữ bên sông mỉm cười
Nắn dây mượn phím gởi người
Ai tri âm đó đã mười năm qua.
Ra khỏi quán rượu, định đi đến Tam Thanh tìm Lưu Thái Chơn, thấy oán khí ngất trời, Tế Điên vội án linh quang xem rồi vỗ tay ba cái, gật gật đầu, nói:
- Hay quá! Hay quá! Ta đâu bỏ đi được!
Vừa đi vừa lẩm bẩm cho tới Tam Thanh quán.
Đến nơi thấy tấm bảng đề bắt yêu trị bệnh đã bỏ, lạnh tanh lạnh ngắt. Lão đạo sĩ từ khi bắt yêu ở nhà Châu viên ngoại trở về, đem bạc chuộc đồ vật lại, bảo đạo đồng gỡ bỏ bảng bắt yêu xuống và dặn:
- Nếu có ai mời ta đi bắt yêu, ngươi nói là ta vào núi hái thuốc rồi nhé.
Tiểu đồng vâng dạ, lão đạo sĩ ngày ngày xem sách đỡ buồn!
Hôm nay tiểu đồng đang chơi đùa trong viện bỗng nghe có tiếng gõ cửa, tiểu đồng chạy ra xem thì thấy một vị Hòa thượng kiếc đang đứng đó. Tiểu đồng hỏi:
- Ông tìm ai?
Tế Điên nói:
- Tìm Lưu đạo gia của nhà ngươi, mời đến nhà ta bắt yêu, lui quỷ trị bệnh.
- Không được đâu. Thầy tôi đã vào núi hái thuốc rồi, không biết ngày nào mới về.
- Ngươi vào nói với lão đạo sĩ đang xem sách ở nhà trong là có ta là lão nhân gia đến, ông ấy sẽ ra gặp ta ngay!
Tiểu đồng nghe nói ngạc nhiên nghĩ thầm: “Chà! Sao ông ấy biết thầy mình đang xem sách kìa?”.
Lật đật nói:
- Xin Hòa thượng chờ cho một chút.
Rồi chạy vào trong thưa:
- Bạch sư phụ, bên ngoài có ông Hòa thượng kiếc nói mời sư phụ đi bắt yêu an trạch. Tôi nói sư phụ đi hái thuốc rồi. Ông ấy bảo tôi vào bên trong nói với lão đạo sĩ đang xem sách rằng có ông ấy đến là sư phụ sẽ ra ngay.
Lão đạo sĩ nghe, ngạc nhiên nói:
- Hay là ông ấy, lão nhân gia đến chăng?
Tiểu đồng nói:
- Đúng rồi, ông Hòa thượng cũng có xưng là lão nhân gia nữa đấy.
Lão đạo sĩ vội chạy ra nhìn xem, quả nhiên là Tế Điên, vội nói:
- Bạch Thánh tăng, lão nhân gia từ đâu đến? Đệ tử ở đây xin kính lễ Ngài.
Tế Điên nói:
- Được được, ông hãy đi trước dẫn dường, ta vào miếu ông ngồi đã. Ta hỏi ông chuyện này nhé. Ông bây giờ không bắt yêu trị bệnh nữa rồi thầy trò ông lấy gì để sống chớ?
Lão đạo sĩ nói:
- Bạch sư phụ, chúng tôi ở đây thường chỉ nhờ vào việc bắt quỷ trị bệnh để có chén cơm qua ngày. Từ hôm ở nhà Châu viên ngoại ra về, tôi sợ quá đâu dám bắt yêu nửa. Trong miếu hiện cũng không có chút lợi tức nào. Xin lão nhân gia chỉ điểm cho một phương cách để có thể sống qua ngày.
Tế Điên nói:
- Ta sẽ dạy phương pháp chuyển vận. Nếu ngươi học được, khi muốn có vàng bạc niệm câu chú này sẽ có ngay; muốn có quần áo, thức ăn ngon, hễ nghĩ đến là có ngay.
Lão đạo sĩ nói:
- Thế thì tôi xin học phép đó, còn cái khác thì không học đâu. Xin sư phụ lão nhân gia dạy tôi luyện đi.
Tế Điên nói:
- Ngươi luyện chưa được đâu. Muốn luyện phép này trước hết phải dập đầu một ngàn cái, dập đủ bốn mươi chín ngày và nhận ta làm thầy mới được. Ngươi quỳ trên đất niệm “Vô lượng Phật", dập dầu một cái rồi đứng dậy niệm "A Di Dà Phật”. Như thế mới kể là một lần.
Lão đạo sĩ nói:
- Tôi chịu luyện. Mỗi ngày dập đầu một ngàn cái, chỉ cần 49 ngày là xong, muốn gì có nấy, tôi quyết ý tập luyện.
Tế Điên nói:
- Còn chưa được, Hòa thượng ta uống rượu ai đi mua đây?
- Đệ tử bảo đạo đồng đi mua.
- Mỗi bữa cơm ta muốn ăn thịt ai đi mua đây?
- Đệ tử đi mua, sớm tối hai lần điểm tâm, hai bữa cơm toàn do đệ tử lo cả.
- Thế thì sáng sớm ngày mai bắt đầu luyện tập nhé. Ngươi trước hết bảo đạo đồng đi đong rượu mua thức ăn đi, ta uống rượu trước.
Lão đạo sĩ bảo đạo đồng đi mua thức ăn. Ngày kế, Tế Điên đề nghị dùng hai cái bình pha lê và mua một ngàn hạt đậu vàng. Hòa thượng ngồi trên bồ đoàn, lão đạo sĩ niệm một tiếng "Vô lượng Phật", rồi dập đầu một cái, niệm “A Di Đà Phật". Đoạn lấy một hạt đậu từ bình pha lê vàng bỏ qua bình pha lê đỏ, để đỡ phải ghi nhớ.
Lão đạo sĩ dập đầu được mấy mươi cái cảm thấy lưng ê đùi nhức. Dập được hai trăm cái, thấy Tế Điên nhắm mắt lim dim, lão đạo sĩ nghĩ thầm: "Mình hốt đại một nắm bỏ qua sẽ ít dập dầu một số”. Thấy Tế Điên ngủ say, lão đạo sĩ hốt vội một nắm đậu bỏ qua bình pha lê đỏ. Tế Điên mở mắt ra hỏi:
- Cái gì vậy? Luyện phép thuật mà còn gian dối à? Phải luyện lại.
Rồi đem số đậu trút vào bình pha lê kia lại! Thế là toi đi hơn ba trăm lần dập đầu trước. Lão đạo sĩ dập được năm sáu ngày, số bạc còn lại đã tiêu sạch hết. Tế Điên bảo đong rượu mua thịt, lão đạo sĩ bảo đạo đồng đem đạo bào đi thế, trâm vàng đem đi cầm, đợi khi luyện pháp chuyển vận xong sẽ chuộc lại. Đạo đồng đem đồ vật đi cầm, ăn được năm sáu ngày lại hết nhẳn. Lão đạo sĩ đem cầm mấy tấm tiền bàn, lần lượt các bàn ghế ở đại điện cũng bán hết. Cho đến khi luyện được một tháng sáu ngày, lão đạo sĩ chỉ còn lại một chiếc quần đang mặc, bốn tên đạo đồng đều trần truồng như nhộng. Lão đạo sĩ nói:
- Bạch sư phụ, đệ tử thiệt bây giờ hết nhẵn tiền rồi, sư phụ dạy phép chuyển vận, vậy xin chuyển vận vật thực đến để ăn chớ.
- Nếu ta biết phép chuyển vận, tại sao còn bảo ông mua rượu làm chi!
- Đúng là sư phụ hại đệ tử rồi, bây giờ phải làm sao đây?
- Ông không tiền, Hòa thượng ta đi nhé!
- Thánh tăng mà đi ra rồi, thầy trò đệ tử treo cổ chết cho xong.
- Ta dạy ngươi niệm chú, ngươi có niệm không?
- Thưa chú gì vậy?
- Án ma ni bát mê hồng.
Lão đạo sĩ nghe không rõ, nói: Bát nì (ông) hoành.
Tế Điên nói:
- Đúng đó.
Dạy liên tiếp ba lần, lão đạo sĩ đã học thuộc. Tế Điên bảo ông ta quỳ trong điện niệm chú. Lão đạo sĩ vừa niệm: "Án ma ni bát mê hồng", Tế Điên ở phía sau lấy tay chỉ xuống đất, tức thì một cục gạch nhỏ từ dưới đất bay lên trúng đầu lão đạo sĩ một cái "cốc" u lên một cục. Lão đạo sĩ hỏi:
- Thưa sư phụ, sao kỳ vậy?
Tế Điên nói:
- Ông niệm chú mà gạch ngói muốn phang ông thì ông niệm làm chi?
- Thế thì đệ tử không niệm nữa.
- Không hề chi, để ta dạy ngươi mấy câu này, ngươi gặp gạch ngói thì nói:
Ông gạch ngói ơi,
Con xin lạy ông,
Con không niệm chú,
Ông đừng phang con.
- Bạch sư phụ, thế thì con phải làm sao đây?
- Ông lấy tăng bào của ta mặc vào, tăng mão của ta ông đội lên, rồi ta sẽ dạy ông mấy câu, ông đi lên Tô Đề của Tây Hồ ở cửa Tiền Đường, gặp Lãnh Tuyền đình sẽ đứng lại và nói lớn:
Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên!
Khỏi phải lên chùa tìm Tế Điên
Mười lượng bạc ròng đưa ta đủ
Trong lưng còn đúng 360 tiền.
Lão đạo sĩ muốn không đi, ngặt nỗi trong miếu một đồng cũng không có, còn đi thì thật là khó coi. Mọi khi đạo sĩ di ra ngoài áo quần chải chuốt lắm, hôm nay không còn cách nào khác hơn được đành phải mặc áo rách nát của Tế Điên vào rồi nói:
- Bạch sư phụ, con đến đó nói như vậy ba lần, rồi sẽ có việc gì xảy ra?
- Ông chỉ cần đi đến đó nói ba lần như vậy rồi sẽ có người đến hỏi. Hòa thượng ta thuyết pháp, hóa chút duyên nhỏ sẽ đủ cho thầy trò ông chi dùng.
Lão đạo sĩ không còn cách nào khác để làm, đành phải ra khỏi Tam Thanh quán, mặt cúi gằm xuống sợ gặp phải người quen. Hai bên đường người quen biết với đạo sĩ không phải là ít. Có người nhìn thấy ông, nói:
- Ai như là Lưu đạo gia ở Tam Thanh quán vậy cà? Sao mà ra nông nỗi thế? Bình thường ông ta có tiền lắm mà!
Có người nói:
- Chắc là nướng sạch rồi, đạo gia đó chớ ai. Thiệt là người mê bạc!
Lão đạo sĩ nghe thấy hết, nhưng không dám trả lời, cứ cắm đầu đi thẳng về phía Lãnh Tuyền đình ở Tô Đê nơi Tây Hồ. Khúc này là con đường lớn, người qua lại nhộn nhịp, lão đạo sĩ đứng tại Lãnh Tuyền đình la lớn:
Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên!
Khỏi phải lên chùa tìm Tế Điên
Mười lượng vàng ròng đưa ta đủ
Trong lưng còn đúng 360 tiền.
Lão đạo sĩ hô to ba lần như vậy, người ta bu lại khá đông, ai nấy bàn bạc lăng xăng, có người cho ông ta là thằng điên, có người đoán chắc là muốn tìm Lý Quốc Nguyên. Đang lúc mọi người bàn tán thì có hai người đi lại. Người kia nói:
- Này hiền đệ, ta nói Tế Công là bậc tiên tri mà.
Hai người đi lại gần, lão đạo sĩ nhìn thấy, người đi trước ăn mặc theo lối phú ông, còn người đi sau phục sức ra dáng nam sanh công tử. Khi hai người đến trước lão đạo sĩ, vị viên ngoại nói:
- Ông đạo sĩ này chắc hại Tế Công rồi mới lấy quần áo của người mặc vào đây chứ gì?
Lão đạo sĩ nói:
- Tôi đâu có hại Tế Công, trái lại Tế Công hại tôi thì có, ông ấy ăn uống sạch hết gia tài tôi, bây giờ tôi chỉ còn mỗi cái quần! Xin hỏi hai vị quý danh là chi?
Nguyên vị nam sanh công tử tên là Lý Quốc Nguyên nhà ở Thanh Trúc Lâm nơi Lâm An, kế ngã tư Hồ Đồng. Anh ta vốn là một nhà giàu, mới vừa đậu tú tài cưới vợ là Lan thị rất là hiền thục. Bỗng nhiên Lan thị mắc bệnh điên, rước nhiều thầy chữa trị vẫn không khỏi. Lý Quốc Nguyên vì thế rất lo rầu, anh ta có một người bạn tên là Lý Xuân Sơn đang dạy học ở nhà quan họ Đỗ.
Một ngày kia, Lý Quốc Nguyên đi tìm Lý Xuân Sơn than thở việc vợ mình mắc bệnh điên uống thuốc nhiều thầy không hết.
Lý Xuân Sơn nói:
- Trong từ đường của Đỗ đại nhân của ta có một lá Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Đó là món báu vật trấn gia. Ta hỏi mượn chắc ông ấy không cho, để ta lén lấy cho hiền đệ mượn treo ở trong nhà, hễ có yêu quái gì cũng bị xua đuổi đi hết.
- Phải đó, thảng như mượn được trị bệnh cho vợ tiểu đệ xong sẽ hoàn trả lại cho anh ngay.
Lý Xuân Sơn bèn vào từ đường mở rương lấy Thiên sư phù đem ra. Đó là chiếc hộp chạm trổ rất khéo.
Lý Xuân Sơn nói:
- Đây là bảo vật truyền gia của Đỗ đại nhân, ta lén mượn cho hiền đệ, ngàn muôn lần phải nên cẩn thận nhé? Hiền đệ đem về treo khoảng hai tiếng đồng hồ, tà ma đi rồi nên mau mau đem trả lại cho ta.
- Ngày mai tôi sẽ đưa lại.
Lý Quốc Nguyên nói xong, cáo từ vừa đi vừa nghĩ: "A, sáng giờ mình chưa ăn gì hết, định đến rủ anh Lý Xuân Sơn đi ăn sáng, nào dè mắc nói chuyện linh phù mà cơm nước gì quên ráo. Bây giờ phải kiếm cái gì ăn đã". Nghĩ rồi liền ghé quán rượu trước mặt bên đường. Bên trong quả nhiên bạn hữu ngồi đầy. Ai nấy đều đứng dậy mời gọi:
- Lý tiên sanh, xin lại ngồi cùng bàn uống cho vui.
Lý Quốc Nguyên nói:
- Xin cảm ơn hai vị, tôi còn phải nói chuyện riêng với người bạn nữa.
Nói rồi vào bên trong tìm một cái bàn trống ngồi xuống kêu rượu. Uống được vài chén lại nghĩ: "Người ta đã mời mình, mình không mời lại người ta, vậy đâu phải lẽ". Nghĩ thế bèn đứng dậy đi đến các bàn quen mời rượu. Mời xong trở lại bàn thì bỗng nhiên đứng đờ ra đó: Ngũ lôi thiên sư phù không cánh mà bay.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 9 [/align]



Triệu Văn Hội Tây Hồ Mời Đạo Tế
Túy Thiền Sư Khiển Tướng Trộm Linh Phù




Có thơ rằng:
Tiêu Tương bến nước đón xuân sang
Băng rã hoa mai se sẽ tàn
Mong chàng giữ mãi màu son trẻ
Mỗi năm một bận ghé huyên hàn.
Khi Lý Quốc Nguyên trở về bàn thấy mất bức họa linh phù, muốn uống cũng uống không vô, muốn nuốt nuốt cũng không trôi. Thầm nghĩ: "Khổ dữ a! Mất cái gì khác mình còn có thể thường lại cho người ta, còn thứ này dẫu có tiền cũng đành chịu. Đây là vật báu truyền gia của nhà họ Đỗ, thảng như việc này bị tiết lộ ra ngoài, há chẳng phải là hại huynh trưởng sao!".
Nghĩ thế rồi vội kêu tính tiền. Tài phú nói:
- Ông tại sao không ăn cơm?
Lý Quốc Nguyên nói:
- Ta bận việc gấp.
Cũng không đòi tiền thối, lật đật trở về nhà. Về đến nhà kêu mấy đứa ở tâm phúc lại, nói:
- Ta vừa bị đánh cắp ở tiệm cơm một cuộn Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, các ngươi ráng đi dò xét xem nó lọt vào tay tên trộm nào. Nếu gặp thì bỏ tiền ra chuộc về. Nó là báu vật người ta cho mượn đấy.
Bọn gia nhân vâng lời chia đi các ngả, không bao lâu Lý Bệ trở về nói:
- Tôi vừa mới dò nghe rõ là: Hồi nãy chủ gia đang uống rượu trong quán, linh phù bị tên Bạch tiên tặc trộm đi đem bán cho Lưu chưởng quỹ ở tiệm bán đồ cổ. Chưởng quỹ lại là chỗ quen biết với phủ Thừa tướng. Hiện tại Thừa tướng đã mua linh phù với giá 500 lượng đem treo trấn trạch ở Các Thiên lâu rồi. Lý Quốc Nguyên nghe nói, lắc đầu than thở:
- Nếu còn ở tiệm bán đồ cổ, ta còn có thể bỏ tiền ra mua về, chớ còn rơi vào phủ Thừa tướng, luận về nhân tình thế lợi ta đều kém xa ông ấy.
Còn đang than thở, bỗng nghe có tiếng gõ cửa, Quốc Nguyên bảo gia nhân ra xem, thì ra người đến là Lý Thiếu Chương, con trai của Lý Xuân Sơn. Lý Thiếu Chương nói:
- Hồi nãy chú đi rồi, nghe bên nhà của Đỗ đại nhân nói ngày mai có cúng tế, cha cháu bảo qua lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về, đợi vài ngày sẽ cho chú mượn dùng.
Lý Quốc Nguyên nói:
- Cháu về trước đi, bức linh phù của ta mới vẽ có một quái, hãy còn một ít chưa xong, hiện để đằng tiệm vẽ lát nữa ta sẽ đem tới, cháu khỏi phải lại lấy.
Lý Thiếu Chưởng đi rồi, Quốc Nguyên càng quýnh hơn nữa. Chính lúc khó khăn đó, người nhà lại báo có Triệu viên ngoại tới. Lý Quốc Nguyên chạy ra xem, quả là Triệu Văn Hội, bạn tri kỷ của mình, vội đến trước chào hỏi:
- Chào huynh trưởng, lâu quá mới ghé tiểu đệ.
Triệu Văn Hội nói:
- Hôm nay ta rủ hiền đệ lên núi Thành Hoàng chơi rồi trở về Vọng giang lâu ở đường Thiên Chu uống rượu, nhìn khói sóng trên con sông bậc nhất trong thiên hạ.
Lý Quốc Nguyên nói:
- Xin đại ca thứ lỗi, hôm nay tiểu đệ có một việc bận tâm lắm không thể nào bồi tiếp đại ca được. Xin mời đại ca vào trong này ngồi.
Vào đến thư phòng, Quốc Nguyên mới đem việc bị mất Thiên sư phù kể lại. Triệu Văn Hội nói:
- Không hề gì, việc đó để ta lo cho. Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ là vị Phật sống thời nay đó. Chúng ta sẽ đi đến đó để cầu lão nhân gia giúp đỡ. Ta chắc chắn Thiên sư phù có thể thâu hồi mà bệnh của thím nó cũng lành mạnh được. Ngài thật là bậc thần thông quảng đại, Phật pháp vô biên.
Lý Quốc Nguyên nghĩ: "Ta có nghe danh mà chưa gặp mặt người. Thảng như mời Ngài được, ta phải mang tiền theo để đãi Ngài một bữa”. Nghĩ thế bèn đem theo mười lạng bạc và 400 tiền cùng Triệu văn Hội ra đi. Mua một gói trà hết 40 đồng rồi cùng nhau đi tới trước. Thật là:
Mười dặm đê dài cầu sáu chiếc
Một cây liễu biếc tiếp cây đào.
Tại sao con đê này lấy tên là Tô Đê Xuân Hiểu? Nguyên hồi Tô Đông Pha làm Thái thú đất này đã cho sửa sang con đường đê, tháng ba tiết xuân, đào liễu khoe tươi. Trong hồ có Hồ Tâm Đình, nhìn về Nam có Lôi phong tháp ở Nam Bình Sơn, sườn núi Bắc có vườn mai của Lâm Hòa Tịnh, ngó sang Tây có mộ Nhạc Vương và mộ Tô Tiểu Tiểu. Thật là cảnh trí nên thơ. Hai người đi đến Lãnh Tuyền đình thì nghe trong đám người có tiếng hô:
Lý Quốc Nguyên, Lý Quốc Nguyên
Khỏi phải lên chùa tìm Tế Điên
Mười lượng bạc ròng đưa ta đủ
Trong lưng còn đúng 360 tiền.
Triệu Văn Hội nghe hô, nói:
- Này hiền đệ, Thánh tăng Ngài biết trước hết, đang ở đây chờ chúng ta đó.
Đến chừng vẹt mọi người ra nhìn thì thấy chỉ có y phục của Tế Điên mà người chẳng phải là Tế Điên, Triệu Văn Hội mới bước tới nắm áo đạo sĩ hỏi:
- Hay cho lão đạo này, ông đã làm hại Tế Công còn toan giở trò gạt gẫm gì nữa đây?
Lão đạo sĩ nói:
- Trái lại, tôi còn bị Tế Công hại nửa là đằng khác. Thầy trò chúng tôi nuôi người đến quần áo bán sạch chẳng còn. Người mới dạy tôi mấy câu này bảo ra đây nói to như vậy.
Triệu Văn Hội hỏi:
- Hiện giờ Tế Công ở đâu? Ông hãy đưa chúng tôi đến gặp mặt.
Lão đạo sĩ bèn đưa hai vị về Tam Thanh quán. Triệu Văn Hội nhìn thấy trong miếu xác xơ không còn thứ chi hết. Bốn tên đạo đồng trần truồng như nhộng. Tế Điên cũng đánh trần trên một chiếc ghế. Triệu Văn Hội nói:
- Bạch sư phụ, đệ tử là Triệu Văn Hội xin kính chào sư phụ.
Rồi kêu Lý Quốc Nguyên đến tham kiến Thánh tăng. Lý Quốc Nguyên nhìn thấy Tế Điên giống hệt như một tên ăn mày, ngặt nể mặt Triệu Văn Hội, bất đất dĩ phải tới thi lễ. Tế Điên hỏi:
- Hai ông tới đây có việc gì?
Triệu Văn Hội mới đem tình tiết mất Ngũ lôi bát quái thiên sư phù thuật lại.
Tế Điên nói: - Không hề chi.
Rồi kêu lão đạo sĩ cởi quần áo ra đoạn mặc vào, lại lấy mười lạng bạc của Quốc Nguyên giao lão đạo sĩ để chuộc đồ về. Tế Điên cùng hai người rời khỏi Tam Thanh quán đến nhà Lý Quốc Nguyên. Tế Điên nói:
- Để ta trị bệnh cho vợ ngươi trước rồi sẽ tìm Thiên sư Phù sau. Mà điều này nữa là ta trị bệnh cho vợ ngươi, một lát nữa có níu nó lại hay vật nó ngã lăn, ngươi cũng đừng quan tâm đến nhé!
Lý Quốc Nguyên nghe nói lặng thinh giây lát.
Triệu Văn Hội nói:
- Này hiền đệ, chớ có nên nghi ngờ. Tế Điên là vị Phật sống đương thời quyết không có điều càn rỡ đâu. Nếu không phải là người có phẩm cách đáng tin cậy, ta cũng không mời đến đâu.
Lý Quốc Nguyên nói:
- Vậy thì được.
Bèn đưa Tế Điên thẳng lên phòng. Cửa phòng đã khóa chặt. Lan thị bị cột bằng sợi lòi tói, a hoàn vú em đều đã lánh xa, sợ cơn điên nổi lên bị đánh. Khóa vừa mở, Lan thị dòm ra thấy phía ngoài có một vị Hòa thượng kiếc, liền chạy ra rượt. Tế Điên chạy đến trong viện thấy có một cái bầu nuôi cá bèn đem trút cá ra, day về phía Lan thị hô:
- Hay dữ a, có mau ra không. Không ra thì mày chết với ta nhé!
Vừa la vừa chạy, Lan thị chạy xà quần ráng sức rượt theo, trong miệng vọt ra một cục đàm lớn, tức thì tâm thần định tỉnh lại, tự hỏi: "Tại sao ta lại ở đây?". Lúc đó có người vú em gan dạ, lật đật lại dìu đỡ. Tế Điên móc một cục thuốc bảo người nhà đem nước lại hòa cho uống.
Nguyên bệnh của Lan thị là bởi đàm mê tâm khiếu, do gặp việc rối rắm gây nên. Nhân vì nàng ta có một đứa em tên là Lan Đình Ngọc, hay giao du với bọn người vô lại, đem một phần gia nghiệp tiêu sạch sanh rồi. Ngày kia y tìm đến Lan thị mượn tiền, bảo rằng mượn để đi buôn bán. Cốt nhục tình thâm, không nỡ để em nghèo khổ, nàng mới lén chồng lấy cho em mượn mấy trăm lượng bạc. Có tiền trong tay, Lan Đình Ngọc cùng lũ bạn bè du thủ du thực rủ nhau tiêu sạch. Một ngày kia lại tìm đến chị của hắn bảo đem tiền đi mua bán, giữa đường bị bọn cường đạo cướp hết, xin mượn thêm ít trăm lượng để buôn bán lại, tính gộp số tiền mượn trước và sau sẽ trả một lần. Lan thị lại lén lấy tiền cho em mượn lần nữa. Một hôm Lan thị đang ngồi trong hoa viên thấy Đình Ngọc lại đến, trên thân quần áo rách te tua, trong lòng vừa buồn vừa giận, đàm dâng nghẹt làm mê đi, nhân đó phát điên. Hôm nay chạy rượt theo Hòa thượng, cục á đàm trong ngực trơn vọt ra được. Quốc Nguyên rất bội phục bèn mời Tế Điên về thư phòng đãi rượu. Đương lúc uống rượu, bên ngoài người nhà đi vào thưa có Lý Thiếu Chưởng đến thúc lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Lý Quốc Nguyên bảo người nhà ra nói: - Một lát nữa ta sẽ đích thân đem sang.
Đoạn thưa với Tế Điên:
- Bạch sư phụ, bây giờ phải làm sao?
- Lát nữa, ta trở về chùa mượn ông Vi Đà đi trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về cho ngươi.
- Bạch sư phụ, ông Vi Đà trong chùa bằng đất nặn làm sao có thể trộm đồ vật được?
- Được chớ, ông Vi Đà trong chùa ta hay can thiệp đến chuyện tào lao lắm.
- Bạch sư phụ, bây giờ chúng ta đi thỉnh nhé.
- Để ta đi gặp ông ấy thương lượng xem, ông ấy muốn lấy công bao nhiêu tiền. Mượn ông ấy đi không chẳng được đâu. Các ngươi ở nhà uống rượu chờ ta, ta đi một lát rồi trở về uống rượu nữa.
Tế Điên nói rồi đứng dậy đi ra, hai người đưa ra cửa, trở vào, Quốc Nguyên hỏi:
- Triệu huynh nè, anh nghe lời Hòa thượng nói có thiệt không?
Triệu Văn Hội nói:
- Ta cũng không biết thiệt hay là giả nữa. Lần trước ở nhà Châu Bán Thành vác tượng Vi Đà bắt yêu quái, chuyện đó có thiệt rõ ràng.
Hai ngươi bảo dọn dẹp tiệc rượu. Mãi đến khi đỏ đèn, hai người càng lo lắng thêm, sợ e cửa thành đóng lại bỏ Tế Điên kẹt lại bên ngoài. Đang nói chuyện, thấy Tế Điên bước vào, hai người mừng quá cùng nói:
- A, có sư phụ về rồi.
Tế Điên nói: Thiệt tức chết đi thôi!
Triệu Văn Hội hỏi: Ai làm sư phụ giận thế?
Tế Điên nói:
- Cái ông Vi Đà trong chùa ta thiệt đáng giận. Bình thường hễ ta đi đâu ông ấy nói Tế sư phụ, có việc gì sai bảo tôi với. Vậy mà bữa nay ta trở về, ông thấy mặt dương dương không thèm nhìn ta lấy một tí. Ta đấu dịu ông ấy: - Này lão Vi, ta kiếm được cho ông một việc đây. Ông ấy hỏi việc gì, ta mới đem việc nhờ ông ấy đến Các Thiên lâu ở hoa viên phủ Thừa tướng trộm giùm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về và hỏi ông ấy đòi bao nhiêu. Ông ấy cứ một mực đòi giá cao.
Lý Quốc Nguyên và Triệu Văn Hội đều hỏi:
- Ông ấy đòi bao nhiêu tiền?
Tế Điên nói: Ông ấy đòi năm điếu tiền, ta tính công cho ông ấy 500 tiền.
Lý Quốc Nguyên nói: Năm điếu tiền đâu có đắt!
Tế Điên nói:
- Ban đầu ông ấy cứ giữ giá nhất định, nói chỉ có hai điếu tiền, ít quá đi không được. Ta mới nói, nếu ông chịu bớt ta thêm cho ông 500 tiền nữa, chớ nhiều quá không được. ông ấy chê ít quá không đi, cho nên cuộc thương lượng bất thành. Ta ra khỏi chùa, ngang chùa Đại Phật, gặp ông Vi Đà ở chùa này. Thấy ta còn ở đằng xa, ông ấy lên tiếng hỏi ta đi đâu đấy? Ta nói kiếm cho ông một việc mà ông có đi không? Ông ấy hỏi là việc gì. Ta mới bảo ông ấy là đi lấy linh phù. Ông ấy nói: - Sao ông không bảo ông Vi Đà ở chùa ông trước? Ta nói, đã nói rồi mà ông ấy đòi tiền chuộc mắc quá. Ông ấy đòi ba điếu mà ta chỉ trả 500 tiền, không thể hơn được. Ông ta nói: - Tôi cũng không thể lấy ít hơn được, lấy ít hơn thì có lỗi với ông Vi Đà ở chùa ông sao? Ta nói: - Ta cũng không thể chi nhiều hơn được. Cuộc thương lượng lại bất thành.
Lý Quốc Nguyên nghe nói giữ giá không đổi cũng không biết làm sao. Tế Điên nói:
- Ta lại đi nữa, đi đến chùa Tử Trúc. Ông Vi Đà ở chùa này bị đói meo, thấy ta ở đằng xa vội kêu rối rít. Ta mới đem việc lấy linh phủ ra nói, ông ấy chịu ngay. Ông ấy nói lát nữa sẽ đến, tiền công bao nhiêu cũng được.
Lý Quốc Nguyên hỏi: Chừng nào ông ấy đến?
Tế Điên nói: Chúng ta ăn cơm xong, bảo bầy trẻ dọn một cái bàn, ta kêu một tiếng thì ông ấy sẽ đến ngay.
Lý Quốc Nguyên hối dọn cơm ăn xong và bảo gia nhân chuẩn bị những thứ cần dùng để ở trong nhà.
Tế Điên nói: Các ông đừng nóng, chờ một lát sao mọc tỏ rạng đã.
Tế Điên bước ra sân, hô:
- Có ta đây, có ta đây. Tây Hồ Linh Ẩn Tế Điên tăng! Vi Đà không đến còn đợi chừng nào?
Tức thì ở nửa tầng không có tiếng đáp lại:
- Ngô thần đã đến.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 10 [/align]



Triệu Bân Đêm Dọ Các Thiên Lâu
Anh Hùng Trượng Nghĩa Cứu Công Tử




Thơ rằng:
Bọt nước phù hoa bã lợi danh
Lửa hồng đốt rụi cả mày xanh
Sang hèn giàu có thay phúc chốc
Trí nhân tạng mắt chỉ cười lành.
Tế Điên đang ở trong nhà đốt hương thỉnh Vi Đà, thì nghe trên nhà có tiếng hô to:- Ngô thần đã đến.
Thật ra người đến không phải là Vi Đà thật mà là con của một vì anh hùng kinh thiên động địa, tổ tiên là người ở huyện Đơn Dương, phủ Trấn Giang, họ Triệu tên Cửu Châu, trác hiệu là Nhất luân minh nguyệt, làm tổng phiêu đầu năm lộ Nam Bắc Đông và Trung. Cửu Châu cưới vợ là Mai thị sinh chỉ được một đứa con trai đặt tên là Triệu Bân, tánh tình lãng mạn, nhưng không kém phần cứng rắn, được cha truyền luyện võ nghệ quyền bổng, kể ra cũng có hạng. Triệu lão anh hùng suốt đời chỉ dạy dỗ có hai đồ đệ. Đại đồ đệ chính là Oai trấn bát phương Dương Minh ở huyện Ngọc Sơn, Giang Tây. Nhị đồ đệ chính là Y Sĩ Hùng làm cận tướng cho Đông lộ tiêu đầu. Triệu Cửu Châu mắc bệnh nặng, kêu Mai thị lại bên giường nói:
- Sau khi ta chết rồi, ngàn muôn lần bà đừng cho Triệu Bân đi làm bảo tiêu nhé. Nó hẹp hòi tự đại cuồng ngạo không biết gì chỉ tổ làm mất chút hư danh của ta truyền lại cho đời sau mà thôi.
Nói rồi xuôi tay tắt nghỉ. Mẹ con Mai thị lo việc tang ma đã xong, của cải còn lại cũng đủ sống qua ngày. Triệu Bân nhờ có gia tư của cha để lại đủ sống nên không phải làm việc chi, rảnh tay giao du với mấy người bạn ở xóm, một người tên là Tần Nguyên Lượng, trác hiệu là Phi thiên hỏa tổ, còn một người nữa tên là Mã Dao Hùng, trác hiệu là Lập địa ôn thần. Hai người này chính là trong giới lục lâm, cùng kết bạn với Triệu Bân. Một ngáy kia ba người cùng nhau ăn cơm, Tần Nguyên Lượng nói:
- Này Triệu hiền đệ, hiền đệ có biết chúng ta đang làm gì không?
Triệu Bân nói:
- Em thực không biết hai anh đang buôn bán vật chi.
Tần Nguyên Lượng nói:
- Chúng ta đều làm nghề giặc cướp đây, không phải là làm những tên giặc hái hoa gian dâm tầm thường đâu mà là chuyên đi trộm của nhà giàu giúp đỡ nhà nghèo, giết tham quan, chém ác bá, trừ bạo an lương, chuyên can thiệp những chuyện bất bình thường. Nhân vì yêu hiền đệ là người có tài, muốn kéo hiền đệ nhập bọn để hành hiệp tác nghĩa đó thôi. Ta có đem theo một bộ đồ dạ hành dành cho hiền đệ đây.
Nói rồi, lấy đưa cho Triệu Bân một cái túi vải. Triệu Bân mở ra xem thấy bên trong những thứ đi đêm đều đầy đủ, và cũng từ hôm đó Triệu Bân cùng hai bạn ban đêm thường đi trộm của người giàu giúp kẻ nghèo. Một hôm Triệu Bân bỏ quên bọc đồ ở nhà, Mai thị mở ra xem thấy áo dạ hành. Vợ Triệu Cửu Châu có từng thấy qua đồ dùng luyện võ của chồng nên biết được. Lúc đang xem thì Triệu Bân từ ngoài đi vào. Mai thị thấy mặt con đùng đùng nổi giận mắng:
- Triệu Bân, cha mi thân danh làm bảo tiêu một đời anh hùng, danh tiếng vì mi mà tiêu hết, bây giờ mi lại đi làm giặc cướp hử? Con ơi là con! Ta đập đầu chết phức cho rồi, không sống làm chi nữa!
Triệu Bân vội thưa:
- Xin mẹ đừng giận, mẹ không muốn con làm giặt thì con xin thôi không làm giặc nữa.
Mai thị bảo:
- Mi đem đồ dạ hành đốt đi, ném dao đi nhé!
Rồi lại nghĩ: "Chỗ này ở không khá rồi, bắt nó đoạn tuyệt với đám bạn bè này rồi, tụi khác lại rủ rê nữa!". Lão thái thái muốn bắt chước phương pháp Mạnh mẫu dời nhà để dạy con, bèn vội bán hết đồ đạc trong nhà, chỉ mang theo vàng bạc và đồ tế nhuyễn cùng con đến Lâm An phủ ở Kinh sư, mướn nhà của Vương Hùng bán trái cây ở hẻm Thanh Trúc, ngõ Hồ Đồng. Ở đây, Triệu Bân cũng không làm việc gì. Mẹ của Vương Hùng là Vương lão thái thái thấy vậy mới nói:
- Triệu lão thái nè, tại sao không bảo thằng bé đi buôn bán với người ta? Ở nhà lần khân ăn mãi núi cũng hết nữa là!
Mai thị nói:
- Cháu bé nó từ nhỏ đã chẳng làm việc gì, nên bây giờ chẳng biết việc chi để làm.
Vương lão thái nói:
- Thì bảo nó theo thằng nhỏ nhà tôi lên hàng trái cây mua về bán lại, tập riết rồi quen.
Mai thị nghĩ cũng phải, về bàn với con, Triệu Bân cũng đồng ý. Hôm sau Triệu Bân đem theo hai điếu tiền cùng Vương Hùng lên hàng trái cây đếm trái cây tươi ngon. Vương Hùng nói:
- Anh mua chỗ trái cây này rẻ lắm đấy, tính ra lời cũng phải gấp đôi, người ta trả đúng bốn điếu mới bán nhé, anh liệu mà đi bán đi.
Triệu Bân ăn bánh xong, xách giỏ nhỏ ra đi, gặp người ta không dám mời rao, đi qua mấy con đường ở Hồ Đồng, người ta cho là đưa lễ vật đi tặng vì bộ dáng không giống người đi buôn bán nên chẳng có ai mua hết. Triệu Bân đi đến ngõ Phụng Sơn, thấy mé Bắc có một tòa cổng lớn giống như nhà quan, trong cổng có treo một tấm bảng to, Triệu Bân xách giỏ trái cây để trên đất rồi ngồi ngay trước cổng ngây người nhìn giỏ trái cây của mình. Một lát bên trong có một vị viên ngoại đi ra tiễn khách, vị viên ngoại đó mình cao tám thước, vai hổ lưng gấu, mặt như giấy ô kim, mày cong mắt lộ, họ Trịnh tên Hùng, người ta thường gọi là Thiết diện thiên vương. Vốn dòng dõi thế gia, lại đỗ Võ tiến sĩ, ông ta ở nhà thường thấy nghĩa quyết làm, ưa thích việc thiện. Hôm nay đưa khách ra cửa, thấy Triệu Bân tướng mạo khác người đang ngồi bơ phờ bèn đem lòng ái mộ, hỏi:
- Này bạn, bạn làm gì ngồi đây?
Triệu Bân đáp: Tôi bán trái cây.
Trịnh Hùng hỏi: Bạn bán bao nhiêu tiền giỏ trái cây này?
Triệu Bân đáp: Giỏ trái cây này tôi mua hai điếu vốn, phải bốn điếu mới bán được.
Trịnh quan nhân bảo người nhà xách giỏ trái cây vào và lấy bốn điếu tiền đem ra trả. Trịnh Hùng lại hỏi:
- Này bạn, chắc bạn chưa từng buôn bán phải không?
Triệu Bân nói:
- Hôm nay tôi mới bán lần đầu.
Nói rồi cầm bốn điếu và xách giỏ về, nói với mẹ là hôm nay lời được hai điếu. Hôm sau lại cùng với Vương Hùng ra chợ đếm hai điếu trái cây, trở về nhà ăn cơm xong, không đi chỗ nào khác lại xách giỏ trái cây đến đường Phụng Sơn nơi nhà Trịnh Hùng, để giỏ trái cây đó ngồi chờ. Chờ mãi đến xế trưa, Trịnh Hùng mới ra cửa. Vừa ra tới cửa, Triệu Bân kêu lại nói:
- Ông đừng đi, tôi đưa trái cây lại cho ông đây.
Trịnh Hùng hỏi: Ai bảo bạn đưa đến vậy?
Triệu Bân nói: ông lấy đem vào nhà thì tôi khỏi đem chỗ khác bán nữa.
Trịnh Hùng nói: Cái này là bạn muốn chớ tôi đâu muốn. Chi bằng mỗi ngày tôi bỏ ra hai điếu cho không bạn có được không?
Triệu Bân nói: Được chớ.
Trịnh Hùng nghe vậy cũng vui nói:
- Bữa nay để trái cây lại đây, ngày mai đừng đem tới nữa. Tôi không cần đâu.
Nói rồi kêu gia nhân lấy bốn điếu tiền ra đưa cho. Triệu Bân nghe nói cũng buồn, dễ gì bán được giá như đã liệu lại mất một mối rồi? Triệu Bân cầm tiền trở về nhà và từ đó tập buôn bán lặt vặt, có khi được lời có khi lỗ vốn. Một hôm, nhân vì Hoa thái tuế Vương Thắng bắt cóc con gái người ta đi dạo Tây Hồ. Triệu Bân giữa đường gặp chuyện bất bình, đánh chết ba mạng người, may nhờ Tế Công cứu khỏi và nhận Tế Công làm sư phụ. Hôm nay Tế Điên ra khỏi nhà Lý Quốc Nguyên chính là đi tìm anh chàng bán trái cây Triệu Bân đó. Tế Điên nói:
- Này Triệu Bân, đi uống rượu với ta chơi.
Triệu Bân cùng với Tế Điên vào tửu quán uống rượu.
Tế Điên nói: Bữa nay ngươi giả làm Vi Đà một lát nhé.
Triệu Bản hỏi: Tại sao phải giả làm Vi Đà?
Tế Điên mới đem việc Lý Quốc Nguyên đánh mất Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, nó lại rơi vào Các Thiên lâu nơi hoa viên ở phủ Thừa tướng, và bảo Triệu Bân đi lấy trộm đem về. Đến nhà họ Lý giả dạng Vi Đà che mắt chúng nhân.
Triệu Bân nói: Tôi không biết nhà Lý Quốc Nguyên ở đâu?
Tế Điên nói: Để ta đưa ngươi tới đó.
Uống rượu xong, trả tiền rồi dẫn Triệu Bân đến cổng nhà họ Lý, Tế Điên nói:
- Tối nay ngươi đến nhà làm như vậy, như vậy nhé!
Triệu Bân gật đầu trở về nhà, nói với mẹ:
- Sư phụ Tế Công bảo con tối nay giả làm ông Vi Đà!
Mai thị hỏi: Sao phải giả làm ông Vi Đà?
Triệu Bân nói: Sư phụ bảo con giả làm ông Vi Đà đến tướng phủ tìm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù.
Mai thị biết Tế Điên là người tốt, nếu không phải là việc của Tế Điên sai bảo, tối nay cũng không cho con đi. Triệu Bân thay đổi y phục, giắt một con dao thái rau, trời vừa tối, để mẹ khỏi mở cửa, Bân vượt tường đi ra. Đến nhà họ Lý, nằm mọp trên nóc nhà trong bóng tối chờ sẵn. Nghe Tế Điên gọi Vi Đà sao không đến còn đợi chừng nào, Triệu Bân ứng tiếng đáp lại: - Ngô thần đã đến.
Tế Điên nói:
- Này lão Vi, ông hãy đến Các Thiên lâu ở hoa viên Tần tướng phủ lấy Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về cho ta nhé.
Triệu Bân nói:
- Xin tuân pháp chỉ.
Nói rồi vượt nhà nhảy tường đi về phía phường Tần Hợp. Đến hoa viên tướng phủ thấy hoa viên quá lớn, không biết tòa nào là Các Thiên lâu! Thật là:
Thấy các lương đình,
Lâu đài san sát,
Hoa nở bốn mùa chẳng dứt,
Cỏ xuân tám tiết còn hoài.
Nhảy xuống bờ tường, Triệu Bân đi tìm khắp nơi, tìm đến Đông bắc, riêng có một cái nhà đó là Bắc phòng, ánh sáng chập chờn, hai bên đều có dãy nhà phụ. Trong Bắc phòng ánh đèn chập chờn, bóng người lay động, Triệu Bân đi đến phòng đó, ở bên ngoài lấy lưỡi thấm nước miếng xoi thủng giấy cửa sổ nhìn vào. Cách chõng tre trước mặt, một cái bàn bát tiên để sát vách với hai cái ghế. Trên tường, thanh đơn đao lấp lánh ánh bạch lạp để trên bàn. Hai người ngồi đối diện ở bàn uống trà. Người ngồi phía Đông, tuổi độ ngoài 60,- da mặt hơi trắng, hai đạo lông mày kiếm trên đôi mắt hình ba góc, với chùm râu ngà bạc, đầu đội khăn màu lam bốn góc, mình mặc áo bào lam hào hoa. Đối diện là một vị chừng 30 tuổi, đầu đội mũ tráng sĩ màu xanh, mình mặc áo tiễn tụ bào màu xanh, lưng thắt dây tơ, quấn xà cạp rằn. Lúc đó, người già nói:
- Tráng sĩ nè, tôi đưa tráng sĩ về đây phò dưỡng lành mạnh rồi, bây giờ cũng muốn tráng sĩ giúp cho một việc, tôi chỉ mong việc này được kết quả tốt. Tôi xin đưa tặng tráng sĩ 100 lượng bạc, và đây tráng sĩ hãy cầm lấy. Dù ở chân trời góc bể nào, tráng sĩ cũng đừng tiết lộ để dây dưa đến cửa quan.
Nói rồi, ông già bèn rút trong bọc ra hai gói bạc để ở trên bàn, ánh bạc chói lấp lánh.
Vị tráng sĩ đó nói:
- Cảm tạ ơn đức tài bồi của lão trượng, nếu từ chối thì bất kính mà nhận lấy thật hổ thẹn trong lòng. Xin cho được mang tội bất kính.
Ông già nói:
- Tráng sĩ nè, cung kính không bằng nghe lời!
Bèn thấy vị tráng sĩ ấy lấy bạc nhét vào túi rồi đứng dậy với lấy thanh đao trên vách, nói:
- Thưa lão trượng, lát nữa bất luận bên ngoài có động tịnh chi, người đừng quan tâm nhé. Lát sau sẽ có đầu người trình cho người.
Nói rồi mở cửa đi ra ngoài. Triệu Bân lật đật nép vào bóng tối, đợi người ấy đi qua khỏi, theo dõi ở phía sau, bụng nghĩ: Chắc chắn là hắn ta đi giết người, ta phải nom theo mới được”.
Thấy người ấy đi qua nhà hai tầng ở phía Tây: Qua khỏi bốn bức lục bình phong có ba gian phòng, ánh đèn mờ tỏ hình như có tiếng đọc sách. Triệu Bân thấm nước miếng dùi giấy cửa sổ nhìn vào, thấy bên trong có một cái bàn bát tiên và hai cái ghế. Một vị văn sanh công tử đang ngồi trên ghế đọc sách, kế bên là một lão bộc đang hầu hạ.
Người kia bước vào dằn dao trên bàn nói:
- Hai chủ tớ nhà ngươi hãy cung xưng lai lịch cho rõ ràng, hôm nay ta đến lấy tánh mạng các ngươi đây!
Công tử cùng gia nhân sợ bò lăn dưới đất, nói:
- Xin hảo hán gia tha mạng cho! Người muốn hỏi chúng tôi điều gì, chúng tôi sẽ từng phần từng đoạn giải bày hết cho người.
Triệu Bân nghe nói lửa giận phừng phừng, rút dao thái rau muốn xông vào nhà can thiệp.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 11 [/align]



