📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuyện xưa tích cũ - Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình 🔒

162 trả lời, 394 lượt xem — Trang 1 / 6
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 12:21:43 bởi casau>
 
Chuyện xưa tích cũ
Tác giả: Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình
 
Lời nhà xuất bản

Trong số các tác phẩm đã từng công bố qua hơn  50 năm cầm bút sáng tác của mình, ta thấy nhà văn Sơn Nam thường độc lập sáng tác, rất hiếm có trường hợp cùng đứng tên với tư cách đồng tác giả.
Chuyện Xưa Tích Cũ là một ngoại lệ. Thực ra, ngay từ đầu, Chuyện Xưa Tích Cũ là một tập sách được nhà văn Sơn Nam công bố với tư cách là người sưu tầm và viết lại. Những câu chuyện ta gặp ở đây thật quen thuộc như đã từng đọc, từng nghe kể đâu đó qua sách vở hoặc qua truyền miệng, được phổ biến chủ yếu ở vùng đất phương Nam. Sau khi xuất bản lần đầu Chuyện Xưa Tích Cũ, với sự cộng tác của nhà báo Tô Nguyệt Đình, nhà văn Sơn Nam đã có nhiều sửa chữa và bổ sung, đặc biệt là thêm nhiều mẩu chuyện đã được truyền tụng ở phía Bắc, do đó tập sách thêm phần dày dặn và đầy đủ hơn.
Với mong muốn từng bước giới thiệu với bạn đọc đầy đủ các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam đã công bố từ trước khi trao quyền sở hữu tài sản cho Nhà xuất bản Trẻ, chúng tôi cho xuất bản Chuyện Xưa Tích Cũ, theo bản in năm  2002 của Nhà xuất bản Phụ nữ (Hà Nội) - sách có sự chỉnh lý, hoàn thiện của chính tác giả - và nằm trong bộ sưu tập của cố họa sĩ Nguyễn Việt Hải - người đã thiết kế và trình bày bộ sách Sơn Nam theo hình thức mới như hiện nay.
Đây là tập sách thứ  18 trong toàn bộ tác phẩm Sơn Nam. Tuy chưa là tập cuối cùng được xuất bản lại nhưng Chuyện Xưa Tích Cũ có ý nghĩa riêng của nó. Nó đánh dấu kỷ niệm lần thứ  81 ngày sinh của nhà văn Sơn Nam theo giấy khai sinh (10.12.1926 - 10.12.2006).
Chuyện Xưa Tích Cũ là món quà nhỏ mừng lễ đại thọ của nhà văn Sơn Nam. Mong ông từng bước vượt qua cơn bệnh tuổi già để tiếp tục chuyện trò cùng bạn đọc mến mộ ông qua những sáng tác mới của mình.

Nhà xuất bản Trẻ
📎 cxtc
0
Cây kỳ nam

Ở tỉnh Khánh Hòa, có một nàng nọ vừa xinh đẹp vừa giỏi về phép thần thông. Nàng ngao du qua tận bên Tàu. Nhan sắc lộng lẫy của nàng khiến thái tử Tàu để ý rồi cưới nàng làm vợ. Họ sinh được hai người con trai mặt mũi khôi ngô.
Về sau, thái tử Tàu say mê một người khác ở tỉnh Phước Kiến nên dân dần lãng quên người vợ Việt Nam. Nàng đau buồn, định trốn về nước.
Thuở đó bên Tàu có cây kỳ nam rất quý, dùng làm vị thuốc hoặc tiện ra hột chuỗi cho các quan đại thần đeo. Sực nhớ bên nước nhà không có giống kỳ nam, người con gái quyết tâm tìm cách đem giống cây quý hiếm đó về cho Tổ quốc. Một hôm, nàng bẻ một nhánh kỳ nam, đọc thần chú rồi thả nhánh cây xuống biển, ba mẹ con nàng ngồi lên đó, gió xuôi đưa trở về Khánh Hòa, tấp ngay Cửa Bé. Nàng dứt nhánh kỳ nam ném tung khắp mọi hướng trên núi. Nhờ phép linh của nàng, cây kỳ nam mọc đều khắp trên núi, giống như loại chùm gởi, mùi thơm bay nức.
Hòn núi đó bây giờ tên là Hương Sơn, có thứ kỳ nam tốt nhất.
Nói vé thái tử nọ, khi hay tin vợ trốn về Việt Nam thì hoảng sợ, sợ nhất là bà vợ đã trộm cây kỳ nam đem về. Chàng ra lệnh đóng chiếc thuyền, giương buồm qua Khánh Hòa. Nàng hay được bèn bày ra một kế: Thừa lúc mọi người hội ngộ, đang vui vầy yến tiệc, nàng niệm thần chú khiến tảng đá lớn trên núi lăn xuống nhận chìm ghe của chàng. Chàng không còn phương thế nào về Tàu được nữa đành ở lại với vợ con.
Bây giờ, tại Cửa Bé, tỉnh Khánh Hòa người ta còn thấy hình dáng hai tảng đá lớn chất chồng. Tảng dưới giống hình cái ghe, tảng trên giống hình hòn đá đã nhận chìm ghe.
Không bao lâu, vợ chồng thái tử đều chết. Dân chúng nhớ ơn nàng đã đem giống cây quý về nước nên lập miếu thờ.
0
Cây mắc cỡ

Ngày xưa, có một cô gái rất đẹp. Xóm làng ai cũng trầm trồ khen ngợi. Cô tên là Trinh, vóc người mảnh mai, dáng đi yểu điệu. Đặc biệt là cô có đôi mắt đen huyền ẩn sau đôi hàng lông mi vừa dài, vừa sậm.
Hằng ngày cô Trinh phải gánh rau ra chợ, buôn tảo bán tần để nuôi mẹ già, em dại. Hễ gặp cậu trai nào nhìn ngó, cô luôn luôn e thẹn cúi đầu, hai hàng mi khép lại che khuất đôi mắt.
Đã có nhan sắc phẩm hạnh lại tốt ai mà không yêu!
Trong xóm có cậu công tử nọ tên là Xinh. Cậu Xinh đem lòng yêu mến cô Trinh, mỗi ngày đều đón đường để mong bày tỏ với cô vài lời tâm sự. Cô Trinh từ chối:
- Trăm sự, phải có sự ưng thuận của mẹ tôi ở nhà.
Nhuốm bệnh tương tư, một hôm cậu Xinh đi tò te sau lưng cô mà trộm ngắm. Thừa lúc vô ý, cậu chạy lại nắm tay cô. Cô nói:
- Cậu đừng làm vậy mà thất giáo. Tôi đây thà chết chớ không bao giờ để hoen ố...
Bệnh tương tư của cậu Xinh ngày thêm trầm trọng.
Ông bá hộ, cha của cậu, biết rằng con trai mình đã lớn tuổi, cần phải cưới vợ. Ông tìm nơi môn đăng hộ đối để định gia thất cho con.
Phải chi cô Trinh là con nhà giàu có thì cậu cưới được. Ngặt cô quá nghèo khó... Sống với người vợ không vừa ý, cậu Xinh vô cùng phẫn chí, đi tới đi lui như xác không hồn.
Sau đó cậu đi học phương xa.
Thời gian thấm thoát không biết mấy thu qua xuân lại rồi mà hình ảnh cô Trinh vẫn còn ghi trong tâm trí của cậu. Một hôm trở về làng cũ, cậu Xinh đi thẫn thờ ra sau vườn gần mé sông.
Bỗng nhiên, từ trong bụi rậm, cô Trinh bước ra. Cậu đứng nhìn, kìa cô Trinh cất tiếng hát, giọng trong trẻo, mê ly lạ thường. Chợt thấy cậu, cô Trinh run rẩy, quay người lại toan chạy trốn. Cậu Xinh vội nắm tay cô rồi ôm vóc ngọc vào lòng. Rõ ràng là đôi mắt đen huyền ngày xưa đang khuất sau hai hàng mi dài sậm. Cậu cúi mặt xuống để hôn. Nhưng hỡi ôi, nàng đã tắt thở. Cậu giật mình mới biết nãy giờ mình đang cúi xuống đất mà hôn một đóa hoa màu hồng, xung quanh đầy lá nhỏ mịn, thứ lá xếp lại như hàng mi khép khi có hơi gió hoặc hơi thở nào động tới.
Hỏi ra mới biết, vì có kẻ tham quan ô lại toan dùng quyền cưỡng bức nên cô Trinh đã tự tử từ hai năm nay. Cho hay, chữ trinh đáng giá nghìn vàng. Dẫu chết xuống âm cảnh, người thiếu nữ vẫn giữ sự trong sạch của tâm hồn mình.
0
Con vạc ăn đêm

Thuở xưa, chim đa đa, cò, vạc và chim rù rì sống thân thiết với nhau. Hễ gặp cá, tép, nhái... chúng chia mồi đồng đều.
Về sau, mấy con chim trên sanh tật cờ bạc, đánh mải chỉ có con cò là thắng cuộc. Cuối cùng, chúng phải làm, giấy thiếu nợ của cò; có chuột làm biện thảo văn tự.
Dè đâu, chuột nọ thông đồng với cò để gian xảo.
Vạc thua có một vác nhưng chuột ghi là chín chục vác (một vác bằng sáu quan).
Chuột lại còn ghi: Chim rù rì cầm tất cả đất đai.
Đúng ngày, không sao trả hết số nợ, tất cả tài sản của con nợ đều bị tịch thâu. Con cò nhờ vậy mà giàu.
Vạc tức giận, hằng đêm đi ăn cắp cá tôm trên đất của cò. Vạc kêu:
Vạc! Vạc! Thua một vác.
Thua một vác!

Chim rù rì cũng tức mình than thở:
Đông tây tứ chí bán hết!
Mần như ri cũng cực.
Mần như ri cũng cực.
Đi mô cũng cực.

Chim đa đa nhớ món ăn cũ:
Tiếc rổ tép, đa đa!
Tiếc rổ tép, đa đa!