Anh Em Nhận Mặt Cùng Tỏ Khúc Nỗi Ngày Cũ
Tớ Thầy Lánh Nạn Tạm Thời Trốn ở Lý Gia




Có thơ rằng:
Nhà tranh mé núi nước xanh trong
Tới lui chầy tháng hóa thêm nồng
Mấy hàng đào lý hoa hồng bạch
Một thảm đồng xanh lúa trổ bông
Chõng trúc đêm nằm mưa gõ nhịp
Bên song hé mở ngắm mây hồng
Nhân sinh vô sự thân nhàn cảnh
Được đến thanh nhàn há bổng không.
Lại nói Triệu Bân núp trong bóng tối, nhìn thấy người kia xách đao đến vào muốn giết hai chủ tớ nọ. Vị công tử sợ run lập cập quỳ dưới đất cầu xin đại thái gia bớt trận lôi đình để tôi từ từ thưa bẩm. Vị lão bộc cũng quỳ dưới đất bên chủ. Kế nghe vị tráng sĩ kia nói:
- Hai chủ tớ nhà ngươi sự tình như thế nào hãy mau nói ra!
Vị lão quản gia nói:
- Lão nhân muốn biết, chúng tôi xin giải bày. Gia chủ tôi họ Từ tên Chí Bình, nguyên quán ở quận Kiến An. Lão thái gia nhà tôi tên là Từ Chiếm Khôi, cùng với vị tổng quản Hàn Điện Nguyên của hoa viên Tần tướng Phủ đây là bạn chi giao. Hàn Điện Nguyên có một người con gái đồng một tuổi với công tử nhà tôi, ông ấy tình nguyện đem con gái gả cho công tử tôi và đã định hôn ước từ thuở nhỏ. Về sau lão gia tôi qua đời, trong nhà lại gặp một trận hỏa hoạn, bao nhiêu gia tài của cải đều bị thiêu rụi. Tôi cùng công tử đến đây nương nhờ tình thân gia. Hàn Điện Nguyên thấy chủ tớ nhà tôi áo quần rách nát, bèn có ý ăn năn, khinh nghèo ưa giàu. Ngoài mặt ông ta lưu chủ tớ lại, bảo công tử tôi ở hoa viên này đọc sách, nào ngờ ông ấy lại kêu lão nhân gia đến hại chủ tớ tôi.
Tráng sĩ cầm đao nghe thế mới nói:
- À ra vậy, ta thật không biết.
Nói rồi thò tay vào túi lấy 100 lượng bạc ra nói:
- Đây ta tặng chủ tớ ngươi, nên kíp trốn khỏi chốn này tìm nơi khác ở, gắng công học tập đợi kỳ đại khoa vào thí trường tìm chút công danh. Các ngươi đừng ở đây nữa, e rằng ông ấy còn muốn gia hại các ngươi.
Triệu Bân vốn là người trực tính, quên mình đang nghe lén, trong lòng rất hào sảng, nghe tráng sĩ nói thế, buột miệng nói:
- Việc đó tính như vậy phải lắm.
Vị tráng sĩ nghe bên ngoài có tiếng người nói, lập tức rút đao chém xuống đầu Triệu Bân. Triệu Bân lật đật lấy dao thái rau trả đòn. Hai người mấy phen đối diện, Triệu Bân kinh ngạc nghĩ thầm: "Sao đao pháp của người này giống ta thế?". Vị tráng sĩ kia cũng lấy làm kỳ vội nhảy ra vòng chiến, lấy đao chỉ Triệu Bân hỏi:
- Chú kia khoan đánh nhau đã! Họ tên chú là gì? Ở đâu? Học nghề với ai và đến đây làm gì?
Triệu Bân đáp:
- Ta họ Triệu tên Bân, trác hiệu là Thám nan thủ vật, ngươi nếu biết ta lợi hại thì chẳng nên đâm đầu vào chỗ chết.
Vị tráng sĩ vừa nghe vội thu đao lại, nói:
- Té ra là hiền đệ, cái này thật là nước chầu về long vương miếu, anh em một nhà mà không nhìn nhau được.
Triệu Bân hỏi: Ngươi là ai?
Tráng sĩ nói: Ta họ Y tên Sĩ Hùng, hiền đệ quên ta rồi sao?
Triệu Bân nhớ lại hồi còn bảy tám tuổi, Y Sĩ Hùng đang học võ nghệ với cha mình, cách nay hơn mười năm rồi. Triệu Bân liền bỏ dao thái rau xuống bước tới thi lễ. Hai người cùng bày tỏ nỗi niềm ly biệt. Y Sĩ Hùng nói:
- Từ khi ta theo Đông lộ bảo tiêu trở về, nghe nói sư mẫu cùng hiền đệ đã dọn đến kinh sư rồi. Ta dò la mãi mà cũng không ra. Kế ta bị bệnh ở Tam Thuận điếm, trên đùi bị một mụt ghẻ độc, gặp Hàn Đại Nguyên, tổng đốc ở hoa viên này là chủ của Tam Thuận quán. Ông ấy thấy ta bị bệnh mới rước về hoa viên này trị thuốc dưỡng thương lành mạnh. Hôm nay ông ấy cho ta 100 lượng bạc bảo ta đi giết kẻ cựu thù. Ta đi đến đây mới biết rõ sự tình là thế. Còn hiền đệ đến đây để làm gì?
Triệu Bân đem việc sau ngày từ biệt, thuật qua một lượt. Hôm nay vâng lệnh Tế Công đến để lấy trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về. Y Sĩ Hùng nói:
- Hiền đệ hôm nay may mắn gặp được ta, nếu không gặp ta, hiền đệ không làm sao trộm được linh phù đem về. Bây giờ hiền đệ cùng ta đưa chủ tớ Từ Chí Bình lánh đi trước, sau đó ta sẽ tiếp tay hiền đệ đi trộm linh phù.
Hai người vào nhà kêu Từ Chí Bình mau mau thu dọn đồ đạc đi lánh nạn, 100 lượng bạc đem theo để làm lộ phí. Từ Chí Bình hỏi họ tên Y Sĩ Hùng, lão gia nhân Từ Phước cũng dập đầu cảm tạ ân công, rồi vội vàng thu dọn cầm kiếm rương sách.
Từ Phước hỏi:
- Y ân công, đêm tối như thế này, thầy trò chúng tôi biết đi đâu bây giờ? Kinh đô là nơi trọng địa, tuần canh đi tra xét rất nhiều, rủi bị bọn họ bắt được, chúng tôi phải làm sao?
Y Sĩ Hùng nghe cũng có lý, nói:
- Này Triệu hiền đệ, hiền đệ có chỗ nào yên không, tạm thời cho hai người đến đó, ngày mai lại tìm lữ điếm trú ngụ.
Triệu Bân nói:
- Y huynh trưởng hãy ở đây chờ giây lát, hai chủ tớ ngươi hãy theo ta.
Triệu Bân định đưa hai người ra góc vườn rồi dẫn về nhà mình, nào ngờ ra khỏi góc vườn không xa thấy có một người đứng thù lù ở đó, chính là Tế Điên.
Triệu Bân nói:
- Có sư phụ đây hay quá! Bây giờ chủ tớ ngươi phải làm như vậy, như vậy...
Tế Điên nói:
- Được, ta đến đây là vì việc này đó. Ta đang ở trong thơ phòng uống rượu với bọn họ, nói lời cáo lỗi rồi đi thẳng ra đây. Bây giờ ngươi giao bọn họ cho ta và đi lo làm việc ta nhờ đi.
Từ Chí Bình nhìn kỹ là một vị Hòa thượng liền hỏi:
- Vị Hòa thượng này tên là gì vậy?
Triệu Bân đáp:
- Đây là Tế Công trưởng lão ở Linh Ẩn tự đấy.
Từ Chí Bình nghe nói vội vàng thi lễ. Tế Điên bèn đưa họ về nhà họ Lý, bảo Từ Phước bỏ đồ trong nhà rồi dẫn hai người vào thư phòng. Triệu Văn Hội và Lý Quốc Nguyên đang uống rượu thấy Tế Điên dẫn vào một vị văn sanh công tử và một người lão bộc, vội vàng đứng dậy hỏi:
- Bạch sư phụ, nãy giờ lão nhân gia đi đâu vậy? Và mang về hai người nào đây?
Tế Điên mới đem cội nguồn Từ Chí Bình kể lại. Chừng đó Lý Quốc Nguyên mới rõ. Kế nghe Tế Điên nói:
- Ngươi cho chú ấy mượn vài gian phòng để ở đọc sách, có điều gì lôi thôi, Hòa thượng ta bảo lãnh cho.
Lý Quốc Nguyên thấy Từ Chí Bình là người rất văn nhã, nói:
- Có sư phụ dự vào thì được.
Liền vội mời vào bàn cùng uống rượu.
Trống điểm canh ba, bỗng nghe bên ngoài có tiếng hô to:
- Ngô thần đã về, kính bạch Tế Công trưởng lão, Ngô thần đã trộm được Ngũ lôi bát quái thiên sư phù về đây.
Tế Điên lật đật bước ra, thấy trên nóc nhà Triệu Bân và Y Sĩ Hùng. Nguyên khi Triệu Bân đem chủ tớ Từ Chí Bình giao cho Tế Điên xong liền trở vào hoa viên gặp Y Sĩ Hùng, hai người cùng thẳng đến Các Thiên lâu. Tòa Các Thiên lâu này có 25 căn, mặt đất lại rộng lớn, lấy giấy đốt lửa lên xem thì ở giữa có treo một cái khám thờ. Y Sĩ Hùng trèo lên xem thấy ở trên có một chiếc hộp cứng, mở ra xem, chính là Ngũ lôi bát quái thiên sư phù. Triệu Bân nói:
- Đúng rồi! Sư huynh, chúng ta cùng đi về.
Y Sĩ Hùng nói:
- Chúng ta cùng đi về bây giờ, bậy bạ dữ đa!
Triệu Bân hỏi: - Có gì mà bậy bạ?
Y Sĩ Hùng nói:
- Hiền đệ nghĩ xem, ông ấy hiện là Tể tướng đương triều mà mất đi vật báu truyền gia há lại để yên hay sao? Lúc đó các quan phủ địa phương triệt để truy tầm chưa khỏi kéo theo bao chuyện thị phi! Chi bằng bây giờ chúng ta dùng cách trảm thảo trừ căn là yên việc.
Nói rồi móc vật dẫn hỏa kề bên cửa sổ của Các Thiên lâu mồi lên. Hai người chạy ra khỏi lầu nhìn lại thấy ngọn lửa bốc cao, như bầy rắn vàng lồng lộn, khói lửa ngất trời chưa từng thấy bao giờ. Có bài tán rằng:
Một đốm lửa phàm dấy động
Kéo theo ly bộ vô tình
Theo gió hiển oai cuồn cuộn
Trên không lửa dữ bốc cao
Chỉ nghe ào ào vang động
Tầng mây khói cuốn mịt mù
Đỏ hồng khắp trời đầy đất
Lầu son gác tía còn đâu.
Lúc đó hai người dã sớm vượt ra ngoài đường, trổ thuật phi thiềm tẩu bích thẳng đến nhà họ Lý và hô:
- Ngô thần đã về.
Tế Điên đi ra tiếp lấy linh phù rồi cầm một cái túi nhỏ bên trong để sẵn 500 tiền, một lư hương gạo, năm chén bột thơm, hô:
- Lão Vi hãy cầm lấy! Đây là phần lễ tạ của gia chủ đó.
Bên trên, Triệu Bân tiếp nhận và hô: - Ngô thần xin kiếu từ. Rồi dắt y Sĩ Hùng về nhà thăm mẹ.
Tế Điên sau khi tiếp nhận Ngũ lôi bát quái thiên sư phù đem vào, mở ra xem đúng là vật cũ. Lý Quốc Nguyên vội sai người nhà tin cậy đem sang cho Lý Xuân Sơn. Tiệc rượu kéo dài suốt đêm. Sáng ra Tế Điên cáo từ. Lý Quốc Nguyên muốn đưa tặng vàng bạc, Tế Điên nói:
- Ngươi nếu muốn tạ ơn ta hãy ghé tai ta nói như vầy... như vầy. Như thế Hòa thượng ta mới nhận lãnh. Ngươi nên chiếu cố giúp Từ Chí Bình học tập.
Lý Quốc Nguyên vâng dạ, Tế Điên từ biệt đi về phía trước, thấy có một tên gia đinh chờ sẵn ở đó và hỏi:
- Tế Công, Ngài đi đâu đó?
Tế Điên hỏi:
- Ai mời ta vậy?
Gia đinh đáp:
- Chủ khách điếm nhà tôi bị phạt 40 hèo, da thịt rách nát, thương thế trầm trọng, nghe nói lão tiên gia có tiên đơn diệu dược, xin Ngài chữa trị giúp cho.
Tế Điên hỏi:
- Chủ điếm của ngươi là ai?
Gia đinh đáp:
- Là Hàn Điện Nguyên, chủ Tam Thuận điếm và là tổng quản hoa viên của Tần tướng phủ. Nhân vì tối hôm qua Các Thiên lâu bị lửa cháy, Tần tướng nổi giận nói rằng Hàn Điện Nguyên không chịu kiểm điểm mới ra cớ sự, phạt đánh 40 hèo, hiện thời đau nhức khó tả.
Tế Điên nghe nói bèn cùng đi đến Tam Thuận điếm vào phòng chưởng quỹ thấy Hàn Điện Nguyên nằm dài rên rỉ không ngớt, mấy đứa hầu bàn đang ở một bên khuyên giải. Thấy Tế Điên vào, mọi người nói:
- A, được rồi, sư phụ đây có tiên đơn diệu dược xin người từ bi cứu giúp cho. Tế Điên cười hà hà, lấy tay chỉ và nói:
“Diệu dược khó trị bệnh oan nghiệt,
Trời xanh khó ứng kẻ lang tâm".
Hàn Điện Nguyên nghe nói giật mình, trong bụng nghĩ: "Ông Hòa thượng này không phải người thường. Hồi hôm mình sai Y Sĩ Hùng đi giết tớ thầy vị hôn phu của con gái mình là Từ Chí Bình, chưa thấy trở về mà tớ thầy nó đã trốn mất, vô cớ Các Thiên lâu lại phát hỏa nữa. Nghĩ rồi liền nói:
- Bạch Thánh tăng, xin người cứu tôi với, tôi mê lú đi mất rồi!
Tế Điên hỏi:
- Ta trị bệnh cho ngươi rồi, ngươi có đem con gái gả cho Từ Chí Bình hay không?
Hàn Điện Nguyên nói:
- Khi lành mạnh rồi, tôi xin rước Từ Chí Bình về gả con gái cho nó, tôi không ăn năn gì hết. Hiện giờ Tần tướng đã đuổi tôi rồi, tôi quyết không đem lòng đây kia nữa. Nếu tôi có bụng đổi dời xin cho trời tru đất diệt.
Tế Điên lấy một viên thuốc ra cho uống, vết thương liền hết đau nhức. Tế Điên bảo Hàn Điện Nguyên đến nhà Lý Quốc Nguyên rước Từ Chí Bình. Hàn Điện Nguyên gật đầu. Ra khỏi Tam Thuận điếm thấy phía trước người ta bu lại hai ba lớp đen nghẹt, xô đẩy không nhúc nhích, oán khí ngất trời, Tế Điên án quẻ linh quang, nói:
- Chao ôi, A Di Đà Phật! Hòa thượng ta đâu có thể nào không hỏi đến!
Thật là: Việc này chưa xong, tiếp theo một việc khác! Vội chen mọi người vào xem.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 12 [/align]



Tế Công Khéo Độ Hàn Điện Nguyên
Hàn Sĩ Bỏ Con Gặp Phật Sống




Có thơ rằng:
Ngọc đường hoa chúc với sanh ca
Trướng gấm đầu làng phú quý gia
Nào giống nhà tu tranh lá cũ
Một trời tuyết lạnh sáng mai hoa.
Tế Điên vẹt mọi người ra, vào xem thấy bên trong là một thầy đồ kiếc, đầu đội khăn nho sinh cũ, cháy lủng lỗ chỗ, mình mặc tấm áo nho sinh chắp vá bảy tám nơi, đang ôm một đứa trẻ trong lòng. Người này trạc hơn ba mươi tuổi, gương mặt khô gầy, đứng giữa dòng người nói:
- Thưa quý vị, đứa bé tôi đang ôm trong lòng đây được một năm hai tháng, mẹ nó mới mất cách đây ba ngày. Tôi lại không đủ sức mướn vú nuôi, đâu nỡ để nó chết đói. Vị nào thương tình xin bồng nó về nuôi.
Người nói lời này là Mã Bái Nhiên, nguyên quán là người huyện Thuần Thục, phủ Thường Châu, từ nhỏ ở nhà đọc sách, ăn không ngồi rồi, chẳng biết kinh doanh thêm, núi vàng ăn mãi cũng hết. Tới chừng trên không còn mảnh ngói, dưới không tấc đất cấm dùi, lại thêm đứa con mọn, phải bồng bế vợ con đi lánh nạn. Bái Nhiên đến Lâm An ở nhà Ngô Bá Chu chuyên cho thuê thuyền ở Tây Hồ. Ông ta có dưới tay hơn trăm chiếc thuyền, khách du Tây Hồ phần lớn đều đến đó thuê. Bá Chu vốn là bạn cố giao với Bái Nhiên, biết Bái Nhiên là người có học bèn lưu lại làm việc quản lý thuê thuyền, mỗi ngày chia được hai, ba trăm đồng tiền cũng đủ vợ chồng qua bửa. Nào hay phận số không thông, Tây Hồ mọc lên bốn nhà ác bá luôn luôn cướp người ở Tây Hồ, náo loạn đến nỗi Tây Hồ không có du khách nữa. Thuyền cũng không người thuê, Mã Bái Nhiên không còn cách nào hơn là bãi công nghỉ việc. Đứng đầu bọn ác bá ở Tây Hồ chính là Hoa hoa thái tuế Vương Thắng Tiên, em của Thừa tướng Tần Hỷ. Bấy giờ là thời Cao Tôn hoàng đế. Ông ta vốn họ Vương, vì kế nghiệp nhà họ Tần nên phải đổi họ là Tần. Vương Thắng Tiên là anh em chú bác với Tần tướng, ỷ thế lực của anh thường dắt thủ hạ dạo chơi trên hồ, hễ thấy phụ nữ xinh đẹp liền kêu thủ hạ cướp đi, không ai dám chống cự lại hắn, nhân đó mà không ai dám chơi hồ nữa, thuyền của Ngô Bá Chu không ai thuê, Mã Bái Nhiên thất nghiệp, Châu thị là người vợ hiền đức, nói:
- Vợ chồng chúng ta chả lẽ chịu chết đói sao? Chàng hãy ở nhà xem chừng đứa nhỏ để tôi đi ra tìm việc vá may, chúng ta còn có thể lây lất qua ngày.
Nghe vợ nói mấy câu đó, Mã Bái Nhiên lặng thinh không nói một lời. Châu thị bèn để đứa nhỏ ở nhà rồi ra đi. Mã Bái Nhiên ngồi lại trong nhà, tự nghĩ: "Thân trai đại trượng phu, không thể nuôi nấng được vợ con, lại để vợ con đi làm kiếm tiền mua gạo, sao cho phải lẽ!” Càng nghĩ càng buồn, hiện tại không lối thoát, bồng đứa bé tính nhảy xuống Tây Hồ tìm cái chết. Rồi lại nghĩ: "Đứa nhỏ lọt lòng mẹ đến nay đã được một năm, bây giờ lại phải chết thật là oan uổng biết bao. Chi bằng đem cho người ta rồi đi tìm cái chết sau”. Nghĩ rồi, ôm con đứng ở ngã tư đường, nói:
- Thưa chư vị, vị nào thích đứa nhỏ này, xin bồng nuôi giùm cháu!
Kêu mấy lượt như vậy, có một ông già đứng gần, thấy đứa bé khá xinh bèn nghĩ: "Mình không có con, nên nuôi nấng nó". Vừa mới bồng đứa nhỏ thì có người nói:
- Ấy, ấy! Ông chớ nên rước nó. Nếu ông rước nó thì nó sẽ theo ông về nhà, vài hôm sau mẹ nó sẽ đến mượn tiền ông. Cách ít ngày đến lượt cha nó đến, ông có chịu nổi không?
Ông già kia nghe nói không có ý dám xin nữa. Tế Điên nói:
- Ngươi cho ta đứa bé này nhé.
Mã Bái Nhiên nói:
- Này Hòa thượng, ông là người xuất gia, xin đứa bé này làm gì?
Tế Điên nói: Ta thu nó làm đồ đệ.
Mã Bái Nhiên nói:
- Nó chưa dứt sữa, lại chưa biết ăn cơm, Hòa thượng nuôi nó sao được?
Tế Điên nói:
- Không được thì thôi ta không xin. Ngươi phải nói thiệt, mẹ đứa bé này chưa chết phải không? Chùa ta ở sát vách nhà ngươi ở trọ. Có phải ngươi ở trọ nhà của Ngô Bá Chu không nào?
Mã Bái Nhiên nói:
- Mẹ nó dù không chết thật, nhưng tôi không tìm được sinh kế nên muốn đem đứa bé gạt cho người.
Tế Điên nói:
- Ta biết rồi, ngươi đi theo ta nhé! Ta sẽ tìm ra vợ ngươi, để chồng vợ con cái thấy mặt rồi ta sẽ kiếm cho ngươi một việc làm.
Mã Bái Nhiên nghe nói thế, hỏi Hòa thượng ở chùa nào và tên hiệu thượng gì hạ gì? Tế Điên mỗi mỗi nói rõ rồi dắt Mã Bái Nhiên đi tới, vừa đi vừa hát:
Ai tài, ai chẳng tài?
Tài giỏi, ngũ hành thông
Ngũ hành nếu sai chạy
Tài giỏi cũng thành không
Ai nấy không tin, nghe ta kỹ
Hãy xem bọn phú ông
Lừa ngựa cỡi long nhong
Lại xem người nghèo khổ.
Cơm chẳng no lòng, áo quần lỗ chỗ
Ấy do đời trước định duyên số.
Tế Điên dẫn Mã Bái Nhiên tới trước tiệm tương, nói:
- Nè tài phú, bán cho ta ba xu củ cải lớn đi.
Bên trong có tiếng trả lời rồi mang củ cải ra. Tế Điên nói:
- Chà ít quá, ta đưa hai xu nhé.
Tài phú đi ra nói:
- Hòa thượng ơi, tiệm của chúng tôi ở đây bán giá nhất định, trả giá thì không bán đâu.
Tế Điên nói:
- Nào ta có trả giá đâu, trong túi ta chỉ còn có hai xu thôi, ta xin ông một xu nhé.
Tài phú nói:
- Thôi được, tôi bán cho ông là người tu hành đó.
Tế Điên thò tay vào túi mò một lát, nói:
- Chao ôi, túi của ta lủng rồi, đồng xu rớt đi ngả nào mất. Thôi ta đưa trước cho ông một xu, còn một xu ngày mai ta trả cho ông nhé.
Nói rồi lại đi nữa, tới trước hàng bán rau cải, Tế Điên lại gần người bán:
- Tài phú nè, bán cho ta một xu tỏi đi.
Tài phú nói:
- Một xu một củ nhé, và lấy củ tỏi đưa ra.
Tế Điên trả một xu, cầm củ tỏi coi coi rồi nói:
- Tài phú ơi, một xu một củ tỏi, sao ông lại bán cho tôi củ tỏi thúi, cho đổi lại củ khác đi!
Tài phú lại rút một củ khác đưa ra. Tế Điên nhận lấy và cũng không giao lại củ kia, thành ra một xu mua được hai củ tỏi. Thật ra Tế Điên chỉ đem có hai xu thôi, lại muốn mua bốn món để làm lễ vật chúc thọ cho người. Mã Bái Nhiên thấy Hòa thượng nghèo quá! Đi với Tế Điên một thôi độ nửa dặm đường, thấy bên đường có gánh thịt chó. Tế Điên cà rà tới nói:
- Chà, thịt này béo thiệt, thiệt thơm, thiệt mềm năm hoa ba lớp, ăn được thịt này béo bổ ra phết! Tán dồi một hồi rồi nói:
- Bác lái nè, bác cắt cho ta một miếng thịt chó nhé!
Người bán thịt chưa mở hàng, nghe Hòa thượng kiếc khen dồi huyên thuyên rồi xin một miếng thịt, cũng cao hứng cầm dao cắt một miếng chừng hai lượng. Tế Điên đón lấy, dòm dòm nói:
- Bác cho thêm miếng nữa đi.
Người bán thịt chó hỏi:
- Bao nhiêu đó bộ chưa đủ sao?
Tế Điên nói:
Không phải ta chưa đủ
Nếu ngươi thấy đủ chẳng cần thêm
Cả khối này nhân tình nào đáng
Đã cho rồi xin hãy trót cho luôn.
Người bán thịt chó lại cắt thêm một miếng nữa. Tế Điên một xu cũng không trả, được không hai miếng thịt chó!
Lại đi một quãng nữa, nghe có tiếng rao bán bánh bao, Tế Điên kêu:
- Bánh bao! Đem lại ta mua!
Người bán bánh bao đem tới. Tế Điên hỏi:
- Bánh có nóng không?
Người bán đáp:
- Bánh mới ra lò mà!
Nói rồi để gánh xuống mở nắp vung ra, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Tế Điên thò tay vào bánh bao, năm đầu ngón tay đen xì, cầm lấy đưa lên miệng cắn, lại lật đật bỏ ra nói:
- Ý chết! Ta quên mang tiền theo, thôi không dám ăn đâu!
Người bán bánh bao có ý giận. Cái bánh ấy chắc bán không được rồi, vừa có dấu răng, vừa có dấu tay đen rành rành, vừa dính nước miếng, lại nghĩ thầm: “Dầu có giận dữ trách móc, chuyện cũng đã rồi. Vả lại, ông ấy lại là người tu hành nữa". Ngẫm nghĩ giây lát, nói:
- Thôi được rồi, cái bánh bao đó tôi coi như bỏ, cũng không giận ông làm gì.
Tế Điên nói:
- Bộ ngươi tính bỏ hả? Thôi đừng bỏ, để cho Hòa thượng ta đi. Ngày mai gặp ngươi, ta sẽ đem tiền trả cho ngươi nhé!
Người bán bánh bao nói:
- Thôi, ông cầm cái bánh đi đi.
Tế Điên cầm cái bánh bao dắt Mã Bái Nhiên đến đường phụng Sơn, thấy cổng lớn phía bên kia đường treo đèn kết hoa, ngựa xe chật ních. Nhà đó đứng vào hạng giàu nhất ở Lâm An. Chủ nhà họ Trịnh tên Hùng. Hôm nay nhằm lễ thượng thọ của lão thái thái, các thân sĩ phú hào ở Lâm An đều đến chúc mừng. Tế Điên đến trước cổng kề tai dặn Mã Bái Nhiên nên làm như vầy như vầy và đứng đợi giây lát, tự sẽ có cơ duyên đưa đến. Tế Điên bước lên thềm kêu:
- Ối chà, xin chào chư vị!
Bên trong có một gia nhân đi ra, mới nói:
- Này Hòa thượng! Ông tới sớm quá, khách còn chưa vào tiệc. Ông muốn xin cơm canh thừa thì lát nữa hãy trở lại.
Tế Điên nói:
- Đừng nói bậy! Ta biết hôm nay là sinh nhật của lão thái thái nên mua bốn lễ vật đến chúc mừng đây.
Gia nhân nghe nói, nghĩ thầm: "Xưa nay đại quan nhà ta rất ưa bố thí, xem vàng như đất, trượng nghĩa sơ tài gặp người nghèo khổ tất giúp đỡ ngay, cũng có thể quan nhân của ta đối đãi với ông ấy có phần đặc biệt, ông ấy biết hôm nay là ngày mừng thượng thọ, muốn mừng lễ đáp ơn đây chăng? Ta chớ nên xem thường ông ấy, người nghèo cũng có tấm lòng. Hoặc có thể ông ấy biết lão thái thái thích ăn món chi, rồi mua một ít món ấy đến cũng nên. Hoặc có thể ông ấy mang lại đào bún, rượu, điểm tâm chăng?". Nghĩ thế liền hỏi:
- Hòa thượng ơi, ông ở chùa nào?
Tế Điên nói: Ta tu ở miếu nhỏ Linh Ẩn tự.
Quản gia hỏi: Lễ vật của ông là do chính ông mang tới hay có người mang tới sau?
Tế Điên đáp: Ta có mang theo đây.
Gia nhân nói: Ông đưa lễ vật ra đi, tôi đem thưa lại với gia chủ.
Tế Điên từ trong tay áo lấy ra một cái bánh bao, hai củ tỏi lớn, hai củ cải muối và hai miếng thịt chó, đưa cho quản gia. Tế Điên nói:
- Cái này cho lão thái thái ăn thịt chó với củ tỏi, ăn bánh bao với cải mặn.
Gia nhân nhìn thấy giận quá, đem quăng xuống đất nói:
- Ông cút đi cho rảnh, đừng đến đây quấy rầy chúng tôi. Vừa liệng lễ vật xuống đất hai con chó ở đâu chạy lại muốn đớp, Tế Điên lật đật đuổi chó đi, nói: - Hai đứa cổ bông này, tụi bây đớp mất ta lấy gì biếu lão thái thái?
Tế Điên lượm lên, nói:
- Ngươi không chịu thưa bẩm, ta cũng có thể đưa vào vậy.
Lớn tiếng hô:
- Lễ vật đưa tới đây. Rồi cầm lễ vật phăng phăng đi vào.
Mọi người thấy vậy nói:
- Ông Hòa thượng ấy điên rồi, thây kệ ổng.
Nguyên Trịnh Hùng là một vị thân sĩ ở Lâm An, lại đỗ Võ tiến sĩ, rất thích giao hữu, chú của ông ta làm chức tổng binh ở tỉnh ngoài. Hôm nay nhằm lễ thượng thọ của lão thái thái, ở thành Lâm An trên từ công hầu, dưới đến thứ dân đều đến chúc mừng. Trong số tân khách có Mỹ nhiệm công Trần Hiếu, Bệnh phục thần Dương Mãnh, Triệu Văn Hội, Tô Bắc Sơn, Khương Bá Vạn, Châu Bán Thành đều có mặt ở khách sảnh. Mẹ của Trịnh Hùng, năm nay vừa đúng 70 tuổi nhưng hai mắt đã không thấy đường trên một năm rồi, thỉnh rất nhiều thầy thuốc chữa trị vẫn không hiệu quả. Bữa nay Trịnh Hùng đang ở trên khách sảnh, gia nhân đưa vào một mâm lễ vật, nói:
- Của Quảng Huệ sư phụ ở Tam Quan miếu đưa đến chúc thọ.
Trịnh Hùng nghe nói ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Xưa nay mình đâu có giao thiệp với ông kìa!”. Tiếp nhận lễ đơn mở ra xem thấy đề: Một đôi đèn trắng, thọ đào một chục, thọ tửu một bầu, thọ miến một hộp, thọ trướng một cây, miên dương bốn cái. Trịnh Hùng lật đật ra rước vào. Mọi người nhìn ra, đó là một tăng nhân tuổi hơn 50, áo quần chải chuốt.
Quảng Huệ đưa lễ vật đến chúc mừng là có dụng ý tham, vì biết trong hoa viên của Trịnh Hùng có yêu tác quái ông ta có thể bắt yêu trấn trạch bèn toan đưa lễ vật mừng thọ làm bước đầu, rồi sẽ bắt yêu lấy bạc lại sau. Khi vào trong khách sảnh, mọi người nhường nhau, đưa Quảng Huệ mãi đến chỗ bàn Dương Mãnh và Trần Hiếu ngồi. Dương Mãnh là người ưa bắt chuyện, mời:
- Đại sư phụ, hãy lại đây.
- Vâng.
- Sư phụ làm ơn cho tôi hỏi thăm một lão Hòa thượng.
- Ai vậy?
- Tế Công trưởng lão ở Tây Hồ Linh Ẩn tự.
- Tế Điên Hòa thượng hả? Ông ấy điên điên khùng khùng mà kể số gì! Ta với sư phụ ông ấy qua lại rất thân, luận về vai vế thì ông ấy là hàng sư diệt của ta. Ông ấy thường theo ta xin học hoài mà ta không rảnh để dạy đó chứ.
Dương Mãnh nghe nói nổi giận, nghĩ thầm: "Ông này nói nghe mà phát giận. Ông ta nói sư phụ mình là sư điệt của ông, vậy ra mình thuộc hàng cháu của ổng rồi. Ta phải đi kiếm sư phụ hỏi lại. Nếu phải như vậy thì thôi, còn như không phải thì ta đánh bể cái đầu trọc ông ấy cho rảnh”. Nghĩ rồi đứng đậy định bước ra ngoài, kế nghe bên ngoài có tiếng hô:
- Lễ vật tới đây.
Dương Mãnh nghe thấy tiếng của Tế Điên bèn nói:
- Có sư phụ ta đến rồi! Được, để ta hỏi thử xem.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 13 [/align]



Quảng Huệ Tăng Cuồng Ngôn Mắc Họa
Tế Thiền Sư Diệu Pháp Kinh Người




Có thơ rằng:
Mây chó vành trăng sắc bạc màu
Cũng không vinh nhục, cũng không sầu
Gặp nhau tâm sự quên năm tháng
Núi vẫn xanh rì nước chảy mau.
Dương Mãnh chạy ra ngoài. Trần Hiếu cũng đi theo. Hai người đi ra xem quả là Tế Điên, nói:
- Bạch sư phụ, lão nhân gia làm gì mà kêu to dữ vậy?
Tế Điên nói:
- Ta tới đây chúc thọ lão thái thái mà bọn nó chê ta rách rưới, chẳng chịu vào thưa bẩm.
Trần Hiếu, Dương Mãnh nói:
- Bọn nó chỉ nghĩ đến lợi thôi.
Trịnh Hùng cũng từ bên trong đi ra tới, thấy một vị Hòa thượng kiếc, nói:
- Hai vị hiền đệ không ở trên phòng khách uống trà, ra đây làm gì?
Dương Mãnh, Trần Hiếu nói:
- Chúng tôi hôm nay xin giới thiệu với huynh trưởng người mà chúng tôi thường đề cập đến. Đây là Tế Công thiền sư ở chùa Linh Ẩn đó.
Trịnh Hùng nói:
- Thì ra là Thánh tăng đây, đã lâu ngưỡng mộ đại danh, hôm nay may mắn được gặp, thật là phúc đức ba đời.
Tế Điên nói:
- Hôm nay là lễ mừng đại thọ của lão thái thái, tôi đưa chút lễ vật đến, thân tự chúc mừng người.
Trịnh Hùng thấy Hòa thượng áo quần lam lũ giống như kẻ ăn xin, làm sao có thể đưa vào khách sảnh được đưa mắt ngó Dương Mãnh và Trần Hiếu, lại không tiện từ chối, trong lòng còn do dự chưa định. Kế nghe Tế Điên nói:
- Ta đến đưa chút lễ vật chúc thọ thôi chớ không vào ngồi ở phòng khách đâu. Quý phủ cao bằng quý hữu rất nhiều mà ta lại không có áo quần lành lặn.
Trịnh Hùng nghe nói thầm mừng, nhưng ngoài miệng nói vài lời giả lả:
- Hòa thượng đã đến đây thì có hề chi, xin mời vào.
Dương Mãnh cũng muốn Tế Điên đi vào để xem lời của Quảng Huệ nói có đúng không. Tế Điên nói:
- Trịnh đại quan nhân đã có lời mời, ta làm sao không đi chúc thọ lão thái thái?
Trịnh Hùng cũng không tiện cản ngăn, bèn cùng Tế Điên đi vào phòng khách. Tế Điên kêu người hầu đem bàn bát tiên ra để ngay chính giữa, trên trải thảm đỏ. Tế Điên móc thịt chó và các vật ra, rồi ngồi một bên. Trịnh Hùng mắt thấy giận tím mặt lại, ngặt có Trần Hiếu, Dương Mãnh không tiện phát tác, còn phải đến cám ơn Tế Điên rồi kêu gia nhân đem quẳng đi. Người trong phòng tiệc, Tế Điên quen biết phân nửa. Hầu bàn dọn cơm rượu lên, Tế Điên đứng dậy tới các bàn mời rượu, mời đến bàn Quảng Huệ, Quảng Huệ ngạo nghễ ngồi cao, không thèm nói một lời. Mời xong, Tế Điên trở về bàn uống rượu.
Kế nghe Quảng Huệ nói:
- Thưa Trịnh đại quan nhân, hôm nay tôi tới đây, một là chúc thọ, hai là muốn ở trước mặt lão thái thái hiếu kính một trò mọn, biến một vật, trên trời biết bay, dưới đất biết chạy, trong nước biết lội, trong cỏ lại nhảy. Xin người hãy ra sau thưa bẩm, tôi ở ngoài sẽ biến ra cho lão thái thái ở trong đó xem.
Trịnh Hùng nghe rồi nói: Được.
Rồi đi vào phía sau, thấy các bà vợ của thân hữu đang vây quanh tiếp chuyện với lão thái thái. Trịnh Hùng nói:
- Thưa mẹ, hiện có Quảng Huệ tăng ở Tam Quan miếu muốn biến một pháp thuật cho mẹ xem đó.
Lão thái thái vừa nghe, giận đến xanh cả mặt, nói:
- Mày với Hòa thượng kia dám cười ta hả? Mau biểu thằng trọc đó cút đi cho rảnh. Mắt ta đã mù hai năm rồi, mày còn bảo xem coi pháp thuật gì nữa?
Trịnh Hùng nghe nói mới chợt hối hận, vội thưa:
- Xin mẹ bớt giận, con nhất thời quên lú mất!
Các vị nữ thân ở một bên đều nói:
- Nhưng nhưng ơi, xin bảo ông ấy biến cho tụi con xem.
Lão thái thái lúc đó mới bảo:
- Này Trịnh Hùng, con ra bảo ông ấy làm phép đi.
Trịnh Hùng trở ra phòng khách, nói:
- Xin đại sư phụ thi triển pháp thuật đi.
Hòa thượng bảo đem một cây kéo, một tờ giấy rồi cắt khá nhiều bươm bướm. Ông ta cũng có chút tài năng trong miệng lâm râm đọc chú, thổi một hơi tiên khí vào, tức thì thấy một đôi bươm bướm bay thẳng vào nhà trong. Ai nấy đều hoan hô vang dậy.
Dương Mãnh và Trần Hiếu đồng nói với Tế Điên:
- Bạch sư phụ, người cũng nên tỏ cho mọi người biết chút thủ đoạn đi.
Tế Điên bèn đứng dậy nói lớn:
- Ta cũng muốn biến nữa.
Nói xong, niệm "Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích" tức thì hơn ba mươi con cào cào bay nhảy lung tung khắp sảnh đường. Ai nấy ngạc nhiên, cúi đầu nhìn lại chiếc đũa trên bàn đâu mất, cả sảnh đường cười rộ. Tế Điên lấy tay chỉ một cái, bầy cào cào biến mất, mọi người vẫn có đủ hai chiếc đũa. Mọi người đều xưng tụng lạ kỳ.
Quảng Huệ thấy mọi người đều khen ngợi Tế Điên, mặt tối sầm lại không vui, nói:
- Thưa Trịnh đại quan nhân, tôi xin hiếu kính lão thái thái một chén canh.
Nói rồi đứng dậy lấy một cái túi vải để úp trên bàn, trong miệng đọc chú lâm râm, khi giở túi ra thấy có sẵn một tô canh ngon, giống hệt như vừa mới nấu còn sôi ục ục. Tế Điên lấy tay chỉ một cái, tô canh đó đang bưng úp đổ trên đầu Quảng Huệ. Cả người và đầu cổ của Quảng Huệ bị nóng đỏ hồng. Mọi người vỗ tay cười lớn. Quảng Huệ xấu hổ lấy tay lau lia lịa rồi nói:
- Thưa quý vị, hôm nay tôi muốn ở trước quý vị thi triển pháp thuật một phen, không ngờ bị kẻ tiểu nhân phá rối. Bây giờ tôi xin dốc hết tài nghệ thi triển pháp thuật, biến ra quả đào tiên, kính mời lão thái thái.
Mọi người đều nghĩ rằng, bây giờ đương tiết tháng tư đào cũ đã hết lâu rồi, đào mới hãy còn non choẹt. Đương lúc trái mùa này, có được mới tân kỳ! Quảng Huệ vừa niệm chú, Tế Điên đi tới nói:
- Ông biến rồi đừng giở ra nhé, để ta đoán thử xem!
Quảng Huệ nói: Cứ việc đoán thử.
Trong miệng lại đọc:
Thọ đào một giỏ hiến đường tiền
Dâng hiến đường tiền bất lão tiên
Hôm nay biến được phù dung quả
Tuổi thọ như đào bách vạn niên.
Đọc xong, liền thấy trong bao nổi gồ lên.
Tế Điên nói: Ông đọc sai rồi.
Quảng Huệ nói: Ta đọc sai thì ông đọc đi!
Tế Điên đọc:
Quả đen một giỏ hiến đường tiền
Dâng hiến đường tiền bất lão tiên
Hôm nay biến được cà bốn quả
Thịt dê xào dấm tỏi thơm liền.
Quảng Huệ mở ra xem, thì là bốn trái cà dài. Cả phòng cười rộ. Quảng Huệ giận đến đỏ mặt tía tai. Trịnh Hùng sợ Quảng Huệ bẽ mặt, vội kêu gia nhân bưng vào. Gia nhân tên Triệu Phước bưng đến đầu sảnh nhìn lại đúng là bốn trái đào lớn, nói:
- Cái gì kỳ vậy, thiệt là đáng giận! Ta phải trở kêu mọi người xem lại.
Nói rồi quay trở ra khách sảnh, mọi người coi đúng là bốn trái cà. Trịnh Hùng nạt:
- Triệu Phước, bộ mi điên hả, còn đem trở ra làm chi vậy?
Triệu Phước tức giận quày quả đi vào, giở ra xem thì là đào thiệt. Bèn nghĩ: "Thôi, để ta ăn quách cho rảnh”. Vừa muốn ăn, Tế Điên đuổi theo sau lưng, nói:
- Triệu Phước, ngươi làm gì đó?
Triệu Phước nói:
- Người ta biến ra trái đào, còn ông dùng phép gì lòa mắt thiên hạ vậy? Tôi muốn ăn trái đào đó.
Tế Điên lấy tay chỉ một cái, nói:
- Ngươi cứ ăn thử.
Triệu Phước cầm lên cắn một miếng, răng như muốn bể, coi lại là đào bằng gỗ. Tế Điên nói:
- Ngươi đem vào cho lão thái thái ăn đi.
Triệu Phước cầm đem vào, lão thái thái ăn vào, nước đào ứa ra miệng trông rất ngon lành. Triệu Phước bèn nghĩ thầm: "Kỳ lạ quá!". Rồi quày quả đi ra. Ngoài kia, Quảng Huệ ngồi lặng thinh không nói lời nào.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 14 [/align]



Tế Điên Hóa Phép Đùa Quảng Huệ
Trịnh Hùng Vì Mẹ Cầu Thánh Tăng




Có thơ rằng:
Lưu thủy cao sơn một khúc cầm
Bá kỳ thiên cổ vẫn tri âm
Chân tình đàn đến thông trời đất
Mới thấy u huyền thái có tâm.
Tế Điên nói:
- Thưa Trịnh đại quan nhân, hôm nay tôi biến một pháp thuật, xin mời lão thái thái ra nhìn tận mắt mới hay.
Trịnh Hùng nói:
- Không được đâu, mẹ tôi không thấy đường đã hai năm rồi, làm sao có thể thấy được?
Tế Điên nói:
- Cũng vì lão thái thái hai mắt không thấy đường tôi mới mời ra xem, nếu là người thấy đường thì đâu cần phải mời.
Trịnh Hùng biết Hòa thượng là người không phải tầm thường, mới ra nhà sau mời lão thái thái ra, hai đứa a hoàn dìu đỡ đi ra bên ngoài. Các thân hữu đều đứng dậy, nói:
- Xin chúc mừng lão thái thái, kính mong lão nhân gia đa phúc đa thọ.
Lão thái thái ngồi xuống. Trịnh Hùng nói:
- Thưa mẹ, hiện có Tế Công trưởng lão ở chùa Linh Ẩn muốn biến một pháp thuật, có thể mời mẹ xem cho rõ ràng.
Lão thái thái gật đầu. Tế Điên đến trước lão thái thái, nói:
- Tiệc thọ mở lời:
Đào thọ sắc hồng tươi
Rượu thọ sánh chén ngời
Ngũ phúc thọ đầu tiên
Thọ miên miên - phúc trường viễn
Cầu mong:
Tuổi thọ thanh tòng
Chẳng sợ gió sương lay
Khác nào phúc như Đông hải
Thọ tỷ Nam san.
Đọc xong mấy câu, Tế Điên lấy tay vẽ trên tròng mắt của lão thái thái một vòng, thầm niệm lục tự chơn ngôn "Án ma ni bát mê hồng”. Lão thái thái quả nhiên mắt thấy được. Lão thái thái kêu:
- Trịnh Hùng à, mắt trái của mẹ đã thấy được rồi.
Trịnh Hùng hãy còn chưa tin, vẫy tay gọi một con a hoàn đến, hỏi:
- Má ơi, má có thấy ai đây không?
Lão thái thái nói:
- Đây là con Xuân Mai chớ ai.
- Phải rồi. Xin chúc mừng lão thái thái. Thiệt thấy được rồi!
Trịnh Hùng nghe nói mừng quá, vội đi lại gần, hỏi:
- Thưa mẹ, mẹ có thấy con ra thế nào không?
Lão thái thái nói:
- Ngày tháng thoi đưa, mi cũng già đi hơn nữa.
Trịnh Hùng vội đến trước Tế Điên thi lễ, nói:
- Bạch Thánh tăng, xin lão nhân gia từ bi cứu tế cho! Mắt bên trái đã thấy được rồi, còn mắt bên phải xin người trị luôn một thể.
Lão thái thái nói:
- Bây giờ, mắt bên trái của ta đã thấy được rồi.
Tế Điên nói:
- Ta không thể trị mắt bên phải được. Hiện giờ ngoài cổng nhà này có một người đang ẵm đứa nhỏ tên là Mã Bái Nhiên. Người ấy có thể trị bệnh này được.
Trịnh Hùng vội sai người ra cổng mời Mã Bá Nhiên vào Trịnh Hùng đến thi lễ, nói:
- Thưa tiên sinh, xin tiên sinh trị giùm mắt bên phải của mẹ tôi, tôi xin đền ơn trọng hậu.
Mã Bái Nhiên vừa định mở lời từ chối, Tế Điên bèn nói:
- Mã Bái Nhiên ơi, ông trị giùm bà ấy đi!
Nói rồi ngầm đưa cho Mã Bái Nhiên một viên thuốc. Đương lúc đó, các vú em, a hoàn đều kéo ra đứng đầy ở cửa để xem trị mắt phải của lão thái thái, trong đó có một người đàn bà bước tới ẵm giùm đứa bé cho bú sữa, đứa bé ré lên khóc. Mã Bá Nhiên cũng phúc chí tâm linh, cầm viên thuốc nói:
- Thuốc này phải dùng vô căn thủy hòa tan. Đây là tiên đơn diệu dược của nhà Phật ban truyền, bảo thái thái lấy nước này rửa mặt, mắt sẽ sáng lại như xưa.
Bảo gia nhân đem thuốc hòa với nước. Quả nhiên, lão thái thái rửa vào mắt phải, mắt sáng lại như thường.
Trịnh Hùng thấy người vú em mới đến bồng con Mã Bái Nhiên cho bú, chẳng biết nguyên cớ ra sao, liền đến hỏi Mã Bái Nhiên. Mã Bái Nhiên mới đem tình cảnh vợ chồng nghèo khổ, vợ phải ra đi kiếm việc, còn chính mình muốn đem con cho rồi nhảy xuống sông tự vận, may gặp được Tế Công, mỗi mỗi kể ra một mạch. Trịnh Hùng nghe thuật mới vỡ lẽ ra, nói:
- Được rồi, trong nhà tôi đang thiếu một người quản lý, ngươi nên ở lại đây, ta sẽ cấp riêng cho vợ chồng ngươi một căn nhà để ở.
Rồi day qua Tế Điên:
- Bạch Thánh tăng, xin người từ bi nhận cho, xin cho tôi đổi y phục đang mặc của người.
Tế Điên nói:
- Ngươi không cần thay đổi y phục của ta. Hòa thượng ta xin hóa ở ngươi chút duyên này thôi. Ngươi hãy đem hai khoảnh ruộng lúa ngoài cửa Thanh Ba cúng cho Thái Chơn ở Tam Thanh quán để làm đất hương hỏa cho miếu này. Như vậy chính là tạ ơn Hòa thượng ta đó.
Quảng Huệ đang ngồi một bên, thấy Tế Điên thi triển kỳ công vừa hổ vừa giận, bèn đứng dậy nói:
- Thưa Trịnh đại quan nhân, tôi biết phía sau nhà Ngài nơi hoa viên có một yêu quái làm lộng, tôi tình nguyện đến đó bắt yêu an trạch, không lấy một tơ hào nào hết. Tôi sở dĩ làm như thế là muốn so sánh pháp thuật với Tế Điên, xem thử ai hơn ai kém!
Tế Điên nói:
- Được rồi, ông đã nói thế thì ta cùng ông ra hoa viên bắt yêu an trạch, lui quỷ trị bệnh nhé! Nếu ông bắt được yêu tinh thì kể như Hòa thượng ta thua, còn như bắt yêu không được sẽ tới lượt Hòa thượng ta ra sức.
Quảng Huệ nói:
- Cũng được, bây giờ chúng ta đi đi!
Tế Điên nói:
- Vội chi, chúng ta hãy ăn cơm xong đã. Còn sớm quá bắt yêu, yêu cũng không đến đâu!
Trịnh Hùng nói:
- Nơi hoa viên của tôi, không biết ma quái hay là tiên gia ở đó? Thường thường bọn gia nhân nằm ngủ ở gác sau, bị ai đó đem quăng xuống lầu. Còn không như thế thì đồ vật trong nhà kêu lên loảng xoảng và bị ném sống đất lung tung. Có khi trên lầu tự nhiên đèn thắp sáng, xem lại chẳng có người nào, cũng không biết là yêu hay quái? Tôi cũng chẳng biết ra sao. Tình trạng này đã nửa năm rồi!
Quảng Huệ nói:
- Không hề chi! Tối nay, ta không cần biết nó là yêu là quái hay quỷ. Ta tóm lấy nó, lấy giới đao kết thúc tánh mạng là xong.
Mọi người cùng nhau trò chuyện, phút chốc trời đã tối, Trịnh Hùng hỏi hai vị Hòa thượng cần dùng những thứ chi.
Quảng Huệ cầm viết kê ra một toa, Trịnh Hùng bảo gia nhân chiếu theo đó sắm sẵn, để ở hoa viên. Khi tất cả đã sửa soạn xong, hai Hòa thượng mới ra hoa viên xem xét. Đồ vật gồm có: một bàn bát tiên, một cái ghế, một bộ lư hương chân đèn, một thẻ nhang dài, một xấp giấy tiền, một nghiên mực, một mớ bạch cập, một gói chu sa, hai cây bút mới, một tờ giấy vàng, một bó rau thơm, một mâm ngũ cốc, một chén nước mưa.
Quảng Huệ xem xong, bèn trước hết đốt đèn hương, rồi mới đảo cáo với quá vãng thần kỳ, bảo hộ cho đệ tử là Quảng Huệ bắt được yêu quái, trở về chùa sẽ dâng hương, thiết trai đáp tạ. Đảo cáo xong, Quảng Huệ dùng nước mưa hòa chu sa và bạch cập nghiền nát, lấy bút mới viết ba đạo thần phù, đốt lên sẽ hóa làm linh phù, trong miệng lâm râm đọc: “Đốt đạo bùa thứ nhất, cuồng phong nổi dậy; đốt đạo bùa thứ hai, bắt yêu quái trói lại; đốt đạo bùa thứ ba, dùng giới đao kết thúc tánh mạng”. Trịnh Hùng cùng một tên gia nhân gan dạ đứng bên ngoài theo dõi. Tế Điên cũng ở tại đó, tay cầm rượu uống tì tì không nói chi hết. Quảng Huệ miệng lâm râm đọc, tay cầm đạo linh phù thứ nhất đốt huơ lên mà không có động tĩnh chi, cũng không có chút gió. Mọi người thấy vậy đều cười rộ lên, nói:
- Quảng sư phụ nói dóc, chớ có tài cán chi.
Quảng Huệ lại đốt linh phù thứ hai huơ lên, cũng không có gì lạ xảy ra. Quảng Huệ lòng gấp như lửa đốt cầm luôn linh phù thứ ba huơ ra phía ngoài, tức thì bên ngoài có một luồng quái phong cuốn theo cát bụi mịt mù, mưa lớn lộp độp, chưa từng thấy. Có bài tán rằng:
Vô ảnh lại vô tung
Cuốn dương hoa, Tây lại Đông
Hút lá thả từng không
Sông ngòi thuyền nhỏ chao nghiêng ngửa
Mây trắng bay nhanh quá đỉnh cung
Qua vườn rừng hoa lá bứt lung tung
Vút thông xanh, xuyên cửa sổ
Đuốc bạc lắc lư, bóng chập chùng.
Trận gió qua đi, bèn thấy ở ba gian lầu đối điện, một căn lầu tự mở ra, bên trong đi ra một lão già, mặt non như trẻ nít, đầu đội khăn bốn góc màu đồng xưa, mình mắc áo thụng cùng màu, vớ trắng giày xanh, tay cầm Phất trần chỉ về phía Quảng Huệ, nói:
- Hay cho Quảng Huệ! Ta với ngươi ngày trước không oán, gần đây không cừu, tại sao ngươi lại tới làm kinh động ta? Tại làm sao thế hử?
Bèn lấy phất trần chỉ một cái, một đám khói trắng xông thẳng tới Quảng Huệ. Quảng Huệ cảm thấy đầu nặng, mắt hoa, té ngửa trên đất. Tế Điên tay cầm hồ lô rượu, cười hà hà nói:
- Ngươi vốn là người tu đạo, tại sao vô cớ đạp vào hồng trần, lại còn dám hiếp đáp đệ tử của ngôi Tam bảo nữa hử?
Nói rồi vỗ đầu một cái, lộ ra ba đạo hào quang. Vị tiên gia kia vốn là bậc tu đạo, ở trên lầu này, có mấy ngàn năm công hạnh. Nhân vì bọn gia nhân của Trịnh Hùng ăn ở không được thanh khiết, động chạm tới ông ta, ông ta mới náo loạn như thế. Hôm nay, thấy Tế Điên hiện ba đạo hào quang như thế, vị tiên gia vốn là người tu đạo chẳng dám đến gần, sợ bị ba luồng ánh sáng đó rọi vào thì mất đi 500 năm công hạnh. Người có lời của người, thú có tiếng của thú, vị hồ tiên đó đã biến làm người được, đạo pháp cũng cao xa lắm, lật đật nói:
- Xin Thánh tăng chớ giận! Cũng đừng nên oán trách tôi. Chỉ nhân vì bọn gia nhân của Trịnh Hùng đánh đập bọn tiểu hồ không một chút thương tiếc, nên tôi làm như vậy để bọn nó biết tay.
Tế Điên nói:
- Ngươi phải mau mau rời khỏi chỗ này cho ta, nếu không đi ta kêu thiên lôi đánh chết đấy nhé!
Vị tiên gia ấy lập tức hóa làm trận gió bay mất.
Tế Điên lấy một viên thuốc cho Quảng Huệ uống, giây lát tỉnh lại. Quảng Huệ hổ thẹn, mặt đỏ đến mang tai, nói lời cáo từ trở về Tam Thanh miếu. Tế Điên còn ở lại nhà Trịnh Hùng. Hôm sau trở dậy, Trịnh Hùng khoản đãi cơm rượu xong, nghĩ đến ơn Tế Điên trị bệnh mắt cho mẹ, trong lòng rất cảm kích, muốn thay đổi y phục cho Tế Điên để tạ ơn. Tế Điên nói:
- Lần này ngươi muốn tạ ơn ta thì hãy ghé tai nghe ta nói như vầy, như vầy...
Trịnh Hùng gật đầu ưng thuận. Tế Điên mới cáo từ ra khỏi nhà Trịnh Hùng đi về phía cửa Tiền Đường.
Đến bên ngoài cửa Tiền Đường, Tế Điên thấy một gánh thịt chó để đó, còn người bán thì đang ngồi xổm đại tiện ở chân tường đối diện với Ngọc Hoàng các. Tế Điên vỗ đầu ba cái, nhướng mắt huệ nhìn xem nói: "Đây thiệt là người con hiếu bậc nhất trên thế gian. Hòa thượng ta nếu không cứu hắn, ắt lôi thần sẽ đánh chết". Nghĩ rồi bèn hỏi:
- Thịt chó này của ai đây?
Hỏi liên tiếp ba lần mà không có ai trả lời.
Nguyên người bán thịt chó này họ Đổng tên Bình, nhà ở trong cửa Tiền Đường, trong nhà có bà mẹ và vợ là Hàn thị. Đổng Bình là người tánh tình rất đa nghi, thường hay trước mặt mẹ nói nhiều điều bất hiếu, dù mẹ không lỗi lầm chi, nhưng lời nói cũng tỏ ra ngang ngược. Sáng ra, Đổng Bình cùng mẹ cãi nhau một trận, Bình cho mẹ không biết gì hết. Vợ hắn là Hàn thị, là người vợ hiền lương, thường khuyên can hắn, nói:
- Mẹ đã lớn tuổi rồi, anh không nên vô cớ rầy rà như vậy để mẹ phải buồn lòng.
Đổng Bình cũng không nói năng chi, ra cửa đi bán thịt. Hôm đó, Bình xào một chảo thịt chó, bảo Hàn thị xem chừng, còn mình đi mua chó. Triều nhà Tống cho phép người ta mua bán thịt chó tự do. Đổng Bình đi đường Hồ Đồng, thấy ở phía Bắc đường có một người đứng sẵn chờ, tuổi độ hơn 30, có dáng vẻ như người buôn bán. Người đó hỏi:
- Anh đi mua chó về bán thịt phải không?
Đổng Bình đáp: Phải.
Người ấy nói:
- Tôi vốn không muốn nuôi chó, nhưng từ năm kia có một con chó hoang đến ở, đuổi nó, nó không đi. Tối lại đóng cửa nhốt chó ở trong nhà. Nửa đêm nghe tiếng chó sủa, tôi thức dậy xem, thì ra có kẻ trộm đang cạy cửa. Tôi nghĩ rằng con chó này cũng có chỗ dùng bèn để lại nuôi. Năm nay, nó lại sanh thêm một con chó nhỏ nữa, chúng nó cứ giành ăn cắn nhau mãi. Tôi sợ cắn phải đứa con tôi, nên cũng có ý muốn bán nó, nhưng không lẽ đã có ơn nuôi dưỡng lại có cừu giết hại sao? Tôi cũng không cần tiền, anh nên bắt về đi.
Đổng Bình nghĩ: “Thế thì hợp quá!". Bèn lấy dây cột con chó lớn, ôm con chó nhỏ, cám ơn người ấy vài câu rồi kéo chó trở về nhà. Đến nhà, cột chó lớn trong sân rồi vào nhà lấy dao ra định giết chó. Để dao ở ngoài sân, vào nhà lấy cái chậu trở ra thì con dao đã mất. Đổng Bình hỏi vợ:
- Bà có lấy dao không?
- Không có, người vợ trả lời.
Đổng Bình đi tìm, thấy con chó nhỏ nằm ép lên lưỡi gao, cán ló ra ngoài. Đổng Bình đi đến, lấy chân đá chó nhỏ một cái, lấy dao lại định giết chó lớn. Con chó nhỏ chạy đến nằm trườn trên bụng chó lớn, nhe răng nhìn Đổng Bình, mà hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 15 [/align]



Chó Độ Đổng Bình Cải Ác Làm Lành
Rượu Thịt Về Chùa Cợt Đùa Tăng Chúng


Có thơ rằng:
Sanh ở chỗ này chết ở đây
Mấy ai ngờ nghệch mấy ai hay
Nửa đêm mặt sắt tư duy lại
Bất tử trường sinh bỏ dạ này.
Đổng Bình thấy con chó nhìn mình nước mắt chảy ròng, ngạc nhiên hồi lâu, tự nghĩ: "Con chó còn biết thân nó từ đâu sinh ra, huống chi ta là người ư?". Nghĩ thế rồi cắt dây mở thả hai con chó ra, nói:
- Thôi, tao không giết mày nữa, mẹ con mày có muốn lại đây thì tao sẵn lòng nuôi, còn không muốn ở thì đi đâu mặc ý.
Hắn vào trong nhà, quỳ trước mẹ, nói:
- Từ trước đến nay, con đối xử với mẹ có nhiều điều vô lễ tội đáng muôn thác!
Hàn thị nói:
- Chỉ cần con đối với mẹ hết lòng hiếu thảo, vợ chồng con sẽ được nhiều phước lành.
Đổng Bình nói:
- Hôm nay tôi bán hết gánh thịt chó này, ngày mai xin đổi nghề khác buôn bán sanh nhai, còn nghề buôn bán máu tanh này thôi không làm nữa.
Nói rồi gánh thịt chó đi bán. Mọi hôm, gánh ra bán một loáng là hết. Hôm nay gánh đi qua hơn mười con đường lớn ở Tiền Đường, trước bức vách tường đối diện với Ngọc Hoàng các, cảm thấy trong bụng quặn đau, bèn để gánh thịt chó bên đường, đi đại tiện. Ngồi thấy Hòa thượng từ bên kia đường đi lại hỏi: “Thịt chó này của ai?”. Đồng Bình cũng không trả lời, nghĩ: "Hôm qua ông lấy không của mình hai miếng thịt rồi, hôm nay lại đến hỏi nữa, mình không trả lời, xem ông ấy làm sao?”
Tế Điên thấy mặt Đổng Bình lộ sắc đen, bèn án linh quang xét biết hắn ta là người con hiếu bậc nhất trên thế gian, nếu không cứu hắn thì lôi thần đánh chết.
Đổng Bình tại sao được gọi là người con hiếu bật nhất? Xét trong Thiên thư có nói: Ví như người kia đi làm nửa đời người việc lành, bỗng một hôm đổi tánh làm một việc ác, sách ấy ghi chú: Ấy là người ác bậc nhất, công lao nửa đời làm lành coi như không có. Trái lại nếu người nửa đời làm việc ác, bỗng nhiên tự biết mình sai quấy, cần phải sửa đổi, nếu không sẽ gặp ác báo. Nhất định cải ác làm lành, thật tình ăn năn lỗi trước, nhờ đó cái ác trước được tiêu ma, trong sách ghi là người lành bậc nhất. Lư phụ thất tiết không bằng đĩ già hoàn lương là thế. Đổng Bình tuy bất hiếu với mẹ bỗng nhiên biết cải hối, hứa trước mẹ hết lòng hiếu thảo, tấc lòng chí thành không chút dối trá, chính là người con hiếu bậc nhất vậy.
Tế Điên bảo: Gánh thịt chó này của ai đây?
Hỏi liên tiếp hai lần không ai trả lời, bèn kê vai gánh thịt chó rảo bước.
Đổng Bình ngó thấy, gấp quá, lật đật đứng dậy, tay xách quần chạy theo. Vừa chạy được mấy bước thì ở phía sau ầm lên một tiếng lớn, vách tường chỗ ngồi ban nảy đã sập quá nửa.
Đổng Bình sợ quá, mắt mở trừng trừng, trong bụng nghĩ: “Nếu không có ông Hòa thượng đó gánh gánh thịt của ta thì giờ này ta bị tường sập đè chết rồi, thiệt là ghê quá, ghê quá!".
Tế Điên nói: "Lôi thần đánh chết", nhưng tại sao bị đất đè chết lại cho là bị lôi kiếp ư? Ngạn ngữ nói: “Trời gầm sấm chớp ngũ lôi đánh". Như vậy có phải là năm thứ sấm từ trên trời đánh xuống đâu. Thực sự kim, mộc, thủy, hỏa, thổ gọi là ngũ lôi. Dao chém chết gọi là kim lôi, cây gậy đánh chết gọi là mộc lôi, nước dìm chết gọi là thủy lôi, lửa đốt chết gọi là hỏa lôi, đất tường đè chết gọi là thổ lôi. Nếu bị thiên lôi đánh, đó là người cực đại ác mới xui nên.
Đổng Bình nghĩ: “Ta phải đi tìm Hòa thượng đòi gánh lại và cám ơn ông ấy mới được". Nghĩ rồi tiếp tục đi về phía trước. Nào ngờ Tế Điên gánh gánh thịt rồi đi về hướng đường đông người, thả gánh xuống, cầm dao cắt thịt chó. Cắt xong lấy tay chỉ một cái, những miếng thịt chó ấy biến ra nặng mỗi miếng một cân.
Tế Điên rao: Một miếng sáu xu đây.
Người đi đường ở khoảng đó, còn đàng xa nghe mùi thịt chó bay nực mũi. Những người chưa ăn bao giờ nghe mùi thịt chó cũng muốn mua. Thấy chỗ thịt vừa lớn vừa thơm lại vừa rẻ, người này mua ba miếng, người nọ mua năm miếng, người kia mua mười miếng, kẻ tám miếng. Trong chớp mắt bán được một đống tiền. Thịt đã bán xong, còn chừa lại mấy miếng. Tế Điên không bán nữa. Người mua không được thịt chó, tiếc rẻ:
- Đáng tiếc là thịt chó rẻ như vậy mà mình không kịp để mua, tiếc thật.
Có một người mua được bốn miếng thịt, trong bụng mừng lắm, mới nghĩ: - Đúng như lời tục có nói: "Thịt rẻ mũi đánh mùi”. Trong bụng lại nghĩ: “Về nhà đưa cho mẹ con nó hai miếng, còn lại hai miếng rủ anh lại chén một bữa bằng thích!". Nghĩ rồi lại đưa lên ngửi nữa.
Đi vài bước lại giở ra xem, chỗ thịt đã mua mỗi miếng còn hơn nửa cân, lại nghĩ thầm: “Lạ vầy, mình đâu có hoa mắt, hồi nãy thấy mỗi miếng một cân mà. Trong lòng lại sinh ra buồn buồn. Đi một vài bước lại giở ra coi nữa: mỗi miếng thịt chỉ còn có bốn lượng. vài bước lại coi lần nữa: bốn miếng thịt cũng không còn là bốn lượng nữa.
Người mua thịt chó nghĩ: "Hôm nay mình bị ông Hòa thượng hại rồi”, tức giận trở về nhà.
Tế Điên bán thịt chó vừa xong, được một đống tiền vừa hay Đổng Bình tìm đến nói:
- Này Hòa thượng, gánh thịt chó ấy là của tôi đó. Tôi tới đây nói cho ông rõ: Hôm nay nếu ông không cướp gánh thịt của tôi, thì tôi chắc bị tường sập đè chết rồi, tôi trái lại phải xin cám ơn ông nhiều lắm lắm!
Tế Điên nhướng một mắt, nói:
- Bữa nay sáng dậy, ngươi không cãi lộn với má phải không?
Đổng Bình nghe nói thế lấy làm ngạc nhiên, vội hỏi:
- Hòa thượng, ông ở chùa nào vậy?
Tế Điên như thế như thế nói rõ và bảo Đổng Bình:
- Ngươi đem tiền bán được này về làm vốn buôn bán.
Đổng Bình nói:
- Từ ngày mai tôi đổi nghề khác, không làm nghề buôn bán sát sanh nữa, tôi sẽ đi buôn bán trái cây.
Tế Điên nói:
- Ngươi đem gánh và tiền này về đi, để lại mấy miếng thịt chó này cho ta.
Đổng Bình cám ơn Hòa thượng rồi đem gánh về. Tế Điên xách mấy miếng thịt chó thuận đường Tô Đê ở Tây Hồ đi tới. Vừa đi vừa buột miệng ca:
Chăn đơn một mình đắp
Ngủ say giấc thêm nồng
Mộng thấy mình thi đỗ
Vừa ban ân sủng nhiều
Làm quan đến cực phẩm
Cha mẹ được chiếu khen
Áo gấm về làng cũ
Mừng bạn, tế tổ tiên.
Nào hay sực tỉnh giấc hòe
Vẫn là màn cũ giường tre thuở nào
Tiếng gà văng vẳng lao xao
Bên cây tùng cổ dế rào nỉ non.
Thế nhân quá rộn ràng
Đâu biết mình trong mộng
Cũng mộng là hàn sĩ
Cũng mộng vai phú ông
Cũng mộng Đào Chu sang
Cũng mộng Phạm Thúc nghèo
Cũng mộng văn chương hiển đạt
Cũng mộng buôn bán kinh doanh
Cũng mộng ngôi cao tước cả
Cũng mộng chấp chưởng binh quyền
Ly hợp cùng bi hoan
Thọ yểu với cùng thông
Kỹ càng xem xét lại
Thảy đều tại mộng trung
Mới biết: mẹ cha cùng con, vợ
Cháu chắt với anh em
Đều là hợp nhau trong cảnh mộng
Dù cho áo gấm đai vàng
Tán che lọng rước đầy đàng
Nam kha một giấc cũng dường ấy thôi.
Tế Điên vừa đi vừa hát bài cuồng ca, qua Lãnh Tuyền đình, đến ngọn Phi Lai, ngoài cổng chùa Linh Ẩn. Hòa thượng gác cổng là Tịnh Minh, Tịnh An hỏi:
- Tế sư phó, cầm cái gì trong tay đó?
Tế Điên đáp: Ta cầm thịt chó đây, hai vị có ăn không?
- Không được đâu! Hai chúng tôi ăn chay, sư phó cũng không thể đem vào chùa được vì chùa của chúng ta ăn chay, đồ rượu thịt chẳng được vào, rập chim lưới cá cũng không được mang vào, sư phó dù có gan bằng trời cũng không thể mang vào chùa được, mau liệng bỏ đi, sư phó đã phạm giới rồi đó!
- Ta đâu có biết, trên mình nghe ngứa ngáy, chắc là ghẻ (giới) lại mọc (phạm) rồi.
Nói rồi, Tế Điên cúi xuống tìm xem trên người.
- Không phải giới là ghẻ mọc trên người đâu, mà là phạm thanh quy giới luật của người tu hành chúng ta đó. Đã xuất gia làm Hòa thượng phải học hiểu tam quy ngũ giới chớ.
- Thế nào là tam quy, sao gọi là ngũ giới, ngươi nói ta nghe thử!
- Đáng tiếc sư phó là Hòa thượng mà cả tam quy ngũ giới lại không rành! Chúng ta xuất gia làm Hòa thượng thì tam quy là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngũ giới là: kiêng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và uống rượu. Sư phó mau mau liệng thịt chó đi. Đem nó vào chùa, cả hai chúng tôi đều mắc tội không tra xét.
Việc này bị bắt gặp, Giám thị tăng cũng mắc tội nữa.
- Hai ông mà biết cái gì? Đừng ngăn trở cao hứng của ta, ta mang thịt chó vào chùa cho Giám tự ăn đây.
Hai ông Tăng giữ cửa cũng không dám cản ngăn, để cho Tế Điên đi mặc tình. Tế Điên đi vào chùa, đến trước cửa Đại Hùng bửu điện để xâu thịt chó xuống rồi ngồi kế bên nói:
- Ai mua thịt chó lại đây mua.
Chúng Tăng nhân có mười mấy vị đến, những vị Hòa thượng thiện tâm đều nói:
- Tế sư phó, đừng bán thứ này nữa, nếu lão Hòa thượng Giám tự biết được sẽ trị tội sư phó đấy.
Tế Điên nói: Các ông đừng có lo!
Có Hòa thượng vốn ghét Tế Điên, nói: Ông cứ bán đi, ai mà dám lo cho ông?
Tế Điên cũng không cần đếm xỉa tới.
Một lát, Giám tự Quảng Lượng từ đâu tới, nói:
- Tế Điên, ông bán thịt chó, ta cũng thây kệ ông, ông giết một lúc hai con chó, ta cũng để thây kệ ông. Ta chỉ hỏi ông một câu: Hôm nay là ngày gì? Từ hôm lửa cháy lầu Đại Bi, ta phái ông đi hóa duyên, ta thử hỏi ông, công trình hóa duyên một muôn lượng bạc chỉ còn mấy miếng thịt chó này hay sao?
Tế Điên đáp:
- Một muôn tôi chẳng có, tôi chỉ có chín ngàn.
Quảng Lượng nói:
- Ta không nói chuyện tầm phào với ông đâu nhé, ta đưa ông vào ra mắt lão Hòa thượng mới được.
Tế Điên nói:
- Vội chi! Hồi lửa cháy lầu Đại Bi, tôi hẹn với sư huynh là đúng ngọ ngày hôm nay mà, bây giờ còn sớm, còn một giờ nữa mới đến mà. Lát nữa đúng ngọ không có một muôn lượng bạc, tôi với sư huynh vào ra mắt Phương trượng chớ vội gì.
Quảng Lượng nghe thế, nói:
- Được, cho ông đợi thêm một giờ nữa, coi ông lấy đâu ra một muôn lượng bạc cho biết.
Quảng Lượng vừa định bỏ đi thì có hai ông Tăng gác cửa đi vào ra dấu ngăn lại, nói:
- Thưa Quảng sư phụ, bên ngoài xảy ra một việc rất là kỳ lạ. Hai chúng tôi đang ngồi trước cổng chùa, thấy từ đại lộ ở Tây Hồ có hơn một trăm người đi lại, trong đó quan thân phú hộ cũng có, lái buôn cũng có. Dẫn đầu là hai vị viên ngoại cưỡi ngựa, áo quần rất sang trọng, một vị mặt trắng râu dài, một vị rất thanh kỳ cổ quái, mỗi vị đều mang theo hai, ba mươi gia nhân. Đến ngoài cổng chùa, họ kêu hai chúng tôi lại hỏi: Đây có phải là chùa Linh Ẩn không? Chúng tôi trả lời là phải. Hai vị ấy hỏi: Có ngài Phật sống ở trong chùa không? Chúng tôi trả lời, chùa chúng tôi không có Phật sống. Hai vị viên ngoại lại hỏi: Đức La Hán có ở chùa không? Ta nói: Trong chùa, nơi La Hán đường có 500 vị kim thân La Hán, không biết hai vị muốn đốt hương lễ vị La hán nào? Hai vị viên ngoại nói: Không phải chúng tôi tìm tượng đất mà là tìm đức Phật La Hán sống kìa. Chúng tôi đáp là không có. Hai vị ấy nói: Rất tiếc là duyên lành không hợp, thôi chúng ta đi cúng chùa khác. Chúng tôi nói: Hai vị khoan đi đã! Vị Phật sống đó tên là gì? Hai vị ấy nói: Không được, nếu nói ra tên của vị Phật sống, phải tổn thọ hết mười năm sao? Chúng tôi nói: Viên ngoại cứ nói đi, hai chúng tôi xin chịu tổn thọ thay cho. Hai vị ấy chắp tay cúi đầu rồi. sau mới nói: Hai đứa tôi tổn hết 30 tuổi thọ rồi đó. Quảng sư phụ thấy như thế có khổ không?
Giám tự nói:
- Phật sống là vị nào thế? Hai ông nói không rõ làm sao ta biết? Tịnh Minh nói.
- Không được đâu, hai đứa tôi không thể nói được. Theo cách viết tám chữ để đoán số mạng thì tôi chỉ sống có 53 tuổi thôi. Năm nay tôi 22 tuổi rồi, vừa rồi tổn hết 30 tuổi, sớm chiều lật bật, sang năm phải chết rồi. Bây giờ nói nữa hết tuổi để giảm rồi chắc phải chết ngay quá.
Giám tự nói:
- Không hề chi, hai ông cứ nói đi, ta xin chịu tổn thọ thay hai ông 10 năm.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 16 [/align]



Tế Điên Trong Chùa Bán Thịt Chó
Thân Đến Linh Ẩn Tìm Thánh Tăng




Có thơ rằng:
Muôn duyên bặt dứt tâm không việc
Chỉ có rỗng rang tánh thản nhiên
Bên cửa nhìn đêm qua mấy độ
Sông dài trăng sáng chiếu ngoài hiên.
Giám tự tăng Quảng Lượng nghe Tịnh Minh nói thế vẫn muốn biết Phật sống là ai. Tịnh Minh nói:
- Nếu tôi nói ra, sư phụ phải chịu tổn thọ mười năm đa! Phật sống chính là Đạo Tế trong chùa chúng ta đó. Sư phụ bị tổn thọ mười năm rồi đấy nhé!
Giám tự nghe thế hỏi:
- Ôi dào! Đạo Tế hả?
Tịnh Minh nói:
- Bị tổn hai mươi năm rồi đấy!
Quảng Lượng nói:
- Cái ông Đạo Tế đó mà ăn nhằm gì!
Tịnh Minh nói:
- Đấy, đấy, sư phụ lại tổn ba mươi năm đấy nhé!
Quảng Lượng nạt:
- Ông đừng nói tầm ruồng! Hàng ngày ông ấy ở trong chùa đâu có bán thịt chó như vầy. Hôm nay vừa có người đến tìm lại bày trò kỳ cục như vậy. Thôi, được rồi!
Mấy vị Hòa thượng y hậu chỉnh tề, đánh chuông trống Bát nhã, ra cổng chùa đón rước. Nhìn thấy trong đám Tăng nhân không có Tế Điên, hai vị viên ngoại giận nói:
- Thưa quý vị, các người lại đây xem, đám Tăng nhân này đều là dùng yêu ngôn hoặc chúng, giả trang thiền tướng, chỗ này không hợp thiện duyên, thôi chúng ta đi cúng chùa khác.
Quảng Lượng bước ra nói:
- Quý vị đi theo tôi sẽ gặp Phật sống.
Hai vị viên ngoại cùng mọi người vào trong cửa chùa thì thấy Tế Điên đang ở trước Đại Hùng bửu điện, ngũ lim dim, trong miệng còn nói: - Thịt chó sáu xu một miếng đây? Hai vị viên ngoại thấy vậy mới nói:
- Quý vị hãy xem kìa, đó mới là khí tượng của Phật sống La Hán chớ, chúng ta hãy tới cúi đầu lễ chào Ngài đi.
Quảng Lượng nghe nói trong lòng không vui, nghĩ rằng: "Bọn mình đắp y, đánh chuông trống đón tiếp họ mà họ lại nói bọn mình là yêu ngôn hoặc ngữ, giả trang thiền tướng, còn Đạo Tế bán thịt chó như vậy họ lại cho là Phật sống La Hán chớ!".
Thấy mọi người đều quỳ xuống, dập đầu đảnh lễ mà Tế Điên vẫn nét mặt hiu hiu không thèm để ý tới. Quảng Lượng sợ thí chủ không vui, vội bước tới nói:
- Ông Đạo Tế này thiệt không biết điều chút nào hết, các vị thí chủ đến bái phỏng sao ông không thù tiếp?
Tế Điên còn chưa trả lời, hai vị viên ngoại lại nổi giận, đứng dậy nói:
- Ông Hòa thượng này vô lễ quá, sao dám rầy Phật sống hử?
Báo hại Quảng Lượng hết hồn, lui lại mấy bước, không dám trả lời.
Tế Điên từ từ mở mắt ra, hỏi:
- Các vị thí chủ đến đó hả, đến có việc gì thế?
Vị viên ngoại áo trắng nói:
- Đệ tử đã lâu ngưỡng mộ đại danh Thánh tăng, đặc biệt hôm nay xin đến hỏi về thiền.
Tế Điên nói:
- Đói hả? Ăn một miếng thịt chó đi!
Vị viên ngoại ấy lắc đầu nói:
- Đệ tử không ăn.
Vị viên ngoại mặc áo lam kia nói:
- Đệ tử cũng đã lâu ngưỡng mộ đại danh Thánh tăng, đặc biệt hôm nay xin hỏi về thiền cơ, đệ tử lại hỏi cơ.
Tế Điên đáp:
- Cơ là đói. Đói thì ăn miếng thịt chó đây.
Vị viên ngoại kia nói:
- Hai đệ tử nguyên là hỏi về thiền cơ diệu lý, chớ không phải tài cơ là đói khát, hai tiếng ấy âm tuy giống mà chữ khác nhau.
Tế Điên nói:
- À, té ra hai vị hỏi hai chữ tài cơ, Hòa thượng mới biết.
Hai vị viên ngoại nói: Chỉ cần sư phụ nói đúng, là con tình nguyện sửa lợp lầu Đại Bi, bằng nói không đúng thì thiện duyên nơi này không hợp, chúng con đi cúng chùa khác. Tế Điên nói:
- Hai vị nghe đây:
Trong núi có nước,
Trong nước có cá,
Ba bảy cộng làm hăm mốt
Người có mặt, cây có da
Đó, lọp, rọ, nơm chẳng rửa bùn
Người muốn qua Đông, kẻ sang Tây
Không ăn hết nếp, xơi hết thóc
Con đó đúng tên là gà đói.
Hai vị viên ngoại nghe nói lắc đầu lia lịa:
- Cái mà chúng con muốn hỏi là lẽ áo diệu trong Phật môn, thiền của tham thiền, cơ của thiên cơ, sư phụ nói nãy giờ không trúng chỗ đó.
Tế Điên nói:
- Chà, hai ông này khẩu khí lớn dữ á, dám hỏi chỗ áo diệu trong Phật môn nữa! Thiền cơ hả? Được, được! Nếu Hòa thượng ta nói đúng thì sao?
Hai vị viên ngoại nói:
- Nếu sư phụ nói đúng thì hai đệ tử xin trợ giúp tiền bạc để lợp sửa lầu Đại Bi lại.
Tế Điên nói:
- Vậy thì hai ông hãy nghe đây:
Phải biết tham thiền (đều) không phải thiền
Nếu hỏi thiên cơ nào có cơ?
Cơ chủ không hư, thiền chủ tịnh
Tịnh không, không tịnh ấy thiên cơ.
Hai vị viên ngoại nghe xong vỗ tay cười lớn, nói:
- Phật pháp của ngài La hán mở hẳn chỗ tối tăm của đệ tử. Nè, ông Giám tự, cho tôi xem sổ hóa duyên đi.
Quảng Lượng lật đật lấy quyển sổ hóa duyên và văn tòng tứ bửu đem đến. Vị viên ngoại mặc áo trắng nói nhường:
- Hiền đệ hãy viết vào trước đi!
Vị viên ngoại kia nói:
- Nước to chảy chậm không nhanh bằng thuyền buồm, huynh trưởng nên viết trước đi.
Vị viên ngoại áo trắng cầm bút lên, lại hướng về phía hơn ba trăm người kia, nói:
- Xin mời quí vị viết vào sổ hóa duyên.
Mọi người đều nói:
- Nước to chậm hơn con vịt bơi, viên ngoại viết trước là phải. Mọi người cười ha hả, nói:
- Sông dài con vịt nổi, câu đó càng đúng hơn.
Vị viên ngoại áo trắng bắt đầu viết: Trước hết, vì số một là vô danh thị cúng bạc một muôn lượng.
Vị viên ngoại áo lam cầm sổ hóa duyên lên xem nghĩ: "Chúng ta đến đây cố ý giúp Tế Công một tay. Anh ấy đã viết một muôn lượng, ta không thể viết chữ ngàn được”. Nghĩ rồi bèn cầm bút viết: Thứ hai: danh thị giúp bạc một muôn lượng.
Còn lại những người kia, có người viết 30 lượng, người viết 50 lượng, viết bạc lấy bạc đưa, viết tiền lấy tiền đếm ngay. Những người này nguyên là thân phú hộ ở thành Lâm An, do Tế Điên bình thời khuyên hóa trước, hôm nay đặc biệt đến đương tràng. Viết xong vị viên ngoại áo trắng vào phía trong ngồi và nói với Giám tự: “Mười sáu trại cưa lớn ở trong và ngoài thành đem những cây gỗ cúng cho chùa Linh Ẩn dùng vào việc sửa lợp nóc lầu Đại Bi, chừng nào lợp xong thì thôi, nhiều ít không kể”. Mọi người nói rồi cáo từ ra về.
Tế Điên mới hỏi Quảng Lượng:
- Này sư huynh, số bạc này đủ sửa lầu Đại Bi chưa?
Giám tự Quảng Lượng nói:
- Giàu có dư dả là đằng khác.
Tế Điên nói:
- Vậy thì sư huynh kêu thợ động công đi, tôi tới nhà thí chủ chơi vài ngày nhé.
Nói rồi xách xâu thịt chó ra khỏi chùa Linh ẩn đi mất. Giám tự Quảng lượng tìm gỗ đá, chọn ngày hoàng đạo khai công động thổ, động nền cân tảng, dựng cột gác kèo, qua không bao ngày, gạch ngói đều đã có đủ, trộn hồ, tô vách, tất cả sửa sang hoàn hảo, chỉ còn sơn phết tô vẽ bề ngoài. Nào dè hảo sự gặp khó khăn, một hôm có người đến báo cáo, hiện có bốn vị quản gia ở Tần tướng phủ, mang theo bốn vị nhị gia hiện xuống ngựa ở ngoài cổng chùa. Giám tự Quảng Lượng xem thấy lật đật ra ngoài nghinh tiếp.
Các vị quản gia đến không phải là không việc gì, nhân vì 25 gian Các Thiên lâu ở hoa viên Tần Thừa tướng bị hỏa hoạn, dự định trùng tu lại ngôi lầu này, thừa tướng kêu quản gia đến các trại cưa lớn để mua gỗ to, hơn mười mấy trại cưa đều nói:
- Ông chủ tôi đã cúng cho chùa Linh Ẩn số cây gỗ này để sửa lầu Đại Bi rồi.
Quản gia trở về bẩm báo lại, Tần Thừa tướng nói:
- Có một tòa lầu Đại Bi ở chùa Linh Ẩn mà sao xử dụng nhiều cây gỗ thế?
Bèn phái Tần An, Tần Thuận, Tần Chí, Tần Minh bốn người đến chùa Linh Ẩn, nói:
- Cho ta mượn tạm số cây gỗ lớn để sửa lầu, sang năm chờ cây gỗ của triều đình về, ta sẽ y số phụng hoàn lại.
Bốn người vâng dạ ra đi. Tần Thừa tướng nói:
- Lát nữa, các ngươi tới chùa Linh Ẩn, nếu nhà chùa cho mượn thì thôi, nếu không cho mượn ấy là bổn phận của họ, phải trở về ngay, ngàn muôn lần chớ nên ỷ thế cậy quyền hiếp đáp nhà chùa nhé.
Bốn vị quản gia vâng dạ ra đi, đến ngoài cửa chùa, Tần Thuận nói:
- Nhè công việc khó nhọc này lại phái chúng ta, xu tiền lót cũng không có, thiệt là vận đen.
Tần An nói:
- Này bạn, đừng có hồ đồ! Trong công việc này, người chúng ta, mỗi người sẽ có hai ngàn lượng bạc tiền lót đấy.
Tần Thuận nói:
- Đại ca, bộ anh khùng sao? Chúng ta mượn cây gỗ của nhà chùa, nếu được, chúng ta trình Thừa tướng sai người đến lấy, còn không được, chúng ta trở về trình lại chớ có tiền bạc gì đâu?
Tần An nói:
- Chú mày nói không đúng! Ăn chén cơm này phải kiếm mâm khác nhiều hơn chớ. Lần này đến chùa họ mượn gỗ lớn, họ cho mượn rồi chúng ta về không à? Ta phải đến đó đừng nói chuyện mượn gỗ trước mà nói Thủ tướng có dụ: "Dỡ lầu Đại Bi để lợp Các Thiên lâu”. Nhà chùa chắc chắn không chịu dỡ, họ sẽ cho người đến gặp chúng ta, và chi cho chúng ta từ 3.000 lượng đến 5000 lượng. Sau đó chúng ta mới nói đến chuyện mượn gỗ lớn, nhà chùa cho mượn rồi, chúng ta trở về trình với thừa tướng là nhà chùa chịu bán số gỗ đó. Thừa tướng lại xuất ra mấy ngàn lượng, chúng ta bốn người giữ lại một phần, đó không phải là được bạc cả hai phía sao?
Tần Thuận nghe nói, khen:
- Huynh trưởng quả là người cao kiến!
Rồi dặn bên ngoài chuẩn bị yên cương, đem theo hơn hai mươi kẻ tùy tùng. Hai mươi cỗ ngựa đi ra phường Tần Hòa, qua cửa Tiền Đường, thẳng đến Phi Lai Phong, đến trước chùa Linh Ẩn xuống ngựa đứng chờ. Ông tăng giữ cổng ngó thấy nhóm quân gia của Tần tướng phủ lật đật ra thi lễ rồi vào thông báo. Quảng Lượng ra cửa nghinh tiếp, mời bốn vị quản gia vào trong thiền đường, dặn các tiểu Sa di bưng trà hiến mời.
Quảng Lượng nói:
- Các vị quản gia đại nhân, hôm nay chẳng hay quý vị đi du sơn hay chơi miếu?
Tần An nói:
- Chúng tôi không phải đi du sơn hay chơi miếu, mà vâng đường dụ của Thừa tướng nhà tôi đến đây dạy các ông phải dỡ lầu Đại Bi lấy vật liệu đem lợp Các Thiên lâu nơi hoa viên tướng phủ.
Giám tự Quảng Lượng nghe nói, miệng niệm: "Nam mô A Di Đà Phật", nói:
- Tòa lầu Đại Bi này công trình quá to tát, độc lực khó thành, biết bao quý quan trưởng giả, thiện nam tín nữ đóng góp của tiền, chung kết thiện duyên mới có thể sửa lợp lại được như thế này mà hãy còn chưa xong hôm nay lại một lần tháo dỡ ra nữa, không biết ngày nào tháng nào mới có thể trùng tu được? Cầu mong quí vị đại nhân ở trước mặt Thừa tướng lựa lời khéo léo giúp cho vài câu.
Tần An còn do dự chưa trả lời, Tần Thuận bèn nói:
- Đường dụ của tướng gia cũng gần như thánh chỉ, ai dám trái cãi? Bất luận là ai, cãi lại một câu sẽ bị vào ngục ngay tức khắc.
Tần An dòm Tần Thuận một mắt, nghĩ đáng lẽ phải nói: "Để tôi trở về bẩm với tướng gia, nếu tướng gia chịu thì ông cũng được vui, nếu tướng gia không đồng ý thì ông cũng đừng phiền. Đợi có người đem tiền đến cho chúng ta thì kể như tướng gia bằng lòng, nếu không đủ tiền thì ý tướng gia không chịu”. Hắn ta nói câu đó khác nào đóng cửa rút cầu. Tần An cũng không tiện cái chánh.
Giám tự Quảng Lượng nghe thế, nói:
- Chư vị đại nhân đã muốn dỡ, để tôi vào trình với lão Hòa thượng đã.
Tần Thuận nói:
- Ông trình với Hòa thượng ta cũng dỡ, mà không trình ta cũng dỡ.
Quảng Lượng lật đật ra sau thiền đường ra mắt lão Hòa thượng Nguyên Không trưởng lão, nói:
- Khải bạch lão Hòa thượng, hiện có bốn vị quản gia đại nhân ở Tần tướng phủ đến chùa chúng ta nói Thừa tướng có lệnh dụ bảo dỡ lầu Đại Bi lợp sửa Các Thiên lâu của tướng phủ. Con không dám tự chuyên, phải vào bẩm bạch cho lão Hòa thượng rõ.
Lão phương trượng nghe nói, miệng niệm:
- Nam mô A Di Đà Phật, này Quảng Lượng, lão Tăng năm nay niên kỷ đã cao, lầu Đại Bi này là của Đạo Tế khuyến hóa, ông nên thương lượng với ông ấy.
- Đạo Tế đi đâu mất từ hôm động thổ sửa lầu rồi, Quảng Lượng nói, đến nay cũng chưa thấy về.
Lão Hòa thượng nói:
- Ông thử ra cổng chùa xem ông ấy về chưa?
Quảng Lượng nghe lời Lão phương trượng vội bước ra cổng chùa, xem thấy bốn vị quản gia phái các vị tam gia ở nơi đó truyền tướng dụ rằng:
- Bọn thợ các ngươi hãy nghe cho kỹ đây! Tướng phủ có lệnh dụ bảo dỡ lầu Đại Bi sửa lợp Các Thiên lâu của tướng phủ, ai dám nói lời ngăn cản lập tức sẽ bị giải giao cho quan huyện Tiền Đường trị tội.
Những người thợ lợp ngói, thợ mộc, thợ nề, thợ sơn vẽ... làm sao dám chống lại đường dụ của tướng gia, tức thì, cuốc xẻng huơ động, cát đất bay tứ tung, trong chớp mắt tòa lầu Đại Bi bị đập phá, ngói gạch rã rời. Giám tự tăng nhìn thấy, trong lòng rất lấy làm khó chịu, tự nghĩ: "May mắn ông Hòa thượng khùng đó không có trong chùa, nếu có ông ấy chắc là sinh họa lớn!".
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 17 [/align]