Sau khi làm tờ văn tự gian xảo giúp cho cò, con chuột vô cùng hối hận, nó sợ mấy con chim mất của kia trả thù nên ngày đêm chui rúc vào bụi rậm hay chui xuống hang. Nó thở dài:
Chín chục, chín chục.
Chín chục, chín chục...

Ý nói chín chục quan nọ là ghi sai lầm thay vì có sáu quan nợ thôi!
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2017 00:25:04 bởi casau>
Con ngỗng có mồng trắng

Anh nọ dạo chơi ngoài vườn gặp một cái hang rắn. Mấy ngày đầu, anh thấy lúc rắn cái đang lột da trong hang thì rắn đực canh chừng và kiếm thức ăn về cho vợ. Đến phiên con rắn đực lột da thì rắn cái lại bỏ đi tình tự với con rắn khác. Tức mình, anh giương cung bắn chết con rắn cái nọ.
Khi đã mạnh mẻ trở lại, rắn đực tìm được mũi tên giết vợ bèn tìm đến tận nhà anh nọ mà trả thù.
Đang nằm trên máng xối, rắn vô tình nghe anh nọ nói chuyện với vợ về sự bạc tình của con rắn cái. Rắn bèn nhả ra viên ngọc để đền ơn anh ta rồi bò đi mất. Đó là viên “ngọc nghe”.
Nhờ viên ngọc đó, anh nọ có thể nghe được tiếng nói của loài vật.
Nghe tụi kiến lửa thì thào: “Mai này có nước lụt, phải làm ổ trên đất cao”, anh nọ bèn bảo vợ mau dọn nhà vì ngày mai có mưa to. Hôm sau đúng như vậy. Vợ anh rất khâm phục.
Bữa khác, anh lại nhà anh em bạn chơi. Bạn hết sức mừng rỡ mời lại ăn cơm. Nhờ có viên ngọc, anh nghe thấy mấy con ngỗng trong chuồng nói với nhau: “Ngày mai mình chết hay tôi chết? Nếu tôi bị cắt cổ làm thịt đãi khách, mình ráng ở lại nuôi con”.
Quá cảm động, anh can gián chủ nhà, biểu dọn cơm dưa muối cũng được.
Về sau, anh chàng ấy chết, mấy con ngỗng nhớ ơn cứu tử phen nọ nên để tang cho anh. Vì vậy mồng của ngỗng trổ màu trắng.
0
Sao Hôm, sao Mai

Anh tiều phu nọ đến suối thình lình bắt gặp một bầy tiên đang tắm. Tiên vội khoác quần áo bay về trời; còn sót một cô bay không được vì bộ quần áo của cô bị anh tiều phu giấu.
Nhờ vậy, anh tiều phu bắt cô tiên nọ đem về làm vợ. Anh giấu bộ quần áo tiên thật kỹ dưới đáy bồ lúa, sợ vợ thấy được lấy lại bay trở về trời.
Họ sanh được một đứa con trai. Một hôm, anh tiều phu đi vắng, nhằm lúc ở nhà có người đến mua lúa. Khi xúc tới đáy bồ, bộ xiêm y lòi ra, người vợ hết sức vui mừng, mặc vào rồi nói lại với đứa con:
- Mẹ đây cốt tiên, không thể nào ở mãi dưới trần thế được. Con đừng buồn. Mẹ để lại cho con cái lược này làm dấu tích.
Dứt lời, nàng bay mất. Anh tiều phu về, hay được sự tình, ngã lăn ra khóc. Từ đó, ngày này qua ngày khác, anh dắt con ra suối tìm hình dáng người xưa.
Suối đó vốn thiệt là suối Tiên. Khi về được nơi tiên giới rồi, nàng tiên nọ không dám trở lại nữa nên sai Ngọc Nữ xuống múc nước thế cho mình. Bữa đó, hai cha con anh tiều phu gặp hai cô gái đang múc nước tại suối. Anh hỏi thăm tin tức nàng tiên, hai cô nọ trả lời không biết. Trong lúc nói chuyện qua lại, đứa con anh làm rớt cây lược vào trong hũ nước. Khi nước đem về tiên giới, nhìn vào hũ nước, nàng tiên nọ nhận biết là chồng con của mình đã đến suối để tìm. Nàng nói:
- Ngọc Nữ hãy đem cái khăn này xuống cõi trần, bảo anh tiều phu và đứa con bịt nó ngang đầu. Khăn phép này sẽ giúp họ đằng vân về đây.
Anh tiều phu làm y theo lời, quả nhiên đến cõi tiên gặp mặt vợ. Sau phút sum họp, nàng tiên nói:
- Ta là tiên. Chàng là khách tục. Hai ta không thể nào sum họp được. Hôm nay chỉ tạm gặp mặt nhau, sau đây phải từ biệt.
Nàng tiên bèn thiết tiệc rồi bảo chồng và con ngồi trên một cái trống lớn có cơm đem theo để ăn dọc đường. Trên trời có dây thòng xuống. Khi nào đến mặt đất thì anh phải đánh trống lên để trên trời biết chừng mà chặt đứt dây..
Trống nọ thả xuống tòn ten giữa trời. Bỗng nhiên, có bầy quạ thấy đứa bé đang ăn cơm nên bu lại mổ vào cơm. Cái trống kêu lên “tung tung”. Ở trên trời, ngỡ là chồng và con đã xuống tới đất, nàng tiên chặt đứt dây, hai cha con anh tiều phụ nọ té xuống biển mà chết.
Từ đó, có sao Hôm và sao Mai. Sao Hôm là anh tiều phu, sao Mai là nàng tiên nọ. Họ không bao giờ gặp nhau. Đứa con trai thì hóa ra sao Đòn gánh ở khoảng giữa mà ngóng cha trông mẹ.
0
Hoa thủy tiên

Ông bá hộ nọ chết sớm, để lại hai đứa con trai. Con cả tánh tình hung hăng, thường hay hiếp đáp đứa em. Đứa em này yếu đuối, khờ khạo.
Cha chết, gia tài lọt trọn vào tay con cả. Hắn không chia gia tài cho em, lại còn bắt đứa em làm công việc trong nhà như đầy tớ. Đứa em tủi buồn trốn ra đi.
Đến nơi đó, đứa em gặp một ao nước trong veo. Nó ngồi than thở hồi lâu, toan bề tự tử. Chợt nhìn lên bờ ao có một ngôi miếu cổ xưa, nó lau chùi bàn thờ, quét sạch nền miếu rồi xá, bước ra.
Trời đổ bóng chiều. Đứa em thở dài, cảm thấy cuộc đời mình sắp tàn. Nó bước xuống ao. Nước dâng lên ngập đầu gối, rồi ngập lưng quần, ngang ngực... Bỗng đâu, một ông lão tiên phong đạo cốt hiện ra, níu áo nó lại:
- Tại sao cháu hủy mình?
Nó trả lời, thuật lại hoàn cảnh nghèo nàn.
Ông lão nói:
- Không sao đâu, lão giúp cháu.
Dứt lời, ông lão hóa phép. Khắp ao nước mọc lên một thứ bông trắng muốt, hương thơm ngào ngạt.
Nó hỏi:
- Ông là ai?
Ông lão nói:
- Ta là Thủy Tiên, ông tiên ở dưới nước. Hồi nãy ta hết sức cảm động vì tấm lòng thành của cháu, cháu săn sóc miếu ta bên bờ ao. Từ rày, cháu ráng trồng tỉa giống bông này, đem ra chợ bán thì ắt no cơm ấm áo.
Dứt lời, ông lão biến mất. Từ đó, bông Thủy Tiên ra đời, bán được giá cao. Đứa em nọ trở nên giàu có. Người anh cả gian ác kia vì ganh tị với em mà ốm o gầy mòn rồi chết yểu.
0
Chuyện con thỏ
Con chim nắc nước
Con muỗi

Ngọc Hoàng đòi các loài cầm thú đến trước bệ rồng.
Con chim nắc nước tâu rằng:
- Trăm lạy bệ hạ, mình mẩy của con thì lớn mà hai chân thì nhỏ xíu như chân nhang. Con e rằng một ngày kia gãy chân mất.
Ngọc Hoàng nói:
- Không hề gì. Chừng nào chân của con bị gãy thì ta thay cho cặp chân khác.
Vì vậy con chim nắc nước cứ luôn nhún mình xuống thử cho hai chân gãy để thay cặp chân khác to hơn.
Nhưng ngày qua tháng lại, cặp chân không gãy, chim phải mang thêm một thói quen không đẹp mắt.
Con thỏ thì tâu:
- Miệng của con nhỏ quá. Xin bệ hạ ban cho con một cái miệng rộng hơn.
Ngọc Hoàng bèn gọi con thỏ đến, lấy dao cắt hai bên mép cho miệng thêm rộng.
Vì vậy, miệng con thỏ còn hai lằn thẹo ấy.
Đến lượt con muỗi bay tới, than phiền với Ngọc Hoàng:
- Muôn tâu bệ hạ, da thịt của con người thì dày mà cái vòi của con thì nhỏ mà ngắn, nên con hút máu vừa chậm vừa lâu no.
Ngọc Hoàng nói:
- Ta ra lịnh cho thiên hạ giúp con, họ sẽ đè cái vòi của con xuống cho thật mạnh.
Con muỗi khoái chí bay đi kêu vo ve. Đến chừng châm vòi hút máu thì hỡi ôi... bàn tay của loài người đánh mạnh như giúp con muỗi chích sâu vào thịt, còn muỗi ta đành tử nạn!
0
Tích con chim hít cô

Năm đó, trời hạn, ruộng nương mất mùa, nơi nơi đói kém. Có hai cô cháu nọ sống kham khổ, nương tựa nhau. Chỉ còn một nắm đậu, họ đem luộc chín rồi ngậm mà nút nước cho đỡ đói. Cô ngậm xong thì nhả ra cho cháu ngậm. Cứ như vậy, thay phiên nhau.
Lần lần, mấy hột đậu mòn tan ra. Đến lượt đứa cháu ngậm, hột đậu tan luôn trong miệng. Người cô đành chịu đói mà chết. Đứa cháu hối hận vô cùng nhưng chẳng biết làm sao được!
Qua những năm sau, gió mưa trở lại thuận hòa, cây trái xum xuê. Người cháu sau khi chết hóa con chim tối ngày nhảy nhót gọi “Hít cô! Hít cô!” như muốn tìm người cô chết đói năm trước về chung hưởng những hoa quả tươi ngon.
0
Thần Phạm Nhĩ hóa cọp