Giả Tướng Dụ Dỡ Phá Lầu Đại Bi
Hiển Thần Thông Giận Đánh Ác Đô Quản




Có thơ rằng:
Trong non chẳng thấy đổi nga kinh
Kinh quốc luống còn bệnh hạc danh
Chơn tích đã theo rồng bay Tuất
Đến nay còn lại tuyết Lan Đình.
Giám tự tăng còn đương đứng than thở, thấy Tế Điên từ Tô Đê ở phía Tây Hồ khật khưỡng đi về. Tế Điên từ hôm ra khỏi chùa Linh ẩn đến ở nhà Tô Bắc Sơn và Triệu Văn Hội chơi ít ngày. Hôm nay Tế Điên đang đánh cờ với Tô Bắc Sơn ở trong phòng, bỗng hắt hơi một cái, bèn án linh quang rõ biết mọi việc, nói:
- Tô Bắc Sơn này, hôm nay ta phải đi, Tần thừa tướng sai người đến dỡ lầu Đại Bi ở chùa ta, ta phải chống lại thằng cha Tần thừa tướng này mới được.
Tô Bắc Sơn nói:
- Thánh tăng không nên làm thế ông ấy là tướng đương triều, vị hiển tước cao, còn sư phụ là người xuất gia đâu có chống nổi ông ấy.
Tế Điên cũng không thèm lý tới, đứng dậy bước ra cửa. Tô Bắc Sơn lật đật chạy theo, thấy Tế Điên đã đi xa rồi. Tế Điên đi thẳng về phía cửa Tiền Đường, thuận theo Tô Đê đi tới, vừa đi vừa hát:
Người đời trăm tuổi có bao lâu
Mới khóc oe oe đã bạc đầu
Ngày tháng xuân xanh chừng bao nả
Đắng cay nhàn tản lẫn lo âu
Trên đời tiền của bao người được
Quan chức trong triều lắm kẻ cầu!
Quan to của lắm càng thêm bận
Chỉ tội tóc xanh sớm bạc đầu
Trăng quá Trung Thu trăng chẳng tỏ
Hoa trải ba thu hoa kém màu
Thung dung nhàn hạ bao nhiêu khắc?
Say tít cung thang dốc rượu bầu
Gò hoang cao thấp bao nhiêu nấm?
Mỗi độ xuân sang cỏ dãi dầu!
Tế Điên hát vừa xong cũng vừa đến trước cổng chùa. Quảng Lượng ngó thấy, nói:
- Sư đệ về đó hả? Không xong rồi! Chùa chúng ta hiện có đại họa kinh thiên.
Tế Điên nghe nói, tuy biết hết nhưng cố hỏi:
- Này sư huynh, đại họa kinh thiên gì thế? Không hề gì đâu, tất cả để Tế Điên tôi lo cho. Cái đó làm sao có thể dung thứ được? Sư huynh nghĩ xem tôi có thể nào để họ hiếp đáp các Hòa thượng chùa này hay sao?
Quảng Lượng nói:
- Sư đệ ơi sư đệ không cản nổi việc này đâu! Việc này là Tần thừa tướng phái bốn vị quản đại nhân đến dỡ lầu Đại Bi của chùa ta về lợp sửa Các Thiên lâu tướng phủ đó.
Tế Điên nói:
- A! Ông ấy là Tể tướng đương triều đường dụ muốn dỡ lầu Đại Bi, thì được dỡ. Qua vài ngày sau, quan Kinh dinh viện sư truyền dụ dỡ Đại Hùng bửu điện rồi cũng cho ông ấy dỡ. Cái đó hãy còn được! Cách vài hôm bên phủ Lâm An đưa thư đến dỡ Đông lang, Tây lang cũng cho ông ấy dỡ. Lại mấy bữa nữa, huyện Tiền Đường huyện Nhơn Hòa đưa thư đến muốn dỡ Tàng kinh các cũng cho người ta dỡ nốt. Cái đó hãy còn được? Chớ lầu Đại Bi này là do tôi hóa duyên, tôi không để cho họ dỡ đâu!
Giám tự Quảng Lượng nghe nói thế, nghĩ thầm: “Lâu nay ông ấy coi bọn ta không ra gì, nhân cơ hội này cho ông ấy bị một trận cho bỏ ghét”, mới nói:
- Ờ sư đệ dám cản lại không cho dỡ thì sẵn có bốn vị quản gia đang ngồi uống trà bên trong thiền đường kia, sư đệ cứ tìm đến mà nói, ta chỉ sợ e sư đệ gặp họ rồi run lập cập nói không ra lời ấy.
Tế Điên hơi cười nhạt, nói:
- Sư huynh để mặc tôi, và đi thẳng về phía Thiền đường.
Trong viện rộng lớn gồm có ba phòng họp lại, có mười mấy vị tam gia đang đứng bên ngoài, có bốn quản gia đang ngồi uống trà bên phòng trong, thấy có một ông hòa thượng kiếc, áo quần tả tơi từ ngoài đi vào, mấy vị tam gia liền ngăn lại hỏi: Ai đó?
Tế Điên đáp: Ta đây.
Tam gia nói:
- Ông là ai? Quý vị đại nhân đang nói chuyện, ông là một Hòa thượng kiếc đến đây có chuyện gì? Ông ở chùa nào thế?
Tế Điên nói: Ta ở Cô Tử am.
Vị tam gia kia nói:
- Ông nói giả ngộ sao chớ. Ông là Hòa thượng sao lại ở am ni cô? Nam nữ lộn xộn như vậy?
Tế Điên nói:
- Ông không biết đó chớ, vị lão ni cô ở am đó đã chết rồi, còn vị tiểu ni cô thì đi theo người ta mất, ta ở đó coi chùa thôi. Nghe nói các vị đại nhân cần cây gỗ lớn, trong chùa chúng tôi xà rường đòn tay chất như núi, cái nào cái nấy to quá là to! To đến nỗi nếu đem cây xà nhà để ở đây, hai người ngồi hai bên thì người bên này không nhìn thấy người bên kia được.
Các vị tam gia nghe nói, khen:
- Chà, cây xà nhà lớn quá!
Tế Điên nói:
- Còn cây kèo của chùa tôi nếu để ở đây thì hai người ngồi ở hai bên, chả ai thấy ai.
Các vị tam gia nghe thế đều vui vẻ nói:
- Này Hòa thượng, bây giờ ông tính sao? Có muốn bán không hay để tặng cho đại nhân chúng tôi.
Tế Điên nói:
- Ta lại không có ý bán cho đại nhân, chỉ kêu đại nhân thưởng cho ít xu mua cái quần thay là được rồi.
Bên trong Tần An nghe nói rõ ràng, lòng nghĩ. "Thế thì dễ lắm". Vội sai người kêu Tế Điên vào.
Các vị tam gia nói:
- Này Hòa thượng, đại nhân chúng tôi kêu ông đó! Ông gặp đại nhân chúng tôi thì đàng hoàng một tí nhé, đừng nói nhăng nói cuội như thế không được đâu!
Tế Điên không thèm trả lời, vén rèm bước thẳng vào trong. Tần An, Tần Thuận, Tần Chi, Tần Minh đồng nhìn lại, té ra là một ông Hòa thượng kiếc.
Tần An hỏi:
- Này ông Hòa thượng, nghe nói chùa ông có cây gỗ lớn phải không? Tế Điên hai mắt liếc ngang một cái, hỏi:
- Bốn vị ở đâu đến đây?
Bốn vị quản gia nói:
- Chúng tôi ở phủ Tần thừa tướng phái đến, đường dụ của đại nhân là dỡ lầu Đại Bi về sửa lợp lại Các Thiên lâu ở hoa viên tướng phủ.
Tế Điên hỏi:
- Bốn vị vâng đường dụ của đại nhân trong nhà các ông đến dỡ lầu Đại Bi phải không?
Bốn vị quản gia nói:
- Trong nhà của chúng tôi làm gì có đại nhân?
Tế Điên nói:
- Ối chà, trong nhà của các ông, cả đến đại nhân (bà xã) cũng không có nữa, chả trách các ông không biết quái gì hết! Các ông về thưa lại với đại nhân các ông nhé. Cứ nói Hòa thượng ta nói như vầy: "Ông ấy làm đến Thủ tướng, vị ở Tam thai, điều hòa chức vị tam công, một đại thần giữ việc điều hòa lý âm dương, lý ra phải làm lành, tích bồi phước đức, sao lại vô cớ đến đây hủy phá chùa chiền thế?". Các ông cứ trở về bẩm báo đúng như lời ta nói nhé!
Các vị quản gia đời nào chịu nghe những lời dạy trịch thượng đó, nên không hẹn mà tất cả đều đỏ mặt tía tai, lửa giận bừng bừng. Tần An nói:
- Cha chả, hay cho ông Hòa thượng khùng khiệu này, ta hãy đánh ngươi trước đã.
Nói rồi giơ tay lên nhắm Tế Điên xáng một bạt tai.
Tế Điên bước tránh qua một bên, nói:
- Ông muốn đánh hả? Ta với ông ra ngoài kia đọ sức chơi.
Tần An liền đứng dậy bước theo Tế Điên, hét bảo gia nhân:
- Đánh Hòa thượng này cho ta.
Mấy vị tam gia bước tới vây Tế Điên vào giữa, cung tay nhắm ngay miệng Hòa thượng đánh tới, tay thoi chân đá lia lịa, đánh đến nỗi thở chẳng ra hơi. Chợt nghe có người la:
- Đừng đánh! Ta đây mà!
Mấy vị tam gia nói:
- Ngươi bị đòn đáng lắm, không thể tha thứ được. Rơi vào tay chúng ông là phải chết! Nhè hùm mà dám vuốt râu chớ!
Đương lúc mọi người đấm đá tưng bừng, bỗng Tần Thuận chạy lại nói:
- Đừng đánh nữa! Ta nghe tiếng hình như không phải, coi kỹ lại rồi hãy đánh tiếp. Không xong rồi đa! Ông Hòa thượng còn đứng đằng kia kìa.
Mọi người dòm lại, quả nhiên thấy Tế Điên đang đứng cười hề hề. Cúi xuống nhìn kỹ, thì ra người đánh chính là Đại đô quản Tần An, thương tích đầy mình.
Một vài gia nhân chạy lại hỏi:
- Thưa quản gia, tại sao lão gia lại bị đánh như thế này?
Tần An nói:
- Các ngươi mượn việc công báo thù riêng, ta bảo các ngươi đánh ông Hòa thượng, các ngươi lại nhè ta mà đánh. Ta nói: Ta đây mà. Các ngươi còn nói: Ngươi đáng đòn lắm. Được, được, được lắm!
Tần Chí, Tần Minh lật đật chạy lại xem, thấy thương thế Tần An rất nặng, nói:
- Chà, chuyện này chắc chắn là do yêu pháp tà thuật của Hòa thượng mà ra đây. Tụi bây phải đánh ông ấy cho ta.
Các vị tam gia nghe nói đều trợn mắt nổi giận chạy đến vây lấy Tế Công.
Tế Điên nói:
- Hay thay! Hay thay! Người lành có người khi, ngựa giỏi có người cưỡi.
Miệng niệm lục tự chơn ngôn: "Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích!". Tức thì các vị tam gia đùng đùng nổi giận đánh nhau chí chết.
Trương Thắng nhìn Lý Lộc, nói:
- Thấy mặt mi ta chịu không được, muốn đánh cho bể đầu chó mi cho rảnh.
Lý Lộc nói:
- Được, lại đây ta cho biết mùi.
Bên kia cũng giống như vậy. Mười tám người chia làm chín cặp quyết sống mái.
Tần Minh nhìn Tần Ty nói:
- Tần Ty nè, mi ngoại hiệu là Tần Thúc, ta biết rằng đánh không lại mi, nhưng không đánh ta chịu không được.
Nói rồi huơ quyền đánh nhầu tới.
Tần Thuận thấy Tần An thương tích đầy mình, nói:
- Ta nói cho mi biết, hễ thấy mi là ta bắt giận rồi, mi bị tụi nó đánh mặt xanh môi tím như vậy mới vừa lòng ta.
Cãi cọ một lát, hai người xáp nhau đánh làm một cặp.
Tế Điên đứng ngoài cười hề hề, nói:
- Hà hà, ai bảo kêu đánh nhau chi?
Trong bọn có kẻ nói: Tôi đánh không lại nó.
Tế Điên nói:
- Để ta giúp sức ngươi đánh cho nó mấy quả.
Bèn giúp người đó lấy lại thăng bằng cuộc diện. Trong bọn đánh nhau, có người sưng môi ôm lỗ tai của người kia mà cắn, người nọ lật đật chộp mũi của đối phương mà cắn.
Trong lúc mọi người đang đấm đá nhau túi bụi, Giám tự đi ngang thấy vậy, nói:
- Này Đạo Tế, ông thiệt gây họa chẳng nhỏ rồi. Như quản gia của Tần tướng phủ mà ông cho đánh nhau tơi tả như thế, không được đâu nghe. Mau mau thâu phép lại đi!
Tế Điên nói:
- Sư huynh nè, nếu không nể tình sư huynh, tôi nhất định sẽ cho bọn giặc này đánh nhau chí chết mới thôi. Hôm nay tha cho bọn họ. Thôi đừng đánh nhau nữa!
Một câu ấy vừa nói ra, mọi người tức thì dừng tay tỉnh lại, vẫn còn ấm ức trong lòng.
Có kẻ nói: Anh Thăng nè, tôi với anh vốn là bạn tri giao, tại sao anh lại đánh tôi đau quá vậy?
Liên Thăng nói: Tôi đâu có biết, anh xem xem lỗ tai tôi đây chẳng bị anh cắn đứt là gì?
Người kia nói: Thôi đừng nói nữa. Cái mũi tôi sứt mất vì ai đây?
Các vị tam gia đều oán hận Tần An vô cớ gây phiền. Tần An hỏi Giám tự tăng:
- Ông Hòa thượng điên kia ở chùa nào vậy? Đừng để ông chạy đi nhé! Lát nữa không có ông ấy, ta bắt ông thế đa!
Nói rồi bảo một vị tam gia thay ngựa ra khỏi chùa Linh Ẩn. Trên đường thúc ngựa phi nước đại hãy còn chê chậm. Về đến tướng phủ, mới xuống ngựa, gặp một vị đồng sự, vị ấy hỏi:
- Các anh làm sao trở về với dáng điệu thất vọng thế?
Tần An mới đem câu chuyện đầu đuôi thuật lại. Người kia nói.
- Khi gặp Thừa tướng anh đừng nói thiệt, chỉ yêu cầu tướng gia làm chủ bắt bọn hung tăng ấy đi.
Tần An vào đến thư phòng, Tần thừa tướng đang xem sách, ngước lên hỏi:
- Bọn ngươi đến chùa Linh Ẩn mượn gỗ lớn, tại sao lại về tơi tả thế?
Tần An thưa:
- Bọn nô tài vâng lệnh dụ của đại nhân đến chùa Linh Ẩn nơi Tây Hồ mượn gỗ lớn, các Hòa thượng trong chùa đều thuận ý cho đại nhân mượn, chỉ có một ông Hòa thượng điên chẳng những không cho mượn mà còn làm nhục chúng tôi nữa. Cầu xin tướng gia làm chủ cho việc này.
Tần Thừa tướng nói:
- Cha chả, chùa Linh Ẩn lại có Hòa thượng khùng cả gan dám đánh gia nhân của ta, thiệt là đáng giận.
Tức thì lấy bút son phê lên tiêu bài, truyền đến Kinh doanh soái phủ, điều động hai viên tướng, 500 binh, các huyện nha sở tại đều đem quan binh đến vây chùa Linh Ẩn, bắt Hòa thượng khùng.
Đăng nhập để trả lời
0
Thứ 18 [/align]



Binh Vây Chùa Linh Ẩn Bắt Trói Tăng Khùng
Giễu Cợt Ban Đầu Nhậu Say Vào Tướng Phủ




Có thơ rằng:
Khói xa mù mịt giọt mưa bay
Bức họa không lời ít kẻ hay
Ngàn dặm núi sông xem chẳng chán
Khiến người nức nở gọi thiên tài.
Đạo tiêu bài của Thừa tướng truyền ra, Kinh doanh soái liền phái hai viên tướng, 500 binh, phủ Lâm An phái 8 vị Ban đầu, huyện Nhơn Hòa phái 8 vị Ban đầu, mỗi vị đều dẫn theo một số sai dịch kéo đến bao vây chùa Linh Ẩn.
Các vị Ban đầu tiến vào chùa hỏi Lão phương trượng:
- Ông Hòa thượng khùng đâu rồi?
Lão Phương trượng nói: Tôi đâu có biết.
Các vị Ban đầu giơ roi sắt lên, bắt Nguyên Không lão phương trượng trói lại, nói:
- Trong chùa ông lớn mật thiệt, nhè quản gia của Tần tướng mà dám đánh chớ.
Thị giả chạy đến van xin đừng trói vị lão Hòa thượng, Ban đầu cũng bắt thị giả trói luôn. Tri khách chạy lại che chở cho thị giả cũng bị trói nốt. Cả Giám tự tăng cũng bị trói chung. Tất cả năm vị Hòa thượng bị áp giải đến Tần tướng phủ. Tần thừa tướng lập tức thăng tòa hoa sảnh, bên ngoài có 70 gia tướng đứng hầu hai bên.
Các vị đương sai đi vào bẩm báo: Hiện đã bắt được lão Phương trượng ở chùa Linh Ẩn giải về đây.
Tần thừa tướng căn dặn: Hãy đưa mấy vị tăng nhân vào ngay!
Lập tức tả hữu truyền lời: Tướng gia có lời dụ, đưa các tăng nhân vào hầu.
Các vị đương sai đưa năm vị Hòa thượng đến trước rèm. Lão phương trượng ngồi ở đó, còn các vị kia đều quỳ. Thừa tướng ở bên trong nhìn ra cách rèm thấy rõ hết, còn các tăng nhân bên ngoài nhìn vào chẳng thấy.
Thừa tướng bên trong hỏi ra:
- Trong mấy vị Hòa thượng đây, ai là Hòa thượng khùng? Hãy thông tên ra mau!
Bên dưới, các tăng nhân đều lần lượt xưng tên: Lão phương trượng nói: - Tôi là Nguyên Không, Phương trượng chùa Linh Ẩn. Vị kia nói: - Tôi là Giám tự tăng Quảng Lượng. Vị kia nói: - Tôi là Tri khách Đức Diệu. Vị kia nói: - Tôi là thị giả Tô Đoan. Vị sau cùng nói: - Tôi là trai đầu Huệ Đăng.
Tần thừa tướng hỏi:
- Trong nhóm các ông đây không có ông thầy khùng sao? Ta sai người đi bắt trói ông ấy vì tội dám đánh quản gia nhà ta đấy.
Quảng Lượng thưa:
- Kính bẩm đại nhân, ông Hòa thượng khùng Tế Điên ở trong chùa chúng tôi, chính là đồ đệ của Lão phương trượng. Các vị quản gia đến chùa bị ông ấy thi triển pháp thuật yêu tà đánh quản gia đại nhân, chúng tôi ngăn cản không được. Cầu xin đại nhân đặc biệt gia ân xét xử, chúng tôi thiệt vô can trong việc này.
Tần thừa tướng bên trong nghe rõ, bèn dặn thủ hạ gia nhân truyền dụ cho đầu dịch các phủ huyện đi bắt ông thầy khùng.
Riêng mấy vị Ban đầu ở huyện Tiền Đường đang đi lùng tìm trong chùa, tìm đến chỗ lầu Đại Bi đang dỡ thấy có một ông tăng đang nhìn lầu Đại Bi bị dỡ phá mà lấy tay chỉ chỉ chỏ chỏ.
Các người thợ mộc thợ nề nghe nói lịnh dụ của thừa tướng bảo dỡ lầu Đại Bi về sửa Các Thiên lâu, đâu dám không tuân theo. Trong số thợ, có người tốt nghĩ rằng: "Các vị Hòa thượng trong chùa thiệt là chịu khó, bỏ ra biết bao công lao đi hóa duyên sửa lợp tòa lầu này, bỗng chốc bắt dỡ đi, tội ấy không phải là nhỏ! Ta đừng hùa theo gây tội, chỉ cầm lấy xẻng xúc gạch ngói để dồn đống lại, công việc đó cũng đáng hai trăm tiền mà không mắc tội phạm thượng gây tội nghiệp".
Đương lúc nghĩ như vậy, Tế Điên đứng dưới đất chỉ một cái, người kia từ trên lầu, cách mặt đất bảy tám trượng, tuột tay rơi xuống nhưng không hề chi. Người đó nghĩ thầm: "Thật hú vía! May mà mình chưa dỡ lầu nếu mình dỡ lầu chắc bị té chết quá! Chùa này linh thiệt!”. Nghĩ thế lại đứng dậy đi như thường.
Có người quyết ý phá thiệt, lại có ý tính toán:”Dỡ lầu này xong lại đến sửa lợp lầu của Thừa tướng, nhờ đó ta sống cũng được hai tháng. Sau khi sửa lầu của Tần tướng phủ, ở đây lại bắt đầu động công, ta lại làm thêm hai tháng nữa, tính ra cũng sống được nửa năm. Người ấy đang dỡ rui trên nóc, bị Tế Điên lấy tay chỉ một cái, tức thì trật tay rơi xuống, té ngồi trên cục nhọn ba cạnh, hậu môn bị rách toạc. Anh ta lết về nhà thang thuốc nửa năm mới lành mạnh.
Tế Điên đang thi triển Phật pháp thần oai để báo ứng bọn thợ mộc thợ nề, gặp mấy người Ban đầu huơ roi vi vút, bắt Tế Điên trói chặt cổ lại, nói:
- Hay cho Hòa thượng! Ông mắc tội tày đình còn dám ở đây chỉ chỉ chỏ chỏ gây náo loạn chớ!
Tế Điên nhìn lại, thì ra tám vị Ban đầu: Triệu Đầu, Vương Nhị, Trương Tam, Lý Tứ, Tôn Ngũ, Lưu Lục, Đam Thất, Mã Bát. Mấy vị cùng nhau kéo Tế Điên đi.
Tế Điên hỏi: Vạ ta mắc phải bao lớn?
Triệu Đầu nói: Khó mà so sánh cho ông thấy được, ông đi đến phủ Thừa tướng rồi sẽ biết, ở đó dành cho ông nhiều trò vui lắm.
Tế Điên nói: Các ngươi mời ta kiểu này ta không đi.
Triệu Đầu nói: Ông khéo bày vẽ cho mất thì giờ của ta ư?
Tế Điên bèn ngồi trên đất, miệng niệm: "Án ma ni bát mê hồng, án sắc lịnh hích".
Triệu Đầu ráng sức kéo cũng không nhúc nhích, mới kêu Vương Nhị lại giúp kéo phụ. Vương Nhị ráng hết sức bình sanh kéo cũng không nhúc nhích.
Vương Nhị nói: Các anh đứng đó ngó sao? Chúng ta ráp vô kéo ổng chớ.
Trương Tam, Lý Tứ, Tôn Ngũ, Lưu Lục, Đam Thất, Mã Bát đồng hè nhau ráng sức kéo, Tế Điên vẫn ngồi trơ trơ như núi Thái Sơn.
Mấy vị Ban đầu đều nói: Cái này thiệt lạ quá!
Bỗng nghe sau lưng có tiếng cười khà khà, Triệu Đầu ngoái lại xem, thì ra hai vị Ban đầu ở huyện Nhơn Hòa, một vị họ Điền kêu là Điền Lai Báo, một vị họ Vạn gọi là Vạn Hồng Sơn. Hai vị này là đương sai ở huyện Nhơn Hòa và làm quan ở chức vụ giữ việc cơ mật, dáng người lanh lợi khỏe mạnh, là anh em liên minh với bọn Triệu Ban đầu. Thấy bọn Triệu Ban đầu kéo Tế Điên không nhúc nhích, hai anh em nín không được, cười ha hả nói:
- Các anh chỉ có tài ăn không, khi rảnh việc ngồi tại Ban phòng nói khoác cười đùa, hôm nay gặp chút việc làm không ra trò gì hết!
Triệu Ban đầu nghe thế, nói:
- Mấy anh đừng có nói lối, hai anh kéo được ông Hòa thượng này ôi, chúng tôi chịu phục các anh là tài đó.
Điền Lai Báo nói:
- Nếu tôi không kéo được vị Hòa thượng này đi, thì tôi đảo ngược tên mình lại cho rồi.
Vạn Hồng Sơn nói:
- Nếu tôi không kéo được vị Hòa thượng này đi thì tôi thề không ăn của nhà quan nữa. Các anh tránh qua một bên xem nào!
Bọn Triệu Ban đầu vừa tránh qua thì thấy Điền, Vạn hai người dùng tay trịnh trọng cột lại giải mũ, sửa lại y phục, thắt lại dây lưng, kéo vớ sửa giày ngay ngắn đoạn bước tới trước vài bước rồi quỳ xuống trước mặt Tế Điên, nói:
- Bạch Thánh tăng, chúng tôi cùng lão nhân gia không oán không cừu, nhơn vì lão nhân gia chạm tới Tần thừa tướng, Thừa tướng phái lão gia của chúng ta sai chúng tôi đến mời lão nhân gia về Tần phủ. Nếu lão nhân gia đã dám động đến Thừa tướng, thì cũng xin dám gặp mặt người một phen. Nếu lão nhân gia không chịu đi thì Tần thừa tướng sẽ nổi giận, xử trảm lão gia chúng tôi, chúng tôi là những sai quan liên hệ cũng mất chức. Khi chúng tôi mất việc rồi thì cả gia đình lớn nhỏ đều bị đói khổ. Cầu xin lão nhân gia mở lượng đại từ đại bi xót thương cho.
Tế Điên nghe thế cười nhạt, nói:
- Nếu nói được như hai ông vậy thì Hòa thượng đây đi từ sớm rồi. Này Điền đầu, quý tánh ông là chi?
Điền đầu nghe hỏi cũng vui, nói: Hòa thượng đã biết tôi họ Điền còn hỏi chi nữa.
Tế Điên hỏi: Tên ông có phái là Lai Báo không?
Điền đầu đáp: Phải, tên tôi là Lai Báo.
Tế Điên lại hỏi: Vạn đầu nè, quý tánh ông là chi?
Vạn Hồng Sơn nói: Xin sư phụ đừng giận, xin người mở lượng từ bi đi theo bọn họ cho.
Tế Điên nói: Ừ, đi thì đi!
Điền Lai Báo lúc đó mới nói: Triệu đầu nè, việc sai sự này gặp chỗ rắc rối tôi đã giải quyết xong rồi đó, các anh đưa Hòa thượng cùng về đi.
Triệu đầu bước tới kéo Hòa thượng ra khỏi chùa Linh Ẩn. Đi được hai dặm, trước mặt là Tây Hồ, một dải Tô Đê toàn là quán rượu, bèn ngồi bệt xuống đất không đi nữa.
Triệu đầu hỏi:
- Sư phụ, sao người không đi nữa? Muốn nghỉ ngơi chốc lát hả?
Tế Điên nói:
- Ta không phải muốn nghỉ ngơi đâu, ta hỏi ông một câu này nhé! Các ông là đương sai, hẳn là rành rẽ việc dựa núi ăn núi, dựa nước uống nước, trồng hoàng thụ, dựng hoàng lăng, không nhiều cũng có ít, không lớn cũng có nhỏ, được bạn bè cho gặp gỡ Hòa thượng ta.
Bây giờ ông đưa ta về trong phủ, kể ra các ông đã làm tròn sai sự tốt đẹp đấy, vậy thì các ông phải chi cho Hòa thượng ta một ít tiền chớ! Nếu không thì thôi, không thèm đi theo các ông đâu!
Triệu đầu nghe nói, nghĩ thầm: "Mình làm việc sai sự này bao nhiêu năm trời rồi, hôm nay lần thứ nhất mới thấy nguyên sai làm tiền người canh giữ. Tréo cẳng ngỗng thiệt!". Triệu đầu nói:
- Sư phụ là người xuất gia, cần tiền để làm chi?
Tế Điên nói: Ta cần tiền để uống rượu, bị sâu rượu rọ rạy trong bụng đi không được.
Triệu đầu hỏi: Uống rượu hả? Sư phụ muốn uống bao nhiêu?
Tế Điên nói: Ta cần 20 hồ rượu.
Quán rượu mang ra đủ số. Tế Điên ngửa cổ tu một hơi cạn một hồ, vừa uống vừa ngâm:
Rượu uống bao nhiêu chả phải say
Răn ngừa sắc dục uống thêm dai
Thêm tài trọn nghĩa trời gia hộ
Nhẫn nhục lợi nhà khỏi họa tai.
Giây lát 20 hồ rượu đều cạn sạch. Triệu đầu đếm tiền thì vừa đúng số 20 hồ rượu chẵn, không dư thiếu nào. Triệu đầu nói:
- Nếu sư phụ uống thêm một hồ rượu nữa, tôi cũng không có tiền đâu để trả.
Tế Điên nói: Triệu đầu nè, có phải tiền trong túi là do vợ ngươi đưa cho hồi sáng này phải không?
Triệu đầu nói: Phải đó.
Tế Điên nói: Số tiền đó là của ta đưa cho nó hồi hôm đấy.
Triệu đầu nói: Sư phụ đừng nói giỡn, thôi chúng ta đi mau!
Nói rồi dẫn Tế Điên đi trước.
Đi được hai dặm, Tế Điên nói: Triệu đầu ơi, ngươi đổi người khác dẫn ta đi?
Triệu đầu hỏi: Chi vậy?
Tế Điên nói: Ngươi hết tiền rồi, thôi đổi người khác đi.
Triệu đầu mới kêu Vương đầu lại dẫn. Vương đầu nhận dây dắt, nói:
- Sư phụ ơi, chúng ta cùng đi nhé!
Tế Điên nói: Không đi đâu. Ngươi có biết tại sao Triệu đầu không dẫn ta nữa không?
Vương đầu nói: Tôi không biết.
Tế Điên nói: Ông ấy dẫn Hòa thượng ta đi phải chi tiền cho ta đấy.
Vương đầu hỏi: Sư phụ cần tiền để làm gì?
Tế Điên nói: Đễ uống rượu.
Vương đầu nói: Được, sư phụ cứ uống.
Tế Điên nói: Kêu đem lại cho ta 10 hồ rượu nhé.
Vương đầu nói: Được, trong túi tôi chỉ đem theo có 100 tiền, vừa đủ trả 10 hồ rượu thôi, sư phụ uống thêm tôi không có tiền trả đâu.
Tế Điên lại nốc cạn 10 hồ rượu nữa. Đây chính chỗ trong sách ghi: “Nhậu say vào Tần tướng phủ” đó. Vương đầu dẫn Tế Điên đi được hai dặm, Tế Điên nói:
- Này Vương đầu, ngươi cũng nên thay người khác dẫn ta đi!
Vương đầu nói:
- Sư phụ nói nghe không hợp lý rồi đó. Triệu đầu dẫn ra khỏi chùa Linh Ẩn hai dặm, sư phụ mới uống rượu, uống xong lại đi hai dặm nữa, cộng tất cả bốn dặm mới thay cho tôi. Tới phiên tôi, chưa đi bước nào hết sư phụ lại đòi rượu. Mới đi có hai dặm, tại sao sư phụ lại kêu đổi người khác?
Tế Điên nói: Phần Triệu đầu là 20 hồ rượu, còn phần ngươi chỉ có 10 hồ rượu thì đường phải ngắn hơn chứ.
Vương đầu nói: Thôi, tôi không cãi với sư phụ nữa và kêu: - Trương đầu! Anh lại thay tôi nè.
Trương đầu nói: Sư phụ muốn uống rượu hả? Ở Túy Tiên lầu này tôi có sổ ghi, sư phụ muốn uống bao nhiêu cứ bảo.
Tế Điên nói: Đem cho ta 30 hồ rượu nữa uống chơi.
Trương Tam nghe nói thầm le lưỡi, hỏi: Sư phụ một ngày uống bao nhiêu rượu?
Tế Điên nói: Có bao nhiêu đâu. Sáng ta giải khát hai cân, trưa lại rai rai hai cân, cơm chiều thì hai cân nữa. Rồi từ đó tới sáng ta có uống giọt nào nữa đâu.
Trương Tam nói: Tối lại sư phụ mắc ngủ hả?
Tế Điên nói: Đâu có, ban đêm ta bơi trong lu rượu chớ. Không bơi nó bắt ngứa ngáy không chịu được.
Ba mươi hồ rượu của Trương đầu cũng cạn ráo. Tám vị Ban đầu thay phiên nhau dẫn và đãi rượu một lượt thì về đến Tần phủ. Khi đến cổng Tần phủ, lại đến phiên Triệu đầu cầm dây dẫn. Tế Điên lúc đó rượu đã say mèm.
Người giữ cổng hối thúc:
- Mấy ông làm việc công sai như vậy đó hả? Tướng gia bảo bắt điên tăng về. Mấy ông còn chờ gì, đợi lúc tướng gia đi tìm rồi mới chịu đưa đến ư?
Triệu đầu nói:
- Lại đây! Lại đây! Nhận Tế Công mà đưa vào Tần tướng phủ.
Tế Điên ngước mắt xem, bên trong tướng phủ rất oai nghiêm.
Có thơ rằng:
Thảm ngọc gác kỳ lân
Bình phong rèm phỉ thúy
Cửa rộng báu trân bày
Dao cầm vang nhã nhạc
Gấm thêm cổ ngoạn trưng
Châu ngọc liễn thi hàn
Sang giàu ngôi thiên tử
Tế tướng chỉ nhường qua.
Ngạn ngữ có câu:
Chén vàng dù bể giá không phai
Cân lượng nửa phần chẳng chút sai.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 19 [/align]



Tần tướng chiêm bao thấy quỷ ma
Tế Công nửa đêm thi pháp Phật




Có thơ rằng:
Quyết ý cầu chơn, chơn cách xa
Si tâm đoạn hoặc, hoặc hà sa
Đạo nhân chỉ giữ lòng thanh thản
Dáng núi trăng xưa bóng hiện ra.
Khi Tế Điên đến trước cửa phủ, bên trong có tiếng truyền ra:
- Thừa tướng dạy đưa Điên tăng vào ngay.
Kẻ tả hữu dạ ran một tiếng, vội đưa Triệu đầu dắt Tế Điên vào trong. Bên trong, Lão phương trượng, Giám tự tăng cùng thị giả đều có đủ mặt. Bảy mươi hai tên gia nhân đứng giữ hai hàng. Tế Điên vào đến nơi đứng thẳng lưng chứ không quỳ. Tần tướng bên trong nhìn ra thấy quả là ông thầy chùa kiếc, bèn vỗ án hét lớn:
- Hay cho Điên tăng dám cả gan! Ta sai bọn gia nhân đến chùa mượn gỗ lớn. Mượn là phần ta, không cho mượn là phần các ông, sao dám cả gan dùng yêu thuật tà pháp đánh quản gia của ta? Sự thật thế nào, mau khai cho bản chức rõ.
Đáng lý Tế Điên chiếu theo mọi việc tuần tự thuật lại là bọn quản gia đòi dỡ lầu Đại Bi ra sao, mình không cho dỡ, bọn quản gia đánh đập mình ra làm sao v. v... mà lại không nói.
Lại nghe Tế Điên nói:
-Nè đại nhân, Ngài còn hỏi ta câu đó nữa sao? Ngài làm đến chức Thừa tướng, ngồi ở bậc Tam Thai, đáng lý phải làm lành làm phước, tích công bồi đức mới phải, cớ sao lại đi dỡ phá chùa chiền? Hòa thượng ta càng nói càng thêm tức giận, muốn lôi đại nhân ra phết cho ít chục bảng.
Tần Thừa tướng ở bên trên nghe nói mấy lời đó, tức giận đùng đùng hét lớn:
- Cha chả, hay cho Điên tăng dám cả gan khi dễ đại thần! Bây đâu, kéo ông ra nện 40 hèo tre cho ta!
Nguyên thứ côn tre này là một loại gia pháp đặc chế của Tần tướng phủ, lợi hại vô kể. Bên trong rất bọng đổ đầy cả thủy ngân, bất luận là người khỏe mạnh cách mấy, bị 40 hèo đó cũng phải bò lết vì tróc da nát thịt mà thôi. Tế Điên nghe nói sắp bị đánh, lật đật chạy vào hàng của lão phương trượng, Giám tự tăng năm vị đang ngồi. Ba tên gia nhân bước tới kéo Tế Điên ra, nói:
- Hay cho Hòa thượng, bộ tính trốn trong này chắc ăn hả?
Một tên đè ở đầu vai, một tên kìm chặt được chân Hòa thượng day đầu về hướng Tây, người cầm roi đứng ở hướng Nam, để Thừa tướng bên trong nhìn cho rõ. Đánh xong 40 hèo, Hòa thượng vẫn lặng thinh không than một tiếng. Ba tên đánh xong đứng qua một bên chờ lệnh.
Thừa tướng bên trong nhìn ra, nói:
- Bọn bây thiệt là một lũ hồ đồ. Ta bảo đánh Điên tăng, sao nhè Giám tự tăng mà đánh?
Ba tên gia nhân nhìn nhau thầm nghĩ: "Lạ thiệt! hồi nãy rõ ràng mình kéo Điên tăng mà, sao lại hóa ra Giám tự tăng Quảng Lượng cho được”.
Quảng Lượng lúc đó mới mở miệng được: - A ôi! Đánh chết tôi đi thôi.
Hồi nãy Quảng Lượng mở miệng mà nói chẳng ra lời. Chịu đánh 40 hèo, thịt da rách nát, máu me dầm đề. Thừa tướng ra lệnh thay bọn chưởng hình khác và dặn:
- Đánh Điên tăng 40 hèo tre thiệt nặng cho ta. Bớ Điên tăng! Ta không đánh được ông, thề không làm người nữa.
Ba người chưởng hình khác lại đến. Một người níu Tế Điên nói: - Bận này chắc không lầm đâu.
Tế Điên nói: Kệ ta, để ta đi.
Ba người nói: Này Hòa thượng! Bộ chờ bọn ta ra uy hả? Mau nằm xuống đi.
Tế Điên nói: Thì cứ trải nệm ra đi!
Bọn gia nhân nói: Thôi đừng giả ngộ! Bị đánh đòn mà đòi mền nệm gì!
Nói rồi kéo Tế Điên quật xuống. Một tên cỡi lên vai, hai tay níu cứng hai lỗ tai. Một tên cỡi lên đùi lấy tay trật quần Tế Điên ra, một tên cầm gậy hòm sẵn.
Tần Thừa tướng hô: Đánh, đánh!
Chưởng hình lấy sức giơ gậy giáng xuống. Gậy cách mông Tế Điên chừng một thước, bất ngờ lệch hướng trúng nhằm vai người cỡi trên lưng Tế Điên một cái bịch, mạnh đến nỗi người này văng long lóc ba bốn thước. Người kia ôm lấy vai la oái oái:
- Trời ơi, chết tôi rồi? Được, được lắm! Hồi sáng này mi mượn ta 200 tiền, ta không cho mượn, mi cừu oán, bây giờ mượn việc công báo thù riêng hả?
Tần Thừa tướng cả giận nạt lui bọn đó và ra lệnh:
- Hãy đổi bọn khác và lần này đánh Điên tăng 80 hèo cho ta. Lần này không đánh được Điên tăng, ta thề không làm quan nữa!
Tế Điên cũng nói: Ta thách ông đánh được ta đó. Đánh được ta, ta thề không làm Hòa thượng!
Lại đổi ba người khác. Một người nói:
- Tôi cỡi lên đầu vai ổng, còn Tần Thăng đè dưới chân, anh là chưởng hình cầm roi đừng có đánh lung tung nhé.
Người chưởng hình nói:
- Tôi chỉ nhắm ngay đít Hòa thượng giáng xuống thôi.
Nào dè chừng đánh, ngọn roi lạc hướng rơi bịch một tiếng trúng ngay trên sống lưng của người đè lên chân Tế Điên, nặng đến nỗi người này té sấp tới trước.
Bên trong, Tần Thừa tướng trông thấy rất rõ ràng. Lần đầu đánh nhầm Giám tự tăng, lần thứ hai đánh nhầm người cưỡi vai, lần này tới phiên người đè ở chân, phải chăng đó là do yêu thuật tà pháp của Hòa thượng? Nghĩ thế bèn thét bảo gia nhân vén rèm lên, để tự mình đích thân dùng oai vệ của Tể tướng triều đình làm việc này họa may mới xua đuổi được yêu thuật đó.
Gia nhân cuốn rèm lên, Thừa tướng bước ra, mặt đầy sắc giận khiến người phải sợ, thét bảo gia nhân:
- Đánh, đánh nó cho ta!
Bọn gia nhân đâu dám trễ đương. Người chưởng hình lật đật cầm gậy trúc, hầm hầm bước đến phía Tế Điên, giơ lên đánh xuống. Nào hay, bởi dùng quá sức mạnh, côn lại tuột tay văng về phía Tần thừa tướng. Tên gia nhân ấy sợ đà rớt mật. Trước quang cảnh đó, Thừa tướng còn nộ khí xung thiên hơn, cúi xuống lượm gậy lên, muốn chính tay mình đánh phạt Hòa thượng cho hả tức. Bỗng trong nhà có tiếng kiểng báo động vang lên, Thừa tướng thất kinh vội ngừng tay lại.
Nguyên lai Tần thừa tướng gia pháp rất nghiêm. Nội xá không có đàn ông mà chỉ toàn là vú già với bọn a hoàn. Bọn đồng tử nhỏ không có lệnh gọi không được vào nội xá. Khi có việc khẩn cấp mới được đánh kiểng lên. Hôm nay nghe kiểng báo động, Thừa tướng rất đỗi ngạc nhiên!
Bên trong vú già chạy ra cấp báo:
- Thưa đại nhân, không xong rồi, phòng ngủ của đại nhân bỗng nhiên phát hỏa!
Nghe xong, Thừa tướng biết, ngay đây là yêu thuật tà pháp do Tế Điên gây ra, vội dặn 20 gia nhân trói chặt Hòa thượng giam trong phòng trống, đến đêm canh ba, ta lại thẩm vấn.
Thừa tướng chỉ Tế Điên, nói:
- Này ông tăng khùng kia! Nếu ông đốt tiêu tướng phủ ta, ta sẽ giải ông đến Hữu ty nha môn, đánh ông 80 gậy trúc cho ông thịt nát xương tan mới hả giận.
Nói rồi dặn bọn Tần Thăng lãnh 20 tên gia nhân ở lại canh giữ Hòa thượng, Tần Thừa tướng cùng với mấy mươi tên gia tướng đi vào trong xem xét. Vào đến nội xá thấy phu nhân đang đứng trong viện sợ hãi run lập cập, bọn vú già, a hoàn đang chạy lăng xăng dập lửa.
Phu nhân hỏi: Lửa cháy từ đâu thế?
Vú già thưa: Do những tàn lửa nhỏ từ trong lư trầm nổ tách ra, bắn vào màn ở cửa sổ gần đó.
Thừa tướng lập tức bảo bọn gia nhân mau mau dập tắt lửa, chính mình kéo ngã lư trầm xuống. Bọn vú già thất kinh chạy vội lại xem, may mắn chưa bị tổn hại vì là vàng ròng đúc lên.
Tần Thừa tướng thấy lửa đã tắt bèn trở vào phòng, phu nhân hỏi:
- Hôm nay đại nhân gặp việc chi mà mặt có sắc giận thế?
Tần thừa tướng mới đem việc Tế Điên dùng pháp thuật đánh bọn gia nhân, binh vây chùa Linh Ẩn, bắt lỗi các vị Hòa thượng trong chùa kể lại một hồi và nói:
- Ta chỉ muốn đánh phạt ông tăng khùng kia thôi, nào ngờ liên tiếp cả ba lần ông ta đều dùng tà thuật tránh khỏi. Ta sắp sửa ra tay thân đánh thì ở hậu viện bổng nhiên phát hỏa. Ta vẫn cho bọn nó trói các ông hòa thượng nhốt lại trong phòng trống, chờ canh ba đêm nay, ta sẽ lại đánh phạt ông tăng khùng ấy.
Phu nhân nghe nói, can gián:
- Đại nhân hà tất phải so đo với hạng vô tư đó làm gì cho nhọc thể.
Nói chuyện tới đó, kế vú già lên thưa:
- Cơm chiều đã xong, thỉnh ý tướng gia muốn dùng ở đâu?
Thừa tướng nói:
- Dọn ở đây cũng được.
Bọn a hoàn dọn chén đũa lên. Thừa tướng giận tức còn đầy hông, ăn nuốt không vô. Ăn qua loa vài chén rồi buông đũa vào thư phòng xem sách. Đốt đèn lên, Thừa tướng lật mấy trang xem cũng không vô. Mệt mỏi quá, co tay kê đầu nằm gục trên án thư mà ngủ. Đương lúc nửa tỉnh nửa mê, mơ mơ màng màng đó, bỗng nghe có một luồng gió lạnh kinh người thổi tới ào ào như rừng cây ngã đổ, ò ò như bò rống, rầm rầm rộ rộ như đất đá rung rinh, té ra là đoàn âm binh ở địa phủ, tướng mạo dữ dằn như yêu quái kéo đến. Đi đầu là một con quỷ dữ, mình cao tám thước, mặt như thoa lọ nồi, đầu đội mũ xanh, mình mặc quần vải xanh ngắn, thắt lưng màu xanh, mặc áo đỏ chót, chân mang giày nhẹ màu xanh, mày tròn mắt lộ, tay cầm chĩa ba ngạnh. Theo sau lại một con quỷ khác, đầu đội khăn như ý, gắn cặp lông chim dài thượt, mình mặc quần đoạn xanh, chân mang quan hài, nước da trắng tái, mặt vuông, trong tay cầm cây viết, một quyển sổ. Đằng sau đó lại có một người nữa đi vào, đầu đội khăn lam nhiễu thêu hoa năm màu, mang giày vải màu xanh, da mặt hơi sậm tía, mày đôi mắt rộng, tay kéo một sợi dây xích bằng sắt, đầu kia xiềng chặt một người. Người ấy trên cổ đóng một cái gông, trên tay mang một cái cồng, dưới chân đóng một cái trăn lớn. Gương mặt khô cằn, đầu tóc rối bù như đám cỏ rối. Tần thừa tướng nhìn kỹ người bị xiềng xích chính là cha mình - lão Thái sư Tần Cối - áp tải phía sau lại có một tiểu quỷ, đầu đội khăn lụa xám, gương mặt xám xanh, đôi mắt vàng chóe dưới cặp lông mày đỏ loe, chiếc quần ngắn ngủn để lộ thân hình bóng lẫy như thoa sơn. Tay tiểu quỷ cầm một cây lang nha bổng gai to lởm chởm.
Tần Thừa tướng nói:
- Cha ơi, con những tưởng cha đã sớm du thiên đường nào ngờ cha còn kẹt lại nơi âm tào địa phủ, chịu biết bao khổ sở như thế này. Ngày mai con sẽ mời các vị đạo đức trọng cao tăng siêu độ cho cha sớm được về trời.
Tần Cối nói:
- Con ơi lúc sanh tiền cha ở tại triều đường, bít lấp kẻ hiền tài. Tại Phong Ba đình hại chết cha con Nhạc Phi, khiến cho người giận trời thù. Chết xuống Hắc địa ngục, chịu trăm cay nghìn khổ. Hôm nay cha vâng lệnh Diêm La thiên tử, vội gấp trở về để khuyên nhủ con của cha: Thân đã làm Tể tướng, lẽ phải tích đức tu nhân. Trái lại, con của cha không chịu làm lành, lại đi phá dỡ chùa chiền, tội nghiệt nặng biết bao! Việc dỡ lầu Đại Bi của chùa Linh Ẩn, giam trói Hòa thượng đó, con hãy nghe lời cha mau thả các tăng nhân và trùng tu lầu Đại Bi...
Nói vừa tới đó, bỗng nghe con đại quỷ cầm thiết xoa nói: - Chúng ta đi thôi.
Nói rồi tay huơ thiết xoa loảng xoảng kéo Tần Cối đi như bay.
Tần Thừa tướng lật đật nói: Cha ơi, nán lại một chút, con có lời trình thưa.
Bọn quỷ tốt không nói không rằng, cứ một mực lôi đi. Tần Thừa tướng chạy tới đưa tay níu lại, chỉ nghe nổ đoàng một tiếng.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 20 [/align]



Triệu Bân Đang Đêm Dò Tướng Phủ
Vương Hưng Vô Cớ Bị Nghiêm Hình




Có thơ rằng:
Đông lạnh nhà nhà cắm liễu xanh
Giữ xuân xuân cứ mãi trôi nhanh
Rượu ngon ta cứ tu bằng thích
Con cháu hòa vui cứ trưởng thành.
A hoàn túc trực bên ngoài, nghe tiếng động vội chạy vào lượm đèn đốt như cũ. Phu nhân cũng thức giấc bước vào hỏi:
- Đại nhân gặp việc gì có vẻ kinh hoàng thế?
Thừa tướng nói:
- Ta đang xem sách, bỗng nhiên tinh thần mỏi mệt thiếp vào trong mộng, gặp một điềm lạ thường: Ta thấy lão Thái sư trở về nhà, tay chân bị xiềng trói, quỷ tốt theo áp tải, quở ta ở dương gian làm ác quá nhiều. Ta định ngưng dỡ lầu Đại Bi và thả các ông Tăng cho rồi. Phu nhân thấy việc đó như thế nào?
Phu nhân nghe rồi cười nói:
- Đại nhân là người đọc sách thánh hiền, sao lại đi tin những chuyện dị đoan nhảm nhí như thế?
Thừa tướng nghe vợ nói như thế, bèn tạm gác ý định đó. Hỏi a hoàn:
- Đã mấy canh rồi?
A hoàn thưa: Trống vừa đổi sang canh hai.
Thừa tướng dặn: Hãy truyền đường dụ là canh ba đêm nay ta sẽ ra thư phòng thẩm vấn Điên tăng. Không phạt nặng ông này không được!
Vừa nói câu đó, bỗng nghe từ ngọn đèn cầy trong nhà phát lên mấy tiếng hù hù, ngọn lửa phóng cao lên cả thước.
Thừa tướng ngạc nhiên hỏi:
- Cái gì thế?
Ngọn đèn bỗng nhỏ lại bằng hạt táo, chao đi chao lại bỗng chốc lại lóe cao rồi trở lại như cũ, ba lần như vậy. Thừa tướng rút bảo kiếm trấn trạch nhắm ngay ngọn đèn chém xuống. Ngọn đèn bỗng chẻ thành hai ngọn. Thừa tướng chém thêm mấy chục kiếm nữa. Cả phòng nhấp nháy hàng trăm ngọn đèn. Lại nghe vú già kêu:
- Ngoài cửa có một con quỷ lớn. Sợ chết đi được!
Một a hoàn la:
- Không xong, dưới ghế lại có một con quỷ ngồi xổm, nhe răng nhọn hoắt.
- Ối chà, bên rèm lại có một con quỷ, đầu lắc lư!
Thừa tướng bảo vú già đánh kiểng bảo bọn gia nhân vào đánh quỷ. Vú già, a hoàn chạy ra cửa hô hoán lên, bọn gia đinh bên ngoài chạy vào, nghe trong nhà quỷ loạn vội chạy đến trước Thừa tướng chờ dạy việc. Vừa chạy đến nội xá, bỗng nghe nhiều tiếng nhốn nháo:
- Không xong rồi, tướng công ơi! Một con quỷ tét đầu, máu tuôn xối xả.
- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ bứt gông.
- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ chết treo.
- Không xong rồi, tướng công ơi! Có con quỷ cụt đầu.
- Ô, ô lại có con quỷ hút máu, rượt cắn người ta.
Đó là do Tế Công thi triển pháp Phật mà ra.
Nhơn vì Thừa tướng phái 20 tên gia nhân ở phòng ngoài canh chừng các Hòa thượng. Tần Thăng trong bọn nói:
- Công việc của chúng ta đây không phải dễ. Suốt đêm hôm qua ta không chợp mắt được tí nào, hôm nay lại lãnh việc này nữa. Ta có ý nghĩ như vầy: Bọn mình mỗi đứa bỏ ra 200 tiền, hùn nhau mua rượu thịt làm một bửa nhậu. Canh hai đêm nay, chúng ta cùng đánh chén, đến canh ba Thừa tướng thẩm vấn các Hòa thượng ở thư phòng, tưởng cũng chẳng nhỡ việc nào. Các chú nghĩ sao?
Mọi người đồng thanh: Tốt, tốt lắm! Thế thì tiến hành!
Cả bọn chung đậu được bốn điếu, phái một người đi mua rượu thịt đem về. Mới chưa hết canh một, trong bọn có kẻ nói:
- Thôi chúng ta nhậu đi!
Mọi người cùng dọn rượu thịt ra. Tế Điên nói:
- Xin các vị đại từ đại bi cho Hòa thượng ta một chén với.
Tần Thăng nói:
- Làm Hòa thượng không được uống rượu, sao ông lại đòi uống rượu? Hòa thượng dạy người ta không được giết người, trộm cắp, dâm dật, nói láo, uống rượu là năm điều giới cấm. Ông đòi uống rượu, há không phạm giới hay sao?
Tế Điên nghe nói, cười khà khà đáp:
- Quản gia tuy biết một mà chẳng biết hai. Trong đó còn có biết bao nhiêu điều hay lạ! Trời có sao rượu, đất có suối rượu, người có thánh rượu. Rượu hợp với muôn việc, rượu hòa tính tình. Thánh Trọng Ni lấy rượu làm đạo để giữ điều hòa đấy.
Tần Thăng nói: Ông Hòa thượng biết, nói hay như vậy ta cho ông một chén đây.
Nói rồi rót một chén rượu đưa đến. Tế Điên tiếp lấy cười lớn: - Ha ha ha!
Ngày dài tợ năm, nhàn mới biết
Việc lớn bằng trời, rượu cũng thôi.
Ngâm rồi, tợp một miếng cạn ráo, nói: Xin quý vị vui lòng cho một chén nữa.
Tần Thăng nói: Đã được cho một chén rồi, lại còn đòi nữa, thiệt không biết xấu hổ chút nào?
Tế Điên nói: Ông không cho cũng được, cả đến một chén xã giao cũng không có nữa sao?
Tần Thăng lại rót thêm một chén nữa.
Tế Điên uống xong lại nói: Rót thêm một chén nữa cho đủ ba chén đi.
Tần Thăng nói: Không được đâu. Cái này đâu phải để cho ông, còn phần người khác nữa chớ!
Tế Điên cười hà hà, nói: Thôi được, không cho thì ta tự lấy uống vậy.
Đoạn cầm chén rượu niệm liền mấy câu: "án sắc hích, mau mau mau!”. Tức thì trong chén, rượu đầy tràn. Tế Điên uống liền mấy chén nữa, rồi để chén xuống. Mấy người trong bọn cũng muốn uống rượu, đưa chén giành nhau rót. Nào dè bình đã khô queo, một giọt cũng không.
Mọi người đều nói: Hồi sớm mua đồ ăn còn tiền mà, đem bình ra mua thêm đi.
Rượu mua rồi giây lát cũng hết sạch. Riêng Tần Thăng không nói một lời, buồn bực kiếm chỗ lánh mặt. Ai nấy say vùi, ngủ nằm la liệt.
Tế Điên thấy ai nấy ngủ vùi mới tháo xiềng sắt ra đi về phía nội viện báo ứng. Bọn ác nô của Thừa tướng hàng ngày cậy thế chủ nhân, ra ngoài tác ma tác quái bị Tế Điên hóa phép di đảo đánh cho một trận, lắc cho một hồi, chính là để báo ứng đó.
Đang đi, Tế Điên thấy một người đang cắp dao từ phía Bắc xăm xăm đi tới. Nhìn kỹ lại thì chính là Thám nan thủ vật Triệu Bân...
Nhắc lại Triệu Bân từ ngày giúp Tế Điên giả làm thần Vi Đà, trộm Ngũ lôi bát quái thiên sư phù, vào phủ Thừa tướng gặp Y Sĩ Hùng và đưa về nhà ra mắt Triệu thái thái. Y Sĩ Hùng ở chơi mấy hôm rồi từ biệt ra đi. Triệu Bân vẫn bán lẻ trái cây tạm sống qua ngày như cũ. Một hôm Triệu Bân đang bán trái cây ở Tây Hồ, thấy vô số quan binh kéo đi rầm rộ về phía chùa Linh Ẩn. Triệu Bân thấy có người quen trong quân ngũ, bèn chạy lại hỏi thăm, mới biết là Tế Điên đánh quản gia của Thừa tướng, Thừa tướng phát lịnh điều binh đến vây chùa, bát trói ông Tăng khùng dẫn về tướng phủ, định đánh cho chí chết.
Triệu Bân nghe rồi thất kinh, nghĩ thầm: “Tế Công có ơn cứu mạng ta. Bây giờ người bị nạn, làm sao ta không cứu được?”. Lại nghĩ: "Hồi hôm mẹ ta há không nói với ta về đạo tu thân đó sao? Được rồi, để tối nay chờ lúc mẹ ta ngủ say, ta cắp dao thái rau đi giết quách tên Thừa tướng gian ác đi cho rồi, báo thù cho sư phụ Tế Công trưởng lão". Nghĩ rồi, chậm chậm trở về nhà.
Lão thái thái hỏi: Hôm nay sao con không bán?
Triệu Bân nói: Bữa nay trong mình con không khỏe.
Thái thái nói: Không khỏe thì về nhà nghỉ.
Tối lại, đang lúc Triệu Bân thấp thỏm chờ mẹ ngủ say để ra đi, bỗng nghe có tiếng gô cửa. Triệu Bân khó chịu nghĩ: "Chắc mẹ ta thức dậy quá". Tiếng gõ cửa lại nổi lên gấp hơn. Triệu Bân chạy ra xem, thì ra là bà Vương ở cửa đối diện. Bà Vương nói:
- Này Triệu Bân, xin phiền cậu một chút! Nhơn vì thằng Vương Hưng nhà tôi sáng nay đi bán trái cây ngang qua phủ Thừa tướng bị giữ lại. Lúc giữa trưa có một chiếc kiệu nhỏ đưa đến bảo thằng bé nhà tôi bị chứng thổ tả, bảo vợ nó đi tiếp giúp. Mãi tới giờ này chưa thấy bọn nó trở về nhà, tôi thấy không an tâm chút nào! Nhà tôi lại không có ai, xin phiền cậu đi dọ hỏi giùm.
Triệu Bân dạ dạ nhận lời. Anh ta là người thật tâm làm việc nghĩa nên lật đật cho mẹ hay rồi thay đổi y phục, giắt theo con dao thái rau, đi ra cửa, nhầm hướng Tần phủ mà đi đến. Trời đã tối, gánh trái cây của Vương Hưng vẫn còn để đó, có anh chàng Quách Tứ gác lộ giữ giùm. Triệu Bân thấy có người quen bèn hỏi:
- Này Quách Tứ, chú Vương Hưng đâu rồi?
Quách Tứ đáp:
- Té ra là Triệu ca. Anh hỏi Vương Hưng ở đâu hả? Hồi sáng này nhị công tử của Thừa tướng kêu anh ta vào hầu. Anh ta nhờ tôi coi chừng giùm. Tôi bán giùm anh ta cũng bộn bộn. Tôi có việc bận, chờ anh ta hoài mà không thấy trở ra. Dò hỏi tin tức, bọn gác cửa không thèm trả lời, tôi cũng không biết chuyện gì xảy ra cho anh ta nữa.
Từ biệt Quách Tứ, Triệu Bân lần dò hỏi thêm mấy chỗ nữa cũng chẳng được tin tức gì hơn. Trống điểm canh hai, lật đật trở lại tướng phủ, tìm một chỗ vắng người, rún mình nhảy thót lên mái nhà, định tìm giết, thừa tướng để trả thù cho Tế Điên. Nào ngờ đi vào bên trong, từ nóc nhà dòm xuống thấy đèn đuốc sáng lờ mờ phản chiếu gương mặt bọn gia nhân mờ mờ ảo ảo như bầy oan quỷ. Triệu Bân nhìn thấy phát khiếp, lật đật bỏ đi qua phía Tây. Đến một hoa viên, từ trên nóc nhà nhìn ra tứ phía, Triệu Bân thầm nghĩ: “Hoa viên này chắc không phải nằm trong tướng phủ. Nhà ai ở sát vách tướng phủ vậy cà?”. Nhìn một hồi lâu thấy ở phía đông bắc có một tòa trang viện, đèn đuốc sáng lóa. Triệu Bân bèn nhảy xuống men lại gần xem, thì thấy chung quanh trồng cây quế thơm phức. Phía Bắc có một cái cửa thông, qua cửa là một dãy tường hoa, ở giữa có một bàn cờ tướng kẻ bằng vôi trắng. Tòa nhà này chính là ba gian Liêm Nguyệt đài ở phía Bắc, Đông Tây phối phòng cũng đều có ba gian như vậy. Triệu Bân để mắt nhìn vào: Sau bức rèm tre, ánh đèn chiếu sáng tỏa, mọi vật bên trong rõ ràng trước mắt. Trên chiếc bàn bát tiên chất đầy cả trái cây tươi ngon đủ loại, sơn hào hải vị chẳng thiếu thứ chi. Triệu Bân nghĩ thầm: “Chà, sẵn đây ta chén một bữa no say rồi đi kiếm giết thằng Thừa tướng chó đó cũng chưa muộn". Hăm hở đi vào được mấy bước, bỗng lại sực tỉnh, tự trách: "Triệu Bân ơi Triệu Bân! Mi khùng quá! Nhỡ trong nhà có người ta bắt gặp rồi mày chui ngả nào? Chi bằng kiếm một viên đá ném vào thử xem!”. Nghĩ rồi, mò kiếm được viên gạch nhỏ, nhằm bức rèm ném tới. Đó là phép ném đá dò đường của khách lục lâm thường dùng. Nếu trong nhà có người sẽ có tiếng hỏi, hoặc có chó, sẽ sủa gâu gâu vì có tiếng động.
Sau khi ném viên gạch vào bức rèm và chờ một lát không thấy động tĩnh chi, Triệu Bân rất mừng vì biết trong nhà không có ai, mới mạnh dạn đi vào. Vừa bước lên thềm, bỗng nghe bên trên có tiếng kêu:
- Ái chà! Có đại ca tới! Mau cứu em với!
Triệu Bân cả kinh, ngước đầu nhìn kỹ, té ra là hai vợ chồng Vương Hưng, cả mình đầy máu, đang bị treo ngược ở xà nhà.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 21 [/align]



Gây Nghiệp Chướng, Nhị Công Tử Bị To Đầu
Xót Thương Con, Thừa Tướng Thỉnh Thánh Tăng




Có thơ ràng:
Cảnh sầu nhiều lúc lại thêm hay
Ngoại vật thong dong rảnh tháng ngày
Thành bại việc đời lên xuống mãi
Ấm lạnh nhân tình gió thoảng bay
Giỏ cơm may mắn hơn Trần Thái
Áo ấm vào so với Tử Phòng
Mưu cầu danh lợi xoa tay trắng
Rốt cuộc phơ phơ mái tóc dày.
Nguyên hoa viên đó chính là hoa viên của Tần Hằng, công tử thứ hai của Tần thừa tướng. Ngày thường Tần Hằng không bao giờ chịu yên phận, ỷ thế cha mình là tể tướng đương triều. Vả lại anh của Tần Hằng vắn số, thừa tướng chỉ còn một mình hắn ta là con nên cưng chìu rất mực. Hắn ta mặc ý tung hoành, bọn thủ hạ của hắn rất nhiều tay có võ, thường lân la ra ngoài cướp lấy thiếu phụ, gái tơ nhà người đem về cho hắn cưỡng hiếp. Gia đình nạn nhân tìm đến cửa, hắn sai bọn thủ hạ vác gậy đánh chí chết. Có người đầu cáo ở phủ huyện, bọn nha môn ở đó không dám trình bẩm lên vì biết hắn là con Thừa tướng. Vì thế, mọi người đặt cho hắn một trác hiệu là Truy mạng quỷ.
Hôm đó hắn đang xem sách trong hoa viên, sách đó không phải loại đúng đắn, cũng không phải loại dâm thư, tà thuyết, mà là quyển sách nói về Đường Minh Hoàng tin yêu Dương Quý Phi. Xem đến chỗ đắc ý bèn vỗ án ngạc nhiên đánh đét một cái. Quản gia Tần Ngọc là người được tin dùng lâu nay, đứng kế bên hỏi:
- Hôm nay công tử có vẻ vui thích, chắc xem sách gặp điều gì đắc ý thì phải?
Tần Hằng nói: Mi không biết chớ. Thảo nào Đường thi có câu:
Quắc quốc phu nhân thừa chúa ân
Bình minh kỵ mã nhập cung môn.
Khước hiền chi phấn ô nhan sắc,
Đạm tảo nga mi triều chí tôn.
Nghĩa là:
Người đẹp lừng danh thừa ơn chúa
Trời mai cởi ngựa tiến công môn
Son phấn chỉ hiềm thêm kém đẹp,
Nhạt màu mặt ngọc kiến long nhan.
Ý thơ diễn tả nàng Dương Quý Phi quả nhiên đẹp tuyệt vời!
Tần Ngọc hỏi:
- Thưa công tử, bộ chính mắt công tử thấy phải không?
Tần Hằng nói:
- Thằng khùng này nói bậy bạ không. Dương Quý phi người đời Đường, còn chúng ta là người đời Tống, làm sao chính mắt ta thấy nàng được.
Tần Ngọc nói:
- Hiện nay có một người so với Dương Quý Phi còn đẹp hơn nhiều. Nàng thiệt là người đẹp trên đời ít có, dưới thế không hai. Tôi từ khi cha mẹ sanh đẻ tới giờ, chỉ thấy nàng này là người đẹp thứ nhất. Nàng thân hình không cao không thấp, mình vóc không béo không gầy, Cho đến lông mi, tròng mắt, không chỗ nào chê được!
Tần Hằng vốn là kẻ hảo ngọt, nghe mấy câu đó, đôi mắt trợn ngược, lật đật hỏi:
- Nè Tần Ngọc, mi gặp nàng ta ở đâu?
Tần Ngọc nói:
- Ở cửa phủ chúng ta có tên Vương Hưng chưng bán trái cây, nhà va ở tại chợ bán đồ gỗ. Một bữa nọ tiểu nhân mua được hai chiếc ghế dựa bằng gỗ chò, định tìm thuê người vác về nhà, nhưng tìm mãi không ra, tiểu thân bèn đến nhà Vương Hưng định nhờ va vác giùm. Người ra mở cửa chính là vợ của Vương Hưng. Tiểu nhân gặp nàng, nhìn sững. Nàng ta quả là trang quốc sắc thiên hương, giai nhân bậc nhất, ít có trên đời. Từ hôm gặp nàng rồi tiểu nhân định mách với công tử từ lâu, nhưng chưa có dịp đó thôi.
Tần Hằng nói:
- Không được đâu! Chuyện đó biết có được hay không, chớ trong nhà Vương Hưng..., còn phải đem người nhà của ta nữa, phiền lắm! Mi có cách nào khéo đem người đẹp về cho ta, ta sẽ trọng thưởng!
Tần Ngọc nói:
- Công tử muốn được người đẹp có khó chi, chỉ cần chi ra 200 lượng bạc, nô tài này sẽ mách cho một diệu kế, bảo đảm chỉ nội ngày nay thôi, người đẹp sẽ vào tay công tử gấp! Chỉ cần công tử chịu bỏ ra 200 lượng thưởng, kẻ nô tài sẽ lo việc đó chu tất ngay.
Tần Hằng nói: Vô phòng lấy tiền đi.
Có bạc trong tay, Tần Ngọc kề tai chủ, nói: Chỉ cần làm như vầy... như vầy...
Tần Hằng nghe rồi cười ha hả, nói: Thôi, đi kêu hắn mau đi!
Tần Ngọc đi ra ngoài một lát gặp Vương Hưng đang quảy gánh trái cây đầu kia đi lại, bèn nói:
- Này Vương Hưng, nhị công tử bảo mi vào hầu đấy!
Vương Hưng lật đật gởi gánh trái cây cho Quách Tứ trông giùm rồi theo Tần Ngọc vào trong. Vương Hưng cười hề hề, trong bụng tính thể nào cũng bán được hai lượng bạc. Bửa nay chắc là công tử thèm trái cây ngon đây!
Tần Hằng lúc đó đang ngồi ở hiên Quế Đan trong hoa viên, hai bên có mấy tên gia nhân đứng hầu.
Vương Hưng vội vàng bước tới thi lễ, hỏi:
- Thưa công tử, kêu tiểu nhân đến dạy bảo điều chi?
Tần Hằng nói:
- Này Vương Hưng, trong nhà mi có bao nhiêu người, mỗi người bao nhiêu tuổi? Nói thiệt ta nghe coi!
Vương Hưng chẳng hiểu duyên cớ tại sao, cũng vội vàng thưa:
- Dạ thưa công tử, nhà ở chính là của tiểu nhân, gồm có: Mẹ tiểu nhân năm nay 50 tuổi, tiểu nhân 22 tuổi, vợ tiểu nhân 19 tuổi. Trong nhà chỉ có ba miệng ăn, sống qua ngày.
Tần Hằng nghe thưa cười dài, nói:
- Này Vương Hưng, nghe nói vợ mi dễ coi lắm hả. Nè ta cho mi 200 lượng bạc để mi cưới vợ khác, còn vợ mi đưa đến hầu ta nhé!
Vương Hưng nghe nói, không lạnh mà run, trong bụng nghĩ thầm: “Nếu ta trả lời không bằng lòng, chắc sẽ bị loạn côn mà chết quá!”. Nghĩ đi nghĩ lại bèn thưa:
- Xin công tử xét lại, tiểu nhân có sự tình xin thưa: Thực ra, vợ tiểu nhân ở nhà cũng chẳng làm chi, chỉ giữ việc phụng dưỡng mẹ già thôi. Chờ khi mẹ tiểu nhân qua đời rồi, tiểu nhân sẽ đưa nó đến hầu hạ công tử. Tiểu nhân thực tình chẳng dám lấy 200 lượng bạc của công tử đâu.
Tần Hằng nghe Vương Hưng nói thế, dợm muốn nói:
- Ừ, thôi mi về đi!
Nào dè Tần Ngọc ở một bên hớt nói:
- Thưa công tử, công tử đừng thèm nghe lời nó! Rõ ràng nó gạt công tử đấy! Mẹ nó năm nay mới 50 tuổi. Bà sống 30 năm nữa mới chết, vợ nó lúc đó đã 50 tuổi rồi, nó đưa đến cho công tử nuôi dưỡng già ư?
Tần Hằng nghe nói đùng đùng nổi giận hét:
- Hay cho thẳng chó này! Trước mặt công tử, mi dám bày trò gạt gẫm hả, không trị mi không được! Bây đâu rút ngược nó lên cho ta.
Bọn ác nô dạ rân, áp tới trói rút ngược Vương Hưng lên xà nhà. Tần Hằng nói:
- Này Tần Ngọc, ngươi có kế gì bắt vợ nó đem về đây cho ta, để ta cho nó chống mắt lên coi ta mùi mẫn với vợ nó!
Tần Ngọc chớp mắt mấy cái, nghĩ ra một kế rồi ra bên ngoài kêu tên tam gia lại nói mấy câu. Tên tam gia liền thuê một cỗ kiệu hai người khiêng thẳng đến nhà Vương Hưng kêu cửa. Mẹ Vương Hưng từ trong nhà đi ra hỏi:
- Ai kêu cửa đó?
Tên tam gia đáp:
- Lão thái thái không nhớ ra tôi sao? Tôi đây là họ Trương, làm việc trong hoa viên của phủ Thừa tướng. Tôi với anh Vương Hưng thân nhau lắm. Sáng nay Vương đại ca gánh gánh ra một quãng đường, bỗng anh lắc lắc mấy cái miệng sùi bọt mép, bất tỉnh nhân sự. Bọn tôi dìu anh vào hoa viên rồi mời thầy thuốc đến xem mạch. Thầy thuốc bảo bệnh anh ấy nặng lắm, phải có người nhà ở bên để săn sóc, mới có thể trị được. Vương đại ca bảo tôi về đây rước chị nhà đến săn sóc cho anh ấy.
Lão thái thái nói: Cũng được, để tôi đi xem sao.
Tên tam gia nói: Lão thái thái già cả vào trong ấy gặp cảnh như thế này càng rối rắm thêm. Hơn nữa để chị là người ít tuổi ở giữ nhà có điều bất tiện chăng?
Lão thái thái nghe mấy lời nói đó cho là hợp lý, bèn vào trong nhà bàn bạc với con dâu là Ngô thị. Nàng Ngô thị cũng là người hiền thục, nghe tin chồng bệnh nặng, lòng rối lên, lật đật thay áo, nói:
- Để con đi coi thử.
Rồi ra bên ngoài nói mấy câu khách sáo đoạn lên ngồi kiệu thẳng đến Thừa tướng phủ. Khi vào hoa viên, kiệu dược đặt xuống, vén rèm ra xem, Ngô thị thấy một vị công tử đang ngồi một mình nơi thềm cửa sảnh đường, còn chồng nàng là Vương Hưng đang bị trói gô ở bên đó. Ngô thị chẳng biết là do nguyên cớ gì, chỉ thấy vị công tử trang phục rất sang trọng chỉnh tề: Đầu đội khăn như ý châu nạm ngọc, mình mặc áo rộng rập rờn hoa kim tuyến. Chân mang vớ trắng, lộ ra đôi giày nhẹ. Nhìn lên tướng mạo lại càng khó coi: đầu vồ, mắt miệng bình, tròng lộ, nhìn thấy rất hoạt kê.
Ngô thị nhìn xong mới hỏi:
- Dám hỏi công tử đây là ai? Tại sao lại bắt trói chồng tôi như vậy?
Bọn gia nhân đứng kề bên nói:
- Đây là công tử nhà ta, người là con của Tần Thừa tướng đó. Nàng hãy mau đến chào người đi.
Ngô thị hãy còn chưa tin là thật, lại nghe Tần Hằng nói:
- Nàng ơi, nàng đừng có sợ. Ta đây muốn làm việc nhất cử lưỡng tiện, ba tô vô một giạ đấy. Ngờ đâu thằng chó Vương Hưng này chẳng chịu nghe theo. Số là từ ngưỡng mộ phương dung sắc nước hương trời của nàng ta nghĩ rằng nàng ở với Vương Hưng, ăn uống kham khổ, phục sức vải to thưa, thật là uổng biết bao! Ta mới kêu Vương Hưng lại thương nghị là: Ta sẽ cho hắn 200 lượng bạc để về cưới vợ khác, há chẳng phải là nhất cữ lưỡng tiện, tam toàn kỳ mỹ hay sao? Hai trăm lượng bạc đó cưới được con vợ khác mà còn lời chán, vừa được phát tài vừa khỏi mắc tội đày đọa thân nàng. Đưa nàng đến đây hầu hạ ta, ta lại có thêm được một người hợp ý. Đem việc đó ra thương lượng mà hắn một mực không khứng nghe theo, nên ta giận bắt trói nó như thế. Ngô thị nghe xong, mày ngài dựng ngược, mắt hạnh tròn xoe, nói:
- Thưa công tử, theo tôi nghĩ, công tử nên thả vợ chồng tôi ra, thì muôn việc coi như không có việc gì. Công tử là con quan Tể tướng đương triều, thê thiếp đầy nhà, cần gì phải làm khó dễ bọn tôi như vậy. Công tử đáng lẽ nên làm việc phước đức mới phải chớ những việc như thế này mà thấu tai quan Ngự sử thì đến cả thừa tướng cũng bị liên lụy xem thường đấy.
Vương Hưng ở một bên cũng vọt miệng nói:
- Thưa công tử, kẻ tiểu nhân lâu nay buôn bán ở cửa phủ làm gì đắc tội với người đâu, xin tha vợ chồng bọn tiểu nhân về làm phước.
Tần Hằng nghe nói, trở lại giận xung thiên, kêu một tên ác nô:
- Đem hai đứa nó rút ngược lên mà đánh cho ta!
Bọn thủ hạ ráp nhau đè hai vợ chồng trói lại rồi rút ngược lên xà nhà mà đánh. Hai vợ chồng Vương Hưng quyết tâm thà chịu đánh chết chớ chẳng nghe theo điều kiện của Tần Hằng. Đánh đến chiều tối, bọn họ nghỉ tay ăn uống, rồi lại đánh tiếp. Bỗng nghe Đông viên của tướng phủ có quỷ lộng, bọn thủ hạ chạy thưa:
- Thưa công tử, nên chạy qua xem thử!
Tần Hằng nghe nói cũng hối bọn gia nhân xách đèn ở trước: Mau qua xem đi!
Bọn gia nhân ý cũng muốn xem quỉ lộng ra sao nên tranh nhau chạy sang. Trong nhà chỉ còn trơ lại hai vợ chồng Vương Hưng đang rên rỉ. Vương Hưng nén đau bảo vợ:
- Nàng ơi, cũng vì ta mà nàng phải chịu cảnh đớn đau như thế này!
Ngô thị nói: Vợ chồng mình chắc phải chết ở đây quá! Nếu có chết, bọn ta sẽ đến trước Diêm Vương báo cáo còn dễ hơn. Đương nói tới đó, bỗng thấy có người bước vào, Vương Hưng chớp mắt nhìn kỹ: Té ra là Thám nan thủ Triệu Bân. Vương Hưng kêu:
- Anh ơi, Triệu đại ca, mau cứu em với!
Triệu Bân nhìn lại, thấy hai vợ chồng Vương Hưng khắp mình bị thương tích, bèn chạy đến đưa Vương Hưng xuống trước, rồi Ngô thị xuống sau. Triệu Bân dùng tay mở gây trói cho Vương Hưng mãi chẳng ra vì gút chặt quá. Chính lúc đang bối rối đó, bỗng từ phía sau có người ôm cứng Triệu Bân lại. Triệu Bân muốn vặn người ném người kia ra phía trước để thoát thân nào dè ráng hết sức bình sánh mà người ở sau như núi Thái Sơn đè cứng không nhúc nhích.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 22 [/align]