Ngày xưa, trên Thiên cung có một vị thần tên Phạm Nhĩ. Theo chữ Nho, Phạm Nhĩ tức là lỗ tai rách.
Phạm Nhĩ rất hung hăng, tham quyền cố vị toan soán ngôi Ngọc Hoàng. Ông ta quy tụ binh mã, đánh đâu thông đó, hễ bắt được kẻ thù thì ăn gan uống máu lập tức.
Thấy Phạm Nhĩ đại náo thiên cung, Phật Bà Quan Âm bèn hạ lịnh cho ông Chuẩn Đề đem binh tới trừng trị. Nhưng ông Chuẩn Đề đại bại. Phật Di Đà liền hóa phép thần thông, bắt được Phạm Nhĩ, đày ông ta xuống trần gian, hóa kiếp ra con cọp.
Nhà Trời còn cắt đôi cánh của Phạm Nhĩ, không cho bay, đề phòng ông ta trở lại Thiên cung báo thù. Và để an ủi, nhà Trời ban cho ông ta chức chúa Sơn Lâm, oai phong khắp núi rừng!
Nhiều người nói rằng cọp không ăn thịt người nào họ Phạm (vì trùng một họ với cọp).
Ở nhiều làng mới khai phá, cọp thường được dân chúng phong chức Hương cả. Hằng năm, khi cử hương chức làng, cọp trở lại miếu làng để lãnh tờ cử mới.
Ở miền Bắc, cọp được gọi là ông Ba Mươi, bởi theo tích: hễ ai săn được một con cọp thì làng xã thưởng cho ba mươi quan tiền, đồng thời cũng đánh cho anh thợ săn nọ ba mươi hèo để vong hồn của cọp được thỏa mãn.
0
Ăn trầu ngắt đuôi

Thuở xưa, ở vùng nọ, có đôi nam nữ tha thiết yêu nhau. Cha mẹ của đôi bên đều bằng lòng kết nghĩa thông gia song họ chưa nói cho con mình biết.
Vì quá yêu nhau, hằng đêm cô thiếu nữ lén mở cửa phòng rước bạn trai vào tình tự, mãi đến gà gáy hừng đông cậu trai mới ra về. Cứ như vậy ngày này qua tháng kia.
Bữa nọ, trước khi về, người bạn trai ao ước được ăn một miếng trầu. Nhìn trong khay thấy hết trầu, cô thiếu nữ liền chạy ra vườn hái một lá đem vào, têm vôi, mời chàng. Dè đâu, miếng trầu nhai chưa dập thì chàng nọ bỗng ngã lăn, trào đờm ra rồi chết. Hoảng hốt, nàng tri hô lên. Quan làng chạy lại khám xét tử thi, thấy nhiều đốm đỏ loang khắp mình.
Thế là cô thiếu nữ bị bắt giam để xét hỏi về tội bỏ thuốc độc giết người. Cô một mực kêu oan. Cuộc tra tấn kéo dài, lần lần cô trở nên ốm o gầy mòn, gần chết trong ngục.
May sao, có ông quan Án đi tuần thú qua huyện, thấy vụ án kéo dài quá lâu, quan Án liền trực tiếp điều tra. Ông hỏi cô gái:
- Đầu đuôi tự sự như thế nào? Mi phải khai rõ ràng.
Cô nọ nói rõ sự tình. Nghe xong, vị quan suy nghĩ, gật đầu. Ông đến nhà cô gái, ra sau vườn xem kỹ từng lá trầu trên nọc. Ông chú ý: mấy lá ở sát gốc đều dính một chất gì nhớt ngay chót đuôi lá, giống như là con ốc, con sên bò qua nhả nước miếng.
Nhưng không thấy con ốc, con sên nào cả!
Ông quá tức trí, ra lịnh đào dưới đất, ngay nọc trầu. Đào xuống thật sâu, bỗng nghe tiếng khè khè. Rõ ràng là con thuồng luồng nằm khoanh trong hang. Mọi người kinh khiếp, chạy tứ tán.
Ông quan nói:
- Con thuồng luồng này hàng đêm lén bò lên mặt đất để kiếm nước uống. Vì quá khát nước, nó phải liếm mấy giọt sương mù ở chót đuôi mấy lá trầu gần mặt đất. Nọc con thuồng luồng dính lại trên lá nên gây chết người. Cô gái nhà này bị hàm oan, phải tha ngay!
Mọi người đều công nhận lời vị quan là chí lý.
Từ đó về sau, trước khi têm trầu, ai nấy đều ngắt chót đuôi lá vì sợ có nọc con thuồng luồng. Ngày nay, giống thuồng luồng không còn nữa nhưng thói quen của con người vẫn cứ tồn tại.
0
Tích cây nhơn sâm

Theo Đông y, nhơn sâm (còn gọi là nhân sâm) là vị thuốc bổ khỏe rất quý. Nhơn sâm là một loại củ nhỏ, có bốn cái rễ giống như hai tay hai chân của con người. Thuở xưa, ai uống nhơn sâm thì được trường sanh bất tử. Nhưng ngày nay nhơn sâm không còn linh nghiệm bằng hồi trước. Đó cũng là do loài người nóng nảy, tham lam mà ra. Chuyện thế này:
Ở ven rừng, có vợ chồng anh tiều phu nọ quá nghèo. Mỗi buổi sáng khi đi hái củi, hai vợ chồng để đứa con nhỏ tuổi ở nhà với một chén cơm nhỏ xíu. Ngày qua tháng lại, đứa bé trở nên mập mạp hồng hào. Vợ chồng anh tiều phu lấy làm ngạc nhiên:
- Con của mình ăn cực khổ, thiếu thốn mà sao lại mạnh khỏe không kém con nhà khá giả?
Làm sao hỏi được nguồn cơn? Đứa bé quá nhỏ nên chưa biết nói chuyện. Phải chờ vài năm sau mới nghe nó trả lời bập bẹ rằng:
- Ba má à, con không ăn cơm.
Vợ chồng lấy làm lạ:
- Sao vậy?
Đứa bé nói:
- Khỉ ở trong rừng chạy ra ăn cơm hết, con giành không lại...
- Thế sao con không đói bụng, lại còn mập mạp hẳn lên?
Đứa bé cũng chẳng biết, nó chỉ bảo hằng ngày có một đứa bé khác ở trong rừng chạy ra làm quen. Hai đứa đùa giỡn với nhau.
Vợ chồng anh tiều phu suy nghĩ: “Ờ trong rừng này không có nhà của một ai, tại sao có con nít tới chơi. Phải rồi, chắc là... con nhơn sâm mà mình thường nghe nói. Nhờ hít hơi con nhân sâm nên đứa con mình không ăn cơm vẫn mạnh khỏe”.
Hôm sau, bán củi được bao nhiêu tiền, vợ chồng anh tiều phu đem mua một cuộn chỉ thật lớn. Về nhà, họ căn dặn đứa con:
- Trong lúc ba mẹ đi vắng, hễ thằng nhỏ đó lại đây chơi thì con buộc đầu sợi chỉ này vô chân nó, nghe chưa.
Đến trưa, vợ chồng trở về, thấy con mình làm đúng lời dặn. Hết sức vui mừng bèn phăng theo sợi chỉ, đi len lỏi vào rừng mà tìm đứa nhỏ kia. Đến chỗ nọ, họ thấy sợi chỉ bị chôn dưới đất, liền vội đào lên, tìm đứa nhỏ (tức là con nhơn sâm). Vì vội vã tham quá nên họ trì níu mạnh tay khiến nhơn sâm phải chết.
Từ đó về sau, nhơn sâm bớt linh nghiệm. Củ của nó ngày một nhỏ xíu, lụn vụn, uống vô thì bổ khỏe chớ không giúp loài người được bất tử trường sanh.
0
Rắn già, rắn lột

Thuở tạo thiên lập địa mới vừa xong, Ngọc Hoàng ngự trên ngai, sẵn sàng nhận lời khiếu nại của vạn vật muôn loài.
Hôm ấy, tên Hơn lãnh trách nhiệm đại diện cho loài người đến trình bày rằng:
- Tâu Ngọc Hoàng cớ sao sanh loài người rồi đồng thời cũng sanh loài rắn. Rắn độc lắm, cắn chết con người trong tức khắc.
- Vậy thì nhà ngươi muốn ta tiêu diệt loài rắn hay sao? Như vậy hóa ra bất công. Chúng nó sẽ kêu nài.
Tên Hơn tâu:
- Chúng tôi không dám ao ước điều đó. Chỉ ước mong sao loài rắn đừng sống dai bằng loài người.
Ngọc Hoàng nói:
- Vậy thì dễ quá. Mi trở về trần gian truyền rao lời ta như vầy:
“Người già, người lột.
Rắn già, rắn tụt vào xăng”.

Rủi thay, tên Hơn không có trí nhớ dai, lại còn tật ăn nói lập dập. Về trần gian, anh ta la lên:
- Ngọc Hoàng truyền lịnh:
“Rắn già, rắn lột.
Người già, người tụt vào xăng”.