Thi Diệu Pháp, Người Quỷ Lộng Tần Gia
Trị Kỳ Bệnh, Tế Công Đùa Thừa Tướng




Có thơ rằng:
Nhỏ nhít thân này đâu kể
Sá chi muôn lượng vàng ròng
Đường ái nực mùi son phấn
Sử xanh lưu lại tiếng cười.
Triệu Bân cố vùng vẫy thoát thân mà ráng hết sức vẫn không nhúc nhích, ngoái đầu nhìn lại, té ra là Tế Điên. Triệu Bân nói:
- Sư phụ ơi, thả tôi ra đi! Tôi sợ sư phụ bị Thừa tướng hại đó chớ, nào ngờ lại gặp sư phụ ở đây.
Tế Điên thả tay ra, nói:
- Này Triệu Bân, ngươi cởi trói cho hai vợ chồng Vương Hưng, rồi theo ta vào trong này ta dặn một chút.
Triệu Bân mở trói cho vợ chồng Vương Hưng xong, Tế Điên móc trong túi ra hai hoàn thuốc bảo vợ chồng Vương Hưng thoa lên mấy chỗ vết thương. Đoạn Tế Điên vào trong nhà ngồi ăn nhậu tì tì. Triệu Bân nói:
- Hay quá! Té ra bàn rượu này người ta dành sẵn cho sư phụ đây mà!
Tế Điên bảo:
- Này Triệu Bân, ngươi qua căn phía Bắc của nhà Tây, sẽ thấy có bốn cái rương. Trong rương thứ ba có một hộp vàng ròng nặng 100 lượng và sáu phong nén, nặng 300 lượng. Ngươi hãy cầm về đây cho ta!
Triệu Bân lật đật đi tìm, quả đúng như lời nói và cầm vàng bạc đem về.
Tế Điên hỏi:
- Này Vương Hưng, ngươi trước ở đâu?
Vương Hưng đáp:
- Tôi nguyên quán huyện Dư Hàng.
Tế Điên bảo:
- Này Vương Hưng, ngươi hãy cầm lấy số bạc này ngày mai cùng mẹ và vợ ngươi thuê thuyền về huyện Dư Hàng nhé! Đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà cho Triệu Bân hết đi. Với số bạc này, ngươi về xứ mua một ít đất và làm vốn bán buôn cũng sống tạm qua ngày.
Vương Hưng nghe nói, vội vàng sụp xuống lễ tạ.
Tế Điên nói:
- Triệu Bân, ngươi hãy đưa vợ chồng Vương Hưng về đi!
Triệu Bân nói:
- Sư phụ ở đây chắc không hề hấn gì phải không? Đệ tử định đi giết Thừa tướng báo thù cho sư phụ đây.
Tế Điên nói:
- Ngươi khỏi phải lo, ta tự có phương cách, ba ngày nữa ngươi sẽ được tin tức của ta.
Triệu Bân gật đầu vâng dạ. Vừa muốn đi, bỗng nghe có người nói:
- Bọn bây hãy theo ta vào đây, coi thử bọn vợ chồng Vương Hưng có chịu nghe theo hay không?
Bọn ác ôn dạ ran, lục tục kéo đến, đèn đuốc sáng choang.
Người nói câu đó chính là nhị công tử Truy mạng quỷ Tần Hằng, dắt theo một bọn ác nô từ bên tướng phủ trở về. Hồi nãy nghe nói bên Đông phủ quỷ lộng, Tần Hằng sang vấn an Tần Thừa tướng. Thừa tướng quá thương con, sợ con phải bị sợ hãi nên không cho vào mà bảo hãy trở về hoa viên ngơi nghỉ. Vừa đến cửa hoa viên, Tần Hằng sực nhớ đến vợ chồng Vương Hưng bèn nói:
- Bọn bây đâu, theo ta vào trong này xem vợ chồng Vương Hưng có chịu nghe lời ta không. Nếu bọn nó không chịu nghe, ta đập chết cho rảnh!
Triệu Bân nghe vậy cả kinh, nói:
- Sư phụ ơi, không xong rồi, bọn mình phải lánh vào nhà trong mới được.
Tế Điên nói: - Không sao đâu mà! Liền lấy tay chỉ ra ngoài một cái, miệng niệm lục tự chơn ngôn: "Án ma ni bát mê hồng”.
Tần Hằng đang đi cảm nghe vướng phải làn gió lạnh run, rùng mình té ngã trên đất. Ai nấy áp lại đỡ lên, nhốn nháo bấn loạn. Triệu Bân thừa lúc lộn xộn đó, dắt vợ chồng Vương Hưng thẳng ra cửa ở góc vườn đi ra ngoài và đưa về nhà. Sáng sớm hôm sau, Vương Hưng thuê một chiếc thuyền lớn đưa mẹ và vợ trốn về quê cũ, đồ đạc lặt vặt cho hết Triệu Bân.
Tế Điên sau khi thấy Triệu Bân đi rồi, vẫn nhởn nhơ ăn uống no say, rồi lững thững trở về căn phòng trống bên Đông phủ.
Nhắc lại Tần Hằng sau khi té xuống, đầu óc nặng nề, có rất, đông người dìu vào trong phòng.
Tần Hằng kêu: Chao ôi, nóng quá!
Tần Ngọc lật đật lột mũ Tần Hằng xuống.
Tần Hằng la: Nóng!
Mọi người lại cởi bớt áo dài ra.
Tần Hằng lại kêu nóng.
Mọi người xúm cởi áo trong ra.
Tần Hằng la: Nóng!
Tần Ngọc lại cởi bỏ giày dép ra.
Tần Hằng la: Nóng!
Tần Ngọc lại cởi thêm áo lót ra.
Tần Hằng la: Nóng!
Tần Ngọc bảo mau đem quạt đến. Quạt cũng vẫn thấy nóng. Tần Ngọc bảo đem hai cục nước đá vào. Bọn thủ hạ vừa thưa có nước đá đem đến.
Tần Hằng lại kêu: Chao ơi, lạnh quá.
Tần Ngọc lật đật bảo: Thôi, dẹp nước đá đi!
Tần Hằng kêu: Lạnh quá!
Mặc áo lót vào vẫn còn lạnh, lại mang giày dép vào.
Tần Hằng kêu: Lạnh quá!
Mặc áo trong vào cũng vẫn còn lạnh, mặc áo bào vào vẫn còn lạnh, đội mão lên vẫn còn lạnh, đắp thêm hai lớp mền vẫn còn lạnh.
Tần Ngọc kêu: Mang bồn lửa lên.
Bồn lửa mới vừa đưa lên, Tần Hằng lại kêu: Nóng quá!
Lại lần lượt cởi bỏ mũ áo ra hết lớp này đến lớp khác. Hết, nóng rồi lại lạnh, hết lạnh lại nóng, đổi thay như thế bốn năm lượt, thì trời đã sáng.
Tần Hằng bỗng kêu: Đầu ta sao ngứa quá, ngứa khó chịu quá đi, mau lại gãi cho ta.
Tần Ngọc lấy tay gãi một cái, nào ngờ càng gãi đầu càng lớn. Trong giây lát đầu to bằng chiếc đấu. Bọn Tần Ngọc sợ quá không dám gãi nữa. Mọi người bối rối chỉ lấy mắt nhìn nhau!
Trời đã sáng rõ, Tần Ngọc nói: Mau qua Đông phủ bẩm cho Thừa tướng hay đi!
Hôm đó Thừa tướng cáo bận không đi chầu vua, bị quỷ lộng nửa đêm cũng không rảnh mà thẩm vấn mấy lão Tăng. Trời đã sáng rõ, Thừa tướng đương muốn nghỉ ngơi giây lát, bên ngoài có gia đinh vào thưa:
- Có người đưa tin, công tử bị bệnh nặng. Thừa tướng nghe nói, xót tình cha con lật đật dắt tùy tùng sang hoa viên thăm Tần Hằng. Tần thừa tướng vào trong nhà thấy con nằm cuộn trên giường, đầu lớn thật khó coi, bèn vội quở:
- Bọn tôi tớ chúng bay thật là đáng giận! Công tử bệnh nặng như vậy sao không cho ta hay sớm?
Tần Ngọc thưa:
- Tại tướng gia chưa rõ mới rầy oan như vậy. Chứ hồi hôm công tử từ Đông phủ trở về, bỗng nhiên chóng mặt té xuống, khi trở vào phòng lại kêu nóng quá, chúng con cởi hết y phục ra, lại kêu lạnh quá, mặc y phục vào lại kêu nóng quá! Cởi ra mặc vào như thế đến lượt về sau lại kêu ngứa đầu quá. Kẻ nô tài mới gãi cho công tử, nhưng càng gãi đầu càng lớn. Bịnh này thật là kỳ quái!
Thừa tướng dặn:
- Mau đi mời danh y trị cho công tử.
Bọn gia nhân thưa:
- Trong thành Lâm An này có hai vị danh y mà thôi. Một vị tên Chỉ hạ hoạt nhân Thang Vạn Phương, còn một vị tên Trại hoa đà Lý Hoài Xuân.
Bọn gia nhân đi mời Lý Hoài Xuân, Lý Hoài Xuân nghe nói người nhà của Tần Thừa tướng mời, đâu dám không đi, sửa soạn theo gia nhân đi ngay đến tướng phủ. Thừa tướng lòng gấp như lửa đốt, nghe báo có thầy thuốc đến, liền dặn bảo gia nhân mời vào. Gia nhân đưa Lý Hoài Xuân vào bên trong, Tần tướng ngó thấy trước mặt mình một người đầu đội khăn tiêu dao bốn góc, mình mặc áo bào lam, chân mang giày dế rộng, khí vũ hiên ngang, nhất biểu phi phàm, bèn lật đật mời vào nhà trong dùng trà.
Lý Hoài Xuân chẩn mạch cho Tần Hằng xong, trong bụng thật khó nghĩ. Nhìn thấy đầu Tần Hằng sưng lên quá to mà chẩn đoán sáu bộ thốn quan xích, mười hai kinh mạch đều không thấy có bệnh. Chẩn đi chẩn lại mãi mà chẳng rõ chứng bịnh sưng đầu này là bắt nguồn từ kinh nào? Nghĩ mình không biết cho thuốc cách sao cho đúng mới nói:
- Đối với bệnh của công tử, tiểu sinh nhận mình tài sơ trí cạn không thể trị được, xin tướng gia mời vị khác cao minh hơn.
Thừa tướng nói:
- Làm sao tôi biết được vị nào cao minh hơn, Lý tiên sinh biết được, làm ơn tiến cử giùm.
Lý Hoài Xuân nghĩ thầm: “Ta trị không được, Thang nhị ca cũng không trị được. Bệnh nào Thang nhị ca chịu thua, ta cũng đành bó tay thôi. Ngoài hai ta ra, còn có ai để tiến cử nữa đâu”. Nghĩ rồi lại nói:
- Thưa tướng gia, tôi thiệt không biết ai để tiến cử.
Thừa tướng nghe xong liền nói:
- Ông đã không trị bệnh cho con ta lại không chịu tiến cử người khác, thì hôm nay ông đừng hòng ra khỏi tướng phủ đâu nhé!
Lý Hoài Xuân nghe lời ỷ thế hiếp người như thế, bỗng nhớ ra và nghĩ: "Sao ta không tiến cử Tế sư phụ kìa!”. Bèn nói:
- Thưa tướng gia, muốn trị bệnh của công tử, chỉ cần có một người. Ngặt vì người ấy điên điên khùng khùng rượu say be bét, áo quần xốc xếch, sợ e tướng công thấy không vui.
Thừa tướng nói:
- Cái đó có hề chi. Chỉ cần ông ấy trị lành bệnh cho con ta là được rồi. Ông nói ngay đi để ta sai người đi rước cho mau.
Lý Hoài Xuân nói: Nhưng ông ấy là người xuất gia.
Thừa tướng nói: - Bất luận là xuất gia hay tại gia, chỉ cần trị lành bệnh là quý rồi. Vậy người đó là ai?
Lý Hoài Xuân nói:
- Người đó là Tế Điên ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ.
Thừa tướng nghe xong, nói:
- A, té ra là ông ấy à! Ông Tăng khùng đó hiện bị ta trói gô bên Đông viện kia kìa.
Lý Hoài Xuân nghe nói Tế Điên bị trói gô, trong lòng mới vỡ lẽ, nói thầm: “Hèn nào công tử bị chứng to đầu là phải cách rồi".
Thừa tướng kêu gia nhân dạy:
- Xuống bảo ông Tăng khùng rằng nếu ông ấy trị hết bệnh cho con ta, ta sẽ thả ông về chùa và không bắt tội chi hết.
Gia nhân vội vàng đi xuống căn phòng trống ở Đông viện. Các vị Hòa thượng đều đứng dậy tiếp đón. Gia nhân nói:
- Hòa thượng, hôm nay ông phát tài to rồi nhé!
Tế Điên nói:
- Lò to, tốn củi nhiều ích chi!
Gia nhân nói:
- Tướng gia tôi bảo ông lên trị bệnh cho công tử.
Nếu ông trị được lành thì người sẽ thả ông về chùa.
Tế Điên nói:
- Tướng gia của mấy người bắt trói ta, muốn thăng đường thẩm vấn ta, bắt ta đến đây, rồi bảo Hòa thượng ta trị bệnh nữa. Ngươi về nói rằng Hòa thượng ta chấp hết.
Gia nhân nói:
- Được, để tôi về trình y lại với tướng gia.
Gia nhân trở về thưa:
- Thưa tướng gia, tôi đi xuống bảo Thừa tướng kêu Hòa thượng lên trị bệnh, ông ấy nói Thừa tướng muốn thăng đường thẩm vấn mới bắt ông đến đây, bây giờ lại kêu đi trị bệnh. Ông nói ông chấp hết đó.
Thừa tướng không hiểu chấp hết nghĩa là sao mới hỏi Lý Hoài Xuân. Lý Hoài Xuân mỉm cười nói:
- Câu đó là một câu nói đùa, tướng gia muốn kêu ông trị bệnh, phải hạ một lời thỉnh mới được.
Xót bụng thương con, Thừa tướng nói:
- Được, bọn bay đâu, đi đến nói là ta thỉnh ông ấy trị bệnh nhé!
Gia nhân nghe nói, nghĩ: “Hòa thượng này lên chân thiệt''. Rồi vội chạy xuống Đông viện gặp Tế Điên nói:
- Ông thiệt có giá lắm nghe. Tướng gia nhà tôi bảo tôi đến thỉnh ông lên trị bệnh.
Tế Điên nói:
- Tướng gia nhà ngươi làm quan ở bực Thừa tướng đứng đầu Tam thai, cùng với Hòa thượng ta ngày thường đâu có qua lại gì nhau. ông ấy muốn kết giao với Tăng đạo thì phải cho quan Ngự sử biết để cùng tham gia mới được.
Gia nhân nói:
- Được, này Hòa thượng! Ông nói phải đó, để tôi về trình lại với tướng gia đại nhân đã.
Nói rồi trở lại hoa viên gặp Thừa tướng, thưa:
- Thưa tướng gia, tôi đi qua bên ấy gặp Hòa thượng nói: Đại nhân thỉnh ông trị bệnh cho công tử. Ông nói: Đại nhân làm quan ở bậc Thừa tướng, vị đứng đầu Tam thai, ông ấy cùng đại nhân vốn không qua lại với nhau. Nay đại nhân muốn giao kết với Tăng đạo phải cho quan Ngự sử biết để cùng tham dự.
Thừa tướng nghe rồi đùng đùng nổi giận, nói:
- Tăng nhân này lớn mật dữ a?
Lý Hoài Xuân nói:
- Tướng gia không nên giận. Muốn mời Hòa thượng trị bệnh cho công tử, đại nhân phải thân đi mới được.
Thừa tướng thấy con nằm lăn lộn trên giường, không biết làm sao hơn, bèn nói:
- Lý tiên sanh, ông với tôi cùng qua bên đó xem Hòa thượng ra thế nào!
Lý Hoài Xuân vâng dạ rồi cùng Thừa tướng đi đến căn phòng trống ở Đông phủ. Thừa tướng ho lên một tiếng làm hiệu có ý bảo ta sắp đến, bọn bây phải giữ quy củ một tí. Quả nhiên bọn gia nhân trong phòng đều nhất loạt đứng dậy hô:
- Đại nhân đến.
Tế Điên nói:
- Các vị ơi, hình như có tiếng chó sủa đâu đây?
Bọn gia nhân vội vàng ngăn lại không cho nói bậy, bảo:
- Đại nhân đến rồi kìa!
Giây lát Thừa tướng cùng Lý Hoài Xuân đủng đỉnh tiến vào. Đến trước Tế Điên, Thừa tướng nói:
- Này Hòa thượng, chỉ nhân vì thằng bé nhà tôi mắc chứng bệnh kỳ quái, bản các hôm nay đặc biệt đến thỉnh ngươi trị bệnh cho cháu.
Tế Điên nói:
- Tôi bị đại nhân cùm trói như thế này, chắc hẳn đâu phải lối mời trị bệnh?
Thừa tướng nghe nói, phừng phừng nổi giận, nói:
- Được, được!
Lý Hoài Xuân thấy sự tình không ổn, vội nói:
- Xin đại nhân tạm dứt cơn thịnh nộ, để tôi đến thỉnh Tế Công cho.
Thừa tướng đành tạm lui lại sau. Lý Hoài Xuân bước tới nói: Xin Thánh tăng từ bi...
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 23 [/align]



Tìm Diệu Dược Chọc Cười Bọn Gia Đinh
Nói Liễn Đối Tài Kinh Tần Thừa Tướng




Có thơ rằng:
Đỗ Lăng hàn thực cỏ còn xanh
Trường tụng Kim Cang Bát Nhã kinh
Mưa lạnh còn vang hồn sĩ tử
Chiêm bao mơ đến Phụng Hoàng đình.
Lý Hoài Xuân đến trước Tế Điên nói:
- Thưa sư phụ, đã lâu không gặp, đệ tử có lời chào.
Hôm nay Tần công tử mắc chứng bệnh kỳ lạ, đệ tử tiến cử sư phụ trị bệnh cho công tử. Bất luận có việc gì không vừa ý, xin sư phụ nể tình đệ tử mà bỏ qua cho.
Tế Điên nói:
- Được, này ông Lý Hoài Xuân, ông muốn ta trị bệnh cho người mà lại để xiềng xích như vậy sao?
Lý Hoài Xuân nghe thế, nói:
- Được, thưa Tần đại nhân, xin ngài cho người triệt bỏ xiềng xích cho Thánh tăng đi.
Thừa tướng lập tức cho cởi bỏ hết xiềng xích cho Tế Điên.
Lý Hoài Xuân nói:
- Thưa sư phụ, người có điều gì bận tâm không? Chúng ta đi nhé!
Tế Điên nói:
- Lý Hoài Xuân ơi, sư phụ, sư huynh, sư đệ ta bị xiềng trói ở đây, ta còn lòng dạ nào đi trị bịnh cho được?
Thừa tướng nghe nói lập tức cho thả chúng Tăng trở về chùa. Chúng Tăng đi về rồi, Lý Hoài Xuân nói:
- Sư phụ ơi, người chắc không còn phải bận tâm điều gì nữa, thôi ta đi nhé!
Tế Điên nói:
- Lý Hoài Xuân ơi, binh vây chùa Linh Ẩn, dỡ phá lầu Đại Bi, ta đi trị bệnh mà lòng lo nặng trĩu làm sao ta đi được?
Thừa tướng biết ý Hòa thượng muốn triệt binh vây chùa, liền sai thủ hạ đi truyền tướng dụ thâu hồi lệnh dỡ lầu và triệu hồi binh lính vây chùa.
Lý Hoài Xuân nói:
- Bạch Thánh tăng, chắc Ngài không có điều chi bận bịu nữa, thôi chúng ta đi nhé!
Tế Điên nói:
- Ừ, thì đi. Rồi đứng dậy nói:
Làm lành thêm đức phước
Gây dữ gặp tai ương
Bần tăng trừ ma nghiệt
Thế gian mắt khó lường.
Thấy Tế Điên nói cười tự nhiên, Thừa tướng nghĩ "Ông Hòa thượng này phóng khoáng không câu nệ, chắc là trị lành con ta. Ta nếu không dỡ phá lầu Đại Bi sẽ bị người ta cười chê biết bao! ông ấy đánh quản gia mình, mình xiềng trói ông ấy lại. Chừng ông ấy trị lành bịnh cho con mình rồi, mình cũng dỡ lầu Đại Bi mới được".
Tế Điên ở phía sau cười ha hả nói:
- Được được, thiện tai! Thiện tai! Để Hòa thượng ta xướng một bài sơn ca cho đại nhân nghe nhé!
Mũ đen phơ phất
Ngôi nhất phẩm ai tày
Áo tía bào xanh
Vị tột cao chưa thỏa ý
Dò sông biển ngàn trùng
Khó đo lòng nham hiểm
Chim thúy trau lông cánh, để giắt đẹp đầu ai
Lợn trong chuồng béo mập, chỉ ngon sướng miệng người.
Vòi vọi non cao chim hết tổ
Nào quản góc gai có kẻ tìm
Đất bằng rộng rãi thênh thang
Tiêu dao tự tại mấy người thông.
Nghe hát sơn ca xong, Thừa tướng gật đầu thầm nhận là Hòa thượng đã biết rõ cả. Mọi người đồng đi đến thơ phòng của Tần Hằng ở hoa viên phía Tây. Đến nơi, nghe Tần Hằng ở bên trong đang rên rỉ không thôi.
Tế Điên bước vào phòng nói:
- Ôi chao, cái đầu lớn quá tay vậy, không xong rồi!
Lý Hoài Xuân nghe nói, thất kinh nghĩ thầm: “Thế này thì hỏng mất! Mình thỉnh ông lại, ông lại trị không được. Thiệt bậy quá!”.
Thừa tướng cùng thất kinh, lật đật hỏi:
- Bệnh này có thể trị được không, Hòa thượng?
Tế Điên nói:
- Có thể trị được chứ. Không hề chi! Đây là loại bệnh sơ sài. Cả đến các loại đầu óc ta đều trị được ráo. Bệnh này có tên gọi là “Đại đầu ung".
Nói rồi, đưa tay vào túi sờ soạng một lát, rồi nói:
- Cha chả! Không xong! Thuốc của ta rớt đâu mất rồi.
Thừa tướng hỏi: Thuốc gì thế?
Tế Điên đáp: Thuốc trị bệnh đại đầu ung.
Thừa tướng nghe nói, ngạc nhiên hỏi:
- Hòa thượng đến tướng phủ này, làm sao biết con ta mắc bệnh đại dầu ung mà mang thuốc?
Tế Điên đáp:
- Không phải vậy đâu. Nhân vì có một vị Vương viên ngoại, ông ta cũng có một đứa con mắc bệnh giống như vầy. Hễ mắc nhằm bệnh này thì chắc chắn không phải là người tốt, thế nào cũng có hành hung tác ác chi đây như là cưỡng chiếm vợ trẻ gái tơ nhà người mới bị như vậy. Con ông Vương viên ngoại bất hảo nên mang chứng đại đầu ung, mời ta đến trị bệnh. Ta mang theo thuốc vừa định đi, kế bị tướng gia phái người bắt. Hòa thượng ta trói lại. Lúc ta đến tướng phủ, mò kiếm hãy còn mà, bây giờ rờ lại sao đâu mất.
Thừa tướng dặn:
- Bây đâu! Mau ra mò kiếm thuốc cho Hòa thượng!
Bọn gia nhân hỏi:
- Thưa Hòa thượng, thuốc của Ngài là thuốc hoàn hay thuốc miếng? Xin bảo cho bọn tôi biết mới kiếm được.
Tế Điên đáp:
- Nó là thuốc hoàn, có lẫn hột nho nhỏ như gạo, màu da như da đất, cũng không có bao gói chi.
Bọn gia nhân nói:
- Đễ bọn tôi tìm cho.
Tế Điên nói:
- Thứ bệnh của công tử đây có thể có biến chuyển. Nếu biến chuyển tới mức sọ đầu lớn quá thì không cách gì trị được.
Thừa tướng hỏi:
- Vậy thì phải làm sao?
Tế Điên nói:
- Tôi phải ăn no rồi mới trị được, nếu không ăn no thì càng gắng trị, bệnh càng chuyển biến, uổng công thôi!
Thừa tướng nghe nói, sợ con cưng bị bệnh biến đầu to thêm, lật đật thét bảo gia nhân dọn rượu cho mau. Dọn ba bàn tiệc trên đại sảnh để mời Hòa thượng lên uống rượu rồi trị bệnh cho công tử.
Lý Hoài Xuân cùng Tế Điên lên đại sảnh. Tới thấy tiệc rượu sẵn sàng, Tế Điên chẳng khiêm nhường chi, đến thẳng ghế giữa đầu bàn ngồi xuống. Thừa tướng thấy vậy trong lòng có ý không vui, thầm nghĩ: “Ông Hòa thượng này cũng là người có chút lai lịch đây, như ta nay là Tể tướng đương triều mà ông vẫn chiếm ghế thượng tòa của ta không nể nang gì hết". Thừa tướng không cách nào hơn, đành ngồi vào bồi tiếp, mời Lý Hoài Xuân ngồi ở ghế phía Đông vào tiệc.
Rượu quá ba tuần, Tế Điên nói:
- Thưa đại nhân, tiệc rượu này buồn quá, uống không vô.
Thừa tướng hỏi:
- Theo ý Hòa thượng thì phải thế nào, uống rượu mới không buồn tẻ?
Tế Điên nói:
- Chẳng hạn như: Đưa vật đoán, ra tửu lệnh, đối chữ, phê ý chữ, đều có thể giải buồn được.
Thừa tướng hỏi:
- Này Hòa thượng, ông cũng biết chữ nữa sao?
Tế Điên đáp:
- Nói là biết chữ thì không dám, nhưng cũng hơi biên biết một vài.
Thừa tướng hỏi:
- Ông muốn ra tửu lệnh là phạt uống rượu hay ăn thua vật chi?
Tế Điên nói:
- Chẳng cần phạt rượu làm chi. Đại nhân cứ ra một câu đối nếu Hòa thượng ta đối được, ta ăn đại nhân một vạn lượng bạc. Bộ đại nhân tưởng ta là một Hòa thượng nghèo nếu bị thua rồi không có bạc trả sao? Được rồi, nếu ta thua, ta đem lầu Đại Bi ra chung cho đại nhân đó.
Thừa tướng nghe vậy trong bụng khoái tỉ, nói:
- Này Hòa thượng, để ta thử văn lý của ông trước, nếu ông quả có tài học, chúng ta sẽ cùng nhau đánh cuộc nhé. Ta ra hai chữ trước cho ông đối nhé
Tế Điên nói: Đại nhân cứ ra đi.
Thừa tướng nói: U trai (phòng tối).
Tế Điên đối: Mao lư (nhà tranh).
Thừa tướng gật đầu tiếp: Khai song (mở cửa sổ).
Tế Điên đối ngay: Bế hộ (đóng cửa lớn).
Thừa tướng: Độc thư (đọc sách).
Tế Điên: Tả tự (viết chữ)
Thừa tướng nói: Hòa thượng ơi, ông thua rồi, sáu chữ của ta ráp tại thành một câu như vầy:
U trai khai song độc thư.
(Phòng kín (tối) mở cửa đọc sách).
Tế Điên nói: Sáu chữ của ta ráp lại cũng thành một câu vậy. Đây:
Mao lư bế hộ tả tự
(Nhà tranh đóng cửa lớn viết chữ)
Thực ra, câu nói của Tế Điên lại hàm ý rất thô tục(1).
(1) Bút lông. tiếng lóng, còn chỉ sinh thực khí của nam giới (Bút lông) viết chữ là diễn ý "bút lông" làm phận sự truyền giống của nó.
Thừa tướng nói:
- Hòa thượng đừng đùa cợt chứ. Ta sẽ ra cho ông một câu đối theo pháp chiết tự, nếu ông đối được, ta sẽ thua ông một vạn lượng bạc.
Tế Điên đáp: Cũng được.
Thừa tướng ra:
- Tây tốt thị cá túy, mục thùy thị cá thụy, Lý Thái Bạch hoài bảo tửu đàm tại sơn pha thụy. Bất biểu tha thị túy? Bất biểu tha thị thụy?
(Nghĩa: chữ tây + chữ tốt là chữ túy, chữ mục + chữ thùy là chữ thụy. Lý Thái Bạch ôm trong lòng bầu rượu gục bên sườn núi. Không biết đó là ông đang say (túy) hay ông đang ngủ(thụy)?)
Tế Điên hớp một hớp rượu, cười khà khà rồi nói
- Chà, câu đối này hay dữ đa, để Hòa thượng ta đối thử coi:
Nguyệt trường thị cá trướng, nguyệt bán thị cá bạn,
Tần phu nhân hoài bảo đại thổ tại mãn viện cuồng. Bất hiểu tha thị trướng, bất hiểu tha thị bạn?
(Nghĩa: Chữ nguyệt + chữ trường là chữ trướng, chữ nguyệt + chữ bán là chữ bạn, Tần phu nhân mang bụng to đi đủng đỉnh khắp nhà. Không biết bà ta sưng bụng (trướng) hay bà ta mập (bạn)?).
Thừa tướng xua tay lia lịa, nói:
- Hòa thượng đừng khôi hài chớ!
Và nghĩ thầm: "Ông Hòa thượng này thật dễ ghét, lại ra một câu đối khác để cho ông ta biết Thừa tướng ta là bậc văn chương đầy bụng, thốt lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Bèn ra:
Phật tổ giải nhung điều, khổn Hòa thượng, khấu điên tăng.
(Nghĩa: Phật tổ mở dải nhung, trói Hòa thượng, đánh điên tăng).
Tế Điên nói:
- Chao ôi, câu đối của Thừa tướng thiệt hay quá. Hòa thượng ta tài sơ học kém...
Thừa tướng nói:
- Ông đối đi, nếu mà đối được ta thua thêm một vạn lượng bạc nữa, còn đối không được ta sẽ dỡ lầu Đại Bi nhé.
Tế Điên đáp: Được.
Hớp một chén rượu rồi nói:
- Câu đối của ta:
Thiên tử đẩu ngọc tỏa, nã đại thần, cầm thừa tướng
(Nghĩa: Thiên tử giũ dải ấn, bắt đại thần, giam Thừa tướng).
Ta lại ăn thêm một vạn lượng bạc nữa nhé.
Thừa tướng nghĩ: "Hòa thượng này là bậc kỳ tài mình đối chữ không thắng ông ta rồi”. Bèn nói:
- Này Hòa thượng, thôi không đối chữ nữa, bây giờ ra tửu lệnh đi.
Tế Điên nói:
- Ra tửu lệnh thì ra tửu lệnh chớ, mà đại nhân đề nghị thì đại nhân ra đi.
Thừa tướng nói:
- Ta muốn nói đến hai người xưa, hai vật kiện, hai người xưa đó thích thứ rượu như nhau, làm việc giống nhau, nhằm trên hai sự kiện khác nhau, một người sống một người chết. Ông nói được kể là ăn, còn không được kể là thua.
Tế Điên nói: Thì đại nhân nói trước đi.
Thừa tướng nói: Này Hòa thượng, bây giờ ta nói đây, ông nghe cho kỹ đi nhé:
Viễn khán nhứt tòa lâu, cận khán nhứt chích ngâu (ngưu).
Lữ Đồng Tân túy ngọa Nhạc Dương lâu, Tôn Tẩn giá quải kỵ ngâu.
(Nghĩa: Nhìn xa một tòa lầu. thấy gần là một con Trâu.
Lữ đồng Tân say nằm ở Nhạc Dương lâu, Tôn Tẩn gác tó cưỡi mình trâu).
Tế Điên nói: Ta cũng đọc đây:
Viễn khán nhứt tòa lư, cận khán nhứt vĩ ngư.
Trương Phi cố lư, Kính Đức điều ngư.
(Nghĩa: Nhìn xa một nhà lá, thấy gần một chú cá.
Trương Phi đến nhà lá, Kính Đức ngồi câu cá).
Thừa tướng nói:
- Này Hòa thượng, ông thua một vạn lượng bạc rồi đấy nhé! Trương Phi cố lư nghĩa là ba lần chầu nhà tranh, chuyện đó coi như được đi. Chớ còn Kính Đức điếu ngư thì cá làm sao lại có chân được?(1)
(1)Theo luật đối, dùng con vật bốn chân đối với con vật bốn chân phép đối mới chỉnh. Ở đây cá đối với trâu là con vật bốn chân nên mới bị hỏi vặn lại.
(Lời chú của người dịch)
Tế Điên nói: Vậy chớ giáp ngư (cá ngựa) không phải có bốn chân là gì?
Thừa tướng tịt luôn, lại thua thêm một vạn lượng bạc. Thừa tướng thầm nghĩ: "Thiệt mình không có cách gì thắng ông ta được”. Bèn bước ra ngoài kêu Tần An bảo:
- Ngươi lấy một cái hộp bánh tổ đứng bên ngoài chờ ta kêu Hòa thượng đoán. Nếu ông ấy đoán trong hộp không có vật chi thì ngươi để cái bánh tổ vào. Còn như ông ấy đoán trong hộp có vật thì ngươi đem cái hộp không vào.
Tần An gật đầu. Thừa tướng trở vào bên trong, nói:
- Này Hòa thượng, ta lâu nay nghe nói ông là người đoán được mọi việc, khéo biết các việc quá khứ vị lai. Ta đã bảo gia nhân đem cái hộp ra cho ông đoán xem trong hộp có đồ vật gì không. Nếu ông đoán đúng thì theo lệ củ ta thua ông một vạn lượng bạc nữa, còn nếu ông đoán sai thì ta cho dỡ lầu Đại Bi của ông đa.
Tế Điên nói:
- Vậy thì chuyến này đại nhân thua gấp rồi.
Thừa tướng nói:
- Ta trái lại không chắc thua gấp đâu mà muốn thử tài ông đó.
Tế Điên nốc một chén rượu, định thần rồi lại nói:
- Chủ ý của đại nhân cao quá, món đồ đem đố cũng thật rắc rối, bây giờ trong hộp không có chi.
Câu thứ ba, Tế Điên cố ý nói dài tiếng ra.
Tần An nghe nói trong hộp không có món chi liền lấy cái bánh để vào. Đi vào được vài bước lại nghe Tế Điên nói:
- Bên trong chỉ để cái bánh.
Tần An nghe nói rất đỗi ngạc nhiên, rốt cuộc lại bị Hòa thượng đoán trúng.
Thừa tướng nghĩ thầm: "Bây giờ cũng khuya rồi, ta cũng không nên tranh đối làm chi, mà lo trị bệnh cho con ta mới phải. Nghĩ rồi bèn nói:
- Hòa thượng ơi, ông uống rượu xong chưa, mời dùng cơm để rồi còn đi trị bệnh nữa chớ.
Tế Điên nói:
- Phần ta ăn uống cũng khá no rồi. À, à, còn viên thuốc của ta các ngươi đã tìm thấy chưa?
Bọn gia nhân nói:
- Bọn tôi bò trên mặt đất, lấy mũi hít cùng hết mà chẳng thấy nó đâu cả.
Tế Điên thò tay vào túi móc ra một gói, nói:
- Ta hãy còn một ít dược liệu mà chưa đủ, phải thêm vào hai vị nữa mới đủ lượng.
Thừa tướng xem thử, bên ngoài viết chữ tháu quá, coi không ra. Mở ra xem thấy bên trong có chất bột trắng trắng. Lý Hoài Xuân ghé mắt nhìn biết đó là bột mì để ăn, mới hỏi:
- Thưa Hòa thượng, vị thuốc này tên là gì vậy?
Tế Điên đáp: Thuốc này tên là Đa-ma-đa-la-đa-ba-la.
Thừa tướng hỏi: Cần phải thêm vị nào nữa?
Tế Điên đáp: Cần phải có chu sa lượng, bột mì 4 lượng, chậu 1 cái, nước sôi 1 thùng, lại dùng bàn chải 1 cái.
Thừa tướng dặn bọn gia nhân chiếu theo đó lo liệu cho mau. Giây lát, gia nhân thưa rằng tất cả các thức cần dùng đều đầy đủ. Tế Điên mới buông chén đủa xuống, theo Thừa tướng cùng thẳng đến thư trai...
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 24 [/align]



Nhận Thế Tăng Vinh Quy Về Linh ẩn
Túy Thiền Sư Vào Thẳng Viện Câu Lan




Khi Tế Điên theo Thừa tướng xuống thư phòng ở hoa viên, thấy gia nhân là Tần Ngọc bưng một chậu nước chu sa như cháo đỏ, bên trong lềnh bềnh một cái bàn chải, đứng chực sẵn. Tế Điên thò tay cầm lấy bàn chải, nói:
- Đại nhân muốn cái gì cũng đều được hết.
Rồi nhắm ngay đầu Tần Hằng chà một bàn chải, tức thời cháo đỏ dính tùm lum, dính tới đâu chỗ sưng tiêu đến đó. Tế Điên chà liên tiếp mấy cái nữa, đầu của Tần Hằng lập tức hết đau, nhỏ lại như thường.
Tế Điên nói:
- Bệnh này còn có thể trở đi trở lại nữa, cần phải nghỉ ngơi lâu lâu mới được. Để ta viết cho một toa thuốc, nếu phạm phải bệnh lại thì cứ chiếu theo toa mà dùng mới lui được.
Thừa tướng lúc đó mới biết được Hòa thượng quả thần thông quảng đại, mời Tế Điên lên đại sảnh dùng trà. Lý Hoài Xuân nói:
- Tôi xin cáo lỗi không thể bồi tiếp được, vì còn có mấy nhà rước tôi đi thăm bệnh. Bây giờ tôi phải về.
Thừa tướng cho người đưa ra khỏi tướng phủ.
Tế Điên cùng Thừa tướng đàm luận tại thư phòng rất là tương đắc. Hai người cao đàm quảng luận. Tế Điên đối đáp như lưu. Thừa tướng rất lấy làm đẹp ý, nói:
- Hòa thượng ơi, tôi đâu có thể được như Ngài là người vượt thoát hồng trần, thâm tu nơi cổ tự, chẳng kể đến quốc gia hưng vong, chẳng màng đến thành suy thành bại, chỉ tụng kinh niệm Phật, đả hương tọa thiền. Cuộc đời vui đẹp làm sao! Còn tôi tuy làm quan lớn trong triều, suốt ngày bầu bạn với vua không khác nào làm bạn với cọp, nếu có điều chi sơ hở thì tán gia mất mạng như chơi.
Tế Điên nói:
- Sao đại nhân lại nói như vậy? Đại nhân làm quan tể tướng, vị ở Tam thai, có công giúp đỡ Thánh hoàng trợ hóa chúng dân, dưới một người mà trên muôn kẻ, xét xử an dân.
Thừa tướng nói:
- Chao ôi, Hòa thượng còn nhắc tới tước vị, nhất phẩm đương triều, vị quan Tam thai làm chi! Không nhắc tới thì thôi mà hễ nhắc tới càng cảm thấy rùng mình ớn lạnh. Lời tục có nói: "Quan to thì họa lớn, cây cả sợ cuồng phong, quyền cao lắm kẻ cười". Ta từ khi thọ chức đến nay lòng nơm nớp lo âu, chăm lo việc nước, cẩn thận mọi việc mà còn chịu không biết bao nhiêu tiếng oán hờn! Thật không chút nào bằng Hòa thượng sống thanh nhàn tự tại. Không nghĩ không lo điều gì.
Người ta thường truyền miệng câu này thật lý thú:
Tướng quân đêm vắng vượt thành quan
Triều thần ngai ngái suốt canh tàn
Trời trưa chùa núi tăng còn ngủ
Danh lợi phồn hoa chẳng đổi nhàn
Ta muốn Hòa thượng làm thế thân cho ta, không biết ý Hòa thượng như thế nào?
Tế Điên nói:
- Ý đại nhân đã muốn như thế, thật là việc thượng ta cầu mà không được thay!
Đương nói tới đó, bỗng gia nhân bên ngoài chạy báo:
- Thưa lão gia, công tử trở bệnh lại rồi, đầu to lại như cũ.
Tế Điên nói:
- Ta cũng chẳng cần đi làm chi, người về nói với công tử giở toa thuốc của ta cho ra xem, rồi chiếu theo đó thi hành, công tử tự khắc thấy nhẹ, còn nếu không chịu làm theo lời ta dặn, bệnh càng lúc càng nặng thêm đa!
Gia nhân lật đật trở lại tây viện bảo cho Tần Hằng biết.
Tần Hằng mắc bệnh lại nguyên nhân như thế nào?
Sau khi hết bệnh, Tần Hằng lại nhớ đến vợ chồng Vương Hưng, mới hỏi bọn gia nhân:
- Người đẹp của ta đâu rồi bây?
Tần Ngọc đáp: Mất tiêu rồi!
Tần Hằng nói: Cha chả, tụi bây dám thả người đẹp của ta hả? Đâu có được!
Đương nói tới đó, đầu óc kêu hu hu hu mấy tiếng.
Bọn gia nhân sợ quá chạy qua bên Đông viện báo cho thừa tướng biết. Nghe lời Tế Điên dặn, gia nhân trở lại thưa:
- Thưa công tử, Hòa thượng bảo công tử cứ chiếu theo phương thuốc trong toa mà làm, bệnh tự khắc khỏi.
Tần Hằng nghe nói, vội kêu:
- Mau đem toa thuốc lại ta coi.
Gia nhân lật đật lấy toa thuốc trình lên.
Tần Hằng lấy ra xem chỉ thấy một bài thơ:
Chính thân có bệnh tại tâm sinh
Thân bệnh cần tìm tâm dược bình
Tâm nếu chánh chơn, thân tức khỏi
Tâm sinh tà ngụy, bệnh tiến hành.
Tần Hằng xem xong liền nghĩ: “Chao ôi, bệnh của ta chính do ta tìm lấy đây mà. Ta cướp đoạt vợ con nhà người, gây nên tội ác quá nhiều, từ nay ta phải cải ác tu thiện, bệnh mới mong khỏi hẳn được".
Vừa nghĩ tới đó, trong đầu bỗng kêu hu hu hu mấy tiếng, đầu tóp nhỏ lại như cũ. Bọn gia nhân vội chạy sang Đông viện báo với Thừa tướng:
- Bệnh của công tử nhờ làm đúng theo toa thuốc của Hòa thượng, đã khá nhiều rồi.
Thừa tướng dặn:
- Tốt lắm, bọn bay nhớ hầu hạ công tử cho chu đáo nhé!
Bọn gia nhân vâng dạ rồi trở về. Kế thấy gia nhân ở Đông phủ vào thưa:
- Phu nhân mắc bệnh nhức đầu phong, nằm lăn lộn trên giường.
Thừa tướng nói:
- Ta biết rồi. Bạch Thánh tăng, người có thể trị bệnh nhức đầu phong được không?
Tế Điên nói:
- Chắc là phu nhân có nói điều chi nhầm lẫn đây.
Nếu không như thế thì không khi nào mắc phải ác chứng đó. Để ta đến đó xem thử.
Thừa tướng nói:
- Phu nhân có nói điều gì sai quấy đâu? À phải rồi.
Hồi hôm ở đây trước khi bị quỷ lộng, ta nằm chiêm bao thấy lão Thái sư trở về khuyên bảo ta mấy lời hành thiện. Ta tỉnh lại toan truyền dụ ngưng công dỡ lầu Đại
Bi và thả chúng tăng về chùa. Phu nhân bàn: “Mộng mị là do lòng mình nghĩ đến nhiều quá mà nên", khiến ta dẹp bỏ thiện niệm. Giây lát kế bị quỷ lộng đấy.
Tế Điên nói:
- Để ta tới chộp phu nhân một cái là khỏi ngay.
Thừa tướng cùng Tế Điên đồng đi đến Đông viện, vào thượng phòng nghe vang lên tiếng ho không ngớt.
Tế Điên nói:
- Này phu nhân, đừng gấp gáp chi, có ta đến đây, một chút xíu là xong ngay.
Nói rồi, trong miệng lâm râm mấy tiếng, nhắm ngay phòng chộp một cái, lập tức bên trong phu nhân cảm thấy nhẹ ngay.
Tế Điên nói:
- Đại nhân xem thử như thế có được không?
Thừa tướng nói lia lịa:
- Hay quá, hay quá!
Tế Điên nói: - Ta có thể chộp như thần tiên, chộp đâu trúng đó, chộp ném ra cũng có thể chộp bắt vào. Đây, Thừa tướng xem!
Nói rồi nhắm ngay con chó điên đang nằm, chộp một cái, chỉ nghe oẳng oẳng hai tiếng, con chó lăn ra chết tốt. Thừa tướng nói:
- Thiệt ghê quá! Nói lầm lỡ một câu mà bị chứng nhức đầu phong. Từ nay về sau, ta làm quan trong triều phải hết sức tiểu tâm mới được!
Thừa tướng và Tế Điên vào thư phòng ngồi xong,
Thừa tướng bảo gia nhân dọn bày tiệc rượu, định nhâm nhi bàn luận thâu đêm. Trống đổ canh ba, bên ngoài gió thổi mạnh lên. Thừa tướng nói:
- Chà chà, không xong! Đã tới giờ quỷ lộng rồi đó!
Tế Điên nói:
- Đại nhân đừng lo! Đễ ta đi bắt quỷ cho đại nhân. Ta có phép nhốt quỷ lại một chỗ, đông bao nhiêu cũng không sợ mà!
Tế Điên nói rồi bước ra ngoài. Một lát, nghe tiếng Tế Điên hét:
- Quỷ dữ ha! Quỷ dữ ha! Bọn bay tính ăn thịt ta hả? Ta phải liều mạng với tụi bây mới xong.
Thừa tướng bên trong lo lắng không yên, chờ đến trời sáng trắng mới ra tìm. Thấy Tế Điên nằm ngủ ngáy pho pho, bảo gia nhân đánh thức dậy và mời vào trong nhà. Thừa tướng nói:
- Thưa Hòa thượng, tôi xin Hòa thượng thay đổi y phục này, để đưa người về chùa.
Nói rồi bảo gia nhân đi ra ngoài mua cho Tế Điên tăng bào và hạ y, giày dép. Bọn gia nhân đi một lát, trở về mang theo ba bộ tăng y đều là thứ hàng thượng hạng. Một bộ màu vàng dệt mây, một bộ bằng lụa trắng thêu hoa, một bộ bằng lụa lam. Ba bộ giày vớ một trăm hai mươi lượng. Thừa tướng sai thơ đồng phục dịch Hòa thượng tắm rửa, thay y phục.
Tế Điên tắm rửa thay đổi y phục rồi trở lại thư phòng. Thừa tướng đem số bạc thua cuộc để lên bàn, phái gia nhân thắng ngựa mình cưỡi và toàn ban chấp sự đưa Hòa thượng trở về chùa. Tế Điên nói:
- Đại nhân ơi, đáng tiếc là ta cùng đại nhân duyên mỏng, gặp nhau đã muộn, ly biệt lại nhanh. Hôm nay chia tay rồi, không biết bao giờ gặp lại!
Thừa tướng nói:
- Thưa Hòa thượng, bao giờ người muốn đến cứ đến, đây với đó có cách trở thiên sơn vạn hải gì. Ta cũng muốn vô sự cùng Hòa thượng luận bàn thế sự.
Tế Điên nói:
- Hòa thượng ta cũng muốn đến thường với đại nhân lắm. Nè đại nhân, ngài có bao nhiêu người gác cửa?
Thừa tướng bảo sai kêu bọn gác cửa đến. Chẳng bao lâu, hơn mười mấy tên gia nhân cùng đến đứng ngoài thư phòng. Thừa tướng nói:
- Tế Công nay là thế tăng của bản các, từ nay về sau không luận là ta có công sự gì, khi Ngài đến, bây phải báo cho ta hay chớ không được cản trở Ngài nhé!
Bọn gia nhân dạ ran:
- Vâng, vâng, bọn nô tài xin vâng mạng!
Tế Điên nói:
- Hòa thượng ta muốn thưởng cho mấy người này một ít tiền, ý đại nhân thế nào?
Thừa tướng biết Tế Điên vừa ăn mấy vạn lượng bạc, chắc là muốn làm mặt bảnh đây, nói:
- Tùy ý Hòa thượng châm chước.
Tế Điên nói:
- Này các quản gia, ta thưởng cho mỗi người 100 văn nhé!
Thừa tướng nói:
- Hòa thượng, thưởng kha khá cho bọn nó vài lượng, tôi trả thế cho Ngài cho.
Tế Điên nói:
- Không phải như vậy đâu. Ta thưởng bọn họ mỗi người 100 văn, hôm nay chớ ngày mai không cho. Khi ta đến thì 100 văn đó kể như mướn bọn họ thông báo đấy. Còn khi Hòa thượng ta không đến, thì ngày nào tính theo ngày đó, mỗi người được thêm 3 điếu tiền công. Đại nhân, ngài trả thế cho ta nhé.
Thừa tướng đáp:
- Được mà.
Tế Điên lúc đó mới cáo biệt. Thừa tướng phái 20 gia nhân theo hộ tống và truyền đường dụ: Các Tăng ni mọi tự viện, am, các ở hai bên đường phải ra quỳ đón Tế Thiền sư là thế tăng của bản các, hôm nay vinh diện trở về chùa!
Chúng gia nhân dạ rân. Bên ngoài ngựa xe sắm sửa.
Tế Điên từ biệt Thừa tướng, ra cửa lên ngựa. Bọn gia nhân lăng xăng dẫn ngựa, phía trước cờ phất quạt che, côn roi vẹt lối. Hai bên người xem chật ních, xô nhau xem thế tăng của Thừa tướng.
Tế Điên cưỡi ngựa về đến chùa Linh Ẩn, đánh trống dộng chuông, vân tập tăng chúng lại. Tế Điên trước kêu Giám tự lại, nói:
- Tôi có đem bạc về đây. Sư huynh đếm thử xem có phải 20 cây 50 lượng và 100 cây 10 lượng không?
Giám tự đáp:
- Vâng.
Tế Điên nói:
- Này các quản gia, hãy tại đây thay mặt ta truyền đường dụ đi.
Quản gia đáp:
- Phải, nhưng không biết Thánh tăng muốn truyền đường dụ chi?
Tế Điên nói:
- Các người truyền như vầy: Các Hòa thượng trong chùa hãy nghe cho kỹ đây. Tế Công Hòa thượng là thế tăng của Thừa tướng, hôm nay vinh diệu trở về chùa. Thánh tăng muốn mượn tiền một vài Hòa thượng đây để uống rượu. Nếu vị nào có tiền mà không cho mượn, lập tức bị đưa ra nha môn trị tội.
Bọn gia nhân chiếu đúng lời truyền dụ.
Chúng tăng nghe nói, chắc là không lầm rồi.
Tế Điên lại nói:
- Các quản gia lại đây, truyền thêm đường dụ này nữa cho ta. Từ đây về sau, Hòa thượng ta không có tiền, muốn mượn tiền, các ông ấy phải cho. Nếu trong chùa không có ai, ta trộm lấy một vài món cũng không được nói. Như có ai thấy, không được bảo là trộm. Ai làm trái điều này, lập tức bị lôi ra khỏi chùa, chém bỏ.
Quản gia nghe nói, cũng vui vẻ hàm hồ làm theo. Chúng tăng nghe truyền, ai nấy trong bụng nghĩ chùa này bị ông ấy mà hư hết. Dù trong lòng không vui, chỉ dám giận mà không dám nói. Tế Điên lấy bạc thưởng cho quản gia mỗi người 50 lượng, những người đi theo đưa mỗi người mười lượng. Ai nấy đều vui vẻ bội phần kéo nhau về hết.
Tế Điên cởi trúc y và quần áo mới ra gói lại một gói, trên mình vẫn mặc chiếc áo rách như cũ, rồi cài gói y phục mới rảo bước đi về phía cửa Tiền Đường. Thấy trước mặt có một tiệm cầm đồ, Tế Điên liền bước vào, để gói y phục mới lên quầy một cái phạch. Chưởng quỹ dòm ra thấy một ông Hòa thượng kiếc, rách vá tùm lum, tay cầm một gói áo quần mới tinh. Ông Hòa thượng bước vào, lại vén rèm dòm láo liên hình như sợ đằng sau có người rượt đuổi. Chưởng quầy nói:
- Này Hòa thượng, bộ y phục này ông lấy ở đâu vậy? Nói thiệt ta nghe coi!
Tế Điên nói:
- Chưởng quỹ ơi, ông xem thử gói này cầm được bao nhiêu tiền. Còn không coi thì đưa đây đặng ta đem cầm tiệm khác.
Phó chưởng quỹ ở kế bên bước lại, nói:
- Anh thiệt, không thấy gì hết. Vị đại sư phụ đây là vị thế tăng của Thừa tướng vừa mới cưỡi ngựa qua cửa đây mà. Anh không nhận ra sao? Thưa sư phụ, người muốn cầm bao nhiêu tiền?
Tế Điên nói:
- Cầm cho ta 150 điếu nhé!
Phó chưởng quỹ hỏi:
- Sư phụ muốn lấy phiếu hay muốn lấy tiền mặt?
Tế Điên nói:
- Ta muốn lấy tiền mặt hè. Còn giấy cầm gởi luôn cho tiệm cất giùm.
Chưởng quỹ sai người đem tiền xếp ra cửa tiệm. Tế Điên gọi lớn:
- Có ai tới cầm tiền giùm một chút nào!
Bên ngoài có một đại hán bước vào nói:
- Hòa thượng để tôi cầm giùm cho.
Tế Điên nói:
- Bụng mi xấu lắm, ta không mượn.
Tế Điên kêu mấy người nghèo quanh đó, chia người 3 điếu, kẻ 2 điếu, mỗi người lấy một phần. Rồi sau còn lại 5 điếu, Tế Điên mới kêu đại hán kia cầm giùm. Đại hán cầm được tiền chạy đi như ma đuổi. Tế Điên cũng không đuổi theo.
Mấy người nghèo hỏi:
- Hòa thượng ơi, tiền này đem về đâu?
Tế Điên đáp:
- Đem đi đâu tùy ý.
Mọi người đều tự giải tán.
Tế Điên đi về phía Hồ Đồng. Đại hán cầm tiền khi nãy chạy qua mười bảy con đường Hồ Đồng, vừa ngang qua mặt bị Tế Điên níu lại.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 25 [/align]