“Tụt vào xăng” có nghĩa là vô hòm. Vì lời phán bị sai lạc nên loài rắn lột da sống dai, hưởng được ân huệ của Ngọc Hoàng muốn ban cho loài người. Loài người tức giận, kêu rên thấu đến Thiên đình. Ngọc Hoàng bèn đòi tên Hơn lên mắng:
- Mày không nên thân! Dặn một đường, nói một nẻo, ngu quá!
Dứt lời, Ngọc Hoàng đạp tên Hơn. Anh ta té xuống đất, rớt ngay vào một đống phân, hóa ra con bọ hung, ăn đồ dơ dáy mà sống, bị người đời khinh bỉ.
0
Con cá nược

Thuở xưa, ở thị trấn nọ có người đàn bà sống bằng nghề bắt mối các ghe hàng từ phương xa đến. Lắm người phải sạt nghiệp vì giọng lưỡi đường mật gian giảo của bà.
Một hôm, hay tin có chuyến ghe hàng đến, bà lập tức đi tìm chủ ghe. Để tỏ lòng hiếu khách, bà mời chủ ghe lên nhà ăn cơm cho vui. Tàn buổi cơm, bà nói:
- Trong nhà tôi có vài món đồ quý. Là bạn thân thiết, tôi đem ra cho bác xem thử.
Của quý giá ấy là một nải chuối và một con rùa đúc bằng vàng ròng rất tinh xảo.
Người chủ ghe không ngớt khen ngợi, thích thú những món ấy. Bà ta trả lời:
- Tôi không thể nào bán chúng được. Anh chịu phiền.
Đêm đó, bà ta sai người lẻn đem nải chuối và con rùa vàng giấu dưới ghe của người khách nọ. Chừng hừng sáng, bà tri hô:
- Mấy món đồ quý trong nhà tôi mất hết rồi. Chắc chắn là mấy người dưới ghe này ăn cắp của tôi.
Chủ ghe cãi lại. Bà ta mời làng xã tới làm chứng. Hai bên cam đoan như vầy:
- Nếu bà ta khai gian thì tất cả tài sản của bà sẽ bị chủ ghe tịch thâu.
- Nếu chủ ghe nọ ăn cắp thiệt thì bà ta tịch thâu tất cả ghe hàng nọ, bắt chủ ghe làm tôi tớ.
Sau khi khám xét dưới ghe, chủ ghe chưng hửng vì mình không ăn cắp mà cớ sao mấy món đồ kia nằm trong ghe mình. Anh chủ ghe vô cùng tức giận khi biết mình mắc mưu bà nọ, đành chịu cảnh phá sản và làm tôi tớ cho bà ta.
Sau khi suy nghĩ kỹ, anh ta bèn lén gởi như cho người vợ rằng: “Tôi bây giờ nghèo khổ, bị bắt làm tôi tớ cho người ta. Mình phải sắm chiếc ghe khác, mua đầy hàng hóa, trương buồm tới đây làm như vầy, như vầy...” Nhận được bức thư, người vợ làm đúng lời, sắm ghe chở hàng đem theo một người thợ bạc có mang sẵn ống bễ, than lò. Anh thợ này giả dạng làm bạn chèo ghe.
Chừng đến chợ, bà “đầu nậu” gian tham ăn quen thói cũ xuống ghe làm giá rồi mời khách lên nhà ăn cơm, đem con rùa và nải chuối bằng vàng ra khoe khoang. Đêm đến, bà ta cho người đem hai món đồ quý đó giấu dưới ghe của khách. Nhưng chủ ghe đã hay trước nên cứ giữ im lặng.
Chờ kẻ kia lên bờ, dưới này người thợ bạc thổi ống bễ lên, nấu chảy nải chuối và con rùa lại thành vàng nén. Xong xuôi anh ta thảy hết đồ nghề xuống nước để phi tang.
Sáng hôm sau, bà “đầu nậu” tri hô, mời bà chủ ghe làm cam kết, đặt ra mấy điều kiện như trước.
Chừng làng xã khám xét dưới ghe thì ô hô! Tuyệt nhiên không thấy nải chuối và con rùa nọ. Bà đầu nậu thua cuộc, phải đi theo làm đầy tớ cho bà chủ ghe, tất cả tài sản đều bị tịch thâu chở đi.
Người vợ vô cùng mừng rỡ, được tái hợp cùng chồng. Dọc đường, bà “đầu nậu” nọ tức mình vì thua trí người khác nên nhảy xuống biển mà tự vận. Trước khi chết, bà ta ráng trồi lên hụp xuống để nhìn những của cải của mình bị tịch thâu, chở trong ghe. Bà ta hóa ra con cá nược.
Ngày nay, trên các sông cái, ngoài biển, chúng ta thường thấy loài cá này có vú như người đàn bà, lặn hụp bên cạnh các ghe xuồng, lâu lâu thở dài, hú lên như oán giận, tiếc của.
0
Chó mực, ngựa ô

Thuở xưa, anh nông phu nọ nuôi trong nhà một con bò, một con chó, một con ngựa, một con mèo, một con heo. Tình cờ, mấy con thú này đều có lông đen nên anh nông phu gọi nói là ngựa đen, chó đen, mèo đen, bò đen...
Mấy con thú này không bằng lòng nên tranh công nhau. Con ngựa nói:
- Ông chủ nghĩ mà coi, tôi chạy hay chở một lần đôi ba người. Nhờ tôi đi chơi, ông làm oai với thiên hạ. Kêu tôi bằng ngựa đen thì không công bằng.
Con heo tức mình, cãi lại:
- Tôi đây ích lợi hơn ngựa. Thịt của tôi ngon, tôi sanh con nhiều hơn hết. Con của tôi lại mau mập, bán có tiền... Tôi muốn được chức gì sang trọng hơn. Kêu tôi bằng heo đen, tôi tủi phận quá.
Con bò, con chó, con mèo cũng đem hết lý lẽ, giành công trạng về phần mình.
Anh nông phu bèn trả lời:
- Khó xử quá! Hễ binh vực kẻ này thì mích lòng kẻ khác. Để ta bày ra cuộc thi. Ai tới trước thì được chức lớn, ai về sau thì lãnh chức nhỏ. Chức lớn nhất là Ô (tên con quạ ô thước), kế đó là Mực (mực viết chữ), Mun (cây mun), Hóng (khói bếp đóng trên mái nhà). Ai về chót thì giữ chữ Đen như cũ.
Con ngựa chạy mau hơn hết, về nhất nên lãnh chức là ngựa ô, hạng nhì là con chó lãnh chức chó mực, hạng ba là con mèo lãnh chức mèo mun, con bò vé hạng tư lãnh tên bò hóng. Con heo về hạng chót nên mang tên heo đen không thay đổi...
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 10:27:32 bởi casau>
Tích về cái yên ngựa

Hồ Lưu là một vị quan ác. Năm 62 tuổi, ông ta chết. Diêm vương lật sổ thấy tội trạng còn quá nặng nên bắt buộc ông ta đầu thai làm con ngựa. Ông Hồ Lưu (tức là con ngựa), lớn lên bị tên này bạc đãi thúc đầu gối vào hông, cưỡi không cần yên. Hồ Lưu buồn bã quá, nhịn đói không ăn cỏ, ba bốn ngày sau thì chết.
Diêm vương nổi giận:
- Thằng này trốn tội! Phải đền tội cho đủ mới được trở về đây tự vận như vậy là ăn gian. Bèn cho Hồ Lưu đầu thai lần nữa, hóa ra con chó. Hồ Lưu tủi phận nhưng không dám tự vận như trước. Anh ta bèn nghĩ ra một kế: “Mình cứ cắn ông chủ mình. Ông chủ nổi quạu, sẽ đập mình chết”.
Hồ Lưu thi hành như ý định. Chủ nhà ngỡ là chó điên nên đập chết.
Diêm vương hay được, bèn sai quỷ sứ đánh vong hồn Hồ Lưu hèo rồi phán:
- Mày phải đầu thai lại. Tội của mày trả chưa hết mày còn đòi trốn hoài. Phen này, phải đầu thai trở thành con rắn.
Con rắn Hồ Lưu liền bị nhốt trong ngục, bò tới bò lui. Sau cùng anh ta khoét hang vượt ngục. Biết rằng tự tử hay cắn người đều là trọng tội, anh ta bèn giả bộ bò ra ngoài, nầm giữa đường mà ngủ. Tình cờ một chiếc xe ngựa chạy qua, cán rắn đứt làm hai.
Diêm vương phán:
- Bấy lâu nay, mi cực khổ nhiều quá rồi. Ta không nỡ hành tội nữa. Vậy thì mi được phép đầu thai về dương thế để làm quan mà cai trị dân lấy tên là Lưu Công.
Lưu Công lớn lên, học hành rất giỏi, đậu thủ khoa, trở thành quan. Ông thường răn các người tùy thuộc: Muốn cưỡi ngựa thì phải mang yên, mang nệm, ý của ông là khuyên họ nên tử tế đối với dân, đừng hà lạm quyền hành thúc ép mà đau khổ dân tình.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.11.2017 22:04:08 bởi casau>
Thằng Cuội, cây đa

Thuở xưa, thằng Cuội làm nghề hái củi để độ nhựt. Tình cờ, gặp một ổ ba con cọp con, nó muốn đem ba con cọp này về nhà để xem chơi nhưng chợt nghe cây rừng động sột soạt. Cọp mẹ đang về! Nó hoảng hốt, lại gần bẻ chân mấy con cọp cho què rồi nó leo lên cây mà rình.
Cọp mẹ nổi giận chạy lại cây đa gần đó nhai lá đem về đắp trên vết thương của cọp con. Tức thì cọp con lành mạnh như cũ.
Thằng Cuội hồ nghi, bèn rình lúc cọp mẹ đi vắng mà trở xuống bẻ chân cọp con lần thứ nhì. Giống như lần trước, cọp mẹ nhai lá cây đa mà đắp cho con. Thằng Cuội mừng quýnh, biết lá của cây đa nọ trị được bệnh nên nó lén bứng một cây đa con để đem về nhà trồng làm thuốc.
Nó thả bè về nhà. Dọc đường, gặp con chó chết trôi tấp gần. Nó vớt xác con chó, rồi hái lá đa nhai nhỏ đấp lên đầu con chó. Lúc sau, con chó cục cựa, sống lại. Nó cưng con chó ấy lắm vì đó là người bạn đầu tiên.
Về đến xóm, thằng Cuội trông cây đa con nọ rất kỹ lưỡng. Khi thấy làng bên cạnh có phú ông truyền rao:
- Đứa con gái của ta đau bệnh tê bại. Ai cứu được thì ta gả cho, giao phó tất cả gia tài vì đó là con một.
Thằng Cuội mừng quýnh, đến đó tình nguyện chữa bệnh. Ban đầu, không ai tin, nhưng nhờ phương thuốc quá linh nghiệm, thằng Cuội cứu được bệnh nhân. Phú ông giữ lời hứa, gả con gái cho.
Nhưng, bao nhiêu trai làng ganh ghét tìm cách trả thù. Bọn chúng thừa lúc Cuội đi vắng, xông vào giết cô gái nọ, mổ xác lấy trái tim và gan ruột để thằng Cuội không phương cứu được.
Về nhà thằng Cuội vô cùng sầu thảm, than thở với con chó:
- Bây giờ mi phải hy sinh trái tim và bộ lòng để ta đem ráp vào thân thể vợ ta. Mi chịu không?
Con chó gật đầu.
Nhưng thằng Cuội sơ ý, mổ bụng con chó lấy bộ lòng, quên lấy trái tim. Vì vậy vợ nó thiếu trái tim, tánh tình lẩn thẩn - “lòng ma dạ chó” như lời tục thường ví, còn con chó thì vẫn trung tín như cũ vì trái tim của nó còn y nguyên.
Vợ chồng thằng Cuội sống bình yên như cũ.
Hàng ngày, thằng Cuội ra săn sóc cây đa. Vợ nó tò mò hỏi thử. Nó nói sự thật, khuyên vợ một điều, đừng bao giờ đi tiểu dưới gốc cây đa.
Vợ nó hỏi:
- Nếu đi tiểu thì sao?
- Thì nó hết linh nghiệm.
Nhưng người vợ quá dại dột, làm trái hẳn lời căn dặn của chồng. Bị ô uế, cây đa nọ không thèm trái đất này nữa, bứt gốc, bứt rễ mà bay lên cao. Vì tiếc của, thằng Cuội níu theo, bay bổng lên cung trăng mà ở, như bây giờ chúng ta vẫn còn thấy hình dáng.
0
Cá hóa Rồng