Doãn Xuân Hương Chốn Yên Hoa Gặp Thánh Tăng
Triệu Văn Hội Thấy Thị Động Lòng Trắc ẩn




Có thơ rằng:
Bướm đỗ đầy cành hoa
Hoa tàn bướm cũng xa
Chỉ còn sào yến cũ
Vui đón chủ về nhà.
Tế Điên níu đại hán lại, nói:
- Cha chả, hết cỡ cho mi rồi, đứng lại một chút coi. Ta đưa mi cầm năm điếu, mi tính giựt chạy hả? Đâu có được! Mạng mi chỉ có năm trăm văn thôi mà lại tính vác năm điếu chạy hả, ta kéo mi vào quan huyện Tiền Đường mới được.
Đại hán kia sợ quá, ráng sức giằng mạnh, co giò chạy tuốt!
Tế Điên hét:
- Ta rượt theo đa!
Đại hán kia chạy bất kể đường sá, chạy đến cửa Hồ Đồng, vừa gặp một người gánh đồ gốm, đại hán không tránh kịp, va phải làm bể 7 cái chén, 2 cái đĩa, tính ra hết 4 điếu 500 tiền. Đại hán không cách nào hơn là phải bồi thường đủ số, tính ra chỉ còn lại 500 tiền.
Phân phát tiền xong, Tế Điên thong thả đi về phía trước, thấy đằng kia có hai vị viên ngoại đi lại, chính Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn. Thấy Tế Điên, hai viên ngoại bước đến thi lễ, nói:
- Thưa sư phụ, người bị dây dưa đến việc quan ra sao? Nghe nói người bị Thừa tướng bắt trói, bọn tôi thật không an tâm chút nào! Hôm nay định đến chùa Linh Ẩn hỏi thăm tin tức.
Tế Điên nói:
- Việc quan của ta đã xong rồi. Tần Thừa tướng có làm gì ta đâu!
Đoạn đem việc ở tướng phủ thuật lại một hồi. Tô Bắc Sơn hỏi:
- Hôm nay sư phụ uống rượu chưa?
Tế Điên nói:
- Ta định đi uống rượu đây! Hai ông định đi đâu đó?
Tô Bắc Sơn nói:
- Bọn tôi nghe bọn gia nhân truyền miệng là có một cô gái nhà quan không may sa vào chốn yên hoa, không biết việc đó thực hay giả. Hai tôi định đi đến đó thử xem.
Triệu Văn Hội nói:
- Thưa sư phụ, người đi đến Câu Lan viện có gì bất tiện không? Người là bậc xuất gia, đáng lý phải lo việc tu đạo tham thiền, trái lại đến mấy chỗ đó, há chẳng bị người ta cười chê sao?
Tế Điên nói:
- Gặp hát vỗ tay, có gì chẳng được? Thôi, ba ta đi đến đó cho rồi.
Tô Bắc Sơn ha hả cười khoái trá! Ba người cùng đi về phía trước, thấy phía Đông có một ngõ hẻm đề: Xóm Yên Hoa. Tiến vào đường hẻm, thấy ở cổng nhà thứ hai ở phía Bắc có treo lồng đèn lớn. Trên cổng có treo đôi liễn, đề:
Canh một mới sang, xô chén, dẹp mâm, bao khoái lạc
Canh ba gà gáy, người xa, rồi việc, hết luôn xôi.
Ba người lại bước thẳng vào trong, người giữ cửa hô:
- Có Triệu lão gia và Tô lão gia, hai vị viên ngoại đến đó a!
Tế Điên ngước mắt nhìn: Cửa vào gắn gương soi, gần đầu tường có một chậu cá trồng hoa sen. Ngay nơi vách đó có bốn câu thơ, đề:
Hạ giới thần tiên thượng đế không
Kẻ nghèo nhờ có quý nhơn đông
Lan phòng tối tối thay người mới
Chớp mắt sao đi đổi khánh phòng.
Đi vào nữa, bên trong lát toàn gạch tàu. Năm gian nhà phía Bắc, trước hiên sau phòng, hai dãy nhà ngang đều có ba gian, mỗi gian đều có phòng ở, trước mỗi phòng đều để một bức bình phong lớn. Ở phòng phía Bắc, trên cột gắn một đôi liễn đề:
Trước sân ca múa, trồng đầy mấy cột tình si.
Trong ao sen trắng, ngát mùi liên lý hương hoa
Ba người mới bước vào nhà giữa thì từ trên thượng phòng, một vị vú già đi xuống nói:
- Kính chào Tô lão gia và Triệu lão gia! Hôm nay chắc hai ngài rảnh rang mới đến chơi chỗ này đây ạ!
Nói xong vén cao rèm trúc, rước ba người lên thượng phòng. Nơi đây, sát tường kê chiếc bàn bát tiên kế bên một chiếc ghế dựa. Trên bàn một chậu thủy tinh, bên trong chú cá vàng đuôi phụng tung tăng lội. Kế bên là một mâm trái cây đầy ắp những quả tươi ngon lành. Đối diện treo một tấm gương lớn trên bức họa sơn thủy hữu tình. Trong gương, họa bán thân một mỹ nhân với bốn câu thơ đề:
Trăm nét đan thanh vẻ mỹ miều
Toàn thân chẳng họa, họa ngang eo
Tiếc rằng màu sác còn non vụng
Không giục khách xuân đến lạc kiều.
Bên dưới ghi: Tích Hoa chủ nhân đề.
Hai bên hình treo hai câu liễn:
Đắc ý khách vào tình chẳng thỏa,
Tri tâm người đến nói quên thôi.
Triệu Văn Hội xem xong gật đầu, nói:
- Quả là nơi dành cho hạng phong nguyệt cùng mình đây mà!
Ba người ngồi vừa xong, mụ tào kê đến nói:
- Kính chào nhị vị lão gia! Hôm nay ngọn gió lành nào đưa hai ngài đến đây? Hèn lâu các ngài biệt tăm biệt tích, chẳng thấy đến?
Tô Bắc sơn nói:
- Bọn ta nghe gia nhân nói ở đây có một giai nhân mới về, hãy kêu nàng ấy ra đây xem thử.
Mụ tào kê đáp:
- Trong viện chúng tôi toàn là người mới cả, để tôi kêu bọn họ ra mắt các ngài nhé!
Nói rồi ra hiệu một tiếng thì thấy bên ngoài rèm trúc lay động, gót sen đủng đỉnh tiến vào bốn người thiếu nữ. nàng nào cũng lược giắt trâm cài, môi son má phấn, áo hoa đủ màu. Các nàng đến trước Triệu, Tô hai vị viên ngoại, thi lễ xưng tên. Ngó thấy một Hòa thượng kiếc cũng có mặt trong bọn, các cô ả che miệng khúc khích cười.
Tế Điên nói: Tốt, tốt! Này Tô Bắc Sơn, hai ông thấy các cô ả này như thế nào?
Tô Bắc Sơn nói: Cũng được.
Tế Điên nói: Ông xem mấy ả này đều đẹp, chớ dưới mắt ta thì:
Phù dung mặt trắng, khác chi túi thịt đựng xương khô
Đẹp đẽ hồng nhan, chỉ là dao bén giết người khờ.
Nói xong, sẵn giấy viết để trên bàn, thuận tay thảo một bài thơ thất ngôn:
Yên hoa kỳ nữ điểm trang xinh
Đào động đêm đêm thay đổi tình
Một đôi tay ngọc bao người níu
Nữa đóa môi hồng vạn khách in
Son phấn lộng màu bao vẻ đẹp
Ấp e dối giả nét hương tình
đưa mới rước bao nhiêu kẻ
Đêm vắng sầu tuôn chỉ một mình.
Hai vị viên ngoại xem xong đều cười ha hả.
Mụ tào kê lại hỏi: Các lão gia muốn chọn đứa nào trong bọn hầu các ngài?
Đoạn lấy tay chỉ: Đây là Lan Hương, Thu Quế, còn kia là Liên Phương, Tiểu Mai.
Tô Bắc Sơn nói: Không phải mấy cô ả này đâu, mà là người mới về nhà mụ kia. Ta nghe nói nhà mụ vừa rước về một người mới vốn là con gái nhà quan sẩy bước vào chốn yên hoa. Bọn ta đến đây cốt để tìm người đó mà thôi.
Mụ tào kê vốn biết hai vị viên ngoại là người nổi tiếng lắm bạc ở Lâm An, vội nói:
- Hai vị không nhắc đến nàng ấy thì thôi, còn nhắc tới thì câu chuyện quá dài, nói hoài khó hết. Nguyên tôi có một đứa con gái được Hoa hoa thái tuế Vương Thắng Tiên đại nhân mua về làm thiếp. Tôi dù được trong vụ này mấy trăm lượng bạc, nhưng chỉ nhờ vào đó ăn mãi núi cũng phải hết. Tôi mới tìm mua một nàng nguyên quán ở Kim Lăng. Cha nàng mấy năm trước có làm chức Thứ sử, mẹ nàng mất sớm. Nhân bị nghị án ở kinh đô nên đến ngụ tại tiệm Hồ Vạn Thành. Phụ thân nàng tên là Doãn Minh Truyền định đến kinh đô tìm người giúp đỡ, nào ngờ dọc đường bị chúng gạt lấy mất hết mấy ngàn lượng bạc. Công danh chưa có mà tiền bạc sạch trơn, ông ấy buồn rầu sanh bịnh nằm tại điếm hết ba tháng, bao nhiêu tiền còn lại đem tiêu dần hết. Ông ấy lại chết đi, con gái ông ấy là Xuân Hương phải bán mình để lấy tiền chôn cha. Tôi mới đem 350 lượng bạc mua về. Đến chừng về đây, nàng rõ là xóm yên hoa, bèn giận lắm, toan tìm cái chết,. Tôi phải dỗ dành hết mức, lại đưa cho tiệm Vạn Thành 100 lượng để đưa riêng nàng. Trước kia Hồ Vạn Thành làm mai mối nói là có nhà quan muốn mua nàng về làm thiếp, nên bây giờ rõ ra là viện Câu Lan, nàng muốn chết mà thôi. Hơn nữa, tôi cũng nhỏ to trình bày cảnh khổ của mình, rằng 350 lượng bạc không dễ gì kiếm được, nàng chết đi càng làm khổ cho tôi thôi. Nàng ta cũng tốt, nói: “Thôi thì tạm ở đây lánh nạn, chừng gặp được người tri âm cứu ra, bao nhiêu tiền thối lại cho tôi đủ số". Nàng ta thân viết một bài thơ và dặn tôi rằng nếu gặp được người thân hào, thương gia có vẻ văn nhã hãy đưa cho họ xem.
Tô Bắc Sơn nói:
- Mụ đưa bọn ta xem thử nào!
Mụ tào kê đưa lại, hai vị viên ngoại mở ra xem, rất ngạc nhiên. Thơ đề bốn câu:
Vạn mối sầu tư biết tỏ đâu
Ngoài mặt vui tươi, trong dạ sầu
Tâm tư uẩn khúc bày trên giấy
Chữ chữ nổi thành giọt lệ mau.
Tế Điên và hai vị viên ngoại xem xong, hỏi:
- Nàng Doãn Xuân Hương hiện ở phòng nào? Bọn ta muốn gặp nàng ấy.
Mụ tào kê nói:
- Nàng hiện ở Đông viện, nguyên là chỗ ở của con gái tôi. Xin kính mời ba vị!
Ba người cùng theo mụ tào kê qua khỏi cửa có bốn bình phong, tiến vào một trang viện khác. Viện này gồm ba phòng, phòng phía Bắc trước hiên, sau phòng rất ngăn nắp. Ba người vén rèm bước vào, thấy nơi vách Bắc có treo bốn bức bình phong, hai bên đều có liễn đối. Bên một bức bình phong vẽ hình một cô gái đứng dựa cửa, gần đó năm, sáu cậu thanh niên đứng nhìn cô gái lưu luyến chẳng muốn đi. Bên trên có người đề bốn câu thơ:
Tóc mây dáng phụng hoa cài
Đôi hàng răng ngọc hòa hài nét xinh
Thư nhàn bên cửa liếc tình
Ngoài sân ong bướm rập rình xôn xao.
Ở bức bình phong thứ hai vẽ một người con gái đang chải tóc, một chàng trai hình như muốn đi, nàng con gái dáng hình như không muốn cho chàng trai đi. Bức họa rất truyền thần. Bên trên cũng có người đề bốn câu thơ:
Nhân duyên kết chặt dải đồng
Yêu nhau khắn khít khó lòng rời xa
Truyền thần mượn bút vẽ ra
Ấy ai tâm sự nhận là của nhau.
Ở bức bình phong thứ ba vẽ hai người con gái, một vị văn công kéo tay hình như có ý giục đi an nghỉ. Bên trên cũng có bốn câu thơ:
Nhởn nhơ đôi cánh lan huệ
Tiếc rằng nhụy hãy quá non
Mưa gió chưa lần gặp gỡ
Thương nhau bảo hộ chút tình.
Ở bức bình phong thứ tư vẽ một chiếc giường với gối màn giăng rủ, lộ ra đôi nam nữ đang nằm ngủ. Bên trên cũng có bốn câu thơ:
Loan phượng giao kề thoắt đảo điên
Non Vu tột đỉnh giấc mơ tiên
Nhẹ kề má hạnh trâm cài rớt
Thít chặt đôi tay lỏng tóc huyền.
Hai bên treo hai câu liễn:
Xuyên vàng nhà chứa mười hai
Ngọc trai ngõ chất ba ngàn
Hai vị viên ngoại xem xong, chắc lưỡi:
- Chỗ này quả là một chốn riêng dành.
Vào hẳn trong nhà ngồi xuống, thấy hai bên phòng xá trướng màn treo rủ, trên tường Đông vẽ một bức phú quý mẫu đơn với mấy câu đề:
Có tiền của sống theo sang trọng.
Không tiền lưng chớ nệ nghèo hèn.
Hai bên lại treo đôi liễn:
Nơi danh giá có nhiều ưa thích
Chốn yên hoa chớ luận nhiều lời.
Mụ tào kê vào bên trong, nói:
- Này cô nương, hôm nay có Triệu lão gia và Tô lão gia từ lâu nghe đồn về cao tài mỹ mạo của cô nương đến thăm viếng đây.
Bên trong, tiếng như mật rót đáp lại:
- Té ra là hai vị lão gia đặc biệt đến thăm đây à, để nô tỳ ra chào hỏi.
Theo tiếng rèm lay động, bên trong đi ra một nàng thiếu nữ. Triệu Vân Hội, Tô Bắc Sơn và Tế Điên nhìn lại quả là một trang thiên hương quốc sắc, ngọc cốt nhu tình, sắc đẹp mê người.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 26 [/align]



Cứu Nạn Dân Đưa Về Am Thanh Tịnh
Cao Quốc Thái Nghèo Khổ Kiếm Bà Con




Có thơ:
Tâm tư sầu thảm phổ lên đàn
Gió mai trăng lạnh tiết thu sang
Tiếng ca réo rắt dường dao cắt
Não nuột lòng người dạ xốn xang.
Triệu Văn Hội, Tô Bắc Sơn và Tế Điên vừa ngồi xong thì màn trúc lay động, từ bên trong đi ra một người thiếu nữ khoảng mười tám, mười chín tuổi, phong tư rất mỹ lệ, đầu chải kiểu tóc vấn, mình mặc áo trắng thường. Tô Bắc Sơn thấy biết nàng là gái từ nhà lương thiện, mới hỏi kỹ về lai lịch. Nghe hỏi, cô gái lộ nét u sầu, đem việc bán mình chôn cha rồi bị kẻ gian gạt gẫm bán vào chốn yên hoa, mỗi mỗi thuật lại rõ ràng.
Hai vị viên ngoại nghe xong rất lấy làm cảm kích, bèn hỏi:
- Này cô nương, nàng có biết ngâm thi không?
Xuân Hương đáp:
- Về văn lý, tiểu nữ cũng biết võ vẽ đôi chút.
Triệu viên ngoại nói:
- Thế thì nàng làm hai bài cảm hoài cho ta xem thử.
Hồi nãy, Triệu viên ngoại thấy mấy câu thơ hãy còn nghi là không phải chính tay Xuân Hương làm, nên bây giờ muốn tận mắt thử về văn lý như thế.
Xuân Hương không cần nghĩ ngợi lâu, cầm bút viết ngay:
Son phấn lầu xanh biếng điểm hoa
Tấc lòng tơi tả cánh hoa sa
Khúc cũ càng ngâm thêm áo não
Vườn xưa về lại khổ không nhà
Tóc mây nửa món lười gương lược
Giọt lệ tuôn sa ướt đẫm tà
Tư mã Giang Châu may được gặp
Chén mừng rót nối khúc Tỳ bà.
Viết xong đưa lên cho Tô, Triệu hai vị viên ngoại xem.
Cả đến Tế Điên cung khen hay: Tiếc thay, con người tài cao như thế, nhân phẩm như thế mà lại sa vào chốn yên hoa! Uổng thiệt! Uổng thiệt!
Ba người còn đương than thở, lại thấy Xuân Hương đưa thêm một bài thơ bảy chữ nữa:
Cốt nhục chia lìa sự nghiệp tan
Chiếc thân xấu số lọt Câu Lan
Vó ngọc sụt sùi rời quan xá
Gót son đau đớn nhập bình khang
Trước gương luống thẹn khuynh thành sắc
Gặp người hổ bấy nét bên đàng
Gió sớm sương chiều mòn mỏi mắt
Mong sao gặp Nguyễn chớ Lưu lang.
Tế Điên xem bài thơ xong, khen không tiếc lời. Triệu Văn Hội nói:
- À, à, tôi có bài thơ thất tuyệt đây.
Mụ tào kê đem văn phòng tứ bửu đến. Triệu Văn Hội không cần suy nghĩ, cầm viết thảo một mạch:
Lầm lạc Câu Lan chán phận mình
May gặp Xuân Hương tại viện đình
Nhan sắc đâu nhường nàng Tây Tử
Mình thương tớ với, tớ thương mình.
Tô Bắc Sơn cũng buột miệng làm một bài thơ tuyệt cú:
Áo thắm mộng xanh đẹp lạ thường
Phong lưu thiên hạ chỉ Xuân Hương
Suốt tháng không ăn, nhìn cũng thỏa
Mới nghe chớ trách tớ si cuồng.
Tế Điên nói: Ờ, ta cũng có bài thơ nữa chớ!
Bèn đọc:
Hôm tay ta thấy sướng vui thay
Cười bảo Xuân Hương bước lại ngay.
Xuân Hương nghe đọc thất kinh, vội hỏi:
- Thưa sư phụ, sư phụ là người tu hành, bảo tôi đến gần làm gì?
Tế Điên điềm nhiên thong thả đọc tiếp:
Mau cởi thắt lưng bằng lụa đẹp
Đưa tặng lão tăng buộc lại giày.
Mọi người nghe xong, cười rộ.
Tế Điên nói:
- Nhân dịp này, hai vị viên ngoại nên làm một việc công đức đi?
Tô Bắc Sơn hỏi:
- Này Xuân Hương, nàng muốn lập gia thất hay nàng muốn thế nào?
Xuân Hương đáp:
- Nếu may được người hảo tâm cứu tôi ra khỏi hầm lửa, thì tôi tình nguyện xuất gia làm tiểu ni. Gia đình họ Doãn nhà tôi ba đời cám đội ơn đức đó.
Tô viên ngoại hỏi mụ tào kê:
- Nhà chủ tốn về nàng Xuân Hương hết bao nhiêu
Mụ tào kê đáp:
- Về phần chuộc về, tôi chi ra hơn 350 lượng. Ấy không kể việc nàng ở nhà tôi mấy tháng nay, mỗi ngày ăn xài hao tốn.
Tô Bắc Sơn nói: Được rồi.
Triệu Văn Hội nói:
- Này Tô huynh, việc đó để cho tôi. Tôi sẽ bỏ ra 500 lượng chuộc nàng ra đưa đến Thanh Tịnh am ở trên Thành Hoàng Sơn, nhờ Thanh Chơn lão ni cô chiếu cố giùm.
Nói rồi bảo gia nhân lấy bạc ra đêm 500 lượng giao cho mụ tào kê, rồi thuê kiệu đưa Xuân Hương đến Ni am.
Xuân Hương nghe nói, cúi đầu lạy tạ và yêu cầu ba vị theo đưa hộ tống.
Tế Điên nói: Ừ, được, để chúng ta đến trước chờ sẵn, gia nhân Triệu Minh sẽ theo kiệu đưa đi sau.
Tế Điên ba người ra khỏi viện Câu Lan, thẳng đến núi Thành Hoàng. Tế Điên buột miệng ngâm:
Người lành ắp gặp thiện duyên
Người dữ ắt gặp oan khiên dẫy đầy
Bần tăng độ kẻ khờ ngây
Chỉ e nhân thế phây phây lơ là.
Bỗng nghe có người kêu:
- Có phải Tế Công lão nhân gia đến đó không? Tôi liên tiếp lên chùa Linh Ẩn ba lần để đón Ngài mà hôm nay mới gặp!
Nói rồi chạy tới quỳ xuống cúi đầu thi lễ.
Tế Điên nhìn lại là một người tuổi ngoài 60, đầu đội khăn bốn góc, mình mặc áo màu vàng đất, lưng thắt dây tơ, chân mang hài trắng, ngũ quan rất đoan chánh.
Nguyên ở núi Thành Hoàng có một vị lão ni tên là Thanh Tịnh, có một cháu gái tên là Lục Tố Trinh lấy chồng tên là Cao Quốc Thái, nhà ở đường Nho Lâm phía cửa Nam huyện Dư Hàng.
Cao Quốc Thái là con nhà rất có gia sản nhưng anh ta chỉ biết đọc sách mà không chịu lo việc kinh doanh. Qua một thời gian, của cải trong nhà sạch như rửa, chỉ còn lại hai vợ chồng không, trên không miếng ngói che đầu, dưới không tấc đất cầm dùi. Ăn sớm lo chiều, chạy ăn từng bữa. Lục thị nói:
- Vợ chồng ta không lẽ ngồi khoanh tay chờ chết ở đây sao? Chi bằng chúng ta dời đến ở thành Lâm An trú tạm. Ở đó, tôi sống nhờ với người cô đang tu ở một am trên núi Thành Hoàng, còn chàng thì tìm ghi tên vào ở nhờ học quán tại đó. Như vậy chúng ta có thể sống qua ngày được, còn chàng cũng có thể trau giồi học nghiệp. Đợi đến kỳ thi sắp mở, chàng lại ra kinh ứng thí để lập công danh, không biết ý chàng như thế nào?
Cao Quốc Thái nói: Đến nước này, hai ta chỉ còn cách đó thôi, chớ không còn cách nào khác.
Hai vợ chồng bèn bán hết những đồ đạc lặt vặt để làm lộ phí rồi lên đường đi Lâm An.
Thấy họ đến, vị lão ni cô vui mừng lắm, bèn cấp riêng cho vợ chồng họ một căn nhà ba gian phòng để ở. Lục thị giúp đỡ việc may vá, còn Cao Quốc Thái chỉ dốc lòng đọc sách mà thôi. Ở trong am, đời sống hai vợ chồng rất bình thản.
Mấy tháng trôi qua bình tịnh, rồi một sự biến xảy ra: Vị lão ni có một vị đại đồ đệ tên là Huệ Tánh, thấy Cao Quốc Thái là con người ngà ngọc, văn chất nguy nguy, kinh luân đầy bụng, phẩm mạo hơn người thì có ý mến tài. Hai người thường cùng nhau cao đàm hùng biện. Huệ Tánh vốn là con nhà quan, văn chương thông suốt. Quốc Thái nói chuyện cũng đối đáp như lưu.
Một ngày nọ, nhân lúc nhà vắng không có ai. Huệ Tánh lấy giấy viết thảo một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đưa cho Quốc Thái xem. Thơ rằng:
Chắp tay khấn nguyện Đại Sĩ danh
Chẳng nguyện sanh Tây, Tiên Phật thành
Chỉ mong được giọt cành dương rảy
Tác hợp cho con sen liền cành.
Quốc Thái xem xong, đổi sắc mặt, nói:
- Thiếu sư phụ không nên nghĩ như thế. Trên đời này, trai gái vì thú vui chốc lát mà hư danh tiết một đời, để nhơ muôn thuở, làm trò cười cho hậu thế. Huống nữa, đây là chốn thanh sạch của Phật môn, đâu nên làm ô uế.
Huệ Tánh nghe nói thế, mặt tai đỏ ửng, quay mình bỏ đi. Từ đó, hễ gặp Cao Quốc Thái, Huệ Tánh mắc cỡ, bét sang ngõ khác. Cao Quốc Thái thấy có điều bất tiện, mới thưa với lão ni:
- Xin sư phụ tìm giúp cho một căn nhà hai phòng ở dưới núi để vợ chồng dọn ở. Ở trong am có nhiều bất tiện.
Lão ni không còn cách gì hơn, đành tìm một căn nhà khác ở dưới núi. Tìm được một nhà ba gian chỉ có độc một cửa của viên ngoại Châu Bán Thành.
Châu Bán Thành hỏi lão ni: Sư phụ tìm nhà cho ai ở vậy?
Lão ni đáp: Tôi tìm giùm cho người bà con từ huyện Dư Hàng ngụ ở am tôi. Nó là cháu gái tôi, cùng đi với chồng nó. Chồng nó tên Cao Quốc Thái, là người theo nghiệp thi thơ, thấy ở trong am có nhiều bất tiện nên nhờ tôi tìm cho một nhà khác.
Châu viên ngoại nói: Ngày mai, sư phụ đưa Cao Quốc Thái đến tôi xem thử.
Hôm sau, lão ni dẫn Cao Quốc Thái đến. Châu viên ngoại thấy Cao Quốc Thái cử chỉ đoan nghiêm, văn từ tao nhã, bèn có bụng thương muốn giúp đỡ, lại e mới gặp lần đầu, Cao Quốc Thái từ chối không nhận, mình bị bẽ mặt đi, mới ngầm dặn gia nhân rằng: “Nếu Cao Quốc Thái có thiếu tiền phòng thì đừng có đòi nhé!”. Đó là Châu viên ngoại thương tình dặn hờ thế thôi.
Quả nhiên, hai vợ chồng Cao Quốc Thái dọn đến ở. Cao Quốc Thái làm nghề xem bói qua ngày. Được 100 điếu ăn hết 100, được 200 điếu ăn hết 200, hai vợ chồng sống hẩm hút rất là chật vật. Lật bật mà nửa năm trời qua, sáu tháng tiền phòng chưa đóng đủ.
Một hôm, người phụ trách thu tiền nhà có việc xin nghỉ phép, mới nhờ anh phổ ky đi thu giúp. Anh phổ ky không được dặn bảo lại việc này, lấy sổ thuê nhà ra tra xét lại mới thấy Cao Quốc Thái thiếu đến sáu tháng tiền nhà không trả, bèn nghĩ: “Tên Cao Quốc Thái này bộ mình có mọc ba đầu, vai nẩy sáu tay, đầu to chân cứng, dựa vào sản nghiệp nhà ai mà dám không chịu đóng tiền nhà chớ! Ta phải đi đòi hắn mới được".
Phổ ky đến nhà Quốc Thái kêu cửa. Bên trong, Lục thị hỏi:
- Ai kêu cửa đó?
Phổ ky đáp:
- Ta là người nhà Châu viên ngoại đến lấy tiền thuê nhà.
Lục thị nói:
- Chồng tôi hiện không có ở nhà, để rồi tôi nói lại nhé!
Phổ ky nói:
- Người không có ở nhà cũng được, còn tiền cũng không có ở nhà nữa sao? Sáu tháng nay rồi, hễ hỏi đến là đi vắng phải không? Các người ở nhà của người ta, dựa thế dựa thần nhà ai mà không chịu trả tiền? Đợi bị mắng chửi mang xấu rồi mới chịu trả phải không?
Lục thị nói:
- Để chồng tôi về rồi sẽ đem tiền đến trả mà!
Phổ ky nói:
- Chẳng thể chờ lâu được, bọn ta ở ngoài khóa cổng lại là xong việc.
Phổ ky bèn khóa cổng ngoài tại rồi bỏ đi. Đến chiều, Cao Quốc Thái trở về, thấy cổng bị khóa lại, mới hỏi vợ. Lục thị nói.
- Hôm nay chủ nhà đến đòi tiền, gia nhân họ khóa cổng đó!
Quốc Thái nghe nói, nổi giậu đùng đùng, la:
- Hay cho Châu Bán Thành, dám cả gan khi dễ đến thế! Đễ ta đến huyện Tiền Đường làm cáo trạng thưa hắn mới được.
Lục thị nói:
- Chúng ta không tiền làm sao ra lễ nghĩa được? Sáu tháng tiền nhà không chịu trả mà lại muốn đi thưa người ta, làm sao hợp lý được?
Hai vợ chồng còn đang thương nghị, vừa hay có lão ni Thanh Tịnh đến chơi. Thấy vợ chồng đang có vẻ đứng ngồi không yên, lão ni mới hỏi duyên cớ. Lục thị bèn đem việc tiền phòng không đóng, bị khóa cổng lại thuật qua một lượt. Lão ni nói:
- Tiên sinh không phải ra ngoài làm chi, nên dọn về ở phòng cũ vẫn hơn. Ra ngoài kiếm tiền khó lắm. Tiên sinh lại làm nghề bói toán, hôm nay kiếm được chút ít gì đó, vài bửa lại không ngơ. Tiên sinh lại là người thật thà, không thể làm như họ được, thôi tốt hơn nên về chỗ cũ là tiện nhất.
Nói rồi bảo Lục thị gom góp đồ đạc, lão ni thay mặt trả nhà lại rồi cùng hai vợ chồng Quốc Thái trở về núi Thành Hoàng. Phần Châu Bán Thành không chịu lấy tiền nửa năm thuê nhà, nói là để cúng thí vào việc hương khói trong am. Nào dè, hai vợ chồng Quốc Thái về ở lại mấy hôm, một sáng ngày nọ, Quốc Thái chẳng nói chẳng rằng bỏ đi mất, để lại cho Lục thị mấy tờ giấy. Lục thị xem xong hồn phi phách tán. Tại sao thế?...
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 27 [/align]