Mỗi năm, đến mùa mưa, Ngọc Hoàng sai mấy ông Rồng phun nước xuống trần gian để nhà nông đủ nước mà cấy cày.
Nhưng số Rồng ít quá, phun nước không đủ. Nhiều năm, dưới trần gian chịu cảnh hạn hán. Ngọc Hoàng thấy vậy bèn mở cuộc thi. Các thú vật ở trần gian, nhứt là loài cá tôm đều có quyền tham dự, để được hóa Rồng.
Ai muốn thi thì phải vượt qua ba lượn sóng.
Con cá rô nhảy qua được một lượn. Gặp lượn thứ hai, cá rô nhảy không khỏi nên phải rớt.
Con tôm có tài hơn. Nhảy qua lượn thứ nhút rồi nhảy qua luôn lượn thứ nhì. Nhờ vậy mà thân thể biến hóa, đuôi mình, đầu lần lần sửa đổi coi trang nghiêm gần giống như con Rồng. Nhưng đụng lượn sóng thứ ba, con tôm nhảy qua không khỏi. Vì quá cố sức nên té cắm đầu xuống, lưng còng lại, gan ruột lộn lên đầu.
Đến lượt con cá chẽm (lý ngư) ra thi. Nhờ thần linh giúp sức nên giông tố nổi lên ù ù, cá chẽm lấy trớn nhảy qua một hơi ba lượn sóng liên tiếp, lọt vào cửa Võ môn, đắc thắng.
Cá chẽm hóa ra Rồng, hình dạng thay đổi. Lời tục thường ví người gặp may mắn với con cá hóa Long:
“Gái ngoan nên lấy chồng khôn.
Cũng như cá vượt Võ môn hóa Rồng”

0
Tích con rệp

Thuở xưa, có anh nọ làm nghề bán nhang. Nhang chế tạo rất thơm, rất tốt nên Phật Trời chú ý tới tài năng của anh ta.
Khi chết xuống gặp mặt Diêm vương, anh ta được cư xử đặc biệt. Diêm vương nói:
- Mi có tài làm nhang thơm. Ta khen ngợi muốn mi đầu thai làm loài chim, tối ngày theo hầu bà Tây Vương Mẫu. Có điều, hồi ở dương gian mi bán nhang mắc quá nên ta phải cho mi đầu thai làm loại côn trùng, thí dụ như làm con nhền nhện.
Anh bán nhang thưa rằng:
- Tâu Diêm vương, cứ theo câu hát:
Răng chừ cho chúa tôi sang
Để tôi mắc võng nằm ngang giữa nhà

Thì làm thân con nhền nhện cũng sung sướng lắm. Nhưng theo Đông y, con nhền nhện là vị thuốc, đem nướng cho con nít ăn để trị bệnh đái dầm. Như vầy chết con thì sao?
Diêm vương nói:
- Không chịu làm con nhền nhện thì ta cho đầu thai thành con gián.
Anh bán nhang suy nghĩ:
- Câu hát nói rằng con gián cũng no ấm:
Răng chừ cho chúa tôi giàu
Để tôi ớn mỡ, ăn dầu quanh năm

Nhưng con mối, con thằn lằn, thường rình con gián mà ăn thịt.
Diêm vương nói:
- Vậy thì tao cho mầy được yên nơi yên phận, không sợ mưa sợ gió, không sợ ai thấy tăm dạng mà rình bắt.
Trái lại, mày có quyền rình loài người mà hút chất bổ.
Anh bán nhang bằng lòng. Diêm vương bèn sai quỷ sứ dẫn hồn anh ta về dương gian đầu thai làm con rệp, suốt ngày ẩn nấp trong các kẹt tủ xó giường.
0
Thập bát La Hán

Phú ông nọ có nuôi một con ngựa rất hay, rất hiền. Ông săn sóc nó cẩn thận cho ăn uống đầy đủ. Bỗng một hôm, nó đi lại gần ông mà nói:
- Tối mai ăn cướp đến nhà ông mà giựt của. Tụi nó đi cả thảy đứa, mang thứ khí giới chùy, côn, giáo... Ông đừng sợ cứ làm theo lời tôi. Quay heo con, xôi một chảo thật lớn. Mua về vài hũ rượu. Đúng giờ Tý (nửa đêm) nay, tụi nó hội họp tại ngã tư đầu làng, ông đến đó mời tụi nó về đây ăn tiệc là xong chuyện.
Phú ông nghe con ngựa nói vậy, bèn thi hành đúng như lời nhưng trong dạ nửa tin nửa nghi. Đúng giờ Tý, ông đến ngã tư, gặp bọn cướp đủ người, ông mời chúng nó về nhà ăn tiệc.
Bọn cướp ngạc nhiên. Tên chúa đảng hỏi:
- Tại sao ông biết tụi tôi đủ người mà quay sẵn con heo?
Phú ông nói đó là lời mách bảo của con ngựa. Chúa đảng cướp ra chuồng, hỏi thăm. Con ngựa nọ trả lời:
- Đó là luật nhân hồi quả báo. Xưa kia tôi mắc nợ ông ấy, bây giờ phải đầu thai làm con ngựa để trả nợ cũ. Dè đâu ông ấy săn sóc tôi quá chu đáo, cho ăn no ngủ kỹ, nợ cũ chưa trả xong mà tôi phải mang thêm nợ mới. Nghĩ vậy, tôi tìm cách giúp ổng để một ngày kia trả xong nợ, tôi đầu thai làm người.
Tên chúa đảng sực nhớ tới tội lỗi chồng chất bấy lâu nay, bèn nói với bọn em út về chuyện quả báo và khuyên đồng bọn nên sám hối kẻo kiếp sau nặng tội. Tất cả đồng ý, hẹn ngày vào chùa mà cầu xin quy y thí phát.
Vào chùa, tên chúa đảng nói:
- Tất cả dao, mác, côn, hèo phải gom lại. Muốn biết Phật có chứng giám không thì chúng ta bỏ tất cả khí giới ấy vào trong một cái nồi đồng thật lớn, nấu tan thành nước hết thì đó là điềm lành.
Tất cả bọn đứa đều thí phát, quì trước Phật đàn. Đến nửa đêm, chừng xem nồi nước thì thấy bao nhiêu khí giới đều tan rã, biến mất. Biết đó là điềm lành, bọn cướp ở lại tu luôn trong chùa. Nhờ lòng thành nên kiếp sau được trở thành các bậc La Hán.
Đến nay, trong các chùa thường thờ vị La Hán nọ. Tượng của mấy vị đều có nét mặt dữ dằn, tay cầm khí giới. Ấy là muốn nhắc lại cho người sau biết rằng: dầu tội lỗi đến thế mấy mà có lòng ăn năn sám hối thì Phật cũng độ được.
0
Sự tích con trâu

Thuở khai thiên lập địa, bầu trời rộng mênh mông, loài người được nuôi sống bằng thịt của cầm thú chứ chưa có ngũ cốc. Một hôm, Ngọc Hoàng cho mở đại hội quần tiên và phán rằng:
- Nơi trần gian nếu loài người quen việc sinh sát loại thú cầm thì e sẽ sinh điều hung dữ, nay ta muốn đem hạt lúa gieo xuống trần gian cho loài người lấy đó nuôi thân, khỏi phải điều chém giết. Vậy trong quần tiên, có ai sẵn sàng thi hành sứ mạng của ta?
Ngọc Hoàng vừa dứt lời, thì tiên ông Kim Quang vui vẻ bước ra xin lãnh lệnh. Ngọc Hoàng liền trao cho tiên ông Kim Quang một túi hạt lúa và năm túi cỏ, dặn rằng:
- Xuống đến trần gian, khanh hãy gieo giống lúa xuống trước, rồi mới gieo giống cỏ xuống sau, khanh ráng mà lập công sẽ được thưởng, bằng trái thì sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Tiên ông Kim Quang lãnh lấy hai thứ hạt giống, cúi đầu bái tạ rồi lui ra. Lúc tới trần gian, vì sự nhọc mệt, Kim Quang quên mất lời dặn của Ngọc Hoàng, lấy năm túi cỏ gieo xuống trước, rồi mới gieo túi hạt lúa sau. Chẳng ngờ cỏ mọc rất mau, tràn lan khắp địa cầu, choán cả chỗ mọc của hạt lúa.
Tại thiên đình, Ngọc Hoàng nghe Nam Tào vê tâu lại chuyện giống cỏ xâm chiếm gần hết mặt địa cầu thì đùng đùng nổi giận, truyền điệu Kim Quang tới, bắt trở xuống cõi trần làm kiếp trâu, ăn cho hết giống cỏ đã gieo trồng, kỳ cho tới lúc nào hết cỏ mới được hưởng cốt tiên.
Khổ nỗi giống cỏ càng ngày càng sinh sôi nẩy nở dầu trâu có ăn ngày ăn đêm cũng không hết nên tiên ông Kim Quang vẫn mãi mãi ở kiếp trâu, chịu đày đọa giữa cõi trần.
0
Cái chuông, cái trống, cái mõ

Lời tục có câu: “Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán” và nhắc lại câu chuyện sau:
Anh chàng nho sĩ nọ lo sôi kinh nấu sử, chờ khi ra kinh đô ứng thí. Hằng ngày chàng cầu nguyện Phật, Trời phù hộ, lo làm việc phước đức. Lúc đi dạo, chàng gặp lũ trẻ chăn trâu đang bắt được một con lươn to lớn. Nho sĩ hỏi:
- Tụi bây bắt làm chi vậy? Thả ra đi.
Lũ trẻ nói:
- Bắt để nướng ăn chơi.
Nhìn con lươn nọ, thấy nó chảy nước mắt như muốn khóc chàng nho sĩ nài nỉ mấy đứa bé mua lại con lươn. Đem đến mé sông, chàng thả con lươn mà nói:
- Cứu vật, vật trả ân, cứu nhân, nhân trả oán. Ta cứu mi, phóng sanh mi. Vậy thì mi phải đền ơn, giúp ta chiếm lấy bảng vàng.
Năm sau, chàng ra kinh ứng thí, lòng dạ khấp khởi mừng thầm, tin rằng thế nào cũng thi đậu. Dè đâu chàng thi rớt, buồn tình quảy khăn gói về quê nhà than phận học tài thi mạng.
Đến mé sông nọ, chàng gặp bọn lính đứng canh phòng cẩn mật nơi bến đò. Hỏi thì bọn lính trả lời: Nguy hiểm lắm! Dưới bến đò có con Mãng Xà thường nổi lên nhận chìm ghe xuống. Ai muốn qua sông phải nhờ tụi tôi hộ tống mới bình yên được.
Chàng nho sĩ hỏi:
- Chừng nào mới hộ tống?
Bọn lính khuyên chàng chờ khi đò đầy chừng vài chục người. Nóng lòng, chàng muốn ra giữa sông để tìm con Mãng Xà nọ mà tra hỏi; chắc rằng nó là con lươn hồi năm trước chàng đã phóng sanh. Chàng năn nỉ. Bọn lính cho phép chàng qua trước một mình.
Đến giữa sông, sóng gió ầm ầm. Con Mãng Xà hiện lên, phun nước hả miệng chờ mồi. Chàng nho sĩ chỉ vào mặt nó mà thét:
- Mi không nhớ sao? Ta đã cứu mi, không nỡ để mấy đứa chăn trâu ăn thịt mi...
Con Mãng Xà nói:
- Thây kệ, ta cần ăn thịt mi lập tức.
Chàng nho sĩ nói:
- Mi nói vậy là tội lắm. Cứu vật, vật trả ân, cứu nhân, nhân trả oán. Trả ơn như vậy đó hả?
Con Mãng Xà cãi lại: “Cứu vật, vật trả oán”. Túng cùng, chàng nho sĩ thách đố con Mãng Xà nọ đi với mình để hỏi những người dọc đường coi câu nói ai là đúng. Chàng nói:
- Mi với ta gặp ba người đầu tiên thì cứ hỏi. Nếu họ cho rằng ta đúng thì mi có tội. Bằng không thì ta chịu tội.
Bước lên bờ, họ gặp phải một con trâu già đang ăn cỏ. Chàng nho sĩ phân trần. Con trâu đáp:
- Cứu vật, vật trả oán. Như vậy mới đúng.
Tức thì con Mãng Xà rống lên, toan ăn thịt chàng nho sĩ. Chàng nho sĩ khuyên nó hãy chờ vì còn phải hỏi thêm hai người nữa.
Một lúc sau, họ gặp một con cá chẽm. Con cá chẽm nói:
- Xưa nay, cứu vật thì vật trả oán, không bao giờ trả ơn. Con Mãng Xà nói đúng!
Bị thua lần thứ hai, chàng nho sĩ vô cùng đau xót. Tuy nhiên, chàng vững lòng tin tưởng nơi Trời Phật.
Đức Thế Tôn muốn cứu chàng nên hiện ra làm một ông lão râu tóc bạc phơ, chống gậy đi lại.
Con Mãng Xà nói với nho sĩ:
- Người thứ ba đã đến. Nếu phen này mi thua nữa thì ta có quyền ăn thịt mi.
Ông lão nọ - tức Đức Thế Tôn - bèn mời nho sĩ, con Mãng Xà, con cá chẽm và con trâu vào một ngôi chùa gần đó mà phân xử cho rõ đầu đuôi.
Ông lão nói:
- Nho sĩ này nói đúng. Tụi bây toa rập nhau để ám hại người lành. Từ rày về sau, con Mãng Xà này trở thành cái giá để treo chuông, con trâu này phải lột da bịt trống, con cá chẽm phải trở thành cái mõ. Khi tụng kinh, lễ Phật, các sư sãi có quyền hành tội các ngươi, giộng chuông gióng trống, gõ mõ để nhắc nhở cho muôn loài về sự ăn ngay ở thẳng.
0
Đôi sam

Thuở xưa có vợ chồng một nhà chài lưới còn trẻ, thương yêu nhau khăng khít lắm. Một hôm người chồng lên thuyền ra biển đánh cá rồi biệt tích luôn. Người vợ thương nhớ buồn rầu liền bỏ nhà để đi tìm chồng. Thuyền của nàng bị giông gió đánh tạt vào một bãi hoang ở cạnh rừng, nàng thì bất tỉnh.
Lúc mở mắt ra, nàng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ dáng vẻ tiên phong đạo cốt, nhìn nàng mà cười:
- Nàng kia ở đâu lạc đến đây? Nàng có biết ta là ai không? Nếu ta không kịp cứu thì thú dữ đã sát hại nàng rồi.
Vợ người đánh cá liền kể lại sự tình, nỗi chồng bị mất tích ngoài biển khơi, nỗi mình nhớ thương mạo hiểm tìm chồng chẳng may bị nạn.
Nghe nàng thuật chuyện, cụ già động mối thương tâm bảo rằng:
- Ta là Thái Bạch Kim Tinh, nhân vân du qua đây thấy nàng bị nạn nên giải cứu, nay biết nàng có dạ thủy chung với chồng ta sẽ giúp nàng được cùng chồng đoàn tụ.
Nói rồi, Thái Bạch Kim Tinh trao cho nàng một viên ngọc và dặn dò:
- Nàng hãy ngậm viên ngọc này vào miệng và nhắm mắt lại, khi nào nghe im gió thì mở mắt ra, nàng sẽ gặp chồng. Điều nàng cần nhớ là khi bay ngang qua biển nàng không được cười nói gì với chồng, nếu làm sai lời cả nàng và chồng đều bị hại.
Vợ người đánh cá liền làm theo lời. Lúc nàng nghe im gió mở mắt ra thì thấy chồng đang ngồi trên bãi biển hoang vu. Thuyền đánh cá của chàng bị sóng thần nhận chìm xuống đáy biển, còn chàng trôi giạt vào bãi từ ấy đến nay.
Vợ chồng mừng mừng tủi tủi, rồi bàn tính chuyện trở về nhà. Vợ ngậm viên ngọc quý vào miệng, bảo chồng ôm ngang lưng mình để cùng bay qua biển. Trong lúc vui mừng đoàn tụ, người vợ quên mất lời dặn của Kim Tinh, quay lại cười nói với chồng, khiến cho viên ngọc quý rơi xuống biển, hai vợ chồng cũng rơi theo, hóa thành đôi sam ngàn đời vẫn dính chặt lấy nhau.
0
Cọp được phong thần

Trước kia ở làng Long Hương tỉnh Bà Rịa có rất nhiều cọp vì làng này gần rừng lại thưa thớt dân cư. Cọp thường lởn vởn vào xóm bắt trâu bò, đôi khi vồ chết cả người. Dân làng sợ nhứt là con cọp một mắt, đã to lớn lại hung hăng vô cùng.
Viên quan cai trị địa phương liền treo giải thưởng cho ai trừ được cọp một mắt. Một ông Đốc học, nổi tiếng là tay thiện xạ của vùng này liền bố trí để hạ con cọp tại vườn mía. Với cây súng hai nòng, ông Đốc học đinh ninh rằng sẽ hạ con cọp một mắt một cách dễ dàng, huống chi hiệp sức với ông, còn có một toán lính sen đầm bắn giỏi.
Trưa hôm đó, ông Đốc học nhử được cọp vào vườn mía, vòng vây vừa siết lại, cây súng trên tay ông lăm lăm chĩa vào những lá mía động đậy, chỉ đợi cọp nhô ra là nhả đạn. Bất ngờ, con cọp một mắt nhảy xổ đến bên ông, gầm lên dữ dội rồi xông vào ông. Ông Đốc học chỉ bắn một phát thì bị vồ ngã ngửa và bị cào nát cả một chân.
Lúc mọi người đổ xô đến tiếp cứu thì cọp một mất đã chạy mất vào rừng, còn ông Đốc học đang bất tỉnh nhân sự. Cái chân của ông điều trị mấy tháng mới lành, tuy vậy phải chịu tật cà thọt.
Từ đó con cọp một mắt càng lộng hành, không ngày nào nó không về làng bắt trâu bò, có bữa nó ra tận đường cái rượt người qua lại, hoặc chui vào vườn mía lượm nón lá đội lên đầu, ngồi im một chỗ gạt người đến gần rồi vồ chết.
Không dùng sức mạnh trừ được con cọp một mắt, ban Hội tề sở tại nghĩ cách phong cho cọp làm thần. Trên con đường mòn đi vào núi liền thấy xuất hiện một cái miếu có dán tờ sắc phong bằng giấy hồng đơn. Từ khi được phong làm thần, cọp không còn lai vãng về làng quấy phá dân cư nữa. Về sau, mỗi đêm thanh vắng người ta thấy có cọp một mắt mon men đến gần chùa ở gần núi để nghe tiếng trống chuông kinh kệ. Cái chùa này do ông Đốc học, sau khi hưu trí, dựng lên.
0
Loài khỉ chai đít