Giả Thăm Bạn Để Thơ Từ Biệt Vợ
Cầu Thỉnh Tế Công Bói Quẻ Tìm Chồng




Có thơ rằng:
Áo gấm vui chơi chả về nhà
Ga nhân mặt ngọc đợi hầu trà
Nội viện kín sân người chẳng thấy
Cách rèm nở thắm một cành hoa.
Cao Quốc Thái về lại núi Thành Hoàng vẫn ở căn nhà cũ. Một buổi tối, ngồi đối diện với vợ, Quốc Thái nói:
- Nàng ơi, ngày mai tôi sẽ đi thăm bạn.
Lục thị nói:
- Ngày mai chàng đi xa, tôi còn 200 tiền đây. Tiền này là của bà cô cho tôi để mua kim chỉ thêu, chàng cầm đem theo để uống nước.
Nói rồi lấy tiền đưa ra.
Quốc Thái cầm lấy tiền, mặt có sức hổ thẹn, nói:
- Thôi, nàng đi nghỉ trước đi.
Lục thị đi ngủ trước. Còn lại một mình Quốc Thái ngồi bên đèn, ngơ ngẩn hồi lâu rồi ngửa mặt lên trời thở dài thườn thượt. Lòng rối như tơ, thật là khó nghĩ. Cầm viết viết một mạch ba trang giấy, để dưới nghiên mực. Trong khi đợi trời sáng, muốn đánh thức Lục thị dậy, nhưng lại sợ sinh ồn náo lên, bèn đứng đậy, bước ra ngoài dằn lòng đi ra.
Trong am có một ông già tên là Phùng Thuận lo việc nhang khói trong điện Phật, tuổi ngoài 60, thường dậy rất sớm quét dọn xung quanh. Thấy Cao Quốc Thái đi ra, Phùng Thuận hỏi:
- Cao tiên sinh hôm nay có việc gì dậy sớm thế?
Cao Quốc Thái nói:
- Xin lão trượng làm ơn mở giùm cổng ngoài, tôi muốn xuống núi đi thăm bạn.
Phùng Thuận mở cổng, Cao Quốc Thái vội vã đi xuống núi. Khi Lục thị tỉnh dậy không thấy chồng đâu giật mình kinh sợ, vội chạy ra các chỗ bên ngoài tìm kiếm. Nghe Phùng Thuận nói Cao tiên sinh đã đi hồi sớm rồi, Lục thị mới trở về nhà tìm kiếm, thấy ba tờ giấy chồng để lại trên bàn mà thôi. Tờ thứ nhất đề là:
Thời suy vận bỉ sống lầm than
Hổ phận làm trai gởi ni am
Cửa Phật thương tình hằng cứu giúp
Tránh sao miệng thế khỏi chê gièm.
Lục thị xem ý bài thơ này là tự trách thân mình nghèo khổ không thể lập nghiệp nuôi thân, phải cùng vợ đem thân tá ngụ ở ni am. Điều đó tránh sao miệng thế khỏi cười chê?
Lại xem đến bài thơ thứ hai:
Đất khách ra đi chẳng hẹn về
Sống chết từ nay tự liệu bề
Duyên số kiếp này đành đứt đoạn.
Ân tình kiếp khác hẹn phu thê.
Lục thị xem thấy bài thơ này là lời tuyệt vọng, lần này ra đi không hẹn ngày trở lại, chết sống không hẹn trước, đại khái kiếp này chẳng mong đoàn tụ, họa may duyên nối kiếp lai sinh mà thôi.
Lại đọc đến bài thơ thứ ba:
Cầm bút lưu thơ dạ cảm hoài
Trách mình tài vụng dám hờn ai
Nhắn nhủ hiền thê xem gẫm kỹ
Kiếp sau xin hẹn vẽ đôi mày.
Lục thị xem thơ xong cất tiếng khóc rống, lòng dạ rối bời. Đương lúc quá buồn thảm đó, lão ni lại đến hỏi:
- Con ơi, tại sao buồn khổ quá như vậy?
Lục thị mới đem việc Cao Quốc Thái để thơ lại rồi ra đi, chắc là phen này mười phần chết hết chín quá. Lão ni cô nói:
- Con ơi, đừng quá lo chi, ta có chủ ý đây. Hiện tại ở chùa Linh Ẩn bên Tây Hồ có ngài Tế Công, ấy là vị phật sống đương thời, đoán biết hết mọi việc quá khứ vị lai. Để ta bảo Phùng Thuận sang đó mời Ngài đến đoán giùm xem Cao tiên sinh đi đâu, sống chết ra sao, rồi cho người đi mời về cho con là xong.
Lục thị lật đật nói:
- Thế thì nên cho người đi mời thỉnh Tế Công ngay đi.
Lão ni cô liền sai Phùng Thuận xuống núi đi thỉnh Tế Công.
Lần thứ nhất đến chùa Linh ấn, Tế Điên lại đi khỏi.
Lần thứ hai đi thỉnh gặp nhằm lúc quan binh đang vây Chùa Linh Ẩn.
Lần thứ ba đi thỉnh, Phùng Thuận hỏi thăm thì Tế Điên bị người của Thừa tướng bắt trói dẫn đi. Nhân đó, công việc lần lữa bị trễ lại năm, bảy ngày. Ngày kia, Phùng Thuận lại xuống núi đi thỉnh Tế Điên, thì gặp lúc Tế Điên cùng Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn đang đi tới. Phùng Thuận vội chạy đến thi lễ, nói:
- Thưa sư phụ, Ngài mới đến đấy à, tôi liên tiếp lại chùa mấy lần tìm Ngài mà không gặp, hôm nay mắn gặp Ngài ở đây. Bây giờ sư phụ định đi đâu?
Tế Điên nói:
- Ta muốn lên tìm lão ni sư của ông đây. Chúng tôi đến đó để gởi một người đi xuất gia.
Phùng Thuận nói:
- Thế thì hay, hay lắm? Lão ni của chúng tôi định thỉnh sư phụ đến có việc cần.
Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn hỏi:
- Hôm nay trên ni am có việc gì cần kíp thế?
Phùng Thuận mới đem việc Cao Quốc Thái đầu đuôi thuật lại kỹ càng.
Mọi người cùng nhau trở về am. Phùng Thuận đi trước dẫn đường. Về đến am, thẳng vào viện phía Tây ngồi nghỉ. Viện phía Tây này có ba dãy Đông, Tây và bắc mỗi dãy đều có ba gian. Phùng Thuận và mọi người cùng tiến về phòng Bắc.
Triệu viên ngoại nhìn kỹ thấy trong phòng rất sạch sẽ, sát tường phía Bắc có một cái bàn dài, bên trên chất đầy những kinh sách. Phía trước có một cái bàn bát tiên với hai ghế ở hai bên. Tế Điên đến ngồi vào chiếc ghế ở đầu bàn, Triệu Văn Hội ngồi ở cuối bàn, Tô Bắc Sơn lại ngồi ở một bên. Ngay trên vách đối diện có câu đối chữ viết rất đẹp, chính giữa lại có một bức đại tự viết bài thơ:
Ưa thích thanh nhàn lánh tục xa
Dựa sườn khiêm tốn một lư gia
Nửa mẫu ao sen soi bóng nước
Mấy mươi gốc liễu, bụi tre già
Rượu Xuân nồng ấm say lòng khách
Đêm tối đèn hồng sách quến ta
Khóa lợi dàm danh toàn bỏ mặc
Băng tâm một mảnh sạch không tà.
Hai bên lại có câu đối đề là:
Non xanh chẳng đổi ngàn năm họa
Nước biếc trôi dài vạn cổ thi.
Bên dưới đề là: Kẻ tài vụng Cao Quốc Thái.
Tô Bắc Sơn xem xong, nói:
- Bạch Thánh tăng, Ngài xem Cao Quốc Thái thực là phong lưu tài tử đấy chớ. Lời Phùng Thuận nói quả thật không sai. Ngài xem câu đối này và bút tích đẹp quá. Bạch Thánh tăng, xin Ngài đại phát từ bi tìm Quốc Thái về, tôi sẽ tìm học quán thành toàn cho anh ấy. Đợi đến kỳ đại thí, tôi sẽ tặng cho tiền bạc để anh ấy lập chữ công danh.
Tế Điên nói:
- Được đó đây cũng là công đức của viên ngoại. Đang nói tới đó, lão ni cô Thanh Tịnh dẫn các đồ đệ và cháu gái cùng đến tham kiến Thánh tăng và nói:
- Xin Thánh tăng đại phát lòng từ bi cho. Đây là Lục Tố Trinh, cháu gái của đệ tử. Nhân vì chồng nó là Cao Quốc Thái lưu ngụ trong Ni am, bỏ đi không nói lời từ biệt đã ba bốn hôm rồi. Xin Thánh tăng đại phát lòng từ bi chiếm cho một quẻ.
Tế Điên nói:
- Cái đó dễ mà! Hôm nay bọn ta cứu được một người, nàng ta là con gái nhà danh giá lầm sa vào chỗ yên hoa. Ý nàng ta muốn xuất gia, nên bọn ta định đưa đến đây để lão ni thâu nhận làm đệ tử đấy.
Lão ni cô nói: Sư phụ đã dạy, đệ tử xin vâng theo.
Triệu Văn Hội nói:
- Lát nữa cô ấy sẽ đến. Tôi xin cúng nhang khói cho chùa hai trăm lượng bạc.
Lão ni cảm ơn Triệu viên ngoại, lại day qua Tế Điên:
- Xin Thánh tăng từ bi chiếm cho một quẻ. Xem Cao quốc Thái hiện ở đâu?
Tế Điên vỗ vào linh quang ba cái, rồi nói:
- Chao ôi, thôi rồi, thôi rồi!
Lục thị đứng ở một bên nghe vậy sợ xanh cả mặt, lắp bắp nói:
- Xin Thánh tăng từ bi lập cách cứu giùm, cứu giùm!
Thanh Tịnh lão ni cũng năn nỉ hết mức.
Tế Điên hỏi:
- Bây giờ là mấy giờ rồi?
Phùng Thuận đáp:
- Hiện giờ đã sang đầu giờ Ngọ.
Tế Điên nói:
- Người này hiện cách đây 80 dặm. Đến chừng mặt trời lặn, người ấy sẽ bị tai họa mất mạng như không.
Tô Bắc Sơn nói:
- Thưa sư phụ, xin Ngài ra tay tế độ giùm.
Tế Điên nói:
- Khi ta tìm được người ấy trở về, ông phải tìm giùm một chỗ ở học quán nhé.
Tô Bắc Sơn nói:
- Đệ tử xin hứa giúp điều đó.
Tế Điên nói:
- Ông phải phái một gia nhân cùng đi tìm với ta và đem theo 200 lượng bạc làm lộ phí mới được.
Tô Bắc Sơn kêu:
- Này Tô Lộc, ngươi đi mau về kho bạc lấy theo lượng bạc, đi cùng với Thánh tăng tìm Cao tiên sinh nhé!
Thanh Tịnh lão ni nói:
- Này Phùng Thuận, ông cũng cùng đi với Tế Công nhé?
Lục thị cúi đầu cám ơn rối rít.
Tế Điên nói:
- Triệu Văn Hội và Tô Bắc Sơn! Hai ông chờ Doãn Xuân Hương đến, đưa cô ấy xuất gia rồi hãy về nhé!
Hai vị viên ngoại vâng dạ.
Tô Lộc đem bạc đến. Tế Điên cùng hai người ra khỏi Thanh Tịnh am. Khi tới chân núi, Tế Điên bước tới ba bước, bước lui ba bước. Tô Lộc nói:
- Sư phụ ơi, bộ Ngài lẫn rồi sao? Chúng ta phải đi 180 dặm mà Ngài đi như vậy cả đến 8 dặm cũng không tới được đó. Đi cách đó làm sao tới được? Xin Ngài đổi cách đi khác đi!
Tế Điên nói:
- Đổi thì đổi, có khó gì!
Nói rồi đổi bộ đi tới hai bước, sụt lui ba bước.
Phùng Thuận cười lên, nói:
- Sư phụ ơi, Ngài đi lộn trở về rồi đó. Đi cách đó làm sao tới được?
Tế Điên nói:
- Ờ, được, ta đi nhé!
Nói rồi co giò chạy mau tới trước, chớp mắt không thấy đâu. Hai người lật đật chạy theo, chạy mãi đến hai ba dặm, mồ hôi ra ướt cả mình, nói:
- Bọn mình vô khu rừng kia tạm nghỉ đi!
Hai người vừa bước vào rừng, Tế Điên hỏi:
- Hai vị mới tới hả?
Hai người đáp:
- Bọn tôi mới tới chưa nghỉ ngơi tí nào. Sư phụ tới đã lâu chưa?
Tế Điên đáp:
- Ta tới đây ngủ được hai giấc rồi đó. Cặp giò đó có phải của hai ông không?
Hai người đáp:
- Cặp giò của chúng tôi dính liền với thân, không phải của chúng tôi còn của ai nữa?
Tế Điên nói:
- Nếu là của hai ông thì khi ta niệm chú nó phải chạy nhé!
Phùng Thuận nói:
- Được, được Sư phụ cứ niệm đi!
Tế Điên thấy hai người đều đứng yên, nói:
- Ta niệm chú đây nhé!
Nói rồi trong miệng niệm lẩm nhẩm: "Án ma ni bát mê hồng. án sắc lịnh hích!”. Tức thì thân hai người không tự chủ được, cặp giò tự động chạy như bay tới trước.
Tô Lộc kêu lên:
- Sư phụ ơi, không xong rồi! Trước mặt cây giăng giăng, đụng vô chắc chết quá!
Tế Điên nói:
- Không sao đâu! Có ta đây mà, tới đó không đụng chạm gì đâu!
Quả nhiên hai người chạy đến đó luồn qua kẽ hở chạy tuốt.
Hai người đang chạy bỗng thấy từ trong xóm đi ra một người, trên tay cầm một cái chén. Tế Điên nhướng mắt lên xem, thì ra đó là tên nghịch tử. Người này họ Ngô tên Vân, là con của một bà quả phụ. Hôm nay nhà ăn bánh hỏi, mẹ hắn đã sửa soạn xong xuôi. Khi Ngô Vân về nhìn vào thấy không có giấm, bèn nổi giận, nói với mẹ hắn:
- Má sao càng già càng dốt, nhà ăn bánh hỏi sao bà không mua giấm? Bà thiệt hết xài mà!
Tuy giận lắm nhưng bà mẹ vẫn không trả lời. Hắn nói lầm bầm, rồi cầm chén ra cửa đi mua giấm. Gặp Tế Điên, bị chỉ một cái, Ngô Vân tức thì giở chân chạy luôn theo bọn Phùng Thuận.
Sợ quá, hắn kêu lên: Tôi không có đi hướng này mà! Tại sao lại kỳ vậy? Cặp giò này bữa nay bộ điên rồi chắc?
Ba người nghe bên tai tiếng gió vù vù, phảng phất, như tuôn mây lướt gió, băng băng đi tới trước. Thấy trước mặt con sông nước trắng xóa, Tô Lộc vội kêu:
- Thánh tăng ơi, cho tôi ngừng lại đi! Phía trước là con sông đó, đâm xuống chắc chết quá!
Tế Điên nói:
- Không sao đâu! Ráng phóng mình tới là qua ngay!
Khi tới bên sông, ba người vẫn lướt băng băng, tức thì qua bờ kia ngay. Tô Lộc nghĩ: "Chạy như vậy không xong rồi, ta phải tìm một gốc cây ôm cứng lại mới được!”. Mới nghĩ xong, vừa hay gặp một gốc cây, Tô Lộc vội ôm cứng lại, bèn té đánh huỵch xuống đất. Phùng Thuận và người mua giấm cũng té nhào theo.
Tế Điên vừa đi tới, nói:
- Ba người dậy đi chớ!
Ba người nói:
- Bọn tôi dậy không được.
Tế Điên móc ra một viên thuốc chia cho ba người uống. Ba người cảm thấy thân thể hoạt động lại bình thường, có thể đứng dậy được.
Ngô Vân ngơ ngác lặng thinh! Từ phía kia có một người bộ hành đi tới.
Tô Lộc hỏi:
- Xin ông cho hỏi thăm, đây là nơi nào vậy?
Người kia đáp:
- Đây là Tiểu Lưu thôn. Các vị định đi đâu đó?
Tô Lộc nói:
- Bọn tôi từ thành Lâm An đi đến huyện Dư Hàng.
Người kia nói:
- Các vị đi phải rồi đó. Nơi đây cách huyện Dư Hàng chỉ có 20 dặm thôi.
Ngô Vân nghe nói, kêu lên:
- Trời ơi, trời! Rồi cầm cái chén quăng bể nát. Bánh hỏi không được ăn mà phải đi xa hơn 200 dặm đường. Bây giờ tôi làm sao mà trở về được nè trời!
Tế Điên nói:
- Để ta làm phép đưa ngươi về.
Ngô Vân nói:
- Thôi, thôi! Đừng có làm phép nữa, tới nhà tôi đứng lại không được, chạy tuốt lên miền Bắc Tái rồi làm sao về được! Để tôi về một mình cho xong.
Tự hắn đi bộ về hết hai ngày một đêm mới tới nhà. Từ đó hễ thấy hòa thượng đi hóa duyên là hắn chạy trốn vì sợ gặp lại hòa thượng kiếc như xưa thì thêm khổ.
Tô Lộc nói với Tế Điên:
- Bây giờ chúng ta phải đi tiếp lên huyện Dư Hàng tìm Cao tiên sinh chớ?
Tế Điên đáp:
- Phải đó.
Ba người lại tiếp tục lên đường.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 28 [/align]



Tô Bắc Sơn Phái Người Tìm Hàn Sĩ
Cao Quốc Thái Nạn Gấp Gặp Bạn Xưa




Tế Điên đưa Tô Lộc và Phùng Thuận đến cửa Nam huyện Dư Hàng. Thấy bên đường có một tiệm cơm, Tế Điên nói:
- Này Tô Lộc, Phùng Thuận, chúng ta vào đây uống vài chén rượu, nghỉ ngơi giây lát rồi hãy đi tiếp.
Hai người gật đầu, cùng bước vào quán cơm, kêu mấy món ăn. Tô Lộc nói:
- Thưa Thánh tăng, chúng ta đã đến huyện Dư Hàng rồi mà Cao tiên sinh chưa biết ở đâu. Khi tìm được Cao tiên sinh rồi, chúng ta cùng uống một bữa no say nhé!
Tế Điên nói:
- Bây giờ chúng ta cứ uống rượu trước đi đã, lát nữa sẽ đi tìm kiếm ông ấy. Đường còn xa lắm mà!
Ba người nói chuyện một lát thì ăn uống đã xong, trả tiền cơm rồi ra khỏi quán, tiến vào cửa Nam. Đến một ngã tư, quẹo về hướng Đông thì phía Bắc con đường chính là nha môn huyện lỵ. Tế Điên bươn bả đi thẳng vào trong cửa huyện nha. Tô Lộc hỏi:
- Sư phụ đi đâu vậy?
Tế Điên đáp:
- Hai người ở ngoài này chờ ta, ta vào đây kiếm một người.
Tế Điên mới bước vào cửa lớn, nghe bên trong tiếng nạt:
- Nãy giờ sưu tra hỏi cung, mà can sự chẳng chịu cung khai. Vậy tả hữu hãy bày đồ côn kẹp ra, tra khảo Cao Quốc Thái một hồi rồi sẽ hỏi lại.
Tế Điên nghe nói cũng bắt rùng mình.
Tại sao Cao Quốc Thái lại lọt vào đây, bị quan lại thẩm vấn như vậy? Trong đó có một đoạn ẩn tình.
Nhân vì hôm nọ Cao Quốc Thái xuống khỏi núi Thành Hoàng, nghĩ tới tính lui mãi, muốn bỏ đi qua xứ khác ngặt nỗi không bà con, lại không nơi nương tựa. Rồi tính trở lại, chi bằng về lại huyện Dư Hàng vẫn hơn. Tự mình đáp thuyền nhỏ cũng là chỗ đồng hương quen biết, tiền đò mất 100 tiền. Ăn uống qua loa về tới huyện Dư Hàng thì 200 tiền cũng vừa đủ. Trong lòng lại nghĩ bây giờ mình trở về nơi cố thổ, cũng không có chỗ sanh phương. Thứ nhất là không một người thân thích, thứ hai là không một bạn quen. Muốn kiếm chỗ mượn đỡ ít điếu tiền cũng không có!
Ở bên xứ người thì muốn trở về nhà. Đến khi về đến nhà, phải sống làm sao đây? Có mấy nhà chí thân, cũng có thể cùng ta chia buồn giải muộn. Có mấy người bạn tri kỷ, cũng có thể để cho ta bày tỏ cả tâm can. Thật đúng như lời người xưa đã nói:
Nghèo ở chợ dông có móc đồng
Móc hoài chẳng dính bà con thân
Giàu ở rừng sâu tay xách gậy
Xua hoài không hết bạn vô nhân
Cao quốc Thái là một người có chí khí, không muốn cầu cạnh bạn bè, nghĩ tới nghĩ lui, càng nghĩ càng thêm bối rối, chỉ còn nước chết cho xong! Định đi đến con sông chạy quanh thành nhảy xuống chết cho rảnh. Đứng bên bờ sông nhìn ghe thuyền qua lại rộn rịp, tự nghĩ rằng: “Chết đây, chết đây! Ta chết rồi vạn sự kể như xong. Sống có lúc, chết có nơi, đây là chỗ tuyệt mạng của ta đây!”. Nghĩ xong lấy đà định nhảy xuống nước, bỗng sau lưng có tiếng nói:
- Bạn ơi, đừng, đừng! Đừng nhảy xuống sông vội, có tôi đến đây!
Cao Quốc Thái ngoái đầu lại xem, thấy người ấy mình cao bảy thước, lưng eo vai rộng, đầu đội khăn xanh, y phục màu xanh. Da mặt hơi tía, trong tía ửng hồng, trong hồng lộ tía, mày cong mắt rộng, sóng mũi thẳng ngay, khuôn mặt cân đối, tuổi ngoài đôi mươi.
Người ấy nói:
- Tiên sanh là người đọc sách rõ biết lý lẽ ở đời, cớ sao lại tìm một việc nhầm lẫn đáng tiếc như vậy?
Cao Quốc Thái nói:
- Xin huynh đài đừng hỏi đến làm gì. Trên thế gian này tôi không có đất dung thân, thà chết quách cho xong!
Người kia nói:
- Thưa tiên sinh, tiên sinh có điều gì khó giải quyết xin nói cho tôi cùng nghe với!
Cao Quốc Thái thấy người ấy thành thật, mới nói:
- Huynh đài tôn kính là chi?
- Tôi họ Vương, tên Thành Bích, cũng là người ở địa phương này. Tôi có một cái chành ở bên bến sông này. Ai có hàng hóa đều tìm đến chành tôi gởi hết. Tiên sinh tại sao lại tìm một việc nhầm lẫn như thế?
Cao Quốc Thái nói:
- Tôi cũng là người ở tại địa phương này. Nhà tôi trong cửa Nam, tôi họ Cao, tên là Quốc Thái. Nhơn vì gia thế suy vi, tôi đưa gia quyến đến Lâm An ký ngụ ở một Ni am. Tôi nghĩ mình làm trai đứng ở trong trời đất trên không thể giúp vua an dân, dưới không thể bảo dưỡng vợ con, như vậy sống trên đời này uổng quá. Thôi thà chết phứt cho xong!
Vương Thành Bích nói:
- Huynh đài ơi, anh là người thông minh, lại bị chính cái thông minh đó gạt gẫm! Cần chi phải coi thường mạng sống như thế? Thôi, chúng mình tìm một quán cơm ăn no bụng đã, rồi tôi sẽ bày cho anh một phương thế làm ăn. Đừng có nghĩ quẩn làm chi, người ta chết rồi không sống lại được đâu!
Cao Quốc Thái cùng Vương Thành Bích tìm vào một quán cơm kêu mấy món. Ăn uống no say xong, Vương Thành Bích nói:
- Bữa nay trong tay tôi không có một trinh nào hết, cũng không có một tấm ngân phiếu nữa, phải đợi đến ngày mai mới có. Bữa nay anh chịu khó kéo thuyền trước đi nhé!
Cao Quốc Thái nói:
- Tôi là thư sinh, sức trói gà không chặt, làm sao có thể nắm thuyền nổi?
Vương Thành Bích nói.
- Anh ơi, đừng nên nói như vậy, đến chỗ nào phải theo chỗ đó mới được. Anh không nhớ người xưa có hai câu thơ như thế này hay sao:
Thân người quân tử có thể lớn có thể nhỏ,
Chí của kẻ trượng phu có lúc duỗi có lúc ngay!
Hôm nay anh chịu khó đi kéo ghe đi, đợi vài hôm tôi có tiền sẽ đưa anh mua bạc lượng đi rước gia quyến về trước. Kế đó, tôi nhờ bạn hữu giúp anh có một trường học. Anh thấy như vậy có được không?
Cao Quốc Thái nghĩ rằng: "Anh ta với mình là duyên bèo nước mà còn khuyên ta như thế thì ta còn cố chấp làm gì". Nghĩ rồi bèn nói:
- Huynh đài đã quá yêu tiểu đệ như thế, tiểu đệ xin đi kéo thuyền vậy.
Vương Thành Bích nói: Ừ, phải đấy!
Nói rồi đứng dậy dẫn Cao Quốc Thái ra bờ sông. Nơi đây có một thuyền chất đầy hàng hóa sắp nhổ neo.
Vương Thành Bích nói:
- Quản thuyền ơi, tôi có một anh bạn, để anh ấy kéo thuyền chúng mình với. Nhờ quản thuyền để ý chỉ bảo giùm. Đến chỗ cất hàng lên vẫn để anh ấy kéo thuyền về được quãng nào hay quãng nấy nhé!
Quản thuyền nói:
- Được mà, có Vương đại gia gởi gắm, chúng tôi đâu dám xử tệ.
Cao Quốc Thái bèn ở lại chờ. Giây lát thuyền nhổ neo, mọi người đều cầm một khúc cây có cột dây để kéo. Cao Quốc Thái không biết làm gì, có người đưa anh ta một khúc cây như vậy. Đương lúc thuyền đi, mọi người đương kéo vừa hò lấy trớn. Cao Quốc Thái lại nhớ trong sách về chương mười ba có đoạn: “Người quân tử ở hoàn cảnh nào, sống hợp hoàn cảnh đó, không muốn vượt quá phạm vi. Ở cảnh giàu sang, sống đúng theo giàu sang; ở cảnh nghèo khó, sống theo nghèo khó; ở chỗ mọi rợ, sống theo mọi rợ; ở cảnh hoạn nạn, sống theo hoạn nạn. Người quân tử không bị mắc mứu vào mà cũng không lấy làm tự đắc mình hơn người”.
Cao Quốc Thái chỉ nhớ đến sách, mặt ngẩn ngơ, mấy người kéo ghe thấy vậy cười rộ. Một ngày nọ, ghe đến Ân Gia Độ cất hàng hóa lên. Cao Quốc Thái mệt lử chịu không nổi bèn xuống ghe ngủ vùi. Ngày hôm sau, ghe chở hàng hóa khác trở về. Cao Quốc Thái lại tiếp tục kéo ghe như cũ. Đến huyện Dư Hàng, ghe vừa ghé bến thì thấy Vương Thành Bích đứng chờ sẵn ở đó.
Vương Thành Bích nói:
- Chắc mấy hôm nay anh mệt lắm hả? tôi đến đón anh đây. Anh em mình chắc là có túc duyên, ngày hôm nay tôi lại được một bút khoảng 35 điếu nữa. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau ăn uống tí chi đã, lát nữa hãy vào thành mua bạc rồi ngày mai anh đi rước gia quyến về. Bửa nay ta đong rượu, mua thịt, về vui nhậu suốt đêm nay mới vừa.
Cao Quốc Thái nói:
- Tốt quá! Tốt quá! tôi cùng Vương huynh sơ ngộ mà huynh trưởng đãi hậu như thế, tôi thật cảm kích vô cùng!
Vương Thành Bích nói:
- Anh em mình là bạn tri kỷ, mới gặp như người quen, anh khách sáo làm gì!
Cao Quốc Thái nghĩ: "Anh bạn này thành thật quá!”. Bèn cùng với Vương Thành Bích đi ăn điểm tâm. Trời cũng đã tối. Vương Thành Bích lấy tiền trao cho Cao Quốc Thái vào thành mua bạc, cầm theo một chiếc bình để đong rượu, mua thịt đem về nhậu. Cao Quốc Thái vào thành mua 50 lượng bạc, đong rượu, mua thịt xong trở về. Nhằm lúc cửa thành sắp đóng, Cao Quốc Thái vừa sắp ra cửa thành thì từ trước mặt có một người chạy lại như bay, hình như có việc gì gấp lắm và đụng phải Cao quốc Thái một cái xửng vửng. Người ấy vội nói:
- Xin tiên sinh thứ lỗi, tôi vội quá vì có một việc gắp lắm, mới vô ý đắc tội với tiên sinh như thế.
Nói xong, người ấy chắp tay xá dài, rồi lật đật đi ra cửa thành.
Cao Quốc Thái vốn là người văn nhã, tuy bị đụng xửng vửng, nhưng lại nghĩ: “Người ta đụng mình đâu phải cố ý thì chấp làm chi Nghĩ rồi tiếp tục đi ra khỏi thành. Bỗng nhiên sực nhớ lại: Hình như gói bạc của mình bị đụng xóc thì phải? Lấy tay rờ thử thì than ôi gói bạc không cánh mà bay. Té ra người đụng Cao Quốc Thái chính là kẻ trộm giữa ban ngày. Ban nãy thấy Cao Quốc Thái mua bạc bèn giả bộ đụng Cao Quốc Thái rồi chớp gói bạc đi thẳng. Càng nhớ tới, Cao Quốc Thái càng thấy bối rối thêm: Lát nữa đây gặp Vương Thành Bích, mình sẽ ăn nói ra sao? Chi bằng chết quách cho xong. Ngày hôm kia, ta muốn chết mà không chết được, phải chăng còn hai ngày đền tội chưa xong. Thật là "Diêm vương ấn định canh ba chết, Nào người đời sống rốn đến canh năm!”. Nghĩ như thế rồi bèn đến bên bờ sông quanh thành, định nhảy xuống chết phứt cho rảnh.
Tự mình than thở: "Cao Quốc Thái ơi, Cao Quốc Thái! Mạng vận mi toan mãi vẫn không thông. Chẳng dè hôm bay ta lại chết tại chỗ này". Đương lúc thở than như thế, lại nghe kế bên có tiếng người hỏi:
- Người đó có phải là ân huynh Cao Quốc Thái đó chăng?
Tiếng nói đó quá gần làm Cao Quốc Thái ngừng bỏ ý định. Người ấy lại nói tiếp:
- Em tưởng anh chết rồi! Tìm kiếm anh khắp nơi mà chẳng biết anh xiêu lạc phương nào, chẳng dè hôm nay gặp anh ở đây!
Người ấy nói rồi chạy đến cúi chào. Cao Quốc Thái nhìn lại mà chẳng nhớ là ai, xem hình như quen mặt nhưng bất chợt chẳng nhận ra, mới hỏi:
- Lão huynh có nhìn lộn người chăng?
Người ấy đáp:
- Huynh trưởng ơi, cả tiểu đệ là Lý Tứ Minh anh cũng không nhớ ra nữa sao?
Cao Quốc Thái nghe qua mới chợt nhớ, nói:
- À, à, té ra là Lý đệ.
Nguyên Lý Tứ Minh thuở nhỏ nhà nghèo mẹ góa, ở ngụ cư nơi nhà Cao Quốc Thái. Việc chi dụng hàng ngày đều do Cao Quốc Thái bảo bọc hết. Đến tuổi học tập, Lý Tứ Minh cũng học luôn ở nhà Cao Quốc Thái. Mẹ Tứ Minh chết, Quốc Thái xuất tiền chôn cất chu đáo. Cao Quốc Thái hỏi Tứ Minh ý muốn học tiếp để làm quan hay thích ra buôn bán. Lý Tứ Minh nói:
- Tôi muốn tìm một cửa hiệu để học tập nghề buôn bán tốt hơn, nhà tôi nghèo, đâu đủ tiền của mà theo nghiệp công danh.
Cao Quốc Thái nói:
- Cũng được, để ta tìm một chỗ cho em học buôn bán nhé!
Bèn gởi Tứ Minh vào tiệm gạo Thiên Thành trong thành mà học buôn bán. Tất cả những áo quần, mùng mền đem theo để đi học đều do Quốc Thái chu cấp. Lý Tứ Mình cũng quyết ý học tập, mọi việc đều không nhầm lỡ, chuyên tâm học tập ba năm đã mãn. Chủ nhà đến tiệm kết toàn sổ sách, thấy Lý Tứ Minh mọi việc đều cần kiệm, lòng rất vừa ý, bèn tìm một nhà khác mở riêng một tiệm gạo ở Thanh Giang giao cho Lý Tứ Minh coi sóc. Công việc làm ăn rất phát đạt. Chủ nhà không có con trai, chỉ có một cô con gái, bèn đem gả cho Lý Minh bầu bạn, phụng dưỡng ông bà lúc tuổi già, đem một phần gia nghiệp chia cho con rể. Về sau, hai ông bà già qua đời, Lý Tứ Minh coi sóc luôn cả sự nghiệp công danh đó.
Hồi tưởng lại: "Ngày trước nếu không nhờ ân huynh bao bọc, mình đâu có được sung túc như ngày nay". Bèn đưa cả gia quyến, thâu thập đồ tế nhuyễn, cùng nhau về chốn cũ, tìm ân huynh Cao Quốc Thái.
Đến huyện Dư Hàng tìm hỏi, không ai biết Cao Quốc Thái phiêu bạt phương nào! Họ đều nói vì nghèo quá cao quốc Thái dọn đi nơi nào không biết. Lý Tứ Minh than thở không cùng! Bèn mua một ngôi nhà ở ngoài cửa Tây thành, lại mở một tiệm bán lương khô ở ngoài cửa Nam. Hôm nay đang lúc đi trở về nhà, Tứ Minh bỗng gặp Cao Quốc Thái. Hai người gặp nhau, buồn vui lẫn lộn, cùng nhau bày tỏ việc vừa qua.
Cao Quốc Thái nói:
- Lão đệ này, nếu hôm nay anh không bị mất tiền, chắc gì chúng mình gặp được nhau!
Lý Tứ Minh nói:
- Bây giờ anh hây tới nhà em trước đã, chúng ta sẽ hàn huyên tâm sự.
Hai người đứng dậy cùng đi, tới trước không xa bỗng Cao Quốc Thái đạp phải một vật, cúi xuống đưa tay rờ xem thì là một bó đồ.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Thứ 29 [/align]



Bạn Cũ Gặp Nhau Tri Ân Báo Đức
Tiểu Nhân Cựu Thù Lấy Oán Báo Ân




Nói về Cao Quốc Thái mở gói ra xem thử, té ra là hai xấp lụa. Dưới ánh trăng tỏ rạng, rõ ràng bốn chữ đề "Hưng Long đoạn điếm” (tiệm lụa Hưng Long). Lý Tứ Minh nói:
- Hai xấp lụa này không phải là của tiệm lụa trong huyện Dư Hàng ta. Trong huyện Dư Hàng chúng ta có hai tiệm lụa, một tên Thiên Thành, một tên Vĩnh Thuận mà thôi. Tiệm Hưng Long này chẳng biết là ở huyện nào?
Cao Quốc Thái nói:
- Chúng ta đứng ở đây chờ, có ai đến tìm, mình đưa lại cho họ. Nếu đưa đúng chủ nhân thì không hề chi, còn nếu đưa nhầm kẻ bá vơ mạo nhận, người mất của xảy ra tính quẫn, tội nghiệp người ta.
Hai người đứng ở đó chờ một hồi lâu mà chẳng thấy có ai đến kiếm. Lý Tứ Minh nói:
- Bây giờ cũng không còn sớm gì nữa, thôi chúng ta hãy về nhà cái đã. Đợi đến mai, nếu có người đến tìm nói đúng thì mình đưa họ, còn nếu không có ai kiếm thì mình viết cáo bạch dán ở bốn cửa thành, cũng không có gì lầm lẫn.
Cao Quốc Thái nói:
- Bữa nay đáng lẽ ta phải trở về gặp Vương Thành Bích mới phải. Hồi chiều, ta đem tiền đi mua sắm đồ vật và bạc, anh ấy đợi ta trở về để cùng uống rượu đó. Vì mất hết tiền nên ta định tìm lấy cái chết cho xong. Hôm nay ta không trở về đằng ấy, chắc ảnh lại có ý nghĩ không tốt về ta.
Lý Tứ Minh nói:
- Bây giờ anh cứ về đằng nhà tôi trước, rồi sai người đưa thơ về cho ảnh biết. Ngày mai hai anh em ta cùng đến bái yết anh ấy cũng không muộn mà.
Nói xong, hai người cùng rời chỗ, đến nhà Lý Tứ Minh ở cửa Tây, thấy cổng khép hờ bèn đẩy cửa vào. Cao Quốc Thái thấy gần ngoài cổng có ba gian phòng đèn đuốc lù mù, bèn nói:
- Hôm nay tối rồi, ngày mai sẽ vào nhà trong, bây giờ mình vào đây nghỉ chân đã!
Lý Tứ Minh nói:
- Ba phòng này đã cho thuê rồi, mà tôi cũng không đòi tiền phòng, nhân vì tôi hay vắng nhà nên mời một người cùng phường đến ở để hai bên dòm ngó giúp đỡ nhau.
Cao Quốc Thái nghe nói gật đầu. Hai người tiến vào cửa thứ hai, kêu cửa. Bên trong có một bà già đi ra nói:
- A, đại gia đã về!
Lý Tứ Minh nói:
- Bà vô trình với bà chủ hay, hôm nay có ân huynh của ta là Cao Quốc Thái đến thăm.
Bà vú trở vào giây lát, nghe bên trong có tiếng "Xin mời vào’. Hai người bước vào phòng trong. Bên trong lau dọn rất sạch sẽ, từ bên trong Hà thị bước ra chào hỏi ra mắt Quốc Thái. Lý Tứ Minh bảo vợ:
- Nàng hãy sửa soạn thức ăn ở phòng Đông để hai anh em ta nhắm rượu nhé!
Hai người lại sang phòng Đông, dưới ánh đèn tỏ, giở gói lụa ra xem lại. Lý Tứ Minh nói:
- Hai xấp lụa này, màu sắc thực màu lam ngọc đúng mức, nhưng không biết cửa hiệu Hưng Long này ở chỗ nào? Ngày mai chúng ta niêm yết bá cáo ở bốn cửa thành, nếu có người đến tìm, nói đúng thì đưa lại họ, còn không có ai tới kiếm thì hai ta may mỗi người một cái áo dài mặc chơi.
Cao Quốc Thái nói:
- Phải. Ngày mai hiền đệ hãy thay ta đến cảm tạ anh Vương Thành Bích nhé. Nếu không có anh ấy cứu giúp cho thì giờ này ta đã mồ xanh cỏ rồi. Anh ấy thật là một người quân tử, tính tình hiền hậu ngay thực, đối đãi với ta trước sau như một. Thật là một người bạn quý khó tìm!
Lý Tứ Minh nói:
- Vâng. Ngày mai hai ta sẽ cùng đi gặp anh ấy.
Hai người ăn uống xong, ngơi nghỉ.
Sáng hôm sau, hai người vừa rửa mặt, điểm tâm xong, nghe bên ngoài có người hỏi:
- Lý Tứ Minh, trong nhà anh có người tên Cao Quốc Thái phải không?
Tiếp theo, tiếng gõ cửa dồn dập. Hai người lật đật bước ra xem. Ngoài cửa đã đứng sẵn hai vị sai dịch, mang theo bốn tên phổ ky. Hai vị này đầu đội mũ vải xanh nhạt, mình mặc áo chèn xanh, lưng thắt dây bản da, chân mang giày nhẹ, mỗi người trên tay đều cầm côn gỗ dây xích sắt. Hai vị Ban đầu này, một vị tên là Kim Lăng Thọ, một vị tên là Đổng Thế Xương. Vừa gặp Cao Quốc Thái, vội hỏi:
- Này, bạn có phải là Cao Quốc Thái không?
Cao Quốc Thái đáp:
- Vâng, chính tôi, hai vị tìm tôi có việc chi?
Nghe xong, vị Ban đầu ấy rút dây sắt trói nghiến Cao Quốc Thái lại. Lý Tứ Minh vội chạy đến can thiệp cũng bị trói nốt. Trói xong, lại hô:
- Bây đâu, lục tìm tang vật!
Họ vào các gian phòng lục xét và tìm thấy hai xấp lụa ở phòng Đông. Lý Tứ Minh hỏi:
- Ban đầu ơi, tại sao hai ông bắt trói chúng tôi thế này?
Kim ban đầu nói:
- Ở đây chúng tôi có tờ trát, lịnh của quan huyện sở tại sức cho bọn tôi phải bắt trói bạn ngay. Hai tôi vô cớ đâu dám bắt trói người lương thiện! Hai anh làm việc gì thì tự hai anh biết lấy, còn hỏi bọn tôi làm gì?
Vị Ban đầu kia nói:
- Dẫn đi mau, đừng nói nhiều lời. Đến nha môn, các anh sẽ biết.
Nói rồi dẫn hai người mang theo hai xấp lụa về phòng làm việc ở huyện nha. Lúc đó, quan huyện đi đưa đón quan trên chưa về, chờ đến mặt trời xế bóng quan huyện mới về đến nha sở. Vừa về đến, quan huyện lập tức truyền lịnh:
- Chuẩn bị thăng đường!
Ba ban chức sự lật đật tề tựu, đứng xếp hàng chờ lịnh. Tráng ban lo việc thị uy hộ quan đường. Tạo ban coi việc bài trí hiệu lệnh. Khoái ban coi việc thứ tự trình việc bắt trộm đuổi cướp. Ba ban ai lo việc nấy. Huyện quan họ Võ tên Dao Khuê, xuất thân từ khoa bảng, đoán việc như thần, thực thi phép nước, yêu dân như con, lòng những mong toàn huyện đi đường không nhặt của rơi, đêm khỏi cài then cửa. Hôm nay quan huyện thăng đường xử đoán việc công. Bên dưới trình thưa:
- Việc tiệm lụa ở Ân Gia Độ bị cướp, bọn cướp đèn đóm sáng ngời, gậy gộc đao kiếm khảo tra chủ nhân cướp đi 50 tấm lụa và 1.000 lượng bạc. Đầu đảng là Cao Quốc Thái, chủ oa trữ là Lý Tứ Minh, xin giải trình đại nhân xét xử.
- Hãy dẫn bọn chúng vào!
Hai bên dạ ran, lập tức đưa Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh vào quỳ trước huyện đường. Hai người thưa bẩm:
- Kính thưa lão gia, sinh viên Cao Quốc Thái kính xin ra mắt. Tiểu tử là Lý Tứ Minh xin ra mắt lão gia.
Quan huyện ở trên nhìn xuống thấy Cao Quốc Thái văn chất thanh bai, phẩm mạo đoan chính, ngũ quan thanh tú, gương mặt hiền lành không có vẻ gì hung ác cả, bèn hỏi:
- Này Cao Quốc Thái, bọn mi giữa đêm đốt đèn đánh cướp tiệm lụa, đồng lõa có bao nhiêu tên, số lụa cướp được đem về giấu ở đâu? Nói mau?
Cao Quốc Thái nghe nói, vội trình:
- Bẩm lão gia, sinh viên là người học trò, không biết việc cướp tiệm lụa ở Ân Gia Độ là thế nào, cả đến việc đốt lửa cầm gậy uy hiếp chủ nhà, sinh viên nào có biết điều chi!
Quan huyện vỗ bàn, hét lớn:
- Cha chả, hỏi nhẹ nhàng mi chẳng chịu khai! Vậy thì bây đâu, đè xuống đập cho nó một trận!
Cao Quốc Thái vội thưa:
- Bẩm lão gia, xin người bớt giận để tiểu sinh trình rõ: Ân Gia Độ đốt đèn cướp của đả thương chủ nhân, việc đó tiểu sinh hoàn toàn không biết. Nếu lão gia đánh khảo gia hình bắt tiểu sinh nhận lấy việc mưu phản đó, tiểu sinh quyết không dám nhận đâu!
Quan huyện nói:
- Theo ta thấy thì chắc chắn là mi đã có quen thân với bọn cướp tiệm lụa bị cướp rồi, ngươi nói không biết, tại sao hai xấp lụa này lại ở trong tay mi?
Cao Quốc Thái nói:
- Bẩm lão gia, hôm qua thư sinh tình cờ lượm được ở gốc cây Tây nam ngoại thành, tiểu sinh định ngày hôm nay dán bố cáo ớ bốn cửa thành, nếu có ai đến nhạn tiểu sinh cho lại, nào dè lại bị lão gia bắt về đây. Đó là sự thật xin chưa trình.
Quan huyện nghe nói, cầm hai xấp lụa lên xem và truyền dẫn thủ kho của tiệm Hưng Long là Vương Hải vào. Giây lát, từ bên ngoài, một người trạc ngoại ngũ tuần đi vào. Người này ngũ quan đầy đặn, có vẻ phúc hậu, đến quỳ trước án. Quan huyện bảo sai nhân đem hai xấp lụa cho xem và hỏi:
- Ngươi xem thử hai xấp lụa này là của tiệm Hưng Long bán ra hay bị bọn giặc cướp đi? Việc này rất hệ trọng, ngươi không được hồ đồ nhé!
Vương Hải xem một lát rồi thưa:
- Bẩm huyện quan, rõ ràng hai xấp lụa này bị bọn giặc cướp đi.
Quan huyện nghe nói thế, hỏi:
- Có bằng cớ gì mi dám bảo hai xấp lụa này bị cướp đi? Hãy nói mau!
Vương Hải thưa:
- Trình bẩm lão gia, đây có bằng chứng rõ ràng. Trong tiệm của chúng tôi, hàng còn treo trên giá chưa bán chỉ có chữ ”Hưng Long đoạn điếm” mà thôi. Nếu có người đến mua lụa, khi mua xong, tiệm chúng tôi mới đóng lên lụa một con dấu đã bán nữa, trên dấu bán có khắc chữ "Sanh tài hữu đạo". Trên hai xấp lụa này không có khắc con dấu đã bán nên tôi quả quyết là đồ vật bị đánh cướp.
Quan huyện nghe nói, cho người dẫn đi ra. Cao Quốc Thái quỳ một bên nghe không sót một lời.
Quan huyện nói:
- Này Cao Quốc Thái, ngươi nghe rõ hết chưa? Bây đâu, đè Cao Quốc Thái xuống đánh một trận cho ta. Đánh xong sẽ hỏi tiếp.
Cao Quốc Thái thưa:
- Xin lão gia thương tình xét lại, quả tình hai xấp lụa này tiểu sinh lượm được mà có. Có thể là do bọn cướp đem đi bị đánh rơi rồi tiểu sinh lượm được, chớ nào có bằng chứng gì là tiểu sinh đang đêm đốt đèn uy hiếp chủ nhân cướp của đâu?
Quan huyện nghe nói, nổi giận đập bàn, hét lớn:
- Cha chả, hay cho thằng giặc già hàm, dám ở trước quan đường già hàm cãi chày cai cối! Bây đâu, dẫn chứng nhân ra đây!
Cao Quốc Thái nghe nói có chứng nhân, mặt thất sắc nhìn lên. Bên ngoài dẫn vào một người lạ hoắc. Người ấy độ hơn 20 tuổi, đầu đội khăn xanh rách góc, mình mặc áo xanh chẹt, giày xanh vớ trắng, da mặt trắng xanh, đôi mắt ti hí, chiếc mũi củ tỏi dòm xuống cái miệng trẹt, đôi môi mỏng dính. Chiếc đầu cá trê với hai thái dương lõm vào càng làm cho đôi mắt như ríu lại. Té ra người này là Lãnh Hạnh Nhị, hiệu là Lãnh Bất Phòng, ở ba gian phòng ngoài của Lý Tứ Minh. Bình thời đến mượn tiền Lý Tứ Minh nhiều lần không được nên có ý thù. Nhà Lãnh Nhị có hai vợ chồng mà nuôi không nổi, vợ phải bỏ đi làm mướn kiếm sống. Anh ta suốt ngày ở nhà một mình tính đủ thứ chuyện làm hại Lý Tứ Minh vì không cho hắn mượn tiền, cho bõ ghét. Một tối nọ nghe bên nhà Lý Tứ Minh có khách, Lãnh Bất Phòng suy nghĩ: "Bình thường Lý Tứ Minh có mời bạn bè bao giờ, hôm nay chắc có gì hệ trọng đây!”. Hắn ta len lén rình nghe. Thì ra người mới đến là Cao Quốc Thái đang cùng Lý Tứ Minh đi vào nhà. Lãnh Nhị đứng ngoài cửa thứ hai nghe ngóng. Lý Tứ Minh nói:
- Hai xấp lụa của tiệm Hưng Long này, nếu ngày mai không có ai đến tìm thì hai đứa ta mỗi người may một cái áo bào mặc chơi.
Lãnh Nhị nghe nói đến chỗ đó, trong lòng thầm nghĩ: “Ta nghe nói tiệm lụa Hưng Long ở Ân Gia Độ lần trước bị bọn cướp đốt đèn cầm gậy uy hiếp chủ nhân dọn sạch. Vụ án đó tới bây giờ vẫn chưa tìm ra manh mối. Ngày mai ta đến nha môn, thêm mắm dặm muối, vu cho hắn chứa chấp đồ gian. Thằng cha Tứ Minh này thiệt đáng ghét, ai đời phát tài như thế mà mình hỏi mượn mấy điếu chẳng chịu cho. Lần này thì biết tay ông, để lần sau ông hỏi có dám khước từ không cho biết!”. Sáng hôm sau, Lãnh Nhị lật đật lên dinh quan huyện, hỏi:
- Hôm nay vị Ban đầu nào trực thế?
Có người đáp:
- Hôm nay nhằm Kim Lăng Thọ Ban đầu trực đấy.
Lãnh Nhị tìm Kim ban đầu, hỏi:
- Này Kim ban đầu, vụ án nửa đêm đốt đèn cầm gậy cướp của ở Ân Gia Độ, mấy ông đã tìm ra thủ phạm chưa?
- Hãy còn đang tra xét.
- Lý Tứ Minh ở phòng Đông trong viện chúng tôi đang chứa một tên gian dương đại đạo. Hôm qua có tên đầu đảng là Cao Quốc Thái đến ở nhà hắn, hai người bàn luận cả đêm. tôi nghe rõ hết nên lật đật đến đây trình báo.
- Hay dữ a! Ta sẽ đưa ngươi vào ra mắt quan huyện mới được.
Đoạn sai người vào trình quan huyện. Quan huyện lập tức thăng đường, dạy đem Lãnh Nhị lên gạn hỏi. Lãnh Nhị đến trước, quỳ xuống trình thưa:
- Bẩm lão gia, tiểu nhân là người mướn phòng nhà của Lý Tứ Minh, thường thấy người có hình tích khả nghi ra vào nhà hắn. Tối hôm qua có tên đầu đảng Cao Quốc Thái đến ở nhà hắn, khoe nói việc đốt đèn cầm gậy, uy hiếp chủ nhân, cướp của ở Ân Gia Độ. Tiểu nhân với bên hắn vốn không thù oán chi, sợ e lão gia điều tra biết được, bắt tội tiểu nhân có biết việc này mà không trình báo để tặc nhân trốn thoát.
Quan huyện trước tiên sai ngươi lưu Lãnh Nhị lại, rồi phái Kim Lăng Thọ, Đổng Thế Xương đi bắt Cao Quốc Thái và Lý Tứ Minh về tra xét. Khi hai người đòi bằng chứng bèn bảo dẫn Lãnh Nhị ra.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»