Ngày xưa, tại một thôn ấp miền sơn cước có gia đình ông bá hộ họ Viên. Tuy giàu có hiển vinh, nhưng vợ chồng, con cái của bá hộ họ Viên đều độc ác, tham lam, ích kỷ.
Nhà bá hộ có nuôi nhiều đầy tớ, trai gái cả thảy hơn mười người. Công việc vườn ruộng, nhà cửa đều do đám người này quần quật làm tối ngày, nhưng sự ăn uống thì cực khổ thiếu thốn, bữa đói, bữa no. Trong số đầy tớ đó, có một cô gái họ Vương, người đen đủi xấu xí nhưng rất tốt bụng. Bất luận kẻ già cả, tật nguyền nào đến xin ăn bị gia đình chủ chửi mắng, xua đuổi, nàng Vương cũng đều lén lút giấu cho miếng cơm, manh áo. Ngày kia, nàng Vương bị bà bá hộ đánh đập một trận tàn nhẫn sau khi bắt gặp nàng lấy cắp gạo đem cho một lão ăn mày.
Buồn tủi, nàng Vương ra ngồi ở cây gáo đầu làng khóc than thảm thiết. Bỗng ông lão ăn mày nọ hiện đến, an ủi rồi trao cho nàng một lọ nước, dặn nàng về hãy dùng nó đổ vào nước sôi mà tắm, tự nhiên cuộc đời nàng sẽ thay đổi.
Y theo lời dặn, cô gái họ Vương, về nhà đem lọ nước ra tắm rửa. Xong xuôi, nàng bỗng thấy mình trở nên xinh đẹp như tiên.
Cả nhà viên bá hộ thấy vậy động lòng tham muốn, mới hạch hỏi cô gái họ Vương, nàng thật tình thuật lại phép báu của lão ăn mày.
Cả nhà ông bá hộ liền đặt bàn hương án, bày cỗ thật to rồi cho người đi tìm lão ăn mày. Ông đến nơi, ăn uống xong, liền trao cho ông bá hộ một lọ nước và căn dặn làm đúng như cô gái họ Vương.
Lạ thay, lúc cả nhà tắm xong thì nổi cơn ngứa ngày, cả thảy đua nhau gãi kịch liệt, đến ngày sau, lông phát mọc đầy mình. Cả nhà xấu hổ bỏ chạy vào rừng, đuôi lại mọc dài thành loài khỉ.
Đầy mình lông lá đã xấu rồi, lại thêm cái đuôi trên đít trông càng thêm xấu, nên bầy khỉ hè hụi mài đít trên các tảng đá, hy vọng đuôi sẽ rụng đi.
Mài mãi đít trở thành chai cứng mà đuôi vẫn nguyên!
0
Sự tích con kiến vàng

Ở xã Hoàng Mai có chàng họ Dương, tánh tình keo kiệt lại mang tật lười biếng, tối ngày chỉ rong chơi đây đó và thường la cà ở những nơi đình đám kiếm ăn. Thấy chàng còn trẻ mà không lo học hành, cũng chẳng lo kinh doanh sự nghiệp nên người làng đều khinh ghét, không ai buồn cho ăn cho uống khiến cho anh chàng họ Dương phải đói khổ bỏ làng mà đi.
Lang thang trên đường vô định, một ngày kia, anh chàng họ Dương ngã ra bên đường bất tỉnh vì đói khát nhiều ngày. Trong lúc mê man, anh ta thấy trước mắt hiện ra một hòn núi vàng. Mừng rỡ, anh ta chạy tới toan hốt lấy vàng bỗng nghe một tiếng quát:
- Người kia, ở đâu tới đây mà dám làm ngang lấy vàng của ta? Người không biết ta là thần núi vàng hay sao?
Anh chàng họ Dương run sợ nhìn lên thì thấy một cụ già cốt cách phương phi, dáng điệu hiền từ thì than khóc mà nói rằng tại mình bị thiên hạ bỏ rơi đói khát lâu ngày.
Vị thần núi vàng nghe nói vậy thì động lòng nhân từ, liền hỏi anh chàng họ Dương:
- Nếu ta giúp cho người được giàu sang no ấm thì ngươi xử thế như thế nào?
Họ Dương đáp rằng sẽ lấy lòng nhân đạo mà ở đời và sẽ giúp đỡ mọi người khốn khó, nếu trái lời sẽ xin làm con kiến suốt đời chui rúc trong hang.
Vị thần núi vàng liên trao cho họ Dương một cái túi, rồi xô về phía trước. Anh ta kêu lên một tiếng giật mình thức dậy mới hay là một giấc mộng, trên tay vẫn nắm chặt túi vàng. Anh ta mừng rỡ vội vã trở về làng, dùng vàng mua sắm mọi vật xa hoa và cưới mấy nàng hầu.
Những người trước kia khinh miệt họ Dương, chừng thấy anh ta giàu có thì lân la tới làm thân. Họ Dương căm tức thù xưa tìm mọi cách làm nhục họ. Đồng thời, Dương còn khinh rẻ những kẻ nghèo khó đến cậy nhờ miếng cơm manh áo.
Một hôm có lão ăn mày, mình mẩy lở loét, áo quần rách rưới xách bị tới nhà Dương, rồi ở lì trước cửa không chịu đi. Dương lấy làm xấu hổ vì nhà đẹp mà bị lão ăn mày dơ dáy hôi hám án mất lối vào, liền xách gậy ra đánh đuổi bảo đi.
Nhưng khi Dương vừa đưa gậy lên thì lão ăn mày đã hiện hình thành thần núi vàng, trỏ Dương mà nói rằng:
- Nhà ngươi thật là bạc ác, tội khó thứ dung, ngươi có nhớ ngày xưa thề thốt thế nào chăng?
Anh chàng họ Dương hối hận kêu xin, nhưng đã muộn, thần núi vàng hét lên một tiếng, Dương ngã ra hóa thành con kiến vàng, tìm kẽ ngách, hang hốc mà ẩn náu và lén lút tìm miếng ăn, tránh gặp mặt loài người.
0
Cô gái nhà giàu hóa thành con muỗi

Có một cô gái con nhà phú hộ, ỷ nhà có tiền nên biếng nhác, không học hành, cũng chẳng thích làm việc gì có ích cho gia đình. Tối ngày cô ta hết ăn rồi tìm chỗ kín đáo vắng vẻ để nằm ngủ. Ngủ dậy rồi lại ăn. Thấy vậy một vị thần hiện lên bảo cô gái rằng:
- Từ nay cô không được biếng nhác như vậy nữa, nếu không lo chăm chỉ học hành, làm việc giúp đời, thì ta sẽ hóa kiếp nhà ngươi làm một con vật đê tiện.
Mặc dầu có lời thần nhân khuyên dạy, cô gái vẫn lười biếng như thường, lại còn có ý khinh rẻ vị thần không làm gì được mình. Giận quá, thần nhân hiện đến quát mắng cô gái:
- Nếu còn khi rẻ thánh thần thì phải chịu cảnh đọa đày trong bóng tối.
Cô gái vẫn khinh khỉnh, ăn ngủ như thường. Vị thần liền xách gậy đến đánh thức cô dậy và bảo rằng:
- Lần này thì ngươi sẽ được hóa kiếp làm côn trùng để bỏ thói lười biếng, khinh đời.
Nói rồi vị thần vung gậy đánh vào cô gái, cô ta liền hóa thành con muỗi. Bây giờ cô gái hóa muỗi vì lười biếng ốm yếu nên bước đi không nổi, mới sụp lạy cầu cứu với vị thần, xin ban cho cách kiếm ăn, nếu không thì sẽ chết.
Vị thần liền ban cho cặp cánh mỏng để dùng bay đi kiếm ăn. Và vì lười biếng sợ ánh sáng, sợ tiếng động nên cô gái hóa muỗi luôn luôn chui vào ẩn núp trong xó kẹt đầy bóng tối, đợi cho loài người ngủ yên mới dám bay ra kiếm ăn. Trong khi bay thì luôn miệng than vãn nên hóa thành tiếng vo ve bên tai người.
0
Tại sao nước biển mặn?

Ngày xưa hai anh em nhà kia, anh thì nhờ buôn bán nên giàu có, em làm nghề đốn củi chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Tết đến, người em túng thiếu, không tiền làm cỗ cúng ông bà, mới sang nhà anh nài nỉ, người anh chỉ thí cho một giò heo luộc rồi đuổi về.
Người em mang chiếc giò heo luộc đi ngang một cánh rừng, bỗng nghe tiếng rên rỉ thảm thương, liền tìm đến nơi thì thấy một lão tiều phu bị cây ngã đè lên chân nằm kêu la than khóc. Động mối từ tâm, người em khuân nhấc cái cây đổ ra và đỡ lão tiều phu dậy, định biếu giò lợn luộc cho lão đỡ lòng. Cảm lòng tốt của người em, lão tiều phu từ chối và bảo:
- Ta muốn đáp lại tấm lòng tốt của ngươi, vậy ngươi hãy đem chiếc giò heo này đến cái động đá đằng kia để gặp các sơn thần, nếu họ đòi đổi giò heo lấy ngọc vàng thì ngươi đừng chịu, phải xin đổi cho được cái hũ sành. Đó là cái hũ thần ước gì được nấy, nhưng đừng nên tham lam, chỉ ước đủ dùng thôi và điều cần nhất phải giúp đỡ những người nghèo khó, khi nào vừa đủ thì phải hô to: “Đủ rồi” thì tự nhiên miệng hũ đóng lại.
Nghe theo lời dặn dò của lão tiều phu, người em tìm tới động đá, quả nhiên thấy rõ các vị sơn thần nhảy múa vui đùa. Lúc bấy giờ các sơn thần đánh hơi được mùi thịt lợn quay nhìn lại thấy người em thập thò ngoài động đá liền gọi vào đổi giò heo lấy vàng ngọc, người em nhất định không chịu, chỉ nhận đổi cái hũ sành. Rốt cuộc, các sơn thần phải đem hũ sành đổi lấy giò heo.
Bấy giờ người em sung sướng đem cái hũ sành về nhà khoe với vợ. Rồi vợ chồng ước gì được nấy, chẳng mấy chốc vợ chồng người em trở nên giàu sang sung sướng, họ ước thêm vàng bạc rồi đem chia chác cho những người nghèo khó trong làng. Tiếng đồn người em có cái hũ thần loan ra khắp nơi, người anh liền tìm đến tận nhà để xem hư thật, quả đúng như lời thiên hạ đồn. Người anh động lòng tham bảo em đổi cái hũ sành lấy cả sản nghiệp của mình. Biết rằng người anh tham lam keo cú, nếu được cái hũ thần sẽ ham sự giàu sang quên điều nhân nghĩa, nên người em từ chối không chịu đổi chác với anh.
Tuy nhiên, người anh vẫn không bỏ qua giấc mộng làm chủ cái hũ sành, mới mưu mẹo, nhờ đứa ở của người em đánh cắp cái hũ thần rồi vợ chồng họ trốn lên thuyền đi ra miền biển.
Thuở đó, nước biển chưa có vị mặn, muối rất hiếm. Người anh nghe nói khắp nơi thiếu muối, nếu có muối đem bán chắc sẽ được nhiều tiền, nên đem hũ thần ra ước muối từ trong hũ tràn ra như nước chảy, chẳng mấy chốc mà đầy cả thuyền. Ngặt vì người anh chỉ biết có lời ước được muối, còn lời ước cho nắp hũ đóng lại thì không biết, nên muối cứ chảy hoài như nước tràn đê vỡ làm ngập cả thuyền rồi chìm luôn. Cả hai vợ chồng người anh đều chết đắm giữa biển khơi.
Vì không có ai biết điều ước cho nắp hũ thần đóng lại, thành ra muối tuôn chảy khắp đại dương, hòa tan trong nước, làm nước biển hóa mặn như ngày nay.
0
Mẹ con gà vịt

Thuở xưa Mặt Trời ở gần loài người lắm, người ta có thể nhìn thấy Mặt Trời chỉ cao bằng ngọn cây me, cây khế. Thường ngày, loài người giặt quần áo, mền chiếu đem phơi trước ánh Mặt Trời. Vì nếp sống quá ngây ngô bừa bãi, nên bạ cái gì người ta cũng đem phơi trước ánh nắng, cho đến những xác thối, những đống phân người ta không nghĩ gì đến sự che giấu, cứ tung bừa ra trước Mặt Trời. Ngọc Hoàng thấy loài người ăn ở bê bối như vậy, lại sợ một ngày kia Mặt Trời bị nhiễm độc, nên đưa tay kéo Mặt Trời lên cao, xa hẳn thế gian đến triệu cây số. Địa cầu bỗng trở nên tối tăm u ám, hai người đứng gần nhau cũng không trông thấy mặt nhau. Như vậy làm sao làm ăn sinh sống, vừa đói khát vừa sợ ma quỷ hiện hình nên loài người kêu khóc inh tai.
Cả đến loài vật cũng bị dồn vào trong đêm thẳm, không còn thấy đường để kiếm mồi. Đói khổ quá, loài chim kêu nhau chíu chít, muôn loài thú gầm thét vang rừng. Trong bóng tối, muôn ngàn tiếng hỗn độn vang ra vừa ghê rợn, vừa buồn thảm, cả địa cầu không còn phân biệt được ngày đêm nữa.
Lúc bấy giờ, có con gà trống gặp con vịt mái và con chim xanh, mới than thở rằng:
- Nguy đến nơi rồi các bạn ơi. Mặt Trời buồn giận loài người và muông thú nên bỏ đi mất rồi, nếu kéo dài cảnh này mãi mãi thì chẳng bao lâu dòng họ chúng ta sẽ chết sạch.
Con vịt mái cũng thở dài:
- Biết Mặt Trời ở đâu mà tìm bây giờ?
Gà trống phụ họa:
- Giá biết Mặt Trời ở đâu ta thử kêu xin, may ra Mặt Trời biết thương xót chúng ta mà ban cho chút ánh sáng.
Con chim xanh liền nói:
- Tôi nghe ông bà tôi nói rằng trước kia thường thấy Mặt Trời ở ngoài biển Đông, nếu muốn tìm nên thử ra đó mà tìm.
Gà trống xét lại tài sức mình, rồi thất vọng nói:
- Đường ra biển Đông thật là khó khăn, cái thân tôi lội sông còn chưa được làm sao lội biển.
Vịt mái nghe nói khoái chí cả cười:
- Cái tài bơi lội của tôi thì còn ai hơn được, nhưng nếu tôi đưa anh ra tới biển Đông thì anh phải hứa rằng, từ đây về sau mọi công việc nặng nhọc trong gia đình tôi anh phải gánh chịu, anh có thuận không?
Gà trống cần ánh sáng để kiếm ăn nên ưng thuận liền. Vịt mái chở gà trống lội ra biển Đông, có chim xanh dẫn đường. Lúc tới nơi thì gặp Mật Trời đương giấu mình ở đó. Chim xanh, gà trống, vịt mái bèn kêu xin Mặt Trời nên trở về chỗ cũ giúp cái sống cho mọi người.
Mặt Trời từ chối bảo rằng:
- Không được đâu, cõi trần gian ô uế quá, ta hết dám ở gần nên phải trốn mà đi, nay sao lại trở về?
Chim xanh, gà trống hết sức khẩn nài xin Mặt Trời ban cho chút ánh sáng để bảo toàn sự sống. Mặt Trời bèn nói:
- Các ngươi có công khó nhọc đến đây nên ta chẳng hẹp lượng gì. Nhưng phải có cách nào để ta phân biệt được khi các ngươi cần ánh sáng.
Gà trống liền nói:
- Chẳng khó khăn chi cả, nếu khi nào nghe tiếng tôi gáy thì Mặt Trời hãy chuẩn bị...
Chim xanh tiếp lời:
- Còn nếu lúc nào nghe chúng tôi ca hót thì Mặt Trời hãy nhô lên.
Mặt Trời thấy hay hay nên đồng ý.
Cho nên từ đó mỗi khi có tiếng gà gáy là trời sắp sáng, đến khi có tiếng chim ca hót trên cành thì thái dương ló dạng đem ánh sáng cho muôn loài.
Và để giữ lời giao kết, nên mỗi khi vịt mái đẻ trứng thì gà phải chịu sự nặng nhọc ấp thành con. Vì vậy nên mới có câu: “Mẹ gà con vịt”.
0
Tích trái thơm

Huyền Nương là tên một cô gái mười lăm tuổi, không thích làm những việc bếp núc, thêu thùa vá may, tối ngày chỉ lo ca hát không để ý vào việc gì. Mẹ nàng là một góa phụ không mấy giàu sang, lại có tính chanh chua xoi mói thiên hạ nên người trong làng ít có ai thiện cảm với mẹ con Huyền Nương.
Một ngày nọ, mẹ Huyền Nương lâm bệnh nặng, nằm một chỗ, Huyền Nương phải thay mẹ vào trong bếp nấu cháo, nấu nước cho mẹ. Khổ nỗi, ngày thường không để ý đến mọi việc trong nhà, nên lúc vào bếp, Huyền Nương lúng túng không biết vật nào để ở đâu, và phải làm thế nào, vì vậy chốc chốc Huyền Nương lên tiếng hỏi:
- Mẹ ơi, gạo để đâu? Mẹ ơi, cục đá để đánh lửa mẹ để ở đâu?
- Mẹ ơi, nước đổ vào nó như vậy vừa chưa. Mẹ ơi, cái gàu múc nay mất rồi v.v...
Đang ốm, lại bị kêu gọi từng chập, mẹ của Huyền Nương lấy làm bực mình lắm, nên nói lẫy:
“Tao ước gì mày có thật nhiều mắt để mày kiếm những đồ mày dùng đặng khỏi kêu nheo nhéo suốt ngày làm chói cả tai ta”.
Huyền Nương cắc cớ hỏi:
- Bộ mẹ không thương con hay sao?
Người mẹ chanh chua càu nhàu:
- Thương cái nỗi gì, nếu không có con cũng không sao.
Tức thì giữa thinh không có tiếng nói khàn khàn:
- Lời ước của người mẹ không biết thương con sẽ thành sự thật.
Người mẹ kinh sợ, nhìn sau trước không thấy ai thì sinh nghi, bà liền gượng đứng dậy đi xuống bếp tìm Huyền Nương, nhưng không thấy nàng đâu nữa. Bà sợ sệt đi thẳng ra vườn cất tiếng gọi: “Huyền Nương! Huyền Nương”, không một tiếng trả lời. Bà rên rỉ: “Trời ơi! Huyền Nương đâu mất rồi”.
Bà đi đến cuối vườn, bỗng bà nhận ra đôi hài cỏ của Huyền Nương nằm cạnh một bụi cây có lá dài gai góc vừa trổ sinh một trái rất kỳ lạ. Trái cây mình dài mà tròn có nhiều mắt bao bọc xung quanh, tỏa mùi thơm thoang thoảng.
Đôi mắt bà sáng lên, một tay nắm lấy đôi hài, tay còn lại sờ vào trái lạ tự nhiên nước mắt trào ra, bà than thở:
- Huyền Nương! Mẹ đã hiểu vì sao rồi.
Sau tiếng than của bà, nhiều tiếng khóc nỉ non từ trong lòng trái lại vẳng lên. Da trái đang xanh, hứng phải nước mắt và tiếng khóc than của người mẹ dần dần ửng vàng.
Ngày xưa người ta gọi thứ trái lạ này là trái Huyền Nương, nhưng dần dần đổi lại là trái thơm.
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